Tag Archive | Lãnh tụ vĩ đại

66 năm Cách mạng tháng Tám năm 1945 (19/8/1945) và sự ra đời của một bài ca bất hủ

Cố nhạc sỹ Xuân Oanh

Cách đây 66 năm, tháng 8 năm 1945, cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 đi vào giai đoạn kết thúc. Sau khi tiêu diệt phát xít Đức, Liên Xô chuyển sang tấn công tiêu diệt phát xít phương Đông là Nhật Bản. Phong trào đấu tranh chống Nhật bùng lên mạnh mẽ khiến Nhật Bản lâm vào tình trạng vô cùng nguy khốn. Thời cơ cách mạng đang mở ra trước con đường giải phóng của các dân tộc, Đảng ta đứng trước một cơ hội lịch sử ngàn năm có một, giờ phút có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh của đất nước.

Trong hoàn cảnh đó, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào (Tuyên Quang) trong 2 ngày 14 và 15 tháng 8 năm 1945 đã giải quyết một vấn đề trọng đại: Quyết định tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Đại biểu các Đảng bộ từ Bắc, Trung, Nam, từ các chiến khu và khu giải phóng về dự đông đủ. Hội nghị họp vào lúc phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng. Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh liền thành lập “Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc” để lãnh đạo khởi nghĩa trong cả nước. Trong tình hình hết sức khẩn trương, Đảng quyết định phát động và lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và bọn bù nhìn tay sai của chúng trước khi quân đồng minh Anh, Pháp vào nước ta.

Đại hội Quốc dân họp ở Tân Trào ngày 15/8 gồm hơn 60 đại biểu thuộc các thành phần dân tộc, tôn giáo và các đoàn thể, đảng phái tề tựu trước mái đình Hồng Thái để bàn việc cứu nước, ý chí quyết chiến dâng lên mãnh liệt tại Đại hội Tân Trào. Các đại biểu đều tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng. Đại hội quy định quốc kỳ, quốc ca, 10 chính sách lớn và cử ra Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, tức là Chính phủ lâm thời sau này. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc, sau bao năm đấu tranh kiên cường vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc, đã được Đại hội nhất trí bầu làm Chủ tịch.

Nắm được thời cơ thuận lợi, nhiều địa phương đã nổi dậy giành chính quyền từ ngày 14-8. Ngày 15, Xứ ủy Bắc Kỳ trực tiếp chỉ thị cho Hà Nội khởi nghĩa. Hà Nội sống trong những ngày rạo rực chuẩn bị nổi dậy, các tầng lớp nhân dân nhất là thanh niên, hăng hái gia nhập các đoàn thể cứu quốc, tuyên truyền cho Việt Minh, thành lập các Đội Tự vệ chiến đấu.

Chiều 17, cuộc biểu tình của Tổng hội công chức biến thành cuộc mít tinh lớn của Việt Minh. Cờ đỏ sao vàng xuất hiện trên tầng hai Nhà hát Thành phố, đại biểu Việt Minh kêu gọi nhân dân đứng dậy giành chính quyền, lật đổ chính quyền bù nhìn Trần Trọng Kim. Ngọn lửa cách mạng bùng cháy, cả Hà Nội bừng bừng khí thế đấu tranh theo lời kêu gọi của Đảng.Cuộc biểu tình làm cho kẻ thù càng thêm hoảng hốt. Trái lại, quần chúng cách mạng phấn chấn, ráo riết chuẩn bị khởi nghĩa.

Sáng ngày 19, hàng chục vạn nhân dân thành phố rầm rập tiến về Quảng trường Nhà hát Lớn. Đúng 11 giờ trưa, cuộc mít tinh bắt đầu. Lời kêu gọi khởi nghĩa của Đảng được quần chúng đón mừng bằng những tiếng reo hò và những khẩu hiệu hô vang khắp quảng trường:

Thành lập chính phủ Cộng hòa Dân chủ Việt Nam
Việt Nam hoàn toàn độc lập
Đả đảo chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim.

Cuộc mít tinh biến thành cuộc biểu tình tuần hành vĩ đại. Dòng người chia thành nhiều ngả, có các Đội Tự vệ chiến đấu dẫn đầu đi chiếm các công sở và chiếm lĩnh các vị trí xung yếu. Cổng phủ khâm sai đóng, nhiều người vượt qua hàng rào sắt nhảy vào bên trong chiếm lấy trụ sở cơ quan đầu não của địch. Cờ đỏ sao vàng được kéo lên cao tung bay trước gió. Ở trại Bảo an ninh, bọn Nhật cho xe tăng và quân lính chặn các ngã đường nhưng chúng không thể ngăn cản được làn sóng người đang cuồn cuộn tiến bước, sẵn sàng đạp bằng mọi trở ngại. Nhân dân Hà Nội đã hoàn toàn làm chủ thành phố của mình. Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội đã cổ vũ tinh thần đấu tranh của toàn dân và tác dụng mạnh mẽ đến phong trào cách mạng của cả nước.

Trong vòng 10 ngày từ 19 đến 28 tháng 8 hầu hết các tỉnh và thành phố đều nổi dậy khởi nghĩa. Phát xít Nhật thua trận, chế độ quân chủ bị lật đổ. Chính quyền trong cả nước hoàn toàn về tay nhân dân ta. Từ đó, ngày 19/8 đi vào lịch sử của dân tộc, là ngày khởi nghĩa của Hà Nội, ngày đánh dấu cao trào Tổng khởi nghĩa trong cả nước, ngày Cách mạng tháng Tám thành công. Thắng lợi Cách mạng tháng Tám chính là kết quả của một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh và khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng lòng yêu nước là những nhân tố căn bản nhất làm nên thành công của cuộc Tổng khởi nghĩa lịch sử.

Mùa thu này, ca khúc bất hủ “Mười chín tháng Tám” lại vang lên vào một dịp đặc biệt của cả dân tộc Việt Nam, đó là những ngày rạng ngời niềm vui kỷ niệm chiến thắng Cách mạng tháng Tám lịch sử.

“Toàn dân Việt Nam đứng đều lên góp sức một ngày
Thề đem xương máu quyết lòng chiến đấu cho tương lai
Mười chín tháng Tám khi quốc dân căm hờn kêu thét
Tiến lên cùng hô mau diệt tan hết quân thù chung
Mười chín tháng Tám ánh sáng tự do đưa tới
Cờ bay nơi nơi muôn ánh sao vàng
Máu pha tươi đều trên lá cờ bay khắp chốn giang sơn”.

Nhạc sỹ Xuân Oanh – người đã viết nên những lời ca tiếng hát đi cùng lịch sử dân tộc ấy, nay đã không còn. Một chứng nhân lịch sử của dân tộc đã đi xa nhưng ca khúc để đời của ông còn mãi vang vọng theo chiều dài lịch sử dân tộc!

“Đã hơn 60 năm qua đi, nhưng tôi vẫn nhớ như in diễn biến những ngày ấy. Tôi khi đó đang là một chàng thanh niên 23 tuổi, sớm giác ngộ cách mạng, được nhà văn Nguyễn Đình Thi và một số đồng chí khác dìu dắt, hướng dẫn tham gia công tác tuyên truyền cách mạng, cụ thể là đi phát hành các Tờ báo Hồn nước, Cờ giải phóng. Tâm trạng của lớp trẻ chúng tôi lúc đó – nhất là những người ham hoạt động – luôn sôi lên bầu máu nóng muốn làm một điều gì đó đóng góp vào công cuộc cách mạng chung. Sáng sớm ngày 19/8, tôi nhập vào đoàn người đi từ Văn Điển lên Nhà hát Lớn Hà Nội. Mọi người hối hả, khẩn trương và vô cùng phấn khích. Là người yêu thích âm nhạc, trước đó đã từng sáng tác, tôi nảy ý định sáng tác một bài hát ngay trên đường đi. Thế là vừa đi, tôi vừa sáng tác. Được câu nào tôi dạy ngay cho những người quanh tôi hát và nhập vào đoàn người hôm ấy. Họ thuộc và hát trôi chảy, tôi lại nghĩ tiếp câu sau cho đến hết bài. Không hiểu sao, tôi cho ra đời bài hát khá dễ dàng, có thể nói là không mất công nghĩ ngợi nhiều. Sáng tác gần như một mạch. Chính cái không khí lịch sử, tình cảm của đồng bào đã giúp tôi sáng tác nhanh như vậy. Sau đó, tôi cũng không phải sửa chữa gì thêm, bởi mọi người rất hưởng ứng, tâm đắc, chẳng ai có “ý kiến” chỗ nào” – Cố nhạc sỹ Xuân Oanh nhớ lại.

Với giai điệu hào hùng nhịp nhịp bước, ca khúc vang lên người nghe không khỏi bồi hồi xúc động xen lẫn niềm tự hào dâng tràn:

“Người Việt Nam ta giữ vững trong tim lời thề
Mười chín tháng Tám chớ quên là ngày khởi nghĩa
Hạnh phúc sáng tô non sông Việt Nam
Toàn dân Việt Nam đứng đều lên góp sức một ngày
Thề đem xương máu quyết lòng chiến đấu cho tương lai
Mười chín tháng Tám khi quốc dân căm hờn kêu thét
Tiến lên cùng hô mau diệt tan hết quân thù chung”

Khi hỏi về tên bài hát, nhạc sĩ rất “thật thà”: Thú thực, lúc sáng tác trên đường, chẳng nghĩ gì đến tên bài hát, chỉ cố làm sao cho số đông người dễ hát, dễ thuộc. Sau khi hướng dẫn xong cả bài, khi mọi người đã hát trôi chảy, bỗng có một người nói: “Này nhạc sĩ ơi, thế bài hát này tên là gì?”. Khi ấy, tôi mới sực nhớ là chưa có tên. Tôi nghĩ mãi chẳng ra được tên gì, cuối cùng bèn nói: “Hôm nay là ngày 19/8. Lịch sử sẽ ghi nhớ mãi ngày này. Thôi, chẳng cần tìm kiếm gì cho mất công, tên bài là 19 tháng 8”. Sau đó tôi hỏi: “Mọi người thấy thế nào, được không?”. Tất cả thống nhất: “Được đấy, đúng rồi. Hay đấy!”. Thế là tôi yên tâm đặt tên cho đứa con tinh thần của mình. Bài hát Mười chín tháng Tám ra đời “một cách kỳ lạ” như vậy.

Chiều 19-8-1945, bài hát in ở một hiệu sách và phát trên sóng phát thanh lúc nào, ông không biết. Anh em, bạn bè thông báo ông mới hay. Không ai biết, chính những giây phút xuất thần trong thời điểm lịch sử giúp nhạc sĩ Xuân Oanh sáng tác thành công ca khúc “Mười chín tháng Tám”, là bản hùng ca thời đại, cũng là bản hùng ca bất hủ, mãi mãi âm vang đi cùng năm tháng, cổ vũ, động viên toàn dân tộc Việt Nam vững bước trên con đường đi lên phía trước./.

Phương Thúy (tổng hợp)

bqllang.gov.vn

Bài học về lãnh đạo quần chúng làm cách mạng

Chỉ trong vòng nửa tháng, từ ngày 14 đến ngày 28-8-1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nhân dân đã nổi dậy đồng loạt tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, “lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(1). Nhận định về nguyên nhân thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, đồng chí Trường Chinh khẳng định: “Cuộc khởi nghĩa tháng Tám 1945 đã đạt được mục đích giành chính quyền, mục đích trực tiếp của mọi cuộc cách mạng, vì nó là sự nghiệp của toàn dân đoàn kết, kiên quyết chiến đấu để tự giải phóng, do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo”(2).

Cách mạng tháng Tám để lại những bài học lịch sử quý báu. Một trong những bài học luôn có ý nghĩa thực tiễn là bài học về phát động, tổ chức, hướng dẫn quần chúng tạo thành những cao trào sôi nổi hoàn thành những nhiệm vụ lịch sử của cách mạng.

1. Ý Đảng hợp lòng dân là một cơ sở quyết định để có cao trào cách mạng

Đảng ta là một đội tiên phong của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam. Mục tiêu phấn đấu của Đảng cũng là nguyện vọng của đông đảo quần chúng. Đường lối, chủ trương của Đảng không phải dựa trên ý muốn chủ quan của một bộ phận mà căn cứ vào tình hình thực tiễn của đất nước, khả năng, nguyện vọng của quần chúng.

Vào thời kỳ tiền khởi nghĩa, nguyện vọng bức thiết của cả dân tộc lúc bấy giờ là thoát khỏi ách thống trị tàn bạo của phát xít Nhật. Ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp, Đảng phát động cao trào kháng Nhật cứu nước làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa. Ý Đảng hợp với lòng dân, khẩu hiệu cứu quốc có sức cổ vũ lớn đối với mọi giai cấp, mọi tầng lớp, mỗi người dân yêu nước. Khắp các địa phương, từ rừng núi đến đồng bằng, thành thị đều nô nức khẩn trương chuẩn bị khởi nghĩa cướp chính quyền. Được lệnh khởi nghĩa, toàn dân đồng loạt vùng lên với khí thế mãnh liệt của lực lượng chính trị quần chúng đông đảo và lực lượng vũ trang, bán vũ trang. Ở một số địa phương, do điều kiện thông tin liên lạc nên lệnh khởi nghĩa của Trung ương tới muộn, đảng bộ và Mặt trận Việt Minh căn cứ vào tình hình cụ thể của địa phương, vào phương hướng hành động của Đảng đã chủ động lãnh đạo quần chúng nổi dậy khởi nghĩa.

Bài học ý Đảng hợp với lòng dân thể hiện rất điển hình trong Cách mạng tháng Tám và được phát triển trong những thời kỳ cách mạng sau đó, Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 (khóa II) đến với sự mong chờ khát khao của đồng bào miền Nam đã làm bùng lên phong trào Đồng Khởi. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước đáp ứng nguyện vọng của nhân dân đã tạo nên những phong trào cách mạng trên nhiều lĩnh vực, đạt được những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới.

Những sai lầm, vấp váp của Đảng trong tiến hành cải cách ruộng đất, trong việc đề ra kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội ở Đại hội IV (1976) của Đảng đều có nguyên nhân do Đảng chủ quan, không nắm vững thực tiễn, không nắm bắt được nguyện vọng, khả năng của quần chúng nhân dân. Sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề với sự lãnh đạo của Đảng. Muốn phát huy được tinh thần cách mạng của quần chúng nhân dân, trước hết đường lối, chủ trương của Đảng phải coi lòng dân là một điểm xuất phát quan trọng hàng đầu.

2. Chăm lo đáp ứng nguyện vọng trước mắt và lâu dài của nhân dân

Vào đầu năm 1945, nạn đói diễn ra khủng khiếp ở các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Hai triệu người chết đói, hàng triệu người khác đang bị đói và có nguy cơ chết đói. Trước tình hình đó, Mặt trận Việt Minh kêu gọi: “Phá kho thóc Nhật cứu đói”. Hàng triệu nông dân nghèo dù chưa giác ngộ cao nhưng để cứu bố mẹ, vợ con và bản thân mình khỏi chết đói đã rầm rộ tham gia cuộc đấu tranh phá kho thóc Nhật. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quần chúng nhân dân từ hình thức đấu tranh cho quyền lợi kinh tế hằng ngày đến giác ngộ chính trị, đấu tranh cho độc lập dân tộc. Đi theo Việt Minh cứu nhà cũng chính là đi theo Việt Minh để cứu nước. Đó là nhận thức cụ thể, sâu sắc và biện chứng của nhân dân. Nhân dân được phát động vùng dậy với khí thế hừng hực khởi nghĩa chống Nhật giành chính quyền. Qua sự kiện lịch sử này, đồng chí Lê Duẩn đã rút ra kết luận: “Một khẩu hiệu sát đúng với tình thế cụ thể có sức dấy lên cả một phong trào”(3).

Trong cách mạng XHCN, chúng ta ngày càng nhận thức rõ lợi ích vật chất là động lực trực tiếp. Đảng và Nhà nước ta đã có đường lối, chính sách thường xuyên chăm lo đời sống của mọi tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, mỗi người cần nhận thức đúng đắn mối quan hệ hài hoà giữa quyền lợi vật chất với quyền lợi tinh thần, lợi ích kinh tế với những vấn đề chính trị xã hội, quyền lợi trước mắt của bản thân, gia đình với mục tiêu chung của đất nước, của cách mạng. Đặc biệt, cần chống những quan niệm sai trái coi lợi ích vật chất là duy nhất, chỉ lo “ích kỷ phi gia”, bàng quan với cuộc sống khó khăn của người xung quanh, với sự nghiệp cách mạng của đất nước, của dân tộc.

3. Nêu cao vai trò tiên phong gương mẫu xả thân vì nước của cán bộ, đảng viên.

Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, người cán bộ, đảng viên vì lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dám xả thân mình để hoạt động cách mạng. Họ tuyên truyền, vận động, tổ chức và hướng dẫn quần chúng đấu tranh. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, người cán bộ, đảng viên đều nêu cao vai trò tiền phong gương mẫu. Những nơi đòi hỏi phải hy sinh, khó khăn gian khổ thì “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Trong đoàn biểu tình, cán bộ, đảng viên đi hàng đầu. Trong chiến đấu, đảng viên xung phong lên phía trước. Đảng viên luôn nêu gương sáng dẫn dắt, cổ vũ quần chúng đi theo cách mạng. Nhờ vậy, trong Cách mạng tháng Tám, chỉ với 5.000 đảng viên mà Đảng đã phát động, tổ chức, lãnh đạo được phong trào cách mạng rộng lớn của toàn dân.

Sau khi cách mạng thành công, nhất là trong cách mạng XHCN, đảng viên, cán bộ thường được giao các cương vị công tác “có chức có quyền”. Từ đó, xuất hiện không ít “quan cách mạng” như Bác Hồ đã cảnh báo từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng. Hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị suy thoái về phẩm chất đạo đức, quan liêu, tham nhũng, không những mất uy tín trước nhân dân, làm suy giảm uy tín của Đảng, mà còn đang là lực cản phong trào cách mạng của quần chúng. Tệ nạn này đã trở thành quốc nạn. Đảng phải thực sự dựa vào dân, kiên quyết loại trừ những “quan cách mạng”, làm trong sạch đội ngũ, khôi phục niềm tin của dân với Đảng.

Thấm nhuần nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo cuộc Cách mạng tháng Tám thắng lợi, để lại những bài học quý giá luôn nóng bỏng tính thời sự mà chúng ta cần nghiêm túc vận dụng có hiệu quả, đưa cách mạng nước ta tiếp tục giành những thắng lợi mới./.

—————–

(1) Hồ Chí Minh, toàn tập, NXBCTQG, H.1995, tập 6, tr.159.
(2) Trường Chinh, Cách mạng Tháng Tám, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1975, tập 1, tr.374.
(3) Lê Duẩn, Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, Nxb Sự thật, Hà Nội. 1975, tr.46-47.

Huyền Trang (st)
Theo Tạp chí Xây dựng Đảng

bqllang.gov.vn

Cách mạng tháng Tám và bài học xây dựng nhà nước pháp quyền

Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự dẫn dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa dân tộc Việt Nam từ thân phận nô lệ rũ bùn đứng dậy làm chủ nhân đất nước. Dẫu buổi đầu đầy cam go thách thức nhưng người dân Việt Nam đã tự tay thực hiện quyền làm chủ, cầm lá phiếu bầu nên Quốc hội, chọn những người ưu tú nhất vào bộ máy nhà nước để lãnh đạo nhân dân chống thù trong giặc ngoài giữ vững nền độc lập.

Những kinh nghiệm trong buổi đầu lập nước ấy đang được kế thừa và phát huy trong quá trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN theo đường lối của Đảng.

Năm nay đã vào tuổi 93, Giáo sư Lưu Văn Đạt, Chủ tịch Hội đồng tư vấn Dân chủ – Pháp luật Ủy ban TƯ MTTQ Việt Nam dường như gắn trọn đời mình với sự nghiệp cách mạng mà ông đã nhiệt tình tham gia từ những năm đầu của cuộc kháng chiến kiến quốc. Mấy mươi năm công tác, dù ở cương vị nào, Giáo sư Lưu Văn Đạt cũng thể hiện sự uyên bác của một chuyên gia về pháp luật. Việc ra đời một nhà nước dân chủ ngay sau khi lật đổ ách thống trị thực dân phong kiến là một thành công vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cương vị người cầm lái con thuyền cách mạng. Chính Người đã đặt những viên gạch đầu tiên cho đường lối xây dựng nhà nước pháp quyền khi giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc. Bằng mục tiêu trong sáng, bằng uy tín, tài năng, đạo đức và tinh thần quyết tâm “dù có đốt cháy cả dải Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một di sản quý giá về tinh thần đoàn kết, hòa hợp dân tộc trong quá trình xây dựng nhà nước cách mạng.

Giáo sư Lưu Văn Đạt chia sẻ: “Điều mà tôi tâm đắc nhất là tinh thần đại đoàn kết dân tộc, trọng nhân tài của Hồ Chủ tịch. Bác nói là ai có tâm huyết thì Bác sẵn sàng tiếp nhận để làm việc cho đất nước. Lúc bấy giờ Đảng viên có bao nhiêu đâu, những người ngoài Đảng thì rất đông. Nhưng những người ngoài Đảng đều là những người ủng hộ Việt Minh, ủng hộ Đảng và Hồ Chủ tịch. Hầu hết trí thức lúc bấy giờ đều đứng dưới lá cờ của Hồ Chủ tịch, sẵn sàng làm mọi việc giúp ích cho đất nước”.

Nhờ vậy mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng được một Chính phủ đủ sức lãnh đạo công cuộc kháng chiến kiến quốc thành công. Những trí thức phong kiến như Phạm Khắc Hòe, Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn… rồi những trí thức mới như Vũ Đình Hòe, Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Minh Giám, Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng… đều là nhân tài Việt Nam được đào tạo ở nước ngoài cũng trở về góp sức xây dựng đất nước.

Giáo sư Nguyễn Trọng Phúc – nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng – Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh phân tích: Thắng lợi lớn nhất, triệt để nhất của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là đánh đổ chế độ nô lệ, xây dựng nhà nước kiểu mới, nhà nước do dân và vì dân. Cuộc bầu cử Quốc hội tháng 1/1946 và sau đó là thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu là một bước đi có tính chiến lược, thể hiện sự tài ba của Bác. Bài học lớn trong xây dựng nhà nước của cuộc Cách mạng tháng Tám là sự thay đổi bản chất nhà nước. Nói như Bác Hồ là: “Nhà nước ấy không phải để đè đầu cưỡi cổ dân như chế độ thực dân phong kiến, mà bộ máy Chính phủ từ trung ương đến địa phương phải là công bộc của dân, phục vụ nhân dân”.

Theo Giáo sư Nguyễn Trọng Phúc, tư tưởng xây dựng nhà nước pháp quyền đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nói đến khi Người gửi bản yêu sách 8 điều đến Hội nghị Versaill xây năm 1919. “Tám điểm yêu sách, đầu tiên Cụ chú ý vấn đề pháp luật, trong đó có một câu là “trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Trong tác phẩm Đường kách mệnh thì Cụ lại nói là cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều. Đấy chính là quyền làm chủ, quyền lợi, quyền lực. Cuộc bầu cử tháng Giêng năm 46 để khẳng định cơ sở pháp lý của nhà nước. Nhà nước này là Nhà nước hợp hiến, hợp pháp, do dân cử, xác định không những cơ sở thực tế mà còn là cơ sở pháp lý của Nhà nước trong đối nội và đối ngoại” – Giáo sư Nguyễn Trọng Phúc nói.

Phó Giáo sư Sử học Lê Mậu Hãn cho rằng thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã khẳng định tư thế của một dân tộc khát khao tự do, một quốc gia khát khao độc lập. Cả đời bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh đạo cách mạng thành công đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ là để thực hiện cho được hoài bão xây dựng một nhà nước của dân, do dân và vì dân. Tư tưởng ấy là bài học rất quý. Phó Giáo sư Lê Mậu Hãn cho rằng: “Thắng lợi đó là thắng lợi của tư tưởng nhà nước pháp quyền của Hồ Chí Minh mà Đảng tổ chức lãnh đạo. Và trong cuộc bầu cử đó toàn dân có quyền ứng cử và bầu cử. Cho nên đó là thắng lợi của tư tưởng dân tộc bình đẳng, dân chủ và đại đoàn kết. Đó là một bài học kinh nghiệm có giá trị đặc biệt khi hiện nay đặt vấn đề phải tích cực phát huy quyền dân chủ tự do cho nhân dân để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đang tiến lên trong điều kiện khó khăn”.

Theo Giáo sư Lưu Văn Đạt, để xây dựng nhà nước pháp quyền vững mạnh, không phải ở luật pháp – tức pháp trị, mà cái chính là đạo đức của người cán bộ cách mạng – tức đức trị. Tính vì dân của nhà nước phải được thể hiện bằng những việc hết sức cụ thể: “Có một phương châm Hồ Chủ tịch đề ra là cái gì có lợi cho dân thì hết sức làm, cái gì có hại cho dân thì hết sức tránh. Điều này Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong kỳ nhậm chức cũng đã nhắc lại. Tôi nghĩ rằng nếu như tất cả công chức, viên chức của nhà nước, các nhà lãnh đạo luôn suy nghĩ đến phương châm đó chắc chắn là nhà nước pháp quyền của chúng ta sẽ thực sự là của dân, do dân và vì dân. Bởi vì cuối cùng là vì dân, vì dân là vì lợi ích của nhân dân, cái gì có lợi cho nhân dân thì làm”.

Nghị quyết Đại hội toàn quốc của Đảng lần thứ XI xác định: Không ngừng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Việc nhanh chóng tổ chức bầu cử Quốc hội khóa XIII và hoàn thiện bộ máy nhà nước vừa qua đã thể hiện quyết tâm ấy của toàn Đảng toàn dân ta.

Đất nước đang kỳ vọng ở đường lối đổi mới của Đảng, vào quyết tâm của Chính phủ nói không với nạn quan liêu tham nhũng, quyết tâm xây dựng bộ máy công quyền hết lòng phục vụ dân, để nhà nước ta thực sự là nhà nước pháp quyền, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ./.

Huyền Trang (st)
Theo Vân Thiêng/vov.vn

bqllang.gov.vn

Học tập phương pháp giáo dục lý luận chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh

(ĐCSVN) – Lý luận giáo dục học cho chúng ta thấy rằng, nội dung giáo dục quyết định phương pháp giáo dục. Để chuyển tải tốt nội dung đòi hỏi nhà giáo dục phải biết kết hợp có hiệu quả nhiều phương pháp giáo dục phù hợp.

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về giáo dục luôn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Tư tưởng về giáo dục lý luận chính trị của Hồ Chí Minh không bó hẹp trong việc giáo dục tri thức cho người học, mà còn có tính bao quát, sâu xa nhưng vô cùng sinh động, thiết thực nhằm đào tạo đội ngũ cán bộ toàn diện, vừa hồng vừa chuyên, có chuyên môn, lý tưởng cách mạng, đạo đức cách mạng, sức khỏe, thẩm mỹ…

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân. Người yêu cầu: Tất cả các đảng viên phải cố gắng học tập, coi việc học tập lý luận và chính trị là một nhiệm vụ quan trọng của mình.

Để giáo dục lý luận chính trị đạt kết quả tốt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu một số phương pháp cơ bản, chủ yếu trong giáo dục lý luận chính trị.

Thứ nhất, Người xác định: Dạy và học lý luận chính trị“phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học”, “phải biết tự động học tập”, phải“lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo mà giúp vào”. Hồ Chí Minh đề cao vấn đề tự học trong công tác giáo dục lý luận chính trị. Người nói: “Bác thường nghe nói có đồng chí mới 40 tuổi mà đã cho mình là già, cho nên ít chịu học tập. Nghĩ như vậy là không đúng, 40 tuổi chưa phải là già. Bác đã 76 tuổi nhưng vẫn cố gắng học thêm. Chúng ta phải học và hoạt động cách mạng suốt đời” [Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 12, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.92]. Phải dành nhiều thời gian cho khâu tự học của học viên, bao gồm tự nghiên cứu làm đề cương, thảo luận, tranh luận, sinh hoạt tập thể theo nhóm, tổ hay cả lớp với những chủ đề thích hợp theo sự hướng dẫn của giảng viên.

Hai là, trong giáo dục và học lý luận chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn lưu ý phải thực hành phương pháp “nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ ”. Hồ Chí Minh dạy: “Phải khiêm tốn, thật thà. …, cái gì biết thì nói biết, không biết thì nói không biết. Kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập” [Sđd, T.8, tr.499]. Đối với phương pháp này, Người không chỉ yêu cầu đối với người học mà còn đòi hỏi đối với người dạy phải độc lập suy nghĩ, đào sâu hiểu kỹ, suy nghĩ chín chắn mới có thể hiểu sâu lý luận, nâng cao tư tưởng, giữ vững lập trường. Hồ Chí Minh yêu cầu trong giảng dạy cần xác định nội dung cốt lõi trong toàn hệ thống. Chỉ có trên cơ sở bao quát toàn bộ thì mới xác định được vấn đề cốt lõi, nội dung chính, trọng tâm cần nắm vững và vận dụng; có như vậy mới khắc phục được tình trạng phiến diện, nhìn cây mà không thấy rừng hoặctình trạng chung chung, đại khái, chỉ biết rừng mà không biết các loại cây cụ thể. Đồng thời, trong huấn luyện phải chú ý vào rèn luyện phương pháp, kỹ năng, tạo cho người học nắm được bản chất của các quan điểm lý luận, có thể độc lập, tự chủ xử trí đúng công việc trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Ba là, công tác đào tạo lý luận chính trị phải thiết thực, cụ thể, phù hợp với đối tượng, với thực tiễn. Hồ Chí Minh cho rằng, công tác giảng dạy phải xuất phát từ tình hình cụ thể, phù hợp với từng đối tượng cán bộ… Nhằm “cốt yếu là phải làm cho người học hiểu thấu vấn đề. Nhưng hiểu thấu cũng có nhiều cách: có cách hiểu thấu thật tỉ mỉ, nhưng dạy theo cách đó thì phải tốn nhiều thì giờ. Trái lại cũng có cách dạy bao quát mà vẫn làm cho người học hiểu thấu được” [Sđd, T.6, tr.47]. Giảng viên cần hiểu rõ và nắm chắc nhu cầu nhận thức của người học và mối liên hệ giữa nội dung học tập với chức trách, nhiệm vụ của người học và thực tiễn địa phương, đơn vị công tác của họ.

Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy. Điều kiện có ý nghĩa quyết định hiệu quả công tác giáo dục lý luận chính trị là đội ngũ và chất lượng giảng viên. Đội ngũ này phải đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, phải được lựa chọn cẩn thận, đòi hỏi phải được đào tạo cơ bản, có hệ thống, được bồi dưỡng thường xuyên, được tổ chức và quản lý chặt chẽ; phải đảm bảo về phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn. Người giảng viên lý luận chính trị phải là những người trung thành với đường lối chính trị của Đảng, tận tụy phục vụ lợi ích của nhân dân, có khả năng tổ chức và vận động thuyết phục quần chúng, có trình độ sư phạm.

Năm là, tổ chức quản lý học viên trong quá trình đào tạo. Muốn huấn luyện lý luận chính trị trước hết phải có tổ chức, có lãnh đạo sâu sát, tỉ mỉ và chu đáo. Tổ chức huấn luyện phải bám sát cả yêu cầu số lượng và chất lượng; đồng thời, Hồ Chí Minh quan tâm đến cách thức tổ chức lớp. “Đông quá thì dạy và học ít kết quả vì trình độ lý luận của người học chênh lệch, nên thu nhận không đều. Trình độ công tác thực tế của người học cũng khác nhau, nên chương trình không sát” [Sđd, tr.52].

Người phê phán việc mở lớp lung tung, chồng chéo lẫn nhau, tốn sức, tốn của của Đảng, Nhà nước và nhân dân, rời rạc không đâu vào đâu. Người cho rằng: “Vì mở nhiều lớp nên thiếu người giảng. Thiếu người giảng thì học viên đâm chán nản. Thiếu người giảng thì phải đi “bắt phu”, vì thế người đến giảng khi nào cũng hấp tấp, lướt qua lớp này một chút, lớp khác một chút như “chuồn chuồn đạp nước”, dạy không được chu đáo. Thiếu người giảng thì thường khi lại phải “bịt lỗ”, người “bịt lỗ” năng lực kém, nói sai, có hại cho học sinh, nghĩa là có hại cho Đoàn thể. Rốt cuộc chỉ tốn gạo mà học thì học táp nhoang” [Sđd, tr.52]. Các lớp huấn luyện phải được tổ chức thường xuyên; chương trình, giáo trình phải có tính hệ thống theo từng mức độ từ thấp đến cao, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.

Sáu là, phương tiện, trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy và học tập của đội ngũ giảng viên và học viên của trường. Ngoài nguồn lực con người như là nhân tố quyết định, hiệu quả giáo dục lý luận chính trị còn phụ thuộc vào phương tiện, trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật trực tiếp phục vụ cho việc dạy và học; là các loại tài liệu, giáo khoa, giáo trình, lớp học, bàn ghế, đồ dùng dạy học v.v… Đặc biệt, về tài liệu, Hồ Chí Minh cho rằng: “Trước hết phải lấy những tài liệu về chủ nghĩa Mác-Lênin làm gốc. Nhưng tài liệu phải lựa chọn, xếp đặt lại, vì trình độ người học không đều nhau, cần có tài liệu thích hợp với từng hạng. Tài liệu không thích hợp thì học không có ích lợi gì” [Sđd, T.6, tr.49]; các nhà kinh điển mácxít đã để lại một kho tàng kinh điển đồ sộ thông qua những bài nói, bài viết và những tác phẩm phản ánh những vấn đề – những nguyên lý cơ bản trên mặt trận lý luận, tư tưởng nhưng không phải là một bộ sách giáo khoa hay một bài giảng có sẵn. Vì vậy, sử dụng như thế nào cho có hiệu quả, cần phải có sự nghiên cứu, chọn lọc; nhưng không thể có chung một loại tài liệu cho mọi đối tượng.

Bác Hồ là người đã vận dụng tốt vấn đề này, tiêu biểu là việc Người biên soạn tác phẩm Đường Cách mệnh trong những năm 1925-1927 để huấn luyện các lớp đào tạo cán bộ đầu tiên của Đảng; một quyển sách vừa ngắn gọn, vừa dễ hiểu, vừa có sức thuyết phục phù hợp cách mạng Việt Nam. Bên cạnh đó, ngoài những tài liệu về chủ nghĩa Mác-Lênin, Bác còn đề cập đến một loại tài liệu khác, đó là: “Những chỉ thị, nghị quyết, luật, lệnh của Đoàn thể và Chính phủ” [Sđd, tr.50].

Trong công tác giáo dục lý luận chính trị, cán bộ không nên viết dài, nói dài, trừu tượng, mà phải nói và viết cho ngắn gọn, cô đọng, dễ hiểu, súc tích và sinh động thì người học mới tiếp thu được. Người dặn: “Viết dài mà rỗng, thì không tốt. Viết ngắn mà rỗng, cũng không hay. Chúng ta phải chống tất cả những thói rỗng tếch. Nhưng trước hết phải chống thói đã rỗng lại dài” [Sđd, T.5, tr.300].

Để nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh còn nhiều vấn đề cần phải bàn và cần phải làm rất nhiều công việc mới có thể biến phương pháp của Người thành hiện thực. Thiết nghĩ, cần phải nghiên cứu học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp giáo dục lý luận chính trị, tập trung đẩy mạnh đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị, tư tưởng trong Đảng, trước hết cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý chủ chốt các cấp; đổi mới nội dung, phương pháp học tập và giảng dạytrong hệ thống Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, các trường chính trị, trong hệ thống giáo dục quốc dân; không ngừng nâng cao tính thiết thực và hiệu quả của chương trình học tập các môn lý luận chính trị. Có như vậy mới xây dựng được đội ngũ đảng viên thật sự tiên phong, gương mẫu, có phẩm chất, đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực hoàn thành nhiệm vụ; kiên định lập trường giai cấp công nhân, phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng của Đảng; năng động, sáng tạo, vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách;đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề cao, tận tụy, sáng tạo./.

Theo http://www.cpv.org.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Người thiết kế Kỳ đài Độc lập

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập tại vườn hoa Ba Đình Ảnh: TL

Nhớ đến ngày Lễ Độc lập (2/9/1945), mỗi chúng ta đều không quên được hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng trên Kỳ đài giữa Ba Đình lịch sử, đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Người vinh dự được giao nhiệm vụ thiết kế Kỳ đài trong buổi lễ lịch sử đó là kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh quê làng Ngọc Lập, xã Phùng Chí Kiên, huyện Mỹ Văn, tỉnh Hưng Yên.

Sáng 1/9/1945, kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh đang làm việc ở văn phòng thì được ông Phạm Văn Khoa, cán bộ của Ban Văn hóa Cứu quốc đến truyền đạt yêu cầu của Kỳ bộ Việt minh về việc thiết kế Kỳ đài để chiều 2/9 Hồ Chủ tịch lên đọc Tuyên ngôn Độc lập và Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân đồng bào tại vườn hoa Ba Đình. Ông Phạm Văn Khoa nêu yêu cầu: Kỳ đài làm giản dị nhưng phải trang nghiêm; trên có thể đứng được hơn 30 người.

Nghe xong yêu cầu thiết kế Kỳ đài, ông Ngô Huy Quỳnh liếc nhìn đồng hồ và nhẩm tính: “Thời gian quá gấp”, tuy vậy ông vẫn hẹn ông Phạm Văn Khoa 12 giờ trưa hôm ấy đến xem bản vẽ phác thảo của ông. Nói xong, ông nhanh chóng chuẩn bị mấy thứ đồ nghề rồi vội đạp xe đến vườn hoa Ba Đình để khảo sát thực địa. Đứng ngắm toàn cảnh vườn hoa Ba Đình, khảo sát tất cả các địa điểm, mặt bằng, những hình khối xung quanh vườn hoa có liên quan rồi ngồi ngay tại hiện trường phác thảo nhanh 3 phương án thiết kế, xong lại hối hả đạp xe về văn phòng để kịp thời gian để ông Phạm Văn Khoa và anh em trong cơ quan tham gia ý kiến. Đúng 12 giờ trưa ngày 01/9, ông Phạm Văn Khoa và anh em trong văn phòng có mặt đông đủ để nghe kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh trình bày bản vẽ phác thảo Kỳ đài.

Sau khi nghe ông Quỳnh báo cáo, mọi người đều nhất trí chọn phương án thi công đơn giản nhưng lại toát lên được ý tưởng của tác giả đó là sự hài hòa giữa không gian của vườn hoa Ba Đình với biển người đứng trong khu vực, mọi người đều có thể nhìn được Hồ Chủ tịch và các thành viên Chính phủ lâm thời. Mọi người thống nhất cao và đúng 12 giờ 30 ngày 1/9/1945, Kỳ đài bắt đầu được thi công. Là người thiết kế nhưng vì thời gian quá gấp nên Kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh trực tiếp cùng mọi người thi công Kỳ đài. Cũng buổi sáng hôm đó, ông Phạm Văn Khoa đến mời thêm ông Quyến là thợ mộc rất giỏi ở phố Hàng Hành để cùng với kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh thi công Kỳ đài.. Xem qua bản vẽ, ông Quyến tính số khung, số ván, số đinh và một số vật liệu khác để Ban Tổ chức chuẩn bị. Ông Phạm Văn Khoa nhờ luôn ông Quyến huy động thêm 10 người thợ mộc cùng 40 anh em ở Ban Cổ động, Ban Khánh tiết, Ban Khoa giáo đến giúp việc. Không khí làm việc khẩn trương, mọi người làm việc luôn tay, không thấy mệt, chỗ này cưa, chỗ kia dọc gỗ. Tiếng đục, tiếng đóng đinh chan chát vang cả không gian. Lúc bấy giờ vườn hoa Ba Đình chỉ là khoảng đất phẳng, nên mọi người chôn các trụ của Kỳ đài xuống đất, như thế vừa tiết kiệm gỗ lại không phải cưa và tạo cho Kỳ đài vững chắc.

Khi Kỳ đài vừa được dựng lên, anh em trong ban Khánh tiết bọc vải, ken hoa và chuẩn bị hệ thống âm thanh. Gần 6 giờ sáng hôm sau (ngày 2/9/1945) Kỳ đài được hoàn thành. Kỳ đài cao hơn 4m, rộng và sâu 4m, trên có 1 cột cờ cao hơn 10 m, hai bên có hai lư hương lớn bằng gỗ. Khi đứng trên Kỳ đài để kiểm tra lần cuối cùng, ông Ngô Huy Quỳnh thấy đồng bào khắp nơi đang đổ về với khí thế cách mạng hừng hực, cờ hoa, biểu ngữ giăng khắp. Mùi trầm từ hai lư hương lớn tỏa hương ngào ngạt, ông thấy lòng thanh thản vì vừa hoàn thành một trọng trách to lớn – Kỳ đài biểu tượng của ý chí độc lập dân tộc đã kịp hoàn thành phục vụ cho Lễ Độc lập đầu tiên của nước nhà, cứ thế nước mắt kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh trào ra vì sung sướng, hạnh phúc…

Hà Nội, mùa thu năm 2011
Đặng Bình Minh

bqllang.gov.vn

Quảng trường Ba Đình lịch sử và ngày lễ Độc lập 2/9/1945

Vườn hoa Rond Point Puginier nhìn từ phía Đông Nam, sau là Vườn hoa Ba Đình rồi trở thành Quảng trường Ba Đình lịch sử. Ảnh Internet

Quảng trường Ba Đình được xem là quảng trường lớn nhất Việt Nam, nằm trên đường Hùng Vương và trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính nơi đây đã lưu giữ dấu ấn nhiều sự kiện trọng đại của dân tộc ta. Đặc biệt, cách đây tròn 66 năm, vào ngày 2/9/1945, ngay tại Quảng trường này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Quảng trường Ba Đình xưa là cửa phía Tây của Thành cổ Hà Nội. Khi thực dân Pháp chiếm Hà Nội đã phá thành vào năm 1894 và tại cổng phía Tây này, Pháp cho xây một vườn hoa nhỏ đặt tên là Rond Point Puginier, còn gọi là Quảng trường tròn (rond point: điểm tròn) hay Vườn hoa Puginier (Puginier là tên một vị cha cố). Xung quanh Vườn hoa Puginier này một số công trình công sở, biệt thự được xây dựng. Một trong những công trình được xây dựng sớm là Phủ Toàn quyền (1902), sau này là Phủ Chủ tịch. Về sau thêm các công trình quan trọng khác là trường Albert Sarraut (1919), nay là Cơ quan Trung ương Đảng và Sở Tài chính (1925), nay là Trụ sở Bộ Ngoại giao.

Cái tên Quảng trường Ba Đình do bác sỹ Trần Văn Lai, người giữ chức Thị trưởng thành phố từ ngày 20/7 đến 19/8/1945 đặt tên. Sở dĩ, Thị trưởng Trần Văn Lai đặt tên là Ba Đình vì ông cảm phục nghĩa quân Đinh Công Tráng đã chống Pháp rất anh dũng ở căn cứ Ba Đình huyện Nga Sơn, Thanh Hoá vào những năm cuối thế kỷ XIX.

Tháng 8/1945, cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân của quân và dân ta giành được thắng lợi hoàn toàn. Cách mạng tháng Tám thành công đã đập tan xiềng xích nô lệ kéo dài hàng nghìn năm của chế độ phong kiến, xóa bỏ ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, nhân dân ta từ địa vị nô lệ đã vươn lên trở thành những người chủ của đất nước, tự quyết định vận mệnh của dân tộc mình dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu.

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 22/8/1945, Bác Hồ rời Tân Trào về Thủ đô Hà Nội. Sáng ngày 26/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong số các quyết định của cuộc họp này, Thường vụ nhất trí chuẩn bị Tuyên ngôn độc lập và tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để Chính phủ Lâm thời ra mắt nhân dân, cũng là ngày nước Việt Nam chính thức công bố quyền độc lập và thiết lập chính thể dân chủ cộng hòa vào ngày 2/9; Chủ tịch Hồ Chí Minh phụ trách thảo bản Tuyên ngôn độc lập.

Có nhiều địa điểm được đưa ra lựa chọn để làm nơi diễn ra sự kiện trọng đại: Lễ Độc lập. Lúc đầu khu Quần ngựa hoặc Đông Dương học xá (Đại học Bách Khoa bây giờ) được đưa vào danh sách lựa chọn nhưng song không phù hợp vì thấy quá xa trung tâm Hà Nội lúc đó. Nếu chọn Quảng trường Nhà hát Lớn thành phố thì lại sợ quá chật chội. Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, Quảng trường Ba Đình (Vườn hoa Ba Đình lúc đó) đã được chọn là nơi diễn ra lễ Độc lập, cho dù lúc bấy giờ xung quanh địa điểm này còn có những cơ quan như Phủ Toàn quyền, Thành Hà Nội… là những nơi vẫn còn khá nhiều lực lượng thù địch với cách mạng đang chiếm đóng.

Ngày 28/8/1945, Ban Tổ chức ngày lễ Độc lập được thành lập. Đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao nhiệm vụ cho ông Nguyễn Hữu Đang (1913-2007) làm Trưởng ban, chịu trách nhiệm lo liệu công tác tổ chức ngày lễ Độc lập với một mệnh lệnh: “Đây là sự kiện lịch sử lớn kết thúc Cách mạng tháng Tám và khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa” kèm theo một lời khích lệ đầy tin tưởng: “Việc khó mới giao cho chú!”. Công tác chuẩn bị tổ chức ngày lễ Độc lập được tiến hành gấp rút, tất cả những người tham gia thực hiện nhiệm vụ cao cả ấy đều nỗ lực hết mình, làm việc suốt ngày đêm không mệt mỏi với tinh thần trách nhiệm cao.

Công việc dựng lễ đài bắt đầu từ ngày 28/8 và phải hoàn tất trong ngày 1/9. Theo dự tính, lễ đài phải đủ cao, đủ rộng để 2/3 số dân nội và ngoại thành Hà Nội tham dự có thể nhìn thấy. Là người có kinh nghiệm tổ chức nên ngay lập tức, ông Nguyễn Hữu Đang cho mời các kiến trúc sư để thiết kế lễ đài, đồng thời cho gọi thợ mộc thi công. Lễ đài mừng ngày Độc lập, công trình kiến trúc vĩ đại được làm bằng gỗ, ván, đinh và vải. Thời gian thiết kế và thi công vẻn vẹn trong vòng 48 giờ, yêu cầu chặt chẽ không được chậm trễ, nếu chậm 1 giờ là lỡ thời cơ công bố văn kiện “Tuyên ngôn Độc lập”. Và cuối cùng thì công việc cũng đã hoàn thành theo đúng dự kiến.

Và ngày mà toàn Đảng, toàn quân, toàn dân mong đợi đã đến. Ngày 2/9/1945, khắp mọi nẻo đường, con phố trên Thủ đô Hà Nội đều tung bay cờ, hoa và khẩu hiệu chào đón sự kiện trọng đại có một không hai của dân tộc. Những ai có dịp chứng kiến giờ phút thiêng liêng của lịch sử sẽ không thể quên không khí, bối cảnh Quảng trường Ba Đình ngày lễ Độc lập năm ấy. Một biển người đứng chật Quảng trường rạng rỡ, hân hoan, náo nức, hồi hộp chờ đợi giây phút vị lãnh tụ kính yêu đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Họ giương cao cờ, hoa và biểu ngữ, môi nở nụ cười, miệng hát vang bài ca cách mạng. Rừng cờ tung bay phấp phới trước gió mùa thu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ảnh Internet

Đúng 2 giờ chiều, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bộ kaki giản dị bước lên lễ đài với tư cách là Chủ tịch Chính phủ Lâm thời. Bằng giọng nói ấm áp, truyền cảm, Người đã đọc bản Tuyên ngôn lịch sử của dân tộc Việt Nam. Cả biển người im lặng phăng phắc lắng nghe từng câu, từng chữ của Người. Trước toàn thể quốc dân đồng bào và nhân dân thế giới, Hồ Chủ tịch đã trịnh trọng tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Sau khi Bác đọc Tuyên ngôn độc lập, toàn thể thành viên trong Chính phủ làm lễ tuyên thệ nhậm chức. Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã trình bày tình hình trong nước và chính sách của Chính phủ. Tiếp đến là Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền Trần Huy Liệu báo cáo về việc Đoàn đại biểu Chính phủ đi tước ấn kiếm của Bảo Đại. Đại biểu Tổng bộ Việt Minh Nguyễn Lương Bằng nói về cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của Việt Minh và hô hào quần chúng nhân dân đoàn kết ủng hộ Chính phủ, thi hành triệt để chương trình kiến quốc của Việt Minh. Cuối cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh lên lễ đài một lần nữa, Người kêu gọi nhân dân kiên quyết hy sinh để giữ vững nền độc lập mới giành được. Lễ mít tinh đã chuyển thành một cuộc tuần hành rầm rộ trong thành phố.

Kể từ đây, một kỷ nguyên mới bắt đầu mở ra cho dân tộc ta: Kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhân dân lao động sau những năm tháng nô lệ đã rũ bùn đứng lên trở thành con người tự do, người chủ của đất nước. Ba ngày sau đó, ngày 5/9/1945, với tư cách là chủ nhà, Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã đón tiếp quân Đồng minh vào tước khí giới quân Nhật trên đất nước ta.

Sau lễ Tuyên bố độc lập, Quảng trường Ba Đình có tên mới là Quảng trường Độc lập. Những năm sau đó, cùng với bao thăng trầm, đổi thay của đất nước, Quảng trường Ba Đình cũng đã mấy lần đổi tên. Sau năm 1954, có ý kiến lấy tên là Quảng trường Độc lập nhưng Bác Hồ đề nghị giữ cái tên Ba Đình. Ngày Bác mất, Quảng trường Ba Đình lịch sử là nơi diễn ra lễ truy điệu Người. Sau này, Đảng và Nhà nước đã quyết định khởi công xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh chính tại lễ đài, nơi được dựng lên để Bác đọc bản Tuyên ngôn độc lập vào ngày 2/9/1945 ở Quảng trường Ba Đình.

Quảng trường Ba Đình ngày nay. Ảnh Internet

Đã 66 năm trôi qua kể từ lễ Độc lập 2/9/1945, Quảng trường Ba Đình vẫn còn giữ nguyên giá trị lịch sử, văn hóa cho đến tận ngày nay. Nơi đây đã chứng kiến bao sự kiện lớn, đánh dấu những bước trưởng thành của cách mạng nước nhà trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Trong suốt những năm qua, Quảng trường Ba Đình lịch sử thường xuyên được chọn là nơi để tổ chức các cuộc mít tinh, diễu binh, diễu hành kỷ niệm các ngày lễ lớn, các sự kiện trọng đại hoặc đón tiếp các đoàn khách quốc tế đến thăm Việt Nam. Đây cũng là nơi diễn ra các hoạt động chính trị – văn hóa lớn có ý nghĩa giáo dục truyền thống, đạo đức cho các thế hệ con cháu Lạc Hồng./.

Thu Hiền (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Tự lực tự cường, chủ động sáng tạo hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trung tướng Trương Quang Khánh, Uỷ viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 35 năm ngày Truyền thống đơn vị

Ngày 29/8/1975, Ngày khánh thành Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời cũng là ngày truyền thống của Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh – Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ đổi mới. Nhân dịp kỷ niệm 36 năm ngày Truyền thống của Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ban Biên tập trân trọng giới thiệu bài viết dưới đây của Thiếu tướng, Tiến sĩ Đặng Nam Điền, Chính ủy BTL Bảo vệ lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vinh dự được Đảng, Nhà nước, nhân dân và quân đội giao cho nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh; quản lý, vận hành hệ thống thiết bị kỹ thuật công trình Lăng của Người và Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ; bảo đảm an ninh khu vực Lăng Bác, Quảng trường Ba Đình; phục vụ nhân dân và khách quốc tế đến viếng Bác, tham quan khu vực và tổ chức nghi lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Hơn 40 năm làm nhiệm vụ giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và 36 năm quản lý, vận hành hệ thống thiết bị kỹ thuật công trình Lăng của Người, các thế hệ cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khắc sâu lời thề trước anh linh của Bác, nguyện mãi mãi đi theo con đường mà Người đã lựa chọn cho Đảng và dân tộc. Với tinh thần độc lập, tự chủ, chủ động sáng tạo; được sự chỉ đạo chặt chẽ của Trung ương Đảng và Chính phủ, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng; sự giúp đỡ vô tư trong sáng của các nhà khoa học y tế và kỹ thuật của Liên Xô trước đây và Liên bang Nga ngày nay, sự phối hợp của các cơ quan trong và ngoài quân đội, đơn vị đã từng bước vươn lên làm chủ vững chắc nhiệm vụ chính trị, đặc biệt là giai đoạn đầy khó khăn thử thách, có tính bước ngoặt sau khi Liên Xô tan rã.

Thành tích lớn nhất và xuyên suốt hơn 40 năm qua là, dù bất kỳ trong hoàn cảnh khó khăn nào, đơn vị cũng giữ gìn, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, thi hài của Bác luôn trong trạng thái tốt nhất.

Trong những năm chiến tranh ác liệt, điều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn, cán bộ, chiến sỹ của Đoàn 69 (đơn vị tiền thân của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày nay), đã vượt qua mọi khó khăn thử thách, cùng với các chuyên gia y tế Liên Xô hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tạo ra những tiền đề rất cơ bản cho quá trình giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này. Ngay sau khi hệ thống chính trị của Liên Xô có sự thay đổi, không để nhiệm vụ chính trị bị gián đoạn; Đảng ủy và Bộ Tư lệnh đã kịp thời báo cáo trên, một mặt tích cực, chủ động khai thác mối quan hệ trực tiếp với các chuyên gia của Trung tâm Nghiên cứu Y sinh Matxcơva Liên bang Nga để tiếp tục trao đổi kinh nghiệm và học tập nâng cao trình độ chuyên môn; mặt khác, đơn vị đã tăng cường hợp tác nghiên cứu với các nhà khoa học trong và ngoài quân đội nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp, các ngành trong nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ được triển khai; nhất là những đề tài hợp tác nghiên cứu khoa học phục vụ trực tiếp nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, tin cậy thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh giữa các bác sỹ của ta và các nhà khoa học y tế Liên bang Nga đạt được kết quả, chất lượng tốt đã khẳng định được trình độ chuyên môn vững vàng của đội ngũ cán bộ y tế trong đơn vị. Do chuẩn bị tốt về đội ngũ cán bộ, trang thiết bị kỹ thuật nên từ tháng 3 năm 2004, đơn vị đã chính thức phối hợp cùng với các chuyên gia y tế Liên bang Nga tiến hành pha chế thành công dung dịch đặc biệt tại Việt Nam. Đây thực sự là một bước tiến vượt bậc trong quá trình vươn lên làm chủ vững chắc nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Song song với nhiệm vụ y tế, đơn vị luôn quan tâm thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý, vận hành hệ thống thiết bị kỹ thuật của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các công trình liên quan. Nhiều sáng kiến, cải tiến hợp lý hoá quy trình vận hành được đề xuất và ứng dụng đạt hiệu quả, góp phần tiết kiệm năng lượng, giảm chi phí vận hành, bảo dưỡng thiết bị nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ y tế và phục vụ thăm viếng. Hằng năm thực hiện tốt nhiệm vụ duy tu, sửa chữa, tôn tạo kiến trúc công trình Lăng, Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và các công trình liên quan. Bảo đảm các công trình luôn khang trang, sạch đẹp, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ tương xứng với ý nghĩa chính trị, văn hoá của mỗi công trình.

Trong công tác bảo đảm an ninh, đơn vị đã thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các đơn vị đứng chân trên địa bàn, đoàn kết với đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương, bảo đảm tuyệt đối an toàn lễ viếng Bác, công trình Lăng, Quảng trường Ba Đình, Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và các sinh hoạt chính trị, văn hoá diễn ra trong khu vực. Nhất là trong tình hình hiện nay, các thế lực thù địch trong nước và ngoài nước đang thực hiện âm mưu “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, bôi nhọ và xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong công tác nghi lễ, đơn vị thường xuyên duy trì tốt nghi lễ quốc gia và nghi lễ quân đội, xứng đáng là đơn vị tiêu biểu cho toàn quân thực hiện nhiệm vụ tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng thời đã chủ động nghiên cứu, tham mưu đề xuất với Chính phủ và Bộ Quốc phòng từ ngày 19/5/2001 triển khai thực hiện nghi lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là một hoạt động góp phần giáo dục niềm tự hào dân tộc, trách nhiệm của mỗi công dân với Tổ quốc, tạo ra một hình thức nghi lễ mới trên Quảng trường Ba Đình lịch sử.

Trong công tác đón tiếp, tuyên truyền, với phương châm “tận tình, chu đáo”, 36 năm qua, kể từ khi khánh thành Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nay, đơn vị đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng đón tiếp an toàn tuyệt đối hơn 40 triệu lượt người về Lăng viếng Bác, trong đó có gần 8 triệu lượt khách quốc tế của hầu hết các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới. Những việc làm như: Lắp đặt mái che nắng, che mưa; đặt hệ thống nước uống; giữ hành lý, máy ảnh miễn phí… đã để lại ấn tượng tốt đẹp cho nhân dân và bầu bạn quốc tế khi về viếng Bác. Đối với nhân dân ở vùng sâu, vùng xa; nhất là các gia đình chính sách, gia đình có công với cách mạng, đơn vị đã chủ động phối hợp với ngành lao động và thương binh xã hội của các địa phương; tranh thủ sự ủng hộ của Tổng công ty Đường sắt Việt Nam, từ năm 2003 đến nay đã tích cực triển khai đón tiếp các Đoàn Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, gia đình liệt sỹ, thương binh về Lăng viếng Bác, thăm Thủ đô Hà Nội. Những việc làm thiết thực của đơn vị góp phần cùng với các địa phương làm tốt công tác chính sách, đền ơn đáp nghĩa, tri ân những người có công với dân, với nước và đặc biệt là công tác giáo dục truyền thống, giáo dục tư tưởng, đạo đức tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong mọi tầng lớp nhân dân.

Để luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, cấp uỷ và cán bộ chỉ huy các cấp trong đơn vị đã thường xuyên quan tâm làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, công nhân viên và chiến sỹ. Tiêu biểu là việc triển khai Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong thời gian qua. Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh xác định đây là thời cơ để tạo sự chuyển biến tích cực về đạo đức, lối sống và phong cách công tác của cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ; góp phần toả sáng phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, tạo nên hình ảnh đẹp của người cán bộ, chiến sỹ bên Lăng Bác. Thực hiện có hiệu quả chủ trương trên, Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh đã tập trung lãnh đạo và chỉ đạo các cơ quan đơn vị chấp hành nghiêm túc các chỉ thị, hướng dẫn của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị về triển khai Cuộc vận động để cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ nhận thức sâu sắc, tự giác thực hiện một cách nghiêm túc, triệt để. Tránh biểu hiện phô trương, hình thức trong quá trình triển khai Cuộc vận động, Thường vụ và Bộ Tư lệnh đã chỉ đạo các đơn vị tiến hành toàn diện, song tập trung vào những nội dung trọng tâm, trọng điểm, trong đó quan trọng nhất là việc “Làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Từ yêu cầu chung đó, mỗi đơn vị lựa chọn những lời dạy hoặc những phẩm chất đạo đức cụ thể của Bác để tuyên truyền giáo dục và làm theo. Căn cứ vào yêu cầu chung về phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị, Đảng uỷ đã xác định tiêu chí cụ thể cho từng đối tượng. Đối với đội ngũ cán bộ, y bác sĩ trực tiếp làm nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, tập trung xây dựng lòng trung thành, tận tuỵ gắn bó với công việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật mang tính chuyên ngành, làm chủ vững chắc công nghệ và hệ thống thiết bị kỹ thuật phục vụ cho yêu cầu nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Với những cán bộ, chiến sỹ làm nhiệm vụ bảo đảm an ninh, nghi lễ, phải thường xuyên đề cao ý thức tổ chức kỷ luật, đặc biệt nghiêm cách trong thực hiện nhiệm vụ, tuyệt đối không để xảy ra sai sót. Với đội ngũ những người làm công tác đón tiếp, tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân và khách quốc tế đến viếng Bác, tham quan Lăng phải luôn có thái độ ứng sử lịch thiệp, tận tình chu đáo….

Bước vào giai đoạn mới, phát huy truyền thống “Trung hiếu vẹn toàn, đoàn kết hiệp đồng, tự lực tự cường, chủ động sáng tạo” và danh hiệu cao quý Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ đổi mới do Đảng và Nhà nước trao tặng; cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí minh tiếp tục đoàn kết, sáng tạo hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị đặc biệt trong mọi tình huống, xứng đáng với niềm tin tưởng, yêu mến của Đảng, Nhà nước và nhân dân./.

Thiếu tướng, TS Đặng Nam Điền
Chính uỷ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng
Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Những kỷ niệm thiêng liêng ngày Độc lập

Lễ đài nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945

(VOV) – 66 năm qua với biết bao “vật đổi sao rời”, nhưng những kỷ niệm sâu sắc về ngày 2/9/1945 mãi mãi ghi đậm trong khối óc và trái tim của những người lính… Thời khắc lịch sử ngày 2/9/1945 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cách nay đã 66 năm. Những người chiến sỹ trẻ nhiệt huyết, hăng hái xung phong, tích cực tham gia vào các hoạt động cách mạng ở Hà Nội năm xưa, nay đã trở thành những người lính già đầu bạc, mắt mờ và đi lại cũng khó khăn. Những người còn lại còn rất ít, có thể đếm trên đầu ngón tay.

Trong câu chuyện với chúng tôi về ngày độc lập đầu tiên ấy, mỗi người lính già đều không giấu nổi niềm tự hào. Có thể thấy ở họ vẫn toát lên tinh thần sục sôi cách mạng, ý chí chiến đấu để thoát khỏi ách áp bức nô lệ mà khi đó, họ đã là những nhân chứng sống, nhân chứng lịch sử của ngày tháng hào hùng không thể nào quên…

Tiếng Bác Hồ rung động mãi trong tim…

Tiếp chúng tôi trong căn phòng rộng hơn 20m2 nằm sâu trong ngõ Vĩnh Tuy, Hà Nội, ông Phạm Thế Cường (tức Phạm Đình Cảnh – tên gọi lúc tham gia hoạt động cách mạng) năm nay đã ngoài 80 tuổi. Tuổi cao khiến việc đi lại của ông Cường trở nên khó khăn, nhưng trí nhớ thì vẫn còn minh mẫn.

Ông bảo, những đồng đội cũ cùng lứa tuổi với ông giờ đã ra đi gần hết, những người còn sống sức khỏe đã yếu, vài người có bệnh tai biến, phải sống cuộc sống thực vật. Rồi cũng có người vừa mới hôm qua còn gọi điện cho ông hẹn hò tham dự buổi hòa nhạc “Còn mãi với thời gian” vào ngày 2/9 tới, giấy mời còn chưa đến tay thì đã ra đi mất rồi…

Đột nhiên ông hạ giọng nói: “Thời gian đối với tôi vô cùng quý giá, nó có thể tính bằng giây, bằng phút. Hôm nay tôi còn có thể nói chuyện được với anh chị, nhưng không biết ngày mai có còn không?”… Ngừng một lát, ông bồi hồi kể lại hồi ức về quãng đời hoạt động của mình cách đây 66 năm…

“Tôi sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, bố mẹ mất sớm phải ở với chị họ. Năm 16 tuổi, tôi tham gia hoạt động trong Đội tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu. Đây là một đơn vị bộ đội địa phương do Xứ ủy và Thành ủy trực tiếp chỉ đạo, mang danh nghĩa như một đoàn thể quần chúng có vũ trang. Thành viên của đội đều là những đoàn viên đã được rèn luyện và thử thách của đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh.

Ông Phạm Thế Cường

Lúc đầu, đội được sử dụng để bảo vệ các cơ quan lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Mặt trận Việt Minh ở cấp Trung ương, Xứ ủ­­­­­y Bắc Kỳ và Thành ủy Hà Nội, bảo vệ Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo cấp cao khác. Đội tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu được giao cử 2 đơn vị (Đơn vị Tô Hiệu và Trần Quốc Toản) đến Quảng trường Ba Đình dự lễ Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945.

Đơn vị Tô Hiệu của ông Cường có vinh dự đặc biệt là đứng ngay ở hàng đầu sát lễ đài, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, như một hàng rào danh dự, trực tiếp bảo vệ lễ đài. Tất cả anh em đều rất xúc động một phần vị sự tin cậy của Đảng, một phần vì lòng náo nức được tận mắt nhìn thấy Bác Hồ kính yêu, người lãnh tụ tối cao của dân tộc Việt Nam. Mọi người rất phấn khởi. Anh em số đông là thanh niên trẻ, sôi nổi”.

Ông Cường nhớ lại, ngày 2/9 cách đây 66 năm: “Hôm ấy, tham dự mít tinh gồm đủ mọi thành phần, mọi tầng lớp xã hội: công nhân, dân quân, thanh niên, phụ nữ, thiếu nhi, các cụ phụ lão, các nhà sư…

Ánh mắt ông Cường rực sáng lên khi nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam: “Ngày hôm đó trời nắng, oi bức, Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất hiện trong trang phục giản dị, áo ka ki cao cổ, chân đi dép cao su trắng. Cả biển người im phăng phắc lắng nghe Bác đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Lời Người điềm đạm, nhưng cương quyết, từng lời nói đi vào tâm khảm người nghe, tràn đầy tình cảm sâu sắc và ý chí kiên quyết”.

Có lẽ với ông Cường, tiếng hô “Xin thề!” của hàng vạn chiến sỹ đồng bào và câu hỏi chân tình “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?” của Bác Hồ trong giờ phút thiêng liêng ấy là điều mãi mãi không thể nào quên. Ông Cường chia sẻ: “Có nhiều người dân vừa khóc vừa hô “Xin thề!” và tôi hiểu rằng, những người như chúng tôi, từ thân phận đói nghèo, nô lệ, nay trở thành người dân của nước Việt Nam độc lập. Đấy là niềm hạnh phúc vô cùng lớn lao mà chỉ những ai đã trải qua mới thấu hiểu”.

“Đó là những ngày tháng gian khổ, hào hùng nhưng cũng hạnh phúc nhất cuộc đời tôi. Những tư tưởng mới trong bản Tuyên ngôn độc lập đã thấm sâu trong tâm trí chúng tôi. Chúng tôi đã thấy giá trị của độc lập, thấy trách nhiệm thiêng liêng phải bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nền độc lập mới giành được…” – Ông Cường nói trong xúc động.

Dòng ký ức hùng tráng làm ông Cường như quên đi thực tại, một hồi lâu ông mới kể tiếp, sau ngày 2/9/1945, ông Cường tiếp tục tham gia tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu. Năm 1986, ông về nghỉ hưu và được phong hàm Đại tá.

Trải qua 41 năm trong quân ngũ, dù có nhiều khó khăn, nhưng niềm tự hào nhất của ông là được chiến đấu cho đến ngày giành độc lập 30/4/1975. Ông Cường có 4 người con, trong đó có người trai đầu đã hy sinh vì Tổ quốc. Và cha ông cũng là liệt sỹ.

Tất cả như vừa mới hôm qua…

Rời nhà ông Cường, chúng tôi tìm gặp bà Lê Thị Thanh, nguyên là Hiệu phó trường Cao đẳng sư phạm mẫu giáo Trung ương. Trong những ngày mùa thu cách mạng năm 1945, bà Thanh tham gia Hội Phụ nữ cứu quốc, rồi trở thành nữ chiến sỹ của Trung đoàn Thủ đô có mặt trong 60 ngày đêm chiến đấu quyết tử bảo vệ Hà Nội.

Cũng giống như ông Cường, bà Thanh hồ hởi khi kể về kỷ niệm của một thời oanh liệt: “Là học sinh yêu nước trường Trung học Nguyễn Huệ – Hà Nội, tôi sớm được giác ngộ cách mạng. Năm 16 tuổi, tôi được phân công làm tình báo, liên lạc viên và đi rải truyền đơn ở nhiều nơi. Có lần, trong khi làm nhiệm vụ, tôi phải đi qua những ngôi mộ của các đồng đội đã hy sinh, tôi sợ lắm! Nhưng, tôi tự trấn an tinh thần bằng cách nghĩ về họ lúc còn sống và khe khẽ cất tiếng hát. Sau đó một thời gian, trong một đợt địch càn quét, tôi đã dũng cảm bắn chết 1 tên giặc Pháp và được tham gia các buổi mít tinh ở Làng Cót, Hà Nội”.

Trong cuộc đời mình, có lẽ giây phút được tham gia và chứng kiến không khí của ngày chiến thắng, ngày độc lập 2/9 cách đây 66 năm là điều hạnh phúc và cảm giác khó tả đối với không chỉ riêng bà Thanh mà với nhiều người. Cảm xúc đó còn lưu lại mãi cho đến tận bây giờ.

Bà Lê Thị Thanh

Bà Thanh hồi tưởng: “Tôi nhớ ngày 2/9/1945, lúc đó quần chúng đi lại rất đông ở các khu phố của Hà Nội, các cửa hàng cửa hiệu phần lớn là đóng cửa và treo cờ hoa mừng ngày độc lập. Những đoàn người rầm rập kéo về Quảng trường Ba Đình: Phụ nữ nội thành mặc áo dài trắng, phụ nữ ngoại thành áo nâu quần đen, chít khăn mỏ quạ. Thanh niên áo sơ mi cộc tay, quần soóc, công nhân quần áo xanh, các đoàn tu sĩ thiên chúa giáo áo đen, các em thiếu nhi áo trắng, quần soóc xanh”.

“Buổi sáng 2/9, tôi cùng các chị em trong đoàn phụ nữ cứu quốc đến từng gia đình vận động họ tham gia cuộc mít tinh vào buổi chiều cùng ngày. Đến 14h, đoàn phụ nữ cứu quốc tiến về Quảng trường Ba Đình rực rỡ cờ hoa với những tiếng hô vang khẩu hiệu “Ủng hộ Việt Minh, ủng hộ Việt Minh!”, “Ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh!”. Đoàn phụ nữ cứu quốc của chúng tôi được đứng vị trí đầu tiên. Khoảng 14h30, bà Dương Thị Thoa (tức Lê Thi) trong đoàn được Ban Tổ chức cử lên kéo cờ độc lập cùng với bà Đàm Thị Loan”.

Cả biển người bỗng im phăng phắc để lắng nghe Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Lần đầu tiên được nhìn thấy Người, tôi đã nhận thấy ở Người sự giản dị và gần gũi” – Bà Thanh hào hứng kể.

Câu chuyện của bà Thanh kể về ngày độc lập như vừa mới đây thôi. 66 năm trôi qua, nay bà Thanh đã bước sang tuổi 81 nhưng tinh thần vẫn vô cùng minh mẫn. Bà phục vụ trong quân ngũ đến khi 53 tuổi mới chuyển sang ngành giáo dục và làm Hiệu phó của trường Cao đẳng Sư phạm Mẫu giáo Trung ương cho tới khi nghỉ hưu. Giờ đây, cứ mỗi dịp tháng 8 hàng năm, bà và các đồng đội cũ lại gặp nhau, ôn lại kỷ niệm xưa. Thi thoảng, ngày độc lập đầu tiên ấy, bà và đồng đội ôn lại như để tiếp thêm ý chí, nghị lực cho thế hệ con cháu…

Câu chuyện của những người lính đã đi qua ngày tháng hào hùng như ông Phạm Thế Cường, bà Lê Thị Thanh cùng biết bao người chiến sỹ khác về ngày 2/9/1945 sẽ không chỉ là dòng sự kiện trong trang sử vàng vẻ vang của dân tộc. Ký ức Cách mạng mùa thu tháng Tám cùng hình ảnh Bác Hồ trong ngày độc lập đầu tiên ấy, chắc hẳn sẽ còn đọng mãi trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam. Đó như một bài học truyền thống, soi rọi cho các thế hệ sau tiếp nối truyền thống của cha anh trên con đường cách mạng, sống, chiến đấu, lao động, học tập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

Theo vov.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tuyên ngôn độc lập “Là hoa quả của sự đổ máu và hy sinh tính mạng”!

Ngày hội non sông trên Quảng trường Ba Đình. Ảnh: Sỹ Minh

Đó là kết luận được tác giả Trần Dân Tiên viết ra trong tác phẩm “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch (Nxb Văn học 1970, trang 110) như một lời nhắn nhủ đến mỗi thế hệ người con Việt Nam luôn biết trân trọng giá trị của độc lập tự do, biết hy sinh lợi ích riêng tư để quyết bảo vệ, giữ gìn độc lập tự do của Tổ quốc trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

Và một điều hiển nhiên là, sẽ yêu quý độc lập tự do hơn, khi chúng ta thấu hiểu sự hy sinh xương máu của bao thế hệ ông cha ta đã ngã xuống qua mấy ngàn năm lịch sử, từ đánh đuổi giặc ngoại xâm phương Bắc đến đánh thắng đế quốc Âu – Mỹ và tên phát xít Nhật ở phương Đông cũng vì để đổi lấy nền độc lập tự do cho dân tộc Việt Nam hôm nay! Một dân tộc nhỏ bé, đất không rộng người không đông như Việt Nam nhưng đã gan góc, kiên cường đến lạ thường, trở thành một điều hiếm thấy trong lịch sử nhân loại từ cổ tới kim.

Trên thực tế, để có bản Tuyên ngôn độc lập tuyên bố với thế giới ngày 2/9/1945 tại Ba Đình (Hà Nội), toàn thể dân tộc ta phải chiến đấu kiên cường suốt 87 năm trời, kể từ khi liên quân Pháp – Tây Ban Nha nổ súng tấn công đánh chiếm bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) ngày 01/9/1858. Ngay từ khi Pháp đánh chiếm Đà Nẵng, các tầng lớp từ nhân dân đến nho sĩ và quan lại đã vùng lên đấu tranh quyết liệt để giữ nền độc lập cho dân tộc.

Trước hết phải kể đến cha con Trương Định – Trương Quyền, rồi Nguyễn Trung Trực, Võ Duy Dương, Nguyễn Hữu Huân, hai anh em Phan Tôn – Phan Liêm…rồi một số quan lại yêu nước như đốc học Phạm Văn Nghị đem 300 quân tình nguyện từ Bắc vào kinh đô Huế xin được lên đường giết giặc, Tổng đốc Nguyễn Tri Phương cùng con trai đã anh dũng hi sinh khi bảo vệ thành Hà Nội năm 1873, đến Tổng đốc Hoàng Diệu kiên cường đánh Pháp giữ thành Hà Nội năm 1882. Nhiều tri thức nho sỹ còn dùng ngòi bút làm vũ khí đánh giặc như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị…

Tiếp đến là các phong trào đấu tranh để đòi lại nền độc lập cuối thế kỷ XIX, trong đó phải kể đến phong trào Cần vương dưới sự chỉ huy của Tôn Thất Thuyết, khởi nghĩa Ba Đình, Hùng Lĩnh, Hương Khê ở Trung kỳ; khởi nghĩa Sông Đà, Bãi Sậy ở Bắc kỳ… diễn ra rầm rộ nhưng cuối cùng trước sau đều kết thúc thất bại. Sang đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước và cách mạng theo khuynh hướng dân chủ diễn ra rầm rộ, tiêu biểu là cụ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. Đến lượt Bác Hồ với những hoạt động không biết mệt mỏi cùng với sức mạnh tổng lực của nhân dân theo con đường chủ nghĩa Mác – Lênin, thành lập một chính đảng của giai cấp vô sản, kinh qua 15 năm chiến đấu, cuối cùng đã làm nên thắng lợi Cách mạng tháng Tám năm 1945 vĩ đại, độc lập tự do đã về với Tổ quốc Việt Nam sau 61 năm rơi vào tay giặc (1884 -1945).

Khi cuộc Cách mạng tháng Tám đang tiến đến những thắng lợi cuối cùng thì cũng là lúc Bác Hồ viết ra những dòng đầu tiên trong bản Tuyên ngôn độc lập nhằm khẩn trương tuyên bố với đồng bào và thế giới sự ra đời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Bác Hồ viết Tuyên ngôn trong bối cảnh lịch sử hết sức đặc biệt, ở thời khắc gấp rút của cách mạng, trong thời gian chỉ 3 ngày, tại phòng ăn ở số 48 Hàng Ngang, dưới thân phận bí mật…, nhưng nó được coi là “áng thiên cổ hùng văn” và được đưa vào chương trình dạy học phổ thông từ mấy năm nay.

Ngày 27/7/1945, Thường vụ Trung ương họp, rồi Hội đồng chính phủ lâm thời họp, bàn nhiều việc quan trọng, trong đó có việc tổ chức lễ tuyên bố độc lập vào ngày 2/9/1945, Bác Hồ phụ trách soạn thảo Tuyên ngôn độc lập. Từ ngày 28/8/1945, tức là ngày 21/7/Ất Dậu (1) – khi mà nhân dân ở Hà Tiên và Đồng Nai giành được chính quyền về tay nhân dân, Bác Hồ bắt đầu viết Tuyên ngôn. Bác Hồ viết Tuyên ngôn độc lập tại tầng 2, nhà ông Trịnh Văn Bô, bà Hoàng Thị Minh Hồ ở số 48 phố Hàng Ngang – một gia đình doanh nhân giàu lòng yêu nước.

Suốt 3 ngày, với tâm lực, trí tuệ và bản lĩnh của một vị lãnh tụ cách mạng luôn canh cánh nỗi lòng vì độc lập cho dân tộc, vì hạnh phúc ấm no cho nhân dân; từng trải nghiệm hoạt động cách mạng từ Đông sang Tây với chiếc máy đánh chữ đã sử dụng hồi ở căn cứ địa Việt Bắc, Bác Hồ đã viết xong bản Tuyên ngôn độc lập vào ngày 30/8 – ngày mà vua Bảo Đại đọc chiếu thoái vị trước đông đảo nhân dân tại Ngọ Môn kinh đô Huế và nộp ấn kiếm cho Chính phủ cách mạng lâm thời. Viết xong, Bác mời một số đồng chí để trao đổi, góp ý kiến cho bản dự thảo Tuyên Ngôn độc lập này rồi ngày hôm sau, tức 31/8 Bác bổ sung, chỉnh sửa một số điểm và chỉ còn chờ ngày được tuyên bố.

2 giờ chiều ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nền dân chủ cộng hoà trước đông đảo nhân dân trong và ngoài nước rằng:

“..Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do…Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay,…đứng về phe Đồng minh chống phát xít. Dân tộc ấy phải được tự do,…phải được độc lập!…Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” (2).

Những câu chữ chứa đựng hồn non sông nước Việt ấy là nỗi lòng hoạt động cách mạng suốt 35 năm của Bác. Chính vì vậy mà ngày 30/8/1945, sau khi đọc bản thảo cho những người công tác thân cận nghe và hỏi ý kiến họ, Bác Hồ đã không dấu nổi sự sung sướng nói rằng: “Trong đời tôi, tôi đã viết nhiều, nhưng đến bây giờ mới viết được một bản Tuyên ngôn như vậy”. Sung sướng vì đây là “kết quả của những bản yêu cầu gửi cho hội nghị Véc-xây mà Bác Hồ đã viết năm 1919 và chương trình Việt Minh Bác viết năm 1941. Hơn nữa, bản Tuyên ngôn độc lập là kết quả của những bản tuyên ngôn khác và tinh hoa của tiền bối như các cụ Thủ Khoa Huân, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu và của nhiều người khác, của bao nhiêu sách báo truyền đơn bí mật viết bằng máu và nước mắt của những nhà yêu nước từ hơn 80 năm trước”. Nó còn “là hoa là quả của bao nhiêu máu đã đổ và bao nhiêu tính mạng đã hy sinh của những người con anh dũng của Việt Nam trong nhà tù, trong trại tập trung, trong những hải đảo xa xôi, trên máy chém, trên chiến trường,… là kết quả của bao nhiêu hy vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn 20 triệu nhân dân Việt Nam”(3).

Bản tuyên ngôn đó có tính dân tộc, lại có tính quốc tế, vừa có ý nghĩa lịch sử lại có ý nghĩa thời đại sâu sắc. Nó có tác động trực tiếp đến sự thắng lợi trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ và công cuộc xây dựng CNXH hiện nay. Giành – giữ và củng cố độc lập dân tộc không chỉ là nhiệm vụ của thời chiến mà còn là nhiệm vụ quan trọng của toàn dân tộc ta ở thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước trên con đường CNXH. Trong bối cảnh thế giới ngày nay, khi mà sự hội nhập để phát triển đã trở thành tất yếu thì vấn đề giữ vững nền độc lập để không bị phụ thuộc vào các nước lớn về nhiều mặt, đặc biệt là kinh tế và văn hoá luôn đặt ra cho chúng ta những thách thức không nhỏ./.
_________________

Chú thích:
(1), Theo Vũ Kỳ, Thư ký Bác Hồ kể chuyện, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2005, tr.17.
(2), Hồ Chí Minh toàn tập, t.3, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2000, tr.555-557.
(3) Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Văn học 1970, tr.110.

Theo Lê Đức Hoàng
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tấm gương Bác Hồ về cần kiệm liêm chính chí công vô tư

Rèn luyện và tu dưỡng đạo đức là vấn đề quan tâm hàng đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo Người: “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc. Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Thiếu một mùa, thì không thành trời, Thiếu một phương, thì không thành đất. Thiếu một đức, thì không thành người”.

Một ngày sau khi nước nhà giành được độc lập (3-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ. Người trình bày sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, trong đó có vấn đề thứ tư cần phải giải quyết lúc bấy giờ là “Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện. Nó đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hoá dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác. Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”. Để làm được những điều đó, Người đề nghị “mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH”.

Để giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều tác phẩm viết về vấn đề này. Ngay từ năm 1927, trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”, chương đầu tiên của cuốn sách là Tư cách một người cách mệnh và tiêu chuẩn đầu tiên trong tư cách một người cách mệnh chính là: Cần kiệm. Sau này là các tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (10-1947), “ Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu” (1952). “Đạo đức cách mạng” (12-1958) và các bài báo như “Chớ kiêu ngạo, phải khiêm tốn”, “Cần kiệm liêm chính”, “Cần tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh”, “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sách chủ nghĩa cá nhân”… Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, Người nhắc “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư…” và “Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”.

Về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói một cách ngắn gọn, giản dị, cụ thể, dễ hiểu và dễ làm theo. CẦN tức là “Siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai” và nếu đã cần thì việc gì, dù khó khăn mấy, cũng làm được. Người chỉ ra cách thực hiện CẦN sao cho có kết quả. Đó là làm việc phải có kế hoạch, dù công việc gì, to hay nhỏ, lớn hay bé, đều phải sắp xếp khoa học và tính toán cẩn thận. Phân công công việc theo năng lực của từng người, như vậy sẽ không bị mất thời gian và hiệu quả công việc cao. Cần phải đi đôi với chuyên. Nếu không chuyên thì cũng vô ích. Cần không phải là xổi. Phải biết nuôi dưỡng sức khoẻ, tinh thần và lực lượng để làm việc lâu dài. Một người lười biếng sẽ làm chậm và ảnh hưởng đến công việc của rất nhiều người khác. Cần là nâng cao năng suất lao động.

KIỆM là “tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi”. Cần với kiệm đi đối với nhau như hai chân của một người. Cần mà không kiệm “thì làm chừng nào xào chừng ấy”, cũng như một cái thùng không đáy, nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không. Kiệm mà không cần, thì không tăng thêm, không phát triển được.

Bác cho rằng cần phải tiết kiệm cả của cải, thời gian và sức lực, bởi của cải nếu hết còn có thể làm ra được, còn thời gian đã qua đi, không bao giờ quay trở lại. Muốn tiết kiệm thời gian, bất kỳ việc gì, nghề cũng phải chăm chỉ, làm nhanh, không nên lần nữa. Không nên ngồi lê, nói chuyện phiếm, làm mất thời giờ của người khác. Theo Bác “Tiết kiệm không phải là bủn xỉn”. Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm. Việc đáng tiêu mà không tiêu, là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm”.

Để thực hành tiết kiệm phải kiên quyết với những việc làm xa xỉ, như kéo dài thời gian lao động không cần thiết, làm hao phí vật liệu trong sản xuất, luôn tìm cách ăn ngon, mặc đẹp trong lúc đồng bào còn khó khăn, thiếu thốn, v.v… Phải biết cách tổ chức thì tiết kiệm mới có hiệu quả.

LIÊM là “trong sạch, không tham lam”; “không tham địa vị”. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”.

Liêm phải đi đôi với kiệm, bởi có kiệm mới liêm được. Tham lam là một điều rất xấu hổ. Những hành động bất liêm đều phải dùng pháp luật để trừng trị, dù đó là người nào, giữ cương vị gì, làm nghề gì. “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ”. Và như cụ Mạnh Tử đã nói “Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy”.

Cần, kiệm, liêm là gốc rễ của chính. CHÍNH “nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn”. Một người phải cần, kiệm, liêm, nhưng còn phải chính mới là người hoàn toàn. Chính đối với mình là không tự cao, tự đại, luôn luôn chịu khó học tập, cầu tiến bộ, phát triển điều hay và sửa chữa khuyết điểm của mình. Đối với người, phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ, không nịnh hót người trên, xem khinh người dưới. Phải để việc nước, việc công lên trên việc tư, việc nhà. Công việc dù to hay nhỏ đều phải cố gắng hoàn thành. Phải luôn luôn nhớ “việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh”.

Về CHÍ CÔNG VÔ TƯ, Bác nói: “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với việc”, “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”, “Phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Người giải thích “…Cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp là ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”.

Vụ án Trần Dụ Châu những năm 50 là một bài học đắt giá cho những cán bộ, đảng viên không thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, không thực hành cần kiệm liêm chính, dẫn đến hành động tham ô, hủ hoá, suy thoái về đạo đức. Lời nói phải đi đôi với việc làm, nói được, làm được sẽ mang lại thành công, được nhiều người hưởng ứng và làm theo. Nếu chính mình tham ô mà bảo người khác liêm khiết thì không được. Nếu nói răng phải cần kiệm liêm chính, mà bản thân mình lại lười lao động, lười học tập, không hoàn thành những công việc được giao, không tiết kiệm, sống hoang phí, xa hoa, luôn tìm cách tham ô, bòn rút tiền của Nhà nước và nhân dân, tâm không trong sáng… thì sẽ không hiệu quả và không có tính thuyết phục. Thực hành tốt cần kiệm liêm chính, chí công vô tư sẽ rèn luyện, làm cho con người có những phẩm chất tốt, như “Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”.

Chính nhờ thực hành cần kiệm liêm chính mà trong những năm đầu mới giành được độc lập nhân dân ta đã thu được nhiều thắng lợi, chiến thắng giặc lụt, giặc đói và giặc ngoại xâm. Trong những năm hoà bình xây dựng đất nước, từng bước đời sống nhân dân đã được nâng cao cả về vật chất và tinh thần. Trong đạo đức thì việc nêu gương là vô cùng cần thiết, vì “…Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”.

Bác rất quan tâm đến việc rèn luyện tư cách đạo đức, tác phong cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, từ lời nói đến việc làm. Bản thân Bác là một tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, thương dân, về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư để chúng ta học tập và noi theo.

Sinh thời, Bác sống rất giản dị, từ lời nói đến việc làm, phong cách làm việc, từ cách ăn mặc cho đến những sinh hoạt hàng ngày, ngay cả khi Người đã là Chủ tịch nước. Tác phong giản dị ấy mang lại một sự gần gũi, một ấn tượng khó quên với những ai đã được gặp Bác dù chỉ một lần. Bác mặc rất giản dị và tiết kiệm. Quần áo Bác mặc chỉ có vài bộ, may cùng kiểu. Có cái áo của Bác rách, vá đi vá lại, thay cổ mà Bác vẫn không cho đổi. Có lần Bác nói với một đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng một cách chân tình: “Này chú! Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mặc áo vá vai thế này là cái phúc của dân đấy. Đừng bỏ cái phúc ấy đi”.

Đôi dép cao su của Bác, bộ quần áo ka-ki sờn Bác vẫn dùng hàng ngày, khi biết các đồng chí phục vụ định thay, Bác không đồng ý. Chiếc bút chì mòn vẹt Bác dùng để theo dõi tin tức trên báo. Những trang bản thảo được Bác viết ở mặt sau của những tờ tin tham khảo của Việt Nam Thông tấn xã. Chiếc ô tô Bác đi công tác hay đi thăm đồng bào và chiến sĩ trong cả nước cũng chỉ là loại xe bình thường. Bác không dùng chiếc điều hoà nhiệt độ do các đồng chí cán bộ ngoại giao đang công tác ở nước ngoài biếu, mà đề nghị chuyển chiếc điều hoà ấy cho các đồng chí thương bệnh binh đang điều trị tại trại điều dưỡng hoặc quân y viện, mặc dù lúc đó Bác đang ở trong ngôi nhà của người thợ điện (nhà 54) rất nóng. Những bữa ăn thanh đạm của Người “thường là dưa cà, đôi khi có thịt”. Những lần đi thăm các địa phương, Bác thường không báo trước và mang theo cơm nắm để tránh sự đón rước linh đình, gây phiền hà và tốn kém tiền của nhân dân.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trên chiến khu Việt Bắc, Bác ở trong ngôi nhà sàn đơn sơ, giản dị thì đến khi cách mạng thành công, trở về Thủ đô, Bác chỉ ở trong ngôi nhà nhỏ của người thợ điện, sau đó chuyển sang nhà sàn, chứ không ở ngôi nhà to, sang trọng của Toàn quyền Đông Dương. Bác dành ngôi nhà sang trọng đó làm nơi đón tiếp khách của Đảng và Nhà nước ta.

Sự tiết kiệm của Bác còn thể hiện trong việc sử dụng đội ngũ cán bộ. Là Chủ tịch Chủ tịch nước, nhưng những năm tháng sống trên chiến khu Việt Bắc, đi theo Bác chỉ là tổ công tác ít người kiêm nhiều việc. Cách mạng tháng Tám thành công, trở về Thủ đô, các đồng chí phục vụ Bác ở Phủ Chủ tịch cũng rất ít. Những lần đi công tác xa, không cần nhiều cán bộ cùng đi, Bác cho những anh em còn lại về thăm gia đình. Bác dặn “Các chú tranh thủ về thăm nhà, nhưng nhớ đúng hẹn lên đón Bác”. Điều đó thể hiện sự quan tâm của Bác đối với con người và cũng là một hình thức tiết kiệm thời gian.

Những lời nói của Bác về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Đặc biệt là tấm gương của Bác về thực hành cần kiệm liêm chính vẫn mãi mãi để cán bộ, đảng viên và nhân dân ta noi theo. Trong kháng chiến cũng như trong xây dựng đất nước đã có nhiều tấm gương tiêu biểu về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Họ là những người luôn luôn gương mẫu, đi đầu trong lao động sản xuất, chiến đấu và học tập. Tuy nhiên còn có một số không ít cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những cán bộ có chức, có quyền vẫn chưa làm đúng những lời dạy của Bác. Nạn tham ô, tham nhũng, hối lộ, lãng phí, xa xỉ, quan liêu, công thần, cửa quyền… ngày càng nhiều. Các vụ án PMU18 ở Bộ Giao thông vận tải, vụ chạy cô-ta ở Bộ thương mại hay vụ án Mạc Kim Tôn ở Thái Bình, v.v… cho thấy đó là những cán bộ, đảng viên bị sa sút về tư tưởng, chính trị, đạo đức và tha hoá về lối sống. Họ đã làm giảm sút lòng tin, uy tín của Đảng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Thực hành tốt những lời dạy của Bác về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là chúng ta đã góp phần làm giàu cho đất nước, làm tăng lòng tin của nhân dân vào Đảng và chính quyền. Như vậy là chúng ta cũng đã góp phần thực hiện tốt Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí M

___________________

1. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.5; tr631
2. Sdd, t.4, tr.8-9
3. Sdd, t.5, tr.637
4. Sdd, t.5, tr.252
5. Sdd, t.5, tr.642
6. Sdd, t.5, tr.641
7. Sdd, t.5, tr.645
8. Sdd, t.5, tr.641
9. Sdd, t.1, tr.263
10. Chuyện kể của những người giúp việc Bác Hồ, Nxb. Thông tấn H, 2003, tr.115

Theo Tiến Linh
Baotanghochiminh.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chuyện về chiếc áo Bác mặc ngày 2/9/1945

Hiện nay, tại Viện Bảo tàng Cách mạng đang trưng bày một chuyên đề đặc biệt gồm những hiện vật liên quan đến sự kiện lịch sử 2/9/1945: Chiếc Micro Hồ Chủ tịch sử dụng trong Lễ tuyên ngôn độc lập, một số kèn đồng mà đội quân nhạc cử Quốc ca tại Quảng trường Ba Đình… Và đặc biệt là bộ quần áo Bác Hồ đã mặc trong ngày lễ khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Bộ quần áo ấy đã bạc màu, sờn cổ…

Ngày 23 tháng 8 Bác Hồ về đến thôn Gạ (Phú Thượng – Hà Nội ), nghỉ ở đây một ngày. Hôm sau, Người được Trung ương và Thành uỷ bố trí đến ở tại gác hai số nhà 48 Hàng Ngang (là nhà của ông Trịnh Văn Bô – một thương gia yêu nước, cơ sở tin cậy của cách mạng). Về đến Hà Nội, Bác rất gầy yếu, sau những trận ốm và phải đi xa nhưng mọi người đều thấy đôi mắt của Người luôn rực sáng.

Bà Trịnh Văn Bô, nữ chủ nhân của ngôi nhà 48 Hàng Ngang kể lại: Bác từ chiến khu về chỉ có một đôi dép cao su nhãn hiệu con hổ trắng, chiếc quần soóc nâu, chiếc áo sơ mi ngắn tay, một chiếc can và chiếc mũ phớt bạc màu. Đêm đêm, Bác thức rất khuya đánh máy chữ. Chuông đồng hồ điểm 12 tiếng, đèn bàn của Ông cụ mới tắt, nhưng 5 giờ sáng đã thấy Ông cụ tập thể dục ngoài ban công. Hàng ngày lúc 7 giờ, ông Vũ Đình Huỳnh đón Bác ra Bắc Bộ Phủ làm việc đến chiều mới về 48 Hàng Ngang. Buổi tối, Bác thường xuyên bận vì phải hội kiến làm việc với các ông Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt…

Sau này, bà Bô mới biết rằng khi tiếng đánh máy chữ vang lên trong đêm khuya ấy chính là Bác Hồ đang soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Tuy đã 91 tuổi nhưng bà Bô vẫn còn nhớ như in những ngày tháng hào hùng đó. Vào khoảng những ngày 26-27/8/1945 tức là khi đã ấn định Lễ tuyên ngôn độc lập vào 2/9/1945, anh em cán bộ mới sực nhớ ra cần phải trang bị mỗi người một bộ quần áo thật tươm để mặc ra mắt trên lễ đài. Đặc biệt là bộ trang phục của Bác. Đa số anh em từ chiến khu trở về và kể cả Bác cũng đều mặc những đồ đã cũ sờn hoặc chắp vá tạm bợ. Bà Bô bồi hồi nhớ lại: “Lúc bấy giờ trong tủ của nhà chúng tôi có rất nhiều vải (vì là nhà buôn vải vóc), tôi lấy ra mấy súc kaki để may cho anh em. Ngoài ra, trong tủ còn có hàng chục bộ quần áo khá sang trọng may sẵn mà ông Bô chưa dùng nên tôi lấy ra cho các anh ấy mặc tạm trước, anh nào mặc vừa bộ nào thì dùng bộ nấy, ông Phạm Văn Đồng, rồi ông Võ Nguyên Giáp… nhưng tầm người như Ông Cụ không hợp bộ nào cả”. Gần sát ngày lễ, ông bà Trịnh Văn Bô đã chọn riêng loại vải kaki cốtlê của Anh, sau đó cùng ông Vũ Đình Huỳnh – nguyên là thư ký lễ tân mang đến xin ý kiến Bác.
Bác nói:

– Tôi mặc xuềnh xoàng thôi. Không len, dạ đắt tiền làm gì, cốt tươm tất giản dị, không phải cà vạt cổ cồn là tốt…

– Ông Vũ Đình Huỳnh chợt nhớ tới một bức ảnh của Stalin nên ướm thử với Bác may theo kiểu áo đó, cũng không có cà vạt mà oai vệ.

Bác mỉm cười nói: “Nhưng mình có phải là Stalin đâu”.

Bác luôn học hỏi tinh hoa nhưng không chấp nhận bắt chước khuôn mẫu sẵn. Cuối cùng ông Vũ Đình Huỳnh mời ông Phú Thịnh chủ hiệu may có tiếng ở phố Hàng Quạt tới và trình bày: Tôi có người nhà là cụ lý ở quê ra thăm Thủ đô, tôi muốn cắt vài bộ đồ cho cụ, nhờ anh cắt may kiểu áo bốn túi, mặc kín cổ khi có việc quan trọng, lúc thường nhật thì mở khuy áo thoải mái, đi giày đi dép đều hợp với cụ lý nhà tôi. Ông Phú Thịnh ngẫm nghĩ một lúc dè dặt nói: “Tôi đã mường tượng ra kiểu áo ấy rồi. Chỉ cần tính toán cái ve áo nhọn hay tù?”. Ông Phú Thịnh ngắm nghía tấm ảnh Stalin rồi nói: “Kiểu tướng soái này oách lắm nhưng không hợp với các cụ người nhà mình. Thôi được tôi sẽ lo liệu để có bộ áo hợp ý với cụ lý”.

Hai hôm sau, ông Phú Thịnh đem hai bộ quần áo đến, cười ý nhị, nói: “Tôi trộm nghĩ cụ lý này không phải là lý trưởng mà có lẽ là một cụ lý…khác thường”. Ông Vũ Đình Huỳnh cười đáp lại tình cảm tinh tế của ông thợ may. Hôm sau, lựa lúc Bác tập thể dục tắm sáng xong, ông Vũ Đình Huỳnh đem bộ quần áo mới vào. Bác ướm thử, ngắm kỹ cổ áo và mỉm cười: “Được, thế này là hợp với mình”. Ông Vũ Đình Huỳnh lúc đó rất vui và thầm nghĩ, chỉ trong vài ngày nữa, ông Phú Thịnh sẽ vô cùng sung sướng và ngạc nhiên, vinh dự khi “cụ lý” mà mình may quần áo cho lại chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh – người đọc Tuyên ngôn độc lập tại Vườn hoa Ba Đình khai sinh ra một quốc gia độc lập – nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà.

Theo Vietbao.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Khát vọng vươn tới

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, ngày 2.9.1945. Ảnh: Tư Liệu

Cuộc đổi thay vĩ đại nhất trong lịch sử – cuộc đổi thay vận mệnh đối với cả một dân tộc cũng như cuộc đổi đời đối với mỗi con người – đã thực sự bắt đầu từ ngày 2.9.1945. Vào đầu thế kỷ 21, một cuộc kiến tạo vĩ đại chưa từng có đang được các thế hệ con Lạc cháu Hồng trong thời đại Hồ Chí Minh thực hiện trên dải đất hình chữ S đã thấm mồ hôi, nước mắt và máu của biết bao thế hệ tiền nhân.

Ở mọi thời đại, trong mọi giai đoạn lịch sử, bài học dân là gốc luôn là điều cốt tử! Hôm nay, khi đất nước đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, trước những dòng xoáy thế sự dữ dội, nhạy cảm và vô cùng phức tạp, bài học này vẫn đang nóng bỏng tính thời sự.

Điều gì đã giúp cho nhà nước ta vượt qua tất cả những thử thách cam go, tình thế hiểm nghèo “ngàn cân treo sợi tóc” trong các cuộc chiến tranh cứu nước trước đây cũng như ở thời điểm “chuyển dời dâu bể” sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Việt Nam phải tự đứng vững và tìm lấy con đường đi tới CNXH của mình? Nhìn lại chặng đường 25 năm đổi mới, chúng ta càng thấy rõ bản lĩnh, trí tuệ, khả năng vượt khó của toàn dân tộc dưới sự chèo lái của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chưa bao giờ thế và lực của đất nước ta mạnh như ngày nay. Đó thực sự là một kỳ tích.

Năm 2010, với GDP vượt mốc 100 tỉ USD, thu nhập bình quân tính theo đầu người đạt 1.168USD, chúng ta đã thoát khỏi tình trạng nước nghèo, thu nhập thấp. Trong khi thế giới chưa thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ, các nguồn vốn đang được cân nhắc rất thận trọng, kỹ lưỡng, nhưng Việt Nam vẫn là một điểm đến đáng tin cậy của các nhà đầu tư.

Những thành tựu đó là minh chứng hùng hồn cho sự năng cảm và tài thao lược của Đảng ta trong một thế giới đang biến động khôn lường, một thế giới vừa hợp tác vừa cạnh tranh gay gắt mà ở đó cuộc đuổi bắt lợi ích quốc gia và dân tộc đang diễn ra tinh vi và quyết liệt chưa từng có.

Từ nhiều năm nay, phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng sống luôn là bài toán khó giải đối với nhiều quốc gia. Đây đó trên mọi vùng miền của đất nước và ngay giữa Thủ đô, vẫn còn không ít người dân phải bươn chải khuya sớm vì miếng cơm manh áo, phải vật lộn để mưu sinh; một số còn phải chịu cảnh đời ngang trái, bất công.

Sức vóc nền kinh tế và tiềm lực quốc gia còn có hạn, nhưng chúng ta đã nỗ lực lớn để giải quyết hợp lý vấn đề tăng trưởng với bảo đảm an sinh xã hội và Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những quốc gia thành công nhất về xóa đói giảm nghèo. Những biến động dữ dội trong đời sống của nhiều quốc gia hiện nay càng cho thấy rõ nghèo đói, bất công xã hội, phân hóa giàu – nghèo đang lộ diện là những vấn đề xã hội ngày càng gay gắt, nếu không có một đường lối chiến lược rõ ràng để giải quyết cơ bản và bền vững thì chúng sẽ không những làm lu mờ thành quả phát triển kinh tế mà còn tích tụ trong lòng xã hội những mâu thuẫn, xung khắc không thể xem thường.

Bây giờ, khi tốc độ hội nhập của đất nước ngày càng tăng lên thì toàn thể hệ thống cần được nâng cấp lên trình độ mới. Chúng ta đã xác lập cơ chế đúng đắn Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, nhưng việc vận hành cơ chế này sao cho khoa học, nhịp nhàng, thông suốt và có hiệu quả là cả tổng thể một loạt vấn đề rất hệ trọng vì nó liên quan, tác động trực tiếp đến những khía cạnh nhạy cảm, phức tạp và căn cốt nhất của thể chế, của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội.

Chúng ta đã và đang đấu tranh quyết liệt, nhưng tệ quan liêu, tham nhũng, thói đặc quyền đặc lợi, vô trách nhiệm, vô cảm, sự tù đọng trong tư duy và trì trệ trong hành động… vẫn đang lộ diện như một nguy cơ lớn kìm hãm công cuộc đổi mới. Khi đất nước phải đương đầu với những thử thách mới, trận chiến chống tham nhũng, tiêu cực càng nóng bỏng.

Đó trước hết là một cuộc đấu tranh không khoan nhượng trong nội bộ Đảng. Cuộc đấu tranh này thử thách bản lĩnh của một đảng cầm quyền. Cuộc kiến tạo lớn sẽ không thể tiến bước nếu bộ máy của ta quá cồng kềnh, đủng đỉnh, nếu chúng ta không loại bỏ được những kẻ tham ô hám lợi, những kẻ vô trách nhiệm, vô cảm trước nỗi bất hạnh và đau khổ của người dân.

Trong ngày Tết độc lập, con tim ta trào dâng xúc động khi nghe giọng Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử. Đó là lời hịch muôn đời vang vọng núi sông. Năm 2011 này tiếp tục là một năm thử thách hết sức khắc nghiệt bản lĩnh và khả năng vượt khó của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta.

Ở những thời điểm thử thách nhất, chúng ta càng phải thấm nhuần sâu sắc hơn lời dạy của Người: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết! Thành công, thành công, đại thành công! Trong đại dương thế giới đầy biến động, vẻ đẹp Việt Nam, sức cuốn hút Việt Nam, sức mạnh Việt Nam ẩn chứa và tích hợp trong sự ổn định chính trị – xã hội, bình yên dưới mọi mái nhà. Bình yên trong lòng người! Là con dân nước Việt, đừng ai làm điều gì là tổn hại đến sự bình yên và khối đại đoàn kết quý giá đó./.

Theo laodong.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn