Tag Archive | Hồ Chí Minh

Bài 1: Bác đã về đây, Tổ quốc ơi!

Kỷ niệm 70 năm Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng (28-1-1941/28-1-2011)

Thấm thoắt, 70 năm đã trôi đi với biết bao biến cố, đổi thay vĩ đại trên quê hương Việt Nam. 70 năm trước, vào một ngày xuân năm 1941 (ngày 28-1), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng một số cán bộ thân cận từ nước ngoài trở về đến Pác Bó, một bản biên giới thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng (Cao Bằng). Sau ngót 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, cứu dân, Người trở về đúng thời điểm lịch sử, vạch ra phương châm chuyển hướng chỉ đạo chiến lược lãnh đạo cách mạng đi đến Cách mạng Tháng Tám thành công…

Nhóm phóng viên Báo Quân đội nhân dân vừa có cuộc hành quân về nguồn Pác Bó, thấy như đâu đây, đất rừng Pác Bó quê hương vẫn còn ấm dấu chân Người.

Bài 1: Bác đã về đây, Tổ quốc ơi!

QĐND – Chúng tôi quyết định thực hiện chuyến hành quân về nguồn Pác Bó khi tâm trạng còn lâng lâng hạnh phúc với niềm vui vừa có gần chục ngày tham gia tuyên truyền về diễn biến và thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Niềm vui ấy, khiến chúng tôi quên khuấy nỗi lo đặt ra khi khởi bước lên đường là cả tổ phóng viên, chưa có ai biết đường lên Pác Bó. Xe đến thị xã Cao Bằng, đứng trước bốn năm ngã rẽ, chúng tôi mới bối rối thực sự. Đành gọi điện, hỏi thăm các đồng nghiệp ở Báo Cao Bằng. Đúng là “khôn ngoan chẳng lọ thật thà”, vì Ban biên tập Báo Cao Bằng vui vẻ cử hẳn nữ phóng viên Hoàng Hồng Xiêm, một người con Pác Bó, rất am hiểu lịch sử quê hương, làm người dẫn đường kiêm “hướng dẫn viên” đưa chúng tôi về với mảnh đất cội nguồn cách mạng.

Ban đầu, Hồng Xiêm tỏ ra bẽn lẽn trước các “nhà báo lính” mà cô chưa quen. Thấy cô họ Hoàng, chúng tôi hỏi câu chuyện làm quà: “Nghe nói ở Pác Bó có hai dòng họ là họ Hoàng và họ Dương. Trong thời gian Bác Hồ về đây, họ Dương nổi tiếng với những chiến công bảo vệ Bác khỏi những đợt đi càn của lính Tây, lính dõng; còn họ Hoàng thì đùm bọc, chở che, đưa cơm nuôi dưỡng cán bộ các lớp học do Bác Hồ mở trong hang?”. Nghe câu hỏi ấy, Hồng Xiêm hào hứng hẳn lên, hỏi lại: “Các anh đã tìm hiểu về Pác Bó, có nghe tên nữ lão thành cách mạng Hoàng Thị Hoa bao giờ chưa?”. “Cụ Hoàng Thị Hoa, cô chị cả của ba chị em Hoa, Khìn, Bách hằng ngày vẫn đưa cơm cho Bác Hồ?”. “Đúng, chính xác, em chính là cháu nội bà Hoàng Thị Hoa”.

Tranh sơn dầu "Bác Hồ về nước" của hoạ sĩ Trịnh Phòng (ảnh chụp lại).

Trời đất! Chúng tôi nghe nữ nhà báo Hồng Xiêm trả lời mà như một tiếng reo mừng thắng lợi. Ba chị em nhà cụ Hoàng Thị Hoa chính là những lão thành cách mạng từng nuôi dưỡng, bảo vệ Già Thu (tên Bác Hồ khi về Pác Bó) còn sống. Và trong thâm tâm, chúng tôi hy vọng chuyến đi về nguồn lần này sẽ được gặp ba chị em, ba cụ bà lão thành cách mạng đã tham gia nuôi dưỡng Lãnh tụ Hồ Chí Minh trong buổi đầu cách mạng còn trứng nước ấy. Không ngờ, người dẫn đường cho chúng tôi lại chính là cháu gái của cụ Hoa. Cô cháu gái là niềm tự hào của cả họ vì đã tốt nghiệp hai trường đại học, nay đang là một trong những phóng viên xông xáo của Báo Cao Bằng. Càng đặc biệt hơn, Hồng Xiêm rất thích thú với công việc sưu tầm tư liệu lịch sử về vùng quê cách mạng Cao Bằng.

“Các anh có biết vì sao Bác Hồ chọn đất Cao Bằng để về nước xây dựng căn cứ địa cách mạng đầu tiên?”, nữ đồng nghiệp Hồng Xiêm “kiểm tra” chúng tôi. Cái này thì chúng tôi cũng đã được đọc hồi ký của một số lão thành cách mạng. Đại thể, từ cuối năm 1940, trong nước bắt đầu những ngày cách mạng sục sôi, tình thế cách mạng phát triển thuận lợi, khởi nghĩa giành chính quyền đã trở thành khả năng thực tế. Trong năm bùng nổ ba cuộc khởi nghĩa: Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương. Hai cuộc do đảng bộ địa phương lãnh đạo, một cuộc do binh sĩ yêu nước tự nổi dậy, thể hiện ý chí quật khởi của dân tộc, tinh thần tiến công cách mạng quả cảm của những người cộng sản. Các cuộc khởi nghĩa tuy thất bại nhưng Đảng ta đã rút ra được nhiều bài học quý về tổ chức và chỉ đạo đấu tranh vũ trang. Thời gian này cũng là lúc Thế chiến II đã bùng nổ, thực dân Pháp tham chiến nhưng chính phủ ở chính quốc phút chốc đầu hàng làm tay sai cho phát xít Đức; ở Đông Dương, chúng mở cửa rước quân Nhật vào. Nhân dân ta một cổ giữa hai tròng dưới gót giày đàn áp của đế quốc. Tình hình cấp bách đó, Bác Hồ đi đến quyết định sẽ về hẳn trong nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Bác đã chọn, quyết định về Cao Bằng và điểm dừng chân sẽ là Pác Bó…

“Không! Nếu thế thì đơn giản quá. Để Bác đi đến quyết định chọn Cao Bằng là nơi trở về lãnh đạo cách mạng, tổ chức Đảng và nhân dân Cao Bằng đã có cả một quá trình vận động, tạo nên các yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa để trở thành địa điểm được Bác chọn đấy các anh ạ” – Hồng Xiêm giải thích và không hề giấu giếm vẻ tự hào. Sự thực là từ cuối tháng 2-1940, được tin Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về đến Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc), Trung ương Đảng cử một số cán bộ như: Phạm Văn Đồng (bí danh là Lâm Bá Kiệt), Võ Nguyên Giáp (bí danh là Dương Hoài Nam), Đặng Văn Cáp (bí danh là Đặng Văn Linh), Hoàng Văn Lộc và một số đồng chí khác sang Trung Quốc để tìm gặp, báo cáo tình hình trong nước và xin chỉ thị của Người. Sau gần 3 tháng, đến tháng 5-1940, đồng chí Phùng Chí Kiên dẫn đồng chí Đặng Văn Cáp đến Côn Minh gặp Bác. Sau khi trao đổi, Bác đồng ý phương án về nước bằng đường Côn Minh-Lào Cai, qua huyện Khai Viễn. Bác phái 2 cán bộ về Hồ Kiều (một thị trấn của tỉnh Vân Nam sát địa phận tỉnh Lào Cai nước ta) để thăm dò đường xá.

Nhưng cuối tháng 6-1940, xảy ra sự kiện quân Nhật ném bom khiến đường giao thông Côn Minh-Lào Cai bị tắc nghẽn. Bác Hồ đóng vai thầy cúng đi kiểm tra tình hình thì thấy phong trào cách mạng của quần chúng ở khu vực giáp biên này chưa cao, nên đề nghị các đồng chí trong đoàn tìm hướng khác. Đầu tháng 1-1941, đồng chí Hoàng Văn Thụ, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng từ Việt Nam sang Tĩnh Tây (Quảng Tây, Trung Quốc) gặp Bác để báo cáo kết quả thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng về xây dựng và củng cố an toàn khu Cao Bằng. Sau khi báo cáo kết quả việc chuẩn bị Hội nghị Trung ương lần thứ 8, đồng chí Hoàng Văn Thụ đề nghị Bác về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam qua lối Cao Bằng, vì trình độ giác ngộ cách mạng của nhân dân dọc biên giới tương đối cao và đội ngũ cán bộ ở đây khá vững vàng.

Năm 1961, khi trở lại thăm Cao Bằng, Bác Hồ đã viết những lời đầy xúc động: “Tôi luôn luôn nhớ đến những ngày tôi công tác ở tỉnh ta, cùng mấy đồng chí trong tỉnh trèo đèo lội suối, ở núi, nằm hang. Khi thì cùng 5, 7 anh chị em bí mật tuyên truyền, huấn luyện tổ chức; khi thì cùng các anh em du kích đánh Nhật, chống Pháp, trừ Việt gian; anh em no đói có nhau, đồng lòng một chí. Do đó mà đào tạo những cán bộ quân sự và chính trị. Tôi không bao giờ quên những ngày gian nan cực khổ đó”. Thăm lại hang Pác Bó, Bác viết bài thơ: “Hai mươi năm trước ở hang này/Đảng vạch con đường đánh Nhật, Tây/Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu/Non sông gấm vóc có ngày nay”.

Nghiên cứu báo cáo của đồng chí Hoàng Văn Thụ, Bác Hồ nhận định: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước lại kề sát biên giới lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi; nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối được phong trào giữa Thái Nguyên với toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ”.

Từ nhận định đó, ngày 6-1-1941, Bác Hồ cùng các đồng chí: Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên, Đặng Văn Cáp… được đồng chí Hoàng Sâm dẫn đường về bản Nậm Quang (Tĩnh Tây, Trung Quốc). Tại đây, Bác đã mở lớp học và trực tiếp huấn luyện chính trị cho hơn 40 cán bộ từ trong nước cử sang. Lớp học kết thúc đúng vào ngày 30 Tết Tân Tỵ năm 1941. Cũng trong ngày hôm đó, Bác bàn kế hoạch về nước. Người quyết định đi qua cột mốc 108 về Pác Bó (Cao Bằng). Lúc này, ở dọc biên giới, quân Pháp cho bọn lính dõng tay sai tăng cường lùng sục, bắt bớ. Để chắc chắn, Đoàn cán bộ về nước chia làm ba nhóm. Hai nhóm về trước nắm tình hình địch và tổ chức khảo sát đường đi. Ngay khi hai nhóm này lên đường thì nhóm thứ ba, trực tiếp bảo vệ Bác cũng đi về bản Nậm Tẩy (Quảng Tây, Trung Quốc) để chờ tin, sẵn sàng xuất phát khi điều kiện thuận lợi.

Sau 30 năm bôn ba khắp năm châu, bốn biển, khi về nước, hành lý mà Bác mang theo hầu như chẳng có gì. Chỉ một chiếc va li nhỏ được đan bằng mây tre để đựng quần áo và một chiếc máy chữ xách tay. Những người bảo vệ trực tiếp và đi theo Bác Hồ về nước, ngoài đồng chí Phùng Thế Tài, đồng chí Lê Quảng Ba còn có các đồng chí: Hoàng Văn Lộc, một cán bộ người dân tộc Tày, có kinh nghiệm hoạt động bí mật ở vùng Cao Bằng; Đặng Văn Cáp là một thanh niên rất khỏe, giỏi võ và biết chữa bệnh bằng thuốc nam; Thế An cũng là một cán bộ người dân tộc Tày, rất thông thạo đường rừng, đường tắt.

Trong bức tranh “Bác Hồ về nước” nổi tiếng của họa sĩ Trịnh Phòng, chúng ta thấy Bác Hồ mặc bộ quần áo đặc trưng của đàn ông dân tộc Nùng thường mặc trong dịp Tết: quần áo chàm, đầu đội mũ kiểu bê-rê cũng bằng vải màu chàm, chân đi đôi giày vải đen, quàng khăn để vừa ấm vừa che kín bộ râu. Hồi ký của đồng chí Vũ Anh sau này kể rằng: Đó chính là sự ngụy trang rất tinh tế của Bác Hồ. Trước hôm về nước, Bác phân tích: “Vùng này có nhiều người dân tộc Nùng. Họ có phong tục, cứ đến Tết là các chàng rể (già cũng như trẻ) đều phải mang đồ lễ về “cúng ma” ở nhà bố mẹ vợ. Vì vậy, cả nhóm ăn mặc như những chàng rể người Nùng đang trên đường về nhà bố mẹ vợ”. Bác cũng tự lo cho mình một bộ trang phục của “chàng rể già người Nùng”.

Sáng sớm 28-1-1941, tức ngày mồng 2 Tết Tân Tỵ, cả đoàn xuất phát từ bản Nậm Quang. Sau 8 giờ đi đường, khoảng 12 giờ trưa thì đến dãy núi Phia Sum Khảo, nơi có cột mốc biên giới số 108 trên biên giới Việt-Trung, thuộc xã Trường Hà (Hà Quảng, Cao Bằng). Dừng chân ở cột mốc, đứng bên phía khắc dòng chữ An Nam (Pháp) với số hiệu 108, Bác lặng người vì xúc động. Tổ quốc đây rồi! Mảnh đất quê hương mà trong suốt 30 năm qua, Người luôn nghĩ đến không ngừng nghỉ, dù chỉ một phút giây. Đứng trên đỉnh núi, nhìn hai bên biên giới chỉ cách nhau bước chân, cùng màu xanh thẳm mà sao lòng Người nôn nao, bồi hồi, xúc động.

Nhà báo Hồng Xiêm dẫn đường đưa chúng tôi vượt qua hàng nghìn bậc đá, đến bên cột mốc cũ 108, sát cạnh đó là cột mốc mới mà ta và bạn vừa tiến hành cắm. Cột mốc mới mang số hiệu 675. Bất chợt, bốn câu thơ Tố Hữu vang lên trong mỗi chúng tôi: “Bác đã về đây, Tổ quốc ơi!/Nhớ thương hòn đất ấm hơi Người/Ba mươi năm ấy, chân không nghỉ/Mà đến bây giờ mới tới nơi”.

——————-

Bài và ảnh: Nhóm phóng viên CTĐ, CTCT
Bài 2: Đây suối Lê-nin, kia núi Mác

qdnd.vn

Bài 2: Đây suối Lê-nin, kia núi Mác

Kỷ niệm 70 năm Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng (28-1-1941/28-1-2011)

QĐND – Chúng tôi rời cột mốc 108 trong sự bồi hồi, xúc động khi được đến nơi mà 70 năm trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt dấu chân đầu tiên lên mảnh đất Tổ quốc sau 30 năm xa cách. Trở lại thôn Pác Bó, chúng tôi đến thăm gia đình bà Hoàng Thị Hoa, gia đình đã nuôi dưỡng và tham gia bảo vệ Bác Hồ trong thời gian Người ở Pác Bó. Bà Hoa đã theo con cháu về sống ở thành phố Thái Nguyên nhưng rất may, chúng tôi đã gặp hai người em của bà và cũng là hai lão thành cách mạng: Bà Hoàng Thị Khìn (88 tuổi), bà Hoàng Thị Bách (87 tuổi). Câu chuyện của hai bà như thước phim quay chậm, với những hình ảnh sống động, chân thực về Già Thu giản dị mà vĩ đại.

“Mãi về sau này, chúng tôi mới biết Già Thu chính là Bác Hồ kính yêu, chứ ngày đó không hề biết “Già” là vị lãnh tụ tối cao của dân tộc. Ngay cả Bác về làng tôi lúc nào, tôi cũng không hay. Bởi vì ban đầu, Bác đến ở gia đình ông Máy Lỳ, rất xa nhà tôi, gần hang Cốc Bó bây giờ. Cái điều đặc biệt nhất ở Cụ Hồ là sự giản dị, gần gũi, hiền hậu. Hồi đó, tôi mới 17 tuổi, chưa đủ lớn khôn để biết đó là “cán bộ thượng cấp” nhưng qua những lần vào đưa cơm cho Bác, được Bác dạy chữ, tôi đã nhiều lần tự hỏi: Sao cái ông cụ người Nùng này lại đáng kính, đáng mến đến thế. Chỉ được gặp Cụ vài lần là cánh thanh niên chúng tôi đã cam kết với nhau là dù có chết cũng phải bảo vệ Cụ đến cùng” – bà Hoàng Thị Bách, bắt đầu câu chuyện với chúng tôi như thế.

Gia đình nhà ông Máy Lỳ mà bà Bách nhắc đến, chính là nhà ông Lý Quốc Súng, người dân tộc Nùng, một cơ sở cách mạng tin cậy mà đồng chí Hoàng Đình Giong đã dày công giác ngộ. Nhà ông Máy Lỳ là địa điểm thường được Trung ương Đảng chọn làm nơi hội họp và trạm dừng chân cho cán bộ đi công tác qua lại. Hiện gia đình ông chẳng còn ai, nhiều cán bộ lão thành trở lại tìm vết tích ngôi nhà, xác định được đúng vị trí khi ngôi nhà chỉ còn lại cái nền. Cái nền nhà này cũng đã được công nhận là di tích lịch sử trong quần thể di tích Pác Bó. Khách đến thăm hang Cốc Bó, chỉ cần rẽ trái chếch vài trăm mét trước cửa hang thì sẽ thấy nền nhà.

Hồi đó, gia đình ông Máy Lỳ không lấy gì làm sung túc, nhưng căn nhà của ông nằm độc lập bên ngọn núi nhỏ. Từ sân nhà nhìn ra có thể thấy toàn cảnh thung lũng ở phía trước. Sau nhà là một con suối, kế đến là khu rừng rậm rất tiện cho yêu cầu bảo vệ khi có tình huống bất trắc xảy ra. Các cán bộ đi trong đoàn, ông Máy Lỳ biết gần hết. Chỉ có “ông Ké” là lần đầu ông được gặp. Tuy nhiên, ngay từ lần đầu ấy, ông Máy Lỳ đã rất quý “ông Ké”. Khách đến nhà vào đúng mùng 2 Tết nên ông Máy Lỳ làm một mâm cỗ Tết ra mời ông Ké và đoàn cán bộ dùng. Bên mâm cỗ Tết, mọi người trò chuyện râm ran, riêng Bác lặng yên vì Người vẫn rất xúc động với cảm xúc được về với mảnh đất quê hương.

Ở nhà ông Máy Lỳ được mươi hôm, Bác thấy đoàn cán bộ đông mà nhà ông thì chật. Hơn nữa, vấn đề bí mật, an toàn trong hoạt động cũng chưa thật bảo đảm nên ngỏ ý chuyển đi. Biết ý Bác, ông Máy Lỳ liền nói: “Ở trên núi có một cái hang rộng, tôi vẫn thường giấu của quý trên đó để tránh bọn Tây vào ăn cướp. Hay Cụ và các cán bộ vào đó ở”.

Bác kiểm tra, thấy rất ưng ý nên cùng đoàn cán bộ chuyển vào làm việc trong hang Cốc Bó. Ngày vào hang, Bác đã khắc chữ, đánh dấu ngày 8-2-1941. Chính vì thế mà trước đây, có một số tài liệu nhầm đó là ngày Bác về nước.

Hang Cốc Bó là đầu nguồn nước, nơi ấy có dòng suối lớn, nước trong vắt, thoát ra từ hang núi đá lớn, Trước đấy, dân làng gọi là suối Giàng. Bác cùng các đồng chí cán bộ đổi tên là suối Lê-nin. Phía trên hang đá Bác ở là một ngọn núi đá cao, Bác đặt tên là núi Các Mác. Đồng chí Đặng Văn Cáp, người “bác sĩ kiêm vệ sĩ” luôn đi bên cạnh Bác, tức cảnh làm một bài thơ: “Suối Lê-nin cuồn cuộn/Từ núi Mác chảy ra/Suốt ngày đêm chẳng dứt/Tưới khắp cả gần xa”. Bác đứng gần, nghe được, Người gật gù và khe khẽ ngâm: “Non xa xa nước xa xa/Nào phải thênh thang mới gọi là/Đây suối Lê-nin, kia núi Mác/Hai tay gây dựng một sơn hà”.

Bà Hoàng Thị Khìn, một lão thành cách mạng từng tham gia nuôi dưỡng, bảo vệ Bác Hồ cùng các cháu thiếu niên Pác Bó. Ảnh: Hồng Hải

Bà Hoàng Thị Khìn kể lại: Khi Bác về làng tôi, đời sống người dân châu Hà Quảng lúc đó vô cùng cực khổ, lương thực chủ yếu chỉ là ngô. Có những gia đình thiếu đói, vào những ngày giáp hạt phải vào rừng để đào củ mài kiếm sống qua ngày. Có người vào rừng đào củ mài, đào chưa xong thì đã chết gục bên hố. Lại có những gia đình bốn đời truyền nhau một tấm áo chàm, miếng vá nọ chồng lên miếng vá kia, đến khi nhìn lại thì không còn nhận ra đâu là miếng vải may từ lúc đầu tiên nữa.

Khó khăn đủ bề, lại sống dưới ách áp bức của thực dân, phong kiến, nhưng người dân Pác Bó đã hướng về cách mạng và bảo vệ Già Thu – người mà dân làng cũng chỉ biết đại khái đó là một cán bộ cách mạng cấp cao. Có lần, giặc Pháp dẫn lính dõng về bao vây Pác Bó vì nghi là có cộng sản nằm vùng. Chị dâu của đồng chí Dương Đại Lâm, một thanh niên ở làng Pác Bó được Bác Hồ giác ngộ, đã mưu trí đi đường tắt đến báo để Bác và các cán bộ rút lui an toàn. Quân Pháp rất tức tối, vì bao lần càn vào Pác Bó mà không hề phát hiện được dấu vết cán bộ. Để thị uy, chúng bắt được một tên thổ phỉ bèn giết đi, bêu đầu và rêu rao đó là đầu cán bộ bắt được ở Pác Bó. Bà Khìn, bà Hoa cùng mấy người nữa trong “Phụ nữ cứu quốc hội” đến tận nơi xem, biết đó là tên thổ phỉ nên đã tổ chức tuyên truyền cho dân làng yên tâm.

Thấu hiểu tấm lòng cũng như nỗi khổ của đồng bào, tại hang Pác Bó, Bác Hồ tự sắp xếp nơi nằm nghỉ, chỗ nấu cơm, đun nước lá cây ổi uống thay chè. Bác tự kê mấy hòn đá thành cái bàn để dịch lịch sử cách mạng Liên Xô làm tài liệu huấn luyện cán bộ cách mạng… Bác kêu gọi mọi người tăng gia để tự túc lương thực. Ở Pác Bó cho đến bây giờ, người dân vẫn coi trọng trồng hai loại cây mà Bác đem về trồng ở Pác Bó là cây cải xoong và cây ớt. Cuộc sống của Bác kham khổ đạm bạc cũng chỉ cháo ngô và rau rừng như đồng bào quanh vùng. Thấy Bác đã có tuổi, vất vả ngày đêm, lại phải ăn cháo ngô sợ không đủ sức khỏe nên các đồng chí cán bộ bàn nhau mua gạo để nấu riêng cho Bác. Biết vậy, Bác kiên quyết không đồng ý. Có lần ngô non xay để lâu ngày mới dùng đến, nấu cháo bị chua, mấy cán bộ đề nghị Bác cho nấu cháo gạo để Bác dùng, Bác vẫn không nghe. Bác hỏi anh em: “Có cách nào làm cho bắp non khỏi bị chua không?”. Mọi người trả lời: “Nếu rang lên thì có thể ăn được nhưng không ngon”. Bác bảo: “Không ngon cũng được, thế thì rang lên mà ăn, không nên bỏ phí. Một hạt bắp lúc này cũng quý”.

Đầu tháng 4-1941, một số cán bộ bẫy được chú gà lôi. Các anh xin phép Bác được thịt gà. Bác nhất trí. Anh em hớn hở vì nghĩ hôm nay sẽ được cải thiện một bữa ra trò. Nhưng khi thịt gà, Bác chỉ cho phép lấy bộ lòng để nấu một bữa tươi. Còn tất cả băm thật nhỏ cho nhiều muối và ớt rang mặn lên để vào ống tre ăn dần trong các bữa sau. Bác còn dặn, nhớ để phần cho những chú đang đi công tác cơ sở chưa về. Chỉ một miếng ăn nhỏ lạ miệng, Người cũng không quên anh em vắng nhà.

Có lần, cụ Dương Văn Đình (bố đồng chí Dương Đại Lâm) thấy Bác gầy yếu, tóc bạc, ai cũng xót xa. Cụ Dương Văn Đình đã cho người nhà nấu cháo và bưng đến một bát cháo trứng gà mời Bác. Bác hỏi: “Ở đây một ngày ăn mấy bữa hả cụ?”. “Dạ, một ngày ăn ba bữa, bữa sáng thì ăn cháo”. “Thế ai cũng được ăn cháo đánh với trứng à?”. Mọi người phải thú thực vì thấy Bác mệt nên mới làm mời Bác thôi. Bác không bằng lòng bảo với mọi người: “Các đồng chí làm cách mạng, tôi cũng làm cách mạng, tại sao tôi lại được đặc biệt hơn các đồng chí? Cách mạng gian khổ phải cùng nhau chịu đựng, mọi người ăn sao tôi ăn vậy”.

Nói rồi, Bác đứng dậy, bưng bát cháo trứng đến mời bà cụ cố của đồng chí Dương Đại Lâm. Bác nói: “Đây mới là người cần được bồi dưỡng. Bà cố đã sống gần trăm tuổi rồi, cực khổ vất vả đã nhiều, cần ăn ngon để sống với con cái đến ngày nước nhà độc lập, vui hưởng thái bình”. Nghe Bác nói vậy ai cũng thấy sống mũi cay cay. Thương Bác và càng thêm cảm phục Bác. Chưa bao giờ Bác đòi hỏi phải có sự ưu tiên cho riêng mình. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào Bác cũng đều nghĩ cho người khác và quan tâm đến tất cả mọi người xung quanh.

Câu chuyện bà Khìn, bà Bách kể với chúng tôi đang hồi cảm động thì từ trong nhà, con cháu các bà ùa ra giữa sàn, đùa nghịch rất ồn ào, vui vẻ. Bà Bách là người sáng dạ, được Bác Hồ và đồng chí Hoàng Văn Lộc dạy chữ, về sau đi làm cán bộ thoát ly nên mỗi câu chuyện kể, bà có vẻ triết lý nhiều hơn. Nhắc lại chuyện Bác Hồ kiên quyết không nhận sự ưu tiên dành cho riêng mình, bà chép miệng: “Ấy, cái sức cảm hóa của Cụ Hồ được hình thành ngay từ buổi ban đầu ở với dân là thế đấy cháu ạ. Bây giờ, Đảng ta mở Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, bà nghĩ, nếu mỗi cán bộ biết nghĩ đến dân trước khi nghĩ đến mình và gia đình mình thì chắc chắn Cuộc vận động sẽ thành công, cháu nhỉ!”.

——————-

Bài 1: Bác đã về đây, Tổ quốc ơi!
Bài 3: Nơi ra đời quyết định chuyển hướng chiến lược
Bài và ảnh: Nhóm phóng viên CTĐ, CTCT

qdnd.vn

Bài 3: Nơi ra đời quyết định chuyển hướng chiến lược (Tiếp theo và hết)

Kỷ niệm 70 năm Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng (28-1-1941/28-1-2011)

QĐND – Trong hành trình “lịch sử bằng vàng” của mình, Đảng ta đã có nhiều quyết sách chiến lược sáng suốt, kịp thời chớp lấy thời cơ đưa cách mạng tiến lên. Trong đó, phải kể đến quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược tại Hội nghị Trung ương 8 do Bác Hồ triệu tập và chủ trì, chủ trương đặt vấn đề giải phóng dân tộc thành nhiệm vụ hàng đầu và thành lập Mặt trận Việt Minh. Giờ đây, lịch sử đã công nhận vai trò quan trọng, tầm vóc lịch sử của Hội nghị Trung ương 8 nhưng ít ai ngờ, hội nghị lịch sử đó diễn ra trong một cái lán nhỏ trên dòng Khuổi Nậm, một địa điểm Bác Hồ ở nhiều nhất trong thời gian Người làm việc tại Pác Bó.

Như trên đã nói, Bác Hồ quyết định về hẳn trong nước lãnh đạo cách mạng vì Người nhận thấy tình thế cách mạng đã xuất hiện nhiều yếu tố đủ điều kiện chuyển dần thành thời cơ cách mạng.

Chậm trễ lúc này là có tội với lịch sử!

Vì vậy, bên cạnh việc đào tạo cán bộ, xây dựng Pác Bó thành căn cứ địa vững chắc, điều Bác Hồ quan tâm, đốc thúc đội ngũ cán bộ tại Pác Bó nhiều nhất là thảo luận những nội dung và chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương 8.

Suối Lê-nin nằm trong khu di tích Pác Bó.

Ở hang Pác Bó hơn một tháng, xét thấy tính cơ động không cao, Bác cho anh em cán bộ chuyển cơ quan sang lán Khuổi Nậm, cách phía trước hang Pác Bó chừng một cây số. Địa điểm này tiện lợi đi lại, không phải lội qua suối, nếu có động cũng dễ thoát nhanh chóng. Tại đây, từ ngày 10 đến 19-5-1941, Bác Hồ triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8, đề ra chủ trương, nhiệm vụ mới cho cách mạng Việt Nam, hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc. Người nhận định: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được. Đó là nhiệm vụ của Đảng ta trong vấn đề dân tộc”.

Đây là hội nghị có tầm quan trọng lịch sử, quyết định đường lối chính sách của Đảng, đặt vấn đề giải phóng dân tộc thành nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của toàn dân, đề ra chủ trương tổ chức Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Việt Minh), xây dựng các căn cứ địa cách mạng, xây dựng và phát triển các lực lượng vũ trang, chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa. Sau hội nghị, Bác tự tay thảo ra bức thư “Kính cáo đồng bào” ký tên Nguyễn Ái Quốc kêu gọi đồng bào, toàn dân đoàn kết đấu tranh giải phóng dân tộc. Từ đây, phong trào cách mạng ngày càng lan rộng trong chiến khu Việt Bắc.

Sức khỏe của Bác, do ăn uống kham khổ, điều kiện sinh hoạt trong hang, trên lán không được tốt nên giảm sút rất nhiều. Trong khi đó, điều kiện của cách mạng đòi hỏi Bác phải có chuyến đi bắt liên lạc, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế và chuẩn bị cho khởi nghĩa. Biết vậy nên Bác rất chăm chỉ rèn luyện. Chị Hoàng Thị Huệ, hướng dẫn viên Bảo tàng Pác Bó, tập hợp từ hồi ký của các đồng chí cán bộ ở cùng Bác, kể lại: Sáng nào Bác cũng dậy sớm tập thể dục. Ở Khuổi Nậm không có đất, Bác cũng tạo một mặt phẳng đứng tập. Bác đẽo bốn cái chày, hai cái vừa, hai cái to và nặng để thay tạ tập hằng ngày. Sáng sớm, Bác vẫn thường tập leo núi. Bác chọn những quả núi quanh vùng cao nhất để leo lên với đôi bàn chân không. Khi thì một hai đồng chí đi theo Bác, khi thì Bác tập một mình. Một lần Bác bị lạc, anh em lo lắng phân công nhau đi tìm, mãi trưa Bác mới về đến nhà. Leo núi đối với Bác không chỉ có mục đích tập luyện mà còn là dịp để tìm hiểu địa hình nhằm ứng phó linh hoạt nhất khi quân thù bất ngờ ập đến. Có đồng chí nhắc Bác: “Leo núi Bác đi giày vào cho khỏi đau chân”. Bác đáp: “Tôi tập leo núi chân đi giày không quen”. Sau giờ tập Bác tắm nước lạnh để luyện khả năng chịu đựng với giá rét. Để luyện bàn tay đánh máy, Bác chọn hai hòn đá như trứng gà khi nghỉ đánh máy Bác bóp tay vào đá.

Núi Các Mác nằm trong khu di tích Pác Bó.

Sống ngay cạnh Bác, ai tinh ý lắm mới biết được Bác mệt. Người có một nghị lực khác thường, mỗi khi mỏi mệt là Bác đứng dậy đi đi, lại lại hoặc làm một việc gì đó, trừ trường hợp không đi lại được nữa, Người mới chịu nằm nghỉ. Có lần Bác bị sốt rét, người gầy đi nhiều, nhưng Bác cũng không chịu nghỉ. Mỗi khi lên cơn sốt, Bác lại leo núi cho mồ hôi vã ra như tắm. Lau chùi thân thể sạch sẽ xong, Bác tiếp tục làm việc.

Thời gian ở Pác Pó lúc nào Bác cũng mặc bộ quần áo Nùng màu chàm, đi giày vải, chẳng khác gì một ông cụ người địa phương.

Bác rất chú ý tiết kiệm. Bác dặn kỹ đồng chí Lộc quản lý và tất cả cán bộ là ăn uống tuyệt đối không được để thừa hoặc đổ đi. Đồng chí nào mang quà về hoặc có quà quần chúng gửi cho, phải dành đến bữa mới được ăn. Bác làm việc có kế hoạch, ăn đúng giờ. Cũng như anh em, Bác không ăn sáng, ngày nghỉ chỉ có hai bữa vào lúc chín rưỡi mười giờ và bốn rưỡi năm giờ chiều. Bác ăn chung với mọi người, thức ăn chỉ có rau măng và một chút thịt muối băm (một cân thịt rang khô với nửa cân muối và vài lạng ớt chỉ thiên để ăn dần).

Các đồng chí cán bộ lão thành cách mạng hiện đang sống ở Pác Bó nay đều đã vào tuổi 90 nhưng ai cũng còn nhớ và kể lại: Sau Hội nghị Trung ương 8, Bác càng làm nhiều việc, hăng say hơn. Bác tổ chức lớp huấn luyện chính trị-quân sự ngắn hạn cho cán bộ địa phương, viết thư kêu gọi chiến sĩ cách mạng, viết bài “Hoan nghênh thanh niên học quân sự”, khuyên đồng bào mua báo Việt Nam độc lập, Xã luận, Thế giới đại chiến và phận sự của ta… Qua đó, người đọc thấy, dù bận trăm công ngàn việc nhưng Bác vẫn làm nhiều bài thơ như: Việt Nam độc lập, Dân cày, Trẻ con, Công nhân, Bài ca Phụ nữ, Ca binh lính…; viết tác phẩm Cách đánh du kích, gồm 13 chương, nội dung mỗi chương nêu ngắn gọn, dễ hiểu để cán bộ, nhân dân nhận thức đúng và thực hiện được…

Trời tối, lán Khuổi Nậm không có đèn nên anh em thường ngồi quây quần nghe Bác kể chuyện. Một lần, Bác nhắc lại những cuộc chiến tranh lớn và tình hình thế giới, trong nước rồi phỏng đoán là độ 3-4 năm nữa, Thế chiến II sẽ bước vào giai đoạn quyết định và lúc đó sẽ là một cơ hội rất tốt cho chúng ta. Đặc biệt, Bác viết cuốn Lịch sử nước ta bằng thơ lục bát, ghi lại tất cả những phong trào chống ngoại xâm từ trước đến nay. Cuối bài, Bác viết: “Nay ta đã có Việt Minh/Đủ tài lãnh đạo dân mình đấu tranh/45 sự nghiệp hoàn thành”.

Anh em cán bộ xúm vào tranh luận xem Bác đoán thế là thế nào. Cũng không ai ngờ, 4 năm sau, sự phỏng đoán của Bác diễn ra đúng như vậy.

Tháng 8-1942, Bác rời căn cứ địa Cao Bằng đi Trung Quốc bắt liên lạc với phong trào cộng sản quốc tế. Một đồng chí giao thông đi trước; đồng chí Lê Quảng Ba đi giữa; Bác lại giả thành ông già người Nùng, chống gậy đi sau. Sang Trung Quốc, đồng chí Lê Quảng Ba bắt liên lạc, nhờ một cơ sở của Đảng Cộng sản Trung Quốc đưa Bác đi.

Bác đến Điền Đông thì bị quân lính Tưởng Giới Thạch bắt. Các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Đặng Văn Cáp, Vũ Anh ở nhà nghe tin, ai nấy đều giật mình, thảng thốt. Giữa lúc cách mạng Việt Nam đang trải qua những thử thách vô cùng ác liệt để tiến tới thắng lợi thì vị lãnh tụ vĩ đại lại sa vào tay giặc.

Hằng tuần, Bác vẫn tìm cách gửi tin từ Tĩnh Tây về. Bác thường viết chữ trong một tờ báo, bằng nước cơm. Các đồng chí ở nhà mang về, bôi cồn i-ốt vào, chữ nổi lên. Trong báo, Bác thường dặn dò ở nhà cứ bình tĩnh, đừng lo cho Bác mà ảnh hưởng đến công việc chung. Một hôm, có tin Bác đã mất trong tù vì cực khổ quá, không chịu nổi, các đồng chí ở căn cứ địa đều bàng hoàng, ai cũng đau đớn, dằn vặt khôn nguôi. Nhưng không lâu sau, ở trong nước lại nhận được một tờ báo của Bác gửi về. Trong đó có bài thơ Tân xuất ngục, học đăng sơn. Đồng chí Đặng Văn Cáp sang xác minh lại, mới biết Bác vẫn còn sống. Bác bị quân Tưởng xích tay, xiềng cổ giải đi trong hơn 12 tháng, qua hơn 30 nhà giam…

Trong cuộc đời hoạt động của Bác, lần bị quân Tưởng bắt là lần cực khổ nhất. Mắt bị mờ, chân bị yếu nhưng Bác vẫn một lòng son sắt hướng về Tổ quốc, tin tưởng vào thành công của cách mạng. Chính trong thời gian này, Bác đã viết tập Nhật ký trong tù.

Trong chuyến trở lại Pác Bó lần này, chúng tôi gặp nhà văn Hoàng Quảng Uyên, một nhà văn chuyên viết về đề tài mảnh đất và con người Cao Bằng. Đặc biệt, trong dịp kỷ niệm 70 năm ngày Bác Hồ về nước, ông “trình làng” tác phẩm rất đặc biệt là cuốn tiểu thuyết Mặt trời Pác Bó, kể về quá trình Bác Hồ về nước, hoạt động tại Pác Bó (Cao Bằng): “Thời gian Bác về nước và hoạt động tại Pác Bó không dài nhưng là khoảng thời gian vô cùng ý nghĩa đối với vận mệnh dân tộc. Pác Bó với ý nghĩa là suối đầu nguồn, thực sự trở thành nơi cội nguồn của cách mạng Việt Nam từ khi Bác trở về. Tôi đặt tên tiểu thuyết của mình là Mặt trời Pác Bó với hình ảnh mặt trời ló rạng báo hiệu bình minh của Tổ quốc cũng vì lẽ ấy” – nhà văn Hoàng Quảng Uyên tâm sự.

Đến với Pác Bó, chúng tôi như thấy trong mỗi góc hang, bờ suối, vẫn đâu đây lưu lại hình ảnh của Bác Hồ. Thấy rõ hơn tài năng và đức độ của Người, vị lãnh tụ đã cùng với Trung ương Đảng vững tay chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua bao phong ba, bão táp đi đến bến bờ thắng lợi. Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nước-kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Bài và ảnh: Nhóm phóng viên CTĐ, CTCT
Bài 1: Bác đã về đây, Tổ quốc ơi!
Bài 2: Đây suối Lê-nin, kia núi Mác

qdnd.vn

Năm ấy Bác về nước (*)

LTS: Nhân 70 năm Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam (28-1-1941/28-1-2011), Báo Quân đội nhân dân xin trích đăng hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về giai đoạn 1940-1941 khi Đại tướng hoạt động, học tập ở Trung Quốc, được Bác điều về nước cùng với các đồng chí khác xây dựng cơ sở cách mạng.

… Từ khi sang Trung Quốc, tôi càng nhận thấy sâu sắc mối quan hệ khăng khít giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Trung Quốc.

Sau lần gặp Bác ở Thúy Hồ, anh Phạm Văn Đồng và tôi luôn luôn được gặp Bác cùng các anh Phùng Chí Kiên, Vũ Anh. Bác thường nói nhiều đến cuộc chiến tranh chống Nhật của Trung Quốc.

Một bữa, Bác bảo anh Đồng và tôi:

– Các đồng chí sẽ đi Diên An. Lên trên ấy, vào trường Đảng học tập chính trị, cố gắng học thêm quân sự.

Mấy lần gặp sau, trước khi chúng tôi đi, Bác vẫn dặn đi, dặn lại tôi “cố gắng học thêm quân sự”.

Tháng 9 năm 1940, chúng tôi được tin thực dân Pháp đã cúi đầu trước phát xít Nhật vào Đông Dương. Sự việc đã diễn ra đúng như dự đoán của Đảng mà anh Hoàng Văn Thụ đã nói với tôi trước khi ra đi.

Vào khoảng đó Bác đến Quế Lâm.

Bà con Pác Bó, Cao Bằng vô cùng xúc động được gặp lại Chủ tịch Hồ Chí Minh sau 20 năm xa cách (20-2-1961) . Ảnh tư liệu

Chúng tôi tới gặp Bác ở một vùng ngoại ô. Bác cùng chúng tôi đi lững thững như những người nhàn rỗi dạo chơi trên cánh đồng. Tới một bãi cỏ có bóng mát, chúng tôi ngồi lại khai hội… Bác nhận định tình hình chung trên thế giới và ở Đông Dương ngày càng có lợi cho ta, không nên ở Quế Lâm lâu, phải chuyển về biên giới tìm cách trở về nước ngay để hoạt động.

Ai cũng nóng ruột muốn mau chóng trở về, nhưng chưa có liên lạc với trong nước. Việc về nước lúc này chẳng phải dễ dàng… Trong một buổi họp, Bác nhận định: “Tình hình chung thế giới và Đông Dương ngày càng có lợi cho ta, nhưng thời cơ chưa đến, chưa thể khởi nghĩa được. Song nay đã nổ ra rồi, thì cần tổ chức rút lui cho khéo để duy trì phong trào”…

Trong những ngày ở Quế Lâm, có lần Bác bàn với chúng tôi: Trước tình hình mới, vấn đề đoàn kết toàn dân giải phóng dân tộc càng quan trọng. Ta phải nghĩ đến việc lập một hình thức mặt trận thật rộng rãi, có tên gọi cho thích hợp. Việt Nam giải phóng đồng minh? Việt Nam phản đế đồng minh? Hay là Việt Nam độc lập đồng minh, có thể gọi tắt là Việt Minh cho nhân dân dễ nhớ. Những ý kiến Bác nói hồi đó, sau này, đã được thảo luận tại Hội nghị Trung ương mở rộng lần thứ tám của Đảng ở Pác Bó.

Tin tức về phong trào tại nước nhà ngày càng thúc giục, nhưng vẫn chưa tìm ra cách để liên lạc với Trung ương ở trong nước. Bác chủ trương là nên chuyển về hoạt động ở sát biên giới, rồi tính cách về nước sau.

Một hôm, chúng tôi được tin Trương Bội Công về Tĩnh Tây đã đón được một số thanh niên các dân tộc ở Cao Bằng vì bị đế quốc Pháp khủng bố mạnh, phải vượt biên giới chạy ra ngoài. Bác đã nhìn thấy một cơ hội tốt để tổ chức đường liên lạc về nước. Bác nói: “Chúng ta sẽ tổ chức một lớp huấn luyện cho các anh em, sau đó, đưa anh em trở về củng cố và mở rộng phong trào Cao Bằng và tổ chức đường liên lạc về nước”. Cũng từ lúc này, Bác đã nhận định về vị trí của Cao Bằng: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào được với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tấn công, lúc khó khăn có thể giữ”.

Từ khi chưa đặt chân vào Cao Bằng, Bác đã vạch ra một cách chính xác tính chất quan trọng của căn cứ địa Việt Bắc sau này.

Cuối tháng 11 năm 1940, chúng tôi về đến Tĩnh Tây. Đầu tháng 12, Bác và anh Phùng Chí Kiên về một làng cách Tĩnh Tây năm chục cây số. Bác cho người đến gọi anh Đồng và tôi về để mở lớp huấn luyện. Chúng tôi lên đường về nơi Bác hẹn gặp. Từ đó còn phải đi bộ khá xa mới đến địa điểm đã chọn để mở lớp huấn luyện. Đường đi toàn đồi núi. Bác đi bộ rất nhanh, tất cả chúng tôi không ai theo kịp. Dọc đường, thỉnh thoảng Bác lại dừng lại đứng chờ.

Lớp huấn luyện được tổ chức ở một vùng dân tộc Nùng đã từng chịu ảnh hưởng của Hồng quân Trung Hoa trong thời kỳ Hồng quân hoạt động ở Quảng Tây. Nhân dân ở đây rất quý những người cách mạng Việt Nam. Chúng tôi phân chia nhau ở trong hai làng.

Hai việc trước tiên phải lo, là việc chuẩn bị lương thực và làm chương trình huấn luyện.

Nhân dân ở các làng biên giới này rất giàu tinh thần và tình cảm với cách mạng, nhưng đời sống thì còn rất nghèo khổ. Việc lo ăn một lúc cho năm chục con người hàng nửa tháng, không phải là một việc dễ. Đồng chí Cáp được giao nhiệm vụ tiếp tế lương thực, nhưng mọi người đều phải góp sức. Mỗi buổi sáng, chúng tôi đều đi lấy gạo, bắp về giã, kiếm củi để nấu ăn và để giúp đỡ đồng bào. Bác cũng bổ củi rất khỏe.

Sau những ngày học tập, mọi người phấn khởi, náo nức hẳn lên. Anh em chúng tôi đứng vây quanh Bác, biết rõ ông cụ mảnh khảnh mặc bộ quần áo Nùng giản dị này là người gắn liền với vận mệnh của dân tộc Việt Nam.

Lá cờ đỏ sao năm cánh phấp phới bay trong gió lạnh như một ngọn lửa thiêng sưởi ấm tâm hồn chúng tôi, khi đó còn là những người dân mất nước phải sống xa quê hương. Chúng tôi ngoảnh mặt cả về phía Nam, hoan hô tinh thần khởi nghĩa Nam Kỳ, thề sẽ thẳng tiến không lùi trên con đường cách mạng chông gai, một ngày kia sẽ đem lá cờ thiêng liêng này về nêu cao giữa Thủ đô.

Ngay sau đó, cả bốn mươi đồng chí Cao Bằng lại quay về nước, tìm về những cơ sở cũ. Chúng tôi ở lại, chuẩn bị thêm cho kế hoạch công tác sắp tới.

Ngày Tết đến với chúng tôi tại biên giới. Suốt thời gian qua, bà con dân làng hiểu rõ chúng tôi hơn, càng thêm quý mến. Gần làng có miếu thờ Thành Hoàng, nhân dân ai cũng đến lễ bái. Bác cũng đi cùng bà con đến viếng đền. Anh em chia nhau đi ăn Tết các nơi trong làng. Bà con ai cũng mời đến nhà, nếu không đến thì không bằng lòng. Có đồng chí trong một ngày phải đi ăn Tết tới gần một chục nơi. Đến nhà ai, Bác cũng đều mang theo một tờ giấy hồng điều tự tay Bác đã viết dòng chữ “Cung chúc tân niên”.

Nhìn Bác mặc bộ quần áo chàm, quần xắn cao, tay cầm gậy, đi chúc Tết nhân dân với dáng nhanh nhẹn, thái độ thoải mái vui vẻ, nhớ lại khi Bác ở Côn Minh mặc âu phục, cổ cồn, mũ phớt, tôi thấy Bác đã hòa vào trong hoàn cảnh mới một cách hết sức tự nhiên.

Sau Tết ấy, các anh Phùng Chí Kiên, Vũ Anh, có anh Lê Quảng Ba dẫn đường, về Cao Bằng tìm cơ sở đặt địa điểm cơ quan rồi ra đón Bác cùng về.

Thời gian này, chúng tôi thường đi lại giữa Tĩnh Tây và nơi làm việc mới của Bác ở trong nước, tại hang Pác Bó, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.

Lán Khuổi Nậm ở Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, nơi họp Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ tám (tháng 5-1941), quyết định đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và thành lập Mặt trận Việt Minh. Ảnh tư liệu

Lần đầu về nước, tôi đi cùng một đồng chí giao thông. Qua một quả núi đất khá cao, lởm chởm đá, xuống một con đường mòn nằm quanh co giữa những nương rẫy bên sườn núi, đồng chí giao thông chỉ một phiến đá nhỏ, nói đó là cột mốc biên giới. Tôi dừng chân, đứng nhìn một lúc. Phiến đá có khắc mấy chữ Hán, dựng giữa hai nương ngô. Bên kia, bên này cây cỏ cũng như nhau. Đồng chí giao thông lại cho biết thêm, nhân dân ở cả hai bên biên giới tại vùng này, đều là bà con dân tộc Nùng cùng nói chung một thứ tiếng. Thấy biên giới đúng là một sản phẩm của con người đặt ra.

Thấm thoắt đã một năm trời xa Tổ quốc, đặt chân lên dải đất quê hương, lòng chẳng khỏi bồi hồi. Mỗi bước đi thấy trong người ấm áp hơn lên. Chỉ vừa mới đi thêm mấy bước chân mà trước đó thì thấy như còn ở rất xa. Lúc này lại thấy như đã ở gần nhà.

Vùng này núi đất xen với núi đá, địa thế hiểm trở. Những chòm nhà nhỏ của đồng bào Nùng nằm thưa thớt giữa những nương ngô trên sườn núi hay bên những thửa ruộng nhỏ dưới thung lũng. Sương trắng từng dải đọng trên các đầu núi. Khung cảnh Pác Bó hiện ra trước mắt như một bức tranh thủy mạc.

Khắp vùng này đều đã có cơ sở. Chúng tôi vừa đi vừa ngắm núi non, đất nước. Nhớ lại lúc vượt sông Nậm Ty hết ngó trước lại ngó sau, cảm thấy vui vui với ý nghĩ, cả nước tuy còn nằm dưới ách thống trị của bọn đế quốc, nhưng ở nơi này đã có một mảnh đất tự do.

Đi chẳng bao xa, tôi đã nhận ra Bác đang ngồi trên một phiến đá. Sau bao năm xa nước, hoạt động từ Đông sang Tây, Bác đã trở về góc rừng hoang vắng của Tổ quốc với bộ quần áo chàm giản dị, rất tự nhiên trong vai một ông già người Nùng. Gần chỗ Bác ngồi, dưới chân những khối nhũ đá thấp nhỏ, hình thù kì dị, nước từ khe núi chảy ra đọng lại trong vắt.

Bác trỏ dòng nước rồi nói:

– Đây là suối Lê-nin.

Trèo qua một quả núi đá không cao lắm, lách người đi hết một đám lau rậm, thì thấy hiện ra một cửa hang. Trong hang ẩm lạnh không có đồ đạc gì ngoài chiếc sàn nằm làm bằng những cành cây nhỏ gác ngang, gác dọc. Chính ở đây vào tháng 5 năm đó, Hội nghị Trung ương lần thứ tám đã họp dưới sự chủ tọa của Bác, quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh và đề ra chủ trương chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa. Trong hội nghị này, Trung ương đã quyết định duy trì và phát triển cơ sở du kích ở Bắc Sơn, Vũ Nhai, đồng thời ra sức củng cố và mở rộng cơ sở Cao Bằng, xây dựng hai nơi đó làm trung tâm của công cuộc chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa tại Việt Bắc. Cũng tại đây, Bác đã nhân danh nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc viết lá thư kêu gọi đồng bào cả nước: “Việc cứu nước là việc chung, ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm …”.

Anh Vũ Anh ở lại Pác Bó với Bác.

Sáng nào Bác cũng dậy rất sớm và gọi mọi người cùng dậy. Bác tập thể dục rất đều, tập xong lạnh mấy cũng đi tắm suối, rồi bắt đầu làm việc. Khi Bác khai hội, khi Bác nghiên cứu, khi Bác xuống làng nói chuyện với đồng bào, có khi Bác đi lấy củi. Bữa cơm của Bác chỉ có chút thịt muối hoặc con cá con vừa bắt được dưới suối.

Trời tối, trong hang rất lạnh, phải đốt lửa sưởi suốt đêm. Không có đèn nên buổi tối ít khi làm việc. Anh em thường ngồi quây quanh đống lửa nghe Bác nói chuyện. Một lần, Bác nhắc lại những cuộc chiến tranh lớn, những cuộc cách mạng từ trước tới nay, rồi Bác phỏng đoán độ bốn, năm năm nữa, chiến tranh sẽ tới bước quyết định và lúc đó là một cơ hội rất tốt cho cách mạng ta.

Khuya khuya, mọi người ngủ chung cả trên sàn. Những cành cây ngổn ngang dưới lưng, nằm vừa đau vừa lạnh.

Có lần, Bác viết một cuốn lịch Việt Nam bằng thơ lục bát, ghi lại tất cả những phong trào chống ngoại xâm từ trước đến nay. Bác đã viết vào cuối trang mục lục: “Việt Nam độc lập năm 1945”. Anh em người nói sớm, kẻ nói muộn. Bác nghe trao đổi chỉ nói: “Để rồi xem”…

Từ ngày Bác về nước, cơ quan đã thay đổi địa điểm mấy lần. Đồng bào Nùng tại đây rất tốt vì đã có cảm tình và liên lạc với cách mạng từ trước, vùng này rất hẻo lánh. Nhưng bọn Tây và quân lính ở các đồn phía dưới Sóc Giang vẫn thường kéo lên, khi lùng bắt những người trong làng nấu rượu lậu, khi tìm thổ phỉ, khi dò la tung tích cách mạng. Nơi ở đầu tiên của Bác tại Pác Bó tuy ẩm lạnh nhưng vẫn là nơi ở tốt nhất. Tại đây, có hang không sợ mưa nắng. Địa điểm thứ hai là một hốc núi nhỏ ở rất cao và rất sâu trong rừng, bên ngoài chỉ rấp ít cành lau. Những khi trời mưa to, rắn rết chui cả vào chỗ nằm. Có buổi sáng, Bác thức dậy thấy một con rắn rất lớn nằm khoanh tròn ngay cạnh người. Về đây, Bác hay sốt. Nhiều lần, Bác đang ngồi khai hội thì lên cơn sốt, mặt tái ngắt, tay chân run cầm cập. Chúng tôi mời Bác đi nằm, nhưng Bác nói: “Nằm càng mệt, ngồi thế này có đấu tranh đỡ hơn”…/.

Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP

(*) Đầu đề của Báo Quân đội nhân dân

qdnd.vn

Bác Hồ và bản sắc văn hóa dân tộc

Ngay từ nhỏ, Bác Hồ đã được dưỡng nuôi trong một môi trường văn hóa gia đình, quê hương xứ Nghệ. Người tắm mình trong bao làn điệu dân ca, điệu vè, hát ví, hát dặm. Những câu Kiều chứa bao thân phận đắng cay, và nhiều câu chuyện cổ tích huyền diệu đã in sâu trong tâm trí Bác. Bác thường có mặt trong những đêm hát ví, hát phường, hát vải, các buổi hội hè với chúng bạn trẻ thơ.

Từ giã quê hương, bôn ba tìm đường cứu nước, Bác không bao giờ quên những kỷ niệm thời thơ ấu ở làng Sen, nếp sống gia đình và vốn văn hóa, phong tục ở quê hương. Càng xa đất nước bao nhiêu, Bác càng da diết nhớ quê hương, nhớ điệu ca dao, dân ca, nhớ kho tàng văn nghệ dân gian bấy nhiêu. Một câu ngâm Kiều, một điệu hát ru con trên đất khách quê người của bà con Việt Kiều đều gợi trong trái tim Người bao nỗi niềm tha hương.

Ảnh:Tư Liệu

Chính trong những năm tháng hoạt động cách mạng ấy, thái độ trân trọng di sản văn hóa dân tộc được hình thành trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người thường dẫn Chinh phụ ngâm, Kiều, những câu hò, lời ca, điệu ví quen thuộc, vốn rất đặc trưng tiêu biểu cho văn nghệ dân tộc như: Ngâm sa mạc, hát tuồng, chèo hát ví, hát dặm để nhắc nhở những người làm công tác văn hóa về thái độ trân trọng vốn văn hóa dân tộc. Người cho rằng, văn hóa dân tộc là vốn quý, là chìa khóa và bệ đỡ cho nền văn hóa một nước. Phải biết nâng niu, quý trọng văn hóa dân tộc mới có khả năng khai thác và phát triển nó lên. Tâm sự với nghệ sĩ trẻ, Bác khuyên: “Thanh niên phải chịu khó học. Âm nhạc của dân tộc ta rất độc đáo. Bác đã đi nhiều nước trên thế giới nhưng Bác vẫn nhớ các câu hát của dân ta. Ta có nhiều câu hát dân ca hay lắm. Bây giờ phải khai thác và phát triển nó lên…”.

Hồ Chí Minh am hiểu nhiều lĩnh vực văn hóa nghệ thuật như: Dân ca, âm nhạc, đến hội họa, thơ ca cổ điển… Người đã từng khuyên chúng ta phải biết kế thừa, phát triển di sản quý báu ấy. Người nói xóa bỏ triệt để những cái cũ phiền phức, phát triển những cái cũ mà tốt, phải triệt để làm những cái mới và hay, phải giữ gìn thuần phong, mĩ tục, phải tẩy sạch những gì mà giáo dục thực dân để lại…”.

Như vậy là tư tưởng của Bác là “gốc của văn hóa mới là dân tộc”. Chuyện cải biên các bộ môn nghệ thuật cổ của dân tộc bây giờ như là nhu cầu tất yếu để nghệ thuật tiếp cận với thời đại đang sống. Thế nhưng cải biên mà vẫn không đánh mất gốc. Có một lần xem biểu diễn chèo, Bác đã vừa khen mà cũng vừa nhắc nhở cho đoàn chèo ấy: “Đã chèo thì cho ra chèo”. Chủ tịch Hồ Chí Minh kết hợp rất nhuần nhuyễn văn hóa với cách mạng. Văn hóa phải đưa nhân dân lên một trình độ cao. Muốn vậy phải có cơ sở của văn hóa dân tộc, cho nên tư tưởng văn hóa của Hồ Chí Minh vừa dân tộc, vừa hiện đại nhất.

Trả lời một tờ báo Đảng của Đức, Bác khẳng định: “Nguyễn Du là một nhà thơ cổ điển của chúng tôi. Những người Cộng sản chúng tôi rất quý di sản cổ điển. Có những ngọn suối tiến bộ chảy từ ngọn nguồn cổ điển đó. Càng thấm nhuần Chủ nghĩa Mác-Lênin, càng phải coi trọng truyền thống tốt đẹp của cha ông”.

Nguyễn Tấn Tuấn

baogialai.com.vn

Chiều sâu tư tưởng và văn hóa qua các ẩn dụ trong ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tìm hiểu ẩn dụ trong ngôn ngữ của Bác, chúng ta có thể học được cách mà Bác dùng biện pháp ngôn từ này để làm rõ cấu trúc của các quan niệm trừu tượng, bằng lời lẽ dễ hiểu và cụ thể hơn. Ẩn dụ trong ngôn ngữ của Bác còn bao hàm cả một tầm sâu rộng về tư tưởng và văn hóa.

CHỈ LÀ NÉT VIỀN QUANH

Từ ngày 31/5 đến ngày 18/9/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là thượng khách của nước Pháp đến Paris để cứu vãn hòa bình, tránh một cuộc chiến tranh tàn khốc cho cả hai dân tộc. Trong phần ba của cuốn Cuộc gặp gỡ định mệnh, những gì Vũ Đình Huỳnh – thư ký của Bác kể, nhà văn Sơn Tùng ghi chép, được trích lại dưới đây. Đó là một câu chuyện với lời lẽ thân mật, tự nhiên, cho phép người đọc cảm nhận về một không khí chân tình, đầm ấm giữa những người bạn thâm giao, lâu ngày gặp lại nhau:

“Tôi thay bộ đồ sĩ quan, mặc com-lê. Lúc lên xe đi được một quãng sang địa giới quận 8 gần Khải Hoàn Môn, Bác mới nói:

– Hôm nay chúng mình đến thăm nhà danh họa Picasso.

Tôi ngạc nhiên:

– Bác cũng quen họa sĩ Picasso ạ?

– Giả sử không quen biết từ trước, thì đến thủ đô Paris chúng ta cũng phải đến chào một con người sáng tạo hội họa khó hiểu, mà nghệ thuật tranh của ông lại làm say đắm lòng người.

Bác Hồ đến không báo trước, lúc người giúp việc của Picasso đón Bác vào gần cửa, Picasso đã nhận ra Bác, ông chạy vội tới:

– Chào anh Nguyễn – Hai người ôm chầm lấy nhau. Picasso lùi ra một bước, ngắm Bác:

– Anh già chóng quá. Đôi mắt anh vẫn trẻ và sáng hơn thời chúng ta gặp nhau ở Clắcfê.

Picasso đưa Bác đi xem xưởng họa của ông. Bác đi và ngắm từng bức tranh, im lặng tuyệt đối. Tôi thấy sự xúc động hiện rõ trên gương mặt trầm tư của Người. Lúc trở vào phòng trà. Picasso hỏi Bác:

– Anh cho tôi một lời khuyên.

Bác đứng dậy nói:

– Chúng tôi đến chiêm ngưỡng nghệ thuật của anh. Mọi lời bình về Picasso chỉ là nét viền quanh cái khung của bức tranh. Anh miễn cho tôi, một người hiểu về hội họa quá ít…

Picasso cười thoải mái, giọng vui hẳn lên:

– Tôi còn nhớ bức tranh anh vẽ trên báo Le Paria, anh ký Nguyễn Ái Quốc bằng chữ Trung Quốc và lời chú thích bức tranh: “Xe xích sắt một ngày kia sẽ thay những con lạc đà, nhưng chúng vẫn còn khá nhiều. Bằng chứng ư?”. Ngày ấy tôi nói với anh Henri Barbusse: “Chỉ mấy nét vẽ này ta đã thấy một tư tưởng lớn, một tâm hồn lớn tàng ẩn bên trong. Nếu như anh tiếp tục con đường hội họa thì cũng có thể là một danh họa. Như hôm nay anh Nguyễn đã là Hồ Chủ tịch, tác giả tập tranh Việt Nam đi đầu trong cuộc đấu tranh cho độc lập tự do của các dân tộc”.

Ông mời Bác uống nước, ông phác mấy nét chân dung Hồ Chủ tịch. Nhưng ông cất vào cặp giấy vẽ đến lúc tiễn Bác ra cửa, ông mới trao tay Bác. Sau đó, Bác giao cho tôi. Tôi ngắm bức chân dung mà sững sờ. Chỉ mấy nét họa đơn sơ đã biểu hiện gương mặt Bác mênh mông với hai con mắt là hai ngôi sao.


Tranh của Đồng chí Nguyễn Ái Quốc in trên báo Người cùng khổ (1922).
Chú thích của tác giả: “Xe xích sắt một ngày kia sẽ thay những con lạc đà,
Nhưng chúng vẫn còn khá nhiều. Bằng chứng ư?”

Về nước sau 4 tháng đi xa, Bác tập trung vào việc lãnh đạo chính phủ và nhân dân, một mặt tiếp tục xây dựng và củng cố chính quyền còn non trẻ, tăng cường khối đoàn kết toàn dân; một mặt tiếp tục cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao chống thế lực thực dân phản tiến bộ, âm mưu tái lập chế độ thuộc địa, chia cắt đất nước ta. Những bài viết, lời phát biểu của Người vào giai đoạn này về đối ngoại hoặc đối nội phần lớn đều tập trung vào các chủ đề ấy.

SÔNG VÀ NÚI

Sông và núi là hình ảnh thường trực của đất nước trong tâm thức của mỗi người Việt Nam. Và theo sự trải nghiệm thông thường của mỗi người về lẽ đổi thay của các sự vật tưởng như bền vững ấy, thì sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng có một trải nghiệm khác bất tương hợp với trải nghiệm thông thường ấy. Đó là sự bền vững của chân lý.

Trong Thư gửi đồng bào Nam Bộ, Người viết: “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!”.

Ở đây Bác đã vận dụng cách so sánh không tương hợp “để cấu trúc nên một trải nghiệm dựa vào một trải nghiệm khác” (G.Lakoff, 1980) (1). Và nhờ đó, chân lý “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam” đã có sức mạnh thuyết phục không gì sánh nổi. Bởi vì, chân lý mà Bác nhấn mạnh ở đây tuy không phải là chân lý trong triết học hay một khoa học nào khác, nhưng lại là chân lý dựa vào thực tế cuộc sống.

CÁ VÀ NƯỚC

Cá và nước được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập lần đầu tiên sau ngày độc lập 2/9/1945, trong dịp Người nói chuyện tại lễ tốt nghiệp khóa V, Trường huấn luyện cán bộ Việt Nam.

Về quan hệ giữa cán bộ với nhân dân, Người nhấn mạnh: “Phải làm sao cho dân yêu mến. Phải nhớ rằng dân là chủ. Dân như nước, mình (tức là cán bộ – BKT) như cá. Lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết”.

Dùng ẩn dụ nước, Bác đã gợi nhớ một truyền thống dùng ẩn dụ trong ngôn ngữ đã có từ Nguyễn Trãi (2) để chỉ sức mạnh của nhân dân. Ở Nguyễn Trãi, ẩn dụ nước đặt trong mối quan hệ với ẩn dụ thuyền, còn ở Bác, nước được đặt trong quan hệ với cá.

Sự gắn bó giữa hai ẩn dụ cá – nước không chỉ cho ta thấy quan hệ hữu cơ giữa hai ẩn dụ, mà còn hàm ý làm nổi bật vai trò quyết định của nước – không chỉ là môi trường sống, mà còn là nguồn tạo sức mạnh – đối với cá, tức là người chiến sĩ cách mạng.

CHỦ NHÂN VÀ CÔNG BỘC

Ngày 19/9/1945, trên báo Cứu Quốc, số 46, dùng bút danh Chiến Thắng, trong bài báo có tên gọi Chính phủ là công bộc của dân, Bác đặt hai vế so sánh:“Trước cuộc khởi nghĩa ngày 19/8/1945 nói tới hai chữ chính phủ người ta nghĩ ngay tới một bọn đầu đảng cướp nguy hiểm, xảo quyệt. Trái lại, ai ai đối với chính phủ nhân dân hiện nay cũng đều có một mối cảm tình thân mật xen lẫn với một tôn kính sâu xa… Người xưa nói: quan là công bộc của dân, ta cũng có thể nói chính phủ là công bộc của dân vậy”. Nói chuyện với các đại biểu báo chí ngày 6/10/1945 khi đề cập đến vấn đề nội trị, Người nhấn mạnh: “Chính phủ Dân chủ cộng hòa lâm thời là công bộc của dân”.


Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc trên tầng 2 nhà sàn. Ảnh TL.

Trong thư chúc Tết đồng bào và chiến sĩ Nam Bộ, nói về những đại biểu dân cử, Người nhấn mạnh: “Những người chức trách đều do dân cử ra. Dân tin cậy ai thì người ấy trúng cử và bổn phận những người trúng cử là làm đầy tớ công cộng cho dân, chứ không phải làm quan phát tài”.

Qua việc tìm hiểu cách Bác dùng ẩn dụ người chủ – người đầy tớ ta thấy Bác đã vận dụng một mối quan hệ vốn phổ biến trong đời thường để phát biểu và làm cho dễ hiểu một quan điểm cách mạng về mối quan hệ giữa chính quyền, người trong bộ máy công quyền và nhân dân.

ẨN DỤ VỀ CÁI GỐC

Trong tác phẩm Sửa đổi lề lối làm việc, để làm rõ quy luật “cán bộ quyết định mọi việc”, Bác viết: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc… Huấn luyện là công việc gốc của Đảng”. Xuất phát từ quan điểm truyền thống “lấy dân làm gốc”, Bác căn dặn “tất cả anh chị em bộ đội, cơ quan chính phủ và các đoàn thể” trong quan hệ với nhân dân “6 điều không nên và 6 điều nên làm”, và dùng một đoạn thơ ngắn đặt ở cuối bài viết với hai câu kết:

“Gốc có vững, cây mới bền
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”

Bác dùng ẩn dụ cái gốc trong lời khẳng định: “Đạo đức là cái gốc của người cách mạng”. Và đọc Sửa đổi lề lối làm việc chúng ta lại gián tiếp gặp ẩn dụ này trong những trang sách Người viết tóm tắt về năm đức tính mà người cách mạng chân chính cần noi theo để rèn luyện đạo đức là nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm.

Tiếp theo đó, Người dẫn giải: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Lời dẫn giải cho thấy Bác xác định đạo đức có tầm quan trọng như thế nào ở người cán bộ cách mạng, và vì sao Người dùng ẩn dụcái gốc để ngầm chỉ về đạo đức cách mạng.

NGHỆ THUẬT ẨN DỤ TRONG NGÔN TỪ

Còn được thể hiện những khi đấu lý, đấu trí với kẻ địch, có thể dẫn ra một trường hợp rất tiêu biểu.

Sau thời gian làm việc ở Pháp và rời đất nước này trên chiến hạm Dumont d’Urville, Chủ tịch Hồ Chí Minh về đến vịnh Cam Ranh ngày 18 tháng 9. Thủy sư Đô đốc D’Argenlieu đưa chiến hạm Suffren nghênh đón Hồ Chủ tịch và cố ý bố trí đội lính danh dự gồm Thủy quân, Lục quân trên chiến hạm ấy thành hình vuông. Lúc Hồ Chủ tịch vào tới tâm điểm cái hình vuông Thủy, Lục quân Pháp, D’Argenlieu với giọng đắc thắng nói: “Monsieur le Président, vous voilà bien encadré entre l’Armée et la Marine”.

Hồ Chủ tịch mỉm cười:

– “Mais, vous savez, Monsieur l’Admiral, c’est le tableau qui fait la valeur du cadre”.

Ta nhớ lại ẩn dụ “nét viền quanh” Bác nói với Picasso khi họa sĩ này đề nghị với Bác sau khi đưa Người đi xem xưởng họa của mình: “Anh cho tôi một lời khuyên!”. “Nét viền quanh” trong câu chuyện với Picasso là ẩn dụ thể hiện đức tính khiêm tốn của Bác trước người bạn – nhà danh họa có tầm vóc thế giới. Còn ẩn dụ cái khung và bức họa là những ẩn dụ thể hiện trước hết tài ứng đối của Người trong việc đấu lý và đấu trí với đối phương.

ẨN DỤ TRONG NGÔN TỪ CỦA BÁC VÀ MỐI LIÊN HỆ VỚI VĂN HÓA

Về chủ nghĩa tư bản và bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản hẳn không phải ai cũng hiểu rõ, nhưng khi dùng ẩn dụ con đỉa bám hai đầu để hút máu thì chắc rằng người dân của một xứ nông nghiệp trồng lúa nước không ai còn thấy xa lạ. Có ẩn dụ Bác dùng, bắt nguồn từ thành ngữ có ý nghĩa triết lý thông thường trong dân gian (sông cạn, núi mòn); nhưng khi được Người đưa vào kết cấu câu để vận dụng phương thức ẩn dụ thì thành ngữ ấy được cải biên – thêm từcó thể vào thành ngữ và dùng từ nhưng ở vế đối ứng – để phục vụ cho nội dung tư tưởng cần diễn đạt.


Chủ tịch Hồ Chí Minh và thư ký Vũ Đình Huỳnh tại Paris năm 1946.
Ảnh TL.

Tìm về cội nguồn xa hơn ta còn biết thêm quan hệ nước và thuyền của Nguyễn Trãi được dựa vào sách Gia ngữ. Sách ấy chép: Khổng Tử thưa với Ai Công rằng: “Vua là thuyền, thứ dân là nước. Nước có thể chở thuyền, cũng có thể lật thuyền”.

Trong câu chuyện ẩn dụ “đóng khung” (bien encadré) của Đô đốc Hải quân Pháp Georges Thierry d’Argenlieu cũng như ẩn dụ cái khung (cadre) và bức họa(le tableau) qua lời đối đáp của Bác, chúng ta lại càng khâm phục Người về sự am hiểu sâu sắc văn hóa Pháp và tài năng ứng đối nhạy bén trong các tình huống giao tiếp ngôn từ.

Để chia sẻ sự cảm nhận về điều này, trước tiên tôi xin nêu cách hiểu của mình về một số từ ngữ Pháp trong câu chuyện. Encadrer là một động từ được cấu tạo theo phương thức phái sinh (dérivation) từ danh từ cadre có nghĩa là cái khung (ảnh), khuôn khổ, khung cảnh. Encadrer có nghĩa đóng khung, lồng khung(ảnh), viền quanh; mà cũng có thể hiểu là bao quanh, vây xung quanh.

Từ đó, câu nói của D’Argenlieu có thể được tạm hiểu theo ý tốt là: “Thưa Chủ tịch, Ngài được đội hải quân và lục quân viền quanh (vây quanh)”, mà cũng có thể được hiểu theo ẩn ý thiếu thiện chí: “Thưa Chủ tịch, các ông hoàn toàn đang ở trong vòng vây của Lục quân và Hải quân (chúng tôi)”.

Biết rõ ẩn ý đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chuyển sang thế tấn công bằng cách dùng lối chơi chữ (jeu de mots) rất tinh tế trong văn hóa Pháp. “Nhưng, thưa Đô đốc, chính bức tranh mới làm tôn giá trị cho cái khung”.

Để kết lại một cách ngắn gọn cho tiểu mục này, tôi xin mượn lời nhận xét dưới đây của cố giáo sư Phạm Huy Thông nói về phong cách ngôn ngữ Pháp của Bác: “Dùng tiếng Pháp, Người nắm ngôn ngữ Pháp vững vàng, sử dụng ngôn ngữ Pháp tế nhị… Năng lực về ngôn ngữ Pháp của Người được thể hiện trước tiên trong việc Người đã nhận thức được đầy đủ về các loại văn Pháp, và đã lựa được xác đáng loại nào là hợp, là có hiệu quả cao ở từng trường hợp” (Phạm Huy Thông, 1988).

Nhiều ẩn dụ được Bác dùng cho thấy Người vận dụng linh hoạt các triết lý nhân văn trong truyền thống phương Đông (về vai trò của nhân dân, về đạo đức, về nghĩa vụ của người được trao cho quyền quản lý xã hội…), đồng thời Người còn thấm nhuần và huy động vốn văn hóa dân tộc hết sức thích hợp trong mọi hoàn cảnh giao tiếp (cá và nước, châu chấu và xe hoặc voi).

Bác cũng sử dụng hết sức sinh động vốn hiểu biết sâu sắc của mình về ngôn ngữ, về văn hóa phương Tây trong hơn 20 năm sống, học hỏi và hoạt động trong lòng nước Pháp, đồng thời trải nghiệm cuộc sống đa dạng ở nhiều nơi trên thế giới.

Chúng ta đã có thể thấy một biện pháp tu từ trong ngôn ngữ của Bác có thể biểu lộ cả chiều sâu rộng về tư tưởng và văn hóa ẩn chứa trong sản phẩm ngôn từ của Người như thế nào. Đó chính là một trong những thành tố làm nền tảng của tinh chất “Minh triết Hồ Chí Minh”.

GS-TS BÙI KHÁNH THẾ

honvietquochoc.com.vn

Ngàn năm đẹp mãi tên Người – Hồ Chí Minh

Chuyện kể về một làng Sen, một ngôi làng nhỏ nghèo khó nhưng kiên cường, phải sống trong cảnh “đóng khố thay quần” tần tảo quanh năm mà vẫn nghèo túng. Quê hương đó chính là nơi sinh ra Hồ Chí Minh, vị cha già dân tộc đầy kính yêu của nhân dân Việt Nam. Cũng như bao làng quê Việt Nam khác, làng Sen với những mái tranh ẩn mình dưới bóng tre làng, âm vang những lời ca, tiếng hát vượt lên nghèo khó. Người lớn lên, trong tâm hồn mang dấu ấn văn hoá bản sắc quê hương, nơi nuôi dưỡng tư tưởng yêu nước và chí hướng cách mạng của Người.

Từng bước trưởng thành và khôn lớn trong nhận thức về nỗi nhục mất nước, thấu hiểu được tình cảnh khốn cùng của cả dân tộc đang bị giày xéo dưới gót giày thực dân Pháp, Người đã nhận ra bộ mặt tàn bạo của kẻ thù, từ đó sôi sục một ý chí tìm ra con đường cứu nước, tìm con đường đúng đắn giải phóng cho dân tộc mình.

Khi theo cha vào Nam và dừng chân tại Phan Thiết, Nguyễn Tất Thành tham gia dạy học cho trường Dục Thanh, ngôi trường bồi dưỡng tri thức và đạo đức cho thế hệ trẻ thời bấy giờ. Rồi có những buổi bình minh le lói ngôi cầu tròn vời vợi, ngồi trên bãi biển Phan Thiết phóng tầm mắt ra xa khơi, Người mơ về những chuyến đi xa, tới chân trời góc bể – ở những nơi đã sản sinh ra những tư tưởng tiến bộ: Tự do – Bình đẳng – Bác ái. Ở đó đang vẫy gọi bầu nhiệt huyết của người thanh niên đầy dũng khí. Hướng về phương Nam, nơi có đô thị Sài Gòn phồn hoa đô hội, nơi có cảng biển với những con tàu vượt đại dương, Người đã quyết định xếp bút nghiên vào Sài Gòn theo đuổi lý tưởng cao cả đó. Sài Gòn xa hoa, Sài Gòn náo nhiệt, nhưng nghịch cảnh giữa vật chất kim tiền và những cuộc đời lam lũ, khốn khổ của người dân lao động khiến Nguyễn Tất Thành càng hứng khởi hơn cho chuyến hành trình ra đi để “xem nước Pháp và các nước khác họ làm thế nào, để khi về sẽ giúp đồng bào mình”.

Trên chuyến tàu vượt muôn ải trùng dương
Bác ra đi với đôi lòng mong mỏi
Ngày trở về giúp dân mình bớt khổ
Trả thù nhà, xoá nhục nước trăm năm.

Từ  một chàng trai thư sinh có học vấn, con nhà quan triều đình chưa từng chịu lam lũ, nhọn nhằn của lao động chân tay, nhưng vì lý tưởng, vì muốn khám phá cái mới, vì tư tưởng yêu nước thương dân, Người quyết chí xuống làm phu phen phục dịch trên chiếc tàu Latuso Torevin với tên mới Văn Ba để được “xem người ta như thế nào” và cũng là dịp tốt để rèn luyện mình trong lao động như bao thân phận của hàng triệu người dân nước Việt lúc đó. Hoà mình trong đời sống thợ thuyền – một cuộc thâm nhập thực tế lớn lao chưa từng thấy trong đời người lãnh tụ nhân dân. Ngày 5 tháng 6 năm 1911, được nhận vào làm phụ bếp trên tàu, người thanh niên Văn Ba bắt đầu cuộc hành trình tìm hiểu nền văn minh thế giới, tìm con đường cứu nước.

Tay cầm tay tròn quay một lời hát
Hồ Chí Minh bát ngát nụ cười hiền
Chuyến đi này là chuyến đi hạnh phúc
Người mang về đất nước trọn niềm vui !

Hồ Chí Minh từng bảo “bài học chính trong đời tôi là tuyệt đối và hoàn toàn cống hiến đời mình cho sự nghiệp giải phóng và thống nhất Tổ quốc, giải phóng giai cấp công nhân và dân tộc bị áp bức, cho sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, cho sự hợp tác anh em và hoà bình các dân tộc”. Và trọn hành trình cuộc đời “79 mùa xuân”, Cụ đã làm đúng như những gì mình nói.

Một người hi sinh cả đời mình cho giống nòi, cho đất nước, Hồ Chí Minh thật vĩ đại trong lòng chúng ta. Phạm Văn Đồng, nguyên là học trò Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng là bạn chiến đấu trường kì cùng Cụ từng viết: “Cụ Hồ không có cái gì riêng, cái gì của nước của dân là của Người, quyền lợi tối cao của nước, lợi ích hàng ngày của dân là sự lo lắng hàng ngày của Người, gia đình của Người là đại gia đình Việt Nam”.

Nhân 121 năm ngày sinh nhật Bác, xin kết một tràng hoa “79 mùa xuân” vĩnh cửu mà trọn đời Người cống hiến cho non sông, đất nước, cùng hoà chung vào “rừng xuân đẹp nhất tên Người – Hồ Chí Minh” !.

Thân mời các bạn đón nghe chương trình Radio mừng sinh nhật Bác vào ngày 19 tháng 5, để cùng hoà chung không khí trọn niềm vui của cả dân tộc mà 121 năm trước đó, cả dân tộc hăm hở chào đón sự ra đời của một bậc vĩ nhân, một anh hùng giải phóng dân tộc, một danh nhân văn hoá thế giới “Hồ Chí Minh – Ngàn năm đẹp mãi tên Người”.

Đặng Lộc Sâm

suctrenhanvan.edu.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người Việt Nam bình dị

Không bao giờ đề cao mình, Bác luôn coi mình cũng là người phục vụ như mọi người, nên không bao giờ để người khác phải cung phụng, vất vả vì mình. Dù ở cương vị Chủ tịch nước, Bác vẫn chưa lúc nào coi mình là vua, là quan, dù là quan cách mạng mà vẫn coi mình là đầy tớ của nhân dân, hòa đồng với nhân dân, với những người cần lao nghèo khổ.

Sau mấy mươi năm xa cách, Bác mới có dịp trở về thăm quê hương xứ Nghệ. Bữa cơm quê hương đón Bác thật sang trọng, những tưởng Bác sẽ hài lòng. Nào ngờ Bác chỉ nhìn thoáng rồi lắc đầu: “Dân Nghệ ta sống khổ quen rồi. Bác không quen dùng mấy thứ này. Các chú đã bày thì cứ dùng cho tự nhiên. Bác đã chuẩn bị khẩu phần riêng từ nhà rồi”. Và thế là Bác cùng người cảnh vệ ra xe mở cơm nắm cùng ăn.

Theo đồng chí Vũ Kỳ, những chuyến đi công tác của Bác thường ít khi địa phương nào, cơ quan nào mời được Bác ăn cơm. Thường là Bác tranh thủ về ngay để ăn cơm nhà. Nếu xa, bao giờ Bác cũng yêu cầu các đồng chí bảo vệ chuẩn bị sẵn cơm nắm mang theo. Cơm vẫn độn ngô, mì như một công chức bình thường.

Một lần về thăm Thái Bình sau một trận lụt nặng, Tỉnh ủy làm cơm cố nài Bác ở lại ăn. Bác nói: “Đi thăm cảnh lụt còn ăn uống nỗi gì…”. Bác làm thế không phải cố ý khác người mà thực ra đó chính là một phần những gì thuộc về phong cách Bác, nhân cách Bác. Giản dị, khiêm nhường đã trở thành nét bản chất trong nhân cách Bác. Bác coi đó như một thứ đạo, một niềm vui, một hạnh phúc mỗi ngày.

Hãy nghe lời tự bạch của Bác khi sống và làm việc giữa những ngày thiếu thốn, khó khăn ở hang Pắc Bó những năm đầu thập kỷ 40:

Sáng ra bờ suối tối vào hang
Cháo bẹ măng tre vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang.

Là một nhà cách mạng lỗi lạc, một nhà thơ, một danh nhân văn hóa, song ở đâu và bất cứ lúc nào ta vẫn thấy Bác nguyên vẹn là người Việt Nam bình dị với cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Ngay khi ở giữa thủ đô Hà Nội sau 1954, bữa ăn hàng ngày của Bác vẫn chỉ là tương cà, rau dưa, đặc biệt là món cá bống kho lá gừng.

Hàng ngày Bác vẫn đi bộ đến nhà ăn, ngồi ăn cùng với các cán bộ nhân viên trong phủ Chủ tịch. Nhiều ngày trời mưa, lối đi bị ngập nước, Bác xắn quần cao quá gối, cầm ô lội nước sang nhà ăn. Mọi người thương Bác trào nước mắt nhưng vẫn không sao thuyết phục được Bác cho dọn cơm bên nhà sàn. Bác nghiêm khắc nói: “Các chú muốn chỉ một người vất vả hay muốn cho nhiều người cùng vất vả vì Bác”.

Một hôm vào ngày 3-7-1967, Bác mời cơm nữ anh hùng miền Nam Trần Thị Lý. Vì thương chị còn đang mang thương tật, trời lại mưa lớn nên Bác đồng ý để đồng chí Vũ Kỳ dọn cơm tại nhà sàn. Hôm sau, tưởng đã thành tiền lệ, các đồng chí phục vụ lại dọn cơm ở nhà sàn mời Bác ăn. Bác gọi ngay đồng chí Vũ Kỳ đến và phê bình: “Các chú muốn để Bác hư thân đi có phải không?”.

Câu chuyện trên về Bác đã dạy ta bài học lớn: Sự rèn luyện không phải chỉ ở những thử thách lớn lao, những công việc trọng đại sống còn mà còn ngay trong những hoạt động sinh hoạt nhỏ nhặt đời thường nhất. Càng trưởng thành, càng thành đạt, càng có chức vị, quyền uy càng dễ “hư thân” nếu không nghiêm khắc với mình, không tiếp tục rèn luyện và rèn luyện.

Là Chủ tịch nước, là vị tổng tư lệnh tối cao giữa những ngày gian khổ ác liệt nhất của cuộc kháng chống Pháp, ấy vậy mà khi cần thiết Bác vẫn chủ động sắm vai người phụ bếp giỏi giang khéo léo. Chuyện kể hồi ở Việt Bắc, có lần đi công tác, buổi trưa, Bác cháu dừng chân bên một bờ suối nấu ăn. Bác bảo các chú nấu cơm để Bác rán trứng. Trứng rán xong mà cơm chưa chín, Bác lấy que sắt nung trên than hồng rồi đặt lên khoanh trứng thành những hình quả trám rất đẹp, anh em đều cười thán phục. Được phục vụ mọi người, góp phần làm cho bữa ăn thêm ngon, thêm sắc màu thì còn gì hạnh phúc hơn. Đây là bài học đáng suy nghĩ cho không ít người đang nhiễm căn bệnh quyền uy trong xã hội và ở gia đình.

Càng đi sâu tìm hiểu Bác, ta càng cảm nhận những bài học văn hóa, nhân văn sâu sắc. Chuyện kể rằng hồi ở Việt Bắc, có bữa bận phải ăn sau, Bác dặn các cô chú cứ ăn thịt cá, nhớ để phần Bác món cà dầm mắm. Có hôm Bác làm việc quá khuya, sợ Bác mệt, đồng chí phục vụ liền bưng lên mời Bác bát chè đậu đen đường phèn. Vừa lúc đồng chí liên lạc mang công văn đến, thương đồng chí đi đường xa đêm khuya vất vả gió sương, thế là Bác chia bát chè làm hai “bắt” anh liên lạc phải ăn bằng được Bác mới chịu ăn.

Ngồi ăn chung với mọi người Bác luôn nhắc ăn món gì cho hết món ấy. Món gì liệu chừng không dùng hết thì Bác tự tay đặt riêng một chỗ để người sau hoặc bữa sau dùng lại, không mang tiếng là đồ thừa. Có món gì ngon bao giờ Bác cũng gắp cho mọi người trước. Ăn xong, không bao giờ Bác quên thu xếp gọn gàng bát đĩa để đỡ vất vả cho người phục vụ.

Bác Hồ của chúng ta là thế. Chủ tịch Hồ Chí Minh của dân tộc ta là thế. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người, mỗi chúng ta dù ở chức danh, địa vị nào xin hãy chớ vội nghĩ đến những gì to tát, cao xa mà trước hết hãy bắt đầu ngay từ những gì nhỏ bé nhất, đời thường nhất.

Theo: SGGP Online

hcmpc.com.vn

Đoàn H75 hoàn thành tốt chương trình tập huấn cán bộ tiểu đội năm 2012

Học viên thực hành luyện tập động tác nghiêm

Để nâng cao phẩm chất, năng lực và phương pháp tác phong công tác cho đội ngũ cán bộ các cấp, làm cơ sở nâng cao chất lượng quản lý, rèn luyện bộ đội ở đơn vị làm nhiệm vụ bảo đảm an ninh, nghi lễ, từ ngày 20/02 đến ngày 27/2/2012, Đoàn H75, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổ chức lớp tập huấn cán bộ tiểu đội cho 40 đồng chí hạ sĩ quan – binh sỹ.

Trong thời gian 08 ngày, các đồng chí tham gia lớp tập huấn được trang bị những kiến thức cơ bản về chức trách, nhiệm vụ của cán bộ tiểu đội, trực ban nội vụ, quyền hạn khen thưởng và xử phạt, quy định về tổ chức canh phòng và chức trách người gác trong Điều lệnh Quản lý bộ đội; phương pháp tổ chức và huấn luyện điều lệnh đội ngũ nội dung từng người tay không và có súng, phương pháp tiến hành công tác đảng, công tác chính trị trong huấn luyện, xây dựng chính quy và rèn luyện bộ đội; thống nhất động tác các bài thể dục buổi sáng, võ thể dục và phương pháp, nội dunng huấn luyện, rèn luyện thể lực cho bộ đội.

Đánh giá kết quả lớp tập huấn, Thượng tá Lâm Văn Hoan, Phó Đoàn trưởng – Tham mưu trưởng Đoàn H75 cho biết: Lớp tập huấn đã hoàn thành tốt nội dung, chương trình đề ra. Các đồng chí hạ sĩ quan – binh sỹ đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục thời tiết mưa rét, tích cực tập luyện, ôn luyện, kiểm tra 100% đạt yêu cầu, gần 80% đạt khá, giỏi.

Tập huấn cán bộ tiểu đội là một nội dung mới trong kế hoạch công tác năm 2012. Quá trình tập huấn là quá trình truyền thụ kinh nghiệm trong quản lý, chỉ huy và thực hiện nhiệm vụ tại đơn vị, nhằm thống nhất nội dung, tổ chức và phương pháp huấn luyện, rèn luyện bộ đội, nâng cao trình độ, năng lực quản lý chỉ huy của cán bộ tiểu đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của đơn vị, qua đó làm cho cán bộ tiểu đội thấy rõ vị trí, vai trò của mình trên cương vị chức trách được giao, gắn với trách nhiệm trong quá trình tổ chức chỉ huy và quản lý bộ đội thực hiện nhiệm vụ./.

Đàm Việt Dũng
cpv.org.vn

Bác Hồ với sự nghiệp giải phóng phụ nữ

Trong Di chúc, Bác viết: “Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, phụ nữ vô cùng đảm đang, đã đóng góp rất nhiều trong chiến đấu và sán xuất. Đảng, Chính phủ cần có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng thêm nhiều phụ nữ phụ trách nhiều công việc kể cả lãnh đạo. Phụ nữ phải phấn đấu vươn lên, đây là thực sự là một cuộc cách mạng”

GS, TS Nguyễn Lân Dũng

Trong một lần trả lời phỏng vấn Đài phát thanh BBC (Anh) nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã nói: Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi xướng con đường giải phóng phụ nữ tại Việt Nam. Người đã thức tỉnh phụ nữ tham gia giải phóng dân tộc, nhân loại và từ đó giải phóng chính mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cảm thông sâu sắc với nỗi thống khổ của người phụ nữ Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai. Người xác định rõ, bất bình đẳng nam nữ không đơn thuần là bị ảnh hưởng bởi các tư tưởng lạc hậu mà chủ yếu là do chế độ kinh tế xã hội. Hồ Chí Minh là lãnh tụ Việt Nam đầu tiên kêu gọi “Thực hiện nam nữ bình quyền”, coi sự nghiệp giải phóng phụ nữ là mọt mục tiêu của cách mạng.

Đồng chí Vũ Kỳ nhớ lại: “Một lần, tới dự Hội nghị, nhìn dọc Hội trường Bác hỏi: này các chú, phụ nữ đâu không thấy ngồi hàng đầu ? Bác hỏi tiếp: Các cô có đấy không ? Có ạ. Vậy mời lên đây ngồi. Ngay việc ngồi cũng không bình đẳng. Phụ nữ muốn bình đẳng không phải bảo Đảng, Chính phủ hay nam giới mời ngồi mà phải tự đấu tranh để giành lấy.

Đó là lời dặn mà cũng là mong muốn của Bác. Bác thường nhắc: Lực lượng phụ nữ không nhỏ, có khi còn đông hơn nam giới. Ở Việt Nam nói riêng và Châu Á, Châu Phi nói chung, sự bất bình đẳng giữa nam và nữ rất rõ rệt. Do ý thức hệ phong kiến đã đè nặng lên tư tưởng phụ nữ từ bao đời nay. Vì thế, mọi đường lối, chính sách của Đảng, Chính phủ bao giờ cũng phải chú ý đến phụ nữ…

Bác còn trực tiếp đào tạo nhiều người trở thành cán bộ cách mạng. Hãy đọc lại hồi ký của bà Nông Thị Trưng viết về Bác: “Về Pắc Bó đã nửa đêm, anh Đại Lâm, người giữ trạm đầu nguồn đưa chúng tôi đến gặp ông Ké. Đến nơi, anh Đại Lâm thổi sáo, từ trên thác có thang tre thả xuống. Bên bờ suối có một cái lán, trong lán, một ông cụ đang ngồi đọc sách. Tôi chấp tay: Cháu chào cụ ạ. Ông cụ nhìn lên hai mắt rất sáng, ân cần bảo: Cháu đến rồi à, cháu ngồi xuống đây nói chuyện. Cụ bảo 2 lần tôi mới dám ngồi. Cụ tỉ mỉ hỏi gia cảnh, rồi khuyên: “Từ nay cháu đã có gia đình lớn là cách mạng, đừng nên luyến tiếc gia đình nhỏ nữa. Cháu có cặm cụi làm ăn cũng không đủ nộp sưu thuế. Mình lấy lại được nước rồi sẽ khác”. Bác đặt cho tôi tên Trưng cũng là vì muốn tôi noi theo gương của bà Trưng khi xưa.

Từ đấy, tôi ở lại lán anh Đại Lâm, mỗi ngày vào lán của Bác một giờ học tập Bác dạy cho tôi từ chuyện thế giới, chuyện cộng sản đến cả những cách ứng xử hàng ngày: Đừng làm việc gì khiến dân mất lòng tin. Mượn 1 cái kim, 1 con dao, một buổi là phải đem trả. Trong ba lô nếu có màn, phải để ở ngoài cửa, chủ nhà có bằng lòng mới đem vào. Cháu là nữ, trước bàn thờ có cái giường để các cụ ngồi ăn cỗ, cháu không được ngồi… Tám tháng được Bác chỉ dạy, tôi học được nhiều hơn mấy chục năm học lý luận tập trung sau này”.

Khi bàn về việc bầu Chủ nhiệm HTX nông nghiệp, Bác đề nghị bầu nhiều phụ nữ vào cương vị này bởi: “Phụ nữ làm chủ nhiệm đâu có đánh chén. Chủ nhiệm nữ thật thà, phải đưa nhiều phụ nữ tham gia làm chủ nhiệm”.

Trong Di chúc, Bác viết: “Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, phụ nữ vô cùng đảm đang, đã đóng góp rất nhiều trong chiến đấu và sán xuất. Đảng, Chính phủ cần có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng thêm nhiều phụ nữ phụ trách nhiều công việc kể cả lãnh đạo. Phụ nữ phải phấn đấu vươn lên, đây là thực sự là một cuộc cách mạng”.

Theo Nhịp cầu đầu tư
Người đưa tin: NBC

haugiang.gov.vn

Nguyễn Ái Quốc với Ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3

Cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phát triển tột bậc, nhất là ở Mỹ và các nước Tây Âu, nhiều phụ nữ và trẻ em phải làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp, bị chủ tư bản bóc lột và trả lương rẻ mạt, đời sống vô cùng cực khổ, khó khăn. Căm phẫn trước sự áp bức đó, ngày 8-3-1899, tại hai thành phố Chi-ca-gô và Niu-óoc (Mỹ) một cuộc đấu tranh mạnh mẽ của nữ công nhân ngành dệt may đã nổ ra đòi tăng lương, giảm giờ làm và cuối cùng buộc bọn chủ tư sản phải nhượng bộ.

Tháng 2-1909, lần đầu tiên phụ nữ khắp nơi trên nước Mỹ tổ chức mít tinh “Ngày Phụ nữ”, biểu tình rầm rộ đòi quyền bình đẳng. Những cuộc đấu tranh đầu tiên của nữ công nhân Mỹ đã có tiếng vang lớn, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của phụ nữ lao động trên toàn thế giới. Trong phong trào đấu tranh lúc bấy giờ, xuất hiện nữ chiến sĩ cách mạng lỗi lạc người Ðức là bà Cơ-la-ra Det-kin. Cơ-la-ra Det-kin sinh ra trong một gia đình nhà giáo ở vùng nông thôn Ai-xuê nước Đức, lớn lên Cơ-la-ra học tại một trường tư thục ở Lai-xích.

Cơ-la-ra Det-kin

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Cơ-la-ra Zet-kin hoạt động trong phong trào công nhân và sau đó gia nhập Đảng xã hội dân chủ Đức. Vì bị khủng bố và truy lùng, từ năm 24 tuổi, Cơ-la-ra sang nước ngoài hoạt động, trở thành một chiến sĩ cộng sản, chủ bút của tạp chí Bình đẳng do chính bà sáng lập năm 1890.

Năm 1907, Đại hội Phụ nữ quốc tế được triệu tập theo đề nghị của Cơ-la-ra Det-kin, sau đó một tổ chức quốc tế của phụ nữ ra đời và Cơ-la-ra được bầu làm Bí thư đầu tiên. Năm 1910, theo sáng kiến của bà, Hội nghị Phụ nữ quốc tế họp tại Cô-pen-ha-ghen (Đan Mạch) đã lấy ngày 8-3 hằng năm làm ngày đấu tranh cho quyền tự do, bình đẳng của phụ nữ trên toàn thế giới.

Trong thời kỳ diễn ra nhiều hoạt động đấu tranh sôi nổi của phụ nữ thế giới nhằm giành quyền bình đẳng, Nguyễn Tất Thành đang bôn ba ở hải ngoại tìm đường cứu nước, Người phải làm thuê nhiều công việc nặng nhọc để kiếm sống ở các nước Mỹ, Anh, Pháp.

Tháng 10-1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội Tua và gia nhập Đảng Cộng sản Pháp. Tại Đại hội này, Cơ-la-ra Det-kin với cương vị là Ủy viên Đoàn Chủ tịch của Quốc tế Cộng sản đã đọc một bài diễn văn quan trọng. Bài diễn văn của Cơ-la-ra đã làm cho Nguyễn Ái Quốc hiểu thêm về Lê-nin và Cách mạng Tháng Mười Nga, cũng như mối hiểm họa mà bọn cơ hội đang rắp tâm gây ra cho giai cấp vô sản thế giới; đồng thời cũng giúp Người biết thêm tình hình thế giới, phong trào phụ nữ quốc tế và những thành quả sau mười năm thành lập. Tại đây, Nguyễn Ái Quốc đã làm quen với Cơ-la-ra. Với tình hữu ái vô sản và nhất là sự cảm phục tấm lòng yêu nước của Người, bà đã giúp Nguyễn Ái Quốc học tiếng Đức và trao đổi nhiều vấn đề về tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa của giai cấp công nhân và nhân dân hai nước Đức, Việt.

Năm 1913, Nguyễn Ái Quốc gặp lại Cơ-la-ra tại Mát-xcơ-va, hai chiến sĩ cộng sản đã kể cho nhau nghe chặng đường hoạt động cách mạng đầy gian khó nhưng vinh quang của mình, càng thêm gắn bó hơn về trách nhiệm của mỗi người đối với Quốc tế Cộng sản và phong trào công nhân thế giới. Giữa thập niên 20 của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc sang hoạt động cách mạng ở Liên Xô, Trung Quốc, từ những trao đổi cùng Cơ-la-ra, Người đã tích lũy được nhiều tư liệu quý để viết bài về “Phụ nữ quốc tế” với 3 nội dung: Vì sao lập ra Phụ nữ quốc tế? Lịch sử Phụ nữ quốc tế thế nào? Cách tổ chức của Phụ nữ quốc tế ra sao?

Phần đầu của bài “Phụ nữ quốc tế”, Người đã viết những lời thật giản dị mà thấm thía:

“Ông Các Mác nói rằng: Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào, thì chắc không làm nổi. Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái thì biết xã hội tấn bộ ra thế nào”.

Ông Lênin nói: “Đảng cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu ăn cũng biết làm việc nước, như thế cách mệnh mới gọi là thành công”…

Xem trong lịch sử cách mệnh chẳng có lần nào là không có đàn bà con gái tham gia. Cách mệnh Pháp có những người như cô học trò Sác-lốt Coóc-đây rút dao đâm chết người tể tướng hung bạo, bà Luy Mi-sen ra giúp tổ chức Pa-ri Công xã. Khi Nga cách mệnh, đàn bà ra tình nguyện đi lính; sau tính lại lính cách mệnh đàn bà chết hết 1.854 người. Nay cách mệnh Nga thành công mau như thế, đứng vững như thế cũng vì đàn bà con gái hết sức giùm vào. Vậy nên muốn thế giới cách mệnh thành công, thì phải vận động đàn bà con gái công nông các nước”.(*)

Tại Đại hội Phụ nữ Quốc tế lần thứ 3 ở Mát-xcơ-va năm 1924, với tư cách là đại biểu của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đến dự, đại diện cho ý chí và nguyện vọng quần chúng lao động xứ Đông Dương, Người đã gặp lại Cơ-la-ra Dét-kin và nhiệt liệt chúc mừng bà được bầu làm Tổng Bí thư của Phụ nữ quốc tế. Bà Cơ-la-ra còn được Hội nghị lần thứ nhất của Hội quốc tế Cứu tế đỏ bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương của Hội, ngoài việc cứu tế nạn nhân chiến tranh, thiên tai, Hội còn bênh vực cho các chiến sĩ cách mạng từ nhiều nước khác nhau. Sau này, chính Hội quốc tế Cứu tế đỏ do Cơ-la-ra đứng đầu đã đóng vai trò rất quan trọng trong việc cứu Nguyễn Ái Quốc thoát khỏi nhà tù đế quốc Anh ở Hương Cảng.

Sau những năm tháng đấu tranh không biết mệt mỏi, năm 1933, Cơ-la-ra Dét-kin, người sáng lập ra Ngày quốc tế Phụ nữ 8-3 đã trút hơi thở cuối cùng trên quê hương Xô-viết anh hùng. Năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm các nước Đông Âu, trong buổi gặp đồng chí Vin-hem Pích, Chủ tịch Đảng Xã hội thống nhất Đức, Người đã kể lại với tấm lòng khâm phục vô hạn về tinh thần chiến đấu kiên cường vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng phụ nữ của bà Cơ-la-ra Dét-kin, người phụ nữ Đức dũng cảm đã dành trọn cuộc đời tranh đấu vì nhân loại cần lao.

——

(*) HCM toàn tập, NXBCTQG-ST, Hà Nội 2002, tập 2, tr 288.

Nguyễn Thanh Hoàng
Ban Tuyên giáo Thành ủy Cần Thơ

xaydungdang.org.vn

Những tên gọi, bí danh, bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có hơn 30 năm hoạt động ở nước ngoài. Người qua 4 châu lục, 3 đại dương, đặt chân lên gần 30 nước, làm hàng chục nghề khác nhau. Trong điều kiện hoạt động cách mạng bí mật, bị chính quyền thực dân, đế quốc và tay sai theo dõi, bắt giam, tuyên bố tử hình vắng mặt…Người phải thay đổi họ tên rất nhiều lần. Do đó, trong cuộc đời của mình, Hồ Chí Minh có rất nhiều tên gọi, bí danh và bút danh.

Cuốn sách của Bảo tàng Hồ Chí Minh Những tên gọi bí danh, bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, đưa ra con số thống kê: có 169 tên chính thức, bí danh, bút danh của Hồ Chí Minh, và nêu lên 17 bút danh, bí danh khác đang nghi là của Hồ Chí Minh cần được nghiên cứu thêm. Còn nhà sưu tầm Bá Ngọc trong cuốn sách của mình Hồ Chí Minh – Những tên gọi đi cùng năm tháng, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003, thống kê Hồ Chí Minh có 174 tên ; trong đó có 78 tên chính thức, bí danh và 96 bút danh.

Chúng tôi xin giới thiệu 169 tên chính thức, bí danh, bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Cuốn sách của Bảo tàng Hồ Chí Minh Những tên gọi bí danh, bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.

Trong thời gian đến, chúng tôi sẽ cung cấp cho quý vị và bạn đọc 169 tư liệu, sự kiện quý giá liên quan đến tên gọi, bí danh, bút danh  mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng trong quá trình hoạt động cách mạng để quý vị và bạn đọc  hiểu đầy đủ hơn.  

Tên do gia đình đặt từ 1890 – 1910

1. Nguyễn Sinh Cung, 1890

2. Nguyễn Sinh Côn

3. Nguyễn Tất Thành

4. Nguyễn Văn Thành, 1901

5. Nguyễn Bé Con

Tên gọi – bút danh trong thời gian Bác đi tìm đường cứu nước đến khi về nước (1911 – 1941)
6. Văn Ba, 1911

7. Paul Tất Thành, 1912

8. Tất Thành, 1914

9. Pôn Thành (Paul Thành), 1915

10. Nguyễn Ái Quốc, 1919

11. Phéc-đi-năng

12. An-be đơ PU-VUA-VIN (Anbert de POUVOURVILLE), 1920

13. Nguyễn A.Q, 1921-1926

14. CULIXE, 1922

15. N.A.Q, 1922

16. Ng.A.Q, 1922

17. Hăngri Trần (Henri Tchen), 1922

18. N, 1923

19. Cheng Vang, 1923

20. Nguyễn, 1923

21. Chú Nguyễn, 1923

22. Lin, 1924

23. Ái Quốc, 1924

24. Un Annamite (Một người An Nam), 1924

25. Loo Shing Yan, 1924

26. Ông Lu, 1924

27. Lý Thụy, 1924

28. Lý An Nam, 1924-1925

29. Nilốpxki (N.A.Q), 1924

30. Vương, 1925

31. L.T, 1925

32. HOWANG T.S, 1925

33. Z.A.C, 1925

34. Lý Mỗ, 1925

35. Trương Nhược Trừng, 1925

36. Vương Sơn Nhi, 1925

37. Vương Đạt Nhân, 1926

38. Mộng Liên, 1926

39. X, 1926

40. H.T, 1926

41. Tống Thiệu Tổ, 1926

42. X.X, 1926

43. Wang, 1927

44. N.K, 1927

45. N. Ái Quốc, 1927

46. Liwang, 1927

47. Ông Lai, 1927

48. A.P, 1927

49. N.A.K, 1928

50. Thọ, 1928

51. Nam Sơn, 1928

52. Chín (Thầu Chín), 1928

53. Víchto Lơ bông (Victor Lebon), 1930

54. Ông Lý, 1930

55. Ng. Ái Quốc, 1930

56. L.M. Vang, 1930

57. Tiết Nguyệt Lâm, 1930

58. Pôn (Paul), 1930

59. T.V. Wang, 1930

60. Công Nhân, 1930

61. Vícto, 1930

62. V, 1931

63. K, 1931

64. Đông Dương, 1931

65. Quac.E. Wen, 1931

66. K.V, 1931

67. Tống Văn Sơ, 1931

68. New Man, 1933

69. Li Nốp, 1934

70. Teng Man Huon, 1935

71. Hồ Quang, 1938

72. P.C.Lin (PC Line), 1938

73. D.C. Lin, 1939

74. Lâm Tam Xuyên, 1939

75. Ông Trần, 1940

76. Bình Sơn, 1940

77. Đi Đông (Dic-donc)

78. Cúng Sáu Sán, 1941

79. Già Thu, 1941

80 Kim Oanh, 1941

81. Bé Con, 1941

82. Ông Cụ, 1941

83. Hoàng Quốc Tuấn, 1941

84. Bác, 1941

Tên gọi – bút danh trong thời gian Bác lãnh đạo cách mạng Việt Nam tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám thành công (1942 – 1945)

85. Thu Sơn, 1942

86. Xung Phong, 1942

87. Hồ Chí Minh, 1942

88. Hy Sinh, 1942

89. Cụ Hoàng, 1945

90. C.M. Hồ, 1945

91. Chiến Thắng, 1945

92. Ông Ké, 1945

93. Hồ Chủ tịch, 1945

94. Hồ, 1945

95. Q.T, 1945

96. Q.Th, 1945

97. Lucius, 1945

Tên gọi – bút danh trong thời gian Bác lãnh đạo nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954)

98. Bác Hồ, 1946

99. T.C, 1946

100. H.C.M, 1946

101. Đ.H, 1946

102. Xuân, 1946

103. Một người  Việt Nam, 1946

104. Tân Sinh, 1947

105. Anh, 1947

106. X.Y.Z, 1947

107. A, 1947

108. A.G, 1947

109. Z, 1947

110. Lê Quyết Thắng, 1948

111. K.T, 1948

112. K.Đ, 1948

113. G, 1949

114. Trần Thắng Lợi, 1949

115. Trần Lực, 1949

116. H.G, 1949

117. Lê Nhân, 1949

118. T.T, 1949

119. DIN, 1950

120. Đinh, 1950

121. T.L, 1950

122. Chí Minh, 1950

123. C.B, 1951

124. H, 1951

125. Đ.X, 1951

126. V.K, 1951

127. Nhân dân, 1951

128. N.T, 1951

129. Nguyễn Du Kích, 1951

130. Hồng Liên, 1953

131. Nguyễn Thao Lược, 1954

132. Lê, 1954

133. Tân Trào, 1954

Tên gọi – bút danh trong thời gian Bác lãnh đạo nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Mỹ đến khi Bác qua đời (1955 – 1969)

134. H.B, 1955

135. Nguyễn Tân, 1957

136. K.C, 1957

137. Chiến Sĩ, 1958

138. T, 1958

139. Thu Giang, 1959

140. Nguyên Hảo Studiant (Nguyên Hảo, sinh viên), 1959

141. Ph.K.A, 1959

142. C.K, 1960

143. Tuyết Lan, 1960

144. Giăng Pho (Jean Fort), 1960

145. Trần Lam, 160

146. Một người Việt kiều ở Pháp về, 1960

147. K.K.T, 1960

148. T. Lan, 1961

149. Luật sư Th.Lam, 1961

150. Ly, 1961

151. Lê Thanh Long, 1963

152. CH-KOPP (A-la-ba-na), 1963

153. Thanh Lan, 1963

154. Ngô Tam, 1963

155. Nguyễn Kim, 1963

156. Ng~. Văn Trung, 1963

157. Dân Việt, 1964

158. Đinh Văn Hảo, 1964

159. C.S, 1964

160. Lê Nông, 1964

161. L.K, 1964

162. K.O, 1965

163. Lê Ba, 1966

164. La lập, 1966

165. Nói Thật, 1966

166. Chiến Đấu, 1967

167. B

168. Việt Hồng, 1968

169. Đinh Nhất, 1968

NHỮNG TÊN GỌI, BÍ DANH, BÚT DANH CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH CẦN ĐƯỢC NGHIÊN CỨU THÊM

1.     U.L. Bút danh ký dưới bài viết đăng trên báo Người cùng khổ, năm 1922

2.     H.A. Bút danh ký dưới bài viết đăng trên báo Người cùng khổ, năm 1923

3.     Nguyễn Hữu Văn. Bút danh ký dưới bài viết đăng trên báo Công nhân Ba cu, năm 1927

4.     Nguyễn Hải Khách. Bí danh dùng năm 1924

5.     Diệu Hương. Bút danh ký dưới bài đăng báo Thanh niên, năm 1926

6.     T.V. Bí danh dùng khi ở Hương Cảng

7.     Wau you. Bí danh dùng khi ở Hương Cảng

8.     Nguyễn Lai. Bí danh dùng khi hoạt động ở Thái Lan

9.     Chính. Bí danh dùng khi hoạt động ở Thái Lan

10.   Tín. Bí danh dùng khi hoạt động ở Thái Lan

11.  Vương Bạc Nhược. Bí danh dùng khi hoạt động ở Quảng Châu, Trung Quốc, năm 1925

12. Đ.L.Đ. Bút danh ký dưới bài viết đăng trên báo Cứu quốc

13. T.R. Bút danh ký dưới bài viết đăng trên báo Cứu quốc

14. H.L. Bút danh ký dưới bài viết đăng trên báo Nhân dân

15. H.C. Bút danh ký dưới bài viết đăng trên báo Nhân dân

16. L. Bút danh ký dưới bài viết năm 1959

17. Lê Đinh. Ký trong một số bức điện gửi ra nước ngoài

………………………….

Theo “Những tên gọi, bí danh, bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh,”

Bảo tàng Hồ chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2001

HOÀNG ANH TUẤN

bachovoihue.com