Tag Archive | Hồ Chí Minh

Bác Hồ nói chuyện tại Đại hội Phụ nữ 5 tốt

Điều thứ một trong phong trào là đoàn kết, sản xuất và tiết kiệm tốt. Đoàn kết tốt thì việc gì to lớn mấy, khó khăn mấy cũng làm được.

– Ngày 30/4/1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và nói chuyện với Đại hội liên hoan Phụ nữ “5 tốt”. Trong bài nói, Bác khẳng định: “Ngay từ lúc đầu, Đảng và Nhà nước ta đã thi hành chính sách đối với phụ nữ cũng được bình quyền, bình đẳng với đàn ông”.

Phân tích những nôi dung của “5 tốt”, Bác nhấn mạnh: “Điều thứ một trong phong trào là đoàn kết, sản xuất và tiết kiệm tốt. Đoàn kết tốt thì việc gì to lớn mấy, khó khăn mấy cũng làm được. Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là con đường đi đến xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội, xây dựng hạnh phúc cho nhân dân. Tăng gia là tay phải của hạnh phúc, tiết kiệm là tay trái của hạnh phúc”.

1969 Bác tặng hoa phong lan cho các chiến sĩ gái Quảng Bình.jpg (77KB)Năm 1969, Bác tặng hoa phong lan cho các nữ chiến sĩ Quảng Bình.

Về nội dung “gia đình”, Bác đưa ra quan niệm: “Gia là nhà, Đình là sân. Theo nghĩa cũ thì gia đình chỉ giới hạn hẹp hòi trong cái nhà, cái sân. Nghĩa là chỉ lo cho cha mẹ, vợ con trong nhà mình ấm no, yên ổn, ngoài ra ai nghèo khổ mặc ai. Như thế là ích kỷ, là không tốt.

Theo nghĩa mới thì gia đình rộng rãi hơn, tốt đẹp hơn. Ví dụ những người cùng lao động trong một nhà máy, một cơ quan, trong một hợp tác xã… đều phải đoàn kết và thương yêu nhau như là anh em trong một gia đình. Rộng ra nữa là đồng bào cả nước đều là anh em trong một đại gia đình. Ta có câu hát: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước thì thương nhau cùng”.

Nhân ngày kỷ niệm 20 năm thành lập Hội Phụ nữ Việt Nam, trong phát biểu ngày 19/10/1966, Bác biểu dương: “Hội phụ nữ mới 20 tuổi. Nhưng truyền thống anh hùng của phụ nữ Việt Nam ta đã có gần 2000 năm và ngày càng phát triển. Từ đầu thế kỷ thứ Nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc cứu dân cho đến ngày nay mỗi khi nước nhà gặp nguy nan, thì phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên, góp phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Do đó ta có câu tục ngữ rất hùng hồn “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”.

Trong các ngày 13, 16,18 và 20/11, Bác liên tiếp gửi điện khen các đơn vị nữ dân quân ở các xã Võ Ninh (Quảng Bình), xã Hà Phú và Hà Toại (Thanh Hoá), dùng súng bộ binh bắn rơi máy bay Mỹ.

Trong bức điện khen dân quân gái xã Hoàng Hải, Thanh Hoá, Bác khích lệ: “Cùng với thành tích to lớn chống Mỹ, cứu nước của phụ nữ cả nước ta, chiến công của các cháu càng làm rạng rỡ thêm truyền thống phụ nữ Việt Nam dũng cảm, đảm đang” (13/11/1967).

X&N
Vkyno (st)

Bác Hồ và nhà triết học Anh Bertrand Russel

Ngày 7/4/1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự họp Bộ Chính trị nghe báo cáo về tình hình chiến sự và một số vấn đề về ngoại giao.

– Ngày 7/4/1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự họp Bộ Chính trị nghe báo cáo về tình hình chiến sự trên cả nước và một số vấn đề về ngoại giao.

Bìa sách Hồ chí minh một bản biên niên sử mới được xuất bản tại Đức.

Bìa sách Hồ Chí Minh một bản biên niên sử mới được xuất bản tại Đức.

Bác lưu ý việc tăng cường công tác vận động ngoai giao nhân dân, cần tuyên truyền về Toà án xét xử tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam do Huân tước và triết gia nổi tiếng người Anh (năm đó đã 94 tuổi), một người có cảm tình đặc biệt đối với nhân dân ta, đề xướng để tranh thủ dư luận quốc tế.

Bertrand Russel (1872 – 1970) là một nhà triết học và cũng là một chiến sĩ hoà bình nổi tiếng người Anh. Tháng 7/1964, ông đã dẫn đầu một đoàn đại biểu các tầng lớp nhân dân Anh đến Sứ quan của Mỹ và London phản đối những chính sách xâm lược của Mỹ đối với Việt Nam và khu vực Đông Dương. Uy tín của ông đã thu hút được nhiều nhân vật tên tuổi tham gia.

Ngay sau khi Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại, ném bom miền Bắc, Bertrand Russet đã gửi điện đến Chủ tịch Hồ Chí Minh lên án hành động chiến tranh của Mỹ.

Ngày 10/8/1964, Bác đã gửi điện cảm ơn, trong đó nêu rõ: “Chúng tôi luôn thiết tha với hoà bình và chủ trương giải quyết vấn đề Việt Nam bằng phương pháp hoà bình. Tôi cảm ơn cụ đã quan tâm đến tình hình nghiêm trọng do Mỹ gây ra trên đất nước chúng tôi và xin gửi cụ lời chào kính trọng”.

Ngày 15/11/1966, theo sáng kiến của Bertran Russel, một Toà án quốc tế xét xử tội ác chiến tranh của Mỹ, mang tên ông được thành lập và đã tiến hành hai phiên xét xử, lần thứ nhất từ 2 đến 13/5/1967 tại Stockholm (Thuỵ Điển) và lần thứ hai từ 20/11 đến 1/12/1967 tại Copenhaguen (Đan Mạch) gây tiếng vang thu hút ngày càng đông đảo giới tri thức và nhân dân các nước ủng hộ nhân dân Việt Nam.

Ngày 19/11/1966, Bác đã gửi điện tới Betrand Russel nhấn mạnh “… Toà án sẽ góp phần thức tỉnh lương tri của nhân dân… Kiên quyết đấu tranh cho đến thắng lợi cuối cùng vì sự nghiệp chính nghĩa của mình, nhân dân Việt Nam đánh giá cao và hết lòng ủng hộ sáng kiến cao quý của cụ…”.

Sau phiên xét xử đầu tiên, Bác lại gửi điện tới nhà triết học Anh khẳng định: “Sự nghiệp cao cả mà cụ đã đề xướng ra nay bước đầu được thực hiện… Đó là một sự kiện quốc tế rất quan trọng… Nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hoà bình và công lý trên thế giới đều mong đợi sự thành công của Toà án quốc tế”.

Cũng nhân dịp này, Bác còn gửi điện tới Nhà triết học nổi tiếng người Pháp Jean Paul Satre là đồng chủ tịch Toà án này bày tỏ niềm tin tưởng: “… Chắc chắn các dân tộc và tất cả những người yêu chuộng hoà bình và công lý sẽ sát cánh với các vị, nhiệt tình ủng hộ các vị”.

X&N
Vknyo (st)

Bác Hồ với những tù binh Pháp

Ngày 30/3/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký quyết định thả 200 tù binh Bắc Phi đã bị quân ta bắt trên các chiến trường.

– Ngày 30/3/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký quyết định thả 200 tù binh Bắc Phi đã bị quân ta bắt trên các chiến trường để thể hiện thiện chí của Chính phủ và nhân dân Việt Nam đối với dân các nước thuộc địa của Pháp.

Cần nói rằng chính sách đối với tù binh của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhất quán. Không đầy một tuần sau khi đưa ra lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” nhiều binh sĩ của quân đội Pháp đã bị bắt làm tù binh. Là người tha thiết không muốn cuộc chiến tranh bùng nổ, chủ trương hoà hiếu nhưng quyết tâm bảo vệ nền độc lập của mình, nhân ngày Thiên Chúa Giáng sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư “gửi các tù binh Pháp” (24/12/1946). Thư viết :

30-3-1959 HCM thăm cơ sở sản xuất vận chuyển than ở vùng mỏ Quảng Ninh.jpg (111KB)Ngày 30/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm cơ sở sản xuất vận chuyển than ở vùng mỏ Quảng Ninh

“Các bạn, tôi rất lấy làm phiền lòng vì thấy các người đang ở trong tình trạng như thế này. Tôi coi các người là bạn của tôi. Tôi biết rằng đó không phải là bởi các bạn, nhưng các bạn cũng như chúng tôi, đều là nạn nhân của bọn thực dân Pháp. Bọn này vì quyền lợi ích kỷ riêng của họ, chỉ muốn đi chinh phục nước người khác.

Tôi mong nột ngày gần đây, hai dân tộc Pháp – Việt có thể cùng cộng tác trong vòng hoà bình và thân ái để mưu cầu hạnh phúc chung cho hai dân tộc. Trong khi chờ đợi, các bạn hãy yên lòng và sống dưới sự che chở của chúng tôi, cho đến khi hết chiến tranh, khi đó các bạn sẽ được tự do. Tôi chúc các bạn một ngày Noel vui và một năm tốt đẹp”.

Trong suốt những năm tháng chiến tranh gian khổ và đầy hy sinh Bác cũng thực hiện một chính sách nhân dân đối với các tù binh của quân đôi Pháp, nuôi dưỡng trong hoàn cảnh chính những chiến sĩ của mình còn đói, rét, thiếu thuốc men… Do chính sách binh vận tốt nên nhiều tù binh Pháp và đoàn quân Lê dương cũng như những lính thuộc địa đã tình nguyện đi theo kháng chiến.

Sau Chiến dịch Biên giới (1950) cả 2 viên đại tá chỉ huy cấp binh đoàn là Lepage và Charton đều bị quân ta bắt sống, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng đích thân đến nơi giam giữ để an ủi.

Hồi ức của Đại tá Hoàng Thế Dũng người tháp tùng Bác, kể lại rằng, khi giải thích những khó khăn của tù binh Pháp gặp phải, Bác, trong vai cố vấn chính trị của Mặt trận, nói: “Các ông biết chiến tranh là chiến tranh. Nhưng quân đội Việt Nam chỉ làm chiến tranh trong các trận đánh thôi. Sau trận đánh, đối với quân đội bại trận, quân đội Việt Nam coi binh sĩ của nó như là nhân dân Pháp. Sự thiếu thốn chỉ là vì hoàn cảnh…”.

Và trong một lần thăm tù binh Pháp, Bác đã cởi tấm áo khoác của mình cho một sĩ quan ốm yếu của đối phương mà người nhận không hề biết rằng người nhường tấm áo rét cho mình là người đứng đầu Việt Minh đang tổ chức kháng chiến.

X&N
kienthuc.net.vn

Ý kiến của Bác Hồ tại phiên họp của Bộ Chính trị

“Ta có họp, có nghị,có quyết rồi giao cho ai phải giao trách nhiệm rõ ràng, ai làm được thì khen, thấy ai làm sai (…) thì cách chức ngay”.

 – Những phát biểu của Bác tại các phiên họp của Bộ Chính trị thường được bút lục trong biên bản lưu trữ. Dưới đây là một vài ý kiến phát biểu của Bác trong các cuộc họp rơi vào ngày 21/3 của một số năm. Tuy tình hình ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng những tinh thần cơ bản liên quan đến mục tiêu phát triển và phương thức lãnh đạo vẫn còn nhiều điều gần gũi với ngày hôm nay.

Ngày 21/3/1958, tham dự phiên họp của Bộ Chính trị bàn về kế hoạch nhà nước, trong phát biểu kết luận, Bác nhấn mạnh đến việc Trung ương cần kiên quyết đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, chú trọng đến các khâu nước, phân và công cụ. Không nhất thiết đưa ra chỉ tiêu mỗi huyện một hợp tác xã mà tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể có huyện có vài ba, có huyện chưa cần lập, cán bộ hợp tác xã nên dùng người của địa phương.

Về công nghiệp phải chú trọng khâu kiểm tra. Vấn đề thu mua “phải chú trọng tuyên truyền, giáo dục, tổ chức chu đáo thì nông dân mới đồng tình…về giá cả phải định cho phải chăng, không nên hạ”.

Hồ Chí Minh nói chuyện tại Hội nghị tổng kết công tác bình dân học vụ toàn miền Bắc năm 1956Hồ Chí Minh nói chuyện tại Hội nghị tổng kết công tác bình dân học vụ toàn miền Bắc năm 1956

Ngày 21/3/1962, cũng trong một phiên họp Bộ Chính trị bàn về công tác chuẩn bị cho Hội nghị trung ương về công nghiệp, Bác phát biểu: “Phần nói nông nghiệp còn nhẹ quá. Công nghiệp nặng phải có, nhưng 8 năm thiếu gang thép ta vẫn xoay xở được, còn mất mùa một năm thì chúng ta méo mặt, mất mùa thì gang thép cũng không làm được”.

Bác cũng phê bình: “Ta có họp, có nghị, có quyết rồi giao cho ai phải giao trách nhiệm rõ ràng, ai làm đựơc thì khen, thấy ai làm sai không có thái độ rõ ràng, làm không được thì cách chức ngay (tỉnh Thái Bình được thưởng hơn 700 huân chương, huy chương mà không thấy phạt một ai), ý tôi còn nhu nhược với vấn đề này”.

Ngày 21/3/1964, cũng tại trong một lần họp Bộ Chính trị, Bác nêu ý kiến: quân và dân ta rất tốt, thiên thời địa lợi cũng không khó khăn lắm, nhưng công việc không chạy do lãnh đạo có sức ỳ lớn, phối hợp chưa chặt chẽ, chưa tốt, chỉ đạo chưa thống nhất. Bác còn phê bình tình trạng thiếu lương thực, hàng hoá kém phẩm chất, hình thức xấu, giá cả đắt đỏ, thiếu cán bộ cụ thể chịu trách nhiệm và phải coi vấn đề củng cố chi bộ là một trọng tâm.

X&N
kienthuc.net.vn

Bác Hồ gặp tướng Leclerc

Nhận xét về tướng Leclerc, Bác nói: “Ông ta là một con người thẳng thắn, trung thực, thật thà, một con người tử tế (un chic type).

 – Ngày 18/3/1946, đúng vào ngày các đơn vị quân Pháp kéo vào Hà Nội thay thế quân đội Trung Hoa-Tưởng Giới Thạch, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ để cập nhập tình hình và tìm những giải pháp để ứng phó.

5 giờ chiều, sau khi 1.200 quân cùng 200 chiến xa của  Pháp từ Hải Phòng về tới Hà Nội, Leclerc, người đứng đầu lực lượng quân sự của Pháp ở Đông Dương và Uỷ viên Cộng hoà Pháp J.Sainteny cùng nhiều tướng lĩnh khác như Salan, Valuy, Pignon… đến chào Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Người đại diện cho nước Pháp lên tiếng chào: “Thưa Chủ tịch, người Việt Nam và người Pháp chúng ta bây giờ trở thành những người bạn”.

Trong tiệc rượu, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ quan điểm: “Trong cuộc bang giao giữa chúng ta, nếu Anh, Mỹ đã đi trước chúng ta vì đã hứa cho Ấn Độ và Phi Luật Tân (Philipines) được độc lập, thì chúng tôi cũng có thể tự hào  rằng Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 đã cùng ký kết theo tinh thần đó… Tôi hết lòng hy vọng rằng toàn thể nước Pháp mới và nước Việt Nam mới sẽ nêu ra trước hoàn cầu một cái gương sáng: cái gương hai nước biết cùng nhau giải quyết được hết các vấn đề khó khăn gai góc ngay sau cuộc tổng đảo lộn của hoàn cầu, bằng cách liên hiệp với nhau và hiểu biết lẫn nhau… để mưu hạnh phúc cho cả hai dân tộc và để mưu cho hoà bình thế giới”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và những cộng sự của mình (từ trái qua): Phạm Văn Đồng, Chu Xương, Trường Chinh, Võ Nguyên GiápChủ tịch Hồ Chí Minh và những cộng sự của mình (từ trái qua): Phạm Văn Đồng, Chu Xương, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp

Có thể nói rằng biết khại thác những nhân tố tích cực trong chính giới Pháp như Leclerc, Sainteny… Bác đã đưa đất nước ta thoát hiểm trong gang tấc trước những âm mưu của cá thế lực “diều hâu” của cả Pháp và Trung Hoa Dân quốc. Trên thực tế, Pháp và Trung Hoa từ lâu đã có những mặc cả về Đông Dương cho nên việc ký kết được Hiệp ước 6/3/1946 đã biến việc quân đội Trung Hoa rời khỏi Việt Nam để Pháp thay thế thành một sự “nhượng bộ” của phía ta buộc Pháp cũng phải đáp lại bằng một thái độ hoà hoãn, tránh cho cuộc chiến tranh bùng nổ sớm, bất lợi cho lực lượng cách mạng Việt Nam còn  “trứng nước”.

Ít lâu sau, nhận xét về tướng Leclerc, Bác có nói với nhà báo Dessingé, của tờ “Paris-Saigon” rằng “Ông ta (Leclerc) là một con người thẳng thắn, trung thực, thật thà, một con người tử tế (un chic type)… Chính với những con người như thế mà người ta mong muốn bàn bạc”.

Ngày hôm sau, cả hai bên Việt-Pháp, đều đưa những đơn vị quân đội của mình tổ chức một cuộc duyệt binh chung, và Tướng Leclerc, con người đã dẫn đầu Đoàn quân Pháp trong lực lượng Đồng Minh vào giải phóng Thủ đô Paris, có lần đã nói với Võ Nguyên Giáp: “Ngài hãy nói với người Việt Nam rằng, họ có thể tin tưởng ở tôi. Nhưng tôi là người Pháp và trong sự tôn trọng nguyện vọng của nhân dân các ngài, tôi sẽ hành động với tư cách là người Pháp, trước tiên là người Pháp”.

Thế nhưng, sau đó không lâu, những người Pháp thiện chí như Leclerc cũng bị phái “diều hâu” tìm cách gạt bỏ. Ông đã được lệnh rời khỏi Việt Nam thực hiện một sứ mạng ở châu Phi rồi chết trong một vụ tai nạn đầy ẩn khuất.

X&N
kienthuc.net.vn

Ngày Bác Hồ bắt tay viết sách

Bác đã gửi “thư cho các đồng chí Liên Xô” nói về ý định sẽ viết một cuốn sách bằng tiếng Việt, giới thiệu về đất nước Xô Viết.

 – Ngày 28/2/1930, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Văn phòng đại diện Đảng Cộng sản Anh tại Quốc tế Cộng sản đề nghị gửi cho mình các tờ báo cánh tả như các tờ “La Vie Ouvrière” (Đời sống công nhân) và tạp chí “Quốc tế Công hội Đỏ”, đồng thời đề nghị gửi cả mấy tờ báo cánh hữu, báo “tư sản”: để che mắt và ứng phó “nếu cảnh sát thấy rằng tôi đã nhận những  tờ báo chí “lật đổ”.

Cùng ngày hôm đó, nhà cách mạng Việt Nam lúc này vẫn đang ở Hồng Kông sau khi đã thông báo với Quốc tế Cộng sản về sự kiện “Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thành lập”, đã gửi “thư cho các đồng chí Liên Xô” nói về ý định sẽ viết một cuốn sách bằng tiếng Việt để giới thiệu về đất nước Xô Viết:

Ngày 28/2/1969, Bác tiếp các anh hùng, dũng sĩ miền Nam ra thăm miền BắcNgày 28/2/1969, Bác tiếp các anh hùng, dũng sĩ miền Nam ra thăm miền Bắc

“Các đồng chí thân mến,

Người An Nam, nhất là những người lao động, muốn biết nước Nga. Nhưng các sạp báo cách mạng đều bị pháp luật hà khắc của đế quốc Pháp nghiêm cấm. Hơn nữa, công nhân và nông dân An Nam, phần lớn không biết chữ. Những người có học chút ít không biết thứ tiếng nào khác ngoài tiếng An Nam.

Nhiệm vụ của cúng tôi là phải nói với họ về Tổ quốc của giai cấp vô sản như thế nào. Để làm viêc này tôi có ý đinh viết một quyển sách, bằng tiếng An Nam, đương nhiên, dưới hình thức “Những kỷ niệm về cuộc du lịch của tôi”. Tôi  mong rằng nó sẽ sinh động, hấp dẫn, dễ đọc và có nhiều mẩu chuyện…”

Bức thư kèm theo một đề cương chi tiết về  nước Nga trước và trong cách mạng và nước Nga ngày nay. Nội dung của nó đề cập tới những thay đổi lịch sử, vai trò của các tầng lớp đối với cách mạng và các tổ chức cách mạng. Về nước Nga sau cách mạng, quyển sách sẽ giới thiệu về tổ chức nhà nước và xã hội của nước Nga mới, đời sống của các tầng lớp xã hội, vấn đề ruộng đất, chính sách “Kinh tế mới”,  các thành tựu về kinh tế giáo dục, văn hoá và y tế cùng  Quốc tế Cộng sản và các tổ chức quốc tế …

Để viết quyển sách này, Nguyễn Ái Quốc đề nghị Quốc tế Cộng sản cung cấp thêm tư liệu gửi qua Đảng Cộng sản Trung Quốc đồng thời cũng nêu khó khăn về in ấn, nhất là thiếu các con chữ la tinh đặc thù của tiếng Việt là có nhiều dấu…

X&N
kienthuc.net.vn

Những bức thư Bác Hồ gửi Tổng thống Mỹ

Chúng tôi yêu cầu Hoa Kỳ với tư cách là người bảo vệ và bênh vực công lý TG, thực hiện bước quyết định ủng hộ nền độc lập của chúng tôi.

 – Ngày 16/2/1946, Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà gửi thư tới Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thông báo về sự ra đời của nước Việt Nam độc lập và lên án thực dân Pháp đã tiến hành một cuộc chiến tranh “trái với những nguyên tắc của luật pháp quốc tế và trái với những cam kết của các nước Đồng minh trong chiến tranh thế giới”.

Văn kiện này đưa ra thông điệp: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi sau quá nhiều năm chịu sự cướp bóc và tàn phá, mới chỉ đang bắt đầu công cuộc xây dựng. Cần phải có an ninh và quyền tự do, trước hết là để đạt được sự phồn vinh và phúc lợi trong nước, và sau đó là góp phần nhỏ của mình vào việc xây dựng lại thế giới. An ninh và tự do chỉ có thể được đảm bảo bằng sự độc lập của chúng ta đối với bất kỳ một cường quốc thực dân nào và bằng sự hợp tác tự nguyện của chúng ta với tất cả các cường quốc khác. Chính với niềm tin vững chắc này mà chúng tôi yêu cầu Hợp Chủng quốc với tư cách là những người bảo vệ và những người bênh vực công lý thế giới, thực hiện một bước quyết định ủng hộ nền độc lập của chúng tôi”.

Đây là văn kiện mang tính nhà nước thể hiện rõ quan điểm đối ngoại của Việt Nam và quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ.

Ngày từ tháng 5/1945 sau khi tiếp xúc với cơ quan tình báo chiến lược OSS của Mỹ tại Côn Minh, Hồ Chí Minh đã nhờ người đứng đầu tổ chức này là A. Patti chuyển văn bản tới Phái đoàn Mỹ tại Liên Hiệp Quốc kêu gọi ủng hộ nền độc lập của Việt Nam sau khi tiêu diệt được chủ nghĩa phát xít.

Giữa tháng đó, Bác còn đề nghị chuyển một tài liệu về nạn đói ở Bắc Kỳ tới Sứ quán Mỹ ở Trùng Khánh.

16/2/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫy tay chào cán bộ và đồng bào Vật Lại, Ba Vì, Hà Tây khi Người về thăm, chúc tết 16/2/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫy tay chào cán bộ và đồng bào Vật Lại, Ba Vì, Hà Tây khi Người về thăm, chúc Tết

Ngay sau khi Quốc dân Đại hội họp ở Tân Trào (16/8/1945) với tư cách người đứng đầu Uỷ ban Dân tộc Giải phóng, Bác đề nghị “nhà cầm quyền Hoa Kỳ thông báo với Liên Hiệp Quốc rằng: chúng tôi đã đứng về phía Liên Hiệp Quốc chống lại bọn Nhật” và “yêu cầu Liên Hiệp Quốc thực hiện lời hứa long trọng của mình là tất cả các dân tộc đều được hưởng dân chủ và độc lập…”.

Ngày 29/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới Tổng thống Mỹ chia buồn về việc Đại tá Piter Dewey chỉ huy OSS tại Sài Gòn bị tử nạn.

Ngày 17/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới Tổng thống Mỹ đề nghị để Việt Nam tham gia Hội đồng Tư vấn về Viễn Đông.

Ngày 22/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại viết thư gửi Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ đề nghị Liên Hiệp Quốc quan tâm đến việc Pháp gây hấn và cử phái đoàn điều tra đến Đông Dương.

Ngày 1/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư đến Quốc vụ khanh Mỹ thay mặt Hội Văn hoá Việt Nam gửi 50 thanh niên sang học tập các lĩnh vực kỹ thuật và thành lập mối quan hệ văn hoá hữu nghị với thanh niên Mỹ….

Ngày 8/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới Tổng thống Mỹ và Thống chế Tưởng Giới Thạch trình bày tình hình quân Pháp đang tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Ngày 23/11/1945, Chủ tịch nước Việt Nam gửi thư tới Tổng thống Mỹ và Tổng giám đốc Cơ quan Cứu tế Mỹ (UNRRA) kêu gọi giúp Việt Nam chống nạn đói.

Đầu năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới các ngoại trưởng Liên Xô, Mỹ và Trung Hoa Dân quốc tha thiết yêu cầu đưa vấn đề Việt Nam ra Liên Hiệp Quốc và “yêu cầu nhận Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc”.

Ngày 18/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại gửi thư cho Tổng thống Mỹ và chỉ huy quân Mỹ ở Thái Bình Dương, tướng Marshall yêu cầu có giải pháp hoà bình ở Việt Nam.

Và tiếp sau lá thư ngày 17/2/1946, ngày 18/2, với tư cách là Bộ trưởng Ngoại giao, Bác lại viết thư gửi các Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc, Mỹ, Liên Xô và Anh đề nghị “hãy làm tất cả để ngăn chặn cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam” và tuyên bố : “đặt vấn đề Đông Dương trước Liên Hiệp Quốc, chúng tôi chỉ đòi hỏi độc lập hoàn toàn. Nền độc lập ấy thực tế không còn xa nữa và có thể giúp đỡ chúng tôi hợp tác với các dân tộc khác trong việc xây dựng lại một thế giới tốt đẹp hơn và một nền hoà bình lâu dài – những nguyện vọng chính đáng cần phải được bảo vệ”.

X&N
kienthuc.net.vn

Bác Hồ và nhóm “Con Nai”

Quan điểm của Bác luôn tin tưởng vào một bộ phận tiến bộ trong nhân dân Mỹ sẽ đứng về nhân dân Việt Nam.

Ngày 15/2/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư trả lời bức điện của Đại uý Charles Fenn, một sĩ quan tình báo trong đơn vị OSS đã từng tiếp xúc với Bác Hồ trong thời gian ở Côn Minh.

15-2-1965 HCM đọc văn bia tại chùa Côn Sơn,Hải Dương.jpg

Ngày 15/2/1965, Bác Hồ đọc văn bia tại chùa Côn Sơn, Hải Dương.

Bức thư trả lời bằng tiếng Anh bày tỏ: “Chúng tôi cảm kích vì thiện chí của Ngài muốn giúp Việt Nam. Nếu như Ngài tới đây với tư cách là một nhà báo Mỹ của một tờ báo lớn thì Ngài có thể làm được rất nhiều việc”.

Charles Fenn, trong Đại chiến Thế giới lần thứ II là một trung uý hải quân Hoa Kỳ được phái đến công tác tại AGAS (cơ quan hỗ trợ cho không quân tại mặt đất) lúc này đóng tại Côn Minh (Trung Quốc). Đó cũng là thời điểm Hồ Chí Minh đưa viên trung uý phi công Shaw được Việt Minh cứu sống khi máy bay bị quân Nhật bắn rơi trên chiến trường Bắc Đông Dương, sang Côn Minh để tìm cách trao trả cho Đồng Minh nhằm xác lâp mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít.

Thực thi chức trách của mình, Ch. Fenn đã bố trí cuộc tiếp xúc đầu tiên vào ngày 17/3/1945. Sau này , trong hồi ức của mình Ch.Fenn đã thuật lại: Hồ Chí Minh cùng đi với một người trẻ tuổi tên là  Phạm. Trước đó ông Hồ đã tìm gặp một số người Mỹ nhằm vận động sự công nhận đối với tổ chức Việt Minh như một thành viên trong lực lượng chống phát xít.

Ba ngày sau, hai người gặp lại nhau để nhất trí việc đưa một số thiết bị thông tin và đào tạo các báo vụ viên cho Việt Minh. Tiếp đó, Hồ Chí Minh yêu cầu Ch. Fenn giúp đỡ để trực tiếp gặp Tướng Claire Chennault, tư lệnh một Tập đoàn không quân của Mỹ mang biệt hiệu “Hổ bay” đang đóng bản doanh tại vùng Hoa Nam Trung Quốc, cũng là người dại diện cao nhất của Đồng Minh tại khu vực.

Cuộc gặp đã diễn ra ngày 29/3/1945 và sau cuộc gặp này mối quan hệ giữa Việt Minh và Đồng Minh được xác lập. Phía Mỹ đã cung cấp thiết bị liên lạc, một số vũ khí nhẹ và ngày 17/7 năm đó, một đơn vị đặc biệt mang biệt danh “Con Nai – The Deer” của OSS (Cơ quan tình báo chiến lược) của Mỹ đã nhảy dù xuống Tân Trào, tham gia huấn luyện, xây dựng sân bay dã chiến và thành lập Đại đội Việt – Mỹ… Phía Việt Minh sẽ cung cấp những thông tin tình báo và khí tượng cho không quân Mỹ hoạt động trên chiến trường đánh Nhật ở miền Bắc Đông Dương…

Đơn vị này đã tham gia bao vây quân Nhật ở Thái Nguyên và về Hà Nội sau khi Việt Minh giành được chính quyền. Nhưng ngay sau đó, chính phủ Mỹ yêu cầu các quân nhân Mỹ phải rời khởi Việt Nam…

Sau khi giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ những liên hệ với Ch. Fenn với nhiều tình cảm tốt đẹp. Trong thư đề tháng 8/1945 gửi Ch. Fenn, Bác viết: “Chiến tranh đã kết thúc. Đây là điều tốt cho mọi người. Tôi cảm thấy áy náy khi những người bạn Mỹ rời chúng tôi quá nhanh…

Tôi tin rằng ông và nhân dân Mỹ vĩ đại sẽ luôn luôn ủng hộ chúng tôi…Tôi cũng tin rằng sớm hay muộn chúng tôi sẽ đat đựơc mục đích của mình, bởi vì mục đích đó là chính nghĩa. Và đất nước chúng tôi sẽ độc lập. Tôi trông chờ ngày hạnh phúc được gặp ông và những người bạn Mỹ của chúng tôi ở Đông Dương hay trên đất Mỹ”.

Bức thư đề ngày 15/2/1947 giữa lúc nhân dân Việt Nam đang kháng chiến chống thực dân Pháp và vào lúc chính sách của Mỹ ngày càng đồng loã với cuộc chiến tranh xâm lược trở lại Đông Dương, cho thấy quan điểm của Bác luôn tin tưởng vào một bộ phận tiến bộ trong nhân dân Mỹ sẽ đứng về nhân dân Việt Nam.

Sau khi Bác Hồ qua đời, Ch.Fenn đã là người viết cuốn tiểu sử chính trị đầu tiên về Hồ Chí Minh bằng Anh ngữ xuất bản ở phương Tây (1973: “Hồ Chí Minh một tiểu sư chính trị”) và vì thế mà bị chính quyền Mỹ trục xuất khỏi đất nước của mình.

Tháng 8/1995, ngày sau khi quan hệ Việt – Mỹ được bình thường hoá, Ch.Fenn cùng các cựu chiến binh của đơn vị “Con Nai” đã trở lại thăm Việt Nam. Khi đã ngoài 100 tuổi (năm 2004) Charles Fenn còn viết: “Cuộc sống cá nhân mẫu mực, tính kiên định vì nền độc lập và tự do của Việt Nam, những thành quả phi thường của ông bất chấp những khó khăn chồng chất đã có thể đưa Hồ Chí Minh, trong sự phán xét cuối cùng của nhân loại lên hàng đầu danh sách những lãnh tụ của thế kỷ XX”.

X&N
kienthuc.net.vn

Bức điện cuối cùng của Bác Hồ gửi Quốc trưởng Campuchia

Chuyến đi thăm đầu tiên của tôi tới nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà lại là để dự lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh.

 – Ngày 7/2/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới Quốc trưởng Vương quốc Campuchia Norodom Sihanouk để cảm ơn sự ủng hộ đối với lập trường của Việt Nam tại cuộc đàm phán với Mỹ ở Paris. Đây cũng là văn kiện cuối cùng trong mối giao tiếp hữu nghị với người đứng đầu Vương quốc láng giềng.

Chỉ hơn nửa năm sau, ngày 2/9/1969 nhà lãnh đạo Việt Nam qua đời. Ngày 9/9/1969, Quốc trưởng Sihanouk đã có mặt tại Hà Nội để dự lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và sau rất nhiều biến cố lịch sử, trong hồi ký “Từ cuộc chiến chống CIA đến người tù của Khơ me Đỏ” viết sau này, Cựu vương Sihanouk đã bày tỏ:

“Từ buổi dự lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội, tôi được vinh dự đứng túc trực bên cạnh linh cữu. Tôi sực nhớ đến câu nói của Người mà tôi cho rằng không gì đúng hơn . Đó là câu “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Bác Hồ thăm và chúc Tết cán bộ và nhân dân Quảng Ninh(2/1965)Bác Hồ thăm và chúc Tết cán bộ và nhân dân Quảng Ninh (2/1965)

Cụ Hồ là một bậc cách mạng lão thành, xuất thân từ tầng lớp bình dân. Tôi là một nhà quý tộc thuộc dòng dõi quân chủ lâu đời nhất ở Campuchia. Cụ với tôi không chung thế hệ, bởi vì Cụ hơn tôi tới ba chục tuổi. Nhưng Cụ và tôi đều cùng chung nguyện vọng muốn cho nước nhà độc lập. Để đạt mục đích này, Cụ đã chọn con đuờng cách mạng gay go ác liệt. Còn tôi, một con người trẻ tuổi lại rất sợ đổ máu. Nhưng cuối cùng chính Cụ đã dạy cho chúng tôi bài học là tất cả các thế lực đế quốc chỉ cho các dân tộc bị chúng áp bức một con đường duy nhất để giành lại tự do. Đó là con đưòng đấu tranh vũ trang mà Hồ Chí Minh đã xác định”.

Cũng trong tập hồi ký này, Norodom Sihanouk còn viết : “Từ lâu tôi đã rất ngưỡng mộ Bác Hồ. Người không chỉ thuộc về nhân dân Việt Nam mà là cả Đông Dương, cả châu Á và có thể là cả thế giới, bởi vì Người luôn luôn bảo vệ những quyền lợi của các dân tộc bị áp bức ở các thuộc địa cũng như quyền lợi của những người da đen ở Mỹ.

Đối với riêng tôi, Người cũng là “đồng chí”. Người đã gửi cho tôi những bức thư trìu mến và tôi cũng luôn mong được gặp Người, nhất là trong những năm gần đây tôi thường đề nghị có cơ hội đi thăm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội. Nhưng các bạn Việt Nam nói Mỹ đang ném bom miền Bắc Việt Nam, một chuyến đi thăm như vậy là rất nguy hiểm đối với tôi.

Tôi đáp lại: “Thì đây chính là dịp để tôi biểu thị tình đoàn kết với Việt Nam”. Các bạn Việt Nam vẫn khẳng định: ”Ngài là Quốc trưởng Campuchia và cũng là người bạn lớn của Việt Nam. Chúng tôi phải chịu trách nhiệm trước nhân dân nước Ngài vì những trận ném bom của Mỹ”.

Và thế là mãi mãi tôi không bao giờ được gặp Chủ tịch Hồ nữa… Chuyến đi thăm đầu tiên của tôi tới nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà lại là để dự lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

X&N
kienthuc.net.vn

Bác Hồ làm thơ phân tích tình hình thế giới

Bài thơ “Mừng năm mới năm 1943 là một bản phân tích tình hình thế giới và đón chờ cơ hội.

– Ngày 5/2/1943 ứng với ngày 1 Tết Quý Mùi (1943), bài thơ “Mừng năm mới” vốn được đăng trên báo “Việt Nam Độc lập” số đầu năm dương lịch, đã đến với nhân dân trong không khí đang sục sôi cách mạng.

Bài thơ là một bản phân tích tình hình thế giới và đón chờ cơ hội: “Một nghìn chín trăm bốn mươi ba/ Năm mới tình hình hẳn mới/ Đông Á chắc rồi Tàu thắng Nhật/ Tây Âu nhất định Đức thua Nga/ Nhân dân các nước đều bùng dậy/ Cách mệnh nhiều nơi sẽ nổ ra/ Đức, Nhật chết, rồi Tây cũng chết/ Ấy là cơ hội tốt cho ta/ Ấy là cơ hội tốt cho ta/ Cơ hội này ta chớ bỏ qua/ Phấn đấu hy sinh đừng quản ngại/ Tuyên truyền tổ chức phải xông pha/ Đồng tâm một triệu người như một/ Khởi nghĩa ba kỳ giậy cả ba/ Năm mới quyết làm cho nước mới/ Non sông Hồng Lạc gấm thêm hoa”.

5-2-1966 HCM và Thủ tướng PVĐồng thăm đơn vị bộ đội công binh đang diễn tập bắc cầu phao vượt sNgày 5/2/1966 Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm đơn vị bộ đội công binh đang diễn tập bắc cầu phao vượt sông.

Chỉ 3 năm sau, lời thơ Chúc Tết năm Quý Mùi đã trở thành hiện thực và Tết Bính Tuất 1946 đã trở thành Tết Độc lập đầu tiên dân tộc Việt Nam.

Ngay trong ngày mùng một Tết Bác đã viết thư gửi Hội nghị Nông vận và Dân vận toàn quốc, một lần nữa xác định “Nông dân lao động là một lực lượng rất to lớn của dân tộc, một đồng minh rất chắc chắn của giai cấp công nhân. Muốn kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công ắt phải dựa vào quần chúng nông dân”

Ngày 5/2/1962, lại ứng với mồng 1 Tết Nhâm Dần giữa lúc đất nước Việt Nam đang thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược, bài “thơ mừng năm mới” của Bác là một lời chúc: “Năm Dần, mừng Xuân thế giới/ Cả năm châu phấp phới cờ hồng/ Chúc miền Bắc thi đua phấn khởi/ Bốn mùa hoa Duyên Hải, Đại Phong/ Chúc miền Nam đấu tranh tiến tới/ Sức triệu người hơn sóng Biển Đông/ Chủ nghĩa xã hội càng thắng lợi/ Hoà bình thống nhất quyết thành công”.

Trong ngày, Bác thăm và chúc Tết tại công trường xây dựng Nhà máy bê tông đúc sẵn Chèm và buổi chiều đến dự buổi sinh hoạt ngâm thơ mừng Xuân của phụ lão Hà Nội. Bác góp một vần thơ: “Tuổi già nhưng chí không già/ Góp phần xây dựng nước nhà phồn vinh”.

X&N
kienthuc.net.vn

Chuyện về một ông cụ người Hoa giống Bác Hồ

Có mấy tấm ảnh Bác Hồ ngày ở Chiến khu Việt Bắc. Hỏi ra thì được giải thích “đó không phải là Bác mà là ông cụ rất giống Bác”.

– Ông cụ tên là Lam Sơn, người Quảng Tây (Trung Quốc). Quê cụ nằm ngay sát biên giới Trung – Việt. Gia đình cụ là cơ sở cách mạng của cả ta và Đảng Cộng sản Trung Quốc. Theo lời mời của ông Trần Đăng Ninh, cụ đã sang hoạt động tại chiến khu Việt Bắc.

Xuất xứ câu chuyện lạ

Mô tả ảnh.Mô tả ảnh.

Cụ Lam Sơn chụp cùng các cán bộ ở chiến khu Việt Bắc.

Những năm 1960-70, bạn tôi – anh Hồ Bá Đạt – sống trong Khu tập thể quân đội số 16A Lý Nam Đế, Hà Nội. Trong hàng chục gia đình cán bộ trung, cao cấp ngày đó có gia đình một sĩ quan người Hoa. Đó là ông bà Bích Liên và Hoàng Hoa.

Nhà Đạt ở tầng trên, gia đình sĩ quan người Hoa ở ngay tầng dưới. Chẳng rõ họ về ở trong khu từ khi nào, nhưng khi gia đình Đạt tới thì đã thấy. Họ quan hệ thân thiết với bà con xóm giềng. Bọn trẻ con gọi ông bà là “cô Liên, chú Hoa”. Tới tháng 6/1975, gia đình họ chuyển về Trung Quốc, sống tại thành phố Quảng Châu.

Năm 2006, nhân dịp sang Trung Quốc, bạn tôi ghé thăm gia đình ông bà. Ông bà vẫn vui vẻ như xưa mặc dù đã nghỉ hưu và sức khỏe đã kém đi. Trong khi trò chuyện được ông bà cho xem cuốn album gia đình. Thú vị là có nhiều ảnh chụp chung với các lãnh đạo ta trong và ngoài quân đội thời chống Pháp và chống Mỹ.

Lúc này mới biết, ông Hoàng Hoa tham gia cách mạng ở Việt Nam từ năm 1948, trên Chiến khu Việt Bắc. Đến năm 1950 thì nhập ngũ. Trước khi trở về nước, ông mang quân hàm đại úy và là Phó chủ nhiệm Hậu cần Sư đoàn 338. Còn bà Bích Liên vào bộ đội năm 1951, mang hàm thiếu úy, phụ trách thư viện.

Thời kì chống Mỹ, ông Hoàng Hoa từng tham gia phiên dịch trong những buổi đàm phán giữa các vị lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc về viện trợ vũ khí, trao đổi tin tức tình báo… Khi về nước, ông bà tiếp tục giảng dạy tiếng Việt tại trường Đại học Ngoại ngữ, ngoại thương Quảng Châu.

Trong số ảnh được xem, bạn tôi thấy có mấy tấm ảnh Bác Hồ ngày ở Chiến khu Việt Bắc. Hỏi ra thì được giải thích “đó không phải là Bác mà là ông cụ rất giống Bác”. Chợt nghĩ đây là câu chuyện thú vị có liên quan đến Bác Hồ không phải ai cũng biết; thậm chí chưa thấy báo chí hoặc ai nói tới; bạn tôi đề nghị ông bà cho xin bản sao.

Về ông cụ giống Bác

Ông cụ tên là Lam Sơn, người Quảng Tây (Trung Quốc). Quê cụ nằm ngay sát biên giới Trung – Việt. Gia đình cụ là cơ sở cách mạng của cả ta và Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Trong một chuyến công tác sang Quảng Tây, ông Trần Đăng Ninh tình cờ gặp ông cụ. Thấy cụ chân chất, hiền lành; hỏi tổ chức thì biết nhân thân của cụ rất tốt, lại thấy cụ có nhiều nét giống Bác Hồ, ông nảy ra ý định mời cụ sang sinh sống ở Việt Nam.

Cụ đồng ý và đề nghị “nếu có thể xin phép được đưa gia đình sang sống cùng”. Nguyện vọng này được chấp nhận và cụ theo ông Trần Đăng Ninh sang Việt Nam ngay chuyến ấy.

Biết ở Chiến khu Việt Bắc có cụ Lam Sơn từ Quảng Tây sang, ông Hoàng Hoa (lúc đó là tổ trưởng tổ phiên dịch gồm các đồng chí người Trung Quốc) có lời mời cụ đến chơi. Tình đồng hương, tình cảm của những người xa quê chiến đấu trên đất bạn làm họ thêm thân thiết. Tổ phiên dịch đã chụp chung với cụ vài kiểu ảnh; trong đó ông Hoàng Hoa còn giữ được 2 tấm nhỏ chỉ bằng 2 đầu ngón tay.

– Thời gian đó là năm 1952, – ông Hoa nhớ lại – ngày đó cụ đã ngoài 50 nhưng rất nhanh nhẹn… Chúng tôi trẻ măng, mới ngoài 20. Trong tấm hình thứ nhất, tôi là người đứng thứ 2 từ trái qua ; còn trong tấm thứ 2, tôi là người thứ 2 từ phải qua.

– Thế chú có biết lí do ông Trần Đăng Ninh mời cụ sang Việt Nam? – Đạt hỏi.

– Nói về việc này phải thận trọng, dù sự việc đã qua cả nửa thế kỷ. Anh về tìm hiểu thêm!

Sau này tin tức về ông cụ như thế nào thì ông Hoàng Hoa cũng không rõ. Nếu cụ còn sống thì nay đã trên trăm tuổi.

Trần Kiến Quốc
kienthuc.net.vn

Bác Hồ – Những kỷ niệm không quên

Mặc dầu mới đi về, đang đói ngủ, nhưng sau khi gặp Bác nghe những lời dạy của Bác, suốt đêm đó, tôi cứ thao thức không sao nhắm mắt được. Tôi đi đi lại lại trong phòng, trong đầu cứ vang lên lời nói của Bác:

“Sớm muộn đế quốc Mĩ cũng sẽ đưa B.52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nói mới chịu thua”, “Ở Việt Nam, Mĩ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua ở đây (Hà Nội)”.

C

Tôi trải rộng tấm bản đồ Hà Nội trước mặt, chong mắt nhìn vào đường bay của B.52 mà Quân chủng Phòng không – Không quân sơ bộ dự kiến sẽ đột nhập vào Hà Nội. Bỗng nhiên, tôi đưa bàn tay lên tấm bản đồ như muốn bóp chết nhưng chiếc B.52 tưởng tượng kia. Bọn Mĩ thật là một lũ hung ác cực độ. Cả một thủ đô dân cư đông đúc, nhà cửa san sát như thế này mà chúng dám nhẫn tâm định đưa B.52 vào hủy diệt. Chỉ mới có ý định thôi thì cũng đã là một tội lỗi không thể tha thứ. Nhưg Bác đã nói rồi: Thằng Mĩ chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội. Thế thì nhất định nó sẽ dùng B.52 đánh Hà Nội rồi… Không chịu được với ý nghĩ đó, mặc dầu đã quá nửa đêm, tôi vẫn quay điện thoại cho đồng chí Đặng Tính. Vừa mới nghe tôi kể sơ qua vè buổi gặp Bác hồi tối, giọng anh tính đã tỉnh như sáo:

– Bác nói thế nào? Cậu nhắc lại cho tớ nghe xem nào?

Tôi nhắc lại trong máy. Nhắc đến đâu, anh Tính nhắc lại đến đấy, và hình như anh còn mở sổ ra ghi chép. Tôi nghĩ thầm: “Đúng là cung cách làm ăn của một ông chính ủy”.

Anh Tính căn dặn tôi:

– Từ nay mỗi lần gặp Bác, Bác nói câu gì cậu phải ghi chép lại ngay đấy nhé. Cứ giữ mãi cái tác phong không sổ tay, không ghi chép như cậu là không được đâu”.

Tôi không nói gì. Suốt mấy chục năm nay, tôi có sổ tay, có ghi chép gì đâu. Nếu ai nói, tôi tự bảo: “Mỗi người có một cách làm việc riêng”.

Lần này không để anh Tính mời xuống, phải hứa hẹn “RTC”, tôi nói với anh Tính là ngày mai tôi sẽ xuống Quân chủng làm việc, tập trung vào phương án đánh B.52 bảo vệ Hà Nội. Tôi nói với anh Tính là động viên cơ quan hoàn thành sớm cái này, vì đây là vấn đề mà Bác đang quan tâm.

Đầu năm 1968, bản phương án đầu tiên về đánh trả cuộc tập kích bằng B.52 của đế quốc Mĩ vào Hà Nội, Hải Phòng được ra đời trong bối cảnh như thế.

Tôi còn nhớ bản phương án mở đầu bằng câu: “Trước thất bại nặng nề của địch trên cả hai miền, với bản chất ngoan cố, chúng sẽ không từ một thủ đoạn dã man tàn bạo nào để uy hiếp đánh phá ta, hòng cứu vãn thế thua của chúng. Địch sẽ có bước leo thang mới, tiếp tục đánh mạnh vào Hà Nội, Hải Phòng. Trong thế bị động này địch sẽ dùng B.52 để tạo thế bất ngờ về chiến lược”.

Tiếp đó, bản phương án viết: “Ta đã bắn rơi B.52 của địch. Với lực lượng sẵn có của ta, với khả năng của các binh chủng, ta hoàn toàn có đầy đủ điều kiện thực tế để tiêu diệt B.52 của địch, bắn rơi chúng tại chỗ, đánh bại bước leo thang liều lĩnh bằng B.52 của chúng”.

Về dự kiến, đường đột nhập của B.52 đánh vào Hà Nội, bản phương án đã vạch ra 5 đường, trong đó có đường bay cơ bản, gọi là đường bay A, được dự kiến là đường bay từ Tây Bắc xuống. Thực tế, trong cuộc tập kích chiến lược cuối năm 1972, 70% số B.52 của địch đã từ hướng nay đột nhập vào. Còn 30% số B.52 còn lại cũng đều đi vào hướng những đường bay dự kiến trong bản phương án đầu tiên cách đó 4 năm.

Còn đối với Hải Phòng thì độ chính xác như một trăm phần trăm. Bản phương án đầu tiên dự kiến 2 đường bay cơ bản. Từ đông bắc xuống theo cửa Nam Triệu và từ đông nam lên theo cửa Văn Úc thì năm sau, B.52 vào đúng như thế.

Sở dĩ tôi muốn nhấn mạnh điều này là để bạn đọc thấy một điều hết sức rõ ràng là chúng ta đã chuẩn bị cho trận “Điện Biên Phủ trên không” từ rất lâu như thế đó.

Tính từ năm 1966, khi những đơn vị đầu tiên của trung đoàn tên lửa 238 đặt chân đến chiến trường Vĩnh Linh, tìm cách “vào hang để bắt cọp” cho đến những ngày đầu 1968, bản phương án đánh B.52 tập kích vào Hà Nội, Hải Phòng ra đời… là cả một quá trình vượt qua muôn vàn gian khổ, hi sinh, là một sự tập trung trí tuệ sáng tạo của cán bộ chiến sĩ từ đơn vị đến cơ quan, từ người lính ở chiến trường đến vị tư lệnh.

Có thể nói, đó là những viên gạch đầu tiên, cùng với những viên gạch khác, góp phần quan trọng xây nên đài chiến thắng vinh quang cho trận “Điện Biên Phủ trên không” lừng lẫy của dân tộc ta sau này.

Và bao trùm lên tất cả là sự quan tâm, là những lời dạy quý báu thể hiện tầm nhìn chiến lược của lãnh tụ thiên tài Hồ Chí Minh, vị tổng tư lệnh tối cao của các lực lượng vũ trang nhân dân ta.


THAY LỜI KẾT

Thế là sau suốt 5 năm trời suy nghĩ và nhớ lại, tôi đã hoàn thành cuốn hồi ức “Bác Hồ – Những kỷ niệm không quên”.

Đúng là không thể nào quên, vì một lẽ rất đơn giản là kể từ những ngày dầu tiên được gặp Bác, tháng 2 năm 1940 cho đến khi Bác đi xa, cả cuộc đời tôi luôn luôn gắn liền với sự thương yêu chăm sóc của Bác.

Bác đã từng bước dẫn dắt tôi, từ một đứa trẻ lang thang, thất học, tính tình ngổ ngáo, trở thành một sĩ quan cấp tướng của cách mạng, có đóng góp ít nhiều vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đây thực sự là một điều kì diệu mà đôi khi tôi cứ nghĩ có nằm mơ cũng không thể tưởng tượng nổi.

Những điều kì diệu này sẽ rất dễ hiểu nếu chúng ta đặt nó trong sự kì diệu Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là người đem chủ nghĩa Mác – Lê-nin về làm đổi thay cả một dân tộc, đổi thay cuộc đời trong đó có cuộc đời tôi.

Chỉ trong vòng 5 năm trời, từ thằng Thụ nhóc con, đêm đêm với cái bụng lép kẹp nằm còng queo trên chiếc ghế đá công viên Hạ Lầu, ở Côn Minh, trở thành một trong những trung đoàn trưởng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam vào cuối năm 1946, lúc đó tôi vừa tròn 25 tuổi.

Có lẽ hơn ai hết, Bác Hồ là người hiểu tôi sâu sắc nhất, hiểu cả những thiếu sót, khuyết điểm (thói hư tật xấu) và hiểu cả những ưu điểm của tôi. Chính vì vậy mà Bác cũng rất tin tôi.

Trong cuộc hành trình gian nan, vất vả chứa đầy hiểm nguy trên con đường thiên lí từ Pác Bó đi Côn Minh đầu năm 1945, Bác đã chọn tôi làm người cận vệ. Bây giờ nghĩ lại đôi khi vẫn cảm thấy rùng mình. Vận mệnh của cả một dân tộc, của cách mạng trong thời điểm quan trọng của lịch sử được phó thác cho vị lãnh tụ kiệt xuất: Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh… và chính tôi là người được giao trọng trách bảo vệ vị lãnh tụ đó, người mà mấy tháng sau trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Cha già của dân tộc.

Dọc đường đi Bác bị sốt cao, có lúc mê man, tôi đã đánh liều tiêm kí ninh vào ven cho Bác. Khi đưa mũi kim vào ven Bác tôi chỉ nghĩ một điều: Bác phải sống để kịp trở vè nước lãnh đạo cách mạng… và lòng tin của tôi đã thắng.

Khi giao cho tôi chức vụ trung đoàn trưởng, Bác chỉ phân vân: “Tính chú nóng và liều quá. Người làm tướng mà nóng và liều thường hỏng việc”. Nhưng Bác vẫn tin và giao nhiệm vụ cho tôi. Và tôi đã không phụ lòng tin của Bác.

Cứ như thế, Bác từng bước dạy bảo, dìu dắt tôi trưởng thành đi lên trên con đường cách mạng.

Cuốn hồi ức này được hoàn thành trước nhằm bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của tôi đối với Đảng, đối với Bác. Có thể khẳng định rằng nếu không có Đảng, không có Bác, sẽ không có cuộc đời tôi hôm nay: Thượng tướng Phùng Thế Tài.

Cuốn sách ra đời đúng vào dịp sinh nhật thứ 106 của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhằm ý nghĩa đó. Riêng tôi, năm nay bước vào tuổi 75, tôi xin kính dâng toàn bộ cuộc đời tôi lên Đảng và Bác kính yêu.

Điều cuối cùng tôi muối gửi gắm đến bạn đọc xa gần là trong lúc các lực lượng thù địch đang tìm cách xóa bỏ những thành của cách mạng ở Việt Nam với những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, thậm chí phủ nhận cả Hồ Chí Minh, chúng ta hãy kiên định, vững vàng giữ vững lòng tin theo con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. Đó là con đường sẽ đưa dân tộc ta đế hạnh phúc ấm no và giàu mạnh, xã hội công bằng và văn minh.

Thượng tướng Phùng Thế Tài
Vknyo (st)