Tag Archive | Hồ Chí Minh

Người chuyển thể Di chúc Bác Hồ thành thơ

“Trằn trọc ngày đêm viết một mình/Chuyển lời Di chúc Hồ Chí Minh/Thành thơ dễ đọc và dễ hiểu/Học tập làm theo tốt cho mình”. Ðây là những vần thơ mở đầu tập thơ Di chúc Bác Hồ con tạc thành thơ của ông Trương Văn Mão (trong ảnh), 75 tuổi ở xã Tây Lương, huyện Tiền Hải (Thái Bình).

lam-tho-ve-bac
Ông Trương Văn Mão

Trong chuyến công tác ở huyện miền biển Tiền Hải, tình cờ chúng tôi được nghe một câu chuyện rất cảm động, ý nghĩa về một ông lão đã chuyển thể toàn bộ Di chúc của Bác Hồ thành ba thể loại thơ: Lục bát, bát ngôn và tự do.

Ðồng chí cán bộ Tuyên giáo huyện Tiền Hải hồ hởi đưa tôi đi tìm gặp người có khả năng đặc biệt này. Con đường từ trung tâm huyện vào nhà ông Mão được rải nhựa, đổ bê- tông sáng bóng dài khoảng hơn 3 km. Nhà ông nằm ở cuối thôn. Khi chúng tôi đến, ông Mão đang cặm cụi chăm sóc, cắt tỉa vườn cây cảnh. Cây cảnh của ông có đủ loại với nhiều kiểu dáng. Ở giữa vườn cây là một chiếc chòi lá để ngồi uống nước, cảm giác rất thú vị. Năm nay, ông Mão đã bước sang tuổi 75, sức khỏe tốt và minh mẫn. Ông nói, mình già rồi, có người đến chơi như hôm nay nên cảm thấy rất phấn khởi. Sau tuần trà nước, người đặc biệt kể cho tôi nghe về mối lương duyên này. Trước đây, ông công tác ở Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tiền Hải. Năm 1993, về hưu, có nhiều thời gian hơn nên ông thường xuyên trồng, chăm sóc cây cảnh, làm thơ, đọc tư liệu về người lãnh tụ kính yêu của dân tộc.

Làm thơ từ hồi còn nhỏ, ngày trước, thơ của ông chủ yếu viết về đề tài thiên nhiên, quê hương, đất nước. Thời gian còn công tác ở ngân hàng, ông đã nung nấu ý định viết thơ về Bác Hồ, về Ðảng, nhưng do thiếu tư liệu và nhiều lý do khác nữa nên đến bây giờ mới thực hiện được. Năm 2007, thấy báo chí tuyên truyền đậm nét về việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, thế là ông tìm đọc sách, báo, tư liệu về Bác Hồ.

Năm 2010, ròng rã 20 ngày liên tục ông đã viết xong tập trường ca Bảy mươi chín mùaXuân của Bác Hồ với 240 câu thơ. Ở tập thơ này, ông trình bày thành ba chương: Chương một làBối cảnh lịch sử gia đình Bác, chương hai là Tư tưởng và đạo đức của Người, chương ba là Lời ước nguyện. Ðọc những vần thơ ông viết ở tập trường ca thật tình cảm, da diết. Ở chương một, có đoạn ông viết: “Quê hương xứ Nghệ miền Trung/Ðịa linh nhân kiệt đã sinh ra Người/Ngay từ khi thủa thiếu thời/Bác phải sống giữa cuộc đời tối tăm”… Với chương ba Lời nguyện ước, ông viết “Xa Bác bốn chục năm trời/Làm sao viết hết cuộc đời Bác đây/Tôi chưa gặp Bác một ngày/Nhưng hình bóng Bác dâng đầy trong tim”.

Nối tiếp mạch nguồn cảm hứng từ tập thơ đầu tiên về Bác, ba tháng mùa Xuân 2012, ông Mão đã hoàn thành xong tập thơ “Di chúc Bác Hồ con tạc thành thơ”. Có thể thấy rằng, ở tập thơ này, ông Mão nặng lòng về Bác, về Ðảng hơn bao giờ hết. Ông nói, nếu không hoàn thành được tập thơ “Di chúc Bác Hồ con tạc thành thơ” thì bản thân luôn thấy mình như nợ Bác, nợ Ðảng và nhân dân cả nước rất nhiều. Ở tập thơ thứ hai này được tác giả trình bày thành ba chương với 750 câu di chúc, ngôn ngữ thể hiện rất tài tình, súc tích. Chương một, những lời tâm huyết với Bác Hồ, thuộc thể thơ lục bát. Chương hai, Di chúc của Bác Hồ, thể thơ bát ngôn. Chương ba, tấm gương đạo đức Bác Hồ, thể thơ tự do.

Ông Mão chia sẻ, sau khi hoàn thành hai tập thơ về Bác, được sự giúp đỡ tận tình của chính quyền địa phương, nhất là sự đóng góp, ghi nhận của GS, TS Hoàng Chí Bảo, chuyên gia cao cấp – Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, chỉ trong thời gian ngắn, bản trường ca Bảy mươi chín mùa Xuân của Bác Hồ đã chính thức ra mắt bạn đọc gần xa, được nhân dân đón đọc sôi nổi. Ông Mão dự định, thời gian tới sẽ tiếp tục ra mắt bạn đọc tập thơ “Di chúc Bác Hồ con tạc thành thơ”.

Trước tình cảm đặc biệt chân thành mà ông Mão dành cho Ðảng, Bác Hồ, GS, TS Hoàng Chí Bảo cho biết, người viết bản trường ca đã thể hiện sự hiểu biết sâu sắc của mình về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng và đạo đức cao quý của Bác Hồ. Không những thế, bản trường ca còn là tiếng nói từ đáy lòng tác giả, giản dị mà sâu lắng, toát lên tình cảm yêu thương, kính trọng và ngưỡng mộ đối với Bác Hồ. Tập thơ còn thể hiện mong muốn thiết tha được học tập và làm theo lời Bác, không chỉ tác giả mà cả chúng ta. Vì lẽ đó, những điều tâm huyết của tác giả thể hiện qua bản trường ca này chắc chắn sẽ nhận được nhiều tình cảm của anh em, bạn bè, đồng chí… gần xa ở mọi miền Tổ quốc.

Long Thành
Theo http://www.nhandan.com.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngăn ngừa, khắc phục những thói hư tật xấu của cán bộ, đảng viên

Sau đợt tập trung tiến hành tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, toàn Đảng và từng cán bộ, đảng viên đang từng bước tự khắc phục những bất cập, yếu kém, thói hư tật xấu để xứng đáng là người chiến sĩ tiên phong trong công cuộc đổi mới đất nước. Để tạo thêm niềm tin, vững tâm tiến lên “chiến thắng mọi tính xấu trong mình ta” (1) theo lời kêu gọi của Bác Hồ, chúng ta hãy cùng nhau ôn lại những lời dạy chí tình, sâu sắc của Người đối với cán bộ, đảng viên trong các giai đoạn phát triển của cách mạng.

Bác Hồ kính yêu là lãnh tụ lỗi lạc của toàn dân tộc, là người sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng, nhà nước ta, lãnh đạo công cuộc giữ nước và dựng nước. Người đặc biệt quan tâm vấn đề xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, những người đem đường lối của Đảng đến quần chúng và tập hợp, tổ chức quần chúng tiến hành cách mạng. Theo Người, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc” (2) “công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém. Vì vậy Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta” (3).

Suốt cuộc đời Người, mặc dù phải quán xuyến trăm công ngàn việc cách mạng, Bác vẫn luôn là “người làm vườn” cần mẫn, ra sức chăm chút “vun trồng những cây cối quý báu” của Đảng, Nhà nước và của nhân dân ta. Một trong những bài giảng quan trọng của Người truyền đạt lớp cán bộ đầu tiên năm 1927 tại hải ngoại là phải thường xuyên trau dồi “tư cách một người cách mệnh” (4). Bản thân từng người phải rèn luyện ra sao; đối với đồng nghiệp, đồng chí, đối với nhà nhân dân, đối với công việc phải như thế nào?…

Ngay sau khi đọc “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được nửa tháng, ngày 17-9-1945, trong Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà (Nghệ An), Bác căn dặn: “Cán bộ ta nhiều người cúc cung tận tụy, hết lòng trung thành với nhiệm vụ, với chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có nhiều người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành, độc đoán, hoặc là vì công vinh tư. Thậm chí dùng phép công để báo thù tư, làm cho dân oán đến Chính phủ và đoàn thể. Những khuyết điểm trên, nhỏ thì làm cho dân chúng hoang mang, lớn thì làm cho nền đoàn kết lay động. Chúng ta phải lập tức sửa đổi ngay…” (5). Giáo dục cách làm người, làm cán bộ và phê bình, phê phán những thói hư tật xấu trong đội ngũ cán bộ, đảng viên là những việc làm thường xuyên thắm tình đồng chí, đòi hỏi phải tiến hành bền bỉ, liên tục. Gần 2 tháng sau khi thành lập chính quyền nhân dân trong cả nước, ngày 17-10-1945, trong Thư gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, Bác nêu 6 căn bệnh của cán bộ, công chức thời bấy giờ. Đó là ‘trái phép”, do tư thù tư oán mà bắt bớ trái phép, tịch thu bừa bãi; “cậy thế”, cho mình là người của ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được vậy; “hủ hóa”, muốn ăn ngon mặc đẹp, chi tiêu ngày càng xa xỉ, lấy của công dùng vào việc tư; “tư túng”, kéo bè kéo cánh, không tài năng gì cũng đưa vào chức này chức nọ; “chia rẽ”, bênh vực lớp này chống lại lớp kia; “kiêu ngạo”, lúc nào cũng lên mặt “quan cách mạng”, coi khinh quần chúng. Người phê phán gay gắt những “lầm lỗi rất nặng nề nói trên”, đồng thời chỉ rõ: “chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa” (6). Sự nghiệp cách mạng phát triển, công việc ngày càng nhiều, cán bộ đảng viên tăng thêm. Do thiếu tư tưởng, rèn luyện, không ít người đã vi phạm khuyết điểm và những khuyết điểm đó mang nặng dấu ấn của “quan cai trị”, “người cầm quyền” dưới thời kỳ thống trị của thực dân, phong kiến.

Sau ngày toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta (12-1946), trong vòng một, hai tháng, chính quyền non trẻ của chúng ta buộc phải rời thành phố chuyển về nông thôn và miền núi để điều hành công cuộc chiến đấu thần thánh của nhân dân ta chống kẻ xâm lược và bè lũ tay sai, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, ngày 1-3-1947, trong Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ, Bác đã nêu tám khuyết điểm “phải kiên quyết tẩy sạch” (7). Đó là: “Địa phương chủ nghĩa”, chỉ biết đến lợi ích của địa phương mình, bộ phận mình; “Óc bè phái”, nghe người, dùng người hẩu với mình; “óc quân phiệt quan liêu”, hống hách, như một “ông vua con” ở nơi mình phụ trách; “óc hẹp hòi”, không biết dùng chỗ hay của người khác và giúp họ chữa chỗ dở; “ham chuộng hình thức”, thích hình thức bề ngoài, phô trương cho oai; “làm việc lối bàn giấy”, thích làm việc kiểu giấy tờ, chỉ tay năm ngón, ít đi vào quần chúng, bám sát thực tiễn; “vô kỷ luật, kỷ luật không nghiêm”, việc dễ thì làm, khó thì bỏ, bỏ địa phương khi chiến tranh lan đến; “ích kỷ, hủ hóa”, thích ăn ngon mặc đẹp, xa hoa, chỉ lo danh lợi của bản thân mình…

Những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp và bè lũ tay sai, công việc thật bộn bề, khó khăn gian khổ chồng chất không sao kể xiết. Bác cùng Bộ Chính trị tập trung mọi công sức vào công tác đối nội, đối ngoại của một chính quyền non trẻ đang còn thiếu thốn mọi bề. Cùng với việc xây dựng bộ máy kháng chiến, kiến quốc từ trên xuống dưới, Người đã dành nhiều thời gian cho việc xây dựng, rèn luyện, uốn nắn những lầm lỗi, lệch lạc của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đúc kết kinh nghiệm hoạt động của bộ máy chính quyền từ sau ngày giành được độc lập, nhất là trong gần một năm điều hành công cuộc kháng chiến, kiến quốc, tháng 10-1947, Bác cho ra đời tập sách “Sửa đổi lối làm việc”, một cẩm nang gối đầu giường của đông đảo của cán bộ, đảng viên. Bác nghiêm khắc đòi hỏi từng tổ chức, từng người: “Ngay từ bây giờ, các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải như thế Đảng mới nhanh chóng phát triển, công việc mới chóng thành công” (8). Nội dung tập sách là những lời chỉ dẫn cụ thể cán bộ đảng viên về phương pháp lãnh đạo và tác phong công tác của người chiến sĩ cách mạng. Bác đã nêu lên khá nhiều khuyết điểm của không ít cán bộ, đảng viên và chỉ dẫn cách thức chữa từng căn bệnh cụ thể. Những khuyết điểm đó,  theo Người, có thể xếp vào ba loại: “Khuyết điểm về tư tưởng, tức là bệnh chủ quan. Khuyết điểm về sự quan hệ trong Đảng và ngoài Đảng, tức là bệnh hẹp hòi. Khuyết điểm về cách nói và cách viết, tức là ba hoa (9). Ba “chứng bệnh nguy hiểm” này nếu không chữa ngay để nó lây ra, thì có hại vô cùng.

Trong sách này, Bác đã nêu lên hàng loạt chứng bệnh tệ hại khác và mỗi chứng bệnh là một kẻ địch. Kẻ địch bên trong của mỗi người cán bộ, đảng viên. Người phân tích sâu sắc: “Mỗi kẻ địch bên trong là một bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong ta đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra” (10). Những chứng bệnh này là bước phát triển tất nhiên của những chứng bệnh cũ. Đó là: “Bệnh nể nang”, làm ngơ trước sai lầm của người quen biết, họ hàng, thân thích; “bệnh tham lam”, tự tư tự lợi, đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích dân tộc, “bệnh lười biếng”, tự cho mình là cái gì cũng biết, việc gì cũng giỏi, lười suy nghĩ, lười học tập, dành lấy việc dễ, đẩy việc khó cho người; “bệnh kiêu ngạo”, tự cao tự đại, ham địa vị, danh vọng, hay lên mặt, thích được tâng bốc; “bệnh hiếu danh”, tự cho mình là anh hùng, quan trọng, không chịu làm những công tác thiết thực; “thiếu kỷ luật”, đặt mình lên trên tổ chức, thích sao làm vậy; “óc hẹp hòi”, khinh người, không cân nhắc người tốt, sợ người ta hơn mình; “óc lãnh tụ”, làm được một vài việc thì cho mình đáng là lãnh đạo, lãnh tụ ở địa phương, đơn vị; “bệnh hữu danh vô thực”, làm việc không thiết thực, làm cho có chuyện, làm ít nói nhiều; “kéo bè kéo cánh”, từ bè phái dẫn đến chia rẽ, hợp với mình thì dở cũng cho là hay, che đậy cho nhau; “bệnh cận thị”, không nhìn xa thấy rộng; “bệnh tị nạnh”, cái gì cũng muốn “bình đẳng”, cào bằng như nhau; “xu nịnh, a dua”, bốc thơm cấp trên và những người có quyền thế, theo gió bẻ buồm…những chứng bệnh trên bắt nguồn từ “bệnh cá nhân”, mọi suy nghĩ việc làm đều xuất phát từ lợi ích cá nhân và đặt lợi ích cá nhân lên trên hết, trước hết. Tất cả đều vì cá nhân, vì gia đình mình, vì phe nhóm mình. Bác khẳng định: Mắc những căn bệnh đó là do “kém tính đảng”, mắc một trong những bệnh đó “là hỏng việc”. Người căn dặn “chúng ta phải ráo riết dùng phê bình và tự phê bình để giúp nhau chữa cho hết những bệnh ấy” (11). Từ đây, Bác đã nói đến chỉ đích danh và phê phán  gay gắt “bệnh cá nhân”- chủ nghĩa cá nhân trong con người cán bộ, đảng viên.

“Báo cáo Chính trị” do Bác trình bày tại Đại hội lần thứ II của Đảng (2-1951) một lần nữa nhấn mạnh “những khuyết điểm khá phổ thông và nghiêm trọng” lúc ấy là “những bệnh chủ quan, quan liêu, mệnh lệnh, hẹp hòi và bệnh công thần” (12). Sau đó, ngày 2-9-1951, trong bài báo “Cần tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh”, Bác chỉ rõ: Bệnh quan liêu mệnh lệnh là do xa nhân dân, khinh nhân dân, không tin cậy nhân dân, không hiểu biết nhân dân, không yêu thương nhân dân, sợ nhân dân… và Người căn dặn: “Bệnh quan liêu mệnh lệnh chỉ đưa đến một kết quả là hỏng việc. Vì vậy chúng ta phải mau mau chữa bệnh nguy hiểm ấy” (13).

Từ năm 1952, Bác Hồ đã lưu ý và kêu gọi cán bộ, đảng viên, nhân dân phải thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu. Người nói: “Tham ô là kẻ cướp. Lãng phí tuy không lấy của công đút túi, song kết quả cũng rất có hại cho nhân dân, cho Chính phủ. Có khi tai hại hơn nạn tham ô. Mà có nạn tham ô và lãng phí là vì bệnh quan liêu. Muốn trừ nạn tham ô, lãng phí thì trước mắt phải tẩy sạch bệnh quan liêu” (14).

Miền Bắc (từ Quảng Bình trở ra) được hoàn toàn giải phóng sau chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu năm 1954. Từ đó, nhân dân miền Bắc bước vào giai đoạn khôi phục kinh tế, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tiến dần vào giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà. Đất nước chuyển từ chiến tranh sang hòa bình, đi sâu vào lĩnh vực xây dựng, phát triển kinh tế xã hội, văn hóa, xây dựng cuộc sống mới. Sống và hoạt động một thời gian dài trong cơ chế quan liêu bao cấp và xin cho, số đông cán bộ đảng viên hoạt động năng động có hiệu quả. Song không ít người đã sớm quên đi những ngày sống cực khổ, khó khăn, chia ngọt sẻ bùi bên nhau trong thời kỳ kháng chiến. Họ nhiễm nặng “bệnh cá nhân”- chủ nghĩa cá nhân, bắt đầu suy tính nhiều hơn và trước hết cho lợi ích cá nhân, gia đình và lợi ích phe nhóm. Ở họ, chủ nghĩa cá nhân nảy sinh và chiếm vị trí chi phối trong suy nghĩ cũng như việc làm hằng ngày, mà trước kia Bác thường gọi là “bệnh cá nhân”.

Từ thời điểm này, cùng với việc phê phán chủ nghĩa cá nhân, Bác luôn đề cao đạo đức cách mạng và chỉ rõ người cách mạng phải kiên quyết loại trừ chủ nghĩa cá nhân ra khỏi đầu óc mình. Bác phân tích rõ nguồn gốc và những tác hại của chủ nghĩa cá nhân: “vết tích xấu xa nhất và nguy hiểm nhất của xã hội cũ là chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân trái ngược với đạo đức cách mạng…, là một thứ rất gian xảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc”, nó “là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó” (15). Đúng như vậy, người có đầu óc cá nhân chủ nghĩa thường ít hoặc không nghĩ đến lợi ích chung của cách mạng, của nhân và và cộng đồng chung quanh họ, mà thường lo cho lợi ích riêng của cá nhân cũng như của phe nhóm mình, đặt nó lên trên lợi ích chung của đất nước, của tập thể. Họ là những người tham danh, hám lợi, thích địa vị, hay so bì, tị nạnh. Có chút thành tích thì tự cao, tự đại, kiêu ngạo, công thần, gây lủng củng chia rẽ nội bộ. Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra chủ nghĩa tự do, quan liêu mệnh lệnh, tham ô lãng phí, lười biếng…; đẻ ra biết bao thói hư tật xấu và hằng trăm hàng ngàn căn bệnh nguy hiểm. Người mang nặng chủ nghĩa cá nhân thì việc gì cũng chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân, của phe nhóm trước hết. Họ ngại gian khổ, khó khăn, chỉ nghĩ đến hưởng thụ, ăn chơi sa đọa, biến chất. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cao tự đại coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán chuyên quyền, xa rời quần chúng, xa rời thực tế, không có tinh thần học hỏi cố gắng vươn lên. Họ thường tạo thành phe nhóm, gây mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, gây tổn hại lợi ích cách mạng…

Bác Hồ đã khẳng định: “Cái gì trái với đạo đức cách mạng đều là chủ nghĩa cá nhân. Muốn thành người cách mạng, thành người cộng sản chân chính thì phải chống chủ nghĩa cá nhân” (16). Người chỉ rõ: “Do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm” và đòi hỏi mỗi cán bộ đảng viên phải “phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật. Phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thực sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt nhiệm vụ” (17).

Bác kính yêu của chúng ta đi xa đã 44 năm nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm, chỉ dẫn của Người về xây dựng, rèn luyện, bồi dưỡng, quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên đã và đang chiếu sáng cho từng bước đi của mỗi người. Bác luôn tỏ rõ lòng nhân từ độ lượng đối với mọi người, nhưng cũng rất nghiêm khắc với những lầm lỗi, vi phạm khuyết điểm, làm tổn hại đến thanh danh của Đảng. Làm theo lời chỉ bảo ân cần, chí tình của Bác, phát huy những kết quả bước đầu của đợt tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, mỗi người chúng ta hãy luôn nghiêm khắc với bản thân mình và thường xuyên nhắc nhở nhau khắc phục những vi phạm, thiếu sót đã được làm sáng tỏ, đấu tranh kiên quyết với những vi phạm, xử lý kỷ luật nghiêm minh đối với những người cố tình đi ngược lại kỷ luật đảng, pháp luật nhà nước và kỷ cương xã hội. Đó cũng là điều Bác Hồ mong muốn ở mỗi người, đã từng chỉ bảo chúng ta trong một cuộc đời lãnh đạo cách mạng của Bác. Những lời căn dặn của Người hãy còn nguyên giá trị thực tiễn trong cuộc đấu tranh khắc phục những biểu hiện tiêu cực, mặt trái của kinh tế thị trường phản ánh trong suy nghĩ, hành động của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.

———–

(1),(2),(3),(7),(8),(9),(10),(11) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG – Sự thật, H.2002, tập 5, tr. 660, 269, 273, 71, 233, 233, 238-239, 267.

(4) Sđd, tập 2, tr. 260. (5), (6) Sđd, tập 4, tr. 21, 57. (12),(13),(14) Sđd, tập 6, tr. 167, 293, 489. (15), (16) Sđd, tập 9, tr. 283, 292, 448. (17) Sđd, tập 12, tr. 439.

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Cô giáo ba lần vinh dự được gặp Bác Hồ

Nghe tiếng Đông Ngạc đã lâu, hôm nay tôi mới có dịp về thăm. Đông Ngạc với nét giản dị, cổ kính, những cánh cổng theo kiến trúc cổ mà tuổi thọ có lẽ hơn cả một đời người và những con đường lát gạch thẳng tắp, những bờ tường có hoa leo chạy dài san sát… Đông Ngạc có được vẻ đẹp như thế là do sự lãnh đạo của các cấp ủy, chính quyền phát huy truyền thống quê hương và công sức của rất nhiều người có tấm lòng thơm thảo, có trách nhiệm với xóm làng, trong đó không thể không nhắc đến cô Hiệu trưởng đã nghỉ hưu Nguyễn Kim Oanh, người 3 lần vinh dự được gặp Bác Hồ.

ba-lan-gap-bac1
Cô Nguyễn Kim Oanh khi đã về hưu, sống cùng gia đình nhỏ

Nhà cô Oanh ở xóm 2 thôn Đông Ngạc, khách đến thăm sẽ có nhiều thú vị với khuôn viên của gia đình, từ cánh cổng được xây năm 1935 đến ngôi nhà cổ mà theo lời gia chủ được dựng lên từ đời vua Minh Mạng, nhẩm ra cũng ngót 190 năm. Nơi khoảng sân nhỏ, những chậu cảnh với nhiều loại cây được xếp đặt ngay ngắn, đẹp mắt, phía trên có những giò lan xinh xắn đang trổ hoa. Cô Oanh hẳn yêu hoa lắm, dường như ở đâu cũng thấy hoa, từ vườn cho đến phòng khách trong nhà làm cho không gian càng thêm ấm cúng, thanh tao.

Cô Kim Oanh sinh năm 1938 tại xã Phùng Chí Kiên, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Khi còn nhỏ, cô theo gia đình lên Thái Nguyên sinh sống. Những năm tháng trước cách mạng, tuy tuổi còn nhỏ nhưng cô đã sớm được hòa mình trong khí thế cách mạng sục sôi ở Thủ đô kháng chiến. Ngay trong gia đình, cụ thân sinh cô tham gia Ban Mặt trận Việt Minh tỉnh Thái Nguyên. Năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, người anh cả trong gia đình cô tham gia Thanh niên cứu quốc, trở về Mỹ Hào cùng nhân dân phá kho thóc, anh hai tham gia bộ đội.

16 tuổi, cô bé Kim Oanh gia nhập Đội Thiếu nhi Tháng Tám, tiền thân của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh ngày nay. Năm 1955, cô về học ở Hà Nội. Chính nơi đây, cô đã  3 lần gặp Bác Hồ đầy cảm động, đó là những bước ngoặt đã làm thay đổi cuộc đời cô mà đến nay, những hình ảnh, phút giây ấy vẫn vẹn nguyên như mới hôm qua.

Ba lần gặp Bác

Lần đầu cô gặp Bác trong dịp sinh nhật của Người, ngày 19-5-1956. Cô theo đoàn học sinh Thủ đô đến Phủ Chủ tịch chúc thọ Bác. Cô kể: “Được nghe nhiều, hôm ấy mới có dịp gặp Người. Vừa nhìn thấy Bác, tất cả reo vang tên Người và chạy ùa lại. Tôi nhường các em nhỏ chạy trước. Người giản dị, ân cần phát kẹo và hỏi chuyện các cháu như một người ông hiền từ. Suốt ngày hôm ấy, tôi cứ lâng lâng một niềm vui sướng, hạnh phúc không nói nên lời”.

Lần thứ hai cô được gặp Bác vào tháng 7-1956, khi Người đến thăm Trường phổ thông cấp III Hà Nội, nơi con em cán bộ kháng chiến theo học. Thời điểm đó, học sinh đang được hướng nghiệp, Bác vừa đến, tất cả học trò đều chạy ùa ra đón. Trong lần gặp này, Người nói về vai trò của các thầy cô, về ý nghĩa của sự nghiệp trồng người trong quá trình kiến thiết nước nhà, xây dựng CNXH. Cô Oanh kể lại, khi ấy cô đang có mơ ước trở thành công nhân ngành dệt, nhưng lời Bác nói đã gieo vào lòng cô những suy nghĩ về trách nhiệm bản thân, nhen lên ngọn lửa nhiệt huyết của tuổi trẻ, thôi thúc cô không ngừng học tập, rèn luyện để cống hiến sức mình cho sự nghiệp chung. Sau đó, cô đã chuyển sang ngành sư phạm, phấn đấu trở thành một nhà giáo giỏi, truyền đạt kiến thức và vun đắp ước mơ cho các thế hệ học trò. Đây chính là một bước ngoặt lớn, một quyết định đã làm thay đổi cuộc đời cô.

Lần thứ ba gặp Bác là tháng 10-1957, khi cô đang học Trường Trung cấp Sư phạm Trung ương, nay là Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Khi đến, Người đi thăm nhà ăn, khu sinh hoạt trước khi vào hội trường. Người trò chuyện cùng giảng viên, sinh viên, nhấn mạnh lý tưởng của thanh niên và trách nhiệm với Tổ quốc, nhân dân. Lời Bác giản dị, dễ hiểu, gửi gắm trong đó  tình yêu thương, sự kỳ vọng của Người đối với thế hệ trẻ, đặc biệt là những thầy giáo, cô giáo tương lai, bởi đây chính là đội ngũ sẽ đào tạo ra một lớp trí thức mới, phục vụ cho sự nghiệp kiến thiết nước nhà. Nếu như trong lần gặp thứ hai, lời Bác đã giúp cô lựa chọn nghề nghiệp thì lần gặp gỡ thứ ba này đã giúp cô vững tin hơn vào con đường mình đang đi.

Nhiệt huyết với sự nghiệp trồng người

Năm 1959, sau khi tốt nghiệp, cô xung phong đi Lạng Sơn nhưng cấp trên phân công về Hưng Yên dạy ở Trường cấp II Ân Thi. Phụ trách lớp 5, cô Oanh trở thành nữ giáo viên đầu tiên của trường. Năm 1960 về huyện Yên Mỹ làm Tổng phụ trách Đội Thiếu niên, thấm nhuần lời dạy của Bác, cô đã tổ chức nhiều hoạt động sôi nổi, có ý nghĩa thiết thực như “gánh cỏ xanh”, “đấu tranh thống nhất”, cắm trại… Với những nỗ lực và cống hiến không mệt mỏi, năm 1964, mặc dù tuổi còn rất trẻ, cô đã được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng Trường Tân Lập (Yên Mỹ). Ở đây, cô Oanh đã phát huy sức trẻ, đề ra nhiều kế hoạch, ý tưởng xây dựng trường, đào tạo đội ngũ giáo viên, đưa các hoạt động giảng dạy, học tập vào nề nếp. Từ năm 1964 đến năm 1969, Trường liên tục là lá cờ đầu trong ngành giáo dục của tỉnh Hưng Yên. Tháng 6-1968, cô vinh dự được kết nạp vào Đảng.

Năm 1969, cô chuyển công tác về Hà Nội, làm Hiệu phó Trường cấp II Dịch Vọng (Cầu Giấy) đến năm 1972. Tuy chỉ vẻn vẹn 3 năm nhưng cô Oanh đã phát huy được năng lực và kinh nghiệm quản lý, có những đóng góp không nhỏ vào thành tích chung của trường. Tháng 8-1972, cô được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng Trường cấp II Đông Ngạc (Từ Liêm). Trong 16 năm chèo lái, cô Oanh đã khéo léo tập hợp được một đội ngũ giáo viên giỏi về chuyên môn, nhiệt tình trong giảng dạy, tỷ lệ học sinh thi đỗ vào cấp III cao, xây dựng nhà trường kiểu mẫu, hoạt động nền nếp, liên tục giữ vững danh hiệu trường tiên tiến của Ngành Giáo dục Thủ đô. Với lòng yêu nghề và tâm huyết của một nhà giáo, cô thường xuyên quan tâm, gần gũi, yêu thương, tận tình chỉ bảo các em học sinh, kịp thời động viên khuyến khích các em có những cố gắng, tiến bộ trong rèn luyện. Để nâng cao trình độ chuyên môn và chất lượng giảng dạy của Trường, cô thường xuyên tìm tòi, ứng dụng những phương pháp giảng dạy, phương pháp quản lý mới, đảm bảo khoa học, hợp lý, nhờ đó hiệu quả công việc được nâng lên rõ rệt.

Là Hiệu trưởng, đồng thời là Bí thư Chi bộ, cô luôn coi trọng vai trò lãnh đạo của cấp uỷ, quan tâm xây dựng khối đoàn kết giữa chi ủy và ban giám hiệu, chú trọng phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của đảng viên. Chi bộ đảng nhà trường nhiều năm liền giữ vững danh hiệu trong sạch, vững mạnh. Với những đóng góp, cô Oanh đã 6 lần nhận danh hiệu Chiến sĩ thi đua và Bằng khen của Sở Giáo dục – Đào tạo Hà Nội.

Tuổi hưu, tinh thần chưa hưu

Năm 1988, sau 16 năm trên cương vị Hiệu trưởng, cô Oanh về nghỉ hưu tại xóm 2, thôn Đông Ngạc. Với tâm huyết của một nhà giáo mẫu mực, một đảng viên gương mẫu, một công dân có trách nhiệm với quê hương, cô nhiệt tình tham gia nhiều hoạt động ở khu dân cư, góp sức mình làm quê hương Đông Ngạc giàu đẹp. Nhận thấy môi trường đang bị ô nhiễm, mất vệ sinh, cô cùng trưởng thôn họp dân, lập ra Ban vệ sinh xóm, thống nhất một số quy ước, phân chia các tổ ở ba khu vực. Từ đó, mỗi tuần một buổi, nhân dân trong thôn Đông Ngạc cùng nhau tham gia vệ sinh đường làng, ngõ xóm. Tuy môi trường đã sạch sẽ nhưng nhận thấy con đường của thôn đã xuống cấp, cô nảy ra ý tưởng bê tông hóa lề đường. Nghĩ là làm, cô lại bàn với trưởng thôn, sau đó cùng các cán bộ trong thôn vận động bà con góp tiền làm bê tông lề đường, riêng đoạn ngõ nhà mình, cô cùng gia đình gương mẫu làm trước. Tuy vậy không phải gia đình nào cũng hưởng ứng ngay, có những ngõ phải họp, vận động 3 lần mới xong. Bằng sự kiên trì giải thích, thuyết phục của cô và cán bộ thôn, lần lượt các ngõ thôn Đông Ngạc đều được bê tông hóa.

Năm 2009, xóm 2 Đông Ngạc khuyết xóm trưởng trong thời gian dài, nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh nhưng không có người giải quyết. Trước tình hình đó, cô Oanh đã xung phong làm trưởng xóm trong 2 năm. Việc đầu tiên cô thực hiện là xã hội hóa việc làm cổng làng nhằm khôi phục nét cổ kính của Đông Ngạc, chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Từ tháng 4-2009 đến 7-2010, cô đã tổ chức họp dân thông qua mẫu cổng, bàn phương thức đóng góp, thảo thư ngỏ, tổ chức ngày hội quyên góp tiền xây cổng, kết quả đã xây dựng được cổng làng đúng dịp chào mừng 1000 năm Thủ đô.

Phát huy vai trò người đảng viên, cô Oanh luôn thẳng thắn đóng góp ý kiến trong các buổi sinh hoạt đảng, nhiều ý kiến của cô đã giúp chi bộ đề ra được những nghị quyết đúng đắn, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của thôn Đông Ngạc. Trong quan hệ với các cán bộ, đảng viên và nhân dân, cô chan hòa, gần gũi, sẵn sàng giúp đỡ, chia sẻ những khó khăn. Nói như đồng chí Văn Thúy Hoa, Bí thư Đảng ủy xã Đông Ngạc: “Cô Kim Oanh từ khi còn là Hiệu trưởng đến lúc về hưu luôn phát huy tốt vai trò người đảng viên, gương mẫu trong công việc, giản dị, gần gũi trong đời thường, hòa mình vào cuộc sống của bà con xóm làng. Đảng bộ xã Đông Ngạc rất cần những đảng viên như thế”.

Ở tuổi 75 nhưng cô vẫn tâm huyết với các hoạt động xây dựng quê hương giàu đẹp. 3 người con của cô đều thành đạt với gia đình yên ấm. 75 tuổi với 3 lần được gặp Bác Hồ, luôn học tập và làm theo Bác, được gắn bó và cống hiến cho sự nghiệp trồng người, giờ sống những tháng ngày tuổi già thanh thản. Một cuộc đời rất ý nghĩa và tự hào!

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Đồng chí Cù Văn Chước – một cán bộ nhiệt thành, một cuộc đời tận tuỵ phục vụ Bác Hồ

1. Từ rất sớm một lòng theo cách mạng

Đồng chí Cù Văn Chước sinh ngày 18 tháng 1 năm 1928 tại xã Vĩnh Chân, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, và mất ngày 30 tháng 6 năm 2007 tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Xô, Hà Nội, hưởng thọ 79 tuổi, cái tuổi được coi là “ẩn tuổi” của Bác Hồ, người mà ông đã phụng sự suốt đời.

Tham gia cách mạng từ rất sớm, ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, năm 1946, khi mới 18 tuổi, đồng chí Cù Văn Chước đã tham gia Đoàn Thanh niên Cứu quốc. Năm 20 tuổi, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, công tác ở Huyện ủy, rồi làm Thư ký cho Ủy ban nhân dân lâm thời huyện Hạ Hòa, rồi được điều về công tác ở Tỉnh ủy tỉnh Phú Thọ. Như vậy, ngay từ những bước chân đầu tiên trên đường đời, đồng chí đã chọn con đường theo Đảng, theo cách mạng và được Đảng tin cậy.

Thế nhưng, chỉ đến cuối cuộc kháng chiến chống Pháp “thần thánh” của dân tộc, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh mở “trường học lớn”, chỉ thị tổ chức Đoàn Thanh niên xung phong (TNXP) để rèn luyện thế hệ trẻ, tạo thêm sức mạnh cho cuộc kháng chiến và phục vụ trực tiếp cho Chiến dịch Điện Biên Phủ thì đó mới chính là cơ hội thử sức cho đồng chí Cù Văn Chước. Năm 1953, Đoàn TNXP được thành lập, Bác Hồ cử đồng chí Vũ Kỳ làm Đoàn trưởng, ông Tạ Quang Chiến – Đội trưởng đội 36 phụ trách an ninh – xây dựng – hậu cần khu ATK Trung ương, thì đồng chí Cù Văn Chước được giao phụ trách hậu cần, làm Chủ nhiệm cung cấp cho toàn đoàn.

Đầu năm 1954, Đoàn TNXP được chỉ thị phục vụ trực tiếp cho chiến dịch Điện Biên Phủ, với nhiệm vụ chính là mở đường cho bộ đội, cũng như vận chuyển lương thảo, vũ khí ra mặt trận, và bảo đảm giao thông thông suốt trong toàn bộ chiến dịch. Sau chiến dịch này, Đoàn TNXP còn được giao nhiều nhiệm vụ quan trong khác, trong đó có việc thực hiện chỉ thị của Bác Hồ mở một con đường chiến lược từ biên giới Lai Châu – Vân Nam (Trung Quốc) về thị xã Lai Châu (dài gần 100km). Toàn bộ việc hậu cần cho các hoạt động trên của Đoàn TNXP đều do đồng chí Chước đảm nhiệm. Là người phụ trách hậu cần của hàng chục ngàn người trong suốt nhiều năm song đồng chí luôn là người liêm khiết, minh bạch, không bị lợi ích vật chất cám dỗ. Đó cũng là một trong phẩm chất mà sau này, đồng chí được tổ chức tin cậy, giao cho nhiệm vụ chăm lo cuộc sống hàng ngày của Bác Hồ.

2. Những tháng ngày tận tụy bên Bác

Sau ngày Thủ đô giải phóng, giữa tháng 10-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng và Chính phủ về Hà Nội. Từ chối ngôi nhà Phủ Toàn quyền sang trọng, Bác Hồ chọn ngôi nhà 1 tầng xây gạch, sàn nhà lát gỗ, nằm phía bên trái Phủ Chủ tịch, gần hồ nước, vốn là nơi nghỉ tạm của những người thợ điện phục vụ Phủ Toàn quyền cũ (nay gọi là nhà 54), làm nơi ở cho mình.

Năm 1956, khi đang làm Chủ nhiệm cung cấp của Tổng đội TNXP (tức Đoàn TNXP), đồng chí Cù Văn Chước được cấp trên điều về nhận nhiệm vụ mới ở Văn phòng Chủ tịch nước (có mật danh là Cơ quan 41). Sau mấy tháng phụ trách Nhà khách Phủ Chủ tịch, đồng chí được các đồng chí Phan Mỹ – phụ trách Văn phòng và Vũ Kỳ – Thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh phân công làm việc tại phòng Văn thư, trực tiếp phục vụ Bác Hồ trong công việc và đời sống hàng ngày. Cũng từ Đoàn TNXP về làm việc tại Văn phòng Chủ tịch nước, ngoài các đồng chí Vũ Kỳ, Cù Văn Chước còn có các đồng chí Vận, Lãm, Quỳnh… Cán bộ phòng Văn thư có khoảng trên 10 người, làm mọi công việc phục vụ Chủ tịch điều hành đất nước. Văn phòng tiếp nhận, phân loại và chuyển giao tài liệu tới các cơ quan có trách nhiệm, theo dõi, đôn đốc các công việc có liên quan, trình Bác rồi trả lời các bộ, ngành, địa phương. Ngoài ra là các công việc như trực ban, làm vườn, làm bếp, lái xe… Phòng Văn thư còn trực tiếp phục vụ Bác làm việc, hội họp, tiếp khách… Bác không có gia đình riêng, do vậy những cán bộ, nhân viên làm việc ở đây như là những người thân trong gia đình với Bác. Đồng chí Chước là một trong những người như thế.

Khoảng cuối năm 1957, việc làm một ngôi nhà khác để Bác Hồ ở và làm việc được đặt ra. Việc thiết kế ngôi nhà được giao cho đồng chí Nguyễn Văn Ninh (1908-1975), quê ở Đông Kinh, Lạng Sơn, Kiến trúc sư tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương làm việc ở Cục Thiết kế, Bộ Kiến trúc đảm nhiệm. Theo yêu cầu của Bác, đó phải là một ngôi nhà sàn theo kiểu nhà của đồng bào Việt Bắc, có thể nhìn ra ao cá trong vườn. Việc thi công ngôi nhà được giao cho đơn vị bộ đội thuộc Cục Doanh trại, Tổng cục Hậu cần quân đội, trong vòng hơn 1 tháng, từ đầu tháng 4/1958 đến giữa tháng 5/1958 thì hoàn thành. Trong thời gian làm nhà sàn, đồng chí Chước được giao nhiệm vụ trực tiếp theo dõi, đôn đốc và đáp ứng các yêu cầu của việc thi công. Đồng chí đã làm việc rất tích cực, không kể ngày đêm, phối hợp chặt chẽ với kiến trúc sư và đơn vị thi công để ngôi nhà sớm được hoàn thành. Ngày 15/5/1958, ngôi nhà khánh thành, mọi việc đều khiến Bác Hồ hài lòng. Hai ngày sau, ngày 17/5/1958, Người chính thức chuyển sang ngôi nhà mới. Cũng từ đó, ngôi nhà đã đi vào lịch sử với tên gọi “Nhà sàn Bác Hồ”.

Sau này, đồng chí Chước còn vinh dự là người trực tiếp theo dõi, đôn đốc và đáp ứng các yêu cầu của đơn vị thi công một công trình quan trọng khác tại Phủ Chủ tịch, đó là công trình Hầm 66 (xây dựng năm 1966). Công trình Hầm 66 dành cho Bác (và cả các đồng chí Trung ương khác đến gặp Bác) tránh bom trong những năm đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc. Đối với Khu nhà làm việc của Bác ở Đá Chông – Ba Vì (có mật danh K9), đồng chí Chước tuy không trực tiếp trong Ban chỉ đạo thi công, nhưng vẫn thường xuyên được đồng chí Vũ Kỳ ủy nhiệm đến kiểm tra, trao đổi với đơn vị thực hiện để công trình đáp ứng được yêu cầu đặt ra.

Trong những năm 60, đồng chí Chước được cấp trên phân công làm Phó phòng rồi Trưởng phòng Văn thư, kiêm Bí thư chi bộ cơ quan. Đồng chí đã cùng anh em tận tụy phục vụ Bác Hồ cho đến khi Người qua đời (9-1969). Một trong những công việc quan trọng mà đồng chí trực tiếp phục vụ đó là việc tổng hợp tin tức và trực tiếp đọc sách, báo, điểm tin cho Bác.

Từ năm 1962, sức khoẻ của Bác Hồ bắt đầu giảm sút, đồng chí Chước và đồng chí Lê Hữu Lập được phân công đọc báo, tổng hợp tin tức, đề xuất ý kiến về các vấn đề báo chí nêu để Bác xem xét. Công việc này cần trình độ tri thức tổng hợp, sự nhạy cảm nắm bắt được đúng và đủ những thông tin hợp yêu cầu của Bác. Đồng chí Lập về sau chuyển sang Văn phòng Phó Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng nên một mình đồng chí Chước đảm nhiệm toàn bộ công việc điểm tin đọc báo phục vụ Bác Hồ.

Hàng ngày, thông thường đồng chí làm tin, báo phục vụ Bác hai lần: Trước giờ nghỉ trưa và sau bữa cơm chiều. Bác nghe trực tiếp tin tức trên radio bằng nhiều thứ tiếng. Bác đọc các bản tin do Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng gửi đến từ sáng sớm mỗi ngày. Phần đồng chí Chước, đọc và lựa chọn những tin tức bài viết quan trọng từ các bản tin của Thông tấn xã Việt Nam, báoNhân dân, Quân đội nhân dân và các báo địa phương. Khi đọc có tin hay, Bác nói đưa mọi người cùng đọc. Bác theo dõi tình hình chiến sự ở hai miền Nam – Bắc rất sát sao. Khi cần làm việc với các cơ quan, các đồng chí lãnh đạo và đồng chí Vũ Kỳ thường giao cho đồng chí Chước liên hệ, nêu yêu cầu và trực tiếp liên lạc để đón lên làm việc với Bác. Buổi tối, đồng chí Chước cũng thường đọc sách cho Bác nghe.

Sách Bác đọc có nhiều thể loại và từ nhiều nguồn khác nhau. Sách của tác giả, của nhà xuất bản gửi biếu Bác, sách của những cá nhân và tổ chức nước ngoài gửi tặng Bác qua Bộ Ngoại giao hoặc các đoàn của ta đi công tác… Thời gian cuối đời, Người nghe đồng chí Chước đọc cuốnCuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên – Mông thế kỷ XIII (Tác giả: Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1968). Chính Bác đã khen ngợi hai tác giả qua đồng chí Cù Văn Chước: “Không biết hai cô chú này có phải vợ chồng không mà viết tâm đắc thế?”

Đồng chí Chước cũng là người được Bác giao cho nhiệm vụ cắt những bài báo phản ánh về gương người tốt việc tốt dán thành từng chuyên đề gương chiến đấu, sản xuất, thiếu nhi học giỏi dũng cảm… Sau này, Bác chỉ đạo đồng chí Hà Huy Giáp, Phan Hiền in thành các tập sáchNgười tốt việc tốt.

Những ngày cuối cùng của đời mình, Bác Hồ vẫn đọc báo và nghe đọc báo. Trên bàn làm việc của Người ở nhà sàn cũng như ngôi nhà Người chữa bệnh và qua đời vẫn còn nguyên chồng báo Người đang xem. Đó là những tờ báo xuất bản vào thời điểm tháng 8 và tháng 9 năm 1969. Đây cũng là những ngày vô cùng sôi động của cách mạng cả hai miền. Miền Nam tin chiến thắng ròn rã. Miền Bắc với khí thế quyết giành vụ mùa thắng lợi và sản xuất nông nghiệp có nhiều chuyển biến. Hội nghị Pari về Việt Nam tiếp tục diễn ra căng thẳng… Tất cả những tin tức đó đều được báo chí phản ánh kịp thời và được Bác theo dõi đều đặn. Có tới 29 tờ báo Bác đã đọc và nghe trong thời gian cuối đời. Người trực tiếp đọc báo cho Bác nghe trong những ngày này là đồng chí Chước và đồng chí Trần Văn Vượng. Các đồng chí chỉ dừng việc đọc báo cho Bác nghe từ sau ngày 24/8/1969, khi Bác đã quá mệt, rồi một tuần sau đó Bác đi về “cõi người hiền” (2/9/1969).

Một công việc quan trọng và thường xuyên khác mà bộ phận văn phòng đảm nhiệm đó là chăm lo sức khỏe và đời sống thường nhật cho Bác Hồ. Việc chăm sóc sức khỏe của Bác do các bác sĩ đảm nhiệm, nhưng việc chăm lo bữa ăn hàng ngày và các sinh hoạt khác thì đồng chí Chước phụ trách, có việc phân công cho người khác, có việc đồng chí trực tiếp làm. Mọi thứ mua về đều được kiểm tra và bảo quản sao cho hợp vệ sinh. Trong việc ăn uống, Bác Hồ rất giản dị, nhất là những năm tháng ở chiến khu. Nhưng từ khi về Hà Nội, do có điều kiện hơn nên bữa ăn của Bác đã được cải thiện rất nhiều. Với trách nhiệm chăm lo trực tiếp đời sống cho Bác, đồng chí Chước đã cùng với các đồng chí Đinh Văn Cẩn, Đặng Văn Lơ (sau này được phân công sang phục vụ Thủ tướng Phạm Văn Đồng) tìm mọi cách nâng cao chất lượng bữa ăn cho Bác, đảm bảo cho Bác ăn ngon miệng, để có đủ sức khỏe gánh vác việc dân việc nước.

Hàng tuần, vào mỗi tối chủ nhật, Văn phòng còn tổ chức để Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng xem phim tại phòng khách Phủ Chủ tịch. Bác lại muốn có các cháu thiếu nhi (thường là con em cán bộ văn phòng) xem cùng, thế nên đồng chí Chước thường cùng anh em nhau bàn bạc chọn phim, chọn người chiếu phim, tìm người phiên dịch ở Bộ Ngoại giao nếu chiếu phim nước ngoài. Đồng chí Chước còn cùng với đồng chí Chiêm bên cảnh vệ bàn và thực hiện việc cấp giấy mời để quản lý người vào xem, phân công phục vụ, thu xếp chỗ ngồi cho phù hợp với từng đối tượng. Sau mỗi lần xem phim hay xem biểu diễn văn nghệ, theo chỉ thị của Bác, các đồng chí Vũ Kỳ, Cù Văn Chước còn phải chuẩn bị kẹo để Bác chia cho các cháu.

Có thể nói, việc quản trị đời sống ở Văn phòng Phủ Chủ tịch cơ bản do đồng chí Chước đảm nhiệm. Các khoản thu chi của Bác (trừ sổ tiết kiệm do đồng chí Lê Hữu Lập giữ), gồm lương, phụ cấp đại biểu Quốc hội, nhuận bút, hóa đơn, chứng từ…, tất cả đều do đồng chí Chước quản.Các chứng từ bao giờ đồng chí Chước cũng là người kiểm tra cuối cùng trước khi báo cáo lên lãnh đạo. Cứ 6 tháng một lần, đồng chí báo cáo tổng hợp tài chính chi tiêu trong quỹ lương của Bác. Mọi việc đều chỉn chu, ngăn nắp. Các giấy tờ sổ sách ghi lại công việc này hiện nay còn lưu giữ thường có chữ ký của đồng chí Chước, đúng với vai trò một “Quản gia” của Bác Hồ.

3. Góp công xây dựng bảo tàng, gìn giữ di sản Bác Hồ

Sau khi Bác Hồ qua đời, cùng với đồng chí Vũ Kỳ và một số cán bộ Văn phòng Chủ tịch nước trước đó, đồng chí Cù Văn Chước tiếp tục được vinh dự gắn bó cuộc đời mình với Bác Hồ, bằng việc đảm nhận nhiệm vụ mới: Gìn giữ và phát huy di sản của Bác. Đồng chí được giao nhiều chức vụ quan trọng như Phụ trách Văn phòng Ban Quản lý xây dựng công trình Bảo tàng Hồ Chí Minh (1969-1977), Chánh Văn phòng (1977-1979) rồi Trưởng Ban Nghiệp vụ Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh (1979-1982), Phó Viện trưởng Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh (1983-1987), Phó Giám đốc (1988-1990) rồi Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh (1990-1999).

Ngay từ đầu những năm 1970, Trung ương Đảng đã có chỉ thị về việc giữ gìn và phát huy di sản của Người bằng việc tiến tới thành lập Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh tại Hà Nội và hình thành hệ thống bảo tàng, di tích và khu tưởng niệm Hồ Chí Minh trong cả nước.

Nhiệm vụ của Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh trong những ngày đầu là khẩn trương tiến hành việc đạc họa, chụp ảnh, kiểm kê, bảo quản toàn bộ hiện vật và di tích có liên quan đến Bác Hồ trong khu vực Phủ Chủ tịch; Quy hoạch các khu vực trong di tích cần bảo vệ… Các văn bản kiểm kê di sản Bác Hồ hiện còn lưu giữ đều có chữ ký xác nhận của đồng chí Chước và chữ ký nhận bàn giao nhập kho bảo tàng của đồng chí Lưu Quang Lập.

Đồng chí Chước cũng trực tiếp phụ trách việc đo đạc chính xác ngôi Nhà sàn Bác Hồ, phục vụ cho việc làm một ngôi nhà khác thay thế, để ngôi nhà thật được bảo quản tại một nơi an toàn, tránh sự đánh phá của bom Mỹ. Sau này (sau năm 1975), những số liệu đo đạc ấy còn dùng làm mô hình cho Nhà sàn Bác Hồ ở Quân khu V (cũng do đồng chí Chước tham gia chỉ đạo thực hiện), để đồng bào miền Trung có cơ hội được nhìn thấy ngôi nhà của Bác.

Những hiện vật và di tích có giá trị lịch sử, liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh và các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước tại khu vực Phủ Chủ tịch đã được bảo quản và lập hồ sơ khoa học và đó chính là cơ sở để Khu Di tích Phủ Chủ tịch chính thức được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia ngày 15/5/1975.

Năm 1979, kỷ niệm 10 năm thực hiện Di chúc Bác Hồ, hưởng ứng sáng kiến của Bộ Thủy sản, Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh đã cùng với Bộ Thủy sản và Bộ Nông nghiệp phát động phong trào “Vườn quả Bác Hồ”, “Ao cá Bác Hồ” trong toàn quốc và lấy Vườn quả, Ao cá Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch làm hình mẫu. Đồng chí Chước là người thay mặt Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp với hai cơ quan trên tổ chức thực hiện. Đó quả là một phong trào xã hội rộng lớn, có ý nghĩa kinh tế và giáo dục ở nước ta cuối thập kỷ 70 và cả thập kỷ 80 của thế kỷ XX.

Cũng trong những năm 1978-1979, khi Trung Quốc gây căng thẳng và tiến hành chiến tranh biên giới, đồng chí Chước cũng là người trực tiếp tổ chức tốt việc đóng gói và vận chuyển an toàn gần 300 hòm hiện vật quý của Bác Hồ tới nơi bảo quản an toàn.

Về việc xây dựng Công trình Lăng (1973-1975) và Bảo tàng Hồ Chí Minh (1985-1990), đồng chí Cù Văn Chước với vai trò, trách nhiệm của mình, đã cùng với đồng chí Vũ Kỳ, Hà Huy Giáp, Đặng Xuân Kỳ góp phần tích cực cho sự thành công của hai công trình đặc biệt quan trọng này. Trong suốt gần hai mươi năm xây dựng các công trình Lăng và Bảo tàng, đồng chí Chước đã làm việc hết sức mình, chú ý lắng nghe ý kiến của chuyên môn và hợp tác chặt chẽ với các đơn vị thi công để hai công trình đạt chất lượng cao. Đặc biệt, với công trình Bảo tàng Hồ Chí Minh, đồng chí Chước có những đóng góp trực tiếp và to lớn hơn. Là một trong những người trong Ban Phụ trách xây dựng (do đ/c Đỗ Mười làm Trưởng Ban), đồng chí Chước liên tục được cử đi về giữa Liên Xô và Việt Nam, làm việc với các chuyên gia Liên Xô về kiến trúc, thiết kế và trưng bày bảo tàng, lo nhập khẩu máy móc, kỹ thuật; hợp tác chặt chẽ với các đơn vị như Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng, Bộ Kiến trúc, trao đổi trực tiếp với các chuyên gia kỹ thuật phụ trách thi công công trình, lắp đặt thiết bị để công trình Bảo tàng đạt chất lượng cao nhất và kịp tiến độ.

Năm 1990, đúng vào dịp kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Bác Hồ kính yêu, Bảo tàng Hồ Chí Minh được khánh thành. Đây cũng là năm đồng chí Cù Văn Chước chính thức thay thế người đàn anh của mình, đồng chí Vũ Kỳ, làm giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh. Như vậy, không chỉ là một trong những người có công đầu trong việc xây dựng Bảo tàng, đồng chí Chước còn là người tiếp nhận chức vụ, mà cũng là trách nhiệm trực tiếp cao nhất của một cơ quan chuyên trách việc trong việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy di sản Bác Hồ kính yêu.

4. Trên cương vị Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

Với cương vị làm Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh trong suốt 9 năm (1990-1999), đồng chí Cù Văn Chước – con người đã trung thành, tận tụy với Bác Hồ, càng có nhiều điều kiện hơn để đóng góp sức mình cho sự nghiệp bảo tồn, gìn giữ di sản và làm sáng danh Bác. Trong nhiệm kỳ Giám đốc của mình, đồng chí Chước gần như không xem nhẹ bất kỳ mặt công tác nào trong 6 mặt công tác bảo tàng, chú trọng công tác nghiên cứu khoa học, kiện toàn Hội đồng khoa học và chỉ đạo xây dựng kế hoạch chuyên môn dài hạn. Đồng chí cũng đã chỉ đạo thực hiện nhiều chuyến sưu tầm tài liệu và hiện vật có liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh có quy mô ở nước ngoài, như ở Liên Xô (1991), Trung Quốc (1997), Pháp… Những cống hiến của đồng chí Chước là toàn diện, trên nhiều mặt, tuy nhiên chúng tôi muốn nhấn mạnh đến 2 đóng góp lớn nhất của đồng chí, đó là: 1. Đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ đầu tiên cho Bảo tàng Hồ Chí Minh; và 2. Chịu trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo xây dựng giúp nước bạn Lào xây dựng Bảo tàng Cayxỏn Phômvihản thành công, khánh thành đúng tiến độ thời gian.

Về đóng góp thứ nhất, có thể khẳng định đồng chí Chước là một trong những người có công lớn nhất trong việc đào tạo, bồi dưỡng, tạo dựng lớp cán bộ đầu tiên cho Bảo tàng Hồ Chí Minh. Sự thực, ngay từ những ngày đầu với vai trò: Phụ trách công tác hành chính của Ban Nghiệp vụ của Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh, rồi Phó Viện trưởng, Giám đốc kiêm Bí thư Đảng bộ cơ quan Bảo tàng Hồ Chí Minh, đồng chí Chước đã có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành đội ngũ cán bộ này.

Trong những ngày đầu, Trung ương đã phân công về Viện bảo tàng Hồ Chí Minh những cán bộ khoa học có chuyên môn giỏi trong nhiều lĩnh vực: Kiến trúc, kỹ thuật, khoa học xã hội, mỹ thuật… để làm nòng cốt, nền tảng cho công tác nghiên cứu, gìn giữ và phát huy di sản Hồ Chí Minh. Đội ngũ đó theo thời gian cứ đông dần lên, với trình độ chuyên môn cao hơn, sát thực hơn với công tác nghiên cứu và nghiệp vụ của bảo tàng. Vai trò của đồng chí Chước trong vấn đề này từ chỗ là người chấp hành chỉ đạo của cấp trên để xây dựng đội ngũ cán bộ, giúp đỡ, tạo điều kiện về mọi mặt để các cán bộ chuyên môn được đào tạo, bồi dưỡng, đến chỗ phụ trách trực tiếp và toàn diện việc xây dựng và phát triển đội ngũ này. Bản thân đồng chí không được trải qua các cấp đào tạo có hệ thống về chuyên môn, nghiệp vụ bảo tàng, nhưng đồng chí có tâm huyết với Bác Hồ, với sự nghiệp phát huy di sản của Bác, có năng lực tổ chức giỏi nên đã có công trực tiếp tạo ra nhiều lớp cán bộ chuyên môn cho bảo tàng. Tổng cộng, từ khi Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh được thành lập cho đến năm 1990, khi công trình Bảo tàng khánh thành, đã có hơn 90 cán bộ trình độ đại học và trên đại học được đào tạo để phục vụ trực tiếp cho sự nghiệp nghiên cứu, bảo tồn và phát huy di sản Hồ Chí Minh. Dấu ấn của đồng chí Chước trong việc đào tạo đội ngũ cán bộ này là rất lớn, cụ thể ở việc tham gia lập kế hoạch, xin chỉ tiêu đào tạo, đặt quan hệ với các đối tác trong nước và nước ngoài để hợp đồng đào tạo, lựa chọn những người cụ thể gửi đi học, chăm lo, hỗ trợ các điều kiện học tập và sắp xếp, sử dụng cán bộ chuyên môn… Vai trò đó còn được thể hiện rõ hơn và mang tính quyết định kể từ khi đồng chí chính thức được bổ nhiệm làm Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh (1990). Tuy nhiên, chúng tôi vẫn cho rằng, dấu ấn của đồng chí Chước không hoàn toàn chỉ là ở số lượng cán bộ được bồi dưỡng, đào tạo, ở trình độ chuyên môn và nghiệp vụ, mà còn ở tình cảm và lòng kính yêu Bác Hồ, trách nhiệm đối với nghề nghiệp, với sự nghiệp bảo tồn và phát huy di sản của Bác. Bởi đó cũng chính là những phẩm chất của đồng chí Chước để từ đó trở thành tấm gương sáng cho mọi cán bộ, đảng viên trong cơ quan học tập và noi theo.

Về đóng góp thứ hai, có thể khẳng định đồng chí Chước là người có công đầu trong việc giúp nước bạn Lào xây dựng Bảo tàng vị lãnh tụ của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào – Bảo tàng Cayxỏn Phômvihản. Việc xây dựng công trình này diễn trong những năm 1992-2000, đúng khoảng thời gian đồng chí Chước làm Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh. Bởi thế, đồng chí càng có điều kiện dành nhiều tâm huyết của mình cho công trình, với tinh thần: “Giúp bạn là mình tự giúp mình” mà hơn ai hết, đồng chí là người ghi nhớ và thấm nhuần lời dạy đó của Bác Hồ.

Công trình Bảo tàng Cayxỏn Phômvihản bắt đầu được thực hiện từ năm 1992 do Việt Nam giúp Lào xây dựng (với kinh phí trước sau khoảng 3 triệu USD), trong đó Bảo tàng Hồ Chí Minh được sự phân công của Trung ương, trực tiếp là của Bộ Văn hóa – Thông tin, chủ yếu đảm trách nội dung trưng bày và đào tạo cán bộ, với các nhiệm vụ cơ bản: Giúp Bạn sưu tầm tài liệu hiện vật về Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản, về cách mạng Lào hiện có tại Việt Nam; Giúp Bạn đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên môn phục vụ cho hoạt động của bảo tàng; Giúp Bạn xây dựng ý tưởng trưng bày, chuyển giao kinh nghiệm tổ chức thực hiện.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, phía Bạn gặp rất nhiều hạn chế, do vậy Bảo tàng Hồ Chí Minh, dưới sự dẫn dắt của đồng chí Chước, đã khéo léo thuyết phục cấp trên, đồng thời quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, vượt qua cả những giới hạn của nhiệm vụ được giao ban đầu để giúp Bạn. Những đóng góp của Bảo tàng Hồ Chí Minh do đồng chí Chước lãnh đạo đối với Bảo tàng Cayxỏn Phômvihản không chỉ dừng lại ở công tác chuyên môn, nghiệp vụ và đào tạo, mà còn có cả kinh phí và thiết bị phục vụ trưng bày, không chỉ dừng ở mức “chuyển giao kinh nghiệm”, mà còn thực sự bắt tay vào thực hiện, với sự hoạt động tích cực của các cán bộ, chuyên gia của Bảo tàng Hồ Chí Minh do đồng chí Chước trực tiếp lựa chọn và đích thân chỉ đạo.

Trong lịch sử đối ngoại của Bảo tàng Hồ Chí Minh, việc giúp nước Bạn Lào xây dựng thành công và khánh thành đúng thời gian Bảo tàng Cayxỏn Phômvihản là thành quả lớn nhất. Thành quả ấy có được dưới thời đồng chí Chước làm Giám đốc và cũng chính là người trực tiếp tổ chức thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả này.

5. Một cuộc đời, một tấm lòng tận trung vẹn nghĩa với Bác Hồ

Từ sau năm 1999, đồng chí Cù Văn Chước nghỉ hưu, song không vì thế mà đồng chí thôi gắn bó với sự nghiệp gìn giữ và phát huy di sản Bác Hồ. Cho đến nhiều năm sau, theo lời hẹn với các đồng nghiệp trẻ, đồng chí vẫn kiên trì, thường xuyên đến cơ quan giúp việc xác minh, hoàn thiện các tài liệu, hồ sơ hiện vật về Bác Hồ.

Đến đây, nhìn lại những cống hiến của đồng chí Cù Văn Chước, từ những ngày đầu tôi luyện trong “trường học lớn” là Đoàn TNXP do Bác Hồ sáng lập, trải qua những năm tháng trực tiếp phục vụ, chăm lo cho Bác từ bữa ăn, giấc ngủ, tiếp khách, hội họp, đến những năm đứng đầu cơ quan Bảo tàng Hồ Chí Minh, và cả đến những năm cuối đời, có thể khẳng định đồng chí Cù Văn Chước đã dành trọn cuộc đời mình, đã hiến dâng tấm lòng tận trung vẹn nghĩa của mình cho Bác Hồ.

Đi sau và kế tục bậc đàn anh tiền nhiệm Vũ Kỳ, đồng chí Cù Văn Chước là một trong những người cuối cùng của thế hệ những người đã vinh dự được sống và trực tiếp phục vụ Bác Hồ, đồng thời là một trong những người có công đầu trong sự nghiệp giữ gìn và phát huy di sản của Bác, cho hôm nay và cho muôn đời sau.

Do điều kiện chiến tranh và phục vụ Bác Hồ, đồng chí Cù Văn Chước không có thời gian được cử đi đào tạo bài bản, ông trưởng thành trong thực tiễn công tác. Bằng trí thông minh và sự cầu thị, ông tự học ngay trong đường đời và học chính ở vị lãnh tụ mình được phục vụ. Do vậy, dù không có bằng cấp cao, nhưng ông quản lý cơ quan khoa học hết sức suôn sẻ bằng chính cái Tâm, cái Tầm, cái Tài, cái Tình của mình.

Sinh ra và lớn lên từ một làng trung du nghèo, được nuôi dưỡng bởi truyền thống văn hóa – lịch sử của vùng quê rừng cọ – đồi chè, ven con sông Cái quanh năm nặng đỏ phù sa, đồng chí Cù Văn Chước được mang đậm dấu ấn: “Trọng tình, trọng người” của quê hương Đất Tổ. Dấu ấn đó theo ông đi suốt cuộc đời và cho đến hôm nay, khi ông về với Tổ tiên, tiếp tục đi theo phục vụ Bác Hồ ở thế giới bên kia, ông vẫn là tấm gương sáng về mọi mặt:

– Nghiêm túc, tận tụy, chỉn chu với công việc;

– Cân nhắc cẩn trọng trong lời nói và việc làm;

– Luôn cầu thị lắng nghe, tôn trọng, khuyến khích và quan tâm tới mọi người;

– Và hơn nữa, ông là tấm gương thủy chung với gia đình, dòng họ và quê hương Hạ Hòa – Phú Thọ.

Hôm nay nhân kỷ niệm 85 năm ngày sinh của ông, chúng tôi đã tập trung về đây để cùng tưởng nhớ tới ông – người đồng chí, người thủ trưởng mẫu mực và kính mến./.

Theo TS. Chu Đức Tính – Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

“Lấy đoàn kết mà xoay vần vận mệnh, giữ gìn dân tộc và bảo vệ nước nhà”

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh có một niềm tin tuyệt đối vào trí tuệ và sức mạnh to lớn của toàn dân tộc Việt Nam. Người đã xây dựng khối đoàn kết toàn dân vững chắc chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giành tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Tư tưởng thêm bạn bớt thù, đại đoàn kết toàn dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh được bắt nguồn từ truyền thống giàu lòng đồng tình và bác ái của dân tộc ta:

Bầu ơi thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

Từ quan niệm đạo đức quý báu đó, Người đã đúc kết thành một chân lý vĩ đại: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công”(1).

Đoàn kết toàn dân vì độc lập dân tộc, dân chủ, hòa bình và tiến bộ xã hội là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng và là mục tiêu đấu tranh của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Là người nắm vận mệnh của đất nước, hơn ai hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ vai trò quan trọng của đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Người cho rằng, để giải phóng một dân tộc cũng như để xây dựng một chế độ mới đều cần huy động sức mạnh toàn dân. Đoàn kết toàn dân vì độc lập dân tộc, dân chủ, hòa bình và tiến bộ xã hội là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng và là mục tiêu đấu tranh của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tin tưởng vào trí tuệ và sức mạnh to lớn của nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết, không ai chiến thắng được. Mỗi khi đất nước đứng trước những hiểm họa xâm lăng, Người kêu gọi toàn dân hãy đoàn kết lại thành một khối thống nhất để đấu tranh giải phóng dân tộc vì có đoàn kết mới có lực lượng, có lực lượng mới giành được độc lập tự do.

Để xây dựng khối đoàn kết toàn dân vững mạnh, Người khuyên đồng bào vì lòng yêu nước thương nòi, hãy xóa bỏ mọi bất hòa, thành kiến để cùng phấn đấu cho một tương lai tươi sáng. Trong Thư gửi đồng bào Nam bộ, Người viết: “Năm ngón tay cũng có ngón ngắn, ngón dài. Nhưng ngắn dài đều hợp lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu con người cũng có người thế này thế khác nhưng thế này thế khác đều dòng dõi tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ, ta phải nhận ra rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc…có như thế mới thành đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang”(2).

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại đoàn kết toàn dân, trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân bao gồm công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Người coi đó là nền, là gốc của đại đoàn kết. Người chủ trương đoàn kết lâu dài và rộng rãi, vì vậy, đoàn kết phải trở thành chính sách chiến lược của Đảng và Nhà nước. Người xác định mục đích của đoàn kết là để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc, vì vậy trong nhân dân hễ ai có tài, có đức, có lòng thì ta đoàn kết với họ. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý, trong chính sách đoàn kết toàn dân phải chống hai khuynh hướng sai lầm: Cô độc hẹp hòi và đoàn kết vô nguyên tắc. Đồng thời Người cũng chỉ rõ: Phải luôn củng cố khối đoàn kết theo phương châm lấy công tác mà củng cố đoàn kết, lấy đoàn kết mà đẩy mạnh công tác.

Nhận thấy nhân dân là lực lượng quyết định thắng lợi của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra các hình thức tốt nhất để tổ chức lực lượng của nhân dân như thành lập các mặt trận: Việt Minh, Liên Việt, Dân tộc thống nhất, Tổ quốc Việt Nam… nhằm tập hợp các lực lượng cách mạng thành khối đoàn kết toàn dân tộc. Người chủ trương đoàn kết chặt chẽ các tầng lớp nhân dân thuộc các đảng phái, các đoàn thể trong mặt trận Tổ quốc Việt Nam để giúp đỡ nhau phấn đấu hoàn thành sự nghiệp xã hội chủ nghĩa.

Người nêu ra bốn mục đích của Mặt trận đoàn kết dân tộc là: hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ. Theo Người, muốn thống nhất phải có hòa bình, muốn độc lập thì phải có dân chủ. Bốn điểm đó như bầu trời có bốn phương Đông – Tây – Nam – Bắc, như một năm có bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông, không thể tách rời nhau. Cương lĩnh của mặt trận đoàn kết phải là ngọn cờ tập hợp các lực lược cách mạng, trong đó Đảng là người lãnh đạo mặt trận và là hạt nhân của khối đoàn kết toàn dân. Tư tưởng của các thành viên trong mặt trận phải đoàn kết với nhau chân thành, không đoàn kết ngoài miệng mà đoàn kết bằng việc làm, đoàn kết thực sự với thái độ thân ái giúp đỡ lẫn nhau, thật thà học tập những ưu điểm, thẳng thắn phê bình những khuyết điểm của nhau để cùng nhau tiến bộ.

Khối đoàn kết toàn dân được xây dựng từ mối quan hệ khăng khít giữa các dân tộc, các tôn giáo, mối liên hệ quân – dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định nước ta là một quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc mang bản sắc riêng nhưng đều nằm trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Vì vậy Người kêu gọi đồng bào các dân tộc không phân biệt Kinh hay Thổ, Mường hay Mán,…phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, phải đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà để cùng xây dựng Tổ quốc chung, xây dựng xã hội chủ nghĩa, làm cho tất cả các dân tộc được hạnh phúc.

Đối với các thành phần tôn giáo, Chủ tịch Hồ chí Minh rất tôn trọng tự do tín ngưỡng của đồng bào vì đó là điều thiêng liêng trong sâu thẳm tâm linh mỗi con người, là quyền lợi chính đáng cần được bảo vệ. Tuy nhiên, Người nhắc nhở phải luôn gắn liền lợi ích tôn giáo với lợi ích chung của dân tộc. Phải đoàn kết giữa đời và đạo, giữa yêu nước và phụng đạo. Dù là lương hay giáo, đồng bào cũng phải yêu thương đùm bọc nhau, cùng nhau xây dựng đời sống hòa thuận, ấm no, xây dựng Tổ quốc. Người đánh giá cao công lao đóng góp của đồng bào các tôn giáo trong sự nghiệp giành độc lập dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước. Người nhắc nhở đồng bào Phật giáo phải đoàn kết, đóng góp sức lực và tiền của để đánh đuổi thực dân, cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, làm theo lòng từ bi của đạo Phật. Phật giáo Việt Nam với dân tộc như hình với bóng, tuy hai mà một. Người mong muốn các hòa thượng tăng ni và Phật tử tích cực thực hiện tinh thần từ bi vô ngã vị tha trong sự nghiệp cứu nước, giữ nước và giữ đạo để cùng toàn dân sống trong độc lập, tự do và hạnh phúc.

Trong thư gửi đồng bào công giáo ngày 14/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Nước nhà ta đang đứng trước một tình thế rất nghiêm trọng. Dân tộc ta suy hay thịnh, mất hay còn chính là ở trong lúc này. Không đoàn kết thì suy và mất. Có đoàn kết thì thịnh và còn. Chúng ta phải lấy đoàn kết mà xoay vần vận mệnh, giữ gìn dân tộc và bảo vệ nước nhà”(3). Thấu hiểu nguyện vọng của đồng bào Thiên chúa giáo là phần xác ấm no, phần hồn thong dong cho nên cuộc cách mạng giải phóng dân tộc cũng sẽ giải phóng trọn vẹn cho người dân công giáo cả về phương diện chính trị và tôn giáo. Người tin tưởng rằng, khi lương giáo đoàn kết, toàn dân đoàn kết, cả nước một lòng, nhân dân ta nhất định thắng lợi trong công cuộc đấu tranh thực hiện hào bình thống nhất Tổ quốc và xây dựng một nước Việt Nam hòa bình thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ ta, tình đoàn kết giữa nhân dân và quân đội trở thành sức mạnh vô cùng to lớn.Trong bài Quân đội nhân dân đăng Báo Nhân Dân ngày 24/12/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Quân và dân đoàn kết thành một khối vững chắc, cùng nhau mạnh mẽ tiến lên, thì sẽ vượt qua được mọi khó khăn, nhất định thành công trong sự nghiệp thực hiện hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ cả nước”(4).

Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Quân dân đoàn kết là đường thành công.

Đối với đồng bào ta ở nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dành sự quan tâm sâu sắc. Người khen ngợi, khích lệ sự đóng góp của kiều bào cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Người hiểu rằng, kiều bào ta tuy ở đất khách quê người nhưng lòng luôn hướng về Tổ quốc. Người khuyên kiều bào khi về nước cần góp tài góp sức vào công cuộc xây dựng nước nhà. Trong thư gửi kiều bào Việt Nam ở Pháp ngày 12/9/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Chúng tôi gửi lời chào và khuyên tất cả anh chị em kiều bào:

1. Phải triệt để đoàn kết…

4. Mỗi người cần biết thạo một nghề để mai sau về nước giúp ích cho cuộc xây dựng nước Việt Nam mới”(5).

Đại đoàn kết toàn dân là tư tưởng chủ đạo xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng này mang ý nghĩa chiến lược, góp phần quan trọng trong mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đoàn kết toàn dân trở thành một trong những quốc sách hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta. Từ khi ra đời đến nay chính sách này đã không ngừng được bổ sung và hoàn thiện cho phù hợp với sự vận động và phát triển của cách mạng Việt Nam nhằm phát huy tối đa sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân. Nhờ đó mà chúng ta đã vượt qua bao khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù của dân tộc, vững vàng tiến bước ngay cả trong những thời điểm thế giới có những diễn biến phức tạp.

Thực hiện lời dạy của Người, trong suốt những năm qua Đảng ta đã không ngừng xây dựng củng cố tình đoàn kết trong toàn Đảng, toàn dân. Từ khi bước sang giai đoạn đổi mới đất nước Đảng ta đã nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn giá trị tư tưởng đại đoàn kết toàn dân. Điều đó được thể hiện nhất quán trong các chủ trương chính sách đổi mới trên cơ sở thống nhất về chính trị tư tưởng trong các tầng lớp nhân dân, giải quyết hợp lý lợi ích kinh tế giữa các thành phần kinh tế xã hội, huy động được sức lực trí tuệ toàn dân để xây dựng đất nước.

Về giá trị lý luận cũng như thực tiễn, đại đoàn kết toàn dân là một tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà mỗi người dân Việt Nam phải thấm nhuần sâu sắc và thực hiện một cách triệt để trong công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc.

Theo http://ditichhochiminhphuchutich.gov.vn

Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

30 tháng 4 năm 1975 – mùa Xuân đại thắng

Cách đây 38 năm, với cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, quân và dân ta đã kết thúc thắng lợi cuộc trường kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Bắc – Nam sum họp một nhà, đất nước trọn niềm vui. Chiến tranh đã qua đi, đất nước Việt Nam nay đã đổi mới, vươn mình lớn mạnh nhưng mùa Xuân đại thắng năm 1975 vẫn luôn sống mãi trong ký ức của mỗi thế hệ người Việt Nam với ý nghĩa lịch sử vô cùng sâu sắc.

Ngay từ ngày 25/3/1975, Nghị quyết của Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã khẳng định thời cơ chiến lược đã đến, phải tập trung nhanh nhất lực lượng, phương tiện để giải phóng miền Nam trước mùa mưa. Chiến dịch giải phóng thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn được Bộ Chính trị quyết định mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Từ đầu tháng 4 năm 1975, quân dân ta sống trong những ngày hào hùng và sôi động nhất của lịch sử dân tộc. Cả dân tộc ta ra quân trong một mùa Xuân lịch sử với tinh thần “đi nhanh đến, đánh nhanh thắng” và khí thế “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”.

Trận Xuân Lộc

Ngày 9/4,  ta tiến công vào thị trấn Xuân Lộc, một căn cứ phòng thủ trọng yếu của địch bảo vệ Sài Gòn từ phía Đông Bắc. Ngày 16/4, quân ta phá vỡ phòng thủ Phan Rang. Ngày 21/4, quân địch ở Xuân Lộc tháo chạy, cửa ngõ vào Sài Gòn từ hướng Đông Bắc đã được mở. Ngay từ khi mất Xuân Lộc, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức.

Chiến dịch Hồ Chí Minh

chien-dich-ho-chi-minh1Bản đồ tái hiện Chiến dịch lịch sử Hồ Chí Minh, kết thúc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước. Ảnh internet

Đúng 17h ngày 26/4, quân ta được lệnh nổ súng mở màn chiến dịch, 5 cánh quân từ các hướng vượt qua tuyến phòng thủ vòng ngoài tiến vào thành phố Sài Gòn. Ngày 28/4, các trận địa pháo của ta nã đạn vào sân bay Tân Sơn Nhất. Rạng sáng ngày 29/4, tất cả các cánh quân đồng loạt tổng công kích vào trung tâm thành phố, đánh chiếm các cơ quan đầu não của địch

chien-dich-ho-chi-minh2Sáng 30/4/1975, Sư đoàn 10, Quân đoàn 3 đánh chiếm Sân bay Tân Sơn Nhất
Ảnh internet

Đánh chiếm Dinh Độc lập

4. 3. mua xuan dai thangXe tăng quân giải phóng húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975Ảnh internet

10h45p ngày 30/4, 4 xe tăng của ta húc đổ cánh cổng Dinh Độc lập, bắt sống toàn bộ Ngụy quyền Sài Gòn. Tổng thống Ngụy quyền Sài Gòn Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng không điều kiện và ra lệnh cho quân Ngụy đầu hàng. Vào lúc 11h30 cùng ngày, lá cờ của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc Phủ Tổng thống Ngụy quyền Sài Gòn báo hiệu sự toàn thắng của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ngày 2/5/1975, những địa phương cuối cùng của miền Nam được giải phóng.

Ý nghĩa lịch sử

4.4 . mua xuan dai thangNhân dân Sài Gòn nô nức xuống đường mừng chiến thắng.  Ảnh internet

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 với trận mở màn Buôn Ma Thuột và Chiến dịch Tây Nguyên, tiếp đó là Chiến dịch Huế – Đà Nẵng, cuối cùng là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã hoàn toàn thắng lợi trong gần hai tháng liên tục và kiên cường chiến đấu (từ 18/3/1975 đến 2/5/1975). Đó là chiến thắng vẻ vang nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đánh dấu thắng lợi hoàn toàn và trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ, là sự kiện trọng đại trong lịch sử dân tộc, một sự kiện có tác động lớn đến tình hình thế giới. Trải qua 21 năm tiến hành chiến tranh, 5 đời Tổng thống Mỹ điều hành 4 kế hoạch chiến lược thực dân mới và tiến hành chiến tranh xâm lược, đế quốc Mỹ từng bước leo thang biến cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam thành cuộc chiến tranh có quy mô lớn nhất trên thế giới kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Quân dân miền Nam với quyết tâm, ý chí thắng Mỹ với thế trận chiến tranh nhân dân đã lần lượt đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của chúng mà Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là chiến thắng vĩ đại nhất quyết định số phận của cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.

Chiến thắng mùa Xuân năm 1975 đã đập tan hơn 1 triệu quân Ngụy, lật đổ hoàn toàn chế độ Ngụy quyền tay sai của Mỹ ở miền Nam, cố vấn Mỹ phải rời khỏi miền Nam, Tổng thống Ngụy quyền Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Chiến thắng đó đã giải phóng nhân dân miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và tay sai.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đánh dấu kết thúc 21 năm kháng chiến chống Mỹ, đồng thời kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị của đế quốc Pháp – Mỹ và chế độ phong kiến, rửa sạch nỗi nhục và nỗi đau mất nước hơn 1 thế kỷ của dân tộc Việt Nam.

Chủ nghĩa thực dân cũ, chủ nghĩa thực dân mới và thế lực phản động tay sai là nguyên nhân chia cắt đất nước. Thực dân Pháp chia nước ta thành 3 kỳ trong xứ Đông Dương 5 kỳ thuộc Pháp, xóa tên Việt Nam trên bản đồ thế giới. Đế quốc Mỹ và Ngụy quyền Ngô Đình Diệm chia cắt đất nước thành 2 miền Nam – Bắc với vĩ tuyến 17. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã xóa bỏ mọi ranh giới chia cắt đất nước, đất nước đã được thống nhất về mặt lãnh thổ, đó là điều kiện thuận lợi để hai miền Nam – Bắc thống nhất đất nước về mặt nhà nước và thống nhất trên các lĩnh vực khác.

Đường lối cách mạng dân chủ nhân dân của Đảng là mục tiêu của cách mạng, là niềm tin của dân tộc, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp tạo điều kiện cho miền Bắc hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đại thắng mùa Xuân năm 1975 lật đổ chế độ đế quốc và tay sai, mở đường cho sự hoàn thành trọn vẹn sự nghiệp cách mạng dân chủ nhân dân, xóa bỏ giai cấp phong kiến và giai cấp tư sản ở miền Nam.

Đất nước không còn bóng giặc ngoại xâm, chế độ Ngụy quyền tay sai đã bị lật đổ, Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là một sự kiện trọng đại trong lịch sử dân tộc, mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ đất nước độc lập, thống nhất trong cả nước và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 là một trong những thắng lợi vĩ đại nhất, một trong những chiến công hiển hách nhất của lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, Chiến dịch Hồ Chí Minh – trận kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước- cùng với trận Bạch Đằng (1288), Chi Lăng (1427), Đống Đa ( 1789), Điện Biên Phủ (1954) đã cắm một cột mốc vinh quang chói lọi trong quá trình đi lên của lịch sử nước ta, tô đậm truyền thống kiên cường bất khuất của dân tộc ta trong công cuộc chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc.

Tình đoàn kết gắn bó keo sơn của ba dân tộc Đông Dương được thể hiện sâu sắc trong quá trình của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trên một chiến trường thống nhất nhằm chống một kẻ thù chung với cùng một mục tiêu là giải phóng dân tộc. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 không những mở ra bước ngoặt mới của lịch sử dân tộc và còn tạo thời cơ lớn cho nhân dân Campuchia giải phóng đất nước ngày 17/4/1975, cho nhân dân Lào giành độc lập ngày 2/12/1975.

Đối với đế quốc Mỹ, thất bại ở miền Nam năm 1975 là thất bại của một cuộc chiến tranh hao người tốn của nhất, là thất bại to lớn và nặng nề nhất trong lịch sử 200 năm của đế quốc Mỹ, thất bại đó đã tác động sâu sắc tới nội tình nước Mỹ, làm suy giảm uy tín và vị trí của Mỹ trên trường quốc tế.

Đối với thế giới, Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã đập tan cuộc phản kích lớn nhất vào các lực lượng cách mạng của tên đế quốc đầu sỏ, phá vỡ phòng tuyến ngăn chặn phong trào giải phóng dân tộc và sự mở rộng của chủ nghĩa xã hội ở khu vực Đông Nam Á, góp phần làm đảo lộn chiến lược toàn cầu của đế quốc Mỹ.

Thắng lợi mùa Xuân năm 1975 đã quyết định sự giải thể của khối quân sự SEATO do Mỹ cầm đầu tháng 9 năm 1975, góp phần đem lại hòa bình, an ninh và sự hòa hợp của khu vực Đông Nam Á.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 nói riêng và cuộc kháng chiến chống Mỹ nói chung không chỉ là thắng lợi riêng của dân tộc Việt Nam mà còn là thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Thắng lợi đó đã góp phần tăng cường sức mạnh của chủ nghĩa xã hội, thu hẹp trận địa của chủ nghĩa đế quốc, tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới phát triển.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là nguồn cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc, phong trào dân chủ tiến bộ trên thế giới, tiếp tục chứng minh một chân lý của thời đại ngày nay là: Một dân tộc kiên quyết chống chủ nghĩa đế quốc có đường lối lãnh đạo đúng đắn, có sự đồng tình giúp đỡ của quốc tế thì nhất định sẽ giành được thắng lợi dù phải đương đầu với tên đế quốc đầu sỏ.

Dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, quân và dân ta đã thực hiện được ý nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nhân dân hai miền Nam – Bắc đã sum họp một nhà. Trong cuộc đọ sức giữa ý chí Việt Nam và sức mạnh quân sự Mỹ, mặc dù phải chiến đấu gian khổ, hi sinh nhiều người, nhiều của, nhưng tinh thần và ý chí của nhân dân Việt Nam quyết tâm giành độc lập dân tộc và thống nhất nước nhà đã toàn thắng. Chiến thắng oanh liệt đó mãi là niềm tự hào của mỗi thế hệ người dân Việt Nam, là động lực tinh thần to lớn để chúng ta kiên định, vững bước trên con đường mà Đảng, Bác Hồ kính yêu và nhân dân ta đã chọn: Độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội; tiếp tục công cuộc đổi mới, CNH-HĐH, xây dựng và phát triển đất nước, sánh vai với bạn bè thế giới như Bác Hồ kính yêu vẫn hằng mong muốn./.

Huyền Trang (tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Chuyện của người làm nhà cho Bác Hồ

Những ngày được gần Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi thực hiện nhiệm vụ làm nhà cho Bác tại chiến khu Việt Bắc, để lại trong ông Lê Nhạ, xã Đức Trung, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, những kỷ niệm không bao giờ quên.

Câu chuyện cuộc đời, gắn với trọng trách gần 60 năm về trước như cuốn phim quay chậm hiện dần trong ký ức ông.

chuyen-ngươi-lam-nha-1

“Chú Kiệm”, tên do Bác Hồ đặt tên, quàng khăn, hàng cuối. Ảnh: Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh.

Vinh dự được Bác đặt tên

Ông Lê Nhạ trào nước mắt nhìn về cõi xa xăm: “Được sống, làm việc và phục vụ Bác Hồ ngày ấy thật hạnh phúc. Những năm qua, bạn bè, đồng chí lần lượt ra đi, số còn lại chắc cũng chỉ đủ đếm trên đầu ngón tay. Phần lớn họ đều là người nổi tiếng, được nhiều người biết đến. Riêng tôi, chỉ là một công nhân quốc phòng…”.

Ông nhớ lại, một buổi sáng mùa thu năm 1949, khi sương chưa tan trên đỉnh núi, ông cùng với ba anh em thợ mộc được ông Tạ Quang Chiến, nguyên Tổng Cục trưởng Tổng Cục Thể dục Thể thao Việt Nam, hiện nghỉ hưu ở Hà Nội, lúc đó đang phục vụ Bác Hồ, gọi “đi nhận nhiệm vụ đặc biệt”. Một người ốm không đi được nên ông và hai người bạn khác lên đường.

Ba người đi theo ông Chiến đến giữa rừng rậm, bốn bề cây rừng cổ thụ, dốc đá cheo leo, phía dưới thung sâu là một con suối nước xanh trong như ngọc. Tại một ngôi nhà, đúng hơn là một cái lán bằng tranh tre, nứa lá dựng tạm, thì xuất hiện một cụ già cao thanh mảnh, hiền từ chào hỏi: “Các chú đến đây có biết đi mô không?”.

Ông Nhạ ngập ngừng, lúng túng, quên không chào bằng Bác mà lại buột miệng chào “ông Cụ”. “Bởi lúc ở quê, tôi chỉ biết và nghe người ta nói với nhau là “Cụ Hồ” mà thôi”, ông Nhạ giải thích.

Sau khi nghe ông Nhạ và hai người bạn báo cáo về việc được phổ biến đi làm công nhân, Bác ôn tồn nhắc các ông cất hành lý và dụng cụ rồi nhận nhiệm vụ.

Phía bên kia, cách mấy hàng cây cổ thụ, ông Nhạ thấy có khoảng vài chục người chừng tuổi như mình đang cần mẫn lao động.

Bác tự tay rót nước mời ba người thợ mới tới, nhẹ nhàng căn dặn: “Các chú đến đây thì ở lại làm việc cùng anh em. Mọi người làm gì thì các chú làm nấy. Ai cũng phải tuyệt đối giữ bí mật”.

Nói xong, Bác Hồ nhìn từng người rồi ân cần đặt tên theo một trong những từ theo khẩu hiệu Người nêu ra trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí, Công, Vô, Tư…  Ông Nhạ được Bác Hồ đặt tên là Kiệm, ông Ưng (Nghệ An) là Cần và ông Ngụ (Hà Tĩnh) là Liêm. Ba ông được ông Tạ Quang Chiến tiến cử làm nhà cho Bác.

Bác dạy câu chuyện cảnh giác và tính giản dị

“Khi được gặp Bác Hồ, chúng tôi ai nấy đều xúc động không nói nên lời, mắt đỏ hoe”, “chú Kiệm” bồi hồi tâm sự. Rồi ông kể, chờ qua cơn xúc động, Bác Hồ ôn tồn căn dặn chúng tôi, đại ý, công việc các chú làm không đơn thuần là chặt gỗ, đục nhà mà là công việc liên quan đến cách mạng, đến kháng chiến nên phải hết sức giữ bí mật, nêu cao cảnh giác, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau như anh em một nhà…

Sau khi về lán làm việc, vâng theo lời căn dặn của Bác Hồ, ông Nhạ cùng với hai người bạn, ai lo công việc nấy. Mỗi tiếng chặt, cưa, xẻ gỗ, mỗi tiếng đục, đẽo… các ông đều đặc biệt chú ý, không để phát ra tiếng động mạnh. Họ tuân thủ không tiếp xúc với ai khi chưa có lệnh của người chỉ huy.

Dưới sự hướng dẫn, chỉ bảo trực tiếp của ông Chiến, chẳng bao lâu ba người và một số anh em khác đã hoàn thành ngôi nhà sàn để Bác làm việc và ở.

Nói là ngôi nhà sàn “cho oai” nhưng thực chất rất đơn sơ: Ngôi nhà chỉ bốn cây gỗ đục ra, cao khoảng 5m. Sàn nhà được lát bằng gỗ, phía trên là những tấm phên đan vội để Bác ở và làm việc. Phía dưới trệt là nền đất, có kê những khúc gỗ tròn làm ghế ngồi, và những “chiếc bàn” bằng tre và nứa dùng làm nơi họp Bộ Chính trị.

“Xung quang nhà được đan bằng phên nứa, gió và rét của núi rừng Việt Bắc lọt qua, lạnh thấu xương. Mỗi đợt gió mùa đông bắc kéo về rét tê tái, lòng chúng tôi vô cùng thương cảm Bác”, ông Nhạ buâng khuâng kể lại.

Sau này, ông Cần có “sáng kiến” đan và thưng (cài) thêm một lớp phên nữa để ngôi nhà được kín gió hơn nhưng Bác nhất quyết không đồng ý, vì lý do: ” Khi nào lán của tất cả các chú có hai lớp phên thưng xung quanh thì lúc đó mới thêm phên cho ngôi nhà Bác ở”.

Cảm động và thương Bác cháy lòng, để Người rét ba người thấy mình như có lỗi, nên ai nấy ra sức lao động để có đủ phên thưng hai lớp đỡ rét cho bản thân và cho Bác. Nhưng khi phên đan sắp đủ, do yêu cầu giữ bí mật, các ông được lệnh cùng Bác và Bộ Chính trị dời sang một địa điểm mới, vào sâu hơn trong núi rừng vẫn thuộc chiến khu Việt Bắc (Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn).

“Bác vẫn nhớ mình!”

“Trong suốt hơn ba năm ở, công tác và trực tiếp bảo vệ Bác Hồ, chúng tôi đã ba lần dời địa điểm để đảm bảo bí mật và an toàn cho Bác Hồ và Chính phủ. Những ngày được bảo vệ Bác là những ngày hạnh phúc của cả đời người mà không bao giờ tôi quên bởi gần người ấm áp đến lạ thường”, “Chú Kiệm” kể tiếp.

Tuy Người rất bận công việc quốc gia đại sự nhưng cũng không quên những người công nhân, bảo vệ… Năm 1952, ông Nhạ được điều về xây dựng căn cứ địa ở chiến khu Việt Bắc, không còn được trực tiếp làm việc và bảo vệ Bác Hồ. Đầu năm 1953, khi ông đang lao động trên công trường thì được Bác đến thăm. Trong lúc anh em công nhân vui mừng khôn xiết  râm ran chào Bác, Người nói với cán bộ bảo vệ đi cùng: “Chú Kiệm đang làm việc trên đó kìa”. Xúc động trước chân tình của vị lãnh tụ, ông Nhạ chạy đến bên Bác.

“Một người công nhân, một chiến sĩ bảo vệ như tôi, xa Bác có dễ gần một năm, nay đến thăm công trường, Bác vẫn nhớ làm tôi vô cùng sung sướng vì vinh dự…”, ông Nhạ bày tỏ.

Theo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh

Thanh Huyền (st)
bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm rừng đá Lộ Nam (Trung Quốc)

Tháng 8 năm1962, trong dịp đi nghỉ ở Trung Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm một thắng cảnh nổi tiếng của tỉnh Vân Nam – Rừng đá Lộ Nam. Bà Đỗ Lệ Hoa, một diễn viên giọng nữ cao của Đoàn ca múa tỉnh Vân Nam được tháp tùng Người. Đó là những ngày vinh hạnh trong cuộc đời của bà.

Một năm trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp gỡ và quen biết Đỗ Lệ Hoa. Đó là vào cuối năm 1961, trong dịp Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam sang thăm Trung Quốc. Một hôm, Đoàn nghệ thuật Trung Quốc đang chuẩn bị đi thăm và biểu diễn ở Miến Điện thì được điều động đến biểu diễn phục vụ đoàn Việt Nam tại Hoài Nhân Đường, bà Đỗ Lệ Hoa là thành viên của đoàn. Kết thúc buổi biểu diễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gọi riêng Đỗ Lệ Hoa lên đứng giữa Người và Mao Chủ tịch chụp một bức ảnh. Nét mặt thân thương, hiền từ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một ấn tượng không bao giờ phai đối với bà. Nhận được tin Hồ Chủ tịch mời bà và chồng bà cùng đi với Người thăm Rừng đá Lộ Nam, Đỗ Lệ Hoa vô cùng xúc động, không biết gần một năm đã trôi qua, Hồ Chủ tịch có thay đổi gì không? Bà chỉ ước ao được gặp ngay Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến.

Khi Đỗ Lệ Hoa đến khách sạn Thạch Lâm, Hồ Chủ tịch đã đứng đợi sẵn ở cửa. Vừa trông thấy Đỗ Lệ Hoa, Người nhanh nhẹn bước tới, thân thiết gọi: “Cháu Lệ Hoa, hoan nghênh cháu, cháu vẫn nhớ lần gặp mặt đầu tiên của Bác cháu ta ở Bắc Kinh chứ?. Đỗ Lệ Hoa vui vẻ trả lời: “Nhớ chứ ạ! Nhớ chứ ạ!Rồi bà rút ra một bức ảnh được phóng to đưa cho Hồ Chủ tịch. Người vừa xem bức ảnh vừa quay sang nhìn khuôn mặt Đỗ Lệ Hoa. Người ôn tồn hỏi: “Cháu ốm hay sao? Sắc mặt cháu hơi xanh!”. Đỗ Lệ Hoa báo cáo với Người rằng gần đây mình phải vào bệnh viện điều trị. Với giọng hiền từ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Diễn viên như các cháu là tài sản quý báu của đất nước, phải hết sức giữ gìn sức khoẻ đấy!Nghe Người nói, Đỗ Lệ Hoa cảm động không cầm được nước mắt.

Tối hôm đó, trong phòng khách nhỏ của khách sạn, các nghệ sĩ tỉnh Vân Nam đã tổ chức biểu diễn văn nghệ chào mừng Hồ Chủ tịch. Đỗ Lệ Hoa tham gia biểu diễn đầy nhiệt tình. Bà đã hát hai bài hát Việt “Quê hương” và “Tiếng đàn tơ rưng”. Nghe xong bài hát thứ hai, Hồ Chủ tịch rất vui, Người đứng dậy đến bắt tay Đỗ Lệ Hoa và cảm động nói: “Cháu thực sự là nghệ sĩ của nhân dân hai nước Trung – Việt”. Đỗ Lệ Hoa thưa với Người rằng mình phát âm tiếng Việt chưa chuẩn lắm. Hồ Chủ tịch thân mật nói: “Không đâu, hát giống tiếng Việt lắm. Cháu hát quá tốt!.

Tiếp đó, Đỗ Lệ Hoa hát tặng Người một bài dân ca tỉnh Tứ Xuyên nhan đề “Cô gái Tứ Xuyên đảm đang”. Nghe xong, Hồ Chủ tịch bắt chước giọng Tứ Xuyên đọc lại lời của bài dân ca đó: “Cô gái Tứ Xuyên bao đảm đang, chân cô đi đôi giầy hoa…Nhìn dáng vẻ dí dỏm của Người, mọi người đều vui lây.

Những ngày nghỉ ở rừng đá, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi thăm nhiều thắng cảnh. Đứng ở Đình Vọng Phong, nơi cao nhất của rừng đá, Người trông thấy các xã viên người dân tộc Xa-ni đang làm ruộng ở gần đó, trong lòng rất cảm kích. Người nói: “Nhân dân Trung Quốc đã đổ mồ hôi, cần cù lao động như thế để chi viện cho nhân dân Việt Nam chúng tôi, tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt – Trung thật là đằm thắm gắn bó như chân với tay!.

Dưới khối đá có hình tượng Asưma, Chủ tịch Hồ Chí Minh say sưa nghe Đỗ Lệ Hoa kể câu chuyện truyền thuyết đẹp đẽ về cô gái dân tộc Xa-ni có tên là Asưma. Nghe xong, với tình cảm sâu lắng, Người nói: “Ở Việt Nam cũng có những Asưma hiền lành và thông minh. Các cô gái đó dũng cảm, cần cù, không sợ cường bạo. Đó là niềm tự hào của dân tộc chúng ta!.

Trên đỉnh Liên Hoa, Chủ tịch Hồ Chí Minh phóng tầm mắt ngắm nhìn phong cảnh bao la, tráng lệ và nói với những người cùng đi: “Ở đất nước Việt Nam cũng có nhiều nơi phong cảnh đẹp, nhưng phần lớn đã bị quân xâm lược Pháp tàn phá. Chúng tôi nhất định phải nhanh chóng khôi phục lại đất nước tươi đẹp của chúng tôi.

Theo http://ditichhochiminhphuchutich.gov.vn

Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Họa sĩ Trần Từ Thành tự hào với “Bức tranh Bác Hồ”

“Bức tranh Bác Hồ” đặt trên nóc Nhà Thông tin Thành phố Hà Nội, số 93 Đinh Tiên Hoàng, hơn 30 năm qua, là niềm tự hào không chỉ của riêng tác giả Trần Từ Thành.

Tác phẩm tái hiện hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đang tươi cười bế một em bé trên nền chim hòa bình ngậm cành ô liu. Nét vẽ chim bồ câu được họa sĩ cách điệu từ hình chữ S (biểu hiện bản đồ Việt Nam) có bố cục chặt chẽ, màu sắc đơn giản. Bức tranh mang thông điệp về niềm khát khao hòa bình và đoàn kết dân tộc. Tác phẩm, đặt giữa trung tâm Thủ đô, hàng chục năm qua đã trở thành hình ảnh thân quen, gắn liền với mỗi người dân Hà Nội.

Họa sĩ Trần Từ Thành 1

Bức tranh mang niềm khát khao hòa bình.

Chia sẻ về ý tưởng hình thành nên tác phẩm này, họa sĩ Trần Từ Thành kể: Năm 1975, khi đất nước thống nhất, ông hào hứng tìm đề tài cho bức tranh tham dự cuộc Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc đầu tiên tổ chức vào đầu năm 1976 tại khu triển lãm Vân Hồ, Hà Nội.

Sau nhiều cân nhắc lựa chọn, vị giảng viên Đại học Mỹ thuật Công nghiệp đã dựa trên ý thơ của nhà thơ Tố Hữu trong bài Ta đi tới: “… Lòng ta không giới tuyến. Lòng ta chung một Cụ Hồ. Lòng ta chung một Thủ đô. Lòng ta chung một cơ đồ Việt Nam…”.

Họa sĩ Trần Từ Thành 2

Họa sĩ tự hào vì tác phẩm của mình
trở thành hình ảnh quen thuộc nơi góc phố lớn tại Hà Nội.
 

Bức tranh được trao giải Nhì tại triển lãm năm đó và được Bộ Văn hóa – Thông tin lúc bấy giờ in và phát hành trên toàn quốc. Ngoài ra tác phẩm còn được treo ở Bảo tàng Lênin ở Matxcơva (Nga), La Habana (Cuba)….

Gần đây, nhiều nhà sưu tập trong nước và quốc tế “dạm mua” bản gốc của bức tranh nhưng Trần Từ Thành đều từ chối, bởi với ông “đó là kỷ vật riêng của đời mình”.

Ngọc Điệp

Theo http://vnexpress.net

Thu Hiền (st)
bqllang.gov.vn

Đền thờ Bác Hồ trên đỉnh non thiêng Ba Vì

“Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra HỒ CHỦ TỊCH, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta”– trích Điếu văn của BCH TƯ Đảng Lao động Việt Nam đọc trong Lễ tang của Người năm 1969.

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, đã để lại muôn vàn thương tiếc cho đồng bào cả nước. Nhân dân cả nước đã lập bàn thờ Bác Hồ ở khắp nơi, từ trong chính ngôi nhà mình, ở các tỉnh, ở những nước Người đã bôn ba và đặt chân tới trên đường đi tìm đường cứu nước. Thậm chí trong nhiều đền, chùa, đình, đền, cũng lập bàn thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh tỏ lòng thành kính, nhớ thương Người.

Một trong số những nơi thờ Bác được nhiều người biết đến là Đền thờ Bác Hồ trên đỉnh non thiêng Ba Vì. Từ cuối năm 1998 đến đầu năm 1999, nghĩa là bước vào dịp kỷ niệm 30 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một số đồng bào và cán bộ vốn có tâm huyết xây dựng Ðền thờ Bác Hồ. Sau đó, họ cùng nhau góp công sức tự tổ chức thiết kế và xây dựng chỉ trong khoảng sáu tháng đã căn bản hoàn thành công trình. Việc xây dựng Ðền thờ là phù hợp với một số ý tưởng trong Di chúc của Bác và cũng đã được sự phê chuẩn của đồng chí Ðào Duy Tùng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư hồi đó. Ngôi đền tưởng niệm Bác Hồ được bắt đầu xây dựng từ ngày 1/3/1999 và khánh thành đúng vào ngày 21 tháng Bảy âm lịch năm ấy, ngày giỗ Bác. Người được vinh dự thiết kế ngôi đền là kiến trúc sư Hoàng Phúc Thắng, còn kiến trúc sư Nguyễn Trực Luyện làm chủ nhiệm công trình, chỉ đạo thi công. Kinh phí xây dựng đền do nhiều tập thể, cá nhân đóng góp, thể hiện sự biết ơn đối với Bác Hồ, người Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá do Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc tôn vinh.

Núi Ba Vì được coi là ngọn núi tổ của nước Đại Việt. Dãy núi Ba Vì có ba ngọn, đỉnh cao nhất là đỉnh Vua, cao 1.296m. Đỉnh giữa là đỉnh Tản Viên, cao 1.281m. Đỉnh thứ ba là đỉnh Ngọc Hoa, cao 1.120m. Trên đỉnh ngọn núi nổi tiếng nhất là Tản Viên có Đền Thượng thờ Thánh Tản – một trong “tứ bất tử” theo tín ngưỡng của người Việt (Thần Tản Viên, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử, Bà chúa Liễu Hạnh). Còn trên đỉnh núi Vua cao nhất tọa lạc một ngôi Đền thờ một con người, một nhân vật của lịch sử, của thời đại – Đền thờ Bác Hồ.

Để đến được Đền thờ Bác Hồ, từ chân núi Ba Vì, phải đi ô tô leo dốc quanh co vượt quãng đường dài 12km, tiếp đó, phải leo hơn 1.300 bậc thang đá bên vách núi. Tới đây du khách như lạc vào cõi thiêng, bởi được đi xuyên qua cánh rừng nguyên sinh với những cây cổ thụ vút lên, mốc và rêu xanh bám phủ thân cây, dây leo chằng chịt, sương mù phủ giăng giăng mặc dù vẫn có mặt trời.

Đến thăm Đền thờ Bác Hồ ở trên đỉnh non thiêng Ba Vì, ngồi bên trong ngôi Đền nhìn ngắm cảnh vật bên ngoài ta thấy thiên nhiên hòa quyện ùa vào từ mọi phía làm cho ngôi Đền luôn tràn ngập ánh sáng, chứ không cô tịch mờ ảo như ta thường gặp ở các ngôi đền khác. Ngoài bức tường phía sau Ban thờ Bác, ba bề xung quanh và phía trước của ngôi Đền có kiến trúc khác biệt với các ngôi đền truyền thống là không có tường bao quanh, tất cả được để mở bằng những chiếc cột to tròn dùng làm trụ đỡ cho toàn bộ mái Đền và những chân tường thấp chỉ nhô cao chừng 0,5m, mặt trên được lát những tấm gỗ dài chắc chắn tựa như những chiếc ghế băng dài làm chỗ nghỉ chân cho du khách. Ngôi Đền được kiến trúc thật gần gũi, hài hoà với thiên nhiên như những ngôi nhà lúc sinh thời Bác vẫn thường dùng để ở và làm việc, đúng như mong muốn mà Bác đã để lại trong Di chúc: “…Nên xây một cái nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi…”.

dền thờ BácNgôi Đền thờ Bác trên đỉnh Vua núi Ba Vì

Trên bệ thờ đá có bức tượng Bác Hồ đúc bằng đồng trong tư thế ngồi, phía trên là bức hoành phi ghi dòng chữ nổi tiếng: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Trên cao là cờ Tổ quốc ghép bằng đá hoa cương màu đỏ. Hai bên bệ thờ là chuông đồng và khánh đồng. Ngoài ra còn nhiều hạng mục công trình khác tạo nên một không gian hài hòa, tinh tế nhưng vẫn hết sức giản dị.

ảnh bác ngopi đọc báo nhần dânTượng Bác Hồ trong tư thế ngồi đọc Báo Nhân Dân

Những hình ảnh và hiện vật về Bác được bày trang trọng tại đây làm ta càng nhớ tới Người. Trước Đền, một tấm bia đá lớn nguyên khối, mặt trước khắc một đoạn trong Điếu văn của BCH TƯ Đảng Lao động Việt Nam được đọc trong lễ tang của Người năm 1969: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra HỒ CHỦ TỊCH, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta”. Mặt kia khắc bút tích Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

đền thượng bia đáTấm bia đá lớn nguyên khối, mặt trước khắc một đoạn trong Điếu văn của BCH TƯ Đảng Lao động Việt Nam được đọc trong Lễ tang của Người năm 1969

Ở bức tường đầu hồi của Đền có hình trống đồng với hình bản đồ Việt Nam và dòng chữ màu vàng: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi – Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Những cán bộ, nhân viên trạm kiểm lâm thuộc Vườn quốc gia Ba Vì, ngoài công việc tuần tra bảo vệ gần một nghìn héc-ta rừng thuộc đặc khu bảo vệ nghiêm ngặt, còn đảm nhiệm việc trông coi Ðền thờ Bác Hồ. Các cán bộ kiểm lâm ở đây cho biết từ khi khánh thành đến nay, hằng ngày Đền thờ Bác luôn ấm áp khói hương và hoa tươi. Ngôi Đền được các cán bộ kiểm lâm của Vườn Quốc gia Ba Vì túc trực, chăm sóc bất kể lúc thời tiết khắc nghiệt nhất. Vào những ngày lễ, Tết và ngày mồng Một, Rằm, số lượng người đến thăm Đền và lễ Bác rất đông. Đông khách nhất là vào ngày giỗ Bác, 21 tháng Bảy Âm lịch hằng năm, rồi đến trong dịp kỉ niệm ngày sinh của Bác (19-5), những ngày đầu năm, cuối năm.

1Một em bé theo bố mẹ đi lễ Đền thờ Bác Hồ

Mặc dù đường lên Đền thờ Bác phải leo qua không ít đoạn dốc dựng đứng của con đường nhỏ luồn lách, uốn lượn quanh những gốc cây rừng nhưng trong dòng người chậm rãi leo lên từng bậc thang đá, có rất nhiều trẻ em và cả những cụ già tay chống gậy, hai bên có con cháu dìu cho bước chân thêm vững để lên được đến Đền thờ thắp nén hương thơm dâng lên Người. Khi về đây cảm nhận sự thành kính của mỗi người khi đến thăm Đền thờ ta như thấy thêm kính yêu hơn vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc ta. Để từ đó nguyện suốt đời học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người và cũng hứa với Người sẽ cố gắng phấn đấu tu dưỡng học tập, rèn luyện đạo đức để đóng góp sức mình vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Phong cách dân chủ của Bác

10a. Phong cách dân chủ của Bác1Chủ tịch Hồ Chí Minh họp với Thường vụ Trung ương Đảng
quyết định mở Chiến dịch Biên Giới (1950)

Là người đứng đầu Đảng cầm quyền, đứng đầu Nhà nước dân chủ, ở đỉnh cao của quyền lực, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên có phong cách làm việc tập thể và dân chủ. Gắn bó với tập thể, tôn trọng tập thể, phát huy sức mạnh của tập thể là phương châm chỉ đạo suy nghĩ và hành động của Người.

Trong hàng trăm, hàng nghìn câu nói của Người về dân chủ đều luôn luôn nổi bật vai trò chủ động, tích cực của dân, đều luôn luôn nhất quán với tinh thần trọng dân gắn liền với trọng pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh rành mạch và tường minh trong những khẳng định sau đây:

– Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trên thế giới không có sức mạnh nào mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân.

– Dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ. Dân chủ là của quý báu nhất trên đời của dân.

– Thực hành dân chủ rộng rãi sẽ là chiếc chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn.

– Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương là do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng, đều ở nơi dân…

Người còn nhấn mạnh, trong một nước dân chủ thì nhân dân là chủ. Cán bộ, đảng viên cũng như nhiệm vụ của chính quyền ta và đoàn thể ta là phụng sự nhân dân. Nghĩa là làm đầy tớ cho dân. Dân đã có quyền làm chủ thì cũng phải thi hành nghĩa vụ của người chủ. Đây là những tóm tắt cô đọng nhất bản chất của dân chủ và quyền làm chủ, có giá trị như những định nghĩa kinh điển về dân chủ. Mấu chốt của vấn đề là ở chỗ, dân là chủ thể gốc của quyền lực. Dân ủy quyền cho Nhà nước để Nhà nước thực hiện quyền lực nhân dân, phụng sự lợi ích, nhu cầu và cả ý chí của dân. Đảng cũng chỉ vì dân mà tồn  tại.

Dân chủ và quyền làm chủ của dân phải trở thành một giá trị thực tế chứ không phải một lời nói suông. Dân chỉ biết đến dân chủ, công bằng, bình đẳng khi dân được ăn no, mặc ấm. Độc lập tự do phải tranh đấu mà có được thì phải làm sao cho dân được ấm no, tự do, hạnh phúc. Đã tranh được tự do độc lập rồi mà dân vẫn đói rét, cực khổ, lạc hậu thì độc lập tự do cũng chẳng để làm gì. Thiết thực đến như vậy cho nên chúng ta phải làm ngay, làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, được học hành tiến bộ, được tự do đi lại, được chăm sóc sức khỏe, được hưởng quyền tự do, hạnh phúc mà họ xứng đáng được hưởng. Đó là dân chủ thực chất để làm chủ thực chất, không hình thức giả dối, cũng không phù phiếm giả tạo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt mình trong tập thể, lắng nghe ý kiến của tập thể, phát huy sức mạnh của tập thể, nhận trách nhiệm cá nhân và hoàn thành tốt nhiệm vụ được tập thể giao phó và tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Người luôn đòi hỏi cán bộ, đảng viên trước hết là những người lãnh đạo phải có tác phong tập thể dân chủ thực sự. Bởi vì mọi sự giả tạo đều làm suy yếu, thậm chí phá vỡ tập thể, mọi thói hình thức chủ nghĩa sớm muộn sẽ làm xói mòn, thậm chí triệt tiêu dân chủ.

Trước hết, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên phải gắn bó với tập thể, tôn trọng tập thể, đặt mình trong tập thể, lắng nghe ý kiến của tập thể, đồng thời tinh thần ấy cũng thấm sâu vào suy nghĩ và hành động của Người. Chủ tịch Hồ Chí Minh không bao giờ đặt mình cao hơn tổ chức, ở ngoài sự kiểm tra, giám sát của tổ chức, mà luôn luôn tranh thủ bàn bạc với tập thể Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Chính phủ và Quốc hội, khi cần thiết, triệu tập cả Hội nghị chính trị đặc biệt – một hình thức Diên Hồng của thời đại mới – để xin ý kiến các đại biểu quốc dân.

Khi bàn về cách làm và xuất bản loại sách Người tốt, việc tốt với một số cán bộ, Người nói: “Bác muốn bàn luận dân chủ, các chú có ý kiến gì trái với Bác thì cứ cãi, nhất trí rồi về làm mới tốt được. Không nên: Bác nói gì, các chú cứ ghi vào sổ mà trong bụng thì chưa thật rõ, rồi các chú không làm, hay làm một cách qua loa”.

Thứ hai, là phải mở rộng dân chủ để phát huy sức mạnh của tập thể. Người thường nói: Đề ra công việc, đẻ ra nghị quyết, không khó, vấn đề là thực hiện nó. Ai thực hiện? – Tập thể, quần chúng. Vì vậy, có dân chủ, bàn bạc tập thể mới cùng thông suốt, nhất trí, mới cùng quyết tâm thực hiện, tránh được “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Sở dĩ xảy ra mất đoàn kết vì người đứng đầu ở nơi đó còn chuyên quyền, độc đoán, áp đặt chủ quan, trong hội nghị thì mọi người miễn cưỡng đồng tình, sau hội nghị nếu đã không thông thì sẽ không quyết tâm thực hiện. Vì vậy, Người yêu cầu: “Phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình”. “Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến”; “thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”. Bản thân Người là tấm gương mẫu mực về thực hành dân chủ. Trong công tác lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Người luôn có ý thức sử dụng sức mạnh tổng hợp của nhiều cơ quan, nhiều tổ chức, sức mạnh tập thể và sức mạnh tổng hợp của quần chúng, nhân dân. Trước khi quyết định một công việc hệ trọng, Người đều hỏi lại cẩn thận và chu đáo những người đã giúp mình. Tất cả những ai đã được Bác giao việc đều cảm nhận sâu sắc điều đó.

Phong cách dân chủ Hồ Chí Minh được thể hiện từ việc lớn cho đến việc nhỏ: Chuẩn bị ra một nghị quyết hay dự thảo một văn kiện, viết một bài báo… Người đều đưa ra thảo luận trong tập thể Bộ Chính trị, tham khảo ý kiến những người xung quanh. Người tuân thủ chặt chẽ quy trình ra quyết định: Mọi vấn đề kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, khoa học – kỹ thuật… Người đều huy động sự tham gia của đội ngũ trí thức, chuyên gia trong bộ máy của Đảng và Nhà nước, yêu cầu chuẩn bị kỹ, trao đổi rộng, sao cho mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều được cân nhắc kỹ, lựa chọn thận trọng, để sau khi ban hành, ít phải thay đổi, bổ sung.

Thứ ba, là nhận trách nhiệm cá nhân, hoàn thành tốt nhiệm vụ được tập thể giao phó và tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Là người đứng đầu Đảng cầm quyền, đứng đầu Nhà nước, nhưng Hồ Chí Minh thường xuyên có phong cách làm việc tập thể và dân chủ. Người giải thích: “Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách, tức là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tức là dân chủ tập trung”.

Tác phong tập thể – dân chủ của Bác luôn luôn tạo ra được không khí làm việc hoạt bát, phấn khởi, hăng hái và đầy sáng tạo. Cương vị lãnh đạo càng cao, thì càng đòi hỏi phải có tác phong tập thể – dân chủ thật sự, chứ không phải hình thức. Bởi vì mọi sự giả tạo đều làm suy yếu, thậm chí phá vỡ tập thể. Mọi thói hình thức chủ nghĩa, sớm muộn sẽ làm xói mòn, thậm chí triệt tiêu dân chủ. Nhiều lần, Người đã phê bình cách lãnh đạo của một số cán bộ không dân chủ, do đó mà người có ý kiến không dám nói, người muốn phê bình không dám phê bình, làm cho cấp trên, cấp dưới cách biệt nhau, quần chúng với Đảng xa rời nhau, không còn hăng hái, không còn sáng kiến trong khi làm việc. Từ thực hành dân chủ cho nhân dân, đến thực hành dân chủ trong Đảng, trong cơ quan, tổ chức, phong cách dân chủ của Bác Hồ là sự thể hiện nhất quán của tư tưởng đạo đức vì dân, vì nước, như Người từng khẳng định 5 điểm đạo đức mà người đảng viên phải giữ gìn cho đúng, đó là:

– Tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân.

– Ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng.

– Vô luận trong hoàn cảnh nào cũng quyết tâm chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu.

– Vô luận trong hoàn cảnh nào, cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết. Hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng.

Học tập và làm theo Người, mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt mình trong tổ chức, trong tập thể, phải tôn trọng nguyên tắc của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kỷ cương của xã hội. Mọi biểu hiện dân chủ hình thức, hay ngược lại, dân chủ quá trớn, lợi dụng dân chủ để “kéo bè, kéo cánh”, để làm rối loạn kỷ cương, để cầu danh, trục lợi, hoặc chuyên quyền, độc đoán, đứng trên tập thể, đứng trên pháp luật, làm cho nhân dân bất bình, cần phải bị lên án và loại bỏ. Học tập đạo đức Hồ Chí Minh, tất cả vì nhân dân, mỗi cán bộ, đảng viên, dù ở bất cứ cương vị nào, phải gần dân, học dân, có trách nhiệm với dân. Phải trăn trở và thấy trách nhiệm của mình khi dân còn nghèo, đói. Không chỉ sẻ chia và đồng cam, cộng khổ với nhân dân, mà còn phải biết tập hợp nhân dân, phát huy sức mạnh của nhân dân, tổ chức, động viên, lãnh đạo nhân dân phấn đấu thoát khỏi đói, nghèo. Nhân dân là người thầy nghiêm khắc và nhân ái, luôn luôn đòi hỏi cao ở cán bộ, đảng viên, đồng thời cũng sẵn lòng giúp đỡ cán bộ, đảng viên hoàn thành nhiệm vụ, phát huy ưu điểm, sửa chữa sai lầm, khuyết điểm.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ phát biểu tại Đại hội đại biểu thanh niên Hà Nội (Nói ngày 27/9/1945)

7a.
Ảnh Tư liệu

Các anh em nếu đến đây để đợi nghe một bài diễn văn bóng bảy, hoa mỹ thì các anh em sẽ thất vọng. Những lời tôi nói với anh em sẽ chỉ rất giản dị, rất thiết thực. Tôi sẽ không khen ngợi anh em, mà chỉ chú ý vạch ra những khuyết điểm của anh em. Những khuyết điểm ấy, có mấy điều lớn nhất sau đây:

Một là, thanh niên nhất là thanh niên Hà thành vốn giữ tính kiêu căng, biệt phái, bởi vậy những tổ chức đều chia rẽ, cô lập, chưa hợp thành được một mặt trận thống nhất.

Hai là, thanh niên tuy có hăng hái, sôi nổi nhưng kém sáng kiến; việc gì cũng đợi ở Tổng bộ hoặc Chính phủ ra cho mệnh lệnh, chỉ thị, giúp hộ ý kiến hoặc định hộ kế hoạch; lại không biết tự ý đề nghị với Chính phủ những việc cần phải làm hay phải sửa chữa.

Ba là, các đồng chí phụ trách thanh niên không chịu đào tạo, dìu dắt thêm những cán bộ mới, tuy những phần tử có thể trở nên cán bộ vẫn không thiếu trong đám thanh niên.

Bây giờ, cần phải làm sao cho mất những khuyết điểm ấy. Việc cần trước nhất là làm thống nhất các tổ chức thanh niên. Mỗi giới thanh niên có một nguyện vọng, quyền lợi, đường lối phát triển riêng. Bây giờ không phân biệt, giới nào cũng phải đứng chung trong một tổ chức duy nhất. Nhưng điều đó không phải sẽ cột chặt tất cả sự hoạt động riêng của mỗi giới, không cho tự phát triển, miễn là những hoạt động ấy không đi ngược lại với hướng hoạt động chung của toàn thể. Sau đó, việc nên chú ý đến là sự định rõ những công việc và nhiệm vụ của thanh niên như là: Đi sâu vào quần chúng để san sẻ những thường thức về chính trị và quyền lợi công dân; ủng hộ Chính phủ không phải chỉ bằng những lời hoan hô suông thôi, mà cần phải một mặt giải thích cho dân chúng về những nỗ lực của Chính phủ, một mặt phê bình, giám đốc, tham gia ý kiến vào công việc của Chính phủ; chiến đấu giữ lấy nền độc lập và tự luyện ngay từ bây giờ để sau này lên thay những thủ lĩnh mà gánh vác việc trọng đại của nước nhà. Nói tóm lại, phải làm sao cho tổ chức thanh niên Hà Nội phải thành một khối thanh niên khuôn mẫu cho thanh niên toàn xứ và toàn quốc.

Nói ngày 27-9-1945. Báo Cứu quốc, số 53, ngày 28-9-1945.

Tâm Trang(st)
bqllang.gov.vn