Tag Archive | Tập 5 (1947 – 1949)

Tặng Bùi Công – Tặng cụ Bùi Bằng Đoàn (1948)

Khán thư sơn điểu thê song hãn,
Phê trát xuân hoa chiếu nghiễn trì,
Tiệp báo tần lai lao dịch mã,
Tư công tức cảnh tặng tân thi.

TẶNG CỤ BÙI

Khi xem sách, chim rừng đậu ở song cửa sổ,
Lúc phê công vǎn, đoá hoa xuân soi bóng trong nghiên mực.
Luôn luôn phải về báo tin thắng trận, con ngựa trạm cũng vất vả.
Nhớ cụ, vừa tức cảnh thành bài thơ gửi tặng cụ.

TẶNG CỤ BÙI BẰNG ĐOÀN

Xem sách, chim rừng vào cửa đậu,
Phê vǎn, hoa núi ghé nghiên soi.
Tin vui thắng trận dồn chân ngựa,
Nhớ cụ thơ xuân tặng một bài.

Nǎm 1948

Viết bằng chữ Hán.
Dịch và in trong sách Hồ Chí Minh,
Thơ, Nxb Vǎn học, Hà Nội, 1975, tr.107-108.
cpv.org.vn

Thu dạ – Đêm thu (1948)

Trù hoạch canh thâm tiệm đắc nhàn,
Thu phong thu vũ báo thu hàn.
Hốt vǎn thu địch sơn tiền hưởng,
Du kích quy lai tửu vị tàn.

ĐÊM THU

Bàn tính công việc, mãi đến canh khuya mới tạm
được nghỉ ngơi,
Mưa gió mùa thu báo tin tiết thu lạnh đã đến.
Chợt nghe tiếng sáo thu từ phía trước núi vọng lại,
Bộ đội, du kích vừa về, cuộc rượu chưa tàn.

ĐÊM THU

Bàn việc canh chầy mới tạm ngơi,
Gió mưa thu báo lạnh thu rồi.
Còi thu bỗng rúc vang từng núi,
Du kích về thôn, rượu chửa vơi.

Nǎm 1948

Viết bằng chữ Hán.
Dịch và in trong sách Hồ Chí Minh: Thơ,
Nxb Vǎn học, Hà Nội, 1975, tr.110-111.
cpv.org.vn

Báo tiệp – Tin thắng trận (1948)

Nguyệt thôi song vấn: – Thi thành vị ?
– Quân vụ nhưng mang vị tố thi.
Sơn lâu chung hưởng kinh thu mộng,
Chính thị Liên khu báo tiệp thì.

TIN THẮNG TRẬN

Trǎng đẩy cửa sổ hỏi: – Thơ xong chưa ?
– Vẫn còn bận việc quân, chưa làm thơ được.
Bỗng tiếng chuông ở lầu trên núi khua tỉnh
giấc mộng đêm thu,
Vừa hay là lúc có tin thắng trận ở Liên khu báo về.

TIN THẮNG TRẬN

Trǎng vào cửa sổ đòi thơ,
– Việc quân đang bận, xin chờ hôm sau,
Chuông lầu chợt tỉnh giấc thu,
ấy tin thắng trận Liên khu báo về.

Nǎm 1948

Viết bằng chữ Hán.
Dịch và in trong sách Hồ Chí Minh: Thơ,
Nxb Vǎn học, Hà Nội, 1975, tr.106.
cpv.org.vn

Thư chúc mừng nǎm mới (1-1-1949)

Cùng toàn thể đồng bào,

Cùng toàn thể chiến sĩ,

Tôi vui mừng thay mặt Chính phủ chúc đồng bào và chiến sĩ nǎm mới dương lịch.

Sang nǎm mới, chúng ta sẽ làm những gì, sẽ được những gì?

Sang nǎm mới,

Các chiến sĩ sẽ thi đua xung phong giết nhiều giặc, cướp nhiều súng, lập nhiều công.

Đồng bào sẽ xung phong thi đua tǎng gia sản xuất về mọi nghề, mọi ngành, diệt giặc đói, diệt giặc dốt.

Các cụ phụ lão xung phong đốc thúc con cháu thi đua.

Các cán bộ thi đua thực hành cần, kiệm, liêm, chính.

Các cháu thanh niên và nhi đồng xung phong thi đua học và hành.

Sang nǎm mới, chúng ta mọi người đều ra sức thi đua với tinh thần mới, lực lượng mới để đưa kháng chiến và kiến quốc đến nhiều thắng lợi mới và thành công mới.

Ngày 1 tháng 1 nǎm 1949
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1133,
ngày 1-1-1949.
cpv.org.vn

Đảng ta (1949)

(Tặng các đồng chí chi bộ)

Nǎm 1847, Mác và Ǎngghen phát biểu “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản”. Sau 70 nǎm cách mạng Nga thành công. Sau 98 nǎm cách mạng Việt Nam thành công. Hiện nay, nước nào cũng có Đảng Cộng sản và chủ nghĩa cộng sản đang lan tràn khắp thế giới. 20 triệu đảng viên cộng sản khắp các nước đang hǎng hái lãnh đạo hàng trǎm triệu người lao động và dân tộc bị áp bức, đấu tranh cho cuộc giải phóng của mình, cho một xã hội mới, cho chủ nghĩa cộng sản.

Đảng ta tuy trẻ trung, nhưng đã lập được những công trạng rất to tát.

Nhân ngày kỷ niệm thành lập Đảng, tôi nhắc lại vài mẩu chuyện của Đảng cho các đồng chí trẻ biết, chứ không phải viết lịch sử Đảng.

Nǎm 1921, trong cuộc Đại hội của Đảng Xã hội Pháp mở ở Tua (Tours) 1 , Đảng ấy chia làm hai phái. Phái thiểu số thì cứ giữ lấy Đảng Xã hội cũ. Phái đa số thì lập thành Đảng Cộng sản Pháp. Trong phái này có một người cộng sản đầu tiên của Đông Dương là đồng chí Nguyễn ái Quốc. Từ đó, chủ nghĩa cộng sản bắt đầu vượt qua lưới sắt của chủ nghĩa đế quốc Pháp và dần dần thấm vào nước ta.

Nǎm 1925, đồng chí Nguyễn ái Quốc cùng anh em cách mạng Việt Nam ở Quảng Châu tổ chức Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Hội này đưa thanh niên trong nước ra Quảng Châu, huấn luyện họ, rồi phái họ trở về tuyên truyền và tổ chức khắp cả nước.

Nǎm 1929, trong khi đồng chí Nguyễn ái Quốc đi vắng, Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội khai toàn quốc Đại hội ở Hương Cảng. Đại biểu Bắc Kỳ đề nghị tổ chức đảng cộng sản, bị gạt đi, liền bỏ hội nghị ra về.

Sau đó, trong nước dần dần thành lập ba nhóm cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương cộng sản Liên đoàn.

Một nước mà ba đảng cộng sản. Cả ba nhóm đều ngầm hiểu như thế là sai. Quần chúng đều hiểu rằng như thế là không đúng. Cả ba nhóm đều tìm cách để đi đến thống nhất. Nhưng bệnh hẹp hòi và cách làm không khéo, cho nên càng muốn gần nhau, lại càng xa nhau.

Cuối nǎm 1929, đồng chí Nguyễn ái Quốc trở lại Tàu, cùng với đại biểu các nhóm khai hội ở Hương Cảng.

Trong 7, 8 đại biểu, ngoài đồng chí Nguyễn ái Quốc và tôi, nay chỉ còn đồng chí Hồ Tùng Mậu và đồng chí Trịnh Đình Cửu, đồng chí Tản Anh và vài đồng chí nữa đều oanh liệt hy sinh cho Đảng và cho dân tộc lâu trước ngày Cách mạng Tháng Tám.

Để giữ bí mật, các đại biểu khai hội bên sân đá banh của người Tàu. Vừa giả xem đá banh, vừa bàn bạc về Đảng.

Sau cuộc bàn bạc sôi nổi, và sau lời giải thích rõ ràng của đồng chí Nguyễn ái Quốc, mọi người đều tán thành thống nhất cả ba nhóm thành một đảng.

Thế là Đảng ta chân chính thành lập.

Đó là ngày lịch sử mồng 6-1-1930 1 .

Sự thống nhất làm cho đảng viên và quần chúng cả nước rất vui mừng và thêm hǎng hái. Do đó mà Đảng phát triển rất mau, hoạt động rất mạnh. Từ đó trở đi, phong trào cách mạng ở nước ta đều do Đảng ta lãnh đạo.

Vì có một chủ nghĩa cách mạng nhất, một tổ chức chặt chẽ nhất, chí hy sinh tận tuỵ không bờ bến của đảng viên, có sự hǎng hái vô cùng của quần chúng, nên Đảng ta thành lập không bao lâu, đã lãnh đạo được cuộc khởi nghĩa Nghệ Tĩnh, thành lập Xô viết Nghệ An 28 . Nếu so sánh lịch sử cách mạng các nước, chúng ta có thể nói rằng Xô viết Nghệ An đối với Việt Nam cũng hơi giống cách mạng 1905 Nga 29 .

Xô viết Nghệ An đã lôi cuốn được cả công nhân, nông dân và học sinh. Đã lập nên chính quyền nhân dân. Đã làm cho giặc Pháp kinh sợ. Thật là một cuộc cách mạng oanh liệt đầu tiên do giai cấp vô sản Việt Nam lãnh đạo.

Giặc Pháp đàn áp một cách vô cùng dã man. Hàng ngàn hàng vạn đảng viên và quần chúng bị giết chết, bị tù đày. Giặc Pháp đã xoa tay mừng rằng cách mạng Việt Nam, cộng sản Việt Nam hết rồi. Chúng nào có hiểu: Có thể ngǎn sông, có thể đào núi, nhưng không có lực lượng nào có thể ngǎn trở chủ nghĩa cộng sản phát triển và thực hiện.

Sau trận khủng bố ghê gớm 1930-1931, nǎm 1933 Đảng lại hoạt động mạnh và càng ngày càng mạnh.

Nói đến đây, tôi phải nhắc đến những đảng viên đã vì Đảng, vì giai cấp, vì dân tộc mà oanh liệt hy sinh như đồng chí Lê Hồng Phong, Trần Phú, Hoàng Vǎn Thụ, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Vǎn Cừ, Lương Khánh Thiện, Minh Khai, cùng trǎm nghìn đồng chí khác. Và những thanh niên cộng sản anh dũng như Trọng Con, Hồng Quang. Máu xương của các tiên liệt đã thấm nhuần gốc rễ của Đảng ta, làm cho cây nó càng vững, ngành nó càng to, và kết quả khai hoa ngày càng rực rỡ.

Thế giới đại chiến lần thứ hai bùng nổ. Một lần nữa thực dân Pháp ra tay khủng bố. Nhiều đảng viên bị bắt, bị tù. Nhưng Đảng ta vẫn đứng vững. Đảng giao cho một số đồng chí thảo kế hoạch đánh Nhật chống Pháp. Các đồng chí ấy khai hội trên một bãi cỏ ở Quảng Tây. Trong 6,7 người, tôi chỉ nhớ tên các đồng chí Phùng Tự Do 1 (đã hy sinh ở Na Rì, Bắc Cạn), Phạm Vǎn Đồng, Võ Nguyên Giáp.

Muốn đánh giặc, phải có quân đội. Đội du kích đầu tiên của nước ta lập ở Cao Bằng, với 12 người, trong đó có hai nữ đồng chí. Đội này do các đồng chí Lê Quảng Ba, Hoàng Sâm và Bằng Giang phụ trách. Toàn đội chỉ có một khẩu “pạc-hoọc”, hai khẩu súng kíp và giáo mác. Thấy vậy, người khác có thể cười rằng đó là trò chơi trẻ con. Nhưng chính từ cái hạt cỏn con đó mà nay đã phát triển thành hàng chục vạn Vệ quốc quân và hàng trǎm vạn dân quân du kích đang oanh liệt kháng chiến từ Bắc đến Nam, làm cho giặc Pháp phải kinh hồn, thế giới phải khen phục.

Trong mấy tháng, đội du kích số một ấy phát triển đã khá. Đảng giao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp cải tổ thành đội Nam tiến. Khi đã lấy lại sáu tỉnh Việt Bắc và đã lập chính quyền nhân dân, đội Nam tiến đổi tên là Quân Giải phóng. Cách mạng Tháng Tám thành công, Chính phủ Cộng hoà thành lập, Quân Giải phóng trở nên Vệ quốc quân.

Nǎm nay, Đảng ta mới 19 tuổi. Nhưng suốt 19 nǎm ấy, nǎm nào cũng là một nǎm đấu tranh dũng cảm. Kinh qua bao nhiêu cơn sóng gió, bao nhiêu bước khó khǎn, càng nhiều gian nan, Đảng ta càng nhiều rèn luyện, càng thêm vững chắc và rộng lớn. Nhờ chính sách đúng, lãnh đạo chắc, kỷ luật nghiêm, nhờ tư tưởng thống nhất, mà Đảng ta và dân tộc ta được những thắng lợi vẻ vang ngày nay.

Tuy vậy, chúng ta tuyệt đối không được tự kiêu, tự đại.

Chúng ta có nhiều thành công, nhưng chúng ta cũng còn nhiều khuyết điểm. Mỗi đồng chí ta cần phải mạnh dạn và thành thật kiểm điểm mình, kiểm điểm đồng chí mình.

– Đã bỏ hết bệnh chủ quan, hẹp hòi chưa?

– Đã bỏ hết tư ý tiểu khí chưa?

– Đã luôn cố gắng học tập, luôn luôn cầu tiến bộ chưa?

– Đã thực hiện đoàn kết 100% chưa?

– Đã thật cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư chưa?

– Đã thật là người kiểu mẫu trong phong trào thi đua ái quốc chưa? Nếu chưa thì phải làm cho kỳ được.

Sứ mệnh của Đảng ta rất to. Công việc Đảng ta rất nhiều. Đảng đòi hỏi chúng ta phải làm trọn nhiệm vụ của đảng viên.

Không có vinh dự nào to bằng cái vinh hạnh được làm đảng viên của Đảng Cộng sản. Vì vậy, bất kỳ ở hoàn cảnh nào, làm công việc gì, chúng ta cũng phải kiên quyết làm cho xứng đáng với vinh hạnh ấy. Như thế, thì dân tộc giải phóng nhất định thành công, thế giới cách mạng nhất định thành công.

Trần Thắng Lợi

Viết đầu nǎm 1949.
Tập san Sinh hoạt nội bộ, số 13, tháng 1-1949.
Ban Chấp hành tỉnh Đảng bộ Hà Đông xuất bản thành sách nǎm 1950.
cpv.org.vn

Bài nói chuyện trong buổi bế mạc Hội nghị cán bộ của Đảng lần thứ sáu (18-1-1949)(30)

Lần này, Hội nghị có đủ đại biểu Trung, Nam, Bắc và cán bộ cao cấp của Đảng trong chính quyền, quân sự, kinh tế, tài chính, đảng vụ, dân vận, kiểm tra, v.v. về dự, đó là một điểm tốt.

Những vấn đề thảo luận thì nhiều, nhưng đều hướng vào một đường đi: kháng chiến thắng lợi, xây dựng dân chủ mới để tiến tới chủ nghĩa xã hội.

Phương hướng đã định, ta nhằm vào phương hướng ấy mà đi, thế nào ta cũng đi tới đích.

Nǎm nay, những việc chúng ta phải làm là:

1. Đẩy tới quân sự, kháng chiến trên hết, quân sự trên hết. Mọi việc phải nhằm vào điểm làm cho kháng chiến thắng lợi.

2. Chấn chỉnh bộ máy chính quyền từ dưới lên trên, bắt đầu từ xã; dưới làm lên trên, trên làm xuống dưới, tự nhiên mọi việc sẽ thành.

3. Làm ra nhiều, chi dùng ít. Không cần thì không chi dùng. Đó là tất cả chính sách kinh tế, tài chính của ta.

4. Chỉnh đốn các đoàn thể quần chúng. Ta thắng lợi là nhờ dân mà hiện giờ nhiều đoàn thể dân chúng còn rất kém.

5. Muốn làm được những việc trên, trước hết phải chỉnh đốn nội bộ Đảng. Phải nêu ra những việc chính, nắm lấy đó mà làm.

Đảng ví như cái máy phát điện, các công việc trên ví như những ngọn đèn, máy mạnh thì đèn sáng.

Trong Đảng, có những việc khẩn yếu như:

a) Ta thiếu nhiều cán bộ quá: phải đào tạo huấn luyện cho dần dần có đủ. Muốn có nhiều cán bộ, Đảng phải giúp đỡ cho cán bộ tự học tập. Đảng đã giúp, cán bộ phải chịu khó học. Đồng chí ta nhiều người kinh nghiệm thực hành khá, nhưng về vǎn hoá thì i tờ. Những đồng chí trí thức đọc nhiều nhưng không có kinh nghiệm công tác, chưa quen nền nếp làm việc của Đảng.

Vậy phải nâng cao lý luận cho cán bộ cũ và dạy cho cán bộ trí thức làm công tác quần chúng.

b) Lối làm việc trong Đảng hiện nay mắc hai khuyết điểm:

– Cán bộ cũ làm việc theo lối thủ công nghiệp.

– Cán bộ mới làm việc theo lối khoa học nhưng lại quá trớn, không hợp với hoàn cảnh kháng chiến.

Phải sửa chữa lối làm việc cho hợp lý, vừa với điều kiện của ta, đừng phạm vào hình thức, máy móc.

c) Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến.

Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước. Đồng chí ta nhiều người đã làm được nhưng vẫn còn những người hủ hoá. Đảng có trách nhiệm gột rửa cho các đồng chí đó.

Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã. Đồng chí ta phải học lấy bốn đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính.

Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên.

d) Đồng chí ta, tuy có khi khác nhau về chủng tộc hay khác nhau về nguồn gốc giai cấp, nhưng là những người cùng chủ nghĩa, cùng mục đích, cùng sống, cùng chết, chung sướng, chung khổ, cho nên phải thật thà đoàn kết. Muốn đi tới mục đích, không phải chỉ tổ chức là đủ, phải chân thành trong tư tưởng nữa.

Ta có hai cách để thực hiện thống nhất tư tưởng, đoàn kết nội bộ là: Phê bình và tự phê bình.

Từ trên xuống dưới, ai nấy đều phải dùng nó để càng ngày càng đoàn kết, tiến bộ.

đ) Giữ kỷ luật.

Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người. Đó là nhờ có kỷ luật. Kỷ luật của ta là kỷ luật sắt, nghĩa là nghiêm túc và tự giác. Các đồng chí chúng ta cần phải ra sức giữ gìn kỷ luật sắt của Đảng.

*

*      *

Ta họp trong lúc phong trào cách mạng thế giới đương tiến triển rất mau, nhất là cuộc thắng lợi của nhân dân và Đảng Trung Quốc.

Về thành tích thì Đảng ta là Đảng đầu tiên ở Đông – Nam á giành được chính quyền. Nói như thế không phải để tự cao, tự đại, mà để cố gắng làm tròn trách nhiệm.

Thế giới ngót 2.000 triệu người, số đảng viên cộng sản có trên 20 triệu, đổ đồng cứ 100 người dân là có một người cộng sản. ở Đông Dương, theo số liệu hiện nay, cứ 112 người dân là có một người cộng sản. Đó là một điều đáng mừng. Nếu ai cũng làm được đầy đủ nhiệm vụ thì kháng chiến nhất định chóng thắng lợi, kiến quốc nhất định chóng thành công.

Đảng Cộng sản Đông Dương muôn nǎm!

Cách mạng thế giới thành công muôn nǎm!

Nói ngày 18-1-1949.

Sách Hồ Chí Minh Vì độc lập tự do,
vì chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1976, tr.86-87.
cpv.org.vn

—————————-

(30) Hội nghị cán bộ trung ương Đảng lần thứ sáu : Được tiến hành từ ngày 14 đến ngày 18-1-1949. Dự Hội nghị có đại biểu cán bộ toàn quốc và cán bộ cao cấp của Đảng trong các ngành. Hội nghị đã nghe và thảo luận báo cáo của đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng và các báo cáo về quân sự, chính quyền, mặt trận, công tác Đảng. Hội nghị cũng nêu phương hướng và một số công việc cụ thể để chuẩn bị cho Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II sẽ họp vào đầu nǎm 1951.

Nhận định tổng quát về cuộc kháng chiến của nhân dân ta, Hội nghị chỉ rõ: “Ta càng đánh càng mạnh”, “Pháp càng đánh càng suy nhược”. So sánh lực lượng giữa ta và địch đã thay đổi có lợi cho ta. Nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta là phải “nỗ lực chuẩn bị, sẵn sàng đón lấy dịp tốt, tuyệt đối không được bỏ lỡ cơ hội chiến lược”. Hội nghị khẳng định: “Bất kể Mỹ dùng cách can thiệp gì, chúng ta cũng không sợ… Mỹ cũng sẽ phải chia cái thất bại đau đớn nhục nhã với thực dân Pháp ở Việt Nam”.

Hội nghị chủ trương “động viên mọi lực lượng tinh thần và vật chất của toàn dân vào công cuộc kháng chiến kiến quốc với khẩu hiệu: “Tất cả để đánh thắng”.”

Về nhiệm vụ quân sự, Hội nghị quyết định: “Đánh mạnh hơn nữa vào hậu phương địch, đánh vào các vị trí chiến lược, cắt các đường giao thông quan trọng”. “Trung tâm công tác lúc này là tiếp tục xây dựng bộ đội chủ lực”, phát triển và củng cố dân quân du kích.

Về công tác kinh tế, tài chính, cần phải phát triển bộ phận kinh tế Nhà nước, nhất là công nghiệp quốc phòng, đẩy mạnh sản xuất tự cấp, tự túc trong toàn quốc và từng địa phương, xây dựng hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, tiếp tục thi hành triệt để giảm tô, chuẩn bị cải cách ruộng đất.

Về công tác xây dựng Đảng, phải đặc biệt chú trọng việc đào tạo cán bộ, nâng cao trình độ chính trị và lý luận cho cán bộ, đảng viên, củng cố chi bộ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tới thǎm và nói chuyện tại buổi bế mạc của Hội nghị. Tr.556.

Thư gửi chiến sĩ du kích Hồng Sinh (xã Ngũ Lão, huyện Hoà An) (1-1949)

(Nhờ UBKCHC Cao Bằng chuyển)

Tôi được báo cáo rằng: Hồng Sinh một mình đã diệt được 16 tên giặc.

Đó là một thành tích vẻ vang cho toàn thể dân quân du kích Cao Bằng.

Tôi rất vui lòng khen ngợi Hồng Sinh, và khuyên Hồng Sinh cố gắng thêm, diệt cho được hai lần 16 tên giặc, để lập công trong cuộc Thi đua ái quốc nǎm nay.

Đồng thời tôi mong nam nữ du kích Cao Bằng đều cố gắng thi đua, theo cho kịp Hồng Sinh, diệt cho nhiều giặc, cướp cho nhiều súng. Như vậy, thì tỉnh ta sẽ quét sạch lũ giặc, và kháng chiến sẽ mau thắng lợi, thống nhất và độc lập sẽ mau thành công.

Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH

Viết tháng 1-1949.
Tài liệu lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.
Sách Hồ Chí Minh Toàn tập, Xuất bản lần thứ nhất, Nxb.
Sự thật, Hà Nội, 1985, t.5, tr.187.
cpv.org.vn

Thư gửi các cán bộ dân quân trường Lê Bình khoá 2 (1-1949)

Các chú đã nghiên cứu gì?

– Nghiên cứu cách đánh giặc.

Muốn đánh thắng giặc, phải dựa vào ai?

– Trước nhất và mọi việc phải dựa vào nhân dân.

Vậy mỗi cán bộ và mọi chiến sĩ dân quân du kích phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu.

Hai là phải tổ chức chặt chẽ, tập luyện hẳn hoi, chuẩn bị chu đáo. Hễ có giặc là đánh. Đánh khéo, đánh gan, đánh mạnh, đánh dai, đánh cho tan giặc.

Trước khi rời trường học, các chú nên thách nhau thi đua. Và khi về, thi đua với cán bộ các địa phương xung quanh. Lời thách thi đua phải thiết thực, chớ bông lông. Đã thách thì phải làm cho kỳ được, hoặc vượt qua mức thách, càng tốt.

Chú nào lập công to nhất trong 6 tháng đầu nǎm 1949, tôi sẽ cho 1 giải thưởng đặc biệt trong những giải thưởng Thi đua ái quốc.

Các chú cố gắng lên!

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 1 nǎm 1949
HỒ CHÍ MINH

Báo Quân du kích, số 12-13,
Tết Kỷ Sửu, 1949.
cpv.org.vn

Thư gửi các điền chủ huyện Yên Dũng, Bắc Giang (1-1949)

Gửi toàn thể đồng bào huyện Yên Dũng, Bắc Giang(1)

Tôi đã nhận được bản nghị quyết của cuộc Hội nghị ngày 8-12-1948.

Tôi rất vui lòng biết rằng đồng bào điền chủ chẳng những sẵn sàng giảm địa tô 25 phần trǎm, mà còn hết sức giúp tá điền cơm ǎn, việc làm.

Đó là một cử chỉ tốt đẹp. Nó tỏ rằng đồng bào chủ điền đang thực hiện cái:

Tinh thần toàn dân đoàn kết,

Tinh thần nhường cơm sẻ áo,

Tinh thần công bằng “kẻ có công đồng người có của”.

Tôi mong rằng điền chủ sẽ hǎng hái xung phong Thi đua ái quốc, lãnh đạo sự cải tạo nghề nông, để tǎng gia sản xuất cho nhiều. Như thế thì đã ích quốc, lại lợi dân. Như thế là chủ điền giúp cho kháng chiến mau thắng lợi, kiến quốc mau thành công.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 1 nǎm 1949
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1211,
ngày 7-4-1949.
cpv.org.vn

——————————-

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Thơ chúc tết (1949)

Kháng chiến lại thêm một nǎm mới,
Thi đua ái quốc thêm tiến tới.
Động viên lực lượng và tinh thần.
Kháng chiến càng thêm mau thắng lợi.

Người người thi đua.
Ngành ngành thi đua.
Ngày ngày thi đua.
Ta nhất định thắng.
Địch nhất định thua.

Xuân Kỷ Sửu – 1949
Hồ CHí MINH

Báo Sự thật, số 106-107,
Xuân Kỷ Sửu.
cpv.org.vn

Trả lời các nhà báo sau phiên họp đầu nǎm 1949 của Hội đồng Chính phủ (1-1949)(1)

1. Kết quả cuộc họp Hội đồng Chính phủ

Chính phủ đã kiểm điểm kỹ càng những thành công và những khuyết điểm trong nǎm vừa qua. Và đã chuẩn y những chương trình cùng kế hoạch của các bộ trong nǎm 1949.

Khẩu hiệu mới của tất cả chúng ta là: Tất cả mọi ngành hoạt động đều nhằm vào kháng chiến thắng lợi.

2. Kháng chiến sang giai đoạn thứ hai

Sự thất bại của Pháp và sự thắng lợi của ta ở Việt Bắc 1947 đã mở đầu giai đoạn thứ hai.

Hiện nay, nhiệm vụ của Chính phủ, của quân đội và của nhân dân ta là ra sức thực hiện chiến lược cầm cự vàchuẩn bị tổng phản công, để đi đến thắng lợi cuối cùng.

3. Trung Quốc và Nam Dương với ta

Thực dân Hà Lan lừa gạt Nam Dương làm cho đồng bào càng thấy rõ rằng: chủ trương trường kỳ kháng chiến của ta là rất đúng, và do đó càng thêm kiên quyết kháng chiến.

Sau kinh nghiệm đau đớn ấy, nhân dân Nam Dương đang tích cực tranh đấu cho đến thắng lợi.

Nhân dân Trung Hoa là một phần nhân dân toàn thế giới. Dân chủ Trung Hoa thắng lợi, ắt sẽ có ảnh hưởng lớn đến toàn thế giới mà Việt Nam ta là một bộ phận.

4. Thái độ ta đối với Vĩnh Thuỵ

Ông Vĩnh Thuỵ đã trịnh trọng thề trung thành với Tổ quốc, với nhân dân và Chính phủ.

Nếu ông ấy cam tâm buôn dân bán nước, thì ông ấy sẽ bị tội phản quốc như những kẻ phản quốc khác.

5. Tin đồn hiệp ước giữa Mao – Hồ

Thực dân Pháp chẳng những phao tin, mà lại đǎng hẳn hoi lên báo một bản hiệp ước bí mật giữa Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh. Điều sau cùng của bản hiệp ước ấy là người Trung Quốc và người Việt Nam có thể lấy nhau làm vợ chồng được!

Việc này tỏ rằng:

– Bọn thực dân rất hoang mang, sợ bóng, sợ gió.

– Chúng có bệnh nói láo “vô trung sinh hữu”.

– Chúng khinh dân Pháp và người thế giới, tưởng nói dại, nói dột thì họ cũng nghe.

– Chúng muốn dùng tài liệu giả dối ấy để cầu cứu với nước khác, vì chúng tự thấy thất bại đã đến nơi rồi.

Tục ngữ ta có câu: Chó dại cắn quàng, là thế.

6. Càng gần thắng lợi càng phải gắng

Với hoàn cảnh thuận lợi trong thế giới, với tình hình gay go ở nước Pháp, với sự tiến bộ về mọi mặt của nước ta, bây giờ ta chắc chắn thắng lợi hơn bao giờ hết.

Nhưng càng gần đến thắng lợi thì càng nhiều sự khó khǎn. Vậy, tôi cần nhắc lại rằng: chúng ta tuyệt đối chớ chủ quan, chớ khinh địch. Nhân dân, quân đội và Chính phủ cần phải đẩy mạnh tinh thần thi đua ái quốc, cố gắng hơn nữa, cẩn thận hơn nữa, để nắm chặt lấy thắng lợi về ta.

Trả lời cuối tháng 1-1949.

Báo Cứu quốc , số 1164, ngày 11-2-1949.
cpv.org.vn

————————–

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Thư chúc Tết đồng bào trong vùng tạm bị địch chiếm (2-2-1949)

Đồng bào yêu quý,

Nhân dịp Nguyên đán nǎm Kỷ Sửu, tôi nhân danh Chính phủ, quân đội và đồng bào toàn quốc, gửi lời thân ái chúc các đồng bào nǎm mới.

Trong ngày trời xuân tươi ấm, Tết nhất vui vẻ, đại gia đình Việt Nam ở vùng tự do sum họp vui vầy, để tưởng nhớ đến tổ tiên và hân hoan cùng con cháu, tôi ngậm ngùi nghĩ đến đồng bào.

Cũng ngày tốt lành, trời Nam đất Việt, mà các đồng bào phải riêng chịu sự lạnh lùng, nhục nhã, cơ cực, tức buồn dưới gót sắt lũ quỷ thực dân tàn bạo.

Mắt tôi như trông thấy các cụ tuổi cao tóc bạc đang đau xót, tức giận trước một cảnh tượng điêu tàn.

Mắt tôi như trông thấy những gia đình túng thiếu khổ sở, đã vất vả về vật chất, càng cay đắng về tinh thần.

Mắt tôi như trông thấy các cháu nam nữ thanh niên đau xót, hoặc bị truỵ lạc, hoặc bị giày vò, đang ngóng đợi ngày mai tươi sáng.

Mắt tôi như trông thấy các cháu nhi đồng, đang run rẩy bồi hồi như những đàn chim con bị mưa sa gió bão.

Tôi rất đau lòng thương xót đồng bào tạm lâm vào hoàn cảnh ấy, vì lũ thực dân hung ác, nhưng một phần cũng vì tôi, người phụ trách số phận đồng bào, chưa lập tức xua đuổi được loài thú dữ và cứu vớt ngay đồng bào ra khỏi địa ngục thực dân.

Nhân dịp nǎm mới, tôi trịnh trọng hứa với đồng bào rằng:

Chính phủ và quân đội ta kiên quyết kháng chiến đến cùng, để tranh lại thống nhất và độc lập cho Tổ quốc, để mau mau giải phóng đồng bào ra khỏi cảnh lầm than. Đồng thời, tôi thiết tha khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ, giữ vững tinh thần, giúp đỡ chiến sĩ ta, sẵn sàng để diệt địch. Bất kỳ già trẻ gái trai, mỗi người Việt Nam ở trong vùng tạm bị địch chiếm phải là người đào mồ chôn quân địch. Sự giải phóng của đồng bào, một phần do Chính phủ ta phụ trách, mà một phần cũng ở trong tay đồng bào. Mà ngày giải phóng ấy sẽ không xa.

Đối với những kẻ cố ý hại dân, cam tâm phản quốc, phép nước sẽ không khoan hồng, quốc dân sẽ không tha thứ. Còn những người vì một cớ gì mà đi lầm đường, như đi lính hoặc làm công cho giặc chẳng hạn, tôi thiết tha kêu gọi những người này mau mau quay về với Tổ quốc. Chính phủ sẽ luôn luôn rộng lượng với những ai biết cải tà quy chính, trọng thưởng những ai biết đái tội lập công.

Đồng bào yêu quý,

Nǎm mới, tôi chúc đồng bào mạnh khoẻ, cố gắng và sẵn sàng để đón tiếp ngày giải phóng vẻ vang.

Còn với các cháu thanh niên và nhi đồng, Bác không có quà Tết gì, chỉ gửi các cháu nhiều cái hôn âu yếm.

Chào thân ái và quyết thắng
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, chi nhánh số 6, ngày 2-2-1949.
Sách Hồ Chí Minh Toàn tập, xuất bản lần thứ nhất,
Nxb Sự thật, Hà Nội, 1985, t.5, tr.190-192.
cpv.org.vn