Tag Archive | Tập 5 (1947 – 1949)

Trả lời nhà báo Mỹ S. Êli Mâysi (9-1947)(1)

1. Hỏi : Thưa Chủ tịch, vấn đề Việt Nam có nên coi như một vấn đề quốc tế không? hay chỉ nên coi như là một vấn đề Việt – Pháp trong khối Liên hiệp Pháp?

Đáp : Cái đó còn tuỳ hoàn cảnh sau này. Nếu chiến sự cứ tiếp tục, vấn đề Việt Nam nhất định trở nên vấn đề quốc tế. Nhưng nếu hai bên Việt và Pháp có thể thoả thuận với nhau để mau chấm dứt cuộc chiến tranh, vấn đề Việt Nam chỉ còn giữa nước Pháp và Việt Nam thôi.

2. Hỏi : Ngài có cho rằng giữa nước Việt Nam và Chính phủ Pháp còn có thể thoả hiệp được không?

Đáp: Rất có thể có sự thoả hiệp, với điều kiện là nước Pháp thành thực công nhận thống nhất và độc lập của nước Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp.

3. Hỏi: Nếu có một cuộc điều đình với nước Pháp, thì Việt Minh sẽ sẵn sàng hợp tác với những phần tử Việt Nam nào?

Đáp : Cuộc kháng chiến là một vấn đề sinh tử của dân tộc Việt Nam. Đó không phải là một vấn đề đảng phái. Chính phủ Việt Nam gồm một đa số các người không đảng phái và một thiểu số đại biểu các đảng ái quốc trong số đó Việt Minh chiếm con số rất nhỏ.

4. Hỏi : Theo ý Ngài, ông Vĩnh Thụy có đủ tư cách để điều đình với người Pháp không?

Đáp: Ông Vĩnh Thuỵ là Cố vấn trong Chính phủ Dân chủ Cộng hoà Việt Nam đã tuyên thệ trung thành trước Quốc hội, trước chính phủ và trước quốc dân. Ông ta chỉ có tư cách đứng ra điều đình khi nào được Chính phủ Cộng hoà Việt Nam uỷ quyền.

5. Hỏi : Trước những tin đồn rằng Bảo Đại hiện nay chịu ảnh hưởng người Mỹ, Ngài nghĩ sao?

Đáp : Tôi chả nghĩ gì cả. Những tin đồn là những tin đồn. Xin để người Pháp kiểm soát lại những tin đồn đó.

6. Hỏi : Tại sao từ trước tới nay, Ngài không thử đem vấn đề Việt Nam ra trước Liên hợp quốc?

Đáp : ấy vì chúng tôi còn tin tưởng vào sự khôn ngoan của dân chúng Pháp.

7. Hỏi: Nếu cuộc điều đình không tiếp tục lại một ngày gần đây, Chính phủ Ngài sẽ định thái độ ra sao?

Đáp: Chúng tôi sẽ tiếp tục tranh đấu cho tới khi nào giành được thống nhất và độc lập cho Tổ quốc chúng tôi.

8. Hỏi: Ngài có tin rằng nước Việt Nam độc lập có thể làm tròn nhiệm vụ do địa thế quân sự rất quan trọng của nước Ngài tại Đông Nam á châu đặt ra không?

Đáp : Tôi hoàn toàn chắc chắn làm được.

9. Hỏi : Ngài cho biết những đại cương chính sách đối ngoại của nước Việt Nam (thứ nhất là dựa theo tình thế quốc tế hiện giờ)?

Đáp : Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai.

10. Hỏi : Thưa Chủ tịch, thật là một điều đại vinh hạnh cho tôi đã được Chủ tịch trả lời những câu hỏi trên đây. Nhân tiện tôi xin tỏ lòng cảm ơn Ngài, cũng tỏ lòng thành kính đối với Ngài, lòng thành kính mà tôi đã có từ ngày gặp Ngài trên đất Pháp, tại khách sạn Môngxô.

Đáp : Tôi gửi Ngài lời chào thân ái.

Trả lời tháng 9-1947.

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.42-43.
cpv.org.vn

——————————

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Điện vǎn trả lời chi bộ Đảng xã hội Pháp ở Sài Gòn (1-10-1947)

Lập trường của chúng tôi vẫn như trước, không thay đổi, ấy là nền độc lập và sự thống nhất của nước Việt Nam, ấy là tinh thần hữu hảo, sự tin cậy và sự hợp tác giữa hai dân tộc Việt – Pháp. ấy là chính sách đã được Thủ tướng Lêông Blum và Hội nghị Liông bênh vực. Thế mà, để trả lời cho chính sách ấy, bộ chỉ huy Pháp vừa mở một cuộc tấn công mùa đông rộng lớn, và người ta tìm cách giấu không cho nhân dân Pháp biết rõ sự thật ấy. Chính phủ và nhân dân Việt Nam lúc nào cũng sẵn sàng chấm dứt cuộc xung đột, và đặt lại nền hoà bình một khi mà nước Pháp trịnh trọng tuyên bố nhìn nhận nền độc lập và sự thống nhất của chúng tôi.

Chào thân ái
Tháng 10 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Những lời kêu gọi của
Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1958, t.1, tr. 221.
cpv.org.vn

Lời nói chuyện trong buổi lễ bế mạc lớp bổ túc trung cấp (10-10-1947)

Hôm nay tôi không muốn làm diễn vǎn. Tôi chỉ hỏi các chú một vài câu. Ai trả lời được thì giơ tay lên.

Mục đích của toàn dân và bộ đội trong giai đoạn này là gì?

Một học viên đáp:

– Thưa Cụ, mục đích của dân và bộ đội trong giai đoạn này là phải kháng chiến.

– Muốn kháng chiến có thắng lợi phải thế nào?

Một học viên khác trả lời :

– Muốn kháng chiến thắng lợi cán bộ phải cho tốt.

– Muốn thành cán bộ tốt phải thế nào?

Vấn đề này các chú chưa thạo.

Một người cán bộ tốt phải có đạo đức cách mạng. Quân sự giỏi song nếu không có đạo đức cách mạng thì khó thành công. Muốn có đạo đức cách mạng phải có 5 điều sau đây:

Trí – Tín – Nhân – Dũng – Liêm.

Nói rõ nghĩa:

Trí : Là sáng suốt, biết địch biết mình, biết người tốt thì nâng đỡ, biết người xấu thì không dùng, biết cái tốt của mình mà phát triển lên, biết cái xấu của mình để mà tránh.

Tín : Nói cái gì phải cho tin – nói và làm cho nhất trí – làm thế nào cho dân tin – cho bộ đội tin ở mình.

Nhân : Là phải có lòng bác ái – yêu nước, yêu đồng bào, yêu bộ đội của mình.

Dũng: Là phải mạnh dạn, quả quyết nhưng không phải làm liều. Phải có kế hoạch, rồi kiên quyết làm ngay. Nguy hiểm cũng phải làm. Nghĩa là phải có lòng dũng cảm trong công việc.

Liêm: Là không tham danh vị, không tham sống, không tham tiền, không tham sắc. Người cán bộ đã dám hy sinh cho Tổ quốc, hy sinh cho đồng bào, hy sinh vì nghĩa, thì không tham gì hết. Các chú phải nhớ lấy 5 điều trên.

– Người ta ai cũng có tính tốt và tính xấu. Muốn sửa tính xấu phải làm thế nào?

– Tự phê bình rồi lại phải phê bình người khác nữa. Ví dụ: tôi làm điều xấu, các đồng chí trông thấy, phải phê bình cho tôi sửa chữa ngay. Nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy, lại lấy cớ “nể Cụ” không nói, là tôi mang nhọ mãi. Nhọ ở trên trán thì không quan trọng, nhưng nếu có vết nhọ ở trong óc, ở tinh thần, mà không nói cho người ta sửa tức là hại người. Trong số các đồng chí có hơn 50 người nếu mỗi người có một khuyết điểm, thì đã có một số khuyết điểm lớn. Trong những bức thư tôi nhận được của các đồng chí về việc kiểm điểm những lầm lỗi của mình, tôi tìm được 150 khuyết điểm. Thấy cái xấu của người mà không phê bình là một khuyết điểm rất to. Không phê bình, tức là để cho cái xấu của người ta phát triển.

– Các đồng chí là một đoàn thể, một gia đình thì phải thật thà đoàn kết. Đoàn kết và kỷ luật làm cho bộ đội mạnh, đoàn thể mạnh. Nếu ta không trọng kỷ luật, thì ta làm cho bộ đội yếu đi, đoàn thể yếu đi. Một mệnh lệnh gì từ trên xuống, của Bộ Quốc phòng hay Bộ tổng chỉ huy đều phải đến khu, đến các trung đoàn, các đoàn thể và phải xuống tới tận người đội viên. Nếu mệnh lệnh đến khu rồi mắc nghẽn không xuống dưới nữa, tức là khu không theo kỷ luật. Bộ đội sẽ kém sức mạnh. Mệnh lệnh cũng như dòng

máu chảy từ tim ra đến đầu, các tứ chi. Nếu chảy đến tay mà mắc nghẽn, thì tay bại. Tay bại người sẽ yếu đi. Các đồng chí cũng biết thời gian là quý. Dụng binh thắng bại nhiều lúc quyết định trong nǎm, mười phút. Vậy các đồng chí phải làm sao cho những mệnh lệnh ở trên xuống được nhanh chóng và thi hành chu đáo.

– Người cán bộ muốn tốt thì phải có đạo đức cách mạng, phải biết phê bình và tự phê bình, phải biết kỷ luật. Tôi nói mấy lời trên, các đồng chí có giữ được không?

Báo Vệ quốc quân,
số 15, ngày 10-10-1947.
cpv.org.vn

Thư khen ngợi hai cụ già du kích Kiến An (21-10-1947)

Kính gửi hai cụ,

Hai cụ thật xứng đáng với tổ tiên oanh liệt của ta, các phụ lão đời Trần đời Lê, chẳng những kêu gọi con cháu, mà tự mình hǎng hái tay chống gậy, tay cầm dao giết giặc cứu nước.

Ngày 21 tháng 10 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Những lời kêu gọi của
Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1958, t.1, tr. 222.
cpv.org.vn

Thư gửi những người Nam Bộ trong quân đội Pháp (10-1947)

Đồng bào Nam Bộ có tiếng rất yêu nước, rất anh hùng. Cuộc kháng chiến anh dũng hơn hai nǎm nay đã chứng rõ điều đó.

Có những đồng bào Nam Bộ muốn giúp nước bởi một con đường khác: Họ theo vào quân đội Pháp, để giúp ta bên trong. Đó là một khổ tâm mà tôi biết rõ, vì tôi đã nhận được nhiều chứng thực.

Vậy, những đồng bào đó, lúc còn ở trong bộ đội địch, thì cần phải tìm đủ mọi cách để giúp quân đội ta. Khi có cơ hội thì lập tức chạy qua với bộ đội ta. Chính phủ và đồng bào luôn luôn sẵn sàng hoan nghênh các bạn.

Tháng 10 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam,
1949, t.2, tr.44.
cpv.org.vn

Thư gửi ông Giám đốc và toàn thể nam nữ giáo viên bình dân học vụ khu III (10-11-1947)

Ngày 10 tháng 11 nǎm 1947

Tôi rất vui lòng nhận được báo cáo rằng trong tháng vừa rồi toàn khu đã có:

2.030 làng hoạt động 7.768 lớp học

8.153 giáo viên 328.308 học trò

42 lớp huấn luyện cho giáo viên và 1.182 giáo viên dự bị.

Tôi lại đặc biệt khen ngợi tỉnh Hải Dương đã có 6 làng mà tất cả nhân dân đều biết chữ, là những làng Vǎn Lâm, Lai Cầu, Vǎn Xương, Hạnh Tân, Đông Đào, Thống Đô.

Được thành tích tốt đó, là nhờ sự chỉ đạo khôn khéo của ông giám đốc và sự hǎng hái cố gắng của toàn thể anh chị em giáo viên.

Tuy vậy theo báo cáo thì khu III đang còn hơn 381.000 đồng bào chưa biết chữ. Tôi mong rằng ông giám đốc, các giáo viên và các cơ quan đoàn thể cố gắng làm thế nào để chừng tháng 6 nǎm sau toàn thể nhân dân khu III từ 8 tuổi trở lên đều biết chữ. Đó sẽ là một cuộc thắng lợi, mà khu III sẽ là một khu kiểu mẫu.

Đồng thời tôi mong rằng các lớp bình dân học vụ chẳng những dạy cho đồng bào học chữ, làm tính mà dạy thêm về công cuộc kháng chiến, cứu nước, tǎng gia sản xuất, giúp mùa đông binh sĩ, giúp đồng bào tản cư, khoa học thường thức.

Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn và khen ngợi ông giám đốc và tất cả nam nữ giáo viên đã xung phong dũng cảm trên mặt trận vǎn hoá và chắc rằng ở mặt trận này chúng ta sẽ thắng lợi như mọi mặt trận khác.

Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH

Sách Những lời kêu gọi của
Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1958, t.1, tr. 223-224.
cpv.org.vn

Thư gửi đồng bào xã Duyên Trang, huyện Tiên Hưng, Thái Bình (13-11-1947)

Tôi nhận được báo cáo rằng sau kỳ thi ngày 6-9 nǎm nay, toàn dân xã Duyên Trang từ tám tuổi trở lên đều thoát nạn mù chữ.

Về mặt vǎn hoá, đó là một cuộc đại thắng lợi của dân ta, nhất là cho đồng bào làng ta. Tôi rất sung sướng thay mặt Chính phủ gửi lời khen ngợi đồng bào toàn xã, và cảm ơn các vị phụ lão thân hào đã ra sức giúp đỡ, các cán bộ bình dân học vụ đã cố gắng dạy dỗ.

Nhưng học hành là vô cùng. Học càng nhiều biết càng nhiều càng tốt, vậy tôi khuyên đồng bào trong xã gắng học thêm thường thức như làm tính, lịch sử, địa dư, chính trị, vệ sinh. Đồng thời cố gắng tǎng gia sản xuất ủng hộ kháng chiến.

Đồng thời tôi khuyên đồng bào các xã xung quanh phải theo gương vẻ vang của xã Duyên Trang gắng sức học hành, để tiêu diệt giặc dốt, làm cho huyện Tiên Hưng thành một huyện kiểu mẫu.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 13 tháng 11 nǎm 1947

Sách Những lời kêu gọi của
Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1958, t.1, tr.225.
cpv.org.vn

Lời tuyên bố với các nhà báo về cuộc gặp gỡ Bảo Đại – Bôlae (8-12-1947) (1)

Trong lúc toàn thể đồng bào hy sinh tranh đấu đòi thống nhất và độc lập thì Cố vấn Vĩnh Thuỵ trú ở nước ngoài không hiểu rõ tình hình trong nước. Vả lại Cố vấn Vĩnh Thuỵ ở xa, không khỏi bị những thám tử Pháp như bọn Cutxô (Cousseau) bưng bít và những người vô xỉ như Nguyễn Hải Thần, Lê Vǎn Hoạch, v.v. bao vây, cho nên Cố vấn Vĩnh Thuỵ rất có thể nghe những lời hứa hẹn suông của bọn thực dân Pháp, mà đi gặp chúng.

Nếu Cố vấn Vĩnh Thuỵ biết rõ tình hình trong nước thì chắc Cố vấn không bị chúng lừa bịp.

Cố vấn Vĩnh Thuỵ cũng thừa hiểu rằng: Thực dân phản động Pháp rất mực xảo quyệt, khi còn ở ngoài vòng thì gì chúng cũng hứa, một khi đã vào tròng thì sẽ bị chúng thắt chặt. Lúc đó phàn nàn thì đã trễ rồi.

Chính phủ ta và nhân dân ta rất mong Cố vấn Vĩnh Thuỵ không có những hành động trái ngược với những lời Cố vấn đã thề trước Tổ quốc và trước đồng bào, trái với nguyện vọng của dân tộc. Dù sao vận mệnh của dân tộc sẽ không vì một người, hoặc một nhóm người mà thay đổi.

Chính phủ ta, toàn thể đồng bào và toàn thể tướng sĩ ta đã đồng tâm nhất trí, kiên quyết kháng chiến, tranh cho kỳ được thống nhất và độc lập thật sự. Bất kỳ mưu mô gì, bất kỳ lực lượng nào cũng quyết không thể lừa gạt hoặc giảm bớt lòng kiên quyết của dân ta hoặc trở ngại cuộc thắng lợi cuối cùng của dân ta.

Nói ngày 8-12-1947.
Báo Sự thật, số 88,
ngày 19-12-1947.
cpv.org.vn

—————————–

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Điện gửi Giám mục Lê Hữu Từ (8-12-1947)

Gửi Giám mục Lê Hữu Từ
Phát Diệm – Ninh Bình,

Nhân dịp Lễ Nôen, tôi kính chúc cụ mọi sự lành để phụng sự Đức Chúa và để lãnh đạo đồng bào công giáo tham gia kháng chiến, đặng tranh lại thống nhất và độc lập cho Tổ quốc. Tôi nhờ cụ chuyển lời tôi chúc phúc cho toàn thể đồng bào công giáo.

Ngày 8 tháng 12 nǎm 1947
Chủ tịch Chính phủ Việt Nam
HỒ CHÍ MINH

Bản đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh
lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Lời kêu gọi nhân kỷ niệm một nǎm kháng chiến toàn quốc (19-12-1947)

Hỡi đồng bào toàn quốc,

Hỡi toàn thể tướng sĩ Vệ quốc quân, dân quân, du kích,

Thấm thoắt toàn quốc kháng chiến đã chẵn một nǎm và kháng chiến ở miền Nam đã 27 tháng.

Từ ngày đầu, bọn quân phiệt thực dân khoe miệng rằng: chóng thì dǎm tuần, chậm thì 3 tháng, chúng sẽ chinh phục ta, nhưng nay đã trải qua mấy lần dǎm tuần, mấy lần 3 tháng, chúng đã được kết quả gì?

Chúng mất hơn 20.000 lính Pháp chết và bị thương. Chúng tốn hơn 3.000 triệu bạc. Chúng chiếm mấy thành thị đã hoá ra đống tro tàn. Chúng đã mua chuộc được một lũ bất trung, bất hiếu làm bù nhìn, nhưng lũ đó đều bị toàn dân phỉ nhổ. Bao nhiêu đồn điền, mỏ than, nhà buôn, xưởng máy của chúng đều bị tan hoang. Chính phủ ở Pháp và bộ chỉ huy của chúng ở đây đã phải thay đổi mấy lần. Vì chết nhiều người, tốn nhiều của mà nhân dân Pháp đã lên tiếng phản đối cuộc chiến tranh phi nghĩa này.

Đó là cái kết quả mà bọn thực dân phản động đã lượm được, một thứ kết quả trái hẳn với hy vọng của chúng.

Còn về phía ta thì thế nào?

Chúng ta biết trước rằng kháng chiến ắt phải gay go, phải trường kỳ, nhưng chắc chắn sẽ thắng lợi.

Vì vậy, mặc dầu gian nan cực khổ, nhân dân ta ngày càng đoàn kết, càng hǎng hái, càng kiên quyết kháng chiến cho đến thắng lợi cuối cùng.

Chiến sĩ ta càng nhiều kinh nghiệm, càng thêm rèn luyện, càng thêm dũng cảm, những trận oanh liệt ở Mỹ Tho, ở đèo Hải Vân, ở sông Lô, ở Thất Khê, v.v., đã làm địch kinh hồn mất vía.

Chính phủ ta ngày càng thêm oai tín, càng được ủng hộ vì là một Chính phủ kiên quyết kháng chiến, một Chính phủ đại đoàn kết, một Chính phủ đồng cam cộng khổ với dân, một Chính phủ của dân.

Ngoài mấy thành thị đã hoang tàn thì thôn quê khắp cả nước đều vẫn ở trong tay ta.

Đó là cái kết quả tiến bộ mà ta lượm được sau một nǎm kháng chiến, một thứ kết quả như ta đã đoán trước, mà kết quả đó ngày càng mở rộng, tuy vậy bọn thực dân phản động không cướp được, thì chúng sẽ phá, không thắng được, thì chúng sẽ cắn mấy miếng cho đã nư. Chúng sẽ tấn công vùng này rồi đến vùng khác. Lực lượng của chúng cũng như mặt trời vào lúc hoàng hôn, hống hách lắm nhưng đã gần tắt nghỉ.

Cho nên dân và quân ta phải luôn gắng sức, cẩn thận, chuẩn bị, đề phòng, luôn luôn tấn công địch và phá hoại địch, tuyệt đối chớ tự kiêu, chớ khinh địch, dù lực lượng của ta ngày càng thêm mạnh, như suối mới chảy, như lửa mới nhóm, chỉ có tiến, không có thoái.

Hỡi đồng bào toàn quốc,

Hỡi toàn thể tướng sĩ,

Nhân dịp kỷ niệm một nǎm kháng chiến toàn quốc, tôi thay mặt Chính phủ kính cẩn nghiêng mình trước anh hồn các chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh vì nước, và gửi lời thân ái hỏi thǎm các chiến sĩ và đồng bào bị thương cùng gia quyến các tướng sĩ. Tôi khen ngợi và khuyên gắng:

– Các tướng sĩ từ Bắc đến Nam, đang dũng cảm xung phong giết địch, quyết đem xương máu giữ vững nền thống nhất và độc lập cho nước nhà.

– Cán bộ chuyên môn và anh em công nhân, hǎng hái ra sức cung cấp võ khí tinh xảo và đầy đủ cho bộ đội.

– Anh em công chức, cực khổ khó nhọc, không hề phàn nàn, luôn luôn tận tuỵ làm trọn nhiệm vụ.

– Toàn thể đồng bào hậu phương tǎng gia sản xuất, giúp đỡ bộ đội công tác phá hoại, tham gia kháng chiến bằng cách này hoặc bằng cách khác.

– Những đồng bào đã hy sinh hết cả cơ đồ sản nghiệp, chịu khổ mà di cư, tản cư, gián tiếp gánh một phần kháng chiến, cùng những đồng bào trong vùng bị địch chiếm, dù bị địch đe doạ lừa gạt, nhưng luôn luôn giữ vững tinh thần, luôn luôn tin tưởng về Chính phủ và Tổ quốc.

– Các cháu nhi đồng, có cháu thì giúp bộ đội lập chiến công, có cháu thì giúp tǎng gia sản xuất, hoặc tuyên truyền cổ động. Thật xứng đáng là con cháu Phù Đổng Vương và Trần Quốc Toản

– Các kiều bào ta ở hải ngoại, mình tuy sống ở nước ngoài, nhưng luôn luôn hết lòng giúp Tổ quốc.

Tôi lại xin thay mặt dân tộc Việt Nam, cảm ơn anh em dân tộc châu á và những bạn ở các hữu bang, đã giữ gìn chính nghĩa, mà ủng hộ nước ta.

Tôi cũng cảm ơn những tầng lớp nhân dân Pháp, đã bằng lời nói hoặc bằng việc làm, phản đối bọn thực dân phản động.

Hỡi đồng bào toàn quốc,

Hỡi toàn thể tướng sĩ,

Nhân dịp này, tôi trịnh trọng nhắc lại rằng:

Nhân dân Việt Nam sẵn sàng cộng tác thân thiện với nhân dân Pháp, song nhân dân Việt Nam quyết không đầu hàng, quyết không chịu mất nước, quyết không chịu làm nô lệ một lần nữa.

Và Chính phủ Hồ Chí Minh thề quyết lãnh đạo nhân dân và quân đội chiến đấu đến cùng, để phá tan xiềng xích của bọn thực dân, để tranh lại quyền thống nhất và độc lập. Chính phủ Hồ Chí Minh quyết làm trọn cái nhiệm vụ vẻ vang mà quốc dân đã giao cho, và quyết không phụ lòng tin cậy mà đồng bào đã đặt vào Chính phủ.

Hỡi đồng bào toàn quốc và toàn thể tướng sĩ!

Chúng ta cứ mạnh dạn tiến lên!

Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi!

Thống nhất độc lập nhất định thành công!

Bắc Bộ, ngày 19 tháng 12 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam,
1949, t.2, tr.46-48.
cpv.org.vn

Thư gửi cán bộ khu I nhân kỷ niệm một nǎm toàn quốc kháng chiến (19-12-1947)

Sau một nǎm kháng chiến, chúng ta cần phải xét lại kinh nghiệm trong một nǎm vừa qua, để cố gắng phát triển những ưu điểm, và sửa chữa những khuyết điểm.

Từ ngày kháng chiến anh em cán bộ khu I vẫn cố gắng sức. Ưu điểm cũng có một ít, những khuyết điểm chính cần phải sửa chữa ngay:

1. Dân vận kém: Đồng bào thiểu số rất trung thành, chịu khó. Thường bỏ công việc làm ǎn để giúp việc phá hoại, tiếp tế, giao thông, v.v..

Nhưng đối với ý nghĩa kháng chiến, Dân chủ Cộng hoà, nhiệm vụ của dân trong lúc kháng chiến và quyền lợi hạnh phúc khi kháng chiến thành công, vì sao phải đoàn kết chặt chẽ, tǎng gia sản xuất, v.v, thì chưa hiểu thấu.

Đó là vì cán bộ chính trị chưa biết giải thích rõ ràng, chưa biết tuyên truyền giảng giải.

2. Chiến công kém: Các khu khác đã lập được những chiến công rực rỡ như trận Thất Khê, trận Sông Lô, v.v., thế mà khu I chưa có cuộc thắng trận nào vẻ vang. Đó là vì cán bộ quân sự chưa học tập được nhiều chiến lược, chiến thuật khôn khéo, chưa có mưu cơ, dũng cảm bằng người.

3. Trừ gian kém: Những cuộc địch tấn công Cao Bằng, Bắc Cạn, v.v., chứng tỏ địch lợi dụng Việt gian rất nhiều. Đó là vì công việc phòng gian của ta không chu đáo, cẩn thận.

Đó là vì công tác của công an còn sơ suất chưa làm tròn nhiệm vụ.

4. Công việc chưa được ngǎn nắp: Tất cả mọi tổ chức và công việc từ to đến nhỏ, từ cấp trên đến cấp dưới, đều chậm trễ rạc rời, chưa ngǎn nắp, chưa được bí mật, chưa được quân sự hoá.

Đó là vì toàn thể cán bộ chưa ra sức học kinh nghiệm, chưa cố gắng tìm tòi, để tổ chức và công tác cho hợp thời, hợp lúc.

Mong rằng các đồng chí cán bộ, chính trị, quân sự, chuyên môn từ đây sẽ dồn cả tinh thần, lực lượng, thi đua nhau, giúp đỡ nhau, khuyên gắng nhau mà sửa chữa những khuyết điểm nói trên. Làm sao cho khu I trở nên ngang hàng những khu hạng nhất trong nước, để chia một phần vinh dự trong cuộc kháng chiến thắng lợi này.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 19 tháng 12 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam,
1949, t.2, tr. 49-50.
cpv.org.vn

Thư gửi đồng bào và tướng sĩ khu II nhân kỷ niệm một nǎm toàn quốc kháng chiến (19-12-1947)

Trong một nǎm kháng chiến vừa qua, đồng bào khu II đã chịu nhiều gian nan cực khổ. Nhưng càng gian nan cực khổ, đồng bào ta càng đoàn kết, càng hǎng hái, càng tin tưởng vào sự thắng lợi cuối cùng của Tổ quốc, càng ra sức ủng hộ kháng chiến. Vệ quốc quân và dân quân du kích khu II với sức sốt sắng giúp đỡ đồng bào đã lập được ít nhiều chiến công khá.

Tôi chắc rằng qua nǎm kháng chiến mới, đồng bào và chiến sĩ sẽ cố gắng thêm nữa. Sao cho khu II sẽ đứng vào khu hạng nhất trong nước về quân sự, chính trị cũng như kinh tế và vǎn hoá. Để đi đến kết quả đó các cán bộ cần phải rũ sạch đầu óc địa phương, tổ chức cần phải hết sức có ngǎn nắp. Kế hoạch công tác cần phải thiết thực.

Tôi mong rằng từ nay khu II sẽ thường báo cáo thắng lợi về các phương diện.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 19 tháng 12 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam,
cpv.org.vn