Tag Archive | Hồ Chí Minh

Bác Hồ kể chuyện Tây du ký

Cuộc kháng chiến của chúng ta giống như những bước đi đầu tiên trên chặng đường thầy trò Tam Tạng sang Tây Trúc thỉnh kinh.

 – Năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn đánh lớn, đánh tập trung. Thấy cán bộ chưa nhận thức đầy đủ tình hình, nhiệm vụ. Bộ Chính trị quyết định triệu tập cán bộ, mở lớp học ngắn ngày. Nội dung lớp học là “Quán triệt tình hình, nhiệm vụ, chống tham ô lãng phí, quan liêu, quân phiệt”.

Học viên là cán bộ cao cấp các ngành quân, dân, chính, đảng trên mọi chiến trường trong cả nước. Lớp học được tổ chức giữa khu rừng đại ngàn khá đẹp, cạnh cơ quan Trung ương, gần nơi Bác ở và làm việc.

Ông Lê Văn Lương, Chánh văn phòng Trung ương Đảng được Bác chỉ định phụ trách lớp. Bác trực tiếp biên soạn giáo án, làm giáo viên hướng dẫn học tập, kiểm điểm. Công việc dạy và học được tiến hành rất thuận lợi, kết quả khả quan, Bác rất vui. Hôm làm kiểm thảo Bác nói:

– Các chú học đã thông lý thuyết, tranh luận cũng đã nhiều. Vận dụng lý luận đã học vào kiểm thảo là rất cần thiết. Bác bận không có thời gian xem hết lý luận của các chú. Tình hình, nhiệm vụ, các chú đã quán triệt, không cần thiết phải trình bày. Các chú đi vào kiểm điểm cá nhân, viết cụ thể xem mình tham ô, lãng phí bao nhiêu? Tất cả quy thành tiền. Quan liêu, quân phiệt bao nhiêu lần? Hành động thô bạo với nhân dân, với chiến sĩ bao nhiêu lần? Bao nhiêu người? Vậy thôi, không cần dài dòng.

Hôm trả bài, mọi người vừa có mặt đông đủ ở hội trường thì Bác bước vào. Nét mặt của Bác hôm đó không được vui. Cán bộ trực ban hô “Nghiêm!” rồi báo cáo Bác. Bác vừa ra hiệu cho mọi người ngồi xuống thì một đồng chí đứng lên hô to:

– Đả đảo tham ô, lãng phí, quan liêu, quân phiệt!

Bác giơ cao tập kiểm thảo của học viên lên nói:

– Lý thuyết! Lý thuyết! Thực tế đây này. Nhiều đồng chí sợ địch, ngại gian khổ, ngại hy sinh, ngại kháng chiến lâu dài. Nhiều đồng chí thiếu trách nhiệm để kẻ địch đốt hàng trăm tấn gạo, đổ xuống sông hàng trăm tấn muối, phá hủy hàng chục tấn súng đạn. Có đồng chí tham ô hàng vạn, hàng triệu đồng…, đánh đập, chửi mắng chiến sĩ, nhân dân.

Bác phân tích tác hại của hành động, làm ảnh hưởng xấu tới chính sách đại đoàn kết dân tộc, tới chính sách mặt trận, tới tài sản của nhân dân, ảnh hưởng tới thắng lợi của cuộc kháng chiến.

Cả hội trường im phăng phắc nghe Bác nói.

Trưa hôm đó, một trưa hè oi nồng, vì không ngủ được nên một số anh em rủ nhau ra suối tắm. Giữa rừng sâu nên anh em tha hồ vừa thoải mái ngâm mình dưới dòng nước, vừa trao đổi về bài tổng kết của Bác. Ngay lúc đó, Bác từ trên nhà sàn bước xuống. Ai cũng đoán Bác đi sang khu Trung ương.

Người thoăn thoắt đi về phía anh em đang tắm. Mọi người hoảng, chưa biết xử trí ra sao, thì một cán bộ nhanh nhẹn mặc quần áo lên hướng dẫn Bác đi lối khác. Bác gạt đi:

– Bác cùng tắm với các chú cho vui!

Thế là Bác cháu cùng ngâm mình xuống dòng nước trong mát. Đàn cá con luồn lách trong khe đá, lượn lờ chung quanh mọi người. Cán bộ Lương Tuấn Khang cọ lưng cho Bác, xúc động thưa với Bác:

– Thưa Bác, Bác gầy quá!

Bác im lặng một chút, rồi hỏi đồng chí Khang:

– Kiểm thảo vừa rồi, chú có khuyết điểm gì không?

– Thưa Bác có chứ ạ! Cháu tham ô một vạn tư.

– Chú một vạn tư, chú kia một vạn tư, chú này một vạn tư thì Bác làm sao béo được!

Anh em tắm quanh đó lặng người, chú ý theo dõi câu chuyện của hai Bác cháu.

Cán bộ Khang lại hỏi Bác:

– Thưa Bác, không phải cháu tham ô, mà vì cháu đã có áo mưa, quân nhu không biết lại phát cho cháu một chiếc nữa. Cháu lãnh, rồi đem cho đồng chí khác chưa có (chiếc áo mưa hồi đó trị giá một vạn tư). Thưa Bác, như vậy có phải khuyết điểm không ạ?

Bác quay lại:

– Thôi chú cọ lưng cho Bác sạch rồi. Ta đổi công cho nhau.

Bác cọ lưng cho  Khang, rồi nói:

– Phải xem xét động cơ. Chú cho anh em không có sự đòi hỏi gì, cho với tinh thần vô tư thì việc cho của chú là tốt. Còn, chú cho bạn với động cơ có đi, có lại hoặc có điều kiện nào đó, thì việc cho áo mưa của chú cần phải xem xét.

Thời hạn lớp học sắp kết thúc. Hôm đó, Bác giải đáp để hôm sau các học viên trở về đơn vị. Bác yêu cầu anh em kể Tây du ký cho mọi người nghe… Câu chuyện cần phù hợp với nội dung bài học.

eBác Hồ với các chiến sĩ tại khu di tích Đền Hùng năm 1954. Ảnh TL.

Ông Tôn Quang Phiệt được Bác chỉ định kể đầu tiên. Suy nghĩ một hồi, ông Phiệt kể cho anh em nghe đoạn Tôn Hành Giả ba lần đánh Bạch Cốt Tinh. Một lần Tôn đánh chết ông cụ, một lần đánh chết bà cụ, một lần đánh chết cô gái, nên bị Tam Tạng đuổi về Hoa Quả Sơn.

Ông Tôn Quang Phiệt tóm tắt:

– Tôn Hành Giả biết phân biệt kẻ thù. Đã phân biệt chính xác kẻ thù thì tấn công quyết liệt, gặp bất cứ trở ngại gì cũng vượt qua.

Bác chỉ định một người khác kể. Cán bộ đó kể đoạn Bát Giới xin ở lại làm con rể phú ông. Cán bộ đó kết luận:

– Làm cách mạng là phải triệt để đừng như Bát Giới ham phú quý, giàu sang giữa đường định bỏ dở sự nghiệp.

Một cán bộ nữa xin Bác cho phép kể đoạn Đại Thánh đại náo thiên cung. Cán bộ kết luận:

– Đã là người anh hùng nắm chắc chân lý, thì ông trời cũng không sợ.

Bác cười khen:

– Các chú nhớ cả đấy. Chuyện nào cũng vậy, đều có thiện, có ác, có chính, có tà. Chuyện nào cũng dạy người ta ăn ở nhân nghĩa, bỏ điều ác, làm điều thiện. Có gian khổ mới có vinh quang thắng lợi. Thầy trò Đường Tam Tạng từ Đại Đường sang tận Tây Trúc lấy kinh, trải qua không biết bao nhiêu gian khổ, thử thách, gặp bao nhiêu yêu quái mới thỉnh được kinh đem về cho vua Đường. Thầy trò Đường Tăng đã vượt qua ba điều cấm: Một là không ham tiền tài, hai là không ham địa vị, ba là không ham gái đẹp.

Khi gặp Phật tổ Như Lai, lấy được kinh, Đại Thánh thưa với sư phụ: “Thưa thầy, chúng ta đã thành chính quả”. Tam Tạng nói với Đại Thánh: “Chưa đâu, đây mới là thành công bước đầu của thầy trò ta, đạt đến chính quả còn gian khổ lắm”.

Cuộc kháng chiến của chúng ta mới chỉ là những bước giống như những bước đi đầu tiên trên chặng đường thầy trò Tam Tạng sang Tây Trúc thỉnh kinh mà thôi. Kháng chiến thành công, nước nhà độc lập cũng mới chỉ là bước đầu. Bác cháu ta còn phải kiến quốc làm cho dân giàu, nước mạnh, nhân dân hạnh phúc, ấm no. Điều đó mới thực vất vả, khó khăn.

Bác cháu ta hiện nay mới chỉ bước những bước đầu tiên trên con đường kháng chiến, mà đã có nhiều đồng chí ham tiền tài, địa vị, gái đẹp thì kháng chiến ta làm sao thành công được. Xưa cũng như nay, muốn thành chính quả thì phải tránh ba điều răn. Muốn kháng chiến thắng lợi phải tránh ba điều cấm. Vì cuộc kháng chiến của Bác cháu ta còn phải trải qua muôn vàn gian khổ, có nỗ lực vượt qua được thì mới thành công, thắng lợi. Kết luận của Bác có thế thôi.

Sau đó, Bác cho phép mọi người nêu thắc mắc để Bác giải đáp. Đồng chí Nam Long đứng lên xin phép Bác được nêu thắc mắc:

– Thưa Bác, Bác nói trong con người ta có ông Thiện, ông Ác. Ông Thiện bảo ta làm những điều tốt lành. Ông Ác xúi ta làm những việc độc ác. Thưa Bác, trong Bác có ông Thiện, ông Ác không ạ?

Bác cười tủm tỉm:

– Có chứ! Bác cũng như mọi người đều có ông Thiện ông Ác. Từ nơi Bác ở tới lớp học phải qua một cái đèo cao. Leo tới đỉnh đèo thì Bác đã mệt. Phong cảnh tuyệt đẹp, trời trong xanh, mây bay vượn hót, chim kêu, nước chảy.

Ông Ác nói với Bác: “Dừng chân nghỉ một chút cho đỡ mệt, ngắm mây trôi, nước chảy, nghe vượn hót chim kêu, hút một điếu thuốc cho sảng khoái rồi lại lên đường. Kháng chiến còn lâu dài gian khổ, nghỉ một chút có sao đâu”.

Ông Thiện lại nói với Bác: “Không được! Hàng trăm người đang chờ đợi Bác. Chỉ cần chậm một phút là lãng phí hàng trăm phút. Mình là giảng viên, lại càng cần phải gương mẫu”.

Ông Ác nói cũng phải – mệt ngồi nghỉ một chút là lẽ thường tình, có chi phương hại. Ông Thiện nói cũng đúng – bắt hàng trăm con người chờ đợi, hao phí thời gian, đành tâm sao được.

Biết nghe ai bây giờ? Nghe ai và không nghe ai? Khó thật đấy! Song, cái quyết định cuối cùng vẫn là ở mình. Suy nghĩ một hồi, Bác quyết định nghe theo ông Thiện. Bác nhét điếu thuốc lá vào bao, cất bật lửa vào túi. Bác đi tới lớp học.

Đó, ai dạy mình điều phải. Ai xui mình làm điều sai. Cái quyết định cuối cùng vẫn là ở mình.

Mỗi khi gặp khó khăn, các học viên lớp học ngày ấy lại nhớ tới lời dạy của Bác qua các câu chuyện trong Tây du ký.

Trần KỳTap chí Hồn Việt
Vkyno (st)

Bộ trưởng Quốc phòng Liên bang Nga đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận lời mời của Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh, Đoàn đại biểu Quân sự cấp cao Liên bang Nga do Đại tướng Sergei Shoigu, Bộ trưởng Quốc phòng dẫn đầu, sang thăm và làm việc tại Việt Nam từ ngày 4 đến ngày 5/3/2013. Đây là chuyến thăm đầu tiên của Đại tướng Sergei Shoigu, Bộ trưởng Quốc phòng Liên bang Nga, kể từ khi nhậm chức ngày 6-11-2012. Trong thời gian thăm và làm việc Việt Nam, sáng ngày 5/3/2013, Đại tướng Sergei Shoigu và Đoàn đại biểu đã đến đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Bộ trưởng Quốc phòng Liên bang Nga kính viếng”.

Bo quoc phong Nga
Bộ trưởng Quốc phòng Liên bang Nga
cùng Đoàn đại biểu vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

 Chuyến thăm chính thức Việt Nam của Bộ trưởng Quốc phòng Liên bang Nga diễn ra trong bối cảnh hai nước Việt Nam và Liên bang Nga đã nâng cấp quan hệ từ quan hệ đối tác chiến lược lên quan hệ đối tác chiến lược toàn diện (tháng 7 – 2012).

Chuyến thăm lần này của Đại tướng Sergei Shoigu góp phần củng cố và tăng cường quan hệ hữu nghị truyền thống, phát triển hợp tác lâu dài, bền vững trong lĩnh vực quân sự và kỹ thuật quân sự; đưa quan hệ quốc phòng giữa hai nước lên tầm cao mới, thiết thực, phù hợp với quan hệ hữu nghị truyền thống và ngang tầm với quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Liên bang Nga./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Người phương Tây cuối cùng được phỏng vấn Bác Hồ

Đó là Giáo sư Charles Fourniau, một người bạn lớn của Việt Nam, qua đời ngày 21/4/2010 ở tuổi 90 tại Paris.

Sinh ngày 17/9/1920, Charles Fourniau đỗ thạc sĩ năm 1949 và tiến sĩ sử học năm 1983 với luận án Cuộc chinh phục Trung Kỳ và Bắc Kỳ 1885-1896 (La conquête de l’Annam et du Tonkin 1885-1896). Phần lớn thời gian được ông dành để nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời cận đại. Ông đã viết nhiều sách như: Trung Kỳ – Bắc Kỳ 1885-1896: Sĩ phu và nông dân Việt Nam đối đầu với cuộc chinh phục thực dân (Annam – Tonkin 1885-1896: Lettrés et paysans viêtnamiens face à la conquête coloniale ) (1989); Việt Nam: Sự thống trị thuộc địa và cuộc kháng chiến dân tộc 1858-1914 (Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914) (2002).

TS. Phan Văn Hoàng (nguyên Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử TP.HCM):

Một đồng nghiệp của báo L’Humanité (cơ quan của Đảng Cộng sản Pháp) báo tin buồn: Giáo sư Charles Fourniau, một người bạn lớn của Việt Nam, qua đời ngày 21/4/2010 ở tuổi 90 tại Paris và được an táng ngày 29/4/2010 tại nghĩa trang La Chaise.

dNhà sử học Charles Fourniau. Nguồn: Internet.

Sinh ngày 17/9/1920, ông đỗ thạc sĩ năm 1949 và tiến sĩ sử học năm 1983 với luận án Cuộc chinh phục Trung Kỳ và Bắc Kỳ 1885-1896 (La conquête de l’Annam et du Tonkin 1885-1896). Phần lớn thời gian được ông dành để nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời cận đại. Ông đã viết nhiều sách như: Trung Kỳ – Bắc Kỳ 1885-1896: Sĩ phu và nông dân Việt Nam đối đầu với cuộc chinh phục thực dân (Annam – Tonkin 1885-1896: Lettrés et paysans viêtnamiens face à la conquête coloniale ) (1989); Việt Nam: Sự thống trị thuộc địa và cuộc kháng chiến dân tộc 1858-1914 (Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914) (2002).

Ông từng chủ trì cuộc hội thảo về lịch sử chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam (tổ chức tại Đại học Provence).

Dưới sự hướng dẫn khoa học của ông, nhiều sinh viên đã trở thành những nhà Việt Nam học có uy tín.

Không chỉ là một nhà sử học uyên thâm, ông còn là một chiến sĩ đấu tranh cho hòa bình.

Là đảng viên Đảng cộng sản Pháp, ông phản đối mãnh liệt cuộc “chiến tranh bẩn thỉu” (la sale guerre) mà thực dân Pháp tiến hành ở Việt Nam sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai.

Sau khi Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam ra đời không bao lâu, ông là một trong những người sáng lập Hội hữu nghị Pháp – Việt (Association d’amitié Franco-Viêtnamienne) (1961), từng làm Tổng thư ký và Chủ tịch của Hội. Năm 1962, Hội xuất bản cuốn Vấn đề Nam Việt Nam (La question du Sud-Vietnam) giúp nhân dân Pháp và thế giới hiểu được cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Miền Nam.

Từ tháng 10/1963 đến tháng 7/1965, ông được báo L’Humanité cử làm phóng viên thường trú ở Hà Nội. Ông tận mắt chứng kiến những trận ném bom dã man của Mỹ và cuộc chiến đấu ngoan cường của nhân dân Việt Nam. Là một nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam, ông nhận thức được truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc ta qua hàng nghìn năm, nên trong những bài báo gửi về Paris, ông khẳng định: Nhân dân Việt Nam cuối cùng sẽ thắng.

Vào thời điểm 1965, nhiều người trên thế giới lo ngại cho một nước nhỏ và nghèo như Việt Nam trước sự tàn phá khủng khiếp của Không lực Hoa Kỳ, nên không phải ai cũng nghĩ như ông. Hiệp định Paris 27/1/1973 và chiến thắng 30/4/1975 cho thấy dự đoán của ông hoàn toàn chính xác.

Ông nhiều lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt, ông là người phương Tây cuối cùng phỏng vấn Bác Hồ hai tuần lễ trước khi Người qua đời (1969). Năm sau, ông cùng Léo Figuères biên tập cuốn Hồ Chí Minh, đồng chí của chúng ta (Hô Chi Minh, notre commarade).

Sau ngày Việt Nam hòa bình và thống nhất, Hội hữu nghị Pháp – Việt tiếp tục hoạt động cho sự hợp tác nhiều mặt giữa hai nước.

Ở tuổi 83, ông cho xuất bản cuốn hồi ký Việt Nam mà tôi đã thấy 1960-2000 (Le Viêtnam que j’ai vu 1960-2000).

dBìa quyển sách Việt Nam mà tôi đã thấy 1960-2000
(Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914).

Charles Fourniau qua đời, nhân dân Việt Nam mất một người bạn thủy chung, giới sử học Việt Nam mất một đồng nghiệp khả kính.

Xin chúc ông an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng.

TS ALAIN RUSCIO (Nhà Việt Nam học của Pháp):

Charles Fourniau là một nhà sử học được nhiều đồng nghiệp biết tên tuổi, nhưng ông còn là một người có niềm tin vững chắc, là nhà sáng lập Hội Hữu nghị Pháp – Việt (AAFV) mà ông từng giữ chức vụ Tổng thư ký trong một thời gian dài. Ông vừa qua đời ở tuổi 89, để lại một khoảng trống mà với thời gian, chúng ta sẽ ngày càng thấm thía.

Trong cuộc chiến tranh của Pháp ở Đông Dương, ông là một chiến sĩ của phong trào Hòa bình, bắt đầu dấn thân vào việc bảo vệ dân tộc Việt Nam dũng cảm. Sau đó, trong cuộc chiến tranh của Mỹ – màn thứ hai của cuộc xâm lược từ phương Tây, ông sang Việt Nam lần đầu tiên. Khi trở về Pháp, ông đã bị dân tộc Việt Nam chinh phục: ông đã có một sự lựa chọn dứt khoát cho cả đời mình.

dBìa quyển sách Trung Kỳ – Bắc Kỳ 1885-1896: Sĩ phu và nông dân Việt Nam đối đầu với cuộc chinh phục thực dân (Annam – Tonkin 1885-1896: Lettrés et paysans viêtnamiens face à la conquête coloniale).

Hai năm sau, ông trở lại đất nước này với tư cách là một nhà báo. Tờ L’ Humanité (cơ quan ngôn luận của Đảng cộng sản Pháp) yêu cầu ông sang đó làm phóng viên thường trú của báo. Ở đó, ông tự hào được gần gũi các nhà lãnh đạo của nước này, được tiếp xúc với Hồ Chí Minh, trở thành một người thân cận của Người và là người nước ngoài cuối cùng được gặp Người (trước khi Người qua đời).

Ông là một trong những người đầu tiên chứng kiến tận mắt việc Mỹ leo thang chiến tranh. Ông thường kể lại bài báo đầu tiên ông gửi về cho báo L’ Humanité năm 1965 sau những trận ném bom ồ ạt của Mỹ. Trong bài báo ấy, ông dự đoán rằng cuối cùng Việt Nam sẽ chiến thắng. Lúc đó, sự chênh lệch về lực lượng (giữa Việt Nam và Mỹ) quá lớn khiến tòa soạn ở Paris phải do dự một lúc trước khi cho đăng. Mười năm sau, Việt Nam thống nhất và độc lập. Chính kiến thức của một nhà sử học đã giúp ông nhìn xa hơn những gì đang diễn ra trước mắt.

Charles Fourniau là một trong những người đầu tiên tự hỏi về nguồn gốc của sức đề kháng độc đáo của dân tộc này (ông rất ghét gọi nước này là một nước “nhỏ”).

Và ông đã tìm thấy câu trả lời từ trong lịch sử Việt Nam, chẳng hạn khái niệm “chiến tranh toàn dân” đã bén rễ từ nhiều thế kỷ qua trong tâm trí người Việt Nam, từ nhà vua đến người làm ruộng, trong vô số những cuộc chiến tranh tự vệ chống lại người Trung Quốc, rồi trong cuộc kháng chiến chống lại sự chinh phục của thực dân Pháp (mà ông lấy làm đề tài cho luận án tiến sĩ của ông). Ông giải thích: Rốt cuộc, ở thế kỷ XX, tướng Giáp chỉ đơn giản sử dụng lại những truyền thống cổ xưa này, đồng thời thêm vào đó nét thiên tài của chính ông.

Ông có một đức tính đặc biệt mà những người ở gần ông đều biết rất rõ: ông là một người truyền đạt kiến thức giỏi, một ông thầy dạy hay. Ông hướng dẫn nhiều thế hệ sinh viên. Họ nghe ông giảng, chia sẻ nhiệt tình của ông và sau đó trở thành những nhà Việt Nam học có tên tuổi.

“Trong nhiều năm, tên tuổi của ông đã gắn liền với cuộc đấu tranh vì tự do của nhân dân Việt Nam”

Marie – George Buffet, Bí thư toàn quốc Đảng cộng sản Pháp

Nhà khoa học này là một người dấn thân. Ông là một nhà thông thái, đồng thời cũng là một nhà tranh đấu. Tất cả ở ông là sự kết hợp hài hòa hai từ này mà ông không muốn tách rời nhau. Ông có thể đọc một bản tham luận xuất sắc tại một cuộc hội thảo quốc tế và ngay trong tuần lễ đó, nhân dân Hội Hữu nghị Pháp – Việt mà ông quý mến, ông đi dự một cuộc họp mặt của làng hay của khu phố.

Là một trí thức cộng sản, ông có những xác tín cơ bản – mà có người cho là quá thẳng – song ông không tìm cách che giấu rằng trong đó có những vấn đề và những hoài nghi mang tính phê phán gay gắt. Có lẽ ông có cả hai nét này nhờ ông hiểu một cách sâu sắc cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh.

Mong bà Paulette và năm người con của ông – mà trước đây ông đã đưa sang Việt Nam cùng ông – cùng các cháu mà ông yêu quý, hãy nhận những lời phân ưu chân thành của tất cả những người yêu mến Charles của họ mà cũng là một phần của chúng tôi.

(Bài đăng trên website http://www.humanite.fr V.H. dịch)

GS Nguyễn Văn Hoàn
:

Tôi quen Fourniau từ năm 1963, năm ông sang Hà Nội làm việc. Tôi quen toàn bộ gia đình, cả vợ và con Fourniau. Sau này, lần nào qua Ý, tôi cũng ghé ở nhà ông ấy. Khi Fourniau về hưu, có một hội nghị khoa học về ông, tôi có viết bài.

dĐại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp Nhà sử học Charles Fourniau (người ngồi bên phải) tại nhà riêng. Ảnh: Nguyễn Văn Kự.

Đó là một con người làm việc nghiêm túc, đến nơi đến chốn, một người Pháp thân tình thực sự với Việt Nam. Một lần, ông đến Vân Kiều, một vùng dân tộc thiểu số ở Vĩnh Linh, họ rất ngạc nhiên thấy một “ông Tây” hiền và tốt đến như vậy. Tôi nói với ông điều đó, và ông, với vẻ mặt buồn buồn, nói: “Nếu tôi có thể gây một ấn tượng tốt cho người Việt Nam (khác với những người Pháp thực dân) thì tôi rất hạnh phúc”.

Tại đại hội Đảng bộ Vĩnh Linh, một đại biểu người Vân Kiều nói: “Ngày xưa, gặp một người Kinh ở trong rừng thôi, tôi đã bỏ chạy. Nay ngồi cạnh một ông Tây mà tôi rất an tâm, tự hào, vì tôi tin tưởng ở Bác Hồ”. Cả hội trường vỗ tay như sấm. Fourniau sung sướng khi nghe dịch lại.

Từ thời sinh viên cho đến lúc mất, Fourniau là một người bạn chí tình của Việt Nam. Từ Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng… đều có “biệt nhỡn” đối với ông. Giới học giả như Trần Huy Liệu, Nguyễn Khánh Toàn, Đặng Thai Mai, Cao Xuân Huy, Phạm Thiều… đều gặp và nói chuyện trực tiếp với ông bằng tiếng Pháp. Ông cũng thân thiết với Võ Nguyên Giáp. Ông thường đến thăm Võ Nguyên Giáp, nói chuyện bằng tiếng Pháp với Võ Nguyên Giáp.

Những tác phẩm sử học của ông rất nghiêm túc về công tác tư liệu. Khi làm phóng viên tại Hà Nội, ông đã tìm các tư liệu về lịch sử cận đại Việt Nam và tôi đã giúp ông tìm các tư liệu lịch sử chưa in như Gia phả Nguyễn Quang Bích và Ngọ Phong thi tập. Sau đó, ông nhờ Cao Xuân Huy, Phạm Thiều giảng lại từng câu. Ông vào thăm chiến khu Ba Đình – Thanh Hóa và ghi âm bài vè Ba Đình rồi dịch toàn văn ra tiếng Pháp. Trung tâm lưu trữ ở Aix en Provence coi ông như người nhà, và ông đã giới thiệu tôi đến đó đọc tư liệu và photocoppy miễn phí.

aBìa quyển sách Việt Nam: Sự thống trị thuộc địa và cuộc kháng chiến dân tộc 1858-1914 (Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914)

Suốt đời ông gắn bó với Hội hữu nghị Việt – Pháp, từ cương vị Tổng thư kí đến cương vị Chủ tịch đại diện lúc cuối đời. Ông thuộc diện người Pháp hết lòng với Việt Nam. Như Henry Martin, Raymon Dienne, Madelain Rifaud…, những người bị bọn xấu cho là cuồng tín. Ông sống suốt đời vì Việt Nam với trái tim chân thành, công khai chống lại cuộc “chiến tranh bẩn thỉu” ở Việt Nam.

Ông là một trong nhóm phóng viên nước ngoài chịu đựng cuộc ném bom của Mỹ xuống Đồng Hới ngày 11/2/1965. Ông đã ở đó cùng với đứa con trai lớn nhất của mình 11 tuổi.

Nhóm phóng viên đó, trong đó có phóng viên Liên Xô, gửi về sứ quán Liên Xô rồi từ đó gửi về Mạc Tư Khoa rồi gửi về Pháp một bức điện: “Chúng tôi đã chứng kiến cảnh Mỹ ném bom Đồng Hới tại Việt Nam, một máy bay Mỹ bị bắn hạ và một phi công Mỹ đã bị bắt”. Vợ ông ở Paris đọc tin ấy phát hoảng: “Ông muốn làm gì thì làm, nhưng ông hãy trả con về cho tôi”. Và ông đã gửi con về Paris qua ngã Praha. Đó là một người “dấn thân” vào cuộc chiến tranh chính nghĩa của Việt Nam.

Một hôm, Thủ tướng Phạm Văn Đồng mời cả nhà ông đến ăn cơm, một lát thì Bác Hồ xuất hiện. Cô con gái lớn của ông xúc động, xin phép hôn Bác Hồ. “Khi Hồ Chí Minh vào phòng, con có cảm tưởng cả phòng sáng rực lên”. Từ đó, cả nhà gọi Bác Hồ là L’oncle Hồ. Ông cũng là người vinh dự được Bác Hồ tiếp trước khi Bác mất một tuần. Đó là điều vừa tự hào vừa đau buồn sâu sắc đối với ông.

Theo Tạp chí Hồn Việt
Vkyno (st)

Bác Hồ và Tổng thống Indonesia

Với người đứng đầu nhà nước Indonesia, Bác thân mật gọi là “Anh cả Karno”.

– Ngày 28/6/1959, trước cuộc mít tinh của 20 vạn đồng bào Thủ đô tại Quảng trường Ba Đình chào mừng Tổng thống Indonesia sang thăm Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ tình cảm của nhân dân Việt Nam đối với nhân dân Indonesia : “Nước xa mà lòng không xa/ Thật là bầu bạn, thật là anh em”.

Với người đứng đầu nhà nước Indonesia mà Bác thân mật gọi là “Anh cả Karno” Bác chia sẻ quan điểm : “Đoàn kết, đoàn kết lại đoàn kết / Khó khăn gì chúng ta cũng nhất định vượt được hết/ Kẻ thù nào chúng ta cũng đánh tan hết/ Thắng lợi to lớn gì chúng ta cũng tranh thủ được hết”.

Bác nhắc lại kỷ niệm: “Mùa Xuân năm nay, lúc Bác sang thăm Indonesia, chẳng những gia đình Tổng thống từ bác gái cho đến các cháu coi Bác như một người anh em trong nhà mà cả Chính phủ, Quốc hội và tất cả nhân dân Indonesia cũng không xem bác là người khách mà xem Bác là người anh em bạn hữu thân thiết của Indonesia.

Bác ở bên ấy mười ngày, đi tỉnh này qua tỉnh khác, hàng triệu nhân dân ra đón Bác, luôn luôn tỏ ra một tình thân rất nồng nhiệt. Tình ấy không chỉ tỏ cho Bác mà còn tỏ cho tất cả nhân dân Việt Nam…”.

 Tháng 6/1959, Bác hướng dẫn Tổng thống Sukarno thăm Bảo tàng Lịch sử QG.Tháng 6/1959, Bác hướng dẫn Tổng thống Sukarno thăm Bảo tàng Lịch sử QG.

Trong buổi tiệc chiêu đãi, tổ chức tối cùng ngày, đáp từ bài phát biểu của tổng thống Sukarno, Bác nói bằng văn vần : “Lặng nghe lời nói như ru/ Tình hữu nghị giữa hai dân tộc muôn thu vững bền/ Chúng ta cùng bước tiến lên/ Thống nhất và độc lập, chúng ta xây dựng cái nền vẻ vang… Lực lượng chủ nghĩa xã hội thì trưởng thành khắp nơi/ Chúng ta cùng nhau xây dựng cuộc đời/ Người người sung sướng, người người ấm no…”.

Ngày 29/6/1959, tiễn đưa Đoàn đại biểu Chính phủ Cộng hoà Indonesia do Tổng thống Sukarno dẫn dầu kết thúc chuyến thăm hữu nghị nước ta, tại sân bay Gia Lâm (Hà Nội) Chủ tịch Hồ Chí Minh quyến luyến đọc mấy vần thơ: “Nhớ nhung trong lúc chia tay/ Tấm lòng lưu luyến cùng bay theo Người/ Người về Tổ quốc xa khơi/ Chúc Người thắng lợi. Chúc Người bình an”.

Indonesia là một quốc gia Đông Nam Á có hoàn cảnh lịch sử giống nước ta. Là một thuộc địa của Hà Lan, tháng 8/1945, Indonesia giành được độc lập từ tay phát xít Nhật thành lập nhà nước Cộng hoà do ông Sukarno đứng đầu. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ và miền Bắc hoàn toàn giải phóng, một trong những quốc gia mà Bác đi thăm sớm nhất là Ấn Độ và Indonesia.

Ngày 26/2/1959, Bác và đoàn Đại biểu Chính phủ ta sang thăm Indonesia được Tổng thống Sukarno đón tiếp rất nồng hậu. Chuyến đi kết thúc vào ngày 11/3/1959.

Bốn tháng sau, ngày 24/6/1959. Tổng thống Sukarno sang thăm Việt Nam và cũng đuợc Bác và Nhà nước Việt Nam tiếp đón rất trọng thể và thân mật. Indonesia là một quốc gia đông dân, đóng vai trò to lớn trong cộng đồng các quốc gia không liên kết và luôn ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam. Nó giải thích sự thân tình vượt ra khỏi nghi thức ngoại giao mà Bác đã giành cho vị nguyên thủ nước bạn.

X&N
Vkyno (st)

Bác Hồ và Quốc vương Campuchia

“Trong thế giới tàn bạo này, Người đã đem lại cho chúng ta cũng như cho biết bao dân tộc khác những lý do để hy vọng”.

 “Được nhân dân kính mến, được bạn hữu khâm phục, được kẻ thù tôn trọng, Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật hoạt động chính trị và là lãnh tụ cao quý nhất của thế kỷ này… Trong thế giới tàn bạo này, Người đã đem lại cho chúng ta cũng như cho biết bao dân tộc khác những lý do để hy vọng” – Quốc trưởng Campuchia phát biểu trong lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngày 27/6/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện cảm ơn tới Thái tử Quốc truởng Campuchia Nôrôđôm Xihanuc (N.Sihanouk) bày tỏ “vô cùng cảm động về việc Ngài và nhân dân Khơme đã gửi tặng thuốc với một tấm lòng hào hiệp…

Cử chỉ cao cả đó là biểu hiện sự ủng hộ anh em của nhân dân Khơme đối với nhân dân Việt Nam… Như Ngài đã nói rất đúng: Nhiệm vụ của chúng ta đối với các thế hệ tương lai là phải cùng nhau củng cố cơ sở của sự hợp tác tin cậy và chân thành trong sự tôn trọng nền độc lập của nhau”.

Nôrôđôm Xihanuc vốn là Thái tử kế vị nhà vua Campuchia Nôrôđôm Xunamarit, năm 1960 mới được bầu làm Quốc trưởng. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp nhà nước ta chỉ có quan hệ với Lực lượng kháng chiến của Sơn Ngọc Minh.

aKhi Bác qua đời, tháng 9/1969, ông Nôrôđôm Xihanuc cùng phu nhân đã tới Hà Nội dự lễ tang.

Sau Hiệp định Giơnevơ (1954), Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tranh thủ mối quan hệ hữu nghị với Chính phủ Vương quốc Campuchia. Bác Hồ luôn bày tỏ sự tôn trọng nền độc lập, chủ quyền lãnh thổ và chính sách trung lập của  Thái tử Quốc trưởng Xihanuc và thường xuyên duy trì mối liên hệ.

Ngày 21/11/1956, lần đầu tiên, Bác gửi điện mừng tới Vua Nôrôđôm Xuramarit và Hoàng hậu Khơme và chúc nhân dân Khơme thu được nhiều thắng lợi mới trong sự nghiệp xây dựng đất nước Khơme, trong việc thực hiện chính sách hoà bình và trung lập, chúc tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt Nam và Khơme ngày càng phát triển.

Ngày 21/6/1960, Bác gửi điện mừng Thái tử Nôrôđôm Xihanuc nhận chức Quốc trưởng Vương quốc Campuchia, trong đó: “Chúc nhân dân Khơme dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Thái tử Quốc trưởng thu được nhiều thắng lợi mới trong việc thực hiện chính sách hoà bình, trung lập, xây dựng đất nước Campuchia ngày thêm phồn vinh, góp phần vào việc củng cố hoà bình ở Đông Dương, Đông Nam Á và thế giới”.

Đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ở miền Nam xâm phạm chủ quyền Campuchia và đánh phá miền Bắc đã khiến Nôrôđôm Xihanuc đứng về phía cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam.

Năm 1965, theo sáng kiến của Xihanuc, Hội nghị Nhân dân Đông Dương được triệu tập. Ngày 6/3/1965 Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới Thái tử Xihanuc, Chủ tịch Hội nghị Nhân dân Đông Dương: “Tôi rất cảm kích được biết qua bức điện của Ngài rằng Thái tử Nôrôdôm Xihanuc, Quốc trưởng Vương quốc Campuchia đã kịch liệt lên án đế quốc Mỹ về hành động khiêu khích mới và hết sức nghiêm trọng của chúng tôi đối với nước VNDCCH và nhấn mạnh sự cần thiết đối với nhân dân các nước Đông Dương phải tăng cường đoàn kết hơn nữa trước nguy cơ mở rộng chiến tranh do đế quốc Mỹ gây nên” và cho rằng thái độ ấy “là bằng chứng tỏ rõ ý chí thống nhất của nhân dân ba nước chúng ta (gồm cả Lào) là kiên quyết đấu tranh chống sự xâm lược của đế quốc Mỹ và ra sức bảo vệ hoà bình, độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ” .

Sau đó Bác chủ động tạo mối liên hệ để tranh thủ sự ủng hộ của Nôrôđôm Xihanuc. Ngày  23/6/1967  trong điện mừng nhân dịp 2 nước đặt quan hệ ngoại giao cấp đại sứ, Bác đánh giá “Đây là một sự kiện lịch sử trong quan hệ giữa VN và Cămpuchia, một nhân tố tích cực trong việc gìn giữ hoà bình ở Đông Duơng và Đông Nam Á”.

Ngày 8/11/1968, chúc mừng nhân kỷ niệm lần thứ 15 Quốc khánh Campuchia, Bác “bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự ửng hộ anh em của Ngài, Chính pủ Vương quốc và nhân dân Khơme.

Chúng tôi khẳng định một lần nữa chính sách trước sau như một của Chính phủ nước VNDCCH là tôn trọng độc lập, chủ quyền, trung lập và toàn vẹn lãnh thổ Vương quốc Campuchia trong biên giới hiện tại.

Chúng tôi tin tưởng rằng ngày nay cũng như này mai,hai nước chúng ta mãi mãi vãn là những người bạn thân thiết… xây dựng mỗi nước theo con đưòng riêng của mình”.

Ngày 7/2/1969 gửi điện cảm ơn Quốc trưởng Nôrôđôm Xihanuc “đã ủng hộ hoàn toàn lập trường chính nghĩa của nhân dân Việt Nam tại Hội nghị bốn bên ở Pari về Việt Nam… Đó là sự cổ vũ to lớn đối với cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước của chúng tôi trong giai đoạn hiện nay, là biểu hiện rực rỡ của t ình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân hai nước chúng ta. Gửi lời chào anh em rất kính trọng”.

Đó cũng là văn kiện cuối cùng, Bác gửi Quốc trưởng Campuchia. Khi Bác qua đời, tháng 9/1969, ông Nôrôđôm Xihanuc cùng phu nhân đã tới Hà Nội dự lễ tang.

Tại đây, ông phát biểu: “Được nhân dân kính mến, được bạn hữu khâm phục, được kẻ thù tôn trọng, Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật hoạt động chính trị và là lãnh tụ cao quý nhất của thế kỷ này… Trong thế giới tàn bạo này, Người đã đem lại cho chúng ta cũng như cho biết bao dân tộc khác những lý do để hy vọng”.

X&N
Vkyno (st)

Bác Hồ ở Ai Cập

Ngày 8/6/1946 còn có một sự kiện nghiêm trọng là vào thời điểm này, Bác nhận được tin ở Sài Gòn thực dân lập Chính phủ “Nam Kỳ tự trị”.

 – Ngày 8/6/1946, trên đường sang thăm nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh dừng lại ở Ai Cập. Máy bay cất cánh từ thành phố Habagna (nay thuộc Pakistan) hạ cánh xuống Le Caire (Cairo) thủ đô Ai Cập từ ngày 7/6/1946.

Ngày hôm sau (8/6) theo phép lịch sự Bác và tướng Salan (người thay mặt Chính phủ Pháp tháp tùng) đến thăm Vua Ai Cập nhưng Ngài đi vắng. Viên quan nội vụ đại thần tiếp, mời cà phê và cùng ngày viên quan này theo phép xã giao lại thăm vị khách từ Việt Nam tới tại nơi nghỉ.

Cũng trong ngày, Bác thăm Viện Khảo cổ Ai Cập và được giáo sư viện trưởng người Pháp Prioton hướng dẫn. Ngày nay Viện đã trở thành một bảo tàng có tiếng trên thế giới, đặc biệt với loại hình hiện vật là xác ướp nên còn được gọi là Bảo tàng Xác ướp. Chiều, Bác và những người cùng đi thăm “thành phố Ma” là khu phụ cận thành phố, nhà mồ của những người đã chết được quy hoạch như một khu phố của người sống.

Sau đó, Bác đi thăm những kim tự tháp nổi tiếng của các pharaon Ai Cập và con Nhân sư khổng lồ với lời nhận xét “Bàn chân nó cao quá đầu người đứng. Đêm trời sáng trăng, trông vào tượng đá, thì thấy có vẻ nghiêm trang và thần bí lắm”. Hôm sau (9/6), Bác lại tiếp tục đi thăm kim tự tháp Sekherat cũng rất nổi tiếng.

Nhớ lại, cách đó 35 năm, tháng 6/1911, Bác đã từng đặt chân lên Cảng Xaít (Port Said) của Ai Cập trên hành trình đầu tiên của tàu Đô đốc Latouche Tréville khởi hành từ Bến Nhà Rồng ngày 5/6. Và 22/9/1946 trên chặng đường trở về nước từ Pháp bằng chiến hạm Dumont d’ Urville, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng mấy Việt kiều theo Bác về nước như bác sĩ Trần Hữu Tước, kỹ sư Phạm Quang Lễ (Trần Đại Nghĩa)… lại lên cảng Xait thăm.

Có thể nói, trong đời hoạt động của mình, Bác rất thích thăm thú các danh lam thắng cảnh và khảo sát đời sống của các quốc gia. Bác tham gia các nhóm du lịch đi nhiều nước và thăm nhiều di tích lịch sử. Ngay trước khi đến Ai Cập, lúc dừng chân ở Ấn Độ, Bác cũng thăm Lâu đài Delhi Cate, Lăng tẩm của Hoàng hậu Taj Mahan của thế kỷ XVII.

Ngày 8/6/1946 còn có một sự kiện nghiêm trọng là vào thời điểm này, Bác nhận được tin ở Sài Gòn thực dân lập Chính phủ “Nam Kỳ tự trị”. Chủ tịch Hồ Chí Minh chất vấn tướng Salan cùng đi: “Tại sao không báo cho tôi biết tin này trước khi lên đường? Thật là một âm mưu phi pháp! Tướng quân này, các vị đừng biến Nam Bộ thành một thứ Alsace-Loren (vùng đất của Pháp bị cắt cho Đức trong Đại chiến I) mới, nếu không chúng ta đi đến cuộc chiến tranh trăm năm đấy !…”.

X&N
Vkyno (st)

Bác Hồ và những vị tướng đầu tiên của Quân đội ta

Lễ tấn phong các vị tướng lẽ ra tổ chức vào ngày 27/5/1948, nhưng vì nước lũ to nên phải lùi sang ngày hôm sau.

– Ngày 28/5/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp của Hội đồng Chính phủ và một sự kiện quan trọng: lễ tấn phong quân hàm Đại tướng cho Võ Nguyên Giáp. 

Từ ngày 20/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh phong các vị tướng lĩnh đầu tiên của Quân đội ta, gồm: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trung tướng Nguyễn Bình và các Thiếu tướng: Nguyễn Sơn, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiến Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa và Trần Tử Bình.

 Bác Hồ và đại tướng Võ Nguyên Giáp chụp nhân kỷ niệm ngày thành lập QQĐNDVN năm 1962.jpg (76KB)Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp chụp nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam năm 1962

Lễ tấn phong lẽ ra được Chính phủ tổ chức vào ngày 27/5, nhưng vì nước lũ to nên các đại biểu từ các nơi trên chiến khu về chậm phải lùi sang ngày hôm sau. Hồi ký của Bộ trưởng Lê Văn Hiến ghi lại:

“Trong một căn nhà dựng bên cạnh suối lớn, dựa một bên núi, cây cối che phủ kín… Một phòng trưng bày đặc biệt. Có bàn thờ Tổ quốc, chung quanh băng đỏ ghi các khẩu hiệu: ”Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”, “Thống nhất độc lập nhất định thành công”. Sự trưng bày đơn giản mà trang nghiêm.

Đến giờ làm lễ, Hồ Chủ tịch và cụ Trưởng ban Thường trực Quốc hội lên đứng 2 bên bàn thờ, toàn thể nhân viên Chánh phủ đứng sắp hàng trước bàn thờ. Hồ Chủ tịch tay cầm sắc lệnh gọi Võ Nguyên Giáp lên trước bàn thờ, rồi Cụ nín lặng, sụt sùi rơi nước mắt mà không nói được tiếng gì…

Giây lâu, Hồ Chủ tịch mới cất được tiếng mà tuyên bố: “Nhân danh Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trao cho chú chức vụ Đại tướng để chú điều khiển binh sĩ làm tròn sứ mạng mà quốc dân phó thác cho”.

Võ Nguyên Giáp nhận sắc lệnh… Cụ Trưởng ban Thường trực thay mặt Quốc hội tuyên bố mấy lời. Ông Phan Anh thay mặt Chính phủ nói mấy câu chúc mừng. Cuối cùng, Tạ Quang Bửu, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nhân danh bộ đội tỏ lời mừng của toàn thể bộ đội và nêu cao tinh thần phấn đấu anh dũng dưới sự chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Sau cùng Võ Nguyên Giáp đứng lên cảm ơn Hồ Chủ tịch, Quốc hội và Chánh phủ và tuyên bố sẽ tiếp tục nỗ lực làm tròn nhiệm vụ để đem lại độc lập và thống nhất cho đất nước…

Sau khi hết lễ, ai nấy ngồi chung quanh Hồ Chủ tịch và nghe Cụ nói sự xúc cảm của Cụ trong buổi lễ… 12 giờ đêm, xong các cuộc hội nghị Hồ Chủ tịch từ giã chúng mình ra về và dặn ai nấy sáng mai nên phân tán cho sớm…”.

Khi sự kiện này được công bố trên Đài Tiếng nói Việt Nam, có phóng viên phương Tây hỏi Bác việc phong tướng này được tiến hành dựa trên tiêu chuẩn nào? Bác trả lời giản dị: “Đánh thắng đại tá thì phong đại tá. Đánh thắng thiếu tướng, phong thiếu tướng. Đánh thắng trung tướng, phong trung tướng. Thắng đại tướng, phong đại tướng!”.

X&N
Vkyno (st)

Gia đình lớn của Bác Hồ

Mình chẳng phải thần thánh gì, cũng người như tất cả mọi người. Nhưng với hoàn cảnh này, còn điều kiện nào nghĩ đến gia đình.

– Bác chưa bao giờ lập gia đình. Bác có hàng nghìn người con là những trẻ em Việt Nam. Bây giờ Bác nghĩ lại thấy đúng. Thế nhưng, Bác vẫn giữ trong lòng tình yêu với người con gái Bác yêu… Bác đã phải làm như thế là vì cách mạng và Bác không hề hối tiếc…

Ngày 24/5/1948, Nhật ký của Bộ trưởng Lê Văn Hiến ghi lại buổi gặp Bác trước ngày họp Hội đồng Chính phủ: “Trời càng về đêm càng mưa lớn. Chúng mình phải ở lại kéo dài câu chuyện với Cụ trong lúc chờ đợi hết mưa. Cụ ân cần thăm hỏi gia đình của mọi người.

Đến lúc chúng mình vui câu chuyện nhắc đến gia đình Cụ, Cụ phì cười và nói: “Mình chẳng phải thần thánh gì, cũng người như tất cả mọi người. Nhưng với hoàn cảnh này, còn điều kiện nào nghĩ đến gia đình. Ý kiến các chú thế nào?”.

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi tại Phủ chủ  tịchBác Hồ với các cháu thiếu nhi tại Phủ chủ tịch

Chúng mình cũng chỉ phì cười mà nói: “Thật là khó”, không thể có ý kiến gì khác. Cụ cười và nói tiếp: “Gia đình nhỏ không thể được thì ta cứ lo gia đình lớn đi vậy”.

Nói về gia đình riêng, trước đó, vào tháng 1/1947, trong bức điện chia buồn với Bác sĩ Vũ Đình Tụng, Bác Hồ tâm sự: “Thưa Ngài, tôi được báo cáo rằng: con giai của Ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc. Ngài biết rằng, tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột vậy…”

Ngày 26/4/1960, nhận được bức thư của một nữ công dân Liên Xô, chị Ekaterina Iosipdovna chúc mừng ngày Quốc tế phụ nữ 8/3  gửi tới “vợ đồng chí Hồ Chí Minh”, Bác đã thân mật viết thư cảm ơn trong đó có đoạn: “Tôi chưa có gia đình riêng. Gia đình của tôi là đại gia đình các dân tộc Việt Nam”.

Năm 2007,  Đoàn làm phim của Hội Điện ảnh Việt Nam gặp Bà Madelein Riffaud, một nhà báo được Bác Hồ quý mến, gặp lần đầu tại Pháp (1946), sau đó bà sang Việt Nam nhiều lần trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Trong trả lời phỏng vấn bà đã kể lại câu chuyện Bác tâm sự với bà khi an ủi việc bà phải chấp nhận từ bỏ ý định hôn nhân với nhà văn Nguyễn Đình Thi.

Bà kể lại: “Bác gọi tôi đến và nói với tôi: Cháu không phải là người duy nhất hy sinh tình yêu của mình cho cách mạng… Khi Bác ở Pháp thì cháu còn chưa ra đời. Cháu yêu quý, cháu có biết không, Bác cũng yêu và có những tình cảm như cháu bây giờ. Bác là con người như những người khác thôi. Bác đã hy sinh tình yêu của mình cho cách mạng Việt Nam cũng như cháu hy sinh tình yêu của cháu bây giờ.

Cháu thấy đấy, Bác chưa bao giờ lập gia đình. Bác có hàng nghìn người con là những trẻ em Việt Nam. Bây giờ Bác nghĩ lại thấy đúng. Thế nhưng, Bác vẫn giữ trong lòng tình yêu với người con gái Bác yêu… Bác đã phải làm như thế là vì cách mạng và Bác không hề hối tiếc…” (Bản dịch theo phim của Hội Điện ảnh VN)

X&N
Vkyno (st)

Bác Hồ với “Binh pháp Tôn Tử”

Phải chăng, trước tình thế nguy cơ chiến tranh đang trở nên không tránh được, Bác bắt đầu viết hàng loạt bài bàn về “Binh pháp Tôn Tử”.

– Ngày 17/5/1946,  báo “Cứu Quốc” bắt đầu đăng tải loạt bài “Binh pháp Tôn tử”, ký bút danh là Q.Th. Đây chính là bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh thường ký dưới các bài bàn về nội dung quân sự.

Phải chăng, trước tình thế nguy cơ chiến tranh đang trở nên không tránh được, Bác bắt đầu viết hàng loạt bài bàn về “Binh pháp Tôn Tử” để mang lại những tri thức cơ bản cho người dân và những cán bộ quân đội còn rất non trẻ?

Tháng 5/1959, Bác thăm Khu tự trị Tây Bắc trao tăng bức trướng kỷ niệm của nhân dân Thủ đôTháng 5/1959, Bác thăm Khu tự trị Tây Bắc trao tăng bức trướng kỷ niệm của nhân dân Thủ đô

Tôn Tử (hay Tôn Vũ) là một nhà lý luận quân sự cổ đại nổi tiếng ở Tung Quốc sống vào cuối thế kỷ VI trước công nguyên và là tác giả một bộ binh thứ thuộc loại sớm nhất nhân loại…

Trong bài đầu tiên này, Bác giới thiệu: “Theo các nhà nghiên cứu “binh pháp” của Tôn Tử ở Nhật Bản thì Tôn Tử đã dưạ vào 10 nguyên lý chính để sáng tạo ra binh pháp “ và nguyên lý thứ nhất – Phải biết xét đoán trước”.

Đề cập tới nguyên lý thứ nhất này của Binh pháp Tôn Tử, tác giả nhấn mạnh đến việc dùng binh phải xem xét 5 điều kiện là: đạo nghĩa, thiên thời, địa lợi, tướng và pháp để kết luận rằng: “Năm điều nói trên, người làm tướng phải biết rõ. Thế tức là biết mình. Nhưng biết phải cố làm. Làm đuợc thì sẽ có đủ nhân hoà, địa lợi, thiên thời, tướng giỏi, quân nhu đầy đủ để nắm chắc phần thắng trong lúc chiến tranh”.

Cùng trên số báo này, Bác còn viết bài: “Phương pháp tác chiến” để đưa ra kết luận: “Cho nên người làm tướng có mưu trí bao giờ cũng lo lắng đến lợi, đến hại. Lo đến lợi mới có đủ tin tưởng làm trọn được nhiệm vụ. Lo đến hại mới tìm mưu kế để giải trừ đựoc gian nguy”.

Tiếp đó, trên nhiều số báo “Cứu Quốc”, Bác tiếp tục giới thiệu các nội dung của “Binh pháp Tôn Tử”. Như các bài “Muốn biết người phải thế nào ?” (24/5/1946) bàn về hoạt động gián điệp và các loại gián điệp để đi đến kết luận: “Nhiệm vụ của gián điệp thực nặng nề. Làm được nhiệm vụ đó, thắng trận rất dễ dàng”.

Bài “Phương pháp dùng gián điệp” (CQ 31/5/1946) kết thúc bằng nhận định: “Đặt được kế hoạch xác đáng tức là biết mình, biết người, đánh trăm trận được trăm trận”.

Bài “Đặt kế hoạch tác chiến” (CQ 7/6/1946) bàn về vấn đề chiến lược chiến thuật; “Vấn đề quân nhu và lương thực” (CQ 21/6/1946); “Bàn về kế hư thực” (27/9/1946); “Phương pháp đánh giữ và tiến thoái” (CQ 4/10/1946)…

Xen kẽ với các bài giới thiệu “Binh pháp Tôn Tử”, Bác cũng còn cho đăng các bài của mình về một số vấn đề như: “Chiến tranh tư tuởng” (CQ 11/10/1946), “Bàn về địa hình” (CQ 25/10/1946), “Địa thế” (CQ 8/11/1946), “Phương pháp chiến đấu và hành quân trên các địa hình” (CQ 15/11/1946)…

X&N
Vkyno (st)

Bác Hồ viết Di chúc

Ngày 10/5/1965, Bác Hồ bắt đầu khởi thảo tài liệu được ghi chú “Tuyệt đối bí mật”. Bản thảo đầu tiên hoàn thành vào ngày 15/5/1965.

– Ngày 10/5/1965, Bác Hồ bắt đầu khởi thảo tài liệu được ghi chú “Tuyệt đối bí mật”. Đó là Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bản thảo đầu tiên hoàn thành vào ngày 15/5/1965. Kể từ đó, mỗi năm, vào khoảng thời gian trước ngày sinh nhật, văn kiện này được Bác đem ra xem lại và hoàn thiện như một sự chủ động chuẩn bị một cách thanh thản và cẩn trọng cho việc ra đi mãi mãi.

Ngày 11/5/1968, Bác tiếp tục đem “Di chúc” ra sửa chữa và hoàn chỉnh đoạn viết về công tác chỉnh đốn Đảng:  “Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình…”.

Ngày 10/5/1955 Bác nói chuyên tại Hội nghị bàn về công tác hộ đê toàn miền Bắc.Ngày 10/5/1955 Bác nói chuyện tại Hội nghị bàn về công tác hộ đê toàn miền Bắc.

Ngày 13/5/1968,  Bác lại bổ sung và viết thêm vào “Di chúc” phần chăm lo đời sống của dân  “Trong bao năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân, đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ, ra sức góp của, góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn, gian khổ. Nay ta đã hoàn thành thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp để cho đồng bào hể hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”.

Ngày 10/5/1969, Bác dự họp Hội nghị Trung ương 16 và phát biểu về nhiều nội dung quan trọng, trong đó nhắc nhở “phải giữ tinh thần độc lập, tự chủ và đoàn kết quốc tế”. Sau cuộc họp, Bác xem lại lần nữa bản thảo và sửa tiếp đoạn mở đầu của “Di chúc”. Hồi ức của Vũ Kỳ, thư ký của Bác cho biết :

“Hôm nay, Bác xem xét kỹ lại toàn bộ các bản viết trong 4 năm qua, nhưng chỉ chữa thêm 3 chỗ ở phần mở đầu. Trong câu “nhưng tinh thần, đầu óc vẫn sáng suốt bình thường”, Bác khẳng định lại bằng câu “nhưng tinh thần, đầu óc vẫn còn sáng suốt”… Trong câu “Khi người ta đã ngoài 70 tuổi…”, Bác bỏ chữ “tuổi” và thay vào chữ “xuân”. Bác dùng chữ “sẽ” thay cho chữ “phải” trong câu “phòng khi tôi phải đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác”.

Ngày 11/5/1969, sau khi ngồi sửa Di chúc, Bác gặp và trao đổi với Đại tướng Võ Nguyên Giáp về nội dung sẽ nói với Hội nghị đại biểu cao cấp toàn quân. Trong bài nói ngày 13/5/1969 Bác đưa ra nhận định: “Thế giặc Mỹ thua đã rõ ràng, nhất định chúng sẽ hoàn toàn thất bại. Vì độc lập tự do, bộ đội ta, nhân dân ta không sợ hy sinh, gian khổ…” và chỉ thị: “Phải xây dựng lực lượng thật tốt, chất lượng thật cao. Trần Hưng Đạo xưa từng nói “Quân cần tinh, không cần nhiều”. ” Phải cố gắng học tập và luôn luôn gương mẫu về đạo đức cách mạng”.

Từ đó cho đến ngày sinh nhật lần cuối (19/5/1969), ngày nào Bác cũng dành thời giờ đọc lại Di chúc của mình và ngày hôm sau (20/5/1969) Chủ tịch Hồ Chí Minh xem lại bản Di chúc lần cuối cùng trước khi xếp vào phong bì cất đi “phòng khi tôi sẽ đi thăm cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột”. Điều cũng đáng nói là trong nhật ký của Vũ Kỳ cho biết, thời gian Bác chọn để ngồi viết và sửa Di chúc thường vào khoảng từ 9 đến 10h sáng, và Bác qua đời vào ngày 2/9/1969 vào lúc 9h47.

X&N
Vkyno (st)

Bác Hồ với vị Thượng thư Bộ Hình của Nam triều

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giới thiệu 3 vị giữ những cương vị này đều là những trí thức được đào tạo của chế độ cũ và là những nhân sĩ.

– Ngày 3/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 59 về việc bổ nhiệm những trí thức lớn được đào tạo dưới chế độ cũ như cụ Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn, Vũ Trọng Khánh vào Hội đồng Phúc thẩm đặt tại Bộ Nội vụ theo một sắc lệnh số 40 ký ngày 29/3/1946 về việc bảo vệ tự do cá nhân.

Sắc luật về việc bảo vệ tự do cá nhân được ký cho thấy quyết tâm của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới ra đời từ trong một xã hội phong kiến và thuộc địa nhằm xây dựng một nhà nước pháp chế.

Sắc luật này quy định những điều khoản rất cụ thể về việc bắt người và giam cứu phải được thực thi đúng với quy trình pháp luật. Những quyền tự do cơ bản của người dân phải được bảo vệ.

10-1946 HCM tiếp đại biểu nhân sĩ,trí thức yêu nước dự kỳ họp thứ 2 QH khóa I tại Bắc bộ phủ,H (69KB)Tháng 10/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đại biểu nhân sĩ, trí thức yêu nước dự kỳ họp thứ 2 QH khóa I tại Bắc Bộ phủ.

Riêng đối với những tình thế đặc biệt đòi hỏi “phương pháp đề phòng đặc biệt”  thì mọi quyết định của người đứng đầu cơ quan hành chính phải được trình lên một Hội đồng Thẩm phán Phúc thẩm được thành lập trong Bộ Nội vụ chuẩn y hay bác bỏ.

Hội đồng này còn có thẩm quyền đưa ra xem xét lại các vụ án và các trường hợp bắt giữ hoặc giam cầm. Hội đồng này gồm một đại biểu của Chính phủ; 1 thanh tra hành chính và 1 thẩm phán đều do Bộ Nội vụ đề nghị và sắc lệnh công nhận.

Điều đáng nói là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giới thiệu 3 vị giữ những cương vị này đều là những trí thức được đào tạo của chế độ cũ và là những nhân sĩ. Cụ Huỳnh Thúc Kháng là một phó bảng, từng làm báo và hoạt động chính trị, lúc này là Bộ trưởng Nội vụ; ông Vũ Trọng Khánh là một luật gia đào tạo dưới chế độ thực dân và đặc biệt là cụ Bùi Bằng Đoàn từng là Thượng thư Bộ Hình của Nam Triều.

Trường hợp của Bùi Bằng Đoàn có thể coi là một điển hình của nguyên lý “cầu hiền tài” của Bác. Ngay khi Cách mang mới thành công, vị Chủ tịch nước Việt Nam độc lập đã đưa ra lời kêu gọi “Tìm người tài đức”.

Bác đã giao cho Thư ký Vũ Đình Huỳnh đến gia thất cụ Bùi gửi “lời tâm tri”mời ra giúp việc nước. Cụ Bùi có ý e ngại vì mình đã từng là Thượng thư của chế độ đã bị cách mạng đánh đổ, nhưng khi đón ý của Bác cho rằng cụ Bùi là bậc đại thần “triều ẩn lập thân hành thiện” thì người được mời đáp lại ràng “Thính vũ thanh cảm ứng nghinh thu” và nhận lời đến gặp vị Chủ tịch nước vào ngày 22/11/1945.

Ngay ngày hôm sau, 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 64 thành lập Ban Thanh tra đặc biệt, có quyền hạn rất lớn chuyên xử lý các vụ việc liên quan đến các quan chức vi phạm pháp luật. Cụ Bùi Bằng Đoàn và nhà thơ Cù Huy Cận đã được Bác bổ nhiệm vào chức vụ này vì “đó là những người có danh tiếng” trong dân.

Sau việc bổ nhiệm vào Hội đồng Thẩm phán phúc thẩm, cuối năm 1946, tại Kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khoá I, cụ Bùi Bằng Đoàn được cử làm Trưởng ban Thường trực của Quốc hội… và tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc cho đến khi qua đời.

Cũng trong một ngày đầu tháng 5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi đọc báo trong phòng làm việc tại Bắc Bộ phủ để các hoạ sĩ Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Thị Kim sáng tác các tác phẩm hội hoạ và tạo hình vị Chủ tịch nước Viêt Nam Độc lập.

X&N
Vkyno (st)

Bác Hồ với Ngày Quốc tế Lao động

Ngày 1/5/1924, Nguyễn Ái Quốc có mặt trong Ngày Quốc tế Lao động diễn ra trên Hồng trường theo lời mời của Thành uỷ Moscow.

– Ngày 1/5/1920, báo cáo của mật thám ghi nhận Nguyễn Ái Quốc tham dự mít tinh kỷ niệm Ngày Lao động Quốc tế cùng Nhóm đảng viên Xã hội Pháp và tham luận trên diễn đàn đòi ngưng gửi người sang thuộc địa.

Ngày 1/5/1924, Nguyễn Ái Quốc có mặt trong Ngày Quốc tế Lao động diễn ra trên Hồng trường theo lời mời của Thành uỷ Moscow và Ban Thư ký của Quốc tế Cộng sản.

Ngày 1/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi trong đó xác nhận: “Ở nước ta lần này là lần đầu  mà đồng bào ta, anh chị em lao động ta được tự do đón tiếp ngày 1/5…

Đối với chúng ta nó là một ngày để tỏ cho thế giới biết rằng ngày nay chẳng những là ngày tết lao động, mà nó còn là ngày toàn dân đoàn kết. Đoàn kết để giữ vững tự do dân chủ. Đoàn kết để kiến thiết nước nhà. Đoàn kết để xây dựng một đời sống mới”.

Ngày 1/5/1952 Bác cùng các đại biểu dự ĐH CSTĐ và cán bộ gương mẫu toàn quốc.Ngày 1/5/1952 Bác cùng các đại biểu dự ĐH CSTĐ và cán bộ gương mẫu toàn quốc.

Ngày 1/5/1948, Bác Hồ ra “Lời kêu gọi thi đua yêu nước”, trong đó có đoạn: “Nước ta kinh tế lạc hậu, nhưng lòng yêu nước và chí quật cường chẳng kém ai. Nay muốn tự cung tự cấp, tự túc, đi kịp người thì chúng ta phải đi mau. Vì vậy, sĩ, nông, công, thương, binh, gái trai già trẻ, toàn thể quốc dân ta, vô luận ở địa vị nào, làm công việc gì, phải ra sức tham gia cuộc Thi đua yêu nước, tức là tăng gia sản xuất”.

Ngày 1/5/1951, trong lời kêu gọi nhân ngày Quốc tế Lao động, Bác Hồ xác định “Trọng tâm thi đua là: Quân đội thi đua giết gịăc lập công. Công nhân thi đua tăng gia sản xuất. Nông dân thi đua sản xuất lương thực. Trí thức thi đua sáng tác, phát minh. Cán bộ thi đua cần, kiệm, liêm, chính. Toàn dân thi đua tích cực tham gia kháng chiến”.

Cùng ngày, báo “Nhân Dân” đăng bài “Đảng Lao động Việt Nam với lao động trí óc” với bút danh C.B., Bác nêu rõ: “Lao động trí óc cần được khuyến khích giúp đỡ phát triển tài năng… trí thức ta cần cải tạo tư tưởng và sửa đổi lề lối làm việc”.

Ngày 1/5/1958, Bác đưa ra “lời kêu gọi nhân Ngày Quốc tế Lao động” khẳng định: “Hôm nay cùng với nhân dân lao động toàn thế giới, chúng ta nhịêt liệt chào mừng Ngày 1 tháng 5 trong lòng đầy tin tưởng và phấn khởi quyết tâm vượt mọi khó khăn, tiến lên làm tròn những nhiệm vụ mới… Ngày 1 tháng 5 năm nay là một ngày đoàn kết, đấu tranh, tin tưởng và phấn khởi”.

Ngày 1/5/1964, nhân Ngày Quốc tế Lao động, Bác gửi điện khen ngợi thanh niên trên công trường khôi phục đường sắt Thanh Hoá – Vinh  trong đó có việc xây lại Cầu Hàm Rồng.

X&N
Vkyno (st)