Tag Archive | Thời sự

Đáp từ trong lễ nhận quốc thư của Chủ tịch đoàn Xô viết tối cao Liên Xô (4-11-1954)

Thưa đồng chí Đại sứ thân mến,

Tôi rất vui lòng nhận bản quốc thư của Chủ tịch đoàn Xô viết tối cao uỷ nhiệm đồng chí làm Đặc mệnh toàn quyền Đại sứ ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Và tôi rất cảm ơn những lời chúc mừng của đồng chí.

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản và Chính phủ Liên bang Xô viết, nhân dân Liên Xô đang phấn đấu anh dũng để xây dựng chủ nghĩa cộng sản đã thu được nhiều thắng lợi vẻ vang.

Liên Xô là thành trì vững chắc của hoà bình và dân chủ thế giới.

Trong công cuộc đấu tranh cho hoà bình, thống nhất, độc lập và dân chủ của mình, nhân dân Việt Nam luôn luôn được sự đồng tình thắm thiết và sự ủng hộ khảng khái của nhân dân Liên Xô. Cho nên nhân dân Việt Nam rất yêu mến và biết ơn nhân dân Liên Xô.

Tôi chắc rằng từ nay giữa hai nước chúng ta, tình hữu nghị ngày càng phát triển và thêm chặt chẽ; nhân dân Việt Nam sẽ được nhân dân Liên Xô giúp đỡ nhiều để hàn gắn những vết thương do chiến tranh gây nên và để xây dựng lại kinh tế và vǎn hoá của mình. Đồng thời nhân dân Việt Nam sẽ ra sức góp phần vào công cuộc giữ gìn hoà bình châu á và thế giới do Liên Xô lãnh đạo.

Đồng chí Đại sứ, tôi nhiệt liệt hoan nghênh đồng chí lãnh chức Đại sứ ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong công tác của đồng chí để thắt chặt tình hữu nghị giữa hai nước Việt – Xô chúng ta, nhân dân và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ ra sức giúp cho đồng chí hoàn toàn thành công.

Nhân dịp này, tôi nhờ đồng chí chuyển lòng biết ơn và lời chào thân ái của chúng tôi gửi Đảng Cộng sản, Chính phủ và nhân dân Liên Xô.

Đọc ngày 4-11-1954.
Báo Nhân dân, số 255,
ngày 5-11-1954.
cpv.org.vn

Điện chúc mừng kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười (7-11-1954)

Kính gửi đồng chí K. Vôrôsilốp kính mến,
Chủ tịch đoàn Xô viết tối cao Liên Xô,

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 37 ngày Đại Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười, tôi thay mặt nhân dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân tôi, xin gửi tới đồng chí Chủ tịch và nhân dân Liên Xô lời chào mừng nhiệt liệt.

Chúng tôi vô cùng phấn khởi theo dõi những thành công rực rỡ của nhân dân Liên Xô vĩ đại trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa cộng sản và sự nghiệp bảo vệ hoà bình thế giới và thành khẩn chúc nhân dân Liên Xô thu được nhiều thắng lợi mới trong công cuộc xây dựng đời sống hạnh phúc cho nhân dân Liên Xô và công cuộc củng cố hoà bình thế giới.

Nhân dịp này nhân dân Việt Nam lại tỏ lòng biết ơn nhân dân Liên Xô đã luôn luôn ủng hộ nhân dân Việt Nam. Sự ủng hộ ân cần đó làm cho nhân dân Việt Nam vô cùng phấn khởi và tin tưởng trong cuộc đấu tranh để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ và trong công cuộc khôi phục và xây dựng nước nhà của mình.

Kính chúc đồng chí luôn luôn mạnh khoẻ.

Tình hữu nghị Việt – Xô bền vững muôn nǎm!

Ngày 7 tháng 11 nǎm 1954
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 257,
ngày 7-11-1954.
cpv.org.vn

Đáp từ trong bữa tiệc do Đại sứ Liên Xô tổ chức (7-11-1954)

Thưa đồng chí Đại sứ,

Thưa các vị,

Hôm nay, nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân lao động khắp thế giới đều hướng về Liên Xô, cùng với nhân dân Liên Xô vui vẻ kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười. Lòng vui mừng ấy rất tự nhiên, vì Cách mạng Tháng Mười đã mở đường giải phóng cho giai cấp lao động và cho các dân tộc bị áp bức khắp thế giới.

Cách mạng Tháng Mười đã soi sáng cho họ một tương lai vẻ vang, hoà bình và hạnh phúc, không có người bóc lột người, không có dân tộc này áp bức dân tộc khác.

Trong ngoài 30 nǎm sau Cách mạng Tháng Mười thành công, chỉ riêng ở châu á là nơi đất rộng người nhiều, của cải phong phú nhất, vǎn minh lâu đời nhất, mà cũng là nơi nhiều dân tộc bị người ngoài áp bức nhất, đã có nhiều nước giành được tự do, độc lập như Trung Quốc, ấn Độ, Nam Dương, Diến Điện, Tích Lan , Bắc Triều Tiên và Việt Nam.

Riêng Việt Nam cũng biết ơn Cách mạng Tháng Mười và nhân dân Liên Xô. Cách mạng Tháng Mười thành công và sau đó quân đội anh dũng Liên Xô đánh thắng quân phiệt Nhật Bản, đã giúp cho Cách mạng Tháng Tám của Việt Nam thắng lợi, nhân dân Việt Nam mới thoát khỏi ách nô lệ thuộc địa và thành lập chế độ dân chủ cộng hoà.

Trong 8, 9 nǎm kháng chiến cứu nước, nhân dân Việt Nam đã được nhân dân Liên Xô khảng khái ủng hộ.

Liên Xô là một nước lớn nhất ở châu Âu đã công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và đã phái Đại sứ đến nước chúng tôi để củng cố và phát triển thêm tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt – Xô.

ở Hội nghị Giơnevơ, cùng với đại biểu Trung Quốc, đại biểu Liên Xô đã ra sức cố gắng để đưa đến cuộc chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Đông Dương.

Tôi cũng xin nhắc lại rằng: dù không tham gia Hội nghị Giơnevơ, nhân dân và Chính phủ ấn Độ cũng đã góp một phần quan trọng vào cuộc đình chiến ở ba nước Việt, Miên, Lào.

Ngày nay, cùng với Liên Xô đấu tranh để giữ gìn hoà bình dân chủ, chỉ ở phương Đông chúng ta đã có một mặt trận gồm một nghìn 300 triệu người (tức là hơn nửa số nhân dân toàn thế giới). Đó là một lực lượng vô cùng mạnh mẽ và càng ngày càng mạnh mẽ. Đó là một lực lượng tất thắng, nó sẽ đánh tan tất cả mọi âm mưu gây chiến tranh. Đó là một lực lượng vĩ đại nó đang xây dựng khối hoà bình gồm nhiều dân tộc, coi nhau như bầu bạn, anh em, đoàn kết với nhau, giúp đỡ lẫn nhau, cùng sống với nhau trên những nguyên tắc hoà mục hữu nghị, cùng nhau ra sức giữ gìn hoà bình thế giới. Nhân dân Việt Nam cực kỳ yêu chuộng hoà bình, bởi vì cần có hoà bình để xây dựng nước nhà, cần có hoà bình để khôi phục và mở mang kinh tế và vǎn hoá, làm cho mọi người dân được hưởng tự do, hạnh phúc, áo ấm, cơm no.

Thưa các vị,

Tôi xin thay mặt nhân dân và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhiệt liệt chúc mừng Cách mạng Tháng Mười vĩ đại!

Chúc mừng Đảng Cộng sản, Chính phủ và nhân dân Liên Xô!

Chúc mừng vị Đại sứ Liên Xô là đồng chí Lavrítsép!

Chúc mừng tình hữu nghị thắm thiết và bền vững giữa hai nước Việt Nam và Liên Xô!

Đọc ngày 7-11-1954.
Báo Nhân dân, số 258,
ngày 9-11-1954.
cpv.org.vn

Trả lời phỏng vấn của phóng viên Hãng Thông tấn Pháp (11-11-1954)

Hỏi: Thưa Chủ tịch, theo ý Chủ tịch thì phương pháp nào là phương pháp tốt nhất để đặt những quan hệ tin cậy và thân thiện giữa nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nước Pháp và để lập lại một không khí thuận lợi giữa hai nước sau 8 nǎm chiến tranh?

Trả lời : Theo ý tôi, phương pháp tốt nhất là sự hiểu biết lẫn nhau, lòng hoàn toàn trung thực và tin cậy đối với nhau.

Hỏi : Chủ tịch xét những quan hệ kinh tế giữa hai nước tương lai sẽ như thế nào? Nếu Chính phủ hoặc tư nhân Pháp cho vay vốn, thì Chủ tịch có nhận không? Và nếu nhận thì nhận với những điều kiện như thế nào?

Trả lời : Những quan hệ kinh tế giữa hai nước phải dựa trên nguyên tắc bình đẳng và hai bên đều có lợi.

Đó là một vấn đề hai bên cần phải thảo luận với nhau.

Hỏi: Theo ý Chủ tịch, phải chǎng việc ông Xanhtơni trở lại Hà Nội với tư cách đại diện nước Pháp có thể làm cho dễ dàng trong một phạm vi quan trọng việc lập lại những quan hệ tin cậy lẫn nhau giữa nước Pháp và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà? Chủ tịch có thấy cần có một người đại diện của quý Chính phủ ở Pari không?

Trả lời : Chúng tôi biết ông Xanhtơni từ lâu. Tôi nghĩ rằng ông Xanhtơni có thể giúp vào việc lập lại những quan hệ tin cậy giữa hai nước chúng ta, nếu những cố gắng của chúng ta không gặp những trở ngại lớn.

– Chúng tôi có câu tục ngữ “Có đi có lại mới toại lòng nhau”.

Hỏi : Chủ tịch có cho rằng tình hình ở miền Nam Việt Nam sẽ biến chuyển đến nỗi không thể chờ hai nǎm nữa tuyển cử để định đoạt vận mệnh toàn bộ nước Việt Nam không?

Chủ tịch có e ngại rằng việc phân chia hiện thời của nước Việt Nam sẽ có thể kéo dài như việc phân chia nước Đức và nước Triều Tiên, là những nước mà lúc đầu việc phân chia cũng chỉ đặt ra tạm thời thôi?

Trả lời: Nhân dân Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ hoạt động không ngừng để thực hiện thống nhất đất nước theo phương pháp hoàn toàn phù hợp với Hiệp định Giơnevơ.

– Những điều kiện của nước Việt Nam khác những điều kiện của nước Triều Tiên và nước Đức.

Hỏi: Trong một tương lai gần đây, Chủ tịch có dự định đi thǎm nước ngoài không?

Trả lời: Hiện nay, tôi chưa có một kế hoạch nào về việc đó.

Hỏi: Chủ tịch có cho rằng một số lớn người Pháp đã rời Hà Nội trước ngày Quân đội nhân dân Việt Nam tiến vào nên trở lại Hà Nội hay không? Chủ tịch có cho rằng những ngành hoạt động nào nên có những người kỹ thuật hoặc kinh doanh Pháp hơn cả?

Chủ tịch có ý định nhờ những nhà kỹ thuật Trung Quốc, Liên Xô hoặc các nước dân chủ nhân dân châu Âu giúp trong công cuộc kiến thiết lại và phát triển của nước Việt Nam không?

Trả lời : – Nếu họ trở lại, họ sẽ được hoan nghênh.

– Đó là những ngành hoạt động kinh tế.

– Chúng tôi đang nghiên cứu vấn đề này.

Hỏi: Chủ tịch có ý định kế hoạch hoá việc phát triển kinh tế của nước Việt Nam không? Theo ý Chủ tịch thì có thể có một kế hoạch chung trước khi thống nhất nước Việt Nam được không?

Trả lời : ở thời đại chúng ta, tôi nghĩ rằng bất cứ nền kinh tế nào ít hay nhiều cũng phải kế hoạch hoá.

– Một kế hoạch chung thì phải đặt ra với chung toàn quốc.

Hỏi: Ở Hội nghị Giơnevơ, ông Phạm Vǎn Đồng có nhắc đến việc nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có thể ở trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp. Chủ tịch xét khả nǎng đó về mặt thực tế như thế nào? Có nhất thiết vì điều đó mà phải xét lại hiến pháp nước Pháp không? Chủ tịch có cho rằng hiện nay ở Việt Nam và Pháp, đối với việc thiết lập những quan hệ về tổ chức giữa hai chế độ khác nhau như vậy, dư luận đã được chuẩn bị chưa?

Trả lời : Khả nǎng và điều kiện nước Việt Nam tham gia khối Liên hiệp Pháp sẽ thảo luận giữa Chính phủ hai nước chúng ta, nếu cả hai bên đều muốn như vậy.

– Hiến pháp nước Pháp là việc nội bộ của nhân dân Pháp và chỉ quan hệ đến nhân dân Pháp mà thôi.

– Tôi nghĩ rằng tinh thần nhân dân Việt Nam cũng như tinh thần nhân dân Pháp đều sẵn sàng xét vấn đề đó, bởi vì những chế độ khác nhau có thể cùng chung sống hoà bình được.

Báo Nhân dân, số 260,
ngày 11-11-1954.
cpv.org.vn

Thư khen các chiến sĩ và cán bộ của các đơn vị tiếp quản Thủ đô (11-11-1954)

Thân ái gửi các chiến sĩ và cán bộ,

Trước ngày các chú vâng lệnh về Thủ đô, Bác đã dặn dò các chú việc gì phải làm, điều gì nên tránh.

Khi vào tiếp quản Thủ đô, các chú đã cố gắng làm tròn nhiệm vụ như lời Bác dặn: cùng anh em công an và nhân dân giữ gìn trật tự, trị an; giữ đúng kỷ luật; bảo vệ tính mệnh tài sản của đồng bào và ngoại kiều, v.v..

Vậy Bác vui lòng khen ngợi các chú, đồng thời Bác lại dặn các chú:

– Chớ vì có thành tích mà chủ quan,

– Phải luôn luôn cảnh giác và giữ kỷ luật chặt chẽ,

– Phải luôn luôn thi đua học tập và công tác, mở rộng tự phê bình và phê bình để tiến bộ mãi, để làm cho bộ đội ta càng thêm hùng mạnh, chính quyền ta càng thêm vững chắc.

Bác hôn các chú
HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 260,
ngày 11-11-1954.
cpv.org.vn

Điện chúc mừng sinh nhật Thủ tướng nước Cộng hoà ấn Độ (16-11-1954)

Kính gửi Thủ tướng nước Cộng hoà ấn Độ Nêru,

Nhân dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 65 của Thủ tướng, nhân danh nhân dân Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân tôi, tôi xin gửi Thủ tướng lời chúc mừng nhiệt liệt và lòng kính yêu một chiến sĩ dũng cảm của hoà bình.

Thủ tướng cùng với nhân dân và Chính phủ ấn Độ đã góp phần rất quan trọng vào việc thi hành nghiêm chỉnh các hiệp định đình chiến ở Việt, Miên, Lào. Đó là điều mà nhân dân Việt Nam sẽ ghi nhớ mãi mãi.

Thủ tướng đã luôn luôn tích cực hoạt động để giữ gìn và củng cố hoà bình ở Đông – Nam châu á và thế giới. Nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân châu á và nhân dân thế giới đều nhiệt liệt hoan nghênh và ủng hộ đường lối của Thủ tướng nhằm thực hiện sự chung sống hoà bình của các nước có chế độ xã hội khác nhau, trên 5 nguyên tắc đoàn kết hoà mục.

Kính chúc Thủ tướng sống lâu và mạnh khoẻ để tiếp tục phấn đấu cho sự nghiệp cao cả của hoà bình ở châu á và thế giới.

Chủ tịch kiêm Thủ tướng Chính phủ
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 264,
ngày 16-11-1954.
cpv.org.vn

Nhân dân với quân đội (19-11-1954)

Quân đội ta là quân đội của nhân dân, cho nên nhân dân rất thương yêu quân đội. Mà thương yêu là phải, vì:

Trong 8, 9 nǎm kháng chiến, quân đội ta ǎn gió nằm sương, xông pha bom đạn, hy sinh xương máu vì nước, vì dân.

Hoà bình trở lại, quân đội ta giữ gìn trật tự, an ninh, bảo vệ tài sản công cộng và tính mệnh, tài sản của nhân dân, làm cột trụ giữ gìn hoà bình, bảo vệ Tổ quốc.

Bởi vì thương yêu quân đội, đồng bào không những ghi tạc những công trạng to lớn của quân đội, mà cũng chú ý đến việc nhỏ ngày thường của quân đội, thí dụ như ở Thủ đô Hà Nội:

– Tiểu đội đồng chí Quế đã cảnh giác, bắt được tên ǎn trộm xe đạp, lấy xe trả lại cho người mất cắp.

– Đồng chí Vinh và đồng chí Cẩm nhặt được nhẫn vàng và khuyên vàng, đã tìm hỏi để trả lại cho dân.

– Nhiều tiểu đội đã tổ chức giúp đồng bào làm vệ sinh, dạy hát cho các em nhi đồng và giúp các lớp bình dân học vụ, v.v..

Những việc đó đã làm cho đồng bào càng cảm động và càng kính phục quân đội.

Nhưng có một vài đồng chí chiến sĩ và cán bộ ra đường không được chỉnh tề, cũng làm cho đồng bào chú ý, như: đội mũ lệch, cúc áo không cài tử tế, cưỡi xe bình bịch lượn chơi phố, đánh “tu lơ khơ” ngoài đường (đồng bào nhầm tưởng là đánh bạc), v.v..

Đồng bào chú ý như thế cũng đúng, vì đồng bào muốn cho quân đội của mình gương mẫu về mọi mặt, không những chiến đấu dũng cảm, mà lại có thái độ nghiêm trang. Vả chǎng, ngày nay nhiều nhân sĩ quốc tế qua lại nước ta, điều mà họ để ý nhất và cho họ cái ấn tượng trước hết, là kỷ luật của quân đội ta. Vậy rất mong các đồng chí chiến sĩ và cán bộ ta hết sức cẩn thận trong mọi cử chỉ, để cho thế giới đều thấy rằng “Quân đội Cụ Hồ có khác!”.

C.B.

Báo Nhân dân, số 267,
ngày 19-11-1954.
cpv.org.vn

Trả lời phỏng vấn của phóng viên báo Regards (18-11-1954)

Hỏi: Theo ý Chủ tịch, hai bên thi hành các điều khoản đình chiến như thế nào?

Trả lời: Chúng tôi thi hành triệt để các điều khoản đình chiến. Chúng tôi tiếc rằng các lực lượng Pháp không thi hành được như thế, mà còn làm trái nhiều là khác 24 . Chắc ông đã biết những việc xảy ra.

Hỏi: Chính sách chung của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trên lãnh thổ của mình là gì?

Trả lời: Chúng tôi hết sức làm việc để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước Việt Nam.

Hỏi: Những nhiệm vụ chủ yếu của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là gì?

Trả lời: Chúng tôi phải ra sức xây dựng lại nền kinh tế của nước chúng tôi bị chiến tranh tàn phá và nâng cao đời sống của đồng bào chúng tôi, trước hết là của nhân dân lao động thành thị và thôn quê.

Hỏi: Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà định thực hiện những nhiệm vụ ấy bằng cách nào?

Trả lời: Với sự cố gắng của chúng tôi và với sự giúp đỡ anh em của các nước bạn.

Hỏi: Chủ tịch xét tình hình miền Nam Việt Nam như thế nào?

Trả lời: Tôi nghĩ rằng tình hình hiện nay ở miền Nam Việt Nam đáng lo ngại, vì bọn can thiệp Mỹ ngày càng nhúng vào một cách trắng trợn. Chắc chắn là đồng bào của chúng tôi ở miền Nam sẽ kiên quyết phản đối.

Hỏi: Chủ tịch xét vấn đề những người công giáo di cư như thế nào?

Trả lời: Vấn đề đó là một bộ phận trong chính sách của bọn can thiệp Mỹ đang tìm cách gieo rắc chia rẽ trong nhân dân chúng tôi. Thấy nỗi cực khổ của những đồng bào chúng tôi đã bị bắt ép vào Nam, tôi rất đau lòng.

Hỏi: Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà muốn lập những mối quan hệ như thế nào với nước Pháp?

Trả lời: Chúng tôi muốn lập với nước Pháp những mối quan hệ kinh tế và vǎn hoá trên cơ sở bình đẳng, hai bên đều có lợi và cộng tác thẳng thắn và tin cậy nhau.

Hỏi: Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà muốn lập những quan hệ như thế nào với các nước khác, các nước trong Mặt trận dân chủ và các nước khác nữa?

Trả lời: Tất nhiên là chúng tôi có quan hệ anh em với các nước trong Mặt trận dân chủ. Đồng thời, chúng tôi muốn lập quan hệ hữu nghị với tất cả các nước khác, trước hết là với các nước châu á. Nhân dịp này, tôi nhờ ông chuyển lời chào thân ái của tôi cho nhân dân Pháp vĩ đại, họ đã đấu tranh anh dũng để chấm dứt chiến tranh và khôi phục hoà bình ở Đông Dương.

Báo Nhân dân, số 288,
ngày 14-12-1954.
cpv.org.vn

Nhờ ai ta có hoà bình (26-11-1954)

Chính nghĩa thắng lợi, hoà bình trở lại, là nhờ toàn dân ta đoàn kết, toàn quân ta anh dũng. Đồng thời nhờ lực lượng hoà bình thế giới ủng hộ ta. Nhưng cũng nhờ những chiến sĩ anh hùng đã vui lòng chết để cho Tổ quốc sống, nhân dân sống, như:

– Đồng chí Đàn – đã cúi lưng làm giá súng để cho đồng đội bắn chặn địch lại, đến chết vẫn cứ nằm yên.

– Đồng chí Giót – nhét mình vào lỗ châu mai, làm cho địch không bắn ra được để bộ đội ta tiến lên chiếm đồn giặc.

– Đồng chí Trọng – khi bộ đội ta kéo súng to leo giốc, một khẩu súng trượt xuống, đồng chí Trọng gieo mình dưới bánh xe để chặn súng lại.

Và trǎm nghìn anh hùng, liệt sĩ khác đã ung dung làm những việc “Trời đất phải kinh, quỷ thần phải khóc”. Người tuy chết, nhưng tiếng thơm lưu truyền mãi với non sông.

Chúng ta cần ghi chép và thường nhắc lại những sự tích ấy, để giáo dục nhân dân ta chịu đựng gian khổ, vượt mọi khó khǎn, quyết tâm làm trọn nhiệm vụ xây dựng lại nước nhà. Để giáo dục thanh niên ta rèn luyện một chí khí kiên quyết quật cường, một tâm lý quả cảm xung phong, tin tưởng vào tương lai của Tổ quốc, vào lực lượng của nhân dân, hy sinh lợi ích riêng cho lợi ích chung của dân tộc, ra sức đấu tranh để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong toàn nước Việt Nam ta. Vậy có thơ rằng:

Nhờ ai ta có hoà bình?
Nhờ người chiến sĩ quên mình vì dân.

C.B.

Báo Nhân dân, số 273,
ngày 26-11-1954.
cpv.org.vn

Một góc nhìn về văn hóa Hồ Chí Minh

“Đã có nhiều đoàn làm phim với nhiều góc độ tiếp cận về Bác, nên sau khi khảo sát, chúng tôi quyết định chọn cách tiếp cận mới, là một góc nhìn văn hóa về Hồ Chí Minh. Thực tế, nét văn hóa ở Bác chính là điều các nhân chứng đặc biệt ấn tượng”, NSƯT đạo diễn Trần Cẩm, tác giả kịch bản và đạo diễn phim “Hồ Chí Minh với nước Nga”.

Kỷ niệm 122 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) đang phát sóng bộ phim “Hồ Chí Minh với nước Nga”. Đây là bộ phim tài liệu lịch sử nhiều tập đầu tiên về Bác được VTV đầu tư, thực hiện tại nước ngoài trong thời gian ngắn nhất. Với những câu chuyện được bố cục có hệ thống, phim đã mang đến những hình ảnh chân thực, xúc động về tình cảm của Bác với nhân dân Nga, sự thủy chung, sâu nặng của nhân dân Nga với Bác, với nhân dân Việt Nam. Nhân dịp này, chúng tôi đã gặp gỡ NSƯT, đạo diễn Trần Cẩm, tác giả kịch bản và đạo diễn phim.

PV: Là một trong các “chuyên gia” phim tài liệu về Hồ Chủ tịch với gần 20 bộ phim và từng đoạt Cánh diều vàng ở thể loại này, vì sao đến nay, ông mới quyết định làm phim về Bác ở Nga?

NSƯT Trần Cẩm: Trong 30 năm Bác bôn ba tìm đường cứu nước, Người đã đi nhiều nước, nhưng có tới 6 năm Người học tập và làm việc ở Liên Xô. Người đã tìm thấy ở nước Nga những kinh nghiệm quý báu để giành độc lập tự do cho dân tộc và cả nền văn hóa tương lai. Vì thế, có nhiều sự kiện, nhân chứng quan trọng ở Nga. Nhưng đến giờ VTV mới có điều kiện làm phim, bởi chi phí rất lớn, do phải đi nhiều nơi, vì sinh thời, Bác từng có mặt ở hầu khắp nước Nga. Các nhân chứng ngày ấy đều đã cao tuổi, nhiều người không còn nữa, nếu chúng tôi không chạy đua với thời gian, sẽ không kịp gặp ai nữa. Việt Nam xác định Nga là đối tác chiến lược đặc biệt, là nước đã giúp đỡ Việt Nam rất nhiều trong chiến tranh, cho đến hôm nay, như lời Tổng thống Putin: “2 nước có mối quan hệ đặc biệt mà trách nhiệm của chúng ta phải gìn giữ quan hệ tốt đẹp đó”.

PV: Cách ông xác định tiêu chí và lựa chọn các địa danh ở Nga có liên quan đến Bác?

NSƯT Trần Cẩm: Nguồn thông tin quan trọng là hồi ký của ông Vũ Kỳ, thư ký của Bác Hồ và Bảo tàng Hồ Chí Minh. Chúng tôi cũng thông qua đại diện của VTV tại Nga để tìm lại những người từng gặp Bác. Chúng tôi đã gặp gỡ hơn 60 nhân chứng người Nga và hơn 10 người Việt ở 9 thành phố và 2 nước cộng hòa, với những câu chuyện tiêu biểu, ấn tượng sâu đậm, để có chất liệu cho bộ phim mang ý nghĩa lịch sử này.

PV: Ông có thể nói rõ hơn về điều này?

NSƯT Trần Cẩm: Bộ phim là 8 câu chuyện kể độc lập, nhưng xâu chuỗi hợp lý, giúp người xem dõi theo hành trình của Bác: St Peterburg là một điểm nhấn, vì là nơi lần đầu tiên Người đặt chân đến nước Nga vào ngày 30/6/1923 từ cầu tàu số 7. Hay tượng đài Bác Hồ với thông điệp “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” ở thủ đô nước Nga được xây dựng những năm 90 và gìn giữ đến nay, trong bối cảnh tượng đài Lênin, Các Mác bị tháo dỡ, cho thấy nhân cách của Người đã tạo nên sức lan tỏa mạnh mẽ với các tầng lớp nhân dân Nga.

Chúng tôi gặp gỡ nhà báo Cô-bê-lep, tác giả “Đồng chí Hồ Chí Minh” đã 3 lần tái bản, với lượng phát hành 200.000 bản, vượt xa nhiều cuốn tiểu thuyết ăn khách. Tầm tư tưởng của Người: muốn xây dựng đất nước phải đào tạo con người, được thể hiện qua câu chuyện 100 thanh niên và 100 thiếu niên đầu tiên được người cử sang Nga học từ năm 1954. Thực tế, nhiều lưu học sinh ở Nga về sau đã trở thành lãnh đạo cao cấp, nhà khoa học xuất sắc và cán bộ chủ chốt trong mọi ngành của đất nước v.v…

Bác Hồ với người dân Nga.

PV: Có câu chuyện nào liên quan đến Bác lần đầu được hé lộ trong phim?

NSƯT Trần Cẩm: Có chứ! Chúng tôi được tiếp cận với nhiều tài liệu của KGB từng được coi là tuyệt mật như “Hồi ức cựu binh”, “Những điều bí mật về chiến tranh Việt Nam” v.v… để hiểu thêm nhiều điều về tình cảm sâu nặng của Bác với những người bạn Nga, cũng như của các bạn Nga với Bác, với nhân dân Việt Nam.

PV: Đã rất nhiều người làm phim về Bác. Đây là thách thức cho những người đi sau. Ông có sự mới lạ trong tiếp cận hình tượng Bác để hấp dẫn người xem?

NSƯT Trần Cẩm: Đã có nhiều đoàn làm phim với nhiều góc độ tiếp cận về Bác, nên sau khi khảo sát, chúng tôi quyết định chọn cách tiếp cận mới, là một góc nhìn văn hóa về Hồ Chí Minh. Thực tế, nét văn hóa ở Bác chính là điều các nhân chứng đặc biệt ấn tượng. GS. Titarenco, Viện trưởng Viện Viễn Đông, chia sẻ: “Trên ngực con người đó không có tấm huân chương nào, nhưng vẫn đóng góp hết mình cho Tổ quốc và điều đó khiến chúng tôi phải suy nghĩ”. Có nhiều người Nga chưa gặp Bác, nhưng sau khi thăm nhà sàn, ao cá Bác Hồ, đã nhận ra sự khác biệt của vị lãnh tụ Việt Nam với các lãnh tụ mà họ biết. Thiếu tướng Anatoly Gozdeev, cựu quân nhân Nga tham gia bảo vệ bầu trời miền Bắc Việt Nam 1965-1972 nhớ lại: Giữa bom đạn dày đặc, Người vẫn đến thăm các chuyên gia quân sự Nga đang ở Việt Nam. Điều đó, truyền đến chúng tôi sự dũng cảm và niềm lạc quan chiến thắng.

PV: Những ngày làm phim về Bác ở nước Nga, ông cảm nhận thế nào về tình cảm của người dân Nga với Bác Hồ và với Việt Nam?

NSƯT Trần Cẩm: Chúng tôi đã gặp gỡ nhiều người, ở nhiều lứa tuổi khác nhau và khi biết làm phim về Bác, họ đều nhiệt tình giúp đỡ, tận tình dẫn đường đến những nơi Bác Hồ đã tới và sinh sống. Nhiều người ở xa hàng trăm cây số cũng trở về để trả lời phỏng vấn. Có người đã cao tuổi, sức yếu, vẫn đồng ý lên hình. Đó là tình cảm sâu nặng của họ với Bác Hồ, với Việt Nam và là điều phim ảnh không thể nói hết được. Với bộ phim này, chúng tôi muốn gửi đến người xem cái nhìn đầy đủ về quãng thời gian Bác sống, làm việc ở Nga; đồng thời, là sự tri ân tình cảm thủy chung hiếm có Việt – Nga mà nhân dân Nga dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Nam.

PV: Xin cảm ơn ông!

Thanh Hằng (thực hiện)
cand.com.vn

Bài 1: Cô Tô (Quảng Ninh) nơi duy nhất được dựng tượng Bác khi Người còn sống

Huyện đảo Cô Tô thuộc tỉnh Quảng Ninh giữ vị trí chiến lược trong vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc…

Tượng đài Bác Hồ ở đảo Cô Tô

“Ôi Bác Hồ ơi nhớ Bác nhiều, nước non ơn Bác biết bao nhiêu/ Tháng năm ngày hạ mùa sen nở nhắc nhở cháu con những sớm chiều”. Nhiều năm trở lại đây, mỗi dịp hè về vùng đảo Cô Tô lại tấp nập khách ghé thăm. Khi đến với hòn đảo nằm ở vùng Đông Bắc của Tổ quốc này, không ai không ghé thăm tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bởi đây là tượng đài đầu tiên và duy nhất được Bác Hồ đồng ý cho phép dựng lúc Người còn sống.

Huyện đảo Cô Tô thuộc tỉnh Quảng Ninh giữ vị trí chiến lược trong vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc. Ngày 9-5-1961, Bác đã tới thăm nhân dân các dân tộc trên đảo Cô Tô. Yêu kính Bác, người dân nơi đây đã xin dựng tượng Người để ngày ngày được ở bên Bác. Và đầu năm 1968, tượng đài Bác Hồ đã được nhà điêu khắc Nguyễn Văn Quế cùng các đồng nghiệp bắt tay vào thực hiện. Tượng được làm bằng chất liệu thạch cao, Lúc đầu, tượng Bác được dựng bán thân, tay phải giơ lên cao vẫy chào như hình ảnh Người đang tươi cười vẫy chào nhân dân khi tới thăm Cô Tô. Tượng cao 1,8m (cả bệ là 4 m). Công trình được khánh thành ngày 22-5-1968, nhân dịp kỷ niệm ngày sinh lần thứ 78 của Bác. Tháng 6-1976 bức tượng bán thân được thay bằng bức tượng toàn thân với chất liệu bê tông cốt thép. Tượng có chiều cao 4,5m, cả bệ cao 9m nằm cách bờ biển 100m. Tượng đài Bác đứng uy nghiêm, lưng tựa vào núi, tay phải giơ cao vẫy chào, mặt nhìn hướng ra Biển Đông bao la như che chở cho đất và người nơi đây. Năm 1996, kỷ niệm ngày sinh lần thứ 106 của Bác, bức tượng Bác bằng bê tông đã được thay thế bằng chất liệu đá Granit. Giờ đây, tượng Hồ Chủ Tịch ở Cô Tô vẫn được đánh giá là tượng Bác đẹp nhất vùng Đông Bắc. Đến thăm Khu di tích lưu niệm Hồ Chủ Tịch trên đảo Cô Tô ngoài tượng đài Bác Hồ, du khách còn có thể tham quan nhiều địa danh ghi dấu chân Người như: Khu nhà lưu niệm – nơi Bác Hồ đã gặp gỡ cán bộ, nhân dân Cô Tô. Cánh đồng muối nơi Bác đến thăm. Bờ ruộng khoai nơi Bác đến xem bới khoai và dừng lại trò chuyện cùng bà con. Khu Di tích lưu niệm Bác Hồ trên đảo Cô Tô là một trong những di tích đặc biệt quan trọng đã được Bộ Văn hóa – Thông tin cấp Bằng công nhận là di tích lịch sử số 985 QĐ/VH, ngày 7-5-1997.

Năm 2005, cán bộ chiến sĩ và nhân dân các dân tộc huyện Cô Tô đã xây dựng ngôi đền thờ Bác. Năm 2010, khu di tích Bác Hồ trên đảo Cô Tô đã được đầu tư tôn tạo, mở rộng với tổng diện tích được mở rộng từ 6.500m2 lên trên 62.500m2 gồm các hạng mục: Khu khuôn viên tượng đài và đền thờ Bác Hồ, ao cá Bác Hồ, hệ thống hồ điều hoà cùng nhiều hạng mục khác… Công trình có tổng kinh phí trên 39 tỷ đồng được trích từ ngân sách Trung ương, ngân sách của tỉnh Quảng Ninh, huyện Cô Tô và từ các nguồn huy động khác.

Ngày nay, trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng luôn nhắc nhiều đến vấn đề chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Đảo Cô Tô nằm vững chắc nơi tiền tiêu trên vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc. Ngược dòng thời gian trở lại thời điểm những năm 1965, khi ấy, miền Bắc còn ngổn ngang trong công cuộc tái thiết đất nước, miền Nam vẫn đang trong những ngày gian khổ để giành độc lập hoàn toàn, nhưng với tầm nhìn xa trông rộng của một nhà lãnh đạo thiên tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gác lại nhiều công việc để đến với bà con ở vùng Biển đảo Cô Tô. Phải chăng đó như một lời nhắc nhở cháu con hướng tầm nhìn ra Biển Đông để bảo vệ chủ quyền biên giới của Tổ quốc.

Ngày nay, những người con đất Việt khi đến với Cô Tô, đứng giữa bốn bề sóng nước mênh mông, có thể cảm nhận được chiều cao, bề rộng của các tượng đài không phải bằng những con số mà bằng tình yêu Tổ quốc và lòng tự hào dân tộc… Còn với những người sống trên đảo Cô Tô, khi ngắm nhìn tượng Bác, đồng bào và chiến sĩ nơi đây như được tiếp thêm sức mạnh để sống, học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, sẵn sàng bảo vệ, giữ gìn từng tấc đất quê hương. Vì vậy có thể khẳng định, tượng đài Bác Hồ trên đảo Cô Tô có một vị trí rất đặc biệt trong hệ thống tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở trong và ngoài nước.

Trong lần tới thăm Cô Tô, Bác Hồ đã căn dặn bà con trên đảo: “Thủ đô Hà Nội tuy xa các đảo, nhưng Đảng và Chính phủ luôn quan tâm đến đồng bào các đảo và mong đồng bào đoàn kết, cố gắng và tiến bộ”. Ngày nay, khoảng cách về địa lý giữa Thủ đô và vùng đảo Cô Tô đang dần được nối liền nhờ những chuyến tàu tấp nập suốt ngày đêm, nhờ điện thoại di động và cả internet. Và không phải ai cũng biết, Cô Tô là hòn đảo phủ sóng wifi đầu tiên của tỉnh Quảng Ninh và cả nước.

TS. ĐINH CÔNG VỸ
daidoanket.vn

Bài 2: Tượng Bác Hồ ở nước Nga

Mối quan hệ giữa Việt Nam và Nga là mối quan hệ đặc biệt và sâu đậm. Nước Nga – quê hương của Cách mạng Tháng Mười – quê hương của lãnh tụ Lê Nin đã tác động to lớn đến tư tưởng của Bác Hồ và góp phần làm nên Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam.

Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại quảng trường
mang tên Người ở thủ đô Matxcơva – Liên bang Nga

Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quảng trường mang tên Người tại Matxcơva là một công trình điêu khắc đẹp, giàu ý tưởng, ý nghĩa. Cuối năm 1969, sau khi Bác từ trần, khu Công viên Akademichexki rộng hơn 1 ha được đổi tên thành Quảng trường Hồ Chí Minh và một hòn đá đầu tiên được đặt tại vị trí để chuẩn bị cho việc dựng tượng. Quảng trường Hồ Chí Minh ở thủ đô nước Nga có vị trí đắc địa, giao điểm của đại lộ Đmitria Ulianôpva và đại lộ 60 năm Tháng Mười, xung quanh là những ngôi nhà cổ và nhà bằng gạch cao từ 8 đến 10 tầng, không che khuất tầm nhìn.

Nghệ sĩ điêu khắc Nhân dân Liên Xô (Liên bang Nga) Vladimir Efimovich Tsigal, người được vinh dự nhận giải thưởng Lênin và nhiều giải thưởng quốc gia, viện sĩ Viện Hàn lâm mỹ thuật Liên Xô (sinh năm 1917) được chọn là tác giả thể hiện tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau một thời gian, ông đã tạo ra bản phác thảo đầu tiên: Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở tư thế đứng, tay đặt trên quyển sách, tượng trưng cho những tác phẩm của Mác và Lênin. Nhưng ông vẫn còn băn khoăn nhiều vì cảm thấy pho tượng hao hao giống như nhiều pho tượng danh nhân khác. Năm 1985, ông quyết định sang Việt Nam để tìm hiểu. Sau hành trình xuyên Việt, Vladimir Efimovich Tsigal đã tìm ra “đáp án”.

Năm 1990, đúng vào năm UNESCO vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc – Danh nhân văn hóa kiệt xuất thì tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quảng trường mang tên Người ở thủ đô Matxcơva – Liên bang Nga khánh thành. Tượng – nhưng thực ra là một bức phù điêu đồng lớn hình khối, cao 5m, nổi bật hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phù điêu được đặt trên bệ cũng bằng đồng khối có chiều dài 6m, dày nửa mét; diện tích khuôn viên là 676m2, có 3 chiếu nghỉ và 8 bậc thang rộng được khánh thành. Hàng chữ “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” bằng tiếng Nga, khắc sâu vào mặt trước của tượng đài, cách vài ba trăm mét vẫn có thể đọc được. Trước nhà số 1/24 và số 2/22 của hai phố Đmitria Ulianôpva và phố Công đoàn đều có hai tấm bảng bằng đá khổ 1m x 1m20 ghi rõ “Quảng trường Hồ Chí Minh” và tóm tắt thân thế và sự nghiệp của Người.

Nhà điêu khắc tài danh Vladimir Efimovich Tsigal nói: “Tôi muốn bức phù điêu Hồ Chí Minh sẽ thu hút được sự chú ý và để lại ấn tượng sâu sắc cho bất cứ ai từng một lần đứng trước tác phẩm này”. Quả vậy, bức phù điêu hình tròn biểu thị cho mặt trời – biểu thị một ngày mai tươi sáng. Giữa phù điêu, hình tượng Bác Hồ đang tươi cười, mắt trìu mến nhìn vào người xem. Bên dưới, hình tượng chàng trai Việt Nam ở thế chuẩn bị bật dậy, tượng trưng cho sức sống của một dân tộc. Phía sau là hình tượng cây tre Việt Nam – loài cây đã mang trong mình sức sống dẻo dai chống chọi với kẻ thù, với bão tố và giúp người Việt Nam trong cuộc sống hàng ngày.

Và không chỉ bức phù điêu bằng đồng khổng lồ mang ý nghĩa sâu xa, mà cả bệ đá hoa cương mà bức phù điêu trụ trên đó cũng hàm chứa nhiều ý nghĩa. Bệ đá gồm 8 bậc. Theo cách giải thích của nhà điêu khắc Vladimir Efimovich Tsigal: Con số 8 mang ý nghĩa tượng trưng, bởi tôi nhận thấy bông sen – loài hoa được người Việt Nam coi là biểu tượng của sự thanh tao, thường có 8 cánh.

Trong quá trình thực hiện, có một sự kiện kỳ lạ đã diễn ra. Nhà điêu khắc kể: Ông biết rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh từng mơ ước được gặp V.I.Lênin. Khi ông đúc bức phù điêu Hồ Chí Minh trong một xưởng điêu khắc rất lớn ở Matxcơva thì cùng thời điểm đó, một nhà điêu khắc khác cũng đang đúc tượng V.I.Lênin. “Và đôi lúc tôi cảm thấy rất vui vì dường như mình đã góp phần tạo điều kiện để hai con người vĩ đại đó gặp gỡ nhau trong lĩnh vực điêu khắc”.

Đã thành một truyền thống, kể từ khi bức phù điêu Chủ tịch Hồ Chí Minh ở quảng trường mang tên Người này khánh thành, thì nơi đây đã trở thành một địa chỉ cho các Đoàn đại biểu cấp cao từ trong nước sang thăm hữu nghị chính thức nước bạn đều đến thành kính đặt hoa trước tượng đài Hồ Chủ tịch. Và cũng thành thông lệ hàng năm, vào ngày 19-5 và ngày 2-9, đúng mười giờ sáng, cán bộ Đại Sứ quán, đại biểu Cộng đồng người Việt làm ăn và sinh sống ở Matxcơva và những người bạn Nga làm lễ dâng hoa trước tượng Người. Nhiều đôi nam nữ người Việt khi tổ chức đám cưới cũng mang hoa đến đặt trước tượng Bác và Đài Liệt sĩ vô danh tại điện Kremli như là một sự biết ơn và một nếp sống văn hóa.

Vũ Đình Thành
daidoanket.vn