Tag Archive | Hồ Chí Minh

Thư gửi báo Bạn chiến đấu (10-2-1948) (1)

Các bạn thân mến,

Rất cảm ơn các bạn về những số báo của Bạn chiến đấu. Đây là một vài ý kiến nhỏ đề nghị với các bạn: tờ báo này dành cho những người lính lê dương, những chàng trai vui tính, dễ cáu kỉnh, dễ cảm xúc chứ không phải là những người làm chính trị sâu sắc.

Bởi vậy, cần có những bức tranh, những bức vẽ khôi hài, những gì làm cho họ vui cười, những tin tức ngắn về nước Đức và nước Pháp – đặc biệt là những tin tức có liên quan đến đời sống của nhân dân (như không đủ lương thực tiếp tế, đình công, sự phiền nhiễu của các cơ quan cai trị…).

Nói tóm lại, cần làm cho họ cảm động, thoải mái, làm cho họ cười và khóc để lôi cuốn họ về phía chúng ta.

Không nên viết những bài dài.

Không nên viết những vấn đề chính trị lớn đương thời.

Các bạn nghĩ thế nào?

Chúc mừng nǎm mới
Ngày 10 tháng 2 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Báo Quân đội nhân dân,
số 5769, ngày 19-5-1977.
cpv.org.vn

—————————

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Nguyên tiêu – Rằm tháng Giêng (2-1948)

Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên,
Xuân giang, xuân thuỷ tiếp xuân thiên.
Yên ba thâm xứ đàm quân sự,
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.

RẰM THÁNG GIÊNG

Đêm nay, rằm tháng giêng, trǎng vừa tròn,
Nước sông xuân tiếp liền với màu trời xuân.
Giữa nơi khói sóng thǎm thẳm, bàn bạc việc quân,
Nửa đêm trở về, thuyền chở đầy ánh trǎng.

RẰM THÁNG GIÊNG

Rằm xuân lồng lộng trǎng soi,
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân.
Giữa dòng bàn bạc việc quân,
Khuya về bát ngát trǎng ngân đầy thuyền .

Tháng 2 nǎm 1948

Viết bằng chữ Hán.
Dịch và in trong sách Hồ Chí Minh,
Thơ, Nxb Vǎn học, Hà Nội, 1975, tr. 103 – 104.
cpv.org.vn

Thư gửi toàn thể bộ đội khu II và khu III (24-2-1948)

Tôi rất vui lòng được Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng chỉ huy báo cáo rằng: tất cả binh sĩ trong các bộ đội ở khu III và khu II nay đều biết đọc và biết chữ quốc ngữ.

Thế là tốt lắm. Đó là một thắng lợi to cho quân đội ta, cho Chính phủ ta và cho dân tộc ta.

Dốt nát cũng là kẻ địch. Địch dốt nát giúp cho địch ngoại xâm.

Địch dốt nát tấn công ta về tinh thần, cũng như địch thực dân tấn công ta bằng vũ lực. Địch thực dân dựa vào địch dốt nát để thi hành chiến lược ngu dân. Địch dốt nát dựa vào địch thực dân để đưa dân ta vào nơi mù quáng.

Bộ đội ta tiêu diệt được giặc dốt, tức là tiêu diệt được một lực lượng hậu thuẫn của thực dân.

Có sự thắng lợi đó, là do các cấp trên khéo cổ động, các chính trị viên khéo tổ chức, các binh sĩ đều hǎng hái học hành.

Tôi thay mặt Chính phủ gửi lời khen ngợi toàn thể bộ đội khu II và III, đã tranh được kết quả vẻ vang ấy. Nhưng bộ đội ta chớ vì thế mà tự kiêu, tự mãn. Sự học hỏi là vô cùng. Nay đã biết đọc biết viết, anh em phải gắng sức học thêm. Học làm tính, học chính trị, học lịch sử, học khoa học thường thức. Rồi gắng học cao hơn nữa.

Đồng thời, anh em phải nhớ rằng: mỗi người trong bộ đội phải là một người tuyên truyền. Vì vậy, bộ đội cần phải ra sức giúp đồng bào trong công việc bình dân học vụ, cũng như trong những công việc khác. Cố nhiên, bộ đội không được vì những công việc đó mà xao nhãng việc học tập quân sự.

Một quân đội vǎn hay võ giỏi, là một quân đội vô địch. Vì vậy, trong lúc tôi khen bộ đội khu II và khu III, tôi mong bộ đội các khu khác cũng sẽ ra sức tiêu diệt cho hết giặc dốt.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 24 tháng 2 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Bản đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư gửi Hội nghị tư pháp toàn quốc (2-1948)

Thưa các vị đại biểu,

Nhân dịp này tôi gửi lời thân ái chúc các bạn mạnh khoẻ, và tỏ cùng các bạn vài ý kiến như sau:

Trong cuộc kháng chiến này, các bạn đã góp một phần lực lượng lớn. Từ Bộ trưởng, Thứ trưởng đến toàn thể nhân viên, ai cũng chịu khổ chịu khó tận tuỵ hy sinh, để làm tròn nhiệm vụ. Đó là một sự vẻ vang cho giới tư pháp ta.

Công việc tư pháp cũng như mọi công việc khác càng làm ta càng tiến bộ, nhưng càng tiến bộ ta càng thấy rõ những sự trở ngại và những cố gắng để giải quyết hoặc khắc phục những trở ngại và những khuyết điểm nó còn sót lại. Và ta phải càng cố gắng để giải quyết hoặc khắc phục những trở ngại và khuyết điểm ấy.

Các bạn là bậc trí thức. Các bạn có cái trách nhiệm nặng nề và vẻ vang là làm gương cho dân trong mọi việc. Dân ta đã đấu tranh một cách rất dũng cảm. Lẽ tất nhiên giới trí thức phải hy sinh đấu tranh dũng cảm hơn nữa để làm gương cho nhân dân.

Các bạn là viên chức của Chính phủ Dân chủ Cộng hoà mà các bạn đã giúp xây dựng nên. Chính thể Dân chủ Cộng hoà của ta tuy còn trẻ tuổi, nhưng đã chiến thắng nhiều cuộc thử thách, nó đã chứng tỏ rằng quả thật là đầy tương lai. Do đó, nhiệm vụ các bạn phải tuyệt đối trung thành với chính quyền dân chủ.

Tư pháp là một cơ quan trọng yếu của chính quyền, cho nên càng phải tinh thành đoàn kết, hợp tác chặt chẽ với các cơ quan khác, để tránh những mối xích mích lẫn nhau, nó có thể vì lợi quyền nhỏ và riêng mà hại đến quyền lợi to và chung, cho cả tư pháp và hành chính.

Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật. Lẽ tất nhiên các bạn cần phải nêu cao cái gương “phụng công, thủ pháp 1 , chí công vô tư” cho nhân dân noi theo.

Thưa các bạn, công việc của chúng ta còn nhiều và còn khó nhọc, cuộc kháng chiến còn gay go. Nhưng với chí kiên quyết và lòng dũng cảm của chiến sĩ và đồng bào, với sự tinh thành đoàn kết và sự nhất trí nỗ lực của mọi người và mọi bộ phận trong Chính phủ ta, chúng ta có thể quả quyết rằng:

Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi.

Thống nhất độc lập nhất định thành công.

Dân chủ Cộng hoà nhất định vững chắc.

Với sự lãnh đạo của Bộ trưởng và Thứ trưởng tôi chắc Hội nghị sẽ có kết quả mỹ mãn.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 2 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Sách Những lời kêu gọi của
Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1958, t.1, tr. 234-235.
cpv.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của trí thức trong sự nghiệp cách mạng

anh dep 2Chủ tịch Hồ Chí Minh với trí thức nước nhà

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Hồ Chí Minh viết: “Trí thức là hiểu biết. Trong thế giới chỉ có hai thứ hiểu biết: Một là hiểu biết sự tranh đấu sinh sản – Khoa học tự nhiên do đó mà ra; Hai là hiểu biết tranh đấu dân tộc và tranh đấu xã hội – Khoa học xã hội do đó mà ra”(1).

Trong bài viết “Đảng Lao động Việt Nam với lao động trí óc”, Người xác định trí thức là “những người lao động trí óc”, “là thầy giáo, thầy thuốc, kỹ sư, những nhà khoa học, văn nghệ, những người làm bàn giấy…”(2). Và với Người, trí thức là lực lượng có vị trí, vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp cách mạng, là “vốn liếng quý báu của dân tộc”(3).

Trước 1945, trong hoàn cảnh nước mất nhà tan, trí thức Việt Nam đã đi tiên phong tham gia cách mạng, là lực lượng đi đầu trong việc tiếp thu tư tưởng cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tích cực truyền bá trong quần chúng nhân dân và hăng hái tham gia vào các tổ chức cách mạng – tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nói về lực lượng này, Hồ Chí Minh cho rằng: Trí thức Việt Nam là lực lượng rất nhạy bén với cái mới, với những tư tưởng tiến bộ, “có đầu óc dân tộc và đầu óc cách mạng” (4), “có học thức, dễ có cảm giác chính trị,… dễ tiếp thụ sự giáo dục cách mạng và cùng đi với công nông”(5).

Trí thức Việt Nam có vị trí, vai trò quan trọng trong cách mạng, nên khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, trước yêu cầu phải có một đường lối chính trị rõ ràng, phải phân định rõ chiến tuyến giữa cách mạng và phản cách mạng, Hồ Chí Minh đã xếp trí thức vào hàng ngũ lực lượng cách mạng của dân tộc, là một trong những đồng minh gần gũi của giai cấp công nhân và nông dân. Người chỉ rõ: “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, thanh niên, Tân Việt,… để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp”(6). Việc xác định từ sớm vai trò, vị trí của trí thức trong cách mạng của Hồ Chí Minh đã lôi cuốn tầng lớp trí thức về phía cách mạng từ những ngày đầu tiên, đã tăng cường sức mạnh cho cuộc cách mạng. Đây là vấn đề mang tính chất chiến lược  trong cách mạng.

Cuộc cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta tiến hành là một cuộc cách mạng vô cùng khó khăn, gian khổ với những nhiệm vụ rất lớn lao. Đó là đánh đuổi đế quốc thực dân, phong kiến, đòi lại tự do, độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày… Hồ Chí Minh xác định: “Lao động trí óc có nhiệm vụ rất quan trọng trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, trong công cuộc hoàn thành dân chủ mới để tiến lên chủ nghĩa xã hội”(7). Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, trí thức phải tuyên truyền, giáo dục quần chúng những tư tưởng cách mạng, là ngòi nổ cho các phong trào cách mạng, đấu tranh chống lại những luận điệu phản động, mị dân của kẻ thù.

Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, trí thức phải đi đầu trong việc nâng cao dân trí, xây dựng và kiến thiết nước nhà. Người khẳng định: “Trí thức phục vụ nhân dân bây giờ cũng cần, kháng chiến kiến quốc cũng cần, tiến lên xã hội chủ nghĩa càng cần, tiến lên cộng sản chủ nghĩa lại càng cần”(8). Theo Người: “muốn phát triển văn hoá thì phải cần thầy giáo, muốn phát triển sức khoẻ của nhân dân thì phải cần thầy thuốc, muốn phát triển kỹ nghệ thì phải cần các kỹ sư”(9). Thực tiễn đã chứng minh, trong mọi lĩnh vực, mọi thời kỳ cách mạng đều rất cần đến học vấn, tài năng và tâm huyết, sức lực của giới trí thức; đội ngũ trí thức đồng hành cùng dân tộc tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa; và trong suốt quá trình cách mạng “Trí thức không có bao giờ thừa, chỉ có thiếu trí thức thôi”(10).

Nhận thức được vị trí, vai trò quan trọng của trí thức trong sự phát triển của xã hội, hiểu rõ sức mạnh vô tận của trí tuệ con người và sức mạnh lớn lao của một dân tộc giàu tri thức, Hồ Chí Minh khẳng định: trí thức là lực lượng luôn đi đầu, là ngòi nổ trong phong trào đấu tranh đòi độc lập, đòi quyền dân tộc, dân chủ; là lớp “tiên tri, tiên giác”(11) (hiểu biết trước, giác ngộ trước); là “Một phần tương lai của dân tộc”(12). Chính vì vậy, năm 1946, khi trả lời câu hỏi của một nhà báo nước ngoài về vấn đề trí thức, Người nhấn mạnh: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc. Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế”(13). Trên thực tế, trong suốt mấy chục năm trên cương vị Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh đã có thái độ, cách cư xử, chính sách hết sức trân trọng và đề cao trí thức. Câu trả lời trên chính là sự phản ánh cô đọng suy nghĩ của Người, thể hiện sự trân trọng của Người đối với đội ngũ trí thức của dân tộc.

Với những quan điểm đúng đắn của Hồ Chí Minh và những chính sách sát thực của Đảng đối với trí thức mà trong các giai đoạn lịch sử, chúng ta đã đoàn kết được trí thức và xây dựng được đội ngũ trí thức mới xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, làm sao để phát huy và sử dụng vốn liếng quý báu này của đất nước có hiệu quả vẫn đang là vấn đề lớn đặt ra. Đảng và Nhà nước phải có sự phối hợp chặt chẽ trong việc giải quyết vấn đề trí thức. Những quan điểm chủ trương của Đảng phải được Nhà nước thể chế hóa kịp thời. Việc quy hoạch, đào tạo đội ngũ trí thức phải gắn liền với nhu cầu thực tiễn, trên cơ sở đó bố trí đúng người, đúng việc để phát huy tốt năng lực của lực lượng này. Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng phải gắn liền với việc đổi mới quản lý của Nhà nước đối với công tác trí thức, phát huy dân chủ, lắng nghe ý kiến của tầng lớp trí thức, tin dùng họ trong công việc, tạo các điều kiện để họ tham gia hoạt động sáng tạo, đóng góp thật nhiều cho đất nước.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức vào việc xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam có phẩm chất chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, giỏi về chuyên môn, giàu về năng lực, hiểu biết sâu sắc trên từng lĩnh vực, có bản lĩnh và sẵn sàng thích ứng với mọi biến động trong nước và thế giới, nối tiếp truyền thống hào hùng của trí thức Việt Nam, đóng góp tài năng và sức lực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đổi mới đất nước, xây dựng xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

————

(1), (3), (11), (13) HCM Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002, tr.235, 156, 131, 156. (2), (7) Sách đã dẫn (Sđd), tập 6, tr.202, 203. (4), (5), (8), (9), (10) Sđd, tập 7, tr.34, 214, 39, 32-33, 36. (6) Sđd, tập3, tr.3. (12) Sđd, tập 4, tr.220.

Lê Văn Điện /Trường Chính trị thành phố Cần Thơ
Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Tâm Trang (st)

Thư gửi ông Nguyễn Vǎn Luân, Trưởng khu bình dân học vụ khu III (2-1948)

Cảm ơn ông đã gửi tặng tôi 3 thứ sách. Cảm ơn chị em giảng viên Quỳnh Côi đã gửi biếu chiếc khǎn tay lụa thêu, và cảm ơn tất cả anh em bình dân học vụ đã chúc tôi nǎm mới. Nhờ ngài chuyển lời thân ái hỏi thǎm các nam nữ kiểm soát viên và giảng viên.

Thấy trong nội san Diệt dốt nói khu III đã có kế hoạch quyết diệt hết nạn mù chữ trong nǎm nay. Thế là tốt lắm. Bình dân học vụ và tất cả các cơ quan đoàn thể và đồng bào khu III phải cố gắng làm cho đúng kế hoạch.

Tôi sẽ có hai phần thưởng:

Một cho huyện nào đa số xã đã diệt xong nạn mù chữ trước mọi huyện khác,

Một cho huyện nào toàn huyện diệt xong nạn mù chữ trước mọi huyện khác.

Hai là các nam nữ giáo viên cũng phải cố gắng học thêm. Khi dạy xong chữ quốc ngữ rồi thì dạy làm tính, dạy lịch sử, địa dư, đạo đức công dân, v.v.. Như thế thì người dạy và người học đều tiến bộ mà khu III sẽ là một khu kiểu mẫu cho vǎn hoá bình dân.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 2 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, chi nhánh số 6,
số 928, ngày 14-5-1948.
cpv.org.vn

Gửi các đồng chí lên đường (2-1948) (1)

Một, chúc các đồng chí đi đường, chân cứng, đá mềm, thuận buồm xuôi gió.

Hai, các đồng chí đi đường sẽ cực khổ, công tác sẽ khó khǎn.

Các đồng chí phải đem toàn tinh thần và nghị lực của thanh niên yêu nước mà chịu đựng, phấn đấu, khắc phục mọi sự gian nan, để tranh lấy thắng lợi.

Ba, từ lời nói đến việc làm, bất kỳ to nhỏ, các đồng chí phải luôn luôn nhớ rằng: Mình là đại biểu cho thanh niên yêu nước, ra ngoài để giúp anh em công tác, để đem tình thân ái của Tổ quốc cho kiều bào và để giúp đỡ họ, để tuyên truyền cho thanh niên và cho cả dân tộc Việt Nam.

Bốn, các đồng chí phải: ở trong nội bộ thì thương yêu giúp đỡ nhau, phê bình và học tập nhau. Trong công tác thì cố gắng làm cho đầy đủ nhiệm vụ, làm cho xứng đáng lòng tin cậy của anh em thanh niên, của đoàn thể và của đồng bào.

Mong rằng các đồng chí sẽ nhớ những lời thành thật đó, và sẽ làm tròn sứ mệnh vẻ vang đó.

Chúc các đồng chí mạnh khoẻ.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 2 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Bản đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
lưu tại Tổng liên đoàn lao động Việt Nam,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

cpv.org.vn

————————————-

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Thư nói về công tác Trần Quốc Toản (2-1948)

Gửi các cháu nhi đồng trai và gái,

Bác gửi lời thân ái chúc các cháu nǎm mới.

Nǎm ngoái, các cháu gửi thư cho Bác rất nhiều. Tiếc vì bận việc quá Bác không thể trả lời hết được khắp. Nhưng Bác nhớ các cháu luôn luôn, và biết rằng các cháu đều yêu nước, siêng học, siêng làm, giữ kỷ luật, thì Bác rất vui lòng.

Qua nǎm mới, Bác đề nghị các cháu làm một việc là: các cháu tổ chức những đội Trần Quốc Toản.

Trần Quốc Toản là ai ? Tổ chức thế nào, và để làm gì ?

1- Cách đây chừng 700 nǎm, quân Mông Cổ đánh chiếm gần nửa châu Âu, chiếm gần hết châu á, và lấy cả nước Trung Hoa. Lúc đó quân Mông Cổ đem 30 vạn lính đến đánh nước ta.

Do ông Trần Hưng Đạo cầm đầu, tổ tiên ta trường kỳ kháng chiến trải qua 4, 5 nǎm đánh tan quân Mông Cổ, nước ta lại được độc lập (22)

Trần Quốc Toản là cháu ông Trần Hưng Đạo, lúc đó mới 15, 16 tuổi, cũng đi đánh giặc và lập được nhiều chiến công.

2- Bác không phải mong các cháu tổ chức những đội Trần Quốc Toản để đi đánh giặc và lập được nhiều chiến công, nhưng mà cốt để tham gia kháng chiến bằng cách giúp đỡ đồng bào.

3- Từ 5 đến l0 cháu tổ chức thành một đội, giúp nhau học hành. Khi học rảnh mỗi tuần mấy lần cả đội đem nhau đi giúp đồng bào.

Trước thì giúp các nhà chiến sĩ, nhà thương binh, lần lượt giúp những nhà ít người. Sức các cháu làm được việc gì thì giúp việc ấy. Thí dụ: quét nhà, gánh nước, lấy củi, xay lúa, giữ em, dạy chữ quốc ngữ, v.v..

Đội này thi đua với đội khác. Mỗi tháng một lần, các đội báo cáo cho Bác biết. Đội nào giỏi hơn, Bác sẽ gửi giấy khen. Đó là ý kiến của Bác. Nếu cháu nào có nhiều sáng kiến, tìm ra nhiều cách giúp đỡ càng tốt.

Các cháu nên hiểu rằng: giúp đỡ đồng bào tức là tham gia kháng chiến. Và do đó, các cháu sẽ luyện tập cái tinh thần siêng nǎng và bác ái để sau thành người công dân tốt của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Độc lập, Tự do, Hạnh phúc.

Bác hôn các cháu
Tháng 2 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Sách Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch,
Nxb Sự thật, Hà Nội, 1958, t.1, tr. 237-238.

cpv.org.vn

——————————–

(22) Kháng chiến chống quân Nguyên: Trong vòng 30 nǎm (1258-1288), dân tộc ta đã ba lần kháng chiến chống đế quốc Mông Cổ, đạo quân xâm lược khét tiếng vừa chinh phục nhiều quốc gia châu Âu, châu á.

– Cuộc kháng chiến lần thứ nhất: Nǎm 1257, quân Mông Cổ đánh Nam Tống, sai sứ sang dụ vua Trần đầu hàng. Nhà Trần tống giam sứ giả và chuẩn bị chiến đấu. Ngày 17-1-1258, 3 vạn quân Mông Cổ kéo sang Bình Lệ Nguyên (nay thuộc Vĩnh Phú). Quân ta tạm rút khỏi Thǎng Long và thực hiện “vườn không nhà trống”. Ngày 29-1-1258, quân ta phản công đánh tan quân Mông Cổ.

– Cuộc kháng chiến lần thứ hai: Nǎm 1282, quân Mông Cổ (lúc này đổi niên hiệu là Nguyên, đã xâm lược nhà Tống và toàn bộ Trung Quốc) mượn cớ đánh Champa để xâm lược nước ta. Triều Trần triệu tập Hội nghị Bình Than (gồm các vương hầu quan lại, tướng lĩnh cao cấp) bàn kế hoạch đánh địch. Trần Quốc Tuấn viết Hịch tướng sĩ làm nức lòng quân dân cả nước. Nǎm 1285, được tin quân Nguyên tiến sát biên giới, Vua Trần triệu tập Hội nghị Diên Hồng (gồm các cụ phụ lão) cùng quyết tâm “Sát Thát”. Cuối tháng 1-1285, 50 vạn quân Nguyên chia làm 3 hướng sang xâm lược nước ta. Triều đình lại tạm rút khỏi Thǎng Long và cuối tháng 6-1285, sau gần 2 tháng phản công, với những chiến thắng Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết, Vạn Kiếp lẫy lừng, quét sạch quân Nguyên khỏi bờ cõi.

– Cuộc kháng chiến lần thứ ba: Tháng 12-1287, quân Nguyên lại điều 50 vạn quân theo 3 đường Quảng Tây, Vân Nam và đường biển vào xâm lược nước ta. Quân ta chiến thắng ở Vân Đồn, đánh tan đoàn thuyền vận tải lương thực của địch. Tháng 2-1288, quân Nguyên vượt sông Hồng tấn công thành Thǎng Long. Tháng 3-1288, Thoát Hoan biết nguy cơ bị bao vây như lần trước, đã đốt phá Thǎng Long rồi rút về Vạn Kiếp. Tháng 4-1288, quân ta tiêu diệt toàn bộ đạo quân thuỷ của địch ở sông Bạch Đằng, bắt sống Ô Mã Nhi… tướng giặc là Thoát Hoan vô cùng hoảng sợ phải chui ống đồng chạy về nước theo đường Lạng Sơn.

Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên ở thế kỷ 13 là bản anh hùng ca bất hủ.

Thư gửi Hội nghị thông tin tuyên truyền và báo chí toàn quốc (2-1948)

Các đồng chí,

Tôi gửi lời thân ái chúc các đại biểu mạnh khoẻ và Hội nghị có kết quả tốt. Sau đây là một vài ý kiến tôi đưa ra để giúp vào cuộc thảo luận của Hội nghị.

Theo ý kiến của tôi, thì thông tin, tuyên truyền và báo chí là ba ngành trong một việc, ba ngành đó phải đi sát với nhau. Vì vậy, các ưu điểm và khuyết điểm cũng chia sẻ với nhau. Xét lại, hơn một nǎm kháng chiến, chúng ta thấy trong thông tin, tuyên truyền và báo chí, ưu điểm cũng có và khuyết điểm cũng còn nhiều:

ƯU ĐIỂM

1. Mặc dầu hoàn cảnh khó khǎn, anh em đều cố gắng làm nhiệm vụ.

2. Số báo chí nhiều hơn trước, nhất là bích báo càng phát triển.

Hầu khắp các cơ quan và bộ đội, các đoàn thể đều có bích báo. Các huyện như An Hải có báo Giết giặc, các đội nhi đồng như báo Xung phong của em bé ở Hải Dương, kỹ thuật và nội dung rất khá.

3. Nhiều nơi có sáng kiến dùng những cách thức phổ thông để tuyên truyền, như kịch, vè, ca dao, v.v..

4. Gần đây đã đi đến chỗ thống nhất thông tin tuyên truyền.

KHUYẾT ĐIỂM

a- Nhiều địa phương, anh em thông tin tuyên truyền lầm tưởng mình là công chức, làm việc theo cách bàn giấy mà quên nhiệm vụ của mình là tuyên truyền, cổ động, giải thích và huấn luyện cho nhân dân.

– Các cấp thông tin tuyên truyền thường thi hành chỉ thị cấp trên một cách máy móc, không biết áp dụng theo hoàn cảnh thiết thực trong địa phương mình.

– Tuyên truyền không chủ trương thực tế mà hay nói những lý luận viển vông.

– Chưa có một chương trình, một kế hoạch thiết thực và đầy về công tác cũng như về kiểm tra.

b- Báo chí có những khuyết điểm sau đây:

1. Về kỹ thuật: Có đôi tờ báo, khi thì rộng, khi thì hẹp, chữ in thì luộm thuộm, khó đọc, tên báo thì thường đổi khác (khi in thế này, khi in cách khác), thành thử tờ báo mất cả cái bản sắc của nó. Nhiều khi “tiếp theo trang sau” lộn xộn quá, làm cho người đọc khó tìm.

2. Về tin tức: Tin tức thế giới nhiều hơn tin tức trong nước. Có những tỉnh như Hà Giang, Lào Cai hoặc các tỉnh Trung Bộ hầu như không bao giờ có tin tức gì trên mặt báo. Các báo miền ngược không chú ý dân tộc thiểu số.

– Có khi đǎng tin không xác thực.

– Không biết giữ bí mật. Thí dụ: đǎng cả tên, hoặc số các bộ đội ta. Đǎng rõ địa điểm và kết quả sau một cuộc địch ném bom.

3.Về vǎn chương: Quá dài dòng vǎn tự. Khô khan, kém hoạt bát lanh lợi. Không phổ thông. Hay dùng chữ Tàu mà không đúng nghĩa.

4. Về chính trị: Hay nói chính trị suông mà ít chú ý đến những vấn đề quan trọng khác, như kinh tế, vǎn hoá, xã hội.

– Không nắm được những vấn đề chính để giải thích cho dân. Thí dụ: vấn đề chính phủ bù nhìn, những việc cần thiết trước và sau khi địch tấn công.

Không biết lãnh đạo dư luận, không biết thúc đẩy và nâng cao tinh thần tranh đấu của nhân dân.

– Đôi khi sơ suất, cẩu thả, làm giảm giá trị tờ báo hoặc làm mất lòng người xem. Thí dụ: Tờ báo nọ đǎng bài có đầu không đuôi. Tờ báo kia quên cả lịch sử, trận Đống Đa ngày 5 tháng Giêng âm lịch (23), thì viết là 10 tháng 11. Tờ báo khác đǎng tin vị linh mục X hàng địch, kỳ thực vị ấy là một người tốt.

5. Về phát hành: Chậm chạp và thiếu thốn. Nhiều nơi, hàng tháng không có báo, không có tin tức.

6. Về địch vận: Còn rất kém, đối lính Pháp cũng như đối những người Việt lầm đường theo Pháp.

7. Về kinh nghiệm: Không biết trao đổi cho nhau. Vùng này có nhiều sáng kiến hay, đã lượm được kết quả tốt, mà vùng khác không biết bắt chước (những điều 5, 6, 7 thì báo chí cũng như thông tin tuyên truyền).

Nói tómlại: Nội dung các tờ báo chưa phản ánh được sự sinh hoạt của các tầng lớp dân chúng, chưa thành tờ báo của dân chúng.

Tôi mong rằng, trong cuộc Hội nghị này, các đồng chí sẽ bàn định một chương trình thiết thực và đầy đủ để sửa chữa những khuyết điểm, phát triển những ưu điểm, để làm cho thông tin tuyên truyền và báo chí trở nên rất hoạt động. Mà muốn đạt mục đích đó thì đào tạo cán bộ mới là một vấn đề quan trọng cần phải giải quyết.

Tôi chắc rằng các đồng chí sẽ cố gắng để làm cho thông tin, tuyên truyền và báo chí làm tròn nhiệm vụ tuyên truyền, cổ động, huấn luyện và lãnh đạo nhân dân.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 2 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Tạp chí Kinh nghiệm tuyên truyền,
Sở Thông tin Nam Bộ, số 7, tháng 5-1949.
cpv.org.vn

————————-

(23) Chiến thắng Đống Đa : Cuối nǎm 1788, nhà Thanh cử Tôn Sĩ Nghị tổng chỉ huy 20 vạn quân tiến vào xâm lược nước ta. Nguyễn Huệ – linh hồn của phong trào Tây Sơn – lên ngôi Hoàng đế lấy hiệu là Quang Trung thống lĩnh đại quân và thực hiện cuộc hành quân thần tốc ra Bắc tiến đánh quân xâm lược.

Trưa mồng 5 Tết Nguyên đán Kỷ Dậu (1789), quân ta tiến công đồn Đống Đa, giành thắng lợi lớn ở đây và dũng mãnh tiến vào giải phóng Thǎng Long.

Trong 5 ngày đêm chiến đấu liên tục, cả 5 đạo quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của Quang Trung đã tiêu diệt và quét sạch 20 vạn quân Thanh xâm lược. Đất nước hoàn toàn được giải phóng. Chiến thắng Đống Đa (5-1 Kỷ Dậu) đi vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta như một huyền thoại. Tr.390.

Thư gửi Hội nghị quân y (3-1948)

Nhân dịp này tôi gửi lời chào thân ái hỏi thǎm các đại biểu và nhờ các đại biểu chuyển lời hỏi thǎm tất cả các nhân viên nam nữ trong quân y.

Từ ngày kháng chiến đến nay, quân y phát triển rất khá và các bác sĩ, khán hộ, cứu thương, ai cũng chịu khó, cố gắng. Đó là những điểm rất tốt.

Song, quân y cũng như mọi việc khác, chúng ta đang mới mẻ, chúng ta còn nhiều khuyết điểm. Chúng ta phải cố gắng nữa, để tiến bộ hơn nữa.

Sau đây là những ý kiến của tôi về vấn đề quân y:

1. Người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu.

Vì sự kích thích trong chiến trận, vì sự sinh hoạt khắc khổ trong quân đội, vì sự tu dưỡng chưa đầy đủ, hoặc vì những điều kiện khổ sở, một số anh em quân nhân không được trấn tĩnh, đối với thầy thuốc không được nhã nhặn. Gặp những ca như vậy, chúng ta nên lấy lòng nhân loại và tình thân ái mà cảm động cảm hoá họ. Người ta có câu: “lương y kiêm từ mẫu”, nghĩa là một người thầy thuốc đồng thời phải là một người mẹ hiền. (Cố nhiên, chính trị viên nên phải chú ý những ca như thế, nhưng là một vấn đề khác).

2. Chúng ta vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Vì vậy, nhân tài chuyên môn nhất là nhân tài về môn y tế, chỉ sẽ thiếu chứ chưa có thừa. Vì vậy, các ngành chuyên môn, nhất là ngành thuốc, sẽ được đặc biệt trọng đãi, lẽ tất nhiên ngành thuốc phải cố gắng làm thoả mãn nhu cầu của đồng bào.

3. Bộ đội ta thì nhiều, mà nhân tài quân y ta thì còn thiếu. Vì vậy ta phải có những cơ quan quân y lưu động. Cơ quan ấy thì khó nhọc hơn. Vậy tôi mong rằng Hội nghị sẽ có kế hoạch để lập thành những cơ quan và anh em sẽ xung phong phụ trách những cơ quan đó. Cố nhiên những nhân viên trong cơ quan lưu động phải được đặc biệt sǎn sóc về mọi phương diện.

4. Nhân viên quân y ai cũng cố gắng, nhưng bộ đội vẫn còn ốm nhiều. Một mặt là vì thiếu thuốc. Một mặt khác là vì sự kiểm soát thuốc men chưa được chu đáo.

Vì vậy Hội nghị cần phải chú ý thiết thực về việc đó. Và anh em quân y, từ cấp trên đến cấp dưới, cần phải lấy việc đó làm trách nhiệm danh dự của mình.

5. Ngày nay, từ các Bộ trong Chính phủ cho đến bộ đội và nhân dân, đang mở cuộc vận động thi đua. Quân y cũng nên hǎng hái tham gia cuộc thi đua ấy. Tôi thay mặt Chính phủ mà hứa rằng: người nào hoặc bộ phận nào tìm được, chế tạo được một thứ thuốc mới có hiệu quả hoặc nghĩ ra cách gì mới làm cho việc y tế tiến bộ mau chóng hơn thì sẽ được trọng thưởng.

Tôi mong rằng Hội nghị sẽ định một chương trình thiết thực để sửa chữa những khuyết điểm và phát triển những ưu điểm của quân y, để làm cho quân y ngày càng tiến bộ.

Chúc Hội nghị thành công.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 3 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, chi nhánh
số 6, số 908, ngày 23-4-1948.
cpv.org.vn

Bác Hồ luyện giọng đọc (*)

Ngày 15-11-1968, Bác Hồ tiếp đại biểu cán bộ và công nhân ngành Than.

Trước đó, ngày 4-11, Bác bị ho, bãi nhổ thấy có máu. Các bác sĩ vào khám cho Bác, cho biết: Họng vỡ tia máu, phải bôi thuốc. Từ đó, tiếng nói của Bác yếu hẳn đi.

Vì sức khỏe, Bác không xuống Quảng Ninh trực tiếp gặp gỡ cán bộ và công nhân ngành than được, nên Người đã cử Thủ tướng Phạm Văn Ðồng xuống gặp gỡ và làm việc với anh em công nhân, sau đó mời một đoàn đại biểu của ngành than lên làm việc với Bác.

Bác Hồ không muốn vì tiếng nói của mình yếu có thể gây lo lắng cho cán bộ và đồng bào, nên một mặt Bác dặn phải chuẩn bị máy phóng thanh cho tốt, để dù Bác có nói yếu, mọi người vẫn nghe rõ, mà không biết Bác mệt; hai là Bác tiến hành luyện đọc, sao cho to giọng, tròn tiếng để chuẩn bị gặp gỡ cán bộ ngành than.

Từ ngày 5-11, mỗi buổi sáng sau khi rửa mặt xong, Bác vào phòng làm việc của đồng chí Vũ Kỳ, cầm quyển “Kiều” và tập đọc to thành tiếng.

Bác nói với đồng chí bảo vệ:

– Chú đứng thật xa ra để nghe Bác đọc, xem nghe có rõ không? Nếu nghe không rõ, sẽ xích gần thêm lại, đến lúc thật rõ thì dừng lại để xem khoảng cách là bao nhiêu.

Ðồng chí bảo vệ đi ra. Bác đọc:

Trăm năm trong cõi người ta!
Chữ tài chữ mệnh khéo là yêu nhau!

Sau đó, Bác gọi đồng chí bảo vệ lại, hỏi:

– Bác đọc chú nghe có rõ không?

– Thưa Bác, rõ ạ.

– Chú thử nói lại xem Bác đọc câu gì?

Ðồng chí bảo vệ đọc lại đúng nguyên văn câu Kiều:

“Trăm năm… khéo là ghét nhau!”.

– Ðấy, chú có nghe thấy rõ Bác đọc cái gì đâu?

Và từ đó liên tục Bác luyện đọc vào các buổi sáng.

15 giờ chiều 15-11-1968, Bác tiếp đại biểu ngành than. Khoảng 14 giờ 30 phút, đồng chí Nguyễn Hữu Mai, Bộ trưởng Ðiện và Than vào báo cáo chương trình làm việc với Bác. Người nói với đồng chí Nguyễn Hữu Mai:

– Chú là Bộ trưởng, chỗ đứng của chú không phải là ở bên Bác. Chỗ đứng của chú là ở cuối phòng. Chú nghe  Bác nói, nếu không được rõ chú giơ tay làm hiệu, lúc đó Bác sẽ cố gắng nói to hơn để mọi người đều có thể nghe được rõ hơn.

Sau này, đồng chí Nguyễn Hữu Mai  trầm trồ mãi: Thật là một bài học lớn cho cuộc đời làm Bộ trưởng của tôi! Mình có nghe rõ mới biết quần chúng có nghe được hay không.

May mắn lớn là hôm đó, đồng chí Mai không phải giơ tay làm hiệu lần nào. Ðó là kết quả cố gắng rèn luyện của Bác, và bài học lớn Bác truyền lại cho chúng ta: Nói với quần chúng, không phải chỉ quan tâm đến nội dung, câu chữ, mà còn cả giọng điệu nữa, để xem cuối cùng nó có đến được với quần chúng không.

Tính mục đích, tính thiết thực, tính hiệu quả của nói và viết ở Bác Hồ nhất quán là như vậy.

Trần Hiếu Ðức
(Theo lời kể của đồng chí Vũ Kỳ)

—————————-

(*)  Trích trong cuốn sách Ðiều Bác Hồ yêu nhất và ghét nhất – NXB CAND, tr58-60.

Theo nhandan.com.vn
Huyền Trang (st)

Thư gửi Đoàn 29 (Trung đoàn Thủ đô) (2-1948)

(Trung đoàn Thủ đô)

Bác nhận được thư các chú báo cáo thắng trận ngày 8-1-1948 và các chiến lợi phẩm các chú biếu Bác. Cảm ơn.

Các chú cần phải nghiên cứu những ưu điểm và khuyết điểm trong trận đó và những trận bại hoặc thắng các nơi khác để rút kinh nghiệm, để học tập thêm.

Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, ta cần phải chuẩn bị sẵn sàng, đề phòng cẩn thận. Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, ta phải liên lạc mật thiết với dân, phải làm cho dân mến, dân tin.

Như thế nhất định thắng lợi.

Tôi mong toàn thể tướng sĩ Đoàn 29 cố gắng để giật giải thưởng đầu trong cuộc Luyện quân đội lập chiến công.

Các chú có dám hứa với Già Hồ như thế không? Già Hồ chờ báo cáo thắng trận của các chú, để khen ngợi thêm các chú.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 2 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Bản đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn