Tag Archive | Thời sự

Điện chúc mừng nhân dịp kỷ niệm lần thứ 10 Ngày giải phóng nước Đức (8-5-1955)

Kính gửi đồng chí Vinhem Pích,
Chủ tịch nước Cộng hoà Dân chủ Đức,

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 10 ngày giải phóng nước Đức, thay mặt nhân dân và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân tôi, tôi xin gửi đồng chí Chủ tịch, nhân dân và Chính phủ nước Cộng hoà Dân chủ Đức lời chào mừng nhiệt liệt.

Chúng tôi chúc nhân dân Đức anh dũng dưới sự lãnh đạo của Đảng Xã hội thống nhất và Chính phủ nước Cộng hoà Dân chủ Đức, với sự giúp đỡ vô tư của Liên Xô vĩ đại, sẽ thành công trong sự nghiệp thực hiện thống nhất, độc lập trong cả nước và xây dựng một nước Đức dân chủ, phú cường, góp phần bảo vệ hoà bình ở phương Tây và trên toàn thế giới.

Tôi xin chúc tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nước Đức ngày càng thắm thiết và bền vững.

Kính chúc đồng chí luôn luôn mạnh khoẻ.

Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 431,
ngày 8-5-1955
cpv.org.vn

Điện chúc mừng nhân dịp kỷ niệm lần thứ 10 Ngày giải phóng nước Tiệp Khắc (9-5-1955)

Kính gửi đồng chí Antônin Dapôtốtxki,
Chủ tịch nước Cộng hoà Tiệp Khắc,

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 10 ngày giải phóng nước Tiệp Khắc, thay mặt nhân dân và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân tôi, tôi xin gửi đồng chí, nhân dân và Chính phủ nước Cộng hoà Tiệp Khắc lời chào mừng nhiệt liệt.

Nhân dân và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chúc nhân dân Tiệp Khắc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Tiệp Khắc và Chính phủ nước Cộng hoà Tiệp Khắc, với sự giúp đỡ khảng khái của Liên Xô vĩ đại, sẽ thu được nhiều thắng lợi mới trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, góp phần giữ gìn hoà bình ở châu Âu và thế giới.

Tôi xin chúc tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Tiệp Khắc ngày càng thêm thắm thiết và chặt chẽ.

Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 432,
ngày 9-5-1955.
cpv.org.vn

Nguyên tử và nguyên tử (10-5-1955)

Mỹ chuyên dùng nguyên tử vào việc chuẩn bị chiến tranh. Cho đến tháng 3 nǎm nay, Mỹ đã thử những thứ bom A và bom H 36 lần. Theo tin các báo, quả bom thử cuối cùng ánh sáng đã đến cách chỗ thử 1.600 cây số, những nhà cửa cách xa 600 cây số cũng rung động. Gió thổi bụi hơi độc đã bay xa đến 2.400 cây số.

2 tuần lễ sau đó, có những trận bão to và khí hậu biến đổi bất thình lình. Do đó nhân dân Mỹ rất hoang mang và tự hỏi: Làm thế nào để tránh khỏi những sự khủng khiếp từ trên trời rơi xuống?

Các báo Mỹ khuyên nhân dân đào hầm trú ẩn dưới nhà họ ở và tích trữ lương thực ở dưới hầm. Nhưng ở Mỹ có những ngôi nhà 30, 40 tầng thì đào hầm vào đâu? Còn muốn sơ tán một thành phố hơn 8 triệu người như Nữu Ước thì phải mất mấy tiếng đồng hồ. Không nghĩ ra cách gì khác để tránh bom và để ổn định lòng dân, viên giám đốc sở “phòng không” chỉ khuyên dân tụng kinh cầu trời phù hộ.

Thế là nguyên tử của Mỹ chưa đe doạ được ai, mà đã đe doạ và làm cho nhân dân Mỹ khiếp vía.

Liên Xô thì dùng sức nguyên tử vào việc xây dựng hoà bình. Như nhà máy điện chạy bằng nguyên tử. Dùng nguyên tử phá núi để đắp đường xe lửa.

Dùng nguyên tử vào công nghiệp, như chế biến gang, thép và các thứ ngũ kim khác. Hiện nay đang thử dùng nguyên tử thay dầu xǎng: 1 chiếc xe hơi chạy 100.000 cây số phải tốn 11 tấn xǎng, nhưng chỉ cần vài phân nguyên tử (uranium) là đủ.

Dùng nguyên tử để chữa bệnh, như các bệnh thiếu máu, ung thư, v.v..

Dùng nguyên tử vào nông nghiệp: chiếu nguyên tử vào thì các thứ cây chóng mọc, chóng tốt hơn, cây có quả và rau có củ sớm hơn, to hơn và ngọt hơn. Liên Xô lại sẵn sàng giúp các nước khác dùng nguyên tử vào công việc hoà bình.

Vì vậy, hiện nay khắp thế giới có phong trào sôi nổi phản đối nguyên tử Mỹ và ủng hộ nguyên tử Xô. Hội nghị á – Phi vừa rồi cũng có quyết nghị như vậy.

C.B.

Báo Nhân dân, số 433, ngày 10-5-1955.
cpv.org.vn

Chống lãng phí lương thực (11-5-1955)

Đồng bào nông dân đổ mồ hôi sôi nước mắt, mới làm ra được lương thực. Cho nên chúng ta phải quý lương thực như quý ngọc vàng. Nhưng sự thật thì chúng ta còn lãng phí lương thực bằng nhiều cách.

– Các kho, lẫm: Khi đưa thóc vào kho không cẩn thận, không phơi khô quạt sạch. Nhà kho làm không cẩn thận; chim, chuột, sâu, mọt, có thể phá thóc. Hoặc mưa dột ẩm ướt.

– Việc chuyên chở: Xe và thuyền không khô ráo sạch sẽ, để ghét rác lẫn vào thóc gạo. Bao tạ và thúng mủng làm cẩu thả, để thóc gạo đổ tháo. Chuyển vận chậm chạp, để mưa gió làm hỏng thóc gạo.

– Việc xay giã: Để sót nhiều gạo trong trấu, tấm, cám.

– Về phân phối: Có khi cơ quan hoặc đoàn thể khai thặng 1 số người để lĩnh gạo hoặc mua gạo nhiều hơn sự cần thiết. Bán gạo cho dân thời không kiểm soát kỹ sổ gia đình. Bán cho bà con hàng xáo thì không điều chỉnh cẩn thận.

Thành thử bọn đầu cơ tích trữ có thể mua rẻ bán đắt.

Vì phân phối không hợp lý mà lãng phí rất nhiều. Mong các cơ quan và cán bộ phụ trách việc lương thực cố gắng sửa chữa những khuyết điểm kể trên. Đảng, chính, quân, dân thì nên động viên và giáo dục mọi người tự động tiết kiệm lương thực.

Chống lãng phí lương thực, tiết kiệm lương thực là một việc rất quan trọng trong công cuộc khôi phục kinh tế của chúng ta.

C.B.

Báo Nhân dân, số 434, ngày 11-5-1955.
cpv.org.vn

Nhân dân thủ đô Hà Nội lần đầu tiên kỷ niệm sinh nhật Hồ Chủ tịch

Ngày18-5-1946, báo Cứu Quốc, cơ quan ngôn luận của Tổng bộ Việt Minh (nay là báo Đại Đoàn Kết) xuất bản ở Hà Nội, chính thức thông báo ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh: ngày 19-5-1890. Chính ngày này đã ra đời một người đặc biệt của đất nước Việt Nam: Hồ Chí Minh”.

Tinh thần hoạt động của hầu hết các chiến sĩ Việt Nam đều do bộ óc tài tình của Người xây dựng nên. Ngày 19-5-1890, ngày Người nhìn thấy bầu trời Việt Nam là ngày rất quan hệ đến vận mệnh dân tộc Việt Nam.

“…Chúng ta dân tộc Việt Nam, chúng ta đi từ giai đoạn một nước nô lệ đến giai đoạn một nước tự do là nhờ có Hồ Chí Minh”. Cùng cả nước, nhân dân Thủ đô Hà Nội lần đầu tiên tổ chức kỷ niệm lần thứ 56 ngày sinh của vị Cha già dân tộc với tất cả tấm lòng thành kính, biết ơn. Chiều ngày 18-5-1946 TP. Hà Nội bừng lên trong rừng cờ biểu ngữ. Gia đình nào cũng treo ảnh chân dung Hồ Chủ tịch ở nơi trang trọng nhất. Các ngành, các đoàn thể, các giới ở Hà Nội đều gửi điện văn lên chúc thọ Hồ Chủ tịch bày tỏ lòng tin tưởng tuyệt đối với lãnh tụ tối cao của dân tộc, sẵn sàng tuân theo mọi mệnh lệnh của Chính phủ.

Tại Bắc Bộ Phủ, từ sáng sớm các em thiếu nhi đã tụ tập ở Ấu Trĩ Viên. Theo tiếng trống ếch các em tiến vào Bắc Bộ Phủ. Bác hiền từ giản dị trong bộ quần áo vẫn mặc hàng ngày tươi cười đón các em.

Thay mặt các bạn, em Nga, 8 tuổi đọc bài chúc thọ Bác trong khi các em khác thi nhau gắn huy hiệu “Măng non mọc thẳng” lên ngực áo Bác, kính tặng Bác huy hiệu hình quả tim có chữ “i”, chữ “t” tập bài hát và điều lệ Hội Nhi đồng cứu quốc. Đồng chí Khuất Duy Tiến, Bí thư Thành bộ Việt Minh mang cây bách tán tới. Bác Hồ trao cây cho các em thiếu nhi. Người nói: “Bác có cây này tặng các cháu. Mai sau cái cây sẽ mọc ra một trăm cái tán. Các cháu về chăm lo cho cây lớn, cây tốt, thế là các cháu yêu Bác lắm đấy”. Các em sung sướng được Bác cho quà, đồng thanh hát bài “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn các em nhi đồng”. Bác chụp ảnh chung với các em.

Tiếp đó, các đoàn đại biểu Hướng đạo, thiếu niên Tiền phong, đại biểu Nam Bộ, vệ quốc quân, Ban bảo vệ thành, Ban Cứu thương, đại biểu các ngành các giới, các đoàn thể, các tôn giáo, thân hào, nhân sĩ… đến chúc thọ Bác. Đại biểu UBND TP. Hà Nội kính biếu Bác một tháp rùa khổng lồ làm bằng bánh ngọt. Đại biểu Phật giáo dâng Bác quyển Kinh Dược sư.

19 giờ, tại chùa Quán Sứ, Hội Phật tử đã tổ chức buổi lễ long trọng cầu trường thọ cho Hồ Chủ tịch.

Trong ngày kỷ niệm sinh nhật 56 năm của mình, Bác vẫn không quên nhắc nhở cán bộ khi đến chúc thọ Người thực hiện khẩu hiệu “Cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư”, vì đó là những điều không bao giờ cũ cả, tựa như cơm ăn, nước uống hàng ngày để sống vậy”.

Lễ kỷ niệm sinh nhật Hồ Chủ tịch đầu tiên được tổ chức ở Thủ đô Hà Nội trong bối cảnh vô cùng gay go phức tạp: quân Tưởng chưa rút hết, quân Pháp ngày càng có nhiều hành động bội ước vi phạm Hiệp định sơ bộ 6/3. Vì thế, lễ kỷ niệm sinh nhật Hồ Chủ tịch không chỉ biểu lộ lòng tôn kính, tin tưởng tuyệt đối của nhân dân vào vị lãnh tụ tối cao của dân tộc mà còn là dịp biểu dương lực lượng to lớn, biểu thị tinh thần đoàn kết, quyết tâm giữ vững độc lập của nhân dân Hà Nội và đồng bào cả nước.

Lê Quang Cảnh
(Biên tập theo báo Cứu Quốc số 243 ngày 18-5-1946 và 244 ngày 20-5-1946)
daidoanket.vn

Bác Hồ: Tấm gương sáng về tập luyện thể dục thể thao

Cứ đến ngày này (19-5) cả nước lại hướng về ngày sinh của Bác. Với riêng ngành Thể dục – Thể thao, ngoài tấm lòng yêu nước thương dân, Bác còn là tấm gương sáng về tập luyện thể dục thể thao. Kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Người, chúng ta thật xúc động và tự hào nhắc lại tấm gương rèn luyện thân thể bảo vệ sức khoẻ, tăng cường thể lực để phục vụ cách mạng và nhân dân.

Bác Hồ rèn luyện thân thể hàng ngày

Trong Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục của Hồ Chủ tịch được đăng tải trên tờ Cứu quốc (Tiền thân của Báo Đại Đoàn Kết) tháng 3-1946. Bác Hồ đã viết: “ Tự tôi ngày nào tôi cũng tập”. Hồ Chủ tịch là tấm gương trong sáng về nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trí tuệ lỗi lạc, lối sống lành mạnh và tinh thần rèn luyện thân thể để giữ gìn sức khoẻ và nâng cao thể lực nhằm phụng sự Tổ quốc và nhân dân.

Sau Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, khi Chính phủ liên hiệp kháng chiến được thành lập, Hồ Chủ Tịch thay mặt Chính phủ mới ký sắc lệnh số 38 (vào ngày 27-03-1946) về việc thành lập Nha Thanh niên và Thể dục gồm Phòng thanh niên Trung ương và Phòng thể dục Trung ương. Bác am hiểu sâu sắc và có lòng tin mãnh liệt vào phương pháp bảo vệ sức khoẻ bằng tập luyện thể dục thể thao (TDTT). Chẳng hạn, ở nước Nga, trong mùa Đông, Bác Hồ vẫn đều đặn dậy sớm tập thể dục tay không, kết hợp với tập các loại tạ và dây thun… Chủ tịch Hồ Chí Minh có thói quen tránh ăn quá no, rèn luyện thân thể vào buổi sáng, không ngủ trưa, và buổi chiều Người đi làm vườn, cho đồng bào trong xóm… Các vị lão thành cách mạng còn kể lại, thời kỳ chuẩn bị Hội nghi Trung ương Đảng lần thứ 8 năm 1941, sáng nào, Cụ Hồ cũng đi đến các lán gọi mọi người cùng dậy tập thể dục bên dòng Khuổi Nậm, rồi dành một lúc tăng gia và đi tắm suối rồi sau đó mới bắt tay vào công việc nghiên cứu, viết tài liệu.

Lúc ở Liễu Châu (Trung Quốc) Bác Hồ vẫn tập luyện thể dục đều đặn, nhiều hôm Bác tập Thái Cực quyền và chạy bộ 4-5 km. Đồng chí Vũ Kỳ kể rằng: Bác Hồ có kiểu tập nhảy “dậm chân tại chỗ” thật lạ và thú vị. Số là “Phòng Chủ tịch nước”- nơi làm việc của Bác cách các lán khác thường từ dăm chục mét đến ba bốn trăm mét. Đường đi lên lán hay xuống suối, đến nhà ăn đều được Bác cho đặt những rào chắn cao từ 10 – 15cm, mức cao nhất trên 40cm. Mỗi khi đi qua, Bác và mọi người phải chụm chân nhảy không được lấy đà. Tập sức bật tại chỗ như vậy khá “trường kỳ” nhưng rõ ràng đạt hiệu quả. Cách rèn luyện “vượt chướng ngại vật” như thế, giúp Bác có thêm sức khoẻ dồi dào. Đồng chí Vũ Kỳ kể tiếp: “Hồi đó mỗi ngày Bác tập hành quân từ 5 đến 10km có hôm tăng lên tới 20km đường rừng, băng đèo, vượt sông. Bác cũng đeo ba lô nặng 25kg”. Là người khai sinh ra nền TDTT nước nhà, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chủ tịch luôn luôn quan tâm, dành thời gian theo dõi, chỉ đạo, chăm sóc phát triển ngành TDTT. Dù rất bận việc Nhà nước nhưng Bác luôn cố gắng có mặt tại các sự kiện thể thao trong nước. Đặc biệt, Bác luôn gặp mặt và động viên các VĐV thi đấu đạt thành tích tại các giải quốc tế (danh thủ Trần Oanh – bắn súng, Trần Hữu Chỉ – điền kinh, Vũ Thị Sen – bơi…). Hồ Chủ Tịch căn dặn: “Đánh giặc Mỹ gian khổ khó khăn như vậy, nhưng quân và dân ta có quyết tâm đánh thắng. Các cháu phải quyết tâm đạt thành tích cao hơn nữa. Muốn vậy phải đoàn kết, giúp đỡ nhau trong tập luyện và thi đấu, phải cố gắng thật nhiều để xứng đáng là những VĐV của dân tộc anh hùng”. Nhớ lời Bác dặn, ngành TDTT và giới TDTT cả nước càng nhớ Bác, phấn đấu làm theo lời Bác Hồ dạy và noi theo tấm gương đạo đức của Người.

AN CHI (tổng hợp)
daidoanket.vn

Tư tưởng đại đoàn kết – ngọn đuốc soi đường dân tộc

Bác Hồ ân cần thăm hỏi bà con nông dân
Ảnh: TL

Một trong những di sản vô giá mà Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta đó chính là tư tưởng đại đoàn kết dân tộc. Quần tụ trong cộng đồng làng, xã để hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất, sinh hoạt, và để chống chọi với thiên tai, địch họa trong quá trình dựng nước và giữ nước đã hình thành nên truyền thống yêu nước, đoàn kết, một bản sắc độc đáo của dân tộc Việt Nam.

Đúc kết từ lịch sử dân tộc, Hồ Chí Minh đã tổng kết: “Sử ta dạy cho ta bài học: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do, trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”. Và trong suốt cả cuộc đời của Người, Hồ Chí Minh đã không ngừng xây dựng, hoàn thiện nên một hệ thống những quan điểm về đại đoàn kết dân tộc, không ngừng truyền bá tư tưởng đại đoàn kết trong Đảng và các cấp chính quyền, trong các tầng lớp nhân dân, kể cả đồng bào Việt Nam ở xa Tổ quốc.

Theo Hồ Chí Minh, đoàn kết dân tộc không phải là sách lược nhất thời trong một giai đoạn nhất định, mà đoàn kết là vấn đề cơ bản, có tính chiến lược, lâu dài. Đoàn kết có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của cách mạng, tới sự ổn định và phát triển lâu dài của đất nước, của dân tộc. Muốn vậy, đoàn kết phảithật thà, lâu dài, rộng rãi và chặt chẽ. Đoàn kết phải thật sự thật lòng, trên cơ sở mục tiêu chung của cách mạng, kể cả những lúc khổ cực gian nan, cũng như khi đã thành công, đó chính là phương châm đoàn kết của Hồ Chí Minh. Ngay từ những ngày đầu khi nước nhà mới giành được độc lập, trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Plây cu ngày 19-4-1946, Hồ Chí Minh đã viết… “Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt”. Trong bài nói chuyện tại buổi khai mạc lớp chỉnh huấn cán bộ Đảng, dân, chính các cơ quan Trung ương Bác nói:“Đảng có 2 chính sách, công nông trí thức hóa, trí thức hóa công nông tức là anh em trí thức cùng biết trọng lao động, cũng biết lao động, hợp thành một khối với công nông, nâng cao trình độ công nông về văn hóa và lí luận. Đấy mới là thật thà đoàn kết”. Theo Hồ Chí Minh, cần phải đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các đối tượng, các lực lượng của dân tộc Việt Nam, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dân tộc, miễn là yêu nước, đồng lòng chống lại kẻ thù chung, xây dựng và phát triển đất nước. Trả lời Báo Độc lập năm 1947, Bác đã nói: “Chính sách của Chính phủ trước sau vẫn là đoàn kết. Đối với các vị quan lại cũ cũng như đối với tất cả các giới đồng bào, những người có tài, có đức thì Chính phủ đều hoan nghênh ra gánh vác việc nước”. Không chỉ quan tâm tới đoàn kết các dân tộc “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Lai hay Êđê, Xê đăng hay Bana và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt”, Bác còn quan tâm tới đoàn kết các tôn giáo, chủ động giải quyết những xích mích nhằm không ngừng tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc. Trong thư gửi Giám mục Phát Diệm, Kim Sơn, Ninh Bình Lê Hữu Từ (ngày 1-2-1947) Bác viết “chắc cụ không bao giờ tin rằng Việt Minh chống đạo vì cụ thừa biết Việt Nam độc lập đồng minh là cốt đoàn kết tất cả đồng bào để làm cho Tổ quốc độc lập, chứ không phải để chia rẽ tôn giáo… Những xích mích nhỏ giữa một số đồng bào tuy là đáng tiếc vì đạo đức giáo hóa chưa được phổ cập, không thể động chạm đến sự đại đoàn kết của chúng ta”.Đối với kiều bào, Người vẫn luôn dành thời gian và tình cảm động viên tinh thần đoàn kết hướng về quê hương đất nước. Trong thư chúc Tết Việt kiều ở Lào, Xiêm (Thái Lan), Người viết “các đồng bào tuy mình trú ở nơi đất khách quê người, nhưng lòng vẫn yêu mến cố hương Tổ quốc… Ngày nay, tuy nhờ sự đoàn kết của toàn dân mà nước nhà đã tranh lại quyền độc lập, nhưng chúng ta hãy còn nhiều sự khó khăn, hãy còn phải hy sinh phấn đấu mới đi đến sự nghiệp độc lập hoàn tòan. Muốn đạt mục đích đó chúng ta phải kiên quyết nữa, phải đoàn kết nữa”. Đoàn kết những con dân đất Việt mang trong mình dòng máu Lạc Hồng yêu nước, phụng sự Tổ quốc đó là một quan điểm cơ bản của di sản tư tưởng Hồ Chí Minh.

Đoàn kết dân tộc phải đi liền với xây dựng, củng cố Đảng, giữ gìn sự đoàn kết trong Đảng. Hiểu sâu sắc lý luận Mác-Lênin về chính đảng kiểu mới, Hồ Chí Minh đã sáng lập và dày công rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam để Đảng thực hiện vai trò lãnh đaọ cách mạng, là hạt nhân đoàn kết, là lực lượng tiên phong, là đạo đức, là văn minh để đoàn kết tập hợp toàn dân làm cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Hồ Chí Minh phải là việc làm thường xuyên, nghiêm túc nhằm phát huy ưu điểm, sửa chữa những khuyết điểm, tăng cường vai trò, sức chiến đấu, tăng cường sự đoàn kết trong Đảng và toàn xã hội. Tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Bắc  (nay là Bắc Ninh – Bắc Giang) Người nói: “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công. Đảng ta là một Đảng cách mạng theo Chủ nghĩa Mác Lênin, tất cả cán bộ và đảng viên phải đặt quyền lợi của Đảng, của giai cấp và của nhân dân lên trên hết, cao hơn hết” và cho đến trước lúc về cõi vĩnh hằng, trong bản Di chúc thiêng liêng Người vẫn dặn lại cho toàn dân tộc, điều cốt lõi “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Xây dựng, củng cố và giữ gìn sự đoàn kết thống nhất từ trong Đảng để lãnh đạo tập hợp khởi đầu đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề cốt lõi trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh.

Đoàn kết phải gắn liền với dân chủ và thực hành dân chủ, xây dựng chính quyền trong sạch của dân, do dân, vì dân, chăm lo lợi ích thiết thực của các tầng lớp nhân dân. Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Nước ta là nước dân chủ, chế độ ta là chế độ dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Người hiểu rõ sức mạnh to lớn của nhân dân, gắn bó cả cuộc đời, sự nghiệp vì dân, với phương châm đoàn kết thật thà. Người tâm niệm đoàn kết đấu tranh để giành độc lập, tự do cho dân tộc cũng là để chăm lo lợi ích cho nhân dân, đem lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Muốn vậy phải thực hành dân chủ. Mọi quyền lực của bộ máy chính trị các cấp đều do dân bầu ra, dân ủy quyền mà có, do vậy cán bộ phải là người đầy tớ, công bộc của dân. Đảng, Nhà nước đều phải lấy việc đem lại lợi ích cho dân làm mục tiêu tối cao. Thực hành dân chủ theo Hồ Chí Minh không phải chỉ dừng lại ở ý thức, lý luận mà còn phải quan tâm đến lợi ích thiết thân của các tầng lớp nhân dân. Người nói:“Nếu dân đói, Đảng, Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng, Chính phủ có lỗi”. Để có đoàn kết thật sự lâu bền, theo Hồ Chí Minh phải có dân chủ thực sự trong Đảng, trong toàn xã hội.

Để dân thật sự là chủ, việc thực hành dân chủ phải gắn liền với việc xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Theo Hồ Chí Minh, chính quyền chính là công cụ để nhân dân thực hiện mục tiêu của cách mạng và phát huy quyền làm chủ. Nhưng trên thực tế ở nhiều nơi, do nhiều nguyên nhân, chính quyền còn xa dân, quan liêu, đặc quyền đặc lợi, cho mình đứng trên dân, do vậy Người đã thường xuyên căn dặn: cán bộ Đảng, đoàn thể và đặc biệt là cán bộ chính quyền phải xem bệnh quan liêu là một nguy cơ hiện thực vô cùng nguy hiểm. Người nhấn mạnh các chủ trương của Đảng muốn đi vào cuộc sống phải được cụ thể hóa bằng chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nếu Nhà nước xây dựng và ban hành được các chính sách, pháp luật đúng đắn, hợp lòng dân thì đó sẽ là một phương thức quan trọng của chính quyền để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đúc kết, nâng cao tư tưởng đại đoàn kết dân tộc thành một hệ thống lý luận, đưa hệ thống đó thành đường lối, chủ trương của Đảng lãnh đạo, chính sách pháp luật của Nhà nước mà Người còn tập hợp lực lượng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc thông qua tổ chức Mặt trận với các hình thức khác nhau phù hợp với nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ. Dưới sự lãnh đạo của Người, ngày 18-11-1930 Mặt trận Dân tộc thống nhất (MTDTTN) Việt Nam được thành lập. Đánh giá về vai trò của MTDTTN Việt Nam, Người đã nêu rõ “Đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh, nhân dân ta đã làm nên Cách mạng tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đoàn kết trong Mặt trận Liên Việt, nhân dân ta đã kháng chiến, thắng lợi, lập lại hòa bình ở Đông Dương, hoàn toàn giải phóng miền Bắc. Đoàn kết trong MTTQ Việt Nam, nhân dân ta đã giành được thắng lợi trong cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc… Một Mặt trận của nhân dân, đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi là một lực lượng tất thắng”. Và chính Người đã hết lòng chăm lo, xây dựng Mặt trận DTTN Việt Nam, vun đắp cho khối đại đoàn kết dân tộc. Người khẳng định “Chính sách Mặt trận là một chính sách rất quan trọng. Công tác Mặt trận là một công tác rất quan trọng trong toàn bộ công tác cách mạng”. Đối với Đảng cộng sản Việt Nam, lực lượng giữ vai trò lãnh đạo của cách mạng Việt Nam, lãnh đạo xây dựng MTDTTN Việt Nam đồng thời cũng là thành viên của Mặt trận, Hồ Chí Minh cũng đã có luận điểm chỉ đạo hết sức sâu sắc: “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo cuả mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo”.

Kế thừa di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng xây dựng và hoàn thiện chủ trương, đường lối lãnh đạo nhằm củng cố và tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Cho đến hôm nay, đại đoàn kết toàn dân tộc đã được khẳng định ở một tầng nhận thức mới, là cội nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của sự nghiệp cách mạng và sự phát triển bền vững của đất nước và dân tộc.

Đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã được Đảng và Nhà nước ta cơ chế hóa bằng những chủ trương,  những định hướng chính sách phát huy mạnh mẽ vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, tiếp tục nâng cao vai trò của MTTQ Việt Nam. Di sản tư tưởng về đại đoàn kết toàn dân tộc của Hồ Chí Minh đã và sẽ mãi mãi là ngọn đuốc soi đường cho nhân dân ta trong sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Đinh Đức Lập
daidoanket.vn

Tài liệu tham khảo
Hồ Chí Minh toàn tập – NXB Chính trị Quốc gia – 2000
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. – NXB QĐND – 2004
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn công tác Mặt trận  – NXB Chính trị Quốc gia 2009

Dân tộc mang họ Bác và những kỷ vật có một không hai

Có lẽ, trên thế giới, ít có một dân tộc nào vì quý trọng một vị lãnh tụ anh minh của dân tộc mình mà tự nguyện lấy họ của lãnh tụ đó làm họ cho cả dân tộc mình như đồng bào Tà Ôi, Pa Cô hay Pahy ở huyện A Lưới (tỉnh Thừa Thiên – Huế) của Việt Nam. Không những thế, đồng bào nơi đây còn lưu giữ những kỷ vật thiêng liêng, có một không hai về Người.

Tấm chân dung in trên vải sau ngày Bác mất
luôn hiện hữu ở nơi trang trọng trong các nhà dân

30 năm trường tồn một di vật

Đi trong các xã của huyện A Lưới chúng ta không khỏi rưng rưng xúc động về các hiện vật có thể coi là tầng tầng, lớp lớp về Bác Hồ mà các dân tộc như Tà Ôi, Pa Cô, Pahy đang lưu giữ. Những kỷ vật về hình ảnh người lãnh tụ kính yêu, bậc danh nhân kỳ tài của nước Việt cũng như của thế giới được đồng bào lưu giữ “ít tuổi” nhất cũng đã được trên chục năm, “nhiều tuổi” nhất cũng đã được gần 40 năm rồi. Những kỷ vật đó thể hiện sự kính trọng lớn lao với Bác mà cuộc đời giản dị, hết lòng vì dân, vì nước đã như một mạch nguồn, thấm chẩy trong từng tấc đất, trong mỗi tấm lòng người dân.

Lần đầu tiên đặt chân lên mảnh đất này, chúng tôi thật sự bất ngờ vì được đối diện với một kho kỷ vật về Bác mà đồng bào đã cất công lưu giữ, thờ tụng đến lớn lao như vậy. Và thú thực chúng tôi rất khó lựa chọn để giới thiệu về các kỷ vật đó.

Khi chúng tôi đến nhà ông Lê Xuân Rắc, xã Hồng Quảng, huyện A Lưới để được xem kỷ vật về Bác chúng tôi phải chờ đến tận 2 ngày vì ông Rắc đang ở trên ngàn. Ngoài ông Rắc, những người trong gia đình không ai được tự ý lấy xem những kỷ vật mà ông giữ.

Chờ đợi đến khi ông Rắc về. Đó là một người nông dân vậm chắc và trực tính. Khi chúng tôi đề xuất ý định của mình là muốn xem di vật của Bác mà ông gìn giữ đã gần 40 năm nay, không nói không rằng ông Rắc lặng lẽ ra con suối đầu bản để tắm. Lúc trở lại nhà ông mới cho biết là ông không muốn để người còn bụi bặm khi động đến và nói về kỷ vật ấy.

Nói rồi ông đặt thang trèo lên nơi bàn thờ của gia đình, lật tấm vải đỏ phủ kín, ông cẩn trọng mang xuống một bức phù điêu bằng đá tạc nổi rõ chân dung của Bác. Ông bảo, ông đã được cơ quan, bà con lối xóm ủy quyền để gìn giữ bức phù điêu tạc chân dung Bác đã gần 40 năm nay. Ông hồi tưởng, bức phù điêu ra đời và được đưa về nhà ông từ năm 1971. Năm ấy, toàn dân tộc ta đang dốc sức, dốc lực cho chiến trường miền Nam để thực hiện thống nhất Nam Bắc một nhà theo di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm này, có một đoàn Quân bưu miền Bắc hành quân vào chi viện cho miền Nam đã qua làng ông. Trong thời gian lưu trú, biết dân tộc Tà Ôi, Pa Cô, Pahy ở đây rất yêu kính Bác Hồ nên một người trong đoàn có hoa tay đã lấy đá ở Hồng Quảng tạc một bức phù điêu về Bác để kỷ niệm bà con. Sau đó, bức phù điêu này đã được Quân bưu A Lưới gìn giữ. Sau vì dân hay tìm đến xem nên Quân bưu A Lưới đã có ý định đưa về cho dân quản lý.

Quân bưu và lãnh đạo ở đây thống nhất giao ông Rắc là người được dân quý mến, có đạo đức vinh hạnh nhận nhiệm vụ này. Sau lễ tiếp nhận, có xôi đồ, gà luộc, hương hoa như một ngày lễ trọng đại, ông Rắc đã kính cẩn cùng gia đình, làng xóm rước Bác về cùng gia đình. Ông đã chọn nơi tôn nghiêm nhất, ấy là bàn thờ tổ tiên mình để đặt bức phù điêu của Bác. Ông và gia đình cũng như bà con đã thờ tự, nhang khói cho Bác được gần 40 năm nay.

Người sống mãi trong trái tim dân

Thấu hiểu được những tình cảm mà Bác đã dành cho toàn dân Việt Nam cũng như dân tộc mình, sau khi Bác mất, không ai bảo ai, đồng bào các dân tộc như Tà Ôi, Pa Cô, Pahy đã đồng loạt tự nguyện lấy họ của Bác để làm họ cho dân tộc, dòng họ và cá nhân mình. Những người được mang họ Hồ ở đây luôn tâm niệm một lòng học và phấn đấu theo lời Bác dạy. Từ hành động và tâm nguyện này nên nhiều người trong các dân tộc Tà Ôi, Pa Cô, hay Pahy đã trở thành các cá nhân xuất sắc và điển hình. Tiêu biểu nhất là Anh hùng Kan Lịch và Anh hùng Hồ Đức Vai. Đây là hai đại biểu, đã được Bác tiếp ở Phủ Chủ tịch.

Trong các kỷ vật hiện hữu nhiều nhất ở nhà đồng bào các dân tộc như Tà Ôi, Pa Cô, Pahy là chân dung Bác được in trên vải, được treo trang trọng nhất trong gian nhà lớn của các gia đình. Sau khi Bác mất, với tấm lòng tiếc thương vô hạn, theo đề xuất của người dân, lãnh đạo Huyện đã tặng mỗi gia đình một chân dung như vậy để đồng bào đem về nhà treo cho đỡ nhớ Bác. Theo ông Hồ Rơi thì đồng bào treo ảnh Bác, ngoài việc tưởng nhớ còn là nơi để dạy dỗ cháu con. Cha mẹ đã kể cho con cháu những mẩu chuyện về Bác để khuyên dạy cháu con.

Trong lần vào các gia đình ở đây chúng tôi rất cảm động trước “Hũ muối Bác Hồ”. Hũ muối này hình thành từ thời đất nước ta còn chịu sự đô hộ của thực dân Pháp. Khi đó bắt đồng bào Tà Ôi, Pa Cô, Pahy phải “đói muối”. Bác đã gửi muối vào cho đồng bào. Đồng bào giữ  muối trong các hũ và để nhớ ơn Người, đồng bào gọi đó là “Hũ muối Bác Hồ”. Ngày nay, đất nước ta thống nhất, phát triển và hội nhập, muối trở thành gia vị thông thường nhưng đồng bào các dân tộc nơi đây vẫn giữ “Hũ muối Bác Hồ”. Theo ông Hồ Phờn, thôn A Vin, xã Hồng Thái thì “Hũ muối Bác Hồ” không bao giờ vơi trong gia đình ông. Lúc nào nhà có việc trọng như cúng tế, tết nhất hay giỗ chạp ông và gia đình luôn lấy muối ở “Hũ muối Bác Hồ” để dùng. Ngoài sự thiêng liêng, ông và gia đình đều tâm niệm: Dùng muối ấy để ăn mà nhớ về công lao trời biển của Bác đối với các dân tộc trong đó có người Tà Ôi, Pa Cô và Pahy.

Đơn Thương
daidoanket.vn

Mở rộng dân chủ để chính quyền thực sự là của dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh với bà con dân tộc thiểu số

Cả cuộc đời Hồ Chí Minh là cuộc đời vì nước, vì dân, đấu tranh không mệt mỏi vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì quyền làm chủ của nhân dân. Quan điểm Hồ Chí Minh về nhân dân là sự vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn Việt Nam, kế thừa những tinh hoa của thế giới và dân tộc. Nhân dân mà đại bộ phận là nhân dân lao động trong đó công-nông là cơ bản, đứng lên đấu tranh để tự giải phóng, dưới sự lãnh đạo của Đảng tiền phong của giai cấp công nhân.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống những luận điểm khoa học về kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, quân sự… là sản phẩm của sự kết hợp tư duy độc lập, sáng tạo của Hồ Chí Minh với tri thức tinh hoa của dân tộc Việt Nam và của nhân loại. Trong hệ tư tưởng của Người, tư tưởng dân làm chủ được coi là cốt lõi. Việc Hội nghị Trung ương 12 (Khóa X) nhất trí với Dự thảo Cương lĩnh (bổ sung, phát triển 2011) trình Đại hội Đảng lần thứ XI, trong đó xác định: “Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh…” chính là minh chứng cho điều đó. Bởi lý luận và thực tiễn đều khẳng định, có dân chủ thì mới có công bằng, văn minh; bản chất xã hội ta là dân chủ và dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Cả cuộc đời Hồ Chí Minh là cuộc đời vì nước, vì dân, đấu tranh không mệt mỏi vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì quyền làm chủ của nhân dân. Quan điểm Hồ Chí Minh về nhân dân là sự vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn Việt Nam, kế thừa những tinh hoa của thế giới và dân tộc. Nhân dân mà đại bộ phận là nhân dân lao động trong đó công-nông là cơ bản, đứng lên đấu tranh để tự giải phóng, dưới sự lãnh đạo của Đảng tiền phong của giai cấp công nhân.

Ai cũng biết, mọi hoạt động của con người đều hướng vào lợi ích. Lợi ích là một phạm trù rộng, bao gồm mọi loại lợi ích vật chất và tinh thần, lợi ích chung (nhân loại, dân tộc, giai cấp, tầng lớp) và lợi ích riêng từng cá nhân con người. Lợi ích chung và chân chính kích thích, thúc đẩy cả một dân tộc, toàn thể nhân dân của một quốc gia thuộc địa, bị áp bức, bóc lột vào cuộc đấu tranh quyết liệt, sống còn với bộ máy thống trị của thực dân, đế quốc. Mục đích chính nghĩa của chiến tranh đã cho phép Nhà nước, Đảng cách mạng có thể phát động nhân dân phát huy đầy đủ sức mạnh của cả một dân tộc trong cuộc chiến tranh chính nghĩa, vì lợi ích của chính những người cầm súng chiến đấu. Trong điều kiện đó, nhân dân đã tìm ra mọi loại vũ khí, phương tiện cũng như sáng tạo ra mọi phương thức đấu tranh thích hợp để giành chiến thắng.

Khi cuộc chiến tranh giành độc lập tự do của dân tộc đã giành toàn thắng, đất nước trong hòa bình, xây dựng thì tình hình có sự thay đổi lớn, có thể nói là cơ bản. Mối quan hệ giữa nhân dân và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc đã có nội dung mới. Lúc này, lợi ích cấp thiết của dân tộc, giai cấp, tầng lớp, cá nhân là phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, xây dựng đất nước giàu mạnh. Vì thế, Hồ Chí Minh khẳng định và nói rõ nội dung cốt lõi của dân chủ là, Nhà nước phải : “Giải quyết vấn đề kinh tế, tài chính thế nào cho hợp lý, cho lợi dân” (Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb ST, H.1986, Tập 6, tr.41). Lâu nay, chúng ta nói nhiều đến quyền làm chủ của nhân dân nhưng chưa thật sự gắn có hiệu quả với lợi ích thiết thực của nhân dân như trong quy hoạch đất đai, giải phóng mặt bằng xây dựng hay như trong triển khai các dự án… Người dân không được hoặc được thông tin rất ít nên quyền dân chủ được bàn và kiểm tra còn rất hạn chế. Thắc mắc, kiện tụng xảy ra là điều không tránh khỏi vì quyền làm chủ của nhân dân có nơi, có lúc  vẫn chỉ là hình thức. Muốn khắc phục, Đảng, Nhà nước, các đoàn thể quần chúng phải gắn bó máu thịt với nhân dân; cán bộ các cấp phải thực sự là người lãnh đạo, người đầy tớ của nhân dân. Cần đẩy mạnh hơn nữa cải cách hành chính, khắc phục bệnh quan liêu trong các cơ quan Đảng, Nhà nước và các đoàn thể và xây dựng phong cách cách mạng theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong các tổ chức ấy. Để tạo điều kiện cho nhân dân làm chủ thực sự và có hiệu quả, phải thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của mọi người dân thông qua hai kênh: đại diện và trực tiếp. Đảng và Nhà nước hết sức chú ý đến tổ chức và thực hiện tốt các chế độ khác nhau như: chế độ cán bộ cơ quan Đảng, Nhà nước tiếp xúc với dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, tiếp thu ý kiến phê bình của nhân dân; chế độ xem xét và giải quyết những khiếu tố của nhân dân; chế độ thanh tra nhân dân…

Một hình thức hết sức hiệu quả để nhân dân phát huy quyền làm chủ là thực hiện đúng đắn việc thông tin và quyền tự do ngôn luận trên báo chí theo các quy định hiện hành. Cần tổ chức thật tốt để nhân dân phát biểu ý kiến trên báo, đài góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước. Các đoàn thể quần chúng dùng báo chí để phổ biến và tuyên truyền dân chủ trong nhân dân.

Việc tiếp theo là xây dựng đồng bộ các chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh… phát huy khả năng sáng tạo của nhân dân. Bởi vì, tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay nảy nở, phát triển được nhiều hay ít tùy thuộc vào rất nhiều vào chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh… của Đảng và Nhà nước ta.  Do sự phát triển của thời đại, của yêu cầu mới, một số chính sách đã ban hành chưa đồng bộ, chưa đủ khuôn khổ pháp lý cần thiết để triển khai vào thực tiễn. Không ít luật, chính sách đã được ban hành nhưng chưa được thực thi nghiêm chỉnh do kỷ luật, kỷ cương lỏng lẻo. Vì thế, cần bổ sung, hoàn thiện hàng loạt chính sách trên  các lĩnh vực, đặt trọng tâm vào việc chăm lo, bồi dưỡng, phát huy cao độ nhân tố con người, xem con người vừa là mục tiêu vừa là động lực lớn nhất của sự nghiệp xây dựng CNXH; đồng thời coi ấm no, tự do, hạnh phúc của con người là mục tiêu cao nhất của chế độ mới theo như lời dạy của Bác Hồ: “ Mở rộng dân chủ đi đôi với tăng cường chuyên chính để làm cho chính quyền ta ngày càng thực sự là chính quyền của nhân dân, phục vụ nhân dân, chống lại kẻ thù của nhân dân (Hồ Chí Minh, Sdd, Tập 7, tr. 559).

Phạm Quang Khánh
daidoanket.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong mắt bạn bè quốc tế: Một tấm lòng nhân hậu, một chiến sĩ quốc tế vô song

Ông Raymond Aubrac luôn nói với chúng tôi: Tôi được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh của các bạn là nhờ cơ may của cuộc kháng chiến của nhân dân Pháp chống lại ách đô hộ của Đức quốc xã mà tôi là một thành viên của tổ chức này.

Ông R.Aubrac say sưa kể về những cuộc gặp gỡ với Chủ tịch Hồ Chí Minh

Quả có vậy, người đàn ông Pháp năm nay đã bước sang tuổi 96, từ lâu đã được biết đến là người bạn Pháp thân thiết của nhân dân Việt Nam và của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông kể: năm 1944, tôi tham gia vào Ban quản lý trại lao động tại Marseilles. Khi đó, tôi đã tận mắt chứng kiến sự đối xử thô bạo của một số thành viên Ban Quản lý với các lao động Việt Nam và đã góp phần chấn chỉnh thái độ đó. Chính vì lý do này mà năm 1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tới Pháp tham dự Hội nghị Fontainebleau tôi đã được mời tới gặp Người. Trong ký ức của ông Aubrac, Bác Hồ là một người giản dị, gần gũi. Thời gian lưu lại Pháp, Bác không muốn ở trong ngôi biệt thự mà chính phủ Pháp dành cho mình; cũng vì lẽ đó ông Raymond Aubrac đã mời Người đến ở ngôi nhà của mình tại vùng ngoại ô Paris. Chủ tịch của một nước, nguyên thủ của một quốc gia chấp nhận đến ở nhà một người Pháp bình thường- một người kháng chiến Pháp. Điều này có lẽ xưa nay hiếm với những bậc vĩ nhân. “Ngay lúc đó, đã có một số người bạn Pháp hỏi tôi: Phải chăng Cụ Hồ đến ở nhà tôi để giải trí,để bắn súng?- Ông Aubrac nở một nụ cười hóm hỉnh và nói. Không phải vậy! Người đến để tìm hiểu về cuộc sống của người dân Pháp.

Trong cuộc trò chuyện giữa ông và chúng tôi, thế hệ hậu sinh, ông Aubrac kể nhiều về những kỷ niệm mà gia đình ông giữ mãi về vị Chủ tịch nước đáng kính của nhân dân Việt Nam trong thời gian 6 tuần Người lưu lại nhà ông. Đó là thời gian Chính phủ hai nước gặp gỡ, bàn bạc để thiết lập mối quan hệ. Cuộc đàm phán này theo chính giới Pháp thời đó là khá khó khăn. Bởi, Chính phủ Pháp khi đó không sẵn sàng chấp nhận nền độc lập của một nước Việt Nam mới. Đó là khoảng thời gian mà gia đình Aubrac được đón tiếp rất nhiều khách là nhà báo, chính trị gia, những người thuộc phe đối lập. Họ đến để trao đổi, mạn đàm với Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ nghĩa thực dân. Đối với một gia đình trí thức như gia đình Aubrac, bản thân họ đã là những người kháng chiến. Họ là những người cực lực lên án và chống lại chủ nghĩa thực dân từ trong ý thức.

Điều đặc biệt là trong những cuộc mạn đàm với các bạn Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh không bao giờ sử dụng những lời lẽ “đao to búa lớn”, không “lên lớp” người nghe bằng những bài thuyết giáo mà bằng những ngôn từ dễ hiểu, Người chỉ ra cho họ thấy: Thế nào là chủ nghĩa thực dân. Những người bạn Pháp trong đó có ông Raymond Aubrac hiểu rằng: Chủ nghĩa thực dân tại các nước thuộc địa cũng giống như những gì người Pháp đã phải chịu đựng trong những năm bị phát xít Đức chiếm đóng. “Trong nhiều trường hợp, cái cách mà những tên thực dân cư xử ở thuộc địa cho thấy đó là những kẻ đã từng cộng tác với Đức quốc xã khi chúng chiếm đóng Pháp. Những điều chúng tôi trao đổi không chỉ là những tình huống của người dân Việt Nam thời thuộc địa mà còn là cảnh ngộ của tất cả các dân tộc phải chịu đựng ách đô hộ của ngoại bang”. Chính từ cuộc gặp gỡ ấy, chính kể từ đó, chàng trai trẻ Raymond Aubrac đã được cảm hóa bởi những câu chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bởi sự gần gũi và chân tình của Người.

Mai Loan
daidoanket.vn

Nhà văn Mỹ Lady Borton: Vì dân là Tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Mấy chục năm nay, Lady Borton  đã trở thành quen thuộc trong giới nghiên cứu quốc tế về Việt Nam và cũng khá thân quen với nhiều người Việt Nam. Đến Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1969, bà dành nhiều năm tháng sống cùng bà con nông dân ở các làng quê Việt Nam, đi đi về về giữa Mỹ và Việt Nam không biết bao nhiêu lần với tư cách là một nhà báo, nhà văn, dịch giả, nhà nghiên cứu và hoạt động từ thiện.

Đã được đọc Tiếp sau nỗi buồn – tác phẩm viết về cuộc sống nông thôn Việt Nam thời kỳ hậu chiến của Lady Borton, nghe nhiều chuyện kể về bà từ lâu, gặp bà, tôi không ngờ bà giản dị như vậy. Trở lại Việt Nam lần này, bà là một trong những đại biểu quốc tế tham dự Hội thảo “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” với tư cách của một nhà khoa học nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã từng viết sách “Hồ Chí Minh – một hành trình”, đã từng dịch tác phẩm “Vừa đi đường vừa kể chuyện” sang tiếng Anh và nhiều tác phẩm khác về Việt Nam, về Bác Hồ, về Đại tướng Võ Nguyên Giáp…

Bác Hồ với các Anh hùng, dũng sĩ miền Nam

Thưa bà Lady Borton, nhiều người Việt Nam muốn biết vì sao bà  gắn bó với Việt Nam và bỏ nhiều công sức để nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh như vậy?

Lần đầu tiên tôi nghe nói đến tên Hồ Chí Minh là vào năm 1954, khi đang học lớp 6 tại một ngôi trường ở ngoại ô thủ đô Washington D.C. Bấy giờ người ta bàn tán xôn xao về thất bại của thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ. Thầy giáo chỉ định nhóm của tôi viết một bài để đăng trên một tờ báo dành cho học sinh khắp nước Mỹ

Tôi đến Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1969, hoạt động thiện nguyện nhân đạo tại Quảng Ngãi. Tại vùng chiến sự ác liệt miền Trung đó tôi đã giúp đỡ nạn nhân chiến tranh ở cả hai phía. Và vào tháng chín năm đó, tôi ngạc nhiên khi thấy người Việt Nam tuy ở hai chiến tuyến nhưng đều tỏ lòng tiếc thương khi được tin Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. Thú thật bản thân tôi lúc ấy không biết nhiều về Hồ Chí Minh và cũng không hiểu nổi hiện tượng lạ lùng này.

Năm 1975, lần đầu tiên tôi đến Hà Nội và từ đó, tôi có rất nhiều người bạn Việt Nam; trở thành một người bạn của Việt Nam từ khi 2 nước Việt Nam và Mỹ còn chưa bình thường hoá quan hệ. Vậy nên khi mà 2 nước đã bình thường hoá thì tôi càng là bạn bè thân thiết của những người bạn Việt Nam của tôi. Tôi đến Việt Nam như trở lại nhà của mình.

Bà Lady Borton

– Ở Việt Nam cũng như trên thế giới, thậm chí ngay tại Mỹ cũng đã có nhiều tác phẩm về Chủ tịch Hồ Chí Minh, vậy vì sao bà vẫn viết tác phẩm “Hồ Chí Minh – một hành trình”? Tác phẩm này có gì mới và khác so với các tác phẩm xuất bản trước đó về Chủ tịch Hồ Chí Minh?

Khi cuốn sách này được xuất bản (bằng tiếng Anh – nv) tôi đã viết trong lời tựa của cuốn sách là: “Một cuốn sách mà đáng ra bản thân tôi đã phải được đọc vào thời còn rất trẻ, nhiều năm về trước”. Tôi có những người bạn rất thân thiết ở Việt Nam và họ kể cho tôi nghe nhiều chuyện về Bác Hồ. Nhưng khi tôi đọc những cuốn sách xuất bản ở Mỹ thì tôi ngạc nhiên vì có nhiều chi tiết sai quá. Ở đây không bàn đến chuyện quan điểm mà chỉ riêng số liệu, thời điểm, tính xác thực của thông tin đã sai rồi. Vì thế, tôi bỏ rất nhiều công đi khắp thế giới, thu thập các tư liệu về Hồ Chí Minh. Nhất là gần đây khi hồ sơ lưu trữ quốc tế về Việt Nam được công bố tại nhiều nước thì tôi được tiếp cận với nhiều dữ liệu mới. Tôi cũng đến tận những nơi Hồ Chí Minh đã đặt chân đến, đã sống và hoạt động… để tìm hiểu. Đó là lý do tôi viết Hồ Chí Minh – Một hành trình, tác phẩm giản dị nhưng chính xác. Tôi muốn giải mã và trình bày thật đơn giản hiện tượng Hồ Chí Minh cho người đọc phương Tây.

Cuốn sách không dừng lại ở thời điểm Hồ Chí Minh mất năm 1969 mà kết thúc với ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975. Cuộc hành trình của Hồ Chí Minh gắn liền với cuộc chiến đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong suốt thế kỷ 20.

Là người nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, có trong tay những tư liệu quý, tình cảm của cá nhân bà với danh nhân văn hoá thế giới Hồ Chí Minh?
Tôi cho rằng nếu không có Hồ Chí Minh thì Cách mạng tháng Tám ở Việt Nam chắc không thành công. Tôi vô cùng khâm phục Hồ Chí Minh. Đó là một lãnh tụ tài giỏi. Trên thế giới có nhiều người giỏi, nhưng thường mỗi người chỉ giỏi một lĩnh vực còn Hồ Chí Minh giỏi cả về thơ ca, ngoại giao, quân sự… Lãnh tụ giỏi thì có nhiều trên thế giới, nhưng Hồ Chí Minh khác người khác ở chỗ biết tập hợp những người giỏi quanh mình. Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam lúc ấy gồm toàn những người giỏi được mời tham gia không phân biệt thành phần, giai cấp… Hơn nữa, ảnh hưởng của Hồ Chí Minh không chỉ ở Việt Nam mà còn phải xét trên bình diện đóng góp với phong trào Cộng sản thế giới.

Chắc bà cũng biết là ở Việt Nam đang có cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đứng ở góc độ một nhà nghiên cứu, theo bà đạo đức Hồ Chí Minh mà mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam phải học tập và làm theo nhất hiện nay là gì?

Tư tưởng Vì dân là tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh. Không chỉ ở Việt Nam mà cả một số nước khác trên thế giới, tôi thấy nghiêm trọng nhất bây giờ là nạn tham nhũng. Đúng là nạn tham nhũng thì ở xã hội nào cũng có, ở quốc gia nào cũng tồn tại nhưng nó có mức độ thôi. Phải hạn chế ở mức thấp thôi. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thì phải chú trọng nhất vào vấn đề tham nhũng. Hồ Chí Minh đã phấn đấu suốt đời vì dân tộc, vì nhân dân, các thế hệ người Việt Nam phải học tập và làm theo tấm gương đó.

Trân trọng cảm ơn bà!
Cẩm Thúy (thực hiện)
daidoanket.vn

Bác Hồ với đồng bào các dân tộc thiểu số

Đại đoàn kết

Xuất phát từ lịch sử và thực tiễn đất nước, Hồ Chí Minh khẳng định: dân tộc Việt Nam là một khối thống nhất của các dân tộc anh em, được hình thành trong quá trình dựng nước và giữ nước; các dân tộc thiểu số là một bộ phận hợp thành của dân tộc Việt Nam; các dân tộc thiểu số cũng như dân tộc Kinh đều bị thực dân, đế quốc áp bức, bóc lột và đều có nguyện vọng đánh đuổi thực dân, đế quốc; xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc.

Theo Hồ Chí Minh, vấn đề dân tộc thiểu số có mối quan hệ tương tác, biện chứng với vấn đề giải phóng và phát triển của dân tộc Việt Nam. Một mặt, dân tộc Việt Nam được giải phóng là điều kiện tiên quyết để các dân tộc thiểu số được giải phóng; dân tộc Việt Nam được phát triển là định hướng và điều kiện cho sự phát triển các dân tộc thiểu số. Mặt khác, để giải phóng dân tộc Việt Nam không thể thiếu sự đóng góp của các dân tộc thiểu số; sự phát triển của các dân tộc thiểu số là một động lực cho sự phát triển của dân tộc Việt Nam. Hồ Chí Minh đã thể hiện nhất quán luận điểm nói trên trong quá trình hoạt động cách mạng của Người và phù hợp với nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong từng thời kỳ.

Trong những năm tháng hoạt động ở nước ngoài, ngoài việc thành lập và tham gia hoạt động trong các tổ chức cách mạng, Hồ Chí Minh (khi đó lấy tên là Nguyễn Ái Quốc) đã viết sách báo tập trung lên án chủ nghĩa thực dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam, trực tiếp chọn và huấn luyện nhiều cán bộ người dân tộc thiểu số trong các lớp học được mở tại Quảng Tây, Quảng Đông (Trung Quốc).

Ngay sau khi về nước, Hồ Chí Minh đã tiến hành các hoạt động vận động quần chúng. Người trực tiếp biên soạn tài liệu huấn luyện cán bộ, trong đó Người yêu cầu cán bộ phải: “Tìm hiểu phong tục, tập quán, học tiếng địa phương v.v…” Người giao cho một số cán bộ người dân tộc mở lớp huấn luyện quân sự  và tổ chức nhiều hội nghị để củng cố sự đoàn kết giữa các dân tộc…

Trong thời kỳ chuẩn bị tiến tới Tổng khởi nghĩa, Người nhấn mạnh: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thẩy”. Trong “Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa”, Người kêu gọi: “Chỉ có đoàn kết, phấn đấu nước ta mới được độc lập”. Người đã chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, trong đó phần đông là người các dân tộc thiểu số.

Với thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, dân tộc Việt Nam nói chung và các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã thành người chủ của nước Việt Nam độc lập. Quốc hội khóa I đã có sự tham gia của đại diện các dân tộc thiểu số. Với cương vị Chủ tịch nước Việt Nam độc lập, Hồ Chí Minh đã mời đại diện các dân tộc thiểu số tham gia Chính phủ hoặc giữ trọng trách ở các cơ quan Trung ương và địa phương. Ngày 19-4-1946, Người có thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Plâycu, trong đó Người khẳng định: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, GiaRai hay ÊĐê, XêĐăng hay BaNa và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt…”

Từ sau ngày Toàn quốc kháng chiến, Người luôn luôn nhấn mạnh nhiệm vụ hàng đầu lúc này là “phải kháng chiến cứu nước”, “đoàn kết hơn nữa để chống xâm lăng”. Người giao cho các ngành hữu quan mở nhiều lớp huấn luyện chính trị, quân sự và cử con em các dân tộc thiểu số sang Trung Quốc, Liên Xô học tập.

Với chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội; miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh vì mục tiêu dân tộc, dân chủ và hòa bình. Trong thời kỳ mới, vấn đề dân tộc thiểu số ở nước ta đã được Hồ Chí Minh đặt ra và giải quyết trên một bình diện mới, có nội dung mới, phản ánh những nhu cầu cơ bản của các dân tộc thiểu số, từ chính trị đến kinh tế, từ văn hóa đến xã hội v.v… trong đó đoàn kết vì sự phát triển của các dân tộc thiểu số là nhiệm vụ trung tâm. Trong các dịp đi thăm đồng bào các dân tộc ở Việt Bắc, Tây Bắc, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An… Người nhấn mạnh: “Ngày nay chế độ ta là chế độ dân chủ, tất cả nhân dân các dân tộc đều có quyền làm chủ nước nhà” và kêu gọi: “Trước hết, tất cả các dân tộc, bất kỳ to hay là nhỏ, đều phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ nhau như anh em một nhà”. Nói về nhiệm vụ trong thời kỳ mới, Người chỉ rõ: “Chủ nghĩa xã hội là mọi người dân được áo ấm, cơm no, nhà ở tử tế, được học hành. Muốn vậy thì mọi người phải thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm”“phải phát triển kinh tế và văn hóa” và nhấn mạnh: Đồng bào dân tộc thiểu số cần có chữ viết của mình; cần đẩy mạnh việc xóa nạn mù chữ, học tập văn hóa, giữ gìn truyền thống văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc… Người đã chỉ thị cho các cơ quan hữu quan thành lập nhiều trường dành riêng cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số. Người còn căn dặn việc trồng cây; giữ gìn vệ sinh làng bản, nhà ở, bảo vệ môi trường, giữ gìn trật tự an ninh… Do đồng bào các dân tộc thiểu số sống phần lớn các tỉnh biên giới, Người nhắc nhở phải đoàn kết, giữ gìn tình hữu nghị với nhân dân các nước có chung biên giới. Người yêu cầu các cấp ủy đảng, chính quyền: “Phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân… áp dụng chủ trương, chính sách phải sát hợp với tình hình mỗi nơi”.

Trong những năm chiến tranh chống Mỹ, cứu nước Người đã chỉ thị cho các cơ quan tiếp tục lựa chọn và đưa nhiều con em đồng bào các dân tộc thiểu số sang các nước xã hội chủ nghĩa học tập, đào tạo và nhiều người trong số đó đã trở thành cán bộ lãnh đạo của Đảng và Nhà nước; nhiều nhà khoa học, nhiều nhà văn hóa có tên tuổi… Dù hoàn cảnh đất nước bị chia cắt song Người luôn luôn quan tâm đến đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền Nam.

Hồ Chí Minh gắn bó với đồng bào các dân tộc thiểu số không chỉ về nhận thức mà còn trong tình cảm của Người. Nơi Người đặt chân đầu tiên khi về nước là ở nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số. Người nói một số tiếng dân tộc thiểu số khi cần thiết. Sau khi nước nhà độc lập, với cương vị  Chủ tịch nước, Người đã có thư gửi đồng bào các tỉnh Việt Bắc, trong đó Người viết:“Tôi không bao giờ quên đồng bào Thổ, đồng bào Nùng, đồng bào Mèo… cho đến anh em Hoa kiều, người thì giúp chúng tôi ăn, kẻ thì cho chúng tôi áo…”. Tên gọi Bác Hồ đã trở  thành thân thiết với đồng bào các dân tộc trên đất nước Việt Nam.

Có thể nói, Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ mà còn là người bạn đồng hành của mỗi dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Sự đoàn kết của 54 dân tộc anh em trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam là một nhân tố cơ bản đảm bảo thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới của chúng ta.

PGS. TS PHẠM HỮU TIẾN
daidoanket.vn