Tag Archive | Lãnh tụ vĩ đại

Nồng nàn tình yêu dân, yêu Tổ quốc

Cuối năm 1940, Bác về nước. Bác đến hang Pắc Bó ở Cao Bằng ngày 8 tháng 2 năm 1941. Trên đường về, Bác biết tin có 40 thanh niên, có người là Đảng viên, là cảm tình của Đảng, ức bọn Nhật Pháp đã tổ chức nhau sang Trung Quốc mua sắm vũ khí đánh Nhật, Pháp, nhưng đến nơi bị Nguyễn Hải Thần phát hiện. Bác đã liên lạc gặp được 40 thanh niên này và giác ngộ họ. Bác nói: Ở đây bây giờ không phải là đất hoạt động của chúng ta, đất hoạt động của chúng ta là ở đất nước mình. Bây giờ chúng ta phải gấp rút về nước. Thế là Bác đưa 40 thanh niên này về gần biên giới.

Trong số ấy có các đồng chí Hoàng Sâm, Đàm Quang Trung, v.v…Bác giao cho các đồng chí Võ Nguyên Giáp và Cao Hồng Lĩnh huấn luyện các anh em ấy, đợi ngày về nước. Bác đi đến đâu là Bác tiếp tục đào tạo cán bộ cách mạng, gây cơ sở đến đấy. Ở Pắc Bó, Bác lấy tên là Ké Thu. Hội nghị Trung ương Đảng do Bác triệu tập đã họp ở đây. Nghị quyết của Hội nghị này quyết định thành lập mặt trận Việt Minh. Bác làm việc rất có kế hoạch, phân chia thời gian hàng ngày cụ thể, giờ nào làm việc ấy. Bác gương mẫu hàng ngày báo cáo kế hoạch làm việc của mình để mọi người noi theo. Kế hoạch của Bác là sáng dậy tập thể dục, tập quyền, rồi leo núi và làm vệ sinh, sau đó đi tắm. Dù trời rét Bác cũng tắm. Tắm xong uống nước chè (đó là nước nấu bằng lá ngải cứu đã sao vàng). Sau đó dịch lịch sử Đảng, viết báo. Trưa ăn cơm, rồi đi nghe đài, đọc báo, nghe báo cáo của các địa phương. Buổi chiều tiếp tục làm công việc buổi sáng còn lại sau đó ăn cơm. Trước khi ăn cơm, Bác nghe đài, đi lấy củi, tắm và tối thì lên lớp giảng bài. Bác không bao giờ chịu sai chương trình, nếu gặp việc đột xuất thì kiếm thì giờ khác bù vào không chịu lỡ kế hoạch. ở với Bác hàng ngày, cứ xem Bác làm gì, thì biết là mấy giờ rồi, không cần phải dùng đồng hồ, vì giờ nào việc ấy là tác phong của Bác.

Có một buổi tối lên lớp, nhiều đồng chí tò mò, nghe Bác nói cứ đoán đây là đồng chí Nguyễn Ái Quốc cho nên nói dễ hiểu, dễ nghe, dễ nhớ mặc dù chưa ai gặp bao giờ và cũng chẳng được xem ảnh. Có đồng chí không biết hút thuốc, nhưng cứ bật diêm lên xem mặt. Lần đầu, Bác quay mặt đi. Lần thứ hai, Bác lại quay mặt đi. Lần thứ ba, Bác biết đấy là các đồng chí tò mò. Bác nói:

Việc gì Đảng cho biết thì phải tìm hiểu thật sâu, nắm thật chắc, làm thật tốt. Việc gì Đảng và đoàn thể không cho biết thì không nên tò mò. Tò mò chỉ có hại thôi.

Sau khi thành lập Mặt trận Việt Minh, Bác là người đi làm thí điểm việc xây dựng cơ sở Mặt trận ở vùng này, để lấy kinh nghiệm phổ biến cho toàn quốc. Bác bảo đồng chí Dương Đại Lâm: Chú về nói với ông cụ là có ông Ké Thu ở bản Nà Kéo sang chơi. Ông này kể “Tam quốc chí” rất hay. Nói với bố như thế, ông thích nghe Tam quốc chí, chuẩn bị chè nước, Ké Thu sẽ đến.

Tối hôm đó, Bác đến nhà đồng chí Dương Đại Lâm. Mấy ông cụ ở trong bản cũng đến. Bác kể chuyện Tam quốc chí, rồi đến Chinh Đông, Chinh Tây, Thủy Hử… Các cụ kéo đến nghe kể chuyện ngày càng đông. Lúc đó Bác mới nói đến chuyện bây giờ phải làm cách mạng. Các cụ nói:

– Làm cách mạng thì được thôi. Nhưng phải giết bọn cai tổng đi mới làm cách mạng được tốt. Nếu không bọn chúng báo cho Tây, không làm cách mạng được đâu. Bác thân mật giải thích để các cụ hiểu nếu làm như thế là không đúng với đường lối mặt trận Việt Minh, đó là không phân biệt giàu nghèo, không phân biệt đảng phái, không phân biệt nam nữ, v.v… Ai yêu nước, chống đế quốc thì vào mặt trận đó. Bác nói:

– Cái đinh đóng được vào gỗ là nhờ cái búa. Bây giờ ta vứt cái búa đi. Thì cái đinh không thể nào đóng được vào gỗ. Ta đuổi là đuổi thằng đế quốc đi. Còn cai tổng, lý trưởng nó đều là người mình cả, giác ngộ nó rồi nó cũng đi theo mình thôi. Các cụ nghe ra sôi nổi bảo:

– Như vậy phải lắm. Thế làm được thôi. Bác tổ chức được tổ phụ lão cứu quốc đầu tiên ở bản Pắc Bó và rút kinh nghiệm phổ biến ra toàn quốc.

Mặc dù Bác hàng ngày bận trăm công ngàn việc, nhưng Bác vẫn dành thời gian dạy học văn hóa cho các đồng chí Nông Thị Trưng, Thế An, Đức Thành và các đồng chí khác. Bác lại thường xuyên làm tuyên truyền về Đảng, quần chúng tiếp thu như thế nào Bác lại báo cáo với chi bộ. Khi quần chúng đã giác ngộ, Bác tổng kết lại đưa ra chi bộ thông qua và chịu trách nhiệm về quần chúng mà Bác đã tuyên truyền giáo dục. Đấy là ý thức tổ chức của Bác trong việc giáo dục tuyên truyền quần chúng.

Tháng 5-1942, Bác đi họp tỉnh ủy Cao Bằng, Bác đóng vai ông thầy mo kiêm thầy thuốc nhưng mà điếc. Đồng chí Thế Anh đóng vai đón ông thầy mo về chữa cho vợ bị ốm. Lúc này đồng chí Thế Anh mới chỉ biết Bác là ông Ké Thu. Bác nhờ tỉnh ủy Cao Bằng chuẩn bị cho Bác một cuốn sách cúng, một cái thanh la, một con gà và mấy bao gạo nếp. Đồng chí Thế Anh đeo cái bao gạo nếp. Bác đội nón Nùng, lấy khăn che râu, mặc một bộ quần áo Nùng, tay chống gậy.

Đến ngã ba Đôn Chương thì gặp bọn tổng đoàn và bọn lính gác. Bọn chúng hỏi:

– Đi đâu?

– Đồng chí Thế Anh đáp: Đi đón ông Ké về chữa cho vợ đang bị bệnh phong.

– Tốt lắm. Về chữa cho vợ tao đang ốm nặng.

Như thế thì gay go rồi. Đồng chí Thế Anh nói đi nói lại với tụi nó: Ông Ké này cũng xoàng thôi. Chỉ biết cúng, có bệnh phong thôi, lại điếc nữa mà. Nói mãi, chúng nó cũng nhượng bộ và nói rằng:

– Mày đi xong, chiều về nhớ cúng cho vợ tao.

Ông Ké quay lại cười. Đồng chí Thế Anh bực quá, đi một quãng xa, rồi quay lại phê bình ông Ké: – Đã bảo là điếc rồi, mà ông Ké còn quay lại cười với nó. Làm vậy nó bắt thì làm sao? – Nếu không cười thì nó bắt rồi. Điếc thì nó nói không nghe. Nhưng mình còn hệ thần kinh. Ông Ké giải thích mình còn đi lại được, nó vỗ vào người phải biết. Chứ nó vỗ vào mà không đứng lên nó cho là điếc giả vờ, nó bắt rồi. Đi một quãng, đồng chí Thế Anh lại ngạc nhiên khi nhìn hàm răng ông Ké trắng là thế, sao hôm nay lại bẩn vậy. Bác cười và nói: Chục, chục, cheng cheng, xôi đầy, gà béo đưa cho thầy, thầy ăn. Ăn chưa hết nó còn dính như thế! Bác đã lấy nhựa sung phơi khô tai tái rồi dí vào răng sau đó lấy xôi nhét vào. Lúc Bác cười, hạt xôi cứ rơi lả tả. Việc làm này của Bác càng làm cho chúng ta thấy rõ Bác đã chuẩn bị cải trang và giữ bí mật rất chu đáo.

Đi họp xong về đến bản Nà Mạ, đồng chí Thế Anh báo cáo với ông Ké:

– Bây giờ tối rồi không về nữa. Mời ông Ké lên núi nằm, bản này có nhiều cơ sở tốt lắm. Ông Ké động viên Thế Anh đi. Nhưng đồng chí vẫn cứ bước đi thoăn thoắt lên núi, Bác phải đi theo. Lên đến nơi, đồng chí dặn ông Ké đừng có đi đâu mà bị lạc khó tìm. Đồng chí xuống bản gặp đồng chí Đức Thành và các đồng chí khác. Đồng chí Thế Anh thật thà nói: Bây giờ ông Ké, tôi để ở trên hang, ông Ké thượng cấp ấy mà. Tối nay ông sẽ ngủ ở đây. Ông chủ nhà nghe nói thấy có “ông Ké thượng cấp” về nghỉ, ông chuẩn bị một con vịt, hai chai rượu, làm ba mâm. Mâm giữa thịt to hơn, đĩa đầy hơn, nạc hơn. Làm cơm xong, Thế Anh đi đón ông Ké xuống đưa ông Ké vào mâm giữa. Ông Ké nhìn đồng chí Ba bảo vệ rồi hỏi:

Chú Ba soạn bữa cơm này phải không?

Đồng chí Ba lúng túng trả lời: – Thưa không.

Đồng chí Đức Thành trả lời: – Thưa ông Ké đây là tấm lòng tốt của chủ nhà đấy ạ. Mọi người mời ông Ké vào mâm giữa. Ông Ké không ngồi, ông Ké nói:

– Tại sao lại thế này?

– Đồng chí Đức Thành đáp:

– Thưa ông Ké, đây là phong tục tập quán ở địa phương.

– Bác bảo: Đây là tục chứ không phải là phong. Thôi đã trót làm thì chia đều ra cùng ăn.

Lúc đó phong trào cách mạng ngày một lên cao, bọn mật thám cũng tăng cường hoạt động và ngày càng có nhiều hành động gian ác. Đồng chí Ba bảo vệ cho Bác lệnh cho Đức Thành giết một tên phản động lợi hại, ở bản Nà Kéo. Bác biết chuyện, Bác gọi đồng chí Ba lên:

– Chú bảo Đức Thành giết tên phản động ở bản Nà Kéo phải không?

– Đồng chí Ba lúng túng, chưa dám nói thật, sợ ông Ké phê bình: Thưa ông Ké không ạ? – Không à?

Bác đưa cho đồng chí Ba cuốn lịch sử Đảng Bônsêvích mà Lênin viết: đoạn nói về việc chống ám sát cá nhân. Bác bảo đồng chí Ba đọc đi rồi cho ý kiến. Đồng chí Ba đọc từ sáng đến tối. Bác hỏi:

– Có thấy gì không?

– Thưa ông Ké không thấy gì ạ.

– Thôi thế tối nay suy nghĩ, sáng mai trả lời. Chú đã suy nghĩ chưa?

– Dạ, suy nghĩ rồi ạ. Thưa ông Ké không thấy gì cả.

Bác bảo tiếp tục đọc và trả lời. Đến trưa Bác lại hỏi. Đồng chí Ba lại thưa với Bác là không thấy gì. Lúc đó Bác mới nói:

– Nói dối cấp trên tức là nói dối Đảng. Nếu ai cũng như chú làm thế nào Trung ương nắm tình hình cho đúng, để ra đường lối, chủ trương cho sát được. Nhìn đồng chí Ba ngồi, mặt hơi cúi xuống có vẻ hối hận.

– Bác nói tiếp: Cái cây có bao nhiêu cành chúng ta đã biết. Bây giờ chúng ta chặt cành đi, thì mầm nó lại mọc lên. Cái cây không chết đâu mà là mọc nhiều mầm lên nữa. Muốn cây chết phải đào tận gốc nhổ nó đi. Giết một vài thằng không thể thay đổi chế độ của nó, mà phải lật cả chế độ của nó đi. Qua lời giảng dạy có lý, có tình, giản dị mà rất sâu sắc của Bác như vậy, đồng chí Ba đã nhận ra khuyết điểm của mình, và tự phê phán rồi hứa quyết tâm sửa chữa.Bác bảo:

Quyết tâm như thế là tốt. Nhưng sợ Đức Thành không nhận ra như chú, rồi lúc vô địa phương chỉ đạo phong trào, Đức Thành lại muốn làm gì thì làm, chú không biết, làm thế nào chú lãnh đạo được đồng bào một cách sít sao? Thế là đồng chí Ba lại bảo đồng chí Đức Thành lên để Bác phân tích cho. Các đồng chí đều hối hận về lỗi lầm của mình đã mắc phải và hứa sửa chữa lỗi.

Bác lại căn dặn các đồng chí rất tỉ mỉ là hiện nay đồng bào đang mắc bệnh đậu mùa, đi tuyến truyền cho đồng bào làm cách mạng nhưng nhớ tuyên truyền đồng bào giữ vệ sinh, đừng có giặt quần áo của người bệnh ở nguồn nước. Người nào mắc bệnh phải cách ly ra. Người nào mắc bệnh nặng quá thì phải lấy lá rải xuống để người bệnh nằm cho êm, quần áo phải lấy lá đắng đun lên. Lấy nước mà luộc quần áo, chứ đừng có đem giặt. Bác trông nom từng ly, từng tí đến đời sống của quần chúng. Bác lại dạy cán bộ là làm cán bộ phải biết địa lý Tổ quốc mình, biết cả địa lý thế giới, trước hết phải biết thủ đô các nước. Có đồng chí không thông, Bác lại kiên trì giải thích: Làm cách mạng phải biết Thủ đô các nước, vì Thủ đô là nơi trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế, v.v… Trong cuộc chiến tranh hiện nay, phát xít Đức đang chuẩn bị tiến công vào Thủ đô Mạc Tư Khoa. Nếu nó chuẩn bị tiến công mạnh thì lực lượng chủ yếu của Liên Xô sẽ rút ra đánh du kích. Liên Xô sẽ dùng trong đánh ra, ngoài đánh vào, lại giải phóng Thu đô. Nhưng mà đối với phát xít Đức, khi Liên Xô đã tấn công, thì nhất định Liên Xô sẽ tấn công vào tận sào huyệt của bọn chúng, tấn công vào tận Thủ đô của bọn phát xít Đức. Khi phản công như thế, ta phải gấp rút Tổng khởi nghĩa cho kịp thời. Bọn đế quốc mất Thủ đô là coi như mất cả nước của nó. Thí dụ Đức đánh qua Bỉ, vào Thủ đô Paris là Pháp đầu hàng: Ta phải nắm lấy thời cơ đó mà Tổng khởi nghĩa cho kịp thời.

Bác soạn ra cuốn Việt Nam địa lý diễn ca và Việt Nam lịch sử diễn ca. Bác bảo cán bộ phải biết địa lý, biết lịch sử để giải thích cho đồng bào dễ nhớ. Bác cũng viết một cuốn lịch sử bằng thơ lục bát từ đời Hồng Bàng đến thời Pháp thuộc. Và cuốn địa lý Việt Nam:

Nước ta hình chữ S
Một bán đảo rất xinh
Trên bờ bể Thái Bình
Tại Đông Nam châu Á

Tính bình phương cây số có 30 vạn hơn(1)

Ngót 20 triệu dân
Sống trong miền nhiệt đới…
Hoặc Bác viết về Cao Bằng:
Cao Bằng đông bắc giáp Tàu
Hà Giang, Bắc Cạn ở vào phía Tây
Nam giáp tỉnh Lạng, gần đây
Bốn nghìn tám dặm tỉnh này gồm bao.
Na-gia, Pia-vắc thật cao
Hơn hai nghìn thước xôn xao một hàng
Sông to thì có Bằng Giang
Xê Lao, Trà Lĩnh chạy ngang hai hàng…

Bác có hai hòn đá. Một hòn tròn và đen, một hòn hơi đục và có cạnh. Hàng ngày Bác dùng hai hòn đá để tập cho cứng gân cốt. Đồng chí Nông Thị Trưng có nói với Bác: Chú Thu ơi, hàng ngày chú đã làm việc vất vả rồi, lúc đọc báo, nghe đài chú ngồi cho thoải mái chứ. Sao chú cứ nắin lấy hai hòn đá đó làm gì? Bác thân ái chỉ rõ: Bác cháu ta trước đây là nhân dân lao động. Bây giờ đi làm cách mạng, do công việc đòi hỏi cho nên ta phải thoát ly. Thoát ly như thế nào rồi về tuyên truyền cách mạng cho quần chúng, ta khoanh tay sau lưng tuyên truyền à. Làm như vậy quần chúng nào người ta nghe. Chưa cuốc được mấy nhát cuốc tay đã phồng lên, quần chúng người ta sẽ bảo cán bộ chỉ nói mép thôi, nhưng làm thì chẳng bằng ai. Cho nên hàng ngày phải luyện tập cho da tay phồng lên, để khi đi làm với quần chúng được lâu hơn khỏi phồng tay.

Đó là quan điểm lao động, quan điểm quần chúng và là quan điểm cách mạng của Bác. Trong cuộc đời hoạt động của Bác, lần bị bọn Tưởng bắt là lần Bác khổ nhất, vì theo Bác “cay đắng chi bằng mất tự do”. Bác bị bọn Tưởng Giới Thạch bắt giam từ đầu mùa thu 1942 đến mùa thu 1943 mất 14 tháng trời và trải qua hơn 30 nhà tù. Nó giam Bác trong một phòng kín như bưng, không có ánh sáng lọt vào. Khi nó thả ra, mắt Bác đã lòa đi và chân thì tê liệt. Trong khi Bác ở tù, Trương Phát Khuê đến hỏi cung, hắn hỏi chặn đầu:

Tôi biết ông chính là Nguyễn Ái Quốc. Thôi rồi, ông không thể chối được nữa.

Bác thản nhiên trả lời: Nếu tôi là Nguyễn Ái Quốc thì thật là hay.

Trương Phát Khuê về bảo là Nguyễn Hải Thần nói láo, đây chỉ là ông đồ yêu nước, chứ đâu có phải là Nguyễn Ái Quốc và nó thả Bác ra. Lúc đó mắt Bác đã bị lòa. Hàng ngày, Bác dậy rất sớm, chờ cho trời sáng dần dần. Khi nhìn thấy ánh sáng mạnh, Bác lại phải quay ngay vào trong tối nuôi con ngươi quen dần để khỏi bị lòa. Lúc nắng, Bác lại đưa chân ra ngoài để cho ánh nắng chiếu vào, những con dòi chui ra và Bác cho thuốc vào chữa đôi chân, Bác dựa vào lan can để tập đi. Bác lại tập leo núi.

Đây là tinh thần trách nhiệm của Bác đối với Tổ quốc. Chính vì tinh thần cách mạng của Bác cao như thế, Bác đã kịp trở về đưa cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đến thành công. Bác đã được Quốc dân Đại hội họp ở Tân Trào nhất trí bầu làm Chủ tịch ủy ban dân tộc giải phóng. Khi đoàn quân giải phóng trở về Thủ đô Hà Nội khởi nghĩa cướp chính quyền, Bác về ở nhà số 48 phố Hàng Ngang viết Tuyên ngôn độc lập. Từ đây Bác đã khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đất nước anh hùng của chúng ta ngàn nãm mãi mãi truyền tụng công lao vĩ đại của Bác. Bác là cây đại thọ Việt Nam mà rễ ẩn sâu xuống lòng đất, đời đời xanh tươi. Bóng mát che rợp cả ba phần tư thế kỷ 20. Công huân của Bác đối với Tổ quốc, đối với nhân dân muôn đời sáng chói. Hồ Chủ tịch là người sáng lập lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, là người xây dựng nền Cộng hòa Dân chủ Việt Nam và Mặt trận dân tộc thống nhất, là người cha thân yêu, của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Người là linh hồn, là ngọn cờ chói lọi, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng, chiến đấu anh dũng, viết nên nhừng trang sử vẻ vang nhất của Tổ quốc ta. “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại và chính người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”.(2)

(1) Đây là ước lượng diện tích đất liền, chưa kể các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các đảo khảc trên biển Đông thuộc chủ quyền của Việt Nam. (BT)

(2) Điếu vănn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do đồng chí Lê Duẩn đọc trong lễ truy điệu Hồ Chủ tịch ngày 9-9-1969 tại Quảng trường Ba Đình – Hà Nội.

Theo Phuly.edu.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với gia đình Raymond Aubrac

Một trong những gia đình người Pháp có kỷ niệm sâu sắc với Chủ tịch Hồ Chí Minh là gia đình Raymond Aubrac.

Năm 1946 sau cuộc đàm phán với Pháp không kết quả, nhận lời mời của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sang thăm Pháp với danh nghĩa Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà từ giữa tháng 6 đến giữa tháng 9-1946.

Thời gian Bác thăm Pháp lâu, vì ở Pháp lúc đó có cuộc bầu cử Quốc hội và phải thay đổi Chính phủ. Cũng trong khoảng thời gian này, ở Pháp có Hội nghị Fontainebleau giữa Pháp và Việt Nam. Đoàn Việt Nam do đồng chí Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn. Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó cũng ở Pari nhưng không tham gia đoàn việt Nam ở Hội nghị. Sau khi Hội nghị Fontainebleau kết thúc, Đoàn đại biểu Việt Nam về nước, còn Bác ở lại để cùng với Marius Moutet, Bộ trưởng Bộ Hải ngoại, đại diện Chính phủ Pháp ký bản Tạm ước với hy vọng cứu vãn hoà bình. Ngày 19-9-1946, Bác lên tầu ở cảng Toulon, trở về nước.

Ngày 27-7-1946, Việt kiều ở Pháp đã tổ chức một cuộc chiêu đãi tại Vườn Hồng Bagatelle ở Paris để chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông Raymond Aubrac có mặt trong buổi chiêu đãi. Sau đó, ông mời Bác về ở nhà mình, ở ngoại ô Paris.

Bác đến ở nhà ông Raymond Aubrac 6 tuần, từ đầu tháng 8 đến giữa tháng 9-1946. Nhà ở Soissy-sous-Monmorency, phía Bắc Paris, đi khoảng 20 phút xe hơi. Nhà được xây dựng từ thế kỷ 18, để làm nhà nghỉ cho một gia đình quý tộc. Xung quanh nhà có vườn rộng, cách đường cái một bức tường có hàng cây dẻ và một vài cây anh đào. Trong vườn có mấy cụm hoa lớn, còn lại là thảm cỏ. Nhà có ba tầng với một tầng hầm và một tầng sát mái. Lúc đó gia đình ông Aubrac có hai vợ chồng, hai con nhỏ, bà mẹ vợ và một người giúp việc. Trong thời gian ở cùng gia đình, lúc đầu bà Aubrac và mẹ bà nấu cho Bác ăn. Nhưng sau này thấy bận và Bác có nhiều khách, nên anh em đã cử ông Ty, một Việt kiều yêu nước đến nấu ăn cho Bác. Ông Ty có một cửa hàng ăn ở khu sinh viên Quartier latin, nhưng ông đã đóng cửa, đến phục vụ Bác.

Mỗi buổi sáng người nhà ông Aubrac mang đến cho Bác sách báo tiếng Pháp và báo chí tiếng Anh, Đức, Nga… Bác thường đọc báo ngay trên thảm cỏ. Hàng ngày Bác cũng tiếp khách ở ngoài vườn. Chính phủ Pháp dành cho Bác một tầng trong một ngôi nhà lớn ở gần Khải hoàn môn, nhưng Bác thường không vào Paris tiếp khách, mà mời về nhà ông Aubrac. Đoàn đại biểu của ta tại Hội nghị Fontainebleau ngày nào cũng đến làm việc với Bác. Ở đây Bác tiếp và chiêu đãi nhiều nhân vật thuộc các khuynh hướng chính trị khác nhau, các nhà văn, nhà báo.

Ông Aubrac kể lại rằng cuối tháng 7, nhân ngày sinh của ông, Bác đã tặng ông một bức tranh của họa sĩ Vũ Cao Đàm, một trí thức Việt kiều yêu nước. Bức tranh tả một bà mẹ mới sinh con, đang vươn cánh tay dài với những ngón tay mảnh dẻ vuốt đầu cháu bé. Ít lâu sau, bà Aubrac sinh cháu Elisabeth. Bác đã đến Nhà hộ sinh Port – Royal ở Paris thăm, tặng hoa và nhận là người đỡ đầu. Từ đó trở đi, năm nào đến ngày sinh của cháu, Bác cũng đều gửi quà mừng.

Ông bà Aubrac tuy không phải là đảng viên cộng sản nhưng là những người tiến bộ, yêu nước, tích cực tham gia cuộc kháng chiến của nhân dân Pháp chống phát xít. Ông bà chịu ảnh hưởng của những người cộng sản, thời đó gọi là những người “bạn đồng hành” của những đảng viên cộng sản, là những người luôn đứng về phái công lý. Hai ông bà là những chiến sĩ kiên cường trong kháng chiến chống phát xít Đức, bí mật tham gia kháng chiến ở Lyon. Ông góp phần thành lập bộ tham mưu quân đội bí mật. Bố mẹ ông Aubrac cũng bị phát xít Đức giết chết. Ông bị phát xít Đức bắt, ngày 15-6-1943 được lực lượng kháng chiến cứu thoát. Ngày 21-6-1943, ông bị Gestapo bắt và đưa đi xử bắn. Bà Lucie đã tổ chức một cuộc tập kích giải thoát cho chồng. Bị lộ, hai vợ chồng theo tướng De Gaulle sang Anh.

Ông Aubrac kể khi ông làm đại diện Chính phủ Pháp tại Marseille năm 1944-1945, ở đó có rất nhiều lính thợ Việt Nam được Chính phủ Pháp tuyển mộ sang Pháp từ năm 1939 để thay thế cho thanh niên Pháp nhập ngũ. Phát hiện ra tại các trại này anh em bị bọn côn đồ đàn áp, ông đã giải tán Ban chỉ huy, thay bằng những người tốt và cho anh em tự bầu ra một Ban tư vấn bên cạnh Ban chỉ huy. Từ đó anh em biết ơn ông và năm nào đến dịp lễ Tết đều mời ông dự. Ông cho rằng cũng vì vậy mà ông được mời dự cuộc chiêu đãi ở Bagatelle và được giới thiệu với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sau chiến tranh ông trở thành anh hùng kháng chiến, được cử làm đại diện Chính phủ Pháp tại Marseille, rồi về làm việc ở Bộ Xây dựng. Ông là kỹ sư công chính. Còn bà Aubrac được cử làm đại biểu Hội đồng tư vấn, một nhân chứng lịch sử đấu tranh giải phóng. Sau đó, bà làm giáo viên của Trường Trung học Enghien.

Hai ông bà đều có quan hệ gắn bó với Bác Hồ và Việt Nam trong nhiều thập kỷ. Ông thường nói ngày được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh 27-7-1946 đã đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời ông, cho tận đến bây giờ, một giai đoạn gắn bó với đất nước Việt Nam.

Sau năm 1946 ông Aubrac đã gặp Bác hai lần. Một lần vào năm 1955, ở Bắc Kinh, khi Bác đang thăm Trung Quốc. Bác đã mời ông ăn sáng và mời sang Hà Nội, gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng, để giúp giải quyết vấn đề buôn bán giữa Việt Nam và Pháp. Ông đi xe lửa từ Bắc Kinh đến Lạng Sơn, sau đó đi xe Jeep đến Hà Nội. Ông ở Việt Nam khoảng nửa tháng, đi thăm Hà Nội và vịnh Hạ Long.

Lần thứ hai, năm 1967, ông cùng Viện trưởng Viện Pasteur Herbrt Marcovitch sang để trao đổi về tình hình Việt Nam. Bác cùng Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp ông tại Nhà sàn, Hà Nội. Sau 12 năm xa cách, ông được gặp Bác. Đây cũng là lần cuối cùng.

Ông viết cuốn sách “Où s attarde la mémoire” (Những gì để nhớ), xuất bản năm 1946, trong đó kể lại những kỷ niệm gắn bó với cuộc đời của ông. Bác Hồ và Việt Nam đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng vợ chồng Raymond Aubrac. Ông bà đã trở thành những người bạn thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam.

Ngày 14-3-2007, bà Aubrac qua đời, tại Paris, thọ 95 tuổi. Lễ truy điệu bà được tổ chức trọng thể tại Cung Invalides với sự có mặt của Tổng thống Pháp Jacques Chirac. Đài Truyền hình Pháp đã dành hai buổi chiếu cuốn phim về đời hoạt động của bà. Chủ tịch nước ta Nguyễn Minh Triết đã gửi điện chia buồn.

Ông Aubrac năm nay đã 94 tuổi, nhưng vẫn tích cực hoạt động vì tình hữu nghị với Việt Nam.

Năm 2006, ông tặng tôi cuốn sách của ông, với lời đề tặng “Thân tặng ông Trịnh Ngọc Thái cuốn Những gì để nhớ, với những kỷ niệm viết trong cuốn sách này của một kỹ sư công chính, Đại sứ sẽ thấy dấu ấn của sự gắn bó bền vững của tôi với đất nước của ông – Ký tên Raymond Aubrac”./.

Trịnh Ngọc Thái
Theo Phuly.edu.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Cố vấn Vĩnh Thụy

Chính phủ VNDCCH ra mắt Quốc Hội khóa 1 ngày 2/3/1946. Từ trái sang phải: Ông Trương Đình Tri, ông Đặng Thai Mai, ông Chu Bá Phượng, nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, cụ Huỳnh Thúc Kháng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cố vấn Vĩnh Thụy, ông Lê Văn Hiến, luật sư

Tóm tắt: Từ hơn nửa thế kỷ qua, đối với người dân Huế, mỗi lần nhắc đến lịch sử Cách mạng tháng Tám năm 1945, người ta lại nhớ đến sự kiện vua Bảo Đại thoái vị chấm dứt thời đại quân chủ ở Việt Nam và nhớ đến chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc đã mời ông vua vừa thoái vị làm Cố vấn cho Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945-1946).

Từ hơn nửa thế kỷ qua, đối với người dân Huế, mỗi lần nhắc đến lịch sử Cách mạng tháng Tám năm 1945, người ta lại nhớ đến sự kiện vua Bảo Đại thoái vị chấm dứt thời đại quân chủ ở Việt Nam và nhớ đến chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc đã mời ông vua vừa thoái vị làm Cố vấn cho Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945-1946). Là một người nghiên cứu Huế, nghiên cứu Chủ tịch Hồ Chí Minh với Thừa Thiên Huế, tôi đã sưu tầm được khá nhiều tư liệu lịch sử có liên quan đến mối quan hệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Cố vấn Vĩnh Thụy. Tôi xin trích 4 tư liệu sau đây để độc giả thưởng lãm và nhớ đến Bác.

1 . Hồi ức của sĩ quan hầu cận

Qua gia đình của cụ Hoàng Xuân Hãn ở Paris, tôi được biết ông Hoàng Xuân Bình, học viên của Trường Thanh niên tiền tuyến đã được cử làm sĩ quan hầu cận cho Cố vấn Vĩnh Thụy hồi đầu tháng 9/1945. Một buổi sáng tháng 8 năm 1999, tôi tìm đến nhà ông Bình ở cuối đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa (Q.3, TP.HCM) đối diện với chùa Vĩnh Nghiêm. Tôi xin phép được hỏi về những kỷ niệm của ông trong thời gian ông làm sĩ quan cận vệ cho Cố vấn Vĩnh Thụy.

Ông Bình nặng tai và người không được khỏe nên ông từ chối trả lời những câu hỏi của tôi. Thay vào đó ông đưa cho tôi một trang báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam có đăng bài Cố vấn Vĩnh Thụy và tờ tạp chí Văn nghệ Nghệ Tĩnh, số 45, tháng 5/1991 với bài Hồ Chủ tịch và Cố vấn Vĩnh Thụy. Cả hai bài đều do ông Hoàng Xuân Bình kể, và thầy giáo Lê Trần Sửu ghi. Ông Bình bảo tôi:

– “Lúc kể cho Lê Trần Sửu ghi, trí nhớ của tôi còn rất tốt. Bây giờ quên đi nhiều rồi. Anh xem khai thác được điều gì bổ ích… cứ việc!”.

Đó là lần đầu tiên tôi được gặp ông Bình và không ngờ cũng là lần cuối cùng. Ông Bình đã mất vào tháng 4 năm 2000. Xin phép người quá cố tôi trích một đoạn trong Văn nghệ Nghệ Tĩnh để độc giả cả nước thưởng lãm:

“Bắt đầu 5/9, tôi một mình làm nhiệm vụ “sĩ quan hầu cận” của tối cao Cố vấn, vì anh Nguyễn Thế Lương nhận lệnh về Huế công tác.

Sáng 5/9, quân phục chỉnh tề, tôi theo ông Vĩnh Thụy đi ra mắt Hồ Chủ tịch. Bác ra đón tại cửa phòng làm việc trong bộ đồ ka-ki kiểu cổ đứng, hai tay mở rộng – một cử chỉ đầy ý nghĩa – vừa thân tình vừa trọng thị, làm ông vua cũ hình như cũng bất ngờ một cách thích thú.

Độ hơn một tiếng đồng hồ sau, Bác Hồ lại tiễn ông Cố vấn ra tận cửa chính của Bắc bộ phủ, nơi xe đã tiến lên đón ông Vĩnh Thụy trở về. Ông lộ hẳn ra mặt sự mừng rỡ, mãn nguyện về cuộc tiếp kiến và cho biết buổi chiều Cụ Chủ tịch sẽ tới thăm tại nhà ở 51 đường Gambetta.

Ba giờ chiều, tất cả nhà, từ ông Cố vấn cho tới người cần vụ, người nấu bếp, lái xe, các anh em trong tiểu đội canh gác đều sẵn sàng và bị thu hút chờ đón vị Chủ tịch ở sân trước biệt thự.

Xe Bác vào. Bác tới cùng mấy người nữa. Ông Vĩnh Thụy chờ đón Bác dưới chân tam cấp lớn, và hướng dẫn Bác lên phòng khách đón. Tất cả chúng tôi đều kéo theo lên và quên hết phép tắc, cũng vào cả trong phòng khách mà chẳng ai nhắc nhở can ngăn kể cả anh sĩ quan bảo vệ Bác.

Sau ít phút trò chuyện trong phòng, Bác đề nghị đi dạo ngoài vườn để nói chuyện. Thế là hai người khoác tay nhau – đúng hơn là Bác khoác tay ông Cố vấn – xuống sân và dạo theo các lối đi rải sạn, chuyện trò thân mật như những người cố tri. Thật là một cảnh tượng có lẽ là có một không hai trong lịch sử mà mỗi một chúng tôi được chứng kiến hôm đó đều xúc động. Một cựu hoàng đế, mập mạp, phương phi, quần áo đúng mốt sang trọng của Paris hoa lệ cắt bằng vải đắt tiền, giày da hai màu, bóng loáng cùng khoác tay đi dạo rất “tâm đắc” với một nhà cách mạng lão thành đã mang án tử hình của nhà nước thực dân, phong kiến mà người kia là một kẻ tiêu biểu, một con người giản dị vô song, quần áo ka-ki thường cắt theo kiểu cổ lỗ, chân xỏ đôi giày “tàu” vải đen, hồn nhiên như thanh sắc của cây cỏ tỏa quanh bước chân dạo đi của Người.

Sau đó, khi mở đầu “Tuần lễ vàng” Hồ Chủ tịch cử Cố vấn thay mặt Chủ tịch nước khai mạc. Diễn văn khai mạc do ông Phạm Khắc Hòe soạn, và trước khi đi dự lễ, ông Vĩnh Thụy đọc thử cho tôi nghe. Ông đọc giọng Huế, không trôi chảy mấy và ngắt câu nhiều chỗ không đúng. Khi được nhận xét như vậy, ông đã nhờ tôi dùng viết chì màu đánh dấu các chỗ ngắt giọng. Buổi lễ khai mạc diễn ra ở thềm trước Nhà hát thành phố. Sau khi đọc diễn văn một cách trôi chảy, ông Cố vấn trở lại chỗ ngồi, đi qua chỗ tôi không quên cảm ơn bằng một nụ cười kèm theo một cái lè lưỡi kín đáo như mừng rỡ đã “tai qua nạn khỏi”.

Hồi đó, Hội đồng lập hiến được thành lập để làm dự thảo Hiến pháp. Ông Cố vấn là thành viên của Hội đồng, thành phần rộng rãi, trong Việt Minh, ngoài Việt Minh, nhân sĩ, trí thức có tiếng tăm.

Một hôm, gặp thầy cũ là ông Đặng Thai Mai, ông cho tôi biết nhận xét của ông (cũng là một thành viên của Hội đồng):

– “Ông Vĩnh Thụy tưởng là người ăn chơi nhưng không ngờ lại có những hiểu biết khá rộng về pháp lý và có nhiều ý kiến hay”.

… Sau đó không lâu, một hôm đi làm việc về, ông qua buồng tôi, bảo nhỏ cho tôi biết rằng Cụ Hồ đề nghị ông thay mặt Chính phủ đi một chuyến qua Trung Quốc, Pháp, Anh, Mỹ để giới thiệu chế độ mới, vận động họ công nhận nước Việt Nam độc lập. Tôi thầm nghĩ trong bụng, khâm phục tài sử dụng người của Cụ Hồ, đưa một cựu hoàng vừa thoái vị nhường quyền cho chế độ Cộng hòa đi tuyên truyền cho chế độ đó!”

2. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói gì với Cố vấn Vĩnh Thụy đang đi công cán ở nước ngoài?

Cố vấn Vĩnh Thụy ra nước ngoài vào ngày 16/3/1946. Mấy tháng sau, Bác Hồ đã gởi một lá thư trao đổi công việc với ông. Trong lá thư ấy Bác đã nhắc nhở ông phải luôn luôn nhớ đến vai trò quan trọng mà đất nước đang giao phó cho ông. Ông phải sống xứng đáng với vai trò đó. Nhà sử học Pháp Jean Lacouture đã được đọc lá thư ấy và đã trích dẫn vào sách HO CHI MINH, (Le Seuil, 1967), một đoạn sau:

Ngài chớ quên rằng Ngài là đại diện cho nước Việt Nam và lịch sử Việt Nam. Ngài phải làm thế nào để đời sống cửa Ngài xứng đáng với cái tên mà Ngài đang mang, xứng đáng với Tổ quốc chung, với nền độc lập của chúng ta đến nay mới giành lại được” (tr.114).

Trước ngày toàn quốc kháng chiến (19/12/1946) – theo bà Mộng Điệp (vợ thứ của Vĩnh Thụy) – Bác Hồ đã cử bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đem tiền và vàng qua Hồng Kông cho Cố vấn Vĩnh Thụy tiêu. Đến trước tháng 8/1947, trả lời phỏng vấn của báo chí về Cố vấn Vĩnh Thụy, Bác Hồ không ngần ngại đáp rằng:

Nhiều thành viên trong Chính phủ và bản thân tôi, tất cả đều là bạn của ông Cố vấn Vĩnh Thụy, chúng tôi rất mong muốn gặp lại ông Cố vấn và cầu mong ông Cố vấn sớm trở về để cùng nhau lo việc nước. Nhưng Cố vấn Vĩnh Thụy hiện nay (7/1947 NĐX) không thể rời Hồng Kông được. Chúng tôi xa mặt chứ không cách lòng. Chính phủ và nhân dân Việt Nam hoàn toàn tin tưởng vào sự trung thành của Cố vấn Vĩnh Thụy hiện đang ở nước ngoài nhưng vẫn tiếp tục làm việc cho chính phủ quốc gia mà Cố vấn vẫn là thành viên”. (trích lại của Philippe Devillers, Histoire du Viet-Nam de 1940-1952, Eïdition du Seuil, 1952, p.402).

Bác Hồ rất tin tưởng Cố vấn Vĩnh Thụy, nhưng Cố vấn Vĩnh Thụy vốn rất nhu nhược, không vượt qua được sự túng thiếu về tài chính và các cạm bẫy của mật thám Pháp và các thành phần thân Pháp nên ông đã bị đẩy vào cái thế phải trở lại làm bù nhìn cho thực dân Pháp, phản bội lại chính nghĩa của quốc gia, chống lại kháng chiến giải phóng dân tộc, đối đầu với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ đã cưu mang và tin tưởng ông. Nhưng, tuy nhu nhược, Vĩnh Thụy là người có lương tri tho nên khi gặp cơ hội thuận tiện ông vẫn không giấu được những tình cảm tốt đẹp về Bác Hồ, về kháng chiến đã ẩn sâu dưới đáy tim ông.

3. Bảo Đại qua điệp viên A.13

Người điệp viên đầu tiên của cách mạng (A.13) được “Quốc trưởng” Bảo Đại tin dùng là ông Nguyễn Văn Hoàng. Khai thác tư liệu của ngành an ninh và lời tự thuật của ông Hoàng, nhà văn đại tá Công an Lê Tri Kỷ (1924-1993) đã viết cuốn Câu lạc bộ chính khách (Nxb Công an nhân dân, H.1986). Ông Hoàng nguyên là công nhân nhà máy Dĩ An, hoạt động cách mạng từ sau năm 1930. Hồi đầu kháng chiến chống Pháp, ông làm Trưởng ty Công an Thanh Hoá, sau đó ông được tướng Nguyễn Sơn và ông Đặng Thai Mai đưa vào thành hoạt động giả danh lãnh tụ đảng Phục Việt (không có thật) – “một đảng chính trị tham gia kháng chiến ngoài cộng sản”.

Ông Hoàng cùng với “người bảo vệ” Trúc Lâm (Điệp viên A.14) vào Đà Lạt tiếp kiến “Quốc trưởng” Bảo Đại tìm cách thúc đẩy Bảo Đại can thiệp với quân đội Pháp làm sao tránh được những cuộc càn quét bắn phá tỉnh Thanh Hoá – cửa ngõ vào Nam, nơi cung cấp người và lương thực cho kháng chiến và cũng là nơi có lăng Triệu Tường tổ tiên của dòng họ nhà Nguyễn của Bảo Đại. Lần đầu gặp Bảo Đại, Văn Hoàng có cảm tưởng như sau:

“Đã quen với hình ảnh Bảo Đại in trên bìa vở học sinh và truyền đơn quảng cáo Hiệp ước Hạ Long rồi, thế mà khi trông thấy ông ta đứng dậy dạng chân khoanh tay giữa phòng đợi, Văn Hoàng không khỏi bỡ ngỡ pha lẫn buồn cười. Ông ta to quá, khoẻ quá kềnh càng quá, ngước trông lên cứ tưởng như ông bị sưng cằm. Trong lòng bàn tay to rộng ông ta đưa ra bắt, bàn tay Văn Hoàng chỉ như tay con nít.

Sau giây phút ngỡ ngàng, Văn Hoàng nhanh chóng trấn tĩnh nhếch một nụ cười thân thiện thay một lời chào chưa nghĩ kịp. Nhưng rất chủ động và lịch thiệp, Bảo Đại không để anh lúng túng chờ đợi:

– Ông ở ngoài nớ vô, thế có được tin tức gì về Cụ Hồ Chí Minh không? Ngài có được mạnh khỏe không? Các ông bộ trưởng trong Chánh phủ kháng chiến có được mạnh khỏe không?

Mở đầu thật bất ngờ. Không phải đối thoại căng thẳng mà là thăm hỏi thân tình. May sao sức khỏe Bác Hồ thì có người dân nào là không theo dõi? Văn Hoàng trả lời lưu loát:

– Tôi không được nghe gì về các ông bộ trưởng nhưng về Chủ tịch Hồ Chí Minh thì luôn luôn được nghe nói tới. Cụ vẫn rất khỏe, đi bộ mỗi ngày 40 cây số, nhiều thanh niên theo được còn là mệt.

Bảo Đại nuốt tiếng thở dài. Giọng ông ta đã trầm, mồm như dầy lưỡi, lại nói thứ tiếng Huế khê đặc nên rất khó nghe:

– Tôi đã từng sống cạnh Cụ Hồ, nghe Cụ nói chuyện, cùng Cụ đi công cán hay chủ tọa nhiều phiên họp nội các, từng chứng kiến đức độ của Cụ, coi Cụ như cha và cũng được Cụ thương yêu như con. Những điều đó đã để lại trong lòng tôi không ít kỷ niệm đẹp, và có thể nói nó chi phối không ít những việc làm của tôi kể từ ngày tôi xa Cụ tới nay (1950)…”

Đọc đoạn trao đổi này tôi hơi nghi ngờ. Do đó nhờ nhà văn Vũ Hạnh giới thiệu, tôi đã được gặp ông Nguyễn Văn Hoàng (điệp viên A.13 năm xưa). Năm nay ông Hoàng vừa tròn tuổi 93 tuổi, nhà ở tại đường Lê Văn Sỹ, Q.3 Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Hoàng đã xác nhận những gì Lê Tri Kỷ đã viết và được tôi vừa trích dẫn trên là đúng sự thật. Từ đó tôi mới tin.

Trong buổi lễ vận động cứu đói tổ chức trước Nhá hát lớn Hà Nội. Ngồi hàng trước, từ trái sang phải: Cụ Nguyễn Văn Tố, tướng Mỹ Gallagher (Đại diện LL Đồng Minh), Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cố vấn Vĩnh Thụy, cụ Ngô Tử Hạ. Ảnh: TL.

4. Vào cuối đời Cựu hoàng Bảo Đại nói gì về Chủ tịch Hồ Chí Minh?

Việc thoái vị của Bảo Đại là một sự kiện lịch sử lớn. Nếu người dân Việt Nam còn muốn nhắc đến Bảo Đại chính vì hành động thoái vị của ông vào ngày 30 tháng 8 năm 1945. Bảo Đại cũng biết thế. Trước khi vĩnh biệt cuộc đời (31/7/1997), Bảo Đại đã nhờ người viết hồi ký Con rồng An Nam (Le Dragon d’Annam), trả lời phỏng vấn trên đài Phát thanh Pháp, trả lời phỏng vấn đài truyền hình Pháp về sự kiện ông thoái vị. Trong chuyến đi Pháp (1999) tìm tài liệu nghiên cứu triều Nguyễn và Huế xưa, tôi đã có dịp tiếp xúc với những gì ông Bảo Đại còn để lại có liên quan đến sự kiện này. Theo tôi, cuốn phim ông trả lời phỏng vấn nhà sử học nổi tiếng của Pháp Fédéric Mittérand của đài truyền tình Pháp là đầy đủ và trung thực với ông nhất.

Tôi xin trích một số câu hỏi của nhà báo sử gia Fédéric Mittérand và câu trả lời của Bảo Đại (do kỹ sư Bùi Hữu Lân dịch qua Việt ngữ):

F.M: Và Ngài đã đi Hà Nội để gặp ông Hồ Chí Minh. Điều kỳ lạ là ông Hồ Chí Minh đối xử với Ngài với một sự cung kính đặc biệt?

Bảo Đại: Vâng, xin đừng quên rằng ông Hồ Chí Minh xuất thân từ một gia đình Nho giáo… Ông cấm những người xung quanh ông gọi tôi bằng đồng chí, bằng những tên gọi của giai cấp vô sản, ông luôn luôn gọi tôi là Ngài.

F.M: Ông Hồ Chí Minh mời Ngài làm Cố Vấn Tối Cao của chính phủ?

Bảo Đại: Vâng, lúc đó không một lý do gì để mà từ chối bởi vì mọi người Việt Nam đều theo ông Hồ. Điều chúng tôi muốn, là nước nhà phải được độc lập. Tôi muốn làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ. Mọi người Việt Nam đều muốn ủng hộ chính phủ ấy để tranh thủ một nền độc lập thực sự.

F.M: Ngài đã ở gần ông Hồ Chí Minh, ông ấy đã cho Ngài cảm tưởng thế nào về ông ấy? Nay đã qua một thời gian dài, cảm tưởng ấy có thay đổi nhiều không?

Bảo Đại: Không, không thay đổi. Tôi luôn luôn xét ông Hồ Chí Minh ngoài cái tư tưởng cộng sản của ông ấy.

F.M: Nhưng đối với Ngài, ông Hồ cũng là một nhà ái quốc?

Bảo Đại: Đối với tôi, còn hơn thế nữa, đó là một người có tinh thần quốc gia. Ông là một người yêu nước (Cest pour moi en plus, cest un nationaliste. Il aimait son pays)

F.M: Trong cuốn sách của Ngài (cuốn Le Dragon d’Annam) không thấy có một lời buộc tội khắt khe nào đối với ông Hồ. Ngài quý trọng ông Hồ? Và cũng thế, quả là rất ngạc nhiên khi thấy ông Hồ không bao giờ công kích Ngài?

Bảo Đại: Không, không có lý do gì để tôi công kích ông ấy. Ban đầu, tôi còn ủng hộ ông ấy nữa. Cố gắng đưa nước nhà thoát khỏi chiến tranh, vì chúng ta đã khổ vì chiến tranh.

F.M: Lúc ấy Ngài đã biết gì về chủ nghĩa Cộng sản? Ngài đã nắm hết chủ nghĩa Cộng sản?

Bảo Đại: Không, tôi biết rất ít.

F.M: Trong khoảng thời gian hai năm ấy (1945-1946), Ngài đã ở bên cạnh ông Hồ, và Ngài đã giúp cho ông ta nhiều việc quan trọng. Nếu phải lập lại việc này hôm nay, Ngài cũng sẽ lập lại chăng? Ngày nay Ngài đánh giá việc này thế nào?

Bảo Đại: Còn tùy. Nếu là vì hạnh phúc của nhân dân tôi, tôi cũng sẽ làm vậy (Cà dépend. Si cest pour le bien de mon peuple, je le ferais).

Điểm lại bốn đoạn trích trên của người trong cuộc, của các nhân chứng lịch sử, của ngành an ninh chúng ta thấy dù ở trong hoàn cảnh nào vua Bảo Đại – Cố vấn Vĩnh Thụy – “Quốc trưởng” Bảo Đại – ông vua lưu vong sắp từ giã cuộc đời vẫn trước sau một lòng yêu kính Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một người như ông Vĩnh Thụy – Bảo Đại mà còn yêu kính Bác đến thế, tôi nghĩ rằng còn biết bao tấm lòng yêu kính Bác của các nhân vật chính trị, trí thức, nhà văn hóa khác mà vì chiến tranh chúng ta chưa khám phá hết. Càng nghiên cứu về Bác càng thấy sự vĩ đại của Bác. “Mai sau dù có bao giờ” việc nghiên cứu về Bác Hồ vẫn luôn luôn còn có nhiều thông tin mới.

Gác Thọ Lộc, một ngày cuối thu 2003
Tổng thuật của Nguyễn Đắc Xuân – Nhà nghiên cứu Huế
Theo Lichsu.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Đổi mới – linh hồn của tư tưởng Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh với bản di tích lịch sử. Ảnh: Tuấn Anh

Với chủ trương đổi mới, Đại hội lần thứ VI của Đảng ta đã có cống hiến to lớn, mang ý nghĩa lịch sử đối với Đảng, với dân, với nước. Đại hội tuyên bố: “Đối với nước ta, đổi mới đang là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn”.

Đây quả là những chữ vàng sẽ mãi mãi khắc sâu trong tâm khảm của mỗi người dân Việt Nam. Thực tế cho thấy, mỗi khi Đảng ta trở về với tư tưởng Hồ Chí Minh trong những hoàn cảnh cách mạng gặp khó khăn, đất nước lại như từ chỗ tối bước sang chỗ sáng, từ ngõ cụt bước ra con đường lớn rộng thênh thang. Và công lao bất hủ của Đại hội VI là đã sáng suốt trở về với tư tưởng đổi mới của Hồ Chí Minh, đề xướng chủ trương đổi mới để Đảng ta lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đưa đất nước thoát khỏi tình trạng trì trệ, bế tắc và khủng hoảng kinh tế – xã hội đã xuất hiện từ cuối những năm 70, ngay sau khi tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa theo nếp cũ, bằng những biện pháp hành chính, mệnh lệnh, chủ quan duy ý chí nhằm thực hiện việc quá độ trực tiếp lên CHXH trên phạm vi cả nước.

Nhìn vào quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta sẽ thấy rất rõ đó là một quá trình đổi mới liên tục trong nhận thức tư tưởng, cũng như trong hoạt động thực tiễn của Người. Có thể nói, Hồ Chí Minh là con người đổi mới, là một người đổi mới bẩm sinh, một thiên tài đổi mới. Ngay từ năm 1927, trong Đường cách mệnh, Người đã viết: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tất”. Danh từ “đổi mới” là danh từ của Hồ Chí Minh, là danh từ mà Người đã nêu ra từ năm 1949 trong bài Dân vận bất hủ: “Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân”. Bốn năm sau, trong bài nói chuyện trong buổi khai mạc lớp chỉnh huấn cán bộ Đảng, dân, chính ở cơ quan trung ương, ngày 6/2/1953, Người đã đưa ra luận điểm bất diệt:

“Xã hội bây giờ ngày mót phát triển. Tư tưởng hành động cũng phát triển. Nên cứ giữ lấy cái kẹp giấy cũ không thay đổi là không đi đến đâu cả” (chúng tôi nhấn mạnh – N.H).

Và, nhiệm vụ đổi mới căn bản và toàn diện, “chống lại những gì cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ tốt tươi” là nhiệm vụ mà Hồ Chí Minh đã xác định trong Di chúc của Người. Có thể nói, đổi mới chính là linh hồn của tư tưởng Hồ Chí Minh. Kết luận này được rút ra từ những sự kiện lịch sử.

Ngay từ lúc mới 13 tuổi, khi lần đầu được tiếp xúc với những từ Tự do – Bình đẳng – Bác ái trong tiếng Pháp, Người nảy ra ý nghĩ mới lạ, ý nghĩ mà lịch sử về sau đã chứng minh tính chất phi thường của nó – “muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy”. Ý nghĩ này thể hiện tính ham hiểu biết, muốn tìm hiểu sự vật đến nơi đến chốn của Hồ Chí Minh. Đến khi 15 tuổi, Người đã nuôi chí đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào. Người tham gia công tác bí mật, làm liên lạc. Người khâm phục những nhà yêu nước tiền bối Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu, nhưng thấy rằng phải có cách làm khác với cách làm của các cụ. Trong khi các trí thức và thanh niên có tinh thần yêu nước đua nhau theo phái Đông du sang Nhật thì Người lại chọn con đường sang nước Pháp và các nước khác để xem họ làm như thế nào rồi trở về giúp đồng bào.

Trước khi đi theo Quốc tế cộng sản, Người chưa biết chiến lược, sách lược là gì, không rõ CHXH và chủ nghĩa cộng sản khác nhau thế nào, cũng chưa đọc một tác phẩm nào của Lênin, vậy mà khi cần phải có quyết định trong việc lựa chọn giữa Quốc tế II và Quốc tế III, Người đã nhạy bén chỉ dựa vào một tiêu chí duy nhất là Quốc tế nào ủng hộ các dân tộc thuộc địa, để đưa ra quyết định đúng đắn.

Trong khi chủ nghĩa Mác – Lênin và Quốc tế cộng sản đặc biệt nhấn mạnh đấu tranh giai cấp chống địa chủ, tư bản và coi việc chống chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu, trong khi Quốc tế cộng sản có quan điểm cho rằng công cuộc giải phóng thuộc địa chỉ có thể thực hiện sau khi giai cấp vô sản ở chính quốc giành thắng lợi trong cách mạng vô sản, thì Người đã không như thường lệ, chỉ giản đơn phụ họa và chứng minh cho những quan điểm đó, mà đã khảng khái và dũng cảm nêu lên những quan điểm mới, khác hẳn. Trong Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, Người đã đưa ra chủ trương tiến hành khởi nghĩa vũ trang ở các nước Đông Dương. Ở đây, một là, Hồ Chí Minh đã xác định rõ con đường đấu tranh vũ trang mang tính quần chúng để giải phóng dân tộc, chứ không chờ đến sau khi “giai cấp vô sản giành được thắng lợi ở các nước tư bản tiên tiến” như Tuyên ngôn thành lập của Quốc tế cộng sản năm 1919 và Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Quốc tế cộng sản về sau (1928) đã xác định. Hai là, cuộc khởi nghĩa vũ trang có thể nổ ra trùng hợp với cuộc cách mạng vô sản Pháp, chứ không phải đợi sau khi cuộc cách mạng vô sản Pháp thắng lợi rồi mới tiến hành. Đây là tư duy đổi mới bước đầu của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc. Và, như chúng ta đều biết, về sau, khi đã cân nhắc, xem xét kỹ lưỡng mọi mặt, Hồ Chí Minh đã đạt đến sự thăng hoa trong tư tưởng: cách mạng giải phóng dân tộc có thể thành công trước cách mạng vô sản ở các nước tư bản chính quốc và giúp cho phong trào công nhân ở các nước chính quốc.

Những quan điểm đổi mới táo bạo và to lớn được viết trong Báo cáo trên thể hiện tinh thần đổi mới, tầm cao trí tuệ và khí phách anh hùng cách mạng của Hồ Chí Minh. Nó chỉ có thể là sản phẩm phi thường của một trí tuệ phi thường, một tư duy đổi mới phi thường. ở đây, xin phép được lưu ý ràng, Hồ Chí Minh đã viết báo cáo đó trong lần đầu tiên đến Mátxcơva vào năm 1924. Lúc đó, Người mới theo Lênin và Quốc tế cộng sản được 4 năm trời, và nhiều lắm cũng chỉ mới qua một lớp học ngắn ngày và có lẽ là ngẫu nhiên tại Trường Đại học phương Đông. Vậy mà, Người đã dũng cảm và trung thực, bất chấp mọi sự nguy hiểm về mặt chính trị có thể xảy ra đối với bản thân, viết ra những cảm nhận và suy nghĩ độc đáo hết sức khác thường của mình, xuất phát từ thực tiễn, lấy thực tiễn và lợi ích của đất nước làm thước đo chân lý duy nhất. Điều đáng lưu ý nữa là, văn phong của bản báo cáo là văn phong biện luận. Sau khi nêu lên những sự thật về tình trạng giai cấp ở Việt Nam, Người đã viết: “Điều đó, không thể chối cãi được”. (Sau này, trong Tuyên ngôn độc lập, nghĩa là 31 năm sau, Người lại dùng câu: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” sau khi nêu lên những quyền con người được ghi trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791, để đi đến tuyên bố về quyền dân tộc chính đáng không thể phủ nhận của nhân dân Việt Nam).

Và, chúng ta không lấy làm lạ, từ những nhận thức phi thường ban đầu đó, về sau Hồ Chí Minh đã đi đến những quan điểm đổi mới hết sức phi thường, những kết luận hết sức phi thường trong việc đổi mới chiến lược, sách lược cách mạng phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến. Có thể thấy, trong điều kiện giai cấp và quan hệ giai cấp như ở Việt Nam khi đó, trong điều kiện “công nhân có thể là 2% trong dân số, không được học hành” (theo báo cáo của Nguyễn Ái Quốc gửi Quốc tế cộng sản ngày 21/9/1923), có nghĩa là trong điều kiện giai cấp công nhân công xưởng mới ở thời kỳ manh nha hình thành và với thực trạng giai cấp và quan hệ giai cấp đó thì liệu có thể áp dụng học thuyết đấu tranh giai cấp, cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản quá độ trực tiếp lên CHXH của chủ nghĩa Mác – Lênin được không, Nguyễn Ái Quốc đã dũng cảm nêu lên những nhận xét và quan điểm: “Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây”, “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”, “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó” và “chúng ta phải coi chừng”! Các dân tộc Viễn Đông có trải qua hai giai đoạn đầu (chế độ nô lệ, chế độ nông nô – N.H) không?”. Có thể nói, những nhận thức nêu lên trong bản báo cáo trên chính là ngọn nguồn tư tưởng của đường lối giương cao ngọn cờ dân tộc dân chủ ngay từ đầu và sự đổi mới chiến lược, sách lược bước đầu được xác định ở Hội nghị Trung ương VIII (khoá I), để rồi sau đó, được hoàn chỉnh ở Đại hội II của Đảng. Và, 29 năm sau, trong Thường thức chính trị, Hồ Chí Minh đã trực tiếp trả lời cho những vấn đề nêu trên với những nội dung hoàn toàn mới mẻ như sau: “Thời đại của chúng ta là thời đại mới, thời đại cách mạng thắng lợi…”. “Thời đại mới khiến cách mạng Việt Nam phải là cách mạng dân chủ mới”. Và, “tuỳ theo hoàn cảnh mà các dân tộc phát triển theo con đường khác nhau để đi đến CHXH.

Đối với Việt Nam là một nước đi lên CHXH từ xã hội phong kiến thuộc địa thì phải “kinh qua chế độ dân chủ mới, rồi tiến lên CHXH”. Đồng thời, Hồ Chí Minh đã nêu lên những đặc điểm về chính trị và kinh tế của chế độ dân chủ mới: sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện “nhân dân dân chủ chuyên chính”, phát triển nền kinh tế 5 thành phần (quốc doanh, hợp tác xã, cá thể, tư bản tư nhân, tư bản Nhà nước, trong đó, kinh tế quốc doanh giữ vai trò lãnh đạo).

Rõ ràng, Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ thực sự là một bản báo cáo hết sức phi thường. Nó thể hiện tính độc lập tự chủ, đổi mới trong tư duy, trong nhận thức lý luận và tính trung thực, thái độ tôn trọng chân lý, tôn trọng sự thật, tinh thần đồng cảm và khí phách cách mạng của Hồ Chí Minh. Nó báo hiệu sự hình thành, sự ra đời tất yếu của một hệ thống tư tưởng mới của Hồ Chí Minh. Ở đây, có thể nêu lên một số điểm mang tính khái quát trong hệ thống tư tưởng mới đó, để chúng ta cùng suy ngẫm:

Từ “dùng sức ta mà giải phóng cho ta” đến cách mạng giải phóng dân tộc có thể giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc.

Từ “trở về trước, đi vào quần chúng… đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập” đến “không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Từ “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước” đến cách mạng dân tộc dân chủ, Nhà nước dân chủ, “nước ta là nước dân chữ đến Đảng chỉ có thể là Đảng của một quốc gia.

Từ “thời đại mới là thời đại cách mạng thắng lợi” đến “cách mạng Việt Nam là cách mạng dân chủ mới”.

Từ “Đảng của nhân dân, Đảng của dân tộc” đến Mặt trận đại đoàn kết toàn dân, đại đoàn kết dân tộc.

Từ “quyền dân tộc của nhân dân Việt nam” đến Mặt trận quốc tế ủng hộ cách mạng Việt Nam.

Từ “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, “nhân, nghĩa, trí, dũng, tín” đến “trăm điều phải có thần linh pháp quyền”.

Từ chiến lược, sách lược đánh thắng hai đế quốc to đến chiến lược đối ngoại hòa bình, làm bạn với tất cả các nước, không gây thù oán với một ai.

Từ “ngoại giao và kinh tế có ảnh hưởng lẫn nhau”, “nếu mình có một chương trình kinh tế có lợi cho người ngoại quốc, họ có thể giúp mình” đến thực hiện chính sách mở cửa”, mở rộng “lưu thông trong ngoài” để phát triển nền kinh tế “theo hướng chủ nghĩa xã hội” của đất nước.

Từ đấu tranh vũ trang đến đường lối ứng xử hiện đại: cùng giữ gìn hoà bình, cùng tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, cùng đối thoại bình đẳng, cùng hiểu biết nhau, cùng thành thực tin cậy nhau, cùng nhân nhượng, cùng thỏa thuận và hợp tác cũng có lợi.

Từ đổi mới nhận thức về CHXH đến con đường định hướng XHCN thích hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.

Từ “toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến, trường kỳ kháng chiến” đến “dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”, tiến hành đổi mới “chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”, tiến tới xây dựng và thực hiện thành công CHXH ở nước ta.

Nhìn vào những quan điểm mới mang tính hệ thống trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta thấy, chúng xứng đáng được mệnh đanh là một học thuyết mới – học thuyết Hồ Chí Minh. Chúng ta không kìm được tự hỏi: Chúng sản sinh như thế nào? Trên cơ sở nào? Trong một bài viết về tư tưởng Hồ Chí Minh, nhà cách mạng lão thành, Giáo sư sử học Trần Văn Giàu đã có lý khi đề cập đến phương pháp luận, phương pháp tư duy Hồ Chí Minh. Đây chính là cơ sở dẫn đến sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Ông viết: “Suốt đời mình, Cụ Hồ có tính quen là quan sát thực tế… Sát thực tế là tính Cụ Hồ”, “óc phân tích tổng hợp của Cụ Hồ rất sắc sảo”. Và, “Cụ Hồ là người Việt Nam đầu tiên đề cao tầm quan trọng của lý luận. Theo Cụ Hồ, lý luận đối với một chính đảng quan trọng như linh hồn đối với con người. Song người ta thấy Cụ Hồ sau khi đã vạch ra tổng lộ tuyên thì chú trọng đặc biệt đến thực tiễn. Thực tiễn có thể chứng minh hoặc bác bỏ, hoặc đòi sửa đổi chủ trương mang tính lý luận. Thấy sai trái hay thiếu sót thì can đảm sửa, bổ sung, hay bỏ đi, đến đây thì thực tiễn là ưu tiên. Cụ Hồ là người dám nhìn thẳng vào sự thật. Cụ xem thực tiễn là trọng yếu số một. Cụ không thích lý luận tư biện cũng như không thích thực tiễn mù quáng”.

Đúng vậy. Chúng ta có thể tìm thấy câu trả lời như trên trong các tác phẩm của Hồ Chí Minh: nói theo tiếng nói của thực tiễn trên cơ sở phép biện chứng duy vật và lấy lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân làm thước đo chân lý duy nhất. Trong thư từ biệt gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp trước khi rời Paris năm 1923, Người viết:

“Chúng ta phải làm gì? Chúng ta không thể đặt vấn đề ấy một cách máy móc. Điều đó tuỳ hoàn cảnh của mỗi dân tộc chúng ta. Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”.

30 năm sau, Người viết rất rõ trong Thường thức chính trị: “Tất cả những người lao động trên thế giới đều có một mục đích chung là thoát khỏi áp bức bóc lột, được sống sung sướng tự do, tức là thực hiện chế độ cộng sản. Nhưng để đi đến mục đích ấy, mỗi nước phải tuỳ theo điều kiện của mình mà tiến dần”…

“Tính chất thuộc địa và phong kiến của xã lội cũ Việt Nam khiến cách mạng Việt Nam phải chia làm hai bước. Bước thứ nhất là đánh đổ đế quốc, đánh đổ củ phong kiến, thực hiện “người cày có ruộng”, xây dựng chính trị và kinh tế dân chủ mới. Trong giai đoạn này, phải bảo vệ tư sản dân tộc, vì họ cũng chống đế quốc, chống phong kiến và họ là một lực lượng để phát triển công nghệ, nông nghiệp và thương nghiệp. Bước thứ hai là tiến lên CHXH, tức là giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản”.

Thật rõ ràng, không thể đặt vấn đề một cách máy móc, giáo điều, Việt Nam nhất định sẽ đi đến CHXH nhưng từ điểm xuất phát là xã hội thuộc của và phong kiến, nên phải theo một con đường riêng thích hợp, mọi chủ trương chính sách đều phải xuất phát từ hoàn cảnh thực tế, cụ thể của đất nước và mỗi khi tình hình biến đối, có điều kiện mới nảy sinh thì phải kịp thời có sự thay đổi trong nhận thức tư tưởng và trong hành động, kể cả trong chiến lược, sách lược cách mạng, vận dụng linh hoạt phép biện chứng duy vật, lấy lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân làm thước đo chân lý duy nhất, coi lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân trên hết. Đó là những cơ sở khiến cho Hồ Chí Minh, với trí tuệ phi thường của mình, sáng tạo nên một hệ thống những quan điểm mới về chiến lược, sách lược cách mạng phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam và tính chất của thời đại mới, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Chúng ta không thể không chú ý, khi nói đến ưu điểm của chủ nghĩa Mác, Hồ Chí Minh chỉ nêu “phương pháp làm việc biện chứng” thôi. Đương nhiên, điều này trước hết có nghĩa là phép biện chứng duy vật vẫn giữ nguyên giá trị cho đến ngày nay. Những gì trái với nó đều không có cơ sở để tồn tại. Và, đối với chúng ta, việc vận dụng nó chỉ có thể đem lại hiệu quả khi thực sự xuất phát từ thực tế, không thoát ty điều kiện vật chất thực tế và lấy lợi ích ủa Tổ quốc, của nhân dân làm thước đo chân lý duy nhất. Xét đến cùng, theo học thuyết Hồ Chí Minh, lợi ích của tổ quốc, của nhân dân mới là “cái bất biến”, tất cả mọi cái khác, kể cả những quan điểm, tư tưởng, nếu muốn duy trì địa vị là chân lý hoặc trở thành chân lý mới, đều phải phù hợp với “cái bất biến” đó. Những gì trái với nó đều không phải là chân lý, càng không phải là chân lý mới. Người nói: “Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức không phải chân lý”.

Đương nhiên, việc phát hiện và nêu lên những quan điểm mới, những chân lý mới là một việc rất không giản đơn và dễ dàng. Những thế lực ra đời trên cơ sở những quan điểm cũ và được lợi (về chính trị, vật chất và tinh thần) trong việc duy trì những quan điểm cũ sẽ tìm trăm phương nghìn kế chống lại bất kỳ một quan điểm mới nào mà họ cho là có thể làm tổn hại lợi ích hoặc tình cảm riêng tư của họ. Cho nên, một người đám nêu lên những quan điểm mới, nhất là những quan điểm mới trong lĩnh vực khoa học xã hội, thực sự là một người “trí, nhân, dũng”. Và, Hồ Chí Minh chính là một con người “trí, nhân, dũng” vĩ đại.

Nhìn chung, có thể thấy hệ thống những quan điểm mới của Hồ Chí Minh đều là sản phẩm của sự kế thừa biện chứng và sự phát triển nâng cao về chất của Người đối với những giá trị tinh thần và tư tưởng của dân tộc Việt Nam, những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn giữ được giá trị trong thời đại mới và những giá trị quý báu trong kho tàng tinh thần và tư tưởng của phương Đông, phương Tây, của toàn nhân loại. Đặc biệt, Người đã vận dụng tài tình hai quy luật của phép biện chứng duy vật, hai quy luật quy định tiến trình vận động và phát triển của xã hội: quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng. Đồng thời, Người còn kết hợp, vận dụng một cách linh loạt và tài tình một quy luật khác nữa, đó là quy luật đổi mới công bằng. Luận điểm mang tính tiên tri đã nuêu của Người phản ánh yêu cầu tổng quát, mang tính tất yếu của quy luật này: nếu cứ duy trì phương pháp tư duy cũ, tư tưởng và quan niệm cũ và cách làm (bao gồm cả chiến lược, sách lược) cũ, là không đi đến đâu cả, có nghĩa là đi vào chỗ bế tắc, đi vào ngõ cụt. Thực ra, quy luật này cũng là một quy luật vận động của xã hội loài người. Con người thường vẫn vận dụng nó, nhưng không nhận thức ra nó. Trong thời đại mới ngày nay, sự hoạt động của nó trở nên hết sức sôi động, mạnh mẽ và nếu con người biết vận đụng nó một cách đúng đắn thì có thể đạt được những kết quả khả quan trong sự phát triển. Quy luật này yêu cầu: thứ nhất, tuỳ theo sự thay đổi của điều kiện, hoàn cảnh và tình hình thực tế ở trong nước và thế giới mà tiến hành đổi mới trong tư duy, nhận thức và hành động thực tiễn, thử hai, đổi mới phải toàn diện, đồng bộ, triệt để và nhất quán, bảo đảm duy trì được sự cân bằng giữa các mặt, các bộ phận cấu thành hữu cơ của chỉnh thể từ vĩ mô đến vi mô, từ đó duy trì được sự phát triển với tốc độ cao và bền vững trong sự ổn định của chỉnh thể, thử ba, đổi mới phải năng động, kịp thời, chắc chắn, tương ứng với đòi hỏi đổi mới của thực tiễn.

Quy luật này cũng là một quy luật của phép biện chứng. Trong thời đại mới ngày nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão, làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng, xã hội ngày càng phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng. Nó đặt ra vấn đề “Đổi mới hay là chết ?” trước tất cả các nước, nhất là các nước đang phát triển (ở những nước này, nếu đưa ra khẩu hiệu “Chủ nghĩa xã hội hay là chết” thì như Ph.Ăngghen đã nói trong thư gửi Iôxíp Vâyđơmaiơ, ngày 12/4/ 1858, sẽ là “quá sớm”). Muốn tránh tụt hậu, nhanh chóng rút ngắn khoảng cách và đuổi kịp các nước phát triển tiên tiến, muốn tránh không rơi vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng và bế tắc, muốn duy trì củ sự phát triển với tốc độ cao và bền vững, hạ thì phải vận dụng có hiệu quả quy luật này đi đôi với việc vận dụng đúng đắn quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, tuỳ theo sự thay đổi của điều kiện và tình hình thực tế ở trong và ngoài nước mà kịp thời tiến hành đổi mới năng động, thực hiện được sự cân bằng động trong quá trình phát triển. Sự cân bằng động này dựa trên cơ sở sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất, là sản phẩm của sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất. Trong điều kiện phát triển bình thường, nó có thể đạt được thông qua sự đổi mới mang tính điều chỉnh cục bộ. Còn trong tình trạng khủng hoảng toàn cục thì nó đòi hỏi phải tiến hành đổi mới căn bản, toàn điện và đồng bộ. Nhìn chung, nó bao hàm một chuỗi bất tận những sự cân bằng tĩnh tương đối của sự vật, ở đây là xã hội. Theo đà phát triển của lực lượng sản xuất, những nhân tố phá vỡ sự cân bằng tĩnh tương đối dần dần sản sinh và tích tụ, đến một trình độ nào đó sẽ đòi hỏi phải thiết lập một sự cân bằng tĩnh tương đối mới, và đây chính là lúc con người phải kịp thời nhận thức và hành động, tiến hành việc đổi mới, nhằm tạo nên một sự cân bằng tĩnh tương đối mới ở trình độ cao hơn cho sự vật, bảo đảm duy trì được sự phát riển liên tục, không để cho sự vật rơi vào tình trạng khủng hoảng, bế tắc và đổ vỡ. Đây chính là mục đích của việc nhận thức và vận dụng quy luật đổi mới cân bằng động theo tư tưởng đổi mới của Hồ Chí Minh, gắn liền với việc nhận thức và vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng theo quan điểm duy vật biện chứng khi áp dụng vào việc nghiên cứu xã hội của C.Mác và Ph.Ăngghen.

Nhìn lại thực tế đổi mới trong hơn 15 năm qua, chúng ta thấy, từ những thành quả bước đầu rất đáng khích lệ đến những vấn đề còn cần được tiếp tục đổi mới, tất cả đều nói lên một điều mà Cố vấn Phạm Văn Đồng đã nêu trong Văn hóa và đổi mới: đổi mới là quy luật. Càng suy ngẫm, chúng ta càng thấy ý nghĩa sâu xa của luận điểm nêu trên của Hồ Chí Minh. Quả vậy, đúng như thực tế ta cho thấy, trong thời đại mới ngày một phát triển ngày nay, “nếu cứ giữ cái nếp cũ”, những cái đã trở nên lỗi thời, lạc hậu trong tư duy và hành động, không đổi mới là không có lối ra, là đi vào ngõ cụt, là đổ vỡ. Điều này thích hợp với mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp và với cả mỗi cá nhân con người.

Chúng ta cần có sự suy ngẫm và nhận thức đầy đủ đối với luận điểm thể hiện chân lý và tính quy luật của thời đại mới nêu trên của Hồ Chí Minh. Thứ nhất, phải nhận thức và vận đụng cho tốt quy luật đổi mới cân bằng động nêu trên. Thứ hai, phải đổi mới căn bản, toàn điện và đồng bộ đối với “cái nếp cũ” nói chung cũng như đối với “cái nếp cũ” cụ thể trong mỗi lĩnh vực của đời sống xã hội. Chúng ta không chỉ phải nghiên cứu sự đổi mới “cái nếp cũ” trong tư tưởng và hành động của Hồ Chí Minh trong lĩnh vực xây dựng chiến lược, sách lược cách mạng, mà còn phải nghiên cứu những tư tưởng đổi mới của Người đối với “cái nếp cũ” trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống: nếp nhà, nếp làng, nếp nước, nếp tu thân – lối làm người, nếp tư duy – lối suy nghĩ, nếp hành động – lối làm việc, nếp diễn đạt – lối viết lối nói, nếp giao tiếp – lối ứng xử, nếp sinh hoạt – lối sống… Chắc chắn, tư tưởng đổi mới của Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực này cũng hết sức độc đáo, đặc sắc, sáng ngời chân – thiện – mỹ. Nghiên cứu bộ phận tư tưởng này của Hồ Chí Minh cũng sẽ giúp chúng ta giải quyết tất mối quan hệ giữa cái quá khứ, cái hiện tại và cái tương lai. ở đây, chúng tôi xin phép được nêu lên một nhận xét chung là: con người bao giờ cũng sinh ra trong một hoàn cảnh mà trong đó, đã có sẵn “cái nếp cũ”, trong đó bao gồm cả những cái vốn là truyền thống nhưng nay đã trở nên lỗi thời, lạc hậu, được sản sinh và tồn tại từ trước trong quá khứ. Con người được thừa hướng những mặt tốt đẹp do quá khứ để lại, nhưng cũng phải gánh chịu những mặt tiêu cực của những cái cũ kỹ, lạc hậu, lỗi thời của quá khứ trong “cái nếp cũ” đó. Vì thế, con người bao giờ cũng đứng trước một nhiệm vụ kép, một mặt phải kế thừa, nâng cao và phát huy những cái tất đẹp, những cái vẫn phù hợp hoặc thích ứng được với cuộc sống hiện tại, mặt khác, phải khắc phục hoặc uốn nắn những cái cổ hủ, lạc hậu và những cái đã trở nên lỗi thời trước cuộc sống thực tế hiện tại, nói chung là phải khắc phục “cái nếp cũ” của quá khứ để lại kể cả những tập quán, quan niệm, thiết chế, hình thức truyền thống đã trở nên lỗi thời, lạc hậu. Muốn hoàn thành tốt trách nhiệm kép này, con người phải tiến hành đổi mới đối với “cái nếp cũ” trong tất cả các lĩnh vực, trước hết là cái nếp cũ trong chiến lược, sách lược cách mạng, bởi nhìn chung, đây là nhân tố quyết định chiều hướng và tính chất của sự đổi mới “cái nếp cũ” trong các lĩnh vực khác, sau đó, phải tiến hành sự đổi mới tương ứng “cái nếp cũ” ấy trong tất cả các lĩnh vực khác còn lại, nhất là trong lĩnh vực triển khai thực hiện cụ thể chiến lược, sách lược cách mạng đã được đổi mới.

Đương nhiên, con người không thể phủ nhận, nhất là không được chống lại quá khứ. Bởi vì, như thế tức là tự phủ nhận, là tự chống lại chính mình. Nhưng mà, vì lợi ích hiện tại và tương lai của mình, con người cũng không nên để mình trở thành tù nhân, trở thành nô lệ của quá khứ, nhất là không được để mình trở thành tù nhân, trở thành nô lệ của “cái nếp cũ” do quá khứ để lại, là “cái nếp” đã trở nên lỗi thời, không còn phù hợp với thực tế hiện tại đã thay đổi và còn tiếp tục thay đổi. Trong khi kế thừa, nâng cao và phát huy những cái tốt đẹp của quá khứ để lại, một mặt, con người cần phải tỉnh táo, không tự đánh mất mình trong cái vinh quang có sẵn, mặt khác, phải biết để cho những cái lạc lậu, lỗi thời – “cái nếp cũ” nằm yên trong quá khứ, không để mình bị chúng trói buộc chân tay, và hơn nửa, phải biết lấy chúng làm bài học lịch sử cho việc đổi mới hiện tại, chuẩn bị tất cho tương lai.

Trở lại một cách toàn diện và triệt để với hệ thống tư tưởng đổi mới của Hồ Chí Minh, với học thuyết Hồ Chí Minh đó là cơ sở, là điều kiện, là tiền đề cho việc đưa đất nước phát triển thành công theo định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, tiến nhanh đến mục tiêu CHXH.

Theo Tạp chí Triết học
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Dân có sức mạnh hơn cả sông núi nếu ta biết dựa vào dân thì sẽ thành công

Một lần bác Hồ đi thăm nhân dân khu Hồng Quảng bị bão lụt. Các đồng chí lãnh đạo báo cáo việc khắc phục hậu quả chậm, gặp nhiều khó khăn, với lý do: Dân ở đây chậm giác ngộ, không hợp tác tốt với lực lượng của Trung ương về ứng cứu. Nghe các đồng chí lãnh đạo báo cáo xong, Bác không nói gì. Nhưng sau đó, Bác gặp riêng các đồng chí lãnh đạo và kể cho các đồng chí này nghe một câu chuyện:

– Trong thời kháng chiến chống Pháp, ở Thái Nguyên có hai đơn vị bộ đội về đóng quân. Đơn vị thứ nhất bị dân phản ảnh, kêu ca; tình hình hết sức khó khăn, bộ đội không mua được gạo, thịt và các nhu yếu phẩm trong dân. Đơn vị thứ hai đến sau, cũng đóng quân tại chính địa điểm này, nhưng hoàn toàn không có hiện tượng đó. Tình quân dân rất thắm thiết, nhân dân còn mang măng, chuối, trứng gà đến tặng đơn vị. Vấn đề đặt ra là: Vì sao đơn vị trước lại bị dân phản ảnh, kêu ca?

– Bác giải thích: Tại vì đơn vị trước là “quan” rồi, nên không chịu làm công tác dân vận, cái gì cũng bỏ tiền túi ra mua, khi mua còn bị dân làm khó, không chịu bán. Đơn vị sau biết cách tổ chức tốt công tác dân vận nên được nhân dân ủng hộ, quí mến, chăm lo như người thân trong gia đình. Rồi Bác hỏi lại các đồng chí lãnh đạo: “Vậy có phải dân ở đó kém giác ngộ và xấu không? Rồi Bác nhấn mạnh: “Tình hình ở đây cũng vậy thôi, các chú phải xem lại có phải dân chậm giác ngộ, hay tại các chú chưa làm tốt công tác dân vận?”

Trong một lần khác, tại lớp học chính trị ở hang Kéo Quảng (Nguyên Bình), do Bác Hồ trực tiếp phụ trách. Hồi bấy giờ, Hítle đang ồ ạt tiến công Liên Xô. Quân phát xít Đức đã chiếm gần hết Ucraina và chỉ còn cách Thủ đô Matxcơva khoản 30 kilômet. Nhiều người lo lắng hỏi: “Thưa lão đồng chí, phát xít Đức mạnh như thế, liệu Liên Xô có thể bị mất không ạ”?. Bác nói: “Việc gì mà phải lo. Liên Xô đã chuẩn bị từ lâu. Đất nước này rộng lắm. Các nhà máy ở Thủ đô đều đã dời vào dãy núi Uran cách xa hàng ngàn cây số. Nếu quân đội của Hítle chiếm đóng những vùng gần Thủ đô thì Liên Xô sẽ rút về phía Uran và tiếp tục kháng chiến. Đánh giặc phải có căn cứ địa chứ”.

Nghe nói đến căn cứ địa, có người hỏi: “Thưa lão đồng chí, ở miền núi thì lấy núi, lấy sông làm căn cứ địa, thế còn ở đồng bằng không có địa thế hiểm trở thì làm thế nào ạ”?

Bác cười bảo: “Có núi thì dựa vào núi, có sông thì dựa vào sông, không có núi, có sông thì dựa vào người dân ở đó. Rồi Bác kể: Ông cha ta bao đời đánh giặc, nhất là trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, kẻ địch mạnh đến nỗi hầu hết các nước đều phải chịu thua. Nhưng khi chúng kéo quân vào nước ta, thì cả ba lần đều bị thất bại. Đó là vì Triều Trần biết lấy dân làm sông, làm núi. Các chú có biết trong chữ Hán có chữ “nhân sơn, nhân hải”, có nghĩa là “núi người, biển người” không? Ở đâu có dân là ở đó có núi, có sông, có biển. Dân có sức mạnh hơn cả sông núi. Nếu ta biết dựa vào dân thì sẽ thành công.

Từ hai câu chuyện trên, chúng ta nhận thức được rằng, tư tưởng, đạo đức của Bác Hồ thấm nhuần một chân lý sâu sắc: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Bài học “dựa vào dân” của Bác nêu ra, làm cho mọi người chúng ta, nhất là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phải suy nghĩ, nghiên cứu cho thật kỹ, thật sâu.

Trong quan hệ, liên hệ công tác, làm việc với nhân dân, trước hết phải hiểu rằng mình là người của Đảng, của Nhà nước, của đoàn thể cử ra làm việc với mục đích là phục vụ thật tốt những nhu cầu, yêu cầu chính đáng, hợp pháp của mỗi một người dân; đôi khi trong quá trình làm việc, công tác, có thể sẽ gặp những người dân khó tính, bắt bẻ này nọ.

Trong trường hợp có những cán bộ, công chức, viên chức, người thừa hành công vụ khó chịu. Song, như Bác Hồ nói, chúng ta phải toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Bởi vì khi làm nhiệm vụ là chúng ta thay mặt Đảng, Nhà nước, đoàn thể để làm chứ không phải với tư cách cá nhân của mình mà làm việc.

Đó là cốt lõi của câu nói mà Bác Hồ luôn nhắc nhỡ đội ngũ cán bộ, công chức: “Làm cách mạng là phải dĩ công vi thượng”. Dĩ công vi thượng là cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích chung lên trên hết, tất cả vì nước vì dân, đặt lợi ích của dân, của nước, của Ðảng lên trên hết, đem lòng chí công vô tư mà đối xử với người, với việc, không mảy may có chút chủ nghĩa cá nhân. Dĩ công vi thượng là cốt cách người cách mạng. Nếu ai không làm được điều này thì không thể trở thành người cách mạng, người cán bộ, đảng viên, đoàn viên chân chính. Lời dạy của Bác thật là chí nghĩa, chí tình với dân, với nước, với đồng bào, đồng chí chúng ta.

Theo http://www.ubmttq.hochiminhcity.gov.vn
Anh Tú (st)

bqllang.gov.vn

“Người bạn Pháp của Việt Nam” kể chuyện Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh bế con gái đỡ đầu Elizabeth. Bên cạnh là bà Lucie Aubrac. Ảnh tư liệu

“Khi Người lưu lại gia đình tôi, nhiều người bạn hỏi phải chăng Hồ Chí Minh đến ở nhà tôi để giải trí? Không phải vậy, Người ở đó để tranh thủ thời gian tìm hiểu về đời sống người dân Pháp”, ông Raymond Aubrac nhớ lại.

Nhân dịp 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, tháng 5/2010, ông Aubrac đã cùng con gái Elisabeth trở lại thăm Việt Nam. Đã 96 tuổi, nhưng hễ nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Raymond Aubrac lại trở nên phấn chấn lạ thường. “Tôi có cơ may được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhờ vào cuộc kháng chiến chống phát xít Đức của nhân dân Pháp”, ông chậm rãi mở đầu câu chuyện.

Ông kể, giữa năm 1946, sau cuộc đàm phán với Pháp không có kết quả, nhận lời mời của Chính phủ Pháp, Hồ Chí Minh đã sang thăm Pháp với danh nghĩa Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Cũng thời gian này ở Pháp có Hội nghị Fontainebleau. Đoàn Việt Nam tham dự do Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn. Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó cũng ở Paris, nhưng không tham gia Hội nghị. Sau khi hội nghị kết thúc, Đoàn Việt Nam về nước, còn Người ở lại để cùng với Marius Moutet, Bộ trưởng Bộ Hải ngoại, đại diện Chính phủ Pháp ký bản Tạm ước với hy vọng cứu vãn hoà bình.

Ngày 27/7/1946, Việt kiều ở Pháp tổ chức tiệc chiêu đãi tại Vườn Hồng Bagatelle ở Paris để chào mừng Chủ tịch. Ông Raymond Aubrac cũng có mặt trong buổi chiêu đãi. Trò chuyện trong buổi gặp gỡ đầu tiên, “người bạn Pháp” cảm nhận và chia sẻ sự gắn kết gần gũi về lý tưởng đấu tranh cách mạng với Hồ Chí Minh.

“Đó là mối quan hệ giữa cuộc kháng chiến của lực lượng yêu nước Pháp và sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam”, ông Raymond Aubrac kể lại. Ngay khi đó, ông đã nảy ý định mời Chủ tịch Hồ Chí Minh đến ở nhà riêng của mình ở Soisy-sous-Montmorency, ngoại ô Paris, dù Chính phủ Pháp dành cho Người một tầng trong ngôi nhà lớn ở gần Khải hoàn môn.

Ông Aubrac kể, khi ông làm đại diện Chính phủ Pháp tại Marseille năm 1944-1945, ở đó có rất nhiều lính thợ Việt Nam được Chính phủ Pháp tuyển mộ sang Pháp từ năm 1939 để thay thế cho thanh niên Pháp nhập ngũ. Phát hiện tại các trại này anh em bị côn đồ đàn áp, ông đã giải tán Ban chỉ huy, thay bằng những người tốt và cho anh em tự bầu ra một Ban tư vấn bên cạnh Ban chỉ huy. Từ đó anh em biết ơn ông và năm nào đến dịp lễ Tết đều mời ông dự. “Có lẽ vì thế mà tôi được mời dự cuộc chiêu đãi ở Bagatelle và được giới thiệu với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và ngày hôm đó đã đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời tôi”, ông Aubrac nói. 6 tuần Chủ tịch Hồ Chí Minh ở nhà ông là khoảng thời gian đáng nhớ nhất với gia đình ông Aubrac. Lúc đó gia đình ông Aubrac có hai vợ chồng, hai con nhỏ, mẹ vợ và một người giúp việc.

“Khi Người lưu lại gia đình tôi, nhiều người bạn Pháp hỏi phải chăng Hồ Chí Minh đến ở nhà tôi để giải trí. Không phải vậy, Người ở đó để tranh thủ thời gian tìm hiểu về đời sống của người dân Pháp, hoàn cảnh nước Pháp… Chủ tịch nói chuyện với mẹ tôi, qua đó so sánh với điều kiện sống của dân Việt Nam”, ông Aubrac nhớ lại.

Mỗi buổi sáng, người nhà ông Aubrac mang đến cho Bác sách báo tiếng Pháp, tiếng Anh, Đức, Nga… Bác thường đọc báo ngay trên thảm cỏ hàng giờ liền. Chính phủ Pháp dành cho Bác một tầng trong một ngôi nhà lớn ở gần Khải hoàn môn, nhưng Bác thường không vào Paris tiếp khách, mà mời về nhà ông Aubrac. Ở đây Bác tiếp và chiêu đãi nhiều nhân vật thuộc các khuynh hướng chính trị khác nhau, các nhà văn, nhà báo…Ông kể lại rằng, ngày 31/7/1946, nhân ngày sinh của ông, Bác đã tặng ông một bức tranh của họa sĩ Vũ Cao Đàm, một trí thức Việt kiều yêu nước. Bức tranh tả một bà mẹ mới sinh con, đang vươn cánh tay dài với những ngón tay mảnh dẻ vuốt đầu cháu bé. Ít lâu sau, vợ ông sinh người con gái thứ ba, Elizabeth, Người đã đến nhà hộ sinh thăm, tặng hoa và nhận là người đỡ đầu. “Đó là ngày 15/8/1946. Từ đó trở đi, cả trong thời gian chiến tranh, chúng tôi luôn nhận được một món quà hay một cử chỉ nào đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho con gái tôi”, ông Aubrac bồi hồi.

9 năm sau kể từ năm 1946, ông Aubrac mới có cơ hội gặp lại Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1955 khi công tác tại Bắc Kinh, ông Aubrac vô tình đọc được trên tờ báo Bắc Kinh bằng tiếng Anh dòng chữ rất to “Chào đón Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm nước CHND Trung Hoa”. Ngay lập tức, ông gọi điện đến Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc nhờ gửi đến Chủ tịch Hồ Chí Minh lời chào của người bạn sau 9 năm chưa gặp lại. 15 phút sau, điện thoại đổ chuông, một người nói với ông “Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ông 6 giờ sáng mai đến ăn sáng”.

Ông Raymond Aubrac (phải) nhận được tình cảm nồng nhiệt từ những người bạn Việt Nam. Trong ảnh, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng thân mật bắt tay và trò chuyện với ông bên lề Hội thảo quốc tế Di sản Hồ Chí Minh giữa tháng 5. Ảnh: Nguyễn Hưng.

Sáng hôm sau, lái xe đón ông đến gặp Bác Hồ. Vừa gặp, Chủ tịch Hồ Chí Minh ôm hôn ông và hỏi thăm tình hình gia đình, các con của ông Aubrac. Khi biết ông Aubrac đến Bắc Kinh để đàm phán về một hiệp định thương mại Pháp – Trung, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị ông giúp đỡ trong việc đàm phán hiệp định thương mại đầu tiên giữa Pháp và Việt Nam.

“Hồ Chủ tịch nói nếu như tôi ở Hà Nội thì có thể giúp Việt Nam được việc này vì hai phái đoàn Pháp – Việt đều biết tôi. Tôi đã trả lời rất vui nếu được giúp nối lại cuộc đàm phán này. Ngay sau đó tôi sang Hà Nội”, ông Aubrac kể.

Ông Aubrac đã vượt quãng đường dài 5 ngày 4 đêm từ Bắc Kinh qua cửa khẩu Lạng Sơn bằng tàu hỏa đến Việt Nam lần đầu tiên. Đến Hà Nội, ông Aubrac đã gặp ông Phạm Văn Đồng và đại diện đoàn Pháp. Trong vòng 5 phút sau khi ông Aubrac đưa ra ý kiến trọng tài về cuộc đàm phán này, hai bên đã ký Hiệp định thương mại đầu tiên. Sau đó, ông lại bắt tàu hỏa từ Lạng Sơn về Bắc Kinh. “Thế là tôi đi mất 10 ngày, 8 đêm chỉ để làm việc 5 phút”, ông nói vui khi nhớ lại. Năm 1967 cuộc chiến tranh chống Mỹ của Việt Nam đang ở giai đoạn khốc liệt. Dư luận thế giới bày tỏ sự lo lắng, trong số đó có Pugwash, Tổ chức chống chiến tranh hạt nhân gồm nhiều nhà khoa học nổi tiếng thế giới trong lĩnh vực chế tạo bom nguyên tử. Hội nghị ở Paris năm đó có bàn về vấn đề Việt Nam và nhất trí cử hai nhà khoa học Pháp làm “sứ giả” giữa Washington và Hà Nội. Mục tiêu là tiến tới sự gặp gỡ giữa người đại diện có thẩm quyền của hai Chính phủ để bàn về việc ngừng leo thang chiến tranh. Khi đó, ông Aubrac đang làm việc cho Tổ chức Nông lương của Liên hợp quốc (FAO) ở Rome (Italy). Ông nhận được yêu cầu trở về Pháp và cùng giáo sư người Pháp Herbert Marcovich thực hiện nhiệm vụ này. Hai ông phải dừng chân tại Phnom Penh (Campuchia) để xin visa vào Hà Nội vì khi đó Việt Nam chưa có đại diện ngoại giao ở châu Âu.

Sau khi tới Hà Nội, ông đã tới nhà sàn gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vừa gặp, Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi thăm bà Lucie Aubrac và các cháu, nhất là Elisabeth. Sau câu chuyện hàn huyên, ông Aubrac nói về cuộc họp của Pugwash ở Paris và nói ông có nhiệm vụ chuyển tới Chủ tịch một “bức thông điệp miệng” của Tổ chức này nhằm tìm một giải pháp cho vấn đề chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Chủ tịch nói: “Không thể chấp nhận được, trừ khi Mỹ phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom bắn phá Việt Nam”. Trước khi về nhà sàn nghỉ, Bác Hồ chuyển cho ông một tấm lụa và nói: “Đây là quà tôi gửi cho Elisabeth” rồi ôm hôn ông thắm thiết.

Sau đó, trong vai trò sứ giả ông Aubrac nhiều lần tiếp xúc với đại diện Mỹ và Việt Nam ở Paris. Tháng 8/1967, Nhà Trắng gửi cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa công hàm bày tỏ sẵn sàng ngừng ném bom miền Bắc với điều kiện “việc làm này không bị lợi dụng và đưa đến những cuộc thảo luận có kết quả”.

Lần gặp năm 1967 là lần cuối cùng ông gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuy nhiên đó không phải lần cuối cùng ông đến Việt Nam. Đến nay ông đã sang Việt Nam 16 lần. Vào ngày 30/4/1975, ông cũng có mặt tại Hà Nội để chứng kiến thời khắc lịch sử giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.

Gắn bó với Việt Nam từ năm 1946, khi gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Paris, Raymond Aubrac là người đã giúp đỡ ký kết Bản thỏa thuận thương mại đầu tiên giữa Việt Nam và Pháp (năm 1955); trao đổi thông điệp giữa Hà Nội và Washington để xác định chấm dứt vô điều kiện việc Mỹ ném bom xuống Việt Nam (năm 1967); kêu gọi và góp phần làm chấm dứt ném bom xuống các đê sông Hồng (năm 1972).

Theo vnexpress
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Nhớ lời Bác dặn: “Học lấy cái bằng làm người”

Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang tích cực triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Trang tin điện tử Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trân trọng đăng bài viết dưới đây của Thiếu tướng Tiến sĩ Đặng Nam Điền, Bí thư Đảng uỷ, Chính uỷ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác giáo dục, đào tạo, Người đã khẳng định mọi công việc từ to đến nhỏ có thành công hay không yếu tố con người vẫn là quyết định. Trong cuốn Sổ vàng truyền thống Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương tại Chiến khu Việt Bắc năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Học để làm người, làm việc, làm cán bộ”. Khi Bác đến thăm thầy và trò Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Người đã chỉ rõ: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần phải có những con người xã hội chủ nghĩa”. Trước lúc đi xa, trong Di chúc để lại, điều đầu tiên, Người vẫn giành tình cảm thương yêu cho đồng bào, đồng chí, cho các cháu thiếu niên và nhi đồng yêu quý….Phải chăng đây chính là cái gốc của đạo đức mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã suốt đời hy sinh cống hiến, trở thành tấm gương mẫu mực cho các thế hệ người Việt Nam học tập và noi theo.

Mỗi người chúng ta đều thấy rõ ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, lời nói luôn đi đôi với việc làm. Theo thống kê của Bảo tàng Hồ Chí Minh, trong 15 năm từ 1955 đến 1969, trên cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Người đã có hơn 700 lần đi cơ sở. Người đến các địa phương, các công trường, nhà máy, xí nghiệp, các đơn vị bộ đội, công an, trường học và các cơ quan…

Hình ảnh một vị Chủ tịch nước tuy tuổi đã cao nhưng vẫn sắn quần lội ruộng cùng nông dân, đến bên bờ ruộng thăm hỏi nhân dân thu hoạch, trao đổi về mùa vụ với người ngư dân ngay tại bãi biển, kiểm tra tình hình sản xuất trong xưởng máy, động viên bộ đội tại trận địa, đến thăm học sinh, sinh viên tại giảng đường… lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của từng người dân bình thường nhất, động viên kịp thời từng gương tốt, phê bình góp ý cho cán bộ, lãnh đạo ngay tại địa bàn… đấy không phải chỉ là tác phong sâu sát mà còn là thái độ “yêu dân, kính dân”, “gắn bó máu thịt với nhân dân”.

Hàng năm Tết đến, Xuân về chúng ta ai ai cũng háo hức chờ nghe thơ chúc Tết của Người, nhưng với Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ có làm thơ Tết mà còn lo có Tết cho mọi nhà, vì vậy mà trước giao thừa năm nào Người cũng có những chuyến thăm tất niên, trong nh÷ng đối tượng được Người đến bao giờ cũng có những gia đình nghèo. Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn đến với những người dân nghèo cần có sự quan tâm đúng lúc cũng như Bác muốn nhìn thấu đáo tới một sự thật để khẳng định trách nhiệm của Đảng cầm quyền: Không chỉ chăm lo đến đường lối chính sách mà Đảng còn phải chăm lo đến tương cà, mắm muối cho dân. Hễ dân đói là Đảng có lỗi, dân rét là Đảng có lỗi, dân còn bệnh tật là Đảng có lỗi….

Nhớ câu chuyện cảm động do đồng chí Nguyễn Lương Bằng kể lại: Khi chuẩn bị viết tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng: Cán bộ đảng viên là cái gương để quần chúng soi vào, cho nên dân ta mới có câu nói “đảng viên đi trước, làng nước theo sau!” muốn làm được điều đó thì cán bộ đảng viên phải tu dưỡng rèn luyện để khổ mấy cũng chịu được, nhưng sướng mấy cũng phải chịu được. Người còn nói tiếp: Bác rất lo khi đã có chính quyền rồi, có điều kiện kinh tế khác thời kháng chiến rồi cán bộ dễ bị sa ngã, dễ quan liêu, tham nhũng, hư hỏng, đó là những cán bộ đảng viên không chịu được “sướng” đấy. Vì vậy, kinh tế càng phát triển, đời sống càng được nâng cao thì càng phải chống chủ nghĩa cá nhân, càng phải rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng. Càng phải tôn trọng và gắn bó máu thịt với nhân dân, phải giữ gìn và xứng đáng là những tấm gương để quần chúng nhân dân soi vào. Nói đi đôi với làm, chúng ta thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự là con người như vậy. Vì sao trong tủ quần áo của Người chỉ với mấy bộ kaki, có chiếc đã sờn cổ, sờn tay dùng để hội họp và tiếp khách, vài bộ quần áo phụ để đi thăm đồng bào? Vì sao vị Chủ tịch không chịu diện những đôi giầy da bóng lộn mà quen với đôi dép cao su vẹt gót? Vì sao không ô không lọng mà đi đâu cũng với chiếc mũ “cát” quen thuộc? Không thích kỷ đài, không ưa khẩu hiệu đến đâu cũng quan tâm đến chỗ ăn, chỗ ở, nơi vệ sinh, thăm hỏi để thấm tận tâm tư chứ không xã giao sáo rỗng? Vì sao trọn đời cống hiến hy sinh mà vẫn một mực chối từ những tấm Huân chương rất xứng đáng của Quốc hội và của các quốc gia khác trao tặng? Vì Tổ quốc chưa được độc lập hoàn toàn, nhân dân còn đói khổ, đất nước ta còn nghèo lắm thì không ai được tự cho mình cái đặc quyền đặc lợi, không ai được tự cho mình cái quyền sống trên sự đau khổ của đồng bào mình.

Năm 1960, khi đoàn 72 sinh viên khóa đầu tiên tốt nghiệp Đại học lên báo cáo kết quả học tập với Quốc hội. Sau khi nghe báo cáo, động viên khen ngợi, thay mặt Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Các cô, các chú đã cã bằng Đại học rồi, bây giờ hãy về bệnh viện, trường học, nhà máy, công trường để học lấy cái “bằng làm người” nữa. Có như vậy mới phục vụ nhân dân và đất nước được lâu dài”. Những lời Bác dặn năm xưa, mỗi chúng ta cùng suy ngẫm để mãi mãi noi gương học tập và làm theo lời Người./.

Tháng 11, năm 2011
Đặng Nam Điền

bqllang.gov.v

Hồ Chí Minh và Hiến pháp 1946

QĐND – Thế là đã 65 năm Quốc hội khóa I thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước ta, ngày 9-11-1946. Thời gian là vị quan tòa nghiêm khắc và công minh nhất thẩm định sự đúng sai của những tư tưởng, những quyết sách và nhất là hướng đi. Nhìn lại một chặng đường lịch sử gần hai phần ba thế kỷ, càng hiểu ra sự minh triết của Hồ Chí Minh, tác giả của Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, cha đẻ của Hiến pháp 1946 đặt nền móng cho Nhà nước pháp quyền đích thực của quốc gia ấy.

Ngay trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 3-9-1945, Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ”! Trong bộn bề những việc cấp bách hằng ngày với thù trong giặc ngoài, Hồ Chí Minh vẫn trực tiếp chỉ đạo việc soạn thảo Hiến pháp và cho ra đời bản Hiến pháp 1946 mà cho đến nay, giới nghiên cứu về luật pháp đánh giá là bản Hiến pháp mẫu mực nhất: Một hiến pháp dân chủ.

Là người bôn ba khắp năm châu bốn biển, thông hiểu nền văn hóa Tây phương từ một sự hiểu biết sâu sắc triết lý phương Đông và truyền thống văn hóa nước mình, Hồ Chí Minh có điều kiện trải nghiệm để nhìn ra những điều mà người khác có thể không nhìn thấy. Hơn ai hết, Hồ Chí Minh hiểu rõ dân tộc mình, nhân dân mình cần cái gì nhất. Điều đó quy định nội dung của Tuyên ngôn Độc lập 2-9-1945 và Hiến pháp 1946 – lời tuyên bố đĩnh đạc của nhân dân Việt Nam trước thế giới, khẳng định ý chí và khát vọng của dân tộc mình.

Dân chủ nằm ngay trong tên nước và mục tiêu hướng tới, tức cũng là hướng đi, được ghi rõ ngay dưới tên nước: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc. Nước có độc lập thì dân mới có tự do để làm ăn sinh sống, tự do suy nghĩ và hành động để mưu cầu hạnh phúc. Dân chủ là điều kiện tiên quyết để có tự do và có tự do mới thực sự có hạnh phúc!

Bác Hồ bỏ lá phiếu bầu cử tại Hà Nội năm 1960. Ảnh tư liệu.

Thế nhưng, “dân chủ không thể được áp đặt bởi sự màu nhiệm những cơ chế của chính nó, dân chủ cần những người mang nó, sống động trong con người họ, và làm cho nó tồn tại sống động đối với tất cả mọi người”(1), ý tưởng ấy có sức gợi mở cho những tìm tòi về phương thức thực hành dân chủ mà Hồ Chí Minh tìm cách thực hiện. Hiến pháp 1946 là một minh chứng cho điều đó.

Thực ra Hồ Chí Minh hiểu rằng: “trong nhiều xã hội ngoài châu Âu, thông điệp đấu tranh giai cấp nghe xuôi tai hơn thông điệp dân chủ; sự phê phán nhân quyền dễ trót lọt hơn ý tưởng về dân quyền. Và như vậy là vì những lý do lịch sử: Ý tưởng về nhân quyền do bọn thực dân mang tới cho họ, áp đặt bằng nòng súng. Nhân quyền thuộc về kẻ chiến thắng, đương nhiên, trước mắt kẻ thua trận, đó là thứ ngụy trang cho sự thống trị thực dân”(2). Tuy nhiên, trong Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã dẫn ra tư tưởng về nhân quyền, bởi vì “ý tưởng xây dựng xã hội trên nền tảng quyền con người… là một ý tưởng phổ quát, đáp ứng một hy vọng toàn cầu”(3).

Cần nhớ rằng, trong “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” gửi đến Hội nghị Véc-xây năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã đòi “thay đổi chế độ sắc luật bằng chế độ luật…”. Trong “Việt Nam yêu cầu ca” cũng đã có câu: “Bảy xin hiến pháp ban hành/ Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”(4) [phải chăng đây là từ nguyên ngữ “l’esprit des lois” của Montesquieu?].

Trước đó, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra: “nếu có một đảng độc lập tồn tại thì đảng này không phải đi ăn xin một vài quyền tự do mà thiếu nó thì con người là một tên nô lệ khốn khổ”… “Rất ôn hòa cả về nội dung lẫn hình thức, các nguyện vọng của chúng tôi nhằm vào những cải cách chủ yếu cho việc giải phóng chúng tôi, và nhằm vào những quyền tự do mà nếu không có chúng thì con người ngày nay chỉ là một kẻ nô lệ khốn nạn”(5).

Dẫn ra những điều trên để hiểu rằng, hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà Hồ Chí Minh đã mở đầu Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra Nhà nước dân chủ cộng hòa của mình bằng những câu tiêu biểu nhất về quyền con người, về khát vọng cháy bỏng của con người trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp: “Hỡi đồng bào cả nước! Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Từ “quyền con người”, quyền đương nhiên không phải do ai ban phát cả, Hồ Chí Minh dẫn đến quyền của dân tộc với nội dung như đã dẫn ra ở trên.

Những ý tưởng tiêu biểu ấy được thể hiện một cách thật giản dị, dễ hiểu trong Hiến pháp 1946 với 70 điều. Nội dung tập trung về xác lập quyền của công dân và quyền của nhà nước, quyền giữa các cơ quan nhà nước với nhau, ở đó nổi bật lên hai vấn đề cơ bản nhất: Ngăn cấm sự lạm quyền của quyền lực nhà nước và đảm bảo quyền tự do dân chủ của công dân.

Để làm được điều đó, nội dung của Hiến pháp 1946 làm nổi bật lên nguyên tắc cơ bản: Đặt pháp quyền ở trên nhà nước và quyền phúc quyết Hiến pháp thuộc về nhân dân. Nhà nước pháp quyền ấy phải được tổ chức theo nguyên tắc “tam quyền phân lập” để kiểm tra nhau. Cơ quan Nhà nước và công chức chỉ làm được những điều luật pháp cho phép còn dân thì được phép làm tất cả những điều gì mà luật pháp không cấm. Những yếu tố pháp quyền nổi lên trên nguyên tắc quyền lực và tổ chức quyền lực là điều mà những Hiến pháp sau này không làm rõ được, thậm chí bỏ quên! Công việc của nhà nước và các cơ quan công quyền phải công khai và minh bạch trước dân, dân có quyền tham gia vào việc hoạch định pháp luật, giám sát và kiểm soát…

Trong nội dung của Hiến pháp 1946, nét nổi bật là việc kiểm soát quyền lực nhà nước chứa đựng tinh thần khoan dung của truyền thống Việt Nam. Ngay tại Điều 1 đã nổi rõ lên tinh thần ấy. “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả các quyền bính trong nước là của toàn dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Những điểm khác như Hội đồng nhân dân cũng được xác định như một cơ quan “tự quản” của nhân dân địa phương, quyết định các vấn đề của địa phương, do nhân dân địa phương bầu chọn và chịu trách nhiệm trước họ. Ở đây đã thấp thoáng bóng dáng những đường nét tư duy về cái mà ngày nay ta gọi là “xã hội dân sự”. Định chế luật sư cũng đã được đề ra. Thậm chí, trong bối cảnh của một nhà nước mới thành lập, đang phải đối phó với thù trong giặc ngoài mà đã chững chạc khẳng định: “Những người ngoại quốc tranh đấu cho dân chủ và tự do mà phải trốn tránh thì được trú ngụ trên đất Việt Nam” trong Điều 16 của Hiến pháp 1946! Càng nghĩ càng thấm thía về tầm nhìn Hồ Chí Minh.

Và rồi, ở một đất nước mà nhà nước mang nặng “truyền thống” quan liêu, Hồ Chí Minh đã đòi hỏi xây dựng một “nhà nước đày tớ của dân”, điều mà nhiều nhà tư tưởng lớn của loài người đã từng ấp ủ, nhưng vấn đề là Hồ Chí Minh đã sớm đưa ngay ý tưởng đó vào việc tổ chức nhà nước và cố gắng thực hiện. Hồ Chí Minh đã nghiêm khắc cảnh báo ngay từ ngày chính quyền còn trong trứng nước: “các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân… Dân chủ thì Chính phủ phải là đày tớ. Làm việc ngày nay không phải để thăng quan phát tài. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”.

Có thể nói, cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nước được thể hiện trong Hiến pháp 1946 đã đặt nền móng cho một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, trong đó các quyền tự do, bình đẳng về chính trị và xã hội của người công dân được công nhận và được bảo đảm bằng luật pháp. Hiến pháp năm 1946 thể hiện rất tập trung tư duy của Hồ Chí Minh về Nhà nước. Vì vậy, việc sửa đổi Hiến pháp sắp tới chỉ có ý nghĩa khi trung thực và nghiêm cẩn quán triệt điều ấy. Cũng có nghĩa là phải dám chỉ ra những bất cập của các bản Hiến pháp ra đời sau Hiến pháp 1946 và nguyên nhân cơ bản về những bất cập đó. Có như vậy thì việc sửa đổi Hiến pháp 1992 mới có ý nghĩa thiết thực, khỏi lãng phí sức người, sức của khi mà cuộc sống của dân đang còn quá nhiều khó khăn. Mọi sự khoa trương hình thức đều đi ngược với tư tưởng Hồ Chí Minh và sẽ đánh mất niềm tin của dân.

(1) Đại bách khoa toàn thư Pháp
(2, 3) Francois Furet. “Số phận một ý tưởng”. Người đưa tin UNESCO. Hà Nội, 1989, số 6, tr.5
(4, 5) Hồ Chí Minh Toàn tập. Tập 1. NXBCTQG Hà Nội 1995, tr.5 và tr.10

GS Tương Lai

qdnd.vn

Sửa đổi Hiến pháp năm 1992 dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI vừa qua đã khẳng định luận điểm chỉ đạo mới (tiếp theo luận điểm chỉ đạo rất tiến bộ và dân chủ của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X về việc xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp và trong việc ban hành quyết định của các cơ quan công quyền) là: Nghiên cứu xây dựng, bổ sung các thiết chế và cơ chế vận hành cụ thể để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; khẩn trương nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992…

Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền bao giờ cũng mang tính pháp chế tối thượng

Không có khái niệm chung về Hiến pháp. Qua nghiên cứu Hiến pháp của các nhà nước pháp quyền trên thế giới thì thấy, Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền là đạo luật cơ bản nhà nước có tính pháp chế tối thượng và hiệu lực pháp lý trực tiếp cao nhất trên toàn bộ lãnh thổ của một quốc gia, mà trong đó ghi nhận và điều chỉnh các chế định trung tâm và chủ yếu nhất liên quan đến những cơ sở của chế độ hiến định, các quyền và tự do của con người và của công dân, các lĩnh vực cơ bản và quan trọng hơn cả trong việc tổ chức, thực hiện và kiểm soát quyền lực nhà nước của bộ máy công quyền cũng như trong đời sống chính trị, kinh tế và xã hội của đất nước. Như vậy, có thể khẳng định rằng bản chất chính trị, tư tưởng và pháp lý của Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền được thể hiện ở chỗ, với tư cách là văn kiện chính trị pháp lý chủ yếu và là khế ước xã hội quan trọng nhất của một quốc gia, Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền bao giờ cũng mang tính pháp chế tối thượng so với tất cả các văn bản quy phạm pháp luật khác trong hệ thống pháp luật của quốc gia đó, có hiệu lực pháp lý trực tiếp cao nhất. Đồng thời, Hiến pháp là nền tảng của quyền lực nhà nước và trật tự pháp luật, là cơ sở để thực thi và bảo vệ một cách vững chắc và hữu hiệu các quyền và tự do hiến định của con người và của công dân tránh khỏi sự xâm hại của quyền lực nhà nước. Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền ghi nhận và điều chỉnh ba nhóm quan hệ xã hội chủ yếu và quan trọng nhất gồm: Các chế định trung tâm và chủ yếu nhất liên quan đến những cơ sở của chế độ hiến định, các quyền và tự do của con người của công dân; các lĩnh vực cơ bản và quan trọng hơn cả trong việc tổ chức, thực hiện và kiểm soát quyền lực nhà nước của bộ máy công quyền và các lĩnh vực cơ bản, quan trọng hơn cả trong đời sống chính trị, kinh tế và xã hội của đất nước.

Nghiên cứu tổ chức bộ máy quyền lực nhà nước trong các nhà nước pháp quyền trên thế giới đương đại cho thấy, nếu các quy phạm này trong Hiến pháp được soạn thảo một cách khoa học, chặt chẽ về mặt kỹ thuật lập hiến, nhất quán về logic pháp kỹ và khả thi, đáp ứng được việc điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội chủ yếu nhất thì sẽ có vai trò rất quan trọng đối với việc tổ chức bộ máy quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền trên 3 khía cạnh. Thứ nhất, bằng việc ghi nhận đầy đủ những nguyên tắc cơ bản, các quy phạm và các chế định quan trọng hơn cả về tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước tương ứng với ba nhánh quyền lực truyền thống là quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền khẳng định một chân lý tối thượng – tinh hoa của nền văn minh nhân loại là, nhân dân – người sáng tạo nên lịch sử – tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, chủ quyền của nhân dân cao hơn chủ quyền của nhà nước. Vấn đề này thể hiện rõ nhất ở quyền lập hiến của nhân dân. Thứ hai, bằng việc phân công rõ ràng, rành mạch nhưng thẩm quyền và chức năng của các cơ quan công quyền tương ứng với ba nhánh quyền lực truyền thống đã nêu, Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền góp phần tạo nên các cơ sở hiến định để các quan chức của các cơ quan này có thể thực thi đúng, đầy đủ và hiệu quả chức trách công vụ của mình với tư cách là những công bộc, những người đầy tớ của nhân dân. Thứ ba, bằng việc ghi nhận đầy đủ, khoa học và chặt chẽ những nguyên tắc cơ bản, các quy phạm và các chế định quan trọng hơn cả về kiểm soát quyền lực nhà nước tương ứng với ba nhánh quyền lực, Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền góp phần điều chỉnh ở mức cao nhất sự phối hợp, phân công và cân bằng, cũng như sự kiểm tra và chế ước lẫn nhau giữa các cơ quan công quyền của các nhánh này nhằm loại trừ các biểu hiện tùy tiện, lạm quyền, tệ quan liêu, tham nhũng, hách dịch, cửa quyền, xâm phạm các quyền và tự do hiến định của công dân, đồng thời đem lại các dịch vụ công tốt nhất cho xã hội.

Những hạn chế trong quy định về tổ chức bộ máy nhà nước của Hiến pháp 1992

Sau gần 20 năm thực hiện Hiến pháp năm 1992, nước ta đã thu được những thành tựu rất lớn. Tuy nhiên, xét ở khía cạnh tổ chức bộ máy quyền lực nhà nước, Hiến pháp năm 1992 đã bộc lộ một số hạn chế cần được phân tích sâu sắc với cái nhìn thẳng thắn để phục vụ cho việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 tới đây.

Hiện nay, Hiến pháp chưa có sự điều chỉnh về mặt lập hiến quy trình lập pháp cũng như quy trình miễn nhiệm các chức vụ nhà nước cao cấp do Quốc hội phê chuẩn và do Chủ tịch nước bổ nhiệm. Chưa xác định được ranh giới rõ rệt giữa các cơ quan thuộc các nhánh quyền lực nhà nước khác nhau. Hiến pháp năm 1992 cũng thiếu các quy phạm đề cập đến cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước nói chung để tạo nên được sự phối hợp và cân bằng cũng như sự kiểm tra và chế ước nhau giữa các cơ quan công quyền thuộc các nhánh quyền lực nhà nước. Đây chính là vấn đề cơ bản nhất tạo ra kẽ hở cho sự tuỳ tiện, hiệu quả thấp và năng lực quản lý nhà nước yếu trong hoạt động của các cơ quan công quyền.

Các quy phạm liên quan đến cơ chế bảo vệ Hiến pháp hiện hành cũng chưa đầy đủ và còn mang tính một chiều vì trong khi hai nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp được Hiến pháp trao khá nhiều quyền để thực hiện sự kiểm soát quyền lực đối với nhánh quyền lực tư pháp thì ngược lại, không có quy định nào ghi nhận sự kiểm soát quyền lực của nhánh tư pháp đối với hành pháp và lập pháp.

Quy trình lập hiến và hiệu lực của Hiến pháp là phần rất quan trọng cần được điều chỉnh cụ thể và công khai từng công đoạn trong quy trình lập hiến như soạn thảo – sửa đổi – bổ sung – thông qua – công bố Hiến pháp để toàn thể nhân dân được biết nhưng Hiến pháp hiện hành mới ghi nhận một công đoạn của quy trình lập hiến là: Khi nào thì Hiến pháp được sửa đổi.

Nghiên cứu kỹ các quy phạm của Hiến pháp năm 1992 có liên quan đến việc tổ chức bộ máy quyền lực nhà nước cũng thấy bộc lộ một số hạn chế. Hiến pháp năm 1992 thiếu một chế độ hiến định cơ bản là chế độ xã hội với sự điều chỉnh chưa đầy đủ một số lĩnh vực liên quan đến đời sống xã hội của một quốc gia và các lợi ích thiết thực của nhân dân cũng như một số đối tượng yếu thế trong xã hội. Các quy phạm về các chế định quyền con người và quyền công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp nhưng về mặt kỹ thuật lập pháp cũng có một số vấn đề. Ví dụ, Hiến pháp quy định các quyền cơ bản của công dân, vậy các quyền không cơ bản là các quyền nào và không lẽ, các quyền không cơ bản này không cần được ghi nhận trong Hiến pháp hay sao? Hiến pháp cũng thiếu các quy phạm về cơ chế pháp lý để bảo vệ các quyền hiến định này khiến cho những công dân không có kiến thức về pháp luật rất khó tự bảo vệ được các quyền hiến định của mình khi các quyền này bị xâm phạm.

Sửa đổi Hiến pháp năm 1992 dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh

Để khắc phục những hạn chế nêu trên trong việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 tới đây, trước hết cần bảo đảm sự nhận thức khoa học thống nhất về việc sửa đổi Hiến pháp dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh mà sự phản ánh rõ nét hơn cả trong Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa để từ đó kế thừa các giá trị của Hiến pháp năm 1946, lĩnh hội những tinh hoa quý báu từ chủ nghĩa lập hiến của nhân loại.

Từ thực tiễn thi hành Hiến pháp năm 1992 và trên cơ sở nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật kiểu mới của Việt Nam cho phép khẳng định rằng: Ba đặc tính nhân dân, dân chủ và pháp quyền là nội dung quan trọng nhất của một Nhà nước và nền pháp luật kiểu mới sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 của Hồ Chí Minh mong muốn xây dựng (mà sự thể hiện rõ nét nhất điều này là sự chỉ đạo sáng suốt của Người trong việc soạn thảo ra bản Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa – nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á). Hiến pháp sửa đổi nhất thiết phải là Hiến pháp phản ánh rõ nét chủ quyền của nhân dân trong toàn bộ các quy định về tổ chức bộ máy quyền lực nhà nước. Vì theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Chính phủ ta là Chính phủ của nhân dân”…; “là đày tớ, công bộc của nhân dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân chứ không phải là để đè đầu cưỡi cổ dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”; “Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ… nếu Chính phủ mà có hại cho dân chúng, thì dân chúng phải lật đổ Chính phủ đó”; “Trong bầu trời này không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”; “Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ bất kỳ ở cấp nào, ngành nào đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân”; “Bao nhiêu lợi ích đều phải vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân ta phải hết sức tránh”…

Hiến pháp sửa đổi nhất thiết phải là bản Hiến pháp thể hiện trên thực tế sự tham gia rộng rãi của nhân dân vào các hoạt động của quá trình tổ chức bộ máy quyền lực nhà nước. Vì Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được nhân dân”; “Nước ta là nước dân chủ. Địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”; “Chính quyền nhân dân lãnh đạo phải dân chủ, thiết thực… và có nhiệm vụ thực hiện tự do dân chủ cho dân chúng”; “Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền” nên “quyền phải giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người”.

Hiến pháp sửa đổi cũng nhất thiết phải là bản Hiến pháp ghi nhận đầy đủ, rõ ràng, khoa học và chính xác các cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, đặc biệt là cơ chế bảo hiến bằng nhánh quyền lực tư pháp để tránh khắc phục những hạn chế trong tổ chức bộ máy quyền lực nhà nước hiện hành. Vì quan niệm chủ quyền của nhân dân và dân chủ chỉ có thể được thực hiện trên thực tế bằng Hiến pháp và pháp luật trong nhà nước pháp quyền nên ngay từ năm 1922 trong tác phẩm Việt Nam yêu cầu ca, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Bảy xin Hiến pháp ban hành, trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Hiến pháp sửa đổi cần trao cho nhân dân quyền trực tiếp bầu ra những người công bộc đại diện cho họ để thực hiện quyền lực ở cả hai nhánh quyền lực nhà nước còn lại mà Hiến pháp năm 1992 chưa quy định như: Nhánh quyền hành pháp – bầu Chủ tịch nước và tất cả Chủ tịch UBND các cấp; nhánh quyền tư pháp – bầu tất cả các thẩm phán Tòa án nhân dân và tất cả các kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân địa phương các cấp.

Sửa đổi Hiến pháp dựa trên tư tưởng lấy dân làm gốc

Cần xác định một cách đồng bộ những cơ sở khoa học, thực tiễn của việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam. Cụ thể, việc sửa đổi Hiến pháp cần bảo đảm sự phù hợp với thực tiễn pháp lý cũng như các điều kiện cụ thể hiện nay của nước ta về kinh tế, xã hội, tâm lý, đạo đức, văn hóa, lịch sử, tôn giáo, truyền thống… để sau khi được thông qua, các quy định của Hiến pháp sửa đổi sẽ thực sự là những căn cứ pháp lý nền tảng cho hệ thống pháp luật quốc gia cũng như cho việc điều chỉnh những nhóm vấn đề chủ yếu tương ứng với các lĩnh vực cơ bản và quan trọng nhất trong sinh hoạt nhà nước – xã hội.

Việc sửa đổi Hiến pháp cần đáp ứng được các quan hệ xã hội đang tồn tại ở Việt Nam đương đại trong gần 20 năm qua và có tính đến sự phát triển tiếp tục của các quan hệ xã hội này trong tương lai để sau khi được thông qua các quy định của Hiến pháp sửa đổi đi vào cuộc sống lâu dài.

Cần lĩnh hội các tư tưởng pháp lý tiến bộ và dân chủ với tư cách là những tinh hoa của nền văn minh nhân loại như: sự tôn trọng và bảo vệ các quyền và tự do của con người và của công dân; sự phối hợp, phân công, cân bằng, kiểm tra và chế ước nhau giữa các nhánh quyền lực nhà nước; sự bảo vệ Hiến pháp bằng nhánh quyền lực tư pháp…

Việc sửa đổi Hiến pháp cần góp phần thúc đẩy một cách tích cực cho thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển và củng cố các thiết chế của xã hội dân sự và thành công của công cuộc cải cách tư pháp trên đất nước Việt Nam. Và điều quan trọng là, việc sửa đổi Hiến pháp cần dựa trên tư tưởng lấy dân làm gốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đề xuất điều chỉnh 5 nhóm quan hệ xã hội chủ yếu trong sửa đổi Hiến pháp năm 1992

Nên chăng trong lần sửa đổi Hiến pháp tới đây, cần điều chỉnh ít nhất 5 nhóm quan hệ xã hội chủ yếu tương ứng với ít nhất là 18 lĩnh vực chủ yếu và quan trọng trong sinh hoạt nhà nước – xã hội gồm:

Thứ nhất: nhóm những vấn đề liên quan đến 3 chế độ hiến định lớn của một quốc gia là chế độ chính trị, chế độ kinh tế và chế độ xã hội.

Thứ hai: nhóm những vấn đề liên quan đến địa vị pháp lý của cá nhân là chế định các quyền con người, chế định nghĩa vụ công dân và hệ thống các cơ chế pháp lý để bảo vệ các quyền hiến định này ở cả hai cấp độ quốc gia và quốc tế.

Thứ ba: nhóm những vấn đề liên quan đến đến các chế định về tổ chức, thực hiện và kiểm soát quyền lực nhà nước là quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và quyền kiểm sát – nếu vẫn giữ nguyên việc tổ chức hệ thống Viện kiểm sát nhân dân như hiện nay và chính quyền địa phương.

Thứ tư: nhóm những vấn đề liên quan đến quy trình lập hiến gồm soạn thảo – sửa đổi – bổ sung – thông qua và công bố Hiến pháp cũng như hiệu lực của Hiến pháp.

Thứ năm: nhóm những vấn đề liên quan đến các quy định chuyển tiếp để điều chỉnh hiệu lực tạm thời của các quy định pháp luật hiện hành và thẩm quyền của một số chức vụ nhà nước thuộc cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp nếu không trái với các quy định của Hiến pháp sửa đổi.

Theo TSKH Lê Văn Cảm (daibieunhandan.vn)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Nét bình dị trong cuộc sống đời thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Suốt cả cuộc đời mình, Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam đã hiến dâng cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Người không ham danh vọng, không có của riêng. Tất cả những gì thuộc về Người đều trở nên gần gũi, thiêng liêng với non sông, đất nước, làm nên một huyền thoại Hồ Chí Minh, “kỳ diệu không những về mặt con người mà còn với tư cách là lãnh tụ của một dân tộc, của một quốc gia. Chữ “kỳ diệu” dùng ở đây là để nói về một con người có một thể chất và một tâm hồn giản dị như thế, xuất thân từ nơi đồng ruộng”[1].

Hồ Chí Minh là một người giản dị, yêu thiên nhiên, luôn gần gũi với thiên nhiên. Trong bất cứ thời điểm nào, đang làm gì, ở đâu thì cuộc sống đời thường của Người cũng luôn thanh đạm, nề nếp, có chừng mực, điều độ, ngăn nắp, gọn gàng. Dù là anh Văn Ba đang làm phụ bếp trên tàu Đô đốc Latut xơtrêvinl, là Nguyễn Ái Quốc trong những năm tháng sống đầy khó khăn ở thủ đô Pari của nước Pháp, là một vị Chủ tịch nước đang sống kham khổ nơi chiến khu trong những năm kháng chiến, hay là một vị nguyên thủ quốc gia đang sống và làm việc tại Khu Phủ Chủ tịch ở Thủ đô Hà Nội, thì cũng vẫn là một Hồ Chí Minh yêu lao động, hết sức giản dị và tiết kiệm. Càng yêu thương nhân dân, khát vọng đem lại độc lập, tự do và hạnh phúc cho nhân dân, Người càng giản dị, tiết kiệm trong cuộc sống đời thường. Không chỉ yêu thương con người, tình yêu thiên nhiên, sống hoà quyện với thiên nhiên một cách bình dị, thanh tao, với nếp nhà sàn nhỏ, có vườn cây, ao cá, những khóm hoa của Người luôn lộng gió thời đại, song vẫn đậm đà bản sắc, cốt cách tâm hồn Việt.

Hồ Chí Minh trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa nhưng khác nhiều vị lãnh tụ, Người chọn cho mình một cuộc sống bình dị như đại đa số người dân bình thường, không cách biệt, không vương giả. Từ chối dinh thự của Toàn quyền Đông Dương cũ, Người chọn nơi ở và làm việc cho mình là một ngôi nhà chật hẹp vốn của người thợ điện phục vụ trong khu vực Phủ Phủ Toàn quyền Đông Dương. Mặc dù các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước mời Người ra ở tại toà nhà lớn để cuộc sống đỡ vất vã hơn, nhưng Người từ chối. Cuối cùng, Người đã chọn ngôi nhà sàn, giống kiểu nhà sàn của đồng bào nơi vùng cao của chiến khu Việt Bắc. Khi dọn về ở và làm việc tại ngôi nhà sàn, Người dùng tầng dưới dùng làm nơi họp Bộ Chính trị và làm việc với cán bộ các bộ, ban, ngành, tiếp một số đoàn khách, bạn bè đồng chí gần gũi, hoặc các cháu thiếu niên, nhi đồng. Người chỉ dành cho mình một chút riêng ở tầng trên nhà sàn với hai phòng nhỏ, diện tích mỗi phòng hơn 10m2. Ghét thói xa hoa, lãng phí, hưởng thụ, và xa lạ với thói phô trương, hình thức, trong phòng làm việc cũng như phòng ngủ của Người chỉ có những đồ vật thật sự cần thiết và hết sức đơn giản.

Bữa ăn hàng ngày của Bác thường có canh cua, tương cà, dưa muối, cá bống kho với lá gừng… Đó là những món ăn quen thuộc, dân giã, mang hương vị của mỗi làng quê Việt Nam mà Người ưa thích. Quý trọng công sức, tài sản và cả thời gian của nhân dân, trong mỗi bữa ăn, Người không bao giờ để thừa, tránh lãng phí. Nếu biết không thể ăn hết, Người thường san ra trước khi ăn để phần người khác dùng hoặc để lại cho bữa sau. Đặc biệt, sau các bữa ăn, Người thường tự mình sắp xếp gọn gàng bát đĩa trên bàn để các đồng chí phục vụ khi thu dọn đỡ vất vả. Tiết kiệm và sức giản dị, vị Chủ tịch nước những lúc làm việc ở nhà thường mặc bộ quần áo bà ba lụa màu nâu, đi đôi guốc gỗ. Còn khi tiếp khách, đi công tác Người thường mặc bộ quần áo ka ki bốn túi và đi đôi dép cao su. Người luôn luôn quan tâm tới lợi ích của nhân dân, nghĩ những điều dân nghĩ, lo những điều dân lo, hiến dâng cả đời mình cho nhân dân, không hề quan tâm tới bản thân. “Người cư xử nhiệt tình, khiêm tốn, gần gũi, bình dị, giữ mối liên hệ thân mật không cách biệt với quần chúng”[2].

Trong sinh hoạt hàng ngày, Người luôn đặt cho mình một kỷ luật hết sức chặt chẽ, giữ nếp trật tự, ngăn nắp gọn gàng, thường xuyên chú ý đến việc rèn luyện sức khoẻ, đồng thời sắp xếp thời gian thực hiện mọi công việc thật hợp lý và hiệu quả. Rất chú ý cho việc rèn luyện sức khoẻ được dẻo dai, hàng ngày Người giữ nếp tập thể dục hay quyền thuật buổi sáng và đi bách bộ buổi chiều đều dặn. Những năm tháng sống ở trong Khu Phủ Chủ tịch, Người thường luyện gân tay bằng cách nắm hai hòn cuội, luyện đôi chân bằng cách đi bách bộ, tập võ hay đánh bóng chuyền để nâng cao thể lực và sức khoẻ, phòng tránh bệnh tật, ốm đau. Cho đến những năm cuối đời, Người vẫn gắng đi bộ, và mỗi ngày đi thêm mấy chục mét với hy vọng vẫn có sức khoẻ để mong thực hiện khát vọng được vào thăm đồng bào miền Nam.

Người luôn giữ thói quen đọc báo chí, bản tin trước giờ làm việc hàng ngày, đánh dấu các bài cần chú ý để tiện việc theo dõi, trao đổi ý kiến và sử dụng khi cần thiết. Người đã đọc, đối chiếu, cắt dán và sưu tầm được 19 quyển báo cắt dán về tấm gương Người tốt, Việc tốt. Qua những bản báo cáo, những bản tin, và có theo dõi, đối chiếu, Người đã tặng gần 4000 Huy hiệu cho những tấm gương người tốt, việc tốt với hy vọng nhân rộng những bông hoa đẹp đó để “cả dân tộc ta là một rừng hoa đẹp”.

Với những công việc trong ngày, trong tuần, trong tháng – từ việc họp hành, làm việc với các đồng chí lãnh đạo chủ chốt, phụ trách các Bộ, ban, ngành, tiếp khách trong nước và quốc tế, đến việc viết báo, đọc và trả lời thư từ, đi thăm cán bộ, nhân dân các địa phương, hay xem phim, xem văn nghệ, v.v… đều được Người bố trí một cách hết sức hợp lý. Người luôn cố gắng để mỗi công việc sao cho tốn ít thời gian, ít làm phiền cơ sở, mà lại thu được kết quả cao nhất.

Người cũng có thói quen tự mình đánh máy lấy những bài báo, bài viết, những thư từ gửi đi các nơi. Những việc cá nhân trong sinh hoạt thường ngày như chuẩn bị chăn màn đi ngủ, sắp xếp gọn gàng sau khi thức dậy Người đều tự mình làm lấy. Thương những đồng chí phục vụ vất vả, những hôm trời mưa to, Người ác vẫn xắn quần đi đến nhà ăn. Cũng thương đông đảo mọi người phải chờ mình vất vả, dù trời mưa rất to, Người vẫn cố gắng đi đến cho kịp buổi họp.

Ngoài giờ làm việc, một trong những công việc Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu thích đó là tăng gia sản xuất. Hình ảnh một Hồ Chí Minh cuốc đất trồng rau, thực hiện khẩu hiệu “Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa!” trong những năm tháng kháng chiến không khác một Hồ Chí Minh cùng anh em cán bộ trong Khu Phủ Chủ tịch cuốc đất trồng rau, vừa để cải thiện bữa ăn, vừa để rèn luyện sức khoẻ.

Những lúc ốm đau Người không chỉ tự mình chịu đựng, mà còn động viên những người chung quanh. Không muốn làm phiền đến mọi người, để mọi người lo lắng quá nhiều, khi thấy sức khoẻ bắt đầu giảm sút dần, Người ung dung bắt đầu ngồi viết bản Di chúc lịch sử để lại cho hậu thế. Cách bốn năm trước lúc đi xa (từ ngày 19/5/1965), cứ mỗi năm vào dịp tháng 5, Người lại đem ra xem lại một lần và sửa chữa bổ sung. Cuối cùng, Người để lại muôn vàn tình thương yêu và những lời dặn dò tâm huyết cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta và bạn bè quốc tế trong Tài liệu Tuyệt đối bí mật đó.

Là một vị Chủ tịch nước, nhưng Hồ Chí Minh vẫn khôn nguôi nỗi nhớ những đầm sen, những hàng dâm bụt, giếng cốc, núi Hồng Lĩnh, sông Lam … ở quê nhà và những danh lam thắng cảnh của đất nước mà Người từng thấy trên con đường vào Huế, trên suốt cả chặng đường dài đi về phía nam của Tổ quốc thuở trước. Người mang theo những hình ảnh thân thương đó trong suốt những năm tháng đi tìm đường cứu nước và khi trở về hoạt động bí mật ở vùng núi phía Bắc, Người thường sống gần gũi với núi, với suối, với rừng cây,v.v..

Khi sống trong trong ngôi nhà sàn dưới bóng cây râm mát ở khu Phủ Chủ tịch suốt ngày rộn rã tiếng chim, Người thường ra bờ ao ngồi cho cá ăn vào buổi chiều. Mảnh đất nhỏ trước nhà sàn, Người dành trồng đủ các loại cây hoa hoa mộc, hoa nhài, hoa sói, hoa dạ hương, hoa bưởi, hoa ngâu có hương thơm dịu mát, có hàng rào hoa dâm bụt chạy quanh nhà như ở Làng Sen quê nhà. Phía sau nhà là vườn cam quê hương, bên kia bờ ao cá là vườn trồng rau xanh và một số cây ăn quả như cam, bưởi, hồng, táo, xoài, dừa … bốn mùa có hoa thơm, quả ngọt và rau xanh. Đầu nhà sàn là cây vú sữa, trước nhà là những cây dừa đều là những cây của đồng bào miền Nam ruột thịt gửi tặng. Những lúc mát trời, Người vẫn ngồi đọc sách, tiếp khách bên giàn hoa giấy trong một không gian thiên nhiên thoáng đãng phía sau toà nhà Phủ Chủ tịch. Yêu thiên nhiên, nên dù công việc bận rộn nhiều, nhưng Người vẫn sắp xếp thời gian đi thăm các danh lam thắng cảnh, các di tích lịch sử của đất nước. Bảo vệ thiên nhiên, Người nâng nui cả một cây bụt mọc bên bờ ao cá bị sâu mục và mối ăn làm rỗng ruột đến quá nửa thân. Người không đồng ý chặt bỏ với một lời giải thích hết sức đơn giản và thuyết phục: việc chặt bỏ một cây thì dễ nhưng trồng được cây to, có bóng mát như vậy thì phải mất hàng chục năm mới có được, và Người đã hướng dẫn cho người làm vườn cách cứu chữa cho cây bụt mọc bị sâu mục và mối xông khỏi bệnh.

Không chỉ biết thụ hưởng những gì thiên nhiên dành cho con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn muốn con người phải trả lại cho thiên nhiên những gì đã bị mất đi vì con người, vì thiên tai địch hoạ. Đề xướng phong trào “Tết trồng cây”, Người nói: “Việc này tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều”[3], và yêu cầu: “Trồng cây nào, tốt cây ấy”[4]. Phong trào trồng cây gây rừng, phủ xanh đất trống, đồi trọc do Người phát động ngày nay đã trở thành một phong tục tập quán tốt đẹp trong nhân dân:

“Mùa xuân là Tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân”[5].

Với Người, tình yêu thiên nhiên gắn liền với xuất phát từ tình yêu đất nước, tình yêu con người, vì hạnh phúc của con người, vì tương lai của đất nước. Gắn trồng cây với nhiệm vụ trồng người, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên chăm lo, bồi dưỡng thế hệ trẻ, chăm lo đào tạo thế hệ cách mạng cho muôn đời sau. Mùa xuân cuối cùng của cuộc đời, Người đi trồng cây trên đồi Vật Lại, Ba Vì, Hà Tây. Người mời một số cán bộ có trách nhiệm đến bàn tiếp vấn đề trồng người. Người từng suy nghĩ: Phải bắt đầu từ việc chăm sóc cây mới trồng, từng con người mới lớn, nâng niu từng tấm gương người tốt, việc tốt xuất hiện ở trong cuộc sống hàng ngày của hàng triệu triệu quần chúng nhân dân lao động trong cả nước. Phải có nhiều cây mới thành rừng, phải có nhiều người tốt mới thành một xã hội tốt đẹp. Bác Hồ là người khởi xương, cổ vũ, tổ chức và mãi mãi là tấm gương sáng cho mọi thế hệ trong sự nghiệp trồng cây, trồng người của đất nước và dân tộc ta.

Yêu thương con người và tình yêu thiên nhiên rộng lớn đã tạo nên tinh thần lạc quan, tâm hồn thư thái, khoáng đạt, phong cách ung dung tự tại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong mọi hoàn cảnh. Hơn tất cả mọi người, Người truyền tinh thần lạc quan cho những người xung quanh bằng những lời nói đầy thuyết phục, những câu chuyện vui nhẹ nhàng, những trao đổi hài hước luôn đem lại những tiếng cười sảng khoái dễ chịu, và đặc biệt là sự quan tâm đầy tình nghĩa đối với mọi người, mọi gia tầng trong xã hội.

Ham muốn tột bậc của Người “là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[6]. Người là vậy, là một Hồ Chí Minh bình dị trong cuộc sống đời thường của cá nhân mình, để dành hết thảy cho dân cho nước, cho khát vọng độc lập dân tộc và chủ nghiã xã hội trên đất nước ta. Một Hồ Chí Minh – anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất của dân tộc Việt Nam bình dị trở thành một mẫu mực của đạo đức cách mạng luôn sống mãi: “Những gì thuộc về Người, từ phẩm chất đến hành động, vẫn sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam, nhân dân các dân tộc yêu độc lập, tự do, hoà bình, công lý và những người tiến bộ trên trái đất. Tấm gương anh hùng và tấm gương đạo đức sống tràn đầy tình yêu Tổ quốc và nhân dân một cách tự nguyện đó đã được truyền lại cho các thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam ngày nay”[7]./.

Nguyễn Văn Công
Phó GĐ Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Theo ditichhochiminhphuchutich.gov.vn
Tâm Trang (st)

[1] Cụ Hồ Chí Minh từ trần, báo A-sa-hi buổi chiều, ngày 5/9/1969, Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch, tập III, Nxb. Sự thật, H.1971, tr.232
[2] Cốc Nguyên Dương: Tinh thần Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi, Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Unesco và Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam, Nxb.KHXH, H.1990, tr.120.
[3] Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. CT QG, Hà Nội, 2000, Tập 9, tr. 558.
[4]Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, Tập 10, tr. 110.
[5] Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, Tập 11, tr. 356
[6] Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, Tập 4, tr 161.
[7] Nay Pe-na: Chủ tịch Hồ Chí Minh với cách mạng Cam-pu-chia, Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Unesco và Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam, Nxb.KHXH, H.1990, tr.49.

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về “Thân dân” và “Dân chủ”

Kể từ lúc còn là người dân xứ thuộc địa ra đi tìm đường cứu nước cho đến khi đã trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của Nhà nước Việt Nam độc lập, Hồ Chí Minh luôn luôn tâm niệm bốn chữ “yêu nước, thương dân”. Trong tư tưởng của Người, đất nước – Tổ quốc bao giờ cũng gắn liền với nhân dân. Nói yêu nước là phải nói tới yêu dân, lo cho dân, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân, tin tưởng ở sức mạnh của nhân dân. Nhân dân vừa là động lực của cách mạng, là nguồn sức mạnh quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, vừa là đối tượng phục vụ của cách mạng, cách mạng phải mang lại quyền lợi cho nhân dân: Quyền con người và quyền công dân, quyền được ăn no mặc ấm, được học hành, quyền hưởng hạnh phúc.

1. Không gì quý bằng nhân dân

Truyền thống tốt đẹp của mỗi dân tộc bao giờ cũng được phát huy cùng sự trường tồn của dân tộc ấy. Qua mỗi giai đoạn lịch sử, dân tộc Việt Nam đã làm rạng rỡ những bài học quý giá của quá khứ, biến chúng thành những nhân tố góp phần chiến thắng cho cuộc đấu tranh hiện tại và góp phần mở ra triển vọng tươi sáng cho tương lai. Các anh hùng dân tộc của chúng ta sở dĩ làm nên nghiệp lớn, vì không bao giờ họ tách mình khỏi truyền thống tốt đẹp của dân tộc mà ngược lại, bao giờ họ cũng tiêu biểu cho những nguyện vọng cao cả nhất, bức thiết nhất của mỗi thời đại. Là một anh hùng dân tộc vĩ đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế tục xứng đáng nhất sự nghiệp và công đức của những anh hùng đi trước, đã thu góp tinh hoa tư tưởng mà dân tộc ta đã xây dựng nên từ máu lửa của cuộc chiến đấu để sinh tồn và phát triển.

Các vị vua anh minh, các anh hùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam đều có tư tưởng “thân dân”, biết dựa vào sức dân, phát huy sức mạnh toàn dân để xây dựng lực lượng vũ trang, tiến hành chiến tranh chống ngoại xâm. Trong Binh thư yếu lược, Trần Quốc Tuấn đưa ra kế sách “Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”. Với niềm tin “chúng chí thành thành” (ý chí nhân dân là bức thành vững chắc), Trần Quốc Tuấn chủ trương lấy nông dân làm nguồn bổ sung dồi dào, vô tận cho quân đội thông qua hình thức bách tính giai vi binh (trăm họ là binh), tận dân vi binh (mỗi người dân là một người lính). Và đến thời của Nguyễn Trãi (thế kỷ XV) thì vai trò cứu nước của nhân dân chính thức được tuyên dương xứng đáng. Theo Nguyễn Trãi, “phúc chu thuỷ tín dân do thuỷ” tức là sức của dân như nước, nước chở thuyền và cũng có thể lật thuyền. Sau chiến thắng chống quân Minh, Nguyễn Trãi đã viết Đại cáo Bình Ngô không chỉ ghi công cho trời thần, danh tướng, mà còn cẩn trọng ghi công lao của nhân dân lao khổ – sức mạnh đầu tiên xung phong đánh thắng giặc Minh: “dựng gậy làm cờ, bốn phương dân cày tụ họp”.

Tiếp sau truyền thống của dân tộc, truyền thống gia đình cũng là một nhân tố quan trọng giúp cho Hồ Chí Minh sớm hình thành quan điểm coi trọng dân, hiểu dân, đánh giá cao vai trò của dân. Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là một người có tư tưởng yêu nước, thương dân. Với quan niệm học để làm người chứ không phải học để làm quan, vả lại trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp thống trị, làm quan là làm tay sai cho giặc, là đắc tội với đồng bào, nên sau khi đỗ Phó bảng (năm 1901), cụ đã lần lữa việc ra làm quan nhiều năm. Mãi đến năm 1906, cụ được bổ nhiệm làm thừa biện Bộ Lễ, phụ trách “công việc trường ốc”. Tiếp xúc với học trò, cụ thường nói: “Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ, hựu nô lệ” nghĩa là: Làm quan là nô lệ trong đám nô lệ, lại càng nô lệ hơn. Sự tức chí đó khiến cụ bị triều đình cho là “bất phùng thời”, phải đi khỏi kinh đô để vào làm tri huyện Bình Khê (Bình Định). Ngồi ghế Tri huyện nhưng cụ thường giao du với các nhà Nho yêu nước ở địa phương hơn là có mặt ở công đường, tạo điều kiện cho những nông dân thiếu tiền thuế, những người tham gia phong trào chống thuế… đang bị giam cầm, trốn thoát. Cụ rất oán ghét bọn cường hào bức hiếp nông dân và thường đứng về phía nông dân chống lại chúng.

Tư tưởng yêu nước, thương dân của người cha đã ảnh hưởng sâu sắc tới thời niên thiếu của Nguyễn Tất Thành. Mặt khác, trong quá trình trưởng thành ở quê nhà, rồi đi học ở Huế, càng đi vào cuộc sống của nhân dân, Nguyễn Tất Thành càng thấm thía thân phận cùng khổ của người dân mất nước. Người đã tận mắt chứng kiến cảnh đoạ đày dân đi phu ở Cửa Rào (Nghệ An) và tự bản thân Người cũng đã tham gia những cuộc biểu tình đòi giảm sưu, giảm thuế của nông dân sáu huyện của tỉnh Thừa Thiên (tháng 4-1908). Ấn tượng theo suốt cuộc đời Người là hình ảnh những người dân mất nước cần được giải phóng khỏi đoạ đày, đau khổ, cần được sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Tư tưởng đó, thực tế đó đã nằm trong hành trang của Người khi xuất dương tìm đường cứu nước. Với dự định: “Tôi muốn đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”, ngay từ những ngày hoạt động cách mạng đầu tiên trên đất Pháp, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã lấy tên là Nguyễn Ái Quốc.

Khi viết tác phẩm “Đường cách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc đã khảo cứu về các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới: Cách mạng Mỹ năm 1776, cách mạng Pháp năm 1789 và cách mạng Nga năm 1917. Từ sự phân tích nội dung, tính chất các cuộc cách mạng ở Mỹ, ở Pháp, Người đi đến kết luận: đó đều là những cuộc cách mạng không đến nơi – nghĩa là cách mạng rồi mà dân vẫn bị áp bức, bóc lột. Người chỉ rõ: “chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”(1). Người khẳng định chỉ có cách mạng Tháng Mười Nga là đã thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng hạnh phúc tự do, bình đẳng thật sự. Bài học mà Nguyễn Ái Quốc rút ra qua nghiên cứu cách mạng Tháng Mười Nga là: Cách mạng Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mạng thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc.

Sau khi tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, đi theo con đường cách mạng Tháng Mười Nga, tán thành và gia nhập Quốc tế III, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc tiếp nhận thêm quan điểm về “Dân” của chủ nghĩa Mác-Lênin. Đó là quan điểm coi quần chúng nhân dân là những người làm ra lịch sử. Nhưng chữ “Dân” của những người sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học đã được Nguyễn Ái Quốc cụ thể hoá trong hoàn cảnh của Việt Nam. Người quan niệm “Dân” là bao gồm toàn bộ những người lao động và những người có tinh thần yêu nước. Như vậy phạm vi “Dân” của Hồ Chí Minh rất rộng, bao gồm nhiều giai cấp, tầng lớp, cùng nguồn gốc, tổ tiên là dân tộc Việt Nam, cùng có chung một điều là tinh thần yêu nước. Không chỉ có thế, Hồ Chí Minh còn chú ý đến cái lõi giai cấp trong quảng đại quần chúng nhân dân – công nhân, nông dân và trí thức (công-nông-trí). Với đặc điểm này, khái niệm nhân dân của Hồ Chí Minh vừa bảo đảm đúng theo tinh thần chủ nghĩa Mác-Lênin về quan điểm giai cấp khi tập hợp lực lượng cách mạng, vừa rất phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh Việt Nam, nơi giai cấp công nhân còn ít ỏi, nông dân chiếm hơn 90% dân số, tầng lớp thanh niên trí thức có tinh thần yêu nước, cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tin vào vai trò to lớn của nhân dân Việt Nam trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm và thấy đó là sức mạnh vô tận của dân tộc mà Đảng Cộng sản phải trân trọng. Người khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”(2). Hồ Chí Minh đánh giá đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước, đều có lòng nồng nàn yêu nước, sẵn sàng hy sinh tất cả để phục vụ Tổ quốc. Cho nên mỗi khi cách mạng cần đến sức người, sức của thì nhân dân đều nhiệt liệt hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và Chính phủ, nhờ vậy cách mạng đã thành công, kháng chiến đã thắng lợi. Người hỏi: “Cách mạng thành công là do ai?” và trả lời “do quần chúng”. Người khẳng định một cách chắc chắn rằng “nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng”(3). Do đó mà “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng đoàn kết của nhân dân”(4). Người đã dùng những lời lẽ tôn vinh nhân dân lên hàng tối thượng trong tất cả các lực lượng và chỉ rõ vai trò to lớn nhất của nhân dân mà không có lực lượng nào có thể sánh được.

2. Nước ta là một nước dân chủ

Con người là một giá trị cao quý và là mục tiêu của bất cứ cuộc cách mạng nào. Chính vì vậy, bảo vệ và phát huy các quyền cơ bản của con người phải là trọng tâm và là cái đích cuối cùng của mỗi cuộc cách mạng, của mỗi thể chế tiến bộ. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, cứu nước thực chất là cứu dân, mưu độc lập cho dân tộc thực chất là mưu cầu độc lập tự do cho nhân dân. Phấn đấu cho một xã hội mà ở đó dân tộc được độc lập, dân quyền được tự do, dân sinh được hạnh phúc là tiêu chí xem xét một cuộc cách mạng, cũng là sự nghiệp cả cuộc đời Người mong đạt tới. Người khẳng định: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(5).

Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch sử dân tộc – kỷ nguyên độc lập tự do và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Sự kiện lịch sử trọng đại này gắn liền với tên tuổi Chủ tịch Hồ Chí Minh, người giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, xây dựng lực lượng, căn cứ địa cách mạng, lãnh đạo Tổng khởi nghĩa và đặc biệt là soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Bản Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày 2-9-1945 đã và đang còn vang vọng những lời bất hủ, những giá trị cao đẹp của nhân loại:

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

“Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc lại câu mở đầu của bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776, một câu trong bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của nước Pháp 1789 nhằm vạch ra rằng những tư tưởng đó là những ý kiến chung có giá trị tiến bộ toàn nhân loại, là những lẽ phải không ai có thể chối cãi được. Và tư tưởng của Việt Nam về quyền con người cũng có nội dung phổ biến như vậy, có chung lý tưởng với nhân loại về quyền bình đẳng, quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của con người. Đó là lẽ tự nhiên, là tạo hoá chứ không phải do ai ban phát. Nhưng, nét sáng tạo độc đáo của Tuyên ngôn độc lập 2/9/1945 là ở chỗ: có sự mở rộng khái niệm quyền con người ra đến “quyền làm người”, đến “quyền dân tộc”. Những tư tưởng này được phát triển từ những tư tưởng đòi các quyền, các yêu sách của nhân dân An Nam từ năm 1919 của Hồ Chí Minh. Nó chứng tỏ tư duy lý luận của Hồ Chí Minh đạt đến mức biện chứng sâu sắc. Nó xuất phát từ thực tế lịch sử dân tộc ta, gần một thế kỷ bị giặc ngoại xâm thống trị, mọi quyền con người đều bị tước đoạt, kể cả những quyền tối thiểu nhất. Dân tộc có được độc lập thì mới có tiền đề để thực hiện các quyền con người. Mặt khác, dân tộc được độc lập mà nhân dân không có quyền gì, nhân dân không được tự do thì độc lập dân tộc cũng không có ý nghĩa. Như vậy, có thể thấy khái niệm quyền con người ở Tuyên ngôn độc lập đã được triển khai tới mức cụ thể trong thực tiễn, là công cụ thiết thực và sắc bén chỉ đạo hoạt động thực tiễn cách mạng nước ta là: phải giải phóng dân tộc, giành được độc lập dân tộc, quyền bình đẳng dân tộc, sau đó mới có thể giải phóng con người, mới có thể xác lập được quyền con người và quyền công dân. Thực hiện tốt quyền con người, quyền công dân lại là cơ sở để giữ gìn độc lập dân tộc, để độc lập dân tộc có ý nghĩa đích thực.

Ngay sau khi tuyên bố độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu vấn đề xây dựng nhà nước dân chủ mới của dân, do nhân dân là người làm chủ, thể hiện quan điểm: bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Đối với Hồ Chí Minh, dân chủ là điều cốt tử còn chuyên chính chỉ là phương tiện đảm bảo dân chủ. Người chỉ rõ: “Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân, chuyên chính là cái khoá, cái cửa đề phòng kẻ phá hoại, nếu hòm không còn khoá, nhà không có cửa thì sẽ mất cắp hết. Cho nên có cửa phải có khoá, có nhà phải có cửa. Thế thì dân chủ cũng cần phải có chuyên chính để giữ gìn lấy dân chủ”(6). Điều kiện, tiền đề và là thước đo trình độ làm chủ của nhân dân được thể hiện ở ba mặt: Bảo đảm dân quyền, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí.

Với tư cách là người đứng đầu Đảng và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà vừa mới được thành lập sau Cách mạng tháng Tám, Hồ Chí Minh đã nhắc nhở: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”(7). Chính vì thế, phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 3/9/1945 đã đề ra những nhiệm vụ cấp bách là: Cứu đói cho dân, chống giặc dốt, xoá bỏ những thứ thuế hà khắc do chế độ cũ để lại, ban hành quyền tự do dân chủ cho nhân dân, thực hiện nền giáo dục nhân dân, thực hiện tự do tín ngưỡng, nam nữ bình quyền,… Và trong muôn vàn công việc của người lãnh đạo tối cao của đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng không quên việc tiếp chuyện, lắng nghe ý kiến của đại biểu các đoàn thể nhân dân. Người viết thông cáo tiếp dân bằng những lời lẽ thật giản dị, ân cần, thể hiện lòng yêu quý, sự tôn trọng với đồng bào: “Từ năm nay tôi sẽ rất vui lòng tiếp chuyện các đại biểu của các đoàn thể… Gửi thơ nói trước, để tôi sắp thì giờ, rồi trả lời cho bà con, như vậy thì khỏi phải chờ đợi mất công”(8).

Ngày 20/2/1947, nói chuyện với các đại biểu nhân sĩ trí thức, phú hào tỉnh Thanh Hoá, Hồ Chí Minh tiếp tục nhấn mạnh: “Chính phủ cộng hoà dân chủ là gì? Là đầy tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì chính phủ phải là đầy tớ… Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ”(9). Người khẳng định: dân chủ là nhân dân là người làm chủ đất nước, chủ xã hội, chủ cuộc sống. Các cấp chính quyền Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, bao giờ, ở đâu, xuất phát của hành động cũng là vì lợi ích của nhân dân mà làm và chịu trách nhiệm trước nhân dân.

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, một Đảng ra đời từ phong trào cách mạng của nhân dân, có thiên chức lãnh đạo cách mạng vì mục đích phục vụ nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm lợi ích cao nhất của mình, thì Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng, hoàn toàn không có một bức tường ngăn cách nào giữa nhiệm vụ lãnh đạo và nhiệm vụ phục vụ: “Tất cả đường lối, phương châm, chính sách… của Đảng đều chỉ nhằm nâng cao đời sống của nhân dân nói chung”(10). Đây là quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh. Dẫn ra hai câu thơ của đại văn hào Trung Quốc Lỗ Tấn: “Hoành my lãnh đối thiên phu chỉ, Phủ thủ cam vi nhũ tử ngưu” mà Người tạm dịch là “Trợn mắt xem khinh nghìn lực sĩ, Cúi đầu làm ngựa các nhi đồng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi đến kết luận: “Đảng Lao động Việt Nam không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân”(11). Rõ ràng, quan điểm Đảng, chính quyền, cán bộ và đảng viên là đầy tớ của nhân dân chỉ có ở chế độ ta và do bản chất của chế độ ta quy định.

Nội dung khái niệm “đầy tớ”, “công bộc” của dân được Hồ Chí Minh chỉ ra rất rõ, rất cụ thể chứ Người không nêu ra để mị dân. Theo Người, “điều chủ chốt” nhất của đạo đức cách mạng là “quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng”, là “tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân. Cán bộ, đảng viên phải có thái độ yêu kính nhân dân, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, học hỏi quần chúng, thật thà, ngay thẳng, không giấu dốt, giấu khuyết điểm, giấu sai lầm; khiêm tốn, gần gũi quần chúng; không được kiêu ngạo, phải thực sự cầu thị, không được chủ quan; kiên quyết dựa vào quần chúng, giáo dục và phát động quần chúng tiến hành thắng lợi mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Và cũng từ rất sớm, rất kiên quyết, Người đã đặt vấn đề đấu tranh để ngăn ngừa các tệ quan liêu, chuyên quyền, tham ô, lãng phí, đặc quyền đặc lợi trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Người coi đó là thứ giặc rất nguy hiểm, chà đạp quyền dân chủ, làm hư hỏng cán bộ, phá vỡ kỷ cương, kỷ luật, có thể làm ruỗng nát chế độ dân chủ từ bên trong.

Tháng 1-1960, tại buổi lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng ta, Người lại nói: “Hễ còn có một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn, thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ. Cho nên Đảng vừa lo tính công việc lớn như đổi nền kinh tế và văn hoá lạc hậu của nước ta thành một nền kinh tế và văn hoá tiên tiến, đồng thời lại luôn luôn quan tâm đến những việc nhỏ như tương cà mắm muối cần thiết cho đời sống hằng ngày của nhân dân. Cho nên Đảng ta vĩ đại vì nó bao trùm cả nước, đồng thời vì nó gần gũi tận trong lòng mỗi đồng bào ta. Đảng ta vĩ đại vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”(12). Bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh khi trả lời các nhà báo, đã nói rõ: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân”(13) và “bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích là làm cho ích quốc lợi dân”(14).

Trên thế giới, đã có không ít trường hợp những người quyền cao chức trọng, là lãnh tụ, đứng ở vị trí đỉnh tháp quyền lực thì quên mất nền tảng quyền lực là nhân dân; họ coi dân chúng như là một công cụ, phương tiện để phục vụ cho mục đích củng cố và thao túng quyền lực của mình. Còn với Hồ Chí Minh, Người coi việc mình làm Chủ tịch là do nhân dân ủy thác cho. Người tự cho mình là “người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận”, là “người đày tớ trung thành của đồng bào”. Đó là tư cách rất đúng đắn của vị lãnh tụ Đảng cầm quyền trong giai đoạn nhân dân giữ vai trò làm chủ đất nước, xây dựng một xã hội mới.

Xứng đáng là Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công sáng lập, chăm lo xây dựng, một đảng đã được tôi luyện và trưởng thành trong lò lửa đấu tranh cách mạng anh dũng của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vươn lên thực hiện sứ mệnh lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp xây dựng đất nước. Đảng và Nhà nước ta luôn luôn dựa vào dân, tin ở dân, phát huy quyền làm chủ thực sự, tiềm lực và sức sáng tạo của nhân dân. Ngay từ những ngày đầu tiên của tiến trình đổi mới, Đảng đã xác định: “Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng lấy dân làm gốc, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”. Điều này được coi là bài học kinh nghiệm hàng đầu trong 4 bài học cơ bản mà Đại hội VI nêu lên để định hướng cho công cuộc đổi mới. Từ những sáng kiến của nhân dân, tư tưởng đổi mới được thai nghén và hình thành ngày càng rõ nét. Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam là một bước ngoặt cực kì quan trọng, đánh dấu sự ra đời của chủ trương đổi mới trên mọi lĩnh vực của công cuộc cách mạng và đời sống xã hội. Đổi mới là sự trở về với di sản Hồ Chí Minh, rũ bỏ bệnh giáo điều, bệnh duy ý chí, bệnh quan liêu, mở ra nhận thức mới về Việt Nam và con đường cũng như động lực phát triển của dân tộc.

Kế thừa và khẳng định tư tưởng của Hồ Chí Minh về nhân dân làm chủ đất nước, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã ghi rõ: “Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức” (Điều 2); “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân; xây dựng đất nước giàu mạnh, thực hiện công bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” (Điều 3).

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người suốt đời phấn đấu quên mình vì đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam, người có lòng tin lớn lao vào nhân dân, tin vào mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi, vào trí tuệ, tài năng và phẩm chất của con người Việt Nam. Nhân dân làm chủ đất nước, là tác giả của thắng lợi liên tiếp trong cuộc cách mạng Tháng Tám 1945, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ và ngày nay cũng là tác giả của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Tiếp tục phát huy sức mạnh của nhân dân để xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh chính là sự kế tục và phát triển sáng tạo tư tưởng nhân dân làm chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tình hình mới./.

Theo Th.s Vũ Thị Kim Yến
Khu Di tích Phủ Chủ tịch
Thu Hiền (st)

—————-

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002, t.2, tr.270
(2), (11) Sđd, t.6, tr.171, 185
(3), (8), (13), (14) Sđd, t.4, tr.56, 10, 240, 240
(4), (6) Sđd, t.8, tr.276, 279-280
(5) Sđd, t.12, tr.501
(9) Sđd, t.5, tr.60
(10), (12) Sđd, t.10, tr.380, 4

bqllang.gov.vn

Chuyện hai lần Bác về thăm quê

Bác Hồ nói chuyện tại Kim Liên trong lần thứ 2 về thăm quê. (Ảnh: Tư liệu)

GiadinhNet – Trong suốt cuộc hành trình tìm đường cứu nước cho đến khi nước nhà được độc lập, rồi đến tận những năm cuối đời, Bác Hồ kính yêu chỉ sắp xếp được 2 lần về thăm quê hương. Tuy thế nhưng đến hôm nay, trong lòng người dân xứ Nghệ vẫn còn vẹn nguyên kỉ niệm về những mẩu chuyện nhỏ mà sáng ngời đạo đức của Bác – một nhân cách lớn song lại vô cùng giản dị, gần gũi.

Cũ nhưng chưa hỏng: Không bỏ

Ông Trần Minh Siêu, nhà nghiên cứu lịch sử kể lại: Chỉ có 2 lần về thăm quê hương vào dịp tháng 6/1957 và tháng 12/1961, nhưng trong ký ức của người dân xứ Nghệ, đặc biệt những người đã từng được gặp và tiếp xúc với Bác vẫn còn nhớ như in những câu chuyện nhỏ nhưng sáng ngời đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Năm 1957, tình hình trong nước và thế giới có nhiều biến chuyển xán lạn. Miền Bắc sau ba năm khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh đã thu được một số thành quả. Do vậy, về đối ngoại, Bác muốn đi thăm, cảm ơn các nước anh em, bè bạn trên thế giới đã ủng hộ Việt Nam. Trước lúc lên đường Bác quyết định về thăm một số địa phương thuộc khu IV, trong đó có Nghệ An. Theo lịch trình, ngày 12-13/6/1957, Bác thăm tỉnh Thanh Hóa. Ngày 14-16/6/1957, Bác về Nghệ An. Ngày 15/6, Bác thăm Hà Tĩnh. Sáng ngày 16/6/1967, Bác mới về quê cha, đất tổ ở làng Kim Liên, Nam Đàn. Hôm đó đúng vào ngày Chủ nhật.

Nhiều người đón Bác trong ngày này chợt nhớ rằng, trước đó 11 năm (cuối năm 1946), tiếp anh, chị ruột của mình là bà Nguyễn Thị Thanh và ông Nguyễn Sinh Khiêm sau mấy chục năm trời xa cách, Bác cũng chọn ngày Chủ nhật. Chỉ qua một chi tiết nhỏ, cũng thấy Bác vô cùng phân minh, giữa việc công và việc tư. Trong suốt cuộc đời của Người, điều này cũng thể hiện rất rõ.

Trở lại với ngày 13/6 (trước 3 ngày Bác về Kim Liên), mãi tới 11 giờ đêm Bác mới về tới Vinh. Khi Bác đang nói chuyện với đồng chí Nguyễn Chí Thanh – Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Khu ủy Khu IV ở trong phòng khách thì một đồng chí mời đồng chí phục vụ Bác ra kiểm tra phòng tắm. Nơi đó, đã để sẵn hai giá thau, mấy chiếc khăn mặt mới và một miếng xà phòng thơm cho Bác. Đồng chí Trần Quốc Hoàn, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an (đi cùng Bác) lúc đó có mặt ở đó thấy vậy bảo: “Hãy cất bớt đi, chỉ để một giá thau và miếng xà phòng là đủ”.

Sau đó, đồng chí phục vụ Bác lấy trong túi xách ra một chiếc khăn bông trải lên giá thau, khăn vẫn trắng mềm, nhưng đã có đường chỉ khâu ở giữa. Đồng chí nói nhỏ nhẹ: “Khăn của Bác đã cũ, mòn như thế này, có lần tôi định thay chiếc khăn mới để Bác dùng, không ngờ Bác gọi tôi lại hỏi: Khăn của Bác đâu, nó còn dùng được, việc gì mà phải thay khăn khác”. Đồng chí phục vụ chỉ vào giữa khăn rồi nói: Đây là đường khâu của Bác và “tiết lộ” thêm rằng, mũ Bác đội cũng đã cũ lắm rồi, nhưng chưa ai dám đem thay. Đồng chí Trần Quốc Hoàn xác nhận câu chuyện và nói tiếp: Về đồ dùng, Bác chỉ cho phép loại bỏ những thứ đã thực sự hư hỏng. Bác làm như vậy vì cũng mong chúng ta làm như vậy. Phải giản dị, tiết kiệm, giảm đến mức tối thiểu việc chi tiêu cho riêng mình để tăng thêm sự đầy đủ cho người khác, đó là ý của Người.

Khi vào phòng ngủ, thấy ở giường nằm, trên chiếu còn trải thêm một lớp vải mềm, Bác khẽ bảo: “Chú Thanh, chú Khoát (Nguyễn Trương Khoát, Bí thư Tỉnh ủy – PV) cho cất bớt lớp vải này đi, dạo này trời nóng không cần đến”. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh nói: “Dạ thưa Bác, giường này nan thưa và cứng, chỉ trải một lần chiếu thôi thì sợ…”. Bác hiểu ý, liền nói để đồng chí Thanh yên tâm: “Thôi cứ để một lần chiếu là đủ”.

Chủ tịch nước cũng ăn cơm độn

Vào cuối năm 1961, Bác Hồ về thăm quê hương Nghệ An lần thứ 2 (từ ngày 8-10/12). Chiều ngày 8/12, sau khi làm việc với Tỉnh ủy Nghệ An, Bác đến thăm nhà ăn tập thể của cơ quan. Bác nhấc từng chiếc lồng bàn lên để thấy tận mắt khẩu phần ăn của cán bộ, nhân viên. Sau đó, Bác nhận lời mời ăn cơm tối cùng với các đồng chí lãnh đạo tỉnh. Bữa cơm hôm ấy, ngoài mấy món đơn giản, chị em phục vụ nhà bếp đã chọn gạo trắng để đãi Bác. Khi mọi người đã ngồi vào bàn ăn, đột nhiên Bác bảo một cán bộ đi cùng đưa gói cơm của đoàn ra. Đó là một gói cơm trắng độn ngô đỏ. Đồng chí phục vụ lấy dao cắt ra từng miếng, chia đều cho mọi người để cùng ăn với Bác. Lúc này các đồng chí Tỉnh ủy cứ nhìn nhau, không ai dám xới cơm trắng ra. Hóa ra trước chuyến đi, bộ phận Văn phòng đã chuẩn bị cơm nắm cho Bác. Lúc này cả nước đang thực hiện ăn gạo độn màu để có đủ gạo chi dùng và dự trữ, Bác cũng thực hiện như bất cứ người dân nào. Một vị Chủ tịch nước mà giản dị đến mức không ngờ, nói luôn đi đôi với làm, làm một cách tự giác, đó là một trong nhiều đức tính quý báu của Bác, có sức lay động lòng người. Bữa cơm hôm đó, những người tham dự ai cũng đều xúc động, nghẹn ngào.

Sáng ngày 10/12/1961, Bác đến thăm HTX cao cấp Vĩnh Thành, lá cờ đầu về phong trào trồng cây toàn miền Bắc. Lúc Bác đang nói chuyện với cán bộ, nhân dân thì nắng lên cao. Một cán bộ xã xuống nhà một người dân mượn cái ô lên che cho Bác. Vừa dương ô lên, Bác gạt ra và bảo:” Bác không phong kiến”. Người chỉ xuống cả biển người phía dưới, cũng đang đứng dưới nắng. Ai nấy đều cảm động trước cách xử sự của Người. Kết thúc buổi nói chuyện, Bác còn dặn: “Bà con, các cô, chú nên về làm bù, hôm nay Trung ương và Bác về làm mất của bà con một buổi cày…”.

Cả cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người luôn tâm niệm phương châm “lấy dân làm gốc”. Vì vậy mà mọi hành động, lời nói, Người đều hướng đến nhân dân, vì nhân dân. Nghĩ tới Người, ông Trần Minh Siêu xúc động: “Bác của chúng ta là một tấm gương lớn về đạo đức cách mạng: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí Công Vô Tư, suốt đời hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân”.

Theo Giadinh.net.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn