Tag Archive | Thời sự

“Tôi thà chết chứ không bán nước!”

– Ngày 7/3/1946, Hồi ức “Những năm tháng không thể nào quên” thuật lại: tại Bắc Bộ phủ, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bội Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng và Cố vấn Vĩnh Thuỵ đồng tiếp J.Sainteny để bàn việc triển khai tiếp bản Hiệp định sơ bộ vừa ký kết ngày hôm trước. Người đứng đầu nhà nước Việt Nam đặt vấn đề cuộc hội đàm chính thức nên được tổ chức tại Paris.

Đầu giờ chiều, Bác đạt được thoả thuận với J.Sainteny sẽ cùng ký dưới một thông báo chung để bố cáo rộng rãi trong đó có nội dung: “Chính phủ Pháp thừa nhận Việt Nam tự thành lập một chính phủ riêng của mình để cho Việt Nam hoàn toàn tự do trong việc thiết lập chính quyền.

Tháng 3/1951, Bác cùng các đại biểu phụ lão và thiếu nhi tại ĐH Thống nhất Mặt trận Liên Việt.Tháng 3/1951, Bác cùng các đại biểu phụ lão và thiếu nhi tại ĐH Thống nhất Mặt trận Liên Việt.

Chính phủ Việt Nam không phản đối việc quân đội Pháp trở lại một cách hoà bình để thay thế quân đội Trung Quốc làm nhiệm vụ ở khu vực Đông Dương từ Bắc vĩ tuyến 16 trở lên. Việc đầu tiên thực hiện Hiệp định sơ bộ là chấm dứt mọi cuộc xung đột trên lãnh thổ Đông Dương, 24 giờ sau khi bản thông báo này đựoc phát đi trên các làn sóng đài phát thanh Hà Nội và đài phát thanh Sài Gòn”.

16 giờ ngày hôm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc mít tính lớn của đông đảo nhân dân trước Nhà Hát lớn thành phố để giải thích về nội dung bản hiệp định đã ký kết. Sau phát biểu của Võ Nguyên Giáp kết thúc bằng sự khắng định: “Tư tưởng chỉ đạo, mục đích của Chính phủ là hoà bình vì tiến bộ. Con đuờng mở ra với hiệp định chính là con đường dẫn chúng ta đến độc lập trong một ngày gần đây, thật sự và hoàn toàn. Đó là mục đích của chúng ta”, Vũ Hồng Khanh, người tham gia ký bản hiệp định cũng xác nhận : “Mục đích của chúng ta là độc lập hoàn toàn. Mục đích đó, chúng ta không chỉ một bước mà đạt được”.

Tiếp đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên tiếng: “Nước ta độc lập thực sự từ tháng Tám 1945. Nhưng tới nay chưa một cường quốc nào công nhận nền độc lập của ta. Cuộc điều đình với nước Pháp sẽ mở ra con đường làm cho quốc tế thừa nhận ta. Nó dẫn ta đến vị trí ngày càng chắc chắn trên trường quốc tế . Đó là một thắng lợi về mặt chính trị… Đồng bào nên bình tĩnh, đoàn kết, trong kỷ luật”.

Cuối cùng, vị Chủ tịch của nước Việt Nam Mới tuyên bố: “Tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh, suốt đời đã cùng đồng bào chiến đấu cho độc lập của Tổ quốc. Tôi thà chết chứ không bán nước !”. Cùng trong ngày, Bác ký giấy uỷ nhiệm cho các phái viên đặc biệt của Chính phủ là Hoàng Quốc Viêt và Huỳnh Văn Tiểng vào Nam Bộ để giải thích và thi hành Hiệp định Sơ bộ 6/3.

Một năm sau đó, ngày 7/3/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho các vị Phạm Văn Bạch và Nguyễn Văn Tây, lãnh đạo “Phòng Nam Bộ” cơ quan trực thuộc Chính phủ theo dõi và hỗ trợ cho phong trào kháng chiến Nam Bộ. Thư có đoạn: “Dù gay go mấy, chúng ta cũng không sợ, không hoang mang, vì chúng ta biết trước những sự gay go khốn nạn đó. Vì chúng ta tự tin đủ sức khắc phục nó. Và vì chúng ta chắc thắng lợi cuối cùng sẽ về tay ta”.

X&N
bee.net.vn

Chuyện ký kết Hiệp định Sơ bộ

– Ngày 6/3/1946, hồi ức “Những năm tháng không thể nào quên” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thuật lại: Đó là một thời điểm nghiêm trọng.

Buổi sáng, đụng độ đã nổ ra giữa quân Pháp và quân Tưởng tại cảng biển Hải Phòng. Ngoại giao con thoi giữa tất cả các bên đều diễn ra khẩn trương để tháo ngòi nổ. Tình thế đã khiến cho cả Pháp lẫn Trung Hoa Quốc dân Đảng đều muốn Pháp – Việt có một thoả thuận, ít nhất là tạm thời để tránh xung đột nổ ra.

Ngày 6/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh cùng các thành viên Việt - Pháp tham gia ký Hiệp định Sơ bộNgày 6/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh cùng các thành viên Việt – Pháp tham gia ký Hiệp định Sơ bộ

Tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Hội đồng Chính phủ họp để hoàn chỉnh dự thảo một văn bản để ký kết với Pháp. Bác thấy đã đến lúc cần đi đến một quyết định bằng cách đưa ra giải pháp “Nước Pháp công nhận nước Việt Nam là một quốc gia tự do” thay vì đòi “độc lập” mà lúc này Pháp không thể thừa nhận và cũng tránh được khái niệm “tự trị” của phía Pháp áp đặt mà chúng ta cũng không thể chấp nhận.

Toàn thể hội đồng đã nhất trí và ký vào biên bản tán thành. Buổi trưa, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Hoàng Minh Giám tiếp tục thảo luận những nội dung cuối cùng với đại diện phía Pháp J.Sainteny .

Và 16h30 phút Hiệp định Sơ bộ đã được ký kết tại số nhà 38 Lý Thái Tổ, với những điều khoản khẳng định nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một quốc gia tự do, có Chính phủ, Quốc hội, quân đội và tài chính của mình; việc hợp nhất ba kỳ do nhân dân Việt Nam tự giải quyết… và nằm trong Liên bang Đông Dương cũng như trong Khối Liên hiệp Pháp.

Việc ký kết có sự chứng kiến của các bên liên quan và cả đại diện phái bộ Mỹ và lãnh sự Anh.  Phát biểu sau lễ ký kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Chúng tôi không thoả mãn vì chưa giành được hoàn toàn độc lập, nhưng chúng tôi sẽ giành được độc lập hoàn toàn”.

Đây là một quyết định sáng suốt nhưng đầy khó khăn. Sáng suốt bởi vì nó giúp cho lực lượng cách mạng còn quá non trẻ tránh phải đương đầu với một cuộc chiến tranh nằm trong mưu đồ của các thế lực diều hâu trong chính giới Pháp và các thế lực chống đối ở trong nước như Việt Quốc, Việt Cách… Còn khó khăn bởi vì phải làm sao cho đồng bào hiểu rằng đó là một sách lược chứ không phải từ bỏ mục tiêu giành độc lập hoàn toàn.

Trong “Lời kêu gọi sau khi ký Hiệp định Sơ bộ”, Bác chân thành bày tỏ: “Đồng bào Việt Nam nghe tôi, tin tôi, vì suốt đời tôi đã tranh đấu chống chế độ thực dân, tranh quyền độc lập cho nước nhà… Vì tin vào sự hoàn toàn độc lập tương lai của nước nhà, tôi cùng Chính phủ đã ký bản Hiệp định Sơ bộ với Chính phủ Pháp…” và kêu gọi “đồng bào hãy bình tĩnh, sẵn sàng chờ lệnh của Chính phủ”.

Vì muốn tránh một cuộc chiến tranh, Bác đã làm hết sức mình, qua nước Pháp 3 tháng rưỡi để vận động hoà bình và hợp tác, ký Tạm ước 14/9… Nhưng khi thực dân Pháp quyết xâm lược nước ta một lần nữa thì chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân nhất tề bước vào cuộc trường kỳ kháng chiến (19/12/1946)…

Chỉ một năm sau ngày ký Hiệp định Sơ bộ, ngày 6/3/1947, khi cuộc kháng chiến toàn quốc đã bước qua tháng thứ ba, gặp gỡ những người làm việc gần mình, Bác giải thích: “Sức ta bây giờ như chàng trai mười sáu mà sức giặc bây giờ như một lão già quỷ quyệt, độc ác. Nếu ta cậy sức đánh bừa thì sao chắc thắng được. Phải vừa đánh vừa nuôi sức mình cho khỏe lên…

Khi sức ta đã khoẻ, giặc suy yếu dần, ta mới lừa thế quật ngã nó, như vậy mới chắc thắng. Cho nên kháng chiến trường kỳ mới nhất định thắng lợi”.

Và những người giúp việc gần Bác nhất từ đó, mang các tên: Kháng, Chiến, Trường, Kỳ, Nhất, Định, Thắng, Lợi.

X&N
bee.net.vn

“Cốt là cuộc thắng lợi cuối cùng”

– Ngày 5/3/1947, trước tình hình quân Pháp từ Hà Nội đang âm mưu chiếm tỉnh lỵ Hà Đông để gây thanh thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết nhiều bức thư để ứng phó với tình hình chiến sự đang diễn ra rất gay go, ác liệt và động viên nhân dân tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng.

Trước tiên, trong “Thư gửi đồng bào toàn quốc”, sau khi vạch trần thủ đoạn của địch, Bác động viên: “Chúng ta không hoang mang. Chúng ta phải nhẫn nại, phải cương quyết. Thắng lợi cuối cùng nhất định về tay ta”.

Quan điểm ấy được đưa ra trên cơ sở phân tích rằng: “Vì địch càng rải ra nhiều nơi thì lực lượng địch càng mỏng manh. Ta càng sẵn cơ hội mà đánh du kích để tiêu diệt nó dần dần, để đi đến thắng lợi cuối cùng… Trong cuộc kháng chiến lâu dài, tạm thời thắng hay bại là việc thường. Cốt là cuộc thắng lợi cuối cùng”.

Ngày 5/3/1959 Bác Hồ và Tổng thống Sukarno tại cuôc mít tinh của nhân dân Xurabaya.Ngày 5/3/1959 Bác Hồ và Tổng thống Sukarno tại cuôc mít tinh của nhân dân Xurabaya.

Trong “Thư gửi đồng bào hậu phương” viết cùng ngày, Bác kêu gọi: “Đồng bào tản cư đi đến đâu, thì đồng bào ở nơi đó… cần an ủi họ, giúp đỡ họ. Có cơm giúp cơm, có cháo giúp cháo. Ít nhất cũng có một bát nước chè, một lời thân ái gọi là tỏ nghĩa đồng tình: Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng” và kết luận: “Mỗi một đồng bào phải sẵn lòng bác ái, phải cư xử cho xứng đáng là con Rồng cháu Tiên”.

Không chỉ với đồng bào của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn viết thư gửi Quốc hội và nhân dân Pháp nêu rõ lòng mong muốn được sống hoà bình và hợp tác thân thiện với nước Pháp của nhân dân Việt Nam.

Thư lên án âm mưu gây chiến của các thế lực thực dân ở Đông Dương mà tiêu biểu là của Đô đốc D’Argenlieu và nêu rõ: “Chính sách “bắt nạt” của các người đại diện Pháp ở Đông Duơng đã bắt chúng tôi phải chịu đựng cuộc chiến tranh này. Chiến tranh chồng chất đổ nát và tang tóc kên trên đất nước chúng tôi, nhưng chúng tôi cuơng quyết chịu mọi sự hy sinh để bênh vực những nguyện vọng và quyền lợi của chúng tôi.

Chúng tôi muốn độc lâp và thống nhất. Chúng tôi muốn cộng tác với dân tộc Pháp trong Khối Liên hiệp Pháp. Chúng tôi muốn hoà bình để kiến thiết lại nước chúng tôi. Quốc hội và nhân dân Pháp cần phải làm cho cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn này chấm dứt, cần phải giải quyết vấn đề Việt – Pháp một cách xứng đáng với nước Pháp mới”.

Thư còn vạch rõ chiến dịch quân sự mà giới thực dân phát động vào ngày 2/3/1947 từ thành phố Hà Nội mới chiếm đóng tiếp tục đánh chiếm Hà Đông và một số vùng lân cận chỉ “đoạt được những đống gạch vụn. Nhưng trái lại, họ đã mở đầu cho thời kỳ chiến tranh du kích tốn kém và ác hại, có thể kéo dài tới 10 hay 20 năm”.

Bức thư kết luận: “Máu Pháp và Việt chảy đã nhiều. Chiến tranh không nên kéo dài nữa. Chiến tranh không đưa đến đâu cả. Chúng tôi sẵn sàng lập lại hoà bình. Chỉ cần Quốc hội và nhân dân Pháp có một cử chỉ thân thiện”.

X&N
bee.net.vn

“Đảng LĐVN sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa của dân”

– Ngày 3/3/1951, thưc hiện Nghị quyết của Đại hội II, Đảng Lao động Việt Nam tổ chức buổi “lễ ra mắt quốc dân” (một thời kỳ ngày 3/3 được coi là ngày thành lập Đảng Lao động Việt Nam).

Trong “lời kết thúc”, với cương vị là Chủ tịch Đảng mới được bầu, Bác Hồ nhấn mạnh rằng mục đích của Đảng “có thể gồm trong 8 chữ là: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”; nhiệm vụ là lãnh đạo toàn dân đi đến “Kháng chiến thắng lợi, Kiến quốc thành công”; chính sách của Đảng “có thể đúc lại trong mấy chữ là làm cho nước Việt Nam ta Độc lập – Thống nhất – Dân chủ – Phú cường”…

Ngày 3/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm đền Brôbađua, nhân dịp Người thăm Cộng hòa IndonesiaNgày 3/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm đền Brôbađua, nhân dịp Người thăm Cộng hòa Indonesia

“Đảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nghĩa là những người thợ thuyền, dân cày và lao động trí óc kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân, những người mà: Giàu sang không thể quyến rũ. Nghèo khó không thể chuyển lay. Uy lực không thể khuất phục…” vì thế “Đảng Lao động Việt Nam không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân.

Tuy vậy, Đảng Lao động Việt Nam cũng do nhiều người tổ chức lại mà thành. Mà người thì ai cũng có ít nhiều khuyết điểm. Vì vậy, Đảng Lao động Việt Nam mong mỏi và hoan nghênh sự phê bình thật thà của các đảng phái và đoàn thể bạn, của các nhân sĩ và của toàn thể đồng bào để cho Đảng tiến bộ mãi”.

Thành lập từ mùa Xuân 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương đã tuyên bố “tự giải tán” để góp phần tăng cường khối đoàn kết toàn dân trong bối cảnh vô cùng phức tạp sau ngày  giành được độc lập. Nói cách khác, sự thành lập Đảng Lao động Viêt Nam cũng có ý nghĩa là sự “ra mắt, trở lại hoạt động” của Đảng Cộng sản ở nước ta.

Vào thời điểm này không còn quan điểm về một Đảng Cộng sản Đông Dương và ở Lào và Campuchia các đảng cộng sản cũng đã được thành lập đoàn kết cùng Đảng Lao động Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung.

Cùng ngày hôm đó, Bác còn tham dự lễ khai mạc Đại hội thống nhất 2 Mặt trận Việt Minh và Liên Việt và bày tỏ niềm sung sướng khi chứng kiến “rừng cây đại đoàn kết ấy nở hoa kết quả và gốc rễ của nó đang ăn sâu lan rộng khắp toàn dân và nó có một cái tương lai “trường xuân bất lão” và “chẳng những là toàn dân Việt Nam đại đoàn kết mà toàn dân 2 nước anh em là Cao Miên và Ai Lao cũng đi đến đại đoàn kết”.

X&N
bee.net.vn

Ngày Bác Hồ bắt tay viết sách

 – Ngày 28/2/1930, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Văn phòng đại diện Đảng Cộng sản Anh tại Quốc tế Cộng sản đề nghị gửi cho mình các tờ báo cánh tả như các tờ “La Vie Ouvrière” (Đời sống công nhân) và tạp chí “Quốc tế Công hội Đỏ”, đồng thời đề nghị gửi cả mấy tờ báo cánh hữu, báo “tư sản”: để che mắt và ứng phó “nếu cảnh sát thấy rằng tôi đã nhận những  tờ báo chí “lật đổ”.

Cùng ngày hôm đó, nhà cách mạng Việt Nam lúc này vẫn đang ở Hồng Kông sau khi đã thông báo với Quốc tế Cộng sản về sự kiện “Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thành lập”, đã gửi “thư cho các đồng chí Liên Xô” nói về ý định sẽ viết một cuốn sách bằng tiếng Việt để giới thiệu về đất nước Xô Viết:

Ngày 28/2/1969, Bác tiếp các anh hùng, dũng sĩ miền Nam ra thăm miền BắcNgày 28/2/1969, Bác tiếp các anh hùng, dũng sĩ miền Nam ra thăm miền Bắc

“Các đồng chí thân mến,

Người An Nam, nhất là những người lao động, muốn biết nước Nga. Nhưng các sạp báo cách mạng đều bị pháp luật hà khắc của đế quốc Pháp nghiêm cấm. Hơn nữa, công nhân và nông dân An Nam, phần lớn không biết chữ. Những người có học chút ít không biết thứ tiếng nào khác ngoài tiếng An Nam.

Nhiệm vụ của cúng tôi là phải nói với họ về Tổ quốc của giai cấp vô sản như thế nào. Để làm viêc này tôi có ý đinh viết một quyển sách, bằng tiếng An Nam, đương nhiên, dưới hình thức “Những kỷ niệm về cuộc du lịch của tôi”. Tôi  mong rằng nó sẽ sinh động, hấp dẫn, dễ đọc và có nhiều mẩu chuyện…”

Bức thư kèm theo một đề cương chi tiết về  nước Nga trước và trong cách mạng và nước Nga ngày nay. Nội dung của nó đề cập tới những thay đổi lịch sử, vai trò của các tầng lớp đối với cách mạng và các tổ chức cách mạng. Về nước Nga sau cách mạng, quyển sách sẽ giới thiệu về tổ chức nhà nước và xã hội của nước Nga mới, đời sống của các tầng lớp xã hội, vấn đề ruộng đất, chính sách “Kinh tế mới”,  các thành tựu về kinh tế giáo dục, văn hoá và y tế cùng  Quốc tế Cộng sản và các tổ chức quốc tế …

Để viết quyển sách này, Nguyễn Ái Quốc đề nghị Quốc tế Cộng sản cung cấp thêm tư liệu gửi qua Đảng Cộng sản Trung Quốc đồng thời cũng nêu khó khăn về in ấn, nhất là thiếu các con chữ la tinh đặc thù của tiếng Việt là có nhiều dấu…

X&N
bee.net.vn

“Việt Nam và Indonesia luôn gắn bó với nhau”

– Ngày 27/2/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh  đặt chân tới thủ đô Jakartar chính thức mở đầu chuyến thăm hữu nghị nước Cộng hoà Indonesia. Tổng thống Sukarno, chính phủ và nhân dân Indonesia đã nồng nhiệt đón Đoàn.

Ngoài các cuộc đi thăm các nước xã hội chủ nghĩa, sau Ấn Độ và Myanmar, Công hoà Indonesia là quốc gia thứ ba ở châu Á và cũng là các quốc gia dân tộc chủ nghĩa mà Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã đến thăm. Riêng Cộng hoà Indonesia cũng giành được độc lập cùng thời điểm với Việt Nam khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng Minh.

Cuối tháng 2/1957, Bác dự Đại hội Văn hóa và Văn nghệ Toàn quốc lần thứ IICuối tháng 2/1957, Bác dự Đại hội Văn hóa và Văn nghệ Toàn quốc lần thứ II

Trước khi máy bay cất cánh từ sân bay Gia Lâm (Hà Nội), Bác đã phát biểu với những người ra tiễn rằng:  “Chúng tôi sẽ thay mặt đồng bào ta mang tình hữu nghị thắm thiết đến với nhân dân Indonesia anh em. Chắc rằng lúc chúng tôi trở về sẽ đem theo món quà quý báu, tức là tình hữu nghị của nhân dân Indonesia đối với nhân dân ta”. Máy bay rời Hà Nội ngày 26/2 những phải quá cảnh tại Rangun, thủ đô Myanmar.

Phát biểu tại Quốc hội Indonesia (ngày 28/2), Bác khẳng định: “Lịch sử hai nước chúng ta chứng tỏ rằng: đoàn kết toàn dân là một yếu tố quyết định cho sự thắng lợi của chúng  ta. Sự đoàn kết chặt chẽ giữa các nước Á-Phi cũng là yếu tố quan trọng để thắng chủ nghĩa thực dân đế quốc… Nhiều nước Á Phi đã giành được độc lập. Các nước Á-Phi chúng ta ngày nay càng có quan hệ mật thiết với nhau, ủng hộ lẫn nhau, hợp tác với nhau trong sự nghiệp chung là giữ gìn hoà bình, bảo vệ độc lập và xây dựng đất nước…”.

Tại bữa tiệc do Tổng thống Indonesia Sukarno chiêu đãi, trong đáp từ, Bác chia sẻ: “Hai dân tộc Việt Nam và Indonesia đều có những giai đoạn lịch sử giống nhau, đã từng kiên quyết chiến đấu chống chủ nghĩa thực dân, đã cùng một lúc đứng lên đập tan xiềng xích nô lệ…” .

Còn trong diễn văn tại cuộc mít tinh chào mừng của nhân dân Băng Đung, Bác khẳng định ràng nhân dân hai nước “gắn bó với nhau trong cuộc cách mạng vĩ đại giành độc lập dân tộc đã luôn luôn đồng tình và ủng hộ nhau lẫn nhau, ngày nay càng đoàn kết ủng hộ nhau hơn nữa”.

Trong lời cảm ơn khi nhận bằng “bác si danh dự” của Trường Đại học Patgiangiaran (Băng Đung), Bác nói: “Thế giới ngày nay đang tiến những bước khổng lồ về mặt kiến thức của con người  Khoa học tự nhiên cũng như khoa học xã hội không ngừng mở rộng ra những chân trời mới, con người ngày càng làm chủ được thiên nhiên, cũng như làm chủ được vận mệnh của xã hội và của bản thân mình. Thế hệ thanh niên như mùa Xuân, như vì sao mới mọc, chúng tôi đặt rất nhiều hy vọng vào các bạn…”.

Còn khi nhận tấm “Huân chương Du kích” do đích thân Tổng thống Sukarno trao, Bác bày tỏ : “…tôi rất sung sướng nhận Huân chương và sẽ trao lại vinh dự này cho toàn thể nhân dân Việt Nam”.

Trên đường trở về Bác ghé qua Côn Minh (Trung Quốc) và ngày 11/3/1959 về tới Hà Nội. Ngày 24/6 cùng trong năm đó Tổng thống Sukarno bắt đầu chuyến viếng thăm Việt Nam…

X&N
bee.net.vn

“Để giữ lấy nền độc lập càng cần đoàn kết hơn”

– Ngày 26/2/1947 Chủ tịch Hồ Chí Minh thảo điện mật gửi Đặng Việt Châu, phái viên của Chính phủ tại Thanh Hoá yêu cầu nhanh chóng củng cố quyền lực của chính quyền ở 6 châu thượng du vẫn phải thuộc quyền hành chính của tỉnh và phải có đại diện chính phủ tham gia các Uỷ ban của 6 châu thượng du đó.

Đồng thời Bác nhắc Văn phòng gửi điện cho lãnh đạo tỉnh Thanh Hoá phải đăng lá thư “Gửi đồng bào thượng du” và động viên các vị quan lang và dân chúng để củng cố hậu phương vào thời điểm chiến tranh đang lan rộng.

Tháng 2/1961, Bác Hồ trở lại thăm chiến khu Cao Bằng xưaTháng 2/1961, Bác Hồ trở lại thăm chiến khu Cao Bằng xưa.

Bức thư “Gửi đồng bào thượng du” viết: “Trong cuộc kháng chiến cứu quốc này, đồng bào thiểu số đã tỏ lòng nồng nàn yêu nước… Tôi nhận được nhiều thơ của đồng bào Thổ, Mường, Nùng, Mèo, Mán… đều nói kiên quyết ủng hộ Chính phủ, kháng chiến đến cùng, chống giặc thực dân, để giữ gìn giang sơn đất nước…

Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn đồng bào và trân trọng hứa rằng: Đến ngày kháng chiến thành công, Tổ quốc và Chính phủ sẽ luôn luôn ghi nhớ những công lao của đồng bào…”.

Đồng bào các dân tộc ít người ở Cao Bằng đón chào BácĐồng bào các dân tộc ít người ở Cao Bằng đón chào Bác.

Trong cuộc vận động giải phóng dân tộc, Bác Hồ luôn quan tâm đến công tác vận động bà con các dân tộc ít người và trong thực tế, chiến khu cách mạng thường là địa bàn sinh sống của cộng đồng nhiều thành phần dân tộc ít người đã có những đóng góp to lớn vào thắng lợi của cách mạng.

Ngay sau ngày, giành được chính quyền, tại thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh một mặt vẫn quan tâm cử người ở lại chiến khu củng cố căn cứ địa phòng khi phải trở lại, mặt khác luôn quan tâm đến các dân tộc ít người trong quá trình xây dựng chính sách quốc gia.

Ngày 23/11/1945, tiếp đoàn đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang về thăm Thủ đô, Bác phát biểu:

“Trước khi nước ta được độc lập, các đồng bào trên đó ai nấy đã nhiệt tâm yêu nước, yêu nòi, đã gắng sức giúp anh em Việt Minh trong cuộc vận động giải phóng dân tộc rất nhiều. Chính tôi có đi qua các miền anh em ở, tới đâu cũng nhận thấy anh em Thổ, Mán (nay gọi là dân tộc Dao và Tày) ai nấy đều một lòng mong Tổ quốc độc lập, ghét oán bọn giặc xâm lăng.

Trước kia, còn thời Pháp, Nhật, tất cả già trẻ, đàn ông, đàn bàn… ai cũng tham gia cách mạng hoặc ra mặt trận giết giặc, hoặc ở đằng sau trồng trọt ngô khoai, giúp cho quân lính mình. Bây giờ, nước ta độc lập, tôi thay mặt đồng bào Kinh cảm ơn anh chị em….

Bao giờ bọn giặc Pháp không trở lại được nữa, đồng bào Kinh sẽ được rảnh rang giúp đồng bào Thổ, Mán nhiều hơn. Chính phủ cũng sẽ giúp cho đồng bào Thổ, Mán như sẽ giúp cho các dân tộc nhỏ khác đuợc có đủ ruộng làm, đủ trâu bò cày…

Tôi nhờ anh chị em về nói lại với đồng bào trên ấy biết rằng đồng bào Kinh và Chính phủ thương mến đồng bào Mán, Thổ, coi như anh chị em một nhà và khuyên anh chị em gắng sức để đi tới thái bình để cùng hưởng chung”.

Và chỉ 10 ngày sau, ngày 3/12/1945, phát biểu tại Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam họp tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ:

“Nhờ sức đoàn kết tranh đấu chung của tất cả các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay được độc lập, các dân tộc thiểu số được bình đẳng cùng dân tộc Việt Nam, tất cả đều như anh chị em trong một nhà, không còn có sự phân chia nòi giống, tiếng nói gì nữa. Trước kia, các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy nền độc lập càng cần đoàn kết hơn…” đồng thời nêu rõ:

“Anh em thiểu số chúng ta sẽ được: 1. Dân tộc bình đẳng, Chính phủ sẽ bãi bỏ hết những hủ tục cũ, bao nhiêu bất bình trước sẽ sửa chữa đi; 2. Chính phủ sẽ gắng sức giúp cho các dân tộc thiểu số về mọi mặt…; Các dân tộc được tự do bày tỏ nguyện vọng và phải cố gắng để cùng giành cho bằng đuợc độc lập hoàn toàn và thái bình”.

X&N
bee.net.vn

Tướng Giáp, Quốc vương Norodom Sihanouk và Việt Nam

 – Ngày 25/2/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư chào mừng Hội nghị Nhân dân Đông Dương (họp tại Phnom Penh, thủ đô Vương quốc Campuchia từ 1 đến 9/3/1965) vạch rõ đế quốc Mỹ đã phá hoại Hiệp định Geneve 1954 về Đông Dương, và 1962 về Lào, xâm phạm chủ quyền các quốc gia của 3 nước Đông Dương.

Bức thư kết luận: “Nhân dân ba nước anh em Việt Nam, Campuchia và Lào vốn đã luôn luôn cùng nhau sát cánh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Đứng trước nguy cơ một cuộc chiến tranh mở rộng do Mỹ gây nên, nhân dân ba nước chúng ta đoàn kết chặt chẽ chống đế quốc Mỹ, thì chúng ta nhất định thắng lợi”.

Trước đó, ngày 1/2/1965, báo Nhân Dân đã đăng Điện cảm ơn của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Thái tử Quốc trưởng Vương quốc Campuchia. Norodom Sihanouk bày tỏ: “Tôi hết sức cảm kích về bức điện của Ngài nghiêm khắc lên án những hành động xâm lược gần đây của đế quốc Mỹ đối với nước Việt Nam Dân chủ Công hoà và hoan nghênh những thắng lợi của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Sự ủng hộ hoàn toàn của Ngài đã một lần nữa biểu hiện tinh thần bất khuất của nhân dân Khơme kiên quyết chống sự can thiệp và xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai và biểu hiện mối tình đoàn kết anh em của nhân dân Khơme đối với nhân dân Việt Nam… Nhân dân Việt Nam quyết đoàn kết với nhân dân Khơme anh em và với các dân tộc khác ở Đông Dương trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ…”.

Tháng 2/1966, Bác gặp ông Cayxỏn Phômvihản.Tháng 2/1966, Bác gặp ông Cayxỏn Phômvihản.

Và sau Hội nghị, ngày 6/3/1965, Bác cũng gửi điện cảm ơn tới Norodom Sihanouk bày tỏ cự cảm kích trước những quan điểm của “Ngài chủ tịch Hội nghị nhân dân Đông Dương” và đánh giá kết quả của Hội nghị  “là một bằng chứng tỏ rõ ý chí thống nhất của nhân dân ba nước chúng ta là kiên quyết đấu tranh chống sự xâm lược của đế quốc Mỹ và ra sức bảo vệ hoà bình, độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ…”.

Quan điểm tích cực của Quốc trưởng Campuchia đã dẫn đến cuộc đảo chính của Lon Nol do Mỹ bảo trợ (3/1970) và tiếp tục thúc đẩy mối liên minh Việt-Miên-Lào vốn đã từng có trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Khi cuộc chiến tranh của Mỹ lan rộng khắp Đông Dương, các hội nghị cấp cao nhân dân vẫn tiếp tục được duy trì cho đến ngày Mỹ phải rút lui hoàn toàn khỏi Đông Dương (1975) và sự liên minh chiến đấu thực sự có hiệu quả.

Sau này, trong hồi ức của mình (Từ cuộc chiến chống CIA đến người tù của Khơme Đỏ ), Norodom Sihanouk viết: “Tôi không muốn khen các bạn Việt Nam quá lời cũng như không muốn bày tỏ niềm hân hoan quá đáng khi được là bạn đồng minh chiến đấu của Việt Nam.

Nhưng quả là các bạn Việt Nam đã lập nên những chiến công đáng kinh ngạc nhờ tinh thần dũng cảm và tận tuỵ. Và tướng Võ Nguyên Giáp là một thiên tài quân sự, một nhà chiến lược vĩ đại trong mọi thời đại, không còn phải bàn cãi gì nữa.

Một lần tôi đến thăm ông Giáp trong lúc quân đội Sài Gòn đang bắt đầu đánh chiếm Hạ Lào, hồi tháng 2/1971. Chúng tôi dành cả buổi chiều ngồi điểm lại tình hình Campuchia sau đó cùng ăn cơm tối. Sau bữa cơm lại cùng uống cà phê và nghe nhạc. Ông Giáp có vẻ không quan tâm gì đến thời gian. Cuối cùng, tôi đành phải nói:

– Thưa Tướng quân ! Tôi quả là có lỗi, đã làm mất thời giờ của Tướng quân quá nhiều. Tôi quả thật không hiểu được tại sao giữa lúc chiến dịch đáng diễn ra ác liệt ở Lào, Tướng quân lại vẫn tiếp đãi tôi quá lâu như vậy?

Vơi nụ cười hiền hậu điểm chút hóm hỉnh, ông Giáp trả lời: Ồ! Chiến dịch này đã được chuẩn bị kỹ từ lâu rồi. Các đồng chí Pathet Lào của chúng tôi đã có đủ mọi thứ cần thiết. Tôi không còn phải quan tâm đến vấn đề gì nữa. Sáng nay, tôi nghe đài, thấy Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố quân đội của Thiệu sẽ ở lại Lào đến tháng 6. Tôi cho rằng chậm nhất là cuối tháng 3 chúng sẽ phải rút hết.

Quả nhiên, đến ngày 25/3/1971, những đơn vị cuối cùng của Thiệu đã phải tháo chạy khỏi Lào… Như trước kia tôi đề nghị, tướng Giáp đã cử các huấn luyện viên quân sự tới giúp tôi đào tạo cán bộ quân sự và kiến thức cho những cán bộ quân sự đã có kiến thức nhất định.

Tôi yêu cầu hai nghìn người! Ông Giáp đưa sang đúng hai nghìn người, không hơn không kém và toàn là những cán bộ phẩm chất tuyệt vời. Tướng Giáp đã biết chọn lọc một cách rất đáng ca ngợi, những huấn luyện viên không những có năng lực cao về quân sự mà còn có cả đạo đức tốt của con người. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, họ lại được lệnh rút hết về nước…Chúng tôi có những trận chiến đấu phối hợp với Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, nhưng đều theo đúng các nguyên tắc đề ra trong Hôi nghị cấp cao nhân dân Đông Dương…

Chúng tôi luôn ghi nhớ sâu sắc công ơn của các bạn chiến đấu Việt Nam đã giúp đỡ chúng tôi trong những ngày kháng chiến, về những vũ khí mà Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đã cung cấp cho chúng tôi, về những huấn luyện viên quân sự mà miền Bắc Việt Nam đã cử tới chỉ bảo quân đội chúng tôi. Những cán bộ đó còn giá trị gấp mười lần hàng trăm triệu đôla mà Mỹ đã cho bọn Lon Nol Xiric Matak …Có lần tôi đã nói với các bạn người Pháp: Lẽ tôi nhờ cậy Việt Minh là hợp lý vì họ là những chiến sĩ du kích giỏi nhất thế giới!”.

X&N
bee.net.vn

“Nhân dân là người bảo vệ Bác tốt nhất”

– Ngày 23/2/1962, đến dự cuộc họp của Bộ Chính trị bàn về công tác ngoại giao, Bác nhắc nhở: “Cần có sự kiểm tra, đôn đốc cán bộ ngoại giao và nhắc nhở họ rằng đừng tham”.

Cũng trong thời gian này, Bác đến nói chuyện với Hội nghị tổng kết công tác cảnh vệ. Với kinh nghiệm của một nhà hoạt động cách mạng từng trải, Bác phân tích những phẩm chất cần có để nâng cao hiệu quả công tác cảnh vệ như kỹ thuật phải khéo léo, phải giữ bí mật.

Ngày 3/2/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với đại biểu nhân dân Lạng SơnNgày 3/2/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với đại biểu nhân dân Lạng Sơn

Bác còn nhấn mạnh đến một khía cạnh nữa là “thái độ đối với nhân dân” và nêu dẫn chứng: “Cũng vì mục đích bảo vệ Bác nên các chú không muốn để đồng bào đến gần, cho nên xô đẩy đồng bào. Thái độ thế là không tốt.

Đồng bào và các cháu nhi đồng muốn đến gần Bác. Nhưng các chú lại không muốn. Nó có mâu thuẫn, nhưng phải làm thế nào? Mình là dân chủ, Bác cũng như các chú, đếu nói là phục vụ nhân dân.

Cho nên phải khéo tổ chức, nếu không khéo tổ chức thì xô đẩy cũng không được, cho nên phải làm thế nào vừa để bảo vệ được Bác, vừa không xô đẩy đồng bào. Tóm lại, các chú muốn bảo vệ tốt phải có kỹ thuật, phải giữ được bí mật và phải có thái độ tốt đối với đồng bào”.

Còn trong hồi ức của mình, Đại tá Hoàng Hữu Kháng, nguyên Cục trưởng Cục cảnh vệ, Bộ Công an, người trực tiếp phụ trách công tác bảo vệ Bác đã kể lại: “Tôi bị Bác phê bình gay gắt nhất là vào dịp bầu cử năm 1969. Năm đó Bác đã yếu nhiều , vì vậy rất khó giữ bí mật về sức khoẻ của Bác.

Địa điểm Bác đến bỏ phiếu là Nhà thuyền Hồ Tây, quận Ba Đình, Hà Nội. Chúng tôi định khi nào nhân dân bầu gần xong thì đưa Bác vào hoặc để dân dừng một lúc để Bác bỏ phiếu trước. Khi biết chuyện, Bác nghiêm nghị nói với tôi: “Chú có biết Nguyễn Hải Thần vì sao dân ghét không? Ai là người bảo vệ Bác? Chú nhớ là: Nhân dân là người bao vệ tốt nhất cho Bác!”.

Nghe Bác hỏi, tôi giật mình, nhớ lại năm 1945, mỗi lần Nguyễn Hải Thần (một nhà hoạt động chính trị  dựa vào thế lực của quân phiệt Trung Hoa để đòi chia sẻ quyền lực sau khi Việt Minh lãnh đạo nhân dân giành được độc lập) đi đầu bọn lính bảo vệ của ông ta ngồi trên xe, tay lăm lăm chĩa súng ra ngoài. Một khẩu trung liên đuợc đặt trên nóc xe, luôn luôn sẵn sàng nhả đạn, trông rất chướng mắt” (Chuyện kể những người giúp việc Bác Hồ, NXB Thông tấn, H.2003, tr.134).

X&N
bee.net.vn

Thư Phan Bội Châu gửi Nguyễn Ái Quốc

– Ngày 22/2/1925, cụ Phan Bội Châu viết thư nhờ Hồ Tùng Mậu chuyển cho Lý Thuỵ (bí danh của Nguyễn Ái Quốc) lúc này đang hoạt động ở Trung Quốc.

Phan Bội Châu, bút hiệu Sào Nam là người đồng hương (Nam Đàn, Nghệ An) và là bạn đồng niên với Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ của Bác.

Vào đầu thế kỷ XX, Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh đã trở thành 2 ngọn cờ tiêu biểu cho phong trào yêu nước ở nước ta. Sau nhiều hoạt động yêu nước không thành Phan Bội Châu cũng sang Quảng Đông để tìm gặp những người Việt Nam đang hoạt động tại đây.

Tháng 2/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của ĐảngTháng 2/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng

Bức thư đề ngày “21 tháng 1âm lịch” (tức 22/2/1925) viết bằng chữ Hán, hiện được lưu trữ ở Aix-en-Provence (Pháp) và được nhà nghiên cứu Vĩnh Sính phát hiện và dịch cho thấy những tình cảm và đánh giá của Phan Bội Châu đối với người con trai của bạn mình nay đã trở thành một nhà cách mạng đã nổi tiếng lúc này vừa hoạt động trong phái đoàn cố vấn của Chính phủ Xô viết bên cạnh Chính phủ Quảng Châu của Tôn Trung Sơn lại đang xúc tiến việc thành lập tổ chức cách mạng Việt Nam, tiền thân của Đảng Cộng sản sau này là Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí.

Bức thư cho biết, trước đó cụ Phan đã nhận đuợc thư của Nguyễn Ái Quốc gửi cho cụ, vì thế trong thư lá thư này, nhà ái quốc lão thành đã thành tâm đưa ra những lời đánh giá khích lệ: “Người cháu rất kính yêu của bác…(đọc thư của cháu) mới biết là học vấn, trí thức của cháu nay đã tăng trưởng quá nhiều, không phải như hai mươi năm trước.

Nhớ lại hai mươi năm trước đây, khi đến nhà cháu uống rượu, gõ án ngâm thơ, anh em cháu tất thảy đều chưa thành niên, lúc đó Phan Bội Châu này đâu có ngờ rằng sau này cháu sẽ trở thành một tiểu anh hùng như thế này…

Nhận được liên tiếp hai bức thư của cháu bác vừa buồn lại vừa mừng. Buồn là buồn cho thân bác, mà mừng là mừng cho đất nước ta. Việc thừa kế nay đã có người, người đi sau giỏi hơn kẻ đi trước, trên tiền đồ đen tối sẽ xuất hiện ánh ban mai…

Một đời tân khổ, gánh vác công chuyện một mình, được sức lớn của cháu giúp vào thì ắt sẽ có nhiều người hưởng ứng theo. Việc gây dựng lại giang sơn, ngoài cháu có ai dễ nhờ uỷ thác gánh vác trách nhiệm thay mình. Có được niềm an ủi lớn lao như thế, làm sao bác không cảm thấy vui mừng được. Cháu học vấn rộng rãi đã từng đi nhiều nơi hơn bác cả chục cả trăm lần. Tri thức và kế hoạch của cháu tất vượt sức đo lường của bác…”

Cuối thư Phan Bội Châu cũng thẳng thắn và chân thành mong Nguyễn Ái Quốc có kế hoạch mở rộng phong trào trong nước “vì nếu không có kế hoạch thì bất quá chỉ làm khách tha hương than thở không đâu cho hồn cố quốc, chả giống ông Hy Mã (tức Phan Chu Trinh) thì cũng chỉ giống Phan Bội Châu mà thôi!”.

Còn trong bức thư gửi Hồ Tùng Mậu cùng vào thời gian này, cụ Phan lại bày tỏ sự “cực lực tán thành” việc thành lập tổ chức Hội Thanh niên mà Nguyễn Ái Quốc lúc này đang tích cực vận động. Mặc dầu kể từ đó cho đến lúc bị thực dân Pháp bắt ở Trung Quốc, đưa ra toà xử án, rồi bị an trí tại Huế cho đến lúc qua đời, Phan Bội Châu chưa có dịp gặp lại Nguyễn Ái Quốc nhưng những di ngôn của cụ cho các đồng chí của mình vẫn hoàn toàn tin rằng : Nguyễn Ái Quốc sẽ là người “gây dựng lại giang sơn”.

Còn sau đó không lâu, trong một bài viết về Phan Bội Châu, Nguyễn Ái Quốc đã dành những lời tôn vinh: “Phan Bội Châu, bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được 20 triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng”.

X&N
bee.net.vn

Bộ Chính trị bàn việc củng cố quốc phòng

– “Ngày 21/2/1958, Bác chủ trì Hội nghị Bộ Chính trị thông qua kế hoạch xây dựng quân đội và củng cố quốc phòng… Bác nhắc lập kế hoạch phòng không nhân dân, một vấn đề rất mới và phải nói là sớm, đó là nghiên cứu kế hoạch phòng không nhân dân”.

Đó là đoạn trích trong hồi ký của Thượng tướng Văn Tiến Dũng. Nhắc đến sự kiện này vị Tổng tham mưu trưởng muốn nói đến tầm nhìn xa và khả năng dự đoán thiên tài của Bác, vì 6 năm sau (1964), đế quốc Mỹ đã phát động cuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc.

Ngày 21/2/1958, Bác Hồ xem các mặt hàng thủy tinh tại Hội chợ triển lãm tiểu thủ công, Hà Nội.Ngày 21/2/1958, Bác Hồ xem các mặt hàng thủy tinh tại Hội chợ triển lãm tiểu thủ công, Hà Nội.

Có thể nói, tri thức, kinh nghiệm cùng bản lĩnh được tôi luyện qua thực tế hoạt động cách mạng rất phong phú và quyết liệt đã tạo cho Bác một năng lực dự đoán đáng được nghiên cứu như môt năng lực xuất chúng. Chính nhờ năng lực này mà cách mạng Việt Nam đã chủ động vượt qua nhiều thử thách tưởng chừng khó vượt qua.

Ngay trong thời kỳ hoạt động nhằm xây dựng lực lượng chuẩn bị cơ hội khởi nghĩa giành chính quyền, Bác đã đưa ra những dự đoán rất đúng về tình thế bùng nổ cuộc chiến tranh Thái Bình Dương trước cả sự kiện Trân Châu Cảng.

Năm 1942, khi viết “Diễn ca Lịch sử nước ta” nhằm tuyên truyền tinh thần yêu nước trong dân chúng thì ở cuối tác phẩm này, trong phần ghi chú “Những năm quan trọng”, Bác kết thức bằng dòng “1945: Việt Nam độc lập”.

Năm 1949, giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang diễn ra rất gian khổ và ác liệt, với bút danh Trần Lực, Bác đã viết một truyện ký giả tưởng có nhan đề “Giấc ngủ 10 năm” và được Tổng bộ Việt Minh xuất bản trong năm 1949. Thông qua giấc mơ của một chiến sĩ bị thương, diễn biến cuộc kháng chiến của quân ta kết thúc bằng một “trận đánh rất lớn” buộc đối phương phải bước vào bàn hội nghị đưa đến thắng lợi của cuộc kháng chiến gần như đã diễn ra thành hiện thực trong những năm sau đó.

Năm 1950, trên đuờng đi Chiến dịch Biên giớí, Bác viết một bút ký “Vừa đi đường vừa kể chuyện” (ký tên là T.Lan) trong đó tiên đoán :”Cuộc kháng chiến của chúng ta tuy gian khổ, nó có thể kéo dài bốn, năm năm nữa, nhưng cuối cùng chúng ta nhất định thắng lợi”. Sự thực cho thấy cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc vào năm 1954 -1955.

Sau những dự kiến về cuộc chiến tranh bằng không quân Mỹ đánh ra miền Bắc nước ta để làm tốt công tác phòng không nhân dân, ngay từ cuối năm 1962, Bác đã yêu cầu Tư lệnh Phòng Không – Không quân Phùng Thế Tài phải nghiên cứu về loại máy bay chiến lược B52 mới mẻ lúc này còn đang là con bài chiến lược chưa từng tham gia tác chiến ở bất kỳ nơi nào trên thế giới. Bác cũng tiên đoán rằng một trận quyết chiến chiến lược sẽ diễn tra trên bàu tời Thủ đô trước khi xcuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta thắng lợi hoàn toàn.

Vậy mà chỉ 3 năm sau (1965) Mỹ đã sử dụng loại vũ khí tối tân nhất này trên chiến trường miền Nam rồi từng bước đánh ra miền Bắc và sử dụng tổng lực trong cuộc tập kích chiến lược cuối năm 1972. Lịch sử Binh củng Phòng không-Không quân cho biết chính từ yêu cầu này của Bác, công tác tình báo và xây dựng phương án tác chiến để đối phó với B52 đã được chủ động chuẩn bị rất sớm và rất kỹ. Vì thế, khi phải giáp mặt với B52 chúng ta đã hạn chế được sức mạnh của nó đồng thời từng bước bắn bị thương và bắn rơi loại khí tài cho đến nay chưa bao giờ bị bắn hạ ở bất kỳ nơi nào trên thế giới trừ Viêt Nam.

X&N
bee.net.vn

Ngày 19/2: Vị luật sư “cứu sống” Bác Hồ

– Ngày 19/2/1960, ông bà luật sư Loseby, ân nhân đã cứu Bác Hồ khỏi nhà tù của thực dân Anh trong vụ án “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông” (1931-1933) sau chuyến thăm Việt Nam theo lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi trở về đã viết thư cảm ơn Bác.

Trong lá thư có đoạn: “Ngài nói rằng tôi đã “cứu sống Ngài”, điều đó có thể đúng, nếu vậy thì đó chính là việc làm tốt nhất mà tôi đã từng làm, và mãi mãi là một việc làm sáng suốt…”.

Ông Francis Henry Loseby (1883-1967) sinh trưởng ở nước Anh, làm luật sư trong quân đội hoàng gia trong Thế chiến I, năm 1926 sang Hồng Kông, lúc đó là thuộc địa của Anh trên lãnh thổ Trung Quốc và mở văn phòng luật sư.

bác cùng vị luật sư Loseby gặp công nhân Nhà máy Trung Quy mô 2-1960Bác cùng luật sư Loseby gặp công nhân Nhà máy Trung Quy mô tháng 2/1960

Trước vụ án “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông”, ông đã từng cãi giúp một người Việt Nam thoát khỏi bản án trao cho thực dân Pháp. Thời kỳ phát xít Nhật xâm lược Trung Quốc, ông đã từng tham gia đội quân tình nguyện bảo vệ Hồng Kông vì thế bị Nhật bắt giam từ 1/1942 đến 8/1945. Ông sống ở Hồng Kông cho đến lúc qua đời năm 1967. Được tin ông qua đời, Bác Hồ đã gửi vòng hoa đến viếng.

Năm 1960, sau khi đã cho người tìm được gia đình luật sư Loseby ở Hồng Kông, Bác viết thư mời sang thăm Việt Nam vào dịp Tết Nguyên đán. Ngày 26/1/1960, ông bà Loseby cùng con gái đến Hà Nội, Bác Hồ ra tận sân bay đón và đưa về nhà khách. Những ngày tiếp theo Bác dẫn gia đình ân nhân của mình đi thăm nhiều nơi và ngày 3/2 tiễn trở về Hồng Kông.

Bác Hồ chụp ảnh với đoàn đại biểu dự hội nghị cán bộ phụ trách thiếu niên toàn quốc do Trung ương Đoàn thanh niên lao động Việt Nam tổ chức ngày 19/2/1959Bác Hồ chụp ảnh với đoàn đại biểu dự hội nghị cán bộ phụ trách thiếu niên toàn quốc do Trung ương Đoàn thanh niên lao động Việt Nam tổ chức ngày 19/2/1959

Về chuyến đi này, ông Loseby kể: “Năm 1956 một nhà báo Anh (đảng viên cộng sản Anh) sang thăm Việt Nam về Hương Cảng đến tìm và trao cho tôi một bức thư và 2 bức ảnh Hồ Chủ tịch, một bức gửi cho vợ chồng tôi, một bức gửi cho con gái tôi… Chúng tôi gửi thư cám ơn và gửi ảnh cho Hồ Chủ tịch.

Sau đó đại diện Sở vận tải Trung Hoa ở Hương Cảng điện thoại cho chúng tôi 2 lần và đến gặp chúng tôi, gửi cho chúng tôi một gói quà của Hồ Chủ tịch, trong đó có một bức thêu Chùa Một Cột và một cái khay sơn mài và một bức thư của Hồ Chủ tịch mời sang thăm Việt Nam…”.

Trong buổi đến thăm và gặp gỡ cán bộ công nhân Nhân Nhà máy Cơ khí Trung quy mô ở Hà Nội, ngày 2/2/1960, Bác Hồ mào đầu: “Bác xin giới thiệu với các cô chú, đây là luật sư Loseby, ân nhân của Bác. Nếu không có luật sư thì chưa biết Bác sống chết ra sao?…”.

Còn vị luật sư người Anh thì bày tỏ: “Các bạn rất may mắn có một vị lãnh tụ rất vĩ đại và tốt là Hồ Chủ tịch… Khi gặp Hồ Chủ tịch chúng tôi rất cảm động nhưng chúng tôi không lạ vì chúng tôi thường được xem ảnh luôn và chúng tôi xem Bác như người nhà của chúng tôi. Hồ Chủ tịch là một người bất cứ ở đâu và trong hoàn cảnh nào cũng làm cho mọi người mến phục. Không phải bây giờ, ở đây như vậy mà trước kia khi ở Hương Cảng, trong hoàn cảnh khó khăn cũng vậy.

Hồ Chủ tịch có cái biệt tài là làm cho mọi người đều cười được từ các em thiếu nhi hôm chúc Tết ở Chủ tịch phủ, đến các em nhi đồng ở Trại nhi đồng miền Nam và đến cả các anh em công nhân Nhà máy Trung quy mô cũng vậy. Hồ Chủ tịch có thể làm cho mọi thứ đều cười…

Đến Việt Nam, tôi thấy một điều làm cho tôi thấy đặc biệt là mọi người đều vui vẻ, ai cũng có nụ cười trên môi… Nhiều điều tôi mới được thấy lần đầu và vượt quá ý nghĩ của chúng tôi… Tôi có thể kết luận rằng đó là kết quả của cả cuộc đời hy sinh của Hồ Chủ tịch cho nhân dân Việt Nam”.

Trong buổi tiễn đưa gia đình luật sư Loseby tại sân bay Gia Lâm, Bác không quên dặn cô con gái của ông bà: “Bao giờ có đám cưới, cháu Pat nhớ cho Bác hay nhé”.

X&N

bee.net.vn