Tag Archive | Thơ

Quá Hồ Bắc – Qua Hồ Bắc (12-3-1950)

Ngã khứ điền gian đô bạch tuyết,
Ngã lai điền mạch dĩ thanh thanh.
Minh thiên cơ giới thế mộc giới,
Ức triệu nông gia lạc thái bình.

12-3-1950

Dịch nghĩa

QUA HỒ BẮC

Khi ta đi ngoài đồng toàn là tuyết trắng,
Nay ta về lúa mạch ngoài đồng đã xanh xanh.
Ngày mai có cày máy thay thế cho cày gỗ,
Ức triệu gia đình nông dân vui hưởng cảnhthái bình.

Dịch thơ

QUA HỒ BẮC

Đồng ruộng khi đi đầy tuyết trắng,
Nay về lúa mạch đã xanh xanh.
Ngày mai cày máy thay cày gỗ,
Ức triệu nhà nông hưởng thái bình.1)

Bản chụp bút tích bài thơ
lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Ngọ Quá Thiên Giang – Buổi trưa qua Thiên Giang (17-3-1950)

Đáo Thiên Giang, thuyết Thiên Giang,
Thiên Giang giang ngạn mãn xuân sương.
Thiên lưỡng địch xa thành hắc tận,
Hồng quân trực đáo Trấn Nam Quan.

17-3-1950

Dịch nghĩa

BUỔI TRƯA QUA THIÊN GIANG

Đến Thiên Giang thì nói chuyện Thiên Giang,
Trên bờ Thiên Giang, sương xuân đã phủ đầy.
Hàng ngàn chiếc chiến xa của địch đều hoá thành tro đen,
Hồng quân tiến thẳng đến Trấn Nam Quan.

Dịch thơ

BUỔI TRƯA QUA THIÊN GIANG

Đến Thiên Giang kể chuyện Thiên Giang,
Xuân tới bờ sông bát ngát sương.
Xe thù ngàn cỗ thành tro xám,
Hồng quân thẳng đến Trấn Nam Quan.1)

Bản chụp bút tích bài thơ
lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Tặng đồng chí Trần Canh (10-1950)

“Hương tân” mỹ tửu dạ quang bôi,

Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi.

Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu,

Địch nhân hưu phóng nhất nhân hồi.

Dịch nghĩa

TẶNG ĐỒNG CHÍ TRẦN CANH

Rượu ngọt “sâm banh” trong chén ngọc dạ quang,

Sắp uống, tỳ bà trên ngựa đã giục giã.

Say sưa nằm lǎn nơi sa trường, anh đừng cười nhé!

Chớ để cho một tên địch nào trở về.

Dịch thơ

TẶNG ĐỒNG CHÍ TRẦN CANH

“Sâm banh” rượu ngọt chén lưu ly,

Toan nhắp, tỳ bà ngựa giục đi.

Say khướt sa trường cười chớ vội,

Chẳng cho địch thoát một tên về (2).

Sách Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh,
Nxb. Vǎn học, Hà Nội, 1990, tr. 39-40.
cpv.org.vn

—————————-

(2) Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người thảo ra, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Trong vǎn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản tất yếu của dân tộc Việt Nam. Người tuyên bố trước nhân dân ta và nhân dân thế giới:

“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Bản Tuyên ngôn Độc lập là kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta và là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Tuyên ngôn độc lập là bản anh hùng ca mở đầu cho một kỷ nguyên mới của dân tộc ta – kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.7.

Vô đề – Không đề (1950)

Sơn kính khách lai, hoa mãn địa,

Tùng lâm quân đáo, điểu xung thiên.

Quân cơ, quốc kế thương đàm liễu,

Huề dũng giai đồng quán thái viên.

Dịch nghĩa

KHÔNG Đề

Lúc khách lại, trên đường mòn bên núi, hoa nở
đầy mặt đất,

Khi bộ đội đến, trong rừng rậm, đàn chim bay
vút lên trời.

Việc nước, việc quân bàn bạc xong,

Xách thùng cùng chú bé ra vườn tưới rau.

Dịch thơ

KHÔNG ĐỀ

Đường non khách tới hoa đầy,

Rừng sâu quân đến, tung bay chim ngàn.

Việc quân, việc nước đã bàn,

Xách bương, dắt trẻ ra vườn tưới rau (1).

Sách Thơ chữ Hán
Hồ Chí Minh, Nxb. Vǎn học,
Hà Nội, 1990, tr.30-31.
cpv.org.vn

—————————–

(1) Cách mạng Tháng Tám: Tháng 8-1945, Chiến tranh thế giới thứ hai sắp kết thúc. Thực hiện chủ trương Tổng khởi nghĩa của Trung ương Đảng và Lệnh Tổng khởi nghĩa của Tổng bộ Việt Minh, hưởng ứng Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước từ Nam đến Bắc nhất tề đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền.

Từ ngày 14-8 đến ngày 18-8, nhiều xã, huyện ở hầu hết các tỉnh miền Bắc và Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, Khánh Hoà, Mỹ Tho, Sa Đéc đã nổi dậy giành chính quyền. Ngày 18-8 các tỉnh Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Nam giành chính quyền ở tỉnh lỵ.

Ngày 19-8 cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành được thắng lợi ở Thủ đô Hà Nội. Đến ngày 28-8 Tổng khởi nghĩa thắng lợi trong cả nước.

Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân điển hình ở một nước thuộc địa nửa phong kiến do giai cấp công nhân lãnh đạo. Thắng lợi ấy đã đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội. Đó là thắng lợi của đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, dân chủ của giai cấp công nhân, kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến. Đó là thắng lợi của đường lối đoàn kết toàn dân, sử dụng bạo lực cách mạng để lật đổ ách thống trị của đế quốc và phong kiến. Đó là sự tài tình, sáng tạo của Đảng trong việc tạo thời cơ, nắm vững thời cơ, khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Thành công của Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam đã tạo thời cơ cho nhân dân Lào làm Cách mạng Tháng Tám ở Lào thắng lợi, nhân dân Campuchia có thêm điều kiện thuận lợi để phát triển phong trào cách mạng. Đó cũng là thắng lợi của các lực lượng cách mạng, dân chủ và tiến bộ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Tr.7.

Tư chiến sĩ – Nhớ chiến sĩ (1950)

Canh thâm lộ cấp như thu vũ,

Thần tảo sương nùng tự hải vân.

Khoái tống hàn sam cấp chiến sĩ,

Dương quang hoà noãn báo tân xuân.

Dịch nghĩa

NHỚ CHIẾN SĨ

Đêm khuya, móc rơi dồn dập như mưa thu,

Sáng sớm, sương dày đặc như mây mặt biển.

Mau mau gửi áo rét cho chiến sĩ,

ánh mặt trời ấm áp đã báo trước tin xuân mới sắp về.

Dịch thơ

NHỚ CHIẾN SĨ

Đêm khuya móc tựa mưa thu,

Sớm sương dày đặc, mây mù biển dǎng.

Mau mau gửi các chiến trường,

áo cho chiến sĩ trên đường lập công.

Mặt trời toả ánh nắng hồng,

Báo tin xuân đến, mùa đông sắp tàn (1).

Sách Thơ chữ Hán
Hồ Chí Minh, Nxb. Vǎn học,
Hà Nội, 1990, tr.33.
cpv.org.vn

——————————

(1) Cách mạng Tháng Tám: Tháng 8-1945, Chiến tranh thế giới thứ hai sắp kết thúc. Thực hiện chủ trương Tổng khởi nghĩa của Trung ương Đảng và Lệnh Tổng khởi nghĩa của Tổng bộ Việt Minh, hưởng ứng Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước từ Nam đến Bắc nhất tề đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền.

Từ ngày 14-8 đến ngày 18-8, nhiều xã, huyện ở hầu hết các tỉnh miền Bắc và Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, Khánh Hoà, Mỹ Tho, Sa Đéc đã nổi dậy giành chính quyền. Ngày 18-8 các tỉnh Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Nam giành chính quyền ở tỉnh lỵ.

Ngày 19-8 cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành được thắng lợi ở Thủ đô Hà Nội. Đến ngày 28-8 Tổng khởi nghĩa thắng lợi trong cả nước.

Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân điển hình ở một nước thuộc địa nửa phong kiến do giai cấp công nhân lãnh đạo. Thắng lợi ấy đã đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội. Đó là thắng lợi của đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, dân chủ của giai cấp công nhân, kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến. Đó là thắng lợi của đường lối đoàn kết toàn dân, sử dụng bạo lực cách mạng để lật đổ ách thống trị của đế quốc và phong kiến. Đó là sự tài tình, sáng tạo của Đảng trong việc tạo thời cơ, nắm vững thời cơ, khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Thành công của Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam đã tạo thời cơ cho nhân dân Lào làm Cách mạng Tháng Tám ở Lào thắng lợi, nhân dân Campuchia có thêm điều kiện thuận lợi để phát triển phong trào cách mạng. Đó cũng là thắng lợi của các lực lượng cách mạng, dân chủ và tiến bộ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Tr.7.

Đối nguyệt – (Đối trǎng 1950)

ĐỐI NGUYỆT

Song ngoại nguyệt minh lung cổ thụ,

Nguyệt di thụ ảnh đáo song tiền,

Quân cơ, quốc kế thương đàm liễu,

Huề chẩm song bàng đối nguyệt miên.

Dịch nghĩa

ĐỐI TRǍNG

Ngoài cửa sổ ánh trǎng lồng trên cây cổ thụ,

ánh trǎng nhích dần bóng cổ thụ lại trước cửa sổ.

Việc quân, việc nước bàn bạc xong rồi,

Xách gối đến bên cửa sổ, nằm ngủ trước ánh trǎng.

Dịch thơ

ĐỐI TRǍNG

Ngoài song, trǎng rọi cây sân,

Ánh trǎng nhích bóng cây gần trước song.

Việc quân, việc nước bàn xong,

Gối khuya ngon giấc bên song trǎng nhòm (1).

Sách Thơ chữ Hán
Hồ Chí Minh, Nxb. Vǎn học,
Hà Nội, 1990, tr.35.
cpv.org.vn

Đǎng Sơn – Lên núi (1950)

Huề trượng đǎng sơn quan trận địa,

Vạn trùng sơn ủng vạn trùng vân.

Nghĩa binh tráng khí thôn Ngưu Đẩu,

Thệ diệt sài lang xâm lược quân.

1950

Dịch nghĩa:

LÊN NÚI

Chống gậy lên núi xem trận địa,

Muôn trùng núi nâng đỡ muôn trùng mây,

Khí mạnh của nghĩa quân ta muốn nuốt cả

sao Ngưu, sao Đẩu,

Thề diệt hết quân xâm lược sói lang.

Dịch thơ:

LÊN NÚI

Chống gậy lên non xem trận địa,

Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây.

Quân ta khí mạnh nuốt Ngưu Đẩu,

Thề diệt xâm lǎng lũ sói cầy (1)

Sách Thơ chữ Hán
Hồ Chí Minh, Nxb. Vǎn học,
Hà Nội, 1990, tr.37.
cpv.org.vn

Chết vì ốm đòn (24-1-1952)

Tướng giặc Tátxinhi
Tháng trước về Pari,
Rồi thì nó khai ốm,
Không biết ốm bệnh chi?
Chắc là nó ốm đòn.
Nó chết mất thằng con,
Lại thua luôn mấy trận,
Ruột nó đã héo mòn.
Chiến dịch Quang Trung,
Tát thua lung tung,
Chiến dịch Đề Thám,
Tát thua mặt xám
Trận Lý Thường Kiệt,
Tát thua tê liệt,
Chiến dịch Hoà Bình,
Tát khoe khoang rinh:
“Phen này Pháp thắng,
Thật là hiển vinh!”
Kỳ thực Tát đã
Mất mười ba dinh1)
Nội cảm, ngoại thương,
Tát đã ốm đòn,
Vì ta luôn thắng,
Tát phải vào hòm.
Nên có thơ rằng:
Tátxinhi, Tátxinhi
Mi đã khôn hồn, mà chết đi!
Con mi đền tội, con mi chết,
Đền tội ngày nay, chết đến mi!

C.B.

Báo Nhân dân, số 42,
ngày 24-1-1952.
cpv.org.vn

Mừng kênh Vonga – Đông hoàn thành (27-7-1952) (7-8-1952)

Xưa có câu:

Đào núi và đắp bể,
Luyện đá vá trời xanh,
Việc gì, dù khó mấy,
Quyết chí, ắt làm thành.

Ngày nay:

Chính sách Xtalin
Quyết xây dựng hoà bình,
Và gìn giữ hoà bình,
Tạo phúc cho dân sinh.

Cho nên:

Cuộc thi đua ái quốc
Cuốn toàn dân Xô – Liên,
Công nông và trí thức,
Phụ nữ và thanh niên,
Người người đều thi đua,
Góp sức và góp tiền.

Kết quả là:

Kênh đào Vônga – Đông,
Hôm nay mừng thành công,
Mấy xưởng điện khổng lồ
Tung điện ra khắp vùng1*
Kênh hơn bảy trǎm dặm2*
Rất tiện cho giao thông,
Hǎm tám triệu mẫu cát
Thành ruộng cho nhà nông.

Vì vậy:

Nước đã mạnh, thêm mạnh,
Dân đã giàu, càng giàu,
Thái bình và hạnh phúc,
Hưởng mãi muôn đời sau.

*

* *

Nước ta đang kháng chiến
Để diệt lũ thực dân.
Khi kháng chiến thắng lợi,
Ta xây dựng dần dần.
Liên Xô đã bước trước,
Việt Nam sẽ tiến sau.
Ta ra sức thi đua,
Thành công ắt cũng mau.
Ta mừng Vônga – Đông,
Ta phất ngọn cờ hồng.

Và hô to:

Kháng chiến nhất định thắng lợi!
Kiến quốc nhất định thành công!

C.B.

Báo Nhân dân, số 69, ngày 7-8-1952.
cpv.org.vn

Thư Trung thu (25-9-1952)

Gửi các cháu nhi đồng ở vùng tự do, vùng du kích, vùng tạm bị chiếm và ở ngoài nước,

Mỗi nǎm, đến Tết Trung Thu, Bác càng nhớ các cháu.

Trung Thu trǎng trong gió mát là cảnh thái bình. Mục đích của Bác và Đoàn thể cùng Chính phủ là cốt xây dựng cho các cháu đời sống thái bình, tự do, sung sướng.

Nhưng vì giặc Pháp, bọn can thiệp Mỹ và lũ Việt gian bù nhìn muốn bắt dân ta làm nô lệ cho chúng, chúng gây ra chiến tranh xâm lược, cho nên dân ta phải ra sức kháng chiến để giữ lấy độc lập, tự do.

Từ Thu trước đến Thu này, kháng chiến ta có nhiều thắng lợi, mà các cháu cũng tiến bộ nhiều.

Các cháu đều biết yêu nước, ghét giặc, đều chǎm học, siêng làm. Các cháu đều biết đoàn kết, thương yêu cha mẹ, giúp đỡ bộ đội và thương binh, giúp tǎng gia sản xuất và tiết kiệm.

Có nhiều cháu đã được khen thưởng, có cháu đã thành chiến sĩ thi đua toàn quốc.

Các cháu ở trong vùng tạm bị chiếm rất gan góc. Nhiều cháu đã hy sinh oanh liệt, để giữ bí mật, để giúp đỡ cán bộ và bộ đội.

Nói tóm lại, các cháu rất ngoan, Bác rất vui lòng.

Chắc các cháu có nghe nói: không những đồng bào trong nước mà các ông, các bà, các cô, các chú trong phe dân chủ thế giới, nhất là ở các nước bạn như Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên và các nước dân chủ nhân dân Đông Âu, đều nhớ đến các cháu. Cho nên đã lập ra Uỷ ban quốc tế bảo vệ thiếu nhi và định ngày 1-6 là ngày Tết Quốc tế của tất cả nhi đồng ở các nước.

Như thế là các cháu, nhi đồng Việt Nam và Trung Quốc, có hai Tết: Tết mồng 1 tháng 6 và Tết Trung Thu. Càng được sǎn sóc, các cháu càng phải cố gắng ngoan hơn nữa.

Các cháu gửi thư cho Bác nhiều lắm. Bác rất vui. Nhưng vì Bác bận quá, không trả lời riêng cho từng cháu được. Nhân dịp Tết Trung Thu, Bác gửi các cháu thư này:

Ai yêu các nhi đồng
Bằng Bác Hồ Chí Minh ?
Tính các cháu ngoan ngoãn,
Mặt các cháu xinh xinh,
Mong các cháu cố gắng
Thi đua học và hành.
Tuổi nhỏ làm việc nhỏ,
Tuỳ theo sức của mình:
Để tham gia kháng chiến,
Để gìn giữ hoà bình.
Các cháu hãy xứng đáng:
Cháu Bác Hồ Chí Minh!

Hôn các cháu
HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 75, ngày 25-9-1952.
cpv.org.vn

Thơ chúc Tết (1-1-1953)

Toàn thể chiến sĩ thi đua giết giặc,
Đồng bào cả nước đoàn kết một lòng
Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi,
Độc lập thống nhất, nhất định thành công.

Ngày 1 tháng 1 nǎm 1953
HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 89,
từ ngày 1 đến 7-1-1953.
cpv.org.vn

Thất cửu – sáu mươi ba tuổi (1953)

Nhân vị ngũ tuần thường thán lão,

Ngã kim thất cửu chính khang cường.

Tự cung thanh đạm tinh thần sảng,

Tố sự thung dung nhật nguyệt trường.

1953

Dịch nghĩa:

BẢY CHÍN

Thường người ta chưa đến nǎm mươi tuổi đã tự than già,

Mình nay sáu mươi ba tuổi vẫn đang khỏe mạnh.

Sống cách thanh đạm tinh thần sáng suốt,

Làm việc thong dong, ngày tháng dài.

1953

Dịch thơ

SÁU MƯƠI BA TUỔI

Chưa nǎm mươi đã kêu già,
Sáu ba, mình vẫn nghĩ là đương trai.
Sống quen thanh đạm nhẹ người,
Việc làm tháng rộng ngày dài ung dung .

1953

Viết bằng chữ Hán.
Sách Hồ Chí Minh: Tuyển tập vǎn học,
Nxb. Vǎn học, Hà Nội, 1995, t.3, tr.193-194.
cpv.org.vn