Tag Archive | Thời sự

Nói chuyện tại lớp hướng dẫn giáo viên cấp 2, cấp 3 và hội nghị sư phạm (7-1956)

Bác nghe nói thanh niên không thích làm thầy giáo, làm thầy giáo không oanh liệt, không anh hùng, có đúng không ?

(Nhiều người đáp: “Có ạ!”)

– Sự thật các cô các chú cũng biết dân tộc ta, nước nhà ta đang khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá mà muốn khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá thì cần cán bộ rất nhiều, nhưng cán bộ ta còn thiếu. Vậy ta phải đào tạo cán bộ, cán bộ phải có văn hoá làm gốc. Nếu ta muốn dùng máy móc mà máy móc ngày một thêm tinh xảo, thì công nhân cũng phải có trình độ kỹ thuật rất cao không kém gì kỹ sư, phải biết tính toán nhiều.

ở nông thôn cũng vậy. Các cô các chú ở nông thôn nhiều, chắc biết trước kia ruộng là của địa chủ, nông dân cứ cúi đầu làm lụng suốt ngày, gặt bao nhiêu thì nộp cho địa chủ hết, nên không cần có văn hoá mà cũng không thể mong mỏi có văn hoá được. Bây giờ khác, nông dân có ruộng đất, lại có tổ đổi công cho nên nông dân phải biết văn hoá, như có quyển sổ, phải ghi tổ có mấy người, không biết chữ thì không làm được, rồi phải biết chia công chấm điểm, lại càng phải có văn hoá.

Vì vậy, công nhân, nông dân đại đa số phải có văn hoá. Muốn có văn hoá thì phải làm thế nào?

(Hội trường trả lời to: “Phải học”).

– Muốn học phải cần có gì?

(Có thầy).

– Các cô các chú cứ đi dần dần thì hiểu. Thầy giáo ngày nay không phải như trước chỉ biết gõ đầu trẻ, miễn là có bài cho học trò học, cuối tháng bỏ lương vào túi. Bây giờ thầy giáo có trách nhiệm với nhân dân, đào tạo cán bộ ra phục vụ nhân dân. Cách dạy, quan niệm dạy phải khác. Dạy sao cho học sinh mau hiểu, mau nhớ, lý luận đi với thực hành. Các cô các chú có thấy khác trước không?

(Có ạ!)

– Các thầy giáo, các cô giáo phải gần gũi dân chúng. Các thầy giáo cũng như các trí thức khác là lao động trí óc. Lao động trí óc phải biết sinh hoạt của nhân dân, nếu chỉ giở sách đọc thì không đủ. Phải yêu dân, yêu học trò, gần gũi nhau, gần gũi cha mẹ học trò. Giáo dục ở trường và ở gia đình có quan hệ với nhau. Các chú các cô phải thi đua trao đổi kinh nghiệm. Bác nói thế là hết. Văn hay không cần nói dài.

– Các cô, các chú có điều gì muốn hỏi Bác nữa không ?

(Một thanh niên đứng dậy: “Thưa Bác, ở miền Bắc nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội như thế nào?)

– Chú muốn biết ta tiến lên chủ nghĩa xã hội như thế nào thì trước hết chú phải biết chủ nghĩa xã hội là gì đã chứ!

– Cách mạng của mình hiện nay là cách mạng dân tộc dân chủ. Chắc các cô các chú đều biết cách mạng Pháp (1789). Họ cũng tịch thu tất cả ruộng đất của bọn vua chúa quý tộc, đại địa chủ rồi chia cho nông dân. Sau cách mạng, bọn quý tộc mất, nhưng vẫn còn có tiểu địa chủ, nhưng nói chung họ đánh đổ phong kiến địa chủ. Nay ta làm cải cách ruộng đất, có người nói là ta làm cộng sản, thế ta đã làm cộng sản chưa?

(Cả hội trường trả lời: “Chưa ạ!”)

– Nghe các cô, các chú trả lời thì hình như có lẽ đúng mà cũng có lẽ không. Nói như thế không đúng. Cộng sản là tất cả những cái gì để mà sản xuất đều là của chung như máy móc, ruộng đất. Tất cả những tư liệu sản xuất đều là của chung của nhân dân, của Nhà nước, người ta làm chung hưởng chung.

(Bác chỉ vào một đồng chí giáo viên trẻ tuổi và hỏi:)

– Xã chú đã cải cách ruộng đất chưa?

(Đã cải cách ruộng đất rồi ạ!)

– Khi trước có mấy địa chủ?

(Thưa có 9 địa chủ).

– Xã chú có bao nhiêu nông dân?

(Độ 8 nghìn người ạ!)

– Ruộng ấy chia cho 8 nghìn người. Chia là thế nào? Trước kia ruộng đất thuộc về 9 tư hữu, bây giờ là của 8 nghìn tư hữu. Thế thì có phải là cộng sản không ?

Thế chủ nghĩa xã hội là gì?

(Một đồng chí mạnh bạo đứng lên nói: “Chủ nghĩa xã hội là những tư liệu sản xuất thuộc về nhân dân”).

– Thế giữa người và người như thế nào?

(Đồng chí ấy chưa trả lời được. Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị một đồng chí cùng đi với mình trả lời hộ và nhắc lại:)

– Như vậy chủ nghĩa xã hội là lấy nhà máy, xe lửa, ngân hàng, v.v. làm của chung. Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tất nhiên là trừ những người già cả, đau yếu và trẻ con. Thế ta đã đến đấy chưa? Chưa đến. Chủ nghĩa xã hội không thể làm mau được mà phải làm dần dần. ở nông thôn phải có tổ đổi công để tăng gia sản xuất rồi tiến lên hợp tác xã, tiến lên nông trường.

Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu nước mạnh. ở nông thôn, nông dân được ruộng rồi mà cứ làm ăn theo cách cũ thì sản xuất không thể tăng gia được, xã hội không tiến lên được mà phải thụt lùi. Cho nên lúc đầu là cải cách ruộng đất, sau tiến lên một bước là tổ chức tổ đổi công sao cho tốt, cho khắp, lại tiến lên hình thức hợp tác xã dễ dàng, rồi tiến lên hợp tác xã cao hơn, lúc bấy giờ mới có chủ nghĩa xã hội.

ở thành thị, Chính phủ có những xí nghiệp lớn, trong các xí nghiệp đó, công nhân phải thi đua sản xuất và quản lý cho tốt. Dần dần, như bên Trung Quốc, ta sẽ khuyên các nhà tư sản – không phải bắt ép mà giáo dục thuyết phục họ – chung vốn với Chính phủ. Các nhà tư sản sẽ hợp tác với Chính phủ để sản xuất dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân.

– Phải hướng về phía ấy, mà công tư hợp doanh cũng còn phải tiến lên nữa. Các nhà tư sản sẽ thấy công tư hợp doanh có lợi, không có hại, dần dần họ thấy nhất định phải tiến lên chủ nghĩa xã hội. Bác hỏi các cô, các chú muốn đi con đường nào?

(Hội trường nhất loạt trả lời: ” Chủ nghĩa xã hội “).

– Thế thì các nhà tư sản, họ kinh doanh một mình, họ thấy khó có đường ra. Dù cho họ buôn bán to mấy cũng không thể chống lại công ty mậu dịch, không thể cạnh tranh nổi, do đó họ tự thấy tiền đồ của họ. Ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác. Các cô, các chú có thảo luận về Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ XX không?

Đại hội đã chỉ cho ta thấy ta có thể đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Ta có thể làm như Trung Quốc: đối với bọn phản động ở lại phá hoại thì phải tiêu diệt, nhưng đối với các nhà tư sản khác thì Trung Quốc đã giáo dục họ. Thế bao giờ miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội? Tất cả nhân dân cố gắng thì tiến mau, nếu ai cũng nghĩ đó là việc của Bác Hồ thì tiến chậm.

Còn giai cấp tư sản ở ta thì họ có xu hướng chống đế quốc, có xu hướng yêu nước. Tư sản các nước Anh, Mỹ, Pháp không có như thế. Vì sao? Vì tư sản nước ta bị Tây, Nhật áp bức, khinh miệt, họ căm tức tư sản Nhật, Pháp, cho nên, nếu mình thuyết phục khéo, lãnh đạo khéo, họ có thể hướng theo chủ nghĩa xã hội như ở Trung Quốc. ở Trung Quốc có những nhà đại tư bản đã chạy đi mà cũng có những người ở lại, nhưng lúc đầu không theo, hoặc chống lại cán bộ, chống lại cộng sản. Sau họ thấy rõ chính sách của Đảng Cộng sản, thấy rõ lòng hăng hái của nhân dân, thấy rõ sự tiến bộ của toàn dân, Đảng lại biết tổ chức, biết thuyết phục, bấy giờ họ vui vẻ đi với

Chính phủ vào công tư hợp doanh, có người làm việc với Chính phủ, vợ con cũng làm việc, ai làm được việc gì thì làm. Đại đa số con cái của họ vào Đoàn thanh niên. Họ viết thư về nhà nói: “Của cải của bố mẹ để lại, chúng con không cần nữa, chúng con đã được Đảng và Đoàn dạy cho lao động mà ăn”. Hoá được gia đình vợ con thì hoá được họ. Các bà tư sản, trước không làm được gì, bây giờ giúp bình dân học vụ, làm nhiều việc trong thành phố, ai có học thì làm việc cho Chính phủ. Họ viết thư khuyến khích bà con đã chạy sang Đài Loan. Họ viết: “Tổ quốc đẹp đẽ hùng mạnh như thế nếu còn có lương tâm thì về mà xem, nếu không muốn ở thì lại đi, chúng tôi xin bảo đảm”. Thế là nhà tư sản thành người tuyên truyền cho Chính phủ.

Nói tóm lại, tiến lên chủ nghĩa xã hội, không thể một sớm một chiều. Đó là cả một công tác tổ chức và giáo dục. Đó là công tác chung của tất cả mọi người, của cả thầy giáo. Phải hiểu chính sách của Chính phủ và của Đảng, phải thảo luận rồi tuyên truyền cho chính sách, phải giải thích cho dân hiểu, làm được như thế là gần lên chủ nghĩa xã hội rồi.

—————————–

Nói vào tháng 7-1956.
Sách Hồ Chủ tịch bàn về công tác giáo dục, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1962, tr. 255-261.
cpv.org.vn

Điện chúc mừng nhân dịp Quốc khánh Vương quốc Lào (7-8-1956)

Nhân dịp ngày Quốc khánh của Vương quốc Lào, thay mặt Chính phủ và nhân dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân tôi, tôi kính gửi Quốc vương, Chính phủ và nhân dân Lào lời chào mừng nhiệt liệt.

Tôi kính chúc Quốc vương, Chính phủ và nhân dân Lào sẽ thu được nhiều kết quả trong việc xây dựng một nước Lào ngày càng giàu mạnh.

Tôi tin rằng mối tình hữu nghị sẵn có giữa nhân dân hai nước láng giềng Việt – Lào sẽ ngày càng thêm thân mật và phát triển.

 

————————

Báo Nhân dân, số 886, ngày 7-8-1956.
cpv.org.vn

Thư gửi đồng bào Khu tự trị Việt Bắc (10-8-1956)

Thân ái gửi đồng bào Khu tự trị Việt Bắc,

Nhân ngày thành lập Khu tự trị Việt Bắc, tôi thay mặt Đảng và Chính phủ thân ái gửi lời chào mừng đồng bào, bộ đội và cán bộ toàn Khu.

Mục đích lập Khu tự trị là để làm cho các dân tộc anh em toàn Khu cùng nhau tự quản lý công việc của mình, phát huy khả năng của mình, tiến bộ mau chóng về mọi mặt: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội… Để đạt mục đích ấy, đồng bào ta cần phải:

– Đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc, các tầng lớp nhân dân, mọi người thương yêu giúp đỡ nhau như ruột thịt.

– Đoàn kết chặt chẽ với đồng bào cả nước.

– Mọi người ra sức thi đua tăng gia sản xuất, thực hiện kế hoạch Nhà nước, làm cho ai cũng cơm no áo ấm và được học hành, làm cho Khu tự trị Việt Bắc phát đạt giàu có.

– Hăng hái góp phần củng cố quốc phòng, xây dựng công an, để bảo vệ đất nước, bảo vệ đời sống yên vui của nhân dân.

– Cán bộ quân, dân, chính, Đảng phải đoàn kết chặt chẽ; phải luôn luôn gần gũi nhân dân, ra sức phục vụ nhân dân, phải cần, kiệm, liêm, chính, kiên quyết chống quan liêu mệnh lệnh, tham ô lãng phí.

Với truyền thống cách mạng anh dũng và lòng nồng nàn yêu nước của đồng bào Việt Bắc, Khu tự trị của chúng ta nhất định sẽ ngày càng tiến bộ. Là một bộ phận khăng khít của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Khu tự trị Việt Bắc sẽ góp phần xứng đáng vào sự nghiệp chung của toàn dân là: củng cố miền Bắc, chiếu cố miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Chào thân ái và thắng lợi
Hà Nội, ngày 10 tháng 8 năm 1956

HỒ CHÍ MINH

———————————–

Báo Nhân dân, số 889, ngày 10-8-1956.
cpv.org.vn

Nói chuyện với anh chị em công nhân Nhà máy diêm Thống nhất (16-8-1956)

Mọi người phải biết ơn Liên Xô và các nước bạn đã giúp đỡ nhân dân ta kiến thiết Tổ quốc và phải học tập tinh thần quốc tế cao cả của các đồng chí chuyên gia và công nhân các nước bạn. Anh chị em phải nhận rõ ngày nay công nhân đã làm chủ nhà máy, phải làm sao xứng đáng với địa vị đó, phải ra sức làm cho nhà máy phát triển, thực hiện tǎng gia sản xuất và tiết kiệm, chống lãng phí, triệt để tôn trọng kỷ luật lao động. Lợi ích của công nhân đi đôi với lợi ích chung của nhà máy. Nếu đời sống được cải thiện và mọi người được khoẻ mạnh thì sẽ phấn khởi thi đua sản xuất, làm cho nhà máy thu được nhiều kết quả. Nếu nhà máy phát triển thì có khả nǎng để cải thiện đời sống của công nhân và nhân viên. Do đó, muốn đời sống được cải thiện thì anh chị em công nhân phải cố gắng sản xuất, còn các cán bộ phụ trách phải luôn luôn chú ý sǎn sóc đến đời sống của công nhân. Cán bộ phụ trách phải chú ý hơn nữa đến việc chǎm nom sǎn sóc các cháu trong nhà máy vì như vậy mới làm cho cha mẹ các cháu yên tâm sản xuất và sau này các cháu mới trở thành những công nhân, cán bộ khoẻ mạnh để phục vụ Tổ quốc.

Toàn thể anh chị em phải thực hiện đoàn kết dân chủ, chống quan liêu, tham ô, lãng phí, thành khẩn phê bình, tự phê bình để giúp nhau tiến bộ. Nhà máy diêm Thống nhất là nhà máy xây dựng xong đầu tiên ở miền Bắc. Vì vậy, các cán bộ, công nhân viên cùng phải cố gắng làm gương mẫu về mọi mặt. Các cán bộ lãnh đạo chi bộ, đoàn thanh niên, công đoàn của nhà máy phải làm cho nội bộ đoàn kết, toàn xưởng đoàn kết, đoàn kết với đồng bào địa phương, chú trọng giáo dục công nhân, thực hiện dân chủ, đẩy mạnh thi đua sản xuất, tiết kiệm và chú trọng sǎn sóc đến đời sống của anh chị em công nhân trong nhà máy, để góp phần thiết thực củng cố miền Bắc, chiếu cố miền Nam, thực hiện một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

————————–

Nói ngày 16-8-1956.
Sách Bác Hồ với nhân dân Hà Nội, Nxb. Hà Nội, 1980, tr.59-61.
cpv.org.vn

Thư gửi Tổng thống Mỹ (1) (4-11-1956)

Sir (2) .

Tổng thống là người thừa kế những lãnh tụ vĩ đại của Mỹ, như Oasinhtơn, Linhcôn, Rudơven. Tự miệng Ngài cũng thường nói đến hoà bình, chính nghĩa… Nhưng trong hành động thực tế đối với Việt Nam, Ngài đã làm trái ngược với chính nghĩa, hoà bình:

Ngài đã khuyến khích chính quyền miền Nam phá hoại Hiệp định Giơnevơ, ngăn trở Việt Nam thống nhất.

Ngài đã cho đưa vào miền Nam Việt Nam nhiều vũ khí, đạn dược và nhân viên quân sự Mỹ, với âm mưu biến miền Nam Việt Nam thành một căn cứ quân sự và một thuộc địa của Hoa Kỳ.

Hôm 26-10, mượn tiếng chúc mừng ngày Ngô Đình Diệm “lên ngôi”, Ngài đã phái tàu chiến và máy bay Mỹ xâm phạm hải phận và không phận của Việt Nam, hòng uy hiếp tinh thần phấn đấu của nhân dân Việt Nam.

Trong bức thư gửi cho Ngô Đình Diệm, Ngài đã viết: “ở Hoa Kỳ, chúng tôi cầu chúc cho những người đang sống dưới chế độ nô dịch nay mai sẽ được thống nhất vào Việt Nam cộng hoà…”. Nghĩa là Ngài cầu chúc miền Bắc độc lập, tự do sẽ bị đưa vào chính quyền độc tài của Ngô Đình Diệm. Như vậy là Ngài đã can thiệp vào nội trị của Việt Nam, đã làm trái với Hiến chương của Liên hợp quốc.

Nếu người Việt Nam can thiệp trắng trợn vào nội trị của Hoa

Kỳ như vậy, thì nhân dân Hoa Kỳ nghĩ thế nào? Ngài nghĩ thế nào?

Nhà đại chính trị đồng thời là Tổng thống Mỹ (năm 1801-1809) là cụ Tôma Giépphơxơn có nói rằng:… nhưng chắc Ngài cũng nhớ những lời chí lý ấy của cụ Giép, không cần chúng tôi nhắc lại.

Mặc dù Ngài cầu chúc thế nào, nhân dân Việt Nam kiên quyết phản đối sự can thiệp trắng trợn ấy. Nhân dân Việt Nam kiên quyết đoàn kết đấu tranh để thống nhất non sông gấm vóc của tổ tiên để lại cho mình, để xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Chào Tổng thống
Yours (1) C.B.

—————————–

Báo Nhân dân, số 974, ngày 4-11-1956.

(1) Hội nghị Giơnevơ: Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao của một số nước họp từ ngày 26-4 đến ngày 21-7-1954 tại Giơnevơ (Thuỵ Sĩ). Hội nghị này được triệu tập theo chủ trương của Hội nghị Béclin nǎm 1954. Chương trình thảo luận của Hội nghị gồm 2 vấn đề: giải quyết hoà bình vấn đề Triều Tiên và lập lại hoà bình ở Đông Dương.

Do thái độ ngoan cố của Mỹ và các nước chư hầu đã tham gia chiến tranh Triều Tiên, cuộc thảo luận về vấn đề Triều Tiên không thu được kết quả.
Ngày 8-5-1954, đúng một ngày sau chiến thắng Điện Biên Phủ, vấn đề chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Đông Dương chính thức được Hội nghị Giơnevơ thảo luận. Phái đoàn Chính phủ ta do đồng chí Phạm Vǎn Đồng làm Trưởng đoàn tham gia Hội nghị với tư thế đoàn đại biểu của một dân tộc chiến thắng.

Tuyên bố chung của Hội nghị và Hiệp định đình chiến ở Đông Dương được ký kết vào ngày 21-7-1954. Các nước tham gia Hội nghị đã cam kết thừa nhận tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Campuchia; quy định quân Pháp phải rút khỏi Đông Dương và mỗi nước Đông Dương sẽ tuyển cử tự do để thống nhất đất nước.

Bản Tuyên bố chung còn ghi rõ, ở Việt Nam, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự và chỉ có tính chất tạm thời, không thể coi đó là biên giới chính trị hoặc lãnh thổ và quy định ở Việt Nam cuộc Tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước sẽ được tiến hành vào tháng 7-1956. Tr.7.

(2) Cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng: Cuộc khởi nghĩa chống Pháp nổ ra từ nǎm 1885 ở vùng Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh và sau đó lan rộng trong 4 tỉnh: Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Bình, Thanh Hoá. Cuộc khởi nghĩa này do Phan Đình Phùng lãnh đạo. Là một sĩ phu yêu nước, theo tiếng gọi của phong trào Cần Vương, Phan Đình Phùng đã chỉ huy nghĩa quân kiên trì chiến đấu, cho mãi tới khi ông lâm bệnh mất nǎm 1895, kẻ địch mới đàn áp được cuộc khởi nghĩa. Tr.51.

cpv.org.vn

Điện mừng ngày độc lập của Vương quốc Khơme (21-11-1956)

Kính gửi Vua Nôrôđôm Xuramarít và Hoàng hậu nước Khơme,

Nhân dịp kỷ niệm ngày độc lập của Vương quốc Khơme, thay mặt nhân dân và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân tôi, kính gửi Quốc vương và Hoàng hậu lời chào mừng nồng nhiệt, kính nhờ Quốc vương và Hoàng hậu chuyển tới nhân dân Khơme lời chúc mừng thành tâm của tôi.

Kính chúc nhân dân Khơme, dưới sự lãnh đạo của Quốc vương và Hoàng hậu, thu được nhiều thắng lợi mới trong sự nghiệp xây dựng đất nước Khơme và trong việc thực hiện chính sách hoà bình trung lập; chúc tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt Nam và Khơme càng phát triển.

Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

———————–

Báo Nhân dân, số 991, ngày 21-11-1956.
cpv.org.vn

Điện mừng sinh nhật Thủ tướng Ấn Độ Nêru (22-11-1956)

Kính gửi ông Giaoaháclan Nêru,
Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao
nước Cộng hoà Ấn Độ,

Nhân dịp sinh nhật của Ngài, tôi thành thật chúc Ngài mạnh khoẻ và mọi sự tốt lành.

HỒ CHÍ MINH

—————————–

Báo Nhân dân, số 992, ngày 22-11-1956.
cpv.org.vn

Bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ trung, cao cấp quân đội (11-1956)

Các đồng chí khai hội để nghiên cứu nghị quyết của Trung ương đã xong. Hôm nay tôi đến thǎm các đồng chí.

Trong Hội nghị, các đồng chí đã tích cực thảo luận để hiểu rõ tinh thần nghị quyết của Trung ương. Các đồng chí đã đi đến nhất trí với Trung ương. Thế là rất tốt. Các đồng chí cũng còn một số thắc mắc, Trung ương đã chú ý nghiên cứu và sẽ tiếp tục giải thích.

Công tác cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức đã mắc những sai lầm rất nghiêm trọng, làm tổn thất nặng nề cho ta về nhiều mặt. Nhưng chúng ta đã thấy rõ những sai lầm đó và quyết tâm sửa chữa, thì nhất định sửa chữa được. Vì Đảng ta là một đảng chỉ vì lợi ích của nhân dân mà phấn đấu, ngoài ra không có một lợi ích riêng nào khác. Trải qua bao nhiêu nǎm đấu tranh anh dũng và gian khổ, Đảng ta không bao giờ sợ khổ, sợ khó và cũng không hề sợ vạch rõ khuyết điểm của mình. Có khuyết điểm thì Đảng thành khẩn nhận và kiên quyết sửa chữa. Vì vậy, Đảng đã được nhân dân đồng tình và ủng hộ, đã vượt được nhiều khó khǎn, thu được nhiều thắng lợi, luôn luôn nắm vững và nêu cao ngọn cờ lãnh đạo của Đảng.

Đoàn kết là sức mạnh. Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đoàn kết chặt chẽ xung quanh Trung ương.

Nam Bắc đoàn kết chặt chẽ,

Quân, dân đoàn kết chặt chẽ,

Cán bộ và chiến sĩ đoàn kết chặt chẽ, thì chúng ta nhất định vượt được khó khǎn, sửa được sai lầm, giành được thắng lợi.

Tôi chúc các đồng chí khoẻ mạnh, tiến bộ và thân ái gửi lời hỏi thǎm tất cả các đồng chí ở các đơn vị và cơ quan.

———————————-

Nói vào tháng 11-1956.
Sách Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1958, t. IV, tr. 22-24.
cpv.org.vn

Lời khai mạc Hội nghị Trung ương lần thứ 11 (mở rộng) (3-12-1956)

Thưa các đồng chí,

Theo Nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ 10 quyết định cần họp Trung ương trong những thời gian ngắn để tăng cường sự lãnh đạo tập thể và giao cho Bộ Chính trị chuẩn bị đưa vấn đề kinh tế ra Hội nghị Trung ương thảo luận. Bộ Chính trị quyết định mở cuộc Hội nghị Trung ương lần thứ 11 (mở rộng) như lần thứ 10.

Mục đích của Hội nghị là:

1- Sơ bộ nhận định tình hình kinh tế tài chính hiện nay. “Sơ bộ” vì điều tra nghiên cứu và công tác chuẩn bị chưa cho phép làm một cuộc kiểm điểm sâu sắc, đến nơi đến chốn.

2- Thảo luận nhiệm vụ và phương châm của công tác kinh tế tài chính năm 1957, tức là của kế hoạch năm 1957.

3- Thảo luận chính sách đối với khu vực kinh tế tư nhân.

Ngoài ra, vì hiện nay có những vấn đề cấp bách và quan trọng như vấn đề hàng, vấn đề giá cả, vấn đề tiền tệ, vấn đề chống đầu cơ tích trữ, chống tham ô lãng phí, tuy không thể giải quyết trong cuộc Hội nghị này, nhưng rất cần kết hợp phát biểu ý kiến với các vấn đề nói trên, để ngay sau Hội nghị, Bộ Chính trị có thể nghiên cứu và kịp thời giải quyết.

Đó là nội dung chính của Hội nghị.

Từ Hội nghị lần thứ 10 đến nay, tình hình trong nước cũng như trên thế giới có những việc mới, vì vậy, Hội nghị sẽ dành một thời

gian để báo cáo về vấn đề nhận định tình hình thế giới và trong nước; nhận định đó là cần thiết để hướng dẫn công tác tư tưởng trong Đảng và trong nhân dân.

Vì trong tháng 12 công việc nhiều, chương trình công tác đã bố trí, cho nên Hội nghị cần làm việc đúng thời gian, 4 ngày về vấn đề kinh tế, 1 ngày về tình hình thế giới và trong nước.

Tôi xin tuyên bố Hội nghị khai mạc.

——————————–

Đọc ngày 3-12-1956.
Tài liệu lưu tại Kho lưu trữ Bộ Quốc phòng.
cpv.org.vn

Lời bế mạc Hội nghị Trung ương lần thứ 11 (mở rộng) (7-12-1956)

Các đồng chí,

Cuộc Hội nghị Trung ương lần thứ 11 (mở rộng) bàn về vấn đề kinh tế tài chính hôm nay kết thúc. Đồng chí Đồng thay mặt Đoàn chủ tịch đã nêu những vấn đề chính mà Hội nghị đã nhất trí sau mấy ngày thảo luận.

Tôi phát biểu mấy ý kiến sau đây:

1- Cuộc Hội nghị Trung ương lần này, mặc dầu chuẩn bị không thật đầy đủ, nhưng nhờ sự đóng góp tích cực của tất cả các đồng chí, cho nên Hội nghị đã thu được kết quả, trên những yêu cầu đã đề ra, gồm có 3 điểm:

+ Sơ bộ nhận định tình hình và công tác kinh tế tài chính.

+ Đề ra nhiệm vụ và phương châm công tác kinh tế tài chính năm 1957.

Bàn một số điểm về chính sách đối với sản xuất thủ công nghiệp, đối với công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa.

+ Thảo luận những biện pháp để khắc phục những khó khăn trước mắt.

Các đồng chí phụ trách sẽ căn cứ vào ý kiến của Hội nghị mà viết nghị quyết và mấy hôm nữa, Trung ương sẽ họp lại để thông qua.

2- Cuộc Hội nghị chúng ta mới đi đến giải quyết sơ bộ một số vấn đề về công tác tài chính năm 1957. Nhưng ý nghĩa của nó là lần này là lần đầu tiên một cuộc Hội nghị Trung ương chuyên bàn về công tác kinh tế tài chính, cũng là cuộc Hội nghị Trung ương họp trong một thời gian ngắn sau Hội nghị Trung ương lần thứ 10 và theo nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ 10. Trước khi họp Hội nghị này, Ban Bí thư đã họp một cuộc hội nghị cán bộ lấy ý kiến giúp vào việc chuẩn bị. Mặc dầu thiếu sót còn nhiều, nhưng chúng ta đã có cố gắng để tăng cường sự lãnh đạo tập thể của Trung ương, để mở rộng dân chủ trong Đảng. Nếu chúng ta cố gắng theo phương hướng đó thì không những công tác kinh tế tài chính sẽ tiến bộ mà các công tác khác cũng sẽ tiến bộ.

3- Một kết quả của cuộc Hội nghị này là chúng ta đã đi đến nhận thức nhất trí trên một số vấn đề. Mặc dầu đó mới là một nhất trí sơ bộ, nhưng nó có ý nghĩa rất quan trọng.

+ Nhận thức nhất trí về thành tích và kết quả, về khuyết điểm và sai lầm.

+ Nhận thức nhất trí về sự cần thiết phải đẩy mạnh sản xuất, thực hiện tiết kiệm một cách tích cực hơn nữa.

+ Nhận thức nhất trí về sự cần thiết phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng ta đối với công tác kinh tế tài chính.

Những kết quả đó là những kết quả lớn, mặc dầu chưa sâu, nhất là trong lúc này là lúc Đảng ta đang gặp khó khăn, đang phấn đấu để vượt những khó khăn, tranh thủ những thắng lợi mới.

4- Qua cuộc Hội nghị này, chúng ta càng nhận thấy rõ những khuyết điểm của Trung ương, của cácđồng chí trực tiếp phụ trách kinh tế tài chính, của địa phương, trong việc lãnh đạo công tác kinh tế tài chính.

+ Khuyết điểm trong việc lãnh đạo đường lối và chính sách.

+ Khuyết điểm trong việc thực hiện chính sách, thực hiện kế hoạch.

Đó là những khuyết điểm cần phải sửa chữa.

Nhưng, trước hết chúng ta cần phải sửa chữa khuyết điểm trong tư tưởng và tác phong lãnh đạo. Phải khắc phục hiện tượng thiếu tập thể, thiếu dân chủ, khắc phục tác phong quan liêu mệnh lệnh, phải nghe ngóng ý kiến của cán bộ và nhân dân. Phảiquan tâm đến lợi ích của nhân dân, trước hết là của nhân dân lao động: công nhân và nông dân; phải chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Nếu chúng ta làm được những điểm đó, nếu bao giờ chúng ta cũng đi đúng đường lối quần chúng, thì chúng ta sẽ tránh được nhiều khuyết điểm sai lầm, sẽ thu được nhiều kết quả tốt.

Tất cả chúng ta đều phải hết sức chú ý điểm đó.

5- Sau khi có nghị quyết, chúng ta cần phải tổ chức việc phổ biến nghị quyết trong Đảng, rồi phổ biến những điểm cần thiết trong nhân dân.

Việc phổ biến nghị quyết này là một việc rất quan trọng. Trong nội bộ, cần phải trải qua đấu tranh tư tưởng, mới đi đến nhất trí được. Chúng ta phải hết sức kiên nhẫn để đạt cho được sự nhất trí ở trong Đảng. Nội bộ có nhất trí thì nghị quyết mới thực hiện được.

Việc phổ biến một số quyết định ở trong các tầng lớp nhân dân cũng sẽ gặp khó khăn. Chúng ta phải kiên quyết thuyết phục để tranh thủ sự đồng tình nhất trí của nhân dân với nghị quyết của Đảng ta.

Trong tình hình chính trị hiện nay, sự đồng tình nhất trí đó có một ý nghĩa rất quan trọng. Các đồng chí cần hết sức chú ý.

*

*     *

Nếu toàn Đảng đoàn kết nhất trí, toàn dân đoàn kết nhất trí dưới sự lãnh đạo của Đảng, phấn đấu để thi hành nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ 11, thì chúng ta nhất định vượt qua những khó khăn trước mắt, thu được những thắng lợi mới.

——————————

Đọc ngày 7-12-1956.
Tài liệu lưu tại kho lưu trữ Bộ Quốc phòng.
cpv.org.vn

Bài nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khoá II Trường đại học Nhân dân Việt Nam (8-12-1956)

Hôm nay tôi muốn nói một câu chuyên rất giản đơn, nông cạn, câu chuyện về Tam tự kinh. Câu đầu tiên Tam tự kinh là “Nhân chi sơ, tính bản thiện”. Chúng ta mượn câu ấy làm đầu đề nói chuyện.

Nhân nghĩa là nhân dân. Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân.

Thiện nghĩa là tốt đẹp, vẻ vang. Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân.

Trong xã hội có THIệN và cũng có áC.

Theo nghĩa rộng thì cả thế giới và trong một nước có THIệN và có áC. Theo nghĩa hẹp thì trong bản thân và tư tưởng của mỗi một người cũng có THIệN và có áC.

Nhà nước xã hội chủ nghĩa và dân chủ nhân dân chỉ lo làm lợi cho nhân dân, trước hết là nhân dân lao động, ngày càng tiến bộ về vật chất và tinh thần, làm cho trong xã hội không có người bóc lột người. Thế là THIệN.

Tư bản, đế quốc và phong kiến chỉ lo bóc lột nhân dân, thậm chí gây chiến tranh giết hại nhân dân, để làm lợi cho một nhóm ít người. Thế là áC.

ở nước ta hiện nay, chế độ dân chủ cộng hoà của ta dù có những sai lầm thiếu sót vì chúng ta còn thiếu kinh nghiệm và còn có nhiều khó khăn, Đảng và Chính phủ chỉ lo phục vụ lợi ích của nhân dân, trước hết là của nhân dân lao động chân tay và lao động trí óc. Thế là THIệN.

Chế độ độc tài của Mỹ – Diệm ở miền Nam chỉ lo cho lợi ích của một nhóm đế quốc, phong kiến và tư sản mại bản. Thế là áC.

Nói về mỗi một người chúng ta, nếu hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, thế là THIệN. Nếu chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không lo đến lợi ích chung của nước nhà, của dân tộc, thế là áC. Thực hành chí công vô tư, cần kiệm liêm chính, thế là THIệN. Nếu phạm phải quan liêu, mệnh lệnh, tham ô, lười biếng, thế là áC.

THIệN và áC là hai cái mâu thuẫn, luôn luôn đấu tranh gay gắt với nhau. Cuộc đấu tranh ấy phải trường kỳ và gian khổ, nhưng cuối cùng thì áC nhất định bại, THIệN nhất định thắng.

Thí dụ, trước đây độ 40 năm, nhân dân cả thế giới đều bị thế lực áC, tức là phong kiến, tư bản và đế quốc thống trị. Nhưng hiện nay trên 1/3 tổng số nhân dân thế giới là phe dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu. Thêm vào đó lại có những nước á – Phi mới được giải phóng khỏi ách đế quốc thành những nước độc lập, tự do, như ấn Độ, Nam Dương, Miến Điện, Ai Cập, v.v.. Tất cả các nước trên đây cộng lại có độ 1.500 triệu nhân dân, tức là hơn một nửa nhân dân thế giới. Thế là trên thế giới phe THIệN ngày càng phát triển và mạnh mẽ, phe áC ngày càng sa sút và suy đồi.

Trước đây mười hai năm, ở nước ta phe áC là thực dân và phong kiến rất mạnh, chúng thẳng tay áp bức bóc lột nhân dân ta. Lúc đó Đảng chỉ mới có một số ít đồng chí hoạt động bí mật. Thường có những đồng chí bị bắt bớ, chém giết. Nhưng Đảng tin chắc rằng ta hy sinh phấn đấu để giải phóng nhân dân, ta là THIệN, ta nhất định thắng. Vì mục đích chính đáng và tin tưởng vững chắc, cho nên dù đế quốc và phong kiến khủng bố ác liệt, Đảng vẫn phát triển mạnh, lãnh đạo nhân dân làm cách mạng thành công, lập nên chế độ dân chủ cộng hoà, kháng chiến thắng lợi, hoàn toàn giải phóng cả miền Bắc nước ta.

Từ ngày hoà bình lập lại, Đảng và Chính phủ đã lãnh đạo nhân dân khôi phục kinh tế và phát triển văn hoá đã thu được nhiều kết quả. Thí dụ:

– Về kinh tế chúng ta đã khôi phục được hơn 22 xí nghiệp.

– Đã mở mang thêm 20 xí nghiệp.

– Đã xây dựng 47 xí nghiệp to và nhỏ.

– Đã xây dựng lại hơn 530 cây số đường sắt, một công trình mà thực dân Pháp cần mười năm mới làm được; nhưng với sự cố gắng của công nhân ta, với sự giúp đỡ của các đồng chí Trung Quốc và sự săn sóc của Đảng và Chính phủ, chỉ mười mấy tháng ta đã làm xong.

Về văn hoá giáo dục, hồi Pháp thuộc, năm 1938 – 1939 tất cả học sinh từ tiểu học đến đại học có chừng 30 vạn người. Hiện nay mặc dầu nhiều khó khăn, riêng ở miền Bắc ta có chừng 80 vạn học sinh, trong số đó hơn 4 vạn người được Chính phủ giúp học bổng; mỗi năm học bổng cho sinh viên và học sinh cùng trợ cấp cho các lớp huấn luyện khác cộng là 8.385 triệu đồng ngân hàng.

Những thí dụ ấy lại chứng tỏ chế độ ta là THIệN, chế độ thực dân phong kiến là áC.

Bản thân mọi người chúng ta đều chịu ảnh hưởng của xã hội cũ hoặc nhiều, hoặc ít. Cho nên trong người chúng ta hoặc nhiều hoặc ít không tránh khỏi có cái áC, như tự đại, tự kiêu, tự tư, tự lợi. Nhưng với sự giúp đỡ giáo dục của Đảng và Chính phủ, sự cố gắng học tập và cải tạo của mọi người, thì cái áC trong mình chúng ta ngày càng bớt, cái THIệN ngày càng tăng.

*

*     *

Nhân đây tôi nói tóm tắt vài vấn đề mà tôi vừa nghe thảo luận ở một lớp nghiên cứu khác, chắc ở đây cũng có thảo luận những vấn đề ấy.

Đảng đã có những thành tích lãnh đạo nhân dân giành được những thắng lợi như đã nói trên. Nhưng Đảng cũng đã có những sai lầm khuyết điểm trong cải cách ruộng đất. Là một đảng chân chính cách mạng, Đảng thật thà nhận sai lầm khuyết điểm của mình, quyết tâm sửa chữa và nhất định sửa chữa được.

Trong cải cách ruộng đất, cán bộ đã phạm những sai lầm khuyết điểm nghiêm trọng, cần phải kiên quyết sửa chữa. Nhưng không nên vì sai lầm khuyết điểm mà phủ nhận thành tích của cải cách ruộng đất tức là giai cấp phong kiến địa chủ đã bị đánh đổ, độ 8 triệu nông dân đã có ruộng cày. Đó là một thành tích không ai có thể chối cãi được. Cần nhận rõ như thế để không vì sai lầm khuyết điểm mà bi quan. Trái lại vẫn giữ vững lòng tin tưởng vào Đảng và Chính phủ.

Đảng cũng ở trong xã hội. Đảng là do nhiều người cách mạng họp lại, cho nên dù với sự rèn luyện theo chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng có nhiều ưu điểm, nhưng cũng không tránh khỏi khuyết điểm. Khi có khuyết điểm, Đảng hoan nghênh phê bình, thật thà tự phê bình và kiên quyết sửa chữa. Vì vậy, Đảng ngày càng tiến bộ, càng mạnh mẽ.

Trong nội bộ Đảng có dân chủ rộng rãi, đồng thời có kỷ luật nghiêm khắc. Người đảng viên phải khiêm tốn, thành khẩn. Không có đảng viên nào có thể đứng trên Đảng, tự cho mình là hơn Đảng.

*

*     *

Về chuyên chính dân chủ nhân dân: Chế độ nào cũng có chuyên chính. Vấn đề là ai chuyên chính với ai? Dưới chế độ phong kiến, tư bản, chuyên chính là số ít người chuyên chính với đại đa số nhân dân. Dưới chế độ dân chủ nhân dân, chuyên chính là đại đa số nhân dân chuyên chính với thiểu số phản động chống lại lợi ích của nhân dân, chống lại chế độ dân chủ của nhân dân.

Như cái hòm đựng của cải thì phải có cái khoá. Nhà thì phải có cửa. Khoá và cửa cốt đề phòng kẻ gian ăn trộm. Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân, chuyên chính là cái khoá, cái cửa để đề

phòng kẻ phá hoại, nếu hòm không có khoá, nhà không có cửa thì sẽ mất cắp hết. Cho nên có cửa phải có khoá, có nhà phải có cửa. Thế thì dân chủ cũng cần phải có chuyên chính để giữ gìn lấy dân chủ.

Kết luận: Cần hữu công, hý vô ích, giới chi tai, nghi miễn lực, nghĩa là:

Lười thì không tiến bộ, siêng thì chắc thành công;

Các bạn cố gắng mãi, như vậy là anh hùng!

———————–

Nói ngày 8-12-1956.
Sách Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1958, t. IV, tr. 25-29.
cpv.org.vn

Thư gửi đồng bào đã thanh toán nạn mù chữ (21-12-1956)

Gửi đồng bào thị xã Phát Diệm và các xã Vĩnh Khang, Tam Cường, Diễn Liên, Liên Sơn,

Tôi rất vui lòng được báo cáo nhiều nơi đồng bào đã thanh toán nạn mù chữ. Nông thôn cả nước thì Vĩnh Khang là xã dẫn đầu trong thành tích thoát nạn mù chữ, rồi tiếp đến các xã Tam Cường, Liên Sơn, Diễn Liên và nhiều xã khác.

Các thị xã thì Phát Diệm là thị xã đã thanh toán nạn mù chữ trước nhất.

Đó là một thắng lợi vẻ vang bước đầu trên mặt trận vǎn hoá; vẻ vang riêng cho đồng bào các địa phương ấy và vẻ vang chung cho cả nước ta.

Có thắng lợi ấy là nhờ sự đoàn kết nhất trí: toàn thể đồng bào cố gắng, toàn thể cán bộ, nhất là cán bộ bình dân học vụ, tận tuỵ không ngừng.

Tôi thay mặt Đảng và Chính phủ thân ái gửi lời khen ngợi đồng bào và cán bộ, đồng thời khuyên đồng bào và cán bộ tiếp tục cố gắng học thêm mãi để tiến bộ mãi.

Tôi cũng khuyên đồng bào và cán bộ các địa phương khác ra sức thi đua theo cho kịp đồng bào Vĩnh Khang, Phát Diệm… trong công tác bình dân học vụ.

Thanh toán nạn mù chữ là bước đầu nâng cao trình độ vǎn hoá. Trình độ vǎn hoá của nhân dân nâng cao sẽ giúp chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ. Nâng cao trình độ vǎn hoá của nhân dân cũng là một việc cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Tôi mong đồng bào và cán bộ đều cố gắng.

Chào thân ái và thành công

Ngày 21 tháng 12 nǎm 1956
HỒ CHÍ MINH

—————————

Báo Nhân dân, số 1024, ngày 24-12-1956.
cpv.org.vn