Tag Archive | Lãnh tụ vĩ đại

Cảm nhận của một người Mỹ về ngày lễ độc lập của Việt Nam

Năm 1975 đã kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Trong khi người Việt Nam hân hoan với thắng lợi vừa giành được, thì ở bên kia bờ đại dương có những người Mỹ đang cố gắng trả lời câu hỏi là tại sao Mỹ thua Việt Nam. Năm 1980, Archimesdes L.A. Patti đã xuất bản cuốn sách “Why Việt Nam” (Tại sao Việt Nam) để góp phần trả lời câu hỏi đó. Tiến sĩ Trần Viết Nghĩa (Khoa Lịch sử, ĐHQG Hà Nội) tóm lược cảm nghĩ của sĩ quan tình báo Mỹ về ngày lễ độc lập trong cuốn sách này.

Patti nguyên là một sĩ quan tình báo OSS ở Trung Quốc trong Thế chiến hai. Trong năm 1945, Patti từng gặp gỡ Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số nhà lãnh đạo cao cấp khác của Việt Nam, và là một trong số rất ít người Mỹ đã tham dự buổi lễ độc lập của Việt Nam tại Quảng trường Ba Đình.

Ngày 22.8.1945, Patti đáp máy bay từ Côn Minh đi Hà Nội để giải quyết vấn đề tù binh ngoại quốc ở Đông Dương. Trên đường từ sân bay Gia Lâm về Hà Nội, Patti thấy có nhiều biểu ngữ và lá cờ đỏ sao vàng của Việt Minh tràn ngập phố xá. Hà Nội thanh bình sau ngày Việt Minh giành được chính quyền.

Trưa 29.8.1945, Hồ Chủ tịch cho xe đón Patti đến phố Hàng Ngang gặp Người. Người thông báo cho Patti về phiên họp đầu tiên của Chính phủ mới ở Bắc Bộ phủ, quyết định lấy ngày mùng 2 tháng 9 là ngày độc lập. Người sẽ công bố nền độc lập dân tộc, ra mắt các thành viên Chính phủ với nhân dân và chương trình hành động của Chính phủ cho mọi người đều biết.

Điều đặc biệt là Patti được Hồ Chủ tịch cho xem bản thảo Tuyên ngôn độc lập. Patti rất ngạc nhiên khi trong mấy câu đầu nhắc đến một số danh từ rất quen thuộc và giống với Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776. Patti hỏi Người có ý định sử dụng câu đó không. Người cười nhã nhặn và hỏi lại Patti một cách dịu dàng: “Tôi không thể dùng được câu ấy à?”. Patti cảm thấy ngượng ngập và lúng túng khi trả lời: “Tất nhiên, tại sao không”.

Sau khi yêu cầu người phiên dịch đọc lại đoạn đầu một lần nữa, Patti nhớ lại thì thấy các danh từ đã được chuyển vị và nhận xét các chữ “tự do” và “quyền sống” đã bị thay đổi. Người liền nói: “Đúng, không thể có tự do mà không có quyền sống, cũng như không thể có hạnh phúc mà không có tự do”.

Sáng ngày thứ bảy – mùng 1 tháng 9, Patti đi một vòng quanh Hà Nội và nhận thấy: “Ai cũng bận rộn, hớn hở và vội vàng, nhưng không ai tỏ ra hấp tấp. Trước cửa nhà, trên ban công, ngoài cổng ra vào đầy các loại cờ đỏ, hoa, đèn. Nhiều toán người hăm hở giăng lên ngang trên đường phố, những khẩu hiệu hô hào “Độc lập và tự do cho Việt Nam”, và hoan nghênh Đồng Minh”. Chiều cùng ngày, Patti được Hồ Chủ tịch mời đến ăn cơm. Hồ Chủ tịch mở đầu câu chuyện bằng việc Patti đi thăm phố phường Hà Nội có thỏa mãn về những điều được nghe và thấy không. Patti trả lời rằng ông ấn tượng mạnh mẽ đối với công tác chuẩn bị buổi lễ và sự cởi mở của những người dân mà ông đã bắt chuyện.

Ông Hoàng Minh Giám phấn khởi thông báo cho Patti biết dân chúng đã tự bỏ tiền ra để sửa sang, làm sạch và trang trí thành phố phục vụ ngày lễ. Patti hỏi trong ngày lễ độc lập có diễu binh không. Ông Võ Nguyên Giáp trả lời cũng muốn có một số đội diễu binh, nhưng bộ đội vừa mới ở rừng về nên không có đủ thời gian diễn tập, vì vậy những đơn vị chỉ sắp hàng đứng tại chỗ. Sau bữa cơm thân mật, Hồ Chủ tịch mời Patti uống cà phê. Người ôn lại những sự cộng tác của Người với người Mỹ tại Trung Quốc và rừng núi Bắc Kỳ, bày tỏ mong muốn người Mỹ ủng hộ nền độc lập của nước Việt Nam.

Đến buổi trưa, nhóm của Patti đi đến Quảng trường Ba Đình. Nhóm chọn một địa điểm thuận lợi ngay trước lễ đài. Đội danh dự trong trang phục mũ bấc, đồng phục kaki, quần soóc, tất cao và vũ khí mới. Đây là lực lượng được huấn luyện, trang bị và có kỷ luật nhất. Ngoài ra, còn có các đội dân quân, tự vệ với nhiều loại vũ khí khác nhau.

Patti cảm thấy không khí oi bức, nhưng đôi lúc có vài cơn gió nhẹ làm phấp phới cả biển cờ trên quảng trường. Bất chợt, có tiếng còi và hiệu lệnh quân sự phát ra từ các đội hình. Đội danh dự và các đơn vị bộ đội đứng thẳng. Mấy phút sau nổi lên tiếng hô “Bồng súng chào”. Trên lễ đài, mọi người đều mặc đồ trắng, thắt cavát và đầu để trần, trừ Hồ Chủ tịch mặc đồ kaki màu sẫm.

Sau khi nghe Hồ Chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập, Patti khó nắm bắt được nội dung của Tuyên ngôn, dù đã có người phiên dịch, nhưng cảm nhận được “cứ nghe giọng nói của ông Hồ, bình tĩnh và rõ ràng, ấm cúng và thân mật, và nghe thấy được quần chúng trả lời thì chúng tôi không còn nghi ngờ gì nữa là ông đã thấu tới tận quần chúng”.

Sau ngày độc lập, Patti còn ở lại Việt Nam thêm một thời gian nữa, chứng kiến thêm nhiều khó khăn mới của nước Việt Nam, được tiếp kiến thêm với Hồ Chủ tịch và một số nhà lãnh đạo khác của Việt Nam. Trước khi về Mỹ, Patti được Hồ Chủ tịch mời dự tiệc chia tay.

Trong buổi chia tay, ông Võ Nguyên Giáp đã đánh giá cao sự giúp đỡ của “Người Mỹ ở Côn Minh” – trong đó có Patti – đối với Việt Nam trước khởi nghĩa. Ông chúc Patti lên đường may mắn và tỏ ý mong rằng Việt Nam sẽ sớm có một người bạn ở Washington. Điều này làm cho Patti ngạc nhiên và xúc động, vì trước đó ông Giáp không bao giờ để lộ ra bất cứ một tình cảm nào đối với Mỹ và cá nhân Patti. Hồ Chủ tịch chia sẻ với Patti sự thất vọng khi Mỹ từ chống thực dân lại đang trang bị và tiếp tế cho quân Pháp tái xâm lược Đông Dương. Người nói với Patti: “Điều đó, họ sẽ phải trả bằng một giá đắt”./.

Theo TS Trần Viết Nghĩa
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Từ Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đến Nhà nước pháp quyền Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

(TCTG) – Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến việc xây dựng Nhà nước dân chủ mới. Theo Người, Nhà nước phải phát huy dân chủ đến cao độ nhưng không thể có dân chủ ngoài pháp luật, pháp luật là bà đỡ của dân chủ.

Đích đến của bất cứ một cuộc cách mạng nào cũng là lật đổ chính quyền của giai cấp thống trị, thiết lập chính quyền mới tiến bộ hơn của giai cấp bị trị. Với cách mạng Việt Nam, Chính cương vắn tắt của Đảng Cộng sản năm 1930 đưa ra mô hình “Dựng ra Chính phủ công nông binh”(1). Tháng 5/1941, Hội nghị lần thứ Tám BCHTW chủ trương: “không nên nói công nông liên hiệp và lập chính quyền Xô viết mà phải nói toàn thể nhân dân liên hợp và lập Chính phủ Dân chủ cộng hòa”(2). Tháng 8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào đi đến quyết định lịch sử: Phát động tổng khởi nghĩa, thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam. Ủy ban này làm chức năng của Chính phủ lâm thời ngay sau Cách mạng tháng Tám thắng lợi. Đây là quyết định rất sáng suốt và kịp thời trong tình hình đất nước và thế giới có nhiều sự kiện đang diễn ra hết sức mau lẹ.

Và như lịch sử từng trân trọng ghi lại, chiều ngày 2/9/1945, tại Vườn hoa Ba Đình – Hà Nội (Quảng trường Ba Đình – Hà Nội), các thành viên của Chính phủ lâm thời có mặt trên lễ đài. Thành phần Chính phủ bao gồm đại biểu các tầng lớp nhân dân, gần một nửa số bộ trưởng là nhân sĩ, trí thức không đảng phái; một số cán bộ Đảng và Việt minh đã tự nguyện rút khỏi danh sách Chính phủ. Chủ tịch Hồ chí Minh, thay mặt Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khẳng định: “Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ cộng hòa”. Người trịnh trọng tuyên bố với thế giới “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Đất nước đứng trước vô vàn khó khăn, có những khó khăn hết sức nghiêm trọng, ta phải cùng lúc đối phó với cả thù trong lẫn giặc ngoài. Ngày 3/9/1945, phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày sáu vấn đề cấp bách nhất cần tập trung giải quyết để đưa nước nhà ra khỏi hiểm nguy: Một là, giải quyết nạn đói; hai là, thanh toán nạn dốt; ba là, tổ chức tổng tuyển cử; bốn là, giáo dục lại nhân dân theo tinh thần cần, kiệm, liêm chính; năm là bỏ ngay các thứ thuế bóc lột vô nhân đạo; sáu là, thực hiện tự do tín ngưỡng, lương giáo đoàn kết.

Dưới sự điều hành của Chính phủ lâm thời, cả nước hăng hái hưởng ứng phong trào diệt “giặc đói” và “giặc dốt”, thu được kết quả tốt đẹp. Nhân dân cả nước, nhất là ở các thành phố, còn hăng hái đóng góp vào Quỹ độc lập, Quỹ đảm phụ quốc phòng để xây dựng nền tài chính quốc gia và ngân sách quốc phòng.

Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước ta được tổ chức trên cả nước ngày 6/1/1946, bất chấp bom đạn của thực dân Pháp ở miền Nam và những hành động phá hoại của bọn phản động ở miền Bắc, có 333 đại biểu được bầu. Kỳ họp đầu tiên của Quốc hội ngày 2/3/1946 chấp nhận thêm 70 đại biểu không qua bầu cử, nhất trí đề nghị Người thành lập Chính phủ mới và Người đã đệ trình Quốc hội chuẩn y danh sách thành viên Chính phủ liên hiệp kháng chiến.
Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngay từ khi còn non trẻ đã thể hiện là một Nhà nước kiểu mới trong lịch sử dân tộc, có thành phần tham gia rộng rãi nhất của các giai tầng xã hội và khác hẳn với nền cộng hòa dân chủ của các nước tư bản.

Nếu vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền thì vấn đề cơ bản của một chính quyền là ở chỗ nó thuộc về ai, phục vụ cho quyền lợi của ai. Hiến pháp năm 1946 khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả các quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”, có nghĩa Nhà nước là của dân. Nhà nước do dân lựa chọn, bầu ra những đại biểu của mình, do dân ủng hộ, giúp đỡ, đóng thuế để Nhà nước hoạt động, lại do dân phê bình, xây dựng, giúp đỡ, đó là Nhà nước do dân. Nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, không có đặc quyền đặc lợi, thực sự trong sạch, cần kiệm, liêm chính, đó là Nhà nước vì dân(3).

Với tính chất ưu việt như vậy, xuyên suốt ba mươi năm chiến tranh ác liệt, gian khổ, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã huy động được sức mạnh tổng hợp to lớn của toàn dân để tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954) và cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1975), vừa kháng chiến vừa kiến quốc, từ năm 1954 đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng CNXH ở miền Bắc và tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam có uy tín với nhân dân trong nước và nhân dân thế giới, giành nhiều thắng lợi trên mặt trận ngoại giao.

Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội nhằm thực hiện mục tiêu chung của toàn thể nhân dân và dân tộc. Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng đường lối, chính sách và các nghị quyết của Đảng. Nhưng do tính chất của một thời kỳ lịch sử, đặc biệt trước năm 1975 và một số năm sau đó, Đảng phải áp dụng những phương thức lãnh đạo đặc biệt, với các biện pháp chính trị cứng rắn, quyết đoán. Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng các nguyên tắc lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối và toàn diện, nhằm thống nhất cao độ sự lãnh đạo chính trị và thực hành chính trị. Đặc biệt lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước thể hiện ở sự hòa quyện, không phân biệt rõ chức năng Đảng lãnh đạo Nhà nước và chức năng quản lý của Nhà nước đối với xã hội, Đảng với Nhà nước dường như là một. Đảng đóng vai trò tổng chỉ huy và tổ chức toàn bộ công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Do đó, đường lối, chủ trương của Đảng không dừng lại ở các nguyên tắc chung mà thường rất cụ thể, bao quát cả các chức năng của Nhà nước (4).

Đến Hiến pháp năm 1992, mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước có những thay đổi quan trọng. Hiến pháp quy định: “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Quy định này hoàn toàn phù hợp với nội dung Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH của Đảng và thực tế Việt Nam. Cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ được đặt ra trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị. Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đảng không quyết định trực tiếp mọi công việc của Nhà nước và Đảng không phải là cấp trên của Nhà nước. Quyền lực Nhà nước được tập trung. Tình trạng Đảng bao biện làm thay cơ quan Nhà nước, can thiệp vào chức năng của cơ quan Nhà nước, dùng phương pháp mệnh lệnh, áp đặt đối với cơ quan Nhà nước được khắc phục. Thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền” được Đại hội lần thứ VIII của Đảng năm 1996 nhắc lại là: “Tăng cường pháp chế XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức”. Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của Đảng đã khẳng định đó là một tất yếu lịch sử và là tinh hoa, sản phẩm trí tuệ của loài người, của nền văn minh nhân loại.

Chỉ nói từ đầu thế kỷ XXI đến nay, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam không ngừng được củng cố, phát huy hiệu lực quản lý, điều hành, tuy còn một số mặt cần đổi mới mạnh mẽ hơn nữa. Thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001 – 2010, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, nhân dân ta “đạt được những thành tựu to lớn, rất quan trọng, nhiều mục tiêu chủ yếu của Chiến lược đã được thực hiện. Mười năm qua là giai đoạn đất nước ta đã tranh thủ thời cơ, thuận lợi, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, nhất là tác động tiêu cực của hai cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế khu vực và toàn cầu, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế… Các lĩnh vực văn hóa, xã hội đạt thành tựu quan trọng trên nhiều mặt, chính trị-xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường. Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh”(5).

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, yêu cầu dân chủ hóa xã hội và sự tham gia tích cực của đất nước vào quá trình toàn cầu hóa đặt ra yêu cầu phải nâng cao hơn nữa năng lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước, cải cách mạnh mẽ nền hành chính quốc gia, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Trong văn kiện Đại hội lần thứ XI, Đảng ta đã xác định đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN với 4 nội dung: Nâng cao nhận thức về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN; Tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy Nhà nước; Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới; Tích cực thực hành tiết kiệm, phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí.

Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến việc xây dựng Nhà nước dân chủ mới. Theo Người, Nhà nước phải phát huy dân chủ đến cao độ. Nhưng không thể có dân chủ ngoài pháp luật, pháp luật là bà đỡ của dân chủ. Mọi quyền dân chủ của người dân phải được thể chế hóa bằng hiến pháp và pháp luật, ngược lại hệ thống pháp luật phải bảo đảm cho quyền tự do, dân chủ của người dân được tôn trọng. Để xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hiệu quả, Người nhấn mạnh cần tăng cường pháp luật đi đôi với đẩy mạnh giáo dục đạo đức và kiên quyết chống ba thứ giặc nội xâm “là tham ô, lãng phí, quan liêu”(6). Đó là những lời dạy vô cùng quý giá để cán bộ quản lý Nhà nước và cán bộ nói chung học tập, làm theo, xứng đáng vừa là người lãnh đạo vừa là công bộc của nhân dân và đó cũng chính là thiết thực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh./.
__________________________

(1) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, H, 2002, tr.1.
(2) – ĐCSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb.CTQG, H, 2000, t.7, tr.27.
(3), (6) – Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb.CTQG, H, 2009, tr.263, 281.
(4) – Đảng và các tổ chức chính trị xã hội trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay (Nguyễn Hữu Đổng chủ biên), Nxb.CTQG, H, 2009, tr.118, 119.
(5) – Báo cáo Chính trị trình bày tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, 1-2011.

Theo Tuyengiao.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Học và hành theo tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá cầm quyền

Nói văn hóa cầm quyền là nói tới cái đẹp, cái giá trị của Đảng cầm quyền, của Chính phủ và cá nhân nhà lãnh đạo, quản lý. Văn hóa cầm quyền là nguồn lực nội sinh vô tận, to lớn của Đảng và hệ thống chính trị, chìa khóa sự phát triển của Đảng, Nhà nước, thấm sâu và tạo dấu ấn khai sáng trong quá trình phát triển của Đảng, Nhà nước.

Hồ Chí Minh nói “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Trong Di chúc, Người lại viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng”… Đó là tư tưởng, tinh thần Hồ Chí Minh về văn hóa cầm quyền. Văn hóa cầm quyền bàn tới ở đây là nói tới văn hóa lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền. Đương nhiên, khi nói tới đảng cầm quyền thì không thể không nói tới chính quyền nhà nước mà trực tiếp là Chính phủ, cơ quan hành pháp với ý nghĩa “kéo dài” sự lãnh đạo của Đảng. Theo tinh thần của Lê-nin, khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền thì văn hóa của đảng phải tương đối khác so với khi Đảng chưa cầm quyền. Văn hóa cầm quyền là biến lý luận thành thực tiễn, thông qua tổ chức, xây dựng, thể hiện mối quan hệ giữa Đảng với các thành tố trong hệ thống chính trị; đạo đức của đảng cầm quyền; văn hóa ứng xử của Đảng, Chính phủ với nhân dân và văn hóa dùng người.

1. Văn hóa cầm quyền – nguồn lực nội sinh vô tận, chìa khóa sự phát triển của Đảng

Nói văn hóa cầm quyền là nói tới cái đẹp, cái giá trị của Đảng cầm quyền, của Chính phủ và cá nhân nhà lãnh đạo, quản lý. Văn hóa cầm quyền là nguồn lực nội sinh vô tận, to lớn của Đảng và hệ thống chính trị, chìa khóa sự phát triển của Đảng, nhà nước, thấm sâu và tạo dấu ấn khai sáng trong quá trình phát triển của Đảng, nhà nước. Hồ Chí Minh nói “Văn hóa không thể đứng ngoài mà đứng trong kinh tế và chính trị”, điều đó có nghĩa là tổ chức chính trị, hoạt động chính trị, đảng chính trị và cá nhân nhà chính trị phải thấm nhuần văn hóa. Năng lực chính trị thực chất và cốt tủy là năng lực văn hóa.

Văn hóa cầm quyền thuộc dòng văn hóa chính trị. Trong những năm gần đây, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, trong khi khẳng định sự phát triển của xã hội dựa trên thế của “kiềng ba chân”: Gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt và phát triển văn hóa – nền tảng tinh thần của xã hội”, Đảng ta “đặc biệt coi trọng nâng cao văn hóa lãnh đạo, quản lý”(1), “Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền”(2). Nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng, năng lực quản lý của nhà nước thực chất sâu xa và cốt tủy là nâng cao văn hóa cầm quyền của Đảng và văn hóa quản lý của nhà nước; đồng thời nâng cao văn hóa lãnh đạo, quản lý của từng cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.

Trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta kiên trì mục tiêu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Muốn thực hiện được mục tiêu đó, trước hết Đảng phải đề ra được một cương lĩnh cách mạng xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, phù hợp với xu thế vận động của thời đại. Điểm chung của thực tiễn Việt Nam từ xưa đến nay là văn hóa, lịch sử, con người Việt Nam. Đó là một thực tiễn hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước với sự đắp bồi nhiều giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam. Những giá trị đó là nguồn lực vô tận để nhân dân Việt Nam thực hiện khát vọng ngàn đời của mình là độc lập dân tộc và sống đời hạnh phúc. Việt Nam ngày nay đang trong quá trình hội nhập vào thế giới toàn cầu hóa với bao điều mới mẻ của cách mạng khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức, kinh tế thị trường, biến đổi môi trường… Việt Nam phải phát triển bền vững trong quỹ đạo và xu thế của thế giới là hòa bình, hợp tác, dân chủ và đa dạng văn hóa. Xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, sải bước cùng thời đại là một tiêu chí của văn hóa cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thước đo văn hóa cầm quyền của Đảng là lòng dân. Đảng cầm quyền nhưng dân là chủ. Đảng cầm quyền để dân làm chủ. Đảng cầm quyền nhưng dân là gốc. Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân; trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Bài học quý giá Hồ Chí Minh để lại cho Đảng ta ngày nay là: “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”(3).

Trong đường lối lãnh đạo và cương lĩnh của Đảng, tức là về mặt lý thuyết, Đảng đã khẳng định rõ ràng, dứt khoát tất cả mọi hoạt động của Đảng là vì hạnh phúc của nhân dân. Nhưng cái khó nhất, cũng là văn hóa cao nhất của Đảng cầm quyền lại không phải nằm ở lý luận mà phải nằm ở thực tiễn. Hành động để đem lại hiệu quả thật sự cho dân chúng từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đến “tương, cà, mắm, muối” và lấy hiệu quả đó làm thước đo mới là điều khó nhất của một đảng cầm quyền. Bác thường dạy: “Nói thì dễ, làm thì khó”. Cái khó trong khi làm không phải là khó khăn, vất vả, mệt nhọc mà cái chính là không vượt qua được chính mình để thực hiện quan điểm quần chúng. Ví dụ: “Miệng thì nói dân chủ nhưng làm việc thì họ theo lối “quan” chủ. Miệng thì nói “phụng sự quần chúng”, nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của quần chúng”(4). “Làm theo lối “quan” chủ” tức là lãnh đạo thiếu văn hóa, lãnh đạo bằng quyền lực, “làm việc theo cách quan liêu. Cái gì cũng dùng mệnh lệnh. Ép dân chúng làm”(5). Làm như vậy thì dân oán. Mà “dân oán, dù tạm thời may có chút thành công, nhưng về mặt chính trị, là thất bại”(6) (người trích nhấn mạnh). Chính trị thất bại tức là không được lòng dân. Mà cái nguy hiểm nhất là mất lòng dân. Bởi vì, mất tiền và của cải thì còn làm lại được, còn đã mất lòng tin, đặc biệt là mất lòng tin của dân là mất tất cả. Nâng cao văn hóa cầm quyền là Đảng phải có sự lựa chọn sáng suốt, có tầm nhìn, trí tuệ và bản lĩnh văn hóa giữa việc lấy cái căn bản quy tụ của lòng dân và lợi ích lâu dài thay vì lợi ích và thành tích trước mắt mang mầm bệnh. Văn hóa cầm quyền là phải “sao cho được lòng dân”(7).

2. Đảng phải tôn trọng chính quyền, hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật

Nói đến Đảng cầm quyền là phải nói tới quản lý của nhà nước. Trong văn hóa cầm quyền thì văn hóa lãnh đạo và văn hóa quản lý thâm nhập vào nhau. Giá trị, uy tín, quyền uy tạo sức mạnh của đảng cầm quyền không chỉ trong khuôn phép của Đảng mà được cân, đong, đo, đếm bằng văn hóa quản lý. Nói cách khác, văn hóa quản lý là một thước đo của văn hóa lãnh đạo của đảng cầm quyền, trong đó “Chính phủ là công bộc của dân” như Hồ Chí Minh dạy là tiêu chí hàng đầu.

Trên cơ sở nhận thức nhà nước là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng, văn hóa của đảng cầm quyền là Đảng phải tôn trọng chính quyền, tôn trọng nhà nước. Đảng cầm quyền nhưng không thể và không được đứng trên nhà nước, đứng trên và đứng ngoài pháp luật. Xã hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng là một xã hội có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Đây là một nhận thức rất quan trọng trong cấu trúc quyền lực của hệ thống chính trị đương đại. Với nhà nước đó thì Quốc hội là cơ quan có quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết. Nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu Quốc hội nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân. “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”(8). “Bãi miễn các đại biểu” là tinh thần của “văn hóa từ chức” theo cách nói ngày nay. Nghĩa là, các vị đại diện khi được dân bầu – tức là dân ủy thác quyền lực – thì phải làm hết trách nhiệm “như một người lính vâng lệnh quốc dân ra trước mặt trận”; khi dân không còn tín nhiệm nữa thì phải vui vẻ từ chức theo lời dạy của Bác Hồ “khi nào đồng bào cho tôi lui thì tôi rất vui lòng lui”. Đảng cầm quyền, mọi tổ chức và cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật và tuân thủ hiến pháp và pháp luật mà không có một ngoại lệ nào. Tất cả họ phải hành xử theo đúng hiến pháp và pháp luật.

Khi Đảng trở thành đảng cầm quyền, việc giải quyết mối quan hệ giữa Đảng với nhà nước là giá trị văn hóa hàng đầu, vì Đảng phải hoàn thành sứ mệnh “hai vai”. Là người lãnh đạo nhà nước, Đảng phải xứng danh lãnh đạo với một chiều sâu trí tuệ, một bề dày đạo đức, sự vững chắc về bản lĩnh chính trị và phương thức lãnh đạo trọng dân, tin dân, gần dân, hiểu dân, học dân, hỏi dân, theo đúng đường lối quần chúng. Là một thành tố của hệ thống chính trị, Đảng phải hành xử phù hợp với hiến pháp và luật pháp, không được lạm quyền, coi khinh dư luận.

3. Đảng, Chính phủ phải luôn luôn tự phê bình và hoan nghênh nhân dân phê bình mình

Đảng luôn luôn tự phê bình, hoan nghênh nhân dân và đảng viên phê bình mình. Đảng phải nâng cao dân trí, bồi dưỡng ý thức làm chủ, nâng cao tính tích cực công dân, tự do ngôn luận, khuyến khích nhân dân tham gia vào các công việc của nhà nước, khắc phục mọi thứ dân chủ hình thức.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”(9). Phải khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến. Nếu cán bộ không nói năng, không đề ý kiến, không phê bình, thậm chí lại tâng bốc mình, thế là một hiện tượng rất xấu. Thế là mất hết dân chủ trong Đảng. Thế là nội bộ của Đảng âm u, cán bộ trở nên những cái máy, trong lòng uất ức, không dám nói ra, do uất ức mà hóa ra oán ghét, chán nản. “Nếu đào tạo một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo “đập đi, hò đứng”, không dám phụ trách. Như thế là một việc thất bại cho Đảng”(10).

Văn hóa truyền thống, phía sau cái mạnh trọng tình, bộc lộ cái hạn chế duy tình, thiếu văn hóa tranh luận, mà thực chất là giấu giếm khuyết điểm và thích khen, không thích chê, trở thành bệnh thành tích. “Nếu ai nói chúng ta không dân chủ, thì chúng ta khó chịu. Nhưng nếu chúng ta tự xét cho kỹ, thì thật có như thế”(11). Nâng cao văn hóa của đảng cầm quyền là thể hiện một đảng văn minh như cách nói của Bác Hồ. Ngược lại, “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sữa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.

Trên nền tư duy “Chính phủ là công bộc, đầy tớ của dân”, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng “khi dân dùng đày tớ làm việc cho mình, thì phải giúp đỡ Chính phủ. Nếu chính phủ sai thì phải phê bình, phê bình nhưng không phải là chửi… Xin đồng bào hãy phê bình, giúp đỡ giám sát công việc Chính phủ”(12).

Khuyết điểm, sai lầm là xấu, là phản văn hóa, nhưng nếu nhận ra khuyết điểm, sai lầm và tìm mọi cách khắc phục, sửa chữa sai lầm, khuyết điểm thì đó là một hành vi mang giá trị văn hóa. Nhân dân chính là người mang lại giá trị văn hóa lãnh đạo, văn hóa quản lý cho Đảng và Chính phủ. Nhận thức rõ điều đó, Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở “Chính phủ mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm tròn nhiệm vụ của mình là người đầy tớ tận tụy của nhân dân”.

Tư duy Hồ Chí Minh là Đảng và Chính phủ phải luôn luôn tạo điều kiện để nhân dân phê bình mình. Bởi vì, dân chúng thông minh, sáng tạo “biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”.

“Dám nói” theo quan điểm Hồ Chí Minh là một giá trị văn hóa đỉnh cao. Chỉ có một đảng cách mạng chân chính, đạo đức, văn minh thì mới đủ trí tuệ, bản lĩnh tạo điều kiện cho dân dám nói. Và chỉ khi nào dân chúng và cán bộ đảng viên dám nói, dám phê bình, kiểm soát hoạt động của Đảng và Chính phủ thì Đảng và Chính phủ mới làm việc tốt hơn và cán bộ, viên chức các cơ quan chính phủ mới thật sự là công bộc của dân. Vì vậy, “cần phải có biện pháp khác, biện pháp nghiêm ngặt hơn, để trừng trị loại cán bộ tha hóa, biến chất. Phải gây nên một đạo đức để ngăn ngừa, gây nên một phong trào quần chúng gớm ghét, bao vây lũ giặc ấy. Biện pháp ấy là gây nên một cuộc vận động trong công nông chống tiêu cực, làm cho những kẻ “chạy” không sống còn được”(13).

4. Văn hóa cầm quyền – văn hóa dùng người

Văn hóa của đảng cầm quyền, văn hóa lãnh đạo đạo, quản lý có một nội dung căn cốt là văn hóa dùng người. Con người sáng tạo ra văn hóa và cũng là sản phẩm của văn hóa. Cán bộ là gốc của mọi công việc. Mọi việc thành hay bại đều liên quan tới cán bộ tốt hay kém.

Một trong những phương thức lãnh đạo của đảng cầm quyền là thông qua cán bộ và công tác cán bộ. Hiện nay chúng ta đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong công tác cán bộ, đó là nạn chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy dự án, chạy bằng cấp, chạy tuổi, chạy huân huy chương… Lại có một dạng thách thức khác, đó là năng lực, bản lĩnh, đạo đức, phương pháp công tác của cán bộ không tương xứng với vị trí, chức vụ quản lý, lãnh đạo. Một thực tế đáng buồn đang diễn ra ở những mức độ khác nhau ở tất cả các loại cán bộ, các ngành, các cấp, các địa phương là có một loại cán bộ không chịu rèn đức, luyện tài mà chỉ rèn “công nghệ” xu nịnh, luồn cúi, a dua, “đi nhẹ, nói khẽ, hay cười và chạy…”, “thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi”, theo gió bẻ buồm, không có khí khái. Còn một bộ phận thuộc loại cán bộ được Đảng, nhà nước giao cho trọng trách làm công tác cán bộ lại thích người chạy và kẻ khéo nịnh hót mình, ghét người chính trực. Nhưng nguy hiểm nhất là những cái đó đang dần dần có xu hướng trở thành “giá trị” trong cơ cấu quyền lực của hệ thống chính trị, của xã hội và được một bộ phận xã hội đồng tình, chưa bị sức mạnh văn hóa, đạo đức của xã hội, của nhân dân đánh bại. Những ai chỉ chăm chú rèn đức, luyện tài, phát biểu trung thực thẳng thắn, vì sự thật thà đoàn kết và phát triển của đơn vị mà lại thiếu những “tố chất chạy”, lại thường bị coi là những người “xa lạ”, không thức thời. Nói tóm lại, một nguy cơ lớn là sự đảo lộn giá trị. Một đơn vị mà đa số cán bộ thuộc loại kém và trung bình, mang tư tưởng “dĩ hòa vi quý, chín bỏ làm mười”, còn thiểu số là tích cực, trung thực, thẳng thắn, thật sự tu dưỡng hồng, chuyên thì nguyên tắc “thiểu số phục tùng đa số” sẽ không mang lại kết quả tích cực như mong muốn.

Trước tình trạng đó, một đảng độc quyền lãnh đạo, nếu không có trí tuệ, tầm nhìn và bản lĩnh văn hóa trong việc dùng người thì nhất định thất bại. Đảng phải tìm thấy giá trị trong các mối quan hệ giữa người già và người trẻ; người trong Đảng và người ngoài Đảng; người có bằng cấp và không có bằng cấp, doanh nhân và trí thức, nhà lãnh đạo, quản lý và nhà khoa học… Trí tuệ văn hóa thể hiện bản lĩnh văn hóa của đảng cầm quyền là phải thấy thanh niên là người chủ tương lai của đất nước, thế hệ mới chắc chắn sẽ vượt thế hệ cũ (và có như thế thì đất nước và dân tộc mới có phúc). Có nhiều người không có bằng cấp nhưng có tài, có đức, cần phát hiện, trọng dụng và có chế độ đãi ngộ xứng đáng. Không phải đã lãnh đạo, quản lý là giỏi. Một người lãnh đạo, quản lý mất đi có người thay thế được ngay, còn một nhà khoa học, thật sự khoa học (đầu ngành hay chuyên ngành) mất đi, rất khó tìm người thay thế (thậm chí không có được người thay thế). Trong Đảng cũng có những người kém, người xấu. Hồ Chí Minh dạy: “Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra. Vì vậy, tuy nói chung, thì đảng viên phần nhiều là những phần tử tốt, nhưng vẫn có một số chưa bỏ hết những thói xấu tự tư tự lợi, kiêu ngạo, xa hoa… Trong Đảng ta chưa hoàn toàn tránh khỏi một vài kẻ vu vơ, những việc không chính đáng”(14). Vì vậy, văn hóa của đảng cầm quyền là đủ khả năng phân định có chất lượng khoa học và cách mạng một cách rõ ràng thật – giả, vàng – thau, tốt – xấu, đúng – sai… Đảng không chọn được những người có đức, có tài, quyết tâm, suốt đời, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân thì đó là thất bại cho Đảng, cũng là thất bại cho cách mạng.

5. Phải thật sự thấm nhuần văn hóa đạo đức

Trong điều kiện cầm quyền, cùng với việc Đảng xây dựng đường lối khoa học, đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng. Nếu học và hành theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không tốt thì đó là nguy cơ lớn của Đảng. Cuộc vận động xây dựng Đảng về đạo đức trong những năm qua chưa đạt yêu cầu đặt ra. “Có những tổ chức đảng tê liệt, mất sức chiến đấu… Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng; vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội”, “chạy bằng cấp”. Thoái hóa biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi…, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Đó là một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ(15). Như vậy là rất rõ ràng. Nếu Đảng cầm quyền thiếu văn hóa đạo đức thì Đảng sẽ mất lòng tin của dân, sẽ cô độc. Mà “cô độc thì nhất định thất bại”(16).

…Mấu chốt là ở chỗ, “Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy” như Hồ Chí Minh đã dạy. Văn hóa chính trị mà cốt lõi là văn hóa cầm quyền sẽ thật sự đem lại cho Đảng những tố chất trong sạch, vững mạnh. “Đảng vững” theo tư tưởng Hồ Chí Minh là Đảng đạo đức, văn minh. Tăng cường xây dựng văn hóa cầm quyền, văn hóa lãnh đạo – quản lý là xây dựng năng lực, trí tuệ, đạo đức, bản lĩnh, phương pháp, phong cách của Đảng, Chính phủ, của đảng viên, cán bộ, nhất là người đứng đầu.

Người Trung Quốc quan niệm cầm quyền là sự nghiệp, ý nghĩa của sự nghiệp là cống hiến. Cầm quyền là khoa học, giá trị của khoa học là ở cầu sự chân thực. Cầm quyền là nghệ thuật, sức sống của nghệ thuật là ở sáng tạo. Cầm quyền là thách thức, mấu chốt của ứng đối là ở bản thân. Nếu nói rằng, địa vị cầm quyền của Đảng không phải sinh ra đã có thì chúng ta cũng có thể nói rằng, địa vị cầm quyền của Đảng luôn đi cùng với sự cống hiến và hy sinh. Nếu nói rằng, địa vị cầm quyền của Đảng không phải có rồi sẽ tồn tại mãi mãi, thì cũng có thể khẳng định rằng, chỉ cần Đảng một lòng vì công thì Đảng có thể đứng vững lâu dài; chỉ cần Đảng một lòng vì dân thì Đảng có thể cầm quyền tốt đẹp; chỉ cần Đảng kiên trì tôn chỉ và tính chất của mình, không ngừng tăng cường xây dựng mình, thì Đảng có thể vĩnh viễn đứng ở vị trí chiến thắng (17)./.

(1), (15) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr.213, 263-264.
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Sđd, tr.279.
(3), (5), (6), (8), (10), (11), (12), (14), (16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, t.5, tr.293, 293,293, 61, 281, 243, 60-61, 238.
(4), (13) Sđd, t.6, tr.292, 501
(7) Sđd, t.4, tr.47.
(9)Sđd, t.12, tr.223.
(17) Xem Tôn Chí Cương: Suy nghĩ về tăng cường xây dựng năng lực cầm quyền của Đảng, trong Những vấn đề chính trị- xã hội, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, số 13, 2006, tr.1-13.

Theo tuyengiao.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Nhớ mãi những việc Bác làm, những lời Bác dạy

Bác Hồ trong chuyến đi Pháp năm 1945

Cách đây 66 năm, sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2-9-1945 nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam châu Á ra đời, đất nước ta phải đối mặt với bao nguy cơ, thử thách, thế nước trong tình trạng “ngàn cân treo sợi tóc”. Trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đó, với tầm nhìn xa trông rộng, với trí tuệ và bản lĩnh chính trị tuyệt vời của mình, Bác Hồ kính yêu của chúng ta vẫn vững tay chèo lái con thuyền cách mạng, vượt qua bao sóng gió, lãnh đạo toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta giữ vững nền độc lập, tự do. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, nhưng những việc Bác làm, những lời Bác dạy giữa mùa thu lịch sử ấy vẫn còn in đậm trong ký ức của mỗi một người con dân đất Việt.

Những ngày đó, trước vận mệnh dân tộc, với tinh thần trách nhiệm cao cả, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định: Phận sự của tôi như một người cầm lái, phải chèo chống thế nào để đưa chiếc thuyền Tổ quốc vượt khỏi những cơn sóng gió mà an toàn đi tới bến bờ hạnh phúc của nhân dân. Người đã nhanh chóng đề ra những chủ trương sáng suốt về đối nội và đối ngoại nhằm giải quyết những yêu cầu cấp bách của tình hình lúc đó. Các tác phẩm viết trong thời kỳ này của Người đã phản ánh sâu sắc những quan điểm đúng đắn về chiến lược và sách lược, đồng thời thể hiện cụ thể sự lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức tài tình của Người.

Ngay sau ngày tuyên bố độc lập, ngày 3-9-1945, Bác Hồ triệu tập họp phiên đầu tiên của Hội đồng Chính phủ và nêu ra 6 nhiệm vụ cấp bách của chính quyền cách mạng. Giữa lúc nạn ngoại xâm, nạn đói đang đe dọa dân tộc hàng ngày, hàng giờ, Bác đã sớm nhận ra nhiều loại giặc cũng cực kỳ nguy hiểm không kém, trong đó phải kể đến giặc dốt và giặc “nội xâm”. Với tầm nhìn văn hóa rộng lớn, Người chỉ rõ: Kẻ dốt là kẻ hèn, là kẻ nô lệ. Còn “giặc nội xâm” là kẻ thù còn nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm bởi không có sự phân biệt rạch ròi chiến tuyến để dễ bề nhận biết, mà lại nằm ngay trong hàng ngũ của ta, trong chính con người ta và được ngụy trang cực kỳ tinh vi, thủ đoạn.

Với các tầng lớp nhân dân, Người nhắc nhở, người làm chủ đất nước phải chứng tỏ tinh thần và sức mạnh của mình, thiết thực góp sức vào công cuộc bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ, xây dựng chính quyền vững mạnh. Điều đó chứng tỏ rằng, Người rất chú ý coi trọng sự tham gia của nhân dân vào công cuộc kiến thiết đất nước và quản lý nhà nước. Người động viên: Đồng bào ta ai có tài năng và sáng kiến về những công việc đó (tức kiến thiết ngoại giao, kiến thiết kinh tế, kiến thiết quân sự, kiến thiết giáo dục), lại sẵn sàng hăng hái giúp ích nước nhà thì xin gửi kế hoạch rõ ràng cho Chính phủ. Chính phủ sẽ nghiên cứu kế hoạch ấy một cách kỹ lưỡng, có thể thực hành được thì sẽ thực hành ngay…

Với cán bộ, đảng viên, Người dạy không được làm việc trái phép, cậy quyền cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo. Bởi mắc phải những lỗi lầm đó sẽ nảy sinh hiện tượng: Ăn muốn cho ngon, mặc muốn cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ… lấy của công làm việc tư, quên cả thanh liêm đạo đức; kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu mình không tài năng gì cũng chức này, chức nọ. Người có tài, có đức nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài… Từ đó mà dẫn đến việc coi khinh nhân dân, cử chỉ lúc nào cũng vác mặt “quan cách mệnh” lên. Thái độ kiêu ngạo đó sẽ làm mất lòng tin cậy của dân, sẽ hại đến oai tín của Chính phủ. Người cho rằng: “Muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Phải chú ý giải quyết hết các vấn đề dẫu khó đến đâu mặc lòng, những vấn đề quan hệ đến đời sống của dân. Phải chấp đơn, phải xử kiện cho dân mỗi khi người ta đem tới. Ngoài ra, đối với tất cả mọi người trong các tầng lớp dân chúng, ta phải có một thái độ mềm dẻo, khôn khéo, biết nhân nhượng, biết trọng nhân cách người ta. Phải tỏ cho mọi người biết rằng công việc là công việc chung, thiếu người ra gánh vác thì mình ra, nếu có người thay, mình sẽ nghỉ để làm việc khác, sẵn sàng nhường lại cho ai muốn làm và làm được” (Sao cho được lòng dân – Báo Cứu quốc, ngày 12-10-1945).

Người từng phê phán các Ủy ban nhân dân làm việc chưa khoa học, chia công việc không khéo thành ra bao biện. Trong một Ủy ban, có nhiều người rất rỗi rãi, cả ngày chỉ chạy ra chạy vào cho có việc; có người lại bù đầu rối óc vì một mình phải kiêm đến mấy việc. Cán bộ nhiều người chưa có tính chủ động, sáng tạo trong công việc. Từ thực tiễn đó, Bác chỉ rõ rằng: Cán bộ chăm chỉ làm việc chưa đủ, cần phải biết làm việc cho có phương pháp,… có mắt ta phải trông, có óc ta phải nghĩ, có tay ta phải làm… Phải biết rằng, tình hình khách quan thay đổi hàng giờ, hàng phút, một chủ trương của ta hôm nay đúng, hôm sau đã không kịp thời, nếu ta không tỉnh táo kiểm điểm những hành vi của ta để bỏ đi những cái quá thời, sai hỏng, nhất định ta sẽ không theo kịp tình hình, ta sẽ bị bỏ rơi … Muốn được thích hợp với tình thế, ta phải cần nhận thức và tự giáo dục không ngừng, cần phải có sự thành thực tự vạch ra những khuyết điểm sai lầm để bồi bổ và sửa đổi đi.

Người chỉ rõ: “Chỉ có chế độ của chúng ta mới thật sự phục vụ lợi ích của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động, bảo đảm mọi quyền lợi của nhân dân, mở rộng dân chủ để nhân dân thật sự tham gia quản lý nhà nước. Vì vậy cho nên nhân dân ta đưa hết khả năng làm tròn nhiệm vụ người chủ nước nhà để xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho nước ta mạnh, dân ta giàu”. Hơn nữa, chính quyền nhà nước của ta là một chính quyền “phải nhằm vào mục đích duy nhất là mưu cầu tự do, hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên hết thảy” (Báo Cứu quốc, số 46, ngày 19-9-1945). Đặc biệt, trong “Thư gửi các Ủy ban nhân dân các bộ, tỉnh, huyện và làng”, Người đã nêu: “… Chính phủ và nhân dân phải đoàn kết thành một khối”; “… Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì”; “ … Các cơ quan của Chính phủ, từ toàn quốc cho đến các làng đều là đầy tớ của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân …”; “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại cho dân, ta phải hết sức tránh”. Tư tưởng trên quán xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Không những thế, ngay trong những ngày đầu mới lập nước, Người đã nhận ra và nghiêm khắc cảnh báo cán bộ ta về những căn bệnh nguy hiểm mà mỗi cán bộ, đảng viên cần phải khắc phục để xứng đáng với vai trò và nhiệm vụ lịch sử của Đảng mình. Những việc làm và lời dạy của Bác lúc đó đều nhằm một mục đích duy nhất là kiến tạo nền móng của chính quyền nhân dân, tiến tới hoàn chỉnh việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN – một nhà nước của dân, do dân và vì dân. Lời Người hôm nay vẫn nóng hổi tính thời sự đối với những “công bộc” của nhân dân.

Hiện nay, ở một số địa phương vẫn có những lời ca thán về thái độ phục vụ nhân dân của không ít cán bộ, đảng viên. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trong buổi tiếp xúc cử tri hồi tháng 7-2007 cũng đã thẳng thắn phê phán rằng nhiều đơn thư của dân, trong đó có cả đơn do Chủ tịch nước chuyển về các cơ quan chức năng cũng bị “mất hút”, không thấy ai giải quyết, trả lời. Tại kỳ họp Quốc hội năm 2009, trong khi thảo luận ở tổ, có đại biểu Quốc hội bức xúc: Chính phủ luôn đánh giá bộ máy hành chính còn cồng kềnh, hiệu lực, hiệu quả còn thấp. Trong khi cải cách hành chính thực hiện hàng chục năm. Chúng ta đã cử nhiều cán bộ ra nước ngoài học tập, nâng cao trình độ. Nhưng kết quả vẫn vậy, cán bộ từ cơ sở đến trung ương vẫn có vấn đề về năng lực, trình độ và phẩm chất đạo đức.

66 năm qua, phần lớn cán bộ, đảng viên đã nghiêm túc thực hiện theo lời răn dạy của Người, nhưng cũng còn đó “những con sâu” đã và đang lợi dụng chức quyền để tác oai, tác quái bất chấp dư luận và luật pháp, làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng và Chính phủ, “làm cho nền đoàn kết lay động”. Những kẻ đó, bất kể là ai và ở cấp bậc nào, “nếu không tự sửa chữa” thì cần “Chính phủ sẽ không khoan dung”.

Đọc lại lời Người, chúng ta cảm thấy như Người vẫn bên cạnh, ân cần chỉ ra những tồn tại, những thiếu sót trong vấn đề dân sinh, dân nguyện đang gây nên những bức xúc trong cuộc sống hôm nay. Đất nước đang từng bước phát triển và trưởng thành, thời cơ, thuận lợi có nhiều nhưng những khó khăn và thử thách phía trước cũng không phải là ít. Để đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới – giai đoạn hội nhập, phát triển, CNH và HĐH đất nước, việc lựa chọn những “công bộc” của dân, do dân, vì dân là vấn đề rất quan trọng. Theo tư tưởng, tiêu chí lựa chọn của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì đó phải là những người có công tâm, trung thành, sốt sắng với quyền lợi dân chúng, có năng lực làm việc, được đông đảo nhân dân tín nhiệm. Không thể nhờ tiền tài hay một thế lực gì khác mà chui vào lọt… Lời Bác Hồ 66 năm trước, những người làm công tác tổ chức cán bộ hôm nay xin hãy khắc ghi!

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Học và làm theo Bác trong công tác tuyên truyền

Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1959 (ảnh Bảo tàng Lịch sử Việt Nam)

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tuyên truyền cách mạng là một hoạt động thống nhất trên ba mặt: Thứ nhất là nhận thức về mục đích và vai trò của tuyên truyền. Thứ hai là phương pháp tuyên truyền. Thứ ba là yêu cầu đối với người làm công tác tuyên truyền. Cả ba mặt luôn luôn thống nhất với nhau, liên hệ tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó nhận thức về mục đích đóng vai trò chủ đạo, chi phối trực tiếp đến mọi phương pháp hoạt động tuyên truyền. Quá trình từ nhận thức đến phương pháp tuyên truyền đều thông qua con người cụ thể. Do đó, người tuyên truyền đóng vai trò có ý nghĩa quyết định.

Trong suốt hành trình từ “người đi tìm đường” trở thành “người dẫn đường” cho cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã dành nhiều công sức, trí tuệ và sự quan tâm đến công tác tuyên truyền cách mạng. Người xem đó là công cụ quan trọng để tạo ra lực lượng mới hùng mạnh cho cách mạng.

Về mục đích tuyên truyền, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh đó là “đem một việc gì đó nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó là tuyên truyền thất bại” và mục đích của tuyên truyền là giải thích lập luận, chứng minh để “dân hiểu, dân nhớ, dân tin, dân làm theo”.

Về đối tượng tuyên truyền, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trước hết, người tuyên truyền phải nắm vững đối tượng được tuyên truyền. Nếu “người tuyên truyền không điều tra, không phân tích, không nghiên cứu, không hiểu biết quần chúng, chỉ gặp sao nói vậy, bạ gì viết nấy, nhất định thất bại”. Người cũng lưu ý rằng, “Dân chúng không nhất luận như nhau, trong dân chúng cũng có nhiều tầng lớp khác nhau, ý kiến khác nhau, có lớp tiên tiến, có lớp lưng chừng, có lớp lạc hậu”. Đối với mỗi tầng lớp đối tượng, Người yêu cầu phải có phương thức tuyên truyền thích hợp và phải chú trọng ưu tiên cho lớp đối tượng có trình độ nhận thức, trình độ văn hóa thấp. Vì đối tượng này hiểu được thì các đối tượng khác cũng nắm bắt dễ dàng.

Về công tác chuẩn bị nội dung tuyên truyền. Người tuyên truyền phải chuẩn bị nội dung tuyên truyền thật chu đáo. Bởi theo Người, làm được như vậy sẽ tránh được lối nói ba hoa, rỗng tuếch, cẩu thả, lặp lại, nhàm chán. Người từng cảnh báo: “Trước khi nói không sắp sửa kỹ càng. Lúc ra nói hoặc lắp lại những cái người trước đã nói. Hoặc lắp đi lắp lại những cái mình đã nói rồi. Lúng túng như gà mắc tóc. Thôi đi thì trẽn, nói nữa thì chán tai”. Người căn dặn: “Khi viết xong một bài báo, một bản báo cáo hoặc thảo một bài diễn văn nhất định phải đọc lại vài lần. Mình tự phê bình bài viết của mình, hỏi ý kiến đồng chí khác. Những câu những chữ thừa vô ích bỏ đi. Rửa mặt phải kỳ sát ba lần mới sạch, viết văn diễn thuyết cũng phải như vậy”. Để nội dung bài nói, bài viết có chất lượng, Bác yêu cầu người tuyên truyền phải chịu khó “nghe”, “thấy”, “xem” và “ghi chép”. Khi chuẩn bị nội dung phải suy nghĩ cho chín, sắp đặt cho cẩn thận, và nên nhờ chính những người thuộc đối tượng được tuyên truyền xem và cho ý kiến. Người yêu cầu cụ thể: “Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng; Phải luôn dùng những lời lẽ, những thí dụ đơn giản, thiết thực và dễ hiểu; Phải tự hỏi nói cho ai nghe, viết cho ai xem; Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết; Trước khi nói phải sắp đặt cho cẩn thận, phải suy nghĩ cho chín chắn. Sau khi viết rồi phải xem đi xem lại ba bốn lần. Nếu là một tài liệu quan trọng phải xem đi xem lại chín mười lần”.

Đối với người làm công tác tuyên truyền, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải có cách tuyên truyền phù hợp với đối tượng, với hoàn cảnh, cách nói, cách viết phải ngắn gọn, bởi lẽ “người lính đánh giặc, người dân đi làm không cho phép xem lâu”, cho nên “viết ngắn từng nào tốt chừng ấy”. Tuy vậy, “ngắn gọn nhưng không phải là cụt đầu, cụt đuôi, mà phải có đầu có đuôi” và “không nhất thiết cái gì cũng phải ngắn mới tốt”. Phù hợp với đối tượng là phải gắn liền với những đối tượng cụ thể. Tuyên truyền cho đồng bào miền núi phải khác với đồng bào miền xuôi; tuyên truyền cho đồng bào các tôn giáo phải khác với đồng bào không theo tôn giáo. Với các đối tượng phải tìm cho ra các đặc thù. Ví như, với đồng bào miền núi thì phải nói ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo. Nội dung tuyên truyền phải cụ thể, thiết thực “Một là gì, hai là gì, rồi ba, bốn, năm là gì? Làm như thế nào” và “… không nên nói trên trời dưới đất, nào là khách quan, chủ quan, nào là tích cực và tiêu cực, không đâu vào đâu cả”. Đồng thời phải nắm, phải thu phục cho được các già làng, trưởng bản. Nếu đạt kết quả thì tiếng nói của người tuyên truyền có sức nặng hơn, việc tuyên truyền vận động sẽ có kết quả hơn.

Người tuyên truyền phải học cách tuyên truyền của quần chúng. Đó là sự kết hợp của việc học trong sách vở, học trong thực tiễn công tác. Xuất phát từ quan điểm “Dân là gốc của tuyên truyền”, Người cho rằng, cách tuyên truyền phù hợp và có hiệu quả nhất với dân chính là cách tuyên truyền của chính nhân dân. Bằng cách đó, dân dễ hiểu, dễ nhớ nên sẽ tin và sẽ làm theo. Người từng cho rằng : “Cách nói của dân chúng rất đầy đủ, rất hoạt bát, rất thiết thực mà lại rất đơn giản. Anh em đi tuyên truyền chưa học được cách nói đó, cho nên khi nói, khi viết khô khan, cứng nhắc, không hoạt bát, không thiết thực”. Người cũng đã từng phê phán những cán bộ “không chịu học hỏi quần chúng, cứ đóng cửa lại mà làm, ngồi ỳ trong phòng giấy mà viết, cứ tưởng cái gì mình làm cũng là đúng, mình viết cũng là hay”. Riêng với những cán bộ được cử lên công tác ở miền núi, Người cũng căn dặn là cần phải học cả tiếng nói của dân tộc để tuyên truyền với đồng bào dân tộc đó. Như thế sẽ gây được mối thiện cảm bền lâu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, muốn nâng cao hiệu quả tuyên truyền thì người tuyên truyền phải là người hiểu biết rộng, đặc biệt là nhận thức sâu việc mình tuyên truyền. Không những có đủ kiến thức lý luận mà phải có vốn sống phong phú; không những giỏi về nghiệp vụ chuyên môn mà còn phải có trình độ văn hóa cao. Người tuyên truyền giỏi phải là người biết tổ chức quần chúng, người thức tỉnh và tập hợp quần chúng. Một yêu cầu không kém phần quan trọng là người tuyên truyền phải có vốn sống về thơ ca, nhạc họa thì tác dụng và hiệu quả tuyên truyền sẽ là rất lớn. Điều Bác hằng quan tâm trăn trở là đạo đức của người tuyên truyền. Nếu thiếu điều này, thì sẽ mất đi sự đồng tình, ủng hộ của quần chúng. Vì vậy mà không những không đạt được mục đích tuyên truyền mà còn ngược lại. Yêu cầu của Bác về đạo đức của người cán bộ tuyên truyền cũng rất cụ thể: Một là phải lễ độ. Lễ độ ở đây không phải là “gọi dạ bảo vâng”, mà theo Bác thì: Nếu một cán bộ tuyên truyền vào làng bản có cả người già, phụ nữ, trẻ em mà cất tiếng lên là “Các đồng chí” …điều đó tuy không vô phép nhưng không hợp với hoàn cảnh nên chướng tai, các cụ già sẽ không bằng lòng. Hai là, người cán bộ phải biết hòa mình với quần chúng, sống như họ đang sống, nói cái họ chưa hiểu, chịu khó, chịu khổ, khéo ở, siêng làm. Ba là, phải luôn nêu cao ý thức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Và cuối cùng là phải có tác phong quần chúng. Mà theo Người thì, “thấy dân làm việc gì, bất kỳ to nhỏ, ta cũng ra tay làm giúp”, “thái độ phải mềm mỏng, đối với các cụ già phải cung kính, với anh em phải khiêm tốn, với nhi đồng phải thân yêu, với mọi người phải thành khẩn”.

Học và làm theo những lời Người dạy nhất định những người làm công tác tuyên truyền ngày nay sẽ hoàn thành một cách xuất sắc và có hiệu quả nhiệm vụ đầy vẻ vang mà Đảng giao phó./.

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chính phủ là công bộc của dân

Phát biểu trong buổi lễ ra mắt ứng cử viên tổ chức tại Việt Nam học xá ngày 5- 1- 1946 Người nói: “Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không bầu. Ngày mai, không ai ép, không ai mua, toàn dân sẽ thực hiện cái quyền dân chủ ấy”.

1. Giữ gìn, kiến thiết là một công việc khó khăn, phức tạp

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ từ nhân dân, của nhân dân, vì nhân dân phục vụ. Khi đất nước còn đắm chìm trong đêm dài nô lệ, Người quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, không sợ hy sinh, không ngại khó khăn, gian khổ với mục đích cao nhất là giải phóng đồng bào. Sau khi tìm được con đường cứu nước đúng đắn, khoa học, cách mạng và nhân văn, Người đã tổ chức và lãnh đạo toàn dân đứng lên xóa bỏ chính quyền bóc lột của thực dân – phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân.

Chỉ một ngày sau khi giành được chính quyền ở Hà Nội, Hồ Chí Minh đã nhắc lại ý kiến của Lê-nin với các học trò của mình, rằng “giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn”. Người tiên tri, tiên lượng cái khó của chính quyền mới trên nhiều phương diện. Đó là thù trong giặc ngoài, nạn đói, nạn dốt. Dưới chế độ quân chủ cai trị rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, người dân bị đầu độc nhiều thói xấu như lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác; nước ta không có Hiến pháp, nhân dân không được hưởng quyền tự do dân chủ. Đặc biệt là những khó khăn của đội ngũ cán bộ, công chức do hạn chế về tài năng, sự hiểu biết và điều hành, quản lý một xã hội mới – xã hội do dân làm chủ.

Chỉ một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập, khi trình bày những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Sau tám mươi năm bị áp bức, bị bóc lột, và dưới chính sách ngu dân của thực dân Pháp, các bạn và tôi, chúng ta đều chưa quen với kỹ thuật hành chính. Nhưng điều đó không làm cho chúng ta lo ngại. Chúng ta vừa làm vừa học. Chắc rằng chúng ta sẽ phạm khuyết điểm, nhưng chúng ta sẽ sửa chữa, chúng ta có can đảm sữa chữa khuyết điểm”(1). Người thấy rõ và hình dung những khó khăn của việc kiến thiết đất nước: “Công việc phá hoại xong rồi. Nay bước đầu công việc dọn dẹp, sắp đặt, giữ gìn, kiến thiết. À! Việc này mới khó chứ. Trong việc phá hoại chống kẻ thù đòi độc lập, thì dễ dàng kéo cả toàn dân. Trong việc kiến thiết thì khó kéo hơn, vì nó đụng chạm đến quyền lợi riêng của một đôi giai từng trong nước. Vả lại, chúng ta phải thật thà thừa nhận rằng kinh nghiệm chúng ta còn ít, tài năng chúng ta còn kém, mà công việc thì nhiều: nào quân sự, nào ngoại giao, nào tài chính…, trăm đầu nghìn mối, đều những việc mới lạ cho chúng ta. Lại thêm nguy hiểm ngoại xâm và tình hình nội trị”(2). Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất là một bộ phận cán bộ bắt đầu có biểu hiện thoái hóa biến chất, lên mặt làm quan cách mạng, hủ hóa, không quan tâm gì đến đời sống của nhân dân.

Trăn trở, chăm lo xây dựng chính quyền vững mạnh, thật sự của dân, do dân, vì dân, Chính phủ là công bộc của dân, chính quyền “sao cho được lòng dân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm cảnh báo những căn bệnh của cán bộ và sự quan liêu hóa của bộ máy nhà nước. Đúng nửa tháng sau ngày đọc Tuyên ngôn độc lập tại vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), ngày 17- 9- 1945, trong Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà, Hồ Chí Minh đã nói tới việc “đề phòng hủ hóa”. Người chỉ rõ “cán bộ ta nhiều người “cung cúc tận tụy”, hết sức trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư. Thậm chí dùng pháp công để báo thù tư, làm cho dân oán đến Chính phủ và Đoàn thể”(3). Người nhấn mạnh “những khuyết điểm trên, nhỏ thì làm cho dân chúng hoang mang, lớn thì làm cho nền đoàn kết lay động”. Vì vậy, “chúng ta phải lập tức sửa đổi ngay. Chúng ta không sợ có khuyết điểm, chúng ta chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi. Chúng ta phải lấy lòng chí công vô tư”. Hồ Chí Minh nghĩ tới những kế sách xây dựng một nhà nước thật sự trong sạch, vững mạnh, được lòng dân.

2. “Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu”(4)

Để khắc phục những khó khăn và hạn chế đó, Hồ Chí Minh đã đặt lên hàng đầu việc củng cố sự đoàn kết toàn dân, mà một trong những biện pháp quan trọng hàng đầu vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài là chính sách dùng người, “đem những người có danh vọng hoặc có tài cán ở địa phương vào giúp việc”, tìm người tài đức, chiêu hiền đãi sĩ, cầu người hiền tài. Theo Người, “việc dùng nhân tài, ta không nên căn cứ vào những điều kiện quá khắt khe. Miễn là không phản lại quyền lợi dân chúng, không là Việt gian, thân Pháp, thân Nhật, có lòng trung thành với Tổ quốc là có thể dùng được. Tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy”(5).

Ngày 19 – 9 – 1945, với bút danh Chiến Thắng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài Chính phủ là công bộc của dân, đăng báo Cứu quốc số 45 phân tích rõ sự đảo lộn cách mạng giữa Chính phủ trước và sau cuộc khởi nghĩa 19-8-1945. Trước, nói tới hai chữ Chính phủ, người ta nghĩ ngay tới một bọn đầu đảng cướp nguy hiểm, xảo quyệt. Sau, nói tới Chính phủ, ai ai cũng đều có một cảm tình thân mật xen lẫn với một tôn kính sâu xa: Chính phủ đối với ta như người “anh cả” trong gia đình, một đồng chí phụ trách trong một địa phương, một người đứng mũi chịu sào ta có thể vững lòng trông cậy và gửi số mệnh vào.

Với quan điểm xuyên suốt “Chính phủ là công bộc của dân”, Hồ Chí Minh chỉ rõ “các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”. Người khẳng định: “Các Ủy ban nhân dân làng, phủ là hình thức Chính phủ địa phương phải chọn trong những người có công tâm, trung thành, sốt sắng với quyền lợi dân chúng, có năng lực làm việc, được đông đảo nhân dân tín nhiệm. Không thể nhờ tiền tài hay một thế lực gì khác mà chui lọt vào các Ủy ban đó”(6).

Ngày 17-10-1945, Hồ Chí Minh viết bài “Bỏ cách làm tiền ấy đi” đăng trên báo Cứu quốc, số 69. Nội dung bài báo là đề cao Ủy ban nhân dân tổ chức theo một tinh thần dân chủ mới, khoa học, rất cấp tiến nên không thể “đè đầu bóp cổ”, hay dùng những thủ đoạn không chính đáng như làm tiền bằng cách bán ngôi thứ. Người viết: “Làm tiền bằng cách bán ngôi thứ tức là gây cho dân chúng có óc hiếu danh, trong khi cần phải trừ tiệt óc đó để gây cho mọi người có óc thiết thực, góp sức vào công cuộc giữ gìn và xây dựng đất nước… Bán ngôi thứ làm cho óc người ta đen tối thêm! Tiền lấy như vậy cũng là một thứ tiền phi nghĩa… Cách làm tiền đó có hại cho sự tiến hóa của dân, cần phải bỏ ngay đi, cũng như cần phải phủi đi hết những hủ tục khác như làm rượu ăn mừng được bầu vào Ủy ban”(7).

Cùng với việc phê phán việc mua chức bán quyền, đồng thời Hồ Chí Minh cũng chỉ ra những lỗi lầm khác rất nặng nề như “cậy mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân. Quên rằng dân bầu ra mình là để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân… Ông ủy viên đi xe hơi, rồi bà ủy viên, cho đến các cô các cậu ủy viên, cũng dùng xe hơi của công. Thử hỏi những hao phí đó ai phải chịu?”(8).

Với một nhãn quan văn hóa chính trị sáng suốt, Hồ Chí Minh thấu suốt sự nghiệp kiến thiết cần phải có nhân tài. Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà. Chính phủ mới cần phải có những người có đức có tài để quản lý đất nước. Chế độ dân chủ cộng hòa phải khác hẳn về chất so với chế độ vua quan, thực dân đế quốc. Một trong những cái khác căn bản là quyền làm chủ, quyền dân chủ và quyền bầu cử của nhân dân để nhân dân lựa chọn ra những người thật sự có đức có tài để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Một ngày trước khi tổ chức Tổng tuyển cử để bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh có lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu. Người nói: “Ngày mai, là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ… Ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình… Ngày mai, dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình, và gánh vác việc nước… Ngày mai, mỗi người nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập, tự do”(9).

Phát biểu trong buổi lễ ra mắt ứng cử viên tổ chức tại Việt Nam học xá ngày 5- 1- 1946 Người nói: “Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không bầu. Ngày mai, không ai ép, không ai mua, toàn dân sẽ thực hiện cái quyền dân chủ ấy”(10).

Sau khi nước nhà được độc lập, nỗi quan tâm lớn nhất của Hồ Chí Minh là dân được hưởng tự do, hạnh phúc. Hạt nhân trong di sản của Người là chữ “DÂN”: “Đối với dân, ta đừng làm gì trái ý dân. Dân muốn gì, ta phải làm nấy”(11). Dân muốn có những cán bộ, đảng viên quyết tâm, suốt đời hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Dân muốn cán bộ phải đủ phẩm chất đạo đức, năng lực trí tuệ, bản lĩnh chính trị, phong cách công tác quần chúng, có như vậy thì mới làm tròn bổn phận là công bộc của dân. Dân muốn những cán bộ khi đạo đức và năng lực trí tuệ không tương thích với chức vụ, quyền hạn, không còn được dân tín nhiệm thì phải sẵn sàng, vui vẻ từ chức. Dân không muốn có những cán bộ “chỉ biết lên mà không biết xuống. Chỉ chịu được sướng mà không chịu được khổ. Chỉ ham làm chủ tịch này, ủy viên nọ, chớ không ham công tác thiết thực”(12).

3. Quản lý, điều hành đất nước cần phải có lớp trẻ

Hồ Chí Minh luôn luôn nói đi đôi với làm. Người là tấm gương sáng về người lãnh đạo, người đứng đầu ở vị trí cao nhất nhưng không tham quyền cố vị, luôn luôn đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết. Người tâm sự khi phải giữ trọng trách Chủ tịch nước: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng hoa. Sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”(13).

Tư tưởng và tấm gương “tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào” một lần nữa lại được Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố trước Kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I (31-10-1946): “Lần này là lần thứ hai Quốc hội giao phó cho tôi phụ trách Chính phủ một lần nữa. Việt Nam chưa được độc lập, chưa được thống nhất thì bất kỳ Quốc hội ủy cho tôi hay cho ai cũng phải gắng mà làm. Tôi xin nhận. Giờ tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới rằng: Hồ Chí Minh không phải là kẻ tham quyền cố vị, mong được thăng quan phát tài”(14).

Trong lời tuyên bố của Hồ Chí Minh, chúng ta chú ý rằng Người nhấn mạnh việc đảm nhận chức vụ trong một hoàn cảnh đất nước khó khăn, đầy gian khổ, hy sinh khi “Việt Nam chưa được độc lập, chưa được thống nhất”. Chức vụ đó là do Quốc hội (nhân dân) ủy thác thì phải gắng sức làm. Còn khi đồng bào đã cho lui thì lại vui vẻ trở về cuộc sống của một người dân bình thường, vui thú trong một “căn nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc, câu cá trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”.

Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về việc không tham quyền cố vị. Người thấy trước công việc xây dựng, tạo ra những cái mới mẻ tốt tươi là cả một cuộc chiến đấu khổng lồ; thắng bần cùng lạc hậu khó hơn nhiều so với thắng đế quốc phong kiến. Vì vậy, cần phải có lớp trẻ. Người nói: “Thế hệ già thua thế hệ trẻ mới là tốt. Các cháu không hơn là bệt. Bệt là không tốt. Người ta thường nói: “Con hơn cha là nhà có phúc”(15). Tất nhiên phải là lớp trẻ có đức có tài. Người phê phán quan điểm đưa lớp trẻ vào nhưng lại mong muốn là con cháu của mình. Người nói: “Con cháu mình là ai? Con cháu mình là tất cả, là thanh niên Việt Nam. Chứ không phải như thời phong kiến: Cha làm quan, con là cậu ấm. Con mình xấu thì đề bạt sao được”(16).

Nói chuyện với những đảng viên hoạt động lâu năm ở Nghệ An trong lần về thăm quê năm 1961, Người tâm sự: “Còn vấn đề lo cho con cháu các đồng chí. Cái đó là đúng. Nhưng, nếu là con tôi – à, tôi không có con – mà nó không có khả năng, nó xấu cũng phải dẹp lại. Không phải hễ cứ bố là cán bộ thì con là “cậu ấm”. Bố có việc của bố, con có việc của con. Cố nhiên, con của những đồng chí đã mất đi, Đảng phải lo. Nhưng bố mẹ nó đang còn, nó xấu, mà đòi hỏi đặc biệt chú ý, thì chú ý cái gì?”(17).

Để Chính phủ được lòng dân thì Chính phủ phải là công bộc, thật sự công bộc của dân theo nghĩa là hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Nhưng đồng thời Chính phủ cũng phải chọn được người có phẩm chất đạo đức, có năng lực trí tuệ, có bản lĩnh chính trị và phong cách làm việc quần chúng. Không thể chấp nhận trong Chính phủ có những người thiếu tâm, dưới tầm, nói nhiều làm ít, nói hay làm dở, có khuyết điểm nhưng không nhận, không dám chịu trách nhiệm, lại tham quyền cố vị. Cách đây hơn nửa thế kỷ, Hồ Chí Minh thấy trước được trong bộ máy quản lý đất nước, cần những người có tài năng thật sự, nếu kém thì phải loại ra. Người chỉ rõ: “Có người nay còn lãnh đạo đó, nhưng sau này tiến lên máy móc, nếu không biết kỹ thuật, có lãnh đạo được không? Nếu không biết, phải mời anh ra, cho người khác giỏi hơn vào làm chớ không phải như ngày xưa mà tưởng rằng: “sống lâu lên lão làng”(18).

65 năm trước, theo tiếng gọi của Hồ Chí Minh, cuộc bầu cử Quốc hội khóa I thành công tốt đẹp. Chúng ta đã tìm ra được những người thật sự có tài có đức, vì dân vì nước vào Quốc hội và Chính phủ. Hy vọng dưới ánh sáng Đại hội XI, học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tinh thần dân chủ, trách nhiệm và sáng suốt đó lại được thể hiện rõ nét ở kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 để đất nước có được những người thật sự có tài, có đức quản lý đất nước, tạo được niềm tin của nhân dân, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, vững bước tiến vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI./.

1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10), (11), (13), (14), Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, t.4, 7, 20, 21, 147, 39, 22, 54-55, 57, 145-146, 147, 148, 161, 427
12) Sđd, t.5, tr.255
(15) (16), (17), (18), Sđd, t.10, tr.465, 465, 469, 469

Theo tuyengiao.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Thông điệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục, vẹn nguyên giá trị thời đại

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt coi trọng đến sự nghiệp trồng người của nước nhà, ảnh TL

Nghiên cứu di sản Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay cần phải đặt trong xu thế của thời đại. Từ lúc ra đi tìm đường cứu nước cho đến tận cuối đời, Hồ Chí Minh luôn trả lời được những câu hỏi của dân tộc và đáp ứng yêu cầu của thời đại, nên di sản của Người vẫn giữ nguyên giá trị thời đại. Thông điệp của Người về giáo dục là một ví dụ điển hình.

Không phải ngẫu nhiên mà ngày 5-6-1911 Hồ Chí Minh lại quyết định đi sang nước Pháp, tới các nước phương Tây mà lại không đi theo cách nghĩ và cách làm của các bậc cha chú như Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Hoàng Hoa Thám. Trước khi ra nước ngoài, Hồ Chí Minh đã có những tư duy mới mẻ, độc lập, tự chủ, sáng tạo. Người không chấp nhận suy nghĩ cho rằng chỉ bằng nhiệt huyết yêu nước, lòng căm thù bọn xâm lược và khát vọng độc lập, tự do là có thể đánh bại quân xâm lược. Tư duy của Người cũng hoàn toàn xa lạ với kiểu “đồng văn, đồng chủng”. Suy nghĩ và hành động của Người với ý chí dù chỉ một mình cũng quyết tâm sang Pháp, nơi có khoa học – kỹ thuật phát triển, nơi tôi luyện những khái niệm về cách mạng, tiến bộ, dân chủ, tự do, bình đẳng, bác ái… cho thấy ngay từ lúc đó Hồ Chí Minh đã muốn hiểu biết, khám phá thế giới theo tinh thần “muốn đánh Pháp phải hiểu nước Pháp, muốn hiểu Pháp phải học chữ Pháp”, phải có trí tuệ để nghiên cứu, tìm hiểu đối tượng.

Thông điệp của Người là muốn đánh kẻ thù thì phải hiểu kẻ thù. Chính vì vậy khi được cha cho học trường Pháp – bản xứ ở Vinh, rồi trường Tiểu học Đông Ba, trường Quốc học Huế, Người rất tích cực học tập. Những ngày trước khi ra nước ngoài, Hồ Chí Minh đã có ý định xin vào học trường Kỹ nghệ thực hành ở Sài Gòn. Người quyết định sang Pháp không phải để chống lại nước Pháp mà để tìm hiểu, nghiên cứu văn hóa, văn minh Pháp, lấy cái đó làm “vũ khí” trí tuệ để chống lại bọn thực dân xâm lược trên đất nước mình.

Những tháng năm hoạt động ở nước ngoài, Người tiếp tục thực hiện ý định về việc khám phá, học tập, tiếp thu trí tuệ của thời đại. Người đã có đơn gửi Tổng thống nước Pháp từ Mác-xây, đề ngày 15-9-1911 xin vào học trường Thuộc địa (với lá đơn này, các thế lực thù địch đã có hành động xuyên tạc xấu xa mục đích tìm đường cứu nước chân chính của Nguyễn Tất Thành và đã bị các nhà sử học chân chính của nước Pháp và nhiều nhà nghiên cứu bóc trần).

Cùng với hoạt động thực tiễn, Hồ Chí Minh tích cực nghiên cứu lý luận, tiếp thu có chọn lọc văn minh Âu, Mỹ. Bằng sự trải nghiệm của bản thân, Hồ Chí Minh thấy rằng muốn làm cách mạng thành công phải “trồng người”, huấn luyện, đào tạo cán bộ. Từ những năm hai mươi, phát hiện ra sự hạn chế về tư duy lý luận của những người yêu nước Việt Nam, Hồ Chí Minh đã chú trọng công tác đào tạo cán bộ, rồi gửi những học viên ưu tú tiếp tục được đào tạo ở nước ngoài tại trường quân sự Hoàng Phố (Quảng Châu, Trung Quốc) và trường Đại học phương Đông (Mát-xcơ-va, Liên Xô).

Khi Đảng ra đời, Hồ Chí Minh cùng Đảng lãnh đạo dân tộc đấu tranh giành chính quyền về tay nhân dân. Trong thời gian ngắn trên đường về nước, được tin hơn 40 thanh niên các dân tộc Cao Bằng, vì bị đế quốc Pháp khủng bố đã vượt biên giới sang Quảng Tây (Trung Quốc), Hồ Chí Minh nghĩ ngay tới việc tổ chức một lớp huấn luyện cho anh em, sau đó đưa họ trở về củng cố và mở rộng phong trào ở Cao Bằng. Lớp học đã được tổ chức tại làng Nậm Quang (Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc). Các tài liệu huấn luyện được tổ chức biên soạn thành cuốn sách nhan đề: Con đường giải phóng. Thông điệp và việc làm của Hồ Chí Minh về đào tạo, huấn luyện cán bộ cho cách mạng có ý nghĩa to lớn cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh – con người đã từng là thầy giáo và có ba mươi năm lăn lộn ở ngoài nước, hiểu rõ ý nghĩa sâu xa và vai trò to lớn của tri thức – đã xác định sự nghiệp bảo vệ nền độc lập dân tộc và kháng chiến là cuộc đấu tranh chống lại ba kẻ thù: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Thông điệp của Người ngay trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ (3-9-1945) là: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Và Người đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ. Hàng loạt sắc lệnh liên quan tới giáo dục được Hồ Chí Minh ký như Sắc lệnh về việc thành lập Nha bình dân học vụ (6-9-1945); Sắc lệnh về việc thiết lập một Quỹ Tự trị cho trường Đại học Việt Nam (10-10-1945); Sắc lệnh về việc thành lập Hội đồng Cố vấn học chính (10-10-1945); Sắc lệnh về việc thiết lập một ban đại học Văn khoa tại Hà Nội (10-10-1945)…

Sau cuộc Tổng Tuyển cử bầu Quốc hội, cùng với việc ra đời của nhiều bộ, Bộ Giáo dục cũng được thành lập… Để thực hiện nhiệm vụ của Nha Bình dân học vụ là cấp tốc xóa nạn mù chữ trong nhân dân, ngày 4-10-1945, Hồ Chí Minh đã có lời hiệu triệu “Chống nạn thất học”. Người nhấn mạnh: “Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này là nâng cao dân trí”. Người kêu gọi:“Muốn giữ vững nền độc lập, Muốn làm cho dân mạnh, nước giàu, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”.

Điều thú vị là Hồ Chí Minh cho rằng xóa bỏ nạn mù chữ là tạo nên một phong trào giáo dục đại chúng. Người chỉ ra rằng học đọc và học viết có thể được tiến hành bất cứ ở đâu, dùng than, mặt đất hoặc lá chuối làm bút và giấy. Ai cũng có thể học được. Đặc biệt sự chú trọng của Người đối với tình trạng bất bình đẳng về điều kiện sống và về thế giới cho đến nay vẫn mang tính toàn cầu và đúng với mọi lứa tuổi. Chúng ta có thể thấy tinh thần của thông điệp đó được phản ánh đầy đủ trong báo cáo mới đây về phổ cập giáo dục cho tất cả mọi người mang tên “Tiếp cận những người bị gạt sang bên lề xã hội”.

Năm 1955, kỷ niệm 10 năm Bình dân học vụ, Hồ Chí Minh đưa ra một thông điệp: Dốt thì dại, dại thì hèn. Vì không chịu dại, chịu hèn, cho nên thanh toán nạn mù chữ là một trong những nhiệm vụ cấp bách và quan trọng của nhân dân các nước dân chủ mới. Trong giai đoạn nhân dân miền Bắc bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, khi bàn về nhiệm vụ giáo dục, Hồ Chí Minh nhấn mạnh phương châm giáo dục “học đi đôi với hành”, nội dung giáo dục ở từng cấp học tiểu học, trung học, đại học phải góp phần giải quyết nhiệm vụ của từng giai đoạn lịch sử, phù hợp với lứa tuổi.

Đó phải là một nội dung toàn diện về văn hóa, đạo đức, ngoại ngữ, giáo dục thể chất, chuyên môn. Đại học phải đi sâu nghiên cứu lý luận, góp phần giải quyết được những vấn đề lớn của cách mạng Việt Nam. Về phương pháp giáo dục, Hồ Chí Minh chú trọng tự học, học suốt đời, học từ thực tiễn, học nhân dân, học bạn, học thầy, càng tiến bộ càng phải học.

Giáo dục theo quan điểm Hồ Chí Minh không chỉ nhằm nâng cao dân trí, giữ nền độc lập, xây dựng đất nước mà còn là một yếu tố cần thiết cho việc xóa nghèo, giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em, kiềm chế sự phát triển dân số, đạt được sự bình đẳng giới và bảo đảm phát triển bền vững, hòa bình và dân chủ. Trong Di chúc, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: kế hoạch xây dựng lại đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế. Phát triển công tác vệ sinh, y tế. Sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân, như phát triển các trường “nửa ngày học tập nửa ngày lao động”.

Theo bà Ka-thơ-rin Mu-lơ Ma-rin, Trưởng Đại diện Văn phòng UNESCO tại Hà Nội, từ khi được thành lập vào năm 1946, UNESCO đã đi đầu trong nỗ lực xóa bỏ nạn mù chữ trên toàn cầu với những chương trình như giáo dục cho mọi người. Điều này đã được Hồ Chí Minh nêu lên từ năm 1945 khi Người trở thành Chủ tịch Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bốn trụ cột của giáo dục đã có trong di sản Hồ Chí Minh là: Học để biết, ngụ ý cung cấp những công cụ nhận thức cần có để hiểu biết thế giới và những điều phức tạp của nó một cách tốt hơn, và để có nền tảng đủ và phù hợp để học tập trong tương lai. Học để làm, có nghĩa là cung cấp các kỹ năng giúp các cá nhân tham gia một cách có hiệu quả vào nền kinh tế và xã hội toàn cầu. Học để làm người, có nghĩa là cung cấp những khả năng tự phân tích và kỹ năng xã hội để giúp các cá nhân phát huy đầy đủ nhất tiềm năng của mình về mặt tâm lý – xã hội, về tình cảm cũng như thể chất, để trở thành một “con người toàn diện” về mọi mặt. Học để chung sống, ngụ ý là hướng các cá nhân vào những giá trị tiềm ẩn trong các nguyên tắc dân chủ, sự hiểu biết giữa các nền văn hóa, tôn trọng và hòa bình ở mọi cấp bậc xã hội và quan hệ giữa người với người nhằm giúp cho các cá nhân và các xã hội cùng sống trong hòa bình và hòa thuận.

Xu hướng của thế giới toàn cầu hóa hiện nay là học suốt đời, là giáo dục đại chúng, giáo dục cho mọi người. Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã thấy được trở lực trên con đường phát triển nhanh, bền vững là nghẽn về giáo dục. Đảng ta xác định: Yêu cầu cấp bách trong thời kỳ chiến lược tới là tái cấu trúc nền kinh tế, trong đó một nội dung quan trọng là chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu theo bề rộng, dựa vào sự gia tăng vốn đầu tư và nguồn chất lượng thấp hiện nay sang kết hợp hợp lý giữa tăng trưởng theo bề rộng với tăng trưởng theo chiều sâu trên cơ sở áp dụng các tiến bộ về khoa học công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và kỹ năng quản lý hiện đại.

Từ buổi khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (9-1945), Hồ Chí Minh đã nói: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Quan điểm của Hồ Chí Minh cách đây hơn 65 năm đã nói trước được điều mà ngày nay thế giới đang rất quan tâm, đó là nguồn nhân lực chất lượng cao. Và Việt Nam đang trở lại với tư tưởng của Người khi Đảng ta khẳng định cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục là quốc sách hàng đầu.

Nhận thức được vai trò của giáo dục với ý nghĩa “quốc sách hàng đầu” là điều có ý nghĩa rất quan trọng, nhưng biến nó thành hiện thực mới là điều có ý nghĩa quyết định nhất./.

Theo PGS.TS Bùi Đình Phong
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

“Vào Quốc hội không phải để làm quan…”

Các ứng cử viên ĐBQH khóa I trong lễ ra mắt cử tri tại Việt Nam học xá (nay là trường Đại học Bách khoa Hà Nội). (Ảnh tư liệu trong sách ảnh 60 năm chính phủ Việt Nam của Nhà xuất bản Thông Tấn).

Là người kiến tạo ra nền chính trị Việt Nam hiện đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh ý thức được tầm quan trọng của Quốc hội trong một thể chế dân chủ – cộng hòa được khẳng định từ rất sớm trong cương lĩnh Cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam.

Người lãnh đạo càng phải gương mẫu

Có thể nói không chỉ những vấn đề lý luận mà ngay cả kỹ năng tổ chức Quốc hội và kỹ năng thực thi trách nhiệm của một Đại biểu Quốc hội cũng được Bác rất quan tâm. Bác đặc biệt quan tâm đến việc làm sao một tổ chức chính trị của một đảng cách mạng và một quần chúng mới thoát ra khỏi thân phận là thần dân của chế độ phong kiến, thuộc dân của chế độ thuộc địa có thể bắt kịp với một cuộc bầu cử và đưa vào vận hành một thể chế chính trị tiên tiến như Quốc hội. Bác rất ý thức được tâm thế của người phương Đông là tính gương mẫu của người cầm quyền của các nhà lãnh đạo. Vì thế Bác luôn tự mình làm gương cho mọi người.

Để bảo đảm mối đoàn kết toàn dân, tháng 11-1945, theo chủ trương của Bác, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố “tự giải tán”, thực chất là rút vào hoạt động không công khai, chỉ có một bộ phận công khai mang tên tổ chức “Hội Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác”. Khi ra ứng cử Bác cũng không lấy danh nghĩa này mà ứng cử với danh nghĩa “Đảng Quốc dân”. Thực chất chưa hề thành lập một tổ chức chính trị như thế nhưng có thể đấy là cách Bác cụ thể hóa tư tưởng đã từng tuyên bố công khai: “Đối với tôi chỉ có một đảng là Đảng Việt Nam tập hợp tất cả mọi người Việt Nam chỉ trừ hai hạng người là kẻ phản quốc và tham nhũng…”.

Nhà sử học Dương Trung Quốc.

Bác dạy ta “bài học vỡ lòng” về dân chủ

Chủ tịch Hồ Chí Minh ứng cử tại Hà Nội. Khi ấy, 118 vị chủ tịch UBND và tất cả các đại biểu làng xã tại Hà Nội đề nghị Bác “miễn phải ứng cử” và suy tôn làm chủ tịch vĩnh viễn nhưng Bác đã từ chối. Đấy là bài học vỡ lòng về “dân chủ” mà Bác muốn truyền cho nhân dân về nguyên lý: Mọi công dân đều bình đẳng và tuân thủ pháp luật. Nó cũng biểu hiện tính gương mẫu của người lãnh đạo vì lúc này Bác đang là chủ tịch Chính phủ lâm thời cũng được bầu ra từ một “Quốc dân đại hội” (họp trên Tân Trào) – là một hình thức sơ khai, tiền thân của Quốc hội.

Tôi muốn trích lại một đoạn trong thư trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ngày 15-12-1945: “Tôi rất cảm động thấy toàn thể đồng bào ngoại thành Hà Nội đã có lòng quá yêu tôi… Nhưng tôi là một công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên không thể vượt qua thể lệ tổng tuyển cử đã định. Tôi đã ứng cử ở Thành phố Hà Nội nên không thể ra ứng cử ở nơi nào khác nữa…”.

Tại kỳ họp thứ hai (từ ngày 23-10 đến 9-11-1946), trong buổi khai mạc, Đại biểu Quốc hội tỉnh Rạch Giá là ông Nguyễn Văn Tạo (sau này từng làm Bộ trưởng Bộ Lao động) đã thay mặt các đại biểu Nam Bộ đưa ra đề nghị Quốc hội suy tôn Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Người công dân số 1” của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Đây là cách vinh danh mà nhiều nước tiên tiến đã sử dụng và được toàn thể Quốc hội đồng tình tán thành. Đó cũng là sự xác nhận một sự thực lịch sử là Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là người đã lựa chọn và xác lập thể chế cộng hòa – dân chủ của nước Việt Nam độc lập.

Đặt mục tiêu đại đoàn kết lên hàng đầu

Ta có thể đọc rất nhiều bài viết hay và sâu sắc của Bác về Quốc hội và vai trò Đại biểu Quốc hội. Tôi muốn nhấn mạnh đến sự lựa chọn và thiết lập một thể chế chính trị phù hợp với Việt Nam của Bác, khi cách mạng đã giành được chính quyền.

Bác đã từng say mê với lý tưởng “tự do-bình đẳng-bác ái” của cách mạng Pháp; Bác cũng từng khâm phục tư tưởng về một nhà nước “của dân, do dân, vì dân” của A. Lincohn và thể chế nghị viện của Mỹ; Bác cũng từng trải nghiệm chế độ Xô Viết ở Liên Xô và thời Quảng Châu công xã ở Trung Quốc. Cuối cùng Bác lựa chọn chế độ cộng hòa dân chủ. Đây là một thể chế chính trị gắn với học thuyết “Tam Dân” của Tôn Trung Sơn, một nhà dân chủ Trung Hoa đã tiếp thu và phương Đông hóa những tư tưởng chính trị phương Tây mà hạt nhân là của Mỹ. “Tam Dân” gắn với ba mục tiêu: dân tộc độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc.

Tuy nhiên, Bác cũng vận dụng phù hợp với hoàn cảnh của dân tộc Việt Nam khi đặt mục tiêu đại đoàn kết lên hàng đầu. Do vậy mà Quốc hội Việt Nam luôn coi trọng tính đại diện của mọi tầng lớp nhân dân. Bác chủ động mời hay vận động nhiều đối tượng mà sự có mặt của họ trong Quốc hội có lợi hơn là để họ đứng ngoài, ví như Cựu hoàng Bảo Đại, nhiều vị quan lại cao cấp của chế độ cũ, các trí thức tiêu biểu… Thậm chí những người đối lập Bác cũng tìm mọi cách vận động tham gia Quốc hội.

Nhiều người hay nhắc đến việc tại kỳ họp đầu tiên, 70 đại biểu một số đảng phái đối lập từng chống phá Việt Minh tham gia Quốc hội. Đúng là họ đòi chia quyền, tẩy chay bầu Quốc hội. Nhưng Quốc hội bầu rồi Bác vận động họ tham gia và vận động cả Quốc hội cho phép họ tham gia. Thực tế cho thấy họ tham gia trong khuôn khổ hoạt động Quốc hội khiến họ khó chống đối hơn, thậm chí có một số vị đã ngả dần theo nhân dân. Đến kỳ họp sau (tháng 10 và 11-1946), khi quân Tưởng đã rút và ta đã ký Hiệp định Sơ bộ thì tự động họ bỏ cuộc… Đó không chỉ là nước cờ cao tay mà thực sự là một cách làm chính trị chính nghĩa.

Vào QH để đóng góp, hy sinh

Tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa I, người điều khiển do một vị nhân sĩ Thiên Chúa giáo đảm nhiệm vì là người cao tuổi nhất; dân chúng được vào xem Quốc Hội (ngồi trên tầng trên cùng của Nhà hát Lớn)… Tức là đúng như những tập quán của các nước dân chủ tiên tiến khi đó.

Bầu cử với số dư rất lớn, Hà Nội chọn có sáu đại biểu từ 72 ứng cử viên. Người được bầu làm trưởng Ban Thường trực (Chủ tịch) cũng là một nhân sĩ, một nhà sử học – cụ Nguyễn Văn Tố. Chính cụ đã nêu tấm gương kiên cường chấp nhận hy sinh khi giặc Pháp bắt được (1947). Và trước đó, ngay trong ngày mở đầu Toàn quốc kháng chiến, bác sĩ Nguyên Văn Luyện, cũng là một Đại biểu Quốc hội đã bị Pháp sát hại ngay tại Thủ đô… Quốc hội có sức mạnh, có uy tín vì như Bác nhắc nhở và kỳ vọng rằng “Vào Quốc hội không phải để làm quan, để phát tài mà là để đóng góp, hy sinh, thực sự làm đầy tớ nhân dân…”.

Theo phapluattp.vn
Phương Thúy (st).

bqllang.gov.vn

Tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh về một bản Hiến pháp dân chủ

Trong kho tàng lý luận đồ sộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước kiểu mới, thì tư tưởng lập hiến của Người là một bộ phận đặc biệt quan trọng. Nhân dịp kỷ niệm 66 năm Quốc khánh nước ta và trong điều kiện khẩn trương nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 theo Nghị quyết Ðại hội Ðại biểu toàn quốc lần thứ XI của Ðảng thì việc nghiên cứu tư tưởng lập hiến của Người là rất cần thiết.

Tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh trước hết là: Nước phải độc lập, quốc gia phải có chủ quyền là điều kiện tiên quyết để có Hiến pháp. Và Hiến pháp ra đời là để tuyên bố về mặt pháp lý một nhà nước độc lập, có chủ quyền, là phương tiện để bảo vệ độc lập và chủ quyền của đất nước. Trong những năm tháng bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc nhận thức một cách sâu sắc nỗi nhục của cảnh mất nước và giá trị cao quý của một nhà nước độc lập và có chủ quyền. Vì thế, khẩu hiệu lập hiến của Người trước khi có nhà nước kiểu mới sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 là khẩu hiệu lập hiến mang tính chất đấu tranh. Trong bản yêu sách gửi cho Hội Vạn quốc ký tên cùng với Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh, Người đề nghị: “Nếu được độc lập ngay thì nước chúng tôi sắp đặt một nền Hiến pháp”… (1).

Khi nước đã được độc lập, dân có chủ quyền, thể hiện nhất quán tư tưởng lập hiến của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương phải bầu ngay Quốc hội càng sớm càng tốt mặc dù lúc đó thù trong giặc ngoài, chính quyền non trẻ ngàn cân treo sợi tóc. Thực hiện quyết tâm đó, sau một thời gian chuẩn bị khẩn trương, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của dân tộc ta (ngày 6-1-1946) đã bầu ra Quốc hội Khóa I. Ngày 9-11-1946, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của một nước độc lập, có chủ quyền.

Hiến pháp năm 1946 đã mở ra một trang sử mới của dân tộc ta với một hệ thống chính quyền thống nhất, hoàn toàn đầy đủ danh nghĩa về mặt pháp lý để đại diện cho nhân dân Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Ðúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Bên trong thì nhân dân tin tưởng vào chế độ mình. Trước thế giới, Quốc hội do dân bầu ra sẽ có một giá trị pháp lý không ai có thể phủ nhận được”(2). Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh giữa độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và Hiến pháp của Nhà nước có mối quan hệ không thể tách rời. Nước không được độc lập, quốc gia chưa có chủ quyền thì chưa có điều kiện để xây dựng và ban hành Hiến pháp. Ngược lại, Hiến pháp ra đời là để tuyên bố về mặt pháp lý với nhân dân trong nước và thế giới một nhà nước độc lập có chủ quyền và là phương tiện để bảo vệ độc lập và chủ quyền quốc gia.

Tư tưởng lập hiến thứ hai của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Hiến pháp phải là một “Hiến pháp dân chủ”, được thể hiện xuyên suốt trong tất cả các tác phẩm của Người. Trong bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi đến Hội nghị Véc-xây vào đầu năm 1919 do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo gồm tám điểm, trong đó điểm thứ hai Người đòi phải: “Cải cách nền pháp lý ở Ðông Dương bằng cách cho người dân bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu”(3). Và trong một yêu sách khác gửi cho Hội Vạn quốc ngày 30-8-1926, Người đề nghị: “Nếu được độc lập ngay thì nước chúng tôi: sắp đặt một nền Hiến pháp về phương diện chính trị và xã hội, theo như những lý tưởng dân quyền”(4).

Những yêu sách nói trên vừa thể hiện tư tưởng về một bản Hiến pháp mà nội dung của nó là: “Sắp đặt một nền Hiến pháp về phương diện chính trị và xã hội theo như những lý tưởng dân quyền” (lý tưởng người dân làm chủ) và là phương tiện “đảm bảo về mặt pháp lý” để nhân dân được hưởng quyền như người châu Âu. Nhất quán với những tư tưởng đó, một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong đó, nhiệm vụ thứ ba là: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ”(5).

“Hiến pháp dân chủ” trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đòi hỏi dân chủ phải là điều kiện để cho sự ra đời của một bản Hiến pháp. Các yếu tố độc lập, có chủ quyền nói ở phần trên là các điều kiện cần nhưng chưa đủ để có một “Hiến pháp dân chủ”. Ðiều kiện đủ để có một “hiến pháp dân chủ” đó chính là một chế độ dân chủ. Vì thế, trong Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Vua Bảo Ðại thoái vị… dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa”’(6). Nhờ chế độ dân chủ cộng hòa mà có điều kiện cho sự ra đời của một bản “Hiến pháp dân chủ”.

Hiến pháp dân chủ ra đời từ nhận thức sâu sắc của Nguyễn Ái Quốc về thân phận của người dân sống trong nhà nước quân chủ chuyên chế và trong nhà nước thực dân xâm lược. Ở đó, không có Hiến pháp nên không có Hiến định về quyền con người, quyền công dân, không có các định chế về Hiến pháp, về tổ chức quyền lực nhà nước để ràng buộc và đề cao trách nhiệm của nhà nước trong mối quan hệ với việc thực thi quyền con người, quyền công dân. Ðồng thời, xuất phát từ đạo lý được thừa nhận chung, như một giá trị tiến bộ của nhân loại là: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; Trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn độc lập – nền móng của Hiến pháp năm 1946 đã rút ra kết luận khoa học rằng: “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”(7). Như vậy, quyền con người theo Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là quyền của cá nhân con người như trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ mà còn là quyền độc lập, quyền tự quyết của một dân tộc.

Tư tưởng về một “Hiến pháp dân chủ” được thể hiện xuyên suốt trong toàn bộ Hiến pháp năm 1946. Nét nổi bật nhất xuyên suốt nội dung của 7 chương 70 điều của Hiến pháp năm 1946 là tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân với một chính thể dân chủ rộng rãi, một bộ máy nhà nước mạnh mẽ và sáng suốt đề cao và tôn trọng quyền con người, quyền công dân.

Như vậy, Hiến pháp và dân chủ trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hai yếu tố không tách rời nhau. “Hiến pháp dân chủ” phải là một bản Hiến pháp có nội dung và cách thức ban hành dân chủ. Ðồng thời là phương tiện để cho nhân dân được hưởng quyền tự do dân chủ. Ngược lại, dân chủ là điều kiện cần và đủ cho một bản “Hiến pháp dân chủ” ra đời, tồn tại và phát huy giá trị.

“Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân” bằng sức mạnh “thần linh pháp quyền” của Hiến pháp cũng là một tư tưởng lập hiến quan trọng của Hồ Chí Minh. Sức mạnh “thần linh pháp quyền” của Hiến pháp không phải chỉ đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh là Trưởng ban khởi thảo Hiến pháp năm 1946 mới ra đời. Trong bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi Hội nghị Véc-xây vào đầu năm 1919 và sau này diễn ca với tựa đề Việt Nam yêu cầu ca bằng lời thơ dễ hiểu, dễ phổ biến, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Bảy xin Hiến pháp ban hành, trăm đều phải có thần linh pháp quyền”(8). Ðây chính là sức mạnh của Hiến pháp – sức mạnh của tính pháp quyền. Sức mạnh đó trước hết là sức mạnh của tổ chức quyền lực nhà nước bằng Hiến pháp và tuân thủ Hiến pháp. Bởi theo quan niệm của Người: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”(9). Vì thế, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước cũng tức là chủ thể tối cao của quyền lập hiến. Thông qua quyền này, nhân dân giao quyền, nhân dân ủy quyền quyền lực nhà nước của mình cho các cơ quan nhà nước. Bằng phương thức đó mà tổ chức quyền lực nhà nước mang sức mạnh của nhân dân; làm cho quyền lực nhà nước được hình thành một cách chính thức, cầm quyền một cách chính đáng và buộc quyền lực nhà nước phải tuân theo Hiến pháp trong tổ chức và hoạt động của mình. Chính vì thế, với tư cách là Trưởng ban khởi thảo Hiến pháp năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương: “Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân”(10) bằng quy định thành nguyên tắc và nội dung cơ bản của Hiến pháp, như lời nói đầu của Hiến pháp năm 1946 đã khẳng định./.

—————————————————————-

1 Hồ Chí Minh toàn tập, T.4, NXB Chính trị Quốc gia, H.1995, trang 8.
2 Hồ Chí Minh tuyển tập T.4, trang 356.
3 Hồ Chí Minh toàn tập, T.1, H.1995, trang 435,436.
4 Hồ Chí Minh pháp lý phục vụ cách mạng, NXB Sự thật, H.1975, trang 278.
5 Hồ Chí Minh tuyển tập, T.4, trang 8.
6 Hồ Chí Minh toàn tập, T.4, NXB Chính trị Quốc gia, H.1995, trang 3.
7 Hồ Chí Minh toàn tập T.4, NXB Chính trị Quốc gia H.1995, trang 1.
8 Hồ Chí Minh toàn tập, T.1, trang 438.
9 Ðiều 1 Hiến pháp năm 1946.
10 Lời nói đầu Hiến pháp năm 1946.

Theo GS.TS Trần Ngọc Đường (Viện Nghiên cứu lập pháp)
Nguồn Nhân dân
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Thực hiện lời dặn của Bác Hồ về con người và chính sách xã hội đối với con người

Bác Hồ với học sinh trường trung học Trưng Vương (Hà Nội) nǎm1956

(TCTG)- Chăm lo cho con người, để con người được giải phóng hoàn toàn là hạt nhân, đồng thời cũng là mục tiêu cuối cùng, sâu thẳm nhất trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh nói riêng. Vì vậy, một trong những lời dặn lại đầy tâm huyết của Chủ tịch Hồ Chí Minh là vấn đề con người và chính sách đối với con người.

Lời dặn “đầu tiên là công việc đối với con người”

Trong suốt cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi quyết sách, mỗi việc Người làm đều toát lên tình thương yêu vô hạn, sự tôn trọng, thái độ bao dung và lòng tin yêu con người.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người vừa tồn tại với tư cách cá nhân, vừa là thành viên của gia đình và của cộng đồng, nên định nghĩa về con người của Hồ Chí Minh thật đặc biệt: “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người”(1). Suốt hành trình đi khắp năm châu, bốn biển, ôm ấp một hoài bão lớn lao về giải phóng dân tộc mình, góp phần giải phóng loài người, Người đã khởi đầu từ cái cụ thể tưởng như nhỏ nhất, để rồi tạo dựng một công trình vĩ đại mang ý nghĩa thời đại, ý nghĩa lịch sử. Đó là đặt niềm tin vào con người, vào nhân dân và dân tộc mình, nâng niu trân trọng từng cá nhân con người; không quản ngại khó khăn, nhẫn nại thức tỉnh, giác ngộ, dìu dắt đồng bào, tiếp đó là giúp đỡ họ, đào tạo họ, cổ vũ và động viên họ trực tiếp tham gia sự nghiệp cách mạng, “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” để đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng chính bản thân mình.

Người luôn thấu hiểu sâu sắc rằng, giải phóng con người, đem lại lợi ích cho con người chính là tạo ra động lực vô cùng lớn lao cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trong quan niệm của Hồ Chí Minh: Con người cụ thể là những người dân Việt Nam lao động nghèo khổ bị áp bức cùng cực dưới ách thống trị của phong kiến, đế quốc; là dân tộc Việt Nam đang đắm chìm trong đêm trường nô lệ và mở rộng hơn là những người nô lệ mất nước – “người cùng khổ”. Đồng thời, Người cũng nhấn mạnh rằng quyền cơ bản nhất của mỗi con người là quyền được sống, được sung sướng, được tự do, mà trước hết hết là cần có ăn, có mặc, có nhà ở, được chữa bệnh và được học hành. Những nhu cầu tối thiểu cũng là những quyền tối thiểu đối với con người ấy luôn luôn được đặt ra như một mục tiêu phấn đấu của bất cứ xã hội nào muốn đem lại hạnh phúc thật sự cho con người.

Không chỉ tìm đường, chỉ lối và lãnh đạo họ tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh còn luôn quan tâm đến nhu cầu, lợi ích của con người với những nhu cầu chính đáng ở mọi nơi, mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh. Ngay sau ngày tuyên bố Việt Nam độc lập, chính vị Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Chúng ta phải làm ngay: 1. Làm cho dân có ăn. 2. Làm cho dân có mặc. 3. Làm cho dân có chỗ ở. 4. Làm cho dân có học hành”(2). Mục tiêu đó tiếp tục được xác định ngay cả trong hoàn cảnh cả nước tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp: “Chương trình nội chính của Chính phủ và của quân dân ta chỉ có 3 điều mà thôi: a) Tăng gia sản xuất để làm cho dân ai cũng đủ mặc đủ ăn. b) Mở mang giáo dục để ai nấy cũng đều biết đọc, biết viết. c) Thực hành dân chủ để làm cho dân ta ai cùng được hưởng quyền dân chủ tự do”(3).

Giá trị của tự do, độc lập, định hướng của nhà nước dân chủ nhân dân do Hồ Chí Minh sáng lập và dày công xây dựng là tiến tới để thực hiện thắng lợi các mục tiêu đó. Bởi theo lời Người, nếu nước được tự do, độc lập mà người dân không được hưởng hạnh phúc, hưởng những quyền cơ bản của con người, thì độc lập, tự do cũng chẳng có nghĩa lý gì. Trên tinh thần đó, Hồ Chí Minh luôn đề cao những quyền cơ bản của con người, nhưng Người không dừng ở việc đề cao quyền cá nhân cực đoan theo quan điểm tư sản, mà chỉ rõ quyền cá nhân chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở thực hiện quyền của dân tộc.

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp tục tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng, cả dân tộc Việt Nam đồng hành trong 21 năm trường kỳ chống đế quốc Mỹ xâm lược. Cũng trong hành trình gian khó ấy, Hồ Chí Minh có một niềm tin lớn lao ở sức mạnh sáng tạo của quần chúng nhân dân, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng, nên đã kêu gọi, cổ vũ đồng bào và chiến sĩ cả nước cùng đồng thời vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam. Vẫn luôn đau đáu niềm suy tư vì con người, trước khi trở về với cõi vĩnh hằng, Hồ Chí Minh dặn lại trong Di chúc: “Ngay sau khi cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi, công việc toàn Đảng toàn quân và toàn dân ta phải ra sức làm là mau chóng hàn gắn vết thương nghiêm trọng do đế quốc Mỹ gây ra trong cuộc chiến tranh xâm lược dã man”, đồng thời “phải có kế hoạch để xây dựng lại thành phố và làng mạc đẹp đẽ, đàng hoàng hơn trước chiến tranh. Khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế. Phát triển công tác vệ sinh, y tế. Sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân… Công việc trên đây là rất to lớn, nặng nề, và phức tạp, mà cũng rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”(4).

Còn “đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong …), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cách sinh”.

Đối với các liệt sỹ, mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta.

Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sỹ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét”(5).

Tiếp tục thực hiện lời dặn của Hồ Chí Minh về chăm lo cho con người

Khẳng định sự nghiệp cách mạng mà chúng ta đang tiến hành sau chiến tranh là xóa bỏ cái cũ để xây dựng cái mới, cải tạo xã hội cũ để xây dựng một xã hội mới, Hồ Chí Minh chỉ rõ công việc phải làm đầu tiên là “đối với con người”. Công việc to tát, lớn lao ấy xuất phát từ lòng dân, phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân, vì nhân dân và hợp với thời đại, bởi không chỉ quan tâm và chăm lo đến những cán bộ, binh sĩ, dân quân du kích, thanh niên xung phong, các gia đình liệt sĩ, cha mẹ vợ con của thương binh, liệt sĩ… mà còn quan tâm cả đến những nạn nhân của chế độ xã hội cũ, như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu…

Thực hiện lời căn dặn của Người, Đảng, nhà nước đã từng bước đề ra các chính sách xã hội chăm lo cho con người, nhất là các đối tượng chính sách có một cuộc sống ngày càng được nâng cao về cả vật chất và tinh thần. Trong những năm qua, các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể đã thực hiện tốt Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng. Các ngành, các cấp đã thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội, trợ cấp xã hội, cứu tế xã hội để trợ giúp những người yếu thế và dễ bị tổn thương như người tàn tật, người già cô đơn, trẻ em mồ côi lang thang cơ nhỡ, giúp đỡ những người bị thiệt hại nặng do thiên tai, địch họa hoặc rủi ro trong cuộc sống… Thông qua các hình thức, các chương trình, cả nước đã phát huy truyền thống tương thân, tương ái trong cộng đồng, đoàn kết để giúp nhau vượt qua khó khăn, xóa đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống.

Công tác thương binh, liệt sỹ, thực hiện chính sách hậu phương quân đội cũng đã được triển khai toàn diện, thực hiện đồng bộ và đạt hiệu quả thiết thực. Một số lượng lớn các văn bản pháp luật quy định về chế độ, chính sách đối với công tác thương binh, liệt sỹ, chính sách hậu phương quân đội và người có công với cách mạng, với gia đình hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ và các lực lượng làm nhiệm vụ trên những địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo,v.v… đã được triển khai và thực hiện có hiệu quả.

Công tác tìm kiếm, cất bốc, quy tập hài cốt liệt sĩ được thực hiện khẩn trương và có kết quả cao. Các đơn vị quân đội đã tìm kiếm, cất bốc, quy tập được trên 910.000 hài cốt liệt sỹ về an táng trong gần 3.000 Nghĩa trang liệt sỹ, bảo đảm đúng nghi thức quân đội; trong đó, nhiều hài cốt đã xác minh được tên, tuổi… Những việc làm đầy tình nghĩa đó đã góp phần giữ ổn định, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sỹ và các đối tượng chính sách. Một mặt, tạo động lực quan trọng để xây dựng quân đội vững mạnh trong tình hình mới, mặt khác góp phần ổn định chính trị – xã hội, củng cố quốc phòng – an ninh.

Đặc biệt, với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, cả nước đã có nhiều việc làm phong phú, thiết thực, để chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ. Cuộc vận động toàn dân ủng hộ xây dựng quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” được khơi dậy và ngày càng phát triển mạnh. Nhiều phong trào được xã hội hoá, nổi bật nhất là phong trào phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, người có công với cách mạng, làm mới và sửa chữa nhà tình nghĩa, tu sửa nghĩa trang liệt sỹ, tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa, thăm hỏi, tặng quà các gia đình có công với cách mạng…

Con người và chính sách xã hội với con người trong Nghị quyết Đại hội XI

Thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc, Đảng ta luôn chăm lo cho con người, coi con người là trung tâm, là động lực của sự phát triển, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Chính sách xã hội đúng đắn, công bằng vì con người là động lực mạnh mẽ phát huy mọi năng lực sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách; phát triển hài hoà đời sống vật chất và đời sống tinh thần, không ngừng nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể chất, gắn nghĩa vụ với quyền lợi, cống hiến với hưởng thụ, lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và cộng đồng xã hội. Tạo môi trường và điều kiện để mọi người lao động có việc làm và thu nhập tốt hơn”(6). Đồng thời Cương lĩnh cũng nhấn mạnh: “Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người. Quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp và pháp luật quy định. Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ công dân”(7).

Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020 cũng khẳng định việc mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người; coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển; “phải bảo đảm quyền con người, quyền công dân và các điều kiện để mọi người được phát triển toàn diện”(8). Trong chính sách xã hội đối với con người, Đảng ta đã đề ra mục tiêu: “Đến năm 2020, chỉ số phát triển con người (HDI) đạt nhóm trung bình cao của thế giới, tốc độ tăng dân số ổn định ở mức khoảng 1%, tuổi thọ đạt bình quân 75 tuổi, đạt 9 bác sỹ và 26 giường bệnh trên một vạn dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, lao động qua đào tạo đạt trên 70%, đào tạo nghề chiếm 55% tổng lao động xã hội”, “Tỉ lệ hộ nghèo giảm bình quân 1,5-2%/năm; phúc lợi xã hội, an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe cộng đồng được bảo đảm. Thu nhập thực tế của dân cư gấp khoảng 3,5 lần so với năm 2010; thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa các vùng và nhóm dân cư. Xoá nhà ở đơn sơ, tỉ lệ nhà ở kiên cố đạt 70%, bình quân 25 m2 sàn xây dựng nhà ở tính trên một người dân”(9); “thực hiện tốt chính sách khám, chữa bệnh cho các đối tượng chính sách, người nghèo, trẻ em và người dân tộc thiểu số, chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi”(10) và “có chính sách để phát triển mạnh nhà ở cho nhân dân, nhất là cho các đối tượng chính sách và người có thu nhập thấp”(11).

Làm được như vậy, sẽ không chỉ làm thỏa lòng mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà còn góp phần tạo sự đồng thuận trong xã hội, tiến tới xây dựng thành công một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững vàng hội nhập quốc tế/.

Theo tuyengiao.vn
Đỗ Hoàng Linh – Phó Giám đốc Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Dấu ấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh với giai cấp công nhân và công đoàn

Bác Hồ nói chuyện với công nhân Ngành Đường sắt Việt Nam

Sau khi trở thành người cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực tìm kiếm những hình thức nhằm tập hợp, đoàn kết giai cấp công nhân Việt Nam, đặt nền móng xây dựng những cơ sở đầu tiên cho tổ chức công đoàn nước ta.

Cuối tháng 12-1920, anh Nguyễn cùng 160 đại biểu của Đảng Xã hội trong Đại hội Tua đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế III và tuyên bố thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Trước đó, ngay từ năm 1914, Người đã tham gia tổ chức “Lao động hải ngoại”, tổ chức nghiệp đoàn của những người thợ thuyền thuộc địa sống trên đất Anh. Năm 1919, Người gia nhập “công đoàn kim khí” quận 17 Paris. Cùng lúc đó, phong trào yêu nước và thợ thuyền Việt Nam ở Pháp bừng tỉnh. Cùng với luật sư yêu nước Phan Văn Tường và nhà chí sĩ cách mạng Phan Chu Trinh, Người tham gia lập “Hội những người Việt Nam yêu nước ở Pháp”. Đây là cầu nối đầu tiên giữa Người với công nhân, lính thợ, thủy thủ người Việt ở Pháp. Sau khi Người tham gia sáng lập “Hội Liên hiệp thuộc địa” (10-1921) và nhất là khi tờ “Người cùng khổ” ra mắt vào tháng 4-1922 thì những tổ chức công đoàn đầu tiên của người Việt Nam trên đất Pháp càng phát triển mạnh mẽ. Đồng chí Tôn Đức Thắng, một trong những người sáng lập phong trào công đoàn Việt Nam, đã 2 lần đến Paris để tìm Nguyễn Ái Quốc. Đồng chí đã tham gia cuộc nổi dậy phản chiến nổi tiếng ở Biển Đen và sau khi bị trục xuất về Sài Gòn (1922-1923), đã gieo những hạt giống đầu tiên của Công hội đỏ Việt Nam tại xưởng đóng tàu Ba Son.

Tháng 7-1924, Người tham gia Đại hội III “Quốc tế công hội đỏ” tại Mát-xcơ-va, là đại biểu duy nhất cho giai cấp công nhân thuộc địa và đọc bản tham luận chính thức trong phiên họp thứ 15 ngày 21-7-1924. Đây là tiếng nói chính thức đầu tiên của một đại biểu của phong trào công nhân và Công đoàn nước ta trên diễn đàn quốc tế. Người kêu gọi: “… tổ chức công nhân cách mạng Pháp phải tích cực giúp đỡ chúng tôi trong cuộc đấu tranh giải phóng của chúng tôi”(1). Năm 1925, Bản án chế độ thực dân Pháp được “Thư quán lao động” xuất bản tại Paris. Trong Chương XII mang tên “Nô lệ thức tỉnh”, tác giả cổ vũ cuộc bãi công của 600 công nhân nhuộm vừa nổ ra ở Chợ Lớn, “đây là lần đầu tiên một phong trào như thế nhóm lên ở thuộc địa”(2). Năm 1926, ngoài tờ báo “Thanh niên” có đăng một số bài của Người về tổ chức công đoàn Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc sáng lập thêm báo “Công Nông”, tờ báo đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam. Năm 1927, tác phẩm “Đường kách mệnh” được xuất bản. Đây là tác phẩm quan trọng nhất của Người về cách mạng Việt Nam nói chung và về phong trào công đoàn nói riêng. Người xác định: “Tổ chức công hội trước là để cho công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình; hai là để nghiên cứu với nhau; ba là để sửa sang lại cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ; bốn là để giữ gìn quyền lợi cho công nhân…”(3). Như vậy là vào thời kỳ này, Người đã rất chú ý đến chức năng bảo vệ quyền lợi của người lao động. Quả thực, cho đến nay, chức năng cơ bản của công đoàn vẫn là bảo vệ lợi ích của người lao động. Khi xa rời chức năng đó thì người công nhân tự nhiên sẽ xa lánh hoặc thờ ơ với sự tồn tại của tổ chức công đoàn và công đoàn đến lượt nó mất đi tính đại diện của người lao động. Đề cập đến vấn đề này, trong bài nói chuyện tại Trường cán bộ Công đoàn ngày 19-1-1957, Người nói: “Công đoàn phải tuyên truyền đường lối, chính sách chung của Đảng, vì Đảng mình là Đảng của giai cấp vô sản. Đường lối chung là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Giai cấp mà không có Đảng lãnh đạo thì không làm cách mạng được, Đảng mà không có giai cấp công nhân cũng không làm được gì. Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là đội tiên phong của dân tộc… Mục đích công đoàn là phải cải thiện dần đời sống công nhân, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của giai cấp công nhân nói riêng và nhân dân nói chung”(4). Hồ Chủ tịch cũng đã không ít lần bàn về đồng lương thực tế cho người thợ: “Bây giờ anh em mong được lên lương có chính đáng không? Có. Nhưng lương tăng gấp đôi mà hàng đắt thì vẫn không ăn thua gì”(5). Tại Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ II, tháng 2-1961, Người nhấn mạnh: “Phát minh, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật cũng là vấn đề quan trọng. Phải nhận rằng đại đa số công nhân ta đều cần cù, thông minh và có nhiều sáng kiến hay… Nếu công đoàn biết khuyến khích, áp dụng, cải tiến và phổ biến rộng rãi những sáng kiến ấy thì năng suất lao động sẽ nâng cao không ngừng”(6). Người còn dạy: “Công đoàn phải có biện pháp thiết thực để nâng cao trình độ văn hóa và kỹ thuật của công nhân, phải tùy khả năng cộng với cố gắng mà nâng cao dần đời sống vật chất của họ; phải chú ý bảo vệ sức khỏe, bảo vệ an toàn lao động và tăng cường công tác vệ sinh…”(7). Cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho giai cấp công nhân nói riêng và nhân dân nói chung là khát vọng luôn canh cánh bên Người.

Hiện nay Đảng và nhà nước ta đặc biệt chú trọng đến việc phát huy vai trò trách nhiệm của giai cấp công nhân. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: “Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng; là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”(8). Báo cáo chính trị tại Đại hội XI của Đảng cũng chỉ rõ: “Quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển giai cấp công nhân Việt Nam cả về số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, kỷ luật lao động, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH – HĐH và hội nhập quốc tế”(9). Quan điểm của Đảng về chiến lược xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn kết chặt chẽ với chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, CNH, HĐH đất nước, hội nhập quốc tế. Xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, chăm lo xây dựng giai cấp công nhân; bảo đảm hài hoà lợi ích giữa công nhân, người sử dụng lao động, nhà nước và toàn xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của công nhân, quan tâm giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc, cấp bách của giai cấp công nhân. Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho công nhân, từng bước trí thức hoá giai cấp công nhân là một nhiệm vụ chiến lược.

Bước vào thời kỳ đất nước hội nhập, vấn đề xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn lớn mạnh càng phải được quan tâm sâu sắc, toàn diện, thiết thực và cụ thể hơn theo tinh thần Nghị quyết 20/NQTW và Nghị quyết Đại hội XI của Đảng. Đây là trách nhiệm của Đảng, nhà nước và cả hệ thống chính trị cùng sự nỗ lực vươn lên của bản thân mỗi người công nhân, là yếu tố quan trọng thực hiện thành công nhiệm vụ xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

————

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXBCTQG, H.2000, tập 1, tr.293. (2), (3) Sách đã dẫn, tập 2, tr.114, 302. (4), (5) Sách đã dẫn, tập 8, tr.295,297. (6), (7) Sách đã dẫn, tập 10, tr.291. (8), (9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXBCTQG, H.2011, tr.80, 49.

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tư tưởng

(TCTG ) Tuyên truyền là một bộ phận, một tác nghiệp của công tác tư tưởng có vị trí hết sức quan trọng, bởi vậy, Người định nghĩa và xác định rõ mục đích của tuyên truyền: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại”.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chăm lo đến công tác giáo dục chính trị tư tưởng, bởi theo Người: “Tư tưởng không đúng đắn thì công tác ắt sai lầm”; rằng: “Trong Đảng và ngoài Đảng có nhận rõ tình hình mới, hiểu rõ nhiệm vụ mới thì tư tưởng mới thống nhất, tư tưởng thống nhất thì hành động mới thống nhất”(1). Công tác tư tưởng tự bản thân nó đã hàm chứa những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, đa chiều, liên quan đến tâm tư nguyện vọng của cán bộ, đảng viên, nhân dân; liên quan đến sự thành bại của sự nghiệp cách mạng. Người nói: “Lãnh đạo quan trọng nhất là lãnh đạo tư tưởng, phải hiểu tư tưởng của mỗi cán bộ để giúp đỡ thiết thực trong công tác; vì tư tưởng thông suốt thì làm tốt, tư tưởng nhùng nhằng thì không làm được việc”(2). Trong báo cáo tại Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II (15-7-1954), trong mười công tác được xác định thì công tác lãnh đạo tư tưởng là quan trọng nhất (3). Hồ Chí Minh luôn yêu cầu “Cán bộ lãnh đạo và cán bộ các ngành, tư tưởng phải thông, phải thật thông. Phải có quyết tâm khắc phục khó khăn, làm tròn nhiệm vụ”(4). “Phải đánh thông tư tưởng và động viên sáng kiến và lực lượng của toàn Đảng, toàn dân. Mọi người quyết tâm làm cho được và tin tưởng làm nhất định được”(5). Mỗi lần về thăm các nhà máy, công trường, hợp tác xã, Bác Hồ luôn nhắc nhở, động viên cán bộ, đảng viên, nhân viên “Muốn quản lý tốt thì cán bộ và công nhân phải thông suốt tư tưởng”.

Trên cơ sở quy luật của công tác tư tưởng, Người đã trù liệu hệ quả khi đảng viên chưa thông suốt tư tưởng sẽ dẫn tới những biến dạng khôn lường “Nếu đảng viên tư tưởng và hành động không nhất trí, thì khác nào một mớ cắt rời, “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Như vậy, thì không thể lãnh đạo quần chúng, không thể làm cách mạng”(6). Do đó mà Người luôn canh cánh kỳ vọng làm sao tư tưởng tiên tiến, tư tưởng XHCN phải trở thành chủ đạo, trường tồn cùng với Đảng, với cán bộ, đảng viên và nhân dân. Người chỉ rõ “Tư tưởng thông suốt thì mọi việc làm đều tốt. Phải làm cho tư tưởng xã hội chủ nghĩa hoàn toàn thắng, tư tưởng cá nhân hoàn toàn thất bại”(7).

Tuyên truyền là một bộ phận, một tác nghiệp của công tác tư tưởng có vị trí hết sức quan trọng, bởi vậy, Người định nghĩa và xác định rõ mục đích của tuyên truyền “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại”(8). Người nói “Người tuyên truyền bao giờ cũng phải tự hỏi: Viết cho ai xem? Nói cho ai nghe? Nếu không vậy, thì cũng như cố ý không muốn cho người ta nghe, không muốn cho người ta xem”(9). Do mục đích, yêu cầu của công tác tuyên truyền, nhất là tính chính xác và sức lay động lan toả đối với dân chúng nên Hồ Chí Minh đòi hỏi cán bộ tuyên truyền “Phải biết cách nói. Nói thì phải giản đơn, rõ ràng, thiết thực. Phải có đầu, có đuôi, sao cho ai cũng hiểu được, nhớ được”(10); rằng: Người tuyên truyền không điều tra, không phân tách, không nghiên cứu, không hiểu biết quần chúng, chỉ gặp sao nói vậy, bạ gì viết nấy, nhất định thất bại. Khi tuyên truyền vận động đồng bào dân tộc thiểu số, Người lưu ý: Phải nói thiết thực, rõ ràng để đồng bào dễ nghe, dễ hiểu và làm được tốt.

Với sự quan sát và thông qua nhiều kênh tiếp nhận, với tình cảm chân thành mà Người nhắc nhở, phê phán một số báo cáo viên thiếu chủ động, đầu tư trong việc chuẩn bị bài nói, thuyết trình “Nhiều người trước khi nói không sắp sửa kỹ càng. Lúc ra nói hoặc lắp lại những cái người trước đã nói. Hoặc lắp đi lắp lại cái mình đã nói rồi”(11); hoặc “Nhưng viết một cách cao xa, mầu mè, đến nỗi chẳng những quần chúng không hiểu, mà cả cán bộ cũng không hiểu”(12). Đặc biệt, Người còn phê phán một số người sính dùng chữ, nhất là thích dùng chữ Hán “Tiếng ta có thì không dùng, mà cứ ham dùng chữ hán. Dùng đúng, đã là một cái hại, vì quần chúng không hiểu. Nhiều người biết không rõ, dùng không đúng, mà cũng ham dùng, cái hại lại càng to”(13). Vì vậy, Hồ Chí Minh mong muốn làm sao trong mỗi bài nói, bài viết phải thấu cảm được ý tưởng và mong ước của nhân dân. Người yêu cầu “Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng”(14). Có như vậy công tác tư tưởng mới đạt được mục tiêu “được người, được việc, được tổ chức” như nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu đã khẳng định. “Phải đạt được mục đích tăng cường đoàn kết nhất trí trong Đảng, trong quân đội”(15).

Hơn lúc nào hết đội ngũ cán bộ tuyên truyền “Phải có lòng tự tin, tin vào mình, tin Đảng, tin giai cấp, tin nhân dân mình”(16), thiếu nó thì khó có thể hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao trên mặt trận tư tưởng văn hoá. Xuất phát từ vai trò, tầm quan trọng của công tác tư tưởng nên Người luôn mong muốn “Người tuyên truyền cần phải chịu khó, chịu khổ, khéo ở, siêng làm. Chớ tưởng rằng: Đi phớt qua địa phương, diễn thuyết một hai giờ đồng hồ mà có kết quả. Đến một địa phương nào cần phải đi thăm các cụ phụ lão, các người phụ trách, rồi đi thăm các nhà đồng bào để gây cảm tình, và để hiểu biết tình hình địa phương”(17). Người còn chỉ giáo “Thấy dân làm việc gì, bất kỳ to nhỏ, ta cũng ra tay làm giúp. Đó là cách gây cảm tình tốt nhất, nó sẽ giúp cho việc tuyên truyền kết quả gấp bội”(18). Cán bộ Tuyên truyền cần phải chủ động học tập nâng cao trình độ, kiến thức, nếu không sẽ lạc hậu, thoái bộ; luôn nắm vững chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tập quán, sinh hoạt của nhân dân. Chú trọng “nâng cao trình độ lý luận, gắn liền công tác lý luận với thực tiễn cách mạng; phải đi sát thực tế, phải liên hệ mật thiết với quần chúng”(19). Đồng thời Người còn căn dặn: Cán bộ, đảng viên phải nâng cao chí khí chiến đấu, nâng cao lòng tin tưởng. Trong kháng chiến rất khó khăn nếu chí khí chiến đấu của bộ đội, cán bộ, nhân dân mà sụt thì sẽ thất bại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa chúng ta nhưng tư tưởng của Người nói chung, về công tác tư tưởng nói riêng vẫn còn sống mãi với thời gian, với Đảng ta, và đội ngũ những người làm công tác tuyên giáo hôm nay. Đó là hành trang, phương pháp luận quý báu để Đảng ta, đội ngũ làm công tác tuyên truyền vững tin hơn, trí tuệ sắc sảo hơn nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác tư tưởng của Đảng lên một tầm cao mới. Đặc biệt càng có ý nghĩa cấp bách khi Đảng ta thực hiện chủ trương mở cửa, hội nhập; khi các lực lượng thù địch chưa từ bỏ mưu toan chống phá cách mạng nước ta, hòng chia rẽ Đảng với nhân dân; khi “Công tác tư tưởng còn thiếu sắc bén, tính chiến đấu còn hạn chế; chưa làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội, những quan điểm mơ hồ, sai trái; thiếu quan tâm giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống”(20). Khắc phục và thực hiện tốt các nhiệm vụ đó là nhân tố để “Đảng ta là một tập thể lớn, tư tưởng nhất trí, hành động nhất trí” trong tiến trình kiến tạo đất nước theo lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

TS. Nguyễn Thế Tư, Học viện Chính trị- Hành chính khu vực III

Tài liệu tham khảo

(1); (2); (3) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 7, tr.319; tr.466; tr.319
(4); (5); (6); (7) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 9, tr.224; tr.246; tr.288; tr.277
(8); (9); (10); (11); (12); (13); (14); (17); (18) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 5, tr.162; tr.300; tr.162; tr.301-302; tr.304; tr.305; tr.306; tr.163; tr.163
(15); (16); (19) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 8, tr.353; tr.385; tr.157
(20) Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá X, Nxb CTQG, H, 2007, tr.36

Theo http://www.tuyengiao.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn