Tag Archive | Học tập theo gương Bác

Con người và tấm gương Hồ Chí Minh

(Dân trí) – “Khỏe – Học – Làm – Sống” là 4 nhu cầu cơ bản của con người. Có khoẻ mới có thể học tốt, làm tốt, sống tốt. Có khoẻ, có học hay mới có khả năng làm giỏi, làm sáng tạo, mới có thể sống hạnh phúc, đạo đức, văn minh.

Bác Hồ tập thể dục rèn luyện sức khỏe.

Để trở thành “con người thông thái”

“Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khoẻ, tức là cả nước mạnh khoẻ… Dân cường thì quốc thịnh”. (1)

“Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu… Phải trở thành dân tộc thông thái”. (2)

“Tấm gương Hồ Chí Minh” là tổng hoà cách giữ gìn sức khoẻ khoa học, cách tự học thiên tài, là cách làm cách mạng sáng tạo với cách sống đạo đức, văn minh, danh nhân văn hoá thế giới, về mặt lý luận cũng như thực tiễn, cấp bách trước mắt cũng như về cơ bản lâu dài, trong sự nghiệp “trồng người, xây dựng, nâng cao thể lực và trí lực con người Việt Nam chính là “Tấm gương bốn tốt”: “Sức khoẻ tốt, Học tốt, Làm tốt, Sống tốt”, “Sức khoẻ tốt, Tự học hay, Làm sáng tạo, Sống đạo đức, văn minh”.

Con người của một dân tộc đang phấn đấu “trở thành dân tộc thông thái”, “dân cường quốc thịnh”, được xây dựng thông qua vận dụng – phát triển tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh, cùng nhịp bước khẩn trương của thời đại, phải là một con người “thông thái”, cao khoẻ, tự học hay, làm sáng tạo, sống văn minh”, gọi tắt là “con người thông thái bốn tốt”, “con người thông thái”.

Con người thông thái biết tự chăm lo vun đắp cái vốn quý nhất của mỗi con người và của dân tộc, giống nòi là sức khoẻ và trí tuệ: biết cách tự chăm sóc, tự rèn luyện, nâng cao sức khoẻ và tầm vóc nên người cao khoẻ; biết cách tự học hành sáng tạo suốt đời; biết và dám độc lập suy nghĩ, tự do sáng tạo, tự mình đi tìm lấy chân lý, sống và làm việc theo chân lý, tất cả “vì chân lý – vì lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân” (3), sống hạnh phúc, đạo đức, văn minh.

Cách dạy sáng tạo

Vì mục tiêu đào tạo ra những con người thông thái bốn tốt, trường học cần xây dựng đội ngũ nhà giáo bốn tốt có bản lĩnh dạy sáng tạo.

Cuộc vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo” có thể xem là phong trào đổi mới cách dạy của các “nhà giáo bốn tốt”: Thầy “tự học hay, dạy sáng tạo, đạo đức cao” chủ động tự đổi mới, vận dụng các cách dạy sáng tạo cho trò “tích cực tự học, sáng tạo”.

Tuy vậy, phổ biến hiện nay vẫn là “Thầy truyền đạt – trò thụ động tiếp thu một chiều”, “Thầy giảng – trò nghe, nói theo, làm theo” – một phương pháp lạc hậu tạo ra những con người được nhồi nhét kiến thức để vượt qua các kỳ thi, nặng về phục tùng, thừa hành, rập khuôn. Việc học nặng nề, quá tải đã dẫn đến những con số thống kê ảm đạm các bệnh học đường như cận thị, cong vẹo cột sống, tâm thần, trẻ lùn còi, lùn béo… đáng báo động về sức khoẻ, chiều cao và trí tuệ của con người và giống nòi!

Yêu cầu nhà giáo làm “tấm gương sáng tạo”, nhưng thực tế thi cử khắc nghiệt “thi gì học nấy” buộc nhà giáo phải làm “người luyện thi”!

Vận động nhà giáo “dạy sáng tạo”, nhưng sách giáo khoa – pháp lệnh tối cao trong nhà trường – buộc thầy phải làm “người truyền đạt” kiến thức một chiều đúng theo từng trang sách, trò phải học thuộc từng bài, từng chương để vượt qua các cửa ải thi cử! Sách học của ta lại đang ở dạng lạc hậu là “một ngân hàng kiến thức” áp đặt kiến thức sẵn có cho học sinh học thuộc, trong lúc sách học tiến bộ trên thế giới là “Công cụ khám phá”, “Ngân hàng tình huống” cung cấp một hệ thống tình huống – vấn đề cho người học suy nghĩ, tự mình tìm ra cách xử lý và kiến thức.

Một bộ sách học – ngân hàng tình huống – công cụ khám phá – cùng với một hệ thống đánh giá thi cử thông thoáng (bỏ kỳ thi trung học cơ sở và kỳ thi vào đại học…) mở rộng đường cho nhà giáo đi sâu vào cách “dạy sáng tạo”.

Học sáng tạo

Bác Hồ đi công tác ở chiến khu Việt Bắc

Từ “học thụ động, tiếp thu một chiều, học vẹt, khuôn sáo, giáo điều” khá phổ biến hiện nay trong toàn hệ thống nhà trường và xã hội, đến “tự học hành sáng tạo suốt đời”, “biết cách độc lập suy nghĩ, tự mình chiếm lĩnh lấy tri thức”, là cả một cuộc cách mạng về việc học của toàn xã hội.

Mỗi người học “vừa là chủ thể vừa là mục tiêu vừa là động lực chủ yếu” của cuộc cách mạng đó cần chủ động phấn đấu tự học, từ rèn thành con người thông thái bốn tốt thông qua các cuộc vận động thi đua “Học sinh bốn tốt”, “Sinh viên bốn tốt” với những tiêu chí cụ thể đáp ứng đúng nhu cầu độ tuổi. Hằng năm, cần có tổng kết khoa học nghiêm túc về “cách học hành sáng tạo”, biểu dương khen thưởng những “Học sinh, Sinh viên Bốn tốt”, “Học sinh, Sinh viên Sáng tạo”.

Mỗi người dạy cần phát huy vai trò “tấm gương đạo đức, tự học, sáng tạo”, xoáy sâu vào trọng tâm là dạy sáng tạo: Thầy hướng dẫn cho trò biết cách tự xử lý các tình huống – vấn đề tự tìm ra kiến thức, biết cách tự học, độc lập suy nghĩ, tự do sáng tạo. Cần suy tôn “Nhà giáo Sáng tạo” qua việc tổng kết khoa học hằng năm về “cách dạy sáng tạo”.

Sự nghiệp xây dựng con người thông thái từ thuở thai nhi thật cao cả, mà gia đình thì lắm nạn: nạn nghèo khó, nạn kém hiểu biết về giáo dục và chăm sóc thai nhi, giáo dục và chăm sóc trẻ em, nạn phá thai, nạn ly hôn…

Cần thiết thực trang bị cho gia đình hiểu biết và kỹ năng giáo dục chăm sóc cho thai nhi, trẻ em và người lớn, giúp đỡ các hộ nghèo và cận nghèo có những điều kiện cần thiết cho con em được chăm sóc, học hành.

Cần gắn kết các bộ, ngành, các hội, đoàn thể và tổ chức có liên quan đến sức khoẻ và trí tuệ của con người cùng chung sức “đem tài dân, của dân và sức dân” (4) xây dựng “Gia đình Hiếu học – Khoẻ mạnh – Văn hoá” thành “Gia đình bốn tốt” – Gia đình chăm lo thoả mãn tốt bốn như cầu cơ bản của con người, với những thành viên bốn tốt.

Tấm gương bốn tốt

Sức khoẻ tốt: Biết cách tự chăm sóc, từ rèn luyện, nâng cao sức khoẻ.

Học tốt: Biết cách tự học hành sáng tạo. Có trình độ giáo dục phổ cập theo độ tuổi.

Làm tốt: Biết lao động, có nghề. Lao động giỏi, có sáng kiến, sáng tạo.

Sống tốt: Cần kiệm, lành mạnh, trung thực, nhân nghĩa.

“Gia đình bốn tốt” là hội tụ các phong trào kinh tế – xã hội lớn của đất nước thành nơi con người phát triển toàn diện, tự học hành sáng tạo suốt đời là tế bào của xã hội học tập. Với đại đa số số hộ là gia đình bốn tốt, thì cả nước trở thành một xã hội học tập hiện đại.

Đất nước đổi mới đang đòi hỏi mỗi người cán bộ, đảng viên, đoàn viên hãy là một con người thông thái “dám nghĩ, dám làm, dám sáng tạo, dám nhận trách nhiệm”!

Mỗi người cán bộ quản lý – lãnh đạo của Đảng và Nhà nước hãy phát huy mạnh mẽ vai trò “Tấm gương bốn tốt”, đặc biệt là bản lĩnh điều hành sáng tạo, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh trong thời đại toàn cầu hoá – tin học hoá cho dân ta thành người thông thái, dân tộc ta thành dân tộc thông thái, nước ta thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa, giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.

(1) (2) (3) (4): Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục, NXB Giáo dục. 1990. Tr. 47.36.151.53.

Vũ Oanh
Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị,
Chủ tịch Hội Giáo dục Chăm sóc sức khoẻ cộng đồng Việt Nam

dantri.com.vn

Hồ Chủ tịch với công tác thanh niên

(Congannghean.vn)-Trong suốt cuộc đời của mình, Bác Hồ luôn quan tâm đến các thế hệ người Việt Nam, trong đó, Bác luôn giành nhiều tình cảm yêu thương sâu sắc đối với thế hệ trẻ, đặc biệt là lực lượng thanh niên

Ngay từ năm 1925, khi Người đang hoạt động ở nước ngoài tìm đường cứu nước, Người đã nhận thấy thanh niên là lực lượng quan trọng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trong tác phẩm “Bản án chế độ Thực dân Pháp”, Người viết “Hỡi Đông Dương đáng thương hại, Người sẽ chết mất nếu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh”.

Người lập ra Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên vào tháng 6/1925, để động viên, giác ngộ và tổ chức thanh niên vào công cuộc giải phóng dân tộc.

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, công tác thanh niên được Người coi trọng và xem là nhiệm vụ cần thiết. Để huy động lực lượng thanh niên vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, Hội nghị BCHTW Đảng đã quyết định lấy ngày 26/3/1931 là ngày thành lập Đoàn. Kể từ đó, thanh niên được tập hợp trong tổ chức của mình để đấu tranh và trưởng thành qua các cao trào 1930 – 1931, 1936 – 1939, 1939 – 1945.

Hồ Chủ tịch tại Đại hội Thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước (1967)

Đặc biệt, sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy được sức mạnh của tuổi trẻ trong sự nghiệp xây dựng đất nước. Trong thư gửi Ngành giáo dục nhân ngày khai trường năm 1945, Hồ Chủ tịch đã tin tưởng, gửi gắm niềm tin vào thế hệ trẻ, rằng tương lai của non sông Việt Nam phụ thuộc vào “một phần lớn ở công học tập của các em”.

Vào tháng tám năm 1947, trong thư gửi thanh niên, Người lại khẳng định “thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà… Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”, “thanh niên ta rất hăng hái.

Ta biết tập hợp lòng hăng hái đó lại và dìu dắt đúng đắn thì thanh niên sẽ thành một lực lượng rất mạnh mẽ”. Chính sự tin tưởng của Người mà các thế hệ thanh niên đã anh dũng chiến đấu lập nên chiến thắng Việt Bắc, Biên giới Thu – Đông và đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

Sau khi Hiệp định Giơnevơ được kí kết, miền Bắc nước ta chuyển sang giai đoạn Cách mạng XHCN, nhằm để động viên kịp thời và khuyến khích lực lượng thanh niên tham gia lao động sản xuất, xây dựng xã hội mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng quan tâm, giáo dục lực lượng thanh niên. Trong bài nói chuyện tại đại hội lần thứ III của Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam ngày (24/3/1961), Bác dặn: “Thanh niên ta phải cố gắng học…

Muốn xây dựng CNXH thì nhất định phải có học thức… Thanh niên ta cần hiểu rằng: bất kì công việc gì mà ra sức khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ đều là vẻ vang, đều là anh hùng”. Về phong trào thanh niên, Bác lưu ý: “Cần phải liên tục và có nội dung thiết thực, không nên hình thức mà phải nói được, làm được”.

Thực hiện và làm theo Bác Hồ dạy, tầng tầng, lớp lớp thanh niên không quản ngại khó khăn ra sức xây dựng miền Bắc XHCN và anh dũng chiến đấu ở tiền tuyến lớn miền Nam với tinh thần của người thanh niên Lí Tự Trọng “Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường Cách mạng và không thể con đường nào khác”.

Bác luôn coi thanh niên là lực lượng rường cột của nước nhà; là một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc. Vì vậy, trước lúc Người đi xa, trong di chúc Bác đã dùng những lời lẽ tâm huyết đối với lực lượng thanh niên “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ” và Bác cũng căn dặn: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đào tạo Cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ Cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết”.

Có thể nói, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác giáo dục thanh niên là tài sản vô cùng quý báu của dân tộc ta. Nhìn lại những lời dạy của Người giúp chúng ta có suy nghĩ và hành động đúng hơn về công tác thanh niên và giáo dục thanh niên trong thời kì mới, đặc biệt là trong năm thanh niên 2011.

Bùi Ngọc Tân

congannghean.vn

Nói và viết với phong cách Bác Hồ

Ảnh tư liệu

Cứ mỗi lần đến ngày kỷ niệm báo chí cách mạng Việt Nam, tất cả những người làm báo, những người đọc báo, quan tâm đến báo chí Việt Nam đều nhớ đến một con người, một cái tên – vĩ đại mà thân quen – Hồ Chí Minh – người đã khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam. Cho đến hôm nay, chúng ta vẫn có thể học tập từ nhiều điều từ sự nghiệp làm báo – làm cách mạng của Bác; vẫn còn cảm nhận được hơi ấm của tình người và ánh sáng của những tinh hoa văn hoá toả ra từ khối lượng đồ sộ những tác phẩm, bài nói, bài viết của Người…

Học viết và học nói

Trong rất nhiều điều Bác Hồ mong muốn các cán bộ cách mạng phải rèn luyện, có điều Bác mong muốn mỗi người đều phải học viết; học nói. Đối với Bác, tiếng Việt là của cải lâu dài và vô cùng quý báu của dân tộc, “chúng ta phải giữ gìn nó, Quý trọng nó, làm nó phát triển ngày càng rộng khắp”. Học viết học nói cũng không chỉ giới hạn trong đội ngũ cán bộ tuyên truyền, trong đội ngũ những người cầm bút mà cũng là điều cần thiết đối với mọi người, từ các em học sinh còn đang ngồi trên ghế nhà trường…

Trong sự đa dạng và phong phú của những bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh, có thể rút ra những nét chung nổi bật nhất của phong cách diễn đạt mà Người đã thể hiện suốt cuộc đời mình, một phong cách mẫu mực cho cả hiện tại và tương lai.

Đối với “nhà báo” Hồ Chí Minh trước hết cần xác định rõ chủ đề đối tượng, mục đích của việc nói và viết từ đó mới có thể tìm cách nói, cách viết cho phù hợp nhất mới chủ đề, với đối tượng để đạt được mục đích đề ra. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, trong bài Cách viết; trong bài nói tại Đại hội Hội Nhà báo Việt Nam lần thứ hai; bài nói tại Hội nghị tuyên truyền miền núi (1958), cũng như trong toàn bộ các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh chúng ta đều thấy Người nhấn mạnh bốn vấn đề liên quan chặt chẽ với nhau: Nói, viết cái gì? Nói, viết như thế nào? Chủ đề, đối tượng, Mục đích quyết định cách thể hiện, cách thể hiện tốt làm cho nội dung nói và viết đúng với chủ đề, đúng đối tượng và đạt được mục đích của việc nói và viết.

Giản dị và sâu sắc

Bác Hồ đã nói và viết về rất nhiều chủ đề khác nhau của cách mạng Việt Nam, của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế… trong chủ đề bao trùm là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người nói và viết cho rất nhiều đối tượng khác nhau, từ những đại biểu cao nhất của chủ nghĩa thực dân đề quốc; nhân dân các nước thuộc địa; nhân dân và Đảng Cộng sản các nước anh em; những người có lương tri tiến bộ trên khắp thế giới… và nhiều nhất là cho đông đảo các tầng lớp nhân dân Việt Nam với dân tộc, tôn giáo, trình độ khác nhau. Với mỗi đối tượng cụ thể, trong những văn cảnh cụ thể, Bác Hồ đều tìm ra những cách nói cách viết phù hợp nhất. Nếu đối tượng là người phương tây, Bác có cách viết rất “Tây”, sâu xa, châm biếm, hài hước, ý nhị…Với nhân dân Việt Nam, Bác lại nói và viết rất giản dị, Mộc mạc, nhiều khi có vần, có đối như ca dao tục ngữ rất quen thuộc với số đông mọi người. Với những nhà tri thức uyên bác, Người lại bàn về những lời răn dạy của các bậc tiên hiền, bàn về những vấn đề sâu sắc của khoa học, của thơ ca và nghệ thuật…

Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể xướng hoạ thơ đường với các vị khoa bảng hay với các đồng chí Trung Quốc nhưng khi nói, khi viết cho đồng bào chưa có điều kiện học nhiều chữ, Người không dùng bất cứ một từ ngữ khó hiểu nào…Chân biếm kẻ thù thì sâu cay “như những ngon roi quất mạnh vào mặt bọn chúa tể ở pháp và các nơi khác…Đối với các đồng chí cán bộ đảng viên, bác lại hài hước nhắc nhở nhẹ nhàng bằng những hình ảnh quen thuộc để mọi người nhớ mãi như nhắc nhở mọi người tiết kiệm mà lẫn lôn chữ nghĩa để tiết kiệm biến thành tiết canh…

Người làm tiếng Việt thêm phong phú

Đồng chí Trường Chinh nhận xét: “Hồ Chủ Tịch nói tiếng nói của dân tộc, của nhân dân Việt Nam, Nhiều từ ngữ dân gian được bác đưa vào ngôn ngữ của mình rất tự nhiên, hợp lý, sãng tạo… “Người còn làm giàu thêm cho kho tàng ngôn ngữ dân tộc bằng nhiều từ mới, từ rút ngắn như Vùng trời, Giặc đói, giặc dốt…

Nhà báo nổi tiếng U.Bơcset lại nhận xét: “nét điển hình ở Hồ Chí Minh là chỉ với một vài từ hoặc một vài hình ảnh, Người có thể trình bầy được những vấn đề phức tạp”. Hình ảnh đoàn quân đội viễn chinh Pháp bị nhốt váo đáy mũ của Người minh hoạ cho cuộc chiến đấu ở Điện Biên Phủ lúc nên đến đỉnh cao là một ví dụ rõ nét nhất…

Một nhà báo, nhà sử học Pháp còn phát hiện: “Hồ Chí Minh đã gạch tất cả những công thức tiêu cực để thay bàng những công thức tiêu cực cùng nghĩa. Người không đồng ý câu tôi viết trong đề cương là: Không có chủ nghĩa xã hội thì các dân tộc không thể đi đến giải phóng hoàn toàn, mà đề nghị sửa lại là: Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới có thể đảm bảo cho các dân tộc giải phóng hoàn toàn”.

Sự phong phú trong cách thể hiện của Bác Hồ khi nói và viết làm chúng ta nhận ra những đặc trưng trong cách nói, cách viết Hồ Chí Minh. Đó là:

– Chân thực. Mỗi bài nói, bài viết của Bác Hồ đều bắt nguồn từ thực tế cuộc sống với những con số, những sự kiện đã được xem xét, kiểm tra, chọn lọc. Bao giờ Người cũng đem lại cho người đọc, người nghe lượng thông tin cao và chính xác. Chính tính chân thực đã làm nên sức thuyết phục cao của những bài nói, bài viết của người đối với người nghe, người đọc. Chân thực cũng là yêu cầu đầu tiên của Bác Hồ đặt ra đối với cán bộ, đảng viên khi nói, khi viết. Bác thường nhắc nhở: “Viết phải đúng sự thật, không được bịa ra”; không nên nói ẩu”; “Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói chớ viết”…

– Ngắn gọn là một đặc trưng rất nổi bật trong cách nói, cách viết Hồ Chí Minh, “ngắn gọn có nghĩa là gọn gàng, rõ ràng, có đầu, có đuôi, có nội dung thiết thực, thấm thía, chắc chắn”. Ngắn gọn trong cách nói cách viết Hồ Chí Minh là cô đọng, hàm súc, ý nhiều lời ít, không có lời thừa, chữ thừa. Đặc tính ngắn gọn, hàm súc trong các bài nói, bài viết của Bác Hồ là sự kế thừa và phát triển phong cách phương Đông. Đó cũng là kết quả công phu rèn luyện của Bác từ những ngày đầu tham gia hoạt động chính trị, tham gia làm báo cách mạng.Người nhiều lần phê bình nhắc nhở cán bộ về mặt ba hoa, viết vừa dài vừa rỗng. Người thường khuyên cán bộ nói viết đều phải ngắn gọn, thiết thực, đi thẳng vào vấn đề. Nói dài, viết dài và sáo rỗng đều hoàn toàn xa lạ với phong cách Hồ Chí Minh.

– Trong sáng, giản dị, dễ hiểu. Toàn bộ các bài nói, bài viết của Bác Hồ đều rất trong sáng về ý tưởng và văn phong, giản dị trong cách trình bầy và dễ hiểu với người nghe, người đọc. Tư tưởng Hồ Chí Minh đến với mọi người bằng những ngôn từ quen thuộc – dù đó là những vấn đề của cuộc sống chiến đấu, lao động hàng ngày hay những vấn đề lớn của đất nước, của thời đại.

Muốn nói, muốn viết được trong sáng, giản dị, dễ hiểu, theo Bác Hồ, trước hết phải học cách nói của quần chúng. Phải thực sự học quần chúng để có cách nói, cách viết được quần chúng chấp nhận như những gì của chính họ. Bác Hồ phê phán rất gay gắt những cán bộ đem “thặng dư giá trị” ra nhồi sọ cho ba con nông dân; có cán bộ đem “tân dân chủ nghĩa” ra giáo dục các em nhi đồng; mang “biện chứng pháp” ra nói với anh em công nhân đang học chữ quốc ngữ…(!). Trong cách nói cách viết của mình, bác thường giản dị hoá mọi vấn đề khó hiểu mà không phải là sự đơn giản tầm thường, Sự giản dị, trong sáng của Người bắt đầu từ sự hiểu biết thấu đáo bản chất của sự vật, từ sự gắn bó với truyền thống dân tộc trong nếp cảm, nếp nghĩ…

Để viết và nói được trong sáng giản dị, dễ hiểu, Bác Hồ còn chỉ ra rằng phải chống lại căn bệnh hay nói chữ, ham dùng chữ, bệnh sính dùng chữ nước ngoài nào đã quen thuộc, đã “hoá thành chữ ta” mà không dùng thì không đúng. Bác Hồ đã nêu ví dụ: ta nói độc lập chư không nói đứng một, nói du kích chứ không nói đánh chơi.. Còn đối với bệnh lạm dụng chữ nước ngoài thì dù dùng đúng cũng đã có hại, nếu dùng sai theo kiểu dốt hay nói chữ thì cái hại lại càng to….

Sinh thời Bác Hồ đã căn dặn chúng ta nhiều điều khi học viết, học nói. Văn không chỉ là văn. Văn cũng chính là người. Học nói, học viết cũng là từng bước hoàn thiện những phẩm giá của mình.

hungvuong.edu.vn

Những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức đối với Đội ngũ trí thức

 

1. … Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà, mà anh em văn hóa và trí thức phải làm cũng như là những chiến sĩ anh dũng trong công cuộc kháng chiến để tranh lại quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc.

 

Gửi anh em văn hóa và trí thức Nam bộ, ngày 25-5-1947, sđd, t.5, tr. 131.

 

2. … Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc. Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế. Chứng thực là trong cuộc kháng chiến cứu quốc này, những người trí thức Việt Nam đã chung một phần quan trọng. Một số thì trực tiếp tham gia vào công việc kháng chiến, hy sinh cực khổ, chen vai thích cánh với bộ đội và nhân dân. Một số thì hăng hái hoạt động giúp đỡ ở ngoài.

 

Trả lời một nhà báo nước ngoài, ngày 22-6-1947, sđd, t.5, tr. 156.

 

3. … Những người trí thức tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến rất quý báu cho Đảng. Không có những người đó thì công việc cách mạng khó khăn thêm nhiều.

Nhưng có đôi người trí thức vì thế mà kiêu ngạo, lên mặt. Chứng kiêu ngạo lên mặt rất có hại cho họ. Nó ngăn trở họ tiến bộ.

… Một người học xong đại học có thể gọi là có trí thức. Song y không biết cày ruộng, không biết làm công, không biết đánh giặc, không biết làm nhiều việc khác. Nói tóm lại: công việc thực tế, y không biết gì cả. Thế là y có trí thức một nửa. Trí thức của y là trí thức học sách, chưa phải trí thức hoàn toàn. Y muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế.

Vì vậy, những người trí thức đó cần phải biết rõ cái khuyết điểm của mình. Phải khiêm tốn. Chớ kiêu ngạo. Phải ra sức làm các việc thực tế.

Lý luận phải đem ra thực hành. Thực hành phải nhằm theo lý luận.

Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên.

Lý luận cốt để áp dụng vào thực tế. Chỉ học thuộc lòng, để lòe thiên hạ thì lý luận ấy cũng vô ích.

Vì vậy, chúng ta phải gắng học, đồng thời học thì phải hành.

… Có nhiều đồng chí có bệnh tự tôn, tự đại, khinh rẻ người ta, không muốn biết, muốn học những ưu điểm của người khác. Biết được vài câu lý luận đã cho mình là giỏi, không xem ai ra gì, tưởng mình là hơn hết. Đó là bệnh hẹp hòi hạng nặng.

 

Sửa đổi lối làm việc, tháng 10-1947, sđd, t.5, tr. 235, 238.

 

…Các bạn là bậc trí thức. Các bạn có cái trách nhiệm nặng nề và vẻ vang là làm gương cho dân trong mọi việc. Dân ta đã đấu tranh một cách rất dũng cảm. Lẽ tất nhiên giới trí thức phải hy sinh đấu tranh, dũng cảm hơn nữa để làm gương cho nhân dân.

Các bạn là viên chức của Chính phủ Dân chủ Cộng hòa mà các bạn đã giúp xây dựng nên. Chính thể dân chủ cộng hòa của ta tuy còn trẻ tuổi, nhưng đã chiến thắng nhiều cuộc thử thách, nó đã chứng tỏ rằng quả thật là đầy tương lai. Do đó, nhiệm vụ các bạn phải tuyệt đối trung thành với chính quyền dân chủ.

…Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật. Lẽ tất nhiên các bạn cần phải nêu cao cái gương “phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư” cho nhân dân noi theo.

 

Thư gửi Hội nghị Tư pháp toàn quốc, tháng 2-1948, sđd, t.5, tr. 381, 382.

quangbinh.gov.vn

Những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức đối với Thanh, thiếu niên, nhi đồng

1. Trẻ em như búp trên cành,

Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan,

Trẻ con, Tháng 9-1941, sđd, t.3, tr. 203.

… Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội.

Vậy qua năm mới, các cháu phải xung phong thực hành “đời sống mới”

Đời sống mới là:

– Hăng hái, kiên quyết, không sợ khó, không sợ khổ.
– Phải siêng học, phải siêng làm, phải tiết kiệm.
– Việc nên làm (như ủng hộ kháng chiến, tăng gia sản xuất) thì ta không chờ ai nhắc nhủ.
– Việc nên tránh (như tự tư tự lợi) thì ta không đợi ai ngăn ngừa.

Gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết sắp đến, tháng 1-1946, sđd, t.4, tr. 167.

… Nay Bác viết mấy chữ, để cám ơn các cháu và khuyên các cháu:
1. Phải siêng học,
2. Phải giữ sạch sẽ,
3. Phải giữ kỷ luật,
4. Phải làm theo đời sống mới,
5. Phải thương yêu giúp đỡ cha mẹ anh em.

 

Thư gửi các cháu thiếu nhi, năm 1946, sđd, t.4, tr. 421

 

… Người ta thường nói: Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm người chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc để chuẩn bị cái tương lai đó.

… mỗi thanh niên, nhất là mỗi cán bộ phải kiên quyết làm bằng được những điều sau này:

a) Các sự hy sinh khó nhọc thì mình làm trước người ta, còn sự sung sướng thanh nhàn thì mình nhường người ta hưởng trước (tiên thiên hạ ưu, hậu thiên hạ lạc).
b) Các việc đáng làm, thì có khó mấy cũng cố chịu quyết làm cho kỳ được.
c) Ham làm những việc ích quốc lợi dân. Không ham địa vị và công danh phú quý.
d) Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, đối với việc.
e) Quyết tâm làm gương về mặt: siêng năng, tiết kiệm, trong sạch.
f) Chớ kiêu ngạo, tự mãn, tự túc. Nói ít làm nhiều, thân ái đoàn kết.

… chớ đặt những chương trình, kế hoạch mênh mông, đọc nghe sướng tai nhưng không thực hiện được.

Việc gì cũng cần phải thiết thực, nói được, làm được. Việc gì cũng phải từ nhỏ dần dần đến to, từ dễ dần dần đến khó, từ thấp dần dần đến cao. Một chương trình nhỏ mà thực hiện được hẳn hoi, hơn một trăm chương trình to tát mà làm không được.

 

Thư gửi các bạn thanh niên, ngày 17-8-1947, sđd, t.5, tr. 185-186.

 

… Cách dạy trẻ, cần làm cho chúng biết yêu Tổ quốc, thương đồng bào, yêu lao động, biết vệ sinh, giữ kỷ luật, học văn hóa.

Đồng thời phải giữ toàn vẹn tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động trẻ trung của chúng, chớ nên làm cho chúng hóa ra già cả. Nhiều thư của các cháu gửi cho Bác Hồ viết như người lớn viết, đó là một triệu chứng già sớm cần nên tránh.

Trong lúc học, cũng cần làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học. Ở trong nhà, trong trường, trong xã hội, chúng đều vui, đều học. Muốn vậy các ban phụ trách nhi đồng cần phải liên lạc với cha mẹ và thầy giáo của nhi đồng.

… Giáo dục nhi đồng là một khoa học. Các bạn hãy cố gắng học tập, nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm để tiến bộ mãi, nhất là phải làm kiểu mẫu trong mọi việc cho các em bắt chước.

 

Thư gửi Hội nghị cán bộ phụ trách nhi đồng toàn quốc, ngày 25-8-1950, sđd, t.6, tr. 85.

 

2. Khuyên thanh niên:

Không có việc gì khó,
Chỉ sợ lòng không bền,
Đào núi và lấp biển,
Quyết chí ắt làm nên.

Làm tặng một đơn vị Thanh niên xung phong, Tháng 9-1950, sđd, t.6, tr.95.

… Điều gì phải, thì cố làm cho kỳ được, dù là việc nhỏ. Điều gì trái, thì hết sức tránh, dù là một điều trái nhỏ.

– Trước hết phải yêu Tổ quốc, yêu nhân dân. Phải có tinh thần dân tộc vững chắc và tinh thần quốc tế đúng đắn. Phải yêu và trọng lao động. Phải giữ gìn kỷ luật. Phải bảo vệ của công. Phải quan tâm đến đời sống của nhân dân. Phải chú ý đến tình hình thế giới, vì nước ta là một bộ phận của thế giới, mọi việc trong thế giới đều có quan hệ với nước ta, việc gì trong nước ta cũng quan hệ với thế giới…

… Nhiệm vụ của thanh niên không phải là đòi hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà? Mình phải làm thế nào cho ích lợi nước nhà nhiều hơn? Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hy sinh phấn đấu chừng nào?

– Thanh niên cần phải có tinh thần và gan dạ sáng tạo, cần phải có chí khí hăng hái và tinh thần tiến lên, vượt mọi khó khăn, gian khổ để tiến mãi không ngừng.

Cần phải trung thành, thật thà, chính trực.

Những điều nên chống: Thanh niên cần phải chống tâm lý tự tư tự lợi, chỉ lo lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình. Chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc. Chống thói xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay. Chống lười biếng, xa xỉ. Chống cách sinh hoạt ủy mị. Chống kiêu ngạo, giả dối, khoe khoang.

Nói chuyện tại buổi lễ khai mạc Trường Đại học nhân dân Việt Nam,
ngày 19-1-1955, sđd, t.7, tr. 454-455.

… Thanh niên bây giờ là thế hệ vẻ vang, vì vậy cho nên phải tự giác tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình. Tức là thanh niên phải có đức, có tài. Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi, nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi gì cho loài người…

 

Nói chuyện tại Đại hội sinh viên lần thứ hai ngày 7-5-1958, sđd, t.9, tr. 172.

 

Người ta thường nói: Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Để thật xứng đáng là người chủ của một nước xã hội chủ nghĩa, thanh niên ta quyết tâm thực hiện mấy điều sau đây:

– Phải thấm nhuần đạo đức cách mạng tức là khiêm tốn, đoàn kết, thực hành chủ nghĩa tập thể, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, người tiên tiến thì giúp đỡ người kém, người kém phải cố gắng để tiến lên, ra sức cần kiệm xây dựng nước nhà.

– Phải nghiêm khắc chống chủ nghĩa cá nhân như tự tư tự lợi, tự kiêu, tự mãn, chỉ tham việc gì có danh tiếng, xem khinh những công việc bình thường. Phải chống tham ô, lãng phí.

– Phải cố gắng học hỏi để không ngừng nâng cao trình độ chính trị, văn hóa và kỹ thuật để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

 

Bài nói tại Đại hội thanh niên tích cực lao động xã hội chủ nghĩa,
ngày 17-3-1960, sđd, t.10, tr. 106.

 

… Thanh niên ta có vinh dự to thì cũng có trách nhiệm lớn. Để làm tròn trách nhiệm, thanh niên ta phải nâng cao tinh thần làm chủ tập thể, trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân, chớ phô trương hình thức, chớ kiêu ngạo, tự mãn. Phải thấm nhuần đạo đức cách mạng tức là học tập, lao động, sinh hoạt theo đúng đạo đức của thanh niên xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa…

 

Nói tại Đại hội toàn quốc lần thứ II của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam,
ngày 20-12-1961, sđd, t. 10, tr. 489.

quangbinh.gov.vn

Những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức đối với Bộ đội, Công an

1. … Hỏi: Đời sống mới trong bộ đội nên như thế nào?

Đáp: Bộ đội là một đoàn thể tổ chức nghiêm ngặt đã sẵn, càng dễ thực hành đời sống mới.

Một là kỷ luật phải cực kỳ nghiêm.

Hai là siêng luyện tập.

Ba là làm cho trong bộ đội ai cũng biết chữ. Trong các bộ đội ta, ít nhất là một phần nửa binh sĩ đã biết chữ. Những người chỉ huy phải tổ chức cho khéo, ngoài những lớp học, giao cho mỗi một người biết chữ phụ trách dạy cho một hay hai người chưa biết, thì trong vài ba tháng, tất cả binh sĩ đều biết chữ.

Bốn là một người binh sĩ phải biết chính trị ít nhiều. Họ đem xương máu ra giữ gìn Tổ quốc, thì chẳng những họ phải hiểu vì sao mà hy sinh, họ lại phải có thể nói cho người khác biết vì sao phải yêu nước.

Năm là bộ đội cũng phải tăng gia sản xuất… Tùy theo hoàn cảnh mỗi bộ đội, hoặc làm vườn, nuôi lợn, hoặc làm giúp dân. Có lúc bộ đội chia phiên nhau, lớp đánh giặc, lớp làm ruộng làm vườn, để tự cấp tự túc không phiền đến dân cả mọi việc.

Sáu là tiết kiệm. Tiết kiệm thuốc đạn, bắn cho đúng, không bắn phí đạn. Nhờ thế mà bớt dần nguyên liệu, bớt được công khó rèn đúc, công khó vận tải, đem tài liệu và công phu đó làm việc khác.

Tiết kiệm lương thực và vải vóc, chớ nghĩ rằng cơm ăn áo mặc đã có Chính phủ lo, đã có đồng bào giúp, thì ta không cần tiết kiệm. Bộ đội có hàng mấy vạn người. Nếu mỗi người tiết kiệm một chút, sản xuất một chút, góp lại sẽ thành một số rất to.

Bảy là vệ sinh. Bộ đội đông người ăn chung, ở chung, nếu có bệnh càng dễ lây cho nhau. Cho nên càng phải rất chú ý việc vệ sinh.

Tám là ăn ở cho được dân tin, dân phục, dân yêu. Hay giúp đỡ dân, giữ đúng kỷ luật thì được như thế.

Chín là đánh được nhiều giặc, lấy được nhiều súng.

Bộ đội này thi đua với bộ đội khác làm đời sống mới.

Đời sống mới, năm 1947, sđd, t.5, tr. 103-104.

2. … Tư cách người công an cách mệnh là:

Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính.

Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ

Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành.

Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép.

Đối với công việc, phải tận tụy.

Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo.

Nói tóm lại là những đạo đức và tư cách mà người công an cách mệnh phải có, phải giữ cho đúng…

Ngoài ra, công an thường phải kiểm soát nhân viên và công việc của mình. Mỗi công an viên đóng chỗ nào thì cần dạy cho dân quân, tự vệ nơi đó cách điều tra, xét giấy, phòng gian, v.v… Dạy cho dân ở nơi đó giữ bí mật. Và tự mình phải luôn luôn lễ phép. Tránh hách dịch.

Tư cách người công an cách mệnh. tháng 3-1948, sđd, t.5, tr. 406-407.

3. Công tác của người tướng là:

– Đối với kỷ luật: Trong quân đội, mệnh lệnh từ trên xuống dưới, phải thấm xuống tới mỗi đội viên. Chỗ nào mệnh lệnh không xuống tới thì chỗ đó hỏng. Báo cáo từ dưới lên, phải cho thật thà, nhanh chóng, thiết thực.

Về kỷ luật, phải thưởng phạt cho công minh. Chớ vì ưa ai mà thưởng, ghét ai mà phạt, ai hẩu với mình thì dùng, ai trực tính nói ngay thì bỏ.

– Đối với binh sĩ, thì từ lời ăn, tiếng nói, niềm vui, nỗi buồn, quần áo, nhất nhất phải biết rõ và hết sức chăm nom. Có đồng cam cộng khổ với binh sĩ thì dẫn họ đi đâu, dù nguy hiểm mấy họ cũng vui lòng đi, khi bảo họ đánh, họ sẽ hăng hái đánh.

Bộ đội cũng ví như con dao, cái súng, không lau chùi luôn sẽ hỏng. Chăm tập luyện sẽ tiến bộ. Bộ đội ta, tuy còn trẻ mà tiến bộ rất mau, nếu người tướng không chịu học hỏi, cứ đứng một chỗ thì nhất định bị lạc hậu.

– Đối với dân, thì chắc các đồng chí đã có nhiều kinh nghiệm rồi. Bộ đội được dân yêu, dân tin, dân phục thì nhất định thắng lợi.

– Đối với địch, thì tuyệt đối chớ khinh địch. Tục ngữ có câu: “Sư tử muốn bắt con chuột cũng phải dùng hết sức lực mới bắt được”. Khinh địch thì nhất định sẽ thất bại.

Nói chuyện tại Hội nghị quân sự lần thứ 5, tháng 8-1948, sđd, t.5, tr. 480.

quangbinh.gov.vn

Con đường hình thành đạo đức mới, phê phán những hiện tượng phi đạo đức (Kì III)

18. Nghe tiếng giã gạo
Gạo đem vào giã bao đau đớn;
Gạo giã xong rồi, trắng tựa bông;
Sống ở trên đời người cũng vậy,
Gian nan rèn luyện mới thành công.

Nhật ký trong tù, Sđd, t.3, tr.350.

19. Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. Mình đã chí công vô tư, thì khuyết điểm sẽ ngày càng ít, mà những tính tốt như sau ngày càng thêm.

Nói tóm tắt, tính tốt ấy gồm có 5 điều: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm…

Đó là đạo đức cách mạng. Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người.

Sửa đổi lối làm việc, tháng 10-1947, sđd, t. 5, tr. 251-252.

20. … Nói về Đảng, một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế mới là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính.

Phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của đồng chí mình.

Tự phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của mình.

Tự phê bình và phê bình phải đi đôi với nhau. Mục đích là cho mọi người học lẫn ưu điểm của nhau và giúp nhau chữa những khuyết điểm.

Sửa đổi lối làm việc, tháng 10-1947, sđd, t.5, tr. 261, 267.

21. Đối với người

… Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người…

Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới.

Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết. Phải học người và giúp người tiến tới.

Phải thực hành chữ Bác – Ái.

Đối với việc

Phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà.

Đã phụ trách việc gì, thì quyết tâm làm cho kỳ được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm.

Bất kỳ việc to, việc nhỏ, phải có sáng kiến, phải có kế hoạch, phải cẩn thận, phải quyết tâm làm cho thành công.

Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác dù nhỏ mấy cũng tránh.

Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước không? Nếu không có lợi, mà có hại cho nước thì quyết không làm.

Mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước (lợi cho nước tức là lợi cho mình), dù là việc nhỏ, thì một năm ta làm được 365 việc. Nhiều lợi nhỏ cộng thành lợi to.

Cần, kiệm, liêm, chính, tháng 6-1949, sđd, t.5, tr. 644-645.

22. … Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu. Nhưng lại phải thấy rằng chỉ ở trong chế độ xã hội chủ nghĩa thì mỗi người mới có điều kiện để cải thiện đời sống riêng của mình, phát huy tính cách riêng và sở trường riêng của mình.

… Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí… Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân.

Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó.

… Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong.

Có gì sung sướng vẻ vang hơn là trau dồi đạo đức cách mạng để góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và giải phóng loài người.

Đạo đức cách mạng, tháng 12-1958, sđd, t. 9, tr. 291, 292, 293.

23. … Cán bộ, đảng viên và đoàn viên thanh niên càng phải giữ vững lập trường giai cấp, nâng cao tinh thần trách nhiệm, trau dồi đạo đức cách mạng, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước đã giao cho.

Sức mạnh của Đảng là ở sự đoàn kết nhất trí. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao ý thức tổ chức và kỷ luật, nghiêm chỉnh chấp hành đường lối và chính sách của Đảng, tôn trọng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng.

Mỗi chi bộ của Đảng phải là một hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên hệ mật thiết với quần chúng, phát huy được trí tuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng.

Đoàn kết tiến lên giành thắng lợi mới, ngày 3-2-1963, sđd, t. 11, tr. 23.

quangbinh.gov.vn

Con đường hình thành đạo đức mới, phê phán những hiện tượng phi đạo đức (Kì II)

13. Bệnh lười biếng – Khi tiếp được mệnh lệnh hoặc nghị quyết không chịu nghiên cứu rõ ràng. Không lập tức đưa ngay mệnh lệnh và Nghị quyết đó cho cấp dưới, cho đảng viên, cho binh sĩ. Cứ xếp lại đó.

Khi thi hành, kềnh kềnh càng càng, không hoạt bát nhanh chóng.

Hoặc thi hành một cách miễn cưỡng, không sốt sắng. Không đến nơi đến chốn.

Kết quả nhỏ là: Nghị quyết đầy túi áo, thông cáo đầy túi quần.

Kết quả nặng là: Phá hoại tổ chức của Đảng, giảm bớt kỷ luật của Đảng, bỏ mất thời cơ tốt, lúc nên làm thì không làm, khi làm thì trễ rồi.

Đó là vì tính lười biếng, chậm chạp…

14. Bệnh tị nạnh – Cái gì cũng muốn “bình đẳng”.

Thí dụ: Cấp trên vì công việc, phải cưỡi ngựa, đi xe. Cấp dưới cũng muốn cưỡi ngựa, đi xe.

Người phụ trách nhiều việc, cần có nhà rộng, người không phụ trách nhiều việc, cũng đòi nhà rộng.

Phụ cấp cho thương binh cũng muốn nhất loạt, không kể thương nặng hay nhẹ.

Làm việc gì, thì muốn già, trẻ, mạnh, yếu đều làm bằng nhau.

Có việc, một người làm cũng được, nhưng cũng chờ cho đủ mọi người mới chịu làm.

Bệnh này sinh ra vì hiểu lầm hai chữ bình đẳng. Không hiểu rằng: người khỏe gánh nặng, người yếu gánh nhẹ. Người làm việc nặng phải ăn nhiều, người làm việc dễ thì ăn ít. Thế là bình đẳng…

15. Bệnh xu nịnh, a dua – Lại có những người trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu. Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái…

Sửa đổi lối làm việc, tháng 10-1947, sđd, t. 5, tr. 255-261.

16 … Bệnh quan liêu mệnh lệnh từ đâu mà ra?

Nguyên nhân bệnh ấy là:

Xa nhân dân: do đó, không hiểu tâm lý, nguyện vọng của nhân dân.

Khinh nhân dân: cho là “dân ngu khu đen”, bảo sao làm vậy, không hiểu được chính trị, lý luận cao xa như mình.

Sợ nhân dân: khi có sai lầm, khuyết điểm thì sợ nhân dân phê bình, sợ mất thể diện, sợ phải sửa chữa.

Không tin cậy nhân dân: họ quên rằng không có lực lượng nhân dân, thì việc nhỏ mấy, dễ mấy, làm cũng không xong, có lực lượng nhân dân, thì việc khó mấy, to mấy cũng làm cũng được.

Không hiểu biết nhân dân: Họ quên rằng nhân dân cần trông thấy lợi ích thiết thực (lợi ích gần và lợi ích xa, lợi ích riêng và lợi ích chung, lợi ích bộ phận và lợi ích toàn cuộc). Đối với nhân dân, không thể lý luận suông, chính trị suông.

Không yêu thương nhân dân: do đó họ chỉ biết đòi hỏi nhân dân, không thiết thực giúp đỡ nhân dân…

Có nơi, bệnh quan liêu mệnh lệnh trầm trọng đến nỗi cán bộ lừa phỉnh dân, dọa nạt dân!

Bệnh quan liêu mệnh lệnh chỉ đưa đến một kết quả là: hỏng việc. Vì vậy, chúng ta phải mau mau chữa bệnh nguy hiểm ấy.

Cách chữa bệnh ấy gồm có một nguyên tắc là: theo đúng đường lối nhân dân và 6 điều là:

Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết;

Liên hệ chặt chẽ với nhân dân;

Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ;

Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoan nghênh nhân dân phê bình mình;

Sẵn sàng học hỏi nhân dân;

Tự mình phải làm gương mẫu cần, kiệm, liêm, chính, để nhân dân noi theo.

Cần tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh ngày 2-9-1951, sđd, t. 6, tr. 292-293.

17. Tham ô là hành động xấu xa nhất của con người. Nhân dân lao động ta làm lụng đổ mồ hôi sôi nước mắt để góp phần xây dựng của công – của Nhà nước và của tập thể. Của công ấy là nền tảng vật chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, là nguồn gốc chủ yếu để nâng cao đời sống của nhân dân ta.

Tham ô là lấy trộm của công, chiếm của công làm của tư. Nó có hại đến sự nghiệp xây dựng nước nhà, có hại đến công việc cải thiện đời sống của nhân dân, có hại đến đạo đức cách mạng.

… Lãng phí và tham ô tuy khác nhau ở chỗ lãng phí thì không trực tiếp ăn cắp, ăn trộm của công, nhưng kết quả tai hại đến tài sản của Nhà nước, của tập thể thì lãng phí cũng có tội. Ví dụ: Tên A tham ô 1.000 đồng, tên B lãng phí 1.000 đồng. Kết quả tai hại đến của công thì B cũng chẳng khác gì A.

Lãng phí có nhiều hình thức: hoặc vì lập kế hoạch không chu đáo, ví dụ làm một ngôi nhà không hợp thức, làm xong rồi phải phá đi làm lại. Hoặc vì tính toán không cẩn thận, điều động hàng trăm hàng nghìn con người đến công trường, nhưng chưa có việc gì làm hay là người nhiều việc ít, phải để họ trở về. Hoặc vì xa xỉ, phô trương hình thức, nào liên hoan, nào “báo chí”, nào kỷ niệm, sắm sửa lu bù, xài tiền như nước, v.v…

Nói tóm lại, lãng phí là vì thiếu tinh thần trách nhiệm, không có ý thức quý trọng sức của, sức người của Nhà nước, của nhân dân.

… Quan liêu là cán bộ phụ trách xa rời thực tế, không điều tra, nghiên cứu đến nơi đến chốn những công việc cần phải làm, việc gì cũng nắm không vững, chỉ đạo một cách đại khái, chung chung.

Vì vậy, bệnh quan liêu là nguồn gốc sinh ra lãng phí, tham ô…

Việc chống tham ô, lãng phí, quan liêu là rất cần thiết và phải làm thường xuyên. Nó có hai ý nghĩa quan trọng:

– Nó làm cho mọi người nâng cao tinh thần trách nhiệm, tinh thần làm chủ, ý thức bảo vệ của công, hăng hái thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, để nâng cao đời sống của nhân dân.

– Nó giúp cho cán bộ và đảng viên ta giữ gìn phẩm chất cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng. Do đó mà nhân dân ta đã đoàn kết, càng đoàn kết thêm, lực lượng ta đã hùng mạnh, càng hùng mạnh thêm…

Bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước,
ngày 24-7-1962, sđd, t. 10, tr. 573-574, 575.

quangbinh.gov.vn

Con đường hình thành đạo đức mới, phê phán những hiện tượng phi đạo đức (Kì I)

1. Bệnh tham lam – Những người mắc phải bệnh này thì đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc, do đó mà chỉ “tự tư, tự lợi”. Dùng của công làm việc tư. Dựa vào thế lực của Đảng để theo đuổi mục đích riêng của mình.

Sinh hoạt xa hoa, tiêu xài bừa bãi. Tiền bạc đó ở đâu ra? Không xoay của Đảng thì xoay của đồng bào. Thậm chí làm chợ đen buôn lậu. Không sợ mất thanh danh của Đảng, không sợ mất danh giá của mình.

2. Bệnh lười biếng – Tự cho mình là cái gì cũng giỏi, việc gì cũng biết. Làm biếng học hỏi, làm biếng suy nghĩ. Việc dễ thì giành lấy cho mình. Việc khó thì đùn cho người khác. Gặp việc nguy hiểm thì tìm cách để trốn tránh.

3. Bệnh kiêu ngạo – Tự cao, tự đại, ham địa vị, hay lên mặt. Ưa người ta tâng bốc mình, khen ngợi mình.

Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình. Không thèm học hỏi quần chúng, không muốn cho người ta phê bình. Việc gì cũng muốn làm thầy người khác.

4. Bệnh hiếu danh – Tự cho mình là anh hùng, là vĩ đại. Có khi vì cái tham vọng đó mà việc không đáng làm cũng làm. Đến khi bị công kích, bị phê bình thì tinh thần lung lay. Những người đó chỉ biết lên mà không biết xuống. Chỉ chịu được sướng mà không chịu được khổ. Chỉ ham làm chủ tịch này, ủy viên nọ, chớ không ham công tác thiết thực.

5. Thiếu kỷ luật – Đã mắc bệnh cá nhân thì tư tưởng và hành động cũng đặt cá nhân lên trên, vì thế mà việc gì cũng không lấy Đảng làm nền tảng. Mình muốn thế nào thì làm thế ấy. Quên cả kỷ luật của Đảng. Phê bình thì cốt công kích những đồng chí mình không ưa. Cất nhắc thì cốt làm ơn với những người mình quen thuộc.

6. Óc hẹp hòi – Ở trong Đảng thì không biết cất nhắc những người tốt, sợ người ta hơn mình. Ở ngoài Đảng thì khinh người, cho ai cũng không cách mạng, không khôn khéo bằng mình. Vì thế mà không biết liên lạc hợp tác với những người có đạo đức tài năng ở ngoài Đảng. Vì thế mà người ta uất ức và mình thành ra cô độc.

7. Óc địa phương – Bệnh này tuy không xấu bằng bệnh kia nhưng kết quả cũng rất tai hại. Miễn là cơ quan mình, bộ phận mình, địa phương mình được việc. Còn các cơ quan, bộ phận, địa phương khác ra sao cũng mặc kệ. Đó là vì cận thị, không xem xét toàn thể. Không hiểu rằng lợi ích nhỏ phải phục tùng ích lợi to, ích lợi bộ phận phải phục tùng ích lợi toàn thể.

8. Óc lãnh tụ – Đánh được vài trận, hoặc làm được vài việc gì ở địa phương đã cho mình là tài giỏi lắm rồi, anh hùng lắm rồi, đáng làm lãnh tụ rồi.

Nào có biết so với công cuộc giải phóng cả dân tộc thì những thành công đó chỉ là một phút cỏn con, đã thấm vào đâu! Mà so với những sự nghiệp to tát trong thế giới, càng không thấm vào đâu.

Cố nhiên, Đảng ta mong cho có nhiều anh hùng, nhiều lãnh tụ, được dân tin, dân phục, dân yêu. Những anh hùng và lãnh tụ như thế là của quý của Đảng, của dân tộc. Song, những anh hùng và lãnh tụ như thế đều do tranh đấu và kinh nghiệm rèn luyện ra, đều do dân chúng và đảng viên tin cậy mà cử ra; chứ không phải tự mình muốn làm lãnh tụ, làm anh hùng mà được.

Từ xưa đến nay, quần chúng không bao giờ tin cậy và yêu mến những kẻ tự cao, tự đại, những kẻ có óc lãnh tụ, tự xưng ta đây là anh hùng, lãnh tụ.

9. Bệnh “hữu danh, vô thực” – Làm việc không thiết thực, không từ chỗ gốc, chỗ chính, không từ dưới làm lên. Làm cho có chuyện, làm lấy rồi. Làm được ít suýt ra nhiều, để làm một bản báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ lại thì rỗng tuếch.

Thí dụ việc tổ chức – Trong báo cáo thì làng nào, huyện nào, tỉnh nào cũng có. Hạng người nào cũng có. Có hàng vạn hàng ức người. Nhưng khi soạn lại cặn kẽ, hỏi lại rõ ràng, những nơi đó có bao nhiêu người, những tổ chức đó đã làm việc gì, cán bộ đã đến đó mấy lần, đã làm gì cho những tổ chức đó, thì chưa có gì thiết thực hết.

Thế là không làm tròn nhiệm vụ của mình. Thế là dối trá với Đảng, có tội với Đảng. Làm việc không thiết thực, báo cáo không thật thà, cũng là một bệnh rất nguy hiểm.

10. Kéo bè kéo cánh lại là một bệnh rất nguy hiểm nữa.

Từ bè phái mà đi đến chia rẽ. Ai hợp với mình thì dù người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách gièm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống.

Bệnh này rất tai hại cho Đảng. Nó làm hại đến sự thống nhất. Nó làm Đảng bớt mất nhân tài và không thực hành được đầy đủ chính sách của mình. Nó làm mất sự thân ái , đoàn kết giữa đồng chí. Nó gây ra những mối nghi ngờ.

11. Bệnh cận thị – Không trông xa thấy rộng. Những vấn đề to tát thì không nghĩ đến mà chỉ chăm chú những việc tỉ mỉ. Thí dụ: Việc tăng gia sản xuất, việc tiếp tế bộ đội thì không lo đến, mà chỉ lo thế nào để lợi dụng cơm cháy và nước gạo trong các bộ đội.

Những người như vậy, chỉ trông thấy sự lợi hại nhỏ nhen mà không thấy sự lợi hại to lớn.

12. Bệnh “cá nhân”

– Việc gì không phê bình trước mặt để nói sau lưng. Khi khai hội thì không nói, lúc khai hội rồi mới nói. Không bao giờ đề nghị gì với Đảng. Không theo nguyên tắc sinh hoạt của Đảng. Muốn sao Làm vậy.

– Muốn làm xong việc, ai có ưu điểm cũng không chịu học theo, ai có khuyết điểm cũng không dám phê bình.

– Không phục tùng mệnh lệnh, không tuân theo kỷ luật. Cứ làm theo ý mình.

– Khi phê bình ai, không phải vì Đảng, không phải vì tiến bộ, không phải vì công việc, mà chỉ công kích cá nhân, cãi bướng, trả thù, tiểu khí.

– Nghe những lời bình luận không đúng, cũng làm thinh, không biện bác. Thậm chí nghe những lời phản cách mạng cũng không báo cáo cho cấp trên biết. Ai nói sao, ai làm gì cũng mặc kệ.

– Gặp dân chúng thì không điều tra, không hỏi han, không tuyên truyền, không giải thích. Xem như dân chúng không có quan hệ gì với mình.

– Thấy những việc có hại đến dân chúng cũng mặc kệ, không khuyên răn, không ngăn cản, không giải thích.

– Làm việc không có kế hoạch, gặp sao làm vậy, làm lấy lệ, làm không có ngăn nắp, làm không đến nơi đến chốn.

– Tự cho mình là “cách mạng già”, “cách mạng cũ”; việc to làm không nổi, việc nhỏ không chịu làm. Làm việc thì lờ mờ, học hành thì biếng nhác.

– Biết mình có khuyết điểm, nhưng không chịu cố gắng sửa đổi.

Những tật bệnh đó khiến cho Đảng xệch xoạc, ý kiến lung tung, kỷ luật lỏng lẻo, công việc bê trễ. Chính sách không thi hành được triệt để, Đảng xa rời dân chúng.

Mắc phải bệnh đó thì sẽ đi đến chỗ để lợi ích cá nhân lên trên, để lợi ích Đảng và dân tộc xuống dưới.

quangbinh.gov.vn

Học tập lối sống giản dị, khiêm tốn và tiết kiệm của Bác Hồ

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh có lối sống giản dị, khiêm tốn và tiết kiệm. Sự giản dị, khiêm tốn, tiết kiệm ấy mãi mãi là tấm g­ương sáng cho các thế hệ sau noi theo, nhất là trong cuộc đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí hiện nay.

Sau khi tiếp quản Thủ đô (10/10/1954), Trung ư­ơng bố trí Bác ở và làm việc trong ngôi nhà cao tầng, đồ sộ, vốn là nơi ở của viên toàn quyền Đông Dư­ơng. Bác không đồng ý và sau đó chọn một căn phòng nhỏ trư­ớc đây là nơi ở của ng­ười thợ điện trong Phủ toàn quyền, đồng thời bảo anh em phục vụ quét dọn ngôi nhà đồ sộ ấy làm nơi vui chơi cho các cháu thiếu nhi. Chỉ một việc đó thôi, đã có bao nhiêu điều đáng nói về vị Chủ tịch nư­ớc: Không ham lầu son gác tía, mà gần gũi với nhân dân lao động, dành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em…

Thấy đôi dép cao su của Bác đã cũ, anh em phục vụ đề nghị cho thay đôi dép mới nhưng Bác chư­a đồng ý, vì thấy dép vẫn còn dùng đư­ợc. Có ngư­ời mạnh dạn th­ưa với Bác là một đôi dép chỉ có hai đồng rưỡi. Như­ng Bác giải thích: “Vấn đề không phải là hai đồng rưỡi mà phải xem là đã cần thay dép mới chư­a? Đôi dép của Bác còn dùng đ­ược thì chư­a nên thay!”. Nhiều lần đi thăm các địa ph­ương, Bác bảo anh em phục vụ chuẩn bị cơm mang theo, lúc nào thuận tiện thì dừng lại ăn cơm. Theo Bác, xuống thăm các địa ph­ương, cơ quan, đơn vị là để nắm tình hình thực tế và góp ý, nhắc nhở về các công việc, chứ không phải xuống dự tiệc tùng, gây tốn kém, Bác còn nói vui: “Để tỉnh chiêu đãi thì họ cho mình ăn một nhưng sẽ hết cả con bò. Nếu Bác đến thăm 4 tỉnh nh­ư vậy kinh tế sẽ lạm phát”. Có tỉnh nọ mặc dù đã đư­ợc báo trư­ớc là Bác có mang cơm theo, như­ng vẫn sắm sửa cỗ bàn thịnh soạn. Khi đ­ược mời Bác kiên quyết không ăn mà còn phê bình rất nghiêm khắc.

Thiết nghĩ, việc học tập và làm theo t­ư tư­ởng, đạo đức Bác Hồ trong việc thực hành lối sống giản dị, khiêm tốn và tiết kiệm cần phải triển khai sâu rộng trong xã hội. Nhữ­ng lời dạy, nhữ­ng việc làm của Bác cần đư­ợc ôn lại, soi lại và làm cho nó bừng sáng trong lòng mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

Theo BCB

khcncaobang.gov.vn

Giá trị minh triết Hồ Chí Minh

1.   Phương pháp tạo dựng lâu dài tri thức

Phạm Văn Đồng đã từng khái quát: “Hồ Chí Minh, người tiểu tư sản nông thôn bởi nguồn gốc xuất thân, trở thành người công nhân bởi cuộc sống và lập trường giai cấp, người có hiểu biết rộng lớn và sâu xa về nhiều mặt bởi quá trình học tập, người chiến sĩ cách mạng quốc tế hội tụ được trong mình cả sức vùng lên của các dân tộc bị áp bức và chất tiền phong của giai cấp công nhân châu Âu”(1).

Do đặc tính đó, Hồ Chí Minh là tấm gương tiếp thu tinh hoa dân tộc và thế giới, vì mục tiêu giải phóng dân tộc, xã hội và con người. Kinh qua Hồ Chí Minh, “tinh hoa của thế giới đã Việt Nam hóa rồi, đã mượn hình dáng, bộ điệu, ngôn ngữ Việt Nam, cho đến tinh thần Việt Nam nữa” (Phạm Văn Đồng).

Nhà sử học Charles Fourniau, nguyên Tổng thư ký Hội hữu nghị Pháp – Việt, trong tác phẩm Hồ Chí Minh – người đồng chí của chúng ta(2), cũng hết sức ca ngợi tinh thần Việt Nam hóa của Hồ Chí Minh, khi phân tích bài Kính cáo đồng bào (6/1941) của Nguyễn Ái Quốc (tức Hồ Chí Minh) sau khi mặt trận Việt Minh ra đời. Theo tác giả, những lời hiệu triệu quốc dân trong bài Kính cáo này “có sức sáng tạo kỳ lạ, vừa bắt nguồn từ truyền thống phong cách Khổng học, vừa kết hợp truyền thống Jacobins của Pháp; một số câu chữ trong bài không thể không nhớ tới lời kêu gọi quần chúng nổi dậy 1793” (tức 4 năm sau cách mạng Pháp 1789).

Những lời bình luận tương tự như vậy có khá nhiều trong dư luận thế giới đối với Hồ Chí Minh về sự kết hợp nhuần nhị nhiều yếu tố và kiểu dáng tinh hoa của dân tộc và quốc tế, xưa và nay; không phải chỉ qua văn bản, phương châm hành đồng mà với cả phong cách sống của bậc “hiền triết hiện đại – Hồ Chí Minh” (Sékou Touré). Trong buổi tiếp truyện nhà văn I. Taber (7/10/1965) – người dịch Truyện Kiều của Nguyễn Du ra tiếng Đức – Hồ Chí Minh đã nói rõ quan điểm truyền thống – hiện đại của mình: “Người cộng sản chúng ta phải rất quý trọng cổ điển. Có những ngọn suối tiến bộ chảy từ ngọn núi tiến bộ đó. Càng thấm nhuần chủ chủ nghĩa Mác – Lênin càng phải coi trọng truyền thống tốt đẹp của cha ông”(3).

Sự tích hợp phong phú trí thức nào về Đông – Tây, kim cổ cũng đòi hỏi một sự kiên trì tìm tòi học tập; và sự kết hợp nhuần nhị các dạng tinh hoa nào cũng đòi hỏi tinh thần sáng tạo bền bỉ. Hồ Chí Minh là một con người như vậy. Đối với Người, trường học mới chỉ là cánh cửa đầu tiên giúp con người đi vào lâu đài văn hóa. Từ những cánh cửa này con người bước tiếp vào những cánh cửa của cuộc đời, thấy được ánh sáng tỏa ra trong hàng hàng pho sách, trong cái xô bồ, bề bộn, phức tạp và tinh vi của hiện thực mình đang sống, đang vật lộn để sinh tồn và phát triển. Và từ những tích lũy tri thức để trở thành kho kiến thức, kho kinh nghiệm, Hồ Chí Minh tự soi rọi mình và nâng cao mình, cho mình một quan niệm sống và lẽ sống, một cách nhìn đối với thế giới xung quanh và xác định một hướng đi trên con đường mình lựa chọn. Thu nhận kiến thức từ sáng tạo của lịch sử, của con người, rồi với thiên tài nhiều mặt, Hồ Chí Minh lại sáng tạo nên một kỳ tích, mang đậm dấu ấn riêng, giúp ích cho đời và thúc đẩy lịch sử theo qui luật tiến hóa.

Hồ Chí Minh đã tự khẳng định với mình và khuyên các đồng chí của mình: học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Trả lời một câu hỏi: “Học ở đâu?” Người nói: “học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân. Không học ở nhân dân là một thiếu sót rất lớn”(4). Đạt được mục đích ấy, ở Người là một nghị lực phi thường cộng với tinh thần sáng tạo đổi mới để có thể nghe được, thấy được, nhìn nhận được và xác định được con đường phải đi và đến. Vượt trên tất cả những mặt ấy là sự thôi thúc của tình yêu dân tộc, đất nước, tình nhân ái bao la đối với lớp người cùng khổ, sự cảm thông và chia sẻ với các bộ phận nhân loại còn bị đè nén và sống kiếp cơ hàn. Từ gia đình và những nho sĩ bạn thân của gia đình, từ trường học và trường đời diễn ra trên đất nước nô lệ, đến mọi thủ đô, kinh thành, thị trấn, hải cảng và làng mạc mà Người đã sống, đã đi qua trên khắp các lục địa, đều để lại những dấu ấn sâu sắc trong kho tàng tri thức Hồ Chí Minh. Từ những nghề lao động chân tay và lao động trí óc mà Người đã kinh qua, từ đủ mọi loại người mà Người gặp gỡ, giao thiệp và kết bạn trên khắp các nẻo đường Á, Âu, Phi, Mỹ, từ các tôn giáo chính thống mà Người có quan tâm, từ các phong trào cách mạng và phong trào công nhân mà Người đã nghiên cứu, từ các tác phẩm văn hóa, văn học tiêu biểu qua nhiều thời đại của phương Đông và phương Tây mà Người đã đọc… đều góp phần tạo nên một vóc dáng vĩ nhân Hồ Chí Minh.

Là người có chí khí, luôn luôn suy nghĩ, tìm tòi và sáng tạo, Hồ Chí Minh thường xuyên đặt câu hỏi và quyết tâm tìm lời giải đáp cho kỳ được. Tham gia phong trào Duy Tân ở Huế lúc còn là học sinh ít tuổi, nhưng rồi Hồ Chí Minh không tán thành con đường cứu nước của các sĩ phu trong các phong trào Cần Vương, Văn Thân. Chịu ảnh hưởng của cụ thân sinh là nhà khoa bảng Nguyễn Sinh Sắc, Hồ Chí Minh đã thấy được chế độ quân chủ không còn thích hợp, nhưng vẫn tìm thấy cái mới trong việc đề cao tân học, bác bỏ cựu học của phong trào cải cách theo hướng quân chủ lập hiến, do Khang Hữu Vi và Lương Khải Phiêu đề xướng. Đả phá tư tưởng thiên mệnh, định mệnh nhưng Hồ Chí Minh đưa nội dung mới vào quan điểm nhân – nghĩa… của đạo Nho. Không tán thành chế độ tư sản nhưng Hồ Chí Minh thiết tha với phương châm “Tự do, bình đẳng, bác ái” của Cách mạng Pháp 1789, với chủ trương “Tam dân” (dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc) của cách mạng Tân Hợi ở Trung Hoa (1911) do Tôn Trung Sơn làm thủ lĩnh. Sau này, khi tìm được cẩm nang trong Luận cương chính trị của Lênin về vấn đề giải phóng các dân tộc thuộc địa, Hồ Chí Minh nhìn thấy được ánh sáng thật sự ở chân trời và từ đấy, mở ra con đường cứu nước cứu dân, sát hợp với thực tiễn dân tộc.

Hơn ai hết, Hồ Chí Minh đã cảm thấy được rằng, chân lý tuy có một nhưng chính nghĩa có nhiều, phải biết chắt lọc những tinh hoa từ chính nghĩa để bổ sung cho chân lý. Một tình thương người bao la của Giê-su, của Thích Ca, một đức tính khiêm nhường, bình dị của Găng-đi, một Lênin nhân hậu và triệt để cách mạng, một lối sống thanh thản trong tâm hồn và tình yêu thiên nhiên ở các nhà hiền triết phương Đông, v.v… đều đi qua cuộc đời Hồ Chí Minh, một vĩ nhân vào loại đặc biệt của thế kỷ XX.

Nhiều người đã gọi Hồ Chí Minh bằng nhiều danh vị văn hóa khác nhau và danh vị nào cũng đúng: nhà thơ, nhà văn, nhà sinh ngữ, nhà văn hóa, nhà báo, nhà chính luận, nhà viết kịch, cây bút châm biếm. Không hẳn phải có sự lịch lãm nhiều mặt của văn hóa mới thành nhà văn hóa lớn, nhưng rõ ràng ở nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh có bao trùm nhiều lĩnh vực rộng lớn của văn hóa.

Hồ Chí Minh đã trở thành một hiện tượng văn hóa, như nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã nhận định. Đó là sự kết hợp hài hòa nhiều phong thái rất khác nhau trong một con người, dù trải qua bao nhiêu biến thiên của lịch sử: “vừa dân tộc vừa quốc tế; vừa rất mực nhân từ vừa triệt để cách mạng; rất uyên bác và cực kỳ khiêm tốn; rất nguyên tắc và chiến lược lại rất linh hoạt về sách lược; vừa nhìn xa trông rộng vừa thiết thực, cụ thể; vừa vĩ đại vừa vô cùng bình dị; vừa là chiến sĩ vừa là nhà thơ” (Võ Nguyên Giáp).

Các giá trị văn hóa tinh thần của Hồ Chí Minh, về cơ bản vẫn giữ nguyên giá trị cho đến ngày nay, soi rọi vào mọi chủ trương, hành động trong công cuộc đổi mới. Tất nhiên lịch sử đã sang trang, các giá trị tinh thần ấy phải được phát triển và nâng cao cho mọi phù hợp với giai đoạn cách mạng, nhất là đối với các luận điểm cụ thể của Người về văn hóa nghệ thuật, văn hóa đạo đức, văn hóa lối sống, văn hóa thẩm mỹ, văn hóa quản lý, v.v…

2.   Phong cách lý luận: từ thực tiễn “cây đời”

Có người băn khoăn: Hồ Chí Minh là nhà thực tiễn, nhà hành động, hay còn là nhà lý luận? Hiểu vấn đề này một cách tương đối chính xác, không gì bằng trở lại với những nguyên tắc tạo thành lý luận và quan điểm lý luận như thế nào là đúng đắn. Đó là cơ sở triết học của một hệ tư tưởng chủ đạo trong một lĩnh vực hoạt động; là kinh nghiệm của loài người được đúc kết thành một quan niệm khái quát; là tổng hợp các tri thức về tự nhiên, xã hội và con người được tích lũy. Lý luận nào cũng được kiểm nghiệm qua thực tiễn đời sống của mọi lĩnh vực. Rồi kinh qua thực tiễn, lý luận được bổ sung và điều chỉnh, làm phong phú kho tàng hệ tư tưởng. Do đó, thực tiễn là bầu sữa nuôi sống thực tiễn. Từ nguyên tắc chung về lý luận, sắc thái lý luận của một hệ tư tưởng, mỗi nền văn hóa có khác nhau; hoặc cùng chung một hệ tư tưởng song phong cách lý luận của mỗi người có khác nhau do nhiều yếu tố chi phối, chủ yếu là phương pháp tư duy và nghệ thuật khái quát…

Lý luận mang tính tư biện để trở thành lý thuyết suông là hoàn toàn xa lạ với quan niệm về lý luận gắn với thực tiễn của chủ nghĩa Mác – Lênin. Hồ Chí Minh từ sớm đã thấu triệt quan niệm đó. Cách đây trên 40 năm, nhà nghiên cứu Pháp Gabriel B. Nonnet trong tác phẩm Việt minh – Hồ Chí Minh(5) đã nhận xét: Hồ Chí Minh đã tiếp nhận nhiều ở các nền văn hóa, giáo dục phương Tây nhưng hoàn toàn không đi vào con đường kinh viện. Do đọc nhiều, đi nhiều, và sử dụng thông thạo các tiếng Pháp, Anh, Hoa, Nga… đã hình thành ở ông một kiểu tiếp nhận hiệu quả và sâu sắc. Giáo sư triết học và xã hội học Nhật Bản, trong bài Hồ Chí Minh – nhà tư tưởng, đọc trong cuộc mít tinh ở Tokyo ngày 25-9-1969, tỏ lòng thương tiếc Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, cũng đã viết đại khái như thế: “Đọc các tác phẩm của cụ Hồ Chí Minh, tôi thấy các tác phẩm ấy đã phát triển lý luận không theo một cách uyên bác xa xôi, mà viết bằng những lời lẽ giản dị và những câu ngắn gọn. Những viên ngọc quý nhất được khảm trong các tác phẩm của Người (…) bao gồm lý luận về chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân, lý luận về công tác quân sự, về chủ nghĩa xã hội, về Đảng, v.v…”(6).

Thực ra, với các luận điểm triết học trong nhiều hệ tư tưởng, các trào lưu giải phóng dân tộc và giai cấp, các nền văn hóa, giáo dục mà Hồ Chí Minh đã có dịp học hỏi, cọ xát và suy ngẫm, đều có ảnh hưởng đến phong cách lý luận của Người, một người Việt Nam mẫu mực thấm nhuần truyền thống và tinh hoa dân tộc.

Hồ Chí Minh tuy không có những tác phẩm và chuyên đề lý luận, song nếu không xuất phát từ lý luận giải phóng dân tộc gắn với giải phóng xã hội, thì làm sao Người có thể đề ra luận cương, chiến lược và sách lược cho cách mạng Việt Nam, từ Dân chủ nhân dân đến Chủ nghĩa xã hội. Chính là xuất phát từ lý luận, gắn với nhãn quan chính trị nhạy bén và thực tiễn dân tộc, ngay từ năm 1942 Hồ Chí Minh đã khẳng định là Việt Nam sẽ dành được độc lập trong năm 1945. Đó là lúc mặt trận Việt Minh sau khi ra đời đã hoạt động trong hoàn cảnh phát xít Nhật đã tràn vào Đông Dương, và ở châu Âu mặt trận Đồng minh đang bắt đầu phản công quyết liệt phe Trục phát xít. Lời khẳng định của Người đã trở thành tiên tri. Cho đến bây giờ, các giới nghiên cứu Việt Nam chưa ai lý giải được sâu sắc là Hồ Chí Minh bằng lý luận như thế nào để có được lời dự báo chính xác đó. Hệ thống các luận điểm của Hồ Chí Minh trên nhiều lĩnh vực, trong đó có văn hóa – văn nghệ đều xuất phát từ cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin theo đặc điểm dân tộc trong nhiều giai đoạn. Hồ Chí Minh đã nổi tiếng trong tranh luận về việc thành lập Đệ tam quốc tế và thành lập các tổ chức quốc tế về công nhân, nông dân, thanh niên các nước thuộc địa và Hội các dân tộc bị áp bức ở Á Đông. Hồ Chí Minh cũng nổi tiếng là một nhà bút chiến với nhiều chính khách thực dân và nhiều nhà cách mạng theo tư tưởng cải lương, dưới các bút danh Nguyễn Ái Quốc, Lý Thụy… Chả nhẽ tranh luận và bút chiến lại tách rời lý luận? Hơn nữa, Người thường nhắc nhở: “Phải học tập lý luận Mác – Lênin kết hợp với đấu tranh và công tác hàng ngày…”(7).

Có điều, lý luận ở Hồ Chí Minh không đi vào khái niệm trừu tượng, thuật ngữ và cách diễn đạt không theo ngôn ngữ triết học như các nhà lý luận xưa nay. Với một phong cách tư duy khoáng đạt, bình dị và trong sáng như Hồ Chí Minh, điều đó thật dễ hiểu. Đó cũng còn là quan điểm lý luận của Người. Thời gian hoạt động cách mạng ở Trung Quốc, trong một bài phê phán các luận điểm sai lầm của ông H. trong tập bản thảo Cách mệnh, Người có nói: “Dùng điển tích là tốt nhưng nếu quá lạm dụng sẽ làm cho độc giả khó chịu. Bởi vì tính chất sâu xa, thâm thúy của các điển tích thường cũng hay bao hàm những ý nghĩa mơ hồ, có thể làm người ta hiểu nhầm(8).

Hồ Chí Minh thích dùng hình ảnh hoặc diễn tả thành hình tượng mang tính triết lý để khái quát bản chất một vấn đề hơn là lý luận cao siêu, như gọi chủ nghĩa tư bản đầu thế kỷ XX là con đỉa có hai vòi: “một vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một vòi bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa”; hoặc nói về bọn quan lại sống trên mồ hôi nước mắt của nhân dân: “Khi một con vật cá biệt đã đạt đến trình độ ăn cả tiền thì thường coi là thoái hóa, vì nó đã mất hết đặc tính tinh thần của nòi giống nó rồi”. Cũng như Lênin và các nhà kinh điển của học thuyết Mác, Hồ Chí Minh mong muốn các nhà văn có tài sáng tạo nên những tác phẩm điển hình hóa, phù hợp với quy luật đặc biệt của cách mạng, vì chân lý của cuộc sống và lợi ích của nhân dân, chứ không phải là thứ minh họa, ghi chép sự việc một cách dễ dãi, song Người chỉ nói một cách tế nhị: “Phải sáng tác cho hay, cho chân thật, cho hùng hồn con người mới, cuộc sống mới”. Xoay quanh lập luận đó, có bao nhiêu là vấn đề mỹ học được đặt ra. Mỗi từ, mỗi ý từ cái cô đúc của lập luận đã bao chứa một nội hàm rộng lớn… Sau này, nhiều câu nói của Hồ Chí Minh trở thành phương châm hành động, cũng đều mang tính triết lý, lẫn tính chất hình tượng như thế. (“Vì hạnh phúc mười năm trồng cây, vì hạnh phúc trăm năm trồng người”; “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa”, v.v…).

Phong cách tư duy luận lý ở Hồ Chí Minh là sự vận dụng tư tưởng biện chứng trong triết học của Mác, tư tưởng tổ chức cách mạng và phương pháp luận nhận thức thực tiễn của Lênin, kết hợp với triết lý mang tính cộng đồng vốn có trong văn hóa truyền thống của dân tộc được kết tinh ở Người. Dù mang theo trong tư tưởng nhiều dòng văn hóa được tiếp thu và chắt lọc, thì Hồ Chí Minh trước hết và trên hết vẫn là con người Việt Nam, mà lịch sử tư tưởng Việt Nam là truyền thống về những mặt thuộc nhân sinh quan cụ thể và thực tiễn.

Phong cách lý luận – thực tiễn của Hồ Chí Minh rất phù hợp với đặc điểm và hoàn cảnh dân tộc ở những giai đoạn cách mạng đã qua, có tác dụng thúc đẩy quy luật phát triển theo tinh thần biện chứng Macxit. Ở Hồ Chí Minh là sự kết tinh nhiều giá trị văn hóa tinh thần, trong đó có phương pháp nhận thức và cải tạo hiện thực theo tầm vóc và phong cách của Người. Từ thực tiễn được đúc kết, rút ra được vấn đề và lý giải được nó, để thúc đẩy hiện thực tiến lên, đó chính là bài học về lý luận mà Người đã để lại cho chúng ta. Còn lý luận như thế nào, do phong cách nhà lý luận quyết định. Tất nhiên là lý luận không đứng im trong thời gian, vì đời sống phát triển theo quy luật vận động, do đó lý luận cũng không ngừng đổi mới và sáng tạo, theo hướng tiến lên của lịch sử, của chủ nghĩa xã hội khoa học chân chính.

Lúc Chủ tịch Hồ Chí Minh còn bình sinh, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã bắt đầu phát triển, tuy chưa phát triển đến mức như hiện nay, nên các luận điểm về văn hóa của Người đều hướng đến một tinh thần khoa học kết hợp với tinh thần nhân văn, để thúc đẩy những nhiệm vụ trước mắt: giải phóng dân tộc đi đôi với giải phóng xã hội; xây dựng con người gắn với nền văn hóa mới; tinh thần dân tộc hòa hợp với tinh thần quốc tế; xây dựng tư tưởng xã hội chủ nghĩa trong bước đi ban đầu theo hoàn cảnh một nước nông nghiệp lạc hậu và đất nước còn tạm chia cắt… Đất nước và thời đại hôm nay đã khác trước về nhiều mặt, lý luận phải lần lượt giải đáp những vấn đề trong hoàn cảnh mới, theo tinh thần cơ bản mà ý thức lý luận gắn với thực tiễn của Hồ Chí Minh đã gợi mở.

3.   Di sản văn hóa gắn với dân tộc và thời đại

Qua hoạt động trong sự nghiệp cách mạng ở Hồ Chí Minh, chúng ta càng thấy rõ tầm quan trọng của giao lưu và phương pháp tiếp thu văn hóa với vấn đề bản sắc dân tộc của văn hóa, trong một thời đại đầy biến động và không ngừng biến động. Không một nền văn hóa dân tộc nào không chịu ảnh hưởng lẫn nhau bởi các nền văn hóa khác mà có thể trường tồn và phát triển. Xưa đã thế và nay lại càng hơn thế. Hoàn cảnh quốc tế và phương tiện quyết định sự mở rộng giao lưu văn hóa. Khép kín văn hóa là đồng nhất với dân tộc trì trệ và ngưng đọng. Trong cái nghĩa bôn tẩu đó đây trên khắp các châu lục để tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh, có bao hàm cái nội dung là Người sẽ mang về cho dân tộc một kiểu văn hóa gì vừa giải phóng và phát triển dân tộc, vừa thích ứng với thế giới văn minh. Và Người đã mang về cho ta một hệ tư tưởng kết hợp nhuần nhuyễn giữa đạo lý làm người của cha ông với tinh thần quốc tế trong sáng, vì tình hữu nghị giữa các dân tộc; một ý thức tự hào và trách nhiệm giữ gìn, khai thác di sản văn hóa tinh thần của tổ tiên truyền lại cho ta và của loài người tiến bộ; một lối sống “Trung với nước, hiếu với dân”, một tình yêu thương rộng lớn đối với con người, trước hết là các lớp người đã từng chịu nhiều đau khổ, tủi nhục; một phong cách tôn trọng dân chủ, công bằng và tín ngưỡng của nhân dân; một quan niệm phát triển kinh tế trên cơ sở một nền khoa học kỹ thuật; một hoài bão về dân giàu, nước mạnh, đất nước đẹp đẽ và đàng hoàng hơn xưa…

Tư tưởng bách khoa ở Người đã trở thành một chủ nghĩa nhân văn bao trùm gắn với những giá trị dân tộc trong thời đại mới. Một chân lý khoa học đã khẳng định rằng, khi một dân tộc không biết nhào nặn và chuyển hóa những cái đã tiếp thu thành cái của mình, như sự phát triển tự thân, thì dân tộc đó sẽ chết đi về mặt chính trị. Nhào nặn trên cơ sở tính dân tộc và tạo thành bản sắc dân tộc của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng, phát triển các giá trị tinh thần. Sự kết tinh nhiều dòng văn hóa ở Hồ Chí Minh là sự nhào nặn tinh hoa văn hóa loài người với truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc. Đúng như tổ chức UNESCO đã xác nhận: Hồ Chí Minh “là hiện thân của những khát vọng các dân tộc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”.

Hồ Chí Minh là một nhân vật quốc tế lỗi lạc nhưng ở Người không bao giờ mang theo một thứ chủ nghĩa thế giới xa lạ với những giá trị tinh thần chân chính. Văn hào Gorki đã từng nói: “Những bậc vĩ nhân xưa nay đều là con đẻ của đất nước họ, bao giờ cũng có tính cách dân tộc của nhân dân mình, vì họ sở dĩ vĩ đại ở chỗ đại biểu được cho nhân dân. Khi một vĩ nhân vật lộn với nhân dân thì đó không phải là một cuộc đấu tranh giữa nhân tố nhân loại với nhân tố dân tộc mà cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, giữa ý niệm với chủ nghĩa kinh nghiệm, giữa lẽ phải với thành kiến”(9). Nhân dân là nền tảng của quốc gia, là gốc rễ sâu bền của dân tộc, là đối tượng phải phục vụ của một chế độ chính trị chân chính, nhưng nhân dân không phải là một khối thuần nhất. Vật lộn với một bộ phận nhân dân thoái hóa, lạc hậu, biến chất để cho cái tiến bộ, cái tinh lọc, cái cao cả chiến thắng, còn khó khăn, gian khổ hơn cả “vật lộn” với kẻ thù bằng mọi thứ vũ khí. Hồ Chí Minh hiểu rõ hơn ai hết những chỗ mạnh chỗ yếu, những mặt cần phát huy và những mặt cần hạn chế của nhân dân nên Người đề ra cho văn hóa những bước đi, những nhiệm vụ trong từng hoàn cảnh. Người yêu cầu “văn hóa phải đi sâu vào tâm lý quốc dân, đi vào cuộc sống mới”, rằng “văn hóa phải sửa đổi tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ”, “văn hóa phải làm thế nào cho mọi người dân Việt Nam từ già đến trẻ, cả đàn ông và đàn bà, ai cũng hiểu nhiệm vụ của mình và biết hưởng hạnh phúc mà mình nên được hưởng”.

Nền văn hóa mới mà Người khởi công xây dựng là mở mang dân trí đi đôi với trau dồi đạo đức, nhân cách của con người, trên cơ sở tính dân tộc và bản lĩnh dân tộc. Giáo dục, văn chương, nghệ thuật và thông tin đại chúng góp phần đắc lực vào việc xây dựng con người; từ đó quyết định sự phát triển của khoa học kỹ thuật, của nền văn hóa bác học, đồng thời quyết định vị trí của dân tộc trên trường quốc tế. Nền văn hóa mới của chúng ta đạt đến trình độ và thành quả như hiện nay không thể tách rời với sự nghiệp to lớn của Hồ Chí Minh, với một đường lối khoa học, thực tiễn, rất dân tộc và hiện đại.

Chúng ta đang xây dựng nền văn hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mở rộng giao lưu kinh tế văn hóa với nước ngoài, tức là vừa phát huy tinh thần đổi mới trong di sản tư tưởng – văn hóa của Hồ Chí Minh, vừa tạo ra những nhân tố mới trong giao lưu mà trước đây chưa đặt ra tiền lệ. Giao lưu văn hóa tốt, có nghĩa rằng ta phải có cái gì là tinh hoa và đặc điểm Việt Nam để góp phần vào kho tàng văn hóa của loài người chứ không phải suy nghĩ theo cái đầu của người ngoài cuộc. Giao lưu theo kiểu đó là một sự lặp lại, một lối sao chép hoặc lai căng. Mà như thế là phá hoại và hạ thấp văn hóa dân tộc, đi ngược lại một xu thế của văn minh loài người. Không phải ngẫu nhiên mà khoa học kỹ thuật càng phát triển, thế giới càng đề cao bản sắc dân tộc của các nền văn hóa. Đề cao để chứng minh sự phong phú, đa dạng của trí tuệ, tâm hồn con người, để thật sự khác biệt nhưng không tách biệt giữa các nền văn hóa khác nhau. Tất cả những mặt ấy nhằm thúc đẩy sự xích lại gần nhau giữa mọi dân tộc và chủng tộc trên khắp hành tinh. Sự ảnh hưởng lẫn nhau về những yếu tố nào đó qua giao lưu văn hóa là một tất yếu, nhưng không thể nào tất yếu khi nó không được nhào nặn, nhuần nhuyễn qua bản sắc dân tộc trong nền văn hóa dân tộc. Không ngừng hoàn thiện và nâng cao tầm vóc văn hóa dân tộc trong nền văn hóa thế giới đang trong thời hội nhập. Bảo vệ văn hóa dân tộc còn là sự ngăn ngừa những nọc độc văn hóa có thể xảy ra.

Nhà học giả nữ – bà Marala Lonbado – Giám đốc trung tâm nghiên cứu triết học, chính trị và xã hội Mehicô đã có một lập luận đáng tham khảo khi bà cho rằng, khi bước vào thiên niên kỷ thứ ba, cuộc đấu tranh giữa hai kiểu triết học về cuộc sống trên thế giới sẽ diễn ra rõ rệt hơn bao giờ hết: một kiểu nhìn thế giới như một cái gì bất biến, mọi thay đổi chỉ có tính chất hình thức; và một kiểu nhìn thế giới như một quá trình mà ở đó những thay đổi là cội nguồn của sự giàu có, tiến bộ và đạo đức. “Vì thế, những con người như Hồ Chí Minh ngày càng trở nên vĩ đại, vì họ là những người đã cho chúng ta lý do sống và khả năng để thực hiện những ước mơ của mình” về một nền văn minh chân chính(10).

Hồ Chí Minh đã vận dụng tinh thần biện chứng Macxit để tìm đường đi cho dân tộc, do đó bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh rất xa lạ với mọi thứ giáo điều, trì trệ, cơ hội, cực đoan và đặc quyền đặc lợi. Cũng từ đó đặc điểm nổi bật của Hồ Chí Minh là sự tích hợp phong phú nhiều kiểu dạng tinh hoa và sự kết hợp tinh tế, nhuần nhị các kiểu dạng tinh hoa ấy, từ thế đứng và đặc điểm dân tộc. Nền văn minh xã hội chủ nghĩa của Việt Nam đang trở thành hiện thực, khi Di sản của Người được vận dụng một cách sáng tạo trong tình hình đổi mới của đất nước, và trước những diễn biến tư tưởng phức tạp của thời đại, rất khác với thời điểm khi quả tim Hồ Chí Minh ngừng đập cách đây hơn 40 năm. Văn học, nghệ thuật và thông tin đại chúng, những bộ phận nhạy cảm của đời sống đang giữ một vai trò hết sức quan trọng trong định hướng văn hóa phát triển, đặc biệt trong thời kỳ hội nhập trước xu thế toàn cầu hóa. Đó chính là “văn hóa phải soi đường cho quốc dân” như Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc đến./.

Trường Lưu
Theo Tạp chí Văn học


(1) Hồ Chí Minh – Một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp; Nxb. Sự thật, H, 1990.
(2) Hồ Chí Minh, notre camarade – Theo tư liệu thư viện Báo Nhân dân.
(3) Bác Hồ như chúng ta đã biết. Nxb. Thanh niên, H, 1985.
(4) Theo Trường Chinh: Hồ Chí Minh, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam. Nxb. Sự thật, H, 1966.
(5) Le Vietminh – Hồ Chí Minh. Ed. Payot, Pari, 1952.
(6) Tạp chí Lịch sử Rokixi Hyeron, số 232, tháng 9-1969. Đăng lại trên báo Thống nhất, H, số 194 ngày 19-5-1973.
(7) Những lời kêu gọi của Hồ Chí Minh. Nxb. Sự thật, H, 1992.
(8) Tổng tập văn học, Tập 36. Nxb. KHXH, 1980.
(9) Gorki bàn về văn học. Nxb. Văn học, H, 1992.

hochiminhhoc.com