Tag Archive | Lãnh tụ vĩ đại

Những vần thơ về Chủ tịch Hồ Chí Minh

Người

TT – Một người không Phật mà rất Phật
Không tắm Hoàng Hà tắm sông Lam

Một người rất Mác mà ngoài Mác
Nghèo như chút nhút ngọt như cam

Một người quốc tế vì dân tộc
Một lòng sau trước nghĩa kết đoàn

Một người hóa thân thành dân nước
Không là thần thánh chẳng vua quan

Một người mang đủ bao khao khát
Như mọi con người ở trần gian

Cuộc đời vạn biến mà không khác
Một người toàn vẹn chỉ Việt Nam.

VIỆT PHƯƠNG (2005)

Ảnh tư liệu

Di chúc của Người

… Bác bình yên viết Di chúc ngay giữa ngày sinh nhật
Khi non sông đang chúc thọ Người
Dẫu ra đi cũng là ngày gieo hạt
Giấu niềm đau dưới một ngày vui.
Di chúc không viết lên đá, khắc lên vàng chói lọi
Mà trên bản tin hằng ngày, lật lại,
Sau bản tin một hôm, Người ký thác chuyện muôn đời.
Người không muốn lúc ra đi làm ta đột ngột
Bảo cái sinh cái tử cũng thường thôi
Câu thơ Đỗ Phủ “cổ lai hi”, Người sẽ nhắc
Bác chẳng muốn ta cau vầng trán nhìn quy luật
Bác không nói tuổi già, Bác bảo tám mươi xuân!
Lời văn trong suốt trong veo như nước mắt,
Cái nỗi đau đã lọc đến trong ngần.

Ôi, muôn vàn tình thương yêu tỏa ra từ lúc ấy
Muôn vàn tình thương yêu tràn lên khắp núi sông
Ngỡ như trên nghìn đỉnh non cao, vạn dòng nước chảy
Có tình thương của Bác bao trùm.

Người sắp xa nhân dân từng yêu suốt một đời
Xa miền Nam nửa thế kỷ rồi chẳng gặp
Xa các cháu nhi đồng, mùa hoa Tổ quốc
Gần Mác, Lênin, nhưng sắp chia tay đồng chí đấy rồi!

Di chúc Người viết cho ta, đâu phải vì Người
Bác sợ khi Bác đi rồi, ta sẽ lạnh
Sợ ta đau, sợ rồi ta lơ đễnh,
Sợ ta quên…
Người gửi lại một niềm tin
Còn như Người, Người đã hóa hương sen,
Trở về cái làng Sen muôn thuở
Mắt rưng lệ, ta đọc Di chúc Người từng câu từng chữ
Ngỡ như trước mắt, trên cao đâu đó, Bác nhìn.

CHẾ LAN VIÊN
(19-3-1976 – trích)

____________________

Thấm trong di chúc

… Quá thương đời và lo nỗi dân đau,
Bác cố tránh nói những lời ly biệt
Mượn câu thơ để khuây lòng thương tiếc.
Ôi lòng Người đo sao hết mông mênh
Nghĩ việc gì Bác cũng nghĩ từ dân
Nói về Đảng cũng vì dân mà nói,
Nước còn giặc, dân còn khi lạnh đói
Bác đắng lòng trong mỗi miếng cơm ăn,
Thắng quân thù dẫu phải mấy mươi năm
Nhưng hạt thóc rụng giữa đồng Bác tiếc.
Nguồn biển lớn uống muôn đời không hết
Vẫn kính nhường từng hạt nước trong sông.
Bác Hồ ơi! Vị muối mặn con ăn
Đã kết đậm bao tình thương của Bác,
Manh áo ấm con mặc khi trở rét
Đã dệt vào trăm mối Bác lo toan.
Phút giã từ trong ánh mắt đăm đăm
Nỗi ưu ái lại trào lên lần chót:
Hãy giữ đức cho trong, giữ lòng cho khiết
Sống kiệm cần, tương kết tương thân…

… Thế kỷ này đâu phải đã bình yên
Trái tim lớn nặng niềm đau mặt đất.
Tình bè bạn, phút ra đi, còn nhắc
Dao cắt lòng nhưng vẫn ngập yêu tin.

Lần đầu tiên Bác nói đến niềm riêng,
Cả nước khóc nghe những lời dặn cuối.
Ôi trời rộng và núi cao vời vợi
Sông biển nào sánh được Bác thương ta!
Bữa cơm ăn vẫn quen nhút quen cà,
Lúc nhắm mắt xin dân đừng tang chế.
Ôi tim Bác sao mà mênh mông thế!
Gương trong ngần cho muôn thuở cùng soi.

Triệu lòng người cùng cất gọi: Bác ơi!
“Muôn vàn tình thương yêu” Bác gửi lại trong lời.

VŨ QUẦN PHƯƠNG
(12-1969 – trích)

Về ba bản Di chúc của Bác Hồ

Di chúc của Bác có ba bản: bản viết năm 1965, bản viết năm 1968 và bản cuối cùng viết năm 1969. Những năm 1966, 1967 Bác chỉ xem chứ không sửa.

Bản di chúc viết năm 1965 gồm ba trang, Bác tự tay đánh máy (ghi rõ nhân dịp mừng 75 tuổi), đây là nội dung cơ bản của Di chúc, tương đối hoàn chỉnh so với những gì chúng ta đã biết.

Bản viết năm 1968 dài sáu trang, Bác viết tay hoàn toàn. Bác đã xem lại bản năm 1965, viết thêm về những việc cần làm của Đảng. Bác viết cả hai mặt giấy, đó là thói quen của Người, hoặc viết trên giấy một mặt, đã là giấy trắng thì bao giờ cũng viết tay trên cả hai mặt.

Bản cuối cùng năm 1969, chỉ có một trang, Bác viết thêm đoạn mở đầu của Di chúc. Đây cũng là bản viết tay, Bác viết trên mặt sau của tờ Tin Nhanh Tham Khảo Đặc Biệt của TTXVN mà ngày nào Bác cũng đọc để nắm tình hình đất nước và thế giới. Bản tin đề ngày 3-5-1969.

Cả ba bản thảo gốc Di chúc của Bác Hồ hiện còn nguyên hiện trạng, chất lượng tốt, được bảo quản tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng. Bản trưng bày tại Bảo tàng Hồ Chí Minh là bản photocopy màu.

Tiến sĩ NGUYỄN THỊ TÌNH
(nguyên giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh)

tuoitre.vn

Báo Pháp viết về sự kiện Bác Hồ đến Marseille

Báo tin tức – Nhân kỷ niệm 100 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Pháp, báo La Marseillaise, nhật báo của vùng Provence ở miền nam nước Pháp, đã dành trọn một trang khổ A3 và dòng tiêu đề chữ lớn ngay trang nhất của báo để giới thiệu sự kiện này, qua bài viết “Cách đây 100 năm, Hồ Chí Minh khám phá Marseille”.

Con tàu Đô đốc Latouche Tréville đã đưa người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đến Pháp.

Báo đăng toàn văn bài phỏng vấn ông Nguyễn Văn Bổn, Phó Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Pháp về những hoạt động của Bác khi tới thành phố Marseille của Pháp trên hành trình tìm đường cứu nước và sử dụng bức tranh minh họa vẽ Bác Hồ trên con tàu Đô đốc Latouche Tréville trên đường tới Pháp.

Trả lời các câu hỏi của phóng viên Leo Purguette, ông Nguyễn Văn Bổn đã giới thiệu với độc giả thành phố biển Marseille về sự kiện người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh đặt chân tới thành phố này cách đây 1 thế kỷ, cũng như những nhận thức của Bác về các vấn đề “giai cấp,” “thuộc địa,” “chủ nghĩa xã hội”… trước khi Bác đi tìm đường cứu nước. Ông đã giúp độc giả Pháp tìm hiểu vì sao Bác Hồ lại tìm đường tới nước Pháp, thấy được ý nghĩa của những chuyến khám phá đầu tiên này đối với cả sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như tình cảm của kiều bào Việt Nam tại Pháp đối với Bác Hồ.

Báo La Marseillaise đăng bài viết đúng dịp triển lãm “Bác Hồ với nước Pháp” diễn ra tại thành phố Marseille.

Bà Hélène Luc, Chủ tịch Hội hữu nghị Pháp – Việt, nhấn mạnh, cuộc triển lãm về cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh giúp tăng cường và phát triển những giá trị của tình đoàn kết Pháp – Việt.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nỗ lực phát triển tình đoàn kết giữa hai nước Việt Nam và Pháp. Những người cộng sản Pháp đầu tiên đã đón nhận người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc vào hàng ngũ của mình tại Đại hội Tours năm 1920. Sau đó, những nhà cách mạng Pháp như Henri Barbusse, Romain Roland đã hết lòng ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Nam trong cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp và vận động công luận Pháp phản đối Hoa Kỳ xâm lược Việt Nam. Ngày nay, Hội hữu nghị Pháp – Việt sẽ tiếp tục ủng hộ Việt Nam trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, đưa ra nhiều sáng kiến ủng hộ cuộc đấu tranh đòi công lý cho các nạn nhân chất độc da cam Việt Nam.

Lê Hà (P/v TTXVN tại Pháp)

baotintuc.vn

Trở lại nơi Bác Hồ viết Tuyên ngôn độc lập

Báo tin tức – Vào những ngày đầu tháng 9 lịch sử, chúng tôi có dịp trở lại ngôi nhà 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân, nơi Bác Hồ đã viết Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước ngày 2/9/1945. Ngôi nhà này đã được công nhận là Di tích Lịch sử văn hóa vào ngày 29/4/1979.

Những dấu ấn lịch sử

Dịp này, cán bộ của điểm di tích 48 Hàng Ngang- 35 Hàng Cân (Bảo tàng Hà Nội) đang chuẩn bị triển lãm chuyên đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bản Tuyên ngôn độc lập” dự kiến diễn ra trong quý IV/2011. Bà Nguyễn Thị Mai, phụ trách điểm di tích này cho biết: “Trưng bày dự kiến chia làm 3 phần: Ngôi nhà Hàng Ngang nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Bản Tuyên ngôn độc lập; Tư tưởng Hồ Chí Minh trong Bản Tuyên ngôn độc lập; Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kiên định giữ vững nền độc lập tự do. Những tư liệu, hiện vật, ảnh giới thiệu… tại triển lãm lần này do Bảo tàng Hà Nội, Bảo tàng Hồ Chí Minh và TTXVN hỗ trợ, cung cấp. Do điểm di tích này gắn với sự ra đời của Bản Tuyên ngôn độc lập nên triển lãm sẽ tập trung vào chủ đề này. Bản thân căn phòng, nơi Bác và các đồng chí Trung ương Đảng làm việc, tại tầng 2 của tòa nhà này, cũng đã là một minh chứng cho một thời khắc lịch sử của Cách mạng Việt Nam”.

Phần trưng bày ở tầng 1 tại 48 Hàng Ngang.

Theo bà Mai, trưng bày lần này sẽ có phần dành riêng liên quan đến chủ ngôi nhà 48 Hàng Ngang là gia đình nhà tư sản yêu nước Trịnh Văn Bô và lịch sử ngôi nhà 48 Hàng Ngang – nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử gắn liền với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. “Bên cạnh đó, triển lãm cũng làm nổi bật sự kế thừa truyền thống dân tộc của Bản Tuyên ngôn độc lập qua hai bản trích bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt- được nhìn nhận như là Bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Đại Việt thế kỷ XI và “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi – Bản Tuyên ngôn độc lập thứ 2 của Đại Việt thế kỷ XV. Và Bản Tuyên ngôn độc lập của Bác Hồ là kế thừa truyền thống đấu tranh giành độc lập tự do của dân tộc ta”, bà Mai cho biết thêm.

Nơi Bác Hồ họp với Thường vụ Trung ương Đảng (1945).

Nơi Bác Hồ viết Bản Tuyên ngôn độc lập (1945).

Được biết, trước đây, điểm di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn độc lập chỉ có tầng 1 và tầng 2 của tòa nhà 48 Hàng Ngang; phần còn lại do Chi cục Thuế Hoàn Kiếm sử dụng. Năm 2008, di tích này đã được UBND thành phố Hà Nội khôi phục nguyên gốc gồm cả tòa nhà 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân với diện tích mặt sàn hơn 443 m2. Trong khoảng thời gian năm 2008 – 2009, điểm di tích này tạm đóng cửa để tu sửa. Vào dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, nơi đây mới mở cửa trở lại với trưng bày chuyên đề “Học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, diễn ra từ tháng 5/2010. Hiện nội dung trưng bày này vẫn tiếp tục tại tầng 1 của ngôi nhà 48 Hàng Ngang.

Được sự giới thiệu của cán bộ điểm di tích 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân, chúng tôi đã có dịp gặp bà Hoàng Thị Minh Hồ, vợ ông Trịnh Văn Bô. Năm nay, dù 97 tuổi nhưng bà vẫn còn minh mẫn khi kể về những ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Bà Hoàng Thị Minh Hồ kể: “Ngôi nhà đã được ông bà sửa sang, tôn tạo theo lối kiến trúc hiện đại thời thuộc Pháp. Nhà có 4 tầng, tầng 1 làm cửa hàng bán tơ lụa tại 48 Hàng Ngang, còn phía 35 Hàng Cân là nơi để xe, kho hàng. Tầng 2 và tầng 3 có nhiều phòng dùng làm phòng tiếp khách, phòng ăn, phòng ngủ. Tầng 4 ngoài phòng để ở còn có một sân thượng phơi phóng. Ngôi nhà chạy dài theo kiểu “nhà ống” truyền thống, mặt trước là cửa hàng, còn mặt sau quay ra 35 phố Hàng Cân.

Lưu bút của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong sổ lưu niệm của di tích 48 Hàng Ngang- 35 Hàng Cân.

Do nằm ngay giữa khu buôn bán nhộn nhịp nên ngôi nhà 48 Hàng Ngang đã được chọn làm địa điểm đón Bác Hồ. Hơn thế, gia đình ông bà Trịnh Văn Bô là một gia đình yêu nước, được giác ngộ cách mạng và là một trong những cơ sở cách mạng tại nội thành, nên nơi đây đã được chọn làm nơi ở và làm việc của Bác cùng các đồng chí trong Thường vụ Trung ương Đảng trước ngày khởi nghĩa. Các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh đã đưa Bác đến ngôi nhà này. Xe ô tô đưa Bác không đỗ ở cửa trước mà đi vòng lối cổng sau thuộc phố Hàng Cân, vào tận sân trong.

Bà Hoàng Thị Minh Hồ kể: “Dịp cuối tháng 8/1945, gia đình tôi chỉ biết có một “thượng cấp” đến ở và làm việc. Khi các anh Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh dẫn Bác vào nhà, chúng tôi ra chào. Tôi còn nhớ Bác mặc rất giản dị, áo nâu, quần soóc nâu, đội mũ dạ. Chúng tôi đưa Bác lên gác 3, nơi tôi đã dọn sẵn một buồng, nhưng Bác lại xuống tầng 2 ở luôn cùng các đồng chí và làm việc tại đó. Đến ngày 2/9, khi Bác Hồ đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, gia đình tôi mới biết “thượng cấp” ở nhà chúng tôi chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bà Hoàng Thị Minh Hồ (thứ 2 từ trái sang).

“Những ngày tháng 8 này, tôi vẫn nhớ như in những ngày tháng hào hùng đó. Phố nào cũng có cờ đỏ sao vàng, người dân đổ ra đường đấu tranh, mít tinh giành độc lập. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố đất nước độc lập, người dân nào cũng vui vì từ nay không còn là người dân nô lệ nữa. Đó là điều sung sướng nhất”, bà Hoàng Thị Minh Hồ cho hay.

Làm sống động di tích

Đến điểm di tích 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân, chúng tôi được chị Nguyễn Bích Hạnh, cán bộ điểm di tích dẫn đi thăm, giới thiệu về ngôi nhà, chỉ dẫn nơi Bác đã ở và làm việc tại ngôi nhà này từ ngày 25/8 đến đầu tháng 9/1945; nơi Bác cùng Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định nhiều chủ trương quan trọng về đối nội, đối ngoại trong tình hình mới; về thể chế và thành phần của Chính phủ mới, về tổ chức ngày lễ Độc lập… Cũng chính tại căn phòng ở tầng 2 của ngôi nhà này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây cũng là văn kiện pháp lý, tuyên bố với toàn thế giới về quyền độc lập tự do của Việt Nam.

Chị Hạnh cho biết, du khách vào thăm điểm di tích này chủ yếu là khách nước ngoài; còn khách nội địa chủ yếu theo đoàn đến nhân dịp ngày lễ như thành lập Đoàn, dịp Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Bình quân khoảng 40 – 50 khách/ngày. Khảo sát ý kiến của các doanh nghiệp du lịch tại khu phố cổ cho thấy, khách quốc tế đến điểm di tích 48 Hàng Ngang vì muốn được chứng kiến nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Bản Tuyên ngôn độc lập. Tuy nhiên, hiện tại phần trưng bày chuyên đề về Bác ở đây không có gì mới so với hiện vật có tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, nơi mà nhiều du khách đã ghé thăm khi vào Lăng viếng Bác. Hiện tại dù căn nhà 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân đã được khôi phục nguyên gốc, nhưng phần cho du khách tham quan vẫn chỉ là tầng 1 và tầng 2 của khối nhà 48 Hàng Ngang, nên họ chỉ ghé qua chụp vài bức ảnh lưu niệm rồi về.

Theo các doanh nghiệp du lịch, điểm di tích này chưa thực sự tạo thành điểm thu hút do chưa đa dạng phần nội dung. Bên cạnh giới thiệu với du khách về một điểm Bác Hồ đã viết Bản Tuyên ngôn độc lập, điểm di tích này có thể khôi phục, giới thiệu các nét văn hóa của người Hà Nội đầu thế kỷ 19, nhất là nơi đây từng là cửa hàng bán lụa nổi tiếng. Sự giới thiệu đa dạng về các hoạt động văn hóa như ngôi nhà cổ 87 Mã Mây là điều đáng để học tập, để di tích đến gần với cuộc sống. Có vậy mới tạo được sức hút với du khách.

Tầng 2, nơi Bác viết Bản Tuyên ngôn độc lập gồm hai căn phòng, một phòng tiếp khách và một phòng Bác ở. Phòng tiếp khách có ban công nhìn ra mặt phố Hàng Ngang, rộng chừng 50 m2, có cửa kính, cửa chớp, che rèm lụa trắng. Căn phòng nhỏ Bác ở có diện tích khoảng 20 m2, đồ đạc rất đơn sơ. Chính tại căn phòng nhỏ bé này, Bác Hồ đã khởi thảo Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Bài và ảnh: Xuân Minh

baotintuc.vn

Những kỷ niệm của nhà báo nước ngoài cuối cùng phỏng vấn Bác Hồ

Báo tin tức – Chắc rất nhiều người khi nghĩ đến những người bạn Cuba thân thiết của nhân dân Việt Nam, đều nói đến nữ nhà báo Marta Rojas. Bà đã từng nhiều năm lặn lội trên đất nước Việt Nam trong thời gian chiến tranh, từ các tỉnh đồng bằng Bắc bộ cho tới những khu rừng bạt ngàn ở chiến trường miền Nam, và những bài báo của bà đã giúp cho nhân dân Cuba và Mỹ Latinh hiểu rõ thêm về cuộc đấu tranh chính nghĩa vì độc lập dân tộc của Việt Nam. Nhưng kỷ niệm không thể nào quên trong cuộc đời làm báo của bà Marta Rojas chính là cuộc phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh vào tháng 7/1969, chỉ hai tháng trước khi Người mãi mãi đi xa. Đó cũng chính là cuộc phỏng vấn cuối cùng của một nhà báo nước ngoài với vị lãnh tụ vô vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam.

Nhà báo Marta Rojas và bức ảnh mà Bác Hồ ký tặng bà sau cuộc phỏng vấn vào tháng 7/1969. Ảnh: Hoài Nam

Chúng tôi đến gặp nhà báo Marta Rojas tại nhà riêng vào một ngày giữa tháng 8 với mong muốn được bà thuật lại kỷ niệm về những chuyến đi thực tế ở chiến trường Việt Nam, và đặc biệt là cuộc phỏng vấn lịch sử với Bác Hồ. Khi biết được ý định của chúng tôi, cảm xúc của bà Marta Rojas dường như dâng trào. Những hoài niệm về một thời tuổi trẻ đầy nhiệt huyết ngay lập tức trở lại trong tâm trí của Marta Rojas. Với một trí nhớ tuyệt vời, một giọng kể ấm áp và đầy cuốn hút, câu chuyện của bà khiến chúng tôi cảm tưởng như tất cả vừa mới diễn ra hôm qua…

Marta Rojas và chị Phan Thị Quyên, vợ của anh hùng liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi trong rừng Tây Ninh. Ảnh: tư liệu của bà Marta Rojas

Đó là vào năm 1965. Marta Rojas, một phóng viên trẻ của báo Revolucion (Cách mạng), nhận được chỉ thị trực tiếp của Tổng tư lệnh Fidel Castro với yêu cầu phải sớm sang Việt Nam để tìm hiểu và thông tin một cách sống động và chân thực nhất về cuộc chiến đấu anh dũng, quả cảm của nhân dân Việt Nam vì độc lập dân tộc. Ngay khi chuẩn bị lên đường, bà Marta Rojas đã ấp ủ ý định phải bằng mọi cách phỏng vấn được Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài của Cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, do điều kiện lúc bấy giờ không cho phép nên bà đành phải gác lại “ước muốn cháy bỏng” đó với niềm tin sẽ có một ngày được gặp Bác Hồ. Năm đó bà Marta Rojas được đưa tới Campuchia và từ đó vượt rừng vào căn cứ địa của cách mạng miền Nam Việt Nam ở Tây Ninh. Trong thời gian ở cùng với các chiến sỹ cách mạng Việt Nam, bà đã viết hàng loạt bài báo để gửi về nước và nhờ đó nhân dân Cuba ở bên kia địa cầu càng hiểu thêm về cuộc kháng chiến trường kỳ đầy vất vả gian lao nhưng cũng vô cùng vẻ vang của nhân dân Việt Nam.

Nhà báo Marta Rojas (thứ tư từ phải sang) đang được các chiến sỹ quân giải phóng hướng dẫn cách lắp súng trong rừng Tây Ninh. Ảnh: tư liệu của bà Marta Rojas

Liên tiếp những năm sau đó bà Marta Rojas đều dành thời gian để đến với đất nước Việt Nam. Cũng vì tình yêu với đất nước hình chữ S mà bà đã tham gia tích cực vào các phong trào đoàn kết với Việt Nam và từng có mặt tại một số diễn đàn quốc tế với tư cách là một nhân chứng sống để tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ chống lại nhân dân Việt Nam. Và rồi tới năm 1969, trong một chuyến đi như bao chuyến đi khác mà bà thực hiện tới Việt Nam, Marta Rojas tiếp tục bày tỏ nguyện vọng được phỏng vấn Bác Hồ với các đồng chí lãnh đạo Việt Nam. Một ngày giữa tháng 7/1969 khi đang trọ tại khách sạn Thống Nhất, bà Marta Rojas bất ngờ nhận được một cuộc điện thoại của Tổng Biên tập báo Nhân Dân Hoàng Tùng với lời nhắn: “Sáng mai đúng 6 giờ 30 tôi sẽ đón đồng chí vào gặp Bác Hồ”.

Bà Marta Rojas bồi hồi nhớ lại: “Sáng hôm đó khi cùng với đồng chí Hoàng Tùng và một đồng chí phiên dịch vừa bước vào khuôn viên Phủ Chủ tịch thì tôi đã thấy từ xa một cụ già tươi cười tiến lại gần và chủ động chào tôi bằng tiếng Tây Ban Nha “Buenos días, Marta” (Chào buổi sáng đồng chí Marta). Sau một thoáng bất ngờ tôi nhận ra đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu mà tôi luôn ước ao được gặp mặt. Đã được đọc và nghe nhiều về Bác Hồ nhưng được gặp trực tiếp tôi mới cảm nhận hết được sự giản dị, gần gũi và lịch thiệp trong con người vĩ đại đó. Lúc đó Bác cũng hỏi thăm tôi về sức khỏe của đồng chí Fidel Castro và nói rằng bác rất thích đọc các bài diễn thuyết của vị Tổng tư lệnh đáng kính của nhân dân Cuba”.

Bà Marta Rojas (đội khăn rằn), nhà báo Raul Valdez Vivo (ngồi bên cạnh) đang được các chiến sỹ Quân giải phóng đưa qua sông. Ảnh: tư liệu của bà Marta Rojas.

Bà Marta Rojas kể rằng trong gần 30 phút đầu tiên của cuộc gặp gỡ đó, dường như bà trở thành người “bị phỏng vấn” khi Bác hỏi thăm về chuyến đi vào miền Nam đầu tiên của bà năm 1965. Bác cũng muốn biết về những cảm nhận của một nhà báo nước ngoài khi được tận mắt chứng kiến cuộc sống và tinh thần chiến đấu của các chiến sỹ ở miền Nam. Bà Marta Rojas vô cùng xúc động khi nhắc lại câu nói của Bác Hồ sau khi nghe bà tường thuật lại những trải nghiệm của mình rằng: “Nỗi đau và sự chịu đựng của nhân dân miền Nam cũng chính là nỗi khổ tâm của tôi. Tình yêu tôi dành cho nhân dân ở miền Nam cũng giống như nhân dân ở miền Bắc. Tôi luôn dành cả cuộc đời vì hạnh phúc của nhân dân mình”.

Bác Hồ cũng đề nghị bà Marta Rojas kể lại chuyến đi mà bà vừa thực hiện trước đó ít ngày vào khu vực vĩ tuyến 17 và hỏi thăm về lá cờ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở phía Bắc sông Bến Hải. “Bác nói rằng ngay ở những thời điểm khốc liệt nhất, hứng chịu nhiều nhất các đợt ném bom của kẻ thù thì lá cờ đó cũng không bao giờ ngừng tung bay. Quân và dân Việt Nam ở vùng đất lửa đó đã làm tất cả để bảo vệ lá cờ. Đó là biểu tượng của một nước Việt Nam thống nhất. Những tấm gương đó đã tiếp thêm sức mạnh cho chúng tôi trong cuộc chiến đấu trường kỳ”, nhà báo Marta Rojas hồi tưởng lại và cho biết thêm lúc đó bà nhận thấy trong ánh mắt của Bác Hồ một niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi cuối cùng của nhân dân Việt Nam.

Bà Marta Rojas cũng chia sẻ với Bác về tình hình của Cuba, cũng như tình cảm mà lãnh đạo và nhân dân Cuba anh em dành cho đất nước Việt Nam anh hùng. Bác Hồ đã gửi lời thăm hỏi tới các đồng chí lãnh đạo và nhân dân Cuba và kết luận bằng câu nói ví von: “Việt Nam và Cuba là hai người anh em ở hai nửa địa cầu. Khi Cuba ngủ thì Việt Nam thức để canh gác và khi Việt Nam ngủ thì Cuba thức để bảo vệ”.

Nhà báo Marta Rojas cũng nhớ lại một chi tiết vô cùng thú vị trước khi chia tay với Bác: “Với ước ao được phỏng vấn Bác Hồ nên trước mỗi chuyến đi tôi đều chuẩn bị một món quà để nếu có dịp gặp Người tôi sẽ tặng làm kỷ niệm. Trước chuyến đi năm 1969 đó, khi tôi đang còn đang loay hoay suy nghĩ xem chuẩn bị đồ lưu niệm gì thì đồng chí Celia Sanchez (thư ký của Tổng tư lệnh Fidel Castro) nói với tôi rằng nên mang một chiếc gạt tàn vì Bác Hồ có thói quen hút thuốc. Và đó là món quà tôi đã mang sang Việt Nam. Khi kết thúc cuộc phỏng vấn tôi đã đưa chiếc gạt tàn tặng Người. Bác Hồ rất vui vẻ nhận món quà của tôi và nói rằng Người đã bỏ thuốc rồi tuy nhiên chiếc gạt tàn đó vẫn rất có tác dụng. Vừa nói Bác vừa với tay lên bàn làm việc lấy những chiếc ghim giấy đặt vào chiếc gạt tàn”.

Bà Marta Rojas thổ lộ, điều đọng lại lớn nhất trong tâm trí của bà sau cuộc gặp gỡ đó chính là sự giản dị, chân thành và gần gũi trong con người vĩ đại của Bác Hồ. Sau này bà cũng đã có nhiều dịp thăm lại Việt Nam và mỗi lần trở lại bà đều nhận thấy những sự “thay da đổi thịt” của mảnh đất Việt Nam anh hùng đúng với mong muốn “xây dựng đất nước mười lần tươi đẹp hơn” của Bác.

Hoài Nam (P/v TTXVN tại Cuba)

baotintuc.vn

Về “Thủ đô kháng chiến” nghe kể chuyện Bác Hồ

Báo tin tức – Trong thời gian Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác Hồ đã có gần 6 năm sống và làm việc tại các địa điểm khác nhau trên đất Tuyên Quang. Đến tận bây giờ, những kỷ niệm và hình ảnh về Bác vẫn in đậm trong tâm trí nhiều đồng bào các dân tộc nơi đây. 

“Nhân dân nắng thì Bác cũng nắng”

Đã 66 năm trôi qua, nhưng kỷ niệm về Bác Hồ vẫn in đậm trong ký ức ông Viên Phúc Tần, 87 tuổi, thôn Cả, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương (Tuyên Quang). Ông Tần kể: “Trước Cách mạng tháng Tám, tôi làm Thư ký Chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh xã Kim Trận (nay là xã Tân Trào). Nhận chỉ đạo của cấp trên, tôi đã đi vận động cán bộ, nhân dân trong xã làm bè để đón Bác Hồ qua sông Phó Đáy về Tân Trào lãnh đạo cách mạng Việt Nam, chuẩn bị Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Trong thời gian Bác ở Tân Trào, tôi đã nhiều lần được gặp Bác. Có lần chúng tôi đi học Điều lệ Đảng về thì gặp Bác. Bác liền hỏi “Các cháu đi đâu về?”. Chúng tôi trả lời Bác là đi học về. Bác lại hỏi “Học cái gì?”. Chúng tôi trả lời: “Thưa Bác, chúng cháu đi học Các Mác ạ!”.

Lán Nà Lừa – nơi Bác Hồ đã sống và làm việc từ cuối tháng 5 đến 22/8/1945.

Tuy nhiên, kỷ niệm mà tôi nhớ nhất về Bác là vào năm 1961, Bác về lại Tân Trào, nói chuyện với bà con. Lúc đó, tôi đang là quyền Bí thư Đảng ủy xã Tân Trào. Biết Bác Hồ về thăm, bà con trong xã náo nức lắm. Ngay từ sáng sớm mọi người tập trung tại khu vực đình Tân Trào rất đông để nghe Bác nói chuyện. Trời nắng, một cán bộ bảo vệ lấy mấy tàu lá cọ để che cho Bác, Bác liền xua tay và bảo: “Không phải che cho Bác. Nhân dân nắng thì Bác cũng nắng”.

Cũng theo ông Tần, trong thời gian ở Tân Trào, Bác thường xuyên đi bộ và cải trang bằng chiếc khăn mặt trắng trùm lên đầu…

Rời nhà ông Tần chúng tôi tìm đến ngôi nhà sàn của ông Nguyễn Tiến Sự – người đã nhường nhà cho Bác Hồ sống và làm việc trong thời gian Người mới trở về từ Pác Bó. Ngôi nhà của ông Sự nằm cách cây đa Tân Trào khoảng 50 m. Giờ đây, ông Sự không còn nữa, nhưng các thế hệ con cháu ông vẫn luôn nhớ hình ảnh và những việc làm của Bác. Bà Hoàng Thị Mai, con dâu trưởng của ông Nguyễn Tiến Sự, năm nay đã 71 tuổi, kể lại: “Năm 1945, bố chồng tôi (ông Sự) là Chủ nhiệm Việt Minh xã Tân Trào. Một hôm, gia đình được giao nhiệm vụ đón tiếp bộ đội. Đến sẩm tối thì có một ông cụ mặc áo chàm dân tộc Nùng, đi giày vải, dẫn mấy người vào ngõ. Người trong làng được giới thiệu đó là đồng chí Thượng cấp và đều gọi Người là “Ông Cụ”. Gia đình dành một gian nhà để “Ông Cụ” ở và làm việc. Thường cứ 4 giờ sáng, “Ông Cụ” dậy và đánh thức mọi người dậy cùng tập thể dục, sau đó Cụ mới vào bàn làm việc. Thời gian rảnh Cụ dạy dân học chữ, trồng lúa, thực hiện nếp sống vệ sinh để tránh ốm đau bệnh tật, Cụ luôn gương mẫu đi đầu để mọi người làm theo. Sau đó, “Ông Cụ” chuyển lên lán Nà Lừa ở và làm việc. Và phải đến khi cuộc Tổng khởi nghĩa thắng lợi, nước nhà giành độc lập, nhân dân trong huyện nô nức đi rước ảnh Chủ tịch nước thì tôi mới biết “Ông Cụ” là Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Người được Bác Hồ tặng quà cưới

Còn với bà Nông Thị Mơ, dân tộc Tày, thôn Tân Lập, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương (Tuyên Quang) – người vinh dự được Bác Hồ tặng quà trong ngày cưới, thì dù năm nay đã bước sang tuổi 87, nhưng mỗi khi nhắc đến Bác Hồ, bà vẫn bồi hồi xúc động.

Bà Nông Thị Mơ, dân tộc Tày, thôn Tân Lập, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, đang kể cho cháu nghe những kỷ niệm về Bác Hồ.

Tiếp chúng tôi trong ngôi nhà sàn theo kiến trúc truyền thống của dân tộc Tày, bà Mơ tâm sự: “Vào trung tuần tháng 6 năm 1945, vợ chồng tôi tổ chức lễ cưới. Và thật vinh dự cho vợ chồng tôi là hôm tổ chức lễ cưới, Bác Hồ đã tới dự và tặng vợ chồng tôi hai đồng. Số tiền đó được Bác để trong chiếc hộp hình chữ nhật. Bác dặn vợ chồng tôi phải sống hạnh phúc, suốt đời yêu thương nhau”.

Đã 66 năm trôi qua, chiếc hộp đựng tiền của Bác tặng vẫn được bà Mơ lưu giữ cẩn thận như một báu vật trong cuộc đời. Cũng theo bà Mơ, nhớ lời Bác dặn, dù hoàn cảnh gia đình nhiều khi rất khó khăn, nhưng vợ chồng bà luôn thương yêu nhau, chưa khi nào nặng lời với nhau. Hiện 5 người con của bà đều đã trưởng thành và có công ăn việc làm ổn định.

Không chỉ hạnh phúc vì được Bác tặng quà cưới, mà kỷ niệm về những ngày tham gia Việt Minh ở căn cứ địa cách mạng Tân Trào, hình ảnh “Ông Ké Cách mạng” vẫn in sâu trong tâm trí bà và những người dân nơi đây. Ngoài thời gian làm việc, Bác Hồ dành sự quan tâm, thăm hỏi mọi người trong làng. Người còn cùng với bà con lao động, nói chuyện với cán bộ, chiến sỹ, động viên chị em phụ nữ hăng hái tăng gia sản xuất. Bác Hồ luôn động viên các chiến sỹ phải ăn thật no mới có sức đánh giặc, đem lại tự do cho đồng bào. Bà Mơ kể lại: “Thấy tôi và các chị em khác giã gạo, nấu cơm, Bác Hồ ân cần bảo “Các cô nấu cơm cho bộ đội cũng là đánh giặc đó…”.

Rời Tân Trào khi trời đã xế chiều, phong trào bê tông hóa đường giao thông nông thôn đang được bà con nơi đây triển khai rất khẩn trương để đưa Tân Trào thành vùng quê theo mô hình nông thôn mới. Ông Trần Khắc Viện, Bí thư Đảng ủy xã Tân Trào vui mừng cho biết: Phát huy truyền thống quê hương cách mạng và thực hiện lời dạy của Bác “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Những người thi đua là những người yêu nước nhất”, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong xã Tân Trào quyết tâm đoàn kết, cùng nhau thực hiện thành công các mục tiêu Đại hội Đảng bộ xã đã đề ra, phấn đấu đến năm 2015, thu nhập bình quân đầu người đạt 18 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới giảm dưới 20%; 95% số hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa…

Những địa danh ở Tuyên Quang Bác Hồ đã ở và làm việc

Thời kỳ tiền khởi nghĩa:
Ngày 21/5/1945: Bác Hồ từ Cao Bằng về tới làng Kim Long, xã Tân Trào (Sơn Dương). Bác ở và làm việc tại lán Nà Lừa tới 22/8/1945 thì rời Tân Trào về Thủ đô Hà Nội. Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp:
– Làng Sảo, xã Hợp Thành (huyện Sơn Dương) từ 2/4 – 19/5/1947;
– Khuôn Đào, xã Trung Yên (huyện Sơn Dương) từ 29/11 – 3/12/1947;
– Khuổi Tấu, xã Hùng Lợi (huyện Yên Sơn) từ 4/12 – 7/12/1947;
– Lũng Tẩu, xã Tân Trào (huyện Sơn Dương) từ 12/9 – 16/12/1948 và từ 10/1 – 6/4/1949;
– Xóm 5, xã Trung Trực (huyện Yên Sơn) từ 19/12/1948 – 10/1/1949;
– Khâu Lấu – Vực Hồ, thôn Bòng, xã Tân Trào (huyện Sơn Dương) từ 6/4 – 12/5/1949 và từ 1/6 – 16/10/1949;
– Bản Chương, bản Cóc, xã Hùng Lợi (huyện Yên Sơn) và Làng Mạ, xã Linh Phú (huyện Chiêm Hóa) từ 16/5 – 30/5/1949;
– Hang Bòng, xã Tân Trào (huyện Sơn Dương) từ 17/10/1949 – 1/9/1950; từ 10/10/1950 – 4/2/1951 và từ 20/2/1951 – 30/12/1952;
– Xã Kim Bình (huyện Chiêm Hóa) từ ngày 5 – 19/2/1951. Tại đây, Bác đã làm việc, trực tiếp chỉ đạo Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II.
(Theo Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang)

Quang Đán – Quang Cường

baotintuc.vn

Tấm lòng người dân Thái Lan với Bác Hồ

Báo tin tức – Nhiều thập niên qua, không chỉ cộng đồng Việt kiều mà cả người dân Thái, nhất là ở vùng Đông Bắc nước này, vẫn còn nhắc mãi về một người làm cách mạng có tên là Thầu Chín với tấm lòng thương yêu và trân trọng. Những tình cảm và kỷ niệm sâu sắc về Người luôn được nhân dân Thái Lan trân trọng giữ gìn và ngày càng được vun đắp, góp phần tăng cường mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước.

Nhà cách mạng Thầu Chín

Trong quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi khắp năm châu bốn biển. Người đã từng đến sống và hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước ở các tỉnh Udon Thani, Phichit, Nong Khai, Sakon Nakhon và một số nơi khác ở Thái Lan; để lại nhiều kỷ niệm sâu sắc và tình cảm tốt đẹp với con người xứ sở này.

Biểu diễn văn nghệ kỷ niệm lần thứ 121 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tại Làng Hữu nghị Thái – Việt.

Làng hữu nghị Thái-Việt ở tỉnh Nakhon Phanom được xây dựng và khánh thành vào năm 2004, để ghi nhớ một thời Bác Hồ đã sống và hoạt động tại đây với tên là Thầu Chín. Đó đồng thời là một trong những biểu tượng minh chứng cho tình hữu nghị giữa hai nước, sự yêu quý ngưỡng mộ của nhân dân Thái Lan, nhân dân Việt Nam đối với Hồ Chủ tịch.

Thầu Chín là bí danh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở Xiêm, nay là Vương quốc Thái Lan, trong thời gian từ năm 1928-1929. Thầu là tiếng Thái Lào, để gọi người nhiều tuổi và biểu thị sự tôn kính. Câu chuyện về cộng đồng người Việt cùng với Thầu Chín trên đất Xiêm ngày ấy đã vượt thời gian, trở thành một phần giá trị tài sản tinh thần, đặc biệt là ở những nơi dấu chân Người đã đi qua, giúp nở hoa hữu nghị.

Được Việt kiều và nhân dân yêu nước Thái che chở trước sự truy lùng của mật thám Pháp, Thầu Chín ở Nakhon Phanom cho đến tháng 11/1929 thì sang Trung Quốc, sau đó về Việt Nam chỉ đạo cách mạng. Ngoài bí danh Thầu Chín, một vài bí danh khác của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh cũng được Việt kiều tại Thái Lan nhắc đến với lòng kính trọng.

Theo tài liệu ghi nhận, từ bản Mạy ở Nakhon Phanom, nhà cách mạng Thầu Chín thường có mặt tại các bản Noọng Xén (cùng tỉnh Nakhon Phanom), bản Đông thuộc tỉnh Phichít, bản Noóng Ổn tỉnh Udon Thani…

Đến đâu Người cũng mang đến luồng sinh khí mới cho cuộc sống của bà con Việt kiều tại đó cùng với rất nhiều câu chuyện, rất nhiều thông tin được truyền đến bà con bằng phong cách nói chuyện rõ ràng và dễ hiểu, với sự hiểu biết rất rõ về tình hình kiều bào ở Thái Lan.

Bằng sự lôi cuốn và cảm hóa, Người mở mang tầm nhìn, cách nghĩ cho bà con qua các câu chuyện giản dị mà ẩn chứa nhân sinh quan sâu sắc, phổ biến cho bà con những kiến thức bổ ích về cách thức cải tạo vườn tạp thành vườn cây ăn quả, tìm chỗ đất thấp đào ao thả cá.

Người vận động bà con xin phép chính quyền sở tại mở lớp dựng trường dạy chữ Quốc ngữ cho con em, động viên người lớn học cả chữ Thái, chữ Việt để biết những điều cần thiết cho cuộc sống hiện tại, đồng thời tạo nền móng cho quá trình học tập lâu dài để có những kỹ năng tự phân tích, tự tổng hợp ứng dụng vào làm ăn.

Và bao trùm lên tất cả là học để làm người, để có khả năng làm chủ bản thân trong mọi hoàn cảnh, để đủ hiểu biết mà chung sống hòa hợp với các cộng đồng có văn hóa khác nhau.

Biểu tượng của tấm lòng cao cả

Nhân dịp lễ kỷ niệm lần thứ 121 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và lần thứ 100 ngày Người ra đi tìm đường cứu nước vừa tổ chức ở Làng Hữu nghị Thái-Việt, Tỉnh trưởng tỉnh Nakhon Phanom, ông Lơngxặc Vinittraimôntri nói rằng, tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và Thái Lan được vun đắp từ nhiều năm nay, nhất là từ thời Chủ tịch Hồ Chí Minh hoạt động tại làng Najok trong những năm 1928-1929. Nơi đây đã trở thành khu di tích, địa điểm du lịch mang tính lịch sử và văn hóa quan trọng của Thái Lan.

Khi bản Mạy, bản Noóng Ổn, bản Noọng Xén… của xứ “chùa Vàng” đã thành địa chỉ khá đặc biệt trong biên niên giữ nước của dân tộc Việt Nam ở thế kỷ XX, những tình cảm và kỷ niệm tốt đẹp về Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Thái Lan tiếp tục được giữ gìn và là biểu tượng tốt đẹp cho tình hữu nghị giữa hai nước, hai dân tộc.

Khi dẫn đầu đoàn Việt Nam vừa sang thăm Thái Lan và trao các huân chương, huy chương và bằng khen cho bà con kiều bào có nhiều đóng góp với sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, Thứ trưởng Ngoại giao kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Người Việt Nam ở Nước ngoài Nguyễn Thanh Sơn nói: “Thái Lan là địa bàn mà Bác Hồ của chúng ta đã sinh sống, học tập và hoạt động cách mạng. Tổ chức Việt kiều yêu nước tại Thái Lan cũng được Bác Hồ tổ chức, thành lập và xây dựng từ ban đầu cho nên quan hệ giữa nước ta với Thái Lan đang ngày càng được củng cố và phát triển tốt đẹp”. “Hy vọng trên đất nước Thái Lan, với sự kính trọng của nhân dân Thái dành cho Hồ Chủ tịch, các khu di tích lưu niệm về Bác Hồ ở bản Mạy và một số nơi khác sẽ được quan tâm và chúng ta sẽ cùng Thái Lan xây dựng những khu di tích đó xứng đáng với tình cảm, sự kính trọng của nhân dân hai nước dành cho Bác, xứng với vị thế và vai trò của Người trên thế giới”, Thứ trưởng nói thêm.

Theo Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn, các khu di tích và công trình ở Udon Thani, Khon Kaen cũng sẽ được Đảng và Chính phủ quan tâm đầu tư để tương xứng với một quốc gia có ngàn năm văn hiến như Việt Nam – đất nước luôn được bạn bè thế giới, trong đó có Thái Lan, ngưỡng mộ và khâm phục.

Bác Cao Văn San, Chủ tịch Tổng hội lâm thời người Việt Nam tại Thái Lan, cho hay, hai tiếng Bác Hồ hết sức thiêng liêng đối với kiều bào và tình cảm của Việt kiều đối với Bác Hồ là không bao giờ phai nhạt.

Vào dịp 19/5 hằng năm, bà con Việt kiều thường tổ chức lễ kỷ niệm ngày sinh của Bác, thắp hương tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh – một tấm gương sáng về đạo đức và sự tận tụy với Tổ quốc, nhân dân.

Bài và ảnh: Ngọc Tiến (P/v TTXVN tại Thái Lan)

baotintuc.vn

Người dành trọn đời viết sách về Bác Hồ

Báo tin tức -Ít ai biết tại tỉnh Hà Nam có một kỹ sư nông học đã cần mẫn bao năm sưu tầm, lưu giữ và rất tâm huyết với việc viết về Bác. Đó là ông Nguyễn Thế Nữu, ở xã Yên Bắc, huyện Duy Tiên.

Ông Nữu năm nay đã 80 tuổi, nhưng vẫn rất khỏe mạnh và minh mẫn. Ông tiếp chúng tôi trong căn phòng rộng chừng 30 m2 được bài trí đơn giản. Ngoại trừ một bộ bàn ghế uống nước, một chiếc tivi, một chiếc máy vi tính, còn lại là sách được xếp cao đến tận nóc nhà. Phòng sách của ông có nhiều sách quý, hiếm trong và ngoài nước.

Ông Nữu bên tủ sách dày công sưu tập. Ảnh: Nguyễn Loan

Ông Nữu tự hào khoe, để có được bộ sưu tập với hơn chục ngàn cuốn sách này, ông đã phải lặn lội sưu tầm từ khi còn là sinh viên. Năm 1953, khi được cử sang Trung Quốc học chuyên ngành Nông học tại Viện Nông học Hoa Nam (Quảng Châu), ngoài thời gian học tập chuyên ngành, ông lặn lội khắp Quảng Châu để tìm các loại sách về chữ Hán và về Hồ Chủ tịch. Có bao nhiêu tiền ông bỏ hết vào việc mua sách. Ông kể: “Sau khi về nước nhận công tác ở Bộ Nông nghiệp, rồi làm việc tại Công ty Giống cây trồng Hà Nam Ninh, mặc dù bận công tác nhưng hễ có thời gian rảnh là tôi lại mày mò khắp các bảo tàng, thư viện ở Hà Nội, Hà Nam Ninh (cũ), rồi vào thư viện của các trường học để sưu tầm sách về Bác. Năm 1991, tôi có dịp quay lại Trung Quốc để học tập kinh nghiệm trồng giống lúa lai, tôi tranh thủ thời gian đi khắp các tỉnh như Hồ Nam, Quảng Châu… để tìm kiếm sách”.

Sưu tầm và viết sách về Bác Hồ là niềm đam mê cả đời của ông Nữu. Trong thời gian công tác, mặc dù bận nhiều việc, phải đi nhiều nơi nhưng không khi nào ông xa rời niềm đam mê này. Sẵn có vốn tiếng Hán trong tay, mỗi khi có thời gian rảnh là ông lại đem các quyển sách chữ Hán mà ông sưu tầm được ra dịch. Ông tâm sự: “Ngay khi về Ty Nông nghiệp của tỉnh Nam Định (sau là Sở Nông nghiệp Hà Nam Ninh), tôi đã xác định mình sẽ sống chết cùng cây lúa với vùng đất này. Sự nghiệp nghiên cứu khoa học và sưu tầm sách sẽ là động lực chính để mình thực hiện quyết tâm”. Năm 1991, ông nghỉ công tác. Lúc này ông dành trọn tâm trí mình vào công việc viết sách. Cuốn sách đầu tay ông cho ra mắt là cuốn “Thưởng thức thơ Hồ Chí Minh ngoài Ngục trung nhật ký” dài 643 trang do NXB Khoa học Xã hội phát hành năm 2005.

Nhắc đến cuốn sách đầu tay, mắt ông lại sáng lên: “Đây là cuốn sách về Bác Hồ mà tôi phải mất hơn 20 năm sưu tầm và dịch ra. Cuốn sách chủ yếu là thơ chữ Hán đã được tôi dịch ra tiếng Việt có bình luận”. Ông khoe: “Lúc đó tôi nhớ là mình được trả 5,5 triệu đồng tiền nhuận bút. Tôi dùng luôn số tiền này mua được 110 quyển sách vừa in ra đem đi tặng bạn bè”.

Cầm cuốn sách trên tay, chúng tôi lật trang đầu thấy ngay dòng chữ do Giáo sư Phong Lê, nguyên Viện trưởng Viện Văn học thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia (nay là Viện Khoa học Xã hội Việt Nam) viết: “Đọc ông Nữu, tôi không thấy có sự khập khiễng nào so với bất kỳ các tác gia nghiên cứu văn học cả về vốn tri thức và năng lực phân tích cảm thụ”. Tôi vừa đọc đến đây, ông Nữu cười vui: “Tôi nghiên cứu sách là do niềm đam mê của mình. Còn viết sách là phần lớn để “trả nợ”. Số là, trong một dịp gặp Giáo sư Nguyễn Lân Dũng, sau khi nói chuyện, giáo sư đã khuyên tôi nên dịch và tổng hợp lại thành sách để thế hệ sau có thêm một tài liệu đầy đủ về thơ Hồ Chí Minh. Thế là kế hoạch 25 cuốn sách về Bác, trong đó có 13 quyển về thơ ca, 12 quyển kể chuyện về Người ra đời. Ngay khi cuốn đầu tay còn đang trong dạng bản thảo, rất nhiều người đã động viên và nhận lời viết “Lời giới thiệu” cho sách như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, GS Phong Lê, GS Nguyễn Lân Dũng, PGS.TS Trần Đức Cường… Trước sự tin tưởng của mọi người, tôi như thấy mình phải cố gắng hoàn thành để trả nợ”.

Hiện tại, ngoài cuốn “Thưởng thức thơ Hồ Chí Minh ngoài Ngục trung nhật ký”, ông đã cho ra mắt thêm 2 cuốn sách nữa là “Từ điển Ngục trung nhật ký” dài 620 trang do NXB Nghệ An phát hành, và cuốn “Bác Hồ – Người trồng cây vĩ đại” dài 260 trang do NXB Nông nghiệp phát hành.

Hưng Phương

baotintuc.vn

Người đóng vai Bác Hồ thành công nhất

Báo tin tức – Với khoảng 35 vai diễn về Bác Hồ trong các thể loại sân khấu, điện ảnh, phim truyền hình… đến nay, nghệ sỹ Tiến Hợi (Nhà hát Kịch Hà Nội) “giữ kỷ lục” là người được đóng vai Bác Hồ nhiều nhất. Được “trời phú” cho đôi mắt sáng, cùng ngoại hình tương đối giống Bác, cộng thêm việc chịu khó nghiên cứu, tập luyện nên Tiến Hợi đã rất thành công khi thể hiện hình tượng Bác Hồ.

Người đóng Bác Hồ thành công nhất

Cơ duyên đưa Tiến Hợi đến với vai Bác Hồ bắt đầu từ năm 1987, lúc anh đang công tác tại đoàn kịch Trường Sơn. Khi ấy, đạo diễn Doãn Hoàng Giang dựng vở kịch “Đêm trắng”, vở kịch đầu tiên về Bác Hồ với việc chống tham nhũng. Trong vở diễn, Bác đã thức trắng đêm với bao trăn trở, đau đớn khi đưa ra quyết định xử tử Đại tá Cục trưởng Cục Quân nhu vì tội tham ô, biển thủ công quỹ. Trong số các diễn viên được thử vai Bác Hồ, Tiến Hợi là người có ngoại hình giống Bác nhất. Vậy là anh được đạo diễn giao đóng vai Bác Hồ. Nghệ sỹ Tiến Hợi tâm sự: “Lúc ấy, tôi vừa bất ngờ, vừa lo lắng. Bất ngờ vì mình còn trẻ nhưng lại được giao vai diễn lớn, nhưng tôi rất lo lắng vì không biết sức mình có đảm nhiệm được vai diễn quá tầm như vậy không…”.

Nghệ sĩ Tiến Hợi vào vai Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Được anh em trong đoàn động viên, Tiến Hợi dành rất nhiều công sức tìm tòi, nghiên cứu vai diễn của mình. Anh đề nghị được xem các phim tư liệu về Bác để bắt chước phong cách, thần thái, động tác của Bác trong khi làm việc, trong đời sống thường ngày… thu lại giọng nói của Bác vào băng ghi âm để về nghe… Ròng rã 3 tháng trời với một lịch trình gần như cố định: Sáng lên sàn diễn luyện tập, chiều xem phim tư liệu về Bác, tối về lại nghe băng ghi âm để luyện giọng sao cho giống giọng nói của Bác…

Đến tận bây giờ, nghệ sỹ Tiến Hợi vẫn nhớ như in cảm giác hồi hộp và vui mừng trong đêm đầu tiên công diễn vở “Đêm trắng” ở Nhà hát Lớn Hà Nội. Anh kể lại: “Sau buổi diễn, có khán giả đã vào tận phòng hóa trang xin gặp diễn viên đóng vai Bác Hồ, rồi họ rất ngạc nhiên vì thấy diễn viên đóng vai Bác Hồ còn trẻ quá. Sau này, vở kịch “Đêm trắng” được diễn gần 300 đêm ở các tỉnh, thành phía Bắc. Đi đến đâu, đoàn cũng được nhân dân nhiệt tình đón nhận, cổ vũ.

Sau thành công của vai Bác Hồ trong vở kịch “Đêm trắng”, Tiến Hợi đã được nhiều đạo diễn “để mắt” đến mỗi khi có một tác phẩn sân khấu, điện ảnh nào có sự xuất hiện của Bác Hồ. Khi quyết định bấm máy bộ phim truyện “Hẹn gặp lại Sài Gòn”, bộ phim kể về cuộc đời Hồ Chí Minh khi Người còn trẻ, đang nung nấu ước nguyện ra đi tìm đường cứu nước, đạo diễn Long Vân đã không ngần ngại chọn Tiến Hợi vào vai Nguyễn Tất Thành. Để thể hiện thành công vai diễn, Tiến Hợi đã vào Huế, tìm gặp các cụ già sống cùng thời với Bác để tìm hiểu xem thanh niên thời đó nghĩ gì, làm gì và sống như thế nào…? Từ đó, anh luyện tập và thể hiện vai diễn về một thanh niên trong sáng, giàu nghị lực, sống mộc mạc, chân chất… nhưng đầy lý tưởng và hoài bão. Đến năm 1997, đạo diễn Đặng Nhật Minh đã mời anh vào vai Hồ Chủ tịch lịch lãm, kiên định, trong phim “Hà Nội, mùa đông năm 46”. Và sau này, trong nhiều bộ phim, vở kịch sân khấu khác, nhiều đạo diễn đã tín nhiệm mời anh đóng vai Bác Hồ.

Kỷ niệm khó quên

Mỗi lần đóng vai Bác Hồ đều để lại những kỷ niệm đáng nhớ đối với nghệ sỹ Tiến Hợi. Nhưng có lẽ ấn tượng sâu sắc nhất đối với anh là khi anh đi diễn vở “Đêm trắng” ở Việt Trì (Phú Thọ). Khi ấy, mọi người đang chăm chú xem kịch, đến đoạn Bác trăn trở về việc quyết định xử tử vị cán bộ tham nhũng, có một cụ già đứng lên giơ tay: “Thưa Bác, cho cháu được phát biểu ý kiến”, khiến khán giả cười ồ. Nhưng cụ già vẫn nhất quyết đòi được “có ý kiến với Bác”, vậy là anh em trong đoàn đành đưa cụ vào sau cánh gà đợi. Khi nghệ sỹ Tiến Hợi từ sân khấu bước vào sau cánh gà, cụ già đã sụp xuống lạy, anh vội vàng đỡ cụ dậy và nói: “Cụ ơi, cháu chỉ là diễn viên đóng vai Bác Hồ thôi”, nhưng cụ bảo: “Tôi biết, nhưng giống quá, giống quá, tôi xem như thấy Bác đang đứng cạnh tôi…”. Hỏi ra mới biết, xưa cụ già có tham gia kháng chiến chống Pháp, đơn vị của cụ được đón Bác đến thăm, cụ đã được gặp và nói chuyện với Bác. Nay thấy anh đóng giống Bác quá nên không kiềm chế được cảm xúc của mình.

Nghệ sỹ Tiến Hợi tâm sự, khó khăn nhất trong việc đóng vai Bác là làm thế nào thể hiện được thần thái, cốt cách của Bác: Trước kẻ thù, Người sang trọng, lịch lãm, nhưng ánh mắt phải đanh thép. Trước đồng bào, nhân dân, chiến sỹ, Người lại hết sức trìu mến, yêu thương. Hay việc thể hiện cảm xúc của Bác như vui mừng, trăn trở, nóng giận… Suốt một thời gian dài nghiên cứu, tìm hiểu để đóng vai Bác Hồ, hình ảnh Bác Hồ đã in đậm trong anh, đến nỗi nhắm mắt lại là anh có thể hình dung được hình ảnh, giọng nói Bác Hồ trong từng giai đoạn lịch sử. “Được hóa thân vào một nhân vật nổi tiếng, một anh hùng dân tộc như Chủ tịch Hồ Chí Minh là niềm tự hào song áp lực cũng rất lớn, bởi hình tượng Bác Hồ đã ăn sâu vào tâm tưởng mỗi người dân Việt Nam. Để thuyết phục được khán giả, tôi đã phải cố gắng rất nhiều, sao cho từng cử chỉ, hành động, lời nói giống Bác nhất”, nghệ sĩ Tiến Hợi bộc bạch.

Phương Lan

baotintuc.vn

Những năm tháng Bác Hồ ở Luân Đôn

Báo tin tức –Một chiều tháng 5 đầy nắng, chúng tôi có mặt tại nơi trước đây là khách sạn danh tiếng của thủ đô Luân Đôn, nước Anh, khách sạn Carlton, nơi Bác Hồ đã từng làm việc, để kỷ niệm ngày sinh nhật Bác và một thế kỷ Bác dời bến Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước.

Theo bài viết “Hồ Chí Minh ở Luân Đôn” của Tiến sĩ John Callow, Giám đốc Thư viện tưởng nhớ Mác (Karl Marx), Bác Hồ của chúng ta đã làm rất nhiều việc trong thời gian ở Anh, từ cào tuyết trong trường học đến điều khiển hệ thống nước nóng rồi phụ bếp trong một khách sạn nhỏ là Drayton Court ở khu vực West Ealing, gần Quảng trường Soho, Luân Đôn.

Tòa nhà ngày nay được xây dựng trên nền của khách sạn Carlton cũ. Ảnh: Internet

Sau này, nhờ có kinh nghiệm làm việc bếp, Người được nhận vào làm việc rửa bát đĩa ở khách sạn danh tiếng Carlton ở Luân Đôn. Nhờ chăm chỉ và thông minh, một người đầu bếp đã nhận Người vào làm việc ở bộ phận của mình là nấu ăn phục vụ cho những bữa tiệc lớn. Cũng tại đây, Người đã chứng kiến sự xa hoa lãng phí thức ăn của những người giàu có. Những người đồng nghiệp thường thấy Người gói gọn lại những thức ăn thừa, có khi là cả một phần tư con gà và miếng bít tết to tướng, đưa cho nhà bếp để mang cho người nghèo. Người làm việc từ 5 giờ sáng đến trưa và từ 5 giờ chiều đến 10 giờ tối. Nhờ vậy Người có thời gian tìm hiểu về Luân Đôn và học tiếng Anh. Người thường ngồi trong Công viên Hype Park với một cuốn sách và một cái bút chì. Người làm việc không chỉ đơn giản để kiếm sống mà để tìm hiểu rõ bản chất điều gì ràng buộc dân tộc mình và các nước thuộc địa với các nước thực dân.

Tấm bảng tưởng niệm treo trên tòa nhà mới. Ảnh: Internet

Theo ông John Callow, chính trong thời gian ở nước Anh từ 1913-1917, Người đã lần đầu tiên đọc các tác phẩm của Mác và Ănghen (F. Engels). Những năm Người sống ở Anh đã góp phần định hình tư tưởng chính trị của Người. Hồ Chí Minh đã tìm ra và đến với chủ nghĩa Mác, không phải như là một học thuyết mà là lời kêu gọi giải phóng và hành động sáng tạo. Đây là một bước ngoặt trên con đường Người tìm hiểu thế giới và đem về đất nước mình những gì đã thấy được để giải phóng nhân dân mình.

Ông Len Aldis, Chủ tịch Hội Hữu nghị Anh-Việt, người đã dành nhiều công sức để giúp xây dựng bảng tưởng niệm tại nơi Bác Hồ đã từng làm việc, cho biết: Cách khách sạn Carlton trước đây không xa (bây giờ là địa điểm của Đại sứ quán Niu Dilân), là nơi Các Mác ở, còn xa hơn một chút ở ngôi nhà số 37A phố Clerkenwell Green, sau này được xây dựng là Thư viện tưởng nhớ Các Mác năm 1933, có một phòng nhỏ nơi Lê Nin (V.I. Lenin) đã viết 17 số báo Tia sáng.

Đến thăm Luân Đôn khi đi qua công viên Hype Park, quảng trường Soho hay Thư viện Các Mác, vẫn thấy đâu đây hình ảnh Bác Hồ đang đọc sách hay làm việc cần mẫn và suy nghĩ về con đường giải phóng nước nhà.

Ngân Bình (P/v TTXVN tại Anh)

baotintuc.vn

Lên Pác Bó nghe kể chuyện Bác Hồ về nước

Báo tin tức – Đã ở tuổi 88, cụ Hoàng Thị Khìn, xóm Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, Cao Bằng vẫn rành rọt kể từng chi tiết về câu chuyện 70 năm trước khi Bác Hồ ở Pác Bó vận động, giác ngộ bà tham gia hoạt động cách mạng.

Thời gian đã in trên mái tóc bạc trắng hằn sâu những vết nhăn trên khuôn mặt phúc hậu của bà nhưng không xóa được ký ức về tình cảm thiêng liêng đối với Bác. Mỗi lời kể của bà, sâu lắng xúc động về tình cảm của ông Ké gắn bó với người dân Pác Bó trong những ngày cách mạng gian khổ, còn nguyên vẹn như vừa mới hôm qua.

Cụ Hoàng Thị Khìn kể chuyện Bác Hồ về Pác Bó năm 1941.

Năm 1939, bà là thiếu nữ người Nùng xinh đẹp sống trong cảnh đời buồn bã như bao cô gái khác trong bản vì hằng ngày chứng kiến bọn quan Tây, lính dõng bắt bớ đánh đập tàn bạo người thân, dân làng đi phu, đi lính.

Già, trẻ, gái, trai nhà nào cũng vậy, quanh năm oằn lưng làm lụng mà không đủ nộp sưu thuế. Các cô thiếu nữ Nùng xinh đẹp lớn lên chưa từng được mặc một bộ quần áo lành lặn vì nhà nào cũng nghèo xơ xác.

Cuộc đời khổ cực như trâu ngựa, dân bản chỉ biết cúi mặt cam chịu bọn quan lại áp bức mà không tìm được lối thoát. Rồi một hôm có 2 người lạ là các ông (Hoàng Tô, Lê Quảng Ba) đến nhà nói chuyện với bố, mẹ bà những điều rất mới lạ: “Theo cách mạng (CM), đánh đuổi bọn quan Tây, lính dõng, sẽ không bị khổ cực nữa”. Hai từ “Cách mạng” khắc sâu trong tâm trí bà.

Cha mẹ bà hiểu được cái lý lẽ của 2 đồng chí CM nên giảng giải, động viên các con mình đi theo CM, giúp cán bộ CM. Từ đó, gia đình bà trở thành cơ sở tin cậy của cán bộ CM. Bà và mấy người em gái được phân công lo công tác hậu cần, đưa đón cán bộ.

Vào mùa xuân năm 1941, một hôm bà được ông Lê Quảng Ba phân công hai chị em vào rừng đưa cơm cho ông Ké. Bà cùng em gái (bà Hoàng Thị Hoa) đi vào khu rừng rậm phía đầu nguồn suối Giàng (suối Lênin ngày nay) gặp ông Ké (ông già) lạ mặt. Lần đầu gặp ông Ké, ông nói chuyện bằng tiếng Nùng trìu mến ấm áp, ân cần hỏi thăm đời sống dân bản, người thân trong gia đình, hai chị em bà thấy gần gũi ấm áp lạ thường.

Ông Ké giảng giải cho hai chị em: “Bọn quan Tây không cho người dân đi học, bắt nộp sưu thuế nặng nề, mọi người dân nghèo đói ngu dốt để chúng dễ áp bức cai trị. Các cháu phải đi học chữ để hiểu biết, làm CM thì sẽ đánh đuổi được chúng”.

Mỗi lời ông Ké nói như một chân trời mới mở ra trước cuộc sống đen tối của bản làng mà bà chưa bao giờ nghĩ tới. Được ông Ké giác ngộ, tin tưởng, bà nhiệt tình tham gia hoạt động CM, vận động chị em trong bản đi học chữ do ông Ké cử cán bộ mở lớp. Sau mỗi buổi học hay giờ nghỉ, Bác thường xuyên lên thăm lớp học, động viên mọi người cố gắng và giảng bài về đạo đức người đảng viên.

Bà và chị em còn được Bác quan tâm dạy từ nếp ăn ở, sinh hoạt và tặng cả sách “Ngũ tự kinh”. Bà nhớ mãi lời ông Ké dặn: “Các cháu nhớ học chữ để hiểu biết, đọc hiểu cuốn sách này, phấn đấu nam nữ bình quyền. Các cháu học tốt, hiểu biết tham gia CM sau này đứng lên giành độc lập tự do thì Bác mới trả được hết công lao các cháu”.

Thấm nhuần lời ông Ké, ở lớp phụ nữ học chữ ai cũng cố gắng. Được Bác Hồ giác ngộ cách mạng, học chữ nâng cao nhận thức và hiểu biết, bà và chị em ngày càng tin tưởng vào con đường đấu tranh CM.

Bà vận động chị em trong bản, xã đóng góp lương thực, bán củi đổi lấy muối nuôi cán bộ, làm tốt công tác hậu cần, đưa đón, bảo vệ cán bộ CM 3 miền Bắc, Trung, Nam đến học các lớp tập huấn cán bộ, du kích và Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII tại Khuổi Nặm; tham gia đánh thổ phỉ xóm Lũng Túp (Sỹ Hai).

Bà tâm sự: Khi hoạt động CM gặp nhiều gian nan, nguy hiểm nhưng nghĩ đến lời ông Ké dặn “Mọi người đoàn kết đấu tranh thì mới đánh đổ được bọn quan Tây, lính dõng, bản làng sẽ không còn ai bị chúng đánh đập cướp bóc”, thì tôi lại cố gắng vượt qua khó khăn. Theo lời ông Ké, cả làng ai cũng hăng hái tham gia các tổ chức cứu quốc: Phụ lão cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Nhi đồng cứu quốc… tất cả hợp thành khối thống nhất trong Mặt trận Việt Minh.

Tôi và mọi người trong gia đình ai cũng tham gia các tổ chức cứu quốc. Mặt trận Việt Minh ngày càng phát triển mạnh, mọi người càng thêm tin vào lời ông Ké về con đường giải phóng dân tộc, giải phóng cho chính mình. Đêm tiễn ông Ké từ Pác Bó đi Tân Trào là giờ phút thiêng liêng mà tôi không thể nào quên trong cuộc đời mình. Chị em trong bản chúng tôi khâu áo, mũ, giầy vải, khăn tặng ông Ké trước khi lên đường. Ai nấy bịn rịn thương nhớ không muốn rời trong giờ phút chia tay. Ông Ké động viên chị em và mọi người tiếp tục đoàn kết đấu tranh cách mạng giành chính quyền khi thời cơ đến.

Như lời ông Ké, Tổng khởi nghĩa cách mạng tháng Tám nổ ra, các tổ chức CM và nhân dân hưởng ứng đấu tranh giải phóng dân tộc, giành chính quyền về tay, có độc lập tự do.

Bản làng không còn cảnh quan Tây, lính dõng đánh đập, bóc lột dã man, ai cũng được tự do, có cơm no áo ấm. Người không chỉ làm thay đổi cuộc đời tôi mà thay đổi cả vận mệnh dân tộc. Những ngày tôi được gặp ông Ké không nhiều, nhưng những tình cảm, tư tưởng của Người dành cho tôi luôn là những điều kỳ diệu theo mãi bên tôi cùng năm tháng.

70 năm đã qua đi kể từ ngày Người về Pác Bó, bàn đá chông chênh Người ngồi dịch sử Đảng, chỉ đường, vạch lối đấu tranh cách mạng từ nơi đây đã trở thành bản trường ca về sức mạnh dân tộc, vươn tới những đỉnh cao của lịch sử đất nước.

Trong lòng núi rừng Pác Bó và người dân nơi đây vẫn ôm hình bóng Già Thu, hằng nhớ mùa xuân đón Bác về nhìn những đổi thay trên quê hương cội nguồn cách mạng. Đường đến Pác Bó hôm nay được Đảng, Nhà nước và nhân dân mở rộng to đẹp mang tên đường Hồ Chí Minh, hai bên đường nhà mái ngói đỏ tươi dưới chân núi. Pác Bó, Trường Hà hôm nay có đầy đủ đường, điện, trường, trạm… ; bà con tích cực tăng gia sản xuất, không còn cảnh đói nghèo.

Xóm bản nhớ ơn Người, nhân lên niềm tin khi thực hiện Cuộc vận động (CVĐ) “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Chi bộ xóm gắn thực hiện CVĐ với xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa, mẫu mực làm tấm gương cho con cháu noi theo. Các tổ chức, đoàn thể triển khai CVĐ gắn với nhiệm vụ hoạt động đề ra…

Chị Nông Thị Dung, xóm Pác Bó, tâm sự: Bác đã gắn bó với bản làng nơi đây, học tập và làm theo Bác lại càng có ý nghĩa để mỗi người phấn đấu xây dựng xóm làng no ấm như Bác hằng mong… Dân bản hưởng ứng CVĐ vượt khó vươn lên làm kinh tế, cái ăn, cái mặc thêm đủ đầy, cuộc sống được nâng lên, nhiều hộ đã vươn lên thành hộ khá, đoàn kết tình làng nghĩa xóm.

Con em trong bản phấn đấu học tập, làm theo lời Bác, nhiều thế hệ trưởng thành. Khu Di tích Lịch sử Pác Bó đang được đầu tư xây dựng hiện lên bề thế với những hạng mục tầm cỡ quốc gia gìn giữ di tích về Người, đón khách trong nước và bè bạn quốc tế đến với Pác Bó, đến với nơi Người mở đầu suối nguồn cách mạng, chặng đường đầu tiên cho vận mệnh dân tộc Việt Nam và thời đại Hồ Chí Minh.

Pác Bó hôm nay, vẫn núi thiêng hùng vĩ, trong veo tiếng suối ngàn như phút thiêng liêng mùa xuân xưa đón Người. Già Thu như vẫn ở nơi đây, bao tình cảm gắn bó với bà con không thể phai mờ. Muôn lòng dân làm theo lời Bác, đón Người về mỗi độ xuân sang.

Mạnh Hà (ghi tại Pác Bó)

baotintuc.vn

Thấm trong Di chúc

Bản thảo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Ảnh tư liệu

Suốt một đời Bác đã nghĩ về ta/ Đến phút cuối tim Bác trào lên bút/ Chữ xô dòng, lòng Bác buốt thương dân….

Thấm trong Di chúc

Suốt một đời Bác đã nghĩ về ta
Đến phút cuối tim Bác trào lên bút
Chữ xô dòng, lòng Bác buốt thương dân.

Ôi miền Nam không kịp nữa về thǎm
Nỗi nhớ tỏa trên mọi nhà mọi ngõ,
Phút chia biệt Bác nói lời đoàn tụ
Câu dặn dò nghe ấm vị hàn huyên.
Bác đi rồi còn trao lại niềm tin
Con không khóc, nhưng cứ trào nước mắt
“… đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc”

Bác Hồ ơi! Ngày đó chẳng còn xa
Ai ngờ đâu, tháng 9 mồng 3…

Quá thương đời và lo nỗi dân đau,
Bác cố tránh nói những lời ly biệt
Mượn câu thơ để khuây lòng thương tiếc.
Ôi lòng Người đo sao hết mông mênh
Nghĩ việc gì Bác cũng nghĩ từ dân
Nói về Đảng cũng vì dân mà nói,
Nước còn giặc, dân còn khi lạnh đói
Bác đắng lòng trong mỗi miếng cơm ǎn,

Thắng quân thù dẫu phải mấy mươi nǎm
Nhưng hạt thóc rụng giữa đồng Bác tiếc.
Nguồn biển lớn uống muôn đời không hết
Vẫn kính nhường từng hạt nước trong sông.

Bác Hồ ơi! Vị muối mặn con ǎn
Đã kết đậm bao tình thương của Bác,
Manh áo ấm con mặc khi trở rét
Đã dệt vào trǎm mối Bác lo toan.

Phút giã từ trong ánh mắt đǎm đǎm
Nỗi ưu ái lại trào lên lần chót:
Hãy giữ đức cho trong, giữ lòng cho khiết
Sống kiệm cần, tương kết tương thân…

Ôi giọng Người hiền như giọng cha ông
Cứ mộc mạc mà thấm vào mãi mãi,
Con nghe Bác hiểu thêm tầm thời đại
Sáng thêm lòng nhân ái Việt Nam ta.

Trọn một đời Bác chung thủy gần xa
Trǎm ơn nghĩa luôn nặng đằm bên dạ.
Lời vĩnh biệt đã thành lời cảm tạ
Giọng khiêm nhường ôm bốn bể anh em.

Thế kỷ này đâu phải đã bình yên
Trái tim lớn nặng niềm đau mặt đất.
Tình bè bạn, phút ra đi, còn nhắc
Dao cắt lòng nhưng vẫn ngập yêu tin.

Lần đầu tiên Bác nói đến niềm riêng,
Cả nước khóc nghe những lời dặn cuối.
Ôi trời rộng và núi cao vời vợi
Sông biển nào sánh được Bác thương ta!

Bữa cơm ǎn vẫn quen nhút quen cà,
Lúc nhắm mắt xin dân đừng tang chế.
Ôi tim Bác sao mà mênh mông thế!
Gương trong ngần cho muôn thuở cùng soi.

Triệu lòng người cùng cất gọi: Bác ơi!
“Muôn vàn tình thương yêu” Bác gửi lại trong lời
Chúng con đọc nghẹn ngào thấm thía
Tay Bác yếu không còn đều nét chữ
Tim Bác đập vẫn đồng bào đồng chí
Giây cuối cùng Bác vẫn gánh lo toan.

Bác Hồ ơi xin Bác cứ yên tâm!
Lời Bác dặn chúng con xin nguyện ước.
Mỗi giọt lệ thấm xuống dòng Di chúc.
Một lời nguyền vang đến suốt mai sau.

VŨ QUẦN PHƯƠNG
12-1969

tuoitre.vn

Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước và bước ngoặt của Cách mạng Việt Nam

Báo tin tức – Ngày 28 tháng 1 năm 1941 (mùng 2 Tết Tân Tỵ), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ làng Nậm Quang (Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc), nơi tổ chức lớp huấn luyện cho 43 cán bộ cách mạng Việt Nam đã trở về Việt Nam sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước. Bên cột mốc 108 trên biên giới Việt – Trung thuộc địa phận xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, Cao Bằng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đứng lặng hồi lâu xúc động.

Với sự nhạy cảm chính trị đặc biệt của một lãnh tụ thiên tài, Nguyễn Ái Quốc đã tìm cách ra đi, để rồi tìm cách trở về Tổ quốc, trở về trực tiếp lãnh đạo Cách mạng Việt Nam trước những bước ngoặt của tình thế đã được Người dự đoán.

Người dân thuộc địa hiếm hoi trở thành thành viên của Đảng Xã hội Pháp

Khi rời bến Nhà Rồng ra đi tìm một con đuờng mới cho cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, người thanh niên Nguyễn Tất Thành chỉ nung nấu một quyết tâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”.

Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp, ủng hộ luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên (12/1920). Ảnh tư liệu: TTXVN

Khi nhiều người đang ngoảnh nhìn về phương Đông với sự ngưỡng mộ “người anh cả da vàng” Nhật Bản – một đế quốc mới ở châu Á – đã chiến thắng nước Nga Sa hoàng năm 1905, hay ngưỡng vọng bác sĩ Tôn Dật Tiên với chủ nghĩa Tam dân nổi tiếng và cách mạng Tân Hợi 1911 ở Trung Quốc thì Nguyễn Tất Thành tìm đường sang phương Tây, đến nước Pháp, đến nơi sản sinh ra những lời đẹp đẽ: “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” đã từng làm rung động lòng mình khi còn ở tuổi thiếu niên.

Nguyễn Tất Thành muốn đến tận nơi sinh ra những lý tưởng cao đẹp đó để tìm hiểu xem làm sao người Pháp có được Tự do – Bình đẳng – Bác ái… Nguyễn Tất Thành đã chọn hướng Tây với mong muốn thiết thực: “Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”.

Tư liệu của Alain Ruscio, một nhà nghiên cứu Hồ Chí Minh người Pháp: Khoảng cuối năm 1918 hoặc đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành gia nhập Đoàn thanh niên xã hội và sau đó là Đảng Xã hội Pháp, vì nhận thấy có mối liên hệ giữa những hoạt động của đảng với khát vọng giải phóng dân tộc của mình. Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc đã trở thành đảng viên Xã hội Pháp “vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực nước tôi, là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại Cách mạng Pháp: “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” – như sau này tác giả Trần Dân Tiên đã thuật lại.

Nguyễn Ái Quốc là một trong số rất hiếm hoi thành viên của Đảng Xã hội Pháp khi đó là người dân của một xứ thuộc địa. Trong mùa hè năm 1919, người ta thấy Nguyễn Ái Quốc xuất hiện trong các cuộc họp của Đảng Xã hội, trong các cuộc họp của Tổng công hội, Hội Nhân quyền…

Tìm thấy nguồn sáng tương lai

Cho đến khi nổ ra những cuộc tranh luận trong Đảng Xã hội Pháp về vấn đề nên là thành viên của Quốc tế nào, Nguyễn Ái Quốc chưa hề đọc tác phẩm nào của V.I.Lênin. Anh ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga chỉ là theo cảm tính, mà chưa hiểu hết tầm quan trọng và ý nghĩa lịch sử của cuộc cách mạng vĩ đại này. Anh tỏ ra lúng túng trước những cuộc tranh luận.

Điều làm Nguyễn Ái Quốc lúng túng chính là “trong cuộc bàn cãi, người ta rất ít nói đến sự đoàn kết với các dân tộc thuộc địa. Nhưng đó lại là vấn đề tôi quan tâm hơn hết”. Điều mà Nguyễn Ái Quốc muốn biết nhất – vì đối với Người nó quan trọng nhất – là Quốc tế nào bênh vực nhân dân các nước thuộc địa, thì lại không thấy bàn đến trong các cuộc tranh luận đó.

Trong hai số liên tiếp ngày 16 và ngày 17/6/1920, báo L’Humanité (Nhân đạo) đăng “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin. Luận cương này được V.I.Lênin trình bày tại Đại hội II Quốc tế cộng sản họp từ ngày 19/7 đến 10/8/1920.

Luận cương của V.I.Lênin đã gây cho Nguyễn Ái Quốc một cảm xúc mạnh mẽ. Sau này Người kể lại: “Luận cương của Lênin làm tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Tôi vui mừng đến phát khóc lên”.

Qua Luận cương, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy sự ủng hộ, tìm thấy chỗ dựa, tìm thấy nguồn sức mạnh để vươn tới cái đích của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc – đã được chỉ rõ là sự chiến thắng của Chính quyền Xô viết với chủ nghĩa đế quốc thế giới.

Những điều này đã giải đáp những băn khoăn thắc mắc của Nguyễn Ái Quốc trước câu hỏi: Đứng về Quốc tế nào trong các cuộc tranh luận diễn ra ở các cuộc họp của Đảng Xã hội Pháp. Nguyễn Ái Quốc đã có câu trả lời rõ ràng: Đứng về Quốc tế III của Lênin, bởi vì “Chúng tôi thấy rằng việc Đảng Xã hội gia nhập Quốc tế III có nghĩa là Đảng hứa một cách cụ thể rằng từ nay Đảng sẽ đánh giá đúng tầm quan trọng của vấn đề thuộc địa”.

Ngày 30/12/1920, tại Đại hội Tua, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành một trong những sáng lập viên của Đảng cộng sản Pháp và bỏ phiếu tán thành tham gia Quốc tế III. Nguyễn Ái Quốc đã chính thức trở thành một chiến sĩ cộng sản đấu tranh cho lý tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Sự gặp gỡ tư tưởng Nguyễn Ái Quốc – Lênin này phản ánh những nhu cầu đang đặt ra của lịch sử là xác định một con đường đúng đắn cho cuộc đấu tranh giải phóng của dân tộc Việt Nam nói riêng và các dân tộc thuộc địa nói chung.

Nguyễn Ái Quốc chính là người đảm nhận nhiệm vụ lịch sử đó. Ánh sáng của tư tưởng Lênin đã soi rọi cho Nguyễn Ái Quốc con đường đấu tranh giải phóng, không chỉ cho dân tộc Việt Nam mà còn cho tất cả các dân tộc còn đang bị áp bức. Luận cương của V.I.Lênin chính là tia sáng đầu tiên của dòng ánh sáng đó.

Mặt trận Việt Minh – khối lực lượng chính trị quần chúng mạnh mẽ

Ngay sau khi Bác về nước, ngày 19/5/1941, giữa vùng núi rừng Pắc Bó, theo sáng kiến của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Mặt trận Việt Minh ra đời giữa lúc nhân dân Việt Nam đang rên xiết trong cảnh một cổ hai tròng, vận mệnh dân tộc đang trong cảnh nước sôi lửa nóng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường đi công tác, Tuyên Quang năm 1951. Ảnh tư liệu: TTXVN

Với một quyết tâm được xác định rõ trong chương trình của mình “làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập, làm cho dân Việt Nam được sung sướng tự do”, Mặt trận Việt Minh đã giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, tập hợp, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân trong cuộc đấu tranh giành độc lập tự do cho Tổ quốc.

Các tầng lớp quần chúng đông đảo được tổ chức trong những Hội cứu quốc là thành viên của Mặt trận Việt Minh: Nông dân cứu quốc; Công nhân cứu quốc; Thanh niên cứu quốc; Phụ nữ cứu quốc; Phụ lão cứu quốc; Văn hóa cứu quốc… đã làm cho Mặt trận ngày càng phát triển rộng rãi. Sự phát triển của các tổ chức cứu quốc lan rộng trên khắp các địa bàn nông thôn, thành thị, miền núi, từ Bắc vào Nam, đã làm thành một Phong trào Việt Minh sôi nổi, tạo nên những chuyển biến mạnh mẽ trong phong trào cách mạng thời kỳ tiền khởi nghĩa.

Mặt trận Việt Minh chính là sợi dây nối liền chặt chẽ Dân – Đảng, Đảng – Dân, để ý Đảng thấm tới lòng dân, tạo ra khả năng cho Đảng có thể phát động một cuộc Tổng khởi nghĩa toàn dân trên địa bàn cả nước.

Thông qua Mặt trận Việt Minh, Đảng ta đã xây dựng được một khối lực lượng chính trị quần chúng mạnh mẽ, được rèn luyện qua những phong trào cách mạng. Cũng do sự phát triển rộng khắp của phong trào Việt Minh, Đảng đã có điều kiện để duy trì các đội du kích, xây dựng những khu căn cứ địa cách mạng, hình thành lực lượng vũ trang cách mạng.

Tại Việt Bắc, trong cao trào tiến tới Tổng khởi nghĩa, đã xuất hiện những xã hoàn toàn, châu hoàn toàn. Tại những nơi đó, Việt Minh nắm chính quyền, bước đầu thử nghiệm mô hình chính quyền nhân dân, xây dựng cuộc sống mới.

Mặt trận Việt Minh ra đời là sự kế tục sự nghiệp đấu tranh của các tổ chức mặt trận đã được Đảng ta tổ chức trước đó: Hội phản đế đồng minh (11/1930); Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương (7/1936); Mặt trận Dân chủ Đông Dương (3/1938); Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương (11/1939).

Mặt trận Việt Minh ra đời là kết quả của quá trình vận động cách mạng, là sản phẩm của sự điều chỉnh chiến lược cách mạng Việt Nam đúng đắn sáng suốt của Đảng ta từ Hội nghị Trung ương 6 (11/1939) do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì và sau đó được Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh hoàn thiện tại Hội nghị trung ương 8 (5/1941).

Mặt trận Việt Minh còn là sự hiện thực hóa kết quả thắng lợi của sự phát triển đường lối, chủ trương chiến lược đoàn kết dân tộc, tập hợp đoàn kết quần chúng trong một tổ chức mặt trận dân tộc thống nhất, đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Đảng, đưa cách mạng đến thắng lợi.

Sự thành lập và hoạt động của Việt Minh đã trở thành nhân tố cơ bản quyết định thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945.

Sự ra đời và hoạt động của Mặt trận Việt Minh là kết quả của một tư tưởng cách mạng khoa học, sáng tạo. Đây cũng là một bài học thành công của Đảng ta và Hồ Chí Minh về công tác mặt trận và chiến lược đoàn kết dân tộc trong Cách mạng Việt Nam.

Trong suốt một thập kỷ, mọi thắng lợi của dân tộc, nhân dân ta đều gắn với hai chữ Việt Minh. Đồng chí Hoàng Quốc Việt trong tập hồi ký “Ánh sáng mới từ Pắc Bó – Đầu nguồn” viết: “Hai chữ Việt Minh trong một thời kỳ dài làm nức lòng đồng bào cả nước. Hai chữ Việt Minh còn mãi trong lịch sử chói lọi nét vàng son”.

Bạo lực cách mạng chống bạo lực phản cách mạng, giành chính quyền và bảo vệ chính quyền

Từ những chặng đầu tiên trong sự nghiệp cách mạng vĩ đại của mình, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức rõ con đường tiến lên của Cách mạng Việt Nam là con đường bạo lực cách mạng vô sản. Bởi, độc lập tự do không thể cầu xin mà có… Trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cần phải dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền. Quan điểm đó xuyên suốt trong cả quá trình Hồ Chí Minh lãnh đạo Cách mạng Việt Nam.

Hội nghị Trung ương lần thứ 8 cũng là mốc lịch sử đánh dấu bước phát triển hoàn thiện tư tưởng Hồ Chí Minh về vũ trang khởi nghĩa ở Việt Nam. Đó là cuộc khởi nghĩa vũ trang giành độc lập dân tộc do toàn thể dân tộc tiến hành “Đó là một cuộc đấu tranh to tát về chính trị và quân sự”.

Phương thức tiến hành khởi nghĩa từng phần tiến tới Tổng khởi nghĩa đã được Hồ Chí Minh nêu lên từ sớm: “Ở các nước Âu Mỹ, cuộc khởi nghĩa thường bắt đầu từ các cuộc đấu tranh chính trị rồi mới tiếp đến các cuộc vũ trang bạo động. Ở Đông Dương ta, khởi nghĩa có thể bùng ra ở một vài nơi rồi lan dần khắp nước. Khởi nghĩa có thể bùng ra ở nơi nhiều núi rừng tiện cho việc đánh du kích”.

Sau khi Bác về nước, trong những năm 1941 – 1944, những đội du kích, đội tự vệ được xây dựng ở nhiều xã, nhiều huyện thuộc tỉnh Cao Bằng. Những trung đội cứu quốc quân 1, 2, 3 – lực lượng vũ trang cách mạng được duy trì sau cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn tiếp tục được củng cố. Đây là lực lượng nòng cốt hỗ trợ cho phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng đang dâng cao, đặc biệt trong các tỉnh thuộc khu giải phóng Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên.

Trong khí thế đang lên của phong trào cách mạng, tháng 5/1944, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị: “Về sửa soạn khởi nghĩa”. Tháng 10/1944, Trung ương Đảng lại ra lời kêu gọi: “Sắm vũ khí đuổi thù chung”. Các địa phương ra sức củng cố xây dựng lực lượng vũ trang, tìm kiếm vũ khí, chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền… Phong trào chuẩn bị khởi nghĩa sôi nổi lan rộng.

Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ những bước phát triển của lực lượng vũ trang và việc chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa phải phù hợp với sự phát triển của tình thế cách mạng. Vấn đề quan trọng nhất là phải có đường lối chiến lược và sách lược cách mạng đúng đắn, phải chuẩn bị lực lượng đầy đủ, tạo thời cơ và nắm vững thời cơ, để khi thời cơ đến có thể nhanh chóng huy động lực lượng chớp thời cơ giành thắng lợi.

Đến tháng 7/1945, phát xít Đức, Italia đã bại trận trên chiến trường châu Âu, ở châu Á, phát xít Nhật đang trên đường thất bại và sụp đổ. Dù đang ốm nặng giữa rừng Tân Trào, Hồ Chí Minh vẫn chỉ thị cho các đồng chí: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là kết quả của sự kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, giữa phát triển phong trào quần chúng, xây dựng căn cứ địa cách mạng, chuẩn bị lực lượng chính trị và nhạy bén chớp thời cơ phát động toàn dân đứng dậy tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Mở cửa để Cách mạng Việt Nam thành một phần của cách mạng thế giới

Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp chỉ đạo Cách mạng Việt Nam cũng mang về những nhận định mới về tình hình thế giới và đề ra sách lược đối ngoại cho Cách mạng Việt Nam.

Là chiến sĩ cách mạng có kinh nghiệm hoạt động quốc tế lâu năm, luôn luôn theo dõi sát những diễn biến của tình hình, Nguyễn Ái Quốc có những nhận định quan trọng về tình hình thế giới cũng như đề ra những quyết sách cho Cách mạng Việt Nam trong bối cảnh Chiến tranh Thế giới thứ II đang lan rộng.

“Cuộc chiến tranh này gây ra nhiều tai họa cho nhân loại nhưng nó sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, do đó mà cách mạng nhiều nước sẽ thành công”, Nguyễn Ái Quốc nhận định, khi các kẻ thù của dân tộc lao vào cuộc chiến tranh sẽ tạo những cơ hội quý báu cho công cuộc giải phóng của nhân dân Việt Nam.

Người cũng truyền đạt và bồi dưỡng những nhận thức về tình hình quốc tế cho nhiều cán bộ trong các lớp bồi dưỡng chính trị cấp tốc, truyền cho họ sự tin tưởng vào thắng lợi của Cách mạng Việt Nam, thắng lợi của cách mạng các nước thuộc địa và cách mạng thế giới nói chung.

Bến Nhà Rồng TP Hồ Chí Minh, nơi cách đây tròn 100 năm, Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước. Ảnh: Thanh Vũ-TTXVN

Nguyễn Ái Quốc đã đặt Cách mạng Việt Nam trong bối cảnh chung của cuộc đấu tranh của toàn nhân loại chống chủ nghĩa phát xít. Nguyễn Ái Quốc tìm cách đặt mối liên hệ với đồng minh cho Cách mạng Việt Nam, để cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam hòa nhập trong cuộc đấu tranh chung của toàn nhân loại.

Người cũng là đầu mối trực tíếp trong nhiều mối quan hệ với các nước đồng minh, để Cách mạng Việt Nam có cơ hội nhận được những sự giúp đỡ trực tiếp bằng vật chất cho cuộc kháng Nhật cứu nước nhưng điều quan trọng hơn là tạo ra những tiền đề cho việc xác lập vị thế của nước Việt Nam độc lập trên trường quốc tế sau này.

Hồ Chí Minh đã thiết lập được những mối quan hệ với các lực lượng chống Nhật ở Trùng Khánh, với các cơ quan quân sự và tình báo Mỹ ở Côn Minh… Các đội du kích cách mạng ở Cao Bằng cũng đã nhận được những sự hỗ trợ về vũ khí, về phương tiện thông tin liên lạc và sự huấn luyện của một số chuyên gia quân sự đồng minh.

Trong cả cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn chú ý đến việc mở rộng cánh cửa để Cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận của cách mạng thế giới, để cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam là một bộ phận của cuộc đấu tranh của nhân loại tiến bộ vì hòa bình và những giá trị nhân đạo.

*  *  *

Nhiều nhà nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã thống nhất trong nhận định rằng: Hồ Chí Minh là một lãnh tụ luôn xuất hiện đúng lúc tại những thời điểm lịch sử mang tính bước ngoặt. Sự kiện Người trở về Việt Nam trực tiếp lãnh đạo cách mạng vào mùa xuân năm 1941, sau những năm dài tìm đường cứu nước, cũng là một sự kiện như vậy.

Ngô Vương Anh

baotintuc.vn