Tag Archive | Hồ Chí Minh

Tặng Võ Công – Tặng cụ Võ Liêm Sơn (1948)

Thiên lý công tầm ngã,
Bích cảm nhất ngôn trung!
Sự dân nguyện tận hiếu,
Sự quốc nguyện tận trung.
Công lai ngã hân hỉ,
Công khứ ngã tư công.
Tặng công chỉ nhất cú:
“Kháng chiến tất thành công”.

TẶNG CỤ VÕ

Đường xa, nghìn dặm cụ đến tìm tôi,
Biết bao tình cảm ngụ trong một lời nói!
Thờ dân mong sao hết đạo hiếu,
Thờ nước mong sao hết đạo trung.
Cụ đến, tôi mừng rỡ,
Cụ về, tôi lại nhớ cụ.
Chỉ xin tặng cụ một câu này:
“Kháng chiến nhất định thành công”.

TẶNG CỤ VÕ LIÊM SƠN

Ngàn dặm cụ tìm đến,
Một lời trǎm cảm thông!
Thờ dân tròn đạo hiếu,
Thờ nước vẹn lòng trung.
Cụ đến tôi mừng rỡ,
Cụ đi, tôi nhớ nhung.
Một câu xin tặng cụ:
“Kháng chiến ắt thành công”.

Nǎm 1948

Viết bằng chữ Hán.
Dịch và in trong sách Hồ Chí Minh, Thơ,
Nxb Vǎn học, Hà Nội, 1975, tr.113-114.
cpv.org.vn

Tặng Bùi Công – Tặng cụ Bùi Bằng Đoàn (1948)

Khán thư sơn điểu thê song hãn,
Phê trát xuân hoa chiếu nghiễn trì,
Tiệp báo tần lai lao dịch mã,
Tư công tức cảnh tặng tân thi.

TẶNG CỤ BÙI

Khi xem sách, chim rừng đậu ở song cửa sổ,
Lúc phê công vǎn, đoá hoa xuân soi bóng trong nghiên mực.
Luôn luôn phải về báo tin thắng trận, con ngựa trạm cũng vất vả.
Nhớ cụ, vừa tức cảnh thành bài thơ gửi tặng cụ.

TẶNG CỤ BÙI BẰNG ĐOÀN

Xem sách, chim rừng vào cửa đậu,
Phê vǎn, hoa núi ghé nghiên soi.
Tin vui thắng trận dồn chân ngựa,
Nhớ cụ thơ xuân tặng một bài.

Nǎm 1948

Viết bằng chữ Hán.
Dịch và in trong sách Hồ Chí Minh,
Thơ, Nxb Vǎn học, Hà Nội, 1975, tr.107-108.
cpv.org.vn

Thu dạ – Đêm thu (1948)

Trù hoạch canh thâm tiệm đắc nhàn,
Thu phong thu vũ báo thu hàn.
Hốt vǎn thu địch sơn tiền hưởng,
Du kích quy lai tửu vị tàn.

ĐÊM THU

Bàn tính công việc, mãi đến canh khuya mới tạm
được nghỉ ngơi,
Mưa gió mùa thu báo tin tiết thu lạnh đã đến.
Chợt nghe tiếng sáo thu từ phía trước núi vọng lại,
Bộ đội, du kích vừa về, cuộc rượu chưa tàn.

ĐÊM THU

Bàn việc canh chầy mới tạm ngơi,
Gió mưa thu báo lạnh thu rồi.
Còi thu bỗng rúc vang từng núi,
Du kích về thôn, rượu chửa vơi.

Nǎm 1948

Viết bằng chữ Hán.
Dịch và in trong sách Hồ Chí Minh: Thơ,
Nxb Vǎn học, Hà Nội, 1975, tr.110-111.
cpv.org.vn

Lộc bất tận hưởng

Đó là câu tục ngữ, câu răn dạy, khuyên bảo con người, có nghĩa là “có lộc không nên hưởng hết một mình” mà nên chia sẻ cho người khác.

Tháng 8 năm 1945, trên đường từ chiến khu về Hà Nội, dừng chân ở một căn nhà làng Gạ, ngoại thành Hà Nội. Khi gia đình dọn cơm, Bác đã sẻ phần thịt gà ngon, mềm vào bát cụ chủ nhà.

Trong những tháng năm kháng chiến chống Pháp, trên Việt Bắc, ăn cơm cùng với các chiến sĩ bảo vệ, anh nuôi, bao giờ Bác cũng chia đều thức ăn cho cả mâm. Chị Minh Phương giúp việc chăm sóc sức khỏe Bác bày ra cái mẹo ninh gà nhừ, ít nước đặc để riêng cho Bác. Bác biết ý, nói vui: “Thế là khôn ăn cái, dại ăn nước”. Rồi Bác cũng lấy thìa san cho đủ người trong bữa ăn.

Một lần, Văn phòng Chủ tịch nước nhận được một miếng cao đặc mật ong của các vị lãnh đạo Đảng Trung Quốc tặng. Anh em đưa lên Bác để “Bác dùng cho khỏe”.

Bác cho gọi đồng chí cấp dưỡng lên, nói:

– Chú đem miếng cao này xuống bếp, bỏ vào nồi, đong đủ 24 bát nước, có ít gạo tẻ, gạo nếp càng tốt, đun lên, chia đều cho 24 người của Văn phòng.

Bác cũng chỉ là một trong 24 suất ấy. Đồng chí cấp dưỡng tần ngần chưa chịu đi. Bác cười nói:

– Làm đi chứ. “Lộc bất tận hưởng” mà chú!

“Trích trong “120 chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
Theo baclieu.gov.vn
Phương Thúy
(st).
bqllang.gov.vn

Báo tiệp – Tin thắng trận (1948)

Nguyệt thôi song vấn: – Thi thành vị ?
– Quân vụ nhưng mang vị tố thi.
Sơn lâu chung hưởng kinh thu mộng,
Chính thị Liên khu báo tiệp thì.

TIN THẮNG TRẬN

Trǎng đẩy cửa sổ hỏi: – Thơ xong chưa ?
– Vẫn còn bận việc quân, chưa làm thơ được.
Bỗng tiếng chuông ở lầu trên núi khua tỉnh
giấc mộng đêm thu,
Vừa hay là lúc có tin thắng trận ở Liên khu báo về.

TIN THẮNG TRẬN

Trǎng vào cửa sổ đòi thơ,
– Việc quân đang bận, xin chờ hôm sau,
Chuông lầu chợt tỉnh giấc thu,
ấy tin thắng trận Liên khu báo về.

Nǎm 1948

Viết bằng chữ Hán.
Dịch và in trong sách Hồ Chí Minh: Thơ,
Nxb Vǎn học, Hà Nội, 1975, tr.106.
cpv.org.vn

Thư chúc mừng nǎm mới (1-1-1949)

Cùng toàn thể đồng bào,

Cùng toàn thể chiến sĩ,

Tôi vui mừng thay mặt Chính phủ chúc đồng bào và chiến sĩ nǎm mới dương lịch.

Sang nǎm mới, chúng ta sẽ làm những gì, sẽ được những gì?

Sang nǎm mới,

Các chiến sĩ sẽ thi đua xung phong giết nhiều giặc, cướp nhiều súng, lập nhiều công.

Đồng bào sẽ xung phong thi đua tǎng gia sản xuất về mọi nghề, mọi ngành, diệt giặc đói, diệt giặc dốt.

Các cụ phụ lão xung phong đốc thúc con cháu thi đua.

Các cán bộ thi đua thực hành cần, kiệm, liêm, chính.

Các cháu thanh niên và nhi đồng xung phong thi đua học và hành.

Sang nǎm mới, chúng ta mọi người đều ra sức thi đua với tinh thần mới, lực lượng mới để đưa kháng chiến và kiến quốc đến nhiều thắng lợi mới và thành công mới.

Ngày 1 tháng 1 nǎm 1949
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1133,
ngày 1-1-1949.
cpv.org.vn

Đảng ta (1949)

(Tặng các đồng chí chi bộ)

Nǎm 1847, Mác và Ǎngghen phát biểu “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản”. Sau 70 nǎm cách mạng Nga thành công. Sau 98 nǎm cách mạng Việt Nam thành công. Hiện nay, nước nào cũng có Đảng Cộng sản và chủ nghĩa cộng sản đang lan tràn khắp thế giới. 20 triệu đảng viên cộng sản khắp các nước đang hǎng hái lãnh đạo hàng trǎm triệu người lao động và dân tộc bị áp bức, đấu tranh cho cuộc giải phóng của mình, cho một xã hội mới, cho chủ nghĩa cộng sản.

Đảng ta tuy trẻ trung, nhưng đã lập được những công trạng rất to tát.

Nhân ngày kỷ niệm thành lập Đảng, tôi nhắc lại vài mẩu chuyện của Đảng cho các đồng chí trẻ biết, chứ không phải viết lịch sử Đảng.

Nǎm 1921, trong cuộc Đại hội của Đảng Xã hội Pháp mở ở Tua (Tours) 1 , Đảng ấy chia làm hai phái. Phái thiểu số thì cứ giữ lấy Đảng Xã hội cũ. Phái đa số thì lập thành Đảng Cộng sản Pháp. Trong phái này có một người cộng sản đầu tiên của Đông Dương là đồng chí Nguyễn ái Quốc. Từ đó, chủ nghĩa cộng sản bắt đầu vượt qua lưới sắt của chủ nghĩa đế quốc Pháp và dần dần thấm vào nước ta.

Nǎm 1925, đồng chí Nguyễn ái Quốc cùng anh em cách mạng Việt Nam ở Quảng Châu tổ chức Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Hội này đưa thanh niên trong nước ra Quảng Châu, huấn luyện họ, rồi phái họ trở về tuyên truyền và tổ chức khắp cả nước.

Nǎm 1929, trong khi đồng chí Nguyễn ái Quốc đi vắng, Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội khai toàn quốc Đại hội ở Hương Cảng. Đại biểu Bắc Kỳ đề nghị tổ chức đảng cộng sản, bị gạt đi, liền bỏ hội nghị ra về.

Sau đó, trong nước dần dần thành lập ba nhóm cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương cộng sản Liên đoàn.

Một nước mà ba đảng cộng sản. Cả ba nhóm đều ngầm hiểu như thế là sai. Quần chúng đều hiểu rằng như thế là không đúng. Cả ba nhóm đều tìm cách để đi đến thống nhất. Nhưng bệnh hẹp hòi và cách làm không khéo, cho nên càng muốn gần nhau, lại càng xa nhau.

Cuối nǎm 1929, đồng chí Nguyễn ái Quốc trở lại Tàu, cùng với đại biểu các nhóm khai hội ở Hương Cảng.

Trong 7, 8 đại biểu, ngoài đồng chí Nguyễn ái Quốc và tôi, nay chỉ còn đồng chí Hồ Tùng Mậu và đồng chí Trịnh Đình Cửu, đồng chí Tản Anh và vài đồng chí nữa đều oanh liệt hy sinh cho Đảng và cho dân tộc lâu trước ngày Cách mạng Tháng Tám.

Để giữ bí mật, các đại biểu khai hội bên sân đá banh của người Tàu. Vừa giả xem đá banh, vừa bàn bạc về Đảng.

Sau cuộc bàn bạc sôi nổi, và sau lời giải thích rõ ràng của đồng chí Nguyễn ái Quốc, mọi người đều tán thành thống nhất cả ba nhóm thành một đảng.

Thế là Đảng ta chân chính thành lập.

Đó là ngày lịch sử mồng 6-1-1930 1 .

Sự thống nhất làm cho đảng viên và quần chúng cả nước rất vui mừng và thêm hǎng hái. Do đó mà Đảng phát triển rất mau, hoạt động rất mạnh. Từ đó trở đi, phong trào cách mạng ở nước ta đều do Đảng ta lãnh đạo.

Vì có một chủ nghĩa cách mạng nhất, một tổ chức chặt chẽ nhất, chí hy sinh tận tuỵ không bờ bến của đảng viên, có sự hǎng hái vô cùng của quần chúng, nên Đảng ta thành lập không bao lâu, đã lãnh đạo được cuộc khởi nghĩa Nghệ Tĩnh, thành lập Xô viết Nghệ An 28 . Nếu so sánh lịch sử cách mạng các nước, chúng ta có thể nói rằng Xô viết Nghệ An đối với Việt Nam cũng hơi giống cách mạng 1905 Nga 29 .

Xô viết Nghệ An đã lôi cuốn được cả công nhân, nông dân và học sinh. Đã lập nên chính quyền nhân dân. Đã làm cho giặc Pháp kinh sợ. Thật là một cuộc cách mạng oanh liệt đầu tiên do giai cấp vô sản Việt Nam lãnh đạo.

Giặc Pháp đàn áp một cách vô cùng dã man. Hàng ngàn hàng vạn đảng viên và quần chúng bị giết chết, bị tù đày. Giặc Pháp đã xoa tay mừng rằng cách mạng Việt Nam, cộng sản Việt Nam hết rồi. Chúng nào có hiểu: Có thể ngǎn sông, có thể đào núi, nhưng không có lực lượng nào có thể ngǎn trở chủ nghĩa cộng sản phát triển và thực hiện.

Sau trận khủng bố ghê gớm 1930-1931, nǎm 1933 Đảng lại hoạt động mạnh và càng ngày càng mạnh.

Nói đến đây, tôi phải nhắc đến những đảng viên đã vì Đảng, vì giai cấp, vì dân tộc mà oanh liệt hy sinh như đồng chí Lê Hồng Phong, Trần Phú, Hoàng Vǎn Thụ, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Vǎn Cừ, Lương Khánh Thiện, Minh Khai, cùng trǎm nghìn đồng chí khác. Và những thanh niên cộng sản anh dũng như Trọng Con, Hồng Quang. Máu xương của các tiên liệt đã thấm nhuần gốc rễ của Đảng ta, làm cho cây nó càng vững, ngành nó càng to, và kết quả khai hoa ngày càng rực rỡ.

Thế giới đại chiến lần thứ hai bùng nổ. Một lần nữa thực dân Pháp ra tay khủng bố. Nhiều đảng viên bị bắt, bị tù. Nhưng Đảng ta vẫn đứng vững. Đảng giao cho một số đồng chí thảo kế hoạch đánh Nhật chống Pháp. Các đồng chí ấy khai hội trên một bãi cỏ ở Quảng Tây. Trong 6,7 người, tôi chỉ nhớ tên các đồng chí Phùng Tự Do 1 (đã hy sinh ở Na Rì, Bắc Cạn), Phạm Vǎn Đồng, Võ Nguyên Giáp.

Muốn đánh giặc, phải có quân đội. Đội du kích đầu tiên của nước ta lập ở Cao Bằng, với 12 người, trong đó có hai nữ đồng chí. Đội này do các đồng chí Lê Quảng Ba, Hoàng Sâm và Bằng Giang phụ trách. Toàn đội chỉ có một khẩu “pạc-hoọc”, hai khẩu súng kíp và giáo mác. Thấy vậy, người khác có thể cười rằng đó là trò chơi trẻ con. Nhưng chính từ cái hạt cỏn con đó mà nay đã phát triển thành hàng chục vạn Vệ quốc quân và hàng trǎm vạn dân quân du kích đang oanh liệt kháng chiến từ Bắc đến Nam, làm cho giặc Pháp phải kinh hồn, thế giới phải khen phục.

Trong mấy tháng, đội du kích số một ấy phát triển đã khá. Đảng giao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp cải tổ thành đội Nam tiến. Khi đã lấy lại sáu tỉnh Việt Bắc và đã lập chính quyền nhân dân, đội Nam tiến đổi tên là Quân Giải phóng. Cách mạng Tháng Tám thành công, Chính phủ Cộng hoà thành lập, Quân Giải phóng trở nên Vệ quốc quân.

Nǎm nay, Đảng ta mới 19 tuổi. Nhưng suốt 19 nǎm ấy, nǎm nào cũng là một nǎm đấu tranh dũng cảm. Kinh qua bao nhiêu cơn sóng gió, bao nhiêu bước khó khǎn, càng nhiều gian nan, Đảng ta càng nhiều rèn luyện, càng thêm vững chắc và rộng lớn. Nhờ chính sách đúng, lãnh đạo chắc, kỷ luật nghiêm, nhờ tư tưởng thống nhất, mà Đảng ta và dân tộc ta được những thắng lợi vẻ vang ngày nay.

Tuy vậy, chúng ta tuyệt đối không được tự kiêu, tự đại.

Chúng ta có nhiều thành công, nhưng chúng ta cũng còn nhiều khuyết điểm. Mỗi đồng chí ta cần phải mạnh dạn và thành thật kiểm điểm mình, kiểm điểm đồng chí mình.

– Đã bỏ hết bệnh chủ quan, hẹp hòi chưa?

– Đã bỏ hết tư ý tiểu khí chưa?

– Đã luôn cố gắng học tập, luôn luôn cầu tiến bộ chưa?

– Đã thực hiện đoàn kết 100% chưa?

– Đã thật cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư chưa?

– Đã thật là người kiểu mẫu trong phong trào thi đua ái quốc chưa? Nếu chưa thì phải làm cho kỳ được.

Sứ mệnh của Đảng ta rất to. Công việc Đảng ta rất nhiều. Đảng đòi hỏi chúng ta phải làm trọn nhiệm vụ của đảng viên.

Không có vinh dự nào to bằng cái vinh hạnh được làm đảng viên của Đảng Cộng sản. Vì vậy, bất kỳ ở hoàn cảnh nào, làm công việc gì, chúng ta cũng phải kiên quyết làm cho xứng đáng với vinh hạnh ấy. Như thế, thì dân tộc giải phóng nhất định thành công, thế giới cách mạng nhất định thành công.

Trần Thắng Lợi

Viết đầu nǎm 1949.
Tập san Sinh hoạt nội bộ, số 13, tháng 1-1949.
Ban Chấp hành tỉnh Đảng bộ Hà Đông xuất bản thành sách nǎm 1950.
cpv.org.vn

Bài nói chuyện trong buổi bế mạc Hội nghị cán bộ của Đảng lần thứ sáu (18-1-1949)(30)

Lần này, Hội nghị có đủ đại biểu Trung, Nam, Bắc và cán bộ cao cấp của Đảng trong chính quyền, quân sự, kinh tế, tài chính, đảng vụ, dân vận, kiểm tra, v.v. về dự, đó là một điểm tốt.

Những vấn đề thảo luận thì nhiều, nhưng đều hướng vào một đường đi: kháng chiến thắng lợi, xây dựng dân chủ mới để tiến tới chủ nghĩa xã hội.

Phương hướng đã định, ta nhằm vào phương hướng ấy mà đi, thế nào ta cũng đi tới đích.

Nǎm nay, những việc chúng ta phải làm là:

1. Đẩy tới quân sự, kháng chiến trên hết, quân sự trên hết. Mọi việc phải nhằm vào điểm làm cho kháng chiến thắng lợi.

2. Chấn chỉnh bộ máy chính quyền từ dưới lên trên, bắt đầu từ xã; dưới làm lên trên, trên làm xuống dưới, tự nhiên mọi việc sẽ thành.

3. Làm ra nhiều, chi dùng ít. Không cần thì không chi dùng. Đó là tất cả chính sách kinh tế, tài chính của ta.

4. Chỉnh đốn các đoàn thể quần chúng. Ta thắng lợi là nhờ dân mà hiện giờ nhiều đoàn thể dân chúng còn rất kém.

5. Muốn làm được những việc trên, trước hết phải chỉnh đốn nội bộ Đảng. Phải nêu ra những việc chính, nắm lấy đó mà làm.

Đảng ví như cái máy phát điện, các công việc trên ví như những ngọn đèn, máy mạnh thì đèn sáng.

Trong Đảng, có những việc khẩn yếu như:

a) Ta thiếu nhiều cán bộ quá: phải đào tạo huấn luyện cho dần dần có đủ. Muốn có nhiều cán bộ, Đảng phải giúp đỡ cho cán bộ tự học tập. Đảng đã giúp, cán bộ phải chịu khó học. Đồng chí ta nhiều người kinh nghiệm thực hành khá, nhưng về vǎn hoá thì i tờ. Những đồng chí trí thức đọc nhiều nhưng không có kinh nghiệm công tác, chưa quen nền nếp làm việc của Đảng.

Vậy phải nâng cao lý luận cho cán bộ cũ và dạy cho cán bộ trí thức làm công tác quần chúng.

b) Lối làm việc trong Đảng hiện nay mắc hai khuyết điểm:

– Cán bộ cũ làm việc theo lối thủ công nghiệp.

– Cán bộ mới làm việc theo lối khoa học nhưng lại quá trớn, không hợp với hoàn cảnh kháng chiến.

Phải sửa chữa lối làm việc cho hợp lý, vừa với điều kiện của ta, đừng phạm vào hình thức, máy móc.

c) Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến.

Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước. Đồng chí ta nhiều người đã làm được nhưng vẫn còn những người hủ hoá. Đảng có trách nhiệm gột rửa cho các đồng chí đó.

Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã. Đồng chí ta phải học lấy bốn đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính.

Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên.

d) Đồng chí ta, tuy có khi khác nhau về chủng tộc hay khác nhau về nguồn gốc giai cấp, nhưng là những người cùng chủ nghĩa, cùng mục đích, cùng sống, cùng chết, chung sướng, chung khổ, cho nên phải thật thà đoàn kết. Muốn đi tới mục đích, không phải chỉ tổ chức là đủ, phải chân thành trong tư tưởng nữa.

Ta có hai cách để thực hiện thống nhất tư tưởng, đoàn kết nội bộ là: Phê bình và tự phê bình.

Từ trên xuống dưới, ai nấy đều phải dùng nó để càng ngày càng đoàn kết, tiến bộ.

đ) Giữ kỷ luật.

Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người. Đó là nhờ có kỷ luật. Kỷ luật của ta là kỷ luật sắt, nghĩa là nghiêm túc và tự giác. Các đồng chí chúng ta cần phải ra sức giữ gìn kỷ luật sắt của Đảng.

*

*      *

Ta họp trong lúc phong trào cách mạng thế giới đương tiến triển rất mau, nhất là cuộc thắng lợi của nhân dân và Đảng Trung Quốc.

Về thành tích thì Đảng ta là Đảng đầu tiên ở Đông – Nam á giành được chính quyền. Nói như thế không phải để tự cao, tự đại, mà để cố gắng làm tròn trách nhiệm.

Thế giới ngót 2.000 triệu người, số đảng viên cộng sản có trên 20 triệu, đổ đồng cứ 100 người dân là có một người cộng sản. ở Đông Dương, theo số liệu hiện nay, cứ 112 người dân là có một người cộng sản. Đó là một điều đáng mừng. Nếu ai cũng làm được đầy đủ nhiệm vụ thì kháng chiến nhất định chóng thắng lợi, kiến quốc nhất định chóng thành công.

Đảng Cộng sản Đông Dương muôn nǎm!

Cách mạng thế giới thành công muôn nǎm!

Nói ngày 18-1-1949.

Sách Hồ Chí Minh Vì độc lập tự do,
vì chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1976, tr.86-87.
cpv.org.vn

—————————-

(30) Hội nghị cán bộ trung ương Đảng lần thứ sáu : Được tiến hành từ ngày 14 đến ngày 18-1-1949. Dự Hội nghị có đại biểu cán bộ toàn quốc và cán bộ cao cấp của Đảng trong các ngành. Hội nghị đã nghe và thảo luận báo cáo của đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng và các báo cáo về quân sự, chính quyền, mặt trận, công tác Đảng. Hội nghị cũng nêu phương hướng và một số công việc cụ thể để chuẩn bị cho Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II sẽ họp vào đầu nǎm 1951.

Nhận định tổng quát về cuộc kháng chiến của nhân dân ta, Hội nghị chỉ rõ: “Ta càng đánh càng mạnh”, “Pháp càng đánh càng suy nhược”. So sánh lực lượng giữa ta và địch đã thay đổi có lợi cho ta. Nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta là phải “nỗ lực chuẩn bị, sẵn sàng đón lấy dịp tốt, tuyệt đối không được bỏ lỡ cơ hội chiến lược”. Hội nghị khẳng định: “Bất kể Mỹ dùng cách can thiệp gì, chúng ta cũng không sợ… Mỹ cũng sẽ phải chia cái thất bại đau đớn nhục nhã với thực dân Pháp ở Việt Nam”.

Hội nghị chủ trương “động viên mọi lực lượng tinh thần và vật chất của toàn dân vào công cuộc kháng chiến kiến quốc với khẩu hiệu: “Tất cả để đánh thắng”.”

Về nhiệm vụ quân sự, Hội nghị quyết định: “Đánh mạnh hơn nữa vào hậu phương địch, đánh vào các vị trí chiến lược, cắt các đường giao thông quan trọng”. “Trung tâm công tác lúc này là tiếp tục xây dựng bộ đội chủ lực”, phát triển và củng cố dân quân du kích.

Về công tác kinh tế, tài chính, cần phải phát triển bộ phận kinh tế Nhà nước, nhất là công nghiệp quốc phòng, đẩy mạnh sản xuất tự cấp, tự túc trong toàn quốc và từng địa phương, xây dựng hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, tiếp tục thi hành triệt để giảm tô, chuẩn bị cải cách ruộng đất.

Về công tác xây dựng Đảng, phải đặc biệt chú trọng việc đào tạo cán bộ, nâng cao trình độ chính trị và lý luận cho cán bộ, đảng viên, củng cố chi bộ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tới thǎm và nói chuyện tại buổi bế mạc của Hội nghị. Tr.556.

Thư gửi chiến sĩ du kích Hồng Sinh (xã Ngũ Lão, huyện Hoà An) (1-1949)

(Nhờ UBKCHC Cao Bằng chuyển)

Tôi được báo cáo rằng: Hồng Sinh một mình đã diệt được 16 tên giặc.

Đó là một thành tích vẻ vang cho toàn thể dân quân du kích Cao Bằng.

Tôi rất vui lòng khen ngợi Hồng Sinh, và khuyên Hồng Sinh cố gắng thêm, diệt cho được hai lần 16 tên giặc, để lập công trong cuộc Thi đua ái quốc nǎm nay.

Đồng thời tôi mong nam nữ du kích Cao Bằng đều cố gắng thi đua, theo cho kịp Hồng Sinh, diệt cho nhiều giặc, cướp cho nhiều súng. Như vậy, thì tỉnh ta sẽ quét sạch lũ giặc, và kháng chiến sẽ mau thắng lợi, thống nhất và độc lập sẽ mau thành công.

Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH

Viết tháng 1-1949.
Tài liệu lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.
Sách Hồ Chí Minh Toàn tập, Xuất bản lần thứ nhất, Nxb.
Sự thật, Hà Nội, 1985, t.5, tr.187.
cpv.org.vn

Những kỷ niệm về Bác Hồ của một cựu giảng viên đại học

Nhà giáo Lê Văn Đàm sinh năm 1926 tại Trung Lễ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Cụ đã có 47 năm đứng trên bục giảng từ bậc tiểu học đến đại học, có hơn 20 năm giảng dạy tại Khoa Tâm lí – Giáo dục Trường Đại học Sư phạm Vinh và 10 năm là chuyên gia giáo dục ở Châu Phi. Là nhà giáo mẫu mực, cụ đã đào tạo hàng nghìn học trò thuộc nhiều thế hệ. Năm 2009, cụ được tỉnh Hà Tĩnh tôn vinh “Nhà giáo lão thành có nhiều cống hiến”.

Gần 90 tuổi đời và có nửa thế kỷ đứng trên bục giảng, nhà giáo Lê Văn Đàm, nguyên giảng viên Trường Đại học Sư phạm Vinh vẫn nhớ như in những kỷ niệm xúc động về Bác Hồ kính yêu.

Lần đầu gặp Bác Hồ

Nhà giáo Lê Văn Đàm sinh năm 1926 tại Trung Lễ, một làng quê nổi tiếng về truyền thống văn hóa của huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

Lúc nhỏ, tuy nhà nghèo nhưng Lê Văn Đàm đã quyết noi theo truyền thống gia đình họ tộc, quyết tâm học hành và luôn luôn đứng đầu lớp. Năm 1944, vừa mới bước vào tuổi 18, Lê Văn Đàm đã vinh dự đứng vào hàng ngũ những người làm giáo dục với chức trách là một giáo viên tiểu học.

Sau thời gian học tập ở Trung Quốc 3 năm (1953-1956), Lê Văn Đàm về nước, được bổ nhiệm chức vụ Hiệu trưởng Trường cấp II Trần Phú (Đức Thọ, Hà Tĩnh). Mùa hè năm đó, Lê Văn Đàm được triệu tập tham gia lớp chỉnh huấn dành cho các cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên cốt cán toàn miền Bắc tại Hà Nội. Lần này, Lê Văn Đàm vinh dự được gặp Bác Hồ.

Cụ Đàm kể: “Lúc ấy lớp chỉnh huấn tập trung ở hội trường Trường Chu Văn An vào ban đêm, dù có điện nhưng không được sáng như bây giờ. Bất ngờ cả hội trường ồ lên khi được tin Bác Hồ đến thăm. Tình hình đấu tranh tư tưởng đang căng thẳng, nên được Bác Hồ đến thăm làm mọi người rất phấn khởi. Bác mặc bộ quần áo kaki trắng giản dị, người hơi gầy với chòm râu thưa. Sau khi ổn định tình hình, Bác nhìn quanh hội trường rồi hỏi: “Cán bộ nữ trong lớp chỉnh huấn của chúng ta được mấy “vắt”?

Cả hội trường hết sức bất ngờ vì cách dùng từ dí dỏm của Bác, và nhất là người cán bộ phụ trách chưa nắm được cụ thể có bao nhiêu nữ cán bộ giáo viên có mặt. Thực ra vào giai đoạn này giáo viên nữ, nhất là cán bộ quản lý rất ít. Một cán bộ đáp: “Thưa Bác, nữ được khoảng chục “vắt” ạ!”. Bác nói: “Sao ít thế?”, rồi Người nói về vai trò của phụ nữ, nhắc nhở các cán bộ quản lý giáo dục cần tuyển thêm nhiều giáo viên nữ.

Sau đó, Bác hỏi thăm về mức lương, thu nhập của đội ngũ nhà giáo. Nghe cán bộ báo cáo, Người trầm ngâm một lúc rồi nói: “Việc giáo dục hết sức quan trọng, nhà giáo có vai trò đặc biệt đối với sự nghiệp giáo dục, nhưng mức sống của đa số giáo viên còn thấp. Chính phủ phải có chính sách từng bước nâng cao đời sống cho đội ngũ giáo viên”.

nha giao14052010Nhà giáo Lê Văn Đàm nay nghỉ hưu tại Hà Tĩnh.

Thực hiện lời dạy của Bác, ngành giáo dục sau đó đã có những chính sách để thu hút các nữ sinh vào trường sư phạm. Các nhà trường sư phạm cấp học bổng cho sinh viên, tuy không dư dật song cũng đủ ăn tiêu, không phải dựa vào chu cấp của gia đình. Các sinh viên sau khi tốt nghiệp các trường sư phạm đều được phân công công tác tùy theo nhu cầu giáo dục của từng địa phương.

Lần đầu được gặp Bác, nhà giáo Lê Văn Đàm nhớ mãi phong thái giản dị, gần gũi, hài hước, sự quan tâm sâu sắc của Người đối với các nữ nhà giáo và đời sống giáo viên. Những lời dạy của Người sau đó đã được Chính phủ và ngành giáo dục áp dụng trong thực tiễn.

“Giáo cụ trực quan” là gì?

Nhà giáo Lê Văn Đàm còn có may mắn được gặp Bác Hồ lần nữa. Năm 1959, Bác Hồ đến thăm Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Lúc này nhà giáo Lê Văn Đàm đang học Khoa Tâm lí – Giáo dục. Vì Bác có nhã ý thăm lớp cán bộ quản lý được cử đi học, nên Lê Văn Đàm có cơ duyên gặp Người lần nữa.

“Lúc đó, mấy anh em chúng tôi đang lúi húi làm việc thì thấy có tiếng người xôn xao, cửa mở và đã thấy Bác Hồ đến ngay trước mặt. Đúng là như trong giấc mơ. Bác bắt tay từng người rồi hỏi: “Các chú đang làm gì thế?”. Nhà giáo Lê Văn Đàm thưa: “Thưa Bác, chúng cháu đang làm giáo cụ trực quan ạ”. Người hỏi lại: “Thế “giáo cụ trực quan” là gì? Nhà giáo Lê Văn Đàm đáp: “Thưa Bác, “giáo cụ trực quan” là đồ dùng dạy học ạ”. Bác hỏi: “Thế tại sao không nói “đồ dùng dạy học” mà lại nói “giáo cụ trực quan”?. Mọi người im lặng, lúng túng, Bác nói: “Chúng ta giáo dục cho con em nên chú ý việc dùng chữ. Những chữ đã có trong tiếng ta thì cần không vay mượn, cho học sinh dễ hiểu, dễ nhớ. Hiện nay đang có bệnh sính dùng chữ, cần phải sửa từ những cán bộ giáo dục để làm gương cho học sinh và đồng bào”.

Trong trái tim nhà giáo lão thành, những kỷ niệm về Bác Hồ kính yêu vẫn vô cùng sâu đậm.

Hơn 50 năm đã trôi qua, nhưng những lời dạy của Bác từ cuộc gặp gỡ đó mãi in sâu trong tâm trí nhà giáo Lê Văn Đàm và trở thành kim chỉ nam trong cuộc đời làm giáo dục của cụ.

Cụ Đàm tâm sự: “Thực ra lúc đó chúng ta dịch giáo trình từ Trung Quốc, Liên Xô nên có vay mượn thuật ngữ. Mặt khác, không ít cán bộ vẫn mắc “bệnh sính chữ”. Lời dạy của Bác không chỉ nói về việc dùng chữ, mà chính là vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong ngôn ngữ, và các nhà giáo phải làm gương cho xã hội”.

Sau này, trong những năm đi làm chuyên gia giáo dục quốc tế ở châu Phi (cụ Lê Văn Đàm từng làm chuyên gia giáo dục ở Ghi-nê và Ăng-gô-la hàng chục năm), cụ Đàm luôn tìm cách để giới thiệu với bạn bè quốc tế về lịch sử, văn hóa Việt Nam.

Dù xa cách ngàn trùng, đất nước và Bác Hồ vẫn rất gần

Từ năm 1965 – 1969, nhà giáo Lê Văn Đàm được Chính phủ cử đi làm chuyên gia giáo dục tại Ghi-nê. Trước khi lên đường, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tổ chức buổi gặp mặt thân mật và dặn dò nhà giáo Đàm. Thủ tướng nhấn mạnh nhiệm vụ giúp bạn phát triển giáo dục cũng quan trọng không kém việc đánh giặc bảo vệ Tổ quốc (lúc này chiến sự đang rất căng thẳng), đồng thời nhắc mỗi người cần giữ gìn tư cách, tác phong của người Việt Nam khi ở nước bạn.

Khí hậu châu Phi khắc nghiệt, cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn, nhưng với những người đã quen gian khổ như cụ Lê Văn Đàm thì không phải là vấn đề đáng ngại. Chỉ có nỗi nhớ Tổ quốc, nhớ Bác Hồ là luôn canh cánh bên lòng. Lúc đầu, các nhà giáo xa xứ nghe tình hình Việt Nam qua bản tin quốc tế tiếng Pháp của các nước, sau một thời gian mới bắt được sóng của Đài tiếng nói Việt Nam.

Dù bận đến mấy, việc nghe đài Việt Nam luôn được ưu tiên hàng đầu. Những tin tức chiến thắng dồn dập làm cho các nhà giáo phấn khởi vô cùng. Vì các sinh viên Ghi-nê rất muốn nghe về thời sự Việt Nam, nên nhà trường đã tổ chức mời nhà giáo (họ gọi là giáo sư – Professeur) Lê Văn Đàm diễn thuyết trước sinh viên toàn trường về thời sự đánh giặc Mỹ của Việt Nam. Chương trình chỉ có ba tiếng từ 8 giờ đến 11 giờ), nhưng đến 11 giờ, sinh viên yêu cầu nói thêm, chưa ăn cơm cũng được. Thế là giáo sư Lê Văn Đàm phải nói thêm 2 tiếng nữa mới nghỉ. Cả trường lặng phắc lắng nghe, cả ông bảo vệ trường cũng say sưa nghe giáo sư Đàm diễn thuyết. Sau này vì các sinh viên muốn tìm hiểu thêm, nhà giáo Lê Văn Đàm liên hệ với Đại sứ quán Việt Nam để mượn các bộ phim về chiếu cho sinh viên xem. Làn sóng hâm mộ Việt Nam dâng cao, đến mức đại diện ngoại giao Mỹ tại Ghi-nê phản đối, cho rằng nhà trường “thiên vị” Việt Nam. Nhưng nhà trường nói vì sinh viên yêu thích nên họ không “bắt lí” được.

Sau 5 năm công tác, Lê Văn Đàm về Hà Nội vào đúng ngày 2/9/1969, được người nhà báo tin Bác ốm rất nặng. Sáng ngày 3 tháng 9, Lê Văn Đàm và người dân cả nước đau đớn khi được tin Bác Hồ đã từ trần. Lê Văn Đàm vội đến Quảng trường Ba Đình để xem tình hình nhưng không vào được, chen chúc trong cả biển người chan hòa nước mắt giữa trời mưa tầm tã. Lê Văn Đàm đã ở lại Hà Nội tham dự lễ tang Bác, 12 ngày sau mới về gặp gia đình ở Hà Tĩnh.

Bài và ảnh: Quang Đại – Văn Dũng/Theo dantri.com.vn
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn

Thư gửi các cán bộ dân quân trường Lê Bình khoá 2 (1-1949)

Các chú đã nghiên cứu gì?

– Nghiên cứu cách đánh giặc.

Muốn đánh thắng giặc, phải dựa vào ai?

– Trước nhất và mọi việc phải dựa vào nhân dân.

Vậy mỗi cán bộ và mọi chiến sĩ dân quân du kích phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu.

Hai là phải tổ chức chặt chẽ, tập luyện hẳn hoi, chuẩn bị chu đáo. Hễ có giặc là đánh. Đánh khéo, đánh gan, đánh mạnh, đánh dai, đánh cho tan giặc.

Trước khi rời trường học, các chú nên thách nhau thi đua. Và khi về, thi đua với cán bộ các địa phương xung quanh. Lời thách thi đua phải thiết thực, chớ bông lông. Đã thách thì phải làm cho kỳ được, hoặc vượt qua mức thách, càng tốt.

Chú nào lập công to nhất trong 6 tháng đầu nǎm 1949, tôi sẽ cho 1 giải thưởng đặc biệt trong những giải thưởng Thi đua ái quốc.

Các chú cố gắng lên!

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 1 nǎm 1949
HỒ CHÍ MINH

Báo Quân du kích, số 12-13,
Tết Kỷ Sửu, 1949.
cpv.org.vn

Thư gửi các điền chủ huyện Yên Dũng, Bắc Giang (1-1949)

Gửi toàn thể đồng bào huyện Yên Dũng, Bắc Giang(1)

Tôi đã nhận được bản nghị quyết của cuộc Hội nghị ngày 8-12-1948.

Tôi rất vui lòng biết rằng đồng bào điền chủ chẳng những sẵn sàng giảm địa tô 25 phần trǎm, mà còn hết sức giúp tá điền cơm ǎn, việc làm.

Đó là một cử chỉ tốt đẹp. Nó tỏ rằng đồng bào chủ điền đang thực hiện cái:

Tinh thần toàn dân đoàn kết,

Tinh thần nhường cơm sẻ áo,

Tinh thần công bằng “kẻ có công đồng người có của”.

Tôi mong rằng điền chủ sẽ hǎng hái xung phong Thi đua ái quốc, lãnh đạo sự cải tạo nghề nông, để tǎng gia sản xuất cho nhiều. Như thế thì đã ích quốc, lại lợi dân. Như thế là chủ điền giúp cho kháng chiến mau thắng lợi, kiến quốc mau thành công.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 1 nǎm 1949
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1211,
ngày 7-4-1949.
cpv.org.vn

——————————-

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.