Tag Archive | Lãnh tụ vĩ đại

Kỳ 2: Nhận thức về con đường giải phóng dân tộc của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc

Tìm ra con đường chân lý QĐND Online – Hành trang ban đầu của Nguyễn Tất Thành khi ra nước ngoài là tri thức về văn hóa phương Đông và phương Tây, lòng yêu nước nhiệt thành, tiếp thu có chọn lọc con đường cứu nước của các nhà yêu nước lớp trước và một dự định rõ rệt, lớn lao, đó là “xem nước Pháp và các nước khác, sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”, đó là dự định đi tìm con đường cứu nước, cứu dân. Ngày 5 tháng 6 năm 1911, trên con tàu “Đô đốc Latouche Tresville”, từ bến cảng Nhà Rồng của Thành phố Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành đã lên đường sang Pháp. Người làm bất cứ việc gì để sống và hoạt động (phụ bếp dưới tàu, làm bánh trong các khách sạn, cào tuyết, đốt lò, chụp ảnh…).

Gần mười năm, vừa lao động kiếm sống, vừa tiến hành khảo sát thực tiễn nhiều nước tư bản và các nước thuộc địa, khảo sát các cuộc cách mạng ở các nước Pháp, Anh, Mỹ… Nguyễn Tất Thành đã có nhận thức quan trọng là: Cách mạng tư sản là những cuộc cách mạng vĩ đại, nhưng là những cuộc cách mạng chưa đến nơi. Nó đã phá tan gông xiềng phong kiến cùng những luật lệ hà khắc và những ràng buộc vô lý để giải phóng sức lao động của con người. Cách mạng tư sản xây dựng lên một chế độ mới tiến bộ hơn xã hội phong kiến. Nhưng cách mạng xong rồi dân chúng vẫn khổ, vẫn bị áp bức, bóc lột và vẫn mưu toan làm cách mạng. Từ đó, Người đi đến kết luận, chúng ta đổ xương máu để làm cách mạng thì không đi theo con đường cách mạng này. Nguyễn Tất Thành đã tìm ra những mặt trái của xã hội phương Tây, nhận ra “ở đâu cũng có người nghèo khổ như xứ sở mình” do ách áp bức, bóc lột dã man, vô nhân đạo của bọn thống trị. Điều đó đã giúp Người có một nhận thức quan trọng: Nhân dân lao động trên toàn thế giới cần đoàn kết lại để đấu tranh chống kẻ thù chung là giai cấp thống trị; cùng nhau thực hiện nguyện vọng chung là độc lập, tự do.

Sống hòa mình cùng nhân dân lao động và phong trào đấu tranh của công nhân Pháp, Nguyễn Ái Quốc say sưa hoạt động cách mạng, viết báo, hội họp, tuyên truyền, cổ động. Năm 1917, Nguyễn Tất Thành tham gia hoạt động trong phong trào của những người Việt Nam yêu nước tại Pháp. Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 có ảnh hưởng rất lớn đến tình cảm và nhận thức của Người. Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng Xã hội Pháp. Ngày 18-6-1919, với tên Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi bản yêu sách tới Hội nghị Véc-xây yêu cầu về quyền tự do, dân chủ, bình đẳng dân tộc cho nhân dân An Nam. Tám yêu cầu không được chấp nhận, nhưng đã vạch trần bản chất giả dối của các cường quốc thống trị, đồng thời cũng đem lại cho Nguyễn Ái Quốc một nhận thức tỉnh táo là các dân tộc muốn được giải phóng chỉ có thể dựa vào sức lực của bản thân mình.

Ra đi tìm đường cứu nước với tuổi đời còn rất trẻ và từ một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, lúc đó Nguyễn Ái Quốc chưa có một ý niệm rõ ràng về giai cấp, đấu tranh giai cấp, đảng chính trị, chủ nghĩa Mác – Lê-nin… Từ những hoạt động thực tiễn trên và đọc “Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lê-nin đăng trên báo LHumanité tháng 7-1920, Người đã đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Trong bối cảnh bấy giờ có nhiều trí thức Việt Nam sống tại Pháp, nhưng Người đã thể hiện tính vượt trội của tư tưởng khi nhận ra được chân lý lớn nhất của thời đại. Luận cương đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc những băn khoăn về con đường giành độc lập, tự do cho dân tộc, trả lời câu hỏi ai là người lãnh đạo, lực lượng tham gia và mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc… Luận cương đã ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành thế giới quan cộng sản của Nguyễn Ái Quốc.

Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam soi sáng đường cách mạng.

Quá trình tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lê-nin của Nguyễn Ái Quốc ngày càng có hệ thống và hoàn thiện khi Người tham gia Đảng Cộng sản Pháp, học tập ở Đại học phương Đông, sống trong không khí sục sôi ở trung tâm phong trào cộng sản ở Nga, hoạt động trong Quốc tế Cộng sản. Nhận thức của Người về sức mạnh của nhân dân lao động thế giới, về mối quan hệ giữa các dân tộc bị áp bức, giữa cách mạng ở các nước thuộc địa và các nước chính quốc trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân, về chính quyền cách mạng và sử dụng bạo lực cách mạng… ngày càng sâu sắc và có những luận điểm bổ sung, phát triển, sáng tạo. Sự kiện Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp tháng 12-1920 là một mốc lịch sử quan trọng trong hành trình đi tìm đường cứu nước của Người, đánh dấu bước chuyển biến quyết định, nhảy vọt, thay đổi về chất trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị của Người – từ một nhà yêu nước chân chính trở thành một chiến sỹ cộng sản. Đồng thời, sự kiện đó cũng đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam, mở đầu quá trình kết hợp đấu tranh giai cấp với đấu tranh dân tộc, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tinh thần yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Từ đây, cách mạng Việt Nam bắt đầu đi vào quỹ đạo của cách mạng vô sản. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội bắt đầu hình thành.

Đầu năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây, Người bắt đầu xây dựng những nhân tố bảo đảm cho cách mạng Việt Nam: Truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam, khơi dậy tinh thần đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, xây dựng tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, phát triển lực lượng cách mạng… Việc Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt do Người dự thảo được thông qua tại Hội nghị hợp nhất, chứng tỏ đến 1930, tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về con đường cách mạng Việt Nam đã được hình thành cơ bản.

Nguyễn Ái Quốc và một số đồng chí dự Quốc tế Cộng sản V

Sau hơn 40 năm xa Tổ quốc, ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng. Một trang mới mở ra trong cuộc đời cách mạng của Người và cũng là bước ngoặt mới cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam.

Lịch sử đã khẳng định và chứng minh rằng: Việc tìm ra con đường cứu nước, con đường phát triển dân tộc của Nguyễn Ái Quốc có ý nghĩa lịch sử to lớn. Đó là, đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, với học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học, Nguyễn Ái Quốc đã đặt nền móng cho lý luận cách mạng Việt Nam trong thời đại mới; chấm dứt khủng hoảng đường lối cứu nước triền miên từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy đường lối phát triển đúng đắn cho dân tộc, phù hợp với trào lưu tiến hóa chung của nhân loại và xu thế của thời đại.

Quá trình mà người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành quyết ra đi tìm con đường chân lý đến khi Người trở thành Lãnh tụ Hồ Chí Minh là quá trình đã đem ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lê-nin soi đường cho phong trào yêu nước, chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, làm cho chủ nghĩa yêu nước vươn lên tầm thời đại, trở thành chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, mà sau này biểu tượng sáng chói trong hai cuộc kháng chiến lừng lẫy của dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, trong công cuộc tái thiết và phát triển đất nước theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Với việc tìm ra con đường cứu nước, phát triển của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đóng góp to lớn, thiết thực chuẩn bị cho việc mở ra một giai đoạn phát triển mới của phong trào cách mạng vô sản nói chung, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới và châu Á nói riêng.

Kỳ 3: Tầm nhìn và những quyết định sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước bước ngoạt của cách mạng

Theo Quân đội nhân dân
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Kỳ 1: Hành trình mở trang sử mới

Bến Nhà Rồng hiện nay trong lung linh ánh điện-Ảnh Internet

QĐND Online – Ngày 5-6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành bước chân xuống con tàu A-mi-ran La-tút-sơ Trê-vin (Amiral Latouche Tréville) với mục đích tìm ra con đường cứu nước. Hành trình cách mạng của người thanh niên ấy (sau này là lãnh tụ Hồ Chí Minh) đã mở ra một trang mới cho lịch sử dân tộc Việt Nam. Nhân kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, báo QĐND Online gửi đến bạn đọc tư liệu tổng hợp về một phần hành trình của Người…

Bối cảnh lịch sử Việt Nam

Những năm cuối thế kỷ IX đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp bắt tay vào khai thác thuộc địa lần thứ nhất. Xã hội Việt Nam bắt đầu có những biến chuyển và phân hóa. Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản Pháp đã làm nảy sinh trong xã hội Việt Nam hai giai cấp mới: Giai cấp tư sản và giai cấp vô sản.

Trước sự áp bức, đè nén của thực dân Pháp, truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam đã phát huy mạnh mẽ. Các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta diễn ra đa dạng, sôi nổi: Phong trào có khuynh hướng dân chủ tư sản Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân, Việt Nam Quang Phục Hội; phong trào chống sưu thuế của nông dân ở Trung Kỳ; phong trào đánh Pháp như: vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội, cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Yên Thế… Thực dân Pháp đã tìm mọi cách để dập tắt các phong trào yêu nước đó và sau khi dập tắt phong trào , thực dân Pháp bắt tay vào cuộc khai thác thực địa để làm giàu cho chính quốc.

Sở dĩ các phong trào yêu nước chống Pháp trên đều thất bại có nguyên nhân sâu xa là do thiếu đường lối chính trị đúng đắn, khoa học, thiếu sự lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến. Giai cấp phong kiến, có vai trò tiến bộ nhất định trong lịch sử đã trở thành giai cấp phản động, bán nước, tay sai cho đế quốc. Giai cấp tư sản mới ra đời, còn non yếu với lực lượng kinh tế phụ thuộc và khuynh hướng chính trị cải lương, không có khả năng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống đế quốc và phong kiến để giành độc lập tự do.

Trong bối cảnh đó, xuất hiện một con người – người mà sau này trở thành lãnh tụ của cách mạng Việt Nam. Đó là Nguyễn Sinh Cung – Nguyễn Tất Thành.

Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống hiếu học, ở một địa phương có truyền thống yêu nước nồng nàn. Từ lúc tuổi còn nhỏ, Người sớm được tiếp cận với các tư tưởng lớn của phương Đông, hấp thụ vốn văn hóa truyền thống của dân tộc cũng như vốn kiến thức Hán học và bước đầu tiếp xúc với văn hóa phương Tây. Chứng kiến cảnh khổ cực của người dân mất nước, tinh thần đấu tranh bất khuất của cha anh, Người càng tỏ rõ tinh thần yêu nước, thương dân sâu sắc và hun đúc những hoài bão lớn lao. Nguyễn Tất Thành rất khâm phục tinh thần yêu nước của các văn thân, chí sĩ xả thân vì nước, nhưng Người không tán thành đường lối cứu nước của các bậc tiền bối. Tư tưởng yêu nước của Nguyễn Tất Thành tuy lúc đó chưa gặp chủ nghĩa xã hội, nhưng đã thể hiện tầm vóc vượt trước quan điểm cứu nước đương thời. Người cho rằng, chủ trương của cụ Phan Chu Trinh yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương chẳng khác gì “đến xin giặc rủ lòng thương”; chủ trương của cụ Phan Bội Châu nhờ Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp chẳng khác nào “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”, chủ trương của cụ Hoàng Hoa Thám tuy thực tế hơn, nhưng không có hướng thoát rõ ràng, “còn mang nặng cốt cách phong kiến”.

Thất bại của các cụ Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… nói lên một sự thật lịch sử là: Không thể cứu nước trên lập trường phong kiến hay lập trường của giai cấp tư sản, tiểu tư sản. Các đường lối và phương pháp này đều không đáp ứng được yêu cầu giải phóng dân tộc trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc đã trở thành hệ thống thế giới. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam đang đòi hỏi được đổi mới, đó là một nhu cầu cấp thiết của dân tộc lúc bấy giờ.

Mô hình lớp học ở Trường Dục Thanh (Phan Thiết), nơi Thầy giáo Nguyễn Tất Thành dạy học trước lúc ra đi tìm đường cứu nước. (Ảnh Intrenet)

Vốn có tư chất thông minh, tinh thần ham học hỏi, khả năng tư duy độc lập, tính ham hiểu biết và nhạy bén với cái mới, Người bị lôi cuốn bởi khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái” và thôi thúc bởi ý định tìm hiểu “cái gì ẩn dấu sau” những mỹ từ đẹp đẽ đó ở chính nước sinh ra khẩu hiệu đó. Những tư tưởng tiến bộ của cuộc cách mạng ở Pháp năm 1789, thành tựu văn minh, tiến bộ của nhân loại ở Pháp và các nước châu Âu khác, đã thúc đẩy Người muốn đến tận nơi tìm hiểu. Đó chính là những lý do Nguyễn Tất Thành quyết định chọn nước Pháp, chọn châu Âu làm điểm đến đầu tiên trong cuộc hành trình đi tìm đường cứu nước năm 1911.

Tình hình chính trị thế giới

Vào nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã từ giai đoạn tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc và đã xác lập được sự thống trị trên phạm vi thế giới. Phần lớn các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ La-tinh đã trở thành thuộc địa và phụ thuộc của chúng. Chủ nghĩa đế quốc vừa tranh giành xâu xé, vừa vào hùa với nhau để nô dịch các dân tộc nhỏ bé. Cùng với những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tư bản – mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và tư sản, chủ nghĩa đế quốc làm phát sinh mâu thuẫn mới – mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc thực dân. Đời sống nhân dân ở các nước thuộc địa và phụ thuộc vô cùng cực khổ, trong đó có nhân dân Việt Nam dưới xiềng xích của chế độ thực dân Pháp. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc bắt đầu phát triển và có xu hướng lan rộng.

Ở Trung Quốc, lúc ấy đất nước rộng lớn này bị các nước tư bản phương Tây xâu xé và cũng đang tìm lối ra nhưng đến giữa năm 1911, nhìn chung vẫn chưa có lối thoát mà phải đợi đến tháng 10-1911, dưới sự lãnh đạo của Tôn Dật Tiên, Trung Quốc mới tìm thấy hướng đi thông qua cuộc cách mạng Tân Hợi.

Ở Ấn Độ, đất nước bị thực dân Anh đô hộ, những nhà ái quốc Ấn Độ cũng đang tìm hướng đi cho dân tộc mình và Đảng Quốc Đại đã bước lên vũ đài chính trị.

Ở In-đô-nê-xi-a (bị thực dân Hà Lan đô hộ), nhiều tổ chức yêu nước của trí thức tư sản tiến bộ ra đời, thu hút đông đảo nhân dân tham gia.Từ 1905, nhiều tổ chức công nhân được thành lập và bước đầu truyền bá chủ nghĩa Mác.

Đất nước Lào, đầu thế kỷ XX, nhân dân các bộ tộc Lào đã nhiều lần nổi dậy chống thực dân Pháp…

Như vậy, bối cảnh trong khu vực, thế giới có những thay đổi, đòi hỏi mỗi quốc gia, dân tộc phải có những bước chuẩn bị tiền đề cho sự đi lên của mình. Và ngày 5-6-1911, với tên gọi Văn Ba, từ bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn cũ), trên con tàu A-mi-ran La-tút-sơ Trê-vin (Amiral Latouche Tréville), Nguyễn Tất Thành trong vai người phụ bếp đã bắt đầu con đường sứ mệnh lịch sử đối với dân tộc Việt Nam.

Theo Quân đội nhân dân
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Picasso: “Có một họa sĩ Nguyễn Ái Quốc”

Picasso thời trẻ tại Paris và Nguyễn Ái Quốc thời trẻ trên con tàu sang Pháp

Thiên tài hội họa lớn nhất thế kỷ 20 đã nói về những bức tranh do Nguyễn Ái Quốc vẽ trên tờ báo “Người cùng khổ” với một niềm ngưỡng mộ chân thành trước tâm hồn và tư tưởng của Người.

Cuốn sách “Bác Hồ – một tình yêu bao la” do NXB Kim Đồng phát hành tháng 5/2010 chứa đựng vô số câu chuyện chân thực và xúc động từ những họa sỹ, nghệ nhân lớn trong và ngoài nước kể về Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, trong đó có nhiều sự kiện mà không phải ai cũng biết. Đi kèm với đó là hình ảnh về những tác phẩm nghệ thuật mà họ đã sáng tạo nên, điển hình như tượng chân dung bằng đồng của Vũ Cao Đàm, tranh khắc gỗ Hồ Chủ tịch ở Việt Bắc của Nguyên Văn Ty – Phan Kế An, tranh sơn dầu của Tô Ngọc Vân, tranh bút sắt Bác Hồ của Vân Đa, tranh in đá của Lê Huy Tiếp, bột màu và bút kim “Ngục trung nhật kí” của Lê Huy Trấp, Kí họa Nguyễn Ái Quốc của Eric Johanson (Đức).

Tranh của Bác Hồ đăng trên báo Người cùng khổ (Ảnh chụp từ sách)

Đặc biệt, có một câu chuyện kể về cuộc gặp gỡ của Bác Hồ và danh họa Picasso tại Paris vào năm 1946 – một cuộc gặp đáng nhớ sau 35 năm của hai người bạn, hai người đồng chí từng hoạt động tại Đảng Cộng sản Pháp. Câu chuyện của ông Vũ Đình Huỳnh – Thư ký của Bác thời bấy giờ – được ghi lại bởi tác giả Cần Thư Công trong cuốn sách “Bác Hồ – một tình yêu bao la”, tư liệu này đồng thời đã được xuất bản trên báo Ấp Bắc ra ngày 5/3/1992.

Năm Bác Hồ 21 tuổi đặt chân lên đất Pháp thì gặp họa sỹ Picasso lúc đó 30 tuổi đã nổi danh ở Paris. Hai người kết bạn với nhau rồi lại xa nhau. Năm 1946, Bác qua Pháp để dự Hội nghị Fontainebleau, gặp lại Picasso sau nhiều chục năm xa cách. Ông Vũ Đình Huỳnh – Thư ký của Bác khi đó kể lại cuộc tái ngộ của hai người như sau:

Một hôm, Bác gọi tôi đến bảo:

– Chú thay bộ quân phục, mặc thường phục đi với tôi ngay bây giờ.

Lúc lên xe, đi một quãng Bác mới cho hay:

– Hôm nay, chúng ta đến thăm danh họa Picasso.

Tôi ngạc nhiên:

– Bác cũng quen họa sĩ Picasso à?

Bác nói:

– Giả sử không quen biết từ trước thì đến thủ đô Paris này, chúng ta vẫn phải đến chào một con người sáng tạo hội họa khó hiểu mà nghệ thuật của tranh ông lại làm nhiều người mê.

Bút ký của Bác Hồ "Việt - Nam - độc - lập" (1941) (Ảnh chụp từ sách)

Bác đến không báo trước. Lúc người giúp việc của Picasso đưa Bác đến gần cửa, họa sĩ đã nhận ra Bác. Ông vội chạy tới:

– Chào anh Nguyễn!

Hai người ôm chầm lấy nhau. Rồi Picasso lùi lại một bước ngắm Bác:

Anh chóng già quá, nhưng đôi mắt vẫn trẻ và như sáng hơn thời chúng ta gặp nhau ở Trụ sở nhóm Clarté (Ánh sáng)”.

Picasso đưa Bác đi xem phòng tranh của ông. Bác cầm từng bức tranh, im lặng tuyệt đối. Tôi thấy sự xúc động hiện rõ trên gương mặt trầm tư của Người. Lúc trở vào phòng trà, Picasso hỏi Bác.

– Anh cho tôi một lời khuyên.

Bác nói:

– Chúng tôi đến chiêm ngưỡng nghệ thuật của anh. Mọi lời bình về tranh Picasso chỉ là nét viền quanh cái khung của bức tranh. Anh miễn cho tôi – một người không am hiểu nghệ thuật hội họa cho lắm.

Picasso cười thoải mái, giọng vui hẳn lên:

– Tôi còn nhớ bức tranh anh vẽ trên báo Le Paria (Người cùng khổ), anh ký Nguyễn Ái Quốc bằng chữ Tàu. Ngày ấy tôi nói với Henri Basbusse: “Chỉ mấy nét vẽ này ta đã thấy một tư tưởng, một tâm hồn đẹp tàng ẩn bên trong”. Nếu như anh tiếp tục con đường hội họa thì biết đâu đấy, cũng có thể sẽ có một Nguyễn Ái Quốc họa sĩ. Nhưng hôm nay anh Nguyễn là Hồ Chủ tịch, người đi đầu trong cuộc đấu tranh cho độc lập tự do của dân tộc mình và của các dân tộc bị áp bức khác.

Ông mời Bác uống nước, rồi phác mấy nét chân dung Bác. Xong, ông cất vào cặp giấy vẽ. Đến lúc tiễn Bác ra cửa, ông mới trao cho Bác. Sau đó, Bác trao lại cho tôi cất giữ…

Bác Hồ – một tình yêu bao la – NXB Kim Đồng
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 27-5: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi Hà Bắc

Ngày 27-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội đồng Chính phủ và quyết định giao quyền Chủ tịch nước trong thời gian Bác đi thăm nước Pháp cho Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng, người cao niên nhất trong Chính phủ.

Ngày 27-5-1947, Bác viết thư “Gửi nam nữ chiến sĩ, dân quân, tự vệ và du kích toàn quốc”, khẳng định vai trò “Dân quân, tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận địch nhân hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cũng phải tan rã. Các chiến sĩ dân quân, tự vệ và du kích ở Nam bộ, ở thủ đô, ở miền duyên hải và ở các nơi đã chứng tỏ sự thực đó một cách rất anh hùng. Từ đây về sau, lực lượng ta càng ngày càng vững, kinh nghiệm ta càng ngày càng nhiều thì ta càng tỏ cho quân địch biết, tỏ cho thế giới biết rằng dân quân, tự vệ và du kích Việt Nam là những người ái quốc sắt đá, là những chiến sĩ anh hùng…”.

Ngày 27-5-1959, Bác dự phiên thảo luận về Dự thảo Luật Hôn nhân và Gia đình tại Quốc hội: “Dự Luật Hôn nhân và Gia đình gọi nôm na là dự luật lấy vợ, lấy chồng, nhằm xây dựng hạnh phúc chung, nhưng trước hết là nhằm giải phóng chị em phụ nữ. Việc nghiên cứu bổ sung cho dự luật được hoàn chỉnh là một nhiệm vụ mà Chính phủ phải làm… Nhưng vấn đề này quan hệ mật thiết đến phụ nữ, cho nên khi giải thích tuyên truyền, chị em phụ nữ phải ra sức hoạt động nhiều để tinh thần luật được thấm nhuần đến tất cả mọi tầng lớp trong xã hội, đến từng người, từng địa phương…”.

Ngày 27-5-1965, Bác gửi thư khen quân dân miền Bắc bắn rơi chiếc máy bay thứ 300, cùng lời nhắc nhở phải cảnh giác cao độ trước những bước leo thang chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ.

Ngày 27-5-1969, Bác làm việc với Phó Chủ tịch Ủy ban Thiếu niên, nhi đồng Trung ương về công tác giáo dục và bảo vệ sức khỏe cho trẻ em. Bác căn dặn: “Phải kết hợp giữa gia đình, nhà trường, xã hội để nuôi dạy và giáo dục các cháu. Tất cả mọi người, mọi đoàn thể, mọi ngành, mọi gia đình phải có trách nhiệm chăm sóc các cháu”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 25-5: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 25-5-1922, trên báo “L’ Humanité” (Nhân Đạo), với tinh thần cộng sản, Nguyễn Ái Quốc viết bài “Mấy ý nghĩ về vấn đề thuộc địa”, đóng góp ý kiến cho Đảng Cộng sản Pháp về thái độ đối với vấn đề thuộc địa.

Ngày 25-5-1947, sau cuộc hội kiến với Paul Mus, phái viên của chính quyền thực dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước”, tố cáo thái độ của giới quân phiệt “quen thói hung tàn, bất nhân, vô lễ” và kêu gọi mọi người dân Việt Nam hãy kiên quyết hy sinh chiến đấu, đánh tan bọn quân phiệt thực dân, giành lấy thống nhất và độc lập cho Tổ quốc.

Cùng ngày, Bác viết “Thư gửi nhân dân Pháp”, nêu rõ: “Bọn quân phiệt thực dân đã bắt buộc chúng tôi phải tiếp tục chiến đấu, chúng tôi sẽ chiến đấu đến cùng, chúng tôi lấy câu châm ngôn hiên ngang của các bạn làm châm ngôn của chúng tôi: “Thà chết không làm nô lệ”. Chúng tôi chiến đấu vì công lý. Chúng tôi sẽ tồn tại. Chúng tôi sẽ chiến thắng”.

Còn trong thư gửi “Anh em văn hóa và trí thức Nam bộ”, Bác nhắn nhủ: “Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà, mà anh em văn hóa và trí thức phải làm cũng như là những chiến sĩ anh dũng trong công cuộc kháng chiến, tranh lại quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc. Nhân dân ta sẵn lòng thân thiện với nhân dân Pháp, nhưng quyết không chịu làm nô lệ cho thực dân phản động. Anh em văn hóa với trí thức là lớp tiên tri tiên giác, càng phải quyết tâm không chịu làm nô lệ”.

Ngày 25-5-1948, Báo Cứu Quốc đăng bài Bác trả lời phỏng vấn của tờ báo Pháp “Frères d ’Armes”. “Hỏi: Thưa Chủ tịch, Chủ tịch ghét gì nhất? Trả lời: Điều ác / Hỏi: Thưa Chủ tịch, Chủ tịch yêu gì nhất? Trả lời: Điều thiện / Hỏi: Chủ tịch cầu mong gì nhất? Trả lời: Nền độc lập của nước tôi và của tất cả các nước trên toàn cầu / Hỏi: Thưa Chủ tịch, Chủ tịch sợ gì nhất? Trả lời: Chẳng sợ gì cả! Một người yêu nước không sợ gì hết và nhất thiết không được sợ gì”.

Ngày 25-5-1954, Báo Nhân Dân đăng bài “Tuyên truyền”, trong đó Bác phê phán quan niệm chủ quan coi thường tuyên truyền của địch và nhấn mạnh: “Trách nhiệm của mỗi cán bộ, của mỗi người yêu nước là tìm mọi cơ hội, dùng mọi hình thức để đập tan tuyên truyền giả dối và thâm độc của địch. Chúng ta phải đánh thắng địch về mặt tuyên truyền, cũng như bộ đội ta đã đánh thắng địch về mặt quân sự!”.

Ngày 25-5-1962, dự cuộc họp của Bộ Chính trị bàn về “Quy hoạch sông Hồng”, Bác nhắc nhở: “Việc làm phải tính toán cho tốt”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 26-5: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 26-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Anh và Chủ tịch Quân ủy hội Võ Nguyên Giáp dự lễ khai giảng Trường võ Trần Quốc Tuấn tại Sơn Tây.

Trong lời chào mừng, Chủ tịch nước căn dặn lớp sĩ quan của quân đội Việt Nam được đào tạo chính quy đầu tiên: “Anh em có nhiều giai cấp, tư tưởng khác nhau, trước hết phải đoàn kết, đoàn kết thật thà. Phải có kỷ luật cả về tinh thần lẫn vật chất. Phải noi gương anh dũng của anh em binh sĩ hồi khởi nghĩa để làm gương cho các lớp về sau. Mong rằng anh em ở đây, bao giờ cũng phải làm theo hai khẩu hiệu mà nó là cái mục đích của anh em: Trung với nước, hiếu với dân”.

Sau khi trao lá cờ thêu 2 khẩu hiệu trên cho Hiệu trưởng Hoàng Đạo Thúy, Bác căn dặn: “Trung với nước, hiếu với dân là bổn phận thiêng liêng, là mục đích của anh em, một trách nhiệm nặng nề nhưng cũng là vinh dự của người chiến sĩ trong đạo quân quốc gia đầu tiên của nước ta”.

Sau khi thăm hỏi các tầng lớp nhân dân Sơn Tây, Bác về dự khai mạc Đại hội Thanh niên Hà Nội.

Tháng 5-1948, đáp lại tấm lòng của các phụ lão xã Vĩnh Đồng, châu Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình đã tặng mật ong, Bác viết thư cảm ơn: “Lòng thân ái của các cụ đối với tôi, khiến tôi rất cảm động. Tôi mong rằng các cụ sẽ cố gắng đốc thúc con cháu hăng hái tham gia cuộc thi đua ái quốc, làm cho mọi người đủ ăn, đủ mặc và sẵn sàng giúp đỡ bộ đội và dân quân. Như thế là các cụ cũng trực tiếp tham gia kháng chiến”.

Tháng 5-1950, Bác đến thăm “Lớp đào tạo cán bộ mật mã Lê Lai” tại cánh rừng Bản Cọ (Định Hóa, Thái Nguyên” với lời căn dặn: “Mật mã là công tác cơ mật, quan trọng, vẻ vang… Mật mã phải bí mật, nhanh chóng, chính xác. Các chú làm mật mã phải bí mật và đoàn kết”.

Ngày 26-5-1953, trên Báo Nhân Dân, trong bài viết “18 lần rồi” (ký tên C.B), Bác phân tích sự kiện nội các của nước Pháp thay đổi 18 lần kể từ sau Thế chiến II cũng như sự kiện Chính phủ mới đổ ngày 22-5-1953. Bài báo cho thấy cuộc chiến tranh mà nước Pháp đang tiến hành ở Đông Dương ngày càng trở thành nguyên nhân gây bất ổn trên chính trường Pháp và ngày càng bị lệ thuộc vào Mỹ. Bài báo kết luận: “Chỉ điều đó cũng đủ rõ: thế địch yếu, thế ta mạnh”.

Ngày 26-5-1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh (với bút danh T.L) đăng bài “Một cuộc hội nghị rất quan trọng” trên Báo Nhân Dân, bình luận kết quả của Hội nghị các vị đứng đầu các quốc gia độc lập ở châu Phi tổ chức tại Adi Abeba, thủ đô Ethiopi. Bài báo cho rằng, đó là “cuộc biến đổi long trời lở đất” và “Hội nghị này đã làm nổi bật thất bại nhục nhã và bước đường cuối cùng của chủ nghĩa thực dân. Nó làm nổi bật thắng lợi to lớn của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc”. Nhân dân Việt Nam “coi thành công của nhân dân châu Phi anh em cũng như thành công của mình”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Kỷ vật của Bác Hồ – Kỳ cuối

Hành trình của người phụ nữ Mỹ

TT – Người phụ nữ Mỹ này tận tụy gõ từng cánh cửa các sứ quán, bảo tàng, trung tâm lưu trữ của nhiều quốc gia trên thế giới để tìm kiếm tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lady Borton không nhớ rõ bao nhiêu cánh cửa đã mở rộng và bao nhiêu cánh cửa khép chặt khi bà tìm đến. Với Lady Borton, Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh là duyên nợ, là tình yêu lớn của cuộc đời bà.

Bìa cuốn sách viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh của Lady Borton – Ảnh: Hà Hương

>> Kỳ 1: Cảm xúc từ ngõ Compoint
>> Kỳ 2: 1.000 ngày trên đất Thái

Tìm Nguyễn Ái Quốc ở Hong Kong

Lady Borton sinh năm 1942 tại Washington DC (Mỹ). Bà đến Việt Nam trước năm 1975 và tham gia các hoạt động nhân đạo của Tổ chức Quaker (trung tâm tái định cư) tại Quảng Ngãi. Lady Borton nói được tiếng Việt, bà sống và làm việc tại Việt Nam từ năm 1978 với tư cách nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà hoạt động từ thiện. Những cuốn sách Lady Borton đã viết: Phía sau nỗi buồn (kể về số phận những phụ nữ Việt Nam trong và sau hai cuộc kháng chiến), Hồ Chí Minh – một chân dung (viết chung với C.David Thomas), Hồ Chí Minh – một hành trình…

“Các bạn luôn tin tưởng một cách tuyệt đối vào thông tin về cuộc đời Hồ Chí Minh. Nhưng một số học giả phương Tây nghi ngờ điều đó, đặc biệt họ đặt nhiều câu hỏi về quãng thời gian Hồ Chí Minh ở nước ngoài. Tôi lần theo hành trình của Hồ Chí Minh và tôi muốn chứng minh những lời kể của Hồ Chí Minh bằng tư liệu và dẫn chứng lịch sử” – Lady Borton mở đầu chuyện kể về những hành trình “theo chân” Hồ Chí Minh của mình như vậy.

Cuộc tìm kiếm thầm lặng của Lady Borton kéo dài ròng rã hàng năm trời. Bà bắt đầu tìm kiếm tư liệu về vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hong Kong từ kho lưu trữ tòa án, bộ ngoại giao của Anh, Pháp và tất nhiên là ở Hong Kong. Bà nói: “điều tôi luôn băn khoăn là người Pháp, người Anh lúc đó họ nghĩ gì và đánh giá ra sao về Nguyễn Ái Quốc. Những tư liệu về phiên tòa này ở hai bên hẳn ẩn chứa nhiều bất ngờ”.

“Điều thú vị là ngay trang đầu của tập hồ sơ dài 250 trang, người Anh đánh dấu hỏi rất lớn: Nguyễn Ái Quốc là ai? Người Pháp nói với họ rằng Nguyễn Ái Quốc là cộng sản nhưng theo luật Anh, cộng sản cũng có quyền. Họ chỉ quan tâm một điều duy nhất là người thanh niên này chống lại thống đốc Hong Kong. Và chắc họ cũng muốn biết tại sao người Pháp lại sốt sắng bắt người này đến vậy” – Lady Borton kể.

Đàm Thư, một người bạn Việt Nam, đã giúp Lady tìm kiếm tư liệu ở Pháp. Lady hài hước kể: “Chúng tôi gặp một tình huống ngang trái, tôi biết cách tìm nhưng không biết tiếng Pháp, lại là người Mỹ nên không được lên kho lưu trữ. Còn Đàm Thư biết tiếng Pháp, được phép vào nhưng không biết cách tìm”. Cuối cùng khi tìm thấy thì Lady gặp rắc rối lớn là những tài liệu đó chưa đến hạn giải mã. Số tài liệu này sau đó được photocopy và chuyển về Việt Nam thông qua con đường ngoại giao.

“Những tư liệu cho thấy Anh – Pháp tranh cãi với nhau khá gay gắt về Nguyễn Ái Quốc” – Lady Borton khẳng định.

Bà Lady Borton – Ảnh: Hà Hương

Tình yêu của Lady

“Năm 1954 tôi 12 tuổi, chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc. Trên tờ báo của trẻ con ở Mỹ có đăng một hình minh họa và kèm theo những lời hù dọa: cộng sản sẽ ăn cắp thế giới. Lúc đó tôi sợ Việt Nam, sợ cả Hồ Chí Minh” – Lady Borton bật cười nhớ lại lần đầu nghe những cái tên đầy duyên nợ với bà.

Nỗi sợ hãi vì những lời hù dọa trẻ con đó nhanh chóng biến mất, thay vào đó là một tình yêu lớn đối với Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lady Borton kể chuyện với ánh mắt lấp lánh: năm 1965 người Mỹ nói nhiều đến Việt Nam và Hồ Chí Minh, trên phố mọi người biểu tình phản đối chiến tranh. Vào thập niên 1960, Lady nhớ tên Việt Nam – Hồ Chí Minh còn nhiều hơn cả tên của những ngôi sao ca nhạc cùng thời.

“Tôi gặp Đàm Thư – một phụ nữ Hà Nội đã sống qua những năm tháng chiến tranh và gian khó. Đàm Thư kể cho tôi về ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập 2-9-1945 tại quảng trường Ba Đình. Đó là Việt Nam qua con mắt của một cô bé 10 tuổi. Đàm Thư kể rằng mọi người đều muốn đổ ra đường, nhưng gia đình nào cũng có một người ở nhà để thắp hương cho những người đi xa báo rằng nước mình đã độc lập. Đàm Thư cũng kể về Tết Trung thu 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nói chuyện với trẻ em. Người nói rằng: các cháu là dân của một nước độc lập. Có lẽ chính những câu chuyện nhỏ của Đàm Thư đã tiếp thêm tình yêu của tôi với Việt Nam và Hồ Chí Minh. Và tôi bắt đầu nghiên cứu sâu về Hồ Chí Minh từ đó” – Lady kể về mối duyên của mình như vậy.

Mùa hè này Lady Borton sẽ về Mỹ để tiếp tục cuộc tìm kiếm mới của mình, đó là những tư liệu về thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Mỹ năm 1913. Bà chia sẻ: “Tôi nghĩ bản thân Hồ Chí Minh biết cách mạng Mỹ hoàn toàn không phù hợp với Việt Nam. Tại sao nước Mỹ lại giữ chân Hồ Chí Minh lâu đến vậy? Có thể ở Boston, Người đã tiếp xúc với phong trào đấu tranh của người da đen và đọc bản yêu sách do William Monroe Trotter (một người Mỹ da đen đã tốt nghiệp Đại học Harvard) viết, kèm chữ ký của 200.000 người gửi tổng thống Thomas Woodrow Wilson.

Hơn nữa, tôi nhớ một nhà báo nước ngoài từng nói những tháng năm ở Mỹ sẽ ảnh hưởng rất lớn cách nhìn và các quyết sách của Hồ Chí Minh khi Mỹ tham chiến ở Việt Nam. Cho nên việc Hồ Chí Minh đã đi đâu, tiếp xúc với ai trong năm 1913 sẽ là những thông tin quan trọng để giải mã thêm giai đoạn đầu ra đi tìm đường cứu nước của Người”.

Cuộc “theo chân” chàng trai Nguyễn Ái Quốc có đôi mắt sáng ở Mỹ của Lady Borton đã bắt đầu từ vài năm nay. Với bà, khi cánh cửa này đóng lại cũng có nghĩa là cánh cửa khác mở ra, và hành trình tìm kiếm những “miếng ghép” của cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa bao giờ dừng lại.

HÀ HƯƠNG

tuoitre.vn

Kỷ vật của Bác Hồ – Kỳ 2

1.000 ngày trên đất Thái

TT – Một ngày tháng 9-1969, người thanh niên Ngô Vĩnh Bao lặng lẽ cất vào ngăn tủ một chiếc băng tang. Chiếc băng tang được ông giữ lại sau lễ viếng Bác Hồ. Rồi ngăn tủ có thêm một viên gạch xây lăng ông tìm thấy ở quảng trường Ba Đình năm 1976.

Gần 40 chuyến đi trong suốt 1.000 ngày ở Thái Lan, ông Ngô Vĩnh Bao kiên trì lần theo từng chút thông tin, đầu mối cho biết về những địa điểm Bác Hồ từng đi qua từ năm 1929-1931. Cứ hết giờ làm việc ở Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Khonkaen (Thái Lan), ông Bao lại vùi đầu nghiên cứu hàng chục cuốn hồi ký của những Việt kiều từng hoạt động với Bác Hồ tại Thái Lan, các bài viết hay câu chuyện kể của Người.

Năm 1911

Tháng 6, sau ngày 5: Sau khi nhận việc ở tàu Amiran Latusơ Tơrêvin, Nguyễn Tất Thành viết thư về cho thầy giáo Hải, dạy tiếng Pháp ở Trường Dục Thanh báo tin mình đã đi ra nước ngoài.

– Hồi ức của các ông: Nguyễn Quý Phầu, Nguyễn Ðăng Lầu, Từ Trường Phùng, học sinh Trường Dục Thanh năm học 1910-1911. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Tư liệu của cuộc Hội thảo khoa học Bác Hồ với Thuận Hải, Thuận Hải với Bác Hồ, tháng 5-1986. Tài liệu lưu tại Viện Hồ Chí Minh. (…)

Tháng 10, trước ngày 31: Nguyễn Tất Thành vẫn làm việc trên tàu Amiran Latusơ Tơrêvin, theo hành trình con tàu trở về Sài Gòn.

– Hồi ký của Từ Trường Phùng.

– Sổ lĩnh lương tàu Amiran Latusơ Tơrêvin (bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh, ghi rõ nhận lương tại Sài Gòn, ngày 16-10-1911, chữ ký Văn Ba).

Tháng 10, ngày 31: Từ Sài Gòn Nguyễn Tất Thành gửi thư cho Khâm sứ Trung Kỳ nhờ chuyển số tiền 15 đồng cho cha là Nguyễn Sinh Huy. Số tiền trên đã được ông Nguyễn Sinh Huy ký nhận ngày 9-11-1911.

– Hồ sơ của Chánh mật thám Trung kỳ lập tại Huế, ngày 12-1-1923. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– D.Hémery: Jeunesse d’un colonisé, genese d’un exil…, Approche – Asie No11 – 1992, p.132.

(Sách Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử tập 1
(1890-1929) NXB Chính Trị Quốc Gia năm 2006,
trích trang 41, 42 và 45).

Lật cuốn tư liệu mô tả hành trình của ông Thầu Chín (tên của Bác Hồ thời ở Thái Lan) trong ba năm tại Thái Lan, ông Ngô Vĩnh Bao xúc động nói: “Tôi trở đi trở lại trên những con đường Bác đã đi qua. Mỗi chặng hành trình của Bác, tôi cố gắng trở lại, đôi khi không phải chỉ để tìm kiếm kỷ vật mà để cố gắng hiểu tâm trạng của Người”.

Có lần ông Bao đi tìm nơi Bác Hồ đã viết một bài thơ. Một người Thái tốt bụng đã đưa ông đi tìm khúc sông hằng ngày Bác vẫn ngồi ngắm cảnh. “Có những lúc ròng rã tìm kiếm mấy ngày trời rồi lại thất vọng về không”, ông Bao kể về những ngày đầu dò đường đi tìm kỷ vật Bác Hồ ở Thái.

Cứ mải miết đi về từng chuyến như vậy, nhưng có những kỷ vật của Bác ông tìm ròng rã suốt ba năm trời trên đất Thái. Chỉ chiếc phản gỗ đặt trang trọng giữa nhà, ông Bao bồi hồi nhớ lại: “Tôi tìm chiếc phản này suốt thời gian ở Thái Lan, may mắn đến lúc sắp về nước mới tìm thấy. 80 năm, chiếc phản đã kịp qua tay 10 người chủ. Tôi là người chủ thứ 11 của chiếc phản này đấy”.

Đó là chiếc phản gỗ mà Bác Hồ đã ngủ trong những ngày ở lại hiệu thuốc của ông Đặng Văn Cáp (năm 1929). Sau đó không lâu ông Cáp bị bắt, những Việt kiều ở Thái Lan chia nhau cất giữ tài sản trong hiệu thuốc.

Ông Bao kể: “Tôi đến Thái chỉ biết một đầu mối duy nhất là chiếc phản được ghép từ ba miếng gỗ, miếng giữa lớn và nguyên, còn hai miếng bên cạnh có vết nứt. Rồi tình cờ tôi tìm thêm được hồi ký của ông Cáp, dò hỏi từng gia đình Việt kiều về chiếc phản gỗ. Ký ức gần 80 năm người nhớ người quên, người nhớ cũng không rõ ràng gì. Tôi cứ tìm hết người chủ này đến người chủ kia, đến người thứ 10 thì tôi tìm thấy chiếc phản.

Có một điều mà suốt ba năm đi tìm chiếc phản ông Bao không thể ngờ tới là những Việt kiều ở Thái đã giữ gìn nó như giữ gìn sinh mạng của chính mình và luôn mong ngày chuyển chiếc phản về Tổ quốc. Ngày ông tìm đến nhà ông Bùi Bá Ba ở tỉnh Sakon Nakhon, người chủ thứ 10 của chiếc phản đang bị nhồi máu cơ tim phải cấp cứu trong bệnh viện.

“Tôi nhớ lúc tôi theo cô con gái vào thăm ông Ba, ông ấy còn yếu và chưa nói được. Cô con gái cầm tay cha hỏi: người này có thể xin lại chiếc phản gỗ mang về Việt Nam không? Ông Ba gật đầu mà khóe mắt rơm rớm” – ông Bao xúc động kể.

Những kỷ vật của cuộc đời

1.000 ngày “theo chân Bác” mang lại những kỷ vật vô giá như chiếc phản gỗ, chiếc ghế Bác từng ngồi làm việc, viên gạch lát nền nhà ở bản Mạy (tỉnh Nakhon Phanom), hai chiếc chân đèn bằng gỗ Bác Hồ dùng năm 1929… Những kỷ vật này được ông cất cẩn thận như một phần máu thịt của mình suốt nhiều năm qua.

Ông Ngô Vĩnh Bao còn giữ được 20 cuốn hồi ký của các Việt kiều từng hoạt động cùng Bác trong thời gian Người ở Thái. “Đọc hồi ký tôi biết họ đã cùng Bác đi đến những điểm nào, trong thời gian bao lâu. Ráp nối các chi tiết đó, tôi đã vẽ được toàn bộ hành trình của Bác đi qua chín tỉnh Thái Lan từ năm 1929-1931”, ông Bao nhớ lại.

Riêng bản đồ hành trình, các tư liệu ghi chép Bác Hồ đã đi những đâu, gặp gỡ ai, ảnh tư liệu hay nhân chứng hành trình của Bác, ông Bao tập hợp trong ba tập dày.

Nhìn kho tư liệu chật kín các ngăn tủ, ông Bao nói: “Ban đầu tôi thu thập tư liệu về Bác Hồ chủ yếu để làm một bộ sưu tập chi tiết về ba năm Người sống và hoạt động ở Thái Lan. Nhưng sau khi hoàn thành xong ba tập, tư liệu vẫn còn ngập cả một gian phòng lớn. Tôi sắp xếp lại theo thứ tự thời gian từ lúc Bác còn nhỏ đến ngày Bác ra đi, xếp đi xếp lại đến 19 tập dày”.

Đối với ông, những kỷ vật về Bác Hồ từ lâu đã trở thành một phần đời không thể thiếu của mình…

HÀ HƯƠNG

Ông Ngô Vĩnh Bao và cuốn tư liệu về hành trình của Bác Hồ từ năm 1911 Ảnh: Tiến Thành

Ông Ngô Vĩnh Bao sinh ở Vientiane (Lào) năm 1944. Năm 2 tuổi, ông theo gia đình di cư sang Thái Lan. Mãi đến năm 1960 gia đình ông mới hồi hương về Việt Nam. Ông Ngô Vĩnh Bao học phổ thông, đi làm công nhân, học đại học rồi về công tác tại văn phòng Cục Phục vụ (Bộ ngoại giao). Từ năm 1999-2002, ông giữ chức lãnh sự tại Tổng lãnh sự quán Việt Nam ở tỉnh Khonkaen (Thái Lan). Nhiều Việt kiều ông gặp trong hành trình 1.000 ngày “theo chân Bác” là người quen cũ thời còn sống trên đất Thái.

_________________

Người phụ nữ Mỹ tận tụy đến gõ từng cánh cửa của các sứ quán, bảo tàng, trung tâm lưu trữ… của nhiều quốc gia trên thế giới để tìm kiếm tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bà không nhớ rõ bao nhiêu cánh cửa đã mở rộng với mình…

Kỳ tới: Hành trình của người phụ nữ Mỹ

tuoitre.vn

Kỷ vật của Bác Hồ – Kỳ 1

Cảm xúc từ ngõ Compoint

TT – Câu chuyện xúc động về những người đã lần theo hành trình cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh để sưu tầm những kỷ vật liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của Người.

Một lần tình cờ được dẫn xuống tầng hầm của Bảo tàng Hồ Chí Minh, anh chuyên viên trẻ chỉ vào một người đang cặm cụi soi kính lúp trên những trang giấy ố vàng và giới thiệu: “Chuyện đi tìm kỷ vật cứ hỏi bác Thái. Chiếc tủ gỗ ở nhà số 9 ngõ Compoint, Paris đang trưng bày ở bảo tàng là một trong những kỷ vật của Bác Hồ ở nước ngoài được mang về VN rất sớm. Bác Thái là người biết rõ chuyến trở về Tổ quốc của chiếc tủ gỗ ngõ Compoint đấy!”. Người cặm cụi soi kính lúp trên những chồng tư liệu về Bác Hồ chính là ông Trịnh Ngọc Thái (nguyên đại sứ VN tại Pháp 1992-1997).

Mô hình ngôi nhà số 9 ngõ Compoint, Paris, Pháp được trưng bày tại triển lãm“Chủ tịch Hồ Chí Minh và con đường giải phóng dân tộc” ở Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội – Ảnh: Tiến Thành

Chiếc tủ gỗ ở ngõ Compoint

Một cuộc đời ăm ắp sự kiện, nhưng với ông Trịnh Ngọc Thái, chuyến trở về VN của chiếc tủ gỗ để lại một ấn tượng đặc biệt. “Đó là năm 1968, một ngày đầu mùa xuân, tuyết rơi dày và rất lạnh, đoàn đại biểu do Bộ trưởng Xuân Thủy dẫn đầu đến thăm ngôi nhà số 9 ngõ Compoint – nơi Bác Hồ từng sinh sống”, ông Thái hồi tưởng.

Ngõ Compoint – con ngõ được coi là nghèo nhất của khu lao động nghèo – có bốn ngôi nhà lụp xụp. Ông Thái còn nguyên cảm giác xúc động khi lần đầu tiên bước vào căn nhà cũ kỹ trong ngày mùa xuân Paris rét buốt đó: “Người ta cứ nghĩ căn phòng trọ Bác từng ở dù không tiện nghi nhưng cũng phải tử tế. Nhưng khi đi bộ trong lúc tuyết rơi, nhiệt độ xuống mức âm, bước trên cầu thang gỗ ọp ẹp và vào căn phòng bé con con, chúng tôi thật sự ngỡ ngàng”.

Một căn phòng không quá 9m2 chỉ đủ kê một giường cá nhân, một tủ gỗ đựng quần áo, một tủ nhỏ kê đầu giường dùng để viết lách và ngồi ăn cơm… “Mùa đông ở nước Pháp lạnh đến tê người, Bác đã sống thế nào trong một căn phòng không có lò sưởi, chỉ với một viên gạch ủ trong chăn? Một viên gạch bỏ vào chăn chỉ ấm được một lúc thôi, làm sao giữ ấm được suốt đêm?”, ông Thái xúc động nói.

Nhưng ngôi nhà sẽ bị phá bỏ vì quá cũ kỹ, một nơi lưu giữ nhiều ký ức của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm 1921-1923 có nguy cơ biến mất. “Lúc trở về, ông Xuân Thủy đã nghĩ ngay đến việc làm thế nào để giữ được kỷ vật vô giá của Bác Hồ. Phải nhớ rằng đó là năm 1968, hai năm sau – tháng 11-1970 – ban phụ trách xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh mới được thành lập”, ông Thái kể.

Tuy nhiên, mãi đến năm 1974 những kỷ vật của Bác Hồ ở Paris mới được đưa về VN. Đó là chiếc tủ quần áo và chiếc tủ gỗ để đầu giường. Còn những hiện vật khác như tấm bảng sắt ghi số 9 ngõ Compoint, cánh cửa ra vào bằng gỗ, lavabo rửa mặt, tấm sàn gỗ… sau này được đưa đến căn phòng của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Bảo tàng Lịch sử sống thành phố Montreuil (Pháp).

Hai người cận vệ tên là Cận và Lành đã áp tải các kỷ vật quý giá đó trên chuyến xe lửa suốt nửa tháng trời từ Paris (Pháp) qua Berlin (Đức), Ba Lan, qua Siberia (Nga), Trung Quốc rồi mới về tới Hà Nội. Hai kỷ vật của Bác được giao lại cho ban phụ trách xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tìm Bác khắp năm châu

Theo bà Nguyễn Thị Tình (nguyên giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh), đến năm 2006 bảo tàng có chuyến đi tìm kiếm kỷ vật Bác Hồ. “Chuyến đó ba nhân viên bảo tàng đi Nga suốt một tháng trời. Tuy nhiên, gần một thế kỷ đã trôi qua, những hiện vật gắn bó với cuộc đời của Người hầu như không giữ lại được. Chúng tôi chỉ tìm kiếm được bản gốc các tác phẩm của Người, scan lại rồi mang về nước”, bà Tình cho biết.

Ba lần đến Nga, hai lần đến Pháp, rồi đến Đài Loan, Hong Kong…, hàng ngàn tư liệu có bút tích của Bác Hồ đã được mang về. Một cán bộ phòng sưu tầm bảo quản Bảo tàng Hồ Chí Minh kể: “Chúng tôi phải lần theo những manh mối rất nhỏ để tìm kiếm các kỷ vật của Người. Có những tư liệu chúng tôi chỉ tình cờ tìm thấy trước giờ lên máy bay hai tiếng. Tuy nhiên, trong số đó có rất nhiều tư liệu quý mà phải thuyết phục rất lâu mới có thể sao chụp được, vì theo quy định thời hạn giải mã mãi đến năm… 2014”.

“Nhiều tài liệu dưới dạng scan được mang về VN trong năm năm qua. Sau gần một thế kỷ mọi việc sưu tầm đã trở nên khó khăn hơn nhiều. Hơn nữa Người luôn sống ở những khu lao động nghèo với nhiều bí danh khác nhau nên khi chúng tôi tìm đến, những nơi đó đã bị đập đi để xây khách sạn và cao ốc”, bà Tình nói.

Hàng chục năm qua, đã có rất nhiều người lần theo hành trình của Bác để tìm kiếm kỷ vật và tư liệu về Người. Họ đặt chân trên những con đường Người đã đi qua, đến ngôi nhà Người từng ở, trăn trở tìm kiếm những vật nhỏ nhất từng gắn bó với Người. Nhiều kỷ vật của Bác Hồ đã trở về Tổ quốc bằng những con đường rất riêng như thế.

“Ông cố vấn” của bảo tàng

Ngày nắng cũng như ngày mưa, ông tất bật đi về giữa Bảo tàng Hồ Chí Minh và ngôi nhà ở Hồ Xuân Hương nhìn ra hồ Thiền Quang nhiều gió. Ở bảo tàng mọi người gọi ông là “ông cố vấn” Trịnh Ngọc Thái. Bởi nhiều năm nay ông giữ vai trò cố vấn, nghiên cứu, dịch các bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ tiếng Pháp sang tiếng Việt. “Ông cố vấn” chẳng có phòng riêng, chiếc bàn nhỏ và cũ kỹ đặt ở phòng bảo quản dưới tầng hầm bảo tàng là nơi ông ngồi làm việc.

Hơn 80 tuổi nhưng ông có số lượng công việc còn rất nhiều. Đi tìm kiếm, dịch tư liệu, ghi chép và viết sách… mỗi ngày của ông cứ xoay vòng cho từng đó việc. Nhiều cuốn sách về Bác Hồ của Bảo tàng Hồ Chí Minh đều có bàn tay đóng góp của ông.

Với ông Trịnh Ngọc Thái, việc dịch những tư liệu có bút tích của Bác Hồ còn là một duyên nợ. 51 năm về trước, ông Thái chính là phiên dịch trong các buổi làm việc chung của luật sư Loseby khi ông sang VN theo lời mời của Bác. “Điều thú vị khi dịch cho ông Loseby chính là cung cách nói chuyện của Bác với ông luật sư tự nhiên như người một nhà. Bác thường đến không báo trước và ở lại chơi rất lâu. Đi đâu Bác cũng giới thiệu ông luật sư là ân nhân của Bác, dù trong cuộc gặp với công nhân hay học sinh”, ông Thái nhớ lại.

HÀ HƯƠNG

___________

Câu chuyện về 1.000 ngày nghiên cứu, tìm kiếm của một cán bộ ngoại giao Việt Nam ở Thái Lan để dựng lại chặng hành trình của Bác trên đất Thái.

Kỳ tới: 1.000 ngày trên đất Thái

tuoitre.vn

Ngày 1-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi

Ngày 1-6-1922, trên Báo “L’ Humanité” (Nhân Đạo), Nguyễn Ái Quốc viết bài “Bình đẳng”, mở đầu bằng câu: “Để che đậy sự xấu xa của chế độ bóc lột, giết người, chủ nghĩa tư bản thực dân luôn luôn điểm trang cho cái huy chương mục nát của nó bằng những châm ngôn lý tưởng: Bác ái, bình đẳng”.

Ngày 1-6-1946, máy bay từ Pegou (Miến Điện) chở Chủ tịch Hồ Chí Minh bay tiếp 1.093km rồi hạ cánh xuống thành phố Calcuta của Ấn Độ. Nhà cầm quyền Anh và Lãnh sự Pháp đã tiếp đón đoàn lưu lại đây trong 2 ngày.

Ngày 1-6-1947, Báo “Sự Thật” đăng bài “Cán bộ tốt và cán bộ xoàng” của Bác (ký bút danh A.G), viết về công tác cán bộ: “Kháng chiến là một lò đúc cán bộ. Nơi nào mà cán bộ cấp trên biết lựa chọn dìu dắt thì có nhiều cán bộ mới nảy nở và công việc phát triển… Kháng chiến lại là một viên đá thử vàng đối với cán bộ”. Bài báo kết luận: “Cán bộ mà lên mặt quan cách mạng thì mọi việc đều lủng củng. Cán bộ mà biết làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, thì việc gì cũng mĩ mãn. Những đồng chí cán bộ, phải gắng tiến lên mãi. Những ông cán bộ xoàng, xin mau sửa đổi”.

Ngày 1-6-1949, Báo Cứu Quốc đăng tiếp bài “Thế nào là Liêm?” của Bác (ký bút danh Lê Quyết Thắng). Bài báo phân tích: “Liêm là trong sạch, không tham lam. Ngày xưa dưới chế độ phong kiến, người làm quan không đục khoét dân, thì gọi là Liêm… Ngày nay, nước ta là Dân chủ Cộng hòa, chữ Liêm có nghĩa rộng hơn là mọi người đều phải Liêm… Có Kiệm mới Liêm được. Vì xa xỉ mà sinh tham lam… Cụ Khổng Tử nói: “Người mà không Liêm, không bằng súc vật”… Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”. “Quan tham vì dân dại”. Nếu dân hiểu biết, không chịu đút lót thì “quan” dù không liêm cũng phải hóa ra Liêm… Pháp luật phải ra tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ bất liêm ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì. Mọi người phải nhận rằng tham lam là một điều xấu hổ, kẻ tham lam là có tội với nước với dân… Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ…”.

Ngày 1-6-1947, lần đầu tiên Bác viết “Thư gửi thiếu nhi toàn quốc”, trong đó người lãnh đạo cuộc kháng chiến đã hứa với các cháu: “Đến ngày đánh đuổi hết giặc Pháp, kháng chiến thành công thì Bác cùng Chính phủ và các đoàn thể cũng cố gắng làm cho các cháu đều được no ấm, đều được vui chơi, đều được học hành, đều được sung sướng”, nên cứ đến ngày Quốc tế Thiếu nhi 1- 6 hàng năm, Bác Hồ đều có thư gửi các cháu thiếu nhi Việt Nam và thế giới. Ngày 1-6 cuối cùng trong cuộc đời (1969), Bác viết bài báo “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng”, khẳng định: “Thiếu niên và nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà. Vì vậy chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Hồ Chí Minh và chặng đường trên nước Mỹ trong cuộc hành trình 30 năm ra đi tìm đường cứu nước

Bến cảng Sài Gòn- nơi người thanh niên yêu nước Nguyền Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước ngày 05/6/1911. Ảnh: Tư liệu

Yên ả và thanh bình là ước mơ ngàn đời của dân tộc chúng ta. Để giữ vững bờ cõi, bảo vệ non sông gấm vóc và tồn tại giữa một thế giới bạo tàn, từ bao đời nay, người Việt Nam đã phải liên tục gồng mình để chống lại nạn ngoại xâm. Đã có biết bao dân tộc bị diệt vong trong suốt chiều dài của lịch sử nhân loại. Kiếp nô lệ cam chịu chưa bao giờ được dân ta chấp nhận. Đời nào cũng vậy, sự quật cường đã giúp chúng ta ngẩng cao đầu.

Cuối thế kỷ XIX, cả phương Đông chìm trong cơn đại hồng thủy của Chủ nghĩa thực dân đế quốc. Sự bất công, điêu tàn, uất hận bao phủ lên bầu trời của quê hương, từ mọi ngóc ngách của xóm làng đến chốn kinh thành hoa lệ. Cũng như bao đời trước, đất nước mòn mỏi trông chờ những đứa con ưu tú, những vị anh hùng. Đó là những Thánh Gióng, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung…. Họ là niềm tự hào, là vẻ đẹp, là khúc tráng ca trong bản hợp xướng bi hùng về sự trường tồn và bất tử của dân tộc. Lần này, người anh hùng không phất cờ từ trong dân giã hay từ chốn cung đình mà là bắt đầu từ một chuyến ra đi, không phải là để cầu cứu ngoại bang mà là để tìm chân lý, mong trả lại sức mạnh, sự tự do vốn có của dân tộc. Cuộc hành trình của Người là thiên anh hùng ca huy hoàng và vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Trong suốt chiều dài của cuộc hành trình, nước Mỹ là chặng đường dừng chân tuy ngắn ngủi của Người nhưng nơi đây thực sự đã giúp Người nhận thức một cách sâu sắc hơn về bản chất của chủ nghĩa tư bản, nỗi thống khổ của nhân dân lao động bị áp bức trên toàn thế giới trên hành trình tìm ra con đường giải phóng dân tộc.

Cậu bé Nguyễn Sinh Cung sinh ra ở làng Nam Đàn năm 1890. Xuất thân từ một gia đình nhà giáo nghèo nhưng cả quê nội Kim Liên và quê ngoại Hoàng Trù đều là những vùng đất hiếu học, khoa cử nên cậu bé Nguyễn Sinh Cung được thừa hưởng một nền giáo dục truyền thống, tốt đẹp từ cả bố và mẹ. Thân sinh của Bác, cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc có ảnh hưởng trực tiếp đến Người bằng vốn học vấn uyên thâm, một trái tim yêu nước thương dân, một đức tính khiêm tốn, giản dị, sống gần gũi, gắn bó với nhân dân lao động. Mẹ của Bác, bà Hoàng Thị Loan chính là người đã khai tâm cho con trai bằng những bài học chữ Nho về triết lý ở đời trước tuổi cắp sách tới trường. Như vậy, từ thuở thiếu thời cho đến tuổi trưởng thành, Người đã nhận được sự giáo dục và nuôi dưỡng truyền thống nhân ái của dân tộc: Thương người, thương dân, là khát vọng có một cuộc sống tự do, no ấm, hạnh phúc. Chính chủ nghĩa yêu nước dạt dào tình nhân ái đó đã nhem nhóm trong trái tim Người một ý chí quyết ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân.

Chuyến hành trình dài 30 năm của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành trở thành chuyến ra đi lạ lùng, vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc. Theo dòng thời gian, nó hòa vào ký ức dưới hình ảnh con tàu Đô đốc Latusơ Tơrêvin rời Bến cảng Sài Gòn ngày mồng 5/6/1911 mang theo chàng trai 21 tuổi quả cảm, dưới tên gọi Văn Ba, vượt trùng dương bao la, quyết đi tới những chân trời xa lạ “xem xét họ làm như thế nào, để trở về giúp dân tộc”.

Những trang hồ sơ còn lại đã trở thành tư liệu quý báu, ghi dấu ấn một phần những gì diễn ra cách đây gần một thế kỷ trong cái đêm dài nô lệ ấy của đất nước. Một chuyến ra đi khát khao tìm hiểu thế giới, nung nấu ý chí đổi đời cho đất nước bằng một trái tim nồng nàn, một tâm hồn cao cả, một ước nguyện mãnh liệt bắt đầu từ hai bàn tay trắng và những công việc nhọc nhằn gian lao của người phụ bếp. Đó là chuyến ra đi đầy chất phiêu lưu của một nhà cách mạng trẻ tuổi. Trước mặt không chỉ là một biển cả mênh mông sóng nước, mà còn là cả một biển đời sâu thẳm đầy sóng gió. Sau lưng là hình ảnh quê hương đang quằn quại trong đau thương, mong ngóng ngày trở về.

Tượng Nữ thần Tự do - biểu tượng của nước Mỹ. Ảnh: Internet.

Khoảng cuối năm 1912, Nguyễn Tất Thành đã tới miền Đông nước Mỹ trên chiếc tàu Latusơ Tơrevin từ Pháp, vòng qua Châu Phi, vòng sang châu Mỹ rồi tới NewYork. Đi qua hàng loạt quốc gia của cả 3 Châu lục Âu, Phi, Mỹ. Khi tới thăm tượng Nữ thần Tự do ở Mỹ, chàng trai trẻ đã ghi lại những dòng cảm tưởng như sau: “Ánh sáng trên đầu Thần Tự do tỏa rộng khắp trời xanh, còn dưới chân Thần thì người da đen bị chà đạp. Bao giờ thì người da đen mới hết bị chà đạp? Bao giờ thì người da đen và người phụ nữ mới có bình đẳng? Bao giờ mới có sự bình đẳng giữa các dân tộc?”. Thật ra cho tới lúc này, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã nắm được bản chất khái quát của thế giới hiện tại, đó là thiểu số người giàu cai trị và áp bức người nghèo. Các nước giàu mạnh xâm lược, thống trị và đàn áp các nước nhược tiểu. Bạo lực, bất công, bóc lột thay cho từ “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” bởi đó chỉ là những ước mơ xa vời. Bằng con mắt tinh đời và trái tim nhạy cảm, chàng trai đã thấu hiểu được lòng dạ sói lang của nước Mỹ tư bản. Dưới gầm trời này, giai cấp cần lao chỉ có thể sống đời nô lệ dưới sự đày đọa của đồng loại giàu có, tham lam, độc ác và bạo tàn, các dân tộc bị áp bức chỉ có thể quằn quại, rên xiết dưới gót giày của kẻ xâm lược. Giá trị nhân văn của Cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ đã bị phản bội ngay từ khi mới ra đời. Xã hội Mỹ lúc bấy giờ không thể giải phóng được dân chúng và các dân tộc bị áp bức khỏi những bất công mà chỉ thay đổi xiềng xích này bằng xiềng xích khác.

Khu Harlem thuộc bang Georgia – nơi Nguyễn Tất Thành hay lui tới được coi là “cái đáy” của nước Mỹ – nơi bộc lộ rõ nhất bản chất của xã hội tư bản. Sự bần cùng ở khu vực người da đen vẫn hiện lên rất rõ như một minh chứng về sự tương phản giàu nghèo mạnh mẽ chẳng khác gì ở Việt Nam. Giáo sư Meri Ratner, Chủ tịch Viện nghiên cứu Mác ở NewYork đã có nhiều năm nghiên cứu về Hồ Chí Minh, đã từng nói: “Hồ Chí Minh đã học hỏi được nhiều từ trong những ngày ở nước Mỹ. Qua những tác phẩm viết về những cuộc hành trình của người da đen, có thể thấy Hồ Chí Minh đã nhận thấy sự tàn bạo của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Hồ Chí Minh là một người nhạy cảm, đến từ một nước thuộc địa, trải nghiệm thực tiễn trong một xã hội chủ nghĩa thực dân; là một trong những người đầu tiên không phải là người Mỹ viết về nạn phân biệt chủng tộc, về chủ nghĩa thực dân, xã hội tư bản. Ở Boston, Người thấu hiểu những nỗi thống khổ của người nghèo không có việc làm, không thể có được một cuộc sống theo đúng nghĩa của nó. Do đó Người cũng đã nhận ra được những vấn đề liên quan đến giai cấp, Người bộc lộ sự cảm thông đối với những số phận thống khổ trong xã hội, những người bị bóc lột”.

Khu Harlem - nơi được mệnh danh là “Black NewYork” do tập trung nhiều người dân da đen sinh sống nhất nước Mỹ. Ảnh: Internet.

Nguyễn Tất Thành tìm hiểu rất nhiều về hoàn cảnh của người da đen ở Mỹ, nhất là phong trào đòi nhân quyền kéo dài đã gần 300 năm mòn mỏi ngay từ khi họ mới được đưa từ Châu Phi sang dưới thân phận nô lệ. Có thể tạm chia xã hội Mỹ lúc bấy giờ thành các nhóm sau đây: Trên cùng là bọn thống trị và nhà giàu, tiếp đến là lớp trung lưu da trắng, dưới là dân lao động da trắng hoặc gốc Âu, dưới cùng của đáy xã hội là dân lao động gốc Phi (không kể những dân da đỏ bản địa bị cướp hết đất và dồn vào rừng núi). Dưới con mắt của Nguyễn Tất Thành, trật tự xã hội ấy sẽ bất di bất dịch theo đúng bản chất của nó. Đó chính là một trong những kết luận sáng suốt nhất của Hồ Chí Minh trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Số phận bi thảm sau này của nhà lãnh tụ tinh thần da đen Martin Luther King là một ví dụ minh chứng cho những điều đó. Một cửa xã hội rõ ràng không có lối ra mặc dù phong trào đấu tranh liên tục diễn ra và mạnh mẽ? Một đất nước như thế làm sao có thế giúp được một nước nhược tiểu như nước ta thoát khỏi vòng nô lệ không kể sau này nó còn trút hàng triệu tấn bom và chất độc xuống hủy hoại quê hương, tàn sát đồng bào ta, nhân dân ta một cách dã man, ghê rợn hơn cả giặc Pháp.

Hình ảnh Tòa thị chính của Thành phố Philadelphia.Ảnh: Internet.

Thủ đô Philađenphia – Thủ đô đầu tiên của nước Mỹ, nằm giữa Washington và Bantimo chính là điểm đến tiếp theo của Người trong cuộc hành trình trên nước Mỹ. Là nơi khởi nguồn của cuộc cách mạng đã đưa đến nền độc lập, Philadelphia đóng vai trò then chốt trong lịch sử lập quốc của Hoa Kỳ. Tại Hội trường Độc Lập vào ngày 04/7/1776, đã diễn ra cuộc họp đầu tiên của Quốc hội để thông qua bản Tuyên ngôn độc lập và dự thảo Hiến pháp Hoa Kỳ. Tác giả chính của những văn kiện này chính là Thomas Jefferson.Giáo sư Sophie Quinn Judge – một nhà nghiên cứu về Châu Á, tác giả của cuốn sách nổi tiếng “Hồ Chí Minh – những năm tháng đã qua” đã viết : “Hồ Chí Minh đã viết rất nhiều bài báo cho Quốc tế cộng sản, qua đó có thể thấy Người đã nhìn thấy rõ sự bất công trong xã hội Mỹ. Người cũng nhận thấy rõ nhiều vấn đề đã được nêu trong Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp của nước Mỹ. Trong hoạt động chính trị, Người cũng đã nghiên cứu kỹ về hình thái của xã hội Mỹ cùng với hình thái xã hội của Liên Xô và nhiều nước khác được chia thành 2 nhóm: Các nước bóc lột và các nước bị bóc lột. Đó có thể là lý do vì sao Hồ Chí Minh đã đưa một số nội dung của Tuyên ngôn độc lập nước Mỹ và Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam vào ngày 02/9/1945. Nhưng có thể khẳng định một điều, Hồ Chí Minh là một người có sự nhạy cảm và sự nhận biết tinh tế về chính trị để phân biệt những mặt tích cực và tiêu cực của hình thái xã hội Mỹ. Và Người đã nhận thức được một vấn đề quan trọng: Nước Mỹ không thể giúp Việt Nam bảo vệ quyền lợi dân tộc.”

Khi đó, Người hiểu rằng, chế độ xã hội dựa trên lợi nhuận không thể giúp các dân tộc thuộc địa giải quyết vấn đề của mình. Nhân dân lao động ở Mỹ lúc đó đã có chút nhận thức về vấn đề giai cấp; phong trào cộng sản, phong trào dân tộc cũng đã diễn ra một cách mạnh mẽ. Người đã tham gia thảo luận với nhiều chủ đề như : “Điều gì đang xảy ra ở phương Tây?”; “Sự cần thiết phải có một chế độ xã hội khác”; “Sự cần thiết của độc lập dân tộc”… Qua việc tìm hiểu sự đối xử dã man đối với người da đen, Hồ Chí Minh nhận thấy rõ bản chất của chủ nghĩa tư bản. Cũng trong thời gian kiếm sống cùng khổ với người dân lao động, Người nhận ra khoảng cách ngày càng giãn ra giữa tầng lớp người giàu và người nghèo và chính điều đó đã thôi thúc Người đến với cuộc đấu tranh vì quyền lợi chính đáng của người lao động. Họ cần thức ăn, nhà ở, được lao động và hưởng thụ văn hóa. Đối với nhiều người Mỹ, Hồ Chí Minh thực sự đã trở thành biểu tượng cho sự đấu tranh công bằng, bình đẳng và sự tiến bộ xã hội.

Khách sạn Omni The Packer House ở Thành phố cảng Boston (nằm phía Tây bang Massachusetts) cũng là nơi Bác đã từng sống và làm việc. Tại khách sạn này, Bác đã từng là một người thợ làm bánh. Hiện nay, gian chế biến bánh ngọt dưới tầng hầm vẫn giữ nguyên chiếc bàn đá bị sứt mẻ một góc từ khi Bác còn làm việc không thay mới cũng không sửa chữa như để kỷ niệm những tháng ngày của một vĩ nhân cách nay cả thế kỷ.

Khách sạn Omni The Packer House ở Thành phố cảng Boston - nơi Bác đã từng là một người thợ làm bánh làm việc tại đây năm 1913. Ảnh: Internet.

Bản chất cường quyền và bành trướng của chính quyền nước Mỹ đã được Nguyễn Tất Thành phát hiện và khẳng định ngay từ khi Người đặt chân lên đất nước này trong cuộc hành trình tìm đường cứu nước của mình, không phải đợi cho tới khi nước này viện trợ cho Pháp xâm lược Việt Nam, hay khi điều khiển chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm “lê máy chém” đi khắp miền Nam Việt Nam tàn sát, giết hại đồng bào, hay “rải thảm bom” B52 xuống Hà Nội năm 1972. Chính thiên tài Hồ Chí Minh đã cảnh báo được mầm mống tai họa đối với thế giới từ rất sớm, ngay tại mảnh đất mà nó mới manh nha. Đó là sự nguy hiểm của sức mạnh khi nó đồng hành với khao khát quyền lực, của cải và lãnh thổ. Bài học muôn đời này rất dễ thấm nhưng cực khó để làm theo. Thông điệp đó thực sự là một di sản bởi lý tưởng về tự do cho nhân loại không bao giờ được thực hiện bởi bàn tay của những kẻ chà đạp lên tự do của người khác.

Hành trình trên nước Mỹ đã góp phần quan trọng cho sự trưởng thành về tư tưởng nhận thức và tâm hồn của nhà cách mạng trẻ tuổi Nguyễn Ái Quốc. Sự thống trị hà khắc, nỗi thống khổ khôn cùng với cảnh nhân phẩm và cuộc sống bị chà đạp thô bạo đã làm quặn đau trái tim nhân hậu của Người; đồng thời bộc lộ bản chất rõ ràng của xã hội tư bản cùng Chủ nghĩa thực dân tàn bạo mà nó sinh ra. Cũng từ chuyến hành trình trên nước Mỹ này, tình thương yêu đồng loại cùng cảnh ngộ không phân biệt quốc gia, dân tộc càng nồng nàn trong trái tim của Người, góp phần tạo nên phẩm chất sáng ngời về tinh thần Quốc tế cộng sản của Nguyễn Ái Quốc được cả thế giới khâm phục và kính trọng. Nó cũng góp phần tạo nên tính kiên định cách mạng, ý chí đấu tranh không mệt mỏi cho sự nghiệp giải phóng con người và giải phóng dân tộc mà Bác Hồ đã theo đuổi trong suốt cuộc đời gian lao, vĩ đại của mình./.

Hồng Vượng

bqllang.gov.vn

Ngày 3-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 3-6-1911, Nguyễn Tất Thành chính thức được nhận việc tại tàu Đô đốc Latouche Tréville của Hãng vận tải hợp nhất, với cái tên mới là Văn Ba.

Ngày 3-6-1926, từ Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc gửi báo cáo cho Quốc tế Cộng sản về những công việc đã làm kể từ khi tới đây như tổ chức một tổ bí mật, một Hội Liên hiệp nông dân của những đồng bào Việt Nam sống tại Xiêm (Thái Lan), một Tổ thiếu nhi, một Tổ phụ nữ cách mạng, một Trường huấn luyện chính trị và xuất bản tờ báo Thanh Niên.

Báo cáo cũng nhắc đến Hội Liên hiệp các thuộc địa ở Paris, về hai tờ báo “Le Paria” (Người Cùng khổ), “Việt Nam Hồn” và yêu cầu được cung cấp báo chí, tài liệu tuyên truyền.

Ngày 3-6-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Chandernagore, một thuộc địa của Pháp trên đất Ấn Độ, thiết tiệc Lãnh sự Pháp và gặp gỡ kiều bào. Trả lời một tờ báo lớn ở Calcuta về vấn đề “Liên bang Đông Dương” và “Liên hiệp Pháp”, Chủ tịch nước Việt Nam nói rõ quan điểm: “Thực là một sự mỉa mai nếu lại đặt cho Đông Dương một viên toàn quyền, song tôi hy vọng rằng cuộc đàm phán chính thức ở Paris sẽ có kết quả tốt…Việt Nam không có tham vọng gì về đất đai của hai nước láng giềng. Hiện giờ, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và hai nước đó chưa có”.Về cuộc xung đột Pháp – Xiêm, nhà lãnh đạo Việt Nam cho rằng“Việc đó thuộc thẩm quyền của Pháp” và bày tỏ cảm tình đối với đất nước Ấn Độ.

Cùng ngày, ở trong nước, Báo Quyết Thắng của Việt Minh Trung bộ in tại Thuận Hóa (Huế) đăng bức thư của Bác gửi Trại nhà nghèo tỉnh Quảng Ngãi để cảm ơn những bức tranh thêu và thư của các trại viên tặng. Thư viết: “Trước hết, tôi cám ơn tấm lòng thân ái của anh em đối với tôi. Hai là tôi phải khen rằng anh em thêu rất khéo. Bức thêu đó đã chứng tỏ rằng: Thủ công mỹ nghệ của nước ta mai sau chẳng những có thể tranh đua mà lại có thể tranh giải nhất của thủ công mỹ nghệ trong thế giới… Tôi ao ước rằng nhờ sự cần kiệm của anh em “Trại nhà nghèo” sẽ mau tiến bộ thành “Trại nhà khá”, rồi dần dần thành “Trại nhà giàu” làm kiểu mẫu cho anh em khác”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn