Tag Archive | Thời sự

Thư chào mừng Hội nghị nhân dân Đông Dương (25-2-1965)

Kính gửi Hội nghị nhân dân Đông Dương,

Phnôm Pênh

Nhân dịp khai mạc Hội nghị nhân dân Đông Dương do sáng kiến của Thái tử Quốc trưởng Nôrôđôm Xihanúc, tôi thay mặt nhân dân Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân, gửi lời chào mừng nhiệt liệt đến Hội nghị. Cũng nhân dịp này, tôi nhiệt liệt hoan nghênh tinh thần anh dũng của nhân dân Khơme anh em đã bền bỉ đấu tranh, bảo vệ chính sách hoà bình và trung lập, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Vương quốc Campuchia dưới sự lãnh đạo của Thái tử Quốc trưởng Nôrôđôm Xihanúc.

Hơn mười nǎm nay, thi hành chính sách can thiệp và xâm lược, đế quốc Mỹ đã phá hoại một cách có hệ thống Hiệp định Giơnevơ nǎm 1954 về Đông Dương và Hiệp định Giơnevơ nǎm 1962 về Lào, đã xâm phạm độc lập, chủ quyền của ba nước chúng ta. Nhưng nhân dân Vương quốc Campuchia, nhân dân Vương quốc Lào và nhân dân miền Nam Việt Nam đã anh dũng chống lại và đã giành được nhiều thắng lợi to lớn.

Trong cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam , Mỹ đã bị nhân dân miền Nam Việt Nam anh hùng, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đánh cho thất bại thảm hại. Để gỡ thế bí, bọn xâm lược Mỹ vừa tǎng cường chiến tranh ở miền Nam Việt Nam, vừa trắng trợn gây những hành động chiến tranh đối với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đồng thời chúng tǎng cường các hoạt động khiêu khích vũ trang đối với Vương quốc Campuchia và cho máy bay tiến công nhiều vùng do Neo Lào Hắcxạt và lực lượng trung lập yêu nước Lào kiểm soát.

Chính sách gây chiến của đế quốc Mỹ đang bị nhân dân toàn thế giới kịch liệt phản đối.

Nhân dân ba nước anh em Việt Nam, Campuchia và Lào vốn đã luôn luôn cùng nhau sát cánh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Đứng trước nguy cơ một cuộc chiến tranh mở rộng do Mỹ gây nên, nhân dân ba nước chúng ta đoàn kết chặt chẽ chống đế quốc Mỹ, thì chúng ta nhất định thắng lợi.

Tôi kính chúc Hội nghị nhân dân Đông Dương thành công tốt đẹp

Hà Nội, ngày 25tháng 2 nǎm 1965
Hồ Chí Minh

———————-

Báo Nhândân, số 3986, ngày 2-3-1965.
cpv.org.vn

Điện cảm ơn Thái tử Nôrôđôm Xihanúc và Hội nghị nhân dân Đông Dương (6-3-1965)

Kính gửi Ngài Chủ tịch Hội nghị nhân dân Đông Dương,

Phnôm Pênh

Tôi rất cảm kích được biết qua bức điện của Ngài rằng Thái tử Nôrôđôm Xihanúc, Quốc trưởng Vương quốc Campuchia, đã kịch liệt lên án đế quốc Mỹ về hành động khiêu khích mới và hết sức nghiêm trọng của chúng đối với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhấn mạnh sự cần thiết đối với nhân dân các nước Đông Dương phải tǎng cường đoàn kết hơn nữa trước nguy cơ mở rộng chiến tranh do đế quốc Mỹ gây nên.

Quan điểm trên đây của Thái tử Quốc trưởng, mà Hội nghị nhân dân Đông Dương hoàn toàn tán thành, là một bằng chứng tỏ rõ ý chí thống nhất của nhân dân ba nước chúng ta là kiên quyết đấu tranh chống sự xâm lược của đế quốc Mỹ và ra sức bảo vệ hoà bình, độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ.

Thay mặt nhân dân và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, một lần nữa tôi nhiệt liệt chúc Hội nghị nhân dân Đông Dương thành công rực rỡ và chân thành cảm ơn Thái tử Nôrôđôm Xihanúc, Quốc trưởng Vương quốc Campuchia.

Tôi xin gửi Ngài lời chào kính trọng.

Hà Nội, ngày 6 tháng 3 nǎm 1965
Hồ Chí Minh

————————–

Báo Nhân dân, số 3992, ngày 8-3-1965.
cpv.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa

Trong xu thế toàn cầu hóa như hiện nay, quan điểm và ý đồ đồng nhất hóa các giá trị văn hóa, các chuẩn mực xã hội theo một mô hình nào đó tự cho là kiểu mẫu đối với toàn bộ thế giới đang tồn tại và trở thành vấn đề tập trung chú ý của nhiều quốc gia, với những phản ứng khác nhau.

Tại hội nghị của Đại hội đồng UNESCO lần thứ 31 diễn ra từ ngày 13-10 đến 3-11-2001 tại Pari, vấn đề tôn trọng sự đa dạng văn hóa với lòng khoan dung, tránh tư tưởng áp đặt do UNESCO đề xuất đã thu hút sự quan tâm của toàn thể đại hội đồng. Điều này cho thấy tất cả các dân tộc đều ý thức khá sâu sắc rằng tôn trọng bản sắc của từng nền văn hóa là vấn đề cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong khi phấn đấu vì một thế giới chung sống hòa bình. Tuy nhiên, cũng từ đây lại đặt ra vấn đề có ý nghĩa không kém phần quan trọng nữa là, để thực hiện tốt quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa, tạo cơ sở cho việc xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, thì trước hết nền văn hóa của mỗi dân tộc phải mang dấu ấn và sức sống riêng, vì thực tế “sự linh hoạt chỉ mang lại hiệu quả khi nó được tiến hành trên cái ổn định”.

Hồ Chí Minh với tư cách là một nhà nhân văn chân chính, nhà văn hóa kiệt xuất ngay từ rất sớm đã nắm bắt được quy luật hình thành, vận động và phát triển của một nền văn hóa. Trong nhận thức của Người, “Văn hóa Việt Nam chứa đựng sự kỳ diệu giữa cái ổn định và cái linh hoạt” bởi lẽ nền văn hóa này có sợi dây liên hệ bền chặt với cuộc sống. Và, một trong những nội dung cơ bản trong tư tưởng của Người về văn hóa đó là “Văn hóa phải gắn liền với cuộc sống”. Tư tưởng cốt lõi này trở thành nội dung xuyên suốt được quán triệt sâu sắc góp phần mang lại nét độc đáo riêng có trong hầu hết các giá trị văn hóa mà Hồ Chí Minh để lại.

Qua nghiên cứu nhận thức của Hồ Chí Minh về văn hóa, chúng ta nhận thấy Người đã xuất phát từ phạm trù “sinh tồn” để kiến giải phạm trù văn hóa.

Người coi văn hóa là kết quả tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt của loài người thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa là một bộ phận hợp thành toàn bộ đời sống xã hội. Từ sự nhận thức đó, Hồ Chí Minh chỉ ra: kiến thiết xã hội phải có bốn lĩnh vực (kinh tế – chính trị – văn hóa – xã hội) cùng được coi trọng. Trong đó, văn hóa ở vào vị trí trung tâm, có vai trò điều tiết xã hội. Theo Người muốn xác định vai trò đó, mọi hoạt động văn hóa phải thực sự hòa quyện, thâm nhập vào cuộc sống muôn màu, muôn vẻ của đông đảo quần chúng nhân dân với đầy đủ những mảng tối sáng đầy góc cạnh của nó làm đối tượng phản ánh và phục vụ. Quan trọng hơn, văn hóa phải “thiết thực phục vụ nhân dân, góp phần vào việc nâng cao đời sống vui tươi lành mạnh của quần chúng” (Hồ Chí Minh toàn tập, Tr. 10, Tr. 59) góp phần “soi đường cho quốc dân đi”, tạo sức mạnh dời non lấp bể như gốc của cây, nguồn của sông. Theo lôgíc của lập luận này, Hồ Chí Minh khẳng định chính đời sống hiện thực là “kho tài nguyên vô tận” để khơi đậy những mạch nguồn sáng tạo. Nếu người cán bộ văn hóa xa rời cuộc sống, đứng ngoài cuộc sống, không theo kịp mạch đập của cuộc sống tất sẽ phải đối diện với sự khô héo, cằn cỗi, nghèo nàn và nhàm chán trong chính sáng tạo của mình. Ngược lại, nếu biết bắt nhịp với cuộc sống đời thường vốn trần trụi, gai góc và đang hối hả trào tuôn thì khi đó văn hóa sẽ được sống bằng nguồn năng lượng vô cùng mà đời sống trao cho.

Gắn văn hóa với đời sống, Hồ Chí Minh xác định cơ chế vận hành của nền văn hóa trên trục trung tâm là các hoạt động của con người. Từ chỗ đặt các vấn đề văn hóa của con người vào vị trí những dự kiến quan trọng nhất, Người cho rằng con người với tư cách là chủ thể sáng tạo văn hóa – chủ thể cuộc sống, chủ thể của quá trình lao động sản xuất phải được bồi dưỡng, vun đắp.

Thực chất của những tư tưởng này là, Hồ Chí Minh không chỉ coi trình độ, các giá trị nhân bản là “chất liệu”, là “sự nghiệp trăm năm của văn hóa”, mà văn hóa phải là động lực cho sự phát triển. Vì vậy quan điểm này không chỉ có ý nghĩa định hướng cho việc xây dựng một nền văn hóa thuộc về con người, quan trọng hơn còn chỉ ra cơ sở mang lại sức sống mãnh liệt cho văn hóa.

Công cuộc đổi mới, xây dựng CNXH ở nước ta hiện nay thực sự là cuộc hành trình đến những giá trị văn hóa đích thực nhất. Bởi lẽ, CNXH chính là biểu trưng giá trị cao đẹp nhất, sáng tạo nhất mà dân tộc Việt Nam có thể xem là một chủ thể xứng đáng. Tuy nhiên, hành trình đến CNXH không là con đường bằng phẳng trơn tru. Thực tiễn đang có nhiều vấn đề mới nảy sinh, trong đó xu hướng toàn cầu hóa với việc mở cửa, hội nhập đang đòi hỏi mỗi dân tộc cần thiết phải khẳng định bản lĩnh của mình. Trong tất cả những sức mạnh cần khẳng định, sức mạnh văn hóa cần thiết phải đặt vào vị trí hàng đầu, vì “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là tầm cao, chiều sâu về trình độ phát triển của dân tộc, kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa người với người, người với xã hội, với thiên nhiên. Văn hóa là động lực, mục tiêu của sự nghiệp cách mạng”.

Nói như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, “Văn hóa là đổi mới, đổi mới là văn hóa”. Vì vậy trong sự nghiệp đổi mới đầy khó khăn, văn hóa phải đóng vai trò là nguồn động lực quan trọng. Nguồn động lực ấy sẽ trở nên dồi dào nếu nền văn hóa được xây dựng, giữ gìn và phát huy đúng hướng. Muốn thế, phương châm của mọi hoạt động văn hóa phải xuất phát từ cuộc sống, đi sâu phản ánh những cơ tầng đa diện, sâu sắc của cuộc sống và hướng đến phục vụ cuộc sống.

THI AN
baobinhdinh.com.vn

Nhớ mãi mùa xuân ấy

GiadinhNet – Vào năm 1946, khi nước nhà vừa giành được độc lập, dù bận trăm công, ngàn việc nhưng Bác Hồ vẫn dành thời gian tổ chức hôn lễ cho một nữ cán bộ cảnh vệ.

Vợ chồng bà Trần Thị Thái và hai người con. Ảnh tư liệu

Sự kiện này khiến những người trong cuộc rưng rưng nước mắt nhớ mãi…

Bà Trần Thị Thái – nguyên cán bộ Cục Cảnh vệ cho biết, bà có rất nhiều kỉ niệm trong 15 năm được làm công tác bảo vệ, phục vụ Bác Hồ. Sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, bà Thái được phân công về Nhà in Lao Động của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, ở 51 Hàng Bồ, Hà Nội. Công tác ở đây được ít ngày thì cuối năm 1945, ông Trần Danh Tuyên, công tác tại Ban Bảo vệ Thành ủy Hà Nội gọi bà Thái lên trao đổi công việc. Sau khi hỏi thăm về gia đình, nguyện vọng, ông Tuyên đi thẳng vào vấn đề: “Tổ chức đã thống nhất và phân công đồng chí sang nhận công tác mới. Đó là bộ phận bảo vệ và phục vụ Bác Hồ”.

Khi nghe ông Tuyên giao nhiệm vụ, bà Thái không tin vào tai mình, trong lòng cứ xốn xang. Là một thanh niên tham gia hoạt động cách mạng, chưa bao giờ bà nghĩ mình lại có vinh dự được bảo vệ Bác Hồ – lãnh tụ vừa đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Công hòa. Đêm ấy bà nằm thao thức, không sao ngủ được.

Đến bây giờ, nhắc lại kỉ niệm này bà Thái vẫn còn xúc động. Bà kể: “Địa điểm mà hôm sau tôi được dẫn đến là ngôi nhà cách dốc Cống Vị (Hà Nội) chừng 300m, bên bờ sông Tô Lịch, ngược về phía chợ Bưởi. Ở đây tôi được anh Cả (tên thân mật của đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Thường vụ Trung ương Đảng) hướng dẫn công việc cụ thể. Để giữ bí mật, tôi đóng vai là người con gái trong gia đình. Công tác được mấy ngày thì một hôm, anh Cả gọi tôi lên họp. Đang chuẩn bị vào nội dung cuộc họp thì tôi thấy một ông cụ mặc bộ quần áo kaki bước vào. Tôi sững người khi thấy đó chính là Bác. Bác vui vẻ cười, hỏi thăm mọi người. Vì ở đây chỉ có duy nhất tôi là nữ nên Bác hỏi chuyện tôi nhiều hơn. Bác không hài lòng vì thấy cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của tôi còn quá thiếu thốn và nói với anh Vũ Long Chuẩn (ông Vũ Kỳ, thư ký của Bác), anh Nguyễn Văn Lý (đồng chí Hoàng Hữu Kháng, cận vệ của Bác, sau này là Cục trưởng Cục Cảnh vệ) thu xếp chỗ ăn ở cho tôi kẻo ảnh hưởng đến sức khỏe. Tôi xúc động quá, nghĩ mình chưa làm được gì cho Bác, mà ngược lại, Bác lại chăm lo cho tôi rất chu đáo.

Thời gian ở đây, ngoài công tác, chúng tôi được Bác cho học thêm về chính trị và một số vấn đề khác. Bác giao cho anh Chuẩn chuẩn bị chương trình. Chúng tôi rất đoàn kết và yêu thương nhau như anh em trong một gia đình. Đặc biệt, tôi biết anh Lý đã thầm yêu mình. Tôi ngượng mà chẳng dám tâm sự với ai.

Một buổi chiều, xe đưa Bác về, anh Lý và anh Chuẩn đi cùng Bác. Lát sau, Bác cho gọi tôi lên. Tôi lo quá không hiểu có chuyện gì để Bác bận lòng. Khi lên thấy Bác tươi cười, tôi đã đoán ra chuyện Bác hỏi. Bác chỉ cho tôi chiếc ghế và nói: “Cô ngồi xuống đây, tự nhiên. Bữa nay Bác nói chuyện lâu đấy”.

Tôi ngần ngại, phần thì lo lắng, phần thì ngượng. Bác hỏi tôi về chuyện gia đình, công tác và học tập. Rồi Bác nhìn tôi, nhìn anh Lý cười và hỏi: “Cô Thái có người thương chưa?”. Tôi xấu hổ, lúng túng, ấp a ấp úng mãi mới trả lời Bác: “Dạ, thưa Bác! Con… con… con còn ít tuổi chưa nghĩ đến ạ”.

Nói như vậy là chưa thật đúng với lòng mình, nhưng tôi nghĩ đất nước mới giành được độc lập, điều kiện còn khó khăn, bộn bề công việc, làm sao mình có thể lập gia đình được. Lúc trong đầu tôi đang ngổn ngang suy nghĩ thì Bác hỏi tiếp: “Cô năm nay bao nhiêu tuổi?”. “Dạ, thưa Bác! Năm nay con 20 tuổi ạ”, tôi đáp. Bác cười đôn hậu: “Hai mươi tuổi mà còn ít à. Bác làm mối cho được không?”.

Tôi đỏ bừng mặt, tay cứ vân về tà áo, trong lòng vui mà không dám nói ra. Lát sau tôi mới dám ngẩng lên nhìn Bác và liếc sang anh Lý. Thấy tôi như vậy Bác cười và không nói về chuyện này nữa.

Ít hôm sau, anh Cả nói với tôi: “Bác hỏi thật đấy. Bác giới thiệu cô với chú Lý, ý cô thế nào?”. Đến lúc này tôi mới thưa thật: “Được Bác và các anh tác thành cho thì còn hạnh phúc nào bằng”.

Đám cưới của chúng tôi đã được Bác cho tổ chức đúng vào ngày Tết Dương lịch năm 1946. Khách mời có anh Cả, anh Văn (tên gọi thân mật của đồng chí Võ Nguyên Giáp), anh Tô (tên gọi thân mật của đồng chí Phạm Văn Đồng), chị Thanh và một số người khác. Anh Cả còn đưa đến một chiếc bánh gatô và một bó hoa hồng rất đẹp mà Bác đã dặn đặt cho lễ cưới. Trước buổi liên hoan, chị Thanh nói: “Thưa Bác! Hôm nay là ngày vui của chị Thái, anh Lý và cũng là ngày vui của cả nhà ta. Xin Bác làm chủ hôn cho ạ”.

Bác Hồ nâng cốc, đọc hai câu thơ rồi nói với chúng tôi: “Lễ cưới đơn giản nhưng vui vẻ, cốt là ở tấm lòng. Sau này đất nước ta giàu mạnh, đám cưới con các cô các chú sẽ tổ chức đàng hoàng và vui hơn”.

Chúng tôi thấy như không còn khoảng cách giữa một vị Chủ tịch nước với các chiến sỹ của mình, mà như người Cha đang lo công việc cho con cháu trong nhà. Vợ chồng tôi vô cùng xúc động, tự hào về ngày vui của mình. Mùa xuân năm 1946 ấy là mùa xuân đầu tiên đất nước ta giành được độc lập và cũng là mùa xuân đầu tiên của vợ chồng tôi”.

Nguyễn Đức Quý
(Ghi theo lời kể của bà Trần Thị Thái)
bee.net.vn

Dấu ấn văn hoá xứ Nghệ trong cuộc đời Hồ Chí Minh

Mỗi một con người, dù người đó là ai – là một người bình thường hay là một vĩ nhân, đều có một quê hương. Quê hương là nơi mỗi chúng ta được sinh ra và đón nhận những dấu ấn đầu đời. Những dấu ấn, cảm nhận đó đi sâu vào trong tiềm thức của mỗi chúng ta, từ đó hình thành nên những tâm tư tình cảm, tư tưởng, phong cách của mỗi con người trong cuộc sống. Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta cũng vậy, Bác được sinh ra và sống những năm tháng tuổi thơ ở quê hương xứ Nghệ. Đây là một miền quê nghèo, người dân quanh năm phải chống chọi với thời tiết khắc nghiệt để sinh sống và chống giặc ngoại xâm để bảo vệ quê hương.

Chính vì vậy, con người xứ Nghệ luôn có những đức tính cần, kiệm, yêu lao động, đặc biệt là tinh thần yêu nước nồng nàn, sự đoàn kết, yêu thương, nhân ái. Bên cạnh đó, con người ở đây còn có tinh thần lạc quan, ham học hỏi để khắc phục thiên nhiên, cải tạo cuộc sống. Mang đậm dấu ấn văn hoá của núi Hồng, sông Lam, những làn điệu dân ca, câu hò ví dặm….đã tạo nên những nét độc đáo, riêng biệt không thể lẫn với bất cứ vùng nào. Sống trong một miền quê trù phú về văn hoá, tiếp xúc và cảm nhận được những tình cảm quê hương – từ nhỏ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được lắng nghe những điệu hò, câu ví qua giọng hát của bà, của mẹ, tiếp xúc với những tình cảm của xóm làng. Lớn lên được sự chỉ bảo, dạy dỗ nghiêm khắc của cha, sự yêu thương của mẹ và nhất là sự kèm cặp của ông ngoại, nên dấu ấn văn hoá xứ Nghệ càng thấm sâu vào trong tư tưởng, tình cảm của Người. Dấu ấn xứ Nghệ ấy trong Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp một phần rất lớn trong việc hình thành phong cách của Người.

Cụ thể, dù bôn ba khắp thế giới để tìm đường cứu nước; dù trong lao tù của thực dân, đế quốc hay trong gian khổ của cuộc trường kỳ kháng chiến nhưng lúc nào Người cũng luôn đau đáu nỗi nhớ về quê hương – nơi có những người thân yêu nhất của mình. Với Người, tình cảm quê hương là những gì thiêng liêng nhất:

Quê hương nghĩa trọng tình cao
Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình.

Những cán bộ, nhân viên, chiến sỹ…có vinh dự được sống gần gũi với Người đều có chung một nhận xét: Từ thuở niên thiếu cho đến lúc về già, từ người thanh niên yêu nước đến khi trở thành lãnh tụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn mang đậm phong cách quê hương xứ Nghệ qua từng lời nói, việc làm.

Trong tư tưởng tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự giản dị đơn sơ trong cuộc sống là sự chí công vô tư, vượt lên hết thảy mọi sự ham muốn vật chất đời thường và đó cũng là sự cần, kiệm trong cuộc sống – một đức tính tốt đẹp của người dân xứ Nghệ.

Như chúng ta đã biết, sau khi giải phóng Thủ đô, cuối năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh về sống và làm việc tại Phủ Chủ tịch. Lúc đầu Thường vụ Trung ương Đảng sắp xếp cho Người ở tại ngôi nhà trước đây của Toàn quyền Pháp – một ngôi nhà sang trọng và đầy đủ tiện nghi. Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khước từ và chọn cho mình một ngôi nhà của một người thợ điện để làm việc cho gần gũi với anh em và các đồng chí của mình. Sau này nơi ở của Người ngôi nhà sàn đơn sơ giữa vườn cây, ao cá giản dị đã đi vào huyền thoại.

Những đồng chí có dịp được ở gần Người, khi tận mắt chứng kiến bữa ăn của một vị Chủ tịch nước đều nhận xét: Người vẫn nhớ những món ăn đạm bạc của quê hương. Trên mâm cơm vẫn bát canh, quả cà, miếng cá kho hoặc miếng thịt kho, tuyệt nhiên không thấy những món ăn đặc sản, xa cách với người lao động.

Sinh thời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhận xét: “Dùng cơm với Cụ hàng trăm lần, lần nào cũng thấy Cụ tém vén không để rơi một hạt cơm nào, bởi vì Cụ trọng công đức của người lao động đã làm ra hạt lạc, hạt gạo. Chuyện nhỏ, đức lớn hài hoà ở một con người”.

Cách ăn mặc của Người cũng giản dị, thanh tao từ quần áo Người mặc, đôi dép cao su Người đi đều đã mang đậm dấu ấn cần, kiệm của văn hoá xứ Nghệ.

Trong Bảo tàng Hồ Chí Minh hiện nay vẫn lưu giữ bộ quần áo kaki Người mặc lúc sinh thời. Trước đây, khi thấy Người mặc bộ quần áo kaki cũ, các đồng chí phục vụ có ý đề nghị thay bộ mới hơn, Người nói “Dân ta còn nghèo, đang khó khăn nhiều, Bác có bộ quần áo này là đầy đủ lắm rồi”. Xí nghiệp May 10 của Tổng cục Hậu cần gửi biếu Bác bộ quần áo kaki mới, Bác nhận, song Người gửi lại để xí nghiệp làm phần thưởng thi đua cho anh em công nhân.

Trên cương vị là người đứng đầu Đảng và Nhà nước bận trăm công nghìn việc, nhưng Người vẫn dành thời gian để tăng gia sản xuất, trồng rau, nuôi cá…quanh ngôi nhà Bác ở là một khu vườn với nhiều loại cây, hoa trái, trong đó có hàng dâm bụt – gợi nhớ quê nhà.

Như vậy, chỉ với những gì xung quanh thể hiện qua cách ăn, ở, mặc và sinh hoạt ta cũng đã thấy ở trong Chủ tịch Hồ Chí Minh có thấp thoáng dấu ấn quê hương, đó là sự giản dị, cần, kiệm, trọng lao động. Qua những hành động đó ta còn thấy được tình cảm sâu sắc của Người đối với quần chúng nhân dân, một tình yêu san sẻ không muốn sống “trên mức sống của một người dân bình thường”.

Tình nhân ái và yêu thương mọi người còn thể hiện rất nhiều qua những cử chỉ và hành động của Người, nhưng ở đây tôi chỉ muốn nhắc đến cái khái quát cao nhất đó là trong tư tưởng để Người đi đến hành động: Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn đến tột bậc, đó là nước nhà được độc lập, nhân dân được tự do, ai cũng có ăn, có mặc và ai cũng được học hành. Từ những mong muốn đó mà Người đã ra đi tìm đường cứu nước, vượt qua mọi gian khổ hi sinh. Tính nhân ái đó không chỉ thể hiện cho dân tộc Việt Nam mà cho những người dân lao động khổ cực trên thế giới, đi đến đâu, bất cứ nơi nào Người cũng cảm thấy đau xót trước những người dân mất nước, nô lệ lầm than. Tình nhân ái, và một tình cảm trân trọng tất cả những người xung quanh mình, đó còn là sự nâng niu tình cảm con người, sự bao dung khi đối với những người mắc sai lầm trong quá khứ, từ đó mà khơi gợi lại cho họ những đức tính tốt đẹp, hướng họ đến cái chân – thiện – mỹ.

Tinh thần lạc quan, ham học hỏi của con người xứ Nghệ, cũng được thể hiện rõ nét hơn qua cả cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng ta biết rằng, với tình yêu nước nồng nàn, để tìm đường cứu nước làm cho dân có ăn, có mặc và ai cũng được học hành, Người đã ra đi bằng hai bàn tay trắng, không kể giá lạnh của băng tuyết Người vẫn miệt mài làm việc như bồi bàn, quét tuyết, chụp ảnh… để có tiền hoạt động cách mạng. Rồi khi bị trong tù thì tinh thần của Bác vẫn không hề bị nao núng. Vượt qua những gian khổ ấy là nhờ người có một niềm tin vững chắc ở phía trước, một tinh thần lạc quan yêu đời. Những vần thơ với những trăn trở về thiên nhiên, quê hương đất nước là một bằng chứng về tinh thần lạc quan của Người. Hồ Chí Minh ngay từ khi còn nhỏ đã rất ham học hỏi và đức tính đó là một trong những truyền thống của quê hương. Sau này cũng vậy, dù ở đâu trong hoàn cảnh nào Người cũng luôn tranh thủ học ngoại ngữ, đọc sách và nghiên cứu những vấn đề trên thế giới. Chính điều đó đã cho Người một kiến thức uyên bác về thế giới và về thời cuộc.

Như vậy, văn hoá xứ Nghệ được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu một cách có chọn lọc. Những tinh hoa văn hoá ấy đã ăn sâu vào trong tiềm thức của Người, là một phần rất quan trọng trong việc hình thành phong cách Hồ Chí Minh. Vì thế, ở Hồ Chí Minh, bất cứ làm việc gì, khi còn trẻ hay đã già, trong phong cách ứng xử, sinh hoạt, làm việc, tư duy…vẫn mang đậm dấu ấn văn hoá quê hương. Có được điều đó cũng bởi từ rất sớm Người yêu tha thiết mảnh đất xứ Nghệ giàu truyền thống, yêu tha thiết những người dân lam lũ nhưng lạc quan yêu đời. Trước khi rời khỏi thế giới này, Bác vẫn nhớ da diết về quê hương xứ Nghệ của mình. Trong nhạc phẩm “Lời Bác dặn trước lúc đi xa” của nhạc sĩ Trần Hoàn vẫn để lại một tình cảm xúc động cho chúng ta “…Chuyện kể rằng Bác đòi nghe câu Ví, nhớ làng Sen từ thửa ấu thơ…Bác muốn nghe một câu hò xứ Nghệ, bởi làng Sen day dứt trong tim…”.

Qua con người Hồ Chí Minh, chúng ta – những người dân Xứ Nghệ càng thêm tự hào và thêm yêu quê mình – một xứ Nghệ đã in đậm trong trái tim và tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất./.

Theo Ngô Thị Vân – Gv Khoa Xây dựng Đảng
Truongchinhtrina.gov.vn
Huyền Trang (st)
cpv.org.vn

Một đời chuốt mây đan ảnh Bác Hồ

Giadinh.net – Chân dung Bác Hồ kính yêu là đề tài sáng tác cho rất nhiều văn nghệ sỹ thuộc các bộ môn nghệ thuật. Tuy nhiên, làm chân dung Bác bằng chất liệu mây, tre-những sản phẩm đặc thù của quê hương Việt Nam thì chỉ có một người.

Đó là nghệ nhân Nguyễn Văn Trung (Phú Mỹ, Chương Mỹ, Hà Nội). Nhưng trong số hàng trăm bức chân dung Bác Hồ đã sáng tác, ông không bán mà chỉ tặng và mang đi triển lãm. Hồi kỷ niệm 115 năm ngày sinh của Người, nghệ nhân Nguyễn Văn Trung đã miệt mài hoàn thành một bức chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh khổng lồ (1,6x2m).

Bức chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh đan bằng mây có kích thước khổng lồ (1,6x2m).
(Ảnh: T.G)

Người duy nhất đan ảnh lãnh tụ bằng mây

Ông Trung quê ở làng Phú Mỹ, huyện Chương Mỹ, Hà Nội. Đời ông bị cái “nghiệp mây tre” đeo đuổi. Từ lúc còn trẻ lắm, ông đã sống chết với những sợi mây quê hương. Có lẽ, số phận đã chọn ông làm nghề này khi cho ông sinh ra ở một miền quê có truyền thống làm mây mỹ nghệ và lấy đi đôi chân khoẻ mạnh vào năm 16 tuổi.

Ông kể: “Đang đêm ngủ, trở mình thấy mỏi, rồi chân phải tê buốt. Hôm sau đi khám, bác sỹ bảo vỡ xương đùi do căn bệnh viêm xương, phải ngồi bệt một chỗ. Nhà nghèo, mất hai năm chạy chữa mà bệnh tật không thuyên giảm. Gia tài khánh kiệt, có lúc bác sỹ đã khuyên nên cưa chân thì sẽ chóng lành bệnh. Nhưng tôi không chịu. Thời gian trôi đi, vết thương biến chứng làm chân phải teo nhỏ”.

Đang cái tuổi “bẻ gãy sừng trâu” với bao hoài bão lại gặp phải căn bệnh éo le, cũng có những lúc ông muốn buông xuôi. “Số mình thế, biết trách ai. Chỉ học hết lớp 4, không còn cơ hội đi học lên, sẽ gắn với cái phận ăn bám suốt đời”, ông nhớ lại cảm giác của mình lúc đó. Nhưng rồi mọi việc cũng nguôi ngoai dần. “Nghe theo lời Bác Hồ, những người khuyết tật phải có ý chí “tàn nhưng không phế” nên tôi đã đứng dậy và tập đi…”. Ông Trung kể.

Đầu những năm 1970, nhìn bạn bè cùng trang lứa ôm súng vào chiến trường chiến đấu, ngẫm lại cái thân phận của mình, ông Trung buồn lắm. “Chẳng lẽ mình chẳng làm được một việc gì ra trò trống hay sao?”-ông Trung tự hỏi và cuối cùng đã tìm được cho mình của trả lời. Ông quyết định theo nghề truyền thống của gia đình làm mây tre đan. Thế nhưng, công việc tưởng chừng không nặng nhọc này dường như vẫn quá sức đối với Nguyễn Văn Trung, những ngày đầu mới rời khỏi chiếc giường. Mỗi lần ngồi vào đan được vài phút, ông lại ngã gục.

Dù vậy, chàng thanh niên tật nguyền vẫn không chịu đầu hàng bệnh tật. Thời gian thấm thoắt trôi đi, bệnh tật rồi cũng đầu hàng chàng thanh niên giàu nghị lực. Trung đã dần dần ngồi hẳn được và biết đan được những đường viền thô cho các bức tranh làm bằng mây, tre của bố. Một buổi sáng, Trung đưa cho bố sản phẩm mà anh đã thức nhiều đêm để đan. Nhìn bức tranh, người cha mừng rỡ nói: “Ông trời cũng thương, còn mỗi cái nghề của cha ông để lại, con cố học để mà kiếm sống…”.

Việc lựa chọn nguyên vật liệu để làm ảnh đòi hỏi sự cẩn thận, tỉ mỉ.
(Ảnh: T.G)

Cho đến nay, ông Trung đã trở thành một nghệ nhân nổi tiếng của Việt Nam trong lĩnh vực mây tre đan. Ông đã đoạt nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế: “Giải thưởng tuổi trẻ và sáng tạo quốc tế”, “Bàn tay vàng Đông Dương”, “Giải thưởng sản phẩm thủ công tinh xảo tại Nhật Bản”, “Giải thưởng vàng ngôi sao Việt Nam”. Ông cũng được trao 6 Huy chương vàng, bạc trong danh hiệu “Bàn tay vàng Việt Nam”, 4 lần đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua và nhiều bằng khen của các cấp chính quyền.

Đến bây giờ khi tuổi đời đã gần đến ngưỡng 60, ngồi đếm lại, ông vẫn không nghĩ mình đã đi được xa và đi nhiều nước trên thế giới đến thế. Cu Ba, Angola, Mỹ, Đức, Pháp, Anh, Bỉ, Liên Xô… đó là chưa kể, ông nằm hàng năm trời ở Trung Quốc và các nước Đông Nam Á với tư cách là chuyên gia và giới thiệu mây tre đan Việt Nam cho bạn bè quốc tế. Có hai chuyến đi mà ông nhớ nhất là chuyến xuất ngoại đầu tiên, sang Liên Xô vào tháng 4/1982 với tư cách là nghệ nhân giới thiệu về nghề mây tre đan của Việt Nam.

Và chuyến đi dài nhất là đến Cu Ba, ông đã ở đây từ năm 1982 – 1987 để hướng dẫn, xử lý nguyên liệu cho nước bạn. Ông đã giúp nước bạn nghiên cứu xử lý cây thực vật thay cho mây tre đan để sản xuất ra các mặt hàng thủ công, đặc biệt là chế biến cây bèo tây làm ra các sản phẩm có giá trị như bàn ghế, đồ lót cốc chén, mũ, túi… Trên cơ sở đó, bạn đã mở được 4 xưởng sản xuất lớn, thu hút hàng nghìn lao động.

Ông Trung được bạn bè thế giới biết đến như một người đan ảnh chân dung xuất sắc. Ông không nhớ hết là mình đã làm bao nhiêu bức ảnh cho các vị lãnh tụ và những người nổi tiếng trên khắp thế giới. Trong phòng làm việc của mình, những bức ảnh lớn về Bác Hồ, Lênin, Karl Marx, Engels Chủ tịch Fidel… những người ông ngưỡng mộ được treo ở vị trí trang trọng, còn lại rất nhiều ảnh chân dung khác. Mỗi bức ảnh đều có thần thái riêng.

Ông kể: “có rất nhiều người nhờ đại sứ quán của họ ở Việt Nam thuê ông đan ảnh chân dung của mình. Có người nổi tiếng, có người tôi không biết là ai”. Nhưng dù là ai đi nữa, chỉ cần gửi tấm ảnh qua email cho ông là được. Ông Trung hiện là người duy nhất trên thế giới chuyên đan ảnh lãnh tụ bằng nguyên liệu mây.

Kỷ lục đan ảnh Bác Hồ bằng mây

Thế nhưng, những thành công hiện nay mà ông Trung có được lại bắt đầu từ việc khao khát đan được một bức chân dung Bác Hồ thật đẹp. Ông nhớ lại thời gian đầu mới làm nghề, ước mơ trở thành anh bộ đội cụ Hồ không thành nên anh thanh niên Trung muốn làm điều gì đó ý nghĩa để thể hiện lòng ngưỡng mộ tới vị lãnh tụ kính yêu. Ước mơ ấy đã thôi thúc anh ngày đêm không ngừng học hỏi, để có thể đan được một bức chân dung Bác Hồ thật đẹp. “Để đan ảnh Bác, tôi thử đan rất nhiều ảnh chân dung của người thân, nhưng khi đan ảnh Bác lại chưa được vì không thể hiện được thần thái của Người”- ông Trung nhớ lại.

Không nản chí, anh vẫn quyết tâm để đạt được ước mơ của mình. Ngày đêm trăn trở, anh nhờ người đèo hàng chục cây số vào trường đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội tìm gặp trực tiếp thầy giáo Lê Quốc Lập (khi đó là hiệu trưởng) nhờ thầy chỉ dạy cho các vướng mắc đang gặp phải về kỹ thuật. Tuy có sự giúp đỡ của thầy Lập và một số thầy giáo có uy tín trong trường nhưng sau một năm ròng, ông vẫn chưa ưng ý với những tác phẩm của mình.

Rất nhiều tác phẩm đã ra đời dưới bàn tay cần mẫn của nghệ nhân Nguyễn Văn Trung.
(Ảnh: TG)

Ông đã sưu tầm rất nhiều ảnh của Bác Hồ, ảnh Bác ở chiến dịch Biên giới, Bác bắt tay Bác Tôn, Bác đang làm việc, Bác hôn các cháu thiếu nhi… Trước khi đan tấm ảnh nào, ông treo khắp nhà để khi nhìn vào đâu cũng thấy ảnh Bác và hình ảnh của Người cũng nhập tâm và theo ông vào từng giấc ngủ. Bàn tay khéo léo chuốt từng sợi mây mảnh mai trắng muốt nhỏ đến 1 ly, người đan phải sử dụng tới 15 đến 16 lối đan kết hợp với nhiều lóng đan đã tạo nên tác phẩm sinh động chân dung vị lãnh tụ kính yêu. Cuối cùng ông cũng đã có được bức chân dung Bác Hồ bằng chất liệu mây, tre ưng ý – đó là năm 1976.

Từ thành công bước đầu đó, đến nay ông Nguyễn Văn Trung đã đan được hơn 200 bức ảnh chân dung Bác Hồ . Bức nhỏ nhất 40x60cm, bức lớn nhất đã hoàn thành vào dịp kỷ niệm 115 năm ngày sinh của Bác có kích thước 1,6x2m. Đây là bức chân dung bằng mây lớn kỷ lục từ trước đến nay.

Ông Trung cho biết, những bức chân dung Bác Hồ của ông có nhiều người muốn mua, thậm chí trả giá đến hàng chục triệu đồng nhưng ông không bán. Những tác phẩm này ông để dành tặng các cơ quan nhân các sự kiện quan trọng của đất nước như Bảo tàng Hồ Chí Minh, Văn phòng Chính phủ… trong các dịp Quốc khánh, kỷ niệm ngày sinh hoặc ngày mất của Bác, Đại hội Đảng… Số còn lại, ông để tham dự các triển lãm trong nước và quốc tế để giới thiệu về con người và đất nước Việt Nam.

Một điều đáng quý nữa của nghệ nhân Nguyễn Văn Trung là chưa bao giờ ông có ý định giấu nghề. Ngoài việc tham gia giảng dạy tại ĐH Mỹ thuật công nghiệp Hà Nội, trường Mỹ nghệ Hà Tây, nhiều năm qua, ông đã hướng dẫn cho rất nhiều thanh niên trong làng học nghề và đi khắp các tỉnh từ Bắc vào Nam trực tiếp dạy nghề mây tre đan theo lời mời của các địa phương. Ông đã đào tạo được trên 100 lớp với gần 5.000 học sinh.

Quang Thành
giadinh.net.vn

Về bên Bác

Đại tá Trần Ngọc Bích (người đứng giữa hàng thứ nhất) hội ngộ cùng các cựu chiến binh Trung đoàn Không quân 916

Đã công tác ở Ban Đón tiếp nhiều năm, đã chứng kiến không ít những câu chuyện cảm động về tình cảm của nhân dân Việt Nam đối với Bác kính yêu, nhưng cuộc hội ngộ của ba người phi công già, ở tuổi thất thập cổ lai hy, đã từng lái trực thăng chuyên cơ phục vụ Bác Hồ giữa Quảng trường Ba Đình ngày 17/3/2012 đã thực sự gây xúc động cho những người phục vụ tại Lăng Bác ngày hôm đó, trong đó có tôi.

Trong đoàn người vào xem phim, nghe giới thiệu tại Khu tập kết số 8 Hùng Vương của Đoàn Cựu chiến binh Trung đoàn Không quân 916 hôm ấy có ba người phi công già cứ đứng lặng ôm nhau hồi lâu. Đó là Đại tá Trần Ngọc Bích – người lái trực thăng chuyên cơ của Bác Hồ, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 916; ông Hoàng Cần, nguyên Trưởng phòng Dẫn đường Quân chủng Phòng không – Không quân, người dẫn đường trong đội chuyên cơ của Bác Hồ; Anh hùng lực lượng vũ trang, Đại tá Nguyễn Đình Khoa, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 916, ông cũng là học trò của thầy giáo Trần Ngọc Bích. Họ có một điểm chung là cùng được phục vụ Bác Hồ lúc sinh thời. Gặp nhau tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi người trong số họ đều nhớ lại những kỷ niệm riêng của mình đối với vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu – Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đại tá Trần Ngọc Bích đã có hơn 32 năm với số lượng giờ bay kỉ lục là hơn 8.000 giờ ngồi sau cần lái trực thăng. Ông được đồng đội gọi với cái tên trìu mến “Anh cả của làng trực thăng Việt Nam”. Hạnh phúc nhất của đời ông là khoảng thời gian đặc biệt 9 năm thực hiện các chuyến bay phục vụ Bác Hồ. Năm 1958, Liên Xô tặng Việt Nam một chiếc máy bay Mi-4 và cử ba chuyên gia phụ trách. Năm 1960, tổ lái của Trần Ngọc Bích, Hoàng Trọng Khai đã tiếp nhận nhiệm vụ thay chuyên gia nước bạn, đảm nhận việc chuyên chở lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các chuyến công vụ ngoại giao trong nước.

Khi tôi hỏi về những kỷ niệm trong 9 năm (1960-1969) được chở Bác Hồ đi công tác, Đại tá Trần Ngọc Bích đang sôi nổi trở nên sâu lắng: Học Cụ Hồ khó lắm. Vì cụ quá giản dị trong cương vị của một bậc lãnh tụ. Trí tuệ cụ cao siêu, tài giỏi, song lại gần gũi, chân tình như một người thân của mỗi người. Tôi đã rất cố gắng, song chỉ học được ở Cụ vài phần. Hình ảnh Bác Hồ luôn nằm trong sâu thẳm trái tim những người lính bay.

Đại tá Trần Ngọc Bích nhớ lại lần đầu tiên được gặp Bác. Người ân cần hỏi thăm quê quán, hoàn cảnh gia đình và dặn dò cố gắng công tác cho tốt. Một số lần, thường là vào sáng Chủ Nhật, tốp bay của ông Trần Ngọc Bích nhận nhiệm vụ chở Bác Hồ đến khu vực Đá Chông thuộc huyện Ba Vì, Hà Tây cũ (nay là Hà Nội), được đặt biệt danh là K9 làm việc. Ông kể: Bác thường ăn cơm với mọi người. Bác ăn chậm rãi, rất ít và Bác thường ăn xong trước. Đồng chí Vũ Kỳ nháy mắt: Nào anh em, ta “chiến đấu tiếp”. Có lần ông Trần Ngọc Bích nói vui với đồng chí Vũ Kỳ: Cho phi công ăn riêng, chứ ăn với Bác, hôm nào cũng ngồi lại sau, xấu hổ lắm, ăn không no. Tưởng nói cho vui, ai ngờ trong bữa ăn, đồng chí Vũ Kỳ thưa lại với Bác, Trần Ngọc Bích “chết đứng như Từ Hải”. Bác cười: “Đúng rồi. Các cháu phi công phải ăn cho no mới có sức khoẻ để làm việc”. Rồi Người bảo mang thêm một đĩa cơm to đến cho anh em.

Ngoài nhiều lần được ăn cơm cùng Bác khi đi công tác, trong thời gian phục vụ Bác, ông Trần Ngọc Bích cùng tổ bay được Bác mời đến nơi ở và làm việc của Người ở Hà Nội dùng cơm hai lần. Một lần, Bác mời riêng tổ bay của Trần Ngọc Bích và một lần khác, trong buổi chia tay ba chuyên gia Liên Xô hoàn thành nhiệm vụ trở về nước. Sau bữa cơm, ông Trần Ngọc Bích và tốp bay được Bác mời xem bộ phim tài liệu “Đoàn cán bộ miền Nam ra thăm miền Bắc”.

Phi công Trần Ngọc Bích còn nhớ mãi chuyến bay vào tháng 3 năm 1969, nhận nhiệm vụ chở Bác từ sân bay Nội Bài về Bạch Mai. Ông có ngờ đâu đó là chuyến bay cuối cùng được phục vụ Bác Hồ. Trong nhà, Đại tá Trần Ngọc Bích dành một nơi trang trọng nhất để thờ Bác Hồ. Phía dưới chân dung Bác là một bức ảnh đặc biệt do đồng đội tặng: 5 chiếc máy bay trực thăng Mi-8 mang theo cờ Tổ quốc diễu hành trên Lăng Bác. Trần Ngọc Bích là một trong 5 phi công lái chính của tốp bay đặc biệt đó.

Đoàn Cựu chiến binh Trung đoàn Không quân 916 vào Lăng viếng Bác

Cùng hội tụ về bên Bác hôm nay, các cựu chiến binh anh dũng năm xưa đều không nén nổi xúc động khi được gắn Huy hiệu của Người, phần thưởng dành riêng cho các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, các Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động. Thay mặt đoàn, Đại tá Trần Ngọc Bích đã viết trong sổ cảm tưởng của Lăng: Hôm nay, chúng cháu là phi công của Trung đoàn Không quân 916 được về viếng Bác. Trước đây chúng cháu được phục vụ Bác lúc sinh thời, chúng cháu vô cùng tự hào. Nay trở về viếng Bác chúng cháu vô cùng cảm kích, vô cùng xúc động. Chúng cháu xin hứa với Bác sẽ tiếp tục phát huy truyền thống người chiến sỹ không quân và các thế hệ phi công nguyện suốt đời phục vụ Đảng, Nhà nước, rèn luyện học tập theo tấm gương của Người. Chúng cháu sẽ làm mọi nhiệm vụ cho Tổ quốc Việt Nam./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Điện mừng thắng lợi của Hội nghị nhân dân Đông Dương (16-3-1965)

Kính gửi Thái tử Nôrôđôm Xihanúc, Quốc trưởng Vương quốc Campuchia,

Hội nghị nhân dân Đông Dương được triệu tập theo sáng kiến của Ngài đã thành công tốt đẹp, đánh dấu một bước tiến lớn trong sự nghiệp đoàn kết chiến đấu của nhân dân Việt Nam, Campuchia và Lào, chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ xâm lược. Thắng lợi này của ba dân tộc chúng ta là một đòn mạnh mẽ đánh vào chính sách can thiệp và xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai của chúng ở Đông Dương.

Hiện nay, đế quốc Mỹ đang ra sức tǎng cường cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam, liên tiếp dùng máy bay tiến công nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; xâm phạm biên giới và uy hiếp nền độc lập, trung lập của Campuchia; vũ trang can thiệp vào Lào. Trước tình hình đó, Hội nghị nhân dân Đông Dương đã tỏ rõ ý chí kiên quyết chống bọn can thiệp và xâm lược Mỹ, đã thông qua những nghị quyết đòi Mỹ phải rút hết quân đội và vũ khí ra khỏi Đông Dương, triệt để tôn trọng các Hiệp định Giơnevơ nǎm 1954 và 1962. Đó là những nghị quyết rất đúng đắn bảo đảm các quyền dân tộc của nhân dân Đông Dương, góp phần giữ gìn hoà bình ở Đông- Nam á và thế giới.

Tôi nhiệt liệt hoan nghênh và cảm ơn Ngài và Cộng đồng xã hội bình dân Vương quốc Campuchia đã góp phần quan trọng làm cho

Hội nghị đạt thắng lợi rực rỡ.

Từ trước đến nay, nhân dân hai nước chúng ta đã đoàn kết và ủng hộ nhau trong cuộc đấu tranh chung vì hoà bình và độc lập dân tộc. Nhân dân Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà triệt để ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân và Chính phủ Campuchia dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Ngài để bảo vệ chủ quyền, độc lập, trung lập và toàn vẹn lãnh thổ Vương quốc Campuchia.

Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai nhất định sẽ thất bại. Sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân ba nước Việt Nam, Campuchia và Lào đoàn kết chặt chẽ nhất định sẽ giành được thắng lợi cuối cùng.

Tôi xin gửi Ngài lời chào trân trọng nhất.

Hà Nội, ngày 16 tháng 3 nǎm 1965
Hồ Chí Minh

———————-

Báo Nhândân, số 4002, ngày 18-3-1965.
cpv.org.vn

Điện mừng Tổng thống nước Cộng hoà A Rập thống nhất Gaman ápđen Nátxe (23-3-1965)

Kính gửi Tổng thống Gaman ápđen Nátxe nước cộng hoà A Rập thống nhất,

Lơ Ke

Nhân dịp Ngài lại được cử giữ chức Tổng thống nước Cộng hoà A Rập thống nhất trong nhiệm kỳ mới, thay mặt nhân dân Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân, tôi xin gửi đến Ngài lời chúc mừng nhiệt liệt nhất.

Chúc nhân dân nước Cộng hoà A Rập thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Ngài, thu được nhiều thắng lợi mới trong sự nghiệp xây dựng đất nước phồn vinh, góp phần vào việc tǎng cường khối đoàn kết á – Phi, bảo vệ hoà bình ở Trung Cận Đông và thế giới.

Chúc quan hệ hữu nghị giữa hai nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Cộng hoà A Rập thống nhất ngày càng củng cố và phát triển.

Chúc Ngài mạnh khoẻ.

Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Hồ Chí Minh

————————–

Báo Nhân dân,số 4007, ngày 23-3-1965.
cpv.org.vn

Điện mừng (25-3-1965)

Kính gửi đồng chí Nicôlaê Xêauexcu,Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Công nhân Rumani,

Đồng chí Kivu Xtôica, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hoà Nhân dân Rumani,

Bucarét

Các đồng chí thân mến.

Nhân dịp các đồng chí được cử giữ chức vụ Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Công nhân Rumani và Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hoà Nhân dân Rumani, thay mặt nhân dân Việt Nam, Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, tôi xin gửi đến các đồng chí lời chúc mừng nhiệt liệt nhất.

Tôi chân thành chúc các đồng chí đạt được nhiều thắng lợi to lớn trong nhiệm vụ cao cả của mình. Chúc nhân dân Rumani anh em, dưới sự lãnh đạo của Đảng và của các đồng chí đạt được nhiều thành tựu mới rực rỡ hơn trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, góp phần tǎng cường lực lượng phe xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hoà bình ở châu Âu và thế giới.

Chúc tình hữu nghị thắm thiết và quan hệ hợp tác giữa hai nước chúng ta ngày càng củng cố và phát triển.

Chúc các đồng chí luôn luôn mạnh khoẻ.

Hà Nội, ngày 25 tháng 3 nǎm 1965
Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Hồ Chí Minh

——————–

Báo Nhân dân, số 4010, ngày 26-3-1965.
cpv.org.vn

Thư gửi cán bộ, công nhân mỏ Thống Nhất, Quảng Ninh (27-3-1965)

Thân ái gửi công nhân và cán bộ mỏ Thống Nhất, Quảng Ninh,

Bác rất vui lòng nhận được báo cáo mỏ đã hoàn thành tốt kế hoạch quý I.

Bác mong các cô, các chú nhân đà thắng lợi đó, cùng các xí nghiệp bạn cố gắng hoàn thành kế hoạch cao hơn nữa.

Chào thân ái

Bác Hồ

——————

Thư gửi ngày 27-3-1965.

Tư liệu lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng.
cpv.org.vn

Điện mừng kỷ niệm lần thứ 10 Hội nghị Bǎngđung (3-4-1965)

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 10 Hội nghị Bǎngđung, thay mặt nhân dân Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân, tôi xin gửi lời chào mừng nhiệt liệt nhất tới Tổng thống Xucácnô, vị lãnh tụ kính mến của nhân dân Inđônêxia, người bạn vĩ đại của nước Việt Nam, người chiến sĩ ưu tú của sự nghiệp đấu tranh của nhân dân á-Phi và tới nhân dân anh dũng và cách mạng của nước Cộng hoà Inđônêxia. Tôi rất vui mừng về cuộc gặp gỡ của các vị đứng đầu Nhà nước và Chính phủ nhiều nước á-Phi đến dự lễ kỷ niệm Hội nghị lịch sử này tại Inđônêxia, nơi phát sinh và phát triển của tinh thần Bǎngđung. Tôi tin chắc rằng cuộc họp mặt đó sẽ góp phần quan trọng vào việc tǎng cường sự đoàn kết giữa nhân dân các nước á-Phi trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới và vào sự thắng lợi của Hội nghị các nước á-Phi lần thứ hai họp tại Angiê tháng 6 sắp tới.

Lịch sử trong mười nǎm qua đã chứng minh một cách hùng hồn sự đúng đắn, sức mạnh và sức sống của những nguyên tắc đã được nêu ra ở Bǎngđung. Những thắng lợi rực rỡ của phong trào giải phóng dân tộc đã xác minh rõ rằng phong trào cách mạng không gì cản nổi của nhân dân á-Phi cũng như tinh thần chiến đấu anh dũng và tình đoàn kết anh em mà họ đã biểu lộ trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng khỏi ách đế quốc và để tự tay mình xây dựng một cuộc đời mới. Từ trước đến nay, chưa bao giờ các nước độc lập á-Phi được đóng một vai trò quan trọng trên vũ đài quốc tế như hiện nay.

Nhưng bọn đế quốc, mặc dù thất bại thảm hại, vẫn ngoan cố xúc tiến những hành động xâm lược của chúng chống lại các lực lượng mới trỗi dậy trên thế giới.

Ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ nǎm 1954 được ký kết, Mỹ đã ráo riết can thiệp vào miền Nam Việt Nam và sự can thiệp đó đã biến thành một cuộc chiến tranh thực dân xâm lược chống lại các lực lượng yêu nước ở miền Nam Việt Nam. Bị sa lầy trong cuộc “chiến tranh đặc biệt” và để tìm cách tránh một sự thất bại hiển nhiên, bọn đế quốc Mỹ đang tǎng cường cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam. Chúng đưa vào đây các tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ Mỹ, quân lính của bọn bù nhìn Nam Triều Tiên và các chư hầu khác; chúng sử dụng ở đây những phương tiện chiến tranh dã man nhất, kể cả bom napan và hơi độc, để tàn sát thường dân không phân biệt một ai. Đồng thời, chúng mở rộng chiến tranh ra miền Bắc Việt Nam, bằng những cuộc ném bom hầu như ngày nào cũng có. Chính sách chiến tranh của bọn đế quốc Mỹ là một nguy cơ đang đe doạ hoà bình và an ninh của các dân tộc ở Đông Dương và Đông – Nam á.

Nhân dân Việt Nam yêu hoà bình nhưng quyết không bao giờ lùi bước trước bất kỳ một sự đe doạ nào của bọn đế quốc. Hơn 30 triệu nhân dân Việt Nam, đoàn kết muôn người như một, quyết tâm đánh bọn xâm lược Mỹ cho đến thắng lợi cuối cùng để bảo vệ chủ quyền, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc mình. Cuộc đấu tranh chính nghĩa của chúng tôi được toàn thể nhân loại tiến bộ ủng hộ vì nó là một bộ phận khǎng khít của cuộc đấu tranh vĩ đại hiện nay của tất cả các dân tộc chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến. Nhân dân Inđônêxia rất gần gũi với chúng tôi, đã đứng hẳn về phía chúng tôi và ủng hộ chúng tôi nhiệt liệt và thắm tình anh em nhất. Tôi xin phép được nói lên ở đây sự biết ơn sâu sắc của nhân dân Việt Nam đối với tình đoàn kết anh em của những người bạn chiến đấu Inđônêxia, của tất cả các chính phủ, các tổ chức và nhân sĩ các nước ở á, Phi, Mỹ latinh và trên thế giới…

Tôi tin chắc rằng, trong khi tưng bừng và phấn khởi tổ chức lễ kỷ niệm này, các dân tộc của hai lục địa chúng ta sẽ nâng cao cảnh giác, siết chặt hàng ngũ và chuẩn bị những trận chiến đấu mới chống đế quốc xâm lược và gây chiến đứng đầu là đế quốc Mỹ, nhằm giành được những thắng lợi to lớn và tốt đẹp hơn nữa.

Tình đoàn kết anh em giữa các nước á – Phi muôn nǎm! Tinh thần Bǎngđung muôn nǎm!

Ngày 3 tháng 4 nǎm 1965
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Hồ Chí Minh

———————–

Báo Nhân dân,số 4034, ngày 19-4-1965.
cpv.org.vn