Tag Archive | Lãnh tụ vĩ đại

Tấm danh thiếp đầu tiên Bác Hồ gửi cho báo chí

Danh thiếp Bác Hồ gửi cho báo Xung phong.

Có một người tham gia cách mạng từ khi tuổi còn nhỏ đến khi về hưu; người đó, suốt cả cuộc đời lại chỉ làm công tác thiếu nhi. Đó là ông Quản Tập – Nguyên Phó Tổng biên tập báo Thiếu niên Tiền phong.

Năm 1946, Quản Tập, người Đội trưởng đội Hướng Đạo Sinh xuất sắc được cấp trên cử đi dự cuộc gặp mặt Đội Hướng Đạo Sinh Việt Nam do cụ Hoàng Đạo Thúy triệu tập ở Hà Nội tại Đông Dương học xá tức là chỗ trường Đại học Bách khoa Hà Nội bây giờ.

Đội Hướng Đạo Sinh do Quản Tập làm Đoàn trưởng có tên là Hồng Châu (lấy tên vùng quê trong lịch sử gồm nhiều huyện như Ninh Giang, Tứ Kỳ thuộc tỉnh Đông – tức Hải Dương bây giờ). Các đoàn cắm trại làm lều riêng biệt có trang trí cờ hoa rất đẹp. Các đội viên mặc áo nâu, quần xanh, có khăn thắt nút, đội nón, chống gậy tre…

Bỗng từ xa có một đoàn người lớn đến thăm trại. Đi đầu là cụ Hoàng Đạo Thúy, ông Tạ Quang Bửu (Cụ Hoàng Đạo Thúy, ông Tạ Quang Bửu là Hội trưởng, Hội phó Hướng Đạo Sinh Việt Nam). Đi sau là một ông già dáng người tầm thước, trán cao, mắt sáng. Đó là Hồ Chủ tịch. Sau khi thăm trại, Cụ Hồ dừng lại trước mặt Quản Tập. Cụ hỏi:

– Cháu ở đoàn nào?

– Dạ thưa Cụ, cháu ở đoàn Hồng Châu.

Cụ lại hỏi:

– Tại sao lại là Hồng Châu?

– Thưa Cụ, đó là tên lịch sử cũ của vùng quê cháu thuộc tỉnh Đông.

– Thế à, rất hay.

Rồi Cụ nhận xét:

Báo Xung phong của thiếu nhi Ninh Giang, số Tết Mậu Tý 1948

– Trại của các cháu rất đẹp, lều cọc đều rất tốt, các cháu lại còn biết đào hố để bỏ rác thế là rất vệ sinh…

Quản Tập cầm một xâu bánh gai đến gần Cụ Hồ.

– Thưa Cụ, đây là bánh gai, sản phẩm của quê cháu, ngon nhất nước, cháu biếu Cụ.

– Cảm ơn các cháu.

Nói rồi Cụ bước qua hàng rào làm bằng dây thừng. Quản Tập chạy lên phía trước, vừa đi thụt lùi vừa ngắm Cụ. Cụ nói:

– Cháu phải cẩn thận, đi như thế dễ vướng vào dây, ngã đau đó.

– Cháu đi thế để ngắm Cụ được nhiều hơn, khi về cháu vẽ Cụ trên tờ báo tường ạ.

Thấy cử chỉ tinh nghịch ấy, Cụ cũng đứng lại:

– Cám ơn nhà báo tường.

Sở dĩ như thế là vì phong trào làm báo tường trong thiếu niên thời đó rất phát triển.

Báo Xung phong của thiếu nhi Ninh Giang, số Tết Mậu Tý 1948

Sau buổi ấy, Quản Tập về báo cáo cho Huyện bộ Việt Minh, được Huyện bộ Việt Minh khen ngợi và cho đó là một vinh dự cho huyện nhà. Năm 1947, Đội Thiếu niên Ninh Giang hoạt động rất mạnh. Lúc này Ninh Giang đã tiêu thổ kháng chiến, Đội Thiếu niên đi về hàng ngày truyền thông tin lên huyện, tỉnh và ngược lại. Đội Thiếu niên được tổ chức trò chơi tập thể, vui chơi giải trí, tập múa hát những bài ca cách mạng… Đội thành lập tờ báo, lấy tên là Xung phong. Tờ Xung phong được dán ở các chòi thông tin. Hình thức báo cũng giống như những tờ báo tường lúc đó.

Các đội viên có nhiệm vụ viết những thông tin mình biết lên một tờ giấy, viết thành nhiều bản rồi tập hợp dán ở những nơi đông người qua lại. Báo chủ yếu nói lên những điều cấp trên cần truyền đạt xuống người dân, và những tiếng nói của người dân muốn phản ánh cấp trên một cách đơn giản.

Nhà báo Thép Mới và họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm có lần được tiếp xúc với “Ban Biên tập” đã khen ngợi: “Tờ báo rất đẹp. Trên thế giới chưa có tờ báo nào như thế”.

Báo Xung phong của thiếu nhi Ninh Giang, số Tết Mậu Tý 1948

Đến tháng 6-1947, khi Quản Tập được điều về tỉnh công tác, ông tổ chức tờ báo lớn hơn, phạm vi hoạt động rộng lớn hơn. Mới đầu vẫn là tờ báo viết tay, chép thành nhiều bản, phát hành theo đường dây thiếu niên giao thông đi dán ở những nơi công cộng, tập trung đông người. Sau đó, tờ báo bắt đầu in li tô. Huyện đội Việt Minh ngoài việc cung cấp giấy, đá li tô, mực in còn lùng sục để mua đá, có khi phải lên tận Hà Nội để mua giấy Mỹ… Khi in li tô được nhiều bản (100 tờ dán ở các chòi thông tin), tờ dành riêng một số gửi cho Cụ Hồ ở chiến khu Việt Bắc.

Báo gửi cho Cụ Hồ ở Việt Bắc cũng đi theo đường thiếu niên giao thông theo địa chỉ: Kính gửi Cụ Hồ Chủ tịch – Chiến khu Việt Bắc.

Bỗng một hôm, Đội Thiếu niên giao thông đưa về một chiếc phong bì bé xíu, bằng giấy xi măng ở góc có số công văn 15 MCH2.

Kính gửi: Báo Xung phong – Cơ quan của trẻ em yêu nước tỉnh Hải Dương. Trong phong bì là một tấm danh thiếp của Cụ Hồ.

Tấm danh thiếp in hai mặt: Mặt sau có chữ Hồ Chí Minh bằng chữ Hán. Mặt trước ở giữa là chữ Hồ Chí Minh bằng chữ quốc ngữ, toàn bộ là 8 câu thơ lục bát được đánh máy bằng loại rubăng mực tím:

Bác nhận được báo Xung phong
Cảm ơn các cháu có lòng gửi cho
Các cháu nghe Bác dặn dò
Phải biết yêu nước, phải lo học hành
Siêng làm việc, siêng tập tành
Phải giữ kỷ luật là thành cháu ngoan
Bác yêu các cháu muôn vàn
Bác gửi các cháu một ngàn cái hôn.

Thời gian sau, gặp ông Vũ Kỳ, thư ký riêng của Bác Hồ, Quản Tập nói lại chuyện đó.

Ông Vũ Kỳ nói:

– Thế là các cậu quá vinh dự. Không phải ai Bác cũng gửi danh thiếp. Phải là người được Bác yêu quý lắm.

– Thế thật hả anh?

– Chứ sao, cậu có cái may là báo trẻ em. Báo trẻ em duy nhất của cả nước khi ấy.

Đây là danh thiếp đầu tiên Bác Hồ gửi cho báo chí.

Tỉnh ủy Hải Dương cũng coi đó là vinh dự cho cả tỉnh. Vì thế hồi ấy ông Vũ Kiên là Bí thư Tỉnh Đoàn, sau làm Thường vụ Tỉnh ủy Hải Dương, Phó Bí thư Tỉnh ủy Nam Định, nay đã bước sang tuổi 90 (ông là một trí thức, đã học trường Bưởi – trường THPT Chu Văn An bây giờ) cho phát triển tờ báo, chọn phóng viên và mở rộng đề tài của báo, cho đăng cả thơ ca, hướng dẫn thể dục thể thao và các phong trào cách mạng ở địa phương.

Cũng phải nói thêm rằng, tờ báo Xung phong ra đời và phát triển được là nhờ sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy Hải Dương. Đồng chí Vũ Huy Hiệu, Bí thư Tỉnh ủy về sau làm Thống đốc Ngân hàng Việt Nam, năm nay vừa tròn 100 tuổi và đồng chí Phan Điền, Phó Bí thư Tỉnh ủy phụ trách công tác dân vận và tài mậu (sau làm Bí thư Tỉnh ủy Nam Định) đã có công xây dựng, tạo mọi điều kiện cho báo phát triển.

Một trong những người có công với tờ báo Xung phong phải kể đến ông Quốc Tiến (lúc ấy 14 tuổi) người trình bày và viết bài lên đá để in li tô được nhiều bản. Ông Tiến hiện nay đã 78 tuổi, đang ở thành phố Hồ Chí Minh.

Báo Xung phong phát triển nên năm 1948 đã tổ chức Hội nghị Cộng tác viên. Danh thiếp của Bác Hồ được Tỉnh ủy cho giấy in hàng loạt phát cho mỗi thiếu nhi trong tỉnh một tờ.

Cũng năm 1948, Hội những người làm báo Việt Nam tổ chức Đại hội báo chí miền Duyên hải Bắc Bộ – các tỉnh ven biển miền Bắc như Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng, Nam Định, Móng Cái – do ông Hoàng Tùng, Phó Chủ nhiệm Việt Minh Khu 3, ông Nguyễn Tường Phượng, trưởng đoàn báo chí kháng chiến chủ trì. Báo Xung phong cũng được cử đại biểu đi dự Đại hội ngang với các tờ báo khác.

Ngày 15-5-1950, Quản Tập được điều về Ban Huynh trưởng Thiếu nhi Trung ương. Lúc ấy, ông Lưu Hữu Phước, nhạc sĩ giữ chức Trưởng ban Huynh trưởng. Quản Tập được dự lễ kỷ niệm lần thứ 60 sinh nhật Bác Hồ và tổ chức ngày Quốc tế Thiếu nhi đầu tiên của Việt Nam, được Trung ương Đoàn giao việc chuẩn bị xuất bản báo Yêu trẻ. Điều đáng nói là khi lên Trung ương Đoàn (1950), Quản Tập có mang nhiều tờ báo Xung phong đi theo.

Ông Lưu Hữu Phước khi đi dự Liên hoan Thanh niên sinh viên Thế giới ở Béc-lin (CHDC Đức) (VN là hội viên) có mang 10 tờ báo Xung phong trưng bày ở Liên hoan. Các đại biểu dự liên hoan rất thích tờ báo ấy vì họ thấy tờ báo trẻ em mà làm rất đẹp, nội dung rất phong phú được ra đời trong khi đất nước Việt Nam còn non trẻ, kháng chiến bộn bề./.

Theo Tienphong.vn
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Phụ nữ miền Nam và “đồng bạc Cụ Hồ”

Những "đồng bạc Cụ Hồ" được đồng bào Nam Bộ gìn giữ trong suốt những năm đất nước bị chia cắt. Ảnh: Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ.

Sinh thời, với niềm thương nhớ khôn nguôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nghĩ đến đồng bào miền Nam ruột thịt. Người nói: “Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”… Bác Hồ cũng luôn mong muốn được vào thăm nhân dân miền Nam và đã nhiều lần đề nghị Bộ Chính trị ý nguyện thiêng liêng đó.

Nhưng rồi, vì điều kiện sức khỏe, ý nguyện ấy của Người không được thực hiện. Trước lúc đi xa, Người nắm chặt tay đồng chí Nguyễn Văn Linh, Bí thư Trung ương Cục miền Nam ra công tác ở miền Bắc như muốn nói rằng “Miền Nam mãi mãi ở trong trái tim tôi”. Cũng với tấm lòng như vậy, tình cảm nhân dân miền Nam dành cho Bác thật hết sức thiêng liêng. Chỉ riêng “đồng bạc Cụ Hồ” mà thấm đẫm nghĩa nhân, được cất giữ, bao bọc giữa triệu triệu tấm lòng…

Chuyện đổi tiền “đặc biệt”

Trong quá trình đi tìm tư liệu thực hiện công trình “Phụ nữ Long An – Truyền thống và lịch sử”, tôi vô cùng ngạc nhiên, thú vị khi được gặp những nhân chứng vô cùng sống động. Một trong những nhân chứng kể lại nhiều câu chuyện gây ấn tượng mạnh mẽ trong tôi là bà Ðặng Thị Diềm, nguyên Ủy viên Thường vụ, Trưởng ban Dân vận Tỉnh ủy Long An, hiện đang sống ở thị xã Tân An.

Bà Diềm kể: Năm 1943, khi bị Nhật “chia sẻ” quyền kiểm soát Ðông Dương, để đáp ứng nhu cầu vật chất cho quân Nhật, Pháp cho in giấy bạc JDEO 100 đồng mà bà con quen gọi là “giấy xăng đỏ” để nuôi quân Nhật. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, tiền này tập trung vào nội cứ Long An nhiều nhất, vì lúc đó ta chưa in giấy bạc Cụ Hồ, nên phải tạm xài tiền ấy. Quân khu Ðông Thành (Quân khu 7) cắt tiền “giấy xăng đỏ” ra làm hai, đóng dấu Quân khu Ðông Thành cho nhân dân lưu hành trong chiến khu, xem như tiền độc lập của Việt Minh, còn ở nội thành, Pháp in bạc khác, không thừa nhận “giấy xăng đỏ” ấy.

Ðến khi đồng bạc Cụ Hồ ra đời, Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ không thừa nhận, không chịu đổi tiền ấy bằng tiền Cụ Hồ. Dân quân Ðông Thành chết đứng, chết ngồi. Lúc ấy tôi trong Ban Chấp hành Phụ nữ tỉnh Tân An. Chị em phụ nữ quân khu Ðông Thành xuống bàn với chúng tôi, nhờ can thiệp với ngân khố tỉnh và ngân khố Nam Bộ cho đổi bạc “giấy xăng đỏ” ra tiền Cụ Hồ, vì đó là mồ hôi nước mắt của bà con.

Chúng tôi chạy qua Tỉnh ủy bàn. Tỉnh ủy không dám cho đổi vì phải đợi sự thương lượng với Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ. Chúng tôi bèn đi tìm anh Hà Huy Giáp, lúc ấy là Chủ nhiệm Kỳ bộ Việt Minh, cũng không quên gặp anh Bảy Chiếm (Cao Ðăng Chiếm) ở Sở Công an Nam Bộ, lại nhờ anh Ung Văn Khiêm, Ủy viên Nội vụ Nam Bộ. Chúng tôi cắt nghĩa cho ba anh nghe là: Pháp đã giựt của dân. Trước sự bức xúc lưu thông tiền tệ, quân khu 7 đã đóng dấu lên bạc JDEO, thừa nhận đồng “giấy xăng đỏ” như đồng bạc Cụ Hồ, nay Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ không thừa nhận đồng tiền này thì ta thất tín với dân và dân sẽ nói: “Việt Minh cũng như Pháp thôi, cũng hại dân chớ không giúp dân” thì ta nghĩ sao về mặt uy thế chính trị. Chúng tôi khẩn khoản yêu cầu Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ giải quyết thỏa đáng cho dân và báo cáo rõ về Trung ương. Ba anh suy nghĩ lâu lắm, cùng chúng tôi kéo qua Sở Tài chính Nam Bộ. Trước vấn đề trọng đại này, ông Kha Vạn Cân lúc ấy đang nắm giữ Sở Tài chính Nam Bộ cũng không dám tự quyết định, mà phải điện hỏi ý kiến của Xứ ủy Nam Bộ

Chúng tôi cùng chờ ý kiến Xứ ủy. Tới chiều, Xứ ủy liên hệ với Quân khu 7 và Tân An quyết định cho Tân An xuất ngân khố, đổi liền số bạc mà Quân khu Ðông Thành đã đóng dấu lên tờ giấy JDEO cắt làm hai là 50 đồng, còn bạc nguyên, bạc mới không đổi vì sợ giặc lợi dụng sơ hở của ta, luồn tiền vào phá hoại ngân khố cách mạng. Các cơ quan của Tân An hợp tác với Sở Công an Nam Bộ kiểm tra, lập biên bản kiểm kê toàn bộ “giấy xăng đỏ” ở Quân khu Ðông Thành, ở Ðồng Tháp Mười. Trên cơ sở đó, Sở Tài chính Nam Bộ cùng kho bạc Tân An mới xuất tiền xuống tận xóm ấp để đổi cho dân. Qua việc đó, nhân dân rất vui mừng, phấn khởi, càng có thêm niềm tin vào Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ.

Giữ lấy giá trị “đồng bạc Cụ Hồ”

Ði đôi với biện pháp vơ vét của cải nhân dân, quân Pháp tăng cường phá hoại kinh tế kháng chiến bằng các thủ đoạn như độc quyền thương mại, hạ giá đồng bạc Ðông Dương, phá hoại và cướp lương thực của nhân dân. Vào năm 1952-1953, địch dùng thủ đoạn tung bạc giả – loại giấy 100 đồng có hình Chủ tịch Hồ Chí Minh, thường được gọi là “đồng bạc Cụ Hồ” vào vùng giải phóng, hoặc phát không cho số người hay ra vào giữa vùng giải phóng và vùng địch, chủ yếu là thương nhân Hoa kiều; thậm chí dùng máy bay rải trong vùng giải phóng của ta, làm đồng bạc của ta mất giá. Trong vai trò sĩ quan phiên dịch của phòng Nhì, cơ quan tình báo của Pháp, chi nhánh Long Xuyên, điệp viên Trần Hiến kể: “Một Hoa kiều bị bắt đưa vào Long Xuyên, đi trên chiếc xe lôi, chở ba bao tải đầy bạc Cụ Hồ giả. Qua hỏi cung, tôi được biết số bạc đó do một thiếu tá Pháp bán, hắn mua lại tại Chợ Lớn chở về nhà số 36 đường Phan Thanh Giản – Long Xuyên để chờ đưa vào vùng kháng chiến… Sau tra hỏi, thấy không khai thác được gì thêm, người Hoa kiều ấy được tha về”. Tên trưởng chi nhánh phòng Nhì ở Long Xuyên tha hắn về vì đó là “chiến hữu”, tay chân của quân Pháp phá hoại nền kinh tế kháng chiến nhưng Ban hành động Cần Thơ đã trừng trị hắn vì tội trạng “phá hoại nền kinh tế”, quyết giữ đúng giá trị “đồng bạc Cụ Hồ” mà nhân dân rất tín nhiệm, tự hào và trân trọng.

Bằng mọi cách cất giữ những đồng tiền in hình Bác

Biết bao nhiêu người mẹ, người chị miền Nam đã đương đầu với nguy hiểm để giữ lấy những gì liên quan đến Bác. Khi Bác Hồ mất, nhiều đền thờ tưởng niệm Bác đã được dựng lên ngay giữa vùng địch chiếm đóng. Trong nội thành, phụ nữ Sài Gòn tổ chức đám giỗ nghi trang để truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Huyện, Giám đốc Viện Dục Anh đã mặc hai chiếc áo dài đen và trắng liên tục trong ba năm để tang Bác Hồ. Trong nhà tù Chí Hòa, nữ tù chính trị đã để tang Bác Hồ trong một tuần lễ, sau đó bị đàn áp khốc liệt, bị đày đi Côn Ðảo…

Bà Phan Thị Mai (Việt Nữ), nguyên Bí thư Ðảng ủy Sở Y tế Nam Bộ đã kể câu chuyện cảm động về một bà mẹ khi bị giam chung với bà trong tù.

Chuyện kể rằng: “Có một bà lúc trước ở vùng giải phóng, bán quán nhỏ bên đường. Khi ta tập kết, bà còn lại một số tiền Cụ Hồ. Có ai mách với giặc, một buổi sáng bà đi chợ, lính ở bót kéo đến phá cửa vào chòi của bà lục lấy số bạc Cụ Hồ mà bà đã trân trọng cất giữ từ lâu. Khi bà về, mọi người đến cho bà hay sự việc và hối bà đi trốn. Bà bỏ đi. Ai cũng tưởng bà đi trốn nên yên tâm, nào ngờ bà đến bót lấy số tiền đó. Ðịch bắt bà bỏ tù. Trong tù, chị em hỏi: “Sao bà không trốn đi, đến bót làm chi cho nó bắt?”. Bà nói: “Bỏ tù thây kệ nó chớ. Thứ đồ ăn cướp, giữa ban ngày đến lấy tiền của người ta”. Ai cũng cười mà rưng rưng nước mắt, vì thấy người dân trong vùng địch trân trọng giữ gìn hình ảnh Bác Hồ, mặc dù biết phải nguy hiểm”.

Những “đồng bạc Cụ Hồ” tuy chỉ được lưu hành mấy năm trong vùng kháng chiến nhưng đó là đồng tiền được lưu giữ trong lòng nhân dân lâu bền nhất. Với tấm lòng kính yêu hướng về Bác, nhiều người mẹ, người chị đã hy sinh, chấp nhận tù đày, bằng mọi cách cất giữ những đồng tiền in hình Bác giữa vùng địch chiếm đóng. Cho đến nay, Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ đã có bộ sưu tập hàng trăm “đồng bạc Cụ Hồ” được tìm thấy từ khắp các tỉnh thành./.

Theo Trầm Hương
Nhân dân cuối tuần
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Gặp ông cụ 7 năm bảo vệ Bác Hồ

Ông Nguyễn Hữu Trực năm nay đã 79 tuổi nhưng ông rất khỏe mạnh và quắc thước

(Dân trí) – Với ông, khoảng thời gian làm nhiệm vụ bảo vệ bên Bác, từng khóm cây, ngọn cỏ, con mương trong Phủ Chủ tịch ông vẫn nhớ, vẫn thuộc như lòng bàn tay. Giờ đây mỗi khi nhớ lại quãng thời gian đó ông vẫn còn bồi hồi xúc động…

Chúng tôi tìm đến thôn Giữa, xã Nghĩa Hưng, huyện Lạng Giang hỏi nhà Đại tá Nguyễn Hữu Trực thì ai cũng biết, đó là một căn nhà nhỏ với vườn cây xanh rợp bóng mát nằm cách cổng làng khoảng chừng 200m.

Khi chúng tôi đến, Đại tá Nguyễn Hữu Trực, từng công tác trong ngành Công an, năm nay đã 79 tuổi, đang phụ cháu vớt bèo ngoài ao cá sau nhà. Tuy đã ở cái tuổi xưa nay hiếm, mái tóc đã bạc trắng nhưng Đại tá Trực vẫn còn minh mẫn, dáng đi nhanh nhẹn. Nhấp ngụm nước chè, ông bồi hồi nhớ lại khoảng thời gian 35 năm hoat động cách mạng của mình với niềm vinh dự, hạnh phúc và may mắn được làm nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ trong suốt 7 năm.

Ông sinh năm 1932 trong một gia đình tại thôn Giữa, xã Nghĩa Hưng, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Tháng 10/1950, ông tham gia lực lượng thanh niên xung phong phục vụ các Chiến dịch Biên Giới, Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám.

Sau đó, ông vào công tác trong ngành Công an từ tháng 2/1955. Sau một thời gian huấn luyện nghiệp vụ, lần đầu tiên ông cùng Đội Cảnh vệ tháp tùng Bác đi thăm viếng nghĩa trang liệt sỹ vào dịp kỷ niệm Quốc khánh lần thứ 10. Ngay sau đó ông được điều về làm cảnh vệ vòng ngoài của Phủ Chủ tịch.

Sau bao nhiêu năm bôn ba, tháng 6/1957, lần đầu tiên Bác trở về thăm lại quê hương Nghệ An. Lần đó ông được tham gia bảo vệ Bác về quê. Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ ba, dưới sự chỉ đạo của đồng chí Vũ Kỳ, ông được trực tiếp bảo vệ và bố trí lịch tiếp khách của Bác trong Phủ Chủ tịch. Cũng vào năm đó ông được kết nạp Đảng.

Dù đã bao nhiêu năm trôi qua, nhưng với ông, khoảng thời gian làm nhiệm vụ bảo vệ bên Bác, từng khóm cây, ngọn cỏ, con mương trong Phủ Chủ tịch ông vẫn nhớ vẫn thuộc như lòng bàn tay. Với ông Trực những lần bảo vệ Bác về quê, đi công tác, thăm nhân dân, bộ đội, các cháu học sinh và thiếu niên nhi đồng vẫn còn vẹn nguyên trong ký ức của ông.

“Sau Đại hội Đảng lần thứ ba, Bác muốn đi thăm bà con nông dân thu hoạch mùa màng. Vì lo có chuyện gì không may xảy ra nên chúng tôi đã bố trí một ruộng đang gặt để Bác xuống thăm. Nhưng Bác nhận ra Bác bảo: Các chú lại bố trí rồi! làm gì có bà con nào đi gặt đều ăn mặc quần áo đen giống nhau thế kia. Bác đã không xuống, Bác bảo cứ cho xe chạy tiếp. Đến khu cánh đồng ở huyện Đan Phượng (tỉnh Hà Tây cũ) Bác bảo dừng xe lại. Biết Bác đến mọi người khắp cánh đồng vui mừng, xúc động vội vàng đến bên Bác khi mà trên tay vẫn còn cầm dao gặt lúa và đòn gánh. Anh em chúng tôi được một phen phát hoảng. Rồi vào ngày 30 Tết năm 1960, Bác muốn đi thăm chợ Đồng Xuân, chúng tôi lên kế hoạch cải trang cho Bác nhưng Bác không đồng ý”.

“Lần đó, Bác mặc áo bông, đội mũ và quàng khăn để che bộ râu đi rồi ra thăm chợ xem cuộc sống của đồng bào chiều 30 Tết như thế nào. Bác đi đến khắp các dãy trong chợ, qua từng cửa hàng nhưng không ai nhận ra Bác. Nhưng khi đi gần hết chợ thì có hai cháu thiếu niên nhận ra Bác. Hai cháu thiếu niên tý nữa thì reo lên “A Bác Hồ”, cũng may là chúng tôi kịp ra hiệu để hai cháu nhỏ không hét lớn lên, ra đến cuối chợ có xe đến đón Bác, khi đó mọi người mới vỡ ra trong tiếc nuối là Bác đến”.

Trong suốt 7 năm phục vụ Bác Hồ, 5 năm ông làm nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài và 2 năm trực tiếp phục vụ Bác Hồ trong Phủ Chủ tịch. Những kỷ niệm đó không bao giờ phai nhạt trong ông.

Ông còn nhớ như in, những ngày tháng phục vụ Bác trong Phủ Chủ tịch. Vào ngày nghỉ nào, Bác cũng tổ chức và xem chiếu phim cùng anh em cảnh vệ và đội ngũ phục vụ. Những năm bảo vệ bên Bác, ông được ăn Tết cùng với Bác một lần và một lần cùng cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Ông Trực xúc động nhớ lại: “Bác sống rất giản dị và tiết kiệm. Đi công tác, Bác không vào luôn trụ sở hay nhà máy mà Bác đi thăm cuộc sống, sinh hoạt của mọi người trước và không bao giờ ăn cơm ở đó. Quà Tết các địa phương gửi biếu Bác, Bác không dùng mà gửi tặng các cụ già, thiếu nhi, thương binh và bộ đội…”.

Ông Trực bồi hồi nhớ lại quãng thời gian phục vụ bên Bác Hồ

Đến năm 1962, ông Trực được cử đi học nghiệp vụ tại Liên Xô. Sau hai năm học tập, ông về làm giảng viên Học viện An ninh. Năm 1976, ông được cử về trường Lào (Trường Đào tạo cán bộ cho nước bạn Lào). Đến năm 1990 thì ông nghỉ hưu với hàm Đại tá.

Trong suốt khoảng thời gian 35 năm phục vụ cách mạng, ông được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, và Huân chương Tự do hạng Nhì của nước bạn Lào.

Vợ chồng Đại tá Nguyễn Hữu Trực có 5 người con, hiện con cái của ông bà đã thành đạt và ra ở riêng. Hàng ngày ông cùng vợ sống trong căn nhà nhỏ nơi thôn Giữa.

Hơn ai hết, những ngày này, ông Trực lại bồi hồi nhớ lại những cảm xúc về khoảng thời gian hạnh phúc, vinh dự được sống và phục vụ bên Bác, được phục vụ Bác và được Bác ân cần dạy bảo những điều hay lẽ phải trong công việc và cuộc sống. Những tình cảm của Bác suốt cuộc đời ông không bao giờ quên…

Theo Nguyễn Khoát – Duy Tuyên
dantri.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông và tình bạn thủy chung Hồ Chí Minh – Loseby

Mùa xuân năm 1930, sau khi triệu tập và chủ trì thành công Hội nghị hợp thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc – Tống Văn Sơ tiếp tục ở lại Hồng Kông, hoạt động cách mạng. Người ở tại ngôi nhà 186 phố Tam Kung, Cửu Long – Hương Cảng, và nơi đó trở thành trụ sở liên lạc bí mật giữa Nguyễn Ái Quốc và một số đồng chí khác.

1. Nguyễn Ái Quốc những năm 1931-1933

Kể từ khi thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp ký tên vào bản Yêu sách của nhân dân An Nam gửi hội nghị Vecxay – Pháp, cho đến khi sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành một nhân vật quan trọng trong kế hoạch lùng bắt của thực dân Pháp. Vì vậy, hoạt động giữa vòng vây của nhiều kẻ thù, kèm theo một án tử hình vắng mặt của toà Đại hình Vinh theo phán quyết số 115 (10-10-1929), cùng lệnh truy nã ráo riết của thực dân Pháp luôn là những khó khăn, là những hiểm nguy cận kề đối với Nguyễn Ái Quốc. Trong khi những bản tin hàng ngày của cảnh sát hình sự Bắc Kỳ luôn cập nhật những thông tin hoạt động và ảnh của Nguyễn Ái Quốc: “Tin tình báo: Đã ở lâu năm tại Mỹ, Anh, Pháp và Nga, hiện nay có lẽ đang ở Viễn Đông, có thể là Đông Dương”([1]), thì dù đã rất cẩn trọng nhưng thật không may, địa chỉ Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông đã vô tình rơi vào tay mật thám Anh (khi cảnh sát Xingapo bắt dược Sécgiơ Lơphơrăng – Serge Lefranc). Cuộc mặc cả giữa mật thám Pháp ở Đông Dương và mật thám Anh ở Hồng Kông, kèm theo những điều kiện có lợi cho cả hai bên đã dẫn đến cuộc vây ráp, bắt lén Nguyễn Ái Quốc – Tống Văn Sơ ở số nhà 186 Tam Kung – Hương Cảng (6-6-1931).

Thực dân Pháp rất mừng trước việc Nguyễn Ái Quốc bị bắt. Toàn quyền Rôbanh (Robin) đã điện từ Hà Nội vào báo tin cho Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp, Bộ Ngoại giao Pháp và Tổng Lãnh sự Pháp tại Hồng Kông về “niềm vui bất ngờ này” và đồng thời mở cuộc vận động chính quyền Hồng Kông giao Nguyễn Ái Quốc cho chính quyền Pháp bằng cách dẫn độ về Đông Dương hoặc giam giữ ở một nơi xa xôi nào đó của Anh trên nguyên tắc “có đi có lại”, chứ tuyệt nhiên không được “trả tự do” cho Người, vì “trả tự do cho con người vô cùng năng động và nguy hiểm này là khả năng cần phải tránh bằng mọi giá”([2]). Không chỉ có vậy, nhấn mạnh việc “trả tự do cho Nguyễn Ái Quốc chỉ có thể làm trầm trọng thêm những hoạt động có hại của phong trào Đông Dương”, chính quyền Pháp còn vận động chính quyền Anh ở Luân Đôn giao Nguyễn Ái Quốc cho chúng, v.v..

Trong khi đó, biết tin Nguyễn Ái Quốc bị bắt, Hồ Tùng Mậu, qua Liên đoàn Quốc tế cứu tế đỏ đã đến gặp luật sư Lôdơbi (Francis Henry Loseby) – một luật sư tiến bộ người Anh ở Hồng Kông nhờ giúp đỡ. Việc bắt lén người trái pháp luật đã bị bại lộ khi báo chí đồng loạt đưa tin sự kiện Nguyễn Ái Quốc bị bắt. Và để hợp pháp hóa việc bắt giữ, Thống đốc Hồng Kông đã phải ra lệnh bắt giam Người nhiều lần và Sở cảnh sát Hồng Kông buộc phải đồng ý để luật sư vào gặp Tống Văn Sơ (24-6-1931).

Luật sư đã tìm cách bào chữa và ngăn cản âm mưu của chính quyền Hồng Kông giao nộp Nguyễn Ái Quốc cho chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương. Gặp gỡ và hỏi chuyện Tống Văn Sơ ở nhà lao, sau khi tiếp xúc và trả lời những câu hỏi liên quan đến vụ án mà luật sư nêu ra, người tù Tống Văn Sơ cảm ơn sự quan tâm của luật sư đối với mình, và tỏ ý băn khoăn vì không có tiền để trả công cho ông. Trước một người thanh niên Việt Nam gầy, xanh, song vẻ cương nghị, sự thông minh trong từng câu nói bằng tiếng Anh và đôi mắt sáng đã làm luật sư xúc động. Luật sư chân tình nói: Tôi nhận giúp vì danh dự chứ không phải vì tiền. Luật sư nói sẽ ra sức cứu giúp, mong người tù hãy tin tưởng và hãy cung cấp cho luật sư những điều gì có thể giúp trong việc bênh vực…Và rằng, biết được mỗi người cách mạng đều có bí mật riêng của họ, nên ông đã không muốn hỏi thêm nhiều nữa…

Thời gian Tống Văn Sơ bị giam giữ cũng đồng thời là khoảng thời gian nước rút của cuộc đua giữa một bên là gia đình luật sư và những người bảo vệ Tống Văn Sơ, một bên khác là sự cấu kết, có điều kiện của mật thám Anh và mật thám Pháp muốn hãm hại Tống Văn Sơ. Dưới sức ép của dư luận và những phương tiện thông tin báo chí như: Báo Nhân Đạo của Đảng Cộng sản Pháp ngày 19-6-1931 đăng bài “Bọn đế quốc câu kết với nhau. Người Anh đã bắt nhà cách mạng An Nam ở Thượng Hải” – thực chất Người bị bắt ở Hồng Kông và khẳng định: “Vụ bắt Nguyễn Ái Quốc không dập tắt được làn sóng cách mạng của nhân dân Đông Dương”. Báo Điện tín Hồng Kông ngày 22-6-1931 thì đưa tin “Một vụ bắt giữ quan trọng ở Hồng Kông. Thành công của Chính phủ Pháp. Nhà lãnh đạo An Nam bị bắt”, còn báo Bưu điện Hoa Nam buổi sáng ngày 20-7-1931 khi đang bài “Vụ án Nguyễn- Người yêu nước” đã đưa ra câu hỏi đặt ra trong Phủ Toàn quyền Đông Dương là” hiện Nguyễn Ái Quốc có bị trục xuất hay không”, v.v.. luật sư Lodơbi đã đưa vụ án Tống Văn Sơ ra xử trước Tòa tối cao.

Lần đầu tiên trong lịch sử thuộc địa, Toà án tối cao phải xét xử một bản án chính trị. Tính chất đặc biệt của vụ án, sự giúp đỡ cùng tài trí của luật sư và người cộng sự, sự thông minh và nhất quán trong từng câu trả lời của Tống Văn Sơ đã buộc toà án phải xét xử một cách công khai. Tống Văn Sơ phải trải qua ba cuộc thẩm vấn của Thư ký Trung Hoa vụ Hồng Kông và 9 phiên toà xét xử tại Hồng Kông (ngày 31-7-1931 là phiên thứ nhất, diễn ra trong không khí căng thẳng, quyết liệt và phiên cuối cùng kết thúc vào ngày 12-9-1931).

Luật sư Gien Kin (F.C. JenKin), người cộng sự thay mặt luật sư Lôdơbi bào chữa trước toà cho Tống Văn Sơ suốt chín phiên đã vạch ra những điểm sai trái, vi phạm luật của chính quyền Hồng Kông. Ngay phiên thứ nhất (31-7-1931), luật sư đã cho rằng: “Những bị can đã bị cảnh sát bắt ngày 6 tháng 6 mà không có lệnh bắt giữ là một việc làm bất hợp pháp”([3]). Ở phiên thứ hai (14-8-1931) thì ông nhấn mạnh: “Chỉ có chính quyền mới là người có quyền trục xuất ngay tức khắc và ban hành bất cứ một lệnh nào. Yêu cầu Tòa đề nghị công tố bảo đảm không thực hiện lệnh trục xuất chừng nào tính pháp lý của lệnh đó chưa được khẳng định”([4]). Cũng tại phiên thứ hai, luật sư cho rằng: lời khai có tuyên thệ của Tống Văn Sơ tố cáo nội dung thẩm vấn của ban Thư ký Trung Hoa vụ do Công tố Alabaxtơ đọc không đúng luật, trong đó nêu rõ ý kiến của nguyên đơn là nếu bị “trục xuất đến Đông Dương, tôi (Tống Văn Sơ) sẽ bị giết, dù có xét xử hay không xét xử”. Phiên tòa thứ ba (15-8-1931) là một cuộc tranh cãi về trục xuất, và phản đối việc giao nộp Tống Văn Sơ cho người Pháp trong đó Tống Văn Sơ nói rằng” Tôi không muốn bị trục xuất. Tôi muốn được tự do tôi muốn được sang Anh quốc”([5]). Tiếp theo, trong phiên thứ tư (20-8-1931), Tòa tuyên bố lệnh trục xuất thứ nhất là sai do nội dung thẩm vấn sai, và Công tố tuyên bố lệnh trục xuất thứ hai vừa được ban hành vào chiều ngày thứ 7 (15-8). Luật sư cho rằng việc ban hành một lệnh mới giữa hai phiên tòa là sai trái… Tại phiên tòa thứ năm (24-8-1931), luật sư đề nghị Tòa áp dụng Luật Bảo thân (Habeas Corpus) cho Tống Văn Sơ. Điểm đặc biệt của phiên này là những lời chỉ trích mạnh mẽ Hội đồng hành pháp về “sự lừa dối và bịp bợm”. Theo luật sư cả hai lệnh trục xuất (lệnh trục xuất và lệnh buộc phải lên một tàu biển) cũng đều bất hợp pháp… Ông cho rằng “lệnh trục xuất Nguyễn Ái Quốc về Đông Dương thực chất là sự dẫn độ trá hình nhằm đưa Nguyễn Ái Quốc vào chỗ chết”. Và lệnh trục xuất có điều kiện này chính là nhằm pháp hóa nội dung bức thư ngày 31-7-1931 của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp nói Bộ Thuộc địa Anh hứa sẽ làm mọi cách để ngăn chặn Nguyễn Ái Quốc trên tinh thần “sẽ yêu cầu Bộ Thuộc địa làm mọi cách để kẻ phiến loạn Đông Dương này không thể tiếp tục hoạt động được nữa”.

Trong phiên thứ sáu (25-8-1931), luật sư yêu cầu Công tố tuyên bố tài liệu đánh máy câu hỏi và câu trả lời của Tống Văn Sơ do Trung Hoa Thư ký vụ đưa ra, trong đó nêu Tống Văn Sơ cung khai bí danh thứ ba Nguyễn Ái Quốc “là tài liệu giả” để ép cung. Trước tòa, công tố viên đã đọc lời khai của Tống Văn Sơ trong các phiên thẩm vấn, nhưng Người đã không công nhận những điều xuyên tạc trong biên bản, đồng thời, sự thông minh, nhất quán và thận trọng trong từng câu trả lời, đã khiến Tòa không thể khép Người vào bất cứ tội danh nào để đưa về Đông Dương. Đến phiên thứ bảy (2-9-1931), những tình tiết cụ thể cho thấy: sự thừa nhận Tống Văn Sơ bị bắt, bị giam giữ bất hợp pháp cho thấy chính quyền Hoàng gia có hai đuối lý theo điều khoản trong sắc lệnh của Hồng Kông, vì vậy: trục xuất Tống Văn Sơ nghĩa là “không thể làm cho việc giam giữ bất hợp pháp trở thành hợp pháp bằng việc ban hành một lệnh hợp lệ”([6]). Vấn đề đòi trả tự do cho Tống Văn Sơ không được giải quyết dứt điểm tại Tòa Hồng Kông, bởi rằng: dù biết Nguyễn Ái Quốc vô tội, biết chính quyền thực dân Pháp muốn đưa Người về Đông Dương để in án tử hình, song để “không làm mất lòng nhau”, chính quyền Luân Đôn vẫn chỉ thị Thống đốc Hồng Kông ra lệnh trục xuất Nguyễn Ái Quốc về Đông Dương. Trong phiên thứ tám (11-9-1931), mặc dù đã thừa nhận những điều sai trái trong quá trình bắt Người, song Tòa vẫn quyết định thực hiện lệnh trục xuất Nguyễn Ái Quốc. Luật sư GienKin đã kịch liệt phản đối về tính hợp pháp lệnh trục xuất của Thống đốc, và thông báo sẽ kháng án lên Hội đồng Cơ mật. Và phiên cuối cùng – phiên thứ chín (12-9-1931), Tòa đã cho phép kháng án lên Hội đồng Cơ mật và chỉ thị rằng: hồ sơ phải được chuẩn bị và gửi đi trong vòng ba tháng.

Tiền án phí và những thủ tục bắt buộc đã được luật sư lo liệu đầy đủ và hai người bạn của luật sư là luật sư Đơnít Nôen Pơrít (Denis Noel Pritt) và Risớt Xtaphớt Cơríp (Stafford Cripps) đã nhận lời giúp đỡ Tống Văn Sơ. Theo luật sư Risớt Xtaphớt Cơríp, vụ án này là một biểu hiện rất xấu cho chính quyền Hồng Kông và Bộ Thuộc địa, và nếu xét xử, thì chắc chắn Nguyễn Ái Quốc thắng lợi, vì lệnh trục xuất của Thống đốc Hồng Kông đã vượt quá giới hạn. Trên cơ sở đó, để không làm mất uy tín của chính quyền Hồng Kông, luật sư đại diện Bộ Thuộc địa Anh đã tìm cách thoả thuận với luật sư của Tống Văn Sơ. Kết quả của cuộc thoả thuận (vẫn thực hiện lệnh trục xuất của Thống đốc Hồng Kông, nhưng hủy bỏ lệnh phải đi trên một con tàu của Pháp, đến một địa điểm thuộc lãnh thổ của Pháp, mà được tự do lựa chọn nơi mình đến) đã được trình lên nhà Vua, được nhà Vua đồng ý. Toà án Viện Cơ mật Hoàng Gia Anh đã đồng ý trả tự do cho Tống Văn Sơ, và ngày 28-12-1932, Tống Văn Sơ định đi đến nước Anh, song khi đi đến Xinhgapo, Tống Văn Sơ lại bị chính quyền sở tại buộc quay trở lại Hồng Kông và ngày 19-1-1933, Người lại bị bắt giam.

Ngay khi ấy, Người đã kịp thời viết thư báo tin cho luật sư Lôdơbi và nhờ ông giúp đỡ. Luật sư đã đề nghị Thống đốc Hồng Kông can thiệp, và Thống đốc đã buộc phải ra lệnh thả Tống Văn Sơ và hạn trong ba ngày Tống Văn Sơ phải rời khỏi Hồng Kông. Một lần nữa gia đình luật sư Lodơbi lại bênh vực và cứu Tống Văn Sơ ra khỏi nhà tù. Kế hoạch di chuyển và bí mật tổ chức cho Tống Văn Sơ trốn đã được vạch ra. Khi ở tạm thời trong Ký túc xá Hội Thanh niên Thiên chúa giáo Trung Hoa (YMCA), khi thì ở ngay trong nhà của luật sư Lodơbi, cuối cùng ngày 22-1-1933, Nguyễn Ái Quốc – Tống Văn Sơ đã cải trang thành một thương gia Trung Quốc giàu có, và với một viên thư ký tháp tùng (thư ký của luật sư, tên Lung Ting Chang), Người đi xuồng ra khơi, rồi lên tàu Anhui đi Hạ Môn (Amoy). Bí mật rời Hồng Kông, tàu cập bến Hạ Môn vào ngày 25-1-1933, vừa đúng 30 Tết âm lịch.

Ở Hạ Môn một thời gian, Người lên Thượng Hải, và sau khi nhờ bà Tống Khánh Linh giúp đỡ, Nguyễn Ái Quốc bắt liên lạc được với Quốc tế Cộng sản và trở về Liên Xô an toàn sau đó.

2. Tình bạn thủy chung Hồ Chí Minh – Lôdơbi

Sau khi rời khỏi Hồng Kông, Nguyễn Ái Quốc đã hai lần viết thư cho luật sư Lôdơbi, nhưng vì sợ nhà cầm quyền tìm ra địa chỉ của Người nên luật sư đã không trả lời. Trong thời gian đó, Tống Văn Sơ tiếp tục hành trình tìm đường giải phóng dân tộc. Mùa xuân năm 1941, Người trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng cả nước. Và giương cao ngọn cờ độc lập, tự do, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản do Hồ Chí Minh đứng đầu, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mùa thu năm 1945 đã thành công. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, và người Thanh niên Việt Nam -Tống Văn Sơ được gia đình luật sư cứu giúp năm nào ở Hồng Kông, giờ đây trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Vẫn tiếp tục đấu tranh cho hoà bình, độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi sau 9 năm kháng chiến gian khổ. Tuy nhiên, để có một nền hoà bình trọn vẹn ở cả hai miền Nam, Bắc, nhân dân Việt Nam vẫn phải tiếp tục vừa xây dựng CNXH ở miền Bắc, vừa tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng ở miền Nam.

Là lãnh tụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn bộn bề công việc, song dù bận, Người vẫn không quên gửi thư, thiếp và quà đến gia đình luật sư Lodơbi mỗi dịp Nôen, khi Xuân về, Tết đến. Năm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư và ảnh của Người đến gia đình luật sư và gia đình luật sư cũng đã gửi thư và ảnh cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mùa xuân năm 1960, nhận lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hai vợ chồng luật sư cùng người con gái đã sang ăn Tết cổ truyền với nhân dân Việt Nam (26-1 đến 3-2-1960), thăm đất nước mà họ đã từng được nghe qua lời kể của người tù từ năm 1931. Trong chuyến đi thăm Vịnh Hạ Long, mỏ than Cẩm phả, thăm Bảo tàng cách mạng Việt Nam, nhà máy Cơ khí Hà Nội, Trại nhi đồng miền Nam tại Hà Nội,.. câu chuyện kể về “cành đào Lôdơbi”, tấm thịnh tình của người dân Việt Nam tri ân gia đình luật sư Lôdơbi – những người đã có công cứu thoát người con ưu tú nhất của dân tộc Việt Nam trong bối cảnh hiểm nghèo, đã không chỉ làm đẹp thêm những phẩm cách thủy chung, cao quý của người dân đất Việt, mà còn làm ấm lòng những vị khách quý của Bác Hồ.

Trở về Hồng Kông, luật sư đã viết thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-2-1960), bày tỏ lòng cảm ơn Người và sự hiếu khách của nhân dân Việt Nam đối với gia đình ông trong những ngày thăm Việt Nam. Không chỉ có vậy, ông viết: “Chúng tôi không thể quên đất nước Việt Nam tươi đẹp, những khuôn mặt rạng rỡ nụ cười của con người Việt Nam, và con đường mà tất cả các bạn đã trải qua để dẹp bỏ mọi dấu vết đau thương của quá khứ… và Ngài nói rằng tôi “đã cứu sống ngài”, điều đó có thể đúng, nếu vậy thì đó chính là việc làm tốt nhất mà tôi đã từng làm, và đó mãi mãi là một việc làm sáng suốt; về phần tôi thì tôi thấy mình đã được đền đáp hơn nhiều với những ký ức về những ngày ở Việt Nam, và những món quà mà tôi được tặng sẽ luôn là vật kỷ niệm về những ngày tuyệt vời đó”[7].

7 năm sau đó, luật sư Lôdơbi qua đời. Báo Hoa Nam buổi sáng ở Hồng Kông (1967) đưa tin luật sư mất, cùng những dòng chữ thân yêu của gia đình với nội dung: Xin đừng mang hoa đến viếng, hãy dùng số tiền phúng viếng đó để giúp đỡ người nghèo. Nhận được tin vị ân nhân đã cứu sống mình qua đời, không với tư cách Chủ tịch nước, không ở cương vị Quốc gia, giữa nồng hậu thân tình gia đình, vòng hoa gửi Kính viếng Luật sư của vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giản dị với dòng chữ: “Hồ Chí Minh kính viếng“. Hai năm sau đó, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của chúng ta qua đời, Điện chia buồn của gia đình luật sư gửi Lãnh sự quán Việt Nam tại Quảng Châu – Trung Quốc in đậm dòng chữ: “Được tin Chủ tịch qua đời, xin bày tỏ tình cảm sâu sắc nhất“, có kèm chữ ký của Bà luật sư cùng người con gái.

Cùng với thời gian, tình nghĩa trọn vẹn thuỷ chung của Hồ Chí Minh với luật sư Lôdơbi, tấm lòng trước sau như một của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Nhân dân Việt Nam đối với gia đình luật sư Lôdơbi, cũng như gia đình luật sư Lôdơbi đối với Việt Nam sẽ vẫn còn lưu truyền mãi. Đâu đó trong bức tranh thêu Chùa Một Cột Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng luật sư, trong bộ quần áo, mũ, giày, kính gia đình luật sư tặng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng năm nào, trong những bức ảnh của gia đình Luật sư Lôdơbi, trong những kỷ vật, những sưu tập tài liệu liên quan đến vụ án Hồng Kông những năm 1931-1933.., đang lưu giữ tại bảo tàng Hồ Chí Minh, bảo tàng cách mạng Việt Nam, Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch và ở những nơi khác nữa trên mảng đất Việt Nam, tại gia đình luật sư, vẫn thấy hiển hiện một tình bạn cao cả, một ân tình sâu nặng Hồ Chí Minh – Lôdơbi mà muôn đời các thế hệ con cháu mai sau ngưỡng mộ và chiêm nghiệm.

TS. Văn Thị Thanh Mai
Ban Tuyên giáo Trung ương

[1] Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Nxb. CTQG, H, 2004, tr.50
[2] Robin, Điện khẩn mật mã, Hà Nội ngày 8/6/1931 trong cuốn Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Nxb. CTQG, H, 2004, tr.72
[3] Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Nxb. CTQG, H, 2004, tr.118
[4] Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Nxb. CTQG, H, 2004, tr.130
[5] Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Nxb. CTQG, H, 2004, tr.135-136
[6] Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Nxb. CTQG, H, 2004, tr.151
[7] Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Nxb. CTQG, H, 2004, tr.250

ditichhochiminhphuchutich.gov.vn

Noi gương nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh

Sinh thời, Bác Hồ thường căn dặn các thầy giáo, cô giáo phải có ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức và trách nhiệm phục vụ nhân dân trong các hoạt động giáo dục, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực trong giáo dục.

Trong cuộc đời của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những thời điểm trực tiếp là nhà giáo. Từ tháng 9-1910 đến trước tháng 2-1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành dạy học ở Trường Dục Thanh, Phan Thiết. Sau khi đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, trong những năm 1925 – 1927, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc), trực tiếp mở các lớp huấn luyện chính trị cho thanh niên, thiếu niên Việt Nam yêu nước; trực tiếp lãnh đạo và là giảng viên chính của các khóa học.

Thông qua các bài giảng và thảo luận, nhà giáo Nguyễn Ái Quốc phân tích, so sánh làm cho học viên nhận thức sâu sắc tính chất triệt để, đến nơi đến chốn của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga so với các cuộc cách mạng tư sản Anh, Pháp, Mỹ, từ đó lựa chọn con đường của cách mạng Việt Nam: Ðộc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Năm 1941, sau 30 năm bôn ba ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Người luôn chăm lo việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cho cách mạng; tổ chức và chỉ đạo từng bước xây dựng nền giáo dục cách mạng, nhằm thực hiện công cuộc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ.

Quá trình từ nhà giáo yêu nước Nguyễn Tất Thành, đến nhà giáo Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, khi đã là người cộng sản, cũng chính là quá trình nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh phấn đấu không mệt mỏi để tự học, khổ luyện trong mọi khó khăn, gian khổ để rèn luyện đạo đức, ý chí cách mạng và qua đó sự sáng tạo của Người bộc lộ sáng ngời trên mọi lĩnh vực công tác.
Nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh tấm gương sáng ngời về đạo đức, tinh thần tự học và sự sáng tạo để mọi người học tập và noi theo.

Ðạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu và xuyên suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng. Ðặt đạo đức ở vị trí là gốc, là nguồn, là nền tảng của người cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên tự tu dưỡng đạo đức về mọi mặt để làm gương giáo dục, rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên, công nhân, nông dân, trí thức, bộ đội, công an, thanh niên, thiếu nhi, giáo viên, học sinh và sinh viên, v.v.

Nêu gương đạo đức, nói đi đôi với làm là nét đẹp trong văn hóa phương Ðông và văn hóa Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng và trở thành nguyên tắc chỉ đạo xây dựng đời sống mới và rèn luyện hàng ngày của Người. Lời nói phải đi đôi với việc làm, thì mới đem lại hiệu quả thiết thực cho chính bản thân mình và có tác dụng đối với người khác. Do đó, Bác Hồ căn dặn: “… một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(1).

Sinh thời, Bác Hồ thường căn dặn các thầy giáo, cô giáo phải có ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức và trách nhiệm phục vụ nhân dân trong các hoạt động giáo dục, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực trong giáo dục; Yêu nghề, yêu ngành, yên tâm công tác, mô phạm trong quan hệ với nhân dân, đồng nghiệp và người học, thương yêu học sinh và sinh viên; Ðoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ, thật thà phê bình, đấu tranh, ngăn chặn nhà giáo vi phạm pháp luật và quy định nghề nghiệp. Thầy giáo, cô giáo phải có chí khí cao thượng, phải “tiên ưu hậu lạc”, nghĩa là khó khăn thì phải chịu trước thiên hạ, sung sướng thì hưởng sau thiên hạ.

Nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh còn nêu tấm gương sáng ngời về tu dưỡng đạo đức suốt đời. Hàng ngày, Người chăm lo tu dưỡng bản thân, ung dung tự tại, lạc quan, yêu đời, không chủ quan, tự mãn, thắng không kiêu, bại không nản. Ðồng thời, Người còn đề xuất nhiều phong trào quần chúng rộng rãi để rèn luyện đạo đức cho đội ngũ cán bộ, bộ đội, công nhân, nông dân, thanh thiếu nhi. Trong ngành giáo dục, Bác Hồ đã khởi xướng phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt” từ năm 1961 và trở thành truyền thống của nhà giáo, học sinh và sinh viên từ đó đến nay.

Tự học là quá trình tự thân vận động của mỗi người để tích lũy những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm lịch sử – xã hội mà nhân loại tích lũy được trong quá trình phát triển, biến nó thành kinh nghiệm và kỹ năng riêng cho cá nhân mỗi người. Ngoài những tri thức ban đầu học được ở các thầy giáo khi còn nhỏ ở quê và khi còn trên ghế nhà trường ở Huế, thì suốt cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các tri thức, kiến thức có được chủ yếu là do tự học và bản thân không ngừng tự học.

Mục tiêu và động cơ học tập được Bác Hồ xác định rõ: Học để biết, học để làm việc, học để làm người, học để chung sống, học để phục vụ Tổ quốc và nhân dân, học để thực hiện nhiệm vụ cách mạng do Ðảng và nhân dân giao phó, học để phục vụ nhân loại. Do đó, Bác Hồ rất chủ động và tự giác trong học tập.

Nguyễn Ái Quốc tự học ở sách báo, học ở bạn bè và những người cùng hoạt động, học ở trên tàu, học ở thực tiễn cách mạng của nhân dân lao động trên thế giới, học mọi nơi và mọi lúc, v.v. Người đã khắc phục mọi khó khăn, tự lao động nuôi sống bản thân, hoạt động cách mạng và học tập, tìm lấy phương pháp tự học, tự nghiên cứu để học ngoại ngữ, văn hóa, chính trị, quân sự và các lĩnh vực mà Người quan tâm.

Ngày nay, sự tự học của nhà giáo vừa là quá trình để tự hoàn thiện mình vừa là tấm gương cho học trò. Học tập để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, ngoại ngữ và nghiệp vụ để phục vụ công tác và hoạt động giáo dục. Rèn luyện và sáng tạo nên phương pháp tự học, năng lực tự học, tự nghiên cứu để chiếm lĩnh tri thức khoa học, công nghệ và nghệ thuật sư phạm.

Sáng tạo là đổi mới, là tạo nên những sự vật mới, giá trị mới tốt đẹp hơn. Cách mạng là sáng tạo và sáng tạo là bản chất của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu cho chúng ta tấm gương sáng ngời về sự sáng tạo. Sáng tạo về phương pháp tự học, sáng tạo về phương pháp lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng, sáng tạo trong các hoạt động thực tiễn hàng ngày.

Nhờ đó, Người đã kế thừa và phát triển được những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thụ được tinh hoa văn hóa của nhân loại; tiếp nhận, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, dẫn dắt cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Ngày nay, sáng tạo của nhà giáo là sự đổi mới, là tạo ra cái mới trong hoạt động giáo dục và quản lý giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Các nhà giáo chân chính đều sáng tạo không ngừng trong các hoạt động của mình. Sáng tạo trong vận dụng tri thức và công nghệ mới vào quá trình giảng dạy, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Chế tạo đồ dùng dạy học mới, hoặc cải tiến đồ dùng dạy học đã có phù hợp với điều kiện cụ thể của bài dạy, lớp học và người học.

Ðổi mới phương pháp giảng dạy, áp dụng công nghệ thông tin vào bài giảng. Kịp thời phát hiện và xử lý tốt các tình huống sư phạm. Biết phát hiện và bồi dưỡng những người học có năng khiếu, học giỏi, đồng thời biết bồi dưỡng và phụ đạo những người học yếu kém. Ðổi mới, cải tiến phương pháp quản lý nhà trường, quản lý học sinh, sinh viên và người học, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục – đào tạo.

Mỗi nhà giáo thường xuyên rèn luyện đạo đức, năng lực tự học và sáng tạo theo gương nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh sẽ là bước đột phá, góp phần xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong sạch và vững mạnh, tạo động lực thúc đẩy đổi mới mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục – đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn mới.

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, H,1995, Tr.263
Theo: http://www.pup.edu.vn
Anh Tú (st)

bqllang.gov.vn

Nhớ lời dặn của Bác: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải thi đua dạy tốt, học tốt ”

Kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam 20 tháng 11

66 năm đã qua đi (1945-2011) kể từ ngày Bác Hồ kêu gọi toàn dân chống nạn thất học, những chỉ dẫn của Người, niềm mong mỏi của Người là phải “làm cho dân tộc Việt Nam trở thành một dân tộc thông thái” đã từng bước được thực hiện, và trong những kết quả đó, dạy tốt, học tốt vừa là nguồn động lực, vừa là mục tiêu của quốc sách giáo dục.

Từ khi nước Việt Nam còn đắm chìm trong đêm trường nô lệ, còn nhiều thuốc phiện, nhà tù hơn là trường học, Bác Hồ kính yêu đã đem theo khát vọng giải phóng dân tộc, đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi vòng tối tăm dốt nát, vươn tới ánh sáng của văn minh, trở thành một dân tộc thông thái trong hành trang bôn ba tìm đường cứu nước của mình.

Thấu hiểu được rằng một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, và mù chữ thì đứng ngoài chính trị, ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, trong phiên họp của Hội đồng Chính phủ, thay mặt Chính phủ lâm thời, Người đã nêu một trong sáu nhiệm vụ cấp bách phải làm ngay, đó là xoá nạn mù chữ. Xoá nạn mù chữ là bước khởi đầu của sự nghiệp nâng cao dân trí, để giúp mỗi người dân không chỉ biết đọc, biết viết, tiến đến “phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà”. Động viên toàn dân tích cực hưởng ứng chiến dịch xoá mù, Người nói “các bạn cố gắng diệt cho hết giặc dốt trong một thời gian mau chóng” và càng ngày càng cố gắng thi đua diệt giặc dốt để tiến lên một bước nữa.

Đặt niềm tin vào thế hệ măng non, kỳ vọng rằng chính lớp người này ngày mai sẽ đưa dân tộc Việt Nam chiếm lĩnh dần những đỉnh cao tri thức của nhân loại, Bác Hồ đã nói với các em tâm nguyện của mình nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam độc lập “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Không dừng lại ở lòng mong mỏi, Người thường xuyên động viên, thăm hỏi khuyến khích mọi người thi đua học tập, trau dồi kiến thức để có đủ năng lực làm chủ, xoá bỏ mặc cảm tự ti của thân phận nô lệ, mù chữ.

Học tập để góp ích thiết thực cho độc lập, tự do, và học tập là yêu nước, nên Người luôn tự mình cố gắng học tập và đề nghị mọi người sẽ còn phải cố gắng nhiều hơn nữa trong học tập. Người cũng nói, công việc của cách mạng đòi hỏi mọi người phải luôn luôn cầu thị, vì trong công việc, những kiến thức mới sẽ giúp cho mỗi người “khi thành công thì phải nghiên cứu vì sao thành công để lấy kinh nghiệm, khi thất bại cũng sẽ xem xét tại sao thất bại để mà tránh đi”.

Phong trào bình dân học vụ phát triển, phương pháp dạy và học của Nhà nước Việt Nam mới cũng có nhiều thay đổi. Khác với phương pháp giáo dục nô dịch thực dân, chỉ đào tạo theo lối nhồi sọ, học lấy chút vinh hoa phú quý, thờ ơ với xã hội, xa rời đời sống lao động và đấu tranh của nhân dân, hệ thống giáo dục quốc dân được xây dựng trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ xâm lược, trong những năm miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đã thực sự tạo ra những cơ hội phát triển cho mỗi cá nhân và toàn xã hội. Đi đôi với việc mở mang các loại hình trường lớp từ nông thôn cho đến thành phố là phong trào thi đua dạy và học. Tại các nhà trường các thầy cô dạy học trò kiến thức mới, tinh thần yêu nước, học tập đời sống mới, tình đoàn kết tương trợ lẫn nhau…, giúp cho các em được tự do học tập và phấn đấu, giúp cho các em vốn tri thức, vốn văn hoá để trở thành những người hữu ích.

Ý thức sâu sắc được tầm quan trọng của dạy và học trong nền giáo dục của nước nhà, Bác Hồ nói rất rõ : “Trách nhiệm vẻ vang của người thầy là chăm lo dạy dỗ con em của nhân dân thành những người công dân tốt, người lao động tốt, người chiến sỹ tốt, người cán bộ tốt của nước nhà”. Không thể có những người trò tốt nếu không có những người thầy tốt. Điểm cốt lõi của vấn đề là phải xây dựng cho được một đội ngũ những người thầy cô yêu trường và yêu nghề, tâm huyết với sự nghiệp trồng người. Dạy học đến dạy tốt là cả một quá trình phấn đấu khổ luyện của người thầy. Và từ học đến học tốt cũng là một sự tự cố gắng, tự vươn lên của bản thân học trò. Cùng với việc tự học, có ý thức học tập, không thụ động nghe giảng, thụ động tiếp thu kiến thức của thầy cô của học sinh, thì những người thầy cô luôn tự mình trau dồi chuyên môn, tu dưỡng đạo đức, khi đứng trên bục giảng, ngoài trái tim người thầy, họ nhất định phải là tấm gương sáng cũng sẽ góp phần quan trọng vào thành công của phong trào thi đua dạy tốt, học tốt. Hơn ai hết, chúng ta đều thấu hiểu rằng: Dạy tốt phụ thuộc rất nhiều vào nhân cách của người thầy, và nếu không có những người thầy miệt mài gắng sức, luôn xứng đáng là thầy giáo, lặng lẽ chăm sóc, uốn nắn những mầm non của đất nước qua mỗt giai đoạn kế tiếp nhau từ mẫu giáo đến khi là người đã tốt nghiệp những trường dạy nghề, cao đẳng, đại học và trên đại học, thì không thể có những hiền tài, những nguyên khí của mỗi quốc gia theo đứng nghĩa của nó.

“Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt học tốt” (Bác Hồ)

Cùng với những thành tựu của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, đã làm phát triển hoàn toàn năng lực sẵn có của các em, đã thực hiện phương châm học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tế, nhà trường, gia đình và xã hội đồng tâm, đồng hướng đào tạo các em thành những con người như mong muốn của Bác Hồ, để “thật thà phụng sự nhân dân”. Có thể nói, cùng với thời gian, lời căn dặn đầy tâm huyết của Bác Hồ nhân dịp bước vào năm học 1968 – 1969: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt, học tốt” vẫn luôn là nguồn sức mạnh động viên người thầy và học trò trong sự nghiệp giáo dục. Và hơn bao giờ hết, chúng ta càng nhận thấy rõ rằng: Muốn nâng cao chất lượng nền giáo dục nước nhà, muốn những kết quả đào tạo toàn diện của ngành giáo dục về văn hoá, chuyên môn, về lý tưởng, về nhân cách, kỹ năng sống, có trách nhiệm với chính bản thân mình và cộng đồng xã hội,v.v..”ngày càng đạt chuẩn” thì không thể không chú trọng, quan tâm đến phong trào thi đua dạy tốt, học tốt tại các nhà trường, các giảng đường đại học, cao đẳng…

65 năm đã qua đi (1945-2010) kể từ Ngày Bác Hồ kêu gọi toàn dân chống nạn thất học, những chỉ dẫn của Người, niềm mong mỏi của Người là phải “làm cho dân tộc Việt Nam trở thành một dân tộc thông thái” đã từng bước được thực hiện, và trong những kết quả đó, dạy tốt, học tốt vừa là nguồn động lực, vừa là mục tiêu của quốc sách giáo dục. Sự phát triển toàn diện, nhanh chóng cả về quy mô, loại hình, chất lượng đào tạo của ngành giáo dục đã góp phần nâng cao dân trí. Chiến lược con người cũng luôn là mối quan tâm bức xúc của Đảng, Nhà nước và của toàn xã hội. Đầu tư cho giáo dục, xã hội hoá công tác giáo dục đào tạo đã thực sự tạo ra những kết quả nhất định, bước đầu trong giáo dục nhà trường. Song chúng ta đều biết, mục tiêu đào tạo những con người có tài và có đức, để kế tiếp cha anh phục vụ Tổ quốc và nhân dân, sẽ luôn gắn liền với phong trào thi đua dạy tốt, học tốt tại các nhà trường.

Thực hiện lời dạy của Người đào tạo thế hệ trẻ hôm nay vừa có tài vừa có đức, xứng đáng kế thừa cha anh phục vụ Tổ quốc và nhân dân

Chế độ đãi ngộ đối với các thầy cô giáo, đặc biệt là các thầy cô giáo ở vùng sâu, vùng xa, những đổi mới về công tác đào tạo như đào tạo theo yêu cầu của địa phương, ưu tiên đầu vào và cả đầu ra cho con em đồng bào dân tộc thiểu số… là rất thiết thực, phù hợp với điều kiện thực tiễn. Cải cách giáo dục bao gồm cải cách về phương pháp dạy, phương pháp học, cải cách sách giáo khoa cho các bậc học, đặc biệt là giảm tải đối với học sinh tiểu học, xây dựng hệ thống trường, lớp chuẩn quốc gia, xã hội hoá công tác giáo dục nhà trường, tránh dạy thêm, học thêm, tránh chạy theo số lượng, chạy theo bệnh thành tích, v.v..sẽ là những điều kiện cần và đủ để thực hiện phong trào thi đua dạy tốt, học tốt tại các nhà trường.

Nói dạy tốt, học tốt là nền tảng của quốc sách giáo dục trong đường lối chiến lược của Đảng ta, vì dạy tốt, học tốt sẽ làm cho các em thành con ngoan, trò giỏi, bạn tốt hôm nay, để mai sau là những người công dân trung thành, những người cán bộ gương mẫu và người chủ của đất nước, những người sẽ quyết định vị trí của dân tộc ta, đất nước ta trên trường quốc tế. Hiền tài là vốn quý của nước nhà, đào tạo hiền tài là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng trong chiến lược con người của toàn Đảng, toàn dân ta. Song hiền tài chỉ có được khi phong trào thi đua dạy tốt, học tốt tại các nhà trường phát triển cả về qui mô và chất lượng, khi mà mọi nguồn lực đầu tư cho giáo dục đều hướng đến mục đích: Vì một dân tộc Việt Nam thông thái như mong muốn của Bác Hồ.

Theo ictdanang.vn
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

“Miệng nói, tay làm giúp các chú tốt hơn…”

Bác Hồ hỏi chuyện anh Nguyễn Văn Nuôi - đang chống que chọc lò rèn lưỡi cày. Ảnh: Đinh Đăng Định

Ông Lê Bá Cải – Ủy viên Ban Liên lạc những người trực tiếp phục vụ Bác Hồ hiện ở Khu tập thể Văn phòng Chính phủ, phường Phương Mai (Hà Nội) còn giữ được tấm ảnh quý giá và nhớ mãi những câu chuyện như bài học Bác dạy…

Đầu năm 1953, ông Cải cùng nhiều thanh niên quê Thanh Hóa được tuyển chọn điều lên Chiến khu Việt Bắc, bổ sung vào Đội Xây dựng thuộc Ban kiểm tra 12 – bí danh của Phủ Chủ tịch – Phủ Thủ tướng tại An toàn khu (ATK) Sơn Dương, Tuyên Quang.

Cuối năm đó, một đêm cả vùng bị cơn lốc mạnh làm đổ nhiều cây chắn ngang đường. Đội được lệnh phân làm nhiều tổ đi giải tỏa các con đường mòn khi trời sáng.

Tổ ông Cải có 6 người: Nguyễn Văn Chừng, Nguyễn Văn Quang, Lê Văn Tước, Phạm Văn Chi và Nguyễn Văn Sách. Anh em chia từng cặp, đang chăm chú cưa từng đoạn cây thì bỗng thấy Bác đi ngựa cùng bốn người nữa đi tới.

Anh em vội đứng lên chào Bác, luống cuống quên cả việc đang làm. Bác xuống ngựa, rồi tiến tới chỗ mọi người đang bối rối. Bác bảo: “Các chú chào Bác xong lại tiếp tục công việc, khẩn trương lên chứ, sao còn đứng đấy“.

Bấy giờ ai nấy mới vội chạy về vị trí đang làm, cầm cưa. Nhưng luống cuống cưa mắc kẹt, kéo đẩy đều không được. Bác bảo cặp cưa Cải – Quang: “Các chú phải một chân giữ cây, một chân đè lên thân cây hai bên cho nó hở mạch thì cưa mới nhanh được”.

Bác nhìn sang cặp Tước – Chi, lưỡi cưa cũng đang mắc kẹt giữa thân cây dài vắt qua đường. Người nói vui, thân mật: “Mấy chú này chắc chưa quen cầm cưa. Cây này dài, đè chân lên mạch càng ngậm chặt, các chú phải kê đỡ dưới mạch hoặc một người nâng mạch cưa lên“.

Một người đi cùng Bác cũng đứng hướng dẫn thêm. Anh vừa nói, vừa chỉ tay ra hiệu. Bác đến bên vỗ vai: “Chú nói đúng. Nhưng miệng nói tay làm giúp các chú cho nhanh, càng đúng hơn“.

Mọi người cùng cười vui vẻ và Bác cũng giúp một tay dọn dẹp rất nhanh một lối đi nhỏ.

May mà Bác ra sớm

Tác phong làm việc của Bác Hồ rất sâu sát và đặc biệt, giao việc cho ai, dù tin vẫn phải kiểm tra.

Lần ấy, hè năm 1957, Bác tiếp Đoàn Văn công Trung Quốc sang biểu diễn. Ông Trần Quý Kiên – Phó Văn phòng được Chánh Văn phòng Phan Mỹ giao nhiệm vụ trực tiếp bày bàn ghế để Chủ tịch nước tiếp khách.

Ông Cải cùng anh em được phân công xếp bàn ghế hình chữ T phủ khăn trắng và sắp ghế hai bên. Trước 8 giờ 15 phút, Bác ra xem liền hỏi:

– Chú Mỹ, chú Kiên đâu? Anh em nhớn nhác nhìn nhau, vội tìm hai ông. Bác chỉ dãy bàn vội hỏi:

– Các chú quên rồi sao? Hôm nay Bác tiếp khách hoa quả. Bày chữ T thế này khách đến họ lại tưởng ăn tiệc mặn…

Nói rồi, Bác tự tay ra hiệu mọi người xúm vào kê lại bàn ghế hình chữ U để khách ngồi quanh. Vừa bày lại xong, nhìn ra cổng Phủ Chủ tịch, đoàn xe khách từ từ tiến vào sân.

Tinh thần thế là tốt

Năm 1962, trên khắp miền Bắc, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp phát triển mạnh. Đâu đâu cũng nêu cao khẩu hiệu tất cả để phục vụ nông nghiệp.

Chi đoàn Thanh niên cơ quan đề xuất, được Chánh Văn phòng Phan Mỹ ủng hộ, anh em xây một lò đúc lưỡi cày 51 ở phía sau Đình Hội đồng (nay là phòng họp lớn của Chính phủ).

Hôm khai lò, anh em không ngờ Bác và Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến xem. Bác hỏi đoàn viên đứng lò Nguyễn Văn Nuôi: “Các chú đúc được bao nhiều lưỡi cày rồi?”

– Dạ thưa Bác, chúng cháu mới đúc thử 10 chiếc ạ!

Bác lại hỏi: “Thế các chú đúc ra định đem bán hay làm gì?”

Cả Bác cháu cùng cười ồ lên. Anh em chưa ai nghĩ ra nên trả lời Bác như thế nào thì Chánh Văn phòng Phan Mỹ đỡ lời: “Thưa Bác, Chi đoàn báo cáo là lưỡi cày đúc được sẽ đem tặng các hợp tác xã làm ăn giỏi ạ“.

Bác khen: Làm được cày 51 là “Tất cả cho nông nghiệp”. Tinh thần của việc làm như thế là tốt

Theo Trịnh Tố Long – Tiền Phong
Phương Thúy (st)

bqllang.gov.vn

Chuyện về chiếc gậy song của Bác Hồ

Từ lâu hình ảnh Bác Hồ giản dị với bộ quần áo nâu gụ hay bộ quần áo kaki, đôi dép lốp cao su, mũ cát cùng chiếc gậy song đã trở nên quen thuộc với bao thế hệ người Việt Nam. Chiếc gậy chống đã là người bạn của Bác từ những ngày Người trở về nước năm 1941, sau 30 năm bôn ba ở nước ngoài. Trong điều kiện hoạt động ở vùng rừng núi, chiếc gậy giúp Bác đi lại thuận tiện hơn. Năm 1942, Người sang Trung quốc và bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam, chúng cũng thu luôn cả chiếc gậy. Nhớ người bạn đường thân thiết Người đã viết những vần thơ:

Suốt đời ngay thẳng lại kiên cường
Dìu dắt nhau đi mấy tuyết sương
Giận kẻ gian kia gây cách biệt
Hai ta dằng dặc nỗi buồn thương.

(Nhật ký trong tù – Lính ngục đánh cắp mất chiếc gậy của ta)

Chiếc gậy đã đồng hành cùng Bác trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, cùng Người lúc trèo đèo, lội suối, lúc“chống gậy lên non xem trận địa”, có lúc chiếc gậy lại trở thành dây phơi quần áo di động. Nhà thơ Thanh Tịnh đã viết những dòng thơ xúc động về hình ảnh dung dị của vị lãnh tụ dân tộc ở Việt Bắc:

Nhớ một tối giữa rừng Việt Bắc
Được xuống đò theo Bác sang sông
Đó là Bác mà sao biết trước
Tưởng Cụ già miền ngược ven sông
Dao rừng cài gọn bên hông
Gậy song cắp nách, túi vòng qua vai.

(Thanh Tịnh – Trăm năm nhớ một chuyến đò, NXBQĐND, Hà Nội, 1980)

Sau này khi Người về Hà Nội, chiếc gậy song vẫn là người bạn thân thiết của Người, đặc biệt trong những ngày cuối khi sức khỏe đã giảm sút chiếc gậy càng cần thiết hơn trong cuộc sống thường ngày, cùng Người tập luyện chống lại bệnh tật.

Hiện tại ở Chủ đề VII của Bảo tàng Hồ Chí Minh, phần trưng bày về những ngày cuối đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đang trưng bày một số đồ dùng của Người trong đó có chiếc gậy song. Đây là chiếc gậy song Bác sử dụng từ cuối năm 1966 cho đến khi Người qua đời. Gậy được làm bằng một đoạn cây song gồm 5 dóng, dài 92 cm, đường kính là 2cm, có màu vàng óng pha nâu. Một đầu uốn cong làm chỗ tay cầm. Đầu cong của gậy được bọc kim loại mạ trắng, trên có chữ in “Hà Nội – Việt Nam”. Đầu chống xuống đất có gắn khâu cao su đen để khi chống xuống đất được êm. Chiếc gậy này do Hợp tác xã thủ công sản xuất hàng mây tre xuất khẩu xã Châu Khê, huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh), làm ngày 23-7-1966. Nguyên liệu để làm gậy được mua từ tỉnh Bắc Thái.

Ai cũng hiểu tác dụng của chiếc gậy đối với Bác trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày. Nhưng có lẽ còn ít người được biết đến tác dụng khác của cây gậy song của Bác Hồ như câu chuyện kể của bà Nguyễn Thị Định – nguyên là Phó Chủ tịch tỉnh Thái Bình từ năm 1963 đến năm 1980, người vinh dự được đón và đi cùng Bác trong những lần Bác về thăm Thái Bình:

Tỉnh Thái Bình đã ba lần được đón Bác về thăm. Lần đầu tiên Bác về Thái Bình là ngày 26-10-1958. Sau khi gặp gỡ với Ủy ban Hành chính tỉnh và Tỉnh ủy, Người đã tới dự Đại hội sản xuất đông – xuân, nói chuyện với hơn 4 vạn đại biểu nhân dân từ cấp xã của tỉnh. Lần thứ hai là ngày 26-3-1962. Người về thăm hai xã thuộc huyện Tiền Hải. Đó là xã Nam Cường – xã mới lấn biển và xã Đồng Lâm – xã có truyền thống cách mạng, nơi từ năm 1930 dưới sự lãnh đạo của Đảng đã có phong trào biểu tình chống Pháp đàn áp phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh và đấu tranh đòi giảm sưu thuế, chia công điền. Lần thứ ba Người về Thái Bình đúng vào dịp năm mới 1967. Ở thờii điểm chuyển giao năm cũ sang năm mới Người đã có buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh và Tỉnh ủy. Sáng ngày 1-1-1967, Người về thăm xã Hiệp Hòa, huyện Vũ Thư, sau đó nói chuyện với cán bộ và đại diện những Hợp tác xã tiên tiến của tỉnh. Người nhắc nhở những vấn đề mà nhân dân và các cán bộ phải thực hiện để phát huy truyền thống của tỉnh luôn có thành tích tốt trong sản xuất và chiến đấu. Nhưng có một điều khiến Bác không vui, đó là hiện tượng đánh chửi vợ, coi thường phụ nữ. Người phân tích: Chúng ta làm cách mạng là để tranh lấy quyền bình đẳng, trai gái đều ngang quyền nhau. Phụ nữ là một phần nửa xã hội. Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội cũng chưa được giải phóng, vì vậy phải kính trọng phụ nữ. Người phê phán hiện tượng đánh chửi vợ. Người khẳng định đó là một điều đáng xấu hổ, là phạm pháp và cực kỳ dã man. Người yêu cầu “Chi bộ đảng phải giáo dục đảng viên và nhân dân về quyền bình đẳng giữa vợ chồng. Đoàn thể phụ nữ và thanh niên phải bảo ban nhau cách cư xử hòa thuận trong gia đình” và mong rằng từ nay về sau sẽ không còn thói xấu đánh chửi vợ nữa.

Sau lần đó, tháng 5-1969, đoàn đại biểu Đảng bộ và nhân dân tỉnh Thái Bình lên Hà Nội báo cáo Bác về tình hình địa phương. Lúc này sức khỏe của Bác đã yếu đi nhiều. Tuy nhiên, trong buổi làm việc với đoàn, một trong những vấn đề Bác rất quan tâm, đó là về quyền bình đẳng của phụ nữ ở Thái Bình. Bà Định báo cáo với Bác là vấn đề này đã được cải thiện, nhưng vẫn còn hiện tượng đánh chửi vợ. Nghe vậy, với vẻ không vui, Bác cầm chiếc gậy song bên cạnh đưa cho bà Định và nói “Bác cho cô chiếc gậy này để trị đứa nào đánh vợ!” Câu nói của Bác vừa mang tính hài hước vừa mang đậm tính triết lý sâu xa. Cả cuộc đời Bác đã hy sinh cho độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân trong đó có hạnh phúc của những người phụ nữ. Hơn ai hết Bác là người thấu hiểu nỗi khổ cực của phụ nữ. Trong xã hội cũ họ phải chịu nhiều cực khổ, ngoài nỗi khổ của thân phận một người dân mất nước, họ còn phải gánh chịu nỗi khổ của tư tưởng trọng nam khinh nữ. Nhưng khi đất nước đã giành được độc lập, nhiều người phụ nữ vẫn phải chịu thiệt thòi, vẫn bị đối xử tệ bạc do ảnh hưởng của quan niệm trong chế độ cũ. Bác cũng là người sớm nhìn nhận và đánh giá cao vai trò của phụ nữ trong xã hội như Người đã nói: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”. Phụ nữ Thái Bình chính là những người làm nên hình ảnh “Chị Hai năm tấn” nổi tiếng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nhưng vẫn phải chịu nhiều thiệt thòi. Câu nói của Bác hàm ý phê phán nhưng cũng là trọng trách Bác giao cho người lãnh đạo Thái Bình trong cuộc đấu tranh để mang lại công bằng cho phụ nữ. Tuy rằng sau cuộc gặp đó, một phần do Bác yếu vẫn cần dùng chiếc gậy hàng ngày, phần vì theo gợi ý của ông Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác, nên bà Định không có điều kiện để mang chiếc gậy song của Bác về Thái Bình để đánh đòn những kẻ ưa dùng vũ lực với vợ ở Thái Bình. Nhưng Bác đã cho một thứ vũ khí tinh thần để phụ nữ Thái Bình nói riêng và phụ nữ Việt Nam nói chung đấu tranh tự giải phóng mình.

Sau này, Bảo tàng Thái Bình đã xin được làm lại cây gậy song của Bác để trưng bày tại Bảo tàng tỉnh như một minh chứng cho sự quan tâm sâu sắc của Bác đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ Việt Nam nói chung và phụ nữ tỉnh Thái Bình nói riêng, đồng thời cũng là lời nhắc nhở đối với cán bộ và nhân dân tỉnh Thái Bình phải luôn luôn quan tâm đến quyền lợi của phụ nữ.

Ở bên Bác, chiếc gậy song – tưởng như vô tri vô giác cũng mang tính chiến đấu và thấm đẫm lòng yêu thương, bác ái của Người./.

Theo Nguyễn Thị Hằng
Baotanghochiminh.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về người cao tuổi Việt Nam

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến người cao tuổi. Trong suốt cuộc đời phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng của mình, dù bận nhiều việc nhưng Người vẫn luôn dành cho người cao tuổi Việt Nam những tình cảm ân cần và sự quan tâm sâu sắc. Những quan điểm nhất quán, có tính hệ thống của Người về vị trí xã hội, vai trò, trách nhiệm của người cao tuổi đối với Tổ quốc luôn đi trước thời đại. Đặc biệt, những tình cảm dành cho người cao tuổi biểu hiện rất đậm nét bản sắc văn hóa Việt Nam – văn hóa Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vai trò, vị thế của người cao tuổi trong xã hội ta. Người luôn coi người cao tuổi là lực lượng quan trọng góp phần tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong “Lời hiệu triệu đoàn kết tất cả các bậc phụ lão” (6-1941), Bác viết: “Dẫu rằng tóc đã bạc, mắt đã hoa, tay run, chân mỏi, nhưng một lời nói của phụ lão có ảnh hưởng đến hưng bang, một hành động của phụ lão có ảnh hưởng đến giết giặc. Rút guốc mộc để ném vào đầu bọn bạo ngược, vung gậy trúc để đánh vào đầu bọn hung ác. Đối với gia đình, đối với Tổ quốc, phụ lão đã có trọng trách là bậc tôn trưởng, đối với làng xóm, đối với bà con, phụ lão có sự tín nhiệm lớn lao. Phụ lão hô, nhân dân hưởng ứng; phụ lão làm, nhân dân làm theo. Hô điều nên hô, làm việc nên làm. Người có của xuất của, người có sức dốc sức, góp gió thành bão, tụ hơi thành mây. Đồng bào cả nước đang ngẩng cao đầu mà trông chờ các bậc phụ lão”.

Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, người cao tuổi Việt Nam không chỉ là người lao động cần cù, sáng tạo trong xây dựng gia đình, quê hương, đất nước mà còn là những người dám quên mình chiến đấu hi sinh cho độc lập, tự do của dân tộc. Họ là những nhân chứng của lịch sử và rất nhiều người đã góp phần trực tiếp làm nên lịch sử. Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam, người cao tuổi đã đem bầu nhiệt huyết đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng, là lớp người từng đứng trong đạo quân hùng mạnh làm nên chiến thắng vĩ đại của hai cuộc kháng chiến thần thánh giải phóng dân tộc, giành lại chính quyền về tay nhân dân, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước CHXHCN Việt Nam). Họ cũng là lớp người đi đầu trên con đường đổi mới, góp phần quyết định tạo ra những thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực của đất nước. Già – trẻ cùng gắng sức vì một mục đích chung, đó là lời nhắn gửi của Người trong bài thơ “Tặng cụ Đinh Chương Dương: “Quan san muôn dặm gặp nhau đây/ Mục đích chung là đuổi Nhật, Tây/ Dân bị hai tròng vào một cổ/ Ta liều trăm đắng với ngàn cay/ Già dù sức yếu mang mang nhẹ/ Trẻ cố ra công gánh gánh đầy/ Non nước của ta ta lấy lại/ Nghìn thu sự nghiệp nổi từ đây”.

Hồ Chí Minh khẳng định: Trách nhiệm của người cao tuổi là phải yêu quý, dìu dắt, bồi dưỡng lớp trẻ. Người từng căn dặn: “Các đồng chí già là rất quý, là tấm gương bền bỉ đấu tranh, dìu dắt, bồi dưỡng, đào tạo thêm đồng chí trẻ. Đồng chí già phải giúp đồng chí trẻ tiến bộ. Như thế đòi hỏi đồng chí già phải có thái độ độ lượng, dìu dắt đồng chí trẻ. Đó cũng là một tiêu chuẩn đạo đức cộng sản chủ nghĩa”. Không những thế, Người còn cho rằng, người cao tuổi phải tự mình học tập thường xuyên, phải nâng cao dân trí bởi “Công việc ngày càng nhiều, càng mới nên đảng viên già phải cố gắng mà học”, để “chẳng những làm kiểu mẫu, siêng năng cho con cháu mà còn tỏ rõ ý chí hùng mạnh của dân tộc Việt Nam”. Người cao tuổi Việt Nam sống, cống hiến theo tư tưởng Hồ Chí Minh, suy cho cùng chính là sự nêu gương sáng cho con cháu về lòng yêu nước, về đạo đức cách mạng.

Hồ Chí Minh còn phê phán quan niệm “Lão lai tài tận, lão giả an chi” (tuổi già thì tài hết, tuổi già nên ở yên). Người chủ trương “vận động tất cả lực lượng của mỗi người dân, không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân”, trong đó người cao tuổi có vai trò đặc biệt quan trọng. Trong kháng chiến chống Pháp, Người đã có những vần thơ mộc mạc, nôm na mà đầy hào khí “Tặng các cụ lão du kích Cao Bằng” bởi có thành tích góp phần đánh chặn bước tiến của giặc. “Người cũng nêu rõ: “Các cấp đảng bộ, mặt trận ở các địa phương ra sức giúp các cụ phụ lão tổ chức, củng cố và phát triển các đội Bạch đầu quân. Đó cũng là một lực lượng khá to trong công cuộc chống Mỹ cứu nước”. Người là tấm gương tuổi già mà “không chịu ngồi không”, “càng già càng quắc thước, càng già càng anh hùng”. Người luôn là tấm gương sáng về “tuổi cao chí khí càng cao”, suốt cuộc đời vì dân, vì nước, vì sự nghiệp cách mạng quên cả tuổi già, quên cả bản thân. Một con người mà “dù phải từ biệt thế giới này” vẫn không có điều gì phải hối hận, “chỉ tiếc là không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”…

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một tấm gương về ứng xử đối với người cao tuổi. Dù là Chủ tịch nước, nhưng trong thư chúc thọ cụ Phùng Lục ở Ứng Hòa, Hà Tây (trước đây), Người đã viết: “Cháu xin thay mặt Chính phủ cảm ơn cụ, trân trọng chúc cụ sống lâu và luôn luôn mạnh khỏe để kêu gọi các con cháu ra sức tham gia công việc kháng chiến và cứu quốc. Cháu lại kính gửi cụ lời chào thân ái và quyết thắng”. Một vị Chủ tịch nước viết thư cho một công dân bình thường nhưng có tuổi thọ cao mà xưng hô như vậy quả là nét đặc trưng của văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh. Nét đặc trưng của văn hóa ứng xử ấy còn thể hiện rất rõ trong những câu chuyện nhỏ mà đầy thú vị: Khi được tin chiến thắng dồn dập từ Việt Bắc Thu – Đông 1947, Người đã viết một bài thơ tặng cụ Bùi Bằng Đoàn, một bậc nhân sĩ trí thức yêu nước, người đứng đầu Quốc hội nước ta hồi đó những vần thơ bằng chữ Hán rất mực trang trọng mà vẫn đầm ấm nghĩa tình. Có lẽ không ai lại không xúc động trước một lối ứng xử tuyệt vời của Bác với một cụ già cao tuổi từ vùng bị giặc chiếm đóng lặn lội lên Việt Bắc để được gặp và thăm Bác. Cụ già ấy được biết tên ngay trong nhan đề bài thơ của Người: “Tặng cụ Võ Liêm Sơn”… Có thể nói, đó cũng chính là biểu tượng sáng ngời về truyền thống “kính già” của dân tộc – một đạo lý đẹp đẽ mang tính nhân văn cao cả từ xưa đến nay.

Hiện nay, gần 10 triệu người cao tuổi trong cả nước ta đã và đang ra sức thực hiện tốt Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” bằng những phong trào thi đua thiết thực “Tuổi cao – gương sáng”. Đó cũng chính là một trong nhiều hình thức để phát huy những giá trị văn hóa, tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần thực hiện tốt lời căn dặn của Người: “Tuổi cao chí khí càng cao”.

______________

Tài liệu tham khảo:
1. Danh nhân Hồ Chí Minh, NXB Lao động, H.2000.
2. Thông tin Tư liệu TTXVN, số 65.

Theo xaydungdang.org.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Theo chân Bác đến Đền Hùng

Chiều hôm trước, đồng chí Song Hào – Chính uỷ Đại đoàn 308 (Đại đoàn Quân Tiên phong) báo cho tôi chuẩn bị xe, xăng để đi đường dài.

6 giờ sáng ngày 18-9-1954, đoàn xe rời thị xã Thái Nguyên đi Đại Từ, leo qua đèo Khế. Gần đến Sơn Dương đoàn xe từ từ đứng lại, đồng chí thường trực hướng dẫn xe vào bãi đỗ.

Một điều làm chúng tôi hết sức ngỡ ngàng là Bác Hồ và một số đồng chí đã có mặt ở đây – một cánh rừng thưa với mấy nếp nhà tranh tre. Bác ra tận nơi đỗ xe gặp đồng chí Song Hào và đồng chí Vương Thừa Vũ – Đại đoàn trưởng.

Bác đội mũ cát trắng, mặc bộ quần áo nâu sẫm, cổ quàng khăn, đi dép cao su. Bác hơi gầy nhưng nét mặt hồng hào, bước đi rắn chắc.

Bác quay sang chúng tôi. Anh em lái xe, thư ký, công vụ đều đứng dậy chào Bác.

Bác đến gần tôi ân cần:

– Chú là lái xe, chạy cho tốt và an toàn.

Chúng tôi đồng thanh: Vâng ạ!

Đoàn xe tiếp tục lên đường, đưa Bác lên thăm Tỉnh uỷ Tuyên Quang rồi quay về hướng Việt Trì tỉnh Phú Thọ, đến Đền Hùng khoảng 2 giờ chiều, Bác cùng đoàn cán bộ đi lên cổng chính khu Đền Hùng.

Xế chiều, Bác cùng mấy đồng chí và một cụ già địa phương lên núi Nghĩa Lĩnh, Bác ngắm nhìn ngã ba sông Bạch Hạc (nơi hợp lưu sông Lô, sông Đà, sông Thao). Sau bao nhiêu năm bôn ba thế giới tìm đường cứu nước, bây giờ Bác mới có dịp về với cội nguồn.

Sáng hôm sau, Bác đến thăm Đền Tổ, Đền Thượng, Đền Hạ, Bác chăm chú đọc các hoành phi câu đối.

Khoảng 9 giờ sáng ngày 19 – 9 – 1954, Bác trở về Đền Giếng gặp cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 308 sắp làm nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô Hà Nội.

Bác hỏi:

– Các chú có mệt không, đã ăn uống gì chưa?

Rồi Bác nói về công lao các vua Hùng dựng nước và giữ nước, về tầm quan trọng của Thủ đô, Bác nhắc nhở bộ đội phải kính trọng dân, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, kỷ luật quân đội cách mạng. Bác căn dặn bộ đội phải thường xuyên học tập, rèn luyện, giữ nghiêm kỷ luật. Bác nói: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” – một câu nói đã trở thành bất hủ, in đậm trong trái tim khối óc mọi thế hệ Việt Nam.

Bộ đội vỗ tay ran, tất cả đứng dậy hứa với Bác quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ. Buổi nói chuyện của Bác không dài, chỉ khoảng nửa giờ. Mặc dù thời gian ngắn nhưng những tư tưởng lớn, tình cảm sâu nặng của Bác đã thấm sâu vào tâm trí mỗi người.

Hơn nửa thế kỷ đã qua, lời Bác ân cần “chú là lái xe, chạy cho tốt và an toàn” đã theo tôi suốt cuộc đời. Và chuyến đi theo Bác về Đền Hùng năm ấy là kỷ niệm sâu sắc nhất đời tôi.

Đinh Văn Dung

bqllang.gov.vn

Bác Hồ với sự nghiệp trồng người

Bác Hồ luôn đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp trồng người - Ảnh tư liệu

Nền giáo dục Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám dưới chế độ Dân chủ Cộng hòa đã phát triển dưới ánh sáng của một mục tiêu cao cả như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra:

“Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân, nhằm mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, những người chủ tương lai tốt của nước nhà”.

Mục tiêu ấy bao hàm ý nghĩa: Cần xây dựng tư tưởng: Dạy và học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân (không phải học để làm quan hay làm giàu cho cá nhân). Thầy giáo và học trò, tùy hoàn cảnh và khả năng, cần tham gia những công tác xã hội, ích nước lợi dân.

Trong thư gửi giáo viên, học sinh, cán bộ thanh niên và nhi đồng ngày 31/10/1955, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Bác đề ra nhiệm vụ cho ngành giáo dục: “Mỗi một cấp giáo dục cần nhận rõ nhiệm vụ của mình trong lúc này:

Đại học thì cần kết hợp lý luận khoa học với thực hành, ra sức học tập lý luận và khoa học tiên tiến của các nước bạn, kết hợp với thực tiễn của nước ta, để thiết thực giúp ích cho công cuộc xây dựng nước nhà.

Trung học thì cần đảm bảo cho học trò những tri thức phổ thông chắc chắn, thiết thực, thích hợp với nhu cầu và tiền đồ xây dựng nước nhà, bỏ những phần nào không cần thiết cho đời sống thực tế.

Tiểu học thì cần giáo dục các cháu thiếu nhi yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của công. Cách dạy phải nhẹ nhàng và vui vẻ, chớ gò ép thiếu nhi vào khuôn khổ của người lớn. Phải đặc biệt chú ý giữ gìn sức khỏe cho các cháu.

Tôi cũng mong các gia đình hãy liên lạc chặt chẽ với nhà trường, giúp nhà trường giáo dục và khuyến khích con em chăm chỉ học tập, sinh hoạt lành mạnh và hăng hái giúp ích nhân dân”.

Đến với Đại hội Sinh viên Việt Nam lần thứ hai ngày 7/5/1958, Bác nói: Đối với thanh niên trí thức như các cháu ở đây thì cần đặt lại câu hỏi: Học để làm gì? Học để phục vụ ai? Đó là hai câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát, thì mới có phương hướng để sửa chữa khuyết điểm của mình”.

Bác dạy học sinh, sinh viên phải có 6 cái yêu:

Yêu Tổ quốc: Yêu như thế nào? Yêu là phải làm sao cho Tổ quốc ta giàu, mạnh. Muốn cho Tổ quốc giàu mạnh thì phải ra sức lao động (chân tay và trí óc), ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm.

Yêu nhân dân: Mình phải hiểu rõ sinh hoạt của nhân dân, biết nhân dân còn cực khổ như thế nào, chia sẻ những lo lắng, vui buồn, những việc làm nặng nhọc với nhân dân.

Yêu chủ nghĩa xã hội: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mới mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm.

Yêu lao động: Muốn thật thà yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu chủ nghĩa xã hội, thì phải yêu lao động, vì không có lao động thì chỉ là nói suông.

Yêu khoa học và kỹ thuật, bởi vì tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải có khoa học và kỹ thuật.

Bác nêu rõ: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.

“Thời đại chúng ta là thời đại của khoa học phát triển rất mạnh, thời đại anh hùng, mỗi người lao động tốt đều có thể trở nên anh hùng (không phải là anh hùng cá nhân). Vậy mong các cháu cũng làm người thanh niên anh hùng trong thời đại anh hùng”.

Cũng năm 1958, ngày 13/9, mở đầu một năm học mới, Bác đã nhấn mạnh về nhiệm vụ các nhà trường: “Vì lợi ích 10 năm thì phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người. Chúng ta phải đào tạo ra những công dân tốt và cán bộ tốt cho nước nhà. Nhân dân, Đảng, Chính phủ giao các nhiệm vụ đào tạo thế hệ tương lại cho các cô, các chú. Đó là một trách nhiệm nặng nề nhưng rất vẻ vang”.

Đáp lòng mong mỏi của Bác, giai đoạn ấy chúng ta đã có những bậc thầy mẫu mực về trí tuệ và đạo đức được vinh danh và kính trọng ở các trường trong và ngoài nước, như Giáo sư Hoàng Tụy, Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, Giáo sư Nguyễn Thúc Hào, Giáo sư Đỗ Tất Lợi, Giáo sư Nguyễn Tài Thu và nhiều giáo sư khác, đến nay vẫn là những tấm gương sáng cho các thế hệ thày giáo trẻ noi theo.

Đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo, Bác không chỉ quan tâm đến những vấn đề lớn như mục đích, mục tiêu, phương châm, tính chất của giáo dục, mà còn để ý đến cả những vấn đề phương pháp cụ thể.

Trong bài nói tại Hội nghị Tổng kết phong trào thi đua Dạy tốt, Học tốt của ngành Giáo dục phổ thông và sư phạm tháng 8/1963, Bác căn dặn: Về học tập và giảng dạy, phải thực hiện tốt phương châm giáo dục kết hợp với lao động sản xuất. Về lao động, cần chú ý tổ chức cho thích hợp với lứa tuổi và sức khỏe của học sinh.

Về giảng dạy, tránh lối dạy nhồi sọ. Chương trình dạy học hiện nay còn có chỗ quá nhiều, quá nặng. Về học tập, tránh lối học như vẹt. Ngoài ra, cần chú ý tránh nói tiếng nước ngoài quá nhiều, những tiếng ta có thì không nên dùng tiếng nước ngoài. Bài dạy phải chuẩn bị cho tốt và cần chọn lọc những bài thích hợp với tuổi của học sinh. Trường học phải liên hệ chặt chẽ với gia đình, với xã hội.

Với một nền giáo dục có định hướng cách mạng, có mục tiêu được xác định rõ ràng, được tổ chức hợp lý theo những nguyên tắc khoa học tiên tiến và thích hợp với điều kiện và hoàn cảnh nước ta, nền giáo dục Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám được xây dựng trên những phương châm dân tộc- khoa học- đại chúng, đã từ bỏ được những tật xấu của lối giáo dục ngu dân chỉ phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị, xây dựng được một nền giáo dục nhân dân.

Nền giáo dục theo ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh sau Cách mạng Tháng Tám để lại cho chúng ta nhiều bài học lớn.

Thứ nhất, giáo dục cũng như mọi công cuộc khác, cần phải xác định rõ mục đích, mục tiêu. Riêng giáo dục phổ thông cần để cao mục tiêu giáo dục làm người: người công dân tốt, người lao động tốt, người cán bộ tốt, có ý thức giác ngộ chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa xã hội nhân văn, có tinh thần dân tộc, sẵn sàng tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ hai, việc xây dựng mô hình nhà trường các cấp, việc thiết kế chương trình, viết sách giáo khoa, ấn định nội dung, phương pháp dạy và học phải đáp ứng được mục đích, mục tiêu chung đã định. Từ bỏ lối dạy tham lam nhồi sọ, lý thuyết suông, khắc phục lối học vẹt, học không kết hợp với hành, học chỉ để đạt những tiêu chí thi cử hình thức.

Thứ ba, muốn phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển đất nước cũng như sự phát triển mỗi con người, thì bất cứ nền giáo dục nào cũng phải bám sát thời đại và những hoàn cảnh, điều kiện, nhu cầu riêng của đất nước để phát triển cho đúng hướng và có hiệu quả.

Thứ tư, trong tình hình hiện nay của thế giới và nước nhà, thì một cuộc cải cách giáo dục ở Việt Nam đang là một yêu cầu cấp thiết.

Trong thư nhân dịp khai giảng năm học mới 2011 – 2012, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã rất có lý khi đề ra nhiệm vụ cho ngành giáo dục cần “đổi mới căn bản và toàn diện”.

Ngày 2/9/2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khi dự lễ khai giảng năm học mới tại Trường Quốc học Huế yêu cầu phát triển giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá và hội nhập quốc tế; tập trung đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng giáo dục…

Thứ năm, các trường sư phạm, nhất là sư phạm đại học chính là “máy cái” để khởi động sự nghiệp cải cách.

Hiện nay, mỗi năm, ngành sư phạm cho ra lò hàng ngàn giáo sinh. Tuy nhiên, đội ngũ này vẫn còn nhiều hạn chế trước đòi hỏi ngày càng mạnh mẽ của sự phát triển đất nước.

Theo chương trình “Phát triển ngành sư phạm và các trường sư phạm từ năm 2011-2020”, Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra mục tiêu đến năm 2015, 100% giảng viên trường đại học sư phạm đạt trình độ thạc sỹ trở lên, trong đó ít nhất 25% đạt trình độ tiến sỹ và phấn đấu năm 2020, ít nhất 50% giảng viên các trường đại học sư phạm đạt trình độ tiến sỹ.

Để đáp ứng mục tiêu này, cần sự nỗ lực rất lớn của ngành giáo dục, sự hỗ trợ, chung sức của toàn xã hội, của các bộ, ngành để có thể thực hiện được nhanh chóng công cuộc “đổi mới căn bản và toàn diện” giáo dục.

Theo chinhphu.vn
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Hồ Chủ tịch trong mắt người Nga

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đoàn đại biểu Viện Công tố Liên Xô do Viện trưởng P.A.Rudenko dẫn đầu. Người thứ hai bên phải Bác là tác giả E.P.Glazunov.

Những hồi ức của các nhà ngoại giao, chuyên gia, tướng lĩnh, sĩ quan Liên Xô từng gặp gỡ, làm việc với Bác, đã được in trong cuốn “Người Nga nói về Hồ Chí Minh” xuất bản tại Nga năm 2010.

Những cuộc gặp ở Hà Nội

Ông Evgeny Glazunov có hơn 50 năm gắn bó với Việt Nam. Ông từng công tác ở Đại sứ quán Liên Xô tại Hà Nội, rồi phụ trách Khu vực Đông Dương trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xôvà sau đó nhiều năm liền làm Chủ tịch Hội Hữu nghị Nga-Việt. Hiện ông là Chủ tịch danh dự của Hội Hữu nghị Nga-Việt. Dưới đây là hồi ức của ông về Bác.

Chủ tịch chưa muốn đi ngủ

Tôi được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên vào một ngày Tháng Tám năm 1962 – năm đầu tiên tôi đến Việt Nam, trong một cuộc gặp gỡ quốc tế với các chuyên gia nước ngoài làm việc ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhân kỷ niệm 17 năm Cách mạng Tháng Tám và Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam. Đại diện các đoàn chuyên gia nước ngoài phát biểu chào mừng, khi kết thúc, một số người nói vài câu bằng tiếng Việt và được cả hội trường vỗ tay nhiệt liệt.

Một chuyên gia Xô Viết khi kết thúc bài phát biểu đã quyết định “tỏa sáng” khả năng ngoại ngữ của mình bằng lời chúc Hồ Chí Minh bằng tiếng Việt, nhưng lại phát âm sai thanh điệu (là điều rất quan trọng trong ngôn ngữ Việt). Những người nước ngoài không biết tiếng nhưng đoán rằng nhà hùng biện kia đã muốn nói gì đó nên vỗ tay, còn hầu hết người Việt có mặt ở hội trường thì cười.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng dậy, hướng về phía vị chuyên gia còn đứng trên diễn đàn kia và vui vẻ nói bằng tiếng Nga: “Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chưa muốn ngủ đâu!”. Nhiều người nước ngoài ngồi trong hội trường biết tiếng Nga đã cười to vui vẻ, vỗ tay nồng nhiệt. Vị chuyên gia của chúng ta, do không biết tiếng, phát âm không đúng câu chúc đã học thuộc sẵn nên lẽ ra nói “muôn năm” lại thành “muốn nằm”, nên đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh dí dỏm bình luận.

Vậy là lần đầu tiên tự tôi đã khẳng định được điều mà trước đây tôi đọc được hay nghe được từ các bạn Việt Nam: Hồ Chí Minh thật sự là một con người dễ mến, có sức lôi cuốn, thích vui đùa dí dỏm, giản dị trong giao tiếp với mọi người, đồng thời cũng rất tôn trọng người đối thoại.
Cần nghe lời Chủ tịch

Vào năm 1962 hay 1963 (tôi không thể nhớ rõ, vì trong sổ tay chỉ ghi ngày 2 tháng 9 mà không ghi năm!) tại vườn Phủ Chủ tịch đã tổ chức cuộc tiếp khách Nhà nước nhân Ngày Quốc lễ của Việt Nam.

Hồ Chí Minh mời khách ngồi vào bàn. Người nói với họ bằng tiếng Việt, tiếng Nga, tiếng Anh và tiếng Pháp, ngay lập tức tạo nên bầu không khí hữu nghị và thoải mái.

Sau lời chúc chính thức, các vị lãnh đạo của Việt Nam theo truyền thống cầm ly trên tay đi mời khách và trao đổi những câu chuyện nhỏ với khách.

Chúng tôi – các nhân viên của Sứ quán đứng ở cuối dãy bàn. Trong buổi tối mát mẻ, bữa tiệc diễn ra vui vẻ và gần đến hồi kết thúc. Những chiếc ly rỗng của chúng tôi để trên bàn. Chúng tôi đang đợi tín hiệu kết thúc buổi tiệc thì bất chợt thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng nhóm các trợ lý đi tới gần.

Chúng tôi nói thực lòng là hơi lúng túng, nhưng cũng cầm lấy ly để chúc. Chủ tịch Hồ Chí Minh cầm cốc to rượu vang tiến tới gần chúng tôi chúc sức khỏe, hỏi thăm về công việc và nâng cốc vì thắng lợi Cách mạng Tháng Tám, vì tình hữu nghị Việt-Xô. Tôi bị rơi vào tình trạng khó xử vì li của tôi đã rỗng không. Thấy vậy, Chủ tịch nói đùa là lớp trẻ bao giờ cũng nóng vội, rồi san cho tôi một ít rượu vang từ cốc mình. Tôi từ chối. Chủ tịch hỏi tôi:

– Anh làm gì ở Sứ quán?

– Là nhân viên ạ, – tôi trả lời.

– Còn tôi, – Người nói – là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thế thì cần phải nghe lời Chủ tịch (lưu ý rằng toàn bộ lời thoại đều bằng tiếng Nga).

Tôi hơi ngượng, nâng ly trong tiếng cười của những người tháp tùng Chủ tịch và các đồng nghiệp mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh rót cho chúng tôi một ít rượu vang trong cốc của mình và chúng tôi cùng nâng cốc.

Ngày hôm sau, câu chuyện này đã lan trong Sứ quán và Đại sứ của chúng tôi mấy ngày sau vẫn trêu đùa tôi. Còn Hồ Chí Minh cũng vậy, trong những cuộc gặp gỡ sau này, khi tôi cùng Đại sứ tới tiếp kiến Người, thỉnh thoảng Người vẫn trêu vui tôi về chuyện đó.

Cuộc sát hạch đặc biệt

Lần đó, cuộc gặp làm việc giữa Đại sứ Liên Xô và Chủ tịch Hồ Chí Minh không diễn ra ở Phủ Chủ tịch – nơi thường tổ chức các cuộc tiếp chính thức các vị khách cao cấp nước ngoài, mà tại ngôi nhà nhỏ trong vườn – nơi trước đây là chỗ ở của người giữ vườn và nay là nơi ở của Chủ tịch.

Khi cuộc đàm luận chính đã kết thúc, sau bữa ăn trưa đã diễn ra cuộc trò chuyện thân mật. Hai bên cùng trao đổi nhận xét về tình hình ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và miền Nam Việt Nam – nơi lúc đó đang nóng bỏng những vụ bê bối chính trị lớn kéo theo sự lật đổ Ngô Đình Diệm…

Trong một phút ngắt giọng hiếm hoi, khi mọi người ngồi quanh bàn bắt đầu dùng bữa, Hồ Chí Minh quay về phía tôi và hỏi bằng tiếng Việt là tôi đã học tiếng Việt ở đâu.

Tôi như cái máy bắt đầu dịch cho Đại sứ Xuren Tovmasian câu hỏi đó. Nhưng Chủ tịch ngăn tôi lại và nói rằng, Người dành câu hỏi đó cho tôi và sau đó chính Người sẽ tự phiên dịch cuộc đối thoại này cho Đại sứ.

Tôi trả lời rằng tôi đã học tiếng Việt ở Học viện Quan hệ quốc tế Moskva thuộc Bộ Ngoại giao Liên Xô. Chủ tịch hỏi câu tiếp theo. Tôi trả lời rồi cảm thấy lo lắng vì thấy Đại sứ không hiểu gì, ngạc nhiên nhìn tôi và Chủ tịch, còn các đồng chí Việt thì vui cười khi nghe chúng tôi nóichuyện. Hồ Chí Minh còn hỏi tôi những gì đó nữa, tôi trả lời Người và thầm nghĩ rằng chắc Đại sứ hôm nay sẽ xạc cho tôi một trận ra trò vì cuộc đối thoại này với vị đứng đầu Nhà nước.

Chủ tịch còn vui đùa hỏi tôi mấy câu nữa, sau đó quay sang nói với Đại sứ bằng tiếng Nga:

– Đồng chí Đại sứ đừng giận nhé, tôi chỉ muốn làm một cuộc sát hạch nhỏ với người phiên dịch của đồng chí.

– Ra vậy! – Xuren Tovmasian trả lời với sự nhẹ nhõm, sảng khoái. Vậy theo đồng chí thì tiếng Việt của anh ta thế nào ạ?

– Không tồi, không tồi. Nhưng tôi chưa thể cho anh ta điểm năm được đâu. Còn ít đọc sách báo Việt Nam. Cách phát âm trong ngôn ngữ của chúng tôi rất quan trọng mà người Châu Âu khó bắt chước theo được. Nhưng người phiên dịch thì phải tự trau dồi và hoàn thiện. – Hồ Chí Minh quay sang phía tôi và kết luận.

Trên đường về nhà, ngồi trong xe, Đại sứ nói với tôi những nhận xét của mình để tôi biết – như người ta thường nói là để phòng bệnh, nhưng cũng ngạc nhiên nhận thấy là với các phiên dịch Xô Viết khác, Hồ Chí Minh đã không sát hạch như vậy. Chắc là hôm nay tâm trạng của Người rất phấn chấn. Rồi Đại sứ kết luận: Vậy là cuộc hội đàm hôm nay đã thành công. Chúng ta sẽ viết như vậy gửi về Moskva.

Ông E.P.Glazunov giới thiệu một số cuốn sách tiếng Nga viết về Bác Hồ - Ảnh: Mekong.net.

Kẹo cho trẻ em

Tôi từng nói nhiều lần rằng, Hồ Chí Minh rất yêu trẻ em. Người cũng có tình cảm như vậy với con em của các cán bộ Đại sứ quán Liên Xô.

Về điều này, tôi nhớ lại một buổi tiệc mà Đại sứ quán tổ chức vào đầu tháng 11 năm 1964 nhân kỷ niệm 47 năm Cách mạng Tháng Mười. Buổi tiệc diễn ra tại Câu lạc bộ quốc tế.

Sau những nghi lễ chính thức, các vị chủ – khách tự do lui tới nâng cốc chúc tụng nhau. Hồ Chí Minh chọn đúng thời điểm không ai nhìn theo mình, nhẹ nhàng kéo tay tôi cùng đi ra ngoài vườn cạnh đó.

Tại đây, dưới ánh sáng mờ và không khí mát mẻ, trên bãi cỏ xanh, các cháu bé con của nhân viên Đại sứ quán Liên Xô chơi đùa vui vẻ. Đứng giữa đám trẻ, Hồ Chí Minh lấy từ túi áo ra những chiếc kẹo đã được chuẩn bị sẵn và tặng cho các cháu, trò chuyện với chúng bằng tiếng Nga, thỉnh thoảng hỏi lại tôi bằng tiếng Việt.

Một phút sau xuất hiện các nhân viên bảo vệ chạy tới than phiền rằng lại một lần nữa đã “thả lỏng” Chủ tịch. Chủ tịch Hồ Chí Minh cười rất hài lòng: “Thế nào, lại cằn nhằn rồi, thôi, ta đi, ta đi nhé”. Người tạm biệt đám trẻ rồi quay lại phòng tiếp khách.

Cũng đã xảy ra việc tương tự khi Hồ Chí Minh tới Đại sứ quán dự bữa tiệc chào mừng 20 năm chiến thắng của Liên Xô trong cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại chống phát xít Đức xâm lược do Đại sứ Serbakov tổ chức. Tới Đại sứ quán, sau khi trò chuyện ngắn với Đại sứ, Hồ Chí Minh hỏi tôi về kẹo. Kẹo đã được chuẩn bị sẵn.

Sau phần chính thức của buổi tiếp trọng thể, Chủ tịch vẫy tôi cùng đi với Người theo cửa phụ ra sân sau của sứ quán. Ở đây có một bể cá đẹp, cá vàng đang tung tăng bơi lội. Trẻ em con các nhân viên, cán bộ sứ quán chơi đùa xung quanh (trong đó có con gái tôi lúc này học ở trường của sứ quán và đến giờ thỉnh thoảng nó vẫn nhắc tới cuộc gặp gỡ này).

Cười vui vẻ, Hồ Chí Minh mở cả hai túi áo đầy kẹo của mình mời bọn trẻ ăn kẹo, nói chuyện với chúng về việc học hành và những mối quan tâm của chúng. Tôi thỉnh thoảng cũng tham gia vào cuộc đối thoại thân mật này, giúp Chủ tịch dùng những từ tiếng Nga thích hợp với ngôn ngữ trẻ em.

EvgenyGlazunov
Nguyễn Hữu Dy dịch từ nguyên bản tiếng Nga
Theo Tiền phong
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn