Tag Archive | Lãnh tụ vĩ đại

Những điều ít biết về công tác bảo vệ Bác Hồ: Người cận vệ đầu tiên của Bác Hồ

Giadinh.net – Ông là người cận vệ đã bảo vệ Bác Hồ khi từ Côn Minh (Trung Quốc) về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Ông vinh dự và tự hào được Bác Hồ đặt tên, từng là Tư lệnh đầu tiên của Quân chủng Phòng không – Không quân và 23 năm liền giữ cương vị Phó Tổng tham mưu trưởng.

Kế hoạch bảo vệ an toàn đón Bác Hồ về nước

Ông là Thượng tướng Phùng Thế Tài, nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Từ đứa trẻ lang lang ở Côn Minh

Tên thật của ông là Phùng Văn Thụ, sinh ra trong một gia đình nghèo tại xã Văn Nhân, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây (cũ). Nhà đông anh em nên làm ruộng quanh năm mà không đủ ăn. Thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên mấy bà con đi buôn bán bên Trung Quốc bảo ông sang xin việc làm để kiếm sống.

Thượng tướng Phùng Thế Tài.

Năm 1933, khi đó mới 13 tuổi, ông theo một người làng đi kiếm sống. Điểm dừng chân đầu tiên của ông là thị trấn Chỉ Thôn, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Thị trấn này là một trạm hoả xa trung chuyển tất cả đầu máy từ Vân Nam về, từ Lào Cai của Việt Nam sang. Vì nhỏ tuổi nên ông không xin được việc của người lớn. Một gia đình bản địa nhận ông về làm giúp việc nhà.

Nhưng ở được một thời gian, vì không chịu được cảnh hống hách bắt nạt của con chủ nhà nên ông bỏ lên Côn Minh, thủ phủ của tỉnh Vân Nam. Suốt một tuần lễ không xin được việc gì. Giữa trời đông lạnh giá, bụng đói meo, quần áo tơi tả không có một bộ mang theo, ông lang thang rồi mệt ngủ luôn trên ghế đá công viên Hạ Lầu, ngoại thành Côn Minh. Đang thiu thiu, có một người đàn ông đánh thức dậy và nói bằng tiếng Việt: “Em từ đâu đến mà nằm ngủ ở đây?”

Sau khi trình bày hoàn cảnh của bản thân, ông được người đàn ông này đưa về hãng dầu cù là Nhị Thiên Đường. Qua một thời gian thử thách và được giác ngộ, ông được tham gia các đoàn thể và đi theo cách mạng.

Người gặp ông buổi tối ở công viên Hạ Lầu chính là đồng chí Vũ Anh (bí danh Trịnh Đông Hải). Thời gian đó đồng chí Vũ Anh được Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương cử sang Trung Quốc hoạt động cách mạng, làm Biện sự sứ, xây dựng cơ sở trong công nhân lao động. Năm 1939, chính đồng chí Vũ Anh đã dìu dắt, giúp đỡ và giới thiệu kết nạp ông vào Đảng Cộng sản Đông Dương (đồng chí Vũ Anh đã nhận ông làm con nuôi). Người thứ hai giới thiệu kết nạp ông là đồng chí Thanh Bình (sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đồng chí Thanh Bình là thứ trưởng Bộ Nội Vụ).

Thành cận vệ đầu tiên của Bác Hồ

Một buổi sáng đầu năm 1940, có người khách đến hãng Nhị Thiên Đường tìm gặp đồng chí Vũ Anh. Hai người đến địa điểm khác trao đổi công việc. Đến chiều, đồng chí Vũ Anh cho biết người đến tìm gặp là ông Trần và giao Phùng Thế Tài bảo vệ người này. Nhìn thái độ và nghe đồng chí Vũ Anh dặn dò cẩn thận, ông biết đây là một người rất quan trọng. Sau này, ông mới biết ông Trần chính là bí danh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Và ông đã trở thành cận vệ đầu tiên của Bác Hồ từ thời khắc ấy. Sau này ông được Bác đặt tên là Phùng Hữu Tài (một thời gian sau ông xin Bác cho đổi tên là Phùng Thế Tài).

Bác Hồ tặng quà Tết và nói chuyện với các chiến sỹ Đoàn không quân Sao Vàng.

Về kỷ niệm ngày đầu bảo vệ Bác Hồ, Thượng tướng Phùng Thế Tài kể: “Sau khi đồng chí Vũ Anh giới thiệu tôi là cận vệ, ông Trần nhìn tôi tỏ ý hài lòng. Tuần lễ đầu, ông Trần và tôi nói chuyện với nhau bằng tiếng Trung Quốc, sau mới dùng tiếng Việt. Do nguyên tắc hoạt động bí mật nên cả ông Trần và tôi làm như không quen biết nhau. Gọi là đi bảo vệ nhưng thực ra tôi có súng ống gì đâu. Tôi vốn hiếu động, dạo trước đã làm một quả đấm sắt, một con dao. Vậy là giờ đây nó hữu ích. Tôi không được phép vào nhà ở của ông Trần, mà chỉ được đứng chếch ở bên phải hoặc bên trái lề đường để quan sát. Thấy ông Trần đi là tôi đi theo cách 5 đến 10 mét”.

Trong dịp Tết Tân Tỵ (năm 1941), ông cũng nằm trong số những cán bộ đi cùng để bảo vệ Bác Hồ về nước. Khi về đến cột mốc 108, ông Phùng Thế Tài được tổ chức phân công ở lại Côn Minh hoạt động. Vì thạo tiếng Trung Quốc nên quân đội Tưởng tuyển ông làm cho cơ quan tình báo để chuẩn bị cho kế hoạch “ Hoa quân nhập Việt” và cho ông vào học lớp quân chính về nghiệp vụ tình báo của trường quân sự Hoàng Phố.

Là ngưòi thông minh, tiếp thu nhanh, chỉ sau khóa học ông được phong cấp Thiếu Hiệu (ngang với Thiếu Tá). Chúng cấp cho ông một số giấy chứng nhận đặc biệt, có đóng dấu Tưởng Thống chế. Giấy này cho phép được đi lại trong toàn quốc. Lợi dụng sự ưu đãi này, ông đã tranh thủ hoạt động có lợi cho phía ta. Những giấy tờ đó cũng đã thực sự trở thành “bảo bối” cứu nguy cho những chuyến công tác bảo vệ lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sang Trung Quốc sau này.

Đầu năm 1942, ông được tổ chức giao nhiệm vụ phụ trách đợt chuyển vũ khí về nước. Sau đó, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và đồng chí Vũ Anh cho ở lại Pác Bó tiếp tục làm nhiệm vụ bảo vệ Bác. Dạo đó, tổ bảo vệ “Ké Thu” (bí danh của Bác Hồ ở Pác Bó) gồm có: Phùng Chí Kiên, Lê Quảng Ba, Đinh Đại Toàn, Đặng Văn Cáp, Dương Đại Lâm, Phùng Thế Tài… Thời gian này cuộc sống của Ké Thu và tổ bảo vệ rất thiếu thốn. Lúc rảnh rỗi anh em trong tổ bảo vệ đi mò cua bắt ốc, đào củ mài. Thấy lãnh tụ Nguyễn ái Quốc gầy yếu anh em ưu tiên dành gạo nấu riêng. Người không cho làm như vậy và bảo: “Các chú chịu khổ được, Bác cũng chịu được”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm và chúc Tết Đoàn không quân Sao Vàng và các đơn vị bảo đảm kỹ thuật đường băng thuộc quân chủng Phòng không Không quân vào sáng mồng 1 Tết Đinh Mùi (9/2/1967). Cùng đi có Thượng tướng Văn Tiến Dũng-Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (người đi bên trái Bác) và Đại tá Phùng Thế Tài-Tư lệnh quân chủng Phòng không Không quân (người đi bên phải Bác).

Một mình bảo vệ Bác trở lại Trung Quốc

Tháng 8/1944, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lấy tên là Hồ Chí Minh và quyết định sang Trung Quốc gặp đại diện quân đồng minh để tranh thủ sự giúp đỡ. Đồng chí Phùng Thế Tài được giao nhiệm vụ bảo vệ Bác trong chuyến đi này.

Thượng tướng Phùng Thế Tài kể: “Lần ấy chỉ có một mình tôi đi bảo vệ Bác. Tôi mặc bộ dạ sỹ quan Tưởng oai lắm, nói thạo tiếng Trung Quốc, lại có sẵn giấy thông hành đặc biệt của chính quyền Tưởng Giới Thạch cấp hồi còn học ở trường quân sự Hoàng Phố nên yên trí. Bác mặc bộ quần áo của quân đội Tưởng, người ngoài nhìn chẳng khác anh lính trẻ đi với ông lính già. Khi đến Tĩnh Tây, cơm nước xong, Bác vào làm việc tại trụ sở của Quốc dân đảng Trung Hoa và là tổng hành dinh của Trung tướng Trần Bảo Xương.

Tối hôm đó, Bác ngủ ngay ở chỗ làm việc. Tôi không rõ Bác liên lạc với Trần Bảo Xương để làm gì, không dám hỏi vì nguyên tắc bí mật. Trên đường về phòng nghỉ, Bác nói bỏ quên mũ ở phòng khách bảo tôi quay lại lấy. Nhờ thế, tôi vô tình nghe lỏm được bọn Trần Bảo Xương đang bàn trong phòng kín tìm cách bắt giữ hai Bác cháu tôi. Tôi nghe thế rất lo, vội quay báo ngay với Bác. Bác rất bình tĩnh, chỉ thoáng một chút đăm chiêu. Suy nghĩ một lúc, Bác quyết định quay về Việt Nam ngay trong đêm hôm đó”.

“Nhưng làm sao mà ra khỏi hai cánh cổng sắt có lính gác của tổng hành dinh Trần Bảo Xương được? Như hiểu được ý tôi, Bác khẽ nói: “Ta đi ngay, không mang hành lý gì, đi người không, giả bộ với lính gác ra ngoài mua bao thuốc lá!”. Thoát khỏi được tổng hành dinh của Trần Bảo Xương, hai Bác cháu quên cả mệt, đi như chạy ra khỏi Tĩnh Tây và cuốc bộ một mạch không nghỉ. Sáng hôm sau trông thấy Bác quá mệt, người phờ phạc, lòng tôi quặn lại”.

Thời gian sau thấy năng khiếu chỉ huy quân sự và nguyện vọng của ông Phùng Thế Tài được đi chiến đấu ngoài mặt trận, Bác đồng ý. Trước khi ra mặt trận, Bác dặn ông: “Chú sẵn sàng đi chiến đấu, thế là tốt, nhưng nhớ đừng có “hữu dũng, vô mưu” đó nhé…”. Những lời Bác dạy, ông luôn thấm thía và là hành trang luôn theo ông, giúp ông vượt qua mọi khó khăn, gian khổ trong suốt cuộc đời. Ông đã trở thành vị tướng mà nói đến ai cũng biết: “Tướng Tài”.

Nguyễn Đức Quý

giadinh.net.vn

Những chuyện ít biết về công tác bảo vệ Bác Hồ: Kế hoạch bảo vệ an toàn đón Bác Hồ về nước

Giadinh.net – Cuối tháng 2/1940, được tin lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về đến Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc), Trung ương Đảng đã cử một số cán bộ như: Phạm Văn Đồng (bí danh là Lâm Bá Kiệt), Võ Nguyên Giáp (bí danh là Dương Hoài Nam), Đặng Văn Cáp (bí danh là Đặng Văn Linh), Hoàng Văn Lộc và một số đồng chí khác sang Trung Quốc để tìm gặp, báo cáo tình hình trong nước và xin chỉ thị của Người.

Sau gần 3 tháng, đến tháng 5/1940 đồng chí Phùng Chí Kiên dẫn đồng chí Đặng Văn Cáp đến Côn Minh gặp Bác.

Những người bảo vệ Bác về nước

Sau khi trao đổi, Bác đồng ý phương án về nước bằng đường Côn Minh – Lào Cai, qua huyện Khai Viễn. Bác phái đồng chí Bùi Thanh Bình, Hoàng Văn Lộc về Hồ Kiều (một thị trấn của tỉnh Vân Nam sát địa phận tỉnh Lào Cai nước ta) để thăm dò đường sá. Người chịu trách nhiệm nhóm công tác bảo vệ Bác trong thời gian chuẩn bị về nước là đồng chí Phùng Thế Tài.

Hưởng ứng cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và tiến tới kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Người, Báo GĐ&XH khởi đăng loạt tư liệu đặc biệt về công tác bảo vệ an ninh cho Bác.

Báo GĐ&XH cảm ơn Trung tá Nguyễn Đức Quý – Đội trưởng đội Nghiên cứu khoa học, Phòng Tham mưu, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ –  người đã trực tiếp chắp bút cho loạt bài này. Chúng tôi cũng trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo và cán bộ, chiến sỹ Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đã giúp đỡ để hoàn thành loạt tư liệu này. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Nhưng bất ngờ cuối tháng 6/1940 đường giao thông Côn Minh- Lào Cai bị tắc nghẽn nên kế hoạch không thực hiện được. Bác chỉ thị cho đồng chí Hoàng Văn Lộc phải trở lại ngay Côn Minh.

Ngày 5/1/1941, đồng chí Hoàng Văn Thụ, Thường vụ Trung ương Đảng từ Việt Nam sang Tân Khư (Tĩnh Tây- Quảng Tây- Trung Quốc) gặp Bác để báo cáo kết quả thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng về xây dựng và củng cố an toàn khu Cao Bằng và việc tổ chức thành lập Ban Công tác đội cũng như phong trào cách mạng ở đây.

Sau khi báo cáo kết quả việc chuẩn bị Hội nghị Trung ương lần thứ 8, đồng chí Hoàng Văn Thụ nêu nguyện vọng của Trung ương Đảng, đề nghị Bác về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đồng chí cũng đề nghị Bác về qua ngả Cao Bằng, vì trình độ giác ngộ cách mạng của nhân dân dọc biên giới tương đối cao và cán bộ ở đây vững vàng.

Ngày 6/1/1941, Bác Hồ cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên, Đặng Văn Cáp… được đồng chí Hoàng Sâm dẫn đi qua Nậm Bo xuống Nậm Quang (Tĩnh Tây- Trung Quốc) để chuẩn bị lập kế hoạch cụ thể cho việc về nước. Tại đây, Bác Hồ đang mở lớp học và trực tiếp huấn luyện chính trị cho 43 đồng chí trong Ban công tác đội do Trung ương cử sang. Thời gian lớp học kéo dài khoảng 20 ngày, kết thúc vào dịp gần Tết Âm lịch năm 1941 (Tân Tỵ).

Bức họa bảo vệ Bác về đến cột mốc 108, ngày 28/1/1941 tại Pác Bó (Cao Bằng).

Sau khi kết thúc lớp học, Bác mới chỉ đạo kế hoạch về nước. Người quyết định qua cột mốc 108 về Pác Bó (Cao Bằng). Đoàn về nước được chia làm 3 nhóm. Nhóm thứ nhất do đồng chí Hoàng Sâm phụ trách về nước bằng đường Xuyên Sơn tới Pác Bó.

Nhóm thứ hai do đồng chí Phùng Chí Kiên phụ trách đi qua cột mốc 108, rồi theo đường 203 về Pác Bó. Hai nhóm này về trước nắm tình hình hoạt động của địch, và tổ chức khảo sát đường đi để Bác về nước. Ngay khi hai nhóm đầu lên đường về nước thì nhóm thứ ba, trực tiếp bảo vệ Bác cũng đi về bản Nậm Tẩy (Quảng Tây-Trung Quốc) để chờ tin trong nước, sẵn sàng xuất phát khi điều kiện thuận lợi. Khi về nước, hành lý mà Bác mang theo hầu như chẳng có gì. Chỉ có một chiếc vali nhỏ quần áo cũ và một chiếc máy chữ xách tay hiệu “Ba Bi”. Chiếc máy chữ này là vật dụng cá nhân quý giá mà Bác luôn mang theo bên mình.

Sau một thời gian nắm tình hình, thời cơ đến, Bác Hồ quyết định lên đường về nước. Nhóm bảo vệ trực tiếp và đi theo Bác Hồ lúc này ngoài đồng chí Phùng Thế Tài, còn có những người sau: Hoàng Văn Lộc- một cán bộ người dân tộc Tày, có  kinh nghiệm hoạt động bí mật ở vùng Cao Bằng; Đặng Văn Cáp  là thanh niên rất khoẻ, giỏi võ, bắn súng cũng rất giỏi và biết chữa bệnh bằng thuốc nam; Thế An cũng là một người dân tộc Tày, rất thông thạo đường rừng, đặc biệt là những đường đi tắt; Lê Quảng Ba cũng là một cán bộ người dân tộc Tày, rất am hiểu phong tục của đồng bào dân tộc ít người, thông thạo tiếng  Dao, Mán, Nựng và tiếng Quan Hoả (Trung Quốc). Nhóm trực tiếp bảo vệ Bác Hồ do đồng chí Lê Quảng Ba phụ trách, tuy nhiên Bác Hồ chỉ đạo trực tiếp.

Cái Tết quê hương đầu tiên sau 30 năm xa Tổ quốc

Bác Hồ đã thống nhất kế hoạch hóa trang và phân công nhiệm vụ cho từng người. Về hóa trang, Bác phân tích: Vùng này có nhiều người dân tộc Nùng. Họ có phong tục, cứ đến Tết là các chàng rể (già cũng như trẻ) đều phải mang đồ lễ về “cúng ma” ở nhà bố mẹ vợ. Vì vậy, cả nhóm ăn mặc như những chàng rể người Nùng đang trên đường về nhà bố mẹ vợ. Bác Hồ cũng mặc một bộ quần áo đặc trưng của đàn ông Nùng thường mặc trong dịp Tết: quần áo chàm, đầu đội mũ kiểu bê-rê cũng may bằng vải màu chàm, chân đi đôi giày vải đen, quàng khăn để vừa ấm vừa che kín bộ râu.

Khu vực Bác làm việc trước đây.

Sáng sớm 28/1/1941, tức ngày mồng 2 Tết (Tân Tỵ), nhận được tin từ trong nước báo sang tình hình thuận lợi, cả đoàn xuất phát từ bản Nậm Quang từ rất sớm. Sau 8 giờ đi đường, khoảng 12h trưa thì cả đoàn đến dãy núi Phia Sum Khảo, nơi có cột mốc biên giới số 108 trên biên giới Việt – Trung, thuộc xã Trường Hà, châu Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.

Cùng lúc đó, nhóm được cử nhiệm vụ đi đón Bác do đồng chí Hoàng Sâm từ trong nước cũng có mặt tại cột mốc 108. Tất cả đều xúc động khi thấy Bác đứng lặng đi bên cột mốc số 108, ngắm nhìn núi rừng trùng điệp của tỉnh Cao Bằng- mảnh đất địa đầu của Tổ quốc. Sau 30 năm xa Tổ quốc, bôn ba đi tìm đường cứu nước, đúng vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã trở về đất nước. Người cúi xuống cầm nắm đất lên hôn. Sau đó Bác vui vẻ bắt tay chúc Tết mọi người.

Rời cột mốc 108, cả đoàn theo con đường mòn xuống thung lũng Pắc Bó. Tại đây đoàn công tác bảo vệ bố trí Bác ở gia đình nhà ông Máy Lỳ, dân tộc Nùng, một cơ sở cách mạng tin cậy.  Gia đình ông Máy Lỳ chỉ có hai vợ chồng và một người con gái. Đây là địa điểm thường được Trung ương Đảng chọn làm nơi hội họp và trạm dừng chân cho cán bộ đi công tác qua lại. Gia đình ông Máy Lỳ rất nghèo nhưng lại có tinh thần yêu nước nồng nàn. Căn nhà của ông nằm độc lập ở dưới một quả đồi nhưng thoáng đãng. Từ sân nhà nhìn ra có thể thấy toàn cảnh thung lũng ở phía trước. Sau nhà là một con suối, kế đến là một khu rừng rậm rất tiện cho yêu cầu bảo vệ khi có tình huống bất trắc có thể xảy ra.

Gia đình ông Máy Lỳ hầu như đã quen mặt biết tên hết các cán bộ trong đoàn nhưng không biết Bác là ai. Khi đến nhà ông Máy Lỳ, Bác mặc áo chàm, đi dép rơm, tay cầm gậy. Mọi người gọi Bác là ông Ké và giới thiệu là cán bộ dưới xuôi lên. Ông Máy Lỳ gọi con gái mang ra một thau nước nóng, mời ông Ké rửa trước.

 Nghỉ ngơi một lát, ông Máy Lỳ lại sai con gái bưng một mâm cỗ Tết ra mời ông Ké và đoàn cán bộ dùng. Bên mâm cỗ Tết, mọi người trò chuyện râm ran, riêng Bác cứ lặng yên, nét mặt rất xúc động. Ông Máy Lỳ nâng bát rượu mời Bác và anh em cán bộ cùng đi. Bác chúc sức khoẻ ông Máy Lỳ. Ông Máy Lỳ rất vui, gọi vợ và con gái ra tiếp khách để tỏ lòng mến khách.

Đến ngày 8/2/1941, đoàn cán bộ bảo vệ tiếp tục đưa Bác vào ở và làm việc trong hang Cốc Bó.

(Còn nữa)

Nguyễn Đức Quý

giadinh.net.vn

Ðền thờ Bác Hồ ở Pác Bó

Ðền thờ Bác Hồ ở Pác Bó

Có một ngôi đền thờ Bác Hồ mới được khánh thành ngày 19-5-2011, theo tôi, cũng là một ngôi đền thờ Bác Hồ hết sức độc đáo. Ðó là đền thờ Bác Hồ ở Pác Bó, Cao Bằng.

Lịch sử đã ghi lại, vào buổi sáng ngày 28-1-1941, từ Trung Quốc, Bác Hồ đã bí mật về nước. Ðiểm dừng chân đầu tiên của Người là cột mốc 108, sau tròn 30 năm bôn ba nơi xứ lạ quê người tìm đường cứu nước. Và hang Cốc Bó, một hang đá lạnh lẽo cách rất gần cột mốc 108 đã được chọn làm nơi tá túc, một “đại bản doanh” của cách mạng với một người duy nhất vừa “Tổng chỉ huy” vừa “lính” là Bác Hồ.

Bác Hồ đã ở trong hang Cốc Bó khoảng hai tháng. Tháng Giêng tháng Hai, khí hậu ở Cao Bằng rất lạnh, hang Cốc Bó dĩ nhiên còn lạnh lẽo hơn bội phần. Năm 1979, hang Cốc Bó đã bị quân xâm lược dùng chất nổ phá toang miệng hang, nhưng lòng hang vẫn còn nguyên vẹn. Người viết bài này đã từng đứng trên miệng hang, vào năm 2003, để nghe và nhìn những giọt nước lạnh rỏ tí tách từ các thạch nhũ xuống lòng hang, nơi Bác Hồ của chúng ta đã nằm ngủ trong những đêm rét mướt. Năm 2011, khi trở lại thăm hang Cốc Bó, thì đường lên miệng hang đã bị chặn lại vì một lý do “nhạy cảm” nào đó, nên khách du lịch không có cảm giác thật sự về cái lạnh trong lòng hang khi được nghe và nhìn những giọt nước lạnh từ trần hang rỏ xuống.

Những sự nghiệp lớn thường bắt đầu từ hành trình gian khổ. Vinh dự cho Pác Bó (tiếng Tày có nghĩa là “Miệng Nguồn”), khi địa danh này được coi là một “cột mốc khởi đầu” cho cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945. Thử nghĩ xem, nếu vào một ngày đầu năm 1941, Bác Hồ không về nước và ở hang Cốc Bó (tiếng Tày có nghĩa là “Hang Nguồn”), thì công cuộc vận động cách mạng chống thực dân Pháp sẽ như thế nào? Tình cờ chăng, khi một địa danh có lẽ khá vô danh như hang Cốc Bó lại trở thành một điểm sáng của lịch sử Việt Nam hiện đại? Nhưng với những ai đã từng đến thăm hang Cốc Bó, họ đều có chung nhận xét, đây không hề là chuyện tình cờ. Hình suối và thế núi ở Pác Bó có một vẻ gì thật đặc biệt, nó vừa khuất vừa mở, vừa kín vừa thông, dễ tiến dễ thoái, và một người có tầm nhìn xa rộng như Bác Hồ khi chọn địa danh này cho công cuộc dựng cờ khởi nghiệp, thì đó là sự lựa chọn sáng suốt và thực tế của một nhà quân sự và một nhà chính trị.

Trên đường vào trung tâm khu di tích Pác Bó, du khách đi sát qua một ngọn đồi có tên “Pò Tếng Chấy”, ngọn đồi có suối Lê-nin bao bọc ba bề, đứng trên ngọn đồi này nhìn về phía nam, tầm mắt chợt mở ra bát ngát.

Tỉnh Cao Bằng đã chọn đỉnh ngọn đồi ấy, ngọn đồi có tên là “Pò Tếng Chấy”, để làm nơi xây dựng đền thờ Bác Hồ. Chữ “Pò” ở đây có nghĩa là “đồi” là “ngọn đồi”, còn “Tếng Chấy” là gì thì tôi đã hỏi một số người dân địa phương, nhưng không ai biết nghĩa. Thôi thì cứ tạm gọi là đồi “Tếng Chấy” vậy. Bây giờ Bác Hồ đã hiển thánh, thì sự hiển thánh của Người cũng vô cùng giản dị, như chính đời sống của Người. Vì thế, đền thờ Bác Hồ được xây trên đỉnh ngọn đồi mang cái tên mộc mạc “Pò Tếng Chấy” cũng thật thú vị, nó đúng như phong cách sống của Bác lúc sinh thời.

Ðược thiết kế cách điệu từ hình dáng một ngôi nhà sàn của đồng bào dân tộc ở Pác Bó, đền thờ Bác Hồ không khiến người đến viếng phải choáng ngợp vì sự đồ sộ hay hình thức tân kỳ, mà có cảm giác ấm áp như đang đến với một ngôi nhà sàn bình dị bên trong có ngọn lửa bếp cháy rực suốt ngày đêm.

Không lặp lại mẫu kiến trúc ở các công trình tương tự trong cả nước, đền thờ Bác Hồ ở Pác Bó thanh thoát trong hình thể và uy nghi như một nơi tụ khí, vừa ung dung như một đài quan sát cho ta mở tầm mắt, lại vừa thân thiện gần gũi trước cảnh quan sông núi và cánh đồng lúa gieo của đồng bào dân tộc Nùng dưới chân đồi. Xây dựng và hoàn thành chỉ trong vòng một năm, từ 19-5-2010 đến 19-5-2011, đền thờ Bác Hồ ở Pác Bó vẫn kịp tỏa lên vẻ thiêng liêng và bình dị, cứ như ngôi đền đã tọa lạc trên ngọn đồi “Pò Tếng Chấy” này từ lâu lắm.

Quay về hướng nam, đền thờ Bác Hồ như gợi nhớ tấm lòng yêu thương vô hạn của Người đối với đồng bào miền Nam ngày đất nước còn phải chịu nỗi đau chia cắt. Bây giờ, đất nước đã liền một dải, thì “phương Nam” đây chính là “Nam quốc sơn hà” vậy! Bên trong đền thờ, đặt nơi trang trọng nhất ở gian chính điện là một bức tượng toàn thân Bác Hồ với dáng ngồi thanh thản. Trên cao nhất là bức hoành phi khắc bốn chữ “Hồng nhật cao minh” được mạ vàng trang trọng. Bên tả bức tượng khắc bài thơ bốn câu của Bác Hồ: “Non xa xa, nước xa xa/ Nào phải thênh thang mới gọi là/ Ðây suối Lênin, kia núi Mác/ Hai tay xây dựng một sơn hà/”. Nhà thơ Trần Hùng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng nói với tôi: “Anh nhìn kỹ xem, bức tượng Bác Hồ này rất có thần phải không? Dường như khí thiêng sông núi ở Pác Bó đã tụ cả vào bức tượng đồng này, khiến tôi mỗi lần chiêm ngắm lại một lần ngạc nhiên”. Ðúng là bức tượng Bác Hồ ở đền thờ này kỳ lạ thật, khiến ta có cảm giác an tĩnh khi chiêm ngắm, nhưng lại dấy lên trong ta một nỗi bồi hồi nào đó, vừa theo cách một tác phẩm nghệ thuật tác động tới người xem, vừa mang vẻ thiêng liêng thu hút ta như một bức tượng thánh.

Anh Trần Hùng kể, thời gian xây dựng đền thờ Bác Hồ, lúc đó anh đang là Giám đốc Sở VH, TT&DL, anh đã được lãnh đạo tỉnh cử lên hiện trường với công nhân suốt hai tháng cuối cùng, khi công trình sắp “về đích”. Ðó là thời gian cường độ lao động ở công trình là cao nhất, kỹ sư và công nhân phải làm cả ba ca. “Ðó là niềm vinh dự, một cơ may đã cho tôi được cùng góp sức nhỏ bé của mình vào công trình này anh ạ!”.

Có một chi tiết khiến tôi cảm động, đó là chiếc bàn nhỏ đặt ở góc đền thờ tiếp nhận những công đức của người đến viếng. Khi tôi và mấy người bạn xin được góp chút lòng thành, thì cô gái người Nùng là nhân viên bảo tàng đã cẩn thận ghi họ tên người cung hiến công đức trên tấm giấy hoa in sẵn rất đẹp và trao cho chúng tôi như một ghi nhận. Và như một món quà kỷ niệm./.

Theo nhandan.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Công trường 5: cơ sở nội dung và giá trị lịch sử

Năm 1956, sau khi hoàn thành nhiệm vụ Chủ nhiệm Hậu cần đoàn XP do Bác Hồ sáng lập tôi về nhận công tác mới tại cơ quan Phủ Chủ tịch cùng với đồng chí Vũ Kỳ, Tạ Quang Chiến… Thời gian đầu được giao phụ trách nhà khách. Năm 1957, tôi được cử vào làm nhiệm vụ trực tiếp giúp việc về sinh hoạt và làm việc của Bác kính yêu.

Đầu năm 1958, tôi được giao theo dõi việc làm ngôi nhà sàn bằng gỗ của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch. Ông Nguyễn Văn Ninh Viện trưởng Viện thiết kế Bộ Kiến Trúc trực tiếp nghe yêu cầu của Bác. Thiết kế xong, anh Ninh trình bản vẽ lên được Bác duyệt và cho thi công. Bác tự chọn khoảnh đất để dựng nhà. Biển gắn tại nhà sàn ông Ninh trực tiếp thiết kế tôi trình lên Bác duyệt và cho gắn lên nhà. Nhà sàn làm xong, Bác chuyển sang ở trong dịp tháng 5-1958. Mọi người đều phấn khởi. Anh em tham gia xây dựng công trình rất xúc động khi được Bác tổ chức buổi gặp gỡ trực tiếp cám ơn, chụp ảnh cùng anh em. Bức ảnh đó hiện lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Năm 1959, tôi được cấp trên giao nhiệm vụ trực tiếp theo dõi, chuẩn bị trang thiết bị, làm đầu mối liên lạc để giúp các đồng chí lãnh đạo Văn phòng PTT và PCT mà trực tiếp là các đồng chí Phan Mỹ, Nguyễn Kim Cương, Vũ Kỳ chỉ đạo điều hành công việc xây dựng Công trường 5 (Sơn Tây) – Tên gọi bí mật của Khu di tích Đá Chông ngày nay. Tên gọi Công trường 5 do ai đặt và tại sao như vậy tôi không rõ. Khi nhận nhiệm vụ và tiếp nhận các tài liệu văn bản tôi đã thấy tên gọi Công trường 5 được ghi trong các văn bản chính thức rồi.

Được tham gia công trình và trên cơ sở các tài liệu gốc của công trình còn lưu giữ trong đó có bản vẽ Bình đồ Công trường 5 do Cục Doanh trại (Tổng cục Hậu Cần – Bộ Quốc phòng) hoàn chỉnh ngày 8-11-1959 gửi VP Chủ tịch nước ngày 11-9-1959 có thể tóm tắt lược những vấn đề chính sau đây:

1. Phạm vi khu vực Công trường 5

Khu A: Được xây dựng trong các chỉ giới cắm mốc từ M1 đến M7gồm 2 dãy nhà nối liền nhau bằng lối đi có mái che (nhà cầu).

Ngôi nhà thứ nhất được thiết kế kiểu nhà sàn ở Hà Nội. Cao 2 tầng
Tầng 1 là nơi tiếp khách, là phòng họp Bộ Chính trị có kê một dãy bàn dài và ghế ngồi. Vì ở núi cao nên khác với nhà sàn ở Hà Nội nhà ở đây có lắp cửa để tránh rắn rết và các loại côn trùng.Cửa lùa làm bằng gỗ có thể có thể tháo rời. Khi cần bệ cửa thành ghế cho khách ngồi.

Tầng 2 chia thành 4 phòng: 3 phòng nghỉ và 1 phòng khách. Phòng nghỉ ở đầu hồi dành riêng cho Bác, hai phòng còn lại dành cho các đồng chí lãnh đạo hoặc tiếp khách và 1 phòng khách. Tổng diện tích xây dựng ngôi nhà này là 318,5m2 trong đó có 191,44m2 sử dụng.

Phía trước bên phải, đầu cầu thang xuống có xây hầm trú ẩn nhỏ bằng đá hộc đủ chỗ cho 3, 4 người sử dụng. Xung quanh nhà có rải sỏi, bó nền bằng gạch lá dừa đỏ. Bậc tam cấp vào nhà và hiên được làm bằng granitô.

Ngôi nhà thứ hai trong khu A là nhà 1 tầng. Được nối liền với nhà 2 tầng và chia thành các phòng chức năng: Thư ký, Bảo vệ tiếp cận, Bếp nấu ăn… Tổng diện tích xây dựng là 124,96 m2 trong đó có 85,2 m2 sử dụng

Khu B: Khu B nằm trên một quả đồi giữa khu nhà A và núi U Rồng theo thế yên ngựa. Khu vực này gồm có 2 nhà:

Ngôi nhà thứ nhất xây 2 tầng chia thành nhiều phòng để các đồng chí Trung ương, các đồng chí lãnh đạo cao cấp làm việc. Nhà xây để liền một lúc có thể đón tiếp và đủ chỗ làm việc cho nhiều người. Ngôi nhà 2 tầng này có diện tích xây dựng 301,65 m2 trong đó có 175 m2 sử dụng. Phía sau nhà có hầm trú ẩn dài cho nhiều người cùng sử dụng được.

Ngôi nhà thứ hai là nhà phục vụ: Bếp ăn, nhà kho… Ngôi nhà này có diện tích xây dựng 141,4 m2 trong đó có 104,25 m2 sử dụng.

Đi tiếp từ khu B sang, lên dốc là địa điểm làm sân bay trực thăng có diện tích 10.000 m2 giữa có sân bê tông phủ đất và trồng cỏ rộng 1600 m2 . Sân bay này được xây theo đồ án thiết kế và có sự giám sát của cán bộ kỹ thuật Cục Không quân

Khu C: Có dãy nhà xây 1 tầng kề hồ và sát phía xóm Đồi, gần đường mòn đi xuống bờ sông. Đây là nhà giành riêng cho cán bộ, chiến sĩ trung đội cảnh vệ Trung đoàn 600 thuộc Công an vũ trang. Diện tích xây dựng khu C là 342,76 m2trong đó có 205 m2 sử dụng.

Cùng với các dãy nhà, sân bay trực thăng… Công trường 5 còn có các công trình phụ trợ thiết yếu như: Nhà kho, nhà tắm, nhà vệ sinh… và nhà máy điện 25KVA, các bể chứa nước cho cả 3 khu vực, trạm lọc nước bảo đảm tiêu chuẩn, bệ rửa xe ôtô, bốt gác, vườn hoa, hòn non bộ….

Đường vào khu vực Công trường 5 có rải nhựa song cỏ mọc lan kín đường chỉ đủ cho một luồng xe vào, ra.

Nối vào khu vực ở Công trường 5 là các đường nội bộ rải đá cấp phối. Ra vào khu vực có đường đi riêng xa các khu nhà ở phía trong, rất kín đáo. Xung quanh khu vực này người dân địa phương vẫn đi lại bình thường, thuận tiện bằng đường mòn ven sông và đường nối các làng với nhau.

Vị trí Công trường 5 nằm giữa một khu rừng tự nhiên có nhiều cây cao bao phủ. ở giữa các ngọn đồi là vùng trũng có một hồ chứa, nước sông Đà có thể lưu dẫn vào hồ tự nhiên. Xung quanh cỏ lác mọc đầy. Các loại gà cỏ, chim, muông thú nhỏ thường lui về đây kiếm ăn tự nhiên.

Để giữ bí mật, khi xây dựng cây trong khu vực không được phép tuỳ tiện chặt phá. Nhiều cây lâu năm cạnh nhà sàn đến nay vẫn còn: Cây gạo, cây vải, long não, cây vải (ngoã), bồ hòn, cà phê… Nhiều cây được trồng thêm sau này như: Bạch Quế của Bộ Lâm nghiệp tặng trồng ở đây vừa thêm bóng mát lại có hương thơm lợi cho môi trường. Cây vú sữa miền Nam trồng trong vườn Bác cũng được chiết vài cành đem trồng trên Công trường 5 và một số nơi khác như: nhà nghỉ Hồ Tây, Khu vườn ươm trong PCT vì sợ nếu Mỹ ném bom trúng vào làm chết cây thì mất giống. Con đường dốc đi bộ từ phía bờ sông lên nhà, Bác nhắc trồng cây dâm bụt. Đến nay một số cây vẫn còn.

2. Quá trình xây dựng

Khu Công trường 5 có quyết định xây dựng từ tháng 6-1959. Sau vài tháng chuẩn bị, tháng 9-1959 bắt đầu khởi công xây dựng. Toàn bộ tài liệu liên quan đến công trình hiện còn lưu giữ đều đóng dấu và bảo quản theo mức độ Mật hoặc Tuyệt mật bởi tầm quan trọng và ý nghĩa chính trị của công trình.

Trước những yêu cầu về chất lượng và thời gian thiết kế, thi công công trình Ban lãnh đạo và Ban chỉ huy công trường đã được thành lập dưới sự chỉ đạo, điều hành của các đồng chí phụ trách Văn phòng Phủ Thủ tướng và Phủ Chủ tịch và đại diện tỉnh Sơn Tây, các lực lượng tham gia công trình.

Ngày 14/10/1959, Cục Doanh trại (Tổng cục Hậu cần) đã ra chỉ thị số 58/XD do Cục trưởng Dương Gia Khương ký đóng dấu Tối mật gửi Thượng khẩn đến Văn phòng Chủ tịch Phủ trong đó ghi rõ:

1/ Phòng thiết kế chịu trách nhiệm thiết kế đồ án theo yêu cầu của sở quan và lập dự toán để sở quan chuẩn bị tài chính và vật liệu cũng như nhân công
Đặc trách đ/c Nguyễn Duy Tuất trưởng ban Hội hoạ theo dõi việc chấp hành các đồ án thiết kế về mặt mỹ thuật cũng như kỹ thuật cho đến khi hoàn thành

2/ Phòng thiết kế phối hợp với Phòng kỹ thuật, ban điện thiết lập đồ án và dự toán thiết bị điện, bàn ghế tủ nước, màn và trang hoàng bên trong và giúp việc hướng dẫn thi công cho đến khi hoàn thành. Đồng chí Huyền có thể đứng trong BCH công trường nếu như được BLĐ chỉ định và chỉ có quan hệ với Cục về mặt kỹ thuật

3/ Tổng đội I chọn 1 đội công trình đảm nhận thi công chính cho việc xây dựng cho đến khi hoàn thành và cố gắng giúp đỡ công trường theo yêu cầu của đồng chí Huyền
4/ Phòng quản lý xây dựng doanh trại biệt phái đ/c Trương Quang Huyền trợ lý kỹ thuật đến làm đội trưởng đội công trình và chịu trách nhiệm hướng dẫn thi công bảo đảm kĩ thuật cho đến khi hoàn thành

Chỉ thị cũng nhấn mạnh: Các phòng, Ban chỉ huy tổng đội và các đ/c có tên có trách nhiệm động viên và làm công tác chính trị thật tốt để hoàn thành nhiệm vụ đúng kỳ hạn, bảo đảm chất lượng…

Theo quyết định của cấp trên UBHC tỉnh Sơn Tây đã cử đ/c Phương Chủ tịch tham gia Ban chỉ đạo và Đ/c Nguyễn Văn Rự Phó CVP UBHC tham gia BCH công trường đồng thời tham gia Đảng uỷ công trường. Tiếp đó cử 1 tổ cán bộ công tác trực tiếp dưới sự lãnh đạo của BCH công trường. Khi đ/c Phương đi học dài hạn TV Tỉnh ủy phân công Đ/c Nguyễn Văn Lễ, Uỷ viên UBHC tỉnh Sơn Tây thay thế. Tỉnh Sơn Tây có nhiệm vụ: Huy động nhân lực; Giải quyết những vấn đề có quan hệ đến tài sản của nhân dân; cung cấp các loại vật liệu có ở địa phương cho Công trường 5 lúc thi công. Văn phòng PTT cung cấp ngân sách và các điều kiện để Hà Tây hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Cục Không quân chịu trách nhiệm trong việc xây dựng đề án sân bay trực thăng: Chọn địa điểm; Làm thiết kế mẫu sân đỗ và chịu trách nhiệm về tiêu chuẩn và quy cách kỹ thuật; Tổ chức kiểm tra các giai đoạn trong quá trình thi công. Nội dung nhiệm vụ đã được ghi rõ trong tài liệu số 164/HC-KQ ngày 8/4/1960 của Cục Không quân do đ/c Cục trưởng Đại tá Đặng Tính ký có đóng dấu Tối mật gửi Văn phòng PCT. Đồng chí Đào Hữu Liêu Chủ nhiệm Hậu cần Cục Không quân được giao nhiệm vụ trực tiếp chăm lo công việc này

Trạm nước và hệ thống bể chứa, máy bơm, bể lọc và đường ống dẫn nước.. do Viện Thiết kế dân dụng thuộc Bộ Kiến trúc chịu trách nhiệm thiết kế và kỹ thuật

Viện Vi trùng học và Viện Vệ sinh (Bộ Y tế) chịu trách nhiệm lấy mẫu và phân tích đối chiếu tiêu chuẩn nước sử dụng trong khu vực.

Nguyên vật liệu xây dựng công trình do Tổng công ty Vật liệu xây dựng (Bộ Nội thương) đảm trách. Người trực tiếp được giao nhiệm vụ này là Đ/c Lưu Trọng Lạc…

Lực lượng xây dựng chủ yếu là bộ đội thuộc tiểu đoàn 2 và đại đội 4 Trung đoàn 259 thuộc Cục Công binh và quân số thuộc trung đoàn 600. Dân công chủ yếu sử dụng người của địa phương ở 3 xã: Thuần Mỹ, Ba trại và Minh Quang…

Các cơ quan, Bộ, Ngành và địa phương đã cùng phối hợp để xây dựng và hoàn thiện khu Công trường 5 theo đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng của một công trình quan trọng và có ý nghĩa chính trị vô cùng to lớn này.

Thời gian thi công khu vực Công trường 5 khoảng 10 tháng nhưng ngôi nhà sàn được xây dựng đầu tiên nên hoàn thành sớm nhất. Khi xây xong, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của anh Vũ Kỳ chúng tôi đã tiến hành việc lắp đặt và sắp xếp các thiết bị, đồ dùng bên trong ngôi nhà. Hầu hết là những thứ có sẵn của PCT đưa lên. Nhiều thứ có từ thời Pháp trong Dinh Toàn Quyền cũ. Bộ bàn ghế dùng họp BCT đưa từ Giao tế sang.

Trang thiết bị lắp đặt sắp xếp trong các phòng nghỉ ở tầng 2 đều giống nhau. Nhà tắm và nhà vệ sinh có lắp các thiết bị dùng chung chứ không chỉ cho riêng mình Bác dùng như nhiều người vẫn nói.

Khi nhà sàn xây xong, đường xung quanh nhà và đường đi từ phía bờ sông lên nhà đều lát sỏi cho thoát nước và mát chứ không phải để tiện cảnh vệ hoặc để Bác massage chân như một vài thông tin trước đây đã công bố trên báo chí. Có một lần khi ở nhà sàn gỗ tại Hà Nội, Bác hỏi tôi (Cù Văn Chước):

– Tại sao các chú lại lát gạch bê tông ? Sao không để sỏi như cũ quanh nhà sàn cho mát?

Tôi báo cáo: Thưa Bác, anh em sợ Bác bị vấp ngã.

Sau đó, không thấy Bác nhắc gì nữa.

Thời gian chúng tôi quản lý Công trường 5, Ban TCQTTW đã cử ông Huấn, ông Ven đến để cùng tham gia bảo quản và chăm sóc. Năm 1962 – 1963 khu Công trường 5 được giao cho Cục quản trị, Ban TCQTTW trực tiếp quản lý và sử dụng. Cử đồng chí Nguyễn Văn Bắc phụ trách nhà máy điện, trạm nước tiếp tục tham gia quản lý công trình. Còn các anh em khác thuộc Văn phòng Phủ Chủ Tịch, Văn phòng Thủ Tướng đều trở lại cơ quan cũ.
Sân bay trực thăng là một trong nhưng hạng mục thi công sau cùng với khu vực phụ trợ như: Bếp ăn, nhà kho ở khu C

3. Giá trị lịch sử Công trường 5

Khu vực Công trường 5 có ý nghĩa lịch sử hết sức đặc biệt: Lúc hoà bình đó là nơi họp Bộ chính trị, nơi làm việc của các lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Nhìn vào mục đích thiết kế khi xây dựng, căn cứ vào thực tế sắp xếp trong khu vực ta thấy đây là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đến làm việc, tổ chức các kỳ họp, tiếp khách Quốc tế,… và khi cần thì đề phòng với tình thế chiến tranh.

Thời gian đang xây dựng, tôi biết đôi lần Bác đến Công trường 5. Một lần, Bác đi cùng KTS Hoàng Linh và Phó Cục trưởng Đặng Kim Giang. Bác lên từ sáng mãi đến chiều mới về. Thấy đá tường và rèm cửa ngôi nhà màu hồng, Bác hỏi đ/c Hoàng Linh:

– Năm nay chú bao nhiêu tuổi ?

Sau khi nghe trả lời Bác nói:

– Chú sao trẻ tính thế ?

Ý Bác là dùng màu hồng để trang trí ngôi nhà này không hợp. Bác còn góp ý sửa lại cầu thang lên tầng 2 thích hợp với việc đón khách.

Hôm đó mảng trần nhà phòng ở của anh Vũ Kỳ bị lở mảng vữa rơi xuống, Bác nhắc anh em phải làm lại cho cẩn thận. Lần nữa lúc làm xong nhà Bác có lên gặp gỡ và nói chuyện với anh em. Giống như lần trước ở nhà sàn Bác cùng đến gặp và cám ơn anh em khi công trình hoàn thành.

Khối ảnh tư liệu của Bảo tàng cũng cho ta biết ngày 23/2/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng đồng chí Nguyễn Lương Bằng lên thăm khu vực đồn điền cà phê cũ ( CT. 5 sau này), cùng đi có anh Vũ Kỳ, bảo vệ có anh Định (Đội trưởng) và anh Uyển nay đã về hưu sống ở Nghệ An. Đón Bác tại đây có đ/c Phương, CT UBHC tỉnh uỷ Sơn Tây và đ/c Nguyễn Văn Rự, Phó chánh VP UBHC tỉnh hiện đã về hưu sống ở thôn Quảng Yên, xã Yên Sơn, Huyện Quốc Oai tỉnh Hà Tây. Hôm đó, Bác và đoàn công tác nghỉ ăn trưa tại đây. Buổi chiều, lúc 14 h Bác nói chuyện với gần 500 cán bộ chủ chốt của tỉnh và thị xã Sơn Tây về Hội nghị các ĐCS và Công nhân các nước XHCN và Tuyên ngôn hoà bình của Hội nghị đại biểu các ĐCS và Công nhân 65 nước họp tại Liên Xô. Báo Nhân Dân ngày 25/2/1958 đưa tin này trên đầu trang nhất.

Khi Công trường 5 đưa vào sử dụng Bác và một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ: Bác Tôn Đức Thắng, đ/c Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Văn Lương, Võ Nguyên Giáp… đã lên CT.5. Có lần đồng chí Phạm Văn Đồng đến ở đây nhiều ngày nghiên cứu tài liệu….

Sinh thời, hai lần Bác Hồ mời khách quốc tế thăm Công trường 5. Tháng 3/1961, Bác đưa Bà Đặng Dĩnh Siêu, phu nhân của Thủ tướng Chu Ân Lai – Khách mời của Đại hội Phụ nữ Việt Nam lên thăm Công trường 5. Cùng đi có Đại sứ Hà Vĩ, đ/c Lương Phong cán bộ SQ và 2 nữ đồng chí một là thư ký, một là phiên dịch.

Bà Đặng Dĩnh Siêu khi đến CT. 5 có mang 1 cây quít loại quả tròn có hạt từ Trung Quốc sang và 1 cây hoa Ngọc lan chuẩn bị từ Hà Nội lên để trồng tại đây. Hôm đó, Bà đã chụp nhiều ảnh sau có gửi lại tặng nên ta mới lưu lại được. Đó là những hình ảnh tư liệu rất hiếm về cuộc tiếp khách quốc tế ở CT. 5 Trong ảnh, Bác mặc chiếc áo khoác ngoài bằng lụa màu đen, vải may áo chính là quà tặng của Bà Đặng Dĩnh Siêu trước đó. Bác rất tinh tế và tình cảm trong ứng xử khi mặc chiếc áo này để tiếp người đã tặng vải cho mình.

Tháng 1/1962, Bác đưa anh hùng phi công vũ trụ Liên Xô G.Titốp lên thăm CT. 5. Tại đó

G.Titốp đã trồng cây hoa vàng làm kỉ niệm.

Khi sân bay xây dựng xong, có 2 lần Bác đi CT.5 bằng máy bay trực thăng. Cả 2 lần đều do phi công Liên Xô lái. Xuất phát từ sân Cột Cờ, khi lên đó bên dưới chỉ cần đốt lửa có khói báo hiệu là máy bay xuống được. Bác lên nhiều lần song tôi chưa thấy Bác ngủ lại đêm trên CT. 5. Bác đi trong ngày tối lại về Hà Nội.

Những năm đầu, cán bộ VPPTT và VPCTP chịu trách nhiệm quản lý công trình. Anh Hồ Văn Nhất (Trường), Lưu Quang Lập (Kiệm), Phan Đăng Lưu, Trần Văn Bắc ở đây chăm lo công việc sẵn sàng đón Bác và các đồng chí lãnh đạo lên làm việc, họp hành, nghỉ ngơi… Lực lượng cảnh vệ thuộc Trung đoàn 600 do anh Tăng Văn Dong và anh Việt Dũng phụ trách.

Bây giờ nghĩ lại thấy Bác và TƯ thật sáng suốt, lo xa. Công trường 5 là nơi họp BCT, nơi làm việc rất yên tĩnh, an toàn… Đặc biệt, đây là một trong những nơi tiếp khách quốc tế với không gian rất đẹp, văn minh thể hiện qua sự tinh tế, lịch thiệp không dễ có được ở một đất nước đang chiến tranh, bị chia cắt.

Hơn thế, với các điều kiện làm việc, sinh hoạt lâu dài và những điều kiện cơ sở để đối phó với chiến tranh phá hoại như: Bí mật địa điểm, xây hầm trú ẩn, sân bay và cơ sở vật chất tạm đủ để đáp ứng yêu cầu phục vụ các cơ quan lãnh đạo cuộc kháng chiến… Trên cơ sở các tiêu chí đó ta thấy Công trường 5 thực sự đã mang trong mình tầm vóc của khu căn cứ để có thể tiến lui an toàn khi cần thiết.

4. Công trường 5: Nơi gìn gìn an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tháng 9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. Đất nước đang bị chia cắt. Miền Bắc phải đối đầu với cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân vô cùng tàn khốc. Điều kiện thời tiết khí hậu vô cùng khó khăn cho công tác gìn giữ bảo vệ an toàn thi hài Bác…

Vấn đề tìm địa điểm bảo vệ an toàn đã trở lên cấp thiết. Chính trong thời điểm đó Công trường 5 được lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Quân đội… chọn làm địa điểm bí mật cho công việc thiêng liêng này.

Lịch sử Công trường 5 từ đó chuyển sang trang mới. Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (Bộ Tư lệnh 969) được thành lập có vinh dự gánh vác trách nhiệm to lớn. Vào những thời khắc quan trọng nhất tập thể cán bộ chiến sĩ đã âm thầm cống hiến trí tuệ, công sức, toàn tâm toàn trí hoàn thành trách nhiệm.

Năm 1975, Tổ quốc thống nhất, Nam Bắc một nhà. Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh khánh thành ngày 29/8/1975, chính thức mở cửa đón đồng bào cả nước và bạn bè quốc tế đến viếng Bác.

Từ đó Công trường 5 trở thành một địa điểm có ý nghĩa lịch sử văn hoá lâu dài. Nơi đây, đánh dấu những mốc quan trọng trong nghiên cứu cuộc đời và sự nghiệp vĩ đại, về tầm vóc tư duy, trí tuệ và sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc sáng suốt chỉ đạo và lựa chọn để xây dựng một nơi làm việc, tiếp khách một cách khoa học, văn minh đồng thời là căn cứ an toàn nhằm bảo vệ cơ quan đầu não lãnh đạo của ta trong cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mỹ xâm lược

Ngày nay, Công trường 5 còn là nơi góp phần nghiên cứu, tuyên truyền về sự nghiệp và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, một nơi sinh hoạt văn hóa – chính trị với các hình thức đa dạng, phong phú thu hút được sự quan tâm chú ý của đồng bào và chiến sỹ trong cả nước.
Là đơn vị trực tiếp quản lý, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị quan trọng mà Đảng, nhân dân và quân đội tin cậy giao phó. Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong gần 40 năm qua thực sự đã góp sức mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam ngày càng giàu mạnh. Đặc biệt nhất là trong việc gìn giữ an toàn, lâu dài, tôn vinh các giá trị vĩnh hằng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã và sẽ mãi mãi là tấm gương soi sáng sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

Chúng ta tự hào là con cháu Bác và nguyện suốt đời giương cao ngọn cờ Bác trao để đi đến thắng lợi cuối cùng

Trên đây là cơ sở nội dung và giá trị lịch sử của Công trường 5 – Khu vực có ý nghĩa và giá trị đặc biệt không gì sánh được. Những trang sử mới của Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng trong giai đoạn tiếp theo, chúng tôi nghĩ đã có nhiều các đồng chí lãnh đạo cơ quan, cán bộ, chiến sĩ đã và đang nghiên cứu sâu sắc hơn chúng tôi vì vậy cho phép chúng tôi xin được dừng tại đây.

Hà Nội, tháng 5/2007

Cù Văn Chước
Nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

50 năm Bác Hồ với Đá Chông Niềm tự hào của Đảng bộ và nhân dân Tỉnh Hà tây

Đ/c Lại Hồng Khánh - Uỷ viên Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Hà Tây tại hội thảo - ảnh Nguyễn Ngọc Hà

Kỷ niệm 117 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, hôm nay tại K9 – Đá Chông, huyện Ba Vì, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức cuộc Hội thảo khoa học với chủ đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với Khu Di tích Đá Chông” nhằm khẳng định giá trị văn hoá lịch sử của Khu Di tích, chúng tôi rất phấn khởi, vui mừng về cuộc Hội thảo này do Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng tổ chức.

Bởi vì địa danh K9 Đá chông, cách đây 50 năm Bác Hồ đã đến thăm và xem xét khu vực núi Đá Chông, để rồi sau đó Đá Chông mang mật danh “Công trường 5”, mật danh “K9” nơi nghỉ và làm việc của Bác Hồ và Trung ương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nơi bảo vệ giữ gìn thi hài Bác những năm 1969 – 1975. Chúng tôi cho rằng cuộc Hội thảo hôm nay còn có thêm một ý nghĩa khác, đó là chúng ta kỷ niệm 50 năm ngày Bác Hồ về thăm và khảo sát khu vực núi Đá Chông trên địa phận xã Minh Quang, huyện Bất Bạt ngày trước. Với những thực tế đó tại cuộc Hội thảo này Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Hà tây chúng tôi phát biểu với nội dung: 50 năm Bác Hồ với Đá Chông niềm tự hào của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hà Tây.

Bác Hồ với Đá Chông là một mảng đề tài nghiên cứu trong toàn bộ chương trình sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn về Bác Hồ với Hà Tây trong công tác lịch sử Đảng của Đảng bộ tỉnh Hà Tây. Sau khi Bác Hồ qua đời, từ năm 1969 Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Hà Tây đã chỉ đạo Ban nghiên cứu lịch sử Đảng sau đó là Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ tiến hành sưu tầm nghiên cứu và biên soạn những tư liệu Bác Hồ ở Hà Tây. Cho đến nay đã 4 lần Tỉnh uỷ chúng tôi cho xuất bản sách Bác Hồ ở vào thời điểm của các năm 1973; 1980; 1990 và năm 2006. Mỗi lần xuất bản sách Bác Hồ, chúng tôi lại hoàn thiện thêm những tư liệu và Bác. Song cả 3 lần xuất bản sách Bác Hồ trước đó Tỉnh uỷ chúng tôi vẫn chưa được phép công bố những sự kiện Bác Hồ ở Đá Chông. Riêng những sự kiện Bác Hồ ở Đá Chông sau khi Bác mất, vào những năm 1969 – 1972, trong những việc sưu tầm, xác minh được một số thời điểm Bác Hồ đến Đá Chông vào các năm 1957, 1958, 1959. Bởi vì các sự kiện này liên quan đến các sự kiện: Cuối năm 1956 Bác Hồ tặng cho Tỉnh uỷ Hà Tây chiếc xe ô tô GAT do Liên Xô sản xuất, vì Hà Tây có thành tích đóng góp xây dựng một số công trình ở “Công trường 5”. Chiếc xe ô tô đó mang biển số BAA – 257. Tỉnh uỷ giao cho đồng chí Xuân Trường Bí thư Tỉnh uỷ sử dụng.

Năm 1999 Trung ương chính thức công bố cho phép tham quan rộng rãi địa danh K9 – Đá Chông. Điều này đã tạo cho Hà Tây có điều kiện hoàn thiện thêm những tư liệu về Bác Hồ với K9 – Đá Chông ở Huyện Ba Vì . Với sự giúp đỡ của Bảo tàng Hồ Chí Minh, của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, năm 2006 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Tây đã cho xuất bản cuốn “Bác Hồ với Hà Tây”. Cuốn sách có 5 mục, trong đó mục II cuốn sách, Tỉnh uỷ Hà Tây công bố 61 lần Bác Hồ về thăm, về ở và làm việc tại Hà Tây. Với địa danh Đá Chông chúng tôi công bố 9 lần Bác Hồ về thăm.

Công bố 9 lần Bác Hồ về Đá Chông, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Hà Tây có những cơ sở của cả một quá trình sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn những cuốn sách về Bác Hồ. Trước hết, chúng tôi dựa vào các tài liệu do Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng trước đây sau đó là Phòng lịch sử Đảng, ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ sưu tầm bổ sung và dựa vào kết quả hai buổi gặp mặt nhân chứng lịch sử về Di tích K9 Đá Chông do Bảo tàng Hồ Chí Minh chủ trì. Bên cạnh đó chúng tôi còn dựa vào kết quả cuộc Hội thảo “Bác Hồ với Ba Vì” do Ban tuyên giáo Huyện uỷ Ba Vì trước đây tổ chức. Riêng hai cuộc gặp mặt nhân chứng lịch sử do Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp với Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức tại Hà Nội ngày 19/4 và ở Đá Chông ngày 1/7/2006 chúng tôi rất chú ý đến ý kiến phát biểu của 2 đồng chí Cù Văn Chước và Nguyễn Văn Mùi. Đặc biệt là ý kiến của đồng chí Nguyễn Văn Mùi, nguyên là lái xe của Phủ Chủ tịch đã từng đưa Bác Hồ lên K9. Ý kiến của đồng chí Mùi là: “Trước khi xây nhà ở trên đó, Bác có đi vài lần” và đồng chí kết luận “Bác lên K9 không quá 10 lần”. Phát biểu của đồng chí Nguyễn Văn Mùi đã phù hợp với kết quả khâu nối giữa 2 nguồn tư liệu: Một phần của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh trước đây và kết quả cuộc gặp mặt các nhân chứng lịch sử do Bảo tàng Hồ Chí Minh tổ chức.

Hà Tây là địa phương được Bác Hồ về thăm, về và làm việc nhiều lần. Đây là niềm tự hào của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hà Tây, trong đó K9 – Đá Chông lại là Khu căn cứ, là nơi bảo vệ và giữ gìn thi hài Bác. Công tác sưu tầm biên soạn lịch sử Đảng của tỉnh Hà Tây được tiến hành từ năm 1963. Việc sưu tầm tư liệu về Bác Hồ, chúng tôi làm thường xuyên từ nhiều năm nay và kết hợp chặt chẽ với Bảo tàng Hồ Chí Minh. Cuốn sách “Bác Hồ với Hà Tây” xuất bản năm 2006, chúng tôi công bố 9 lần Bác Hồ về Đá Chông ở các thời điểm:

– Lần thứ nhất vào mùa hè năm 1957.

– Lần thứ hai vào sáng ngày 23/2/1958.

– Lần thứ ba vào buổi sáng ngày 20/6/1959.

– Lần thứ tư vào sáng mồng 1 Tết Canh Tý năm 1960.

– Lần thứ năm vào tháng 3/1961, Bác đưa Đại sứ Trung Quốc Hà Vỹ lên Đá Chông.

– Lần thứ sáu Bác đưa đoàn Bà Đặng Dĩnh Siêu lên Đá Chông vào ngày 13/3/1961.

– Lần thứ bảy Bác đưa đoàn của Anh hùng phi công vũ trụ Giéc man Ti Tốp lên ngày 24/01/1962.

– Lần thứ tám Bác lên Đá Chông ngày 19/5/1963.

– Lần thứ chín là ngày 20/9/1964, Bác cùng một số Uỷ viên Bộ Chính trị và Uỷ viên dự khuyết Bộ Chính trị lên K9 trao đổi về tình hình đất nước sau sự kiện ngày 5/8/1964.
Trong 9 lần đó có 6 lần được giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh kết luận tại cuộc gặp mặt các nhân chứng ở Hà Nội vào ngày 19/4/2006. Ở đây tôi đi sâu vào sự kiện Bác Hồ lên Đá Chông vào các thời điểm 1957; 1958; 1959 và Tết Canh Tý 1960. Bởi lẽ những sự kiện này liên quan mật thiết với việc Bác tặng cho Tỉnh uỷ Hà Tây chiếc xe ô tô GAT vào cuối năm 1965.

Đối với sự kiện Bác Hồ lên Đá Chông vào mùa hè năm 1957 đây là lần đầu tiên Bác Hồ lên Đá Chông. Bác lên Đá Chông lần này là để khảo sát, xem xét địa bàn núi Đá Chông, sau khi có báo cáo của Tỉnh uỷ Sơn Tây, lúc đó đồng chí Nguyễn Xuân Trường làm Bí thư Tỉnh uỷ.

Bác lên Đá Chông lần này rất bí mật. Bởi lẽ ai cũng biết: Tháng 8/1956 đất nước ta không có Tổng tuyển cử để thống nhất Tổ quốc, sự nghiệp đấu tranh giải phóng Miền Nam và cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược sẽ rất gay go, ác liệt. Cuối năm 1956 Trung ương đã giao cho Sơn Tây tìm một địa điểm “Có núi, có sông, có rừng cây che phủ, gần đồng bào” với lý do để xây dựng nhà nghỉ. Thường trực Tỉnh uỷ Sơn Tây đã giao việc này cho Ty Công an và đồng chí Việt Tiến là Phó Ty Công an Sơn Tây thực hiện. Đồng chí tìm mãi và cuối cùng quyết định chọn địa điểm Đá Chông, sau đó trao đổi với đồng chí Tùng rồi mới Báo cáo với Bác, chính vì vậy mùa hè năm 1957 cách đây 50 năm Bác Hồ đã lên khảo sát, xem xét khu vực núi Đá Chông. Khi Bác lên đồng chí Việt Tiến ở phía xóm Bu đi ra và chờ Bác, Bác hỏi:

Chú làm gì ở đây?

Đồng chí Việt Tiến trả lời: Thưa Bác cháu dạy học

Bác nói: Dạy học sao lại đứng ở đây?

Đồng chí Việt Tiến đáp: Thưa Bác cháu dạy buổi chiều. Nói như vậy chính thực hôm đó Công an Sơn Tây có làm nhiệm vụ bảo vệ.

Bác xem xét địa điểm, phong cảnh và nghỉ trưa ở Đá Chông.
Về sự kiện Bác cùng đồng chí Nguyễn Lương Bằng lên thăm Đá Chông vào sáng 23/2/1958 cũng được Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng trước đây ghi nhớ do khi sưu tầm tài liệu sự kiện chiều ngày 23/2/1958 Bác Hồ về thị xã Sơn Tây thăm và nói chuyện với Hội nghị cán bộ tỉnh đang học tập 2 văn kiện: Tuyên bố của Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và công nhân các nước XHCN và Tuyên ngôn hoà bình của hội nghị đại biểu các Đảng cộng sản và công nhân 65 nước họp ở Matxcơva (11/1957). Chính khi sưu tầm tư liệu Bác về thăm và nói chuyện với Hội nghị cán bộ ở Sơn Tây mà lãnh đạo Ban chúng tôi có biết đến việc đồng chí Nguyễn Lương Bằng và Bác Hồ lên Đá Chông vào buổi sáng.

Sự kiện sáng ngày 20/6/1959, Bác Hồ lên lúc đó các công trình ở đây đang thi công và được mang mật danh “Công trường 5”. Chiều hôm 20/6/1959, Bác về thăm và nói chuyện với hơn 2000 đồng bào huyện Quốc Oai đang làm việc trên công trường đê Ngọc Tảo, huyện Phúc Thọ. Đối với sự kiện này báo tin Sơn Tây số ra 281 ngày 23/6/1959 đã đăng tin và bài nói chuyện của Bác. Khi chúng tôi tìm gặp đồng chí Việt Tiến, đồng chí đã kể lại được các đồng chí cùng đi với Bác nói là rất có thể lúc về Bác sẽ ghé vào thăm đê Ngọc Tảo và ở đây nhân dân đang đắp đê đông lắm. Chỗ nào thấy nhân dân lao động vui Bác thường hay dừng lại thăm hỏi, các anh em nên chuẩn bị trước.

Nhận được tin đó đồng chí Việt Tiến đã báo tin với Tỉnh chuẩn bị micro nếu Bác xuống thăm, quả nhiên buổi chiều ngày 20/6/1959 Bác Hồ vào thăm và nói chuyện với đồng bào Quốc Oai đang đắp đê vừa hết một tiếng đồng hồ. Kết thúc buổi nói chuyện Bác bắt nhịp hát bài “Kết đoàn”. Chính do việc tìm nhân chứng sống kể về sự kiện Bác Hồ thăm đê Ngọc Tảo buổi chiều ngày 20/6/1959 mà lãnh đạo Ban nghiên cứu lịch sử Đảng lúc đó đã biết được buổi sáng Bác về thăm “Công trường 5”.

Về sự kiện ngày mồng một Tết Canh Tý năm 1960, trước hết chúng tôi căn cứ vào cuộc trao đổi của Ban Tuyên giáo Huyện uỷ Ba Vì và cuộc toạ đàm ngày 01/7/2006 do Bảo tàng Hồ Chí Minh và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng tổ chức vào sổ ghi nhật ký của đồng chí Đỗ Viết Nam, nguyên là Tiểu đội trưởng cảnh vệ ở K9. Điều chúng tôi rất lý thú là những ý kiến về Bác lên Đá Chông sáng mồng một Tết Canh Tý năm 1960 trong 2 cuộc toạ đàm của huyện Ba Vì và Bảo tàng Hồ Chí Minh và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng tổ chức lại trùng với ý kiến của đồng chí Nguyễn Xuân Trường cách đây 15 – 16 năm.

Đồng chí Nguyễn Xuân Trường, nguyên là Bí thư Tỉnh uỷ Sơn Tây 1954 – 1960, Bí thư Tỉnh uỷ Hà Đông 1961 – 1965, Bí thư Tỉnh uỷ Hà Tây 1965 – 1976. Một đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ ở cả 2 thời kỳ khi còn là 2 tỉnh Hà Đông và Sơn Tây, khi đã hợp nhất thành tỉnh Hà Tây có vinh dự và đi cùng và chứng kiến nhiều lần khi Bác Hồ về thăm và làm việc ở Hà Tây. Năm 1991 đồng chí Xuân Trường về hưu, hàng tuần thường đi bộ sang Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ đọc các loại tài liệu. Khi ngồi nói chuyện về cuốn sách “Bác Hồ với Hà Sơn Bình” xuất bản năm 1990, đồng chí Xuân Trường có nói đến các sự kiện Bác Hồ ở Đá Chông nhưng do ở K9 Trung ương chưa cho công bố nên trước đây các đồng chí thường trực Tỉnh uỷ chỉ đạo các đồng chí không được nói, không được biên soạn. đồng chí Xuân Trường có nhắc đến sự kiện sáng mồng một Tết Canh Tý năm 1960. Tuy đồng chí không đi cùng với Bác hôm đó nhưng Công an tỉnh có đi bí mật, phần lớn công nhân tham gia xây dựng ở khu quan trọng của “Công trường 5” là người miền Nam nên Bác đã chúc Tết động viên.

Trong việc nghiên cứu Bác Hồ với Hà Tây, từ khi tách tỉnh Hà Sơn Bình, chúng tôi phân thành 4 mảng đề tài:

Mảng thứ nhất là sưu tầm nghiên cứu về các sự kiện của Bác ở Hà Tây trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Về mảng này chúng tôi mở đầu kể từ khi quân đội Pháp nổ súng tấn công Hải Phòng, Lạng Sơn cho đến 3/3/1947, Bác Hồ rời động Hoàng Xá (Quốc Oai) lên chiến khu Việt Bắc.

Mảng thứ 2 là sưu tầm nghiên cứu các sự kiện Bác về Đá Chông kể từ cuối năm 1956 – 1969.

Mảng thứ 3 là sưu tầm nghiên cứu những tư liệu về Bác với Đảng bộ và nhân dân Hà Tây kể từ sau Cách mạng Tháng 8/1945 đến khi Bác qua đời.

Mảng thứ 4 là sưu tầm nghiên cứu các sự kiện Bác Hồ đến thăm các đơn vị Quân đội, Công an đóng trên địa bàn tỉnh.

Tất cả 4 mảng đề tài đó, duy chỉ có mảng sưu tầm nghiên cứu những tư liệu Bác Hồ về Đá Chông là kéo dài nhất, thầm lặng nhất do chúng ta phải chờ đợi vào thời gian Trung ương cho công bố công khai địa danh K9, chính vì vậy những sự kiện Bác Hồ về Đá Chông mà Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Hà Tây công bố trong cuốn sách “Bác Hồ với Hà Tây” xuất bản năm 2006, theo chúng tôi đó là sự tổng hoà giữa việc sưu tầm khai thác tư liệu của ngành lịch sử Đảng tỉnh Hà Tây kể tù năm 1969 với việc gặp gỡ các nhân chứng do Bảo tàng Hồ Chí Minh và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng tổ chức; đồng thời còn là sự kết hợp giữa nhật ký công tác và ảnh tư liệu của những người tham gia công tác ở Đá Chông hoặc từng đến thăm Đá Chông, cũng như có lần đồng chí Vũ Kỳ đến làm việc riêng với Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh Hà Sơn Bình về Bác Hồ lên Đá Chông.

Với những cơ sở như vậy năm 2006 khi tiến hành sưu tầm tư liệu bổ sung và biên soạn cuốn “Bác Hồ với Hà Tây”, chúng tôi đã công bố 9 lần Bác Hồ về Đá Chông trong đó có phần Bác tặng thưởng chiếc ô tô GAT vào cuối năm 1965. Vì vậy tại cuộc Hội thảo này chúng tôi muốn trình bày những cơ sở đó mà trước đây bộ phận nghiên cứu – sưu tầm – biên soạn lịch sử Đảng của Đảng bộ tỉnh đã biết để các đồng chí hiểu thêm về quá trình Tỉnh uỷ Hà Tây chỉ đạo toàn bộ việc sưu tầm – biên soạn các sự kiện Bác Hồ về Hà Tây trong đó có sự kiện Bác đến Đá Chông.

Cuộc hội thảo ngày hôm nay, chúng ta vừa kỷ niệm 117 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, vừa kỷ niệm 50 năm Bác Hồ lên Đá Chông xem xét và khảo sát địa bàn. Những lần Bác Hồ lên Đá Chông cũng như việc Bộ Chính trị , Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định chọn K9 – Đá Chông làm nơi bảo vệ giữ gìn thi hài Bác đã cải tạo cho Đá Chông ngày hôm nay trở thành Khu Di tích lịch sử văn hoá của cả nước, có giá trị to lớn trong việc tuyên truyền truyền thống cách mạng, học tập đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cuộc Hội thảo hôm nay với các bài tham luận đứng ở các góc độ khác nhau, để bàn luận xoay quanh chủ đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với khu Di tích Đá Chông” đã giúp chúng tôi thêm nhiều vấn đề cùng nhau trao đổi sâu hơn những sử liệu về Bác ở Đá Chông, giúp chúng tôi hoàn thiện hơn mảng đề tài “Bác Hồ với Đá Chông” mà chúng tôi đã in trong cuốn “Bác Hồ với Hà Tây” xuất bản cuối năm 2006. Cuộc Hội thảo này đã giúp chúng tôi sưu tầm và xác minh để xuất bản cuốn sách về Bác Hồ trong những năm qua để sau này tiếp tục hoàn thiện ở những lần tái bản sau.

Bài Lại Hồng Khánh
Uỷ viên Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Hà Tây

bqllang.gov.vn

Như người cha hiền…

Tôi nhớ mãi mùa hè năm ấy, cách đây vừa tròn 50 năm, vào một ngày tháng 6 – 1957, Bác Hồ về thăm sư đoàn 325 chúng tôi, lúc ấy đang đóng quân ở Đồng Hới, Quảng Bình. Bốn giờ chiều, tin Bác đến, lòng chúng tôi rạo rực nôn nao một niềm vui khôn tả…

Chiếc xe con màu trắng đưa Bác đến. Hàng ngũ bộ đội nhốn nháo, ai cũng muốn nhoài người ra để được gần Bác hơn, được nhìn Bác rõ hơn. Đến gần bộ đội, Bác xuống xe, giơ mũ vẫy chào. Bác mặc bộ kaki màu sáng quen thuộc, chân đi đôi dép lốp. Tiếng hô “Hồ Chủ tịch muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!” muốn vỡ tung lồng ngực. Bác đáp lại: “Các cháu về đi, tối nay Bác cháu ta họp mặt”.

Chúng tôi giải tán về doanh trại, bồn chồn đứng ngồi không yên, chỉ chờ tiếng còi tập hợp để ra sân gặp Bác. Từ trong nhà, Bác ung dung đi ra, với bộ đồ nâu giản dị, một tay xách chiếc chiếu đơn gấp lại ở giữa, một tay cầm chiếc quạt giấy, thong thả trải chiếc chiếu lên thềm rồi ngồi xuống.

Tất cả chúng tôi, ai ai cũng muốn ngâm một bài thơ, hát một bài để nói lên niềm kính yêu vô hạn đối với Bác.
Cứ sau một tiết mục, Bác lại lấy ra từ một bọc vải một hoặc hai cái kẹo; ai ngâm thơ hay hát thì Bác cho hai cái, ai đọc thơ thì Bác cho một cái… Cứ như thế, Bác cháu quây quần suốt hai tiếng đồng hồ, giữa lãnh tụ và chiến sĩ không còn khoảng cách mà như hòa làm một, khác nào cha với con trong niềm thương yêu dạt dào tình cảm.

Thời gian trôi đi nhanh quá. Bác đứng dậy nhìn đoàn quân, giọng ôn tồn như lời cha hiền dặn con: “Các cháu ngâm thơ và hát rất hay, Bác còn muốn nghe mãi…. Nhưng trời đã khuya, mai các cháu còn phải học tập và công tác, Bác cũng phải làm việc. Trước khi ra về Bác đề nghị một việc: để kỷ niệm ngày Bác cháu mình gặp mặt, mỗi người hứa trồng cho Bác hai cây phi lao. Các cháu có làm được không?”.

“Được ạ! Được ạ! Hồ Chủ tịch muôn năm !”.

Theo lời Bác, kể từ ngày ấy khắp sư đoàn rộ lên một phong trào trồng cây phi lao phủ xanh bờ biển. Mỗi chúng tôi không chỉ trồng hai cây mà thi đua trồng thật nhiều, có chiến sĩ trồng hàng ngàn cây dọc suốt bờ biển Quảng Bình.
Mười tám năm sau…

Năm 1975, ngày thống nhất đất nước, trên đường về Nam, ngang qua Quảng Bình, tôi chú ý quan sát vùng đất mà bộ đội, trong đó có tôi, trồng phi lao ngày trước. Ôi! Không ngờ ngay trên tuyến lửa này, mặc cho bom cày đạn xới, suốt mười mấy năm chống Mỹ, những cây phi lao bé bỏng ngày xưa đã thành rừng dày đặc, xanh um, chạy dài tít tắp.

Ôi! Bác của chúng ta vĩ đại mà gần gũi biết bao! Màu xanh Bác để lại vẫn muôn đời còn đó.

Lê Đức Minh (Cựu chiến binh, Tân Phú, TP.HCM)

bqllang.gov.vn

Người đi đầu xóa đói, giảm nghèo

Có một cựu chiến binh-đại tá, một người lính dày dạn trận mạc, trở về với cuộc sống đời thường, lại tiếp tục đi đầu trong cuộc chiến chống đói nghèo, mang niềm vui, hạnh phúc đến với mọi người.

Ông là Lê Văn Tá ở xã Hòa Châu, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng. Một ngày cuối thu, tôi tìm đến căn nhà nhỏ ẩn mình trong khu vườn xinh xắn quay mặt ra cánh đồng mênh mông, ngập nước.

Câu chuyện của ông ngược dòng thời gian trở về những năm tháng chiến tranh ác liệt…. Mùa xuân năm 1961, từ Đại Từ (Thái Nguyên), ông tình nguyện trở về quê hương chiến đấu. Từ một chiến sĩ, tôi luyện trong chiến đấu, ông trở thành cán bộ tiểu đoàn. Với sự mưu trí, linh hoạt, ông cùng ban chỉ huy tiểu đoàn đã tổ chức nhiều trận đánh, phá hủy nhiều kho tàng, phương tiện chiến tranh của địch. Trận chiến đấu mà ông nhớ nhất là trận đánh đại đội hỗn hợp dân vệ, cảnh sát Tuy Hoà sau Mậu Thân 1968. Đêm ấy, trời tối đen như mực, ông cùng đơn vị bí mật tiếp cận mục tiêu, rồi bất ngờ đồng loạt nổ súng tấn công tiêu diệt toàn bộ đại đội địch dưới chân núi Chóp Chài. Sau đó, đơn vị rút lui về hậu cứ, ông ở lại nắm tình hình. Bị thất bại nặng nề, địch tổ chức lực lượng lùng sục hết sức gắt gao. Ông rút xuống hầm bí mật, tay cầm lựu đạn, sẵn sàng chiến đấu đến cùng. Ông tự nhủ: Nếu hi sinh thì cũng phải trong tư thế của người cộng sản. Sau một hồi xăm xoi, địch không tìm thấy gì nên lui quân… Với những chiến công ấy, Tiểu đoàn 85 vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, riêng ông được tặng 3 huân chương chiến công hạng I, hạng II và hạng III.

Năm 1990, ông nghỉ hưu. Thấy quê hương còn nghèo, ông nghĩ: “Còn sức, còn chiến đấu. Dù ở đâu cũng phải sống xứng đáng với danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ”. Khi địa phương và đồng đội tín nhiệm, ông không đắn đo nhận “chức” Chủ tịch Hội Cựu chiến binh của huyện và cùng lãnh đạo địa phương thực hiện công cuộc “xoá đói, giảm nghèo”, đương đầu với nhiệm vụ mới không kém phần cam go, thử thách. Hình ảnh người cựu chiến binh già trong bộ quân phục bạc màu, cùng chiếc xe đạp rong ruổi từ thôn này đến bản khác trở nên quen thuộc đối với đồng bào Hoà Vang. Ngày cũng như đêm, không quản nắng mưa, ông đến với từng chi hội, từng gia đình tìm hiểu hoàn cảnh, cùng họ tính kế làm kinh tế vườn đồi, trang trại, nuôi dạy con cái… Lăn lộn cùng đồng bào vùng dân tộc thiểu số, ông biết đời sống của họ vẫn còn muôn vàn khó khăn. Vì vậy, sau nhiều đêm trăn trở, ông đưa ra sáng kiến thành lập tổ hợp tác cựu chiến binh. Mục tiêu đặt ra là phát động phong trào tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống, góp phần tích cực vào công cuộc xoá đói, giảm nghèo trong hội viên và giúp đỡ đồng bào dân tộc Cơ Tu. Khi nghe các cựu chiến binh phác hoạ tiềm năng đất đai tại Khe Muông, Khe Dao ở hai bản Tà Lang và Giàn Bí, không chần chừ, ông cùng họ đi ngay đến đó để khảo sát. Cứ thế, ông xông pha đến từng thôn bản hẻo lánh, lội suối, băng rừng đi tìm địa điểm đào núi, dời non lấy đất canh tác.

Thời kỳ đầu hết sức khó khăn, ông phải kiên trì tuyên truyền, vận động đồng bào từ bỏ lề lối làm ăn cũ để theo hướng mới, lập thành hai tổ hợp tác sản xuất. Có đất rồi, phải dựng trại, mở đất trồng bắp, trồng đậu, nuôi trâu bò, lợn gà. Thiếu vốn, ông bàn với Thường vụ Hội Cựu chiến binh của huyện vận động chính quyền, ngân hàng huyện, các cơ quan hảo tâm, hỗ trợ hàng chục triệu đồng mua vật tư, nông cụ sản xuất, giống và phân bón. Có thời gian ông ở lại với các cựu chiến binh hai bản Tà Lang, Giàn Bí cả tháng trời. Sáng ra cùng họ khai phá đất hoang, trỉa đậu, trồng bắp, tối về ông phổ biến kinh nghiệm chăn nuôi gia súc, gia cầm. Trong khoảng thời gian 3 năm, ông và bà con dân bản khai hoang được 18 ha đất canh tác, đào đắp hơn 7.500 m3 đất đá, xây một đập tràn, 4 cống xả lũ, cùng với địa phương quy hoạch lại khu dân cư. Công sức của ông đã giúp 12 hộ cựu chiến binh và nhiều hộ không chỉ đủ ăn mà còn làm giàu trên chính mảnh đất quê hương mình. Mấy năm trở lại đây, nhờ sự vận động của ông, bà con tích cực trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi trọc, bảo vệ môi trường. Bản làng xa xôi ngày ấy từng ngày trù phú.

Trên cương vị Chủ tịch Hội Cựu chiến binh huyện, ông đã dồn hết tâm huyết cho công việc, xây dựng nhiều mô hình, đề xuất nhiều giải pháp có tính khả thi. Quỹ “đồng đội” do ông khởi xướng đã góp phần đẩy nhanh công cuộc xóa nghèo trong hội viên. Đến nay, 100% hộ cựu chiến binh ở Hòa Vang có nhà ở kiên cố, 2/3 hộ có mức sống khá và giàu. Mới đây, ông giữ chức Phó chủ tịch thường trực Hội Nạn nhân chất độc da cam, công việc lại càng thêm vất vả. Hằng ngày, ông xuống từng thôn bản khảo sát, phát hiện các trường hợp bị nhiễm chất độc da cam để có kế hoạch thăm hỏi, tặng quà, hỗ trợ kinh phí, làm nhà cửa.

Công việc chung vô cùng bận rộn ông vẫn tranh thủ phát triển kinh tế gia đình. Chỉ với 2 sào đất quanh nhà, ông nghiên cứu kỹ thổ nhưỡng, tính toán xen canh để lúc nào cũng có thu nhập…Vào vườn nhà ông mà thấy mát con mắt. Dưới giàn bầu, bí, khổ qua là những luống khoai môn. Cạnh gốc khoai môn là rau mùi tàu, diếp cá. Giữa luống khoai lang là ngô. Xung quanh bờ rào ông trồng dây mơ và chuối sứ… Mỗi năm gia đình ông thu nhập gần 20 triệu đồng từ khu vườn ấy. Sống mẫu mực, giàu lòng nhân ái, được mọi người tin yêu, hàng chục năm nay, gia đình ông liên tục đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa tiêu biểu xuất sắc”. Với những thành tích xuất sắc trong công tác đoàn thể, ông được Thủ tướng Chính phủ, Trung ương Hội CCB, UBND thành phố tặng 13 bằng khen. Tổng kết phong trào thi đua quyết thắng, từ năm 2000 đến nay, năm nào ông cũng đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, trong đó có cấp thành phố và toàn quốc.

Bà Dương Thị Nhung (từng là chiến sĩ Sư đoàn 2, Quân khu 5) rất tự hào nói về chồng mình: “Từ trước đến giờ ổng là vậy đó, khi đã quyết tâm làm việc gì là kiên trì cho đến cùng, bất chấp gian khổ!”. Còn ông, chỉ “kết luận” với tôi: “Phần thưởng lớn lao nhất của đời tôi là có được niềm tin của đồng đội và bà con lối xóm”.

Theo QĐND

bqllang.gov.vn

Chiếc huy hiệu Bác Hồ

Tôi đến thăm gia đình Bai, thắp cây nhang ngày Tết. Vật kỷ niệm mà tôi đã tặng Bai ngày lên đường thoát ly vẫn còn đây, đang nằm trên bàn thờ anh, bên cạnh những tấm huy chương lấp lánh. Chiếc huy hiệu bằng bạc ánh lên màu biêng biếc của thời gian. Nó như đang trở mình và thầm kể lại những buồn, vui mà nó đã từng chứng kiến.

Năm 1961, tôi lên bảy tuổi, nhà tôi cùng cả làng Lại Yên Thượng bị dồn vào ấp chiến lược. Để chuẩn bị cho việc dồn dân lập ấp, bọn Mỹ-Diệm đã khống chế, bắt bớ dữ dội. Chú Hai Tần, dì Sáu Son và những người nòng cốt khác đã bị bắt giam ở nhà lao tỉnh. Bác Ba, ba của Bai cũng bị bắt.

Cho đến khi, việc dồn dân cả làng Lại Yên Thượng xong, chúng mới thả những người ấy ra. Bác Ba, lúc ra tù trở về nhà thì thân thể đã không còn nguyên vẹn nữa. Bọn chúng đã chặt mất của bác Ba một bàn tay. Từ nay, bà con làng Lại Yên Thượng gọi bác Ba bằng một cái tên mới, như một bằng chứng luôn nhắc nhở lòng căm thù lũ giặc: Ba Cụt.

Hôm nhà tôi được dỡ xuống để đưa vào trong ấp, tôi ngồi trên chạc ba cây me sau nhà, cắn trái me non mà nước mắt cứ trào ra. Tôi đã nghe nhiều người nói rằng, khi con thú hay cái cây mà xa chủ của nó, thì nó nhớ, cứ héo hắt dần và chết đi. Vì thế, tôi cứ đinh ninh, những ngày sắp tới, khi gia đình tôi phải vào sống trong ấp chiến lược, thì cây me của tôi cũng ủ rủ, héo úa mà khô chết đi như lời người lớn nói. Cả nhà chuẩn bị đi. Má tôi giục tôi xuống đôi ba lần không được. Cuối cùng, chị Hai doạ sẽ bỏ tôi lại để mà chết theo cây me luôn, tôi mới chịu bò ra khỏi chạc ba quen thuộc như chiếc giường ngủ, tụt xuống đất. Tôi lững thững như người mất hồn đi theo sau chiếc xe bò lịch kịch, chở lỉnh kỉnh những đồ đoàn của gia đình cùng với chiếc bàn thờ ba tôi.

Gia đình tôi bắt đầu cuộc sống âm thầm trong ấp chiến lược. Má tôi lầm lì ít nói hẳn đi. Chị Hai tôi, thì cũng đổi tính nết, hay bẳn gắt và thường ít khi ra khỏi nhà. Tôi chỉ còn biết lủi thủi chơi những trò chơi vụn vặt chẳng thú vị tí nào với Bai. Tôi với Bai thân với nhau từ bé tí. Những ngày còn ở xóm Cũ, hai đứa thường leo chuyền trên những cành me xam xáp da tay và ngủ quên trên những chạc ba.

Tôi và Bai bắt đầu cắp sách đến trường “Ấp Tân Sinh”. Nhưng cũng chỉ được bốn tháng sau, tôi bỏ học. Từ ngày vào trường; cứ mỗi buổi sáng, trước khi vào lớp, cả lủ con nít chúng tôi đứng thẳng hàng, nghiêm trang rồi ong ỏng hát lên bài “Suy tôn Ngô Tổng Thống”. Tôi thấy chán bài hát ấy, vì không hiểu gì cả, nhưng cứ phải gân cổ mà hát thật to.

Một hôm, trong giờ ra chơi, Bai kéo tôi ra sau trường rồi hỏi nhỏ:

– Này, mày có biết Ngô Tổng Thống là ai không? Tôi trả lời như học thuộc lòng:

– Ngô Tổng Thống là chí sĩ cách mạng, là người đã … đã …

– Không phải! – Nó hét lên ngắt lời tôi một cách đột ngột và giận dữ – Ngô Tổng Thống là người đã giết ba mày và chặt tay ba tao trong tù, bắt cả nhà mày, nhà tao vào ấp sống khổ cực. Mày nghe chưa?

Tôi chụp tay nó, hốt hoảng:

– Sao mày biết? Ai nói với mày?

– Ba tao nói với tao hồi tối này.

Ai chứ bác Ba Cụt nói là tôi tin ngay. Bác Ba là người thân tín nhất của gia đình tôi từ ngày ba tôi mất. Sáng hôm sau, không như thường lệ phải thức dậy sớm để chuẩn bị đi học, tôi nằm lì trên giường trùm mền kín đầu. Tưởng tôi bệnh, chi Hai tôi giở mền sờ vào trán tôi, hỏi:

– Em bệnh phải không?

– Không! Tôi vùng vằng.

– Vậy sao em không dậy đi học?

Tôi tung mền ngồi dậy, nhìn chị trân trân rồi nói một cách cương quyết:

– Em không thèm đi học nữa!

Chị tôi hơi ngạc nhiên, ngồi xuống mép giường, vuốt tóc tôi rồi ân cần hỏi lại:

– Em nói cho chị nghe đi, sao lại không thèm đi học?

– Tại em không thèm hát suy tôn Ngô Tổng Thống nữa!

Rồi như có một luồng hơi nóng từ ngực tôi phả lên mặt nóng bừng, tôi nói như hét vào tai chị tôi:

– Vì người ta giết ba mình. Ngô Tổng Thống giết ba mình, chặt tay bác Ba, vì…

Chị Hai vội vàng lấy bàn tay bịt miệng tôi không cho tôi nói nữa. Lần này, thì chị tôi sửng sốt thật sự. Chị ôm chặt lấy tôi. Rồi hai chị em cùng khóc. Ngày hôm đó trôi qua lặng lẽ. Hai chị em không nói với nhau lời nào, nhưng trong lòng thì như có cái gì đang âm ỉ.

Sáng hôm sau, chị Hai gọi tôi xuống bếp. Chị nhẹ nhàng cầm tay tôi và mở cho những ngón tay xòe ra. Hình như chị đặt vào đó một vật gì nhỏ như đồng xu, cồm cộm rồi nắm chặt bàn tay tôi lại. Chị hỏi tôi nhỏ nhẹ:

– Em có nhớ cây me nhà mình không?

– Có, em nhớ lắm.

– Em có muốn về lại với nó không?

Tôi ngạc nhiên hỏi lại chị:

– Nhưng mà làm sao về được?

Chị không trả lời câu hỏi của tôi, mà mở bàn tay tôi ra. Cái vật be bé, tròn như đồng xu ấy nằm giữa lòng bàn tay tôi, có màu bạc; ở giữa là hình nổi gương mặt một ông già có chòm râu dài, trán rộng, vẻ hiền từ phúc hậu hao hao như hình ông bụt trong tranh vẽ in trong sách.

– Em biết ai đây không?

Tôi lắc đầu.

– Bác Hồ đó!

Lần đầu tiên, tôi nghe nói đến cái tên ấy. Tôi cầm cái vật be bé đó lên ngắm nghía, rồi hỏi chị Hai:

– Bác Hồ giống ông Bụt quá phải không chị?

– Ừ, Bác Hồ là ông tiên đó!

Chị Hai tôi nói và cười. Nụ cười tươi tắn hiếm hoi mà tôi được thấy ở chị từ ngày về sống trong ấp chiến lược này.

– Vậy Bác Hồ có giúp nhà mình và nhà thằng Bai về xóm cũ, cho em về với cây me được không chị? Tôi nói liền một hơi.

– Ừ, chị lại cười. Bác Hồ sẽ giúp cho bà con mình về lại xóm cũ, cho em về với cây me của em.

Tôi mừng quá, muốn nhảy lên, chạy mau đi tìm thằng Bai để nói cho nó biết điều này. Tôi lại ngắm nghía cái vật be bé có ảnh ông Bụt – Bác Hồ lần nữa; và bỗng nhớ đến gương mặt bì bì trong khung ảnh lớn treo phía trên bảng đen trong lớp học. Bây giờ, tôi mới thấy nó ác làm sao!

– Chắc Ngô Tổng Thống sợ Bác Hồ lắm hả chị?

– Ừ, sợ lắm!

Tôi cảm thấy lòng mình được thỏa mãn, được trả thù. Tôi đã biết được kẻ đã giết ba tôi, mà tôi phải suy tôn mỗi sáng, phải sợ một người. Tuy rằng, người ấy, giờ đây, tôi chỉ mới hình dung qua cái vật tròn tròn be bé này. Tôi áp nó lên ngực và nói với chị tôi:

– Chị cho em xin cái này nghe chị?

– Ừ, chị cho em. Em gọi nó là “huy hiệu Bác Hồ”.

Chị tôi đứng dậy, kéo tay tôi đi lên nhà trên, đến trước bàn thờ ba tôi được đặt giữa nhà, rồi nói nhỏ với tôi giọng xúc động:

– Chiếc huy hiệu Bác Hồ này là của ba mình. Trước lúc hy sinh trong tù, ba đã gửi lại cho các bạn tù và sau đó được bác Ba đem về cho chị em mình.

Chị nhìn tôi, thoáng suy nghĩ rồi nói tiếp:

– Bây giờ, chiếc huy hiệu này là của em. Nhưng em phải cất nó vào sau lưng khung ảnh của ba mới được. Cảnh sát mà thấy, nó sẽ đánh chết chị em mình.

Tôi gật đầu và nhìn chừng ra cửa cho chị cất huy hiệu vào sau khung ảnh ba. Xong rồi, chị thắp ba cây nhang, thầm thì nói với khung ảnh ba tôi điều gì đó, chị cắm nhang vào lư. Hai tay chị run run.

Suốt bốn năm sống trong ấp chiến lược; Bác Hồ trong trí tưởng tượng của tôi, lúc thì mờ ảo giống như ông Bụt hiện lên giúp cô Tấm lấy được hoàng tử; lúc thì sừng sửng, oai nghi như vua Quang Trung cưỡi voi đại phá quân Thanh được vẽ trong sách.

Cho đến khi, ấp chiến lược bị phá xong, về được vùng giải phóng, được tiếp tục đi học và sinh hoạt trong đội thiếu niên tiền phong, hình ảnh Bác Hồ luôn ở bên tôi hằng ngày, trên ngực áo nơi trái tim. Và đến ngày Bai lên đường để vào học trường thiếu sinh quân ở Miền, tôi đã tặng vật kỷ niệm ấy cho Bai. Nó cũng đã ấp ủ bên cạnh trái tim Bai suốt bao năm học tập và chiến đấu. Khi ngã xuống, máu của Bai đã thấm ướt đẫm chiếc huy hiệu này.

Trên bàn thờ Bai, chiếc huy hiệu vẫn ánh lên màu bạc. Tôi chợt nảy ra một ý định. Tôi sẽ nói với gia đình Bai xin lại chiếc huy hiệu kỷ niệm để tặng cho phòng truyền thống của trường phổ thông của xã và kể lại câu chuyện về chiếc huy hiệu này cho các em học sinh hiểu thêm về những cuộc đời đã hy sinh để có được hòa bình hôm nay và ngày mai tươi sáng.

Ngô Đình Miên

bqllang.gov.vn

Bệnh thành tích hay bệnh nói dối

(ĐCSVN)- Thành tích, theo đúng nghĩa đó là cái mà người ta đạt được cao hơn mức bình thường. Ở mỗi cuộc thi, thường thì thành tích được chỉ những cá nhân hay một tập thể nào đó đoạt giải; trong công việc hoặc học tập là những người hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đạt thứ hạng cao trong học tập, được cơ quan, đơn vị khen thưởng, đồng đội nể phục.

Nhìn từ góc độ tâm lý mọi con người đều thích được khen; mỗi khi làm được việc gì hay, tốt đẹp hoặc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ người ta đều muốn được đánh giá đúng và khi nhận được sự khen ngợi, tâm trạng của chúng ta đều rất phấn khởi; nhưng nếu bị chê thì không phải ai cũng dễ dàng chấp nhận, cho dù đó là những lời chê đúng. Đối với một cấp, một ngành hay một cơ quan, tổ chức nào đó cũng vậy.

Sẽ là rất tốt nếu thành tích đạt được là thật. Và sự khen thưởng đúng sẽ như một liều thuốc bổ khuyến khích người được khen càng cố gắng nỗ lực hơn, chí ít là phấn đấu để giữ vững thành tích cũ, không bị tụt hạng. Còn đối với những người khác, với đồng nghiệp thì cũng lấy đó làm tấm gương để phấn đấu, vươn lên “cho bằng chị, bằng em”. Vậy nếu xét về góc độ tích cực thì thành tích chính là động lực để chúng ta phấn đấu và người yêu thành tích không thể coi là xấu mà ngược lại đó là nét đẹp nên khuyến khích.

Nhưng tại sao lâu nay chúng ta lại thường dùng cụm từ bệnh thành tích hay chạy theo thành tích để gán ghép cho những kết quả ảo trong Giáo dục, y tế, trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội… ?

Thực ra thành tích không có tội. Tội là của sự hám danh, sự đại khái, không dám chịu trách nhiệm dẫn đến giả dối trong báo cáo của cấp dưới đối với cấp trên và sự quan liêu, thậm chí là thiếu khách quan, nhân nhượng trong việc đánh giá của cấp trên đối với cấp dưới.

Thực tế cho thấy có không ít cơ quan, đơn vị mặc dù kết quả hoạt động không được bao nhiêu, song do có “cách làm báo cáo tốt” nên đã được khen thưởng; song cũng có những đơn vị, nếu so kết quả thì không kém gì đơn vị kia, nhưng vì trung thực, làm được bao nhiêu báo cáo bấy nhiêu, nên không những không được khen mà thậm chí còn bị phê bình, bị chê… Chúng ta thường nói “khen thưởng là con dao hai lưỡi”, nếu khen thưởng đúng sẽ có tác dụng kích thích mọi người phấn đấu vươn lên; nhưng nếu khen không đúng sẽ cho “tác dụng ngược”. Sự quan liêu, thiếu khách quan trong việc đánh giá của cấp trên đối với cấp dưới sẽ vô tình “khuyến khích” và “nhân rộng” tính nói dối của cấp dưới. Bởi nếu cùng ngang nhau mà cơ quan này được khen còn cơ quan kia lại bị phê bình thì tất nhiên sẽ gây nên sự so bì ghen tỵ lẫn nhau hoặc nếu nể nang nhau thì họ sẽ học cách báo cáo thiếu trung thực để được khen. Mặt khác việc đánh giá, khen thưởng thiếu chính xác, không xứng đáng với thành tích thực cũng sẽ làm thui chột động cơ phấn đấu của mọi người vì chỉ cần cứ hoạt động bình bình, không mắc khuyết điểm gì là sẽ đạt “trong sạch vững mạnh”, “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”…. được khen thưởng….

Một nguyên nhân nữa dẫn đến “bệnh nói dối” trong báo cáo còn do sự chủ quan trong việc đưa ra các chỉ tiêu phấn đấu của các cấp, ngành. Thông thường muốn phát triển người ta đều phải đặt ra những mục tiêu cao hơn để phấn đấu vươn tới. Song mục tiêu đó cần phải dựa vào thực lực, có cơ sở khoa học, và phải phù hợp với điều kiện của từng địa phương, đơn vị, chứ không phải bằng mong muốn chủ quan.

Một người chưa biết tiếng Anh mà đặt ra mục tiêu trong một tháng vừa học vừa thi phải lấy được Chứng chỉ B thì dứt khoát chất lượng không phải là thật; một lớp học với quá nửa học sinh yếu mà đưa ra chỉ tiêu phải lên lớp trên 100% thì là điều không tưởng. Tương tự như vậy, một đoàn thể muốn đưa ra chỉ tiêu phát triển đoàn viên, hội viên thì trước hết phải có nguồn, quần chúng nơi đó có tự nguyện, thiết tha tham gia đoàn thể mình hay không và phải tính đến trình độ của cán bộ có khả năng vận động quần chúng tham gia hay không…; không đủ những yếu tố đó mà đưa ra những chỉ tiêu chủ quan thì sẽ tạo ra áp lực làm cho cấp dưới phải phấn đấu quá sức, khi không đạt thì vì sợ không được khen, lại bị phê bình, bị chê, nên dẫn đến báo cáo sai sự thật (trong thực tế đã có những đoàn thể xóa tên trong danh sách hàng chục ngàn hội viên, đoàn viên danh nghĩa); ở cơ sở do bị áp lực mà nói dối, cấp trên không kiểm tra hoặc đại khái trong việc đánh giá, chấp nhận kết quả đó và vô tình đã tiếp tay cho sự dối trá, tự mình nói dối mình, trở thành “nói dối có hệ thống”….

Tệ hại hơn là dựa vào những những báo cáo thiếu chính xác, những kết quả không có thực đó để tiếp tục hoạch định chính sách và lại đưa ra những chỉ tiêu không sát thực tế, mà không sát thực tế thì khó thực hiện đạt, nếu báo cáo không đạt thì sợ mất thi đua, không được khen, nên đành phải báo cáo sai sự thật, khiến cho cả hệ thống cứ trượt dài trong thành tích ảo. Và như vậy suy cho cùng cái mà lâu nay chúng ta thường gọi “bệnh thành tích” chính là “bệnh nói dối”.

Thiết nghĩ, một cơ thể có bệnh, muốn chữa khỏi thì trước hết phải tìm được đúng bệnh và những nguyên nhân gây ra bệnh đó; chẩn đoán sai đồng nghĩa với việc chữa trị sai, không những không khỏi bệnh mà còn có thể gây hại. “Bệnh thành tích” và “bệnh nói dối” hoàn toàn không đồng nhất với nhau cho nên cần phải phân ra rạch ròi. Bệnh thành tích, đó chỉ là biểu hiện của sự mong muốn; nhưng nói dối, báo cáo sai sự thật thì đã thể hiện trong hành vi, vì vậy cần phải kiên quyết ngăn chặn, phê bình, kiểm điểm nghiêm khắc, có như vậy chúng ta mới có được những kết quả thực trong hoạt động.

Tạ Trung Dũng

bqllang.gov.vn

Những chuyện cảm động về Bác Hồ qua lời kể của thành viên nhóm tình báo Con Nai (Mỹ)

Henry Prunier năm nay đã 86 tuổi, là một trong bảy thành viên của nhóm tình báo Con Nai (Deer Team) thuộc OSS. Theo lời kêu gọi của Bác Hồ, nhóm Con Nai nhảy dù xuống Tân Trào tháng 7 năm 1945 để giúp đỡ trong việc huấn luyện các chiến sĩ Việt Minh đánh Nhật.

Chúng tôi đến thăm hai ông bà Henry Albert Prunier và Maria Prunier vào một buổi sáng mưa lạnh ở vùng New England. Ông Henry Prunier rất vui khi biết chúng tôi có ý định tìm hiểu, tham vấn ông để làm một cuốn sách liên quan đến thời kì đó.

Theo ông, lịch sử sẽ dần trôi vào quên lãng nếu không có những người nhắc lại giai đoạn đặc biệt này của quan hệ giữa hai nước – Một giai đoạn rất ngắn khi Việt Nam và Hoa Kỳ đã từng là bạn.

Những thành viên của The Office of Strategic Services (OSS), đã giúp đỡ Việt Minh sử dụng vũ khí và cũng chính những thành viên ấy đã hết sức nhiệt tình chuyển giúp thư của Bác Hồ đến chính phủ Mỹ, đề nghị Tổng thống Truman công nhận độc lập của Việt Nam.

Chỉ tiếc rằng lịch sử đã đi theo hướng hai nước trở thành đối thủ trong cuộc chiến 20 năm.

Có lẽ ông là một trong rất ít người còn sống và đã cùng ông Allison K. Thomas (trưởng nhóm Con Nai), trở lại Hà Nội năm 1995 gặp gỡ các chiến sĩ Việt Minh mà ông đã có dịp sống và làm việc. Cuộc gặp mặt sau 50 năm được tổ chức theo sáng kiến của Hội Hữu nghị Việt – Mỹ và do Quỹ Ford tài trợ.

Khi đến Tân Trào, ông mới 24 tuổi, làm thông dịch viên cho nhóm. Chỉ có chưa đầy một tháng được tiếp xúc với Bác Hồ, đại tướng Võ Nguyên Giáp và các chiến sĩ Việt Minh, nhưng đã để lại trong ông những kí ức và kỷ niệm khó quên mà ông mang theo bên mình trong hành trình hơn nửa thế kỷ.

Ông nhớ rõ từng chi tiết khi nhảy dù xuống Tân Trào. Nhóm Con Nai ở cách Tân Trào 3 km, trước đó đây là nơi dành cho các lớp bồi dưỡng chính trị, nay thành thao trường huấn luyện của Việt Minh.

Nhóm Con Nai mỗi người mỗi việc, trong đó có bác sĩ đã từng chữa bệnh cho Bác Hồ khi Người bị ốm. Vũ khí, thuốc men, thực phẩm của họ đều được tiếp tế bằng máy bay trực thăng. Tuy nhiên, cả nhóm vẫn dùng thực phẩm của địa phương như cơm, ngô, măng rừng, rau và thịt gà. Ông nhớ nhất là bữa ăn rất thiếu rau, còn thịt gà là món ông nhớ nhất vì nó… không ngon một chút nào.

Tiếp đó là những ngày hành quân về Hà Nội cùng tướng Đàm Quang Trung, qua Thái Nguyên còn phải đánh nhau với tàn quân Nhật. Các ông về đến Hà Nội vào ngày 9/ 9/1945.

Ông được gặp lại Bác Hồ, bây giờ là Chủ tịch nước Việt Nam độc lập, với cảm giác ngỡ ngàng vì trước đó một tháng ông chỉ biết đó là “Mr. Hồ”. Con người giản dị đó giờ đây đã trở thành người đứng đầu một đất nước thoát khỏi ách thuộc địa.

Ông ở Hà Nội một thời gian ngắn, rồi sang Côn Minh và về Mỹ tháng 1/1946.Ông học đại học, rồi làm việc ở công ty gia đình J.S, Prunier and Sons.

Năm 1997, ông tham dự cuộc gặp mặt những thành viên OSS và các chiến sĩ Việt Minh tại New York. Hiện ông đang sống tại thành phố Webster nằm phía đông của bang Massachusetts, Hoa Kỳ.

Bước vào nhà, vật đầu tiên ông chỉ cho chúng tôi là bức tranh thêu trên lụa khổ 1,5 m x 0,6 m, về một nhân vật trong lịch sử Trung Quốc, được lồng trong khung kính, treo trang trọng trong phòng khách.

Đó là món quà của Bác Hồ tặng ông từ năm 1945, và ông đã giữ cho đến tận bây giờ. Mặc dù đã 62 năm đã trôi qua, nhưng bức tranh không hề phai màu, được bảo quản gần như mới…

Ông đưa chúng tôi vào nơi trước đây là Văn phòng giao dịch của công ty J.S. Prunier and Sons. Bây giờ, đây là nơi ông lưu giữ những cuốn sách về Bác Hồ, về Việt Nam, về đội Con Nai, OSS trong những ngày ở Đông Dương.

Những cuốn sách của các tác giả là thành viên của đội OSS như Charlse Fenn, Archimedes Patti, và các nhà nghiên cứu về Việt Nam sau này như William Duiker, Dixee R. Bartholomew-Feis. Ông gìn giữ cẩn thận từng băng ghi âm các cuộc phỏng vấn của các cơ quan truyền thông trong những năm 1960, cả những băng cối, sử dụng rộng rãi vào thời kỳ đó.

Ông cho chúng tôi xem những băng ghi hình về Bác Hồ của nhiều đài truyền hình, các hãng thông tấn khác nhau như Đài BBC, kênh truyền hình “Lịch sử” của Mỹ (History Channel) và các cuộc phỏng vấn ông khi làm phim về Bác.

Từng tập hồ sơ, nhật ký của đội OSS ông còn giữ từ năm 1945, rồi ông đem những bức hình của các chiến sĩ Việt Minh năm xưa so sánh với những bức ảnh ông chụp với họ khi gặp lại nhau năm 1995 ở Hà Nội và năm 1997 tại New York.

Đặc biệt nhất là những bức ảnh đen trắng ông được chụp chung với Bác Hồ, đại tướng Võ Nguyên Giáp và các chiến sĩ Việt Minh. Những bức ảnh gốc đã hơn 60 năm tuổi, chúng có mặt trên các tạp chí nổi tiếng như Life Magazine của Hoa Kỳ (1978), Paris Match của Pháp (1968) và trong nhiều phim tài liệu về lịch sử ngắn ngủi trong quan hệ Việt-Mỹ.

Ông tháo trên tường một khung kính nhỏ hơn khổ giấy A4 một chút, đó là chứng chỉ do Đại học Berkeley cấp ngày 2/9/1944, công nhận ông đã học qua khóa tiếng Việt trong 9 tháng (chứng chỉ ghi là tiếng Annam).

Hóa ra có trường đại học Mỹ đã dạy tiếng Việt từ thời kỳ đó. Ông trân trọng cho chúng tôi xem từng bài viết về Bác Hồ, được cắt ra từ báo hoặc tạp chí. Đã nhiều năm trôi qua, nhiều chỗ đã hoen ố, nhưng dường như chúng vẫn mang hơi thở của thời kỳ ra đời. Và với chúng tôi, những người tìm hiểu về lịch sử thì đó là kho tài liệu vô giá.

Đề tài ông thích nhất có lẽ là nói về Bác Hồ. Ông có thể ngồi hàng giờ nói chuyện về những kỷ niệm không bao giờ quên trong thời gian hơn ba tuần được tiếp xúc với Bác.

Mặc dù là phiên dịch tiếng Việt, nhưng ông bảo Bác Hồ nói tiếng Pháp và tiếng Anh rất thạo, đương nhiên là hơn hẳn tiếng Việt của ông nên Bác thường trao đổi trực tiếp bằng tiếng Anh, khiến ông gần như… thất nghiệp.

Biết ông là người Massachusetts, Bác nhắc lại kỷ niệm về những ngày Bác sống và làm việc ở Boston và New York. Ông nhắc đi nhắc lại ấn tượng về Bác Hồ: Một con người rất đời, giản dị nhưng có chí khí mãnh liệt, một con người rất Việt, nhưng mang trong mình mọi tính cách của thành viên thuộc cộng đồng thế giới.

Ông mỉm cười khi nói đến hình ảnh ông nhớ nhất về Bác Hồ là Bác mặc áo cánh và quần sooc khi ở Tân Trào và cả khi về Hà Nội, trên cương vị Chủ tịch nước, Bác vẫn ăn mặc giản dị như thế khi tiếp đón các thành viên OSS tại Phủ Chủ tịch. Bác chiêu đãi, tặng quà và cám ơn các thành viên trong nhóm. Bác không hề tỏ ra mình là nhân vật quan trọng, khi mà trên thực tế lúc đó Bác là người vô cùng quan trọng.

Ông buồn rầu kể: “Hồ Chí Minh đã nhờ chúng tôi viết thư về Mỹ đề nghị Tổng thống Truman công nhận quyền độc lập của Việt Nam. Chúng tôi là những người lính chứ không phải các chính trị gia, nên mặc dù đã làm hết sức mình, nhưng không giúp được gì nhiều. Chỉ tiếc là những bức thư đó sau này nằm trong kho lưu trữ quốc gia. Thời điểm ấy, nước Mỹ chỉ tập trung vào châu Âu, bỏ qua khu vực Đông Nam Á.

Tổng thống Truman đã để Charlse de Gaulle quyết định vấn đề Đông Dương. Phải chăng đây cũng là một phần nguyên nhân của cuộc chiến kéo dài 30 năm? Hồ Chí Minh mời chúng tôi trở lại Việt Nam bất cứ lúc nào, thế mà phải 50 năm sau tôi mới có dịp trở lại”.

Năm 1968, khi tổng thống Johnson leo thang chiến tranh, ném bom miền Bắc, tại Mỹ phong trào chống chiến tranh trong mọi tầng lớp nhân dân, sinh viên, thanh niên đã phân đất nước thành hai cực.

Nước Mỹ tìm hiểu về cuộc chiến, một tờ báo địa phương của thành phố Worcester, tiểu bang Massachusetts nơi ông sinh sống đã đăng bài về Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ của phía bên kia qua lời kể của Henry Prunier.

Bài báo ông cho chúng tôi xem không khác những điều ông trân trọng kể về Bác hôm nay. Trong cuộc phỏng vấn do đài phát thanh thành phố thực hiện, Henry Prunier đã khẳng định: “Chúng ta không bao giờ giành chiến thắng tại Việt Nam bởi vì chúng ta chiến đấu không có mục đích. Trong khi đó, người Việt chiến đấu vì mục đích, vì niềm khao khát độc lập tự do”.

Chúng tôi hỏi ông vì sao chỉ với thời gian rất ngắn ở Việt Nam mà ông đã có kết luận như vậy? Ông trả lời: “Đơn giản lắm, người Việt có chung niềm khao khát độc lập như chúng tôi đã có ở thế kỉ 18. Khi đó chúng tôi phải giành độc lập bằng mọi giá do chính sách thuế má nặng nề của nước Anh áp đặt lên chúng tôi, vì có mục đích chúng tôi mới chiến thắng trong cách mạng Mỹ”.

Ngay sau khi ông phát biểu trên đài phát thanh, con gái ông còn đang đi học đã bị một số bạn bè và cả thầy cô quy kết là “con của cộng sản”. Ông bảo họ muốn nói gì cũng mặc, với ông, cái gì ông cho là đúng thì ông làm. Và điều ông nói đã thành sự thật. Năm năm sau, những người lính Mỹ cuối cùng đã rút khỏi Việt Nam và năm 1975, đất nước ta đã hoàn toàn thống nhất. Với người viết bài này, đây là một cuộc gặp mặt thật cảm động và khó quên. Người đang làm cuốn sách liên quan đến thời kỳ lịch sử này là ông David Thomas, một cựu binh đã tham chiến tại Playku năm 1968, người đã trân trọng quý mến Bác Hồ và vẽ trên 50 bức tranh về Bác.

Henry Prunier, cựu binh của thế chiến II, người đã tham gia giúp Việt Minh kháng chiến chống Nhật. Còn David Thomas, cựu binh của Chiến tranh Việt Nam, người đã tham chiến chống lại quân đội nhân dân Việt Nam.

Hơn 30 năm sau, tại nước Mỹ, hai thế hệ cựu binh đều gật đầu đồng tình với ý kiến của ông Prunier: “Đúng, chúng ta (người Mỹ) đã thất bại bởi vì chúng ta chiến đấu không có mục đích”.

Theo: Minh Phương
(Bài viết đăng trên Tạp chí Sự kiện nhân chứng)

bqllang.gov.vn

“Càng già chí khí càng dai…”

Bác Tôn Đức Thắng sinh năm 1888, hơn Bác Hồ 2 tuổi. Tình cảm giữa Bác Hồ và Bác Tôn cũng hình thành từ rất sớm, khi hai người chưa hề gặp nhau: Bác Tôn Đức Thắng từng ngưỡng mộ Nguyễn Ái Quốc từ năm 1919 khi Người còn hoạt động trên đất Pháp, đã đưa ra “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” 8 điểm đòi quyền độc lập cho Việt Nam làm chấn động Hội nghị Véc-xây… Nhưng mãi đến cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, khi Bác Tôn được bầu là đại biểu Quốc hội và ra Hà Nội làm việc, lần đầu tiên Bác Tôn và Bác Hồ mới gặp mặt nhau.

Tại phiên họp vào ngày 8-11-1946 của kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa một, khi Chủ tịch Chính phủ liên hiệp (lâm thời) Hồ Chí Minh phát biểu từ chức, trao quyền để Quốc hội chọn người đứng ra lập Chính phủ mới-Chính phủ “tập họp nhân tài, đoàn kết kháng chiến”-thì đại biểu Quốc hội Nam Bộ Tôn Đức Thắng đã đứng lên dõng dạc phát biểu ý kiến: “Tôi xin giới thiệu Cụ Hồ Chí Minh, tức nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc là người xứng đáng hơn ai hết, đứng ra thành lập Chính phủ mới”. Ý kiến của Bác Tôn đã làm cho nhóm đại biểu các đảng phái phản động chưng hửng, thất vọng vì họ đã chuẩn bị sẵn một “danh sách tân chính phủ”…

Sau ngày Toàn quốc kháng chiến 19-12, Bác Tôn cùng hai con gái là Hạnh, Nghiêm đều đã tham gia cách mạng được theo cha lên chiến khu Việt Bắc công tác. Trong kháng chiến chống Pháp, Bác Tôn là quyền Bộ trưởng Nội vụ, Trưởng ban vận động thi đua ái quốc Trung ương, Trưởng ban Thường trực Quốc hội… Giữa chiến khu Việt Bắc những ngày kháng chiến, Bác Hồ thường mời Bác Tôn đến gặp để đàm đạo công việc, trao đổi ý kiến về những công việc cụ thể nhằm đẩy mạnh phong trào Thi đua ái quốc, đẩy mạnh kháng chiến.

Bác Tôn cũng là người có phong cách rất cần kiệm trong đời sống, giản dị trong sinh hoạt. Hai Bác xưng hô với nhau rất thân mật bằng đại từ “cụ” và thân tình như một đôi bạn tri kỷ luôn “tâm đầu ý hợp”. Sau ngày kháng chiến thành công, trở về sống ở Thủ đô, Bác Hồ vẫn chỉ ở và làm việc tại căn phòng của người thợ điện cạnh tòa nhà Phủ Chủ tịch. Ngày vợ chồng hai người con gái là chị Hạnh-anh Phúc và chị Nghiêm-anh Trúc theo cha (Bác Tôn) về Hà Nội, thì bà Giàu từ miền Nam tập kết ra, lúc này gia đình mới sum họp. Ở nhà 35 Trần Phú, vợ chồng chị Hạnh, chị Nghiêm cũng chỉ có một phòng rộng không quá 20m2, hai chị em nhất định nhường cho ông thư ký riêng của cha căn phòng rộng hơn, vì “gia đình ông đông người hơn”. Ở Hà Nội, Bác Hồ thường sang thăm gia đình Bác Tôn. Thấy Bác Tôn làm việc, nghỉ ngơi trên tầng 2, hằng ngày thường phải lên xuống cầu thang không thuận tiện và tốn sức tuổi già, Bác Hồ nhắc Văn phòng: “Phải sắp xếp và đưa cụ xuống tầng dưới để ít phải đi lại, xuống hầm (hầm trú ẩn tránh bom đạn khi máy bay Mỹ đánh phá) cũng nhanh hơn…”. Những thời gian có thể, thường vào chiều thứ bảy trong tháng, Bác Hồ lại cho mời Bác Tôn sang nhà sàn cùng ăn cơm và đàm đạo với nhau. Mỗi lần như vậy, khi đến giờ, Bác Hồ ra tận gốc cây sát bờ ao thả cá đứng đợi “đón bạn”. Khi Bác Tôn đến, Bác Hồ lên tiếng: “Chào cụ!”. Bác Tôn cũng liền chắp hai bàn tay đáp lại: “Chào cụ !” đáp lễ…

Vào dịp kỷ niệm 70 năm ngày sinh của Bác Tôn (20-8-1958), Quốc hội quyết định tặng Bác Tôn Đức Thắng Huân chương Sao Vàng. Tại buổi lễ, trước khi gắn huân chương lên ngực áo Bác Tôn, Bác Hồ rất vui và rất xúc động phát biểu: “Đồng chí Tôn Đức Thắng là một gương mẫu đạo đức cách mạng: Suốt đời cần, kiệm, liêm, chính; suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân… Thay mặt nhân dân và Chính phủ, tôi trân trọng trao tặng đồng chí Tôn Đức Thắng Huân chương Sao Vàng, là huân chương cao quý nhất của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, mà đồng chí Tôn Đức Thắng là người đầu tiên và rất xứng đáng được tặng…”.

Hai năm sau, ở tuổi 72, kỳ họp Quốc hội tháng 7-1960 đã tín nhiệm bầu Bác Tôn làm Phó chủ tịch nước. Bác Tôn không chịu nhận có thêm thư ký riêng với lý do “công việc không nhiều”, sử dụng thêm một cán bộ là lãng phí. Nhưng Bác Hồ không tán thành, vì Bác Tôn tuổi đã cao. Bác Hồ bàn với Văn phòng sắp xếp công việc để có người giúp việc Bác Tôn, nên năm 1962 mới có người giúp việc-thư ký cho Bác Tôn, đó là ông Lê Hữu Lập… Cho đến năm Mậu Thân 1968, Bác Tôn Đức Thắng tròn 80 tuổi giữa thời kỳ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang rất quyết liệt. Bác Hồ lúc đến chúc thọ người bạn già tri kỷ Tôn Đức Thắng, đã tặng bạn hai câu thơ:

“Càng già chí khí càng dai
Chống Mỹ, cứu nước ít ai hơn già”.

Tuấn Hải
(Tạp chí Sự kiện nhân chứng)

bqllang.gov.vn

Những tác phẩm vô giá về giáo dục lý luận chính trị của Đảng ta

Đường Kách mệnh” và “Sửa đổi lối làm việc” là hai tác phẩm vô giá tiếp tục dẫn đường chỉ lối cho công tác lý luận và "thực hành lý luận" của Đảng ta. Ảnh tư liệu

(TCTG) – Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc giáo dục lý luận chính trị và giáo dục thực hành lý luận cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. “Đường Kách mệnh” và “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hai tác phẩm lý luận lớn, cũng là những tác phẩm vô giá về giáo dục lý luận chính trị của Người để lại.

Trong công tác xây dựng Đảng, Đảng ta luôn đặt nhiệm vụ xây dựng Đảng về lý luận chính trị là nhiệm vụ hàng đầu. Đây cũng chính là vấn đề mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta luôn quan tâm ngay từ khi phấn đấu thành lập Đảng cũng như trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta sau này. Người đã có rất nhiều bài viết, bài nói và những tác phẩm riêng về xây dựng Đảng nói chung, về công tác giáo dục lý luận chính trị nói riêng. Trong các tài liệu đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày rất rõ, rất toàn diện và cụ thể về vấn đề này, từ giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin đến vấn đề xây dựng Đảng mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; từ nội dung và nhiệm vụ học lý luận chính trị đến vấn đề nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác giáo dục lý luận chính trị.

1. “Đường Kách mệnh” – tác phẩm lý luận đầu tiên, cũng là tác phẩm lớn về giáo dục lý luận chính trị của Đảng ta

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác – Lênin sau khi đã nghiên cứu nhiều học thuyết, tìm hiểu nhiều tôn giáo trên thế giới. Người đã tự nhận mình là học trò của Đức Khổng Tử, của Chúa Giê su, của Các Mác, Tôn Dật Tiên…Cùng với việc tiếp thu những tinh hoa của các học thuyết ấy, Người còn tích lũy được nhiều kinh nghiệm thực tiễn qua việc nghiên cứu các cuộc cách mạng trên thế giới. Người nhận xét: Cuộc cách mạng Mỹ 1776 cũng như cuộc cách mạng Pháp 1789 đều là những cuộc “cách mạng không đến nơi… Cách mệnh An Nam nên nhớ điều ấy”(1) và “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có Đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lê-nin”(2).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chắt lọc những tinh hoa của lý luận và thực tiễn cách mạng thế giới để định ra con đường cách mạng Việt Nam. Khi gặp ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười, ánh sáng của chủ nghĩa Mác -Lênin, Người vui mừng khôn tả xiết. Người nói: Chủ nghĩa Lê-nin đối với cách mạng Việt Nam như người đi đường đang đói mà có cơm ăn, đang khát mà có nước uống. Người quyết định phải đến nước Nga, đến với Lê-nin. Tháng 6/1923, bất chấp muôn ngàn thử thách và hiểm nguy, Nguyễn Ái Quốc đã đến Tổ quốc của Cách mạng Tháng Mười.

Sau hơn một năm học tập và nghiên cứu tại Liên Xô, được chứng kiến công cuộc xây dựng CNXH, xây dựng cuộc sống hạnh phúc của nhân dân Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc càng mong sớm được trở về Tổ quốc. Người tin tưởng vào tương lai không xa trên đất nước thân yêu của mình cũng sẽ diễn ra sự nghiệp xây dựng CNXH. Tháng 3/1924, khi trả lời phỏng vấn phóng viên báo “Unita” của Đảng Cộng sản Ý tại Matxcơva – Giôvanni Giécmanéttô, Nguyễn Ái Quốc nói: Tôi sẽ trở về tổ quốc để đấu tranh cho sự nghiệp của chúng tôi. Ở bên chúng tôi có nhiều việc phải làm lắm… “Chúng tôi hiểu rõ là chúng tôi có trách nhiệm rất nặng nề và tương lai của các dân tộc tùy thuộc vào sự tuyên truyền và tinh thần hy sinh của chúng tôi”(3).

Nguyễn Ái Quốc xác định công việc đầu tiên phải làm là thành lập tổ chức của những người cộng sản, huấn luyện và đào tạo họ trở thành những chiến sỹ tiên phong cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Nguyễn Ái Quốc khẳng định giáo dục chủ nghĩa Lê-nin là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để những người cách mạng Việt Nam, trước hết là những người cộng sản, người lãnh đạo luôn là những người đi trước, dám hy sinh, xả thân vì sự nghiệp đó. Người còn chỉ rõ việc giáo dục chủ nghĩa Lê-nin là nguyên tắc đảm bảo cho Đảng có phương hướng, có nền tảng vững chắc và chỉ có theo chủ nghĩa Lê-nin mới đảm bảo cho Đảng trở thành người lãnh đạo đúng đắn và duy nhất của cách mạng Việt Nam.

Toàn bộ nội dung cuốn “Đường Kách mệnh” của Người là nhằm tổ chức và xây dựng Đảng ta theo tinh thần đó. Ngay trang đầu tiên của cuốn sách Nguyễn Ái Quốc đã trích câu nói nổi tiếng của Lê-nin trong tác phẩm “Làm gì”, rằng: “Không có lý luận cách mạng, thì không có cách mạng vận động…Chỉ có theo lý luận cách mạng tiên phong Đảng cách mạng mới làm nổi nhiệm vụ cách mạng tiên phong”. Người còn chỉ rõ: “Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm nòng cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam…Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin”(4).

Là tác phẩm lý luận nhưng hành văn của “Đường Kách mệnh” rất đơn giản và dễ hiểu. Nguyễn Ái Quốc viết: “Sách này muốn nói cho vắn tắt, dễ hiểu, dễ nhớ. Chắc có người sẽ chê rằng văn chương cụt quằn. Vâng! Đây nói việc gì cũng rất giản tiện, mau mắn, chắc chắn như hai lần hai là bốn, không tô vẽ, trang hoàng gì cả…Văn chương và hy vọng sách này chỉ ở trong hai chữ: Cách mệnh! Cách mệnh! Cách mệnh!!! Nguyễn Ái Quốc đã “Việt Nam hóa” lý luận Mác – Lênin một cách thật tài tình. Những vấn đề lý luận quan trọng Người mong muốn những người Việt Nam thấm nhuần được tóm tắt trong hai từ “Cách mệnh”. Hai từ này được giảng giải bằng những lời giản dị rất dễ hiểu, dễ nhớ. Người viết:

Muốn làm cách mạng thì phải biết:

– Làm cho quần chúng giác ngộ.
– Phải giảng giải lý luận và chủ nghĩa cho dân hiểu.
– Làm cách mệnh phải bày sách lược cho dân.
– Muốn làm cách mệnh phải tập trung sức. Và muốn tập trung sức phải có đảng cách mệnh.

Với hai từ “Cách mệnh” Nguyễn Ái Quốc lại giảng giải: Cách mệnh là gì? Cách mệnh có mấy thứ? Vì sao mà sinh ra tư bản cách mệnh? Vì sao mà sinh ra dân tộc cách mệnh? Vì sao mà sinh ra giai cấp cách mệnh? Cách mệnh khó hay dễ? Cách mệnh trước hết phải có cái gì?. Đó là những vấn đề lý luận hết sức cần thiết để những người cách mạng Việt Nam lúc đó mở rộng hiểu biết về thế giới. Nguyễn Ái Quốc đã giảng giải những vấn đề đó trên quan điểm Mác – Lênin và cho rằng đó là nền tảng tư tưởng mà một chính đảng không thể thiếu. Bằng cách đó, chủ nghĩa Mác – Lênin đã đến với cách mạng và nhân dân Việt Nam, như hạt giống tốt gặp mảnh đất mầu mỡ đã được chuẩn bị sẵn sàng, đã tạo ra bước ngoặt lịch sử cho cách mạng Việt Nam.

Trên quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin và kinh nghiệm của phong trào cách mạng thế giới, Người chỉ rõ cách mạng Việt Nam là cách mạng giải phóng dân tộc và có hai giai đoạn: cách mạng giải phóng dân tộc sau đó là cách mạng vô sản. Hai giai đoạn đó có quan hệ chặt chẽ với nhau, cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. “Đường Kách mệnh” cũng đã chỉ rõ nhiệm vụ trước mắt của cách mạng Việt Nam là đánh đổ đế quốc Pháp và phong kiến tay sai. Lực lượng để tiến hành cuộc cách mạng ấy là toàn dân tộc, trong đó lực lượng chủ yếu là công nhân, nông dân.

Với những nhiệm vụ cách mạng được nêu lên trong “Đường Kách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc cũng đã chỉ rõ nguyên tắc chiến lược trong việc xác định đường lối cách mạng, đó là phải vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin. Đảng phải xây dựng cho mình một hệ thống lý luận riêng phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tiễn thì lý luận đó mới trở thành người dẫn đường, lý luận đó mới là lý luận chân chính. Sau này Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Từ trong học thuyết dạt dào sức sống của chủ nghĩa Lê-nin, chúng tôi khơi nguồn sức mạnh để giành thắng lợi cho sự nghiệp thiêng liêng là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, để giành thắng lợi cho CNXH” (5).

Đánh giá ý nghĩa tác phẩm “Đường Kách mệnh”, đồng chí Trường Chinh đã viết: “Đường Kách mệnh” chẳng những có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn trong thời kỳ đã qua mà còn soi sáng con đường cho nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn trong giai đoạn mới”(6).

2. “Sửa đổi lối làm việc”- một tác phẩm lớn về giáo dục thực hành lý luận chính trị theo quan điểm Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. Song Người cũng luôn nhấn mạnh rằng học Mác – Lênin là phải học tinh thần Mác – Lênin, học phương pháp Mác – Lênin để xử trí mọi việc. Người nói với cán bộ huấn luyện: “Các chú dạy cho cán bộ đảng viên và nhân dân về chủ nghĩa Mác – Lênin, chắc có nhiều người thuộc, nhưng các chú có làm cho mọi người hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là thế nào không? Theo Bác hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin tức là cách mạng phân công cho việc gì, làm chủ tịch nước hay nấu ăn, đều phải làm tròn nhiệm vụ. Không nên đào tạo ra những con người thuộc sách làu làu, cụ Mác nói thế này, cụ Lê-nin nói thế kia, nhưng nhiệm vụ của mình được giao quét nhà lại để cho nhà đầy rác”(7). Trong nhiều tài liệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục thực hành lý luận Mác – Lênin, thì tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” là một điển hình tiêu biểu.

Tiếp theo cuốn “Đường Kách mệnh”, ở tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục nêu rõ phải giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ và nhân dân ta. Người viết: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế”; “Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”. Vì vậy, ở tác phẩm này Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những khuyết điểm mà nhiều cán bộ còn mắc phải, như: kém lý luận, khinh lý luận, lý luận suông. Người cũng chỉ ra nguyên nhân của những khuyết điểm đó đều là do nhận thức chưa rõ vai trò của lý luận. Người nêu những người kém lý luận là những người lười học tập, lười nghiên cứu lý luận hoặc là do yêu cầu của nhiệm vụ có bước phát triển nhanh, mới, nên trình độ lý luận chưa theo kịp, dẫn đến kết quả làm việc thất bại. Người viết: “Vì kém lý luận nên gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo. Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý mình nghĩ thế nào làm thế ấy. Kết quả thường thất bại”.

Về chứng bệnh khinh lý luận, Người phân tích đó thường là khuyết điểm của những người cho rằng mình có kinh nghiệm và không biết phải kết hợp kinh nghiệm ấy với lý luận để giải quyết công việc. Người viết: “Có những cán bộ, những đảng viên cũ, làm được việc, có kinh nghiệm… Nhưng họ lại mắc phải cái bệnh khinh lý luận. Họ quên rằng: nếu họ đã có kinh nghiệm mà lại biết thêm lý luận thì công việc tốt hơn nhiều…Có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ. Những anh em đó cần phải nghiên cứu thêm lý luận, mới thành người cán bộ hoàn toàn”. Nhưng cũng theo Người: “Lý luận cốt là để áp dụng vào thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông”.

Một nội dung rất lớn và quan trọng của tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” là việc giáo dục tư cách đạo đức cách mạng để người đảng viên có thể biến lý luận thành hành động cụ thể. Người kết luận: “Chúng ta phải gắng học, đồng thời học thì phải hành”. Bởi vậy, trong toàn bộ 6 phần của nội dung cuốn sách là: Phê bình và sửa chữa; Mấy điều kinh nghiệm; Tư cách và đạo đức cách mạng; Vấn đề cán bộ; Cách lãnh đạo; Chống thói ba hoa, thì phần “Tư cách và đạo đức cách mạng” có vị trí đặc biệt quan trọng và có độ dài nhất trong tác phẩm.

Vấn đề đạo đức cách mạng cũng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên như một nguyên tắc “sống còn” trong xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam ở tác phẩm “Đường Kách mệnh” năm 1927. Và đây là nội dung giáo dục đầu tiên trong các lớp huấn luyện cán bộ của Đảng ta lúc đó. “Trung với nước, hiếu với dân”, phẩm chất cơ bản của đạo đức cách mạng mới được nêu lên rất rõ trong tác phẩm này. Có phẩm chất ấy người cán bộ đảng viên có thể sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp của Đảng, của dân tộc. “Vị công vong tư. Không hiếu danh. Không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Ít lòng ham muốn vật chất. Giữ vững chủ nghĩa. Biết hy sinh”…Tư cách đạo đức đó lại được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển sâu sắc thêm, cụ thể hơn trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” trong điều kiện mới, khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền.

Ở đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi đảng viên phải thực hiện một cách nghiêm túc mối quan hệ giữa lời nói và việc làm và nêu cụ thể nhiệm vụ của mỗi cán bộ đảng viên phải làm gì và làm như thế nào để thực hành lý luận. Những nhiệm vụ đó được Người trình bày cụ thể trong các phần: về phận sự của đảng viên và cán bộ; về tư cách và bổn phận của đảng viên; về vấn đề vì sao đảng viên phải rèn luyện tính Đảng. Điều cốt lõi để thực hiện những nhiệm vụ đó là phải trọng lợi ích của Đảng hơn lợi ích của cá nhân. Người viết: “Vô luận thế nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng”. Trái lại những đảng viên và cán bộ nào “ham muốn địa vị, tìm cách phát tài, ra mặt anh hùng, tự cao tự đại,v.v..Đó đều là trái với lợi ích của Đảng”. Cũng trong tác phẩm này, những vấn đề về đạo đức cách mạng một lần nữa được Người phân tích, giảng giải. Theo đó, nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm là những nội dung cơ bản của tư cách đạo đức cách mạng. Tư cách đạo đức ấy là cơ sở, là cốt lõi để thực hành lý luận. Người chỉ rõ: Trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư”, cho nên mắc phải tính chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân như một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các chứng bệnh nguy hiểm.

Đọc lại “Tư cách và đạo đức cách mạng” trong “Sửa đổi lối làm việc” chúng ta càng hiểu thêm tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Chúng ta cũng càng hiểu thêm mong muốn của Bác đối với sự phấn đấu tu dưỡng của mỗi người, để có đủ đức và tài đưa chủ trương, đường lối và nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.

3. Để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh phải “Sửa đổi lối làm việc” về phong cách và phương pháp lãnh đạo nhằm thực hành lý luận

Nói về “Cách lãnh đạo” trong “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên cách để cán bộ, đảng viên có thể tập hợp, tổ chức, lãnh đạo nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng và chính sách của Chính phủ. Đây là những bài học vô cùng quý báu để tránh được tình trạng: chủ trương, chính sách ban hành thì nhiều nhưng không thực hiện được, hoặc thực hiện không đến nơi đến chốn.

Nêu vấn đề phải lãnh đạo đúng, Người viết: Lãnh đạo đúng nghĩa là: 1- Phải quyết định mọi vấn đề cho đúng…2- Phải tổ chức sự thi hành cho đúng…3- Phải tổ chức kiểm soát. Ba nội dung lãnh đạo đó quan hệ mật thiết vơi nhau và đều gắn bó, dựa vào nhân dân, thực hành sự kết hợp đánh giá từ trên xuống với từ dưới lên để đánh giá được đúng đắn, hoàn thiện hơn. Để xây dựng được cách lãnh đạo như thế, Người nêu vấn đề phải chọn người lãnh đạo: “Chọn người và thay người lãnh đạo là vấn đề quan trọng trong việc lãnh đạo…Những người mắc phải bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, không làm được việc, phải thay đi; Những người cậy mình là “công thần cách mạng” rồi đâm ra ngang tàng, không giữ kỷ luật thì cần phải mời họ xuống công tác hạ tầng, khép họ vào kỷ luật để chữa tính kiêu ngạo, thói quan liêu cho họ và để giữ kỷ luật của Đảng và Chính phủ; Một hạng người thứ ba cũng không thể ở vị trí lãnh đạo, đó là hạng người nói suông. Đó là những người chỉ “biết nói và nói, nói giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Nhưng một việc gì thiết thực cũng không làm được”. Nếu để những người như thế ở vị trí lãnh đạo, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là sẽ chỉ làm hại uy tín của Đảng, không thể tập hợp, lãnh đạo được quần chúng nhân dân.

Vì vậy, học tập và làm theo tư tưởng, phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh, trước hết là phải phát hiện ra hạng người như thế và điều quan trọng là phải kiên quyết loại những người đó ra khỏi vị trí lãnh đạo, bởi vì họ quá xa lạ với phong cách và phương pháp lãnh đạo mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu trong “Sửa đổi lối làm việc”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: muốn lý luận được thực hành thì phải có lối làm việc thiết thực, hiệu quả. Người đòi hỏi mỗi cán bộ phụ trách phải thực hiện cho được lối làm việc này. Phải khắc phục bệnh quan liêu “hữu danh vô thực”, tránh lối “làm cho qua chuyện, làm lấy rồi”, chỉ ham làm chủ tịch này, uỷ viên nọ, chứ không làm công tác thực tế. Để lãnh đạo thiết thực, Người nêu lên hai cách lãnh đạo: Một là, liên hợp chính sách chung với chỉ đạo riêng. Hai là, liên hợp người lãnh đạo với quần chúng. Như thế là một cách lãnh đạo thiết thực. Người cũng cho đó là một cách vừa lãnh đạo vừa học tập và chỉ rõ: “Bất kỳ người lãnh đạo nào, nếu không học nổi những việc thiết thực, những người thiết thực và những bộ phận thiết thực của cấp dưới, để rút kinh nghiệm, thì nhất định không biết chỉ đạo chung cho tất cả các bộ phận”.

Thiết thực là phong cách lãnh đạo nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây cũng là bài học sâu sắc, là kinh nghiệm quý giá mà Người để lại trong “Sửa đổi lối làm việc” và trong thực tiễn lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Lãnh đạo thiết thực là cách tốt nhất để tập hợp, tổ chức và động viên nhân dân đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.

Suốt đời quan tâm đến việc giáo dục lý luận chính trị và giáo dục thực hành lý luận cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, “Đường Kách mệnh” và “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hai tác phẩm lý luận lớn, cũng là những tác phẩm vô giá về giáo dục lý luận chính trị Người để lại. Tư tưởng của Người, những lời tâm huyết của Người về vấn đề này đã, đang và mãi mãi soi sáng sự nghiệp xây dựng Đảng ta, Đảng của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam trên hành trình hướng tới tương lai./.

———-

Chú thích:

(1), (2) (4). Hồ Chí Minh,Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.1995, t.2, tr.274, 280, 268.
(3). Hồ Chí Minh,Toàn tập, Sđd, t.1, tr.482.
(5). Hồ Chí Minh,Toàn tập, Sđd t.7,tr.519,520.
(6).Trường Chinh, Lời giới thiệu cuốn sách “Đường Kách mệnh”, Nxb.Sự Thật, H,1982, tr.17.
(7). Hồ Chí Minh,Toàn tập, Sđd, t.12, tr.554.

Theo Tạp chí Tuyên giáo
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn