Tag Archive | Lãnh tụ vĩ đại

Bác Hồ luôn phê phán căn bệnh hình thức chủ nghĩa

Nhiều người vinh dự được sống và làm việc gần Bác Hồ đều có chung suy nghĩ – Bác không chấp nhận và luôn phê phán căn bệnh hình thức chủ nghĩa. Những gì là hình thức không cần thiết, bắt người khác phải theo, tổn hao công sức, tiền bạc của dân thì Bác không bao giờ chấp nhận.

Nhiều người vinh dự được sống và làm việc gần Bác Hồ đều có chung suy nghĩ – Bác không chấp nhận và luôn phê phán căn bệnh hình thức chủ nghĩa. Những gì là hình thức không cần thiết, bắt người khác phải theo, tổn hao công sức, tiền bạc của dân thì Bác không bao giờ chấp nhận.

Năm 1960, Bác Hồ về thăm quê. Các đồng chí ở Tỉnh ủy Nghệ an, dù đã được yêu cầu trước là đón tiếp Bác trang trọng, chu đáo, tiết kiệm, tránh phô trương, hình thức nhưng vẫn không chịu, với lý do vì đã lâu Bác mới có dịp về thăm quê. Tỉnh ủy chuẩn bị sẵn một chiếc ô tô con mui trần, còn lấy vải trắng kết xung quanh và lót phía trong xe. Bác xuống máy bay, mọi người mời Bác lên chiếc xe mui trần. Bác nhìn chiếc xe rồi cười: “Các chú cứ ngồi chiếc xe này chứ Bác không ngồi đâu! Bác về cốt là thăm quê hương, đồng bào, chứ có là quan khách đâu mà các chú làm hình thức, tốn kém”. Nói rồi, Bác bước về phía chiếc xe đi đầu của bảo vệ và ngồi bên cạnh người lái xe. Sau mấy phút ngơ ngác, anh em bảo vệ buộc phải ngồi trên chiếc xe bọc vải trắng. Dọc đường, nhân dân đều hướng về chiếc xe sang trọng, nhưng không thấy Bác đâu. ít ai ngờ rằng, Bác đã chọn ngồi ở chiếc xe cảnh vệ đi đầu.

Chưa hết, về đến nhà khách Tỉnh ủy, vừa trò chuyện, Bác vừa nhìn ra con đường dẫn vào nhà khách, thấy có nhiều bông hoa rực rỡ, nở đều, ngay ngắn hai bên. Bất chợt, Bác đi ra, dùng tay nhổ nhẹ một cành lay ơn. Cành hoa nhẹ bẫng, không có chút rễ nào. Gọi đồng chí Bí thư Tỉnh ủy tới, Bác nghiêm giọng nói: “Đây là một việc làm thiếu chân thực và lãng phí. Tưởng các chú trồng hoa thì hay, có lợi cho môi trường. Nào ngờ, vì Bác vào thăm nên các chú phải mua bông này về trồng. “Trồng” hình thức nó sẽ chết. Đây là một căn bệnh phô trương hình thức. Đón Bác như thế này Bác không vừa lòng !”. Các đồng chí trong Tỉnh ủy Nghệ An cùng xin lỗi Bác và hứa sẽ sửa chữa khuyết điểm.

Bác Hồ kính yêu là như thế đó. Phong cách giản dị đã làm cho Người trở nên vĩ đại ngay trong những việc nhỏ nhặt, bình thường.

Lê Minh

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh và Hồ Chí Minh học với tư cách những môn khoa học

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước, trong các văn kiện Nghị quyết của Đảng, Đảng ta đã khăng định: cùng với chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng và cách mạng Việt Nam, nền tảng tư tưởng của sự nghiệp đổi mới, là ý thức hệ chủ đạo của đời sống tinh thần xã hội. 

Nhận thức đúng đắn và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành một yêu cầu bức xúc, có tính thời sự hiện nay. Đó còn là yêu cầu cơ bản, lâu dài, có tầm quan trọng chiến lược đối với việc xây dựng Đảng Cộng sản cầm quyền trong sạch vững mạnh, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN để thực thi quyền lực nhân dân, làm cho nhân dân trở thành người chủ đích thực của xã hội, củng cố sự bền vững của chế độ bởi sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, bởi sự gắn bó máu thịt giữa dân với Đảng, với Nhà nước của mình.

Yêu cầu khách quan đó của sự nghiệp đổi mới để phát triển xã hội và phát triển dân tộc, chấn hưng kinh tế và văn hóa đã đặt ra những nhiệm vụ to lớn đối với công tác tư tưởng, nghiên cứu lý luận và khoa học xã hội – nhân văn ở nước ta. Đổi mới cũng tạo ra cơ hội và môi trường thuận lợi cho sự phát triển lý luận và KHXH-NV ở nước ta, nhất là từ Đại hội VII (1991) tới nay.

Trong khung cảnh xã hội đó, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành một trọng điểm của hoạt động nghiên cứu lý luận, của KHXH-NV ở nước ta. Lần đầu tiên, một chương trình nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh ở tầm quốc gia đã được xác lập trong hệ thống các chương trình nghiên cứu KHXH-NV. Đó là một trong mười chương trình nghiên cứu KH-CN cấp Nhà nước, mang mã số KX.02 được triển khai trong 5 năm (1991- 1995) do Giáo sư Đặng Xuân Kỳ làm Chủ nhiệm.

Chương trình nghiên cứu này, sau 5 năm thực hiện đã thu được nhiều thành tựu, tuy mới là bước khai phá mở đầu nhưng rất quan trọng, góp phần tích cực vào cuộc vận động tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong Đảng và trong xã hội. Mặt khác, từ những kết quả nghiên cứu này mà tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là một môn khoa học đã ra đời ở nước ta, đã chính thức được đưa vào giảng dạy trong các nhà trường ở bậc Đại học và Cao đẳng. Các giai đoạn nghiên cứu tiếp theo về KHXH-NV (1996-2000 và 2001-2005) vẫn tiếp tục đặt vấn đề nghiên cứu di sản tư tưởng Hồ Chí Minh như một trọng điểm của công tác nghiên cứu lý luận và công tác giáo dục tư tưởng chính trị trong toàn Đảng, toàn dân. Nó thấm sâu vào tất cả các chương trình, các đề tài nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau, đóng vai trò là cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu KHXH-NV ở nước ta.

Một sự kiện quan trọng là, Hội đồng Trung ương chỉ đạo việc biên soạn các gíáo trình quốc gia về các môn khoa học Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã sớm được thành lập. Sau nhiều năm nghiên cứu và biên soạn, hệ thống giáo trình quốc gia về các môn khoa học nói trên đã hoàn thành, được phê duyệt và xuất bản, cung cấp những định hướng tư tưởng và học thuật để tiếp tục xây dựng. Các giáo trình, giáo khoa cho các nhà trường Đại học và Cao đẳng của cả nước, phù hợp với ngành nghề đào tạo lần đầu tiên, giáo trình quốc gia về tư tưởng Hồ Chí Minh đã đuợc công bố, chính thức định hình môn khoa học non trẻ nhưng đầy triển vọng này. Về lâu dài, cần xây dựng đầy đủ các điều kiện để đào tạo cơ bản, dài hạn và chuyên sâu, hình thành một đội ngũ giảng viên chuyên nghiệp có trình độ hhoa học và sư phạm cao về tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chúng ta chẳng những đã định hình môn khoa học tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn xây dựng ngành khoa học nghiên cứu Hồ Chí Minh mang tên Hồ Chí Minh học. Cùng với chính trị học và các khoa học chính trị đã có, trong bức tranh KHXH-NV của nước ta, từ nay đã có thêm Hồ Chí Minh học. Ngành khoa học này ra đời sẽ làm cho ”Đất nước học”, ”Dân tộc học”, ”Việt Nam học” của nước ta trở nên sống động, phong phú, sâu sắc, mới mẻ và hiện đại hơn nhiều. Bởi vì, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với đạo đức, nhân cách và lối sống của Người, cả cuộc đời và sự nghiệp của Người với tầm vóc của một nhà tư tưởng lỗi lạc, nhà tổ chức thiên tài, danh nhân văn hóa kiệt xuất thế giới… chung đúc lại là sự kết tinh và thăng hoa từ những gì ưu tú, tốt đẹp nhất của đất nước, dân tộc, con người Việt Nam, của trí tuệ và tâm hồn Việt Nam, của truyền thống, bản sắc văn hóa Việt Nam. Có thể rút ra một số nhận xét về mối quan hệ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với Hồ Chí Minh học làm cơ sở cho việc phân tích lý luận và thực tiễn về phương pháp giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh trong các nhà trường ở nước ta hiện nay.

Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh là nội dung lý luận của Hồ Chí Minh học với tư cách là một khoa học. Nếu Hồ Chí Minh học là khoa học nghiên cứu về Hồ Chí Minh thì nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận cấu thành của khoa học này. Đây là bộ phận cốt lõi, chủ yếu nhất. Khoa học nghiên cứu các vĩ nhân, danh nhân chú trọng trước hết và chủ yếu tới nghiên cứu tư tưởng, học thuyết của họ.

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh chính là nghiên cứu Hồ Chí Minh trên phương diện lý luận, hoạt động lý luận, thế giới quan và hệ tư tưởng của Người. Bao quát một phạm vi rộng hơn, đa diện hơn, không chỉ là tư tưởng mà còn là cuộc đời – sự nghiệp, hoạt động thực tiễn, đấu tranh chính trị, hoạt động xã hội, sáng tạo văn hóa… Đó chính là hệ vấn đề mà Hồ Chí Minh học nghiên cứu. Là khoa học nghiên cứu vĩ nhân, Hồ Chí Minh học còn phải nghiên cứu tiểu sử, xây dựng hệ thống Biên niên tiểu sử Hồ Chí Minh. Vậy là nghiên cứu Hồ Chí Minh có phạm vi bao quát rộng hơn nhiều so với nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhìn theo quan điểm hệ thống và chỉnh thể thì có thể thấy hai lĩnh vực nghiên cứu này có quan hệ mật thiết, không tách rời nhau, dù mỗi lĩnh vực nghiên cứu đều có tính độc lập tương đối, có đối tượng và phương pháp nghiên cứu riêng, có đặc trưng và đặc thù riêng. Chỉ có nghiên cứu thấu đáo tư tưởng Hồ Chí Minh thì khoa học về Hồ Chí Minh mới thực sự sâu sắc, mới thực sự là một khoa học. Nhưng tính đúng đắn, chân thực và sự sâu sắc của nghiên cứu tư tưởng, lý luận chỉ có thể đạt được nếu đặt tư tưởng trong toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp của Người. Hơn nữa cuộc đời, sự nghiệp ấy lại không tách rời khỏi lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng và lịch sử Đảng, không thoát ly khỏi hoàn cảnh xã hội và thời đại, thế giới và quốc tế – như những nhân tố tác động tới sự hình thành tư tưởng của Người, ảnh hưởng tới cuộc đời tranh đấu hơn 6 thập kỷ và sự nghiệp của Người – sự nghiệp của một nhà chính trị chuyên nghiệp.

Những mối quan hệ này lại có thể hình dung là quan hệ giữa hoạt động lý luận với hoạt động thực tiễn chính trị của Hồ Chí Minh, là sự phát triển lôgíc của Hồ Chí Minh từ nhận thức tới hành động, từ lý luận tới thực tiễn và thực hành đấu tranh cách mạng. Tư tưởng phản ánh thực tiễn và thực tiễn được kết tinh, được khái quát thành tư tưởng trong hình thức lý luận.

Thứ hai, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như nghiên cứu tư tưởng của bất cứ một vĩ nhân, một nhà tư tưởng nào, nhất là khi nhân vật lịch sử ấy đã qua đời, nghĩa là đã kết thúc những hoạt động, đã lùi vào quá khứ và để lại di sản thì lẽ đương nhiên phải chú trọng nghiên cứu tác phẩm mà họ để lại. Do đó, một trong những phương pháp đặc trưng của nghiên cứu tư tưởng và lịch sử tư tưởng là phương pháp phân tích văn bản theo trật tự thời gian để qua lịch sử mà tái tạo lại lôgíc tư tưởng của vĩ nhân. Tuy nhiên đây không phải là phương pháp duy nhất, đây chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ và không đủ. Tác phẩm không tồn tại biệt lập bên ngoài cuộc đời và sự nghiệp của tác giả. Tác phẩm cũng không tự nó hình thành mà nó là sự phản ánh, một sự vang vọng bởi những biến cố, thăng trầm của thời đại lịch sử. Tác phẩm cũng không tự biến mình thành cứu cánh, thành mục đích tự thân, không phải là toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của vĩ nhân, nó có thể chỉ là chỗ lấp lánh, là một phần tiêu biểu, máu thịt của tâm hồn và tư tưởng của họ.
Vậy là, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ được tìm thấy trong trước tác, văn phẩm của Người mà còn phải được nhận chân trong hoạt động thực tiễn phong phú của Người, hơn 6 thập kỷ tranh đấu, hy sinh, từ lúc Người quyết định ra đi, bôn ba góc bể chân trời tìm đường cứu nước cho đến giây phút cuối cùng, khi trái tim ngừng đập và khối óc ngừng suy nghĩ, đi vào cõi vĩnh hằng và để lại muôn vàn tình thương yêu dành cho con người và nhân loại (1911-1969).

Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là hệ thống quan điểm lý luận, hệ thống các luận điểm khoa học (bao gồm cả những dự báo, những tiên đoán khoa học) về cách mạng Việt Nam, về quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới, về chiến lược và sách lược cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc, giành chính quyền vào tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động, tiến dần từng bước tới CNXH, xây dựng chế độ XHCN về mọi mặt, về biện pháp, cách làm, bước đi trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam… mà hệ thống tư tưởng đó đồng thời còn là hệ thống phương pháp, phương pháp cách mạng, phương pháp tư duy, phương pháp ứng xử, giao tiếp, đối thoại với con người. Tư tưởng và phương pháp ấy quyện chặt vào nhau, thể hiện thành phong cách của Người. Như đã nói, đó không chỉ là trí tuệ và tư tưởng mà còn là đạo đức và nhân cách, là lối sống và văn hóa Hồ Chí Minh.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mỗi luận điểm, mỗi nguyên lý tư tưởng không chỉ có giá trị và ý nghĩa nhận thức mà còn là những chỉ dẫn về phương pháp hành động. Đó vừa là thế giới quan vừa là nhân sinh quan, 1à phương pháp luận đồng thời là ý thức hệ. Thống nhất giữa lý luận với phương pháp, thống nhất giữa tư tưởng với phương pháp và phong cách, giữa lý luận và thực tiễn, đem lý luận ứng dụng vào thực tiễn, từ thực tiễn tổng kết và khái quát hóa thành lý luận. Đó 1à một đặc điểm nổi bật của tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đặc điểm ấy ta thấy rõ tư duy biện chứng và năng lực thực hành phép biện chứng vào đời sống xã hội và hoạt động thực tiễn của Người.

Ở Hồ Chí Minh, thực tiễn hóa lý luận gắn liền với lý luận hóa thực tiễn một cách nhuần nhuyễn, tự nhiên, thành thục, không một chút nào gò ép. Người hiểu lý luận một cách thấu đáo nên làm chủ được lý luận. Người nắm bắt chính xác bản chất của thực tiễn, xu hướng vận động của nó, nên những dự báo của Người như là hệ quả hợp lôgíc của sự phân tích khoa học về thực tiễn, nhờ đó mà đúng đắn, phù hợp, được thực tiễn chứng thực. Người xa lạ với mọi biểu hiện giáo điều, chủ quan và tư biện. Người cũng vượt ra khỏi tính hình thức, khuôn sáo và cứng nhắc, tính thực dụng, thiển cận của chủ nghĩa kinh nghiệm thông tục Nhờ đó, thực tiễn Hồ Chí Minh là thực tiễn được khoa học hóa, được lý luận soi sáng dẫn dắt, nó xa lạ với lý luận suông và thực tiễn mù quáng. Hồ Chí Minh nhìn thấy giá trị bản chất ấy ở trong sự thống nhất lý luận với thực tiễn. Bởi vậy, Người căn đặn những người cách mạng: Học chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là thuộc lòng câu chữ mà điều cốt yếu là nắm lấy tinh thần và phương pháp của nó, để ứng xử với công việc và con người.

Thứ tư, tư tưởng Hồ Chí Minh và Hồ Chí Minh học là đối tượng của nghiên cứu khoa học vừa chuyên ngành vừa liên ngành và đa ngành, đồng thời là nội dung lý luận được truyền thụ cho mọi loại hình đối tượng đào tạo.

Giảng dạy và nghiên cứu khoa học về tư tưởng Hồ Chí Minh là hai lĩnh vực khác nhau, chúng tồn tại riêng, thống nhất chứ không đồng nhất, thống nhất trong khác biệt, thống nhất trong đa dạng.

Dù có những khác biệt nhưng giảng dạy và nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn đều có chung mục đích, mục tiêu khi tác động tới đối tượng, khi truyền ảnh hưởng, tác dụng của tư tưởng Hồ Chí Minh vào đời sống cá nhân và xã hội. Đối với bậc Cao đẳng, Đại học trở lên, giảng dạy và nghiên cứu khoa học gắn liền nhau, giảng đạy chỉ thực sự có kết quả khi việc giảng dạy đó đặt trên nền tảng của nghiên cứu khoa học và người giảng dạy không chỉ là chủ thể giáo dục sư phạm mà còn là chủ thể nghiên cứu sáng tạo, nhà sư phạm đồng thời phải là nhà khoa học, phải thực sự nghiên cứu khoa học để giảng dạy thực sự có tầm tư tưởng và khoa học, có những tìm tòi sáng tạo, những phát hiện mới mẻ về khoa học.

Theo GS.TS Hoàng Chí Bảo
Tạp chí Tư tưởng – Văn hoá số 1, năm 2005

cpv.org.vn

Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và nhân dân ta

(ĐCSVN) – Ngày 05 tháng 6 năm 1911, từ bến Cảng Sài Gòn, với hoài bão lớn lao, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Trong quá trình tìm đường cứu nước, Người đã đi rất nhiều nơi, từ Pháp, Người đã đến nhiều nước khác ở châu Âu, châu Phi, châu Mỹ. Người đã đến quê hương của Cách mạng Tháng Mười Nga, đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, đến với bản Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa…

Trong quá trình vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam và tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta giành được những thắng lợi to lớn, Người khẳng định: “Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”.

Tổng kết sâu sắc thực tiễn lịch sử hoạt động lãnh đạo của Đảng và của quá trình cách mạng Việt Nam từ khi thành lập Đảng đến nay, “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (Bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Đây là một luận điểm cực kỳ quan trọng được khái quát, rút ra từ thực tiễn phong phú, sinh động của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, nó chỉ ra nguồn gốc sâu xa của mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, được lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, chỉ lối.

Từ thực tiễn thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và trong công cuộc xây dựng đất nước, nhất là từ thực tiễn phong phú, sinh động và những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta giành được trong công cuộc đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng tiếp tục khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Ngày nay, khi sự nghiệp đổi mới vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng đi vào chiều sâu, những biến đổi trên thế giới nhanh chóng, phức tạp, khó lường; những vấn đề mới đặt ra trong đời sống xã hội ngày càng nhiều, càng đòi hỏi phải có những lời giải đáp thuyết phục, có cơ sở lý luận và thực tiễn. Trong lúc đó, các thế lực thù địch đang tìm mọi thủ đoạn hòng xuyên tạc, phủ nhận từng luận điểm trong học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để đi tới xoá bỏ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng và nhân dân ta. Vì vậy, hơn lúc nào hết, việc tiếp tục đi sâu nghiên cứu nhằm khẳng định, bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam đang trở thành nhiệm vụ quan trọng, cấp bách trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng ta hiện nay.

Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, chưa một học thuyết chính trị xã hội nào mà ngay từ khi mới xuất hiện lại thu hút sự quan tâm nghiên cứu, đấu tranh giữa các lập trường tư tưởng đối lập nhau như sự ra đời của chủ nghĩa Mác – Lênin. Cuộc đấu tranh hệ tư tưởng đó đã diễn ra ngay từ khi chủ nghĩa Mác – Lênin mới ra đời cho đến ngày nay. Điều đó không phải ngẫu nhiên, bởi vì chủ nghĩa Mác – Lênin là một khoa học, sự ra đời của chủ nghĩa Mác – Lênin đã thực sự giải đáp được những vấn đề mà thực tiễn cuộc sống của toàn nhân loại đặt ra. Trong lúc toàn bộ hệ thống lý luận của hệ tư tưởng tư sản đều tìm cách chứng minh cho việc duy trì sự tồn tại “vĩnh hằng” của chủ nghĩa tư bản và giai cấp tư sản, thì ngược lại, chủ nghĩa Mác – Lênin đã tuyên chiến với hệ tư tưởng tư sản, khẳng định sự diệt vong không thể tránh khỏi của chủ nghĩa tư bản và sự tất thắng của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới. Chính vì thế mà chủ nghĩa  Mác – Lênin đã “gây ra” sự thù địch mạnh nhất và lòng căm thù lớn nhất của giai cấp tư sản.

Lợi dụng sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, các nhà tư tưởng của giai cấp tư sản và bọn cơ hội, xét lại chủ nghĩa Mác – Lênin đã xuyên tạc rằng chủ nghĩa cộng sản không phải là tương lai của loài người. Chúng tuyên truyền, xuyên tạc, tấn công quyết liệt chủ nghĩa Mác – Lênin, lớn tiếng cho rằng chủ nghĩa Mác – Lênin đã lỗi thời, lạc hậu, rằng chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ có giá trị ở cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, thế kỷ XXI không còn phù hợp nữa, rằng sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu là minh chứng cho sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác – Lênin !

Trong thời đại ngày nay, chủ nghĩa Mác – Lênin không những không lỗi thời, lạc hậu như ai đó vẫn rêu rao, mà chủ nghĩa Mác – Lênin đã, đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò là kim chỉ nam cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân các dân tộc trên thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài, là nhà tư tưởng vĩ đại của cách mạng Việt Nam đã tiếp thu và vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin trên tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo. Người đã nắm bắt sâu sắc bản chất cách mạng và khoa học của học thuyết Mác – Lênin, vận dụng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của nước ta.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc thực sự đã cổ vũ, khích lệ cuộc đấu tranh của nhiều dân tộc thuộc địa và phụ thuộc. Trong thời đại ngày nay tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc đã được thế giới thừa nhận như là tư tưởng góp phần làm biến đổi bộ mặt thế giới. Vì thế, tư tưởng Hồ Chí Minh đã đi vào cuộc sống, đã trở thành những giá trị văn hoá bền vững không chỉ riêng của dân tộc Việt Nam mà còn là tài sản chung của nhân loại.

Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong quá trình tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhất là những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà nhân dân ta đã giành được sau hơn 25 năm đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc luôn gắn liền với học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng ta ngày càng nhận thức đầy đủ hơn, toàn diện hơn, sâu sắc hơn về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và khẳng định chỉ có trên cơ sở trung thành, vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam thì Đảng mới có khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng và mới tránh được nguy cơ sai lầm về đường lối.

Những nguyên lý, quy luật của chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn tiếp tục soi sáng con đường phát triển đi lên của nhân loại, trong cuộc đấu tranh cho mục tiêu cao cả là hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta và của cách mạng nước ta vẫn tiếp tục toả sáng trong sự nghiệp đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Hiện nay, lợi dụng những khó khăn, những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực, những khó khăn của tình hình trong nước, các thế lực thù địch càng ra sức chống phá cách mạng thế giới, cách mạng Việt Nam, công kích, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Cùng với những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, thì những diễn biến trong đời sống xã hội, sự tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập đã làm cho một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân phai nhạt mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, chạy theo lối sống thực dụng, giảm sút niềm tin vào chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự tất yếu thắng lợi của chủ nghĩa xã hội.

Trước tình hình đó, càng đòi hỏi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta phải kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là một đòi hỏi khách quan, cấp thiết, một yêu cầu có tính nguyên tắc và có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta. Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một nguyên tắc cơ bản chỉ đạo công cuộc đổi mới đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

Kiên định, khẳng định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và nhân dân ta, trước hết Đảng phải trung thành, nắm vững bản chất cách mạng và khoa học, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện, tình hình cụ thể của cách mạng Việt Nam, không máy móc, giáo điều. Lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở lý luận và phương pháp luận để tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan và thực tiễn đất nước, trên cơ sở đó đề ra cương lĩnh, đường lối đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và quy luật phát triển của lịch sử.

Cần phải tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn góp phần phát triển một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong quá trình nghiên cứu, vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin cần đi sâu làm rõ những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin đã hoàn toàn đúng đắn từ lúc mới ra đời cho đến nay vẫn đúng. Những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ đúng và phù hợp trong điều kiện lịch sử lúc đó, đến nay đã bị thực tiễn lịch sử vượt qua. Những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin là đúng nhưng những người vận dụng nó đã hiểu chưa đúng, chưa đầy đủ, chưa sâu sắc nên vận dụng không đúng. Những luận điểm cần được bổ sung, phát triển mà chủ nghĩa Mác – Lênin chưa đề cập đầy đủ, toàn diện phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử mới và những luận điểm hoàn toàn mới mà chủ nghĩa Mác – Lênin chưa từng đề cập đến.

Trung thành và kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là phải nắm vững mối quan hệ giữa kiên định và phát triển, tức là phát triển trên cơ sở kiên định nguyên tắc cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam, với xu thế thời đại. Thực tiễn luôn biến đổi, phát triển, nên lý luận Mác – Lênin cũng cần được bổ sung, đổi mới, phát triển nếu chúng ta không muốn lạc hậu so với cuộc sống. Chủ nghĩa Mác – Lênin là một hệ thống mở, không thể coi những nhận thức đạt được cho đến ngày nay là những chân lý tuyệt đích cuối cùng. Không ngừng phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin vừa là yêu cầu của thực tiễn xã hội vừa là yêu cầu nội tại  của học thuyết Mác – Lênin. Có phát triển và thông qua phát triển, chủ nghĩa Mác – Lênin mới tự bảo vệ được mình, mới phát huy được sức mạnh, sức sống của mình đối với thời đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Vì vậy bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh cũng chính là phát huy sức mạnh, sức sống của chủ nghĩa Mác – Lênin ở nước ta.

Đi đôi với việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phải kiên quyết đấu tranh với những quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Cần tổ chức nghiên cứu, nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh từ những luận điểm chung đến những luận điểm cụ thể trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

Cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của các cấp ủy đảng trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo đảm các hoạt động đấu tranh tư tưởng, lý luận theo đúng định hướng của Đảng, chặt chẽ về nguyên tắc, vững vàng về quan điểm chính trị, sâu sắc về lý luận khoa học, sắc bén trong phương pháp và đạt hiệu quả cao. Huy động lực lượng rộng rãi trong các cơ quan nghiên cứu lý luận, các cơ quan nghiên cứu khoa học, các cơ quan truyền thông, báo chí… tiến công chống các quan điểm sai trái, thù địch. Nâng cao chất lượng đấu tranh phản bác, tiến công tư tưởng, lý luận chống các quan điểm sai trái, thù địch theo hướng tăng hàm lượng khoa học, tăng độ sâu lý luận, cập nhật thông tin, luận cứ, luận chứng sắc bén, có lý, có tình, có sức thuyết phục cao. Cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan đến vấn đề đấu tranh dưới nhiều hình thức. Quan tâm đầu tư kinh phí, phương tiện, điều kiện cho các hoạt động đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch.

Ngày nay tình hình thế giới, khu vực và trong nước tiếp tục có những diễn biến phức tạp, cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận để bảo vệ chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ngày càng khó khăn, phức tạp hơn. Việc bảo vệ chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải có cơ sở lý luận, thực tiễn và bằng hành động cách mạng thiết thực cụ thể. Phải từng bước hiện thực hoá mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa trên đất nước ta. Phải chứng minh trên thực tế tính cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng kết quả hiện thực, bằng những thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Hơn 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nhân dân ta đã thu được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; kinh tế phát triển năng động, mức tăng trưởng kinh tế nhiều năm qua liên tục được giữ vững; môi trường chính trị, văn hoá, xã hội ổn định và phát triển; an ninh, quốc phòng được giữ vững và tăng cường; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng, khẳng định vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

Điều đó là một minh chứng sinh động, khẳng định Đảng ta đã tuyệt đối trung thành và vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn của cách mạng nước ta. Song chúng ta cũng cần nhận thức sâu sắc rằng, con đường mà chúng ta đang đi tới là không dễ dàng, bằng phẳng mà phải trải qua nhiều khó khăn, gian khổ. Nhưng chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, nhất định sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước sẽ thu được nhiều thành tựu to lớn trên các lĩnh vực của đời sống xã hội./.

Thiếu tướng, PGS. TS Nguyễn Vĩnh Thắng
(Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự – Bộ Quốc phòng)

cpv.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh – Tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta – Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh trong văn kiện Đại hội IX của Đảng – Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong Báo cáo Chính trị của Ban cấp hành TW trình bày tại Đại hội lần thứ IX của Đảng ở ngay phần “Về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”, đã khẳng định: Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dụng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Khẳng định này là sự tổng kết khoa học thực tiễn phong phú của cách mạng nước ta trong nhiều nǎm qua, là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta. Bài viết này xin góp phần làm rõ thêm quá trình nhận thức của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới ngày nay.

1- Trên con đường nhận thức của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong Vǎn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam nǎm 1991 đã ghi rõ: “Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động cách mạng”. Có phải đây là lần đầu tiên Đảng ta nói đến tư tưởng Hồ Chí Minh? Và sự nhận thức của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh từ đó đến nay phát triển như thế nào? Thật ra, ngay trong các vǎn kiện do Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh khởi thảo và được thông quá từ Hội nghị thành lập đảng Cộng sản Việt Nam tháng 2 nǎm 1930, đường lối, những quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh để được thể hiện.

Những vǎn kiện đầu tiên của Đảng như Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng tuy là khởi thảo, rất ngắn gọn, nhưng đã hàm chứa con đường phát triển của cách mạng Việt Nam là: “Tập hợp đa số quần chúng nông dân, chuẩn bị cách mạng thổ địa và lật đổ bọn địa chủ phong kiến… Tập hợp hoặc lôi kéo phú nông, tư sản và tư sản bậc trung, đánh đổ các đảng phái phản cách mạng như Đảng Lập hiến…” (trích Chương trình tóm tắt của Đảng” (1) và “tranh đấu để tiêu trừ tư bản đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản” (trích Tôn chỉ của đảng cộng sản Việt Nam) (2).

Như vậy, trong các vǎn kiện lịch sử này tuy chưa đưa ra khái niệm “tư tưởng Hồ Chí Minh”, nhưng tư tưởng của Hồ Chí Minh đã chỉ ra con đường phát triển của cách mạng Việt Nam; là cơ sở, nền tảng đường lối của Đảng ta. Đó là con đường cách mạng triệt để: con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đến Hội nghị TW lần thứ VIII tháng 5-1941, tư tưởng về con đường phát triển của cách mạng Việt Nam được bổ sung và phát triển thêm một bước, góp phần tích cực tạo thành chiến công của Cách mạng Tháng 8 – 1945: Phá tan xiềng xích Pháp Nhật, thành lập nước Việt Nam mới.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện trong đường lối kháng chiến kiến quốc, trong đường lối chính trị của Đảng ta. Trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, tác phong đạo đức, những quan điểm tư tưởng của Hồ Chí Minh là yếu tố quan trọng tạo thành đường lối kháng chiến là thành nguồn cổ vũ, động viên quân và dân ta kháng chiến thắng lợi. Vì vậy, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng – Đại hội kháng chiến, Đảng ta đã chỉ ra mối quan hệ khǎng khít giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối chính trị của Đảng ta: “Đường lối chính trị, nề nếp làm việc và đạo đức cách mạng của Đảng ta là đường lối, tác phong và đạo đức của Hồ Chủ tịch…”. Vì vậy: “Toàn Đảng hãy ra sức học tập đường lối chính trị, tác phong đạo đức cách mạng của Hồ Chủ tịch, sự học tập ấy là điều kiện tiên quyết làm cho Đảng ta mạnh và làm cho cách mạng đi đến thắng lợi hoàn toàn” (3).

Trong những nǎm tháng kháng chiến gian lao, chính “đường lối tác phong đạo đức” của Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự là nhân tố quan trọng tạo thành đường lối kháng chiến của dân tộc, động viên quân dân làm nên thắng lợi của kháng chiến. Đã hàng nhiều thập kỷ Đảng ta tổng kết những yếu tố làm nên những chiến thắng của dân tộc nhưng chưa có điều kiện đặt ra vấn đề nghiên cứu cuộc đời và tư tưởng Hồ Chí Minh như một nhiệm vụ tương ứng với tầm quan trong vốn có của nó.

Tình hình trên đây có nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, do bận kháng chiến. Thứ hai, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến quyền lợi, hạnh phúc của quần chúng nhân dân, thường “hoãn” lại những công việc ca ngợi công đức hay việc tổ chức Ngày sinh của Người.

Còn nhớ, sau Cách mạng Tháng Tám, chính Người đã khuyên nhà báo đến Phủ Chủ tịch xin viết tiểu sử của Người rằng: “chúng ta nên làm những công việc hết sức cần kíp đi ! Còn tiểu sử của tôi… thong thả sẽ nói đến” (4). Có lần, tại cuộc gặp gỡ với đông đảo quần chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc một phóng viên liên tục chĩa máy quay phim về Người rằng: Chú hãy hướng máy quay về phía nhân dân đi !. Trong kháng chiến chống Pháp cũng như chống Mỹ, không ít lần Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bố trí đi công tác địa phương trong dịp sinh nhật của Người. Tấm gương trong sáng, vì nước, vì dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự là nguồn cổ vũ mọi tầng lớp nhân dân nghe theo Đảng, Bác, phục vụ kháng chiến. Cả dân tộc tôn kính Người, gọi Người là vị “Cha già dân tộc” (5).

Mặt khác, đây cũng là một lý do làm cho việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh có phần muộn hơn so với tầm quan trọng vốn có của nó. Là Tổng Bí thư của Đảng ta, đồng chí Trường Chinh sớm thấy rõ vai trò đặc biệt quan trọng của Hồ Chí Minh cùng với tư tưởng của Người đối với tiến trình cách mạng Việt Nam. Đồng chí Trường Chinh là người lãnh đạo cấp cao của Đảng ta sớm có những tổng kết, những bài viết có giá trị khoa học, chính trị cao về Chủ tịch Hồ Chí Minh (như “Hồ Chủ tịch – người sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng ta”, “Kính chúc Hồ Chủ tịch mạnh khoẻ sống lâu” nǎm 1951). Tuy nhiên cũng phải đến giữa nǎm 1960, nhân địp kỷ niệm 70 nǎm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh thì khái niệm “Tư tường” mới được đề cập đến trong việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh.

Trong bài viết : “Hồ Chủ tịch, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam”, đồng chí Trường Chinh đã chỉ rõ mối quan hệ máu thịt giữa Hồ Chí Minh với cách mạng Việt Nam, giữa vai trò to lớn của tư tưởng đạo đức của Người đối với việc giáo dục tư tưởng đạo đức cho cán bộ đảng viên. Đồng chí Trường Chinh viết: “Ngày 19 tháng 5 nǎm nay, đồng chí Hồ Chí Minh Chủ tịch kiêm Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, vừa đúng 70 tuổi. Giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam ra sức thi đua yêu nước lấy thành tích chúc thọ vị lãnh tụ kính yêu của mình. Nhân dịp này, chúng ta hãy ôn lại tiểu sử và sự nghiệp của Hồ Chủ tịch, tìm hiểu và học tập tư tưởng, đạo đức và tác phong của Người để phục vụ nhân dân được tốt hơn” (6).

Đây là cái mốc quan trọng đánh dấu sự nhận thức của Đảng ta đối với vấn đề nghiên cứu học tập tư tưởng Hồ Chí Minh. Vấn đề cần được ghi nhận ở ngay mốc đầu tiên này là đồng chí Trường Chinh và Đảng ta đã sớm thấy rõ bản chất cách mạng, vai trò to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp phục vụ Tổ quốc phục vụ nhân dân. Trên thực tế, đường lối chính trị, tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh vẫn luôn luôn góp phần tích cực tạo dựng đường lối của Đảng ta. Tuy nhiên phải từ sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, việc nghiên cứu về cuộc đời và tư tưởng của Người mới được triển khai mạnh hơn. Đặc biệt là, bầu bạn, đồng chí quốc tế và không ít người trước đây đã từng “đối diện” với Hồ Chí Minh lại sớm có nhiều công trình nghiên về Người từ nhiều giác độ.

Có nhiều người đánh giá rất cao về Hồ Chí Minh, không chỉ về tư cách một chính khách, người anh hùng giải phóng dân tộc mà cả về tư cách nhà vǎn hoá lớn – một phẩm chất, một tư cách mà nhiều người Việt Nam còn chưa thấy được. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (3-1982) đã tiến thêm một bước trong việc đánh giá về ý nghĩa vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại hội xác định nhiệm vụ to lớn trước mắt là: “Đảng ta phải đặc biệt coi trọng việc tổ chức học tập một cách có hệ thống tư tưởng, đạo đức, tác phong của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong toàn Đảng”. Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991), vấn đề nghiên cứu học tập tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng. Hơn thế, Đảng ta còn khẳng định trong các vǎn kiện Đại hội chính thức rằng: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”.(7)

Đây là mốc có ý nghĩa đặc biệt trong việc xác định đúng đắn vị trí tư tưởng Hồ Chí Minh đối với toàn bộ tiến trình của cách mạng Việt Nam. Đây là “một bước phát triển hết sức quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận Đảng”(8). Tuy nhiên cũng cần thấy rằng, bước phát triển này đã được chuẩn bị từ rất lâu. Có thể kể ra từ Đại hội lần thứ hai của Đảng nǎm 1951, khi Đảng ta đặt vấn đề học tập đường lối, đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh. Nǎm 1991 là thời điểm tổng kết kinh nghiệm, bài học của cách mạng Việt Nam trong hơn 40 nǎm mà rút ra kết luận quan trọng về tư tưởng Hồ Chí Minh.

2- Phát huy sức mạnh cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới.

Nửa đầu những nǎm 80, Việt Nam cũng như nhiều quốc gia xã hội chủ nghĩa khác lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội. Đối mặt trực tiếp với tình trạng này, mỗi nước đều ra sức tìm kiếm con đường thoát khỏi khủng hoảng, truy tìm “chủ thuyết” xây dựng lý luận mới phù hợp với con đường giữ gìn và chấn hưng đất nước trong tình hình mới. Đối với Trung Quốc, đó và con đường cải cách mở cửa, đối với Liên Xô là Cải tổ. Còn đối với Việt Nam là Đổi mới. Nhiều nước xã hội chủ nghĩa khác cũng cố gắng tìm con đường đi cho mình, nhưng phần lớn họ đã không thành công.

Dẫn ra bối cảnh trên đây để thấy rằng: Đảng ta khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động cho Đảng ta là một sự lựa chọn lịch sử, là cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận. Đây là sự lựa chọn chưa có trong lịch sử, chưa có tiền lệ. Sự lựa chọn đúng sai sẽ liên quan đến vận mạng của cả dân tộc. ở đây cần thấy rõ cả 2 mặt của vấn đề lựa chọn. Một là, bản chất cách mạng triệt để, tính nhân đạo sâu sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác-Lênin là một yếu tố để Đảng và dân tộc ta lựa chọn làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ Nam cho hành động. Hai là, Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện đã mang trong mình tính cách mạng triệt để, tính chủ động sánh tạo trong mọi hoàn cảnh, nên trước bối cảnh cực kỳ khắc nghiệt này, Đảng ta đã sáng suốt khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở lý luận, chỗ dựa tinh thần cho việc giữ vững độc lập và chấn hưng đất nước.

Và trên thực tế đó là sự lựa chọn cực kỳ đúng đắn. Đảng ta tiếp tục dẫn đường đi cho dân tộc trong bối cảnh khủng hoảng. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Việt Nam đang phát triển với những triển vọng tốt đẹp. Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin là cơ sở của công cuộc Đổi mới. Chính vì vậy, đến Đại hội lần thứ VII (1996), Đảng ta tiếp tục khẳng định vai trò to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong đường lối của mình. Trong 6 bài học được rút ra sau 10 nǎm đổi mới, thì bài học thứ nhất là: Phải “kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” (Cùng với: giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong quá trình đổi mới, nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ tổ quốc) (9). Đến Đại hội lần thứ IX của Đảng (2001), tư tưởng Hồ Chí Minh chiếm phần quan trọng trong đường lối chiến lược của Đảng.

Lần đầu tiên, khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh được trình bày khá đầy đủ trong Vǎn kiện của Đại hội, trong phần “Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Đó là: “Tư tương Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiệu cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa vǎn hoá của nhân loại.

Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn nền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc, về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, về phát triển kinh tế và vǎn hoá, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; về chǎm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân…

Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta” (10). Vǎn kiện còn khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.”(11).

Việc khẳng định một lần nữa: Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ Nam cho hành động là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta. Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng cộng sản Việt Nam lãnhd dạo đã chỉ ra rằng : mọi thắng lợi của cách mạng đều gắn liền với đường lối cách mạng mang tính triệt để và sáng tạo của Đảng ; trong đó : tư tưởng Hồ Chí Minh là một yếu tố cực kỳ quan trọng đảm bảo cho đường lối của Đảng luôn mang tính cách mạng và sáng tạo trong mọi hoàn cảnh.

Ngày nay, khi công cuộc đổi mới càng triển khai toàn diện, đi vào bề sâu thì Đảng ta càng tìm thấy ở tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin nhiều quan điểm, kinh nghiệm quý báu. Bởi vậy, Đảng ta, một lần nữa trong các vǎn kiện Đại hội IX đã trình bày khá toàn diện về nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh, ở một vị trí cực kỳ quan trọng trong vǎn kiện : “Về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Đây là một sự khẳng định và một sự đảm bảo chắc thắng cho con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đó là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta. Cố Thủ tướng Phạm Vǎn Đồng đã có lần chỉ cho chúng ta giá trị của nguồn tài sản này : tư tưởng Hồ Chí Minh là một kho tàng đầy quý báu, là di sản chứa đựng biết bao giá trị, gia trị đó nói cho cùng là giá trị vǎn hoá mà chúng ta khai thác chưa được bao nhiêu./.

TS. Lê Vǎn Tích
Phó viện trưởng Viện Hồ Chí Minh

cpv.org.vn

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới

Với kết quả nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, Ðại hội IX của Ðảng đã nói rõ hơn những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh để định hướng cho toàn Ðảng, toàn dân học tập và vận dụng thực hiện trong giai đoạn mới.

Trong những năm đầu thế kỷ 21, đất nước ta có cơ hội lớn và cả thách thức không nhỏ. Tình hình thế giới đang diễn biến phức tạp, nhanh chóng, khó lường. Ðể thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong thời kỳ phát triển mới, cần thấm nhuần sâu sắc, vận dụng sáng tạo những nguyên lý và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết những vấn đề nóng bỏng mà thực tiễn đang đặt ra; nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh phải trở thành một nhiệm vụ mấu chốt của công tác tư tưởng của Ðảng, cần được toàn Ðảng thực hiện chặt chẽ, có chất lượng và hiệu quả.

Với tinh thần và ý nghĩa đó, ngày 27-3-2003, Ban Bí thư đã ra Chỉ thị số 23-CT/TW về đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới và nhân dịp kỷ niệm 113 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã phát động tổ chức đợt tuyên truyền, giáo dục sâu rộng tư tưởng Hồ Chí Minh. Ðây là một sinh hoạt chính trị rộng lớn, rất quan trọng cần được tổ chức chặt chẽ, khoa học, có hệ thống và sau này phải trở thành nền nếp thường xuyên trong hoạt động của Ðảng và trong đời sống xã hội ta.

Chỉ thị của Ban Bí thư đã được toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân ta đón nhận và tổ chức thực hiện với tinh thần tin tưởng, phấn khởi, hào hứng. Hơn một năm qua, các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị đã quán triệt nghiêm túc Chỉ thị 23-CT/TW, tổ chức đợt giáo dục, tuyên truyền sâu rộng, có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh trong Ðảng và toàn xã hội. Hoạt động nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh đã được tổ chức với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, sáng tạo và rộng khắp 64 tỉnh, thành trong cả nước, trong mọi tổ chức, đoàn thể, thu hút đông đảo mọi lứa tuổi, mọi đối tượng tham gia. Nhiều công trình, đề tài khoa học, hàng chục cuốn sách và tài liệu nghiên cứu, tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh đã được thực hiện và phổ biến rộng rãi. Hàng trăm nghìn lớp học được tổ chức, thu hút hàng chục triệu người tham gia học tập, nghiên cứu 10 chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí Minh. Trên các phương tiện thông tin đại chúng và trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật, nhiều tác phẩm văn học, báo chí, tuyên truyền về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh đã được giới thiệu rộng rãi ở trong nước và nước ngoài.

Ðây là lần đầu Ðảng ta phát động và tổ chức đợt nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh với quy mô rộng lớn và được chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, khoa học. Ðặc biệt là, cùng với việc nghiên cứu, tuyên truyền giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong các tổ chức, đoàn thể và học tập qua trường, lớp, qua sách, báo, trên các phương tiện thông tin đại chúng, Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương đã chỉ đạo hướng dẫn và tổ chức các cuộc thi báo cáo viên giỏi về tư tưởng Hồ Chí Minh từ cấp cơ sở đến toàn quốc; làm cho hoạt động nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh thêm sinh động hấp dẫn, hiệu quả, ấn tượng và lan tỏa. Các hội thi từ cơ sở đã thu hút sự tham gia của hàng vạn báo cáo viên ở mọi đối tượng, mọi lứa tuổi, là cán bộ, đảng viên, công nhân, viên chức, nông dân, bộ đội, công an, học sinh, sinh viên… Ðỉnh cao của các hội thi là cuộc thi chung khảo toàn quốc được tổ chức rất trang trọng, hoành tráng, ấn tượng, cảm động và đầy ý nghĩa tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, thủ đô Hà Nội vào đúng dịp kỷ niệm lần thứ 114 Ngày sinh của Bác (19-5-1890 – 19-5-2004).

Sau hơn một năm thực hiện Chỉ thị 23-CT/TW của Ban Bí thư, hoạt động nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân đã đạt được những kết quả bước đầu rất quan trọng, tạo cơ sở cho việc tiếp tục nghiên cứu tuyên truyền, giáo dục và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng sâu sắc hơn. Hoạt động nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành sinh hoạt chính trị rộng lớn, góp phần nâng cao nhận thức tư tưởng, lý luận của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Qua nghiên cứu, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, những băn khoăn, vướng mắc, hoài nghi dao động trong nhận thức về mục tiêu lý tưởng và nền tảng tư tưởng của Ðảng, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, về bản sắc dân tộc và hội nhập quốc tế v.v… của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân đã được giải đáp sáng tỏ hơn.

Trên cơ sở nâng cao nhận thức tư tưởng, lý luận, đợt sinh hoạt chính trị lần này đã góp phần củng cố, nâng cao niềm tin và sự kiên định đối với nền tảng tư tưởng của Ðảng ta là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tin tưởng vào sự lãnh đạo của Ðảng và tương lai, tiền đồ của dân tộc, tin tưởng vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã từng bước tỏa sáng trong trái tim, khối óc của mỗi người Việt Nam, hướng về cội nguồn dân tộc, trân trọng, tự hào và giữ gìn các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống mà Bác Hồ là biểu tượng và mẫu mực của sự kết tinh các giá trị phương Ðông và giá trị nhân loại. Học tập, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh là dịp để mỗi người Việt Nam tự nhìn nhận lại chính mình, theo tinh thần Bác Hồ đã dặn: Học để hành, để làm người, để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, phụng sự giai cấp và nhân loại. Với ý nghĩa đó, tư tưởng Hồ Chí Minh đã tiếp tục khơi gợi tinh thần độc lập tự chủ, đổi mới và sáng tạo để nhìn nhận các vấn đề của dân tộc và thời đại sâu sắc hơn, tỉnh táo hơn, bản lĩnh hơn, trong mỗi chúng ta. Học tập, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh là thêm một lần khẩu hiệu “sống, chiến đấu, lao động, học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại” lại được khắc sâu vào tâm trí mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, tạo động lực tinh thần cho chúng ta tự tin, vững bước đi lên trên con đường mà Ðảng và Bác đã lựa chọn.

Tuy nhiên, trong năm qua, giữa bộn bề khó khăn, thách thức, lo toan, việc nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân ta tất nhiên khó tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Ðiều dễ nhận thấy là còn ít các công trình nghiên cứu khoa học, các tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí ngang tầm với tư tưởng và sự nghiệp của Bác và đòi hỏi của thực tiễn hiện nay. Tinh thần độc lập tự chủ, đổi mới và sáng tạo của Hồ Chí Minh chưa được nghiên cứu đầy đủ sâu sắc. Tư tưởng của Người chưa được vận dụng một cách toàn diện và gắn chặt với những lĩnh vực cụ thể của từng cấp, từng ngành, từng tổ chức, đơn vị. Việc tuyên truyền, giáo dục tư tưởng của Người được tổ chức trên diện rộng nhưng chưa thật sâu; lan tỏa song chưa tạo được sự chuyển biến thật sự trong hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Phải chăng vì nội dung nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục chưa được chuẩn bị thật công phu từ cơ sở; hình thức và phương pháp tuyên truyền, giáo dục ở nhiều nơi còn đơn giản, xuôi chiều. Tính khoa học, tính chiến đấu trong tuyên truyền, giáo dục chưa thật sâu sắc. Một bộ phận cán bộ làm công tác nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là ở cơ sở, chất lượng còn hạn chế, chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ.

Ðể đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới và nguyện vọng của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân, để xứng đáng với công lao to lớn của Bác Hồ và tầm tư tưởng vĩ đại của Người, nghiên cứu công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh cần phải được tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa, tiến xa hơn nữa trong thời gian tới.

Ban Bí thư Trung ương Ðảng ra Thông báo kết luận về “Tiếp tục thực hiện tốt Chỉ thị số 23 ngày 27-3-2003 và đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới” đã chỉ rõ, trong năm 2004, 2005 các cấp ủy, địa phương, đơn vị cần làm tốt một số nhiệm vụ sau:

“Tiến hành rà soát để bổ sung xây dựng chương trình, kế hoạch nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo đảm việc nghiên cứu, học tập nghiêm túc, thiết thực, phù hợp thực tế của địa phương, đơn vị; nghiên cứu có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh và chú ý học tập những lời dạy của Người đối với ngành, đoàn thể, địa phương mình. Coi trọng việc đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống, học đi đôi với hành. Gắn việc học tập với rèn luyện, làm theo tư tưởng, đạo đức, lối sống cao đẹp của Người, nâng cao phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên; khắc phục những biểu hiện tiêu cực của chủ nghĩa cá nhân; liên hệ, vận dụng đúng đắn, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị của ngành, đoàn thể, địa phương, đơn vị. Ðẩy mạnh hoạt động nghiên cứu tổng kết thực tiễn làm cơ sở cho việc bổ sung Cương lĩnh và phương hướng, nhiệm vụ của Ðại hội X của Ðảng. Ðấu tranh phê phán, bác bỏ có hiệu quả các quan điểm sai trái, phủ định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh là nhiệm vụ chính trị quan trọng thường xuyên của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân; là nội dung trọng yếu trong công tác xây dựng Ðảng, là tình cảm, nguyện vọng thiết tha của mọi người Việt Nam. Nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh phải nhằm mục đích lâu dài, nhất quán, là biến tư tưởng của Người thành hiện thực; hình thành và phát triển tố chất Hồ Chí Minh, tinh thần độc lập, tự chủ, đổi mới và sáng tạo trong mỗi con người Việt Nam.

Nguyễn Viết Thông
Phó trưởng Ban Tư tưởng – Văn hóa T.Ư

cpv.org.vn

Đạo đức Hồ Chí Minh – một kiểu mẫu về sự nhất quán giữa tư tưởng và hành động

1. Quan niệm về đạo đức Hồ Chí Minh 

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của một người cộng sản mẫu mực, kiên định trên lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa quốc tế chân chính của giai cấp công nhân cách mạng.

Đó là đạo đức của người chiến sĩ suốt đời đấu tranh, dâng hiến cả cuộc đời và sự nghiệp của mình cho lý tưởng và mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp công nhân, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Do đó, đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức cách mạng, đạo đức hành động vì độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

Khi trả lời một nhà báo nước ngoài về điều quan tâm lớn nhất của mình trên cương vị người đứng đầu Nhà nước, Hồ Chí Minh đã nói: độc lập cho Tổ quốc, tự do cho dân tộc và hạnh phúc cho đồng bào. Đó là tất cả những gì Người mong muốn và hiểu biết. Với Hồ Chí Minh, đó chính là điều ham muốn, ham muốn tột bậc của mình, sao cho nước nhà được độc lập, nhân dân có tự do, có cơm ăn, áo mặc, được học hành, được sống một cuộc sống hạnh phúc. Ở đây, cái cụ thể, thiết thực và giản dị nhất mang hình ảnh biểu đạt cái lớn lao, cái vô giá, sâu xa nhất của cuộc sống con người, của sự phát triển và hoàn thiện nhân tính trong đời sống dân tộc và xã hội. Độc lập – Tự do – Hạnh phúc, đó là hệ giá trị chủ đạo của mục tiêu Giải phóng và Phát triển. Độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội là con đường lớn lao của lịch sử mà thời đại mới đã vạch ra, là quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam mà Hồ Chí Minh đã nhận thức được và dẫn dắt toàn dân tộc đi tới. Với hệ giá trị mục tiêu và phương thức thực hiện mục tiêu đó, Hồ Chí Minh đã đưa cách mạng Việt Nam đi vào quỹ đạo cách mạng của thời đại và sự phát triển của dân tộc Việt Nam hợp với trào lưu, xu thế của thế giới hiện đại. Thực hiện một đường lối chính trị lớn như vậy đòi hỏi Đảng cách mạng, người cách mạng phải có trí tuệ lớn và đạo đức lớn. “Đường Cách mệnh”(1927) của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh ngay từ khi Đảng chưa ra đời đã nói tới hai điều hệ trọng: “phải giữ chủ nghĩa cho vững” và “ít lòng ham muốn về vật chất”. Suy đến cùng, đây là chỗ cao sâu nhất mà cũng là thử thách khó khăn nhất của đời người. Thời gian càng lùi xa, lịch sử càng chất chứa những biến cố thăng trầm, phong trào Cách mạng càng phát triển thì dự cảm nêu trên của Người chứng tỏ rõ tính đúng đắn và sáng suốt biết bao. Đó là tính đúng đắn của chân lý và sự sáng suốt của lịch sử.

Đạo đức cách mạng, đạo đức hành động Hồ Chí Minh là cả một hệ thống lý thuyết tư tưởng phong phú và tinh tế, nổi bật các đức tính, chuẩn mực, các nguyên tắc ứng xử, lại được diễn tả cô đọng hàm xúc trong hình thức tối thiểu của ngôn từ. Đó là “Cần, kiệm, liêm, chính” – bốn đức tính để làm người mà thiếu một đức thì không thành người, có đủ cả bốn đức mới là người hoàn toàn .

Đó là, nguyên tắc ứng xử chí công vô tư, là bản lĩnh biết quên mình, biết vượt qua những vướng bận toan tính cá nhân để vì người chứ không vì mình, vị tha chứ không vị kỷ. Bản lĩnh này là sức mạnh bền bỉ để đánh bại chủ nghĩa cá nhân, chiến thắng giặc nội xâm, suốt đời tu dưỡng đạo đức cách mạng, coi phục vụ nhân dân là phục tùng một chân lý lớn nhất, là lẽ sống cao thượng nhất. Trên phương diện đời sống cá nhân, trong quan niệm giữa con người – chủ thể hoạt động với cá nhân chủ thể mang nhân cách, đây là cuộc hành trình tới Tự do. Sự hoàn thiện đạo đức là một bản lĩnh văn hoá dẫn tới nhân cách của con người tự do và làm chủ. Xưa nay, khó khăn lớn nhất vẫn là khó khăn tự vượt qua chính bản thân mình.

Triết lý đạo đức Hồ Chí Minh “Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” sâu xa là vì vậy.

Người không chỉ nhận rõ chân giá trị ấy mà Người còn tự mình thực hiện một cách triệt để, nhất quán trong cả cuộc đời mình. Nội dung đạo đức trong “Di chúc” nổi bật tư tưởng lớn: tu dưỡng đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân.

Bài báo cuối cùng Người viết cũng vẫn chủ đề ấy, theo đuổi đến cùng tư tưởng đạo đức ấy.

Người không chỉ thực hành và nêu gương mà còn làm hết sức mình, công phu rèn luyện, giáo dục đạo đức cách mạng cho lớp lớp cán bộ, đảng viên, cho quần chúng nhân dân ở mọi tầng lớp, nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính. Việc ”trồng người” là việc của lợi ích trăm năm, của chiến lược xây dựng một xã hội văn hóa cao, phải công phu tỷ mỷ, phải dựa trên một nguyên tắc ứng xử thấm nhuần sâu sắc chất nhân văn, phải có tấm lòng nhân ái bao la, khoan dung độ lượng và độ lượng vĩ đại. Có nâng niu giá trị con người, có tôn trọng nhân cách và lòng tin cậy chân thành đối với con người thì mới có sức mạnh cảm hóa, thuyết phục lòng người.

Làm cho cái hay, cái tốt ở mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân còn cái dở, cái xấu sẽ mất dần đi. Khoa học và Nghệ thuật giáo dục con người của Hồ Chí Minh có nội dung bao trùm và chủ đạo là giáo dục và thực hành đạo đức cách mạng.

Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng đạo đức gắn liền mật thiết với tư tưởng về văn hoá chiếm một vị trí nổi bật, có giá trị bền vững với những đặc tính sáng tạo độc đáo cần được cảm thụ để tự nhận mình và tự giáo dục mình theo gương sáng của Người. Trên phương diện này (đạo đức), Hồ Chí Minh là một nhà đạo đức học. Người không phải là nhà đạo đức học hàn lâm, kinh viện mà là một nhà đạo đức học thực hành, thực hành một cách biện chứng, sáng suốt, đầy chất trí tuệ và nhân văn. Lý thuyết đạo đức Hồ Chí Minh chuyển vào thực tiễn đạo đức xã hội mà đời sống đạo đức của Người như một tấm gương sáng tiêu biểu về đạo đức. Đó là một nét riêng, tính đặc thù riêng, in đậm dấu ấn, phong cách riêng của Hồ Chí Minh. Người vẫn thường căn dặn chúng ta, nói ít làm nhiều, cái chủ yếu là hành động. Chỉ nói và viết khi cần thiết, lại phải nói và viết ngắn gọn, giản dị sao cho quần chúng dễ hiểu. Hiểu để làm, để làm đúng và làm tốt. Hơn nữa, để quần chúng noi theo, làm theo thì mỗi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu làm trước, đã nói thì phải làm, lời nói đi đôi với việc làm.

Đây là thước đo tính trung thực đạo đức, là sự thành thật, là ”thật thà nhúng tay vào việc” (Dân vận, 1949). Cái bản chất chân chính của Khoa học đạo đức gặp nhau ở đó – cái ”Chân” xa lạ, đối lập với cái “giả”. Đạo đức hành động vì mưu cầu tự do, hạnh phúc cho con người là động lực tinh thần thúc đẩy hành động quên mình, dũng cảm, hi sinh vì sự nghiệp giải phóng những người lao động ra khỏi tình cảnh nô lệ, thực hiện tự do và làm chủ. Nó bắt gặp và thực hiện khát vọng giải phóng của muôn triệu người tự muôn đời. Đạo đức ấy và thực hành đạo đức ấy hợp với lòng dân, được dân chúng noi theo, trái lại, thói giả đạo đức là một trong những điều tệ hại nhất, mất lòng tin nhiều nhất của dân chúng. Người nói, một tấm gương tốt quý giá hơn hàng trăm bài diễn văn là vì vậy.

Như thế, đạo đức Hồ Chí Minh và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh hệ thống nhất nhưng không đồng nhất. Tư tưởng đạo đức là phần lý luận, là triết lý của Người. Ngoài bộ phận cốt yếu ấy, thuộc về nhận thức, đạo đức Hồ Chí Minh còn là phương pháp giáo dục và thực hành đạo đức mà Người đặc biệt chú trọng trong thực tiễn, trong lối sống, ứng xử, trong quan hệ con người, trong các công việc thực tế để rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng.

Đạo đức Hồ Chí Minh còn có một phương diện, một cấp độ nữa, đó là đời sống đạo đức của bản thân Người với tư cách là một con người bình thường giữa muôn người khác, dù hết sức vĩ đại nhưng lúc nào và ở đâu, Người cũng chỉ coi mình là một con người bình thường giữa muôn người khác. Bỏ qua phương diện này trong nghiên cứu sẽ là một thiếu hụt lớn, sẽ không thể hình dung được sự sâu sắc, phong phú, đa dạng trong tư tưởng và sự nghiệp của Người, trong thế giới tinh thần, lối sống và nhân cách của Người.

Tổng hợp cả ba phương diện ấy, nhìn nhận từ ba chiều cạnh ấy, trong sự thống nhất tư tưởng với phương pháp, lý luận với thực tiễn mới có thể nhận thức đầy đủ Đạo đức Hồ Chí Minh

Có một vấn đề cần lưu ý trong nghiên cứu và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là muốn hiểu đúng tư tưởng của Người, trong đó có tư tưởng về đạo đức, thì không chỉ dừng lại ở phân tích các văn phẩm, tác phẩm của Hồ Chí Minh, nhất là khi sự tinh tuý và thâm thuý trong tư tưởng của Người lại không nằm ở trong lời văn, câu chữ mà vượt lên và thoát ra khỏi những lời, những chữ Người nói, Người viết. Cùng với điều đó còn phải đặc biệt chú trọng tìm hiểu nghiên cứu đời sống đạo đức của Người, hoạt động thực tiễn phong phú, đa dạng của Người, sự phong phú của các mối quan hệ giữa Người với Dân, với Đảng, với các địa phương, vùng, miền trong cả nước, với các bạn bè quốc tế, tình cảm yêu mến, sự kính trọng và lòng ngưỡng mộ của nhân dân ta và nhân dân các dân tộc trên thế giới dành cho Người.

Chỉ như vậy chúng ta mới hiểu được đạo đức Hồ Chí Minh – một kiểu mẫu về sự nhất quán giữa tư tưởng và hành động.

Đạo đức Hồ Chí Minh cho ta hiểu thêm một phương diện đặc sắc trong cuộc đời và sự nghiệp của một nhà tư tưởng Mác xít sáng tạo lớn của cách mạng Việt Nam, một trí tuệ lớn và một nhân cách lớn, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất thế giới.

Đạo đức Hồ Chí Minh tiêu biểu cho truyền thống đạo đức và tinll hoa Văn hoá dân tộc, là sự kết hợp hài hoà giữa truyền thống và hiện đại, hiện thân của các giá trị Văn hoá Chân – Thiện – Mỹ trong thời đại mới, thời đại của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là thời đại Hồ Chí Minh, thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử quang vinh của dân tộc ta.

Đạo đức Hồ Chí Minh cùng với tư tưởng và sự nghiệp của Người mãi mãi là di sản tinh thần vô giá đối với các thế hệ người Việt Nam và dân tộc Việt Nam, mãi mãi có mặt trong hành trang của chúng ta trên con đường đi tới thắng lợi của đổi mới và CNXH.

2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh 

– Tư tưởng về đạo đức có thể nói đó là hợp điểm tư tưởng về con người và tư tưởng về văn hoá của Hồ Chí Minh.

– Với con người, Hồ Chí Minh coi đạo đức là gốc, là cái quan trọng nhất quyết định tính cách, tức là nhân cách. Đức phải gắn với tài và tài phải có đức đảm bảo. Theo Người, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, còn có tài mà không có đức sẽ không làm được điều ích lợi cho đời , thậm chí còn có hại, sinh ra những thói xấu như kiêu căng, tự mãn, ích kỷ rồi thành hư hỏng, có khi phạm tội. Bởi thế, Người đòi hỏi có đức phải có tài và có tài phải có đức.

Người thường gọi đức và tài là hồng và chuyên, là chính trị và chuyên môn. Trước hết phải có chính trị rồi có chuyên môn, do nhờ bền bỉ rèn luyện, khiêm tốn học hỏi, nhất là tự học tập suốt đời, học tập đi liền với lao động và tranh đấu. Chính trị là hồn, chuyên môn là xác. Cán bộ, công chức phải thạo chính trị, giỏi chuyên môn. Lãnh đạo việc gì, ngành nào phải am hiểu kỹ chuyên môn việc ấy, ngành ấy, có như vậy lãnh đạo mới có kết quả, mới tạo được nhất trí, đồng thuận.

Văn hóa có cốt lõi của nó là ở đạo đức. Thiện- Ác, Tốt- Xấu, hay- dở đều có ở con người và phần nhiều là kết quả của giáo dục. Tuỳ thuộc ở môi trường, hoàn cảnh và giáo dục như thế nào mà con người có thể tốt hay xấu. Do đó, giáo dục trước hết và chủ yếu là giáo dục đạo đức, sửa chữa, cải tạo cái xấu, vun trồng, tập luyện cái tốt. Người xác định học để làm việc, làm người, học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp – dân tộc – nhân loại . Người đặc biệt chú trọng tới các đức tính mà giáo dục các đức tính thì phải chăm lo từ bé, có sự chỉ dẫn tỷ mỷ, chu đáo, nêu gương của các thầy giáo, cô giáo. Giáo dục nhà trường là trung tâm để hình thành nhân cách. Song phải có hỗ trợ lẫn nhau giữa giáo dục gia đình – nhà trường và xã hội.

Đạo đức và giáo dục thực hành đạo đức là vấn đề của Văn hóa. Sự yếu kém, thiếu hụt đạo đức có thể làm thương tổn xã hội, dẫn tới những phản đạo đức và phản văn hóa. Những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về đạo đức và giáo dục thực hành đạo đức đều mang ý nghĩa Văn hoá đạo đức, thấm vào nhận thức, tình cảm, vào hành vi, lối sống, sự ứng xử của con người, giữa người với người trong xã hội.

– Chiếm vị trí trung tâm trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức Cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân bằng cách ra sức rèn luyện, đạo đức cách mạng.

– Theo Hồ Chí Minh, đạo đức Cách mạng là đạo đức mới mang bản chất giai cấp công nhân và thấm nhuần những gì tốt đẹp nhất của đạo đức dân tộc và phát huy truyền thống đạo đức dân tộc. Người đã kế thừa những giá trị tốt đẹp của truyền thống như: yêu nước, thương dân, đoàn kết cộng đồng, lòng nhân ái, tình thương yêu đồng loại, ngay thẳng, thủy chung, can đảm. Người cũng phê phán, cải tạo những mặt tiêu cực của đạo đức phong kiến, những mặt tiêu cực của đạo đức Nho giáo như: thói nhẫn nhục cam chịu, thụ động, những thành kiến đối với lao động chân tay, bất bình đẳng với phụ nữ, những quy định khắt khe, những hủ tục làm lệch lạc nhân cách con người. Đặc biệt, Người đòi hỏi phải xoá bỏ những tàn dư của đạo đức phong kiến thực dân đã lạc hậu, lỗi thời, thậm chí là những nọc độc, đầu độc tinh thần con người, nhất là đầu óc nô lệ, chủ nghĩa vị kỷ, hưởng lạc, chủ nghĩa cá nhân cực đoan, lối sống tư sản. Đó là thứ đạo đức chẳng những cản trở xã hội phát triển mà còn làm lệch lạc tâm hồn con người, đánh mất nhân tính.

– Là nhà cách tân, đổi mới, Người đã cách mạng hoá quan niệm đạo đức, đã đưa đạo đức mới, chủ nghĩa nhân đạo cách mạng và tinh thần nhân văn cách mạng vào đạo đức và đời sống đạo đức. Người sử dụng hình thức cũ của những khái niệm, phạm trù đạo đức nhưng đưa vào đó những nội dung hiện đại, nội dung đạo đức cách mạng, đạo đức hành động vì dân, hướng tới dân.

– Bên cạnh cần kiệm liêm chính, Người còn nói tới Nhân – Trí – dũng – Liêm – Trung, tinh thần hy sinh, lòng dũng cảm, khí tiết đạo đức cao quý của ông cha ta, sự đề cao trí tuệ, phẩm giá con người. Vận dụng phương châm xử thế của người xưa, Người nói rõ đạo đức công dân, trách nhiệm công dân và thái độ ứng xử đối với dân, gắn liền trách nhiệm và lợi ích, quyền và nghĩa vụ. Với Hồ Chí Minh, chính trị là đoàn kết và thanh khiết, từ việc nhỏ tới việc lớn. Theo Hồ Chí Minh, phải xây dựng Đảng chân chính cách mạng, làm cho Đảng trở thành Đảng của đạo đức và văn minh. Đạo đức cách mạng trong Đảng, trong cán bộ, đảng viên, nhất là ở những người lãnh đạo, cầm quyền là hạt nhân của đạo đức cách mạng – một nền đạo đức mới tiêu biểu cho xã hội mới.

– Điều quan trọng và thiết thực là ở chỗ, Người chỉ rõ: phải thực hành đạo đức cách mạng trong công việc, trong tổ chức, trong phong trào thi đua yêu nước, trong lối sống và hành vi của cán bộ công chức đặc biệt là những người lãnh đạo có chức có quyền. Chú trọng bồi dưỡng tình cảm cách mạng, đem những nội dung mới, tinh thần đổi mới và quyết tâm đổi mới để xây dựng đạo đức cách mạng. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng mới làm nên sự nghiệp. Cán bộ phải tích cực gần gũi mật thiết với quần chúng như máu với thịt, như cá với nước.

Người căn dặn cán bộ đảng viên, dù bất cứ ở cương vị gì, giữ trọng trách gì cũng phải luôn sâu sát dân và hướng tới dân, vì dân. Phải tận trung với nước, tận hiếu với dân, làm đầy tớ và công bộc của dân, do đó phải dân chủ, không rơi vào ”quan chủ”, là đầy tớ chứ không phải lên mặt quan cách mạng”. Làm điều lợi cho dân, tránh điều hại cho dân dù chỉ là một cái hại nhỏ. Không đảm bảo công bằng làm cho lòng dân không yên thì đó là điều nguy hại cho chế độ.

– Đạo đức cách mạng ở trong Đảng đòi hỏi phải nêu cao tính tiên phong gương mẫu, đấu tranh phê bình và tự phê bình, có lý có tình, thấu tình đạt lý, ăn ở với nhau có tình có nghĩa, phải có tình thương yêu đồng chí, giữ gìn sự sự đoàn kết trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Công chức nhà nước phải tận tâm tận lực với công việc, chấp hành luật pháp, tôn trọng kỷ luật công vụ, thi hành đạo đức công chức.

Ai nấy đều biết 6 điều Người dạy Công an nhân dân, trong đó có những lời thấm thía: với chính phủ phải tuyệt đối trung thành, với dân phải kính trọng lễ phép. Đây là những lời dạy chung cho tất cả mọi người, thấm nhuần đạo đức và văn hoá đạo đức mà nổi bật là Văn hóa trọng dân và trọng pháp.

– 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên nhi đồng với những nội dung: yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, yêu lao động, khiêm tốn, thật thà, dũng cảm là những bài học chuẩn bị cho thế hệ trẻ vào đời làm công dân tốt của nhà nước, làm chiến sĩ trung thành của chế độ.

Đạo đức cách mạng còn đòi hỏi tẩy trừ những thói xấu: tệ lãng phí, quan liêu, tham ô, tham nhũng, lãng phí là không thương dân, mỗi đồng tiền bát gạo mà chúng ta tiêu dùng đều từ mồ hôi nước mắt của dân, thương dân thì phải tiết kiệm. Tham ô là ăn cắp của công, ăn cắp của dân, là có tội với dân, là tội ác và kẻ thù của chế độ mới. Thực hành đạo đức cách mạng thì phải ra sức đấu tranh chống quan liêu tham nhũng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Đó là một cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ chống lại những thói hư tật xấu trong con người mình, cuộc đấu tranh đó âm thầm và quyết liệt, có không ít sự đau đớn ở trong lòng.

– Đạo đức cách mạng đối với tuổi trẻ, với thanh niên càng trở nên quan trọng để nuôi dưỡng hoài bão, chí khí lớn, nghị lực đấu tranh cho chân lý, đạo lý, tình thương, lẽ phải. Trung thực – Khiêm tốn – Đoàn kết – Vị tha- Nhân ái – Khoan dung, đó là những đức tính và giá trị đạo đực mà Người ra sức thực hiện ở mỗi con người. Lại có một điều thấm thía khác. Người căn dặn thanh niên: tuổi trẻ phải có chí tiến thủ, hoài bão lo việc lớn, vì nước vì dân trẻ phải biết tránh xa danh vọng, quyền lực vì những cái đó dễ làm hư hỏng con người.

Người không chỉ nêu lên những nội dung phong phú của đạo đức cách mạng mà còn gợi mở bao điều quý giá khác về giáo dục, thực hiện đạo đức cách mạng. Theo Người, phương pháp phải thích hợp, mềm dẻo, linh hoạt, đã đúng lại còn phải khéo nữa thì mới có sức thuyết phục lòng người.

Người đã nâng phương pháp giáo dục và thực hành đạo đức cách mạng lên tầm phương pháp tư tưởng, lên trình độ khoa học và nghệ thuật, có sức lôi cuốn, thuyết phục mạnh mẽ lòng người ở mọi đối tượng, tầng lớp, thế hệ.

Như đã nói ở trên, sức thuyết phục mạnh mẽ của đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ ở trí tuệ, tư tưởng mà còn là ở sự khéo léo, tinh tế nhất là ở tấm gương trong sáng, mẫu mực về đạo đức của Người trong đời sống đạo đức hàng ngày.

Người đã thực hiện nhất quán giữa tư tưởng đạo đức và hành động đạo đức. Suốt một đời tận tụy vì dân, vì nước, Người là biểu tượng cao quý của đức hy sinh, lo cho dân, sống vì dân, thấu hiểu dân tình, dân sinh, dân ý, trở thành lãnh tụ của dân, thân dân và chính tâm. Tình thương yêu rộng lớn của Người đối với nhân dân, đồng bào là không bao giờ thay đổi. Lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, đó là phương châm ứng xử và hành động của Người.

Người là lãnh tụ gần dân, sống trong lòng dân, đến với dân chân tình cởi mở, không một chút nào xa lạ, quan cách.

Người sống một cuộc sống đạm bạc, đồng cảm với dân, làm tất cả những gì có thể làm được để chăm lo cuộc sống hàng ngày những lợi ích thường nhật của dân.

Người tiếp xúc với mọi tầng lớp nhân dân từ chính khách, trí thức cao cấp tới dân thường để mưu cầu hạnh phúc thiết thân hàng ngày của họ. Người trung thành đến cùng với mục tiêu lý tưởng đã theo đuổi mà thực chất là để cho mọi người dân được sống trong độc lập tự do, có độc lập tự do thì mới có hạnh phúc. Vì thế, Người đảm nhận chức vụ lãnh đạo trong sự tín nhiệm tuyệt đối của dân mà vẫn chỉ nghĩ đó là bổn phận, trách nhiệm công dân của mình, giống như một người lính vâng lệnh quốc dân đồng bào ra mặt trận mà thôi.

Người đã có biết bao nhiêu chuyến đi công tác ở trong và ngoài nước. Đến đâu, Người cũng giản dị tự nhiên quan tâm thực sự tới cuộc sống của dân chúng, ân cần, chu đáo, chăm lo cho tất cả, chỉ quên mình. Trong trái tim của mỗi người Việt Nam thuộc các thế hệ khác nhau, Hồ Chí Minh là đồng nghĩa với sự kính yêu, biết ơn, ngưỡng mộ. Với đạo đức, nhân cách của Người, ngay đến kẻ thù cũng phải nể trọng.

Cho đến những năm cuối đời, Người còn trực tiếp làm việc với Hội nghị ngành Than, tìm hiểu cặn kẽ vì sao ngành kinh tế – kỹ thuật công nghệ này lại có chiều hướng giảm sút và phải vực dậy như thế nào. Người trực tiếp sửa chữa điều lệ Hợp tác xã nông nghiệp và trong bản thảo Di chúc còn ghi, Người chủ trương miễn thuế nông nghiệp cho bà con nông dân để bà con yên tâm phấn khởi sản xuất. Ước nguyện của Người đã thành sự thật. Người học được bài học an dân trị quốc của ông cha ta, lo an sinh để an dân. Người làm việc với Ban Tuyên huấn Trung ương (nay là Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương) để bàn về cuộc vận động người tốt việc tốt… cho đến phút cuối cùng trên giường bệnh, Người vẫn lo cho dân nơi lũ lụt, mong tin chiến trường miền Nam thắng lớn. Muôn vàn tình thương của Người để lại cho đời, chỉ riêng Người “quên nỗi mình đau để nhở chung”… “Nâng niu tất cả chỉ quên mình”. . .Một Con người với đạo đức và Nhân cách như thế đã đi vào lịch sử, bất tử trong lòng dân.

3. Thực hành đạo đức Cách mạng theo gương sáng đạo đức Hồ Chí Minh 

Hồ Chí Minh đi vào cõi vĩnh hằng, trở về với thế giới Người Hiền đã hơn l/3 thế kỷ nay. Sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã gần 20 năm, tính từ Đại hội VI ( l2 /l986 ) đến nay.

Khoảng thời gian đó đã đủ để sinh thành một thế hệ. Người đã đi xa nhưng ai cũng cảm thấy như Người vẫn ở bên cạnh chúng ta, cổ vũ khuyến khích những việc làm tốt, nhắc nhở giúp đỡ chúng ta những yếu kém, hạn chế, sửa chữa những khuyết điểm sai lầm để tiến bộ trưởng thành.

Trong thời kỳ phát triển mới hiện nay của cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã xác định: Phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho văn hoá trở thành nền tảng tinh thần của xã hội. Bất cứ một lĩnh vực nào của đời sống xã hội, bất cứ một hoạt động nào của tổ chức và cá nhân một người, đạo đức cũng thể hiện vai trò quan trọng của nó.

Thiếu vắng hoặc yếu kém về đạo đức, con người không có nhân tính đầy đủ, không phát triển được nhân tính để thành người và làm người.

Suy thoái đạo đức, xã hội không thể phát triển bền vững trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế đến chính trị, văn hoá và xã hội.

Trong hệ thống các động lực phát triển xã hội, đạo đức là một động lực tinh thần không thể thiếu. Chúng ta đang đấu tranh quyết liệt chống quan liêu tham nhũng như một trọng bệnh, như một quốc nạn để đảm bảo môi trường xã hội – nhân văn lành mạnh cho sự phát triển kinh tế, ổn định chính trị và đồng thuận xã hội.

Tình hình đó đòi hỏi phải chú trọng xây dựng đạo đức xã hội và giáo dục tu dưỡng đạo đức cá nhân. Vào lúc này, thực hành đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, noi theo tấm gương sáng đạo đức Hồ Chí Minh trở nên vô cùng cấp thiết, bức xúc. Đó còn là vấn đề cơ bản, lâu dài dối với sự phát triển, hiện đại hoá xã hội ở nước ta.

Trước hết đó là thực hành đạo đức cách mạng trong Đảng, từ cán bộ đảng viên đến các tổ chức đảng.

Đó còn là giáo dục và thực hành đạo đức cách mạng trong đội ngũ công chức của Nhà nước. Càng đi vào xây dựng Nhà nước pháp quyền càng phải chú trọng tới đạo đức công chức, đạo đức công dân. Đó là đảm bảo cho đạo đức xã hội và tăng cường tính nhân văn của pháp quyền dân chủ. Giáo dục đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ, cho thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên cũng như giới trí thức, văn nghệ sĩ cũng là một đối tượng xã hội cần đặc biệt quan tâm. Đi vào kinh tế thị trường, xây dựng đạo đức của tầng lớp doanh nhân, của người sản xuất kinh doanh cùng với pháp luật sẽ đảm bảo cho văn hoá kinh doanh định hình và phát triển. Việc thực hành đạo đức cách mạng theo gương sáng đạo đức Hồ Chí Minh như vậy sẽ bao quát toàn diện các đối tượng xã hội, từ trong Đảng, trong Nhà nước tới các cộng đồng dân cư. Nói đi đôi với làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, thống nhất nhận thức với hành động hướng tới cơ sở, tới dân chúng là mục đích và thước đo tính trung thực đạo đức mà chúng ta cần đạt tới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh./.

GS.TS Hoàng Chí Bảo
Tạp chí Lịch sử Đảng, số 5 năm 2005

Từ “Văn hoá Đảng”, “Văn hoá Hồ Chí Minh” nghĩ về quan điểm “Văn học – nghệ thuật cũng là một mặt trận”

Gần đây chúng ta đã có dịp bàn về “Văn hóa Đảng”. Theo Nhà nghiên cứu Văn hoá- văn nghệ Trần Trọng Đăng Đàn, khái niệm “Văn hóa Đảng” có nội hàm như sau: “Văn hoá Đảng Cộng sản Việt Nam là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do hoạt động của Đảng mà tạo ra trong quá trình lịch sử từ năm 1930 cho đến ngày nay”.

Sự nghiệp văn hóa đó có được là nhờ Đảng đã kế thừa có chọn lọc, có phê phán và có sáng tạo truyền thống văn hóa dân tộc từ năm 1930 cho đến tận ngàn xưa; nhờ Đảng biết tiếp thu có chọn lọc, có phê phán, có sáng tạo văn hóa của thế giới từ cổ xưa cho tới tận thời đương đại; đặc biệt là nhờ Đảng đã biết phát huy nội lực văn hóa bản thân của các thế hệ đảng viên tập hợp được những tinh hoa văn hóa của giai cấp công nhân và của quảng đại quần chúng của cách mạng suốt từ khi mới thành lập cho đến tận hôm nay. Trong hiện tình chính trị – triết học của quốc tế và quốc gia, cần đặt văn hóa Đảng ở một vị trí thế xứng đáng ít nhất là trong hai giá trị lớn sau đây: 1- Giá trị về sự khẳng định cách mạng Việt Nam trước sau như một vẫn đi theo con đường của chủ nghĩa Mác – Lênin: 2- Giá trị về sự khẳng định thể chế một đảng lãnh đạo đất nước Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội.

Sự xuất hiện vị lãnh tụ của dân tộc, lãnh tụ của Đảng, đồng thời là nhà văn hóa kiệt xuất: Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là một thực tế lịch sử tạo sức mạnh tăng tốc mang tính bước ngoặt cho quá trình hình thành và phát triển văn hóa. Văn hóa Hồ Chí Minh thể hiện qua sự nghiệp hoạt động cách mạng của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh và đã được đúc kết lại trong trước tác của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đặc biệt là trong ký ức tư duy và trong trí tuệ của nhiều thế hệ thần dân cách mạng. Như vậy, văn hóa Hồ Chí Minh hình thành và phát triển trước Văn hóa Đảng xét theo chiều dọc thời gian.

Thực ra, Văn hóa Hồ Chí Minh được phát sinh, hình thành từ thời kỳ niên thiếu của Nguyễn Tất Thành. Đó là thời kỳ trước năm 1911, khi Nguyễn Tất Thành còn là một thành viên nhỏ tuổi trong gia đình, trong các địa phương mà Nguyễn Tất Thành sinh sống, tại các môi trường mà Nguyễn Tất Thành học hành, tiếp xúc, quan hệ với tính chất mầm mống đó cũng đã có thể thấy màu sắc khá đậm của những tinh hoa văn hóa dân tộc Việt Nam thời cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Trong đó có pha thêm cả tinh hoa của văn hoá truyền thống ViệtNam trước đó.

Suốt 30 năm Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc bôn ba nhiều nơi trên thế giới để tìm đường cứu nước, văn hóa nơi Nguyễn Tất Thành được phát triển một cách rực rỡ trở thành văn hóa Hồ Chí Minh. Nhìn một cách tổng quát, Văn hóa Hồ Chí Minh là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần do hoạt động của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh mà tạo ra. Trong khối phức hợp rộng lớn những giá trị vật chất và tinh thần của Văn hóa Hồ Chí Minh có những giá trị đặc biệt rực rỡ cần được xếp vào hàng đầu.

Trong số những giá trị rực rỡ đó, trước tiên là sự tạo dựng nên một phương sách chiến lược cứu dân, cứu nước thích hợp xét trong mối tương quan với chiều dọc thời gian theo lịch đại và trong mối tương quan với chiều ngang đồng đại của tình thế quốc tế và quốc gia hơn nửa thế kỷ của Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh.

Giá trị rực rỡ thứ hai của Văn hoá Hồ Chí Minh là tài tình trong sáng lập, sáng tạo trong điều hành, minh mẫn trong định hướng cho sự phát triển của một chính đảng cách mạng – Đảng Cộng sản Việt Nam – với mục đích xây dựng đất nước Việt Nam dân chủ, giàu mạnh, theo con đường xã hội chủ nghĩa và thực hiện lý tưởng cộng sản chủ nghĩa.

Giá trị rực rỡ thứ ba cấu thành Văn hóa Hồ Chí Minh là sự hình thành và phát triển một hệ thống tư tưởng được gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh. Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin chắt lọc từ những tính hoa trí tuệ của nhân loại gắn với truyền thống tốt đẹp của trí tuệ dân tộc Việt Nam là nét cơ bản nổi bật nhất trong Tư tưởng Hồ Chí Minh làm cốt lõi cho Văn hóa Hồ Chí Minh.

Giá trị rực rỡ thứ tư làm nền tảng đồng thời là nét mang tính tổng hợp xuyên suốt toàn bộ của Văn hoá Hồ Chí Minh là sự mở ra cho đất nước cho dân tộc một thời đại mới: Thời đại Hồ Chí Minh. Lịch sử dân tộc Việt Nam đã từng có nhiều anh hùng hào kiệt. Nhưng, chiến công hiển hách trong sự nghiệp chống ngoại xâm, thành tựu vĩ đại trong công cuộc cải cách đất nước, thành quả to lớn trong hoạt động xây dựng đất nước của họ… dẫu sao vẫn không thể sánh kịp với chiến công, thành tựu, thành quả của vị anh hùng hào kiệt Hồ Chí Minh. Bởi vì chiến đấu với giặc ngoài mà Hồ Chí Minh giữ vai trò thống lĩnh; làm cách mạng cải cách đất nước mà Hồ Chí Minh giữ vai trò lãnh đạo tối cao không phải là để thay đổi những người bóc lột này bằng những kẻ bóc lột khác mà là để xóa bỏ hoàn toàn chế độ người bóc lột người. Đặc điểm cơ bản chính của Thời đại Hồ Chí Minh là ở giá trị này. Đó cũng là nét thuộc loại đậm nhất trong bức tranh toàn cảnh Văn hóa Hồ Chí Minh.

Giá trị rực rỡ thứ năm làm nền tảng cho văn hóa Hồ Chí Minh là sự mở rộng đột biến vai trò quốc tế của đất nước, của dân tộc Việt Nam. Nói đến ”đột biến” trước hết là xét theo chiều dọc thời gian lùi vào quá khứ xa xưa. Những chiến công hiển hách của dân tộc Việt Nam từ Trưng nữ vương ở đầu Công nguyên cho đến nhà tiền Lý, nhà Triệu, nhà Ngô, nhà Đinh và suốt từ thời Thái Bình Đinh Tiên Hoàng, thời Thiên Phúc Lê Đại Hành, thời Thuận Thiên Lý Thái Tổ – Lý Thường Kiệt, thời Kiến Trung Trần Thái Tông – Trần Hưng Đạo thời Thánh Nguyên Hồ Quý Ly, thời Thuận Thiên Lê Thái Tổ – Nguyễn Trãi… cho đến thời Tây Sơn Nguyễn Huệ đã có sự mở rộng vai trò quốc tế của Việt Nam.

Tuy nhiên phạm vi mở rộng đó vẫn chỉ gói gọn trong vùng Đông Á. Cho đến thời đại Hồ Chí Minh thì vai trò Việt Nam trên trường quốc tế mới thực sự mở rộng ra toàn thế giới loài người. Suốt thời gian hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh 1911 cho đến tận 1969 có thể nói vai trò, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế liên tục đuợc mở rộng và qua những thời điểm nở rộ mang tính lịch sử vĩ đại như sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930, như Cách mạng Tháng Tám 1945, như kết thúc đại thắng cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược Pháp năm 1954. Đặc biệt là thời kỳ Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động toàn đảng, toàn quân, toàn dân tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước để dẫn tới đại thắng mùa Xuân 1975. Ngày nay uy tín, thành tựu của Việt Nam trong xây hòa bình, trong việc tiến hành công cuộc đổi mới đã làm vang dội thế giới đương đại cũng chính là sự tiếp tục nét văn hoá này của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Giá trị rực rỡ thứ sáu làm nền tảng cho văn hoá Hồ Chí Minh là sự hình thành mẫu mực một vị lãnh tụ, một người anh hùng của thời thế mới. Anh hùng Hồ Chí Minh, theo quy luật chung, là sản phẩm của thời thế – thời thế xét ở tầm quốc gia và cả ở tầm quốc tế. Và anh hùng Hồ Chí Minh đã tác động trở lại vào thời thế, xoay chuyển thời thế theo chiều xoắn ốc đi lên để đạt tới những tầm cao lý tưởng của dân tộc và của cả nhân loại.

Một khi Văn hoá Hồ Chí Minh được nhận thức ở tầm cỡ như vậy thì những phát biểu, ý kiến trái ngược với quan điểm của Hồ Chí Minh “Văn hoá-nghệ thuật cũng là một mặt trận-Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” sẽ trở thành quá nhỏ bé, sẽ không còn chỗ đứng để góp sức gây rối trong sinh hoạt hoạt lý luận của chúng ta và những phát biểu, những ý kiến trái ngược ấy sẽ tức khắc bị loại ra khỏi bộ nhớ của những người quan tâm đến các cá nhân, các lực lượng đang phiêu lưu, rồ dại… húc đầu vào tường đá-toan tạo ra một dòng nước ngược với Văn hoá Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh và phản lại quy luật phát triển tất yếu của xã hội loài người- phản lại học thuyết Mác-Lênin và chủ nghĩa xã hội.

Các từ khóa theo tin:(Theo báo Văn nghệ)

cpv.org.vn

Nhận thức về đối tượng nghiên cứu của môn Tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong thực tiễn cách mạng, cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta, dân tộc ta và nhân dân ta. Chính vì vậy, việc giáo dục Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các học viện, nhà trường trong xã hội nói chung, trong quân đội ta nói riêng có vai trò to lớn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Sự ra đời của hệ thống Khoa và Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các học viện nhà trường quân đội đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự nghiệp nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục một cách cơ bản và hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh trong quân đội. Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh ở các học viện, nhà trường quân đội hiện nay; vẫn cần tiếp tục giải quyết đúng đắn, hợp lý nhiều vấn đề mới nảy sinh, trong đó có việc xác định đối tượng môn học. Bởi lẽ, nhận thức đúng đắn về đối tượng môn Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là một trong những điều kiện, yêu cầu cơ bản nhất để nâng cao chất lượng công tác giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh, có quan hệ chặt chẽ, hữu cơ với việc xác định nhiệm vụ, nội dung, phương pháp môn học này.

Hiện nay, nghiên cứu, giảng dạy, học tập Tư tưởng Hồ Chí Minh dựa chủ yếu vào Giáo trình chuẩn quốc gia môn Tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng trong giáo trình này chưa có bài “Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp môn Tư tưởng Hồ Chí Minh”. Ở “Lời nói đầu” của giáo trình có những đoạn viết liên quan ít nhiều tới việc xác định đối tượng môn học: “Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của môn Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống Tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là hệ thống tri thức mang tính qui luật về đối tượng, đòi hỏi phải có thời gian mới có điều kiện xác lập được một cách đầy đủ và chính xác. Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ được phản ánh trong văn kiện, tác phẩm của Người mà còn được quán triệt trong mọi chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta do Người đứng đầu, trong toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp Cách mạng mà Người để lại cho chúng ta. Những nội dung đó đều phải được xem là đối tượng nghiên cứu của bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh … Giảng dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh, một bộ môn lý luận – tư tưởng, thuộc lĩnh vực triết học, cũng phải làm rõ khái niệm, từ khái niệm mà hình thành tư tưởng”. Cách đặt vấn đề như thế chưa phải là lời giải đáp một cách đầy đủ, thoả đáng về đối tượng môn học.

Giáo trình môn Tư tưởng Hồ Chí Minh của Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam xuất bản năm 1996 ở trang 6 viết; “Đối tượng môn Tư tưởng Hồ Chí Minh là nghiên cứu những di sản tư tưởng của Người. Quá trình nghiên cứu, dạy – học môn học phải làm rõ nguồn gốc, quá trình hình thành phát triển và hệ thống các quan điểm tư tưởng về các mặt chính trị, nhân văn, đạo đức… của Hồ Chí Minh và hiện thực hoá nó trong xã hội, từ đó chỉ ra giá trị lý luận, thực tiễn tư tưởng của Người với sự nghiệp cách mạng Việt Nam, cách mạng thế giới”. Tập bài giảng Tư tưởng Hồ Chí Minh của Phân viện Hà Nội thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh xuất bản năm 1997 ở trang 7 viết: “Trước hết chúng ta cần phân biệt hai khái niệm khác nhau, tuy có quan hệ rất chặt chẽ với nhau: “Tư tưởng Hồ Chí Minh” có nội dung khách quan là đối tượng nghiên cứu của khoa học và “Tư tưởng Hồ Chí Minh” với tư cách là một bộ môn khoa học”. Tập bài giảng Tư tưởng Hồ Chí Minh của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh được xuất bản năm 2001 ở trang 13 xác định rằng, đối tượng môn học này là “Nghiên cứu, học tập hệ thống quan điểm lý luận, chính trị toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, “là luận giải những đóng góp sáng tạo của Hồ Chí Minh đối với văn minh nhân loại, đặc biệt là đối với chủ nghĩa Mác – Lênin”, “được thể hiện vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người vào sự nghiệp đổi mới hiện nay”. Tập bài giảng môn Tư tưởng Hồ Chí Minh của trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn xuất bản năm 2003 ở trang 18, 19 viết: “Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh là khoa học nghiên cứu về hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam, về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, về độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội được đúc kết bằng chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Như vậy, từ các giáo trình, tập bài giảng trên, ta thấy việc xác định đối tượng môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh tuy đã có nhiều điểm tương đồng, nhưng tính khái quát chưa cao, vẫn có sự khác biệt và những điểm chưa được xác định thật rõ. Điều đó gây khó khăn không nhỏ đến chất lượng, hiệu quả công tác nghiên cứu giáo dục, tuyên truyền, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh. Thêm vào đó, chính sự nhận thức chưa thống nhất, chưa thật đầy đủ, rõ ràng, chính xác về đối tượng bộ môn đã dẫn đến những khó khăn trong việc xây dựng, xác lập, phân định về phạm vi chương trình, nội dung giảng dạy của nhiều học viện, nhà trường quân đội. Trên thực tế, ngay cả ở Học viện Quốc phòng, Học viện Chính trị quân sự, việc nghiên cứu, giảng dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ do Khoa (bộ môn) Tư tưởng Hồ Chí Minh đảm nhiệm, mà còn có một số khoa khoa học xã hội khác cũng thực hiện nhiệm vụ này. Có khoa giảng một số chủ đề, thậm chí có khoa xây dựng hẳn thành một phần về Tư tưởng Hồ Chí Minh trong nội dung, chương trình dạy học.

Tất nhiên, tư tưởng Hồ Chí Minh là một giá trị đa diện nên không chỉ có Khoa Tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn nhiều khoa khác quan tâm nghiên cứu, nhưng góc độ nghiên cứu và mục đích, yêu cầu nghiên cứu của các khoa là khác nhau. Chẳng hạn như: nếu khoa học (môn học) Tư tưởng Hồ Chí Minh nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là một chỉnh thể hoàn chỉnh, nhằm chỉ ra quy luật vận động, phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh, quy luật vận động của cách mạng Việt Nam, của cách mạng thế giới được phản ánh trong tư duy Hồ Chí Minh, thì Triết học nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết là nhằm giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, góp phần làm sáng tỏ những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy; môn Giáo dục học nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết là nhằm góp phần làm sáng tỏ các quy luật, các quy tắc chung về giáo dục, và môn Xây dựng Đảng nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh chủ yếu là nhằm góp phần làm rõ các quy luật, các nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới, Đảng của giai cấp công nhân. Thành thử, giảng viên của các khoa khoa học xã hội đều rất cần nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh. Song, quá trình nghiên cứu không phải để nhằm giảng dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh, mà là góp phần nâng cao nhận thức về cơ sở lý luận để giảng dạy nội dung của chuyên ngành mình ngày càng đạt chất lượng cao hơn.

Các giáo viên nghiên cứu, giảng dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh cần phải nghiên cứu các môn lý luận Mác – Lênin, nghiên cứu lịch sử thế giới, lịch sử Việt Nam, lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, và cả các học thuyết, các khuynh hướng tư tưởng đối lập, sai trái, Nhưng, nghiên cứu những nội dung ấy không phải để giảng dạy Triết học, Kinh tế chính trị học, Chủ nghĩa cộng sản khoa học, Lịch sử dân tộc, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, mà để có tri thức toàn diện hơn, sâu sắc hơn nhằm góp phần giảng dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh tốt hơn, hấp dẫn hơn, thuyết phục hơn. Bởi lẽ, giảng dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là hoạt động mô tả đơn giản các câu nói, bài viết, các sự kiện, các biến cố lịch sử cụ thể có liên quan tới tư tưởng, thân thế và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, mà là luận giải các luận điểm mang tính quy luật về các mặt cơ bản của cách mạng Việt Nam một cách khoa học. Vì vậy, có tri thức toàn diện, có nắm vững lý luận Mác – Lênin, nhận thức sâu sắc về lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc và lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam…, thì mới có cơ sở vững vàng để khi giảng một tư tưởng, một luận điểm nào đó trong Tư tưởng Hồ Chí Minh để có thể trình bày rõ ràng, chính xác, hấp dẫn về lịch sử hình thành luận điểm, về nội dung luận điểm, về cơ sở lý luận và thực tiễn gắn liền với giá trị lý luận và thực tiễn của luận điểm; mới có phương hướng vận dụng, phát triển luận điểm đó vào thực tiễn của cách mạng Việt Nam và phê phán các học thuyết, các khuynh hướng tư tưởng sai trái trong xã hội, quân đội hiện nay.

Tóm lại, trên cơ sở kế thừa những thành tựu của các giáo trình, tập bài giảng trước, gắn liền với thực tiễn công tác giáo dục Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các học viện, nhà trường quân đội trong mười năm qua, cùng với sự phân tích trên, bước đầu có thể nêu ra kết luận: Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ môn khoa học nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là một chỉnh thể hoàn chỉnh nhằm làm sáng tỏ quy luật hình thành phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh ở các lĩnh vực cơ bản (chính trị, kinh tế, quân sự, đạo đức…) của cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới được phản ánh trong tư duy Hồ Chí Minh và quy luật vận dụng, phát triển tư tưởng của Người trong thực tiễn cách mạng nước ta.

Đại tá, TS Nguyễn Đình Tu
Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự, số 1-2005

cpv.org.vn

Bác như một lão nông tri điền !

Đó là suy nghĩ đầy kính phục về Bác Hồ kính yêu của tất cả các đại biểu dự Hội nghị phát động phong trào sản xuất đông xuân, tháng 8 năm 1958, tại tỉnh Nam Định.

Hội nghị được tổ chức tại xã Yên Tiến (huyện Ý Yên), có rất đông đại biểu các xã, huyện về dự. Đúng ngày họp, Bác Hồ về thăm. Bác mặc áo bà ba nâu, hồng hào, mạnh khỏe, tươi cười bước vào hội trường. Bác đi từ dưới lên, bắt tay nhiều đại biểu các xã, rồi mới bước lên bục nói chuyện. Bác rút từ túi áo một tờ giấy ghi số liệu và bắt đầu nói về tình hình sản xuất của tỉnh Nam Định, trong đó Người chỉ rõ sự sút kém trong thu hoạch vụ chiêm và tiến độ cấy vụ mùa chưa đạt kế hoạch. Bác cũng khen ngợi ba huyện Ý Yên, Vụ Bản, Mỹ Lộc và một số bà con nông dân có nhiều cố gắng trong chăm bón lúa.

Sau khi phân tích những yếu kém trong sản xuất vụ chiêm, Bác dừng lại, nhìn xuống hội trường và nhấn mạnh: Chúng ta làm ruộng, muốn lúa tốt, thu hoạch nhiều, phải hiểu thế nào là “nhất thì, nhì thục”, thế nào là “một nước, hai phân, ba cần, bốn cải tiến kỹ thuật”. Phải có đủ mạ tốt và cấy đúng thời vụ; phải chăm sóc cây lúa từ lúc còn là cây mạ đến lúc thu hoạch, bón đủ phân và có đủ nước, thường xuyên chống sâu, chuột. Bác nói chân tình, hiểu người, hiểu việc, giống như lời khuyên của một lão nông tri điền, thật gần gũi và thiết thực. Bác còn nhắc nhở các cán bộ Tỉnh ủy phải đi sát nông thôn, trực tiếp giúp đỡ và lãnh đạo sản xuất, đẩy mạnh phong trào thi đua trong toàn tỉnh.

Trước khi ra về, Bác vào thăm một số gia đình nông dân và thăm cánh đồng xã Yên Tiến. Bác ngồi xuống bờ một thửa ruộng, dùng gang tay mình đo khoảng cách giữa hai khóm lúa. Bác tỏ ra rất vui khi thấy lúa tốt và khen “cấy dày vừa phải!”…

Lần về thăm của Bác rất ngắn, nhưng đã cổ vũ, động viên cán bộ, nhân dân tỉnh Nam Định rất nhiều. Sau đấy, cả Tỉnh ủy phân công nhau xuống từng huyện, từng xã, dành thì giờ cùng bà con nông dân bàn chuyện làm phân xanh, đôn đốc việc cấy kịp thời vụ, chăm sóc lúa mùa và chuẩn bị vụ đông xuân. Một không khí thi đua lao động rộng khắp toàn tỉnh.

Lê Minh

bqllang.gov.vn

Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

Phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh là sự vận dụng thuần thục phương pháp biện chứng duy vật Mácxít.

Hồ Chí Minh không có tác phẩm riêng bàn về phương pháp. Nhưng trong thực tế lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng Việt Nam, Người đã vận dụng sáng tạo và nhuần nhuyễn các nguyên lý của phép biện chứng duy vật Mácxít kết hợp với các yếu tố biện chứng của triết học phương Đông qua đó tạo nên một hệ thống phương pháp riêng của mình, rất Mácxít mà cũng rất Hồ Chí Minh, không trộn lẫn được. Vì vậy, có thể nói, có phương pháp biện chứng của Hồ Chí Minh, phương pháp đó vẫn là phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin nhưng đã được vận dụng và chuyển hoá vào thực tiễn cách mạng Việt Nam để xử lý thành công những vấn đề do thực tiễn cách mạng Việt Nam đặt ra, nó in đậm màu sắc Việt Nam – Hồ Chí Minh và bằng cái riêng đã làm phong phú thêm cái chung.

Vậy nội dung và đặc điểm của phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh là gì?

Biện chứng trong xử lý mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận, giữa cái riêng và cái chung.

Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, đó là quan điểm cốt lõi nhất của nhận thức luận Mácxít và cũng là nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật. Theo quan điểm của C.Mác: “ở mỗi dân tộc, lý luận bao giờ cũng chỉ được thực hiện theo mức độ mà nó là sự thực hiện những nhu cầu của dân tộc ấy”. Nói cách khác, lý luận chỉ được coi là đúng đắn khi nó đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của mỗi dân tộc.

Hồ Chí Minh cũng quan niệm: “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu, xem xét so sánh thật kỹ lượng, rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế, đó là lý luận chân chính”.

Theo quan niệm đó, Hồ Chí Minh luôn luôn lấy thực tiễn, lấy sự kiện của đời sống dân tộc và thời đại làm định hướng cho tư duy và hành động, lấy mục tiêu độc lập và phát triển của dân tộc làm căn cứ để xem xét lý luận, để lựa chọn con đường và bước đi cho cách mạng Việt Nam, nhờ đó mà tránh được giáo điều, rập khuôn (do chỉ biết lặp lại cái chung), đồng thời cũng tránh để không rơi vào cơ hội, xét lại (do quá nhấn mạnh cái riêng, cái đặc thù).

Đi theo chủ nghĩa Mác – Lênin, tìm thấy con đường giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, nhưng Hồ Chí Minh biết rút ra từ học thuyết cách mạng và khoa học rộng lớn này những vấn đề cần thiết cho giai đoạn trước mắt của cách mạng Việt Nam, đề ra đường lối đúng đắn cho cách mạng Việt Nam: từ giải phóng dân tộc đến giải phóng giai cấp và giải phóng con người, tức là từ độc lập dân tộc tiến lên CHXH.

Tiếp theo, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhờ đứng vững trên quan điểm thực tiễn và đường lối độc lập tự chủ, một mặt, chúng ta vẫn tranh thủ viện trợ kinh tế và quân sự của các nước XHCN anh em, mặt khác, chúng ta lại đánh theo đường lối và cách đánh Việt Nam, phù hợp với chiến trường Việt Nam, vì vậy ta đã giành được thắng lợi vẻ vang: giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên CHXH.

Khi miền Bắc từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, tiền tư bản bước vào thời kỳ quá độ lên CHXH, Hồ Chí Minh đặt vấn đề: “Chúng ta phải đùng những phương pháp gì, hình thức gì, đi theo tốc độ nào để tiến lên CHXH” và Người nhắc nhở: “Tuy chúng ta đã có những kinh nghiệm dồi đào của các nước anh em, nhưng chúng ta cũng không thể áp dụng những kinh nghiệm ấy một cách máy móc, bởi vì nước ta có những đặc điểm riêng của ta”.

Đó là biện chứng Hồ Chí Minh trong xử lý mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận, giữa cái riêng và cái chung.

Biện chứng trong xử lý mối quan hệ giữa mâu thuẫn và thống nhất của các mặt đối lập.

Theo quan điểm Mácxít, quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là quy luật cơ bản nhất của phép biện chứng duy vật, bởi mâu thuẫn là hiện tượng phổ biến của mọi sự vật, hiện tượng và đấu tranh để đi tới chuyển hoá giữa các mặt đối lập của mâu thuẫn là nguồn gốc của vận động và phát triển.

Hồ Chí Minh cũng thừa nhận tính phổ biến của mâu thuẫn. Người viết: “Cái gì cũng có mâu thuẫn, vì cái gì cũng có biến âm, dương, có sinh có tử, có quá khứ, có tương lai, có cũ, có mới. Đó là những mâu thuẫn sẵn có trong mọi sự vật”.

Mâu thuẫn có nhiều loại với bản chất khác nhau: có mâu thuẫn bên trong và bên ngoài, cơ bản và không cơ bản, chủ yếu và thứ yếu, đối kháng và không đối kháng. Vì vậy, phân tích mâu thuẫn là điều kiện để nhận thức đúng sự vật. Hồ Chí Minh chính là một bậc thầy trong nhận thức, phát hiện và xử lý mâu thuẫn.

Trong đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp có nhận thức, phát hiện đúng mâu thuẫn mới xác định rõ kẻ thù và bạn đồng minh, mới đề ra được chiến lược, sách lược, bước đi đúng đắn cho mỗi giai đoạn của cách mạng.

Vận dụng phép biện chứng duy vật vào phân tích xã hội thuộc địa, nửa phong kiến Việt Nam đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã phát hiện ra hai mâu thuẫn cơ bản: một là, mâu thuẫn vốn có của xã hội phong kiến là mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ phong kiến và hai là, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với bọn thực dân xâm lược Pháp, từ đó Hồ Chí Minh xác định nhân dân Việt Nam có hai kẻ thù chính là đế quốc và phong kiên tay sai, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam có hai nhiệm vụ cơ bản là chống đế quốc giành lại độc lập cho dân tộc và chống phong kiên đem lại ruộng đất cho dân cày.

Tuy xác định xã hội thực dân nửa phong kiến Việt Nam có hai mâu thuẫn cơ bản, nhưng trong việc xử lý mâu thuẫn, Hồ Chí Minh không coi hai mâu thuẫn đó ngang nhau, phải tiến hành song song, đồng thời. Theo Hồ Chí Minh, trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến, mâu thuẫn nổi lên gay gắt nhất, trở thành mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc và bọn tay sai, có giải quyết được vấn đề dân tộc mới giải quyết được vấn đề dân chủ. Vì vậy, ngay trong Chính cương vắn tắt (1930), Hồ Chí Minh cũng chỉ nêu chủ trương “thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công, chia cho dân cày nghèo” mà chưa nêu khẩu hiệu “người cày có ruộng”. Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5/1941) dưới sự chủ trì của Hồ Chí Minh, cũng chủ trương tạm gác khẩu hiệu ruộng đất, chỉ tịch thu ruộng đất của đế quốc, Việt gian, đề thêm khẩu hiệu “giảm tô, giảm tức”, chia lại ruộng công,…

Làm.như vậy, theo Hội nghị phân tích, nếu không đánh đuổi được Pháp – Nhật, nếu dân tộc còn phải chịu mãi kiếp ngựa trâu thì vấn đề ruộng đất cũng không sao giải quyết được. Cuộc Cách mạng tháng 8/1945 đã lôi cuốn hàng chục triệu nông dân, dù chưa được chia lại ruộng đất của địa chủ vẫn hăng hái tiến bước cùng giai cấp công nhân làm nên cuộc cách mạng long trời lở đất, giành lại nền độc lập cho dân tộc. Thắng lợi đó là sự thể hiện phép biện chứng của Hồ Chí Minh trong xử lý mối quan hệ giữa mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam.

Hồ Chí Minh cũng là bậc thầy về xử lý mâu thuẫn địch – ta, nêu tấm gương về nghệ thuật vận dụng mâu thuẫn, khai thác mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù. Theo quyết định của Đồng minh tại Hội nghị Pốtxđam (tháng 7/1945), gần 20 vạn quân Tưởng đổ vào Bắc Đông Dương (từ vĩ tuyến 16 trở ra) và hàng vạn quân Anh – Ấn Độ đổ vào Nam Đông Dương với danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật. Núp dưới bóng quân đội Anh, thực dân Pháp cũng đem quân trở lại nước ta. Nếu kể cả quân đội Nhật tuy đã đầu hàng nhưng chưa bị tước vũ khí, thì vào lúc đó, có gần nửa triệu quân nước ngoài đóng trên đất nước ta. Cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù, tình thế cách mạng Việt Nam như đang “nghìn cân treo sợi tóc”. Để bảo vệ thành quả cách mạng, Hồ Chí Minh chủ trương phải phân hoá kẻ thù, bằng cách khai thác mâu thuẫn trong hàng ngũ của chúng.

Quân đội Tưởng vào miền Bắc có ba thế lực: cánh Lư Hán thuộc Đệ nhất chiến khu Vân Nam, cánh Tiêu Văn thuộc Đệ tứ chiến khu Quảng Tây, cánh Chu Phúc Thành thuộc quân khu Trung ương Trùng Khánh. Chúng giống nhau về mục tiêu “diệt cộng, cầm Hồ” để dựng lên chính phủ tay sai, phục vụ cho mưu đồ lâu dài của chúng, nhưng mâu thuẫn với nhau về lợi ích cá nhân. Biết Lư Hán vốn có tư thù sâu sắc với Tưởng Giới Thạch và cả với Pháp (vì đã bị Pháp tịch thu mấy chuyến hàng lớn trên tuyến đường sắt Hải Phòng Côn Minh), Hồ Chí Minh đã chủ động tới thăm chúng nhằm tranh thủ Lư Hán, đồng thời, nhượng bộ cho vợ chồng Tiêu Văn một số đặc quyền kinh tế để cô lập cánh Chu Phúc Thành… Nhờ đó, chúng ta buộc họ phải thay đổi thái độ đối với Chính phủ Hồ Chí Minh, đã sử dụng được lực lượng quân đội Tưởng làm bình phong, ngăn chặn quân đội Pháp đang lăm le ra miền Bắc.

Trong hàng ngũ tướng lĩnh quân đội Pháp cũng chia thành hai phe: cánh diều hâu chủ chiến, đứng đầu là Cao ủy Đông Dương Đácgiăngliơ (Dargenlieu), cánh tương đối hiểu biết, muốn hoà hoãn, tiêu biểu là đại tướng Lơcléc (Leclerc), tổng chỉ huy quân đội viễn chinh. Hồ Chí Minh đã viết thư gửi Lơcléc: “Ngài là một đại quân nhân và là một nhà ái quốc. Ngài đã chiến thắng và chiến thắng anh dũng kẻ xâm lăng nước ngài… Lừng danh với những chiến công, ngài lại đi đánh một dân tộc chỉ muốn độc lập, thống nhất quốc gia và một nước chỉ muốn hợp tác như anh em với nước ngài sao?”.

Lòng tụ trọng bị tổn thương, ít lâu sau Lơcléc từ chức Tổng chỉ huy, xin chuyển về Pháp, mở đầu cho sự liên tục thay đổi Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương.

Đánh giá sách lược của Hồ Chí Minh

Trong giai đoạn này, đồng chí Lê Duẩn đã viết: “Những biện pháp cực kỳ sáng suốt đã ghi vào lịch sử cách mạng nước ta như một mẫu mực tuyệt vời của sách lược Lêninnít về lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ địch và về sự nhân nhượng có nguyên tắc”.

Nhắc lại những năm tháng đó, đồng chí Phạm Văn Đồng cũng viết: “Nếu bấy giờ không có Hồ Chí Minh thì khó lường hết cái gì có thể xảy ra”.

Đối với mâu thuẫn địch – ta, chỉ có một cách xử lý duy nhất là “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta phải kiên quyết đánh đuổi nó đi”. Còn với mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, xuất phát từ quan điểm “Hễ là người Việt Nam thì ai cũng có lòng yêu nước, ghét giặc”, Hồ Chí Minh chủ trương đoàn kết mọi lực lượng “miễn là không phản lại quyền lợi dân chúng, không là Việt gian, thân Pháp, thân Nhật, có lòng trung thành với Tổ quốc”, “Không được phép bỏ một lực lượng nào sẵn sàng phục vụ quốc gia”.

Phương pháp đại đoàn kết Hồ Chí Minh là lấy cái chung, cái tương đồng để khắc phục cái riêng, cái dị biệt, lấy nhân ái, khoan đung để cảm hoá, lấy nhân nhượng, thoả hiệp lẫn nhau để giải quyết bất đồng, “biến đại sự thành tiểu sự, biến tiểu sự thành vô sự”. Người phê phán một số cán bộ chỉ biết “chia rẽ, bênh vực lớp này chống lại lớp khác, không biết làm cho các tầng lớp nhân nhượng lẫn nhau, hoà thuận với nhau… quên rằng lúc này ta phải toàn dân đoàn kết, không chia già trẻ, giàu nghèo để giữ nền độc lập, chống kẻ thù chung”.

Như vậy, trong mâu thuẫn nội bộ nhân dân (mâu thuẫn không đối kháng), có mặt thuận và mặt nghịch, bên cạnh mặt mâu thuẫn còn có mặt thông nhất, để tồn tại trong sự thống nhất, phải biết lấy thuận chế nghịch, lấy cái chung, cái đồng thuận để khắc phục cái riêng, cái dị biệt. Đó là biện chứng trong cách xử lý của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giũa mâu thuẫn và thống nhất các mặt đôi lập.

Biện chứng giữa cái “bất biến” và cái “vạn biến”.

Đây là một tư tưởng biện chứng hết sức sâu sắc của triết học phương Đông, xuất phát từ quan niệm vạn vật sinh hoá đều do điều lý (quy luật) chi phối, nếu nắm được điều lý của vũ trụ thì có thể điều khiển được mọi biến hoá của trời đất (hiện tượng), nghĩa là có thể lấy cái bất biến chế ngự được cái vạn biến, lấy tĩnh chế động, lấy nhu thắng cương…

Phép biện chứng duy vật Mácxít cũng đã đề cập đến các cặp mâu thuẫn và thống nhất, vận động và đứng im, nhưng mối quan hệ giữa bất biên và vạn biên trong phép biện chứng của Hồ Chí Minh có nguồn gốc chủ yếu từ trong triết học phương Đông và Việt Nam. Xưa Lý Thánh Tông, khi đi lo việc biên cương ở phương Nam, có dặn lại nhiếp chính Ỷ Lan một câu: “Vạn biến như lôi, nhất tâm thiền định”, ý nói cứ lấy nhất tâm bất biến (là một lòng lo giữ việc nước) thì có thể đối phó với vạn biên (dù có dữ dội như sấm sét).

Vậy ta hiểu “dĩ bất biến ứng vạn biến” mà Hồ Chí Minh nói đến là gì? Theo cách nói của triết học, có thể hiểu “bất biên” là quy luật, vì chỉ có quy luật (tự nhiên, xã hội, tư duy) là tồn tại lâu đài, là hầu như bất biến, còn “vạn biến” là hiện tượng, là sự biểu hiện đa dạng của quy luật, cho nên có thể đưa vào quy luật mà lý giải hiện tượng hay ngược lại, từ phân tích vô vàn hiện tượng có thể tìm ra quy luật tương ứng.

Phép biện chứng duy vật thường chú trọng nhiều hơn về trình bày sự phát triển biện chứng của sự vật, coi mâu thuẫn, vận động là tuyệt đối, thông nhất, đứng im là tương đối. Trong thực tế vận dụng, đôi khi chúng ta lại có phần coi nhẹ, thậm chí bỏ qua cái “bất biến” (tức là cái thống nhất, đứng im vốn là điều kiện tồn tại của sự vật).

Trong vũ trụ và trong cuộc sống xã hội vốn tồn tại phạm trù “bất biến”. Hoá học được xây đựng trên cơ sở định luật bảo toàn trọng lượng. Công thức có thể biến hoá, nhưng trị số thì không đổi. Năng lượng học dựa trên định luật bảo toàn năng lượng. Toán học có những hằng số, hằng đẳng thức không đổi. Về mặt xã hội, các chế độ xã hội đều có nhiều thay đổi, nhưng trong xã hội nào người ta cũng vẫn cần đến ăn, mặc, ở… tức là vẫn phải có sản xuất và phân phối, nghĩa là sự khác nhau, như C.Mác nói, chỉ là về cách thức sản xuất và cách thức phân phối, còn bản thân sản xuất và phân phối thì xã hội nào cũng vẫn phải có. Cũng có thể gọi đó là các hằng số xã hội. Hồ Chí Minh tiếp thu phép biện chứng Mácxít, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của tư duy biện chứng phương Đông. Người thường bắt đầu từ cái bất biến để đi tới cái khả biến của xã hội và con người. Thí dụ, Người nói: “Tuy phong tục mỗi dân mỗi khác, nhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau ấy là dân nào cũng ưa sự lành, ghét sự dữ”. Khi nghe một vị ủy viên Ban vận động đời sống mới nói cần định ra một cái hướng mới cho cuộc vận động, vì khẩu hiệu “cần, kiệm, liêm, chính” xem ra vừa không đủ, vừa cổ… thì Hồ Chí Minh ngắt lời: “Cổ, lạ quá, thế cơm các cụ ăn ngày xưa, bây giờ mình ăn cũng cổ à?”. Theo Người, ăn cơm, uống nước, hít thở khí trời… không bao giờ cũ, xưa nay và sau này đều phải làm. Cần, kiệm, liêm, chính cũng vậy.

Trước khi sang Pháp đàm phán, Người chỉ dặn lại cụ Huỳnh có một câu: “Mong cụ ở nhà: dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Ta hiểu đó là Người nói đến mối quan hệ giữa mục tiêu và phương pháp, nguyên tắc và sách lược. Mục tiêu của chúng ta là độc lập, thống nhất của Tổ quốc, tự do hạnh phúc của nhân dân, đó là điều bất biến còn phương pháp – sách lược có thể tuỳ tình hình mà biến hoá đa dạng, thay đổi linh hoạt, nhưng không được xa rời cái bất biến. Người nói: “Mục đích bất di bất dịch của ta vẫn là hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt”.

Hồ Chí Minh đã vận dụng phương pháp biện chứng này một cách rất hiệu quả trong chỉ đạo cách mạng, đưa tới những thắng lợi to lớn chưa từng có trong lịch sử dân tộc. Đúng như một nhà báo Pháp đã nhận xét: “Chính sự kết hợp mà không ai bắt chước nổi giữa tính mềm dẻo với tính cương nghị, giữa tính linh hoạt về chính trị với tính cứng rắn về nguyên tắc, giữa việc vận dụng truyền thông yêu nước với sự phân tích Mácxít đã tạo nên tính chất độc đáo của ông Hồ Chí Minh”.

Cũng xuất phát từ phép biện chứng Đông – Tây kết hợp này, chúng ta thấy Hồ Chí Minh đã giải quyết rất thành công, vừa khoa học, vừa nhuần nhị các mối quan hệ biện chứng giữa truyền thông và hiện đại, kế thừa và đổi mới, dân tộc và giai cấp, nội lực và ngoại lực, lực – thế, thời… mà do phạm vi của bài viết, chúng tôi không có điều kiện bàn hết ở đây.

Tóm lại, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh được thể hiện một phần quan trọng trong phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh. Về bản chất, đó là phương pháp biện chứng duy vật Mácxít được vận dụng vào hoàn cảnh Việt Nam, có sự kết hợp với tư duy biện chứng phương Đông, in đậm dấu ấn phương Đông và Việt Nam, nổi bật lên trong đó là sự kết hợp tính cương nghị về nguyên tắc với tính mềm dẻo, linh hoạt về sách lược, lấy cái đại đồng để khắc phục cái tiểu dị, đi từ dân tộc đến giai cấp, nhằm mục tiêu đại đoàn kết dân tộc, phân hoá và cô lập kẻ thù chính, giành thắng lợi cho độc lập dân tộc để từng bước đi lên CHXH. Phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh cũng do đó mà có vai trò rất to lớn đối với công cuộc đổi mới của chúng ta, đặc biệt trong bối cảnh quốc tế đang chuyển biến nhanh chóng và phức tạp hiện nay.

Tư tưởng về con người, bộ phận cơ bản của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

Thấm nhuần quan điểm cải tạo thế giới của triết học Mác, vấn đề được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm là vấn đề con người và sự nghiệp giải phóng con người. Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là con người chung chung, trừu tượng, phi lịch sử, mà là con người hiện thực, cụ thể, sinh động, trước hết là nhân dân lao động và quần chúng bị áp bức ở khắp mọi nơi, không phân biệt dân tộc và màu da.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người có thể tóm tắt lại trong ba nội dung cơ bản:

Con người là vôn quý nhất, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng

Theo Hồ Chí Minh, lịch sử là do quần chúng nhân dân sáng tạo ra, chứ không phải do vài ba cá nhân anh hùng nào, vì vậy chúng ta phải yêu dân, quý dân, trọng dân, vì “có dân là có tất cả”. Người nói: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới, không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Do đó, “trong xã hội không có gì tất đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”.

Từ đó, ta thấy nổi lên ở Hồ Chí Minh một tấm lòng yêu thương vô hạn đối với con người, một niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh và phẩm giá con người, một ý chí kiên quyết đấu tranh để giải phóng con người khỏi áp bức, bất công, đói nghèo, lạc hậu. Cũng có thể coi đó là những nội dung cơ bản của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh.

Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng

Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người hoàn toàn xa lạ với các quan điểm xem con người như là công cụ, như là phương tiện. Mọi chính sách tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hoá của Hồ Chí Minh đều hướng tới con người. Người nói: “Phải đem hết sức dân, tài dân, của dân để làm lợi cho dân”, “dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân để gây hạnh phúc cho dân”, “chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân và do nhân dân tự xây đựng lấy”.

Qua đó, có thể thấy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người – mục tiêu và con người – động lực là thống nhất, vì dân và do dân là thống nhất.

Để phát huy vai trò động lực của con người, Hồ Chí Minh đã đề cập đến một hệ thống nội dung và biện pháp (vật chất và tinh thần) nhằm tác động vào cái động cơ thúc đẩy tính tích cực hoạt động của con người đồng thời, cũng chỉ ra những nội dung và biện pháp làm triệt tiêu các trở lực nhằm thúc đẩy sự phát triển theo hướng tiến bộ.

Trong hệ thống các động lực chính trị – tinh thần, Hồ Chí Minh chú trọng trước hết đến giáo dục chủ nghĩa yêu nước, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đạo đức cách mạng… đồng thời không coi nhẹ vai trò tác động của các nhân tố tinh thần khác, như văn hoá, khoa học, pháp luật… đặc biệt, Người chú trọng phát huy quyền làm chủ của nhân dân, coi “thực hành dân chủ là cái chìa khoá vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”.

Là nhà duy vật Mácxít, Hồ Chí Minh hiểu hành động của con người luôn gắn liền với nhu cầu và lợi ích của họ, vì vậy, đi đôi với các biện pháp chính trị – tinh thần, Hồ Chí Minh không coi nhẹ hay bỏ qua các động lực vật chất, khéo léo kết hợp các loại động lực với nhau, tạo sức mạnh tổng hợp, thúc đẩy tính năng động cách mạng của con người. Người tôn trọng và khuyến khích lợi ích cá nhân chính đáng của người lao động, chủ trương kết hợp hài hoà ba lợi ích, sao cho “Nhà nước, hợp tác xã và xã viên cùng có lợi”.

Nhưng muốn khai thông động lực thì phải khắc phục trở lực kìm hãm sự phát triển của con người, trong đó “căn bệnh mẹ” cực kỳ nguy hiểm là chủ nghĩa cá nhân phải được phê phán mạnh mẽ, kiên quyết tẩy trừ

Tư tưởng về chiến lược “trăm năm trồng người”

Từ quan điểm về con người đến quan điểm về chiến lược “trồng người” là một bước phát triển hợp logic của tư tưởng triết học Rồ Chí Minh. Để thực hiện chiến lược kinh tế – xã hội thì chiến lược con người phải đi trước một bước. Từ rất sớm, Người đã nêu ra một luận điểm nổi tiếng: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì trước hết cần có những con người XHCN”. Do đó, “vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” (Di chúc).

Quan điểm “trồng người” của Hồ Chí Minh rất toàn diện và phong phú, ở mỗi thời kỳ cách mạng, Người nêu ra những yêu cầu khác nhau. Bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Người nhấn mạnh đến các yêu cầu sau đây:

Có đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, không tham ô, lãng phí, quan liêu, có ý thức làm chủ và tinh thần tập thể.

Có ý chí học hỏi, không ngừng vươn lên làm chủ những thành tựu văn hoá, khoa học – kỹ thuật, những hiểu biết mới của thời đại.

Có tinh thần tìm tòi, nghiên cứu, sáng tạo, nhạy bén với cái mới, biết vận dụng nó vào thực tế công tác để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chiến lược trồng người là một hệ thống chặt chẽ, phong phú, vừa khoa học, vừa cách mạng, là một bộ phận hợp thành của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh, một đóng góp quan trọng vào việc làm phong phú triết học về con người của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Từ thực tiễn đấu tranh cách mạng cứu dân, cứu nước, tìm một con đường phát triển mới để canh tân đất nước, Hồ Chí Minh đã tìm đến nhiều học thuyết Đông – Tây, trên hết là chủ nghĩa Mác – Lênin, đã học hỏi, tiếp thu, dung hợp, tích hợp, hình thành cho mình một thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng Mácxít, tạo nền tảng triết học để xây đựng lý luận, đường lối và phương pháp cho cách mạng Việt Nam.

Triết học Hồ Chí Minh là triết học thực tiễn, biện chứng Hồ Chí Minh là biện chứng thực hành, nó được thể hiện và xuyên thấm trong toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp và trước tác của Hồ Chí Minh. Từ những hoạt động thực tiễn phong phú ấy của Người, phân tích, hệ thống hoá, có thể rút ra tư tưởng và phương pháp triết học của Hồ Chí Minh. Đó là một việc làm công phu và lâu dài. Mấy nội dung cơ bản trong tư tưởng triết học Hồ Chí Minh được trình bày trên đây mới chỉ là những khái quát bước đầu, chắc chắn cần được bổ sung và hoàn chỉnh cùng với những thành tựu mới trên con đường lâu dài nghiên cứu tư tưởng triết học Hồ Chí Minh./.

Nguồn: Tạp chí Triết học
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều

Một trong những di sản lý luận mà Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta là tư tưởng về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn như một biện pháp cơ bản nhằm ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều.

Hồ Chí Minh dùng nhiều cách diễn đạt khác nhau: “Lý luận đi đôi với thực tiễn”, “Lý luận kết hợp với thực hành”, “Lý luận và thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau”, “Lý luận phải liên hệ với thực tế” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 9, tr. 292). Dù nói “đi đôi”, “gắn liền”, “kết hợp” nhưng điều cốt lõi nhất mà Người muốn nhấn mạnh là: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không có liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 496). Như vậy, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn được Hồ Chí Minh hiểu trên tinh thần biện chứng: Thực tiễn cần tới lý luận soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo, hướng dẫn, định hướng để không mắc phải bệnh kinh nghiệm, còn lý luận phải dựa trên cơ sở thực tiễn, phản ánh thực tiễn và phải luôn liên hệ với thực tiễn, nếu không sẽ mắc phải bệnh giáo điều. Nghĩa là thực tiễn, lý luận cần đến nhau, nương tựa vào nhau, hậu thuẫn, bổ sung cho nhau.

Hồ Chí Minh cho rằng, để quán triệt tốt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm khắc phục bệnh kinh nghiệm thì trước hết cần khắc phục bệnh kém lý luận, bệnh khinh lý luận. Bởi lẽ, kém lý luận, khinh lý luận nhất định sẽ dẫn tới bệnh kinh nghiệm. Hơn nữa, không có lý luận thì trong hoạt động thực tiễn người ta dễ chỉ dựa vào kinh nghiệm, dễ dẫn tới tuyệt đối hóa kinh nghiệm, cho kinh nghiệm là yếu tố quyết định thành công trong hoạt động thực tiễn. Nếu không có lý luận hay trình độ lý luận thấp sẽ làm cho bệnh kinh nghiệm thêm trầm trọng, thêm kéo dài. Thực tế cho thấy, ở nước ta có không ít cán bộ, đảng viên “chỉ bo bo giữ lấy kinh nghiệm lẻ tẻ. Họ không hiểu rằng lý luận rất quan trọng cho sự thực hành cách mạng. Vì vậy, họ cứ cắm đầu nhắm mắt mà làm, không hiểu rõ toàn cuộc của cách mạng” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 6, tr. 247). Những cán bộ ấy quên rằng, “kinh nghiệm của họ tuy tốt, nhưng cũng chẳng qua là từng bộ phận mà thôi, chỉ thiên về một mặt mà thôi. Có kinh nghiệm mà không có lý luận cũng như một mắt sáng một mắt mờ” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 5, tr. 234). Thực chất là họ không hiểu vai trò của lý luận đối với thực tiễn. Theo Hồ Chí Minh, lý luận có vai trò hết sức to lớn đối với thực tiễn, lý luận “như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 5, tr. 234 – 235). “Làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối vừa chậm chạp vừa hay vấp váp” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 6, tr. 47). Làm mò mẫm chính là biểu hiện của bệnh kinh nghiệm. Kém lý luận, khinh lý luận không chỉ dẫn tới bệnh kinh nghiệm mà còn dẫn tới bệnh giáo điều. Bởi lẽ, do kém lý luận, khinh lý luận nên không hiểu thực chất lý luận, chỉ thuộc câu chữ lý luận và do đó cũng không thể hiểu được bản chất những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh. Do đó, không vận dụng được lý luận vào giải quyết những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh. Nếu có vận dụng thì cũng không sát thực tế không phù hợp với thực tiễn.

Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng luôn nhắc nhở rằng, có lý luận rồi thì phải kết hợp chặt chẽ với kinh nghiệm thực tế, liên hệ với thực tiễn nếu không lại mắc phải bệnh lý luận suông, tức bệnh giáo điều. Người khẳng định, “Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để hắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 5, tr. 235). Như vậy cũng có nghĩa là lý luận suông, lý luận sách vở thuần túy. “Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào công việc thực tế là lý luận suông. Dù xem được hàng ngàn, hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 5 tr. 234). Do đó, khi vận dụng lý luận vào thực tiễn phải xuất phát từ thực tiễn, nếu không cũng mắc phải bệnh giáo điều. Như vậy, lý luận chỉ có ý nghĩa đính thực khi được vận dụng vào thực tiễn phục vụ thực tiễn, đóng vai trò soi đường, dẫn đắt, chỉ đạo thực tiễn. Đồng thời, khi vận dụng lý luận vào thực tiễn thì phải phù hợp điều kiện thực tiễn. Rõ ràng, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ở Hồ Chí Minh phải được hiểu là, thực tiễn – lý luận, lý luận – thực tiễn luôn hòa quyện, thống nhất với nhau, đòi hỏi nhau, cần đến nhau, tạo tiền đề cho nhau phát triển.

Hồ Chí Minh không để lại những tác phẩm chuyên khảo về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, nhưng ở nhiều bài viết, bài nói Người luôn luôn đề cập tới nguyên tắc cơ bản này bằng nhiều cách nói, cách viết, cách diễn đạt khác nhau nhằm giúp cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân dễ nhớ, dễ hiểu, dễ vận dụng. Cả cuộc đời của Người là tấm gương sáng về việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Một trong những biểu hiện sinh động ấy là, trong hoạt động cách mạng Người luôn luôn sâu sát thực tế, gắn bó với cơ sở, gần gũi với nhân dân. Trong khoảng 10 năm từ 1955 – 1965, Hồ Chí Minh đã thực hiện trên 700 lượt đi thăm, tiếp xúc với cán bộ, bộ đội, công nhân, giáo viên, bác sĩ, nông dân, các cụ phụ lão, các cháu thanh, thiếu niên nhi đồng, các đơn vị bộ đội, thanh niên xung phong, các hợp tác xã, bệnh viện, trường học… Như vậy, mỗi năm có tới hơn 70 lần xuống cơ sở, gặp gỡ tiếp xúc với quần chúng nhân dân. Điều này đủ thấy Hồ Chí Minh gắn bó với quần chúng, sâu sát với cơ sở, thực tế như thế nào.

Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên rằng, quán triệt tốt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là góp phần trực tiếp ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều. Để làm tốt điều này thì một mặt, phải ra sức học tập, nâng cao trình độ lý luận cũng như chuyên môn nghiệp vụ. Mặt khác, phải có phương pháp học tập đúng đắn, học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế. Nếu không, chưa khắc phục được bệnh kinh nghiệm thì đã mắc phải bệnh giáo điều, bệnh sách vở. Người chỉ rõ, “lý luận rất cần thiết, nhưng nếu cách học tập không đúng thì sẽ không có kết quả. Do đó, trong lúc học tập lý luận, chúng ta cần nhấn mạnh: Lý luận phải liên hệ với thực tế (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 496). Điều quan trọng nữa theo Người là phải chống giáo điều ngay trong học tập chủ nghĩa Lê-nin. Khi còn sống Người luôn phê phán kiểu học học thuộc lòng chủ nghĩa Mác- Lênin, “học sách vở Mác – Lênin nhưng không học tinh thần Mác – Lênin” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 9 tr. 292). Đó là học theo kiểu “mượn những lời của Mác, Lênin dễ làm cho người ta lầm lẫn” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 6, tr. 247). Theo Hồ Chí Minh, học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là “phải học tinh thần của chủ nghĩa Mác – Lênin, học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác – Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 497). “Học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình, là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 9, tr. 292). Hồ Chí Minh cũng căn dặn cán bộ, đảng viên “học tập lý luận thì nhằm mục đích để vận dụng chứ không phải học lý luận vì lý luận, hoặc để tạo cho mình một cái vốn lý luận để sau này đưa ra mặc cả với Đảng” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 498). Như vậy, học tập chủ nghĩa Mác – Lênin không phải vì chủ nghĩa Mác – Lênin, cũng không phải vì học tập thuần túy, càng không phải học tập vì mục đích cá nhân nhằm có cái để mặc cả với tổ chức. Học tập trước hết là để làm người, rồi mới làm cán bộ và phụng sự Tổ quốc, nhân dân, giai cấp. Cho nên người cán bộ, đảng viên phải có thái độ học tập đúng đắn mới có thể khắc phục được bệnh giáo điều trong nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác – Lênin. Tư tưởng này của Hồ Chí Minh cho tới nay vẫn giữ nguyên ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với chúng ta. Người cũng lưu ý rằng, không nên coi chủ nghĩa Mác – Lênin là kinh thánh, là những công thức có sẵn, cứng nhắc (Hồ Chí Minh, 1995, tập 6, tr. 247). Có như vậy thì việc nghiên cứu, học tập vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin mới có hiệu quả. Cùng với việc chống giáo điều trong học tập chủ nghĩa Mác – Lênin thì còn phải chống giáo điều trong vận dụng lý luận cũng như kinh nghiệm của nước khác, ngành khác. Người căn dặn cán bộ, đảng viên: “Không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em, là sai lầm nghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 449). Để chống cả hai loại giáo điều này, theo Hồ Chí Minh thì biện pháp cơ bản là phải gắn lý luận với thực tiễn cách mạng nước nhà. Học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tiễn cách mạng, khi vận dụng kinh nghiệm và lý luận phải xuất phát từ thực tiễn nước nhà. Người cũng nhấn mạnh rằng, cùng với việc chống bệnh giáo điều thì phải đề phòng, ngăn ngừa chủ nghĩa xét lại. Bởi lẽ, nếu không có quan điểm đúng đắn trong việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn thì người ta dễ nhấn mạnh thái quá những đặc điểm dân tộc để phủ nhận những giá trị phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin. “Nhưng nếu quá nhấn mạnh đặc điểm dân tộc để phủ nhận giá trị phổ biến của những kinh nghiệm lớn, cơ bản của các nước anh em, thì sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa xét lại” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 449). Đồng thời, Người còn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải biết dùng lý luận đã học được để tổng kết kinh nghiệm thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả công tác. “… công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần nghiên cứu cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái chìa khóa phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 5, tr. 243). Người còn nhấn mạnh “ …cần phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ, làm cho nó đầy đủ dồi dào thêm” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 5, tr. 417). Đó chính là quá trình tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận. Làm được như vậy cũng có nghĩa là làm cho lý luận cần được “bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 496). Đồng thời, thực tiễn mới sẽ được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý luận mới. Cứ như vậy, lý luận luôn được bổ sung, hoàn thiện, phát triển bởi những kết luận mới được rút ra từ tổng kết thực tiễn. Còn thực tiễn luôn được chỉ đạo, soi đường dẫn dắt bởi lý luận đã được bổ sung bằng những kinh nghiệm thực tiễn mới. Đây là biểu hiện sinh động của việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ở Hồ Chí Minh. “Làm như thế theo Người là tổng kết để làm cho nhận thức của chúng ta đối với các vấn đề đó được nâng cao hơn và công tác có kết quả hơn” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 498).

Qua những nhận định ở trên, chúng ta thấy rằng, để quán triệt tốt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều có hiệu quả thì phải không ngừng học tập lý luận, nâng cao trình độ lý luận. Khi có lý luận thì phải vận dụng vào thực tiễn, phải biết tổng kết thực tiễn để làm giàu lý luận bằng những kinh nghiệm thực tiễn mới. Chỉ thông qua quy trình như vậy thì lý luận mới gắn với thực tiễn, mới không trở thành giáo điều. Đồng thời thực tiễn mới sẽ được chỉ đạo bồi lý luận sẽ không bị mò mẫm, vấp váp, hay chệch hướng. Như vậy thì bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều cũng không còn chỗ đúng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thống nhất giữa lý luận và thực tiễn như một biện pháp cơ bản để ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều có ý nghĩa hết sức to lớn hiện nay, khi mà chúng ta đang tìm lời giải đáp cho nhiều vấn đề thực tiễn đổi mới đặt ra. Bởi lẽ, để tìm lời giải cho những vấn đề đó chúng ta phải tìm ở cả trong chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như ở chính thực tiễn đổi mới hiện nay ở nước ta. Nghĩa là phải bằng phương pháp, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh tổng kết những vấn đề thực tiễn hôm nay một cách có lý luận.

Nguồn: Tạp chí Khoa học xã hội
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Cán bộ phải chăm lo chu đáo cho mọi người

Vào những năm chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Bác Hồ đặc biệt quan tâm đến lực lượng mở đường, giữ vững mạch máu giao thông thông suốt. Năm 1965, để phục vụ tốt cho chiến trường phía Nam, đường Trường Sơn được mở rộng và khai thông nhiều tuyến, nhiều nhánh mới cho xe chạy cả đêm, cả ngày.

Theo đề nghị của Bộ Quốc phòng, hơn 2.000 thợ cầu đường có trình độ chuyên môn cao và 5.000 nam nữ thanh niên được Bộ Giao thông tăng cường cho Binh đoàn Trường Sơn (tức Đoàn 559).

Trước ngày đoàn lên đường vào Trường Sơn, Bác gặp một số lãnh đạo Bộ Giao thông. Ai nấy vui mừng vì được gặp Bác, nhưng không ai đoán được Bác sẽ căn dặn điều gì. Bác đã không nói gì thừa, càng không nói những lời to tát, như tầm chiến lược của cung đường Trường Sơn hay vai trò của tuyến đường huyết mạch này với cuộc kháng chiến đang rất cam go, mà Bác đi thẳng vào những vấn đề cụ thể, nhắc nhở mọi người đã là cán bộ thì phải có trách nhiệm chăm lo chu đáo cho mọi người xung quanh.

Sau này, các thế hệ cán bộ của Bộ Giao thông vận tải còn nhắc lại kỷ niệm về lần gặp Bác hồi đó. Trông Bác nghiêm trang và hơi buồn hơn những lần khác mà mọi người được gặp. Bác hỏi Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ, trong số 5000 thanh niên xung phong có bao nhiêu cháu gái, cháu tuổi nhỏ nhất và tuổi cao nhất. Rồi Bác nói với mọi người, phải đưa các cháu gái vào nơi gian khổ, bom đạn là việc Bác không muốn, nhưng con trai ra trận hết, không có cách nào khác. Các cháu thanh niên xung phong ở gia đình có bố mẹ, anh chị em là nơi nương tựa, chăm sóc, nên cán bộ phải thay cha mẹ chăm sóc, yêu thương các cháu, hạn chế đến cùng mọi khó khăn, gian khổ do chiến tranh gây ra, nhất là với các cháu gái.

Trước lúc mọi người về, Bác còn dặn thêm, phải mua sách báo, nhạc cụ cho các cháu trai và phải lo đủ kim chỉ cho các cháu gái may vá, lo đủ bồ kết cho các cháu gái gội đầu…

Lê Minh

bqllang.gov.vn