Tag Archive | Lãnh tụ vĩ đại

Tấm lòng của Bác Hồ với thương binh, liệt sĩ

Bác Hồ thăm các thương binh nặng ở trại điều dưỡng Bắc Ninh - Ảnh gdtd.vnQĐND Online – Vào năm 1947, ngay buổi đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khởi xướng và chọn ngày 27-7 hằng năm là ngày “Thương binh toàn quốc”. Ý nghĩa của ngày này được Hồ Chủ Tịch nêu rõ trong Thư gửi Ban thường trực tổ chức ngày “Thương binh toàn quốc” đầu tiên: “Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc và đồng bào mà các đồng chí đó chịu ốm yếu… Vì vậy Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy. Ngày 27-7 là dịp để đồng bào tỏ rõ lòng hiếu nghĩa bác ái và tỏ lòng yêu mến thương binh”.

Bao năm qua, lời căn dặn của Bác Hồ đã được toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta ghi nhớ và thực hiện. Ý nghĩa của ngày 27-7 cũng đã được nâng cao thành ngày “Thương binh – liệt sĩ” – ngày thu hút sự quan tâm của hàng triệu tấm lòng, ngày thể hiện tình cảm tốt đẹp của hàng triệu con tim. Đặc biệt là tình cảm trân trọng, biết ơn các liệt sĩ, mà Bác Hồ là người khởi nguồn và bồi đắp bằng những lời dạy thật sâu sắc: “Máu đào của các liệt sĩ đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt qua tất cả những khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã chuyển lại cho chúng ta”.

Ngay buổi đầu chống Pháp, ngày 16-2-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 20/SL, đặt “Chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sĩ”, mở đầu cho sự phát triển của một hệ thống chính sách thương binh – liệt sĩ. Trong kháng chiến chống Mỹ, sau khi chế độ bảo hiểm xã hội ra đời, ngày 30 tháng 10 năm 1969, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 161/CP về “Điều lệ ưu đãi quân nhân, quân dân dự bị, dân quân tự vệ bị thương, bị chết”. Sau này đối tượng được xác nhận là thương binh, liệt sĩ được mở rộng thêm và bao gồm cả thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến, lực lượng vận tải, cán bộ chủ chốt xã, y tế xã.

Kỷ niệm ngày thương binh 27-7-1948, Người lại gửi bức thư đầy tâm huyết tới đồng bào. Không chỉ những lời động viên, chia sẻ qua thư, mà Người đã gương mẫu thực hiện lời kêu gọi đó thông qua những việc làm thiết thực: gửi quà tặng thương binh, gia đình liệt sỹ vào dịp kỷ niệm 27-7 hằng năm, đến thăm các trại điều dưỡng thương binh. Câu nói bất hủ của Người: “Thương binh tàn nhưng không phế” có sức động viên mạnh mẽ hàng vạn thương binh cố gắng phấn đấu vươn lên trong cuộc sống với niềm tin mãnh liệt.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá 3) giáp tết Bính Ngọ (1966), trong bài nói của Bác, Người yêu cầu các địa phương, đoàn thể phải coi trọng giúp đỡ gia đình thương binh, gia đình liệt sỹ, gia đình có con là chiến sỹ đi chiến đấu ở chiến trường miền Nam, Lào, Cam-pu-chia.

Trải qua các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, đất nước ta đã thật sự “nở hoa độc lập, kết trái tự do”. Song sự hy sinh, mất mát cũng thật lớn lao. Không gì có thể bù đắp được những hy sinh vô giá đó. Duy chỉ có lòng biết ơn thật sự mới có thể làm vơi đi những nỗi đau. Lòng biết ơn thương binh – liệt sĩ đã làm sáng lên truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, khẳng định bản chất xã hội ta là một xã hội dân chủ, công bằng.

Khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, cùng với việc đưa ra các giải pháp tình thế khắc phục mặt trái của cơ chế thị trường, tháo gỡ khó khăn, ổn định đời sống thương binh – gia đình liệt sĩ, xử lý những bất hợp lý do lịch sử để lại, Nhà nước ta đã ban hành Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng và Pháp lệnh Phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Việc ra đời 2 Pháp lệnh này đã đánh dấu một bước tiến trong quá trình “luật hoá” hệ thống chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, được nhân dân cả nước đồng tình và tích cực thực hiện.

Những năm qua, phong trào toàn dân chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công với cách mạng không ngừng phát triển và đi vào chiều sâu. Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” đã ủng hộ gần 5.000 tỷ đồng, xây mới 243.412 căn nhà tình nghĩa, sửa chữa 104.125 căn nhà, với tổng số tiền là 2.389 tỷ đồng, giúp đỡ trên 300.000 gia đình chính sách có nhà ở ổn định, tặng trên 604.000 sổ tiết kiệm tình nghĩa, 15.000 vườn cây tình nghĩa. Sau 10 năm phát động phong trào, cả nước đã có 9.636 xã, phường được công nhận làm tốt công tác thương binh, liệt sỹ và người có công, 22 tỉnh, thành phố có 100% xã, phường hoàn thành tốt công tác này.

Hiện nay, cả nước có 85% gia đình chính sách có mức sống bằng và cao hơn mức sống trung bình của người dân địa phương nơi cư trú. Phong trào toàn dân “Đền ơn đáp nghĩa” đã trở thành nét đẹp trong đời sống của toàn dân, có ý nghĩa chính trị sâu sắc. Công tác đền ơn đáp nghĩa với hàng triệu đối tượng chính sách là công việc thường nhật của các tổ chức trong hệ thống chính trị trong cả nước, đã và đang làm vơi đi nỗi đau, sự mất mát do kẻ thù gây nên, góp phần giúp các đối tượng ngày càng ổn định cuộc sống, giúp họ yên ổn về vật chất, vui vẻ về tinh thần, động viên họ đóng góp vào sự phát triển của dân tộc, phấn đấu trở thành “Người thương binh gương mẫu, gia đình liệt sỹ kiểu mẫu”, đại bộ phận thương binh “tàn nhưng không phế” đúng như lời dạy của Bác Hồ kính yêu.

Mặc dù chiến tranh đã lùi xa, nhưng lịch sử chói sáng của dân tộc vẫn khắc đậm chiến công của các vị anh hùng, thương binh, liệt sĩ. Trong mỗi trái tim Việt Nam vẫn sẽ mãi khắc ghi sự ngưỡng mộ, lòng biết ơn đối với các Anh hùng – Liệt sĩ – chiến sĩ đã sẵn sàng hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc. Mong rằng sự ngưỡng mộ, lòng biết ơn ấy mãi là ngọn lửa ấm tiếp thêm nguồn năng lượng mới để mỗi thương binh, thân nhân liệt sĩ có thêm nghị lực, niềm tin trong cuộc sống.

Thái Sơn (tổng hợp)

bqllang.gov.vn

Bà tôi và hũ gạo Cụ Hồ

Bà tôi dịu dàng an ủi: “Đáng lẽ ra bà nấu thêm một ít, nhưng đã hai hôm nay hũ gạo cụ Hồ chẳng có vốc nào, hôm nay bà phải bù lại”… Đã bao năm qua, hình ảnh bà ngoại tôi với hũ gạo kháng chiến vẫn in sâu trong tâm trí tôi…

Cách mạng tháng Tám vừa thành công, âm hưởng của nạn đói kinh hoàng chưa đi qua. Mồ côi mẹ, tôi ở với bà ngoại. Cuộc sống hai bà cháu dựa vào mấy sào vườn cây ăn quả, một đám đất khô mỗi năm hai mùa trồng sắn.

Giặc Pháp trở lại gây hấn ở Nam Bộ, thanh niên nô nức tòng quân. Lúc đó, cả nước còn thiếu ăn, lương thực hoàn toàn trông vào nền kinh tế nông nghiệp èo uột. Bác Hồ phát động phong trào “Hũ gạo kháng chiến” để nuôi quân.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác, bà ngoại tôi lấy ra một cái hũ to bằng quả dừa để vào bếp. bà gọi đó là hũ gạo cụ Hồ. Đều đặn, trước khi mang gạo đi vo, bà tôi đưa tay vào rá vốc một vốc bỏ vào hũ. Đến cuối tuần, một cán bộ phụ nữ xã đến thu, bà tôi trân trọng bê hũ đóng góp ủng hộ kháng chiến.

Năm ấy quê tôi đói kém. Gạo không còn một hạt, đã hai ngày bà cháu tôi phải ăn sắn trừ cơm. Dì tôi xót ruột, từ chợ Thông gửi về cho bà cháu năm lon gạo. Tôi mừng rỡ chắc mẩm tối nay được bữa cơm no. Đến bữa, tôi xịu mặt vì thất vọng, nhìn vào nồi cơm vơi mà khóc ròng, giận bà ra mặt.

Bà tôi dịu dàng an ủi: “Đáng lẽ ra bà phải nấu thêm một ít, nhưng cháu biết không, đã hai hôm nay hũ gạo cụ Hồ chẳng có vốc nào. Hôm nay bà phải bù lại, cháu chịu khó ăn ít cơm một tí, gắng ăn sắn thêm vào, ngày mai chị V. đến thu lấy cái chi mà ủng hộ”.

Tôi nghe…. mà trong bụng còn ấm ức, nhưng thầm cảm phục bà. Hơn nữa, tôi là một đoàn viên thanh niên cứu quốc, chính tôi là người đã tích cực vận động bà hưởng ứng phong trào hũ gạo kia mà.

Giặc Pháp ngày càng hung hăng, trắng trợn phá hoại hiệp định đình chiến, thanh niên lớp lớp lên đường, theo nhịp bước các khúc quân hành “Xếp bút nghiên”, “Lên đàng” hừng hực khí thế giết giặc cứu nước.

Tôi không sao quên được buổi chiều hôm đó, chân bước liêu xiêu, bà ngoại tiễn chân tôi đến bến đò Làng Hạ. Năm ấy, ngoại tôi đã bảy mươi lăm tuổi. Tôi đi kháng chiến, bà ở lại còm cõi một mình. Bà nắm tay tôi nói trong nghẹn ngào: “Con đi đi, gắng theo cụ Hồ, đi cho đến nơi đến chốn”. Tôi không nói nên lời, bước đi không dám quay đầu lại.

Đã bao năm qua, hình ảnh bà ngoại tôi với hũ gạo kháng chiến cùng những lời dặn dò của bà vẫn in sâu trong tâm trí tôi. Nó là một hành trang giúp tôi vững bước vào đời. Trong suốt cả cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc, lời của bà luôn văng vẳng bên tai. Mỗi khi gặp khó khăn, suýt vấp ngã, lời bà như động viên, thúc giục tôi bền chí vững lòng, bước tiếp trên con đường cách mạng đầy chông gai và gian khổ.

Bà ơi! cho đến bây giờ lời của bà cháu vẫn luôn ghi nhớ…

Lê Đức Minh

bqllang.gov.vn

Như người cha hiền..

Tôi nhớ mãi mùa hè năm ấy, cách đây vừa tròn 50 năm, vào một ngày tháng 6 – 1957, Bác Hồ về thăm sư đoàn 325 chúng tôi, lúc ấy đang đóng quân ở Đồng Hới, Quảng Bình. Bốn giờ chiều, tin Bác đến, lòng chúng tôi rạo rực nôn nao một niềm vui khôn tả…

Chiếc xe con màu trắng đưa Bác đến. Hàng ngũ bộ đội nhốn nháo, ai cũng muốn nhoài người ra để được gần Bác hơn, được nhìn Bác rõ hơn. Đến gần bộ đội, Bác xuống xe, giơ mũ vẫy chào. Bác mặc bộ kaki màu sáng quen thuộc, chân đi đôi dép lốp. Tiếng hô “Hồ Chủ tịch muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!” muốn vỡ tung lồng ngực. Bác đáp lại: “Các cháu về đi, tối nay Bác cháu ta họp mặt”.

Chúng tôi giải tán về doanh trại, bồn chồn đứng ngồi không yên, chỉ chờ tiếng còi tập hợp để ra sân gặp Bác. Từ trong nhà, Bác ung dung đi ra, với bộ đồ nâu giản dị, một tay xách chiếc chiếu đơn gấp lại ở giữa, một tay cầm chiếc quạt giấy, thong thả trải chiếc chiếu lên thềm rồi ngồi xuống.

Tất cả chúng tôi, ai ai cũng muốn ngâm một bài thơ, hát một bài để nói lên niềm kính yêu vô hạn đối với Bác.
Cứ sau một tiết mục, Bác lại lấy ra từ một bọc vải một hoặc hai cái kẹo; ai ngâm thơ hay hát thì Bác cho hai cái, ai đọc thơ thì Bác cho một cái… Cứ như thế, Bác cháu quây quần suốt hai tiếng đồng hồ, giữa lãnh tụ và chiến sĩ không còn khoảng cách mà như hòa làm một, khác nào cha với con trong niềm thương yêu dạt dào tình cảm.

Thời gian trôi đi nhanh quá. Bác đứng dậy nhìn đoàn quân, giọng ôn tồn như lời cha hiền dặn con: “Các cháu ngâm thơ và hát rất hay, Bác còn muốn nghe mãi…. Nhưng trời đã khuya, mai các cháu còn phải học tập và công tác, Bác cũng phải làm việc. Trước khi ra về Bác đề nghị một việc: để kỷ niệm ngày Bác cháu mình gặp mặt, mỗi người hứa trồng cho Bác hai cây phi lao. Các cháu có làm được không?”.

“Được ạ! Được ạ! Hồ Chủ tịch muôn năm !”.

Theo lời Bác, kể từ ngày ấy khắp sư đoàn rộ lên một phong trào trồng cây phi lao phủ xanh bờ biển. Mỗi chúng tôi không chỉ trồng hai cây mà thi đua trồng thật nhiều, có chiến sĩ trồng hàng ngàn cây dọc suốt bờ biển Quảng Bình.
Mười tám năm sau…

Năm 1975, ngày thống nhất đất nước, trên đường về Nam, ngang qua Quảng Bình, tôi chú ý quan sát vùng đất mà bộ đội, trong đó có tôi, trồng phi lao ngày trước. Ôi! Không ngờ ngay trên tuyến lửa này, mặc cho bom cày đạn xới, suốt mười mấy năm chống Mỹ, những cây phi lao bé bỏng ngày xưa đã thành rừng dày đặc, xanh um, chạy dài tít tắp.

Ôi! Bác của chúng ta vĩ đại mà gần gũi biết bao! Màu xanh Bác để lại vẫn muôn đời còn đó.

Lê Đức Minh (Cựu chiến binh, Tân Phú, TP.HCM)

bqllang.gov.vn

Thời gian là quý lắm

Chuyện kể rằng, năm 1945, mở đầu bài nói chuyện tại lễ tốt nghiệp khoá V Trường huấn luyện cán bộ Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh thẳng thắn góp ý: “Trong giấy mời tới đây nói 8 giờ bắt đầu, bây giờ là 8 giờ 10 phút rồi mà nhiều người vẫn chưa đến. Tôi khuyên anh em phải làm việc cho đúng giờ, vì thời gian quý báu lắm”.

Cũng về giờ giấc, trong kháng chiến chống Pháp, một đồng chí sĩ quan cấp tướng đến làm việc với Bác chậm 15 phút, tất nhiên là có lý do: Mưa to, suối lũ, ngựa không qua được.

Bác bảo: “Chú làm tướng mà chậm đi mất 15 phút thì bộ đội của chú sẽ hiệp đồng sai bao nhiêu? Hôm nay chú đã chủ quan không chuẩn bị đủ phương án, nên chú không giành được chủ động”.

Một lần khác, Bác và đồng bào phải đợi một đồng chí cán bộ đến để bắt đầu cuộc họp. Bác hỏi: “Chú đến muộn mấy phút? Thưa Bác, chậm mất 10 phút ạ! Chú tính thế không đúng, 10 phút của chú phải nhân với 500 người đợi ở đây”.

Năm 1953, Bác quyết định đến thăm lớp chỉnh huấn của anh em trí thức, lúc đó đang bước vào cuộc đấu tranh tư tưởng gay go. Sắp đến giờ lên đường bỗng trời đổ mưa xối xả. Các đồng chí làm việc bên cạnh Bác đề nghị cho hoãn đến một buổi khác. Có đồng chí còn đề nghị tập trung lớp học ở một địa điểm gần nơi ở của Bác… Nhưng bác không đồng ý: “Đã hẹn thì phải đến, đến cho đúng giờ, đợi trời tạnh thì đến bao giờ? Thà chỉ mình bác và vài chú nữa chịu ướt còn hơn để cả lớp phải chờ uổng công!”. Thế là Bác lên đường đến thăm lớp chỉnh huấn đúng lịch trình trong tiếng reo hò sung sướng của các học viên…

Bác Hồ của chúng ta quý thời gian của mình bao nhiêu thì cũng quý thời gian của người khác bấy nhiêu. Chính vì vậy, trong suốt cuộc đời Bác không để bất cứ ai đợi mình. Sự quý trọng thời gian của Bác thực sự là tấm gương sáng để chúng ta học tập. Thế nhưng, hiện nay ở không ít các cơ quan, đơn vị, tình trạng lãng phí thời gian vẫn liên tục xảy ra. Tại một số Bộ, ngành, địa phương lại xảy ra tình trạng: Trong giờ hành chính lãnh đạo đơn vị thả cho nhân viên muốn làm gì thì làm. Thế nhưng hết giờ hành chính lại triệu tập mọi người đến họp, hoặc làm thêm việc (làm ngoài giờ). Đương nhiên việc họp và làm ngoài giờ sẽ được “phù phép” đủ điều kiện để được hưởng tiền làm việc thêm giờ. Chính sự buông lỏng việc quản lý giờ giấc và lề lối làm việc thiếu nghiêm túc của một số lãnh đạo nên đã có không ít nhân viên trong giờ làm việc đã “tranh thủ” lên sàn xem giá cổ phiếu hôm nay lên, xuống ra sao; một số khác thì rạo phố mua sắm hay vào chợ mua đồ ăn cho gia đình… Thực tế tại một số cơ quan, đơn vị cho thấy tình trạng lãng phí thời gian của đội ngũ cán bộ, công chức diễn ra khá phổ biến và ngày càng tinh vi. Có những người vừa đến cơ quan là ngồi ngay ngắn vào bàn, nhưng không phải để làm việc mà vào mạng “chít chát” với bạn bè. Cũng có người hễ bước chân đến cơ quan là kêu nhiều việc, thiếu thời gian để hoàn thành, nhưng lại có thời gian để “buôn điện thoại” tán gẫu với bạn bè hàng giờ liền…

Vẫn biết thời gian là vàng, ngọc, có những cái mất đi chúng ta vẫn tìm thấy, song nếu để thời gian trôi đi một cách vô ích thì chúng ta sẽ không bao giờ tìm lại được. Chính vì vậy, học tập tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi chúng ta cần xem lại mình, hãy biết quý trọng thời gian, biết tận dụng thời gian để làm việc có ích cho xã hội, cho gia đình và bản thân.

Nguyễn Minh (Trung Hoà, Cầu Giấy, Hà Nội)

bqllang.gov.vn

Phê bình cấp dưới

Trong cuộc sống hằng ngày, cán bộ cấp trên phê bình, chê trách cán bộ, nhân viên cấp dưới thuộc quyền là chuyện thường xảy ra. Tôi đã chứng kiến những trường hợp cấp trên phê bình đúng, phê bình gần đúng, hoặc phê oan sai mà cấp dưới vẫn nín nhịn, chịu đựng. Trước những việc làm sai trái của cấp dưới, có cán bộ cấp trên phê bình theo kiểu mắng nhiếc, chì chiết, té tát vào mặt; phê cho bõ tức, cho thỏa cơn nóng giận. Thậm chí có cán bộ cấp phân đội ở đơn vị không chỉ phê bình chiến sĩ sai phạm bằng lời mà còn đánh chiến sĩ. Cũng có cán bộ do nóng nảy, sau khi phê bình nặng lời cấp dưới thì tĩnh tâm, ân hận, hối lỗi việc đã làm. Nhưng có cán bộ lại coi cách phê bình nặng lời ấy là “biện pháp mạnh” để răn đe, áp đảo giúp cấp dưới nhận ra sai sót phải sửa chữa, khắc phục ngay.

Phê bình, góp ý, khuyên răn cấp dưới là việc làm cần thiết và thường xuyên của cấp trên nên phải coi đó là một phương pháp công tác và nghệ thuật cư xử của người cán bộ. Sinh thời, Bác Hồ gặp nhiều trường hợp cán bộ, nhân dân làm sai, Bác đều phê bình thẳng thắn nhưng nhẹ nhàng, sâu sắc mà thấm thía, giúp cho người được phê bình nhớ lâu, nhận rõ hơn việc làm sai trái của mình. Có lần, Bác được biết một đồng chí sĩ quan cao cấp trong quân đội nóng nảy, hay quát mắng cán bộ cấp dưới. Khi gặp, Bác rót một chén nước đun sôi đưa cho người sĩ quan cao cấp có “máu Trương Phi” uống. Cầm chén nước nóng ran, bốc hơi nghi ngút, người sĩ quan ngập ngừng không dám uống. Đúng lúc ấy, Bác ôn tồn nói: Nước nóng chú không uống được. Cũng như khi chú quá nóng, mắng mỏ cấp dưới thì họ cũng không tiếp thu được đâu…

Lời phê ý nhị, nhẹ nhàng ấy khiến người sĩ quan có “máu Trương Phi” ấy xúc động và coi đó là bài học nhớ đời, kiên quyết khắc phục bệnh quân phiệt trong việc cư xử với cán bộ cấp dưới. Ở đơn vị tôi có đồng chí cán bộ khi thấy cán bộ cấp dưới làm những điều không phải, đồng chí gặp riêng phê bình, nhắc nhở thân tình. Chỉ những trường hợp sai phạm nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần đồng chí mới đưa ra phê bình trước tập thể. Nhờ vậy, đơn vị luôn tạo nên mối đoàn kết thống nhất; các đồng chí mắc khuyết điểm đều nhận rõ trách nhiệm của mình, thể hiện ý thức ăn năn, quyết tâm sửa chữa. Đặc biệt, trong đơn vị thể hiện rõ không khí dân chủ, chan hòa giữa cán – binh; đóng góp phê bình nhau chân tình, thẳng thắn. Nếu tình trạng cán bộ cấp trên phê bình cấp dưới theo kiểu “cả vú lấp miệng em” thì đôi khi còn làm cho cấp dưới e ngại, sợ không dám có ý kiến trở lại. Trong cuốn “Sửa đổi lối làm việc” Bác viết tháng 10-1947, cũng đề cập đến hậu quả ấy: “Không phải họ không có gì nói, nhưng vì họ không dám nói, họ sợ. Thế là mất hết dân chủ trong Đảng. Thế là nội bộ của Đảng âm u, cán bộ trở nên những cái máy trong lòng uất ức, không dám nói ra; do uất ức mà hóa ra oán ghét, chán nản”…

Mục đích của phê bình là nhằm giúp cho cấp dưới nhận rõ khuyết điểm, có hướng khắc phục, sửa chữa để làm tốt hơn. Muốn được như vậy, cán bộ cấp trên phải tu dưỡng, rèn luyện, học tập tác phong và đạo đức của Bác Hồ, thực sự thương yêu, tôn trọng cấp dưới, dùng lời lẽ hành động nhẹ nhàng, tế nhị khuyên nhủ để cấp dưới dễ tiếp thu, sửa chữa khuyết điểm.

Nguyễn Đình Thống (Trường cao đẳng kỹ thuật Vin – hem Pích)

bqllang.gov.vn

“Ham muốn tột bậc” của Bác Hồ

Năm 1946, khi đã là Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà, Bác Hồ muôn vàn kính yêu của chúng ta đã trả lời các nhà báo: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.

Đó là ham muốn tột bậc của Hồ Chủ tịch. Là một người lính Cụ Hồ, tôi hằng suy nghĩ nhiều về câu nói trên và càng suy nghĩ càng thêm thương nhớ Bác, kính yêu Bác, tin tưởng Bác và thêm phấn khởi để tiến bước trên con đường Bác vạch ra.

“Ham muốn tột bậc” là sự ham muốn thiết tha nhất, duy nhất. Sự ham muốn tột bậc đã chiếm lĩnh toàn bộ trái tim, toàn bộ tâm hồn Bác. Không có một ham muốn nào khác, đam mê nào khác có thể chen vào trái tim, chen vào tâm hồn Bác ngoài ham muốn “Nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.

Chính sự ham muốn tột bậc đó đã tạo nên tình yêu nước, thương dân không bờ bến. Suốt đời Bác Hồ làm việc không giây phút nào ngơi cũng là có sự ham muốn tột bậc đó. Chính nhờ sự “ham muốn tột bậc” nên Bác Hồ có được một nghị lực phi thường để chiến thắng mọi khó khắn gian khổ, mọi cám dỗ tầm thường-chiến thắng cả bệnh tật để làm việc không ngừng cho Dân, cho nước.

Cũng nhờ sự ham muốn đó mà Bác Hồ không ngừng học tập, rèn luyện để có một tài năng tuyệt vời, trở thành “Danh nhân văn hoá thế giới, anh hùng giải phóng dân tộc”.

Kiến thức của Người uyên bác, đạo đức của Bác mênh mông, nên Hồ Chủ tịch đã cầm lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt muôn trùng sóng gió để tới đỉnh vinh quang.

Chính ham muốn tột bậc đó đã tạo nên cuộc đời huyền thoại của Hồ Chủ tịch: “Không một chút riêng tư, toàn bộ trái tim, sức lực của Hồ Chủ tịch đều hiến dâng cho Tổ quốc, nhân dân”.

Bác Hồ không có thì giờ để nghĩ đến riêng mình. Thế giới ngợi ca Hồ Chủ tịch bởi vì cuộc đời của Người “trong như ánh sáng”, không gợn một chút riêng tư. Trái tim của Hồ Chủ tịch chỉ biết đập vì nhân dân vì Tổ quốc.

Trái tim vĩ đại của Bác Hồ bao giời cũng hoà nhịp đập với đồng bào bị áp bức đau khổ. Hàng ngày tôi suy nghĩ về Bác Hồ. Cuộc đời huyền thoại của Bác Hồ là có thật. Bác sống và làm việc như lời Bác nói. Bác Hồ không có gia đình riêng vì toàn bộ trái tim Bác là của đồng bào, Tổ quốc. Do đó, mà người Việt Nam ai cũng nhận là con cháu của Bác Hồ – vì có Bác Hồ ta mới thoát ách nô lệ, được sống tự do.

Noi theo gương Người, chúng ta quyết tâm thực hiện ham muốn của Người, đưa lá cờ bách chiến bách thắng của Người tới đích cuối cùng – Đó là xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản ở nước ta mà cụ thể là thực hiện “Dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh”.

Phạm Mai Khôi

bqllang.gov.vn

Bài học từ người cận vệ Bác Hồ

Ngày 19 – 5 – 1958, Bộ Công an đã trao quyết định đề bạt chức vụ cục phó Cục Cảnh vệ cho người con đất mũi Phan Văn Xoàn nhân sinh nhật của Bác.

Ông có nhiều dịp làm công tác bảo vệ những chuyến đi của Bác Hồ nhưng sau đó hai năm (năm 1960), ông trở thành người trực tiếp bảo vệ Bác Hồ.

Ở tuổi ngoài 80, tướng Phan Văn Xoàn vẫn rắn chắc, giọng nói sang sảng. Trong căn phòng làm việc của ông treo tấm hình Bác Hồ chụp trong lần về thăm một HTX ở Nam Định năm 1959, phía trên là tấm ảnh Bác Hồ với dòng chữ “Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà, miền Nam mong Bác nỗi mong cha”.

Phải tìm hiểu mới nói!

Mùa xuân năm 1960, khoảng tháng ba, anh Phan Văn Xoàn nhận nhiệm vụ trực tiếp bảo vệ Bác Hồ. “Thật quá bất ngờ, tôi vô cùng hãnh diện và sau đó là nỗi lo lắng, hồi hộp. Suốt nhiều đêm tôi không ngủ, trằn trọc suy nghĩ, đây là sự kiện lớn nhất trong đời tôi.

Ngày đầu tôi không tự chủ được và luôn dè dặt, giữ đúng nguyên tắc. Biết được tâm trạng của tôi, Bác gọi đến và bảo: “Bác nhớ miền Nam lắm! Có chú ở đây, ngày nào cũng được thấy miền Nam, vậy là Bác vui lắm rồi”.

Ông còn bồi hồi chia sẻ những bài học mà ông đã học được từ Bác qua những chuyến đi. Ông kể: “Một lần, Bác cùng chúng tôi vượt qua đoạn dốc thật cao. Mọi người mồ hôi vã ra như tắm. Đang đi, Bác hỏi tôi: “Chú có biết đường lên dốc kia đi có được không?”. Tôi suy nghĩ nếu nói là đi được, Bác sẽ tiếp tục đi. Sợ ảnh hưởng sức khỏe Bác, tôi nói: “Thưa Bác, cháu thấy đường khó đi, cây rậm rạp chắc đi không được ạ”. Nhưng Bác lại bảo: “Chú trèo lên dốc xem thế nào rồi xuống đây báo cáo lại cho Bác”. Tôi chạy lên lưng chừng dốc đứng trông lên rồi quay lại đã thấy Bác đứng phía sau, tôi giống như đứa trẻ bị bắt quả tang nói dối, lúng túng. Bác cười bảo: “Chú phải rút kinh nghiệm, nếu chưa điều tra nghiên cứu thì chưa được phát ngôn”.

Những năm giặc Mỹ gây chiến tranh phá hoại miền Bắc, từ một tình huống của anh cảnh vệ vì quá lo lắng cho sự an toàn của Bác đã hốt hoảng mời Bác xuống hầm trú ẩn khi mới nghe dự báo động có máy bay địch… Bác nói: “Khi có địch phải biết bình tĩnh như khi không có địch, khi không có địch phải sẵn sàng như khi có địch”. Câu nói đó trở thành một trong những phương châm của người cảnh vệ trong mọi thời đại.

Truyền lửa cho đời sau

Năm 1992, về hưu khi 68 tuổi nhưng chỉ sau ba năm ông cho ra đời Công ty Long Hải chuyên về nghiệp vụ bảo vệ. ông luôn tâm huyết muốn xây dựng hình ảnh người vệ sĩ toát lên tinh thần nghĩa khí của Lục Vân Tiên. Và ông đã lấy “Nhân – lễ – nghĩa – trí – tín” làm gốc để giáo dục và xây dựng nhân cách người vệ sĩ. Trong giáo án tập luyện, ông còn soạn hẳn một bài giảng về đạo đức người vệ sĩ. “Tôi quan niệm đó là bài học đầu tiên và vô cùng quan trọng cho các em khi chấp nhận bước vào nghề. Bài giảng đạo đức soạn thảo từ khóa huấn luyện cho 44 vệ sĩ đầu tiên vẫn được truyền giữ đến bây giờ, sau 10 năm với hơn 3.000 vệ sĩ” – ông nói.

Lời dạy “có thái độ tốt với đồng bào” của Bác năm xưa dành cho người cận vệ nay được ông truyền lại cho thế hệ các bạn trẻ trong công ty. Ông bảo: “Người vệ sĩ phải là người có trí tuệ luôn tỉnh táo, tôi không có quan điểm khuyến khích các em xử lý tình huống bằng vũ lực. Đạo đức nghề nghiệp của người vệ sĩ ngoài tính trung thực, ngay thẳng, hiểu biết pháp luật là lòng nhân đạo nghĩa”.

Người cận vệ gần chục năm làm việc bên Bác chia sẻ: “Sự vĩ đại của Bác Hồ chúng ta không có gì xa xôi. Trong bất cứ công việc gì Bác cũng giống một con người bình thường, giản dị, chan hòa, không hề có khoảng cách. Đi bên Người chúng ta thấy tự tin hơn, ấm áp hơn như bên cạnh người cha, người ông…”.

Kim Anh

bqllang.gov.vn

Là tướng càng phải học

Năm 1964, kỷ niệm 10 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, Tổng cục Chính trị điện cho tướng Vương Thừa Vũ – lúc đó là Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn – về Tổng cục nhận bài phát biểu do cơ quan đã viết sẵn để sáng ngày 07 tháng 05 đọc trước cuộc mít tinh.

Ông về sớm nhận bài phát biểu đã đánh máy sẵn trên giấy đen, bằng máy chữ của Pháp cũ, chữ nhỏ không có dấu, chấm phẩy không rõ. Ông đọc trước, tự đánh dấu vào từng chữ, từng câu. Khi mít tinh, đến lượt ông đọc bài phát biểu, nhưng do chữ nhỏ và mờ, ông đọc không rõ một số từ và dừng nghỉ không đúng chỗ. Sau mít tinh, Bác Hồ gọi ông vào nhà sàn. Bác hỏi:

– Từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ đến nay chú đã học thêm văn hóa đến đâu?

Tướng Vương Thừa Vũ trả lời:

– Thưa Bác, cháu đã học xong các lớp do Tổng cục Chính trị tổ chức.

– Bác Hồ lại hỏi:

– Sau lớp tập trung về đơn vị có học thêm nữa không?

Tướng Vũ đáp:

– Dạ thưa Bác, do bận nhiều công việc nên cháu không học nữa.

Bác Hồ trầm ngâm giây lát rồi tháo chiếc đồng hồ ở cổ tay mình đeo vào cổ tay tướng Vũ và ân cần nói:

– Bác cho chiếc đồng hồ này, về đơn vị phải tiếp tục học “Là tướng càng phải học, học suốt đời…”.

Tướng Vương Thừa Vũ rất xúc động, xin hứa làm theo lời Bác dạy.

Về đơn vị, ông yêu cầu sắp xếp công việc trong ngày, trong tuần có giờ học văn hóa. Ông đặt chỉ tiêu phấn đấu và định kỳ thời gian về báo cáo kết quả học tập cho Bác. Phòng văn hóa phân công anh Phạm Tiến Đại – sau này là đại tá ở xưởng phim quân đội-giúp tướng Vũ học Toán; giáo viên khác giúp ông học Lý, Hóa. Nhóm chúng tôi giúp ông học Văn, Sử, Địa. Hằng ngày, đến chiều nhìn đồng hồ của Bác cho, xem giờ, ông điện thoại nhắc chúng tôi đến đúng giờ để ông được học tập.

Những lần đi công tác, ông thường đem kiến thức đã học được ứng dụng vào thực tế như kiểm tra vũ khí khí tài của bộ đội phòng thủ bờ biển, ông hỏi cán bộ tham mưu nhắc lại những công thức hóa học làm gỉ sắt; có lần kiểm tra pháo binh bắn đạn thật, ông hỏi về công thức toán. Cán bộ tham mưu động viên ông cố gắng học lên nữa thì giải thích mới hiểu được. Ông rất chú ý lắng nghe ý kiến của cấp dưới. Ông bảo: “Càng học càng thấy nhiều điều mình chưa biết gì”.

Khi Bộ điều ông về làm Phó Tổng tham mưu trưởng, ông thực hiện nghiêm túc chỉ thị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, hằng tuần một số cán bộ cao cấp và tướng lĩnh của Bộ Tổng tham mưu, Bộ Quốc phòng đều phải học tại chức vào chiều thứ bảy tại ngôi nhà một tầng cạnh hầm chỉ huy của Cục Tác chiến. Chương trình học rất linh hoạt “cần gì học nấy”. Khi Mỹ sử dụng bom La-zer, cán bộ học tập ngay về vũ khí La-zer và điều khiển học; ôn lại các chương trình về vũ khí hóa học và vũ khí nguyên tử; học về tâm lý học và tâm lý học quân sự do giáo viên Đại học Sư phạm và giáo viên trường Trung Cao Chính trị đến trình bày. Riêng về Khoa học quân sự mặc dù đã được đào tạo cơ bản tại một trường sĩ quan ở Côn Minh, sau này lại được học tại Học viện quân sự Nam Kinh-Trung Quốc, nhưng ông vẫn mời cán bộ đến nhà giảng dạy và ông tự nghiên cứu. Điều gì chưa rõ ông tìm cán bộ để hỏi. Tướng Hoàng Minh Thảo ở Tây Nguyên viết cuốn Tổ tiên ta đánh giặc gửi ra Hà Nội tặng ông. Ở trường Trung Cao, tướng Đỗ Trình cũng viết một tập về Tổ tiên ta đánh giặc in Rônêô trên giấy đen gửi biếu tướng Vũ. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ra một số sách về Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung…, ông mời anh Phạm Ngọc Phụng, giáo viên trường Trung Cao quân sự đến trình bày. Tướng Vũ yêu cầu chúng tôi sưu tầm các tập nghị quyết quân sự của Đảng từ năm 1930 đến năm 1960 khoảng 500 trang để ông nghiên cứu. Tướng Trần Độ thấy ông say sưa học tập, nghiên cứu đã tặng ông một tập do chính tay tướng Trần Độ viết, in Rônêô về “Tư tưởng quân sự và học thuyết quân sự Xô Viết”-Đúc kết kinh nghiệm đại chiến Thế giới thứ hai.

Tướng Vũ yêu cầu chúng tôi sưu tầm đủ 06 tập Luận văn quân sự của Ăng – ghen. Hiện nay chúng tôi còn giữ được 05 tập khoảng 1.300 trang tướng Vương Thừa Vũ đã đọc, đánh dấu, gạch dưới những đoạn cần lưu ý.

Qua học tập nghiên cứu, kết hợp kinh nghiệm thực tế của bản thân cùng với kinh nghiệm thực tế của các chiến trường, ông đã viết 11 cuốn sách và còn 119 trang bản thảo viết tay chưa in.

Trước khi ra đi về cõi vĩnh hằng, ông đã gửi lại Bảo tàng Quân đội chiếc đồng hồ của Bác Hồ kính yêu đã tự đeo vào cổ tay ông và ân cần dặn dò ông “Là tướng càng phải học!”. Cả cuộc đời ông đã nghiêm túc thực hiện lời dạy của Bác.

Thiếu tướng TS. Nguyễn Chu Phác

bqllang.gov.vn

Những cận vệ bên Lăng Bác

Lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng Bác

Đúng 6 giờ, trong giai điệu bài Quốc ca hào hùng, lá cờ đỏ sao vàng tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được kéo lên. Hàng ngàn cặp mắt ngước nhìn bầu trời, phía lá cờ tổ quốc đang tung bay. Mười hai phút diễn ra lễ chào cờ, dường như mọi hoạt động nơi Quảng trường Ba Đình đều dừng lại. Dừng lại để cảm nhận giá trị của độc lập tự do, của niềm tự hào dân tộc và để hướng về Chủ tịch Hồ Chí Minh với tấm lòng thành kính và niềm xúc động. Nghi thức thiêng liêng ấy quen thuộc với người dân Thủ đô Hà Nội đã hơn 6 năm nay. Và hình ảnh những người chiến sĩ bên Lăng cũng gần gũi, thân thương với đồng bào cả nước mỗi khi về thăm Bác. Họ – những chiến sĩ cận vệ giữ yên giấc ngủ cho Người – Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tháng Tám, nắng như đổ lửa, không gian phía sau Lăng yên ắng, chỉ còn nghe tiếng người hô khẩu lệnh, tiếng súng lách cách, tiếng gót giày đập xuống nền bê tông theo mỗi bước chân… Những chiến sĩ trẻ vai áo ướt đầm mồ hôi, nét trang nghiêm hiện trong từng ánh mắt, trên từng gương mặt, từng cử chỉ. Họ đang luyện tập để ngày đêm giữ yên giấc ngủ cho Bác- một nhiệm vụ vinh dự, thiêng liêng và rất đỗi tự hào.

Dù đã ba mươi hai năm trôi qua nhưng vẫn in sâu trong ký ức của những người chỉ huy Đoàn, trước ngày khánh thành Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh 6 tháng, 150 cán bộ chiến sĩ của Đoàn M44 được lệnh hành quân về một vùng đồi thuộc thị trấn Cổ Tiết, huyện Tam Nông, tỉnh Vĩnh Phú (nay là Phú Thọ) để luyện tập. Từ một quả đồi, các chiến sĩ dựng nên mô hình giống như Lăng Bác để tập bồng súng đứng nghiêm, đổi gác, rước vòng hoa… Tập ngày chưa đủ, các cán bộ chiến sĩ tập cả đêm. Biết bao giọt mồ hôi đã đổ xuống vùng đồi này. Kết thúc sáu tháng luyện tập, 150 cán bộ, chiến sĩ quay trở lại Hà Nội và Tiểu đoàn H75 (tiền thân Đoàn H75 ngày nay) được thành lập từ đó. Ngày 29/8/1975, lễ khánh thành Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức trọng thể tại hội trường Ba Đình, Tiểu đoàn H75 ra quân, khởi đầu cho những ngày đêm canh giữ giấc ngủ cho bác Hồ.

Và hôm nay, trong khuôn viên của Đoàn H75, trên những bậc bê tông tượng trưng cho bậc cầu thang dẫn vào Lăng, các chiến sĩ tiêu binh tập đứng gác, tập đổi gác. Mỗi một ca gác dài 30 phút, nhưng để đứng trang nghiêm được 30 phút ấy, thì tại sân tập này, người chiến sĩ phải đứng được 2 giờ. Có những chiến sĩ đã bị ngã vì cảm nắng trong thời tiết khắc nghiệt của mùa hè, trong wots đầm mồ hôi nơi vai áo. Đôi chân khi mới tập đứng gác tưởng chừng không muốn cử động sau mỗi buổi huấn luyện. Nhưng không nản lòng, không nhụt ý chí, người chiến sĩ kiên cường thách thức cái nắng cháy da mùa hè, cái rét buốt xương đêm đông để hoàn thành nhiệm vụ và giữ vững truyền thống người cận vệ bên Lăng.

Với 4 đội hình: Tiêu binh danh dự, Cảnh vệ đặc biệt, Canh gác vũ trang, Trinh sát đặc nhiệm, Đoàn H75 là một đơn vị chủ chốt của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng ngoài nhiệm vụ canh gác bảo vệ Lăng còn phải thể hiện cho du khách tới viếng Bác thấy được một văn hoá Hồ Chí Minh. Hình ảnh người chiến sĩ với tư thế, tác phong nghiêm trang thành kính cùng sự nhiệt tình, chu đáo văn minh trong đón tiếp đã góp phần tô thắm truyền thống anh “Bộ đội Cụ Hồ”. Và không chỉ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiêu binh canh gác, bảo vệ giấc ngủ cho Bác, người cận vệ còn phải tạo nên một hình ảnh, một nét đẹp, một niềm tin cho nhân dân và khách quốc tế khi tới viếng Bác. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, Đoàn H75 luôn đề cao công tác giáo dục ý thức cho mỗi cán bộ chiến sĩ: tuyệt đối trung thành, đặc biệt nghiêm cách trong thực hiện nhiệm vụ chính trị và xây dựng đơn vị chính quy, đoàn kết, tận tuỵ, nhiệt tình, chu đáo…

Có một câu chuyện thường được kể trong mỗi buổi giáo dục truyền thống cho các chiến sĩ của Đoàn, chuyện về một người ngoại quốc tới Lăng viếng Hồ Chủ tịch. Trước lúc ra sây bay về nước, người ngoại quốc đã đặt trước tượng Bác trong Bảo tàng Hồ Chí Minh một bó hoa và cúi đầu. Ông nói: Thưa ngài Hồ Chí Minh, tôi đã đến viếng Ngài. Tôi vô cùng cảm động trước tình yêu mà dân tộc Việt Nam đã dành cho Ngài. Và đặc biệt, tôi khâm phục đạo đức người cận vệ của Ngài… Trong lễ viếng sáng hôm ấy, hai vợ chồng ông đã đánh rơi một túi xách, trong có số tiền lớn cùng toàn bộ giấy tờ, hộ chiếu, vé máy bay. Hạ sĩ Lê Trí Công trong lúc làm nhiệm vụ nhặt được và báo cáo về đơn vị. Khi nhận lại tài sản, ông dường như không tin vào mắt mình và rưng rưng một niềm xúc động. Và gần đây, ngày 24/5/2007, Trung sĩ Nguyễn Hồng, chiến sĩ Đội canh gác vũ trang, khi làm nhiệm vụ ở vọng gác Vườn Trúc cũng nhặt được một túi xách cùng số tiền lớn, ngay sau đó, số tài sản đã được trao lại cho chủ nhân…

Nhân dân Việt Nam luôn sáng mãi một niềm tin nơi Hồ Chủ tịch. Và những chiến sĩ Đoàn H75 đang ngày đêm bên Lăng Bác cũng đã tạo được một niềm tin khi đón tiếp nhân dân về thăm Người. Trong dòng người dài như vô tận vào viếng Bác mỗi ngày, có những cụ già cả cuộc đời chỉ mơ một lần được gặp Bác, và khi đứng trước Bác đã không kìm được tiếng khóc: “Bác ơi”, có những người khuyết tật ngồi trên xe lăn kiên nhẫn chờ từng phút giây để được nhìn thấy Bác. Tất cả đều có bàn tay người cận vệ của Bác Hồ đỡ từng bước đi trong niềm xúc động hay nâng bánh chiếc xe lăn qua những bậc thềm.

Mỗi lần về đứng trên Quảng trường Ba Đình là một lần cảm nhận tình thương bao la của Bác. Tình thương ấy thấm vào từng ngọn cỏ, nhành cây để màu xanh luôn tươi mát, thấm vào lá quốc kỳ để màu đỏ thêm thiêng liêng, thấm vào tâm hồn những người cận vệ đang ngày đêm canh giấc Bác để ta cảm nhận một không khí trang nghiêm, trọng đại, thành kính mỗi khi đặt bàn chân lên Quảng trường Ba Đình.

Gặp những chiến sĩ trẻ mới nhập ngũ hay những chiến sĩ sắp hoàng thành nghĩa vụ ở Đoàn H75, tất cả đều chung một niềm vinh dự, tự hào vì được thay mặt cho tuổi trẻ cả nước làm nhiệm vụ tại Lăng Bác. Những năm tháng rèn luyện phấn đấu ấy sẽ như một dấu son không phai trong cuộc đời người chiến sĩ.

Mỗi sớm mai, mỗi đêm về, bên cạnh Bác đều có những người chiến sĩ. Và những người chiến sĩ cận vệ của Bác Hồ chỉ duy nhất tâm nguyện: Giữ yên giấc ngủ cho Người.

Phạm Long Hà

bqllang.gov.vn

Vị tướng ba lần được gặp Bác Hồ

Gần 60 năm tham gia hoạt động cách mạng, 51 tuổi quân, Thượng tướng, Giáo sư Hoàng Minh Thảo đã vinh dự ba lần được gặp Bác Hồ. Kỷ niệm ấy theo ông suốt cuộc đời và luôn động viên, khích lệ ông vượt qua khó khăn, gian khổ để làm tròn nhiệm vụ mà Đảng và quân đội giao phó. Kể về những kỷ niệm ấy, ông bồi hồi xúc động :

“Năm 1937, tôi tham gia hoạt động cách mạng trong phong trào học sinh. Từ năm 1941 đến năm 1944, tôi được Tổng bộ Việt Minh cử đi học Trường quân sự Hoàng Phố của Trung Quốc. Đoàn học viên Việt Nam có hơn 30 người, do đồng chí Hoàng Văn Thái làm trưởng đoàn.

Tốt nghiệp xong, chúng tôi được chuyển đến Nam Ninh thuộc tỉnh Quảng Tây Trung Quốc để học tiếp 5 tháng nữa chuyên về biệt động quân. Trường quân sự Hoàng Phố này do liên quân Trung – Mỹ tổ chức, hiệu trường là Thiếu tướng Từ Quang Anh. Học viên được biên chế hỗn hợp của người Trung Quốc và Việt Nam. Tôi được cử làm tiểu đội trưởng.

Bị chính quyền Quốc dân Đảng bắt giam trái phép tại Liễu Châu, sau khi được trả tự do, Bác Hồ tìm cách liên lạc với tướng Trương Phát Khuê – Tư lệnh Đệ tứ chiến khu để bàn việc hợp tác chống Nhật. Trên đường về nước, khi đi qua Nam Ninh, Bác đến thăm đoàn học viên quân sự Việt Nam chúng tôi đang học tập tại đây. Trong không khí thân tình, Bác hỏi thăm việc học tập, ăn ở của học viên, căn dặn chúng tôi phải đoàn kết nội bộ và đoàn kết với bạn, giữ nghiêm kỷ luật, học tập tốt để sẵn sàng về nước chiến đấu. Đồng chí Hoàng Văn Thái cử tôi đi cùng Bác đến gặp vị thiếu tướng hiệu trưởng nhà trường để xin cho số học viên Việt Nam đang học ở đây được về nước chiến đấu chống Nhật. Trên đường đi, bác hỏi thăm tôi về quê quán, gia đình, việc học hành và động viên phải hăng say học tập, tu dưỡng rèn luyện. Không may hôm ấy hiệu trưởng nhà trường đi vắng nên Bác đã viết thư để lại, sau đó yêu cầu của Bác đã được nhà trường giải quyết. Trên đường về trời đã quá trưa, nhìn Bác người gầy xanh vì mới ra tù, tôi mời Bác vào hiệu Cao lâu với dụng ý đãi Bác một bữa cơm ngon để bồi bổ thêm sức khoẻ. Nhưng Bác cười và nói:

– Đất nước ta còn bị đế quốc đô hộ, dân ta đang phải sống cực khổ bần hàn, nên Bác cháu ta không được ăn uống lãng phí. Bây giờ hai Bác cháu ta đi ăn cháo quẩy.

Vừa ăn, Bác vừa nói chuyện vui vẻ. Ăn xong, Bác dứt khoát trả tiền chứ không để tôi trả. Qua đây tôi học được ở Bác lòng yêu nước, thương dân, ý thức tiết kiệm và tính chủ động trong mọi công việc. Bác không muốn làm phiền ai dù chỉ là việc nhỏ nhất.

… Mùa đông năm 1944, đoàn học viên chúng tôi tốt nghiệp khoá huấn luyện biệt động quân và trở về Pác Bó để nhận nhiệm vụ. Một hôm tôi và đồng chí Lê Thiết Hùng được lệnh đến gặp Bác Hồ. Bác tiếp chúng tôi tại ngôi nhà sàn nhỏ trong khu căn cứ. Sau khi phân tích tình hình trong nước và quốc tế, những thuận lợi và khó khăn của ta và địch, Bác nói chủ trương của Việt Minh lúc này là tiếp tục thành lập các đơn vị vũ trang tập trung để khi thời cơ đến sẽ cùng nhân dân đứng dậy cướp chính quyền. Bác giao nhiệm vụ cho đồng chí Lê Thiết Hùng và tôi về Lạng Sơn vận động quần chúng nhân dân ủng hộ Việt Minh, thành lập đội du kích tập trung làm nòng cốt đấu tranh chống địch. Bác cử đồng chí Lê Thiết Hùng là đại diện của Tổng bộ Việt Minh, còn tôi trực tiếp chỉ huy đội du kích. Khi chia tay, bác căn dặn chúng tôi rất tỉ mỉ và chúc chúng tôi sớm lập được chiến công để báo tin cho Bác biết.

Vâng lời Bác, chúng tôi hăm hở bắt tay vào công việc. Trong thời gian ngắn, lực lượng cách mạng ở huyện Tràng Định (Lạng Sơn) phát triển rất nhanh, hầu như vùng nông thôn do ta làm chủ, địch chỉ quản lý được thị trấn và vùng phụ cận. Chúng tôi đã thành lập được đội du kích tập trung khoảng vài chục người, vũ khí trang bị chủ yếu là súng kíp, súng trường mua lại của quân Tưởng Giới Thạch.

Tháng 5 năm 1945, Đội du kích tập trung Lạng Sơn tổ chức đánh úp một đồn lính khố xanh đóng ở biên giới Việt Nam – Trung Quốc, bắt sống tên chỉ huy đồn và diệt tên bang trưởng (trưởng khu phố nhỏ thuộc đồn). Sau khi giáo dục về chính sách của Việt Minh, chúng tôi tha cho viên chỉ huy này về đoàn tụ với gia đình. Nhưng em trai của tên bang trưởng chạy thoát sang Trung Quốc cầu cứu đưa lính biệt động- thổ phỉ quốc dân đảng sang đánh để chiếm lại đồn. Đồng chí Lê Thiết Hùng lo tổ chức lực lượng phòng thủ trên đồn và phân công tôi xuống thương thuyết với chúng. Rất may viên chỉ huy lính biệt động lại chính là học viên trong tiểu đội do tôi làm tiểu động trưởng khi học ở trường biệt động, nên tôi giải thích cho hắn biết mục đích của chúng tôi đánh đồn và cùng bàn biện pháp chuẩn bị để đối phó với quân Nhật. Viên chỉ huy nghe theo và rút quân về bên kia biên giới.

… Mùa hè năm 1968, từ Mặt trận Tây Nguyên ra Bắc công tác, tôi được tham gia đoàn cán bộ Quân giải phóng miền Nam đến thăm và báo cáo tình hình với Bác. Đoàn của chúng tôi có 8 cán bộ chỉ huy cấp cao đang trực tiếp chiến đấu ở chiến trường do đồng chí Trần Văn Trà – Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam dẫn đầu.

Bác tiếp chúng tôi trong ngôi nhà tại Phủ Chủ tịch. Khi chúng tôi đến, Người đã ngồi chờ sẵn. Bác hơi gầy, da xanh, riêng cặp mắt thì vẫn sáng ngời. Chúng tôi lần lượt đến bắt tay và chúc sức khoẻ Bác. Bác mời chúng tôi ngồi, ăn bánh kẹo, uống nước và kể chuyện chiến trường cho Bác nghe. Đồng chí Trần Văn Trà thay mặt đoàn báo cáo vắn tắt với Bác tình hình chiến đấu của quân và dân miền Nam. Ta đã giành được những thắng lợi to lớn, tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, đẩy chúng vào thế bị động về chiến lược. Địch đang tìm mọi cách đối phó hòng giành lại những vùng đã mất… Quân và dân miền Nam đoàn kết quyết tâm chiến đấu giải phóng hoàn toàn miền Nam để đón Bác vào thăm. Bác biểu dương quân và dân miền Nam đánh giỏi, thắng lớn, Bác căn dặn chúng tôi tuyệt đối không được chủ quan khinh địch. Vì Mỹ – Nguỵ tuy thua đau nhưng còn rất ngoan cố, chúng chưa từ bỏ ý đồ xâm lược đất nước ta mà sẽ còn tiến hành nhiều mưu đồ xảo quyệt. Quân dân miền Nam phải hết sức cảnh giác, đoàn kết chặt chẽ và quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn.

Chúng tôi ghi nhớ những lời căn dặn sâu sắc đó và lưu luyến chia tay Bác. Mọi người thầm hứa sẽ cố gắng chiến đấu để góp phần giải phóng miền Nam, để đồng bào và cán bộ chiến sĩ miền Nam được vinh dự đón Bác vào thăm.

Tôi không ngờ đó là lần cuối cùng được gặp bác.

Phạm Hoè
(Ghi theo lời kể của G.S, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo)

bqllang.gov.vn

Chú mặc cũng như tôi mặc

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, nhân dân ta từ các cụ phụ lão, phụ nữ, thiếu niên nhi đồng, các tăng ni, phật tử, đồng bào theo các tôn giáo… thường gửi khăn mặt, áo len, áo trấn thủ tặng Bác. Đồng bào biết rõ, tuy là Chủ tịch nước nhưng nước còn nghèo, Bác lại sống giản dị, tiết kiệm nên chắc là không muốn may mặc gì. Đồng bào sợ Bác lạnh, không chống đỡ được cái rét Việt Bắc, núi đá, sương mù…

Bác nhận được áo tặng, bao giờ cũng có thư cảm ơn, nhờ các chiến sĩ giao thông, Văn phòng Chính phủ, Uỷ ban nhân dân chuyển tới. Quà áo thì nhiều, nhưng nào Bác có mặc. Nay Bác tặng ông Đặng Phục Thông, mai Bác lại nhờ người đến tặng bác sĩ Trần Hữu Tước. Đọc báo biết tin có chiến sĩ liên lạc có thành tích cao, Bác chuyển tới đơn vị một bộ quần áo tặng đồng chí ấy. Gặp ai, không có khăn quàng, Bác cởi chiếc khăn đang quàng, quấn vào cổ khách… Bác thường nói:

– Cụ mặc, chú mặc cũng như tôi mặc. Chú ấm cũng như tôi ấm.

Mùa đông năm 1948, ở Việt Bắc có lẽ là mùa đông rét nhất trong những năm kháng chiến chống Pháp. Quân dân ta tuy đã đánh tan cuộc tấn công thu đông 1947 của giặc Pháp nhưng cũng chưa có điều kiện để trang bị nhiều quần áo, vũ khí cho bộ đội. Năm ấy, ở vùng Thái Nguyên – Tuyên Quang đến 9, 10 giờ sáng mà sương mù vẫn chưa tan, mặt trời vẫn chưa rạng để sưởi ấm cho con người. Rét, lạnh, sương giá nên rất dễ bị ho. Đi phục kích địch mà không giữ được ấm cổ, ho lên vài tiếng có khác gì “lạy ông tôi ở bụi này”. Ở ATK gác đêm mà bị ho thì cũng không có lợi. Anh em đã xin, đã mua và trồng gừng để ngậm, cố giữ ấm ngực, để không bị ho.

Có một chiến sĩ cảnh vệ trẻ, đến phiên gác tại Văn phòng Phủ Chủ tịch. Đêm đã khuya vẫn thấy ngọn đèn trong phòng Bác Hồ sáng. Anh biết là Bác đang còn làm việc. Và anh tự bảo là phải giữ cho đừng ho. “Ho lên là gay lắm, như lời tiểu đội trưởng dặn”. Anh xoa tay vào cổ, ngậm miệng, bịt tay chắn mũi để không cho hơi lạnh vào người… Nhưng rồi anh vẫn ho, ho nhiều…

Nghe tiếng ho, Bác đi ra, đến bên anh, nhìn anh quần áo mỏng manh. Bác nói nhẹ:

– Cháu mặc thế thảo nào chẳng lạnh.

Bác quay vào nhà lấy ra một cái áo trấn thủ, đưa cho anh chiến sĩ:

– Cháu mặc vào cho đỡ rét.

Bác muốn anh chiến sĩ trẻ “cơm chưa no, lo chưa tới” này đỡ khó khăn vất vả. Anh chiến sĩ lại thương Bác nhiều tuổi, trăm công nghìn việc, nên không dám nhận.

Như hiểu ý anh, Bác giục:

– Cháu cứ giữ lấy mà mặc. Bác đã có áo khác rồi. Mặc như thế này làm sao chẳng ho. Thôi, mặc vào cháu.

Và tự tay Bác lồng cái áo trấn thủ vào vai anh lính trẻ.

(Theo Nguyễn Văn Khoan – Trần Quang Khánh – “Bác Hồ với chiến sĩ”
Nxb Quân đội nhân dân, H, 1999, tr.25)

bqllang.gov.vn

Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề quốc tế – Phần 5

V. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỚI THỜI ĐẠI

Tư tưởng của Hồ Chí Minh không phải là tổng hợp các nguồn tư tưởng, lý luận của loài người tiến bộ , không chỉ là sự vận dụng sáng tạo. Qua thực tiễn của phong trào cách mạng Việt Nam, thế giới và bản thân, Người còn phát triển, cụ thể hoá những nguyên lý cơ bản, phổ biến của chủ nghĩa Mác-Lênin. Hồ Chí Minh đã bổ sung, làm sáng tỏ nhiều quy luật phát triển của xã hội loài người nói chung, của các nước thuộc địa và phụ thuộc nói riêng. Những quy luật này, trước đó, chưa biểu hiện hoặc chưa biểu hiện đầy đủ. Cho nên tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là sản phẩm của dân tộc, mà còn là của loài người tiến bộ, của thời đại chúng ta. Với tư cách là một hệ tư tưởng độc lập, tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm tư tưởng về nhiều vấn vấn đề mang tính dân tộc và tính thế giới; là thành tựu tư duy của giai cấp công nhân và loài người tiến bộ.

Khi nghiên cứu tư tưởng của Người, chúng ta không chỉ thấy nó phản ánh những nét riêng của quốc gia, dân tộc Việt Nam, mà còn tìm thấy những nét chung của nhiều nước, nhiều dân tộc khác nhau, chủ yếu là các nước thuộc địa và phụ thuộc. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới, chúng ta cũng bắt gặp nhiều điểm hiện thực Việt Nam, trở thành tiêu biểu, điển hình của các dân tộc cùng chung hoàn cảnh, cùng mục tiêu độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Đây là mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại giữa lịch sử cách mạng Việt Nam với lịch sử cách mạng thế giới, mà Hồ Chí Minh là tiêu biểu của mối quan hệ này. Tuy nhiên tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ có ý nghĩa lịch sử đối với sự phát triển của dân tộc và thế giới, mà còn có ý nghĩa thời đại trước mắt và lâu dài.

Chúng ta biết rằng, bất cứ tư tưởng nào cũng hình thành, tồn tại và tác động ở những thời điểm nhất định, trong những điều kiện lịch sử – xã hội nhất định. Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng không ngoài quy luật ấy. Vậy vì sao tư tưởng Hồ Chí Minh có thể trường tồn, dù “thế giới đã và sẽ còn thay đổi”? Sở dĩ được như vậy vì tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ giới hạn ở hoạt động tư duy và thực tiễn của bản thân Hồ Chí Minh, mà còn là sản phẩm của thời đại. Nó tiếp thu những giá trị, tinh hoa vǎn hoá, tư tưởng của loài người đã trở thành “vĩnh cửu”, nó đáp ứng nhiều vấn đề của thời đại đã và còn tiếp tục đặt ra, cần tiếp tục giải quyết.

Thế giới trong giai đoạn ngày nay có nhiều biến đổi to lớn, sâu sắc, phức tạp, nhưng những vấn đề lớn của thời đại mới bắt đầu từ Cách mạng tháng Mười Nga 1917 vẫn chưa thay đổi. Tính tất yếu của sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội vẫn còn phát huy tác dụng hợp quy luật của nó, dù chủ nghĩa xã hội thế giới đang gặp bước khủng hoảng lớn. Hầu hết các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc trước đây đã giành được độc lập với nhiều hình thức, mức độ khác nhau và đang phát triển mạnh mẽ về kinh tế, nhưng sự lệ thuộc “kiểu mới” của các dân tộc đó vào “chủ nghĩa thực dân kiểu mới” vẫn còn tồn tại. Sự xung đột sắc tộc, chiến tranh đẫm máu giữa các dân tộc anh em vốn cùng trong một liên bang, trong một khu vực; sự trỗi dậy của những tôn giáo gắn liền với chính trị, dân tộc đang ngày càng trở nên quyết liệt phức tạp.

Những “vấn đề toàn cầu” đang trở thành những vấn đề cấp bách, chung cho cả nhân loại phải cùng nhau giải quyết. Sự sa sút về phẩm chất đạo đức của thế hệ trẻ trong một thế giới bị đồng tiền chi phối, vì những cuộc chém giết man rợ, đang đòi hỏi có một đạo đức mới, một chủ nghĩa nhân vǎn mới cho thời đại. Nhiều vấn đề của thời đại chưa được giải quyết cần có một lý luận, tư tưởng phù hợp với yêu cầu của cuộc sống hiện nay. Cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin và những trào lưu tư tưởng tiến bộ khác, tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần tiếp tục giải quyết những vấn đề của thời đại và nó “vẫn sống mãi trong kho tàng vǎn hoá của nhân loại”.

Vậy vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh như thế nào trong thời đại chúng ta? Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải chỉ của riêng Người, dù đó là sản phẩm tư duy của Người; nó là của chung dân tộc, giai cấp, nhân loại. Nó không chỉ tồn tại trong sinh thời Hồ Chí Minh mà tiếp tục được phát triển ở các thế hệ kế tiếp. Sự phát triển ấy được thực hiện qua sự vận dụng sáng tạo, như Hồ Chí Minh đã từng làm với chủ nghĩa Mác-Lênin. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là “Cẩm nang thần kỳ” trong nhận thức và hành động cách mạng của mỗi chúng ta. Song đó không phải là đáp án cho mọi vấn đề, do cuộc sống ngày nay đặt ra, mà cần nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh để vận dụng sáng tạo vào cuộc sống đang diễn ra trong nước và trên thế giới. Cho nên, điều quan trọng trước nhất là tìm hiểu và vận dụng những vấn đề có tính chất phương pháp luận trong tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới nói riêng.

Sự kiên định trong nhận thức và hành động cho mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa được lựa chọn một cách khoa học, hợp với quy luật xã hội loài người là yêu cầu cơ bản về phương pháp luận để vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh đối với thời đại. “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” là cốt lõi của phương pháp luận Hồ Chí Minh để nhận thức và hành động trong thế giới đầy biến động hiện nay. Nói đi đôi với làm thể hiện nguyên tắc phương pháp luận quan trọng của Người về lý luận gắn liền với thực tiễn, về hoạt động cho sự tiến bộ của thế giới không phải bằng lời nói mà bằng hành động thực tế. Luôn luôn vươn tới cái mới, nghiên cứu cái mới với tinh thần đổi mới là nguyên tắc phương pháp luận trong tư duy và hành động của Hồ Chí Minh, phù hợp với yêu cầu phát triển của dân tộc và nhân loại hiện nay.

Từ những nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới và những nguyên tắc phương pháp luận Hồ Chí Minh nêu trên, chúng ta tìm hiểu những vấn đề của tư tưởng Hồ Chí Minh đang soi sáng thời đại chúng ta.

1. Tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh

Tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh. Hiện nay cũng có những quan điểm khác nhau về tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh, dù các nhà nghiên cứu đều thừa nhận rằng tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống dân tộc và tinh hoa nhân loại và được phát triển trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội. Tuy có những cách nhìn nhận khác nhau song có thể tập trung vào mấy ý kiến sau đây. Một số người đặc biệt nhấn mạnh tới cuộc đời “vì nghĩa, quên mình”, sống khiêm tốn, bình dị, hoà nhập với mọi người, không màng danh lợi cho bản thân của mình và xem đó là nội dung cốt lõi của tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh. Có nhà nghiên cứu lại cho rằng chủ nghĩa nhân vǎn Hồ Chí Minh “toát ra từ toàn bộ cuộc đời liên tục đấu tranh không biết mệt mỏi” của Người nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội để cuối cùng đi đến giải phóng con người.

Nói cách khác, theo các tác giả trên thì cả đạo đức, nhân cách và cuộc đời thanh bạch của Người tạo thành một trong những nội dung quan trọng của tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh. Trong nghiên cứu về tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh còn xuất hiện một số ý kiến khác của nhiều học giả, các nhà hoạt động chính trị, xã hội nước ngoài. Họ cho rằng trong con người Hồ Chí Minh có sự kết hợp hài hoà giữa chủ nghĩa nhân vǎn với nhiệt tình và tinh thần cách mạng. T.N. Kaun, Chủ tịch “Trung tâm ấn Độ, nghiên cứu về Đông Dương” đã viết: “Bác Hồ … Người đại diện cho sự vĩ đại vốn có của nhân dân Việt Nam, bình dị, chuyên cần, yêu quý trẻ thơ và thanh niên, thẳng thắn, trung thực chân thành và một ý thức mạnh mẽ về nhân vǎn kết hợp với nhiệt tình và tinh thần cách mạng”. Tiến sĩ M. Atmét, giám đốc UNESCO khu vực châu á – Thái Bình Dương cũng nói: Trong khi chiến đấu cả đời mình chống lại ách thống trị thực dân, Người vẫn là một nhân vǎn chân chính trong tư tưởng và hành động”. Rõ ràng, ở đầy cần phân biệt tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh với nhân cách và hành động cách mạng của Người. Đương nhiên tư tưởng nhân vǎn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, và chính cuộc đời của Người lại là một tấm gương, một biểu hiện cụ thể, tiêu biểu nhất của chủ nghĩa nhân đạo cao cả.

a- Quê hương, đất nước, dân tộc Việt Nam vốn giàu truyền thống nhân ái. Chính vì thế trong chủ nghĩa nhân vǎn Hồ Chí Minh lòng thương người giữ vị trí hàng đầu. Song ở Hồ Chí Minh lòng thương người không chỉ bó hẹp trong tình “yêu nước thương nòi” mà được phát triển ở mức độ cao hơn, nó vượt ra ngoài giới hạn dân tộc, màu da và biên giới quốc gia, trên cơ sở tiếp tục những tư tưởng nhân đạo cao cả của thế giới, đặc biệt là chủ nghĩa nhân đạo cộng sản của C. Mác, Ph. Ǎngghen và V.I.Lênin. Xuất phát từ tình thương yêu đồng bào bị nô lệ, đất nước bị đô hộ mà Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước. Chính cuộc hành trình ấy đã giúp Người nhận ra rằng không phải chỉ ở Việt Nam con người mới bị đoạ đày, đau khổ, mà ở khắp các nước, đâu đâu cũng có những người nghèo khổ, những người bị áp bức bóc lột.

Từ đây tình thương yêu người dân nghèo Việt Nam của Nguyễn ái Quốc đã trở thành tình thương yêu tất cả những con người bị đau khổ, bị đầy đoạ trên thế giới. Khi còn là một đầu bếp trên tàu buôn, Nguyễn Tất Thành đã vô cùng phẫn uất và đau xót khi chứng kiến thực dân Pháp ở cảng Đaca bắt người lao động da đen nhảy xuống biển đang gầm thét nối dây cáp bị đứt để rồi bị sóng nhấn chìm. ở Luân Đôn, Người cũng khóc khi đọc báo biết một nhà yêu nước Ailenông thị trưởng Coóc – tuyệt thực đến chết để chống lại ách thống trị của Anh. ở Pari, Người cũng đã thực sự đau khổ khi kể chuyện về một ông cụ người Pháp xóm Êpinêt cùng khổ, gần xóm Etoen vương giả, đã mất nhà, mất hết vợ con vì chiến tranh, nay phải ngày ngày đứng chờ bữa cháo bố thí. Hồ Chí Minh đã tỏ lòng thông cảm sâu sắc và chia sẻ nỗi khổ với những người nông dân nghèo khổ bị bóc lột ở các nước thuộc địa. “Họ là những người phải làm mọi công việc nặng nhọc, mọi thứ lao dịch. Chính họ làm ra cho lũ ǎn bám, lũ người lười biếng, lũ người đi khai hóa và những bọn khác hưởng. Mà chính họ thì lại phải sống cùng khổ trong khi những tên đao phủ của họ sống rất thừa thãi, hễ mất mùa thì họ chết đói”.

Người thương những em bé người bản xứ vô tội, bị hành hạ, bị “tóm cổ … ném xuống sông”. ở khắp các nước, nơi nào Người đã đi qua, Nguyễn ái Quốc đều cảm thông với nỗi khổ của người dân thuộc địa. Đúng như một nhà thơ Cuba đã nói: “Trong tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người nông dân ở Việt Nam, ở Angiêri, ở Tuynidi, ở Công gô, người bị áp bức ở quần đảo Angtidat, hoặc ở miền Nam già cỗi của nước Mỹ đều có một người nhiệt thành bênh vực mình”. Có thể nói, lòng nhân ái, tình thương yêu con người và vì con người là tư tưởng xuyên suốt và chỉ đạo mọi hành động trong cuộc đời hoạt động giải phóng dân tộc mình và góp phần đấu tranh giành độc lập, tự do cho nhiều dân tộc khác của Hồ Chí Minh.

Nếu trong số đầu tiên báo Người cùng khổ Người đã nói đến việc giải phóng con người, thì trong Di chúc, trước lúc phải đi xa, Người không những để lại “muốn vàn tình thương yêu” cho mọi tầng lớp, lứa tuổi trong nhân dân Việt Nam , không quên cǎn dặn những công việc cần làm sau khi đánh thắng Mỹ, trong đó “đầu tiên là công việc đối với con người”, mà còn “gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế”. Chủ nghĩa nhân vǎn Hồ Chí Minh hướng trước hết vào những con người bị đau khổ, đọa đầy trên khắp hành tinh.

Tình thương yêu của Người không có giới hạn về chủng tộc và biên giới quốc gia. Nhưng chủ nghĩa nhân vǎn Hồ Chí Minh tuyệt nhiên không phải là lòng trắc ẩn. Nó không dừng ở mức xót thương con người một cách thụ động kiểu tôn giáo, cũng không phải là tỏ mối thông cảm từ trên và từ ngoài, không phải bằng cách du thuyết, mà nó kiên quyết và không ngừng đấu tranh để xoá bỏ khổ đau cho con người, làm cho con người đau khổ và các dân tộc bị áp bức tự mình cởi ách ngựa trâu, thoát gông xiềng nô lệ. Càng yêu thương nhân dân bị áp bức, bóc lột, Hồ Chí Minh càng cǎm ghét và tố cáo mạnh mẽ, toàn diện và có hệ thống tội ác của chủ nghĩa thực dân, của chủ nghĩa tư bản đối với các dân tộc thuộc địa, với cả giai cấp vô sản chính quốc.

Từ “Bản án chế độ thực dân Pháp” đến những bài báo, phóng sự, bút ký, truyện ngắn của Người đã làm nổi bật bản chất vô nhân đạo của chủ nghĩa tư bản thực dân và thực chất của cái gọi là “tự do”, “bình đẳng”, “bác ái” và vǎn minh ở các nước tư bản. Người khẳng định “Tất cả những liệt sĩ của giai cấp công nhân, người ở Lôđannơ cũng như những người ở Lơ Havơrơ cũng như những người ở Mactinich đều là nạn nhân của một kẻ sát nhân: chủ nghĩa tư bản quốc tế” và “Lịch sử việc người Âu xâm chiếm châu Phi cũng như bất cứ lịch sử xâm chiếm thuộc địa nào khác thì từ đầu đến cuối đều được viết bằng máu những người bản xứ. Sau những cuộc tàn sát thẳng tay thì chính chế độ lao dịch, khuân vác, lao động khổ sai, rượu cồn, bệnh giang mai tiếp tục hoàn thành công cuộc tàn phá của sự nghiệp khai hoá.

Kết quả tất nhiên của chế độ ghê tởm đó là sự tiêu diệt giống da đen”. Càng thông cảm, thương yêu bao nhiêu đối với những người dân nô lệ, ngòi bút của Hồ Chí Minh càng có sức tố cáo mạnh mẽ bấy nhiêu đối với những kẻ đã gây nên nỗi đau khổ cho họ. Và càng tố cáo mạnh mẽ bao nhiêu càng có sức truyền cảm, thức tỉnh họ đoàn kết đấu tranh để tự giải phóng mình trở thành người chủ thực sự của đất nước mình. Người khẳng định rằng sự đàn áp, khủng bố dã man cùng với chính sách ngu dân của bọn thực dân không thể đè bẹp được ý chí chiến đấu và sức sống mãnh liệt của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới cũng như ở Đông Dương. Đó cũng là mảnh đất cho chủ nghĩa xã hội phát triển.

Hồ Chí Minh đã quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về sự kết hợp nỗi khổ nhục và sự thức tỉnh của lương tri. Con người không chỉ giam mình trong sự ô nhục hoặc chờ đợi sự ban ơn cứu vớt của kẻ khác, mà phải biết nhục và vùng dậy đấu tranh. Quan điểm này của Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện một tư tưởng nhân vǎn cao cả, mà còn là một phương pháp vận động, giáo dục quần chúng bị áp bức ở các nước thuộc địa, phụ thuộc, các nước tư bản đế quốc. Nó đã làm cho ách áp bức hiện thực càng nặng nề hơn nữa bằng cách gắn vào nó cái ý thức về ách áp bức, làm cho sự ô nhục càng ô nhục hơn nữa bằng cách công bố nó lên. Nhấn mạnh đến sự đau khổ cũng như sự nhục nhã gấp hai lần, Hồ Chí Minh đã làm tǎng thêm sức mạnh trong cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc.

Lòng nhân ái của Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất phát từ sự tôn trọng con người, lấy con người làm xuất phát điểm và việc đem lại hạnh phúc cho con người làm mục đích cuối cùng. Bởi vậy, không chỉ tố cáo, cǎm thù tội ác dã man của chủ nghĩa đế quốc, thực dân đối với nhân dân các nước thuộc địa, phụ thuộc, Hồ Chí Minh còn luôn luôn chǎm lo tổ chức, xây dựng khối đoàn kết của nhân dân các nước thuộc địa để thức tỉnh họ vùng lên đấu tranh tự giải phóng, cũng như kêu gọi giai cấp vô sản và nhân dân ở chính quốc, các đảng cộng sản và công nhân trên toàn thế giới tích cực ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Chủ nghĩa nhân vǎn Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân vǎn của dân tộc các nước thuộc địa và phụ thuộc quyết ngẩng đầu lên giành lấy nhân phẩm của mình.

Chính vì thế Hồ Chí Minh luôn dạy rằng “Cuộc chiến đấu vì nhân phẩm và tự do phải được đặt lên trên mọi cuộc chiến đấu khác”. Mohamét Lamari- Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Angiêri tại Việt Nam – đã nhận xét rất đúng rằng “… ưu điểm lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh là không chỉ đấu tranh cho một lá cờ, cho một sự giải phóng ở bề mặt bên ngoài. Người muốn tiến hành một cuộc chiến đấu cho phẩm giá con người, cho sự giải phóng và phúc lợi của toàn dân và nhờ thế mà cuộc cách mạng do Người phát động đã mang tầm cỡ thế giới”. Đối với Hồ Chí Minh, giải phóng xã hội là để đi đến giải phóng con người thoát khỏi mọi sự áp bức bóc lột, bất công, để mỗi người có thể phát huy hết nghị lực sáng tạo của mình. Nhưng hạnh phúc của con người cũng như mọi giá trị đạo đức, mọi giá trị vǎn hoá của con người không phải chỉ dừng lại ở chỗ “ai cũng có cơm ǎn áo mặc, ai cũng được học hành”, mà mục tiêu cuối cùng phải là “tất cả mọi người đều được phát triển hết khả nǎng của mình”.

Theo Người, xã hội sẽ là một vườn hoa đầy hương sắc mà ở đó tài nǎng được tự do phát triển như hoa nở mùa xuân. Điều này biểu hiện một ước mơ cao đẹp của Người là không phải làm cho con người đau khổ, bị đàn áp ở các nước thuộc địa và phụ thuộc được sống trong cảnh thần tiên ở một cõi Thiên đường, cõi Niết bàn nào đó, mà giúp họ xây dựng “bồng lai tiên cảnh” ngay ở hạ giới, trên đất nước đã được giải phóng, bằng chính sức lực của mình. Cái hay, cái vĩ đại của tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh không phải ở chỗ làm cho người ta sống bằng mơ ước, chờ đợi, hy vọng mà bằng ý thức và hành động trong đấu tranh và xây dựng cuộc sống hiện tại của mình và cho mai sau của con cháu.

b- Trong chủ nghĩa nhân vǎn Hồ Chí Minh, lòng nhân ái giữ vị trí hàng đầu, song nó không bó hẹp lòng thương người ở tình nghĩa đồng bào, những “người trong một nước phải thương nhau cùng”, mà mở rộng đến khắp nǎm châu bốn bể. Người luôn coi con người và cuộc sống ở bất cứ nơi đâu đều là giá trị cuối cùng và cao nhất phải đấu tranh giành được. Khác với chủ nghĩa nhân vǎn tư sản chỉ đề cao chủ nghĩa cá nhân mà không hề đả động đến việc giải phóng con người lao động, tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh đề xướng việc giải phóng hoàn toàn con người, mà trước hết và chủ yếu là giải phóng con người lao động bị áp bức bóc lột, thủ tiêu mọi gông xiềng nô lệ, bất công, đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc, cơm no áo ấm cho các dân tộc và mỗi con người.

Cho nên, chủ nghĩa nhân vǎn Hồ Chí Minh mang tính dân tộc, tính quốc tế và tính giai cấp sâu sắc. Qua hàng trǎm bài báo của Hồ Chí Minh với nhiều bút danh khác nhau, qua tuyên ngôn và hiệu triệu của các tổ chức Liên hiệp thuộc địa, Quốc tế nông dân, v.v. mà Hồ Chí Minh là một trong những người sáng lập hoặc lãnh đạo, người ta thấy nổi lên cuộc sống đau khổ, đói khát của những người phụ nữ Tây Phi, của người phu khuân vác ở các bến cảng Rufisco, Đaca, Braxin…, của người công nhân đồn điền ở Angiêri, Tuynidi, Marốc, Xyri, Libǎng…, của những người nông dân, kẻ hành khất ở Ghinê, Đahômây, Máctinich, v.v..

Tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh bao giờ cũng gắn liền hạnh phúc của những con người bị áp bức, bị đoạ đầy thuộc các dân tộc bị thống trị và lệ thuộc ở thuộc địa, với độc lập dân tộc, với tự do của giai cấp được giải phóng. Vì thế Người cho rằng muốn giải phóng con người trước hết phải giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc. Quan điểm này thấu suốt trong cả cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh: “Người có lòng nhân đạo là người lạc quan, có một lòng thương cao cả đối với nhân loại, đối với nhân dân, đồng chí bạn bè của mình. Người ta không thể nói gì đến lạc quan hay tự trọng nếu người ta không có chút thương yêu đối với Tổ quốc, đối với nhân dân của mình. ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, tình yêu này thật trong sáng và sâu rộng”.

Lòng yêu thương con người gắn chặt với tình yêu Tổ quốc và Dân tộc đã thúc giục Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Và trong hàng chục nǎm dài đầy khó khǎn, nguy hiểm ở nước ngoài, lúc nào Người cũng hướng về đất nước, quan tâm đến cuộc sống bị đoạ đầy của nhân dân Việt Nam, của nhân dân nhiều nước thuộc địa khác, trước hết là nhân dân hai nước anh em Lào và Campuchia. Trong bài “Khai hoá giết người” in trên báo Người cùng khổ ngày 1 tháng 8 nǎm 1922 Người đã nêu cái nghịch lý vô nhân đạo: “Trong lúc ở Mácxây người ta triển lãm cảnh phồn thịnh giả tạo của xứ Đông Dương thì ở Việt Nam đang có những người bị chết đói. ở bên này người ta ca tụng lòng trung thành thì ở bên kia người ta đang giết người . Cảnh tượng này được diễn ra nhan nhản ở các nước thuộc địa và “chính quốc”.

Sau ngày trở thành Chủ tịch nước, mặc dù bận trǎm công nghìn việc trọng đại, Người vẫn rất quan tâm đến cuộc sống của nhân dân, đặc biệt đối với nhân dân miền Nam đang chịu nhiều đau khổ do đế quốc Mỹ và nguỵ quyền gây nên. Người nói “miền Nam luôn ở trong trái tim tôi”. Ngay cả trước lúc “đi xa”, Người vẫn nhớ “để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng”. Khi đi thǎm bất cứ nước nào, Người đều dành thời gian tiếp xúc với nhân dân lao động. Đặc biệt, đối với các cháu thiếu niên nhi đồng, Hồ Chí Minh không chỉ là “Bác Hồ” của nhân dân, của thiếu nhi Việt Nam, mà của cả nhân dân, thiếu nhi nhiều nước trên thế giới.

Chính lòng nhân ái, tư tưởng nhân vǎn của Người là một yếu tố đã chinh phục được nhân dân thế giới. ở chủ nghĩa nhân vǎn Hồ Chí Minh, không có tình yêu thương con người chung chung, mà chỉ có tình thương yêu dành cho người bị áp bức, nghèo khổ ở bất cứ nước nào. Người đã phân biệt bạn, thù rõ rệt, phân biệt nhân dân Pháp, Mỹ với những bọn thực dân đế quốc là người Pháp, Mỹ – những kẻ chủ mưu xâm lược, nuôi mộng thôn tính các dân tộc nhỏ yếu và đẩy nhân dân nước họ đến chỗ chết chóc. Vì vậy, Hồ Chí Minh bao giờ cũng độ lượng, khoan dung với những người lầm đường lạc lối đi đánh thuê cho bọn thực dân đế quốc.

Với ý nghĩa đó, tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh là tư tưởng nhân vǎn của những người nghèo khổ trên thế giới. Tình yêu thương dân tộc trong Hồ Chí Minh đã quyện chặt với tình yêu thương nhân loại bị áp bức bóc lột. Đó là lý do vì sao tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh được ca tụng, được noi theo và dần dần trở thành tư tưởng của thời đại. Nó không chỉ có tác dụng trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do, mà còn phát huy ảnh hưởng trong công cuộc xây dựng xã hội vǎn minh, tiến bộ sau khi các dân tộc đã thoát được ách đô hộ của thực dân. Trong tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh, việc giải phóng người lao động không chỉ là sự giải phóng khỏi sự thống trị của nước ngoài, mà phải vươn lên làm chủ khoa học kỹ thuật để xây dựng đất nước.

Nǎm 1921, khi tiên đoán “sự bùng nổ ghê gớm” của nhân dân Đông Dương và nhân dân các nước thuộc địa, Nguyễn ái Quốc không phải chỉ nghĩ đến sự vùng dậy đấu tranh bạo lực chống đế quốc, thực dân, mà còn chờ đợi một sự “bùng nổ” tiếp theo, nhân dân bắt tay xây dựng cuộc sống mới sau khi dân tộc được giải phóng. Dự đoán thiên tài ấy ngày nay đang trở thành hiện thực ở các nước độc lập dân tộc đang vươn lên trong sự phát triển mạnh mẽ về khoa học kỹ thuật, về kinh tế. c- Để thực hiện sự “ham muốn tột bậc” duy nhất của mình là làm cho “dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ǎn áo mặc, ai cũng được học hành”, chủ nghĩa nhân vǎn Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng một xã hội mới với những con người mới phát triển toàn diện.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, suy cho cùng là nhằm giải phóng sức lao động, phát triển sản xuất, xây dựng một xã hội mới mà trong đó mọi người đều được phát huy hết khả nǎng sáng tạo của mình. Giải phóng con người, giải phóng sức lao động- đó vừa là mục tiêu vừa là phương tiện để cải tạo xã hội cũ xấu xa thành xã hội mới tươi đẹp. Xã hội đó chính là xã hội xã hội chủ nghĩa. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, xã hội chủ nghĩa không phải là một cái gì cao siêu. Người chỉ rõ: “Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và vǎn hoá của nhân dân và do nhân dân tự xây dựng lấy”. Một xã hội như thế chỉ có thể đạt được nhờ sự giác ngộ đầy đủ và lao động sáng tạo của hàng chục triệu người. Vì thế, theo Hồ Chí Minh, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản phải xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, con người cộng sản chủ nghĩa.

Con người mới xã hội chủ nghĩa đó trước hết phải là con người có hoài bão cứu nước, giải phóng cho nhân dân và có tinh thần quốc tế vô sản, phải “lấy việc xây dựng tự do, hạnh phúc cho tất cả mọi người làm lý tưởng cao cả, làm hạnh phúc lớn của mình”. Những con người mới đó sẽ được tự do phát triển hết tài nǎng của mình vì họ là người chủ thực sự của đất nước. Trong một bức thư gửi cho các cháu thiếu nhi, Người viết: “Từ chỗ là “bầy nô lệ trẻ con” chúng ta đã trở thành “tiểu chủ nhân” của một “đất nước độc lập”.

Khẳng định con người là vốn quý nhất, Hồ Chí Minh luôn quan tâm làm sao để mọi người đều được tự do lao động, tự do phát triển đời sống vật chất và vǎn hoá của mình, “làm sao cho dân đủ ǎn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy đều được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động thì được nghỉ. ..” , nhưng đồng thời cũng phải làm sao để mỗi một bộ phận xã hội, mỗi một giai cấp, tập thể hay cá nhân đều phải “thấy mình cũng là một bộ phận làm chủ của nước nhà”. ở đây chủ nghĩa nhân vǎn Hồ Chí Minh không chỉ là “một chủ nghĩa nhân vǎn thấm nhuần bản chất vô sản” mà còn là tư tưởng nhân vǎn tiêu biểu của một thời đại tương lai.

Đánh giá về giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay, trong đó có tư tưởng nhân vǎn, giáo sư sử học ấn Độ Xanti Mauroi đã viết: “Ngày nay… nhân loại dần dần đang nhường bước cho sự xuất hiện tàn nhẫn của ham muốn cá nhân, ích kỷ để thống trị như chưa hề thấy. Chính sự xuyên tạc của giá trị nhân đạo đã làm nảy sinh những sự thiên lệch nghiêm trọng khác, xa rời khỏi con đường biến đổi cách mạng về xã hội và vǎn hoá của con người ở xung quanh ta. Điều cần đến là cuộc nổi dậy về đạo đức, một sự phục hưng mới, chống lại quá trình bất ổn định phi nhân tính này, ít nhiều nổi bật khắp thế giới. ở giữa cơn khủng hoảng này, nhân loại đã sản sinh ra những danh nhân lỗi lạc làm nên thời đại như Lênin, Hồ Chí Minh và Gǎngđi, là những người đã để lại những dấu ấn không thể sai lầm của mình để được tiếp tục theo đuổi trong các đảo lộn nhiều biến động”.

Lời nhận định trên đây đã nói lên tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh có giá trị to lớn như thế nào trong thời đại ngày nay, khi mà nhiều thế lực đang giương cao ngọn cờ “nhân quyền” mà thực chất là đòi can thiệp vào đời sống xã hội của các nước có chế độ chính trị khác nhau. Lòng nhân ái rộng lớn, tình thương yêu nhân loại bị áp bức của tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh đối lập hoàn toàn với chủ nghĩa nhân vǎn tư sản. Nếu chủ nghĩa nhân vǎn tư sản trong khi đề xướng việc giải phóng cá nhân con người khỏi mọi ràng buộc của chế độ phong kiến không hề đả động đến việc giải phóng cá nhân con người lao động, thì tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh lại đề xướng việc giải phóng hoàn toàn con người, mà trước hết và chủ yếu, là giải phóng con người lao động bị áp bức, bóc lột trên toàn thế giới.

Nếu chủ nghĩa nhân vǎn tư sản lấy chế dộ tư hữu và chủ nghĩa cá nhân làm cơ sở cho lý tưởng nhân đạo của mình, mà bản chất của nó là chống lại con người bị áp bức bóc lột – lực lượng đông đảo nhất của xã hội -, thì tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh lại lấy tư tưởng Mác – Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học làm cơ sở lý luận, mang bản chất giải phóng hoàn toàn con người khỏi mọi áp bức bóc lột và bất công xã hội. Tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh “xuất hiện trước mặt ta như ngọn hải đǎng dẫn đường cho cuộc chiến đấu sống còn của chúng ta”. Tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh gắn liền tình cảm, lý tưởng với hành động cách mạng để thực hiện mục tiêu giải phóng các dân tộc bị áp bức, giải phóng giai cấp bị bóc lột, giải phóng người lao động. Vì vậy nó mang tính thực tiễn sâu sắc và tính thời đại rộng lớn. “Chủ nghĩa nhân vǎn Hồ Chí Minh đặc biệt trong sáng và cao cả vì người cưu mang nó là một người vì nghĩa quên mình, suốt đời tận tuỵ mà không nghĩ đến bản thân, danh lợi”.

Thế giới đã nói nhiều đến chiến thắng thực dân, đế quốc của nhân dân Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Có thể nói thêm rằng vượt lên trên tinh thần dũng cảm, hy sinh, sức kiên trì chịu đựng, sự khôn khéo về tài nǎng chỉ đạo chiến thuật và tầm nhìn chiến lược, là sự chiến thắng của chủ nghĩa nhân vǎn kiểu mới và đích thực – chủ nghĩa nhân vǎn Hồ Chí Minh. Chỉ có tinh thần nhân vǎn kiểu mới ấy mới có ý thức và sức mạnh giải phóng con người quyết liệt và thành công đến như thế. Vì vậy nó đã nâng cao tinh thần đấu tranh bất khuất, làm hồi sinh sức sống mãnh liệt của các dân tộc đang chiến đấu để thực hiện những quyền cơ bản và sự phát triển toàn diện của con người.

Với ý nghĩa đó, bà Laila Enghebali – biên tập viên đối ngoại của báo Cộng hoà (Cộng hoà Arập thống nhất) – đã viết: “Bác Hồ đã gieo những hạt giống cho cuộc đấu tranh của chúng tôi. Bác Hồ đã gieo những hạt giống cho cuộc đấu tranh cách mạng ở tất cả các nơi đang bị áp bức, bóc lột. Người đã thành công trong việc gieo trồng những giá trị vǎn minh nhất, nhân đạo nhất trong tâm trí mỗi người công dân Việt Nam. Chắc chắn Người cũng là vị lãnh tụ xã hội chủ nghĩa nhân đạo, vǎn minh, vĩ đại nhất chưa từng có trong thời đại chúng ta”.

2- Tư tưởng Hồ Chí Minh với những vấn đề toàn cầu hiện nay.

Trong mấy thập kỷ gần đây nhiều vấn đề mới nảy sinh, có liên quan đến tất cả mọi người trên hành tinh chúng ta, không loại trừ bất cứ nước nào, dân tộc nào. Đó là những vấn đề toàn cầu. Những vấn đề toàn cầu gồm các vấn đề về nguyên liệu, nǎng lượng, môi trường sống, thực phẩm, dân số, những vấn đề về hoà bình, chinh phục vũ trụ, khai thác tài nguyên dưới đại dương, phòng ngừa và đẩy lùi bệnh tật, xoá đói, giảm nghèo, chống thất học. Có thể đưa những vấn đề nêu trên vào hai loại chính: về mối quan hệ giữa con người với nhau trong xã hội; về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với môi trường sống.

Nguyên nhân nào khiến cho các vấn đề nêu trên trở thành những vấn đề toàn cầu?

Có những nguyên nhân mang tính chất xã hội – kinh tế, có những nguyên nhân mang tính chất khoa học – kỹ thuật. Sinh thời Hồ Chí Minh, những vấn đề toàn cầu chưa được đặt ra, cho nên Người cũng không thể có ý kiến về việc giải quyết những vấn đề như vậy. Song trong kho tàng tư tưởng của Người, chúng ta có thể rút ra những bài học, kinh nghiệm bổ ích, những tư tưởng chỉ đạo có giá trị để giải quyết các vấn đề của ngày nay. Gần nửa thế kỷ trước đây, tại Đại hội lần thứ hai của Đảng (1951) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn thấy sức mạnh của lực lượng sản xuất, ý nghĩa và tác động của việc sử dụng thành quả khoa học – kỹ thuật theo những mục đích, quyền lợi khác nhau.

Điều đó có nghĩa là, thực tiễn phát triển lịch sử, các quan hệ của con người với thế giới chung quanh, tác động của thiên nhiên, môi trường sống đến xã hội không chỉ phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, những mặt tổ chức và kỹ thuật, mà còn phụ thuộc vào những mối quan hệ kinh tế – xã hội. Hồ Chí Minh chỉ rõ những phát minh to lớn về chiếu bóng, vô tuyến điện, vô tuyến truyền hình cho đến sức nguyên tử làm cho loài người đã tiến một bước dài trong việc điều khiển sức thiên nhiên, nhưng đồng thời nó cũng gây nên những biến đổi mau chóng hơn và quan trọng hơn về mặt xã hội. Đó là việc chủ nghĩa tư bản từ chỗ tự do cạnh tranh, đã đổi ra độc quyền lũng đoạn, đã tiến lên chủ nghĩa đế quốc.

Quan trọng nhất là “Cách mạng tháng Mười Nga thành công… và gần một nửa loài người đã tiến vào con đường dân chủ mới, những dân tộc bị áp bức lần lượt nổi dậy chống chủ nghĩa đế quốc, đòi độc lập tự do”. Hồ Chí Minh đã đánh giá tính chất của thời đại ở hai mặt gắn chặt nhau: sự phát triển của lực lượng sản xuất qua sự tiến bộ của khoa học – kỹ thuật và những biến đổi to lớn về chính trị – xã hội, có ảnh hưởng quyết định đến lịch sử loài người. Sự phát triển về mặt khoa học – kỹ thuật tạo điều kiện cho con người khai thác ở thiên nhiên nhiều tài nguyên phục vụ cho cuộc sống của mình; mặt khác sự “bóc lột” thiếu tổ chức, không tuân theo quy luật của tự nhiên cũng đem lại nhiều hậu quả nghiêm trọng và con người sẽ phải bị “trừng phạt” nặng nề.

Sự “phản ứng” của tự nhiên đã bắt đầu cản trở bước tiến của sản xuất xã hội, tác động tiêu cực đến bản thân con người. Sự xung đột giữa con người và tự nhiên đã mang tính toàn cầu. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta góp phần vào việc tìm hiểu những nguyên nhân xã hội – kinh tế của những vấn đề toàn cầu.

a- Vấn đề chiến tranh và hoà bình đang là “điểm nóng” của thế giới. Sức tàn phá của chiến tranh huỷ diệt sẽ to lớn về các mặt kinh tế, chính trị, những hậu quả của nó về tâm lý, xã hội cũng nặng nề. Ngǎn chặn chiến tranh, bảo vệ hoà bình là nhiệm vụ trọng tâm của loài người, và ở đây chúng ta có thể tìm được phần nào lời giải đáp trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

b- Vấn đề bảo vệ tài nguyên thiên nhiên ngày nay đang được đặt ra khẩn cấp về sự khai thác và tàn phá của con người làm cho tài nguyên ngày càng cạn kiệt. Việc sử dụng diện tích canh tác trở nên vô cùng khó khǎn, do người thì sinh sôi nảy nở nhanh chóng mà đất đai không những không được mở mang mà còn bị thu hẹp nhiều.

Hiện nay, con người trên hành tinh sử dụng khoảng 1,5 tỉ hécta ruộng đất (từ 10-11% mặt địa cầu), nếu kể cả đồng cỏ, đất rừng thì tỉ lệ ấy cũng chỉ khoảng 15-20%, mà hàng nǎm thế giới bị mất 6-7 triệu hécta đất tốt. Cùng với sự gia tǎng dân số, diện tích canh tác hàng nǎm cứ bị thu hẹp dần. Các nguồn tài nguyên khác cũng đang cạn dần. Với tốc độ khai thác hiện nay, mỗi nǎm thu được 600 tỉ tấn dầu mỏ, thì liệu con người còn có thể sử dụng loại nhiên liệu quý này trong bao nhiêu nǎm nữa?

Theo tính toán của các nhà bác học thời gian khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên dưới đất được tồn tại như sau: nhôm đủ dùng cho 570 nǎm; sắt trong 250 nǎm; kẽm 25 nǎm; đồng 29 nǎm; chì 19 nǎm; thiếc 35 nǎm… Theo dự tính đến nǎm 2500 việc khai thác các quặng mỏ kim loại sẽ kết thúc, trong số đó các loại mỏ quý càng sớm chấm dứt (vàng, bạc, bạch kim, đồng, niken… vào nǎm 2000-2100; côban, mǎnggan, nhôm vào khoảng nǎm 2100-2200…). Việc khai thác nguồn nước làm thuỷ điện – than trắng – cũng không tồn tại được lâu, vì rừng đầu nguồn bị tàn phá. Việt Nam cũng không nằm ngoài tình trạng ấy, có thể càng tệ hơn vì nạn khai thác bừa bãi, tuỳ tiện, vì sự tàn phá rừng và các nguồn nước.

Những lời di huấn của Hồ Chí Minh về bảo vệ “rừng vàng, bể bạc”, giúp chúng ta hiểu tính cấp thiết của gìn giữ, khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

c- Vấn đề môi trường sinh thái ngày nay cũng là vấn đề cấp thiết đối với con người, vì sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp hiện đại, vì sự tàn phá của chiến tranh và nguy cơ chiến tranh hạt nhân. Hậu quả của môi trường sống ngày một xấu đi có ảnh hưởng đến khí hậu, sức khoẻ, mọi lĩnh vực khác của đời sống con người.

Mỗi nǎm bầu khí quyển tiếp nhận một khối lượng lớn chất thải của con người: 250 triệu tấn bụi, gần 70 triệu mét khối hơi đất, gần 145 triệu tấn điôxítsulfua (lưu huỳnh),1 triệu tấn hợp chất chì, hàng chục vạn tấn hợp chất khác. Chất thải vào không trung phá huỷ tầng ôdôn, làm bức xạ mặt trời tǎng lên, làm ô nhiễm môi trường sống. Tài liệu về việc giảm lượng nước ngọt đã minh chứng hậu quả trên. Theo số liệu khoa học, hiện nay trên hành tinh chúng ta có 1,4-1,6 tỷ km3 nước. Trong khối lượng này, nước ở các đại dương chiếm 94%, nước trong các tầng bǎng giá, trong bầu khí quyển chiếm 2%; nước dùng cho sinh hoạt chiếm tỷ trọng rất nhỏ lại phân phối không đều ở các khu vực và bị ô nhiễm. Mỗi nǎm 160 km3 nước thải công nghiệp làm bẩn 4000km3 nước sông các vùng dân cư. ở một vài nước công nghiệp phát triển, 25% nước các dòng sông bị ô nhiễm nặng.

Việc khai thác dầu mỏ ở thềm lục địa thế giới, mỗi nǎm thu 13-14 triệu tấn dầu thô lại làm bẩn 13-14 nghìn m3 nước đại dương; đó là chưa kể việc cháy các giếng dầu (mà nguyên nhân chủ yếu là do chiến tranh), nạn đắm tàu chở dầu gây ra sự ô nhiễm lâu ngày ở một vùng biển rộng lớn. Diện tích rừng được che phủ bằng cây xanh trên thế giới giảm đáng kể. Những khu rừng nguyên sinh trở thành của hiếm. ở nhiều nước, đồi trọc, núi trọc trở nên phổ biến. Rừng trên thế giới hiện chỉ còn khoảng 3,9 tỷ hécta; diện tích mất rừng đã lên tới 9,3 tỷ hécta, gấp hơn 2,5lần diện tích rừng hiện có. Theo số liệu của FAO nǎm 1981, cứ mỗi phút có những 20-40 hécta rừng trên thế giới bị phá. Rừng bị tàn phá, môi sinh của nhiều giống thực vật, động vật cũng không còn.

Cùng với nạn sǎn bắn, nhiều động vật quý bị diệt chủng dần và mất nơi sinh sống. Mâu thuẫn giữa môi trường tự nhiên và cuộc sống con người trên hành tinh trở nên gay gắt. Công nghiệp hoá và đô thị hoá, những điều kiện mới của lao động và sinh hoạt, cơ giới hoá và tự động hoá sản xuất, sự phát triển mạnh mẽ của hoá học, sự thay đổi hệ môi sinh, sự tàn phá và làm biến đổi nhanh chóng thiên nhiên của con người. Nó đặt ra các vấn đề cấp thiết, có tính chất toàn cầu là phải giải quyết sự cân bằng giữa con người và thiên nhiên.

Hồ Chí Minh chưa có điều kiện để suy nghĩ toàn diện, sâu sắc những vấn đề môi trường sinh thái, đang đặt ra cho ngày nay. Song, trong cuộc đấu tranh cứu nước, Người đã ý thức về quan hệ giữa môi trường thiên nhiên với hoạt động và sinh sống của con người, nhất là thời kỳ hoạt động bí mật và kháng chiến. Người cǎn dặn cán bộ phải tìm nơi làm việc ǎn ở sao cho: “Trên có núi Dưới có sông Có đất ta trồng Có bãi ta vui…” Một sự hài hoà trong cuộc sống của con người, lại thuận lợi cho công cuộc cách mạng! Trong xây dựng hoà bình ở miền Bắc, Hồ Chí Minh quan tâm nhiều đến việc “phải đấu tranh chống những tai hoạ của thiên nhiên…”, đến việc “trồng cây” và “bảo vệ rừng”. Chủ trương “Tết trồng cây” của Hồ Chí Minh xây dựng theo phong tục tập quán của dân tộc nhằm mục đích làm cho nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu sẽ hiền hoà hơn, cây gỗ sẽ đầy đủ hơn… góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta”.

Tác dụng của chủ trương này không chỉ ở mặt kinh tế, mà còn thể hiện một cách tổng hoà các mặt kinh tế, xã hội, chính trị, khoa học, thẩm mỹ. ý nghĩa của nó không chỉ giới hạn trong nước mà lan rộng trên thế giới. Có thể xem Hồ Chí Minh là một trong số ít người của thời đại chúng ta có ý thức và quyết tâm thực hiện việc “trồng cây gây rừng” để “ảnh hưởng tới khí hậu và sức khoẻ của nhân dân”. Theo Người, công việc này “chẳng những có ý nghĩa kinh tế to lớn mà còn có ý nghĩa chính trị to lớn”.

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh chúng ta còn tìm thấy những lời dự đoán tài tình, những lời rǎn dạy quý báu về bảo vệ thiên nhiên: “nếu rừng kiệt thì không còn gì, vì mất nguồn nước thì ruộng mất màu, gây ra lụt và hạn hán”. Người cǎn dặn”phải có kế hoạch trồng rừng và tích cực bảo vệ rừng…, phải bảo vệ rừng như bảo vệ nhà cửa của mình”.

Ngày nay khi hành tinh của chúng ta vang lên tiếng kêu cứu vì bị tàn phá dữ dội, khi nhân loại nhận thức được đầy đủ ý nghĩa của việc trồng cây, gây rừng, bảo vệ rừng và môi trường sinh thái, chống lại nguy cơ thừa cácbonníc, chống lại thiên tai do biến đổi đột ngột về thời tiết, khí hậu, khi mà nhân dân lao động thế giới đấu tranh chống các nước phát triển có thái độ vô trách nhiệm với việc bảo vệ môi trường sống, thì những ý kiến của Hồ Chí Minh nêu trên có giá trị nhân vǎn, khoa học rất lớn. Xuất phát từ quan điểm chǎm lo mọi mặt đời sống nhân dân, Hồ Chí Minh quan tâm đến đời sống của con người.

Nǎm 1947, với bút danh “Tân Sinh”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm Đời sống mới, đề cập toàn diện đến các vấn đề của đời sống, trong đó có môi trường sống. Trong xây dựng nông thôn mới ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở nhân dân “phải giữ gìn vệ sinh, ǎn sạch, uống sạch, ở sạch thì sức mới khoẻ; sức càng khoẻ thì lao động sản xuất càng tốt”. Và “muốn có vệ sinh phải có nước sạch, muốn có nước sạch phải đào giếng, đào nhiều giếng sẽ có nhiều nước sạch”. Những điều chỉ dẫn của Ngừơi thể hiện đặc trưng của tính vǎn hoá rộng lớn của cộng đồng người, nó vẫn có giá trị trong thời đại ngày nay, đặc biệt đối với các dân tộc kém phát triển, vừa thoát khỏi sự thống trị của chủ nghĩa thực dân.

Khi chǎm lo đến đời sống yên vui, hoà bình của nhân dân lao động, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên quyết và gay gắt lên án những kẻ chế tạo và âm mưu sử dụng vũ khí giết người hàng loạt gây tác hại lớn với môi trường sống. Người cho rằng việc thử bom hạt nhân ở khu vực Thái Bình Dương gây nên “mưa phóng xạ sẽ tràn về phương Nam đến Inđônêxia, ấn Độ, Nam Việt Nam, châu Phi, châu Nam Mỹ…”cho nên phải kiên quyết đòi triệt để cấm vũ khí hạt nhân, vũ khí hoá học huỷ diệt môi trường, gây thảm hoạ cho nhân dân lao động thế giới”. Một điều chúng ta rút ra từ tư tưởng Hồ Chí Minh là cuộc đấu tranh bảo vệ môi trường, tổ chức đời sống mới phải gắn liền với đấu tranh chống chiến tranh đế quốc, bảo vệ hoà bình thế giới.

d- Việc xoá đói, giảm nghèo, chống mù chữ, phòng trừ bệnh tật cũng là vấn đề lớn của thời đại, mà nhân loại phải cùng nhau giải quyết. Một vấn đề lớn đang đặt ra cho loài người là “sự bùng nổ” dân số. Nǎm 1000 dân số thế giới mới có 265 triệu người, nǎm 1990 đã tǎng lên 4630 triệu và hiện nay đã vượt con số 5 tỷ người. Theo dự đoán, đến nǎm 2000, dân số toàn cầu sẽ đạt đến mức 6,2 tỷ, nǎm 2010 là 7 tỷ và đến 2050 sẽ có 10-12 tỷ người. Tốc độ tǎng dân số cũng quá nhanh: trong khoảng từ nǎm 1800 đến nǎm 1849, tỷ lệ tǎng dân số trên thế giới trung bình là 0,5%; đến những nǎm 1965-1975 tỷ lệ này là 2% và đến những nǎm 1980-1983 hạ xuống còn 1,7%. Song tỷ lệ tǎng dân số ở một số nước, chủ yếu là các nước kém phát triển vẫn còn khá cao: 3-4%.

Việc tǎng dân số kéo theo nhiều hậu quả lớn. Số dân tập trung ở các đô thị quá cao, không có đủ điều kiện vật chất cần thiết để đảm bảo cho cuộc sống người lao động; nạn mù chữ phát triển, hiện nay số người không biết đọc, biết viết trên thế giới lên tới 820 triệu người, chủ yếu tập trung ở các nước chậm phát triển; dự tính đến nǎm 2000 con số này sẽ tǎng lên 1 tỷ. Nạn đói cũng là cǎn bệnh kinh niên của nhân dân lao động ở các nước vốn là thuộc địa, phụ thuộc cũ.

Hiện nay có nhiều nguyên nhân đưa đến nạn đói và mức sống thấp ở các nước kém phát triển và nguyên nhân quan trọng nhất là do dân số tǎng nhanh mà sản xuất còn thấp. ở Bǎngđalét, lương thực chỉ tǎng 1,8% mà dân số tǎng 3% mỗi nǎm. ở châu Phi, lương thực tǎng 1-1,5%, dân số lại tǎng 2,9-3%. Nếu ở các nước phát triển, khẩu phần ǎn mỗi người được đảm bảo 3200-3400 calo, thì ở các nước kém phát triển chỉ đạt được 2200 calo, nhiều khi giảm xuống 1700-1500 calo. Tình trạng bệnh tật còn khá nghiêm trọng ở các nước đói kém. Những bệnh thời đại như AIDS, ung thư… vẫn là mối hiểm hoạ cho cả nhân loại. Hồ Chí Minh chưa có dịp đề cập đến các vấn đề nêu trên, nhưng trong hoạt động của mình, đặc biệt từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, Người đã hết lòng chǎm lo đến đời sống nhân dân.

Việc chống giặc đói, giặt dốt được đặt ngang hàng với việc chống ngoại xâm, thể hiện tư tưởng chiến lược của Người không chỉ với dân tộc mà cả với thời đại, tư tưởng này phát huy tác dụng trong công cuộc xây dựng xã hội mới của nhân dân các nước đã giành được độc lập. Những nhận thức của Người như: “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, con đường để xoá đói, giảm nghèo là tǎng gia sản xuất vẫn còn nguyên giá trị đối với các dân tộc. Tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa lịch sử và mang tính chất thời đại.

Những giá trị đích thực của tư tưởng này đã trở thành bài học kinh nghiệm cho hiện tại, soi sáng nhận thức và hành động của việc thực hiện một tương lai hợp lôgích của sự phát triển xã hội. Việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là yêu cầu của cuộc sống, là sự đảm bảo cho việc giải quyết những vấn đề lớn của thời đại, nổi bật là những vấn đề toàn cầu.

KẾT LUẬN

Tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới thể hiện thế giới quan của dân tộc Việt Nam, của giai cấp công nhân, đồng thời phản ánh quan điểm, nhận thức của nhân loại tiến bộ, mà chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc lý luận chủ yếu. ở đây, chúng ta nhận thấy, Hồ Chí Minh quán triệt, vận dụng những quan điểm cơ bản của các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học, song tài nǎng trí tuệ, kinh nghiệm thực tiễn cách mạng của bản thân Hồ Chí Minh đã làm phong phú, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, đã có những đóng góp thiết thực to lớn vào lý luận về giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội của các dân tộc vốn là thuộc địa và phụ thuộc. Tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới hình thành và phát triển trong những điều kiện cụ thể của hoàn cảnh lịch sử.

Những điều kiện ấy chế định tư tưởng của Hồ Chí Minh, song Hồ Chí Minh đã tạo được sự thống nhất giữa điều kiện khách quan với nǎng lực tư duy và hoạt động thực tiễn của bản thân. Sự thống nhất là một nhân tố đảm bảo được sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam, góp phần vào sự thành công của cách mạng thế giới. Hồ Chí Minh đã xác nhận quy luật mà V.I. Lênin đề xuất về sự thống nhất của những nhân tố khách quan và chủ quan trong hoạt động cách mạng. ý nghĩa lịch sử của tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới được xác nhận bởi những luận điểm quan trọng của Người về cách mạng thế giới, đặc biệt về cách mạng giải phóng dân tộc, và những kết quả thực tiễn trong cuộc sống mà Người đã góp phần tạo nên. Những sự xuyên tạc, bịa đặt hòng hạ thấp công lao, cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh đều bị sự thực khách quan bác bỏ. Tính chất thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới càng quan trọng, thiết thực đối với cuộc sống ngày nay của các dân tộc, nhất là nhân dân các nước kém phát triển, vừa giành được độc lập, tự do. ý nghĩa lịch sử, tính chất thời đại của một sự kiện, một tư tưởng quan hệ mật thiết với nhau.

Những giá trị đích thực của quá khứ bao giờ cũng là bài học, kinh nghiệm cho hiện tại, soi sáng nhận thức và hành động ở hiện tại và thực hiện một tương lai hợp lôgích của sự phát triển xã hội. Cho nên chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là “nền tảng tư tưởng”, “kim chỉ nam cho hành động” của chúng ta. Sức sống của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới nói riêng, là một hiện tượng hợp quy luật. Tư tưởng nào cũng sinh ra trong những bối cảnh, điều kiện lịch sử nhất định và tồn tại trên những cơ sở đã tạo nên nó. Nhưng tư tưởng Hồ Chí MInh, cũng như những tư tưởng tiến bộ khác vẫn “sống mãi” và nó kế thừa những giá trị “vĩnh cửu” của nhân loại, đáp ứng được những yêu cầu của thời đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một đóng góp vào kho tàng vǎn hoá nhân loại. Hơn nữa, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là kết quả nǎng lực tư duy và hoạt động của bản thân Hồ Chí Minh, mà còn của nhân dân Việt Nam, của nhân loại tiến bộ. Các thế hệ đương thời và tiếp nối sẽ kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh.

Giá trị của tinh hoa vǎn hoá nhân loại, đặc biệt lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, truyền thống dân tộc, kết quả hoạt động thực tiễn, việc đáp ứng yêu cầu lâu dài của cuộc sống… làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh trường tồn. Việc vận dụng sáng tạo, có hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới nói riêng là yêu cầu có tính quy luật của nghiên cứu khoa học. Nó thể hiện việc kết hợp lý luận với thực hành, điều chỉnh lý luận và hoạt động thực tiễn, làm cho tư tưởng được phong phú, có sức sống mạnh mẽ. Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống trước hết phải tuân thủ những nguyên tắc phương pháp luận khoa học, cả những vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thứ nhất, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh phải tiến hành trên cơ sở sự kiên định trong nhận thức và hành động cho mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghiã đã được lựa chọn, hợp với quy luật phát triển của xã hội loài người. Đó là sự lựa chọn của lịch sử, của nhân dân, của Đảng và Hồ Chí Minh. Một sự dao động, viêc hiểu biết không thấu đáo, sự vận dụng giáo điều … là những nguyên nhân dẫn tới sự thất bại trong việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống.

Thứ hai, nắm vững và vận dụng sáng tạo, linh hoạt những vấn đề cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là yêu cầu quan trọng của việc tiếp thu và vận dụng. Đó là những tư tưởng “không có gì quý hơn độc lập tự do”, “thà chết không làm nô lệ”, “bốn bể đều là anh em”, “dĩ bất biến ứng vạn biến”, “nói đi đôi với làm”, …

Thứ ba, thấm nhuần tinh thần đổi mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh là việc thực hiện một nguyên tắc phương pháp luận có tính chất quyết định sự thành công của cách mạng. Thế giới tự nhiên và xã hội luôn luôn vận động, phát triển. Đó là quy luật. Vì vậy trong nhận thức và hành động, Hồ Chí Minh chống việc rập khuôn, công thức, Người thường cǎn dặn phải vươn tới cái mới, nghiên cứu cái mới, ủng hộ cái mới với tinh thần đổi mới.

Công cuộc đổi mới, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hiện nay thực hiện những lời dạy quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, làm cho xã hội Việt Nam phát triển theo xu thế chung của sự phát triển lịch sử thế giới. Từ kết quả nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới, chúng tôi rút ra một số nhận thức, có thể xem như những kiến nghị đối với Đảng và Nhà nước về những vấn đề có liên quan đến vấn đề đang tìm hiểu: a- Việc giáo dục, phổ biến tuyên truyền những vấn đề của thế giới (lịch sử và hiện tại), là cơ sở để nhận thức đúng đắn về thời đại, về sự khẳng định con đường xã hội chủ nghĩa đã được lựa chọn.

Những nǎm gần đây, giới nghiên cứu phương Tây đẩy mạnh việc biên soạn, xuất bản nhiều chuyên khảo về thời đại chúng ta làm một cǎn cứ “khoa học” cho việc tấn công vào chủ nghĩa xã hội; chủ nghĩa Mác – Lênin, phong trào cách mạng thế giới và Hồ Chí Minh. Điều này không thể không gây ra những hậu quả xấu trong nhân dân ta, đặc biệt là thế hệ trẻ, như bǎng hoại tư tưởng cách mạng, giảm sút lòng tin vào sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội khoa học, tiếp nhận thụ động những độc hại của nếp sống vǎn hoá tư sản thù địch… Sự hoà nhập vào cộng đồng quốc tế là việc cần thiết, song không để bị hoà tan vào chủ nghĩa tư bản, xa rời mục tiêu, nhiệm vụ của đất nước. Đây là bài học mà chúng ta rút ra trong bước đầu quá trình tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh.

Chính lòng yêu nước, tinh thần dân tộc khiến cho Nguyễn Tất Thành, với vốn kiến thức ít ỏi về thế giới, xa lạ với cuộc sống nước ngoài, đã biết tiếp nhận những gì tốt đẹp nhất để thực hiện mục tiêu, lý tưởng của mình. b- Tư tưởng “không có gì quý hơn độc lập tự do” và tinh thần “thà chết không làm nô lệ!” cần được quán triệt trong việc “mở cửa”, “làm bạn” với thế giới bên ngoài. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam “có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to – là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc” thì cũng sẽ bảo vệ độc lập dân tộc, quyết tâm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, việc bảo vệ độc lập, tự do vẫn phải tiến hành trên mọi lĩnh vực của cuộc sống, trước hết về kinh tế và vǎn hoá. Không thể vì lợi ích nhất thời, cục bộ mà vi phạm đến chủ quyền dân tộc, độc lập, tự do của nhân dân. Không thể tiếp thu vǎn hoá nước ngoài mà đánh mất bản sắc dân tộc. Tư tưởng tự lực tự cường, độc lập tự chủ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng cần được quán triệt trong mọi hoạt động đối ngoại của chúng ta hiện nay, thể hiện việc kiên trì vừa hợp tác vừa đấu tranh. c- Sự đoàn kết quốc tế trên tinh thần quốc tế vô sản vẫn có ý nghĩa đối với chúng ta ngày nay. Việc bảo vệ độc lập dân tộc, gìn giữ hoà bình thế giới vẫn gắn với việc ủng hộ các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân quốc tế, phong trào cách mạng thế giới và xã hội tiến bộ, vǎn minh nhân loại.

Một dân tộc thuỷ chung, giàu nhân nghĩa như dân tộc Việt Nam không bao giờ quên ơn và nghĩa vụ quốc tế của mình. Việc mở rộng mối bang giao, việc “muốn làm bạn với tất cả mọi người” càng làm chúng ta xích gần hơn với nhân dân các nước, trước hết là nhân dân các nước cùng một điều kiện, mục tiêu, yêu cầu phát triển đất nước. Việc “đối thoại hoà bình”, việc gia nhập vào cộng đồng quốc tế, việc hợp tác với các nước, nhất là các nước phát triển… không hề làm giảm ý nghĩa của việc đoàn kết quốc tế, càng không phải là việc thủ tiêu cuộc đấu tranh cho lý tưởng cách mạng của chúng ta. Dĩ nhiên hình thức đấu tranh phải linh hoạt, khéo léo, phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại ngày nay. Tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi với chúng ta, thể hiện trong tư duy, hoạt động cụ thể. Vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh được phát triển và phong phú hơn.

GS. Phan Ngọc Liên (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995)

cpv.org.vn