Tag Archive | Lãnh tụ vĩ đại

Kỷ niệm của người đội viên du kích dũng cảm bốn lần được gặp Bác Hồ

Ông Hoàn cùng các đội viên chụp ảnh lưu niệm nhân dịp 55 năm thành lập Đội Thiếu niên du kích Đình Bảng

(ĐCSVN)- Ông Nguyễn Thạc Hoàn, ở Đình Bảng (Từ Sơn – Bắc Ninh) tham gia Đội Du kích Thiếu niên Đình Bảng khi mới 14 tuổi, sau đó đã trở thành đội trưởng của đội. Mưu trí, dũng cảm, ông đã không ít lần lập được những chiến công hiển hách và nhận được nhiều phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước. Nhưng vói ông, bốn lần vinh dự gặp Bác, trực tiếp nghe Bác dạy bảo chính là phần thưởng cao quý nhất.

Người đội trưởng mưu trí.

Sinh năm 1935, ở vùng quê bị địch chiếm đóng, có lòng yêu nước nồng nàn và sớm được giác ngộ, mới 12 tuổi, cậu bé Nguyễn Thạc Hoàn đã tham gia vào đội liên lạc của du kích xã. Đến năm 14 tuổi đã trở thành đội viên Đội Du kích Thiếu niên Đình Bảng.

Đội Du kích Thiếu niên Đình Bảng ngày đó được giao nhiệm vụ thâm nhập vào những nơi địch chiếm đóng để lấy thông tin, nắm tình hình địch rồi thông báo cho lực lượng của ta. Ông Nguyễn Thạc Hoàn nhớ lại: Những ngày đầu, ông vào đồn lân la làm quen và giặt hộ quần áo cho một sỹ quan Pháp tên Sác-lơ. Khi đã quen, ông làm đủ mọi việc như: Dọn dẹp, nấu ăn, bê nước trong các hội nghị cho chúng. Vì vậy, ông đã lấy được rất nhiều thông tin quý giá cho cách mạng.

Năm 1950, ông được tín nhiệm trở thành Đội trưởng Đội Du kích tThiếu niên Đình Bảng. Với nhiệm vụ quan trọng trọng là giữ liên lạc giữa các tổ Quân Báo, thu thập, xác định thông tin một cách chính xác sau đó chuyển về vùng du kích. Lúc này, ông hóa trang thành cậu bé cắt tóc mở cửa hiệu ngay cạnh bốt địch. Hàng ngày, vừa cắt tóc vừa nghe ngóng thông tin từ binh lính và sỹ quan địch, báo cáo lại cho cách mạng.
Hồi ức lại những năm tháng gian khổ mà hào hùng, ông kể: “Cắt tóc vừa làm nhiệm vụ lại kiếm được tiền, tôi để dành cho đội du kích thiếu niên mua sắm những thứ cần thiết để hoạt động. Có lần thấy địch nhập về kho mấy xe hòm thuốc súng, chúng tôi bàn nhau lấy trộm về cho bộ đội. Chúng tôi lấy tiền để dành mời bọn lính coi kho đi uống bia say mèm, sau đó đột nhập vào kho lấy được hơn 10 thùng thuốc súng mà chúng không hề hay biết gì”

Với cương vị Đội trưởng Đội Du kích Thiếu niên, ông từng gặp rất nhiều nguy hiểm. Ông kể về một lần thoát chết mà ông vẫn nhớ như in: “Vào cuối năm 1952, tôi đang mang các tài liệu quan trọng về vùng du kích thì địch phát hiện. Chúng ráo riết đuổi theo. Tôi cắm đầu chạy trong làn đạn chúng bắn đuổi sát sạt bên người. Trước tình thế quá nguy hiểm, sờ thấy bên sườn còn quả lựu đạn, tôi bèn giật nụ xòe thả ngay dưới chân, rồi gắng sức chạy thêm một đoạn, lao đến nằm sau một mô đất. Lúc bọn giặc đuổi đến chỗ lựu đạn thì nó phát nổ. Thằng chết, thằng bị thương, chúng kêu gào ầm ĩ. Nhân cơ hội đó, tôi bèn lẩn vào các bụi rậm và trốn thoát”

Với các hoạt động mưu trí, dũng cảm, Đội Du kích Thiếu niên Đình Bảng đã lập nên nhiều chiến công vang dội, đóng góp vào những trận thắng lớn của quân ta. Điển hình như trận chống càn Tiên Du – Quế Võ, ta tiêu diệt hàng mấy trăm tên địch, thu nhiều vũ khí, khiến địch hết sức khiếp sợ.

Rời Đội Du kích Thiếu niên Đình Bảng, ông được cử đi học lớp chỉnh quân Chính trị ở Việt Bắc. Sau đó ông tham gia cuộc phát động giảm tô ở Cao Bằng, Yên Bái, Thái Nguyên, Phú Thọ, lấy lương thực chi viện cho chiến trường. Hòa bình lập lại, ông làm việc tại Ban Chỉ huy Quân sự địa phương và tham gia giảng dạy tại Trường Trung cấp Nông Lâm của tỉnh Bắc Ninh. Lúc này, ông lại đem hết nhiệt huyết và những kiến thức của mình để truyền cho thế hệ trẻ, phục vụ công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.

Đội trưởng Nguyễn Thạc Hoàn cùng đồng đội tìm lại hòm thư quân báo bí mật tại khu Lăng Lý Thái Tổ.

Bốn lần vinh dự gặp Bác Hồ

Với những đóng góp của mình cho cách mạng, ông Nguyễn Thạc Hoàn trở thành niềm tự hào của nhân dân Đình Bảng và được Đảng, Nhà Nước trao tặng Huân chương Chiến công hạng Nhì (năm 1952), Huân chương Chiến công hạng Ba (năm 1953). Nhưng theo ông, bốn lần được gặp Bác Hồ mới chính là phần thưởng lớn nhất trong cuộc đời ông.

Về lần gặp Bác thứ nhất, ông kể: Vào tháng 5/1952, tôi được cử đi dự Đại hội Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất tại chiến khu Việt Bắc. Tôi vừa đến, đã được gặp Bác ngay. Bác bắt tay tôi, khen ngợi Đội Du kích Thiếu niên Đình Bảng. Bác nói Bác tự hào về những thiếu niên nhỏ tuổi nhưng gan dạ, anh dũng.

Lần thứ hai, ngày 12/11/1954, ông lại được gặp Bác ở Hà Nội sau ngày giải phóng Thủ đô. Ông Hoàn nhớ lại: “Bác đến gần chỉnh sửa áo quần cho tôi. Tôi đã rất cảm động khi nghe Bác dặn: “Trong cuộc kháng chiến chống Pháp các cháu đã chiến đấu dũng cảm, là con em của Đình Bảng có truyền thống cách mạng, giờ hòa bình các cháu vẫn phải ra sức rèn luyện, học tập để bảo vệ Tổ quốc, làm giàu cho quê hương, Bác tin tưởng ở các cháu”.

Lần thứ ba gặp Bác đã để lại những kỷ niệm sâu sắc nhất trong ông. Đó là vào ngày Quốc tế Thiếu nhi 1/6/1955, khi ông trực tiếp dẫn 14 thiếu niên xuất sắc của Đội Du kích Thiếu niên Đình Bảng vào Phủ Chủ tịch gặp Bác Hồ cùng Bác Tôn, Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông sung sướng khoe: “Trong cuộc đời mình, tôi chưa bao giờ vui như thế. Bác phát kẹo cho chúng tôi. Rồi Bác tự tay bóc kẹo cho từng cháu dưới con mắt ngạc nhiên của tất cả mọi người. Sau đó, Bác cầm tay chúng tôi thành vòng tròn nhảy múa rất vui. Khi về, Bác còn gửi 3 cân kẹo cho chúng tôi làm quà cho các bạn ở nhà”.

Đến ngày 2/9/1955, lần thứ tư, ông lại vinh dự được đứng bên Bác trên kỳ đài tại Quảng trường Ba Đình lịch sử nhân dịp kỷ niệm trọng thể 10 năm Ngày Quốc khánh của dân tộc.

Chia tay chúng tôi, ông Hoàn tâm sự: “Cuộc đời trôi qua thật nhanh. Giờ đây, tôi đã là một cán bộ hưu trí, nhưng trong tâm trí tôi không bao giờ quên ân tình sâu đậm của Bác. Tôi vẫn hằng răn dạy con cháu: Cố gắng học tập và lao động thật tốt, góp phần xây dựng quê hương đất nước ngày càng giàu đẹp như Bác Hồ mong đợi”./.

Theo http://www.cpv.org.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

“Người con Nga” 40 năm đi tìm hiện vật về Bác Hồ

Ngài Gladunov, người đã 40 năm đi sưu tầm tài liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, phát biểu tại buổi trao hiện vật về Bác

(Nguoiduatin.vn) – Chúng tôi tình cờ gặp ông Gladunov, Chủ tịch danh dự Hội Hữu nghị Nga – Việt trong buổi trao tặng hơn 100 hiện vật về Bác Hồ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. Người đàn ông năm nay đã hơn 80 tuổi, mái tóc bạc trắng khư khư ôm trên tay những bức ảnh, tài liệu về Bác.

Tâm sự với chúng tôi, ông Gla-du-nov cho biết: Ông đã từng bảy lần làm việc cùng Bác Hồ. Mặc dù đã cách những ngày tháng đặc biệt ấy gần nửa thế kỷ nhưng kí ức về Người vẫn còn theo ông mãi mãi.

Khóc khi lần đầu được gặp Bác Hồ

Trước mặt tôi là người đàn ông có dáng người to lớn, vạm vỡ, một người con của nước Nga nặng lòng với đất nước Việt Nam. Mặc dù đã ở cái tuổi “xưa nay hiếm” nhưng ông Gladunov vẫn còn minh mẫn đến lạ thường. Vì tình yêu, sự kính trọng với Bác, với nhân dân Việt Nam, từ nước Nga xa xôi, ông lặn lội đến đây để tận tay trao những kỷ vật của Hồ Chí Minh cho Bảo tàng Hồ Chí Minh lưu giữ.

Khi trao hơn 100 tài liệu về Bác cho lãnh đạo Bảo tàng, tay run run, giọng nghẹn ngào, ông Gladunov cho biết: “Tôi có vinh dự đặc biệt là đã nhiều lần được làm phiên dịch cho Hồ Chủ tịch và các vị lãnh đạo cấp cao khác của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Ngày ấy, tôi đảm trách cương vị là Vụ trưởng Vụ Đông Dương của Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và từng có thời gian làm Tham tán tại Đại sứ quán Liên Xô tại Việt Nam. Tôi nhớ, lần đầu tiên được gặp Bác tôi đã khóc. Trước mặt tôi là Chủ tịch Hồ Chí Minh, một con người kiệt xuất, tôi không ngờ mình lại được gặp, phiên dịch cho một con người vĩ đại đến vậy”. Nói đến đây, giọng ông như lạc đi. Ánh mắt của vị phiên dịch viên này bỗng nhiên sáng rực. Tôi cảm tưởng, ông đang được trở lại những ngày hạnh phúc đó.

Ông Gladunov kể lại về những ngày tháng lặn lội đi tìm những hiện vật về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng chất giọng trầm ấm, ông cho biết, do đã có quá nhiều kỷ niệm với đất nước Việt Nam, nặng lòng với những tài năng và đức độ của Bác Hồ, về nước, ông đã quyết tâm đi tìm bằng được những tài liệu về Hồ Chủ tịch. Được biết, những tấm ảnh và những bài báo, hiện vật trong bộ sưu tập của ông được tiến hành thu thập trải dài theo năm tháng từ những năm 60 của thế kỷ 20.

Suốt 40 năm ròng, ông đi khắp nước Nga để tìm lại những tác phẩm, tài liệu, lưu dấu của con người tài ba đất Việt. Vẫn biết rằng, để tìm được những cuốn tài liệu này là việc rất khó, nhiều khi ông đã nản chí nhưng nghĩ về những ngày tháng được gặp, làm việc cùng với Bác khiến ông lại tăng thêm quyết tâm. 40 năm, hơn 100 tài liệu về Người đó là phần thưởng xứng đáng dành cho một người con Xô viết nặng lòng với đất Việt.

Được biết, để nhanh chóng có được những tư liệu quý giá trên, ông Gladunov đã viết rất nhiều bài báo về những kỷ niệm với Bác Hồ để tham gia cuộc vận động sáng tác, quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và sưu tầm tư liệu, hiện vật về cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác ở nước ngoài. Chính những bài báo này đã được anh Nguyễn Quốc Hùng, Đặc phái viên của Báo Đời sống và Pháp luật, thuộc Hội Luật gia Việt Nam tại Liên bang Nga dịch sang tiếng Việt và được đăng tải trên Báo Đất nước của Đại sứ quán Việt Nam tại Liên bang Nga cũng như đăng một phần trên chuyên trang Hồ sơ sự kiện của Tạp chí Cộng sản.

“Một nửa trong tôi là dòng máu Việt”

Anh Nguyễn Quốc Hùng, Đặc phái viên Báo Đời sống & Pháp luật tại Liên bang Nga.

Lần đầu sang Việt Nam, Gladunov là một cậu sinh viên chưa tốt nghiệp Đại học Ngoại giao Nga (Khoa tiếng Việt). Vì nhiệm vụ đất nước giao phó, chàng trai trẻ này đã lên đường sang Việt Nam. Mặc dù trước đó, anh chỉ biết đất nước, con người Việt Nam qua những trang báo. Năm 1962, Gla-du-nov sang đất nước hình chữ S làm việc tại Đại sứ quán Nga. Chính từ đây, sự nồng hậu của con người Việt đã khiến Gladunov cảm thấy như đang được sống tại quê nhà.

Sau khi sang Việt Nam không lâu, biết mình sẽ được phiên dịch cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, chàng sinh viên mừng lắm, cả đêm chăm chú nhìn kim đồng hồ để đến sáng hôm sau được gặp vị lãnh tụ Việt Nam vĩ đại. Trước đó, anh chỉ biết đến Hồ Chủ tịch qua những “truyền thuyết” mà những thế hệ trước kể lại. Gần 40 năm trở lại đất nước này, trong ông vẫn giữ trọn những kỷ niệm. Ông vẫn nhắc lại hình ảnh chiếc áo dài, nón lá của những thiếu nữ Việt Nam. Những con phố thân quen mà ngày xưa ông thường đi lại.

Cầm trên tay những bức ảnh có chữ ký của Bác Hồ, Chủ tịch danh dự Hội Hữu nghị Nga – Việt xúc động cho biết: “Bộ sưu tập này thể hiện tình cảm sâu sắc không chỉ cá nhân tôi mà còn của những thế hệ nhân dân Liên bang Nga dành cho Bác Hồ vĩ đại cũng như dân tộc Việt Nam anh hùng. Tôi muốn trao bộ sưu tập này cho Bảo tàng Hồ Chí Minh để không phải chỉ có chúng tôi mà toàn thể nhân dân Việt Nam, cũng như những thế hệ thanh niên Việt Nam sau này có thể hiểu được và tự hào về những chặng đường lịch sử của dân tộc của họ. Để càng khâm phục và kính trọng Bác Hồ vĩ đại, tình hữu nghị lâu đời và thủy chung của hai dân tộc Nga-Việt”.

Lúc nhận tấm Giấy khen của Đảng uỷ Ngoài nước, khuôn mặt người mà tự nhận mình là “một nửa trong tôi là người Việt” này rạng rỡ. Đây là phần thưởng xứng đáng cho 40 năm miệt mài đi tìm “dấu chân” Bác. Anh Nguyễn Quốc Hùng cho chúng tôi biết: “Trong những năm trợ giúp ông Gladunov đi sưu tầm tài liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông có tâm sự với tôi rằng, đây là những “báu vật” đã gắn bó với ông nửa cuộc đời.

Ông muốn tặng cho Bảo tàng Hồ Chí Minh lưu giữ để thế hệ trẻ Việt Nam hiểu thêm về những việc làm của Bác ở nước ngoài. Việt Nam là đất nước chuộng hoà bình, luôn sản sinh ra những nhân tài kiệt xuất. Thế hệ trẻ hãy phấn đấu học tập theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh”.

Văn Chương
Nguồn: Báo điện tử của Báo Đời sống và Pháp luật.
Phương Thúy (st).

bqllang.gov.vn

Mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh

(Ảnh minh hoạ)

(TCTG) – Tư tưởng Hồ Chí Minh cho thấy tư duy sâu rộng của mối quan hệ chặt chẽ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo vệ Tổ quốc trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là tư tưởng quân sự, quốc phòng, an ninh, kháng chiến, mà kháng chiến bao giờ cũng đi liền với kiến quốc.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN

Triết lý Hồ Chí Minh về phát triển đất nước theo tinh thần “nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” chính là quy luật của cách mạng Việt Nam. Nội dung của quy luật này gồm học thuyết giải phóng và học thuyết phát triển, trong đó chứa đựng cả xây dựng và bảo vệ.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, gồm cả xây dựng kinh tế, chính trị (Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân) văn hóa, xã hội, đặc biệt là xây dựng con người mới. Trong nội dung xây dựng có cả bảo vệ Tổ quốc và là một cách tự bảo vệ có hiệu quả nhất. Bởi vì chỉ có dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh thì đất nước mới đứng vững được trước mọi sự chống phá điên cuồng của kẻ thù.

Bảo vệ Tổ quốc là quan điểm nhất quán, xuyên suốt trong sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh. Người đúc kết: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Ngay từ những ngày đầu trứng nước của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chủ tịch đã tuyên bố: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập”; “chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Để bảo vệ Tổ quốc XHCN, Người nhấn mạnh “chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của mỗi một người Việt Nam yêu nước. Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh cho thấy tư duy sâu rộng của mối quan hệ chặt chẽ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo vệ Tổ quốc trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là tư tưởng quân sự, quốc phòng, an ninh, kháng chiến, mà kháng chiến bao giờ cũng đi liền với kiến quốc. Xây dựng Đảng, Nhà nước chính là nhằm bảo vệ Đảng và Nhà nước, bảo vệ Tổ quốc. Bảo vệ Đảng, Nhà nước là phải tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Nhà nước. Trong xây có chống. Phải tập trung chống lại những thói hư tật xấu trong Đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm trong sạch bộ máy Đảng, Nhà nước. Chống cũng nhằm xây, và đó chính là phương thức hữu hiệu nhất để bảo vệ Đảng và chế độ.

Hồ Chí Minh đã sớm cảnh báo về những căn bệnh của Đảng cầm quyền. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, tệ quan liêu, nhũng lạm, lãng phí, thiếu tinh thần trách nhiệm, xa dân… của cán bộ đảng viên sẽ làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, là nguy cơ sống còn của Đảng, của chế độ. Theo Hồ Chí Minh, xây dựng lòng tin của nhân dân với Đảng chính là bảo vệ Đảng và chế độ. Một khi nhân dân đã mất lòng tin vào Đảng và Chính phủ là mất tất cả.

Bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa không có nghĩa chỉ chống kẻ thù xâm lược và các thế lực thù địch. Điều quan trọng nhất là chống giặc nội xâm, khó chiến thắng hơn giặc ngoại xâm. Chính chủ nghĩa cá nhân sẽ tạo ra loại kẻ thù không gươm không súng, vô ảnh vô hình nhưng vô cùng nguy hiểm. Nếu chúng ta không cảnh giác, loại kẻ thù nội xâm này sẽ làm tiêu tan chế độ này, đảng này bất cứ lúc nào bằng cách làm cho đảng viên, cán bộ tự diễn biến. Hồ Chí Minh dạy: “Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân” (1). Tư tưởng Hồ Chí Minh cho thấy không ai có thể bôi nhọ được chúng ta ngoại trừ chúng ta tự bôi nhọ; không ai có thể làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta ngoại trừ chúng ta tự thay đổi bằng chính tệ quan liêu, tham ô, tham nhũng, xa dân, vô cảm trước đời sống nhân dân, dẫn tới mất lòng tin của nhân dân. Quan điểm này thật sự chứa đựng hàm lượng khoa học và cách mạng trong tư duy Hồ Chí Minh về mối quan hệ hữu cơ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Các nội dung đó trong tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng quan điểm của Đảng về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bởi vì chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới không phải chỉ là vấn đề của quốc phòng – an ninh, tăng cường quốc phòng, an ninh mà là “phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội”.

Với tư duy mới mẻ đó, một lần nữa cần nhấn mạnh và khẳng định trong bảo vệ có xây dựng, trong xây dựng có bảo vệ; xây dựng chính là bảo vệ và bảo vệ nhằm tạo điều kiện cho xây dựng. Muốn bảo vệ Tổ quốc cần phải chống lại các cản lực, mà trở lực lớn nhất trên con đường phát triển của đất nước chính là sự thoái hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo.

Mối quan hệ giữa xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN trong giai đoạn hiện nay

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng trong khi khẳng định tiếp tục đổi mới toàn diện, mạnh mẽ theo con đường xã hội chủ nghĩa, đặc biệt chú trọng xử lý tốt các mối quan hệ, trong đó có mối quan hệ giữa xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Đây là một đòi hỏi tất yếu khách quan.

Lãnh tụ V.I. Lênin chỉ rõ: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ”(2). Từ khi nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên xuất hiện cho đến nay, nhiệm vụ xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN luôn luôn được nhận thức, quán triệt sâu sắc và thực hiện có hiệu quả.

Thắng lợi của cách mạng Việt Nam là thắng lợi của hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, cả nước đi lên CNXH và bước vào công cuộc đổi mới, Đảng ta càng ý thức sâu sắc sự gắn bó mật thiết giữa xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991 chỉ rõ: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta luôn luôn nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng” (3). Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa IX của Đảng ra Nghị quyết chuyên đề về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, tiếp tục khẳng định quan điểm kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nhấn mạnh trong quá trình thực hiện các phương hướng để đạt được mục tiêu khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta, phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn, trong đó có mối quan hệ giữa “xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”. Trong định hướng lớn về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, Cương lĩnh chỉ rõ: “Sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống kinh tế – xã hội là nền tảng vững chắc của quốc phòng an ninh. Phát triển kinh tế – xã hội đi đôi với tăng cường sức mạnh quốc phòng – an ninh. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng – an ninh, quốc phòng – an ninh với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế – xã hội và trên từng địa bàn”(4).

Theo tinh thần Đại hội XI, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là mối quan hệ hữu cơ, biện chứng, tạo thành một thể thống nhất, “tuy hai mà một, tuy một mà hai”. Bản chất của mối quan hệ này là sự gắn bó mật thiết giữa xây dựng và bảo vệ, trong xây dựng có bảo vệ, trong bảo vệ có xây dựng. Đảng ta đặt lên hàng đầu “sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống kinh tế-xã hội là nền tảng vững chắc của quốc phòng – an ninh”, nhưng lại xác định “tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân” (5). Quan điểm này cần được hiểu, đời sống kinh tế – xã hội là gốc của quốc phòng – an ninh; xây dựng kinh tế – xã hội là một phương thức hữu hiệu để bảo vệ Tổ quốc. Gốc này có vững chắc thì quốc phòng – an ninh mới vững. Biểu hiện của vững chắc là ổn định và phát triển. Mà muốn ổn định và phát triển, trong ổn định và phát triển cần có bảo vệ. Mặt hoạt động này là điều kiện của hoạt động kia và ngược lại. Bởi vì xây dựng và bảo vệ trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, cái tiến bộ và cái lạc hậu. Bảo vệ không chỉ là phòng ngừa hay chống lại, đánh trả. Chúng ta xây dựng lực lượng vũ trang chính quy, hiện đại, tinh nhuệ là để phòng ngừa, không phải răn đe; để sẵn sàng chiến đấu bảo vệ từng tấc đất của Tổ quốc nếu các thế lực thù địch có dã tâm muốn thôn tính nước ta.

Điều quan trọng là phải chăm lo xây dựng mọi mặt của đất nước ngày càng mạnh, ngăn chặn, đẩy lùi, khắc phục các nguy cơ về chính trị, kinh tế, đặc biệt là các vấn đề xã hội bức xúc, tạo môi trường hòa bình và ổn định. Nhiệm vụ hàng đầu có ý nghĩa sống còn là xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Bởi vì Đảng ta là một đảng cầm quyền. Sự vững mạnh hay yếu kém của Đảng liên quan đến vận mệnh của đất nước. Cách đây mười hai năm, trong bài viết Nêu cao danh hiệu Đảng Cộng sản Việt Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam”, Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng chỉ rõ: “Bọn thù địch chống phá ta bằng “diễn biến hòa bình”, chúng biết nhân dân ta là kiên cường không thể coi thường, chúng biết Đảng ta với chỗ mạnh và chỗ yếu có thể khai thác. Chúng chờ cơ hội. Điều đáng sợ là “diễn biến hòa bình” từ nội bộ Đảng ta” (6). Tại Đại hội XI Đảng ta nhấn mạnh: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp, cùng với sự phân hóa giàu nghèo và sự yếu kém trong quản lý, điều hành của nhiều cấp, nhiều ngành làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước”(7). Chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực khác chính là nhằm bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Xây cái tốt, đẩy lùi cái xấu theo tinh thần “phò chính trừ tà” là điều kiện vững chắc cho bảo vệ. Như vậy bảo vệ là một bộ phận hợp thành của xây dựng. Càng xây dựng tốt bao nhiêu, càng có điều kiện bảo vệ tốt bấy nhiêu. Xây dựng chính là tự bảo vệ; ngược lại bảo vệ tốt lại tạo điều kiện để xây dựng tốt. Một nấc thang của xây dựng gắn chặt với một nấc thang của bảo vệ; một nấc thang của bảo vệ lại tạo ra một thành quả của xây dựng, vì bảo vệ trong tiến trình xây dựng.

Mối quan hệ chặt chẽ giữa xây dựng và bảo vệ còn được thể hiện ở lực lượng xây dựng cũng là lực lượng bảo vệ và lực lượng bảo vệ cũng là lực lượng xây dựng, tức là toàn dân, toàn quân, cả hệ thống chính trị. Xây dựng không chỉ là việc riêng của kinh tế – xã hội, của dân sự mà cũng là câu chuyện của quốc phòng – an ninh. Củng cố quốc phòng – an ninh không phải chỉ là việc riêng của quốc phòng, của bảo vệ mà còn nhằm phục vụ cho phát triển kinh tế – xã hội, theo yêu cầu của phát triển kinh tế – xã hội.

Sự kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh mới của tình hình khu vực và thế giới, trước yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng nước ta trong giai đoạn mới được Đảng ta xác định trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế – xã hội và trên từng địa bàn. Đây là tư duy hết sức khoa học, thể hiện tính nhất quán chặt chẽ vừa xuyên suốt, vừa cụ thể trên cả hai mặt thời gian và không gian. Quan điểm này khắc phục những nhận thức hời hợt, chỉ thấy chiến lược mà không thấy cụ thể từng kế hoạch, từng quy hoạch, từng chính sách; chỉ thấy vĩ mô mà không quan tâm tới vi mô; chỉ thấy tầm quan trọng ở Trung ương mà không thấy vai trò trọng yếu của địa phương; chỉ thấy kinh tế mà không thấy quốc phòng – an ninh; chỉ thấy địa bàn này là ưu tiên kinh tế, địa bàn khác ưu tiên quốc phòng mà không thấy địa bàn nào cũng có cả kinh tế – xã hội – quốc phòng – an ninh,v.v..

Phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc một cách khoa học và cách mạng rằng, sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh chỉ có thể thắng lợi khi mà quốc phòng – an ninh được giữ vững, môi trường hòa bình được bảo đảm, tình hình chính trị ổn định. Từng giờ, từng phút, các thế lực thù địch tìm mọi cách chống phá chúng ta, không muốn cho chúng ta được sống trong hòa bình. Vì vậy phải quan tâm đúng mức, luôn luôn nêu cao cảnh giác đập tan mọi âm mưu và hành động chống phá của kẻ thù. Chỉ có như vậy thì mới có điều kiện để xây dựng đất nước. Bên cạnh đó, phải thấy rằng, chỉ khi kinh tế phát triển nhanh, bền vững, các lĩnh vực xã hội được bảo đảm thì nền độc lập của chúng ta mới được giữ vững. Những quan điểm chỉ muốn làm giàu về kinh tế bằng mọi giá, không quan tâm đến quốc phòng an ninh, bảo vệ Tổ quốc, cần phải được lên án mạnh mẽ.

Trong những năm tới, “nước ta vẫn đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp, không thể coi thường bất cứ thách thức nào. Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại. Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí là nghiêm trọng. Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những diễn biến phức tạp” (8). Vì vậy, muốn bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa thì phải tiếp tục nâng cao năng lực, hiệu quả lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới theo con đường xã hội chủ nghĩa theo tư tưởng Hồ Chí Minh./.

_____________________

(1) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H.1996, t.9, tr.291.
(2) – V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. CTQG, H.2005, t.37, tr.145.
(3) – ĐCSVN: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, H.1991, tr.10.
(4) – ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.CTQG, H.2011, tr.82.
(5) – ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, tr.82.
(6) – Tạp chí Cộng sản, số 10, tháng 5-1999 và Báo Nhân dân, ngày 15-5-1999.
(7) – ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, tr.173.
(8) – Sđd, tr. 185.

Theo PGS, TS. BÙI ĐÌNH PHONG
(tuyengiao.vn)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng của Bác về đánh giá cán bộ

Hầu như mọi người đều thuộc lòng lời dạy của Bác Hồ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”(1). Đó là một chân lý. Thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng ta từ ngày thành lập tới nay đã chứng minh sức sống bất diệt của chân lý đó.

Sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta trong giai đoạn hiện nay đang đứng trước những thời cơ “rồng mây gặp hội” và cả những “bão tố phong ba”, những nguy cơ, những thách đố ngặt nghèo. Hơn bao giờ hết chân lý “công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, càng phải trở thành ánh lửa soi sáng lương tri của toàn Đảng, của các cấp lãnh đạo, quản lý đất nước, trước hết là ở cấp chiến lược.

Cán bộ và công tác cán bộ từ lâu đã được coi là công việc quan trọng bậc nhất, việc làm thường xuyên trong công tác lãnh đạo của Đảng, trong đó việc đánh giá cán bộ giữ vai trò then chốt.

1. Đánh giá cán bộ nhằm mục đích gì?

Ở mỗi thời kỳ cách mạng đều có những mục tiêu cụ thể, phải hoàn thành những nhiệm vụ cụ thể. Vì vậy, Đảng vừa phải xác định cho đúng mục đích cuối cùng, thể hiện ở Cương lĩnh cách mạng (Cương lĩnh như ngọn cờ vẫy gọi, hải đăng chỉ đường, la bàn định hướng), vừa phải xác định được chương trình hành động trong giai đoạn 5 năm, 10 năm, 20 năm…

Căn cứ vào các nghị quyết đã được thông qua, những mục tiêu đã đề ra, những nhiệm vụ phải làm, những yêu cầu phải đạt để định rõ các tiêu chuẩn cán bộ cần phải có. Căn cứ vào kết quả thực hiện nghị quyết để đánh giá cán bộ.

Không xác định rõ chuẩn mực sẽ không thống nhất trong việc xem xét, kiểm sát và đánh giá cán bộ, sẽ dễ rơi vào chủ quan, cảm tính, thiên vị. Việc đánh giá cán bộ thực ra cũng là việc con người (dù là theo nguyên tắc tập trung dân chủ) đánh giá con người. Mà đã là con người thì ai cũng có những tình cảm riêng, các mối quan hệ riêng (tính tình, sở thích, họ hàng, bè bạn…). Đó là lẽ bình thường, là sự thật hiển nhiên không thể phủ nhận. Vậy thì cần phải đề ra các chuẩn mực khách quan (cụ thể, không chỉ dừng ở khái niệm chung) như cái thước đo, được xác định như là một chuẩn mực đo lường quốc gia. Hồ Chí Minh xác định “dùng cán bộ cốt để thực hành đầy đủ chính sách của Đảng và Chính phủ”(2). Đó là căn cứ khách quan, mà đã khách quan thì người (hoặc tập thể) khi đánh giá cán bộ phải phục tùng, phải vượt qua tình cảm riêng, quan hệ riêng.

Đường lối, nghị quyết, chính sách, pháp luật suy cho cùng cũng chỉ là những hệ chuẩn mực chung của từng thời kỳ. Trong tiến trình lịch sử, nó có thể được điều chỉnh. Lòng tin của dân đối với Đảng và Nhà nước là thước đo bản chất của một Đảng cách mạng chân chính, của Nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh khi y án tử hình Đại tá Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục Quân lương trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp đã chỉ rõ: Tội lớn nhất mà y phải nhận sự trừng phạt cao nhất của pháp luật là y đã hành động dẫn tới làm mất lòng tin của dân đối với Đảng và Chính phủ.

Dư luận chung cho rằng việc đánh giá cán bộ và xử lý một số vụ việc vừa qua có thể coi là tích cực, nhưng cũng còn không ít vụ việc chưa hẳn đã được đa số nhân dân đồng tình. Thiết nghĩ các đồng chí có trách nhiệm cần lắng nghe để hiểu thấu lòng dân, vì như Bác Hồ đã dạy “Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng.

Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”(3).

Mục tiêu của cách mạng, yêu cầu của nhiệm vụ và lòng tin của dân là một hệ giá trị để xác định mục đích của việc đánh giá, sử dụng cán bộ, trong đó lòng tin của dân là giá trị trung tâm và chi phối toàn bộ hệ giá trị.

2. Kiểm soát và chọn cán bộ làm công tác kiểm soát.

Như trên đã nói, việc đánh giá cán bộ là việc con người đánh giá con người. Nếu như mục đích là “cái thước đo” phải đạt chuẩn quốc gia thì người làm công tác đánh giá, kiểm soát (người cầm thước) cũng phải đạt chuẩn quốc gia. Để đánh giá đúng cán bộ thì việc cần phải làm trước tiên là làm tốt công tác kiểm tra và chọn người đảm trách tốt công tác kiểm tra (tổ chức – cán bộ và kiểm tra).

Hồ Chí Minh chỉ rõ “Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy; muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không, muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện chỉ có một cách khéo kiểm soát.

Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi.

Song muốn kiểm soát có kết quả tốt, phải có hai điều: Một là việc kiểm soát phải có hệ thống, phải thường làm. Hai là người đi kiểm soát phải là những người rất có uy tín”(4).

Thực tiễn cho thấy cả hai điều trên, chúng ta đều đã làm nhưng chưa thường xuyên, chưa làm đồng bộ mang tính hệ thống và rất tiếc là còn không ít cán bộ đảm trách công tác kiểm tra, thanh tra đã mắc nhiều khuyết điểm, thậm chí có người đã bị lợi ích cá nhân, vì đồng tiền mà tư túng, bao che, biến đen thành trắng.

Để đánh giá cán bộ đúng thì cần có cơ chế kiểm tra thường xuyên và phải có cán bộ kiểm tra có động cơ đúng đắn, phải có khả năng và dũng khí cách mạng. Không ai lúc nào cũng tốt, cũng đúng, cũng cứng rắn, đủ sức mạnh để vượt qua mọi cám dỗ. Vì vậy, phải tạo ra một cơ chế nhằm tăng sức mạnh của tập thể tiếp sức cho cán bộ, vừa bảo vệ được cán bộ, vừa nâng đỡ, động viên cán bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Việc kiểm tra cơ quan và cá nhân làm công tác kiểm tra cần phải được quy định thành chế độ công vụ nghiêm ngặt.

Có một thực tế cần chú ý là diện cán bộ thuộc cấp trên quản lý thường rất dễ rơi vào vòng ngoài của sự kiểm tra. Tổ chức cơ sở đảng nơi đồng chí đó công tác thường e dè, nể nang thậm chí tự ti, không dám kiểm tra tư cách, đạo đức, tác phong của cán bộ lãnh đạo với tư cách họ là đảng viên, bởi vì sợ họ là cấp trên, là người quyết định liên quan đến mọi lợi ích của các thành viên trong Chi ủy, Đảng ủy cơ sở. Các đồng chí thuộc diện cấp trên quản lý thường ỷ vào bận nhiều việc nên coi thường sinh hoạt đảng, tự ý tách mình ra khỏi kỷ luật đảng, tự mình tung hoành. Cấp trên thì xa (có thể cũng quan liêu), tổ chức cơ sở đảng thì né tránh nên cán bộ tự do, muốn sao làm vậy, coi trời bằng vung. Việc này, Bác Hồ đã phê phán nghiêm khắc “Khi phụ trách ở một vùng nào thì như một ông “vua con” ở đấy, tha hồ hách dịch, hoạnh họe. Đối với cấp trên thì xem thường, đối với cấp dưới cậy quyền lấn áp. Đối với quần chúng ra vẻ quan cách mạng làm cho quần chúng sợ hãi. Cái đầu óc “ông tướng, bà tướng” ấy đã gây ra bao ác cảm, bao chia rẽ, làm cho cấp trên xa cấp dưới, Đoàn thể xa nhân dân”(5).

Hàng loạt những vụ việc tiêu cực xảy ra trong thời gian gần đây cho thấy công tác kiểm tra của tổ chức cơ sở đảng còn có nhiều yếu kém, cần sớm được khắc phục để việc đánh giá cán bộ không bị động, nhầm lẫn, thậm chí sai lầm.

Tóm lại, cả “thước đo”, “người cầm thước” và cơ chế vận hành của tổ chức đảng cần quán triệt sâu sắc Tư tưởng của Bác để chấn chỉnh, sửa đổi.

3. Giải pháp.

Một là, cần rà soát lại quy trình đánh giá cán bộ, quy rõ trách nhiệm cá nhân, tổ chức, không để có kẽ hở dẫn tới đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan, tổ chức, nhất là giữa cơ quan Đảng và cơ quan Nhà nước. Hiện nay, có hiện tượng ỷ vào việc phân cấp diện cán bộ do Ban Bí thư quản lý để lảng tránh trách nhiệm của thủ trưởng đối với cán bộ ở cơ quan, đơn vị mình là việc làm thiếu tính đảng và thiếu ý thức chấp hành Pháp lệnh cán bộ, công chức.

Hai là, cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với Thanh tra Chính phủ và Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Nội vụ trong công tác kiểm tra, đánh giá cán bộ.

Ba là, cần phát huy sức mạnh của các phương tiện thông tin đại chúng. Đã từ lâu trên thế giới, trong các nước phát triển, người ta đã rất chú trọng tới tiếng nói phản biện, phản hồi của nhân dân qua các phương tiện thông tin đại chúng. Dựa vào nhân dân là một cách làm hữu hiệu để kiểm soát và đánh giá cán bộ. Và, đó cũng là cách để cán bộ có thông tin giúp mỗi người hiểu được xã hội đang định giá trị cho mình như thế nào. Đó cũng chính là thực hiện Tư tưởng Hồ Chí Minh: Dựa vào dân chúng mà giáo dục, đánh giá và cất nhắc cán bộ.

Bốn là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức – cán bộ, thanh tra, kiểm tra, đồng thời có chính sách bảo đảm lợi ích và động viên tinh thần để vừa phát huy tính tích cực cách mạng của họ, vừa đảm bảo cho họ có những điều kiện giúp họ giữ được đức thanh liêm, khách quan vô tư và toàn tâm toàn ý với công việc. Có quy định để vừa tôn vinh, bảo vệ những người thanh tra, kiểm tra trung chính, vừa có chế tài xử phạt nghiêm khắc đối với việc nhận định, đánh giá không đúng về cán bộ (cả tâng bốc, đánh bóng ưu điểm lẫn bôi đen, sai sự thật). Có quy định cho từng cán bộ làm công tác kiểm tra, đánh giá cán bộ được giữ ý kiến độc lập của mình và có thể gửi báo cáo bằng văn bản vượt cấp về những vấn đề mình nhận định (nếu những nhận định đó không được cấp trên trực tiếp, hoặc cấp ủy cùng cấp đồng tình), đồng thời phải chịu trách nhiệm về tất cả nội dung đã báo cáo.

___________________

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.269 và 273. (2, 3) Sđd, tr.279. (4) Sđd, tr.287. (5) Sđd, tr.72.

Theo PGS. TRẦN ĐÌNH HUỲNH
Viện trưởng Viện Công nghệ quản trị nhân sự Châu Á
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bài học cốt tử: Học dân để lãnh đạo dân

Đảng và Nhà nước đang tiến hành tổng kết Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Từ dân đến cán bộ đều học tập Bác Hồ để trở thành công dân tốt, cán bộ tốt. Có những bài học cho cả triệu người như Cần – Kiệm – Liêm – Chính. Lại có bài học chủ yếu cho lãnh đạo cấp cao, đứng đầu các Bộ, ngành ở Trung ương, đó là chống quan liêu. Tham ô, lãng phí, quan liêu được Bác Hồ chỉ đích danh là nội xâm.

Quan liêu nguy hiểm nhất như Bác đã nhận xét: “Quan liêu đã ấp ủ, dung túng, che chở tham ô, lãng phí. Vì vậy muốn trừ sạch nạn tham ô, lãng phí thì trước mắt phải tẩy sạch bệnh quan liêu”. (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, trang 490).

Tết Âm lịch năm 1963, Bác muốn đến chúc tết một gia đình nghèo ở Hà Nội. Bác căn dặn anh em bảo vệ không được báo cho chính quyền thành phố biết, anh em phải khéo léo tìm ra gia đình cực nghèo và chỉ có Bác và mấy người đến thôi. Xem báo thấy lãnh đạo thăm gia đình nghèo, đi theo còn có lãnh đạo tỉnh, huyện, lại có nhà báo quay phim, chụp ảnh, Bác thấy khi chuyến thăm còn dùng để tuyên truyền thì cái nghèo của gia đình chẳng thể còn nguyên vẹn. Chuyện về một cô giáo không còn được Đảng bộ xã công nhận là đối tượng cảm tình Đảng, Bác cũng biết. Tội chỉ vì lãnh đạo xã căn dặn phải cho học sinh ăn mặc áo quần mới, ít nhất cũng lành lặn, chân các em đừng đi đất để đón lãnh đạo Trung ương về thăm nhưng cô giáo không chấp hành, lại còn nói phải để Trung ương biết tận nơi các em khổ như thế nào thì Trung ương mới giải quyết. Những chuyện thế này, Bác Hồ đều kể cho anh em cảnh vệ nghe để Bác đi công tác bất cứ đâu cũng không cho nơi đó biết trước. Cục trưởng Cục Cảnh vệ Huỳnh Hữu Kháng được đi theo bảo vệ Bác 6 năm kể lại: Có lần, ông báo cho nơi Bác Hồ sắp đến thăm biết trước, Bác đã phê bình ông nghiêm khắc, Bác nói rõ nếu để xảy ra lần nữa Bác không cho đi theo bảo vệ Bác nữa.

Lãnh đạo Trung ương về cơ sở, thực tế không còn nguyên vẹn vì đã được bố trí, sắp xếp, tô vẽ, có nơi gọi là thực tế đã bị “luộc” và như vậy “lợi bất cập hại” vì lãnh đạo vẫn tưởng nơi mình đến công tác tận nơi mắt, thấy tai nghe hẳn hoi là tốt đẹp thật. Lãnh đạo về cơ sở không chỉ nâng cao dân trí mà còn là nâng cao chính bản thân mình, nâng cao “quan trí”. Dân là nguồn trí tuệ là kho sáng kiến của Đảng và Nhà nước và những sáng kiến ấy cần được lãnh đạo trên cơ sở phát hiện, nâng lên, hoàn chỉnh thành những luật, những chính sách của Đảng và Nhà nước. Nhờ nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của dân, có khi sáng kiến của dân được nâng lên, hoàn chỉnh thành phương án đổi mới. Khoán hộ từ sự sáng tạo của nông dân được ông Kim Ngọc và Tỉnh ủy Vĩnh Phú phát hiện, ủng hộ sau đó đã toàn quốc hóa rất nhanh, dù còn phải làm “chui” dân cũng vẫn dám làm. Đổi mới, dân và Đảng là đồng tác giả là như vậy, với điều kiện tiên quyết thường xuyên có lãnh đạo bộ, ban, ngành bám cơ sở. Chúng ta càng hiểu sâu xa tại sao Bác Hồ đòi hỏi rất nghiêm ngặt cán bộ nhà nước dù giữ chức vụ gì cũng không bao giờ được quên rằng mình là cán bộ dân vận. Gặp dân không chỉ qua máy tăng âm hiện đại nói chuyện với hàng trăm, hàng nghìn người mà lại phải dành thời gian về sống trong dân, tâm tình trò chuyện với dân như Bác Hồ dặn dò rất cụ thể “một người nói với một người, từ miệng sang tai”.

Báo Sự thật số 140, ngày 2-9-1950 đăng bài “Phải tẩy sạch bệnh quan liêu” của Bác Hồ ký bút danh “X. Y. Z”. Câu hỏi “Bệnh quan liêu là thế nào?” được Bác giải thích: “Nguyên nhân của nó vì xa cách quần chúng, không hiểu biết quần chúng, không học hỏi quần chúng, sợ dân chúng phê bình. Một thí dụ: Các cán bộ ấy, người thì cả đời chỉ loanh quanh trụ sở. Có người thì bao giờ “sấm ra đá kêu” mới gặp dân chúng một lần, khi gặp dân chúng thì đút tay vào túi quần mà ‘huấn thoại”, nói hàng giờ, nói bao la thiên địa, song những việc thiết thực cần kíp của địa phương, những điều dân chúng cần biết thì không nói đến. Chỉ biết dự hội nghị, viết nghị quyết, ra chỉ thị chứ không biết điều tra, nghiên cứu, đôn đốc, giúp đỡ, khuyến khích, kiểm tra”. Trong bài báo, Bác khẳng định: “Không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân”. (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, trang 80).

Lãnh đạo học dân là hết sức cần thiết vì thực tế cuộc sống đã chứng minh đầy sức thuyết phục là không học dân thì sẽ lạc hậu hơn dân, lãnh đạo dân sao nổi? Bù giá vào lương, xóa bỏ tem phiếu là mong muốn khắc khoải của mọi người và nơi đầu tiên đã dám làm việc này là tỉnh Long An. Lãnh đạo hầu hết bộ, ban, ngành ở Trung ương đều không ủng hộ Long An, cho là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh tập trung chuyên gia kinh tế, giáo sư, tiến sĩ còn chưa dám làm và đòi hỏi Chính phủ phải loại bỏ ngay cơ chế Long An… Cũng may, Tổng Bí thư Lê Duẩn đề nghị cứ để Long An làm thí điểm. Long An tồn tại rất khó khăn vì hầu hết bộ, ngành ở Trung ương coi thường…Còn dân và cán bộ Long An rất tín nhiệm lãnh đạo vì họ sống thoải mái hơn trước nhờ không còn tem phiếu, thị trường chỉ còn một giá. Một số tỉnh đến tìm hiểu cách làm ăn mới của Long An, rồi cũng chuyển sang xóa bỏ tem phiếu như Long An, dần dần Long An không còn đơn độc và tới năm 1985, Đảng và Nhà nước chính thức công nhận Long An là ngọn cờ xóa bỏ tem phiếu của cả nước.

Khoán hộ trong nông nghiệp còn gian nan, cơ cực hơn cơ chế Long An nhiều. Ra đời từ năm 1966, mãi đến năm 1988, nghĩa là 22 năm sau mới được công nhận hợp pháp. 22 năm bị cấm, coi là bất hợp pháp, một số đảng viên cơ sở lãnh đạo nông dân “làm chui” đã bị khai trừ khỏi Đảng. Một nghịch lý nổi bật: Nông dân tuyệt đại đa số ít học nhưng rất nhạy bén với cái mới, kiên quyết loại bỏ cách làm ăn cũ là khoán việc chỉ mang lại đói khổ cho nông dân. Ngược lại, các viện, các trường, các cơ quan Trung ương tập trung nhiều cán bộ được bồi dưỡng nhiều, học trong nước, ngoài nước lại chỉ bảo vệ cách làm ăn cũ đã quá lỗi thời, ra sức ủng hộ khoán việc, cho khoán việc thì nông dân mới đi lên chủ nghĩa xã hội. Lãnh đạo các bộ, ngành, các cơ quan Trung ương không chịu về nông thôn học nông dân và tìm hiểu tại sao nông dân mọi nơi không chấp nhận cách làm ăn do chủ quan áp đặt.

Học dân để lãnh đạo dân là bài học cốt tử Bác Hồ đã nêu lên từ năm 1950. Hơn 30 năm sau, bước vào công cuộc đổi mới càng thấy giá trị lớn lao của bài học này. Khi lãnh đạo không chịu là học trò dân, chỉ muốn làm thầy dân, đất nước đã phải trả giá quá đắt. Và cái giá quá đắt ấy nhân dân ta sẽ tiếp tục còn phải trả nếu lãnh đạo các bộ, ban, ngành ở Trung ương vẫn chưa thấy sát cơ sở, gần dân, học dân là vấn đề sống còn.

Theo Daidoanket.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Gặp Người là kỷ niệm đẹp nhất đời tôi

Tướng G.Belov (giữa) ở tuổi 91. Ảnh: Nhat-nam.ru

TP – Vào những năm 1965 – 1967, Thiếu tướng Grigory Belov là Trưởng nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô ở Việt Nam. Nhiều lần gặp gỡ Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông lưu lại trong kí ức những tình cảm tốt đẹp về Người qua bài viết in trong cuốn sách “Người Nga nói về Hồ Chí Minh”, xuất bản ở Moskva năm 2010.

Trong đời người có những cuộc gặp gỡ trở thành sự kiện sâu sắc. Giữa những năm 1960, tôi có một số cuộc gặp gỡ không quên như vậy.

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào thời đó trải qua những năm tháng khó khăn trên bước đường trở thành quốc gia độc lập có chủ quyền ở Đông Nam Á.

Ngày 14-8-1964, tôi được gọi về Moskva theo lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô, Nguyên soái Liên Xô Rodion Yakovlevich Malinovsky. Trong cuộc trao đổi mật ngắn gọn, Rodion Yakovlevich nói rằng, tôi – Thiếu tướng Belov Grigory Andreyevich được trao trọng trách của Chính phủ thực hiện nhiệm vụ ngoài lãnh thổ Liên Xô.

Ông nhấn mạnh: “Đồng chí được trao nhiệm vụ chỉ huy một đơn vị hạn chế của quân đội Xô Viết gửi đến Việt Nam để giúp đỡ họ trong cuộc chiến đấu chống sự xâm lược của Mỹ. Quyết định của Chính phủ về giúp đỡ Việt Nam đã được phê chuẩn; sau vài ngày đồng chí sẽ bay sang Hà Nội”.

Vậy là tôi đã ở Việt Nam với vai trò Trưởng nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô (tên gọi chính thức của các nhân viên quân sự của Quân đội Liên Xô ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa).

Bắt đầu những công việc bận rộn để giúp các bạn Việt Nam xây dựng mặt trận phòng không ở các thành phố Hà Nội, Hải Phòng; huấn luyện các chiến sĩ phòng không và không quân của Quân đội nhân dân Việt Nam kỹ năng tác chiến ở các binh chủng pháo cao xạ – tên lửa chống máy bay Mỹ.
Những việc đó đã được viết cụ thể trong cuốn sách Chiến tranh ở Việt Nam. Điều đó đã xảy ra như thế nào (1965-1973)?, xuất bản ở Moskva năm 2005.

Là một người tham gia cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, tôi đã chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng và lý thú, từng nhận những Huân chương – Huy chương từ tay các vị chỉ huy và lãnh đạo cao cấp của quân đội. Nhưng ở đây, tại Việt Nam, hơn lúc nào hết, tôi cảm thấy thật sự có trách nhiệm cao cả vì công việc được Tổ quốc giao phó.

Trong vai trò Trưởng nhóm chuyên gia quân sự, tôi thường phải giải quyết các vấn đề bảo đảm chiến đấu, đến gặp và trao đổi với lãnh đạo Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, ở cấp cao hơn nữa là gặp Thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và cả với chính Chủ tịch nước – đồng chí Hồ Chí Minh.

Các cựu chuyên gia quân sự Xô Viết tham dự kỷ niệm ngày 22-12 với sứ quán Việt Nam tại LB Nga.

Mùa xuân 1966, tôi nhận được lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô trình bày cho lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam môn xạ kích từ các thiết bị phản lực di chuyển. Để hoàn thành nhiệm vụ cụ thể đó, một nhóm sĩ quan pháo binh do đại tá Azarov chỉ huy đã tới Việt Nam.
Từ bản báo cáo của ông, tôi được biết rõ rằng: Đã có ý định qua miền Bắc Việt Nam cung cấp cho các đơn vị của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam các thiết bị tên lửa cỡ nhỏ (Cachiusa thu nhỏ dã chiến) được lắp đặt trên giá ba chân. Sau khi thống nhất các vấn đề liên quan tới việc trình diễn xạ kích, tôi cùng Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam – tướng Trần Sâm, chuẩn bị việc bắn thử trên thao trường. Sau bảy ngày thì mọi việc chuẩn bị xong.

Đúng giờ, các vị lãnh đạo Bộ Quốc phòng Việt Nam đã tới. Tôi báo cáo với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp về việc đã sẵn sàng bắn theo mục tiêu trong một địa điểm hình vuông đã định. Ở đó được lắp đặt hào giao thông, công sự, hầm tránh, mô hình máy bay lên thẳng, xe vận tải, xe thiết giáp, công sự bê tông cốt thép nhẹ. Cự ly bắn là 8 km.

Bộ trưởng Quốc phòng nói với tôi: “Chúng ta hãy đợi thêm tí chút nhé”. Sau 15 phút, một chiếc ô tô con hiệu Pobeda đến địa điểm, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh từ xe bước ra. Sau khi tôi báo cáo về việc chuẩn bị bắn và trình bày thực chất của việc bắn này, đồng chí Hồ Chí Minh yêu cầu được xem các thiết bị phản lực “Cachiusa”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiến lại gần tôi và nói: “Đồng chí Belov, xin cảm ơn vì tất cả. Đề nghị đồng chí chuyển tới lãnh đạo của Bộ Quốc phòng Liên Xô lời cảm ơn của chúng tôi và lòng mong muốn được bố trí ngay các thiết bị này cho anh em chúng tôi ở Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam – Việt Nam”.

Tôi chăm chú lắng nghe và quan sát, cách nói của đồng chí Hồ Chí Minh. Lời đối thoại đơn giản, quần áo khiêm tốn giản dị, không một chút vội vàng, không có gì thừa trong vẻ ngoài của vị lãnh tụ của nhân dân Việt Nam – đó là những gì đã gây ấn tượng mạnh hơn cả với tôi trong những giây phút tôi đứng gần Người.

Ngay cả cái bắt tay của Người cũng thật ấm áp, chân tình và thiện chí. Rồi sau đó, tại khách sạn, khi trao đổi ý kiến với các chuyên gia Liên Xô khác (mà họ cũng ghi nhớ về Người như vậy), tôi hiểu rằng vì sao nhân dân Việt Nam vừa kính trọng vừa yêu quý Hồ Chí Minh đến thế.

Cũng với hình ảnh ấy, chúng tôi nhiều lần thấy đồng chí Hồ Chí Minh gặp gỡ các chiến sĩ và cán bộ của Quân đội nhân dân Việt Nam tại các trận địa khói lửa, gặp gỡ các chuyên gia quân sự Xô Viết ở tiểu đoàn pháo cao xạ – tên lửa của thiếu tá Prôxcurnhin.

Nhiều lần có mặt tại các lễ kỷ niệm, ngày hội của nhân dân Việt Nam, tại các buổi tiếp khách quan trọng, các hoạt động do Chính phủ và Chủ tịch tổ chức – nơi đồng chí Hồ Chí Minh có mặt, tôi luôn luôn nhìn thấy ở Người hình ảnh của một nhà hoạt động chính trị và nhà nước kiệt xuất, con người giải quyết những nhiệm vụ lớn lao tầm cỡ quốc gia, đồng thời lại là một con người rất giản dị và gần gũi – một CON NGƯỜI viết hoa.

Tôi đã được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh tất cả bảy lần. Một lần tôi còn được mời ăn tối tại nhà của Người.

Bữa tối diễn ra trong ngôi nhà gỗ ở sân của Phủ Chủ tịch. Chúng tôi cùng Chủ tịch trò chuyện với nhau bằng tiếng Nga. Đồng chí Hồ Chí Minh nhớ lại những lần gặp đầu tiên của mình với những người dân Xô Viết vào năm 1923, khi Người làm việc ở Quốc tế Cộng sản. Tìm hiểu cuộc sống ở Liên Xô, Người nhìn thấy ở đây tương lai của Tổ quốc mình dù lúc đó còn nằm dưới ách thống trị của thực dân Pháp.

Đồng chí Hồ Chí Minh đã quan tâm từng chi tiết đến gia đình tôi. Bữa tối kéo dài gần hai tiếng đồng hồ, nhưng tôi thấy như thời gian trôi chỉ một thoáng qua.

Qua nhiều năm tháng, tôi khó nhớ lại tất cả cuộc trò chuyện thoải mái giữa hai chúng tôi. Nhưng còn đọng lại rõ ràng trong kí ức tôi điều quan trọng nhất. Đó là tình cảm và lòng biết ơn khi Người nói về Liên Xô, về nhân dân Xô Viết, về chiến thắng vĩ đại của nhân dân Liên Xô trước quân phát xít Đức xâm lược. Nhân dân Nga, Người nói, là một dân tộc vĩ đại. Dân tộc đó vốn có tình cảm anh em và sự giúp đỡ các dân tộc khác.

“Và ngày hôm nay, chúng tôi, những người Việt Nam – Người nói – luôn cảm thấy bên mình tình cảm giúp đỡ anh em đó. Kinh nghiệm vô giá của các chiến sĩ tiền tuyến của cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại luôn được chúng tôi giữ gìn, vận dụng cho các chiến sĩ của Quân đội nhân dân Việt Nam. Nhân dân Việt Nam biết đánh giá những việc làm tốt, và chúng tôi luôn ghi nhớ những gì Liên Xô đã làm cho nhân dân Việt Nam”.

Sau khi tôi kết thúc kỳ hạn nghĩa vụ quốc tế ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng tôi phần thưởng cao quý của Việt Nam – Huân chương Lao động hạng Nhất và khẩu súng lục có khắc chữ “Smit-vesson”.

Tôi lại rất cảm động vì những lời của đồng chí Hồ Chí Minh nói theo một duyên cớ khác: “Đồng chí Belov, tôi muốn được cảm ơn vợ của đồng chí. Chị ấy đã đợi đồng chí hai năm đằng đẵng khi đồng chí làm việc với chúng tôi ở Việt Nam. Hãy chuyển lời cảm ơn của tôi và để thể hiện lòng tri ân và kính trọng, tôi xin tặng chị ấy một bộ nữ trang bằng bạc có nạm ngọc lam”.

…Hồ Chí Minh không còn nữa, nhưng hôm nay Người vẫn hiện lên trước mắt tôi như tôi đã thấy Người hơn bốn mươi năm về trước.

Con người ở lứa tuổi tôi (91 tuổi) thường hay nhớ lại thời gian mình đã sống. Những sự kiện ở Việt Nam, nơi tôi góp một phần nhỏ công sức, luôn đọng mãi trong tâm trí tôi. Những cuộc gặp riêng với lãnh tụ của Việt Nam – Chủ tịch Hồ Chí Minh là trang tươi sáng và đẹp nhất đời tôi.

(Dịch từ nguyên bản tiếng Nga của Grigory belov)
* Do khuôn khổ trang báo, Tòa soạn có lược bớt một số đoạn và đổi tít của hồi ức (Tiền Phong)

Theo Tiến Cường (tienphong.vn)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Người thanh niên Chilê viết ca khúc về Bác Hồ

Anh Victore Hara và 5 người bạn (Victore đứng ngoài cùng bên phải) đang hát bài hát về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại buổi mít tinh ngày 23/9/1969 tại Quảng trường Hakaniemi.

Dù chưa một lần được gặp Bác, nhưng Victore Hara – một thanh niên hoạt động trong Phong trào Cánh tả ở Chilê đã viết ca khúc về Người.

Ở một nơi cách xa đất Việt hàng vạn dặm, người thanh niên Chilê ấy đã đặt hình ảnh Bác Hồ vào tim mình và hô vang tên Người cho đến khi trút hơi thở cuối cùng dưới bàn tay đẫm máu của chế độ độc tài Pinochet…

… 2giờ 30 phút đêm của một ngày trung tuần tháng 8/1969, ngay khi vừa đặt chân tới sân bay Helsinki (Phần Lan), trong Đoàn đại biểu thanh niên Việt Nam tham dự “Gặp gỡ thanh niên – sinh viên thế giới”, Nhà nghiên cứu lịch sử Văn Tùng được đưa thẳng đến một khu ký túc xá đã cũ.

Không gian về đêm im ắng lạ thường, chỉ còn một căn phòng sáng đèn. Một thanh niên chừng 30 tuổi dáng to béo lao ra bắt tay ông Văn Tùng và như reo lên: “Tôi rất mong gặp anh!” Người thanh niên ấy là nhạc sỹ Victore Hara – làm việc tại Viện Âm nhạc Chilê.

Nói đoạn Victore kéo ông Văn Tùng lại chiếc bàn làm việc đang bày la liệt tài liệu.

Ông Văn Tùng vô cùng ngạc nhiên bởi trên bàn có nhiều tấm ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh như ảnh Bác cưỡi ngựa trên đường đi công tác tại Việt Bắc, ảnh Bác đang chỉ huy Chiến dịch Biên giới, ảnh Bác câu cá, ảnh Bác bên nhà sàn tại Hà Nội… Cạnh đó là mấy trang giấy đang dang dở nhiều nốt nhạc.

Victore Hara hỏi: “Ở Việt Nam, người dân thường gọi Hồ Chí Minh là gì?”. Ông Văn Tùng cho biết, người dân Việt Nam gọi Bác bằng nhiều cái tên khác nhau như Cụ Hồ, Ông Ké, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bác Hồ…Trước tình cảm nồng nhiệt của Victore Hara, ông Văn Tùng đã đưa cho Victore xem bức thư Bác Hồ viết bằng tiếng Pháp gửi các đại biểu thanh niên quốc tế.

Victore xúc động đọc và cầm lá thư đặt vào tim mình. Khi đó Victore mới cho ông Văn Tùng biết là đang viết một ca khúc về Chủ tịch Hồ Chí Minh và đó cũng là bài hát chính thức của cuộc gặp mặt thanh niên lần này. Và đã từ lâu Victore quan tâm tìm hiểu về cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bài hát về Bác Hồ đã được Victore viết trong sự dâng trào cảm xúc và được hơn 5.000 đại biểu thanh niên – sinh viên trên khắp thế giới và hàng vạn bạn trẻ Helsinki nồng nhiệt đón nhận. Ngay trong lễ khai mạc cuộc gặp gỡ vào 9 giờ sáng ngày 23/8/1969, cả Quảng trường Hakaniemi rộng lớn giữa Thủ đô Helsinki vang lên lời bài hát mà người lĩnh xướng trên đài cao chính giữa Quảng trường là Victore cao lớn và nhóm bạn của mình.

Quốc kỳ Việt Nam, hàng trăm khẩu hiệu về Việt Nam, về Hồ Chí Minh tung bay hòa nhịp cùng lời bài hát. Bài hát được viết và hát bằng tiếng Tây Ban Nha trên nhiều đường phố của Helsinki. Lời bài hát tạm dịch là: “Hồ Chí Minh là của chúng ta/ Hồ Chí Minh là nguồn sáng cho chúng ta/Hồ Chí Minh sẽ đưa chúng ta đến chiến thắng/Hô…Hồ Chí Minh/Hô…Hồ Chí Minh/Hồ Chí Minh muôn năm! (Viva Hồ Chí Minh)…!”.

Lễ mít tinh tại Quảng trường Haka.

Sau khi Việt Nam thống nhất, năm 1983, trong một lần đi công tác tại Ba Lan, ông Văn Tùng may mắn gặp lại bà Helen – một đại biểu nữ người Thụy Điển mà ông từng quen biết trong cuộc gặp năm 1969 tại Phần Lan.
Bà Helen kể lại cho ông Văn Tùng về việc Victore đã bị sát hại dã man dưới bàn tay đẫm máu của chính quyền độc tài Pinochet. Bản thân bà Helen đã từng gặp nhiều chiến hữu của Victore chạy từ Chilê sang Thụy Điển lánh nạn.

Ngay sau khi Tổng thống Cánh tả Chilê Salvador Allende bị đảo chính và hy sinh, lực lượng của Pinochet đã lập ra chính quyền mới và quay ra đàn áp những người cánh tả, bắt giam, tàn sát và cầm tù những người yêu nước chân chính.

Hàng vạn người đã bị chế độ độc tài Pinochet lùa vào các nhà tù khiến cho nhà tù quá tải. Victore và hàng ngàn người khác đã bị giam ngay tại một sân vận động. Trước họng súng của lực lượng Pinochet, Victore vẫn hát vang những bài ca về tổ quốc, về Tổng thống Allende và Chủ tịch Hồ Chí Minh khiến lính canh giữ như điên lên vì tức giận.

Một tên lính thúc họng súng vào ngực Victore thét lên “mày còn hát nữa không?”, Victore không thèm trả lời mà còn hô vang “Hồ Chí Minh muôn năm!”. Tên lính rút dao găm chặt đứt một cánh tay Victore. Ngay cả khi không còn tay, Victore vẫn hát cho đến khi gục xuống…

Theo ông Văn Tùng, những thông tin về sự hy sinh cao đẹp của Victore đã được báo chí trong và ngoài nước khi đó xác nhận.

bqllang.gov.vn

Bác sẽ chịu trách nhiệm cho

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ nằm giữa vòng vây của thù trong giặc ngoài, vận nước nghìn cân treo sợi tóc, việc sống còn trước hết là phải giữ vững chính quyền cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh, người lãnh trách nhiệm trước lịch sử, trước dân tộc, cầm lái con thuyền cách mạng vượt lên mọi sóng gió, gìn giữ cho được độc lập dân tộc. Người luôn quan tâm đến các chiến sĩ ở ngoài mặt trận, ởbiên giới, hải đảo nói chung và bộ đội cảnh vệ bảo vệ ở Bắc Bộ Phủ nói riêng.

Vào những ngày đầu năm 1946, sau khi học một lớp đào tạo tại Khu Bốn cột ở Ngã tư Vọng, Hà Nội, tôi được điều động về làm Chính trị viên Đại đội 1, làm nhiệm vụ bảo vệ Bắc Bộ Phủ, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc. Nhà Bắc Bộ Phủ gồm ba tầng, tầng trên cùng là nơi Bác Hồ và Cụ Huỳnh Thúc Kháng – Phó Chủ tịch nước làm việc. Tầng hai là nơi để Bác và Cụ Huỳnh tiếp khách, đồng thời là phòng họp của Chính phủ. Tầng một thường gọi là tầng hầm, được bố trí làm nhà bếp, nấu cơm hàng ngày của Cụ Hồ và Cụ Huỳnh Thúc Kháng và là nơi trú quân của cán bộ, chiến sỹ Đại đội 1 chúng tôi. Ở trên tầng ba nhưng hàng ngày Bác xuống tầng một để hỏi thăm sức khoẻ của cán bộ, chiến sỹ. Một hôm, Bác xuống thăm đúng vào giờ ăn cơm trưa, thấy trong mâm cơm chỉ có đĩa rau muống luộc, vài miếng đậu phụ kho tương, với bát nước luộc rau, Bác hỏi: “Các chú ăn có được no không?”. Tôi thay mặt cán bộ, chiến sỹ thưa lại với Bác. “Dạ thưa Cụ …”, (hồi ấy chúng tôi thường gọi Bác là Cụ, để biểu lộ lòng tôn kính vị Chủ tịch nước, sau này được phép mới gọi bằng Bác). Giọng Bác bùi ngùi, Người nói: “Nước ta mới giành được chính quyền, lại vừa qua nạn đói khủng khiếp năm 1945, nên còn nghèo lắm. Nay đang phải đối phó với cả ba thứ giặc: Giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm nên Chính phủ chưa thể tăng tiêu chuẩn ăn cho bộ đội. Các chú cố gắng tăng gia tự túc được rau, dồn tiền mua thêm ít thịt cá để cải thiện bữa ăn”. Rồi Bác hỏi: “Mỗi tuần các chú vẫn nhịn ăn một bữa để cứu đói đấy chứ?”. Tôi thưa lại với Bác: “Dạ thưa Cụ hàng tuần vào chiều thứ sáu chúng cháu vẫn thực hiện nhịn ăn một bữa để góp gạo cứu đói ạ”. Nghe chúng tôi thưa lại Người trầm ngâm suy nghĩ, nhìn anh em từ đầu đến chân rồi lặng lẽ bước lên cầu thang.

Mấy ngày sau, tôi triệu tập cán bộ Tiểu đội, Trung đội lên phổ biến chỉ thị mới của Cụ: Từ nay các chiến sỹ làm nhiệm vụ bảo vệ ở Bắc Bộ Phủ không phải nhịn ăn mỗi tuần một bữa nữa để bảo đảm sức khoẻ thực hiện nhiệm vụ.

Nghe tôi phổ biến xong anh em ai nấy đều xúc động, muốn khóc, nghĩ rằng hàng tuần vào chiều thứ sáu bếp nấu ăn cho Cụ Hồ và Cụ Huỳnh đều không nhóm lửa vì hai cụ vẫn làm gương nhịn ăn một bữa trong tuần để cứu đói cho đồng bào, bộ đội mình luyện tập và canh gác tuy có mệt nhưng làm sao mệt bằng các Cụ trăm công nghìn việc?

Bác Hồ còn chăm sóc đến giấc ngủ của các chiến sỹ. Một đêm đã khuya tôi đi thay phiên gác về, chợt trông thấy một bóng người đi đến từng giường, giắt lại màn cho từng chiến sỹ. Một chiến sỹ ngủ say bỏ tay ra ngoài, Người nhẹ nhàng nhấc bàn tay đặt vào rồi giắt lại màn rất cẩn thận. Lúc đầu tôi cứ tưởng là đồng chí Đại đội trưởng đi kiểm tra, khi đến gần, tôi giật mình nhận ra Bác Hồ, vị Chủ tịch nước của chúng ta! Tôi bước nhẹ nhàng đến gần Bác cất tiếng chào: “Cháu chào Cụ ạ”. Bác quay lại hỏi: “Chú là chỉ huy phải không?”. Tôi thưa lại: “Dạ thưa Cụ vâng ạ”. Tôi nhớ đêm hôm ấy là vào tháng 7 âm lịch, trời rất nóng. Gian buồng của Tiểu đội một chúng tôi lại ở gian giữa, không có quạt, không có cửa sổ cho nên càng nóng hơn, ban đêm muỗi lại nhiều. Bác nhìn tôi, lại nhìn các giường kê sát nhau, Bác nói: “Trời nóng thế này anhem ngủ sao được. Trên tầng hai rộng rãi lại có quạt trần, từ nay đêm nào nóng quá lên đó mà ngủ, sáng ra dọn dẹp xong lại xuống, còn bây giờ các chú có thể lên ngay”. Tôi thưa lại: “Cháu cảm ơn Cụ, nhưng để cháu báo cáo lại với cấp trên của cháu cho đúng quy định, nếu không thì sáng mai cháu bị khiển trách”. Bác nói ngay: “Đã khuya rồi, đừng báo cáo các chú chỉ huy nữa, chú cứ cho anh em lên tầng hai ngủ, sáng mai cấp trên của chú có hỏi, chú cứ báo cáo là Bác Hồ đã cho phép. Nếu chú bị khiển trách thì Bác sẽ chịu trách nhiệm cho”.

Từ ngày ấy, mấy chục nghìn ngày đã trôi qua, nhưng ấn tượng về sự chăm sóc ân cần của Bác Hồ đối với chiến sỹ vẫn in đậm trong tâm trí tôi. Với tấm lòng thành kính, tôi ước mong sao ai cũng học tập được một chút ít gì dù nhỏ nhoi theo tấm tương đạo đức của Người – quan tâm ân cần đối với những người sống quanh ta.

Lê Gia Định
Nguyên Chính trị viên Đại đội 1 bảo vệ Bắc Bộ Phủ (kể)
Theo Trần Minh Hiền, Tạp chí Xây dựng Đảng
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ với nông nghiệp, nông dân và nông thôn

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm kè bảo vệ sông Đà ở Cổ Đô, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (8-7-1958)

Sinh thời, Bác Hồ luôn quan tâm đến vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Người cho rằng, nông nghiệp phải là mặt trận hàng đầu, muốn phát triển đất nước phải coi trọng cả nông nghiệp và công nghiệp.

Khi cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ở miền Bắc diễn ra ác liệt, Bác dành thời gian xuống tận các Hợp tác xã (HTX) thăm hỏi, động viên nông dân. Hình ảnh Bác xắn quần lội ruộng, cùng tát nước, cùng đạp guồng nước chống úng với bà con là những hình ảnh đẹp trong lòng người dân. Khi biết tin đê sông Hồng ở khu vực Hưng Yên, Thái Bình bị vỡ, Bác trực tiếp xuống kiểm tra việc khắc phục hậu quả. Bác hỏi cặn kẽ có mấy người bị nạn, dặn dò trước hết phải lo cái ăn để dân khỏi đứt bữa, sau đến nơi ở và ổn định sinh hoạt cho mọi người, tập trung nhân tài vật lực để đắp lại chỗ đê bị vỡ. Bác hứa khi nào đắp xong Bác sẽ xuống thăm. Giữ đúng lời hứa, bốn tháng sau Bác xuống dự khánh thành đoạn đê vừa mới đắp. Bác đi kiểm tra, nhìn chỗ giáp ranh đê mới đê cũ, Bác nhắc nhở phải tăng cường gia cố mới an toàn. Bác khen đắp nhanh nhưng chưa lèn chặt, cần tăng cường lực lượng đầm thật kỹ mới đảm bảo lâu dài.

Trong “Thư gửi nông dân thi đua canh tác” vào tháng 2-1951, Bác viết: “Thực túc thì binh cường! Chiến sĩ ở trước mặt trận thi đua giết giặc lập công thì đồng bào ở hậu phương phải thi đua tăng gia sản xuất. Ruộng rẫy là chiến trường, cuốc cày là vũ khí, nhà nông là chiến sĩ, hậu phương thi đua với tiền phương”(1). Bức thư đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Bác với giai cấp nông dân và sản xuất nông nghiệp.

Khi đến thăm đồng bào, Bác không dùng những lời lẽ chung chung mà rất cụ thể, nói rõ từng việc, chỉ ra ưu điểm để phát huy, vạch rõ khuyết điểm để khắc phục. Đứng trước bà con, Bác không đọc diễn văn mà ân cần chuyện trò thăm hỏi. Một lần về xã Đại Nghĩa, Hà Đông nói chuyện với cán bộ xã viên HTX nông nghiệp, Bác đưa ra những con số cụ thể làm bà con ngỡ ngàng. Bác nói: Xã có 600 hộ mà chỉ mới nuôi được có 500 con lợn như vậy là ít, mỗi hộ chưa được một con, còn gà vịt bình quân mỗi hộ cũng chỉ có 10 con, vì vậy xã phải đẩy mạnh chăn nuôi. Từ những việc cụ thể, Bác khái quát: Phát triển kinh tế tập thể nhưng phải phát triển thích đáng kinh tế của gia đình xã viên. Bác chỉ ra nguyên nhân: Coi trọng sản xuất lúa là tốt, nhưng bà con nông dân còn xem nhẹ hoa màu và cây công nghiệp. Do xem nhẹ hoa màu nên chăn nuôi không phát triển được

Những năm tháng cuối đời, tuy sức khỏe yếu nhưng Bác vẫn dành nhiều thời gian làm việc với các đồng chí phụ trách nông nghiệp. Họp Bộ Chính trị hay các buổi làm việc về nông nghiệp, Bác thường nhắc bản Điều lệ Hợp tác xã. Bác bảo công nhân có ngày kỷ niệm thì nông dân cũng phải có ngày kỷ niệm, nên lấy ngày ban hành Điều lệ Hợp tác xã làm ngày kỷ niệm cho nông dân. Bác dặn, viết bản Điều lệ sao cho nông dân ít học cũng hiểu được. Sau khi đọc Bản dự thảo, Bác nói đây là bản dùng cho cán bộ, đối với xã viên thì viết phải gọn hơn, dễ hiểu hơn. Bác đọc và sửa chữa rất kỹ, chỗ nào chữ nghĩa cầu kỳ khó hiểu Bác đều sửa lại. Thứ tự các chương đánh số La Mã, Bác sửa lại thành “Chương Một… Hai…”. Câu “Nhà nước hết lòng giúp đỡ” Bác bỏ chữ “hết lòng” vì thừa. Câu “xã viên phải góp ruộng đất, trâu bò, các công cụ chủ yếu”, Bác sửa: “Xã viên phải góp ruộng đất, góp cổ phần, để lại trâu bò và các công cụ chủ yếu”. Chữ “để lại” vừa có tình vừa có nghĩa giữa xã viên và HTX.

Trong cuộc họp Bộ Chính trị bàn về nông nghiệp, Bác đề nghị: “Quỹ tích lũy để khoảng 7-10% thu nhập HTX là quá cao, đời sống dân còn thấp nên tập trung nâng mức sống của dân”. Bộ Chính trị nhất trí chỉ để quỹ tích lũy 5-10%. Sau đó Bác yêu cầu chuyển đổi nội dung Bản Điều lệ sang diễn ca phát trên đài phát thanh để dân dễ thuộc, dễ nhớ, dễ làm theo. Trong Di chúc, Bác đề nghị Chính phủ khi sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ toàn thắng thì “miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho các HTX nông nghiệp để cho đồng bảo hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”(2).

Những việc làm của Bác đối với nông nghiệp, sự quan tâm chia sẻ vất vả với nông dân của Bác đến nay còn nguyên giá trị cả về tình cảm, đạo đức và trí tuệ.

Đất nước ta đang đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn theo đường lối đổi mới của Đảng. Đảng ta luôn xác định giải quyết vấn đề “tam nông” là vấn đề lớn, có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hội nhập và phát triển của đất nước. Tại Đại hội XI, Đảng ta tiếp tục đưa ra những quan điểm chỉ đạo đối với vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Đại hội khẳng định những thành tựu trong phát triển kinh tế – xã hội nói chung, những kết quả đạt được của nông nghiệp, nông dân, nông thôn nói riêng và nhấn mạnh: “Sự phát triển ổn định trong ngành nông nghiệp, nhất là sản xuất lương thực đã bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Kinh tế nông thôn và đời sống nông dân được cải thiện hơn trước. Việc tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, đầu tư, phát triển giống mới có năng suất, chất lượng cao, phát triển các cụm công nghiệp, làng nghề, tiểu thủ công nghiệp… đã có tác động tích cực đến việc sản xuất, tạo việc làm và xóa đói, giảm nghèo”(3). Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đặt chỉ tiêu trong 5 năm (2011 – 2015): “Phấn đấu giá trị gia tăng nông nghiệp bình quân 5 năm đạt 2,6-3%/năm. Tỉ trọng lao động nông nghiệp năm 2015 chiếm 40-41% lao động xã hội. Thu nhập của người dân nông thôn tăng 1,8-2 lần so với năm 2010”(4).

Quan điểm chỉ đạo thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong giai đoạn này cũng được Đảng xác định rõ: Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững trên cơ sở phát huy những lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới gắn với giải quyết tốt các vấn đề nông dân, nông thôn. Xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp nông dân, chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng nêu rõ: “Nâng cao trình độ giác ngộ của giai cấp nông dân, tạo điều kiện để nông dân tham gia đóng góp và hưởng lợi nhiều hơn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hỗ trợ, khuyến khích nông dân học nghề, chuyển dịch cơ cấu lao động, tiếp nhận và áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi để nông dân chuyển sang làm công nghiệp và dịch vụ. Nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn; thực hiện có hiệu quả bền vững công cuộc xóa đói, giảm nghèo, làm giàu hợp pháp”(5). Nghị quyết còn xác định: “Xây dựng nông thôn mới theo hướng văn minh, giàu đẹp, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân”(6)…

Nghị quyết Đại hội XI của Đảng là kế thừa và phát triển tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề tam nông, từng bước nâng cao mức sống nông dân, thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn./.

————

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG-ST, H.2002, tập 6, tr.178. (2) Sách đã dẫn, tập 12, tr.504. (3), (4), (5), (6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXBCTQG-ST, H.2011, tr. 151-152, 198, 241, 39.

Nguyễn Thị Thọ, Trường Cao đẳng Sư phạm Huế
Theo Tạp chí Xây dựng ĐảngTâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 21-5: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 21-5-1928, từ Thủ đô nước Đức, Nguyễn Ái Quốc gửi thư về Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, đóng góp ý kiến cho hoạt động của Ban Thuộc địa Đảng Cộng sản Pháp, nhờ chăm sóc các đồng chí Đông Dương đang học ở Nga và cho biết đã sẵn sàng lên đường tới nơi cần đến.

Cũng trong thời gian này (tháng 5-1928), tập san “Inprekorr” bản tiếng Pháp của Quốc tế Cộng sản đăng bài “Phong trào công nhân và nông dân mới đây ở Ấn Độ” khảo sát những biến đổi to lớn đang diễn ra tại quốc gia rộng lớn này và bài “Chủ nghĩa đế quốc, kẻ tiêu diệt nòi giống bản xứ” để đi đến kết luận: “Lịch sử của nhiều chế độ thực dân đã cho thấy rằng nhiều dân tộc bản xứ bị tiêu diệt hoàn toàn khi tiếp xúc với nền văn minh của người da trắng… và muốn cứu vãn những nòi giống này, ta phải lật đổ chủ nghĩa đế quốc”.

Ngày 21-5-1939, Nguyễn Ái Quốc đã có mặt tại Quế Lâm (Trung Quốc) và tìm cách liên hệ với phong trào trong nước bằng cách gửi loạt bài “Thư từ Trung Quốc” về đăng trên tờ “Notre Voix” (Tiếng nói của chúng ta) của những người cộng sản hoạt động công khai tại Hà Nội. Bài “Những khó khăn của quân đội Nhật” phản ánh những vấn đề thời sự đang diễn ra trong đạo quân Nhật tại Trung Quốc và phân tích nguy cơ của chủ nghĩa phát xít đang ở rất gần Đông Dương.

Ngày 21-5-1964, Tạp chí “Minority of One” của một nhóm nhân sĩ trí thức tiến bộ xuất bản tại Mỹ đăng bài phỏng vấn nhân ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong bài trả lời, Bác bày tỏ: “Từ nước Việt Nam cách xa Hoa Kỳ hàng vạn cây số, tôi gửi đến các bạn Mỹ lời chào hữu nghị và lời kêu gọi tha thiết này. Tôi mong các bạn sẽ hiểu rõ hơn sự thật cay đắng ngày nay ở miền Nam Việt Nam, một nửa Tổ quốc chúng tôi. Ở đây đang diễn ra một cuộc chiến tranh vô cùng tàn khốc, một cuộc chiến tranh lớn nhất, dai dẳng nhất, đẫm máu nhất hiện nay trên trái đất này…

Nhân dân Việt Nam hiểu rõ rằng nhân dân Mỹ muốn sống hòa bình và hữu nghị với các dân tộc khác. Tôi đã đến nước Mỹ, tôi hiểu nhân dân Mỹ rất trọng chính nghĩa và có nhiều tài năng… Chính những kẻ đang phá hoại nền độc lập tự do của dân tộc chúng tôi cũng là những kẻ phản bội bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ trong đó đã nêu cao chân lý “tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng” và nêu cao những quyền bất khả xâm phạm của con người: “quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”…

Chẳng những chúng tôi đau xót vì đồng bào miền Nam chúng tôi phải gian khổ hy sinh, mà chúng tôi cũng thương xót cho những bà mẹ và các người vợ Mỹ đã mất con, mất chồng trong cuộc chiến tranh phi nghĩa ở miền Nam Việt Nam do bọn quân phiệt Mỹ tiến hành… Tôi mong lời kêu gọi khẩn thiết này sẽ đến tai nhân dân Mỹ”.

Tháng 5-1967, từ Quảng Châu, sau một tháng sang Trung Quốc chữa bệnh, Bác đã viết bài thơ gửi về Bộ Chính trị ở trong nước: “Thời giờ đã chóng tựa đưa thoi/Thấm thoát xa nhà một tháng rồi/Nghìn dặm vui nghe tin thắng lợi/Một mình nằm tính việc xa xôi”.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 22-5: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 22-5-1893, ông ngoại Bác Hồ qua đời (ngày 7-4 năm Quý Tỵ). Tháng 5-1901, thân phụ của Bác là Nguyễn Sinh Sắc đỗ phó bảng. Sinh năm Nhâm Tuất (1863), Nguyễn Sinh Sắc (còn có tên là Nguyễn Sinh Huy) đỗ cử nhân năm Giáp Ngọ (1894).

Kỳ thi Hội năm Tân Sửu, Thành Thái thứ 13 (1901) có 13 người trúng “phó bảng” (trong đó có Phan Châu Trinh). Cuối tháng 5-1906, Bác cùng anh trai là Nguyễn Tất Đạt theo cha vào Huế để nhận chức thừa biện Bộ Lễ.

Ngày 22-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là thành lập một “Ủy ban nghiên cứu đặc biệt các vấn đề sẽ đàm phán ở Paris” để chuẩn bị cho chuyến sang thăm chính thức nước Pháp của người đứng đầu nhà nước Việt Nam độc lập. Tham gia ủy ban này, ngoài Bác còn có các vị: Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Tường Tam, Phan Anh, Võ Nguyên Giáp và Vũ Hồng Khanh.

Cũng trong ngày 22-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký nhiều sắc lệnh quan trọng, trong đó có các sắc lệnh thành lập tại Bắc bộ một “Ủy ban hộ đê Trung ương”, quy định chức năng, phương thức hoạt động và các chính sách để bảo vệ đê điều, chống lũ lụt; Sắc lệnh về quân đội của nước Việt Nam là một quân đội quốc gia được chỉnh đốn theo một quy tắc được ban hành gồm 2 tiết, 6 chương với 62 điều.

Ngày 22-5-1968, Bác tham dự cuộc họp của Bộ Chính trị bàn về công tác đối ngoại. Về các động thái chính trị đang diễn ra ở Đông Âu, Bác phát biểu: “Tình hình xảy ra ở Tiệp Khắc cũng có thể bùng ra ở một số nước khác. Sinh hoạt xa xỉ, những sự bất mãn, trình độ giác ngộ không nâng cao thì sinh ra chuyện. Đó cũng là bài học, không nên xem nhẹ việc giáo dục đạo đức”.

Tháng 5-1969, mặc dù sức khỏe đã yếu nhưng Bác vẫn quan tâm gửi thư cho lớp học nghiên cứu về tình hình nhiệm vụ của cán bộ trung, cao cấp toàn quân được triệu tập tại Hà Nội. Bác căn dặn: “Vấn đề số một là phải không ngừng nâng cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Quyết tâm phải biến thành hành động dũng cảm, chiến đấu kiên quyết, không sợ hy sinh gian khổ…”

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bức tranh thêu và tình bạn thủy chung

Nguyễn Ái Quốc lúc ở Hồng Kông với tên gọi Tống Văn Sơ và luật sư Frank Loseby năm 1931 ở Hồng Kông

Hơn 40 năm đã qua nhưng bức tranh thêu “Chùa Một Cột” Bác Hồ tặng ông bà Frank Loseby tháng 12/1959 ở Hồng Kông nay được lưu giữ ở Bảo tàng Hồ Chí Minh vẫn được giữ nguyên vẻ đẹp ban đầu. Đó là một minh chứng cho tình bạn cao đẹp và thủy chung giữa Bác Hồ và luật sư F.Loseby, ân nhân đã giúp Bác tìm lại được tự do sau vụ án “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông” kéo dài từ tháng 6/1931 đến đầu năm 1933.

Theo ông Paul Tagg (mẹ ông gọi luật sư F.Loseby bằng chú ruột) thì bức tranh đã được trang trí ở nhiều ngôi nhà, từ Hồng Kông đến London và được nhiều người chiêm ngưỡng vẻ đẹp cổ kính trước khi yên vị ở Bảo tàng Hồ Chí Minh từ năm 2005.

Tháng 6/2001, tôi có dịp gặp ông Paul Tagg lần đầu tiên trong chuyến đi cùng bà Lady Borton sang London và Paris thu thập thêm tư liệu lưu trữ ở Bộ Ngoại giao Anh và Pháp về vụ án của “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông” mà bà Lady đã cất công sưu tầm từ mấy năm trước ở các cơ quan lưu trữ của Anh và Hồng Kông. Chúng tôi đã trò chuyện với ông Paul trong một hiệu ăn Ấn Độ ở trung tâm London.

Ông Paul tâm sự: “Tôi được biết bức tranh này khi tôi chuyển đến làm việc ở Hồng Kông năm 1987 và có dịp thân thiết với cô Patricia là luật sư ở đó. Cô là con gái duy nhất của ông bà Loseby sống độc thân, không có con. Họ Loseby có truyền thống làm luật sư đã 4 đời. Chính vợ tôi là người đầu tiên trong gia đình phát hiện ra vẻ đẹp duyên dáng và tinh tế từ đường kim mũi chỉ đến các gam màu từ vàng đến nâu rất trang nhã của bức tranh đặc biệt này. Nay tôi rất vinh hạnh được cô tôi ủy thác việc trao lại bức tranh cho Bảo tàng Hồ Chí Minh lưu giữ vì cô đã suy nghĩ là không đâu có thể làm tốt hơn nơi này sau khi cô mất. Nhưng đây cũng là một trách nhiệm rất lớn lao. Tôi đã phải tìm đến hãng bảo hiểm cho việc chuyên chở thật an toàn và nguyên vẹn đến đích. Tôi cũng đã sang Hà Nội làm việc sơ bộ với Bảo tàng Hồ Chí Minh để xem các thể thức bảo quản và sử dụng sao cho nhiều người được chiêm ngưỡng và biết rõ tình bạn cao quý giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và luật sư F.Loseby khi đến thăm bảo tàng mang tên Người”.

Trong buổi gặp gỡ này, ông Paul có nhã ý cho tôi xem tập kỷ vật về chuyến đi của luật sư Patricia cùng cha mẹ sang thăm Hà Nội Tết Nguyên đán 1960, bao gồm những bức ảnh cùng tập nhật ký của cô và các bài báo ở Hà Nội nói về chuyến thăm đó. Những kỷ vật này đã được cô Patricia gìn giữ cẩn thận và trao lại cho ông trước khi cô mất vào đầu năm 2001 ở London.

Trong khi ông Paul trao đổi với bà Lady, người bạn thân thiết của Bảo tàng Hồ Chí Minh để đưa bức tranh thêu “Chùa Một Cột” từ London về Hà Nội thật an toàn thì ngoài trời mưa rất to. Tôi mừng là “vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách” khiến tôi có thể yên tâm ngồi đọc những câu chuyện cảm động về cuộc tái ngộ kỳ diệu sau 27 năm không tin tức của những người bạn thủy chung. Và nếu theo tâm linh, nay họ đều đã lại trùng phùng ở thế giới của những người hiền.

Năm 1960, báo chí Việt Nam tập trung nhiều vào nhân vật trung tâm là luật sư Loseby còn những kỷ vật lại cho tôi biết rõ cảm tưởng của cô Patricia và bà Rosa về chuyến đi này. Tập nhật ký ghi lại rất sinh động những ngày giá lạnh ở Hà Nội tại một biệt thự ngay trước mặt hồ Thiền Quang có những căn phòng cao rộng thênh thang mà chiếc lò sưởi điện không đủ ấm khiến mọi người khi ngủ vẫn phải mặc áo len và đi tất. Tuy nhiên không khí đón tiếp gia đình Loseby thật nồng ấm, chân tình.

Những ngày giáp tết, nhân dân Hà Nội hồ hởi đi sắm tết, đặc biệt hoa tươi nhiều vô kể và ai nấy đều vui mừng khi mang một cành đào thắm về nhà. Cô Patricia đặc biệt xúc động trước sự quan tâm chu đáo hết sức tế nhị của Bác Hồ. Lúc Bác đến nhà cô ở Hồng Kông, cô còn quá nhỏ không có ký ức gì. Giờ gặp ở sân bay cô hết sức ngạc nhiên về tiếng Anh rất chuẩn của Người. Hết ngạc nhiên này lại đến ngạc nhiên khác qua mỗi ngày.

Sáng mồng Một Tết, Bác Hồ đã gửi đến tặng gia đình cô một lẵng hoa đẹp rực rỡ và ấn tượng đầm ấm ngày tết của gia đình cô chính là cảnh sum vầy thân mật giữa Bác Hồ với các cháu thiếu nhi xinh tươi như các đóa hoa đến Phủ Chủ tịch múa hát và liên hoan bánh kẹo với Bác Hồ và gia đình cô. Bác Hồ đã cùng gia đình cô đi thăm Nhà máy Cơ khí trung quy mô ngày đầu năm, cô lại được thấy giữa người lãnh đạo đất nước và các công nhân có sự chan hòa đồng cảm như người thân trong gia đình. Và đến ngày chia tay ở sân bay thật bịn rịn.

Tình thân ái không chỉ được nối lại giữa Bác Hồ và gia đình cô, bên cạnh đó nhân dân Việt Nam và những người gần gũi đã phục vụ tận tụy cho chuyến đi của gia đình được tốt đẹp đã tạo ra sự quyến luyến không dứt. Hoa tặng quá nhiều, gia đình cô chỉ biết cảm ơn và xin chuyển đến quân y viện tặng các thương bệnh binh. Trong chuyến đi này cô cảm nhận thấy dường như Chủ tịch Hồ Chí Minh thật hạnh phúc khi Người ở bên nhân dân lao động, những chiến sỹ và nhất là các cháu thiếu nhi.

Chùa Một Cột được dùng làm hình ảnh trong bức tranh thêu Bác Hồ tặng luật sư Loseby

Về phía bà Rosa, phu nhân của luật sư Loseby, những kỷ niệm của bà đối với Bác Hồ được phóng viên Hãng Reuters ghi lại trong buổi phỏng vấn bà khi Bác Hồ mất năm 1969. Lúc đó luật sư Loseby đã mất từ năm 1967. Bà Rosa nhớ rất chi tiết các sự kiện xảy ra từ năm 1931 đến đầu năm 1933 khi Bác Hồ bị giam ở nhà tù Hồng Kông, tính mạng bị đe dọa như ngàn cân treo trên sợi tóc, còn chồng bà phải đấu tranh rất căng thẳng về pháp lý với quyết tâm đem lại công lý cho thân chủ của mình bất chấp mọi sức ép ghê gớm của các lực lượng thù địch bên ngoài.

Bà nhớ như in buổi tiếp xúc đầu tiên với người tù mà chồng bà kể lại là theo những cáo buộc của nhà cầm quyền Pháp và Lãnh sự Pháp ở Hồng Kông trình bày với nhà đương cục Hồng Kông, thì “tên phiến loạn” vô cùng nguy hiểm đến an ninh thuộc địa của Pháp và cả của Anh quốc này cần được dẫn độ về Việt Nam để thực hiện bản án tử hình đã chờ sẵn từ vài năm trước.

Cùng chung nhận định với chồng và bạn thân của bà là vợ ông Phó thống đốc Hồng Kông – một nữ văn sỹ Anh – người đã theo bà đến nhà tù gặp người tù đặc biệt yêu hoa này, bà chỉ thấy đó là một con người lịch lãm, yêu văn học và thơ ca, yêu thiên nhiên và nhất là yêu đất nước mình. Họ đã đồng lòng phải làm mọi cách để giúp đỡ người tù này vượt qua những khổ ải của thân phận tù mà những người thống trị Anh và Pháp câu kết với nhau chỉ muốn trừ khử bằng mọi cách. Và lần cuối cùng khi Nguyễn Ái Quốc bị cảnh sát ở Singapore (thuộc địa của Anh lúc đó) bắt phải quay lại Hồng Kông trong khi phán quyết của Tòa án tối cao ở Anh đã buộc Bác phải khẩn trương rời Hồng Kông. Một lần nữa vợ chồng bà lại giúp bạn tìm con đường về với tự do.

Trong hoàn cảnh gian nan trăm bề khi đó, vợ chồng luật sư Loseby, lúc này không phải với tư cách luật sư mà là những người bạn, đã giúp nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc cải trang thành một thương gia Trung Hoa giàu sang đi vé tàu hạng nhất cùng một tùy tùng (là thư ký văn phòng của Luật sư) đi Thượng Hải. Họ đã rời Hồng Kông ra neo đậu tàu bằng chính xuồng lớn của Thống đốc Hồng Kông do bà vợ Phó thống đốc giúp đỡ vào bữa giáp tết cổ truyền năm 1933.

Bà Rosa chỉ bức tranh thêu Chùa Một Cột ở Hà Nội được treo ở vị trí trang trọng trong ngôi nhà ông bà ở Hồng Kông cho ông phóng viên xem và kể tiếp: “Thật xiết bao vui mừng và cảm động, sau 27 năm xa cách không hề có tin tức của nhau, một ngày gần lễ Giáng sinh năm 1959 vợ chồng tôi nhận được món quà quý giá này của người tù năm xưa nay là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi tặng do ông lãnh sự Việt Nam ở Hồng Kông đem lại sau khi ông báo cáo với Chủ tịch Hồ Chí Minh là đã tìm được địa chỉ của luật sư Loseby. Cùng với quà tặng, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn gửi thư mời gia đình ông bà sang thăm Hà Nội nhân dịp Tết Nguyên đán 1960. Sau cuộc tái ngộ với bao ân tình giữa hai người bạn tóc đều bạc, chồng tôi đã viết thư cảm ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh và nói rằng nếu như trong đời ông làm được việc có ích nhất, đó chính là giúp được người bạn mình tìm lại được tự do”.

Ông Paul kể thêm với chúng tôi là luật sư F. Loseby là một người chồng và người cha tốt bụng, sống giản dị khiêm nhường, sẵn sàng tư vấn về pháp luật cho bất kỳ ai dù giàu hay nghèo tìm đến ông, trung thành với nguyên tắc là mọi người phải được đối xử bình đẳng theo pháp luật, công lý phải được bảo vệ. Ông còn tâm sự với tôi là sau khi đi thăm Việt Nam lần thứ nhất, được thăm nhà sàn và khung cảnh sống của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông vô cùng xúc động và ngưỡng mộ nhân cách thanh cao của Người. Ông đã từng sống nhiều năm ở Nam Phi trước khi làm việc ở Hồng Kông rồi chuyển về London, từng đi nhiều nước, ông càng khâm phục Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người luôn dấn thân trong gian khổ, cả đời mình đấu tranh cho độc lập tự do và thống nhất đất nước, sống bình dị, hết lòng vì nước vì dân, không có tài sản cá nhân, không một tấm huân chương.

Ngày 22/5/2005, trong buổi lễ trang trọng tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, ông Paul Tagg đại diện cho gia đình luật sư Loseby đã trao tặng lại cho Bảo tàng kỷ vật quý báu của gia đình với niềm tin tưởng tình bạn thủy chung giữa luật sư Loseby và Chủ tịch Hồ Chí Minh tượng trưng cho những giá trị nhân văn cao đẹp, mặc dù có khác biệt về chính trị và văn hóa, vẫn sống mãi với thời gian.

Đạm Thư
Theo antg.cand.com.vn
Phương Thúy (st)

bqllang.gov.vn