Tag Archive | Hồ Chí Minh

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XXIX)

Bản kê tên các nước, các đoàn trưởng và dân số của mỗi nước

Nước

Tên đoàn trưởng

Số dân

Úc Đại Lợi

Elval

6 triệu

Bỉ

Spaak

8 –

Brésil

Fontouras

44 –

Bạch Nga

Kisselev

10 –

Canada

Mackengie King

11 –

Trung Hoa

Vương Thế Kiệt

450 –

Abissinie

Able Wold

12 –

Mỹ

Byrnes

123 –

Pháp

Bidault

40 –

Anh

Bevin

46 –

Grèce

Isaldaris

6 –

Ấn Độ

Lawrence

350 –

Nouvelle Zélande

Mash

1 –

Pologne

Pziroinsky

24 –

Norvège

Lange

3 –

Hà Lan

Van Boezèlver

7 –

Tchècoslovaquie

Mazarich

14 –

Ucraine

Manouilski

39 –

Nga

Molotov

190 –

Nam Phi

Thevon

7 –

Yougoslavie

Kardel

12 –

Trong đại hội dùng 3 thứ tiếng: tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga. Mỗi người nói phải dịch hai lần.

Đoàn đại biểu Nga đông người nhất: 335 người. Đoàn đại biểu Canada ít người nhất: 30 người.

Người ta đoán trước rằng trong cuộc hội nghị này, Nga chắc chắn có 5 nước theo là: nước Bạch Nga, Ucraine, Yougoslavie, Tchècoslovaquie và Ba Lan.

Khối Anh – Mỹ thì có 9 nước theo: Australie, Belgique, Brésil, Canada, Grèce, ấn Độ, Zélande, Hà Lan, Nam Phi.

Pháp thì cô lập, không có vây cánh.

Lễ khai mạc rất giản đơn. Chủ tịch Bidault diễn thuyết. Đại ý nói mong các nước Đồng minh đồng tâm hiệp lực để xây đắp cuộc hoà bình. Ông Byrnes, đại biểu nước Mỹ nói mấy lời cảm ơn. Ông Elval đại biểu úc Đại Lợi đề nghị ba vấn đề:

1) Chương trình làm việc.

2) Cử Chủ tịch đoàn.

3) Cử ban xét quyền hạn các đoàn đại biểu.

Hội nghị giao ba vấn đề đó cho các uỷ ban xét định.

27 nǎm về trước (1919) ở Paris đã có một cuộc Hội nghị Hoà bình. Hồi đó cũng có “Tứ cường” là Mỹ, Anh, Pháp, ý. Thấm thoát chưa được 20 nǎm lại nổi cuộc chiến tranh tàn nhẫn hơn lần trước.

Có ai biết Hội nghị Hoà bình này sẽ giữ hoà bình được mấy nǎm?

Nơi khai hội canh phòng rất nghiêm ngặt. Trong 21 đoàn đại biểu không có một đại biểu hay cố vấn nào là đàn bà. Trái lại, 2 địch quốc thì có đại biểu và cố vấn đàn bà. Nước Roumanie có một đại biểu phụ nữ là bà Floria Boudasar. Bà là một uỷ viên của Hội dân chủ phụ nữ, lại là Chủ tịch Hội phụ nữ chống phát xít. Trong lúc chiến tranh, bà làm công tác bí mật. Bây giờ, bà chuyên môn về việc chống nạn mù chữ trong nước. Bà nói: trong nước Roumanie, nạn mù chữ hãy còn nhiều. Thầy dạy học thiếu. Chừng mười nǎm nữa mới huấn luyện đủ người dạy học. Từ 2 nǎm nay đã dạy được 10 vạn người biết đọc biết viết. (ở Việt Nam ta chỉ 5 tháng đã dạy được hơn một triệu người).

Một người phụ nữ nữa là bà Szabo làm cố vấn cho đoàn đại biểu Hongrie. Bà mới 22 tuổi, là một nữ học sinh, trong lúc chiến tranh có tham gia du kích. ở Hongrie, phụ nữ mới được quyền tuyển cử và ứng cử. ở Quốc hội có 11 nghị viên phụ nữ. Kinh đô có 20 hội viên thành phố là phụ nữ. Bà Szabo được cử vào uỷ ban thành phố. Bà viết báo giỏi, lại thạo việc quốc tế, cho nên được đại biểu Hongrie cử làm cố vấn.

Tin tức:

1) Hôm nay, nguyên soái Joinville cùng ông nghị Lucien Francois đem một số phụ nữ đại biểu cho những người mẹ Pháp có con đi lính bên ta đến Bộ Quốc phòng, yêu cầu cho con họ về Pháp. Họ nói rằng: phần nhiều gia đình những người lính đó nhờ con mà sống. Nay con đi lính đã mãn hạn mà chưa được về.

Tướng Joinville khẩn khoản đòi rằng cần phải dự bị một chiếc tàu để những người lính ấy về Pháp.

Người Chánh vǎn phòng của Bộ Quốc phòng hứa rằng trước 6 ngày, Bộ Quốc phòng sẽ trả lời một cách đích xác.

2) Những ông nghị người các thuộc địa khai hội hôm qua. Quyết định hết sức hoạt động làm sao cho các thuộc địa cũng được những quyền tự do dân chủ.

Họ phản đối những tin tức tuyên truyền bịa đặt để dèm pha họ. Họ quyết làm cho dư luận nước Pháp hiểu tình hình các thuộc địa. Họ sẽ hành động chung với các đoàn thể dân chủ của Pháp để gây ra một không khí thuận lợi trong việc xây dựng Liên hiệp Pháp quốc trên những nền tảng vững chắc, bình đẳng, bác ái.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XXVIII)

Chính phủ Pháp mời đi dự lễ khai mạc hội nghị hoà bình –
các bà mẹ Pháp có con đi lính bên ta yêu cầu cho con họ về Pháp.

Ngày 29 tháng 7

Hôm nay là hôm đầu tiên mà Cụ Chủ tịch được nghỉ ngơi không phải tiếp ai. Không đi thǎm ai. Kéo ghế ra vườn đọc sách, xem báo, nói chuyện cùng ông bà Aubrac và các anh em tuỳ tùng. Chơi đùa với hai cháu nhỏ.

Nhưng nghỉ ngơi không được bao lâu. Vừa ǎn cơm trưa xong thì có người của Chính phủ Pháp phái đến mời Cụ Chủ tịch đi khai mạc Hội nghị Hoà bình của 21 nước Đồng minh.

4 giờ chiều nay, các nước Đồng minh khai mạc Hội nghị Hoà bình.

Hội nghị họp tại điện Luxembourg là thượng nghị viện của nước Pháp. Điện này có lâu đài nguy nga, vườn hoa đẹp đẽ, đó là một thắng cảnh rất có tiếng.

Mở cuộc Hội nghị này tốn rất nhiều công của. Hội nghị có 21 đoàn đại biểu thay mặt cho 21 nước Đồng minh. Tính cả đại biểu, cố vấn, thư ký, người phiên dịch có đến hơn hai nghìn người.

Phải sắm sửa bàn ghế phòng khai hội chính, phòng khai hội cho các uỷ ban. Có ba máy truyền thanh, lúc diễn thuyết đứng chỗ nào nghe cũng được. Có sáu chỗ chụp ảnh và quay phim. Hai chỗ vô tuyến điện truyền đi khắp thế giới. Một chỗ vô tuyến điện đặc biệt, để cho các báo phỏng vấn những người trọng yếu, vừa nói chuyện vừa thu thanh. Hai trǎm phòng giây nói. Một sở giây thép, một sở máy in. Một sở địa đồ. Một sở cho các báo làm việc. Hai nhà ǎn, một nhà đại biểu, một tuỳ viên và các nhà báo. Một phòng để ai có việc gì đến hỏi. Hai trǎm chiếc xe hơi cho đại biểu. Những xe ấy ra đường được quyền đi trước. Có nhà riêng cho các đại biểu ở, đi có người dẫn đường, có người đi thông ngôn, có người hộ vệ. Nơi họp Hội nghị có người canh phòng. Tất cả 1500 người phụ trách những việc đó.

Hội nghị này, tuy gọi rằng Hội nghị Hoà bình, nhưng không bàn đến việc Đức và Nhật, chỉ bàn đến việc 5 địch quốc nhỏ: Hongrie, ý, Finlande, Bulgarie, Roumanie.

Vì vậy, người ta thường gọi là “Hội nghị 21” hoặc là “Hội nghị Luxembourg”.

Trước ngày khai hội, Mỹ, Anh, Nga, Trung Hoa, Pháp đã bàn bạc cách giải quyết những vấn đề quan hệ với 5 nước nói trên, đã in thành 5 quyển sách to.

Cách sắp chỗ ngồi cho các đoàn đại biểu, người ta theo thứ tự A.B.C., v.v.. Vì vậy, đại biểu Abissinie ngồi phía cực tả mà đại biểu Nga (U.R.S.S) thì ngồi phía cực hữu.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XXVII)

Về quê cách Paris mười cây số để nghỉ – đến ở nhà ông bà Aubrac.

Ngày 28 tháng 7

Sáng hôm nay, Cụ Chủ tịch và anh em tuỳ tùng đi về miền quê nghỉ cách Paris mười cây số, ở Soisy sous Montmorency.

Đây là nhà của ông bà Aubrac. Trong thời kỳ Đức chiếm đóng, ông Aubrac tham gia vào du kích. Bố mẹ ông bị Đức giết. Ông bị Đức bắt, sắp đem xử tử, may nhờ bà Aubrac cứu được. Ngày quân Đồng minh đổ bộ, ông Aubrac phụ trách việc kháng chiến ở vùng Marseille, quyền chính trị, quân sự và hành chính đều do ông giữ. Nay ông làm Chánh Vǎn phòng Bộ Kiến thiết.

Bà Aubrac làm giáo sư lịch sử và địa dư trong một trường lớn ở Paris. Lúc kháng chiến, bà cũng chỉ huy một đội du kích. Bà rất gan góc, đã lập được nhiều công trạng oanh liệt. Chồng bà bị bắt giam ở Lyon, sắp đến ngày xử tử. Ngày mà người Đức giải ông Aubrac cùng mấy đồng chí nữa đi từ nhà lao nọ sang nhà lao kia, bà đã cùng mấy người đồng chí đón đường đánh úp, giết chết mấy người lính Đức áp tải và cứu được tất cả mấy người đồng chí.

Ông bà Aubrac có hai con. Con giai lớn 5 tuổi và con gái bé 3 tuổi, rất ngoan và rất ngộ nghĩnh.

Hai ông bà nghe nói Hồ Chủ tịch muốn về nghỉ mát ở nhà quê, liền viết thơ mời. Lúc Cụ Chủ tịch đến, hai vợ chồng ân cần sǎn sóc.

Nhà này có 3 từng. Từng dưới có phòng ǎn, phòng khách và bếp. Từng giữa gia quyến ông bà Aubrac ở. Nhường từng trên để Hồ Chủ tịch và anh em tuỳ tùng ở.

Bên ngoài chỗ ở, có công an viên và cảnh sát địa phương canh gác. Bên cạnh lại có anh em của Tổng Công hội hộ vệ.

Về nghỉ ở đây, mọi người thấy khoan khoái dễ chịu lắm.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XXVI)

Đi thăm anh em công binh – Đi gặp Thủ tướng Bidault – Kiều bào đến thăm

Ngày 27 tháng 7

7 giờ sáng, Cụ Chủ tịch đi thǎm anh em công binh ở Paris. Anh em ở đây đóng hai nơi, người không đông mấy. Chỗ ǎn chỗ ở cũng dễ chịu. Anh em người nào cũng mạnh khoẻ nhanh nhẹn. Cụ Chủ tịch đến thình lình, không báo trước. Vào đến nhà anh em mới biết thì vội vàng gọi nhau xúm xít lại tỏ vẻ rất vui mừng. Cụ Chủ tịch đi xem qua các phòng ǎn, phòng ngủ, rồi nói chuyện khuyên gắng anh em.

Bà con người Pháp nghe nói cũng kéo nhau đến trước cửa đứng xem rất đông. Lúc Hồ Chủ tịch ra về, anh em ta hoan hô, bà con Pháp cũng vỗ tay.

10 giờ, Chủ bút tuần báo “Con vịt bị trói” đến thǎm Cụ Chủ tịch.

12 giờ, Cụ Chủ tịch đi thǎm Thủ tướng Bidault.

3 giờ chiều, một số anh chị em kiều bào đến thǎm.

Hôm nay có tin tướng Leclerc đến Paris.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XXV)

Hồ Chủ Tịch đến thăm Fontainebleau

Ngày 26 tháng 7

9 giờ sáng, Cụ Chủ tịch đi thǎm Fontainebleau, nơi khai hội Việt- Pháp. Đến nơi có các đại biểu ta, các đại biểu Pháp, ông Quận trưởng quận Seine và quận Marne, Ban chấp hành thành phố, và các ông giám đốc Cung Fontainebleau ra đón tiếp.

Đại biểu nhân dân và thanh niên đến chào và tặng Hồ Chủ tịch hai bó hoa.

Quận trưởng và Ban chấp hành thành phố đặt tiệc hoan nghênh Hồ Chủ tịch, có các đại biểu Việt và Pháp dự tiệc.

Kế đó, các ông giám đốc đưa Cụ Chủ tịch đi xem lâu đài và rừng Fontainebleau. Lâu đài kiến trúc cực kỳ xa hoa. Ngày trước các vua Pháp thường đến nghỉ ở đây. Khi vua Napoléon thứ nhất thất bại, khởi hành từ đây từ biệt nước Pháp đi đến chỗ bị đày. Vậy nên có một sân gọi là “sân từ biệt”. Trong lầu còn để những phòng sách, áo quần, giường nằm, những vật kỷ niệm, và một cái mặt nặn bằng sáp khi mới chết của vua Napoléon.

Chung quanh lầu có vườn rất rộng, rất đẹp. Chung quanh vườn có rừng. Trong rừng có nhiều nơi phong cảnh rất xinh đẹp. Đi dạo rừng về, Cụ Chủ tịch với tất cả anh em đại biểu ta ra ngoài vườn cỏ ngồi chơi nói chuyện. 6 giờ ra về Paris.

Từ ngày 30-6 đến nay, thiên hạ xôn xao về bom nguyên tử, 2 giờ chiều hôm qua (là 9 giờ sáng ở đảo Bikini), quả bom nguyên tử thứ nǎm nổ tại bể Bikini. Không trách thiên hạ xôn xao, bom nguyên tử thật là ghê gớm.

Quả thứ nhất:

Các nhà khoa học, nhất là khoa học Đức, tìm ra cách làm bom nguyên tử. Nhưng vì nguyên liệu khó và tốn kém nhiều, cho nên chưa làm được. Người Mỹ lấy được bí mật đó, đổ tiền ra làm. Cặm cụi mấy tháng trời, đến ngày 16-7-1945 đem quả bom đầu thử tại bãi cát New Mesico ở Mỹ.

Quả thứ hai:

Cách 20 ngày sau, là ngày 6-8, máy bay Mỹ ném một quả vào thành phố Hiroshima ở Nhật. Thành phố hoá ra tro, 8 vạn người thiệt mạng.

Quả thứ ba:

Ba hôm sau, máy bay Mỹ ném một quả nữa vào Nagasaki ở Nhật. Thành phố ấy có 26 vạn dân, 16 vạn người ở ngoại ô, hơn 10 vạn ở trong tỉnh. Bom nguyên tử rơi vào thành, 4 vạn người chết, nhà cửa tan tành, cầu cống sụp đổ. Vì hai quả bom đó mà Nhật vội đầu hàng.

Quả thứ tư:

Bom thả trên bờ sức mạnh như thế. Người Mỹ muốn biết nếu thả xuống nước, thì ra thế nào? Họ đem 73 chiếc tàu binh, to có, nhỏ có, đến bờ Bikini, sắp thành mấy vòng xa có, gần có. Ngày 30-6, máy bay Mỹ thả một quả cách trên mặt nước. Bom nổ. Lửa, nước và khói vun vút tung lên cao hơn ngàn thước. Ngọn lửa bắt đầu thì sắc vàng, rồi hoá ra đỏ chói, sau biến thành trắng xanh.

Kết quả là: 5 chiếc tàu chìm.

9 chiếc hỏng nhiều.

5 chiếc hỏng vừa.

9 chiếc hỏng ít.

20 chiếc bị dấu vết qua loa.

Quả thứ nǎm:

Lần này họ thử bom nổ dưới mặt nước. Họ sắp 77 chiếc tàu. Đắp 4 cái tháp để nghiệm xét bằng sắt và ciment. Dùng 26 máy chụp ảnh đặc biệt, hơn 10 chiếc máy bay do vô tuyến điện chỉ huy, không cần người cầm lái. Lại một đoàn máy bay có phi công. Họ thả một số lợn, dê và chuột trắng trên các tàu, để xem chúng sẽ chết hay là sống.

Những người đứng gần nhất cũng cách quả bom nổ 16 cây số.

Bom nổ, tiếng vang một góc trời. Cũng như lần trước, một vòi lửa và nước tròn gần 2.000 thước, cao hơn 1.500 thước vun vút toé lên giống như một cái nấm khổng lồ. Nhìn trong ảnh thì giống cái đầu một người đầm tóc quấn. Bỗng chốc mây khói mê man, mịt mù trời đất.

Kết quả là: 11 chiếc tàu chìm. Nhiều chiếc hỏng. Lợn, dê và chuột, con gần thì chết, con ở xa thì đau. Cách mấy hôm sau, không khí vùng đó còn độc, không ai dám đến gần.

Thử một quả bom mà tốn hơn 764 triệu bạc ta (110 triệu bạc Mỹ). Đó là còn tính rẻ, vì các chiếc tàu binh giá một trǎm phần, chỉ tính một phần.

Theo người Anh suy đoán, thì một quả bom nguyên tử có thể phá tan 3 vạn nóc nhà, làm hỏng 35.000 nóc nhà, làm hỏng vừa 5 vạn nóc nhà. Nghĩa là một quả bom có thể làm hư hỏng hơn 11 vạn toà nhà.

Trước ngày thử bom. Một bà người Mỹ, Chủ tịch “Hội bảo trợ súc vật” xin Chính phủ Mỹ chớ hy sinh những con lợn, dê và chuột. Nếu không, thì bà ấy tình nguyện đến Bikini để chết thay cho chúng nó.

Trong ngày thử bom, các hội viên “Hội bảo trợ súc vật” ở Cumberland nước Anh, gửi thơ cho Chính phủ, phản đối việc ngược đãi súc vật trong cuộc thử bom ở Bikini. Rồi kéo nhau đến nhà thờ tụng kinh cho linh hồn những con thú đó.

Khuya hôm đó ở Bruxelles là kinh đô nước Bỉ, mưa to gió lớn. Dân sự hoảng hồn hoảng vía, tưởng là bom nguyên tử đã làm bể quả đất, khiến cho nước Bỉ cũng bị vạ lây.

Buồn cười nhất là “Hội bảo trợ súc vật” ở Ferdinando Valley (Mỹ) đọc điếu vǎn các con thú chết ở Bikini. Ban đầu, họ đem âm nhạc nhà binh ra thổi, bị quân đội phản đối không cho thổi, vì lẽ rằng làm như vậy là khinh thường âm nhạc của nhà binh. Rồi họ muốn treo cờ rủ để chia buồn, lại bị dân chúng phản đối, vì lẽ rằng quốc kỳ là của người chứ không phải của súc vật. Tức mình, các hội viên ra lệnh cho chợ bán dê “mặc niệm” ba phút. Khi mặc niệm, dê kêu be be rầm cả chợ!

Đ.H

cpv.org.vn

Nơi phát tích Ngày Thương binh toàn quốc

Khu Di tích “ Nơi công bố Ngày Thương binh – Liệt sỹ toàn quốc” tại xóm Bàn Cờ, xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ có một Cây đa cổ thụ, tốt tươi, được mọi người gọi là “Cây đa 27 tháng 7”.

noi phat tich ngay TB 1Khu Di tích 27 tháng 7, xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ,
nơi công bố Ngày Thương binh –  Liệt sỹ toàn quốc 27/7/1947

Sau khi sáng lập “Hội giúp binh sỹ bị nạn” do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch danh dự, Người phát động toàn dân tham gia hưởng ứng phong trào “Mùa đông binh sỹ”. Giữa bộn bề công việc lãnh đạo phá tan cuộc tấn công mùa đông của giặc Pháp lên Việt Bắc, tổ chức kháng chiến toàn dân, toàn diện suốt từ Bắc chí Nam… Bác Hồ cùng Trung ương vẫn có chủ trương, chính sách chăm lo đến thương binh, gia đình liệt sỹ. Chính phủ ban hành chế độ hưu bổng, thương tật và tiền tuất cho thân nhân tử sỹ, “ưu đãi các chiến sỹ bị thương và gia đình liệt sỹ”. Ngày 10/7/1947, cơ quan Thương binh và cựu binh, sau đổi là Bộ Thương binh được thành lập. Tháng 6 năm 1947, từ Phủ Chủ tịch đầu tiên ở “Thủ đô gió ngàn” tại đồi Khau Tý, ATK Định Hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị với Chính phủ chọn một ngày trong năm là “Ngày Thương binh”.

noi phat tich ngày TB 2Ông Lê Thành Ân, Trưởng ban tổ chức Ngày Thương binh –  Liệt sỹ 27-7-1947

Bác Lê Thành Ân, nguyên Phó Phòng Thương binh của Cục Chính trị nhớ lại: Sau khi Ban Vận động tổ chức Ngày Thương binh toàn quốc được thành lập vào khoảng 7 giờ tối một ngày đầu tháng 7 năm 1947, khoảng hai chục người trong Ban họp tại Phú Minh, xã Phú Thịnh (Đại Từ) do anh Lê Tất Đắc, Cục phó Cục Chính trị chủ trì, dự họp có anh Trần Huy Liệu (Tổng bộ Việt Minh), Hoàng Tuấn (Nha Thông tin), chị Nguyệt Tú (vợ anh Lê Quang Đạo) đại diện Trung ương Hội Phụ nữ cứu quốc, Trung ương Đoàn có anh Đào Duy Kỳ… Sau khi họp bàn, thống nhất chọn ngày 27/7/1947 báo cáo lên Trung ương và Bác Hồ, anh Lê Tất Đắc cao hứng sáng tác:

“Dù ai đi ngược về xuôi

Hai bảy, tháng bảy nhớ ngày Thương binh”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Ban Tổ chức “Ngày Thương binh toàn quốc”…“Đang khi Tổ Quốc lâm nguy, giang san, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp; cha mẹ, anh em, vợ con thân thích, họ hàng ta bị đe dọa; của cải ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập; ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta? Đó là những chiến sỹ mà nay một số thành ra thương binh.

Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ Quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ Quốc, của đồng bào, mà các đồng chí chịu ốm yếu…

Vì vậy, Tổ Quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy.

Trong lúc chống nạn đói kém, đồng bào ta đã từng mỗi tuần nhịn ăn một bữa, để giúp các đồng bào bị đói. Bây giờ chống giặc ngoại xâm, tôi chắc đồng bào ta sẽ vui lòng vài ba tháng nhịn ăn một bữa để giúp các chiến sỹ bị thương.

Ngày 27 tháng 7 là một dịp cho đồng bào ta tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái, và tỏ lòng yêu mến thương binh.

…Luôn luôn tin vào lòng nhường cơm, sẻ áo của đồng bào ta, tôi chắc rằng “Ngày thương binh” sẽ có kết quả mỹ mãn.

Tôi xin xung phong gửi một chiếc áo lót lụa mà các em phụ nữ đã biếu tôi, một tháng lương của tôi, một bữa ăn của tôi và của các nhân viên tại Phủ Chủ tịch, cộng là một nghìn một trăm hai mươi bảy đồng  (1.127đ)

Ngày 27 tháng 7 năm 1947

       Hồ Chí Minh

Bác không chỉ khởi xướng, mà còn là vị Chủ tịch – công dân đầu tiên cùng các thành viên chính phủ “tỏ lòng hiếu nghĩa, bác ái, yêu mến” thương binh.

Cứ mỗi độ xuân về dân các làng xã Hùng Sơn lại tụ hội chơi cờ trên sân đất rộng cỡ 1500 m2 ở xóm Bàn Cờ, bên Cây đa cổ thụ. Khoảng sân đó nay vẫn còn rộng rãi, có ba đường từ ba hướng đến sân, bên cạnh là ao và đồng lúa, cách 80 – 150m các quả đồi thoai thoải xanh tốt rất tiện cho việc tập trung bảo vệ, giữ bí mật, lại dễ thoát ra các hướng khi có máy bay giặc Pháp bắn phá. Bên cạnh có nghè Ông, thời Tiến sỹ Đồng Doãn Giai (1736) và nghè Bà, thờ công chúa Mai Hoa. Do địa thế đẹp, xung quanh các quả đồi có đơn vị bộ đội và cơ quan Trung ương đóng nên được chọn là nơi mít tinh công bố Ngày Thương binh – Liệt sỹ toàn quốc.

noi phat tich ngày TB 3Lễ mít tinh công bố Ngày Thương binh – Liệt sỹ

Hồi năm 1997, ông Lê Tất Đắc cựu Thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh – Xã hội, người chủ trì buổi lễ kể lại: Vào 6 giờ tối bắt đầu mít tinh, có khoảng 300 người dự, tôi thay mặt Ban Tổ chức đọc thư Bác Hồ gửi nhân “Ngày Thương binh – Liệt sỹ toàn quốc”, có đại biểu thương binh, đồng chí Lê Tỵ phát biểu, rồi bà Bá Huy (tức Nguyễn Thị Đích) Bí thư Hội Phụ nữ cứu quốc xã Lục Ba, nơi có Trại An dưỡng đường số 1 thành lập tháng 6 năm 1947 dành cho thương binh, người hăng say vận động phụ nữ giúp đỡ bộ đội, thương binh nói lên tình cảm, trách nhiệm của phụ nữ và nhân dân đối với thương binh. Sau này bà Bá Huy được Bác Hồ gửi thư khen… Buổi mít tinh kết thúc trong tiếng hô “Hồ Chủ tịch muôn năm”, “Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi”. Ngày Thương binh – Liệt sỹ 27/7/1947 trở thành ngày mà tất cả mọi người dân, cơ quan, đoàn thể trong cả nước bày tỏ tình cảm “Uống nước nhớ nguồn”, “ Đền ơn đáp nghĩa” với thương binh, gia đình liệt sỹ.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng từng “vào sống ra chết” qua các nhà tù đế quốc ở Hồng Kông, của chế độ Tưởng Giới Thạch ở Quảng Tây, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đều vượt qua với một phong thái lạc quan, ung dung tự tại. Nhưng Người bao lần không cầm được nước mắt khi mất Phùng Chí Kiên – Trưởng ban Quân sự của Trung ương, Chỉ huy Trưởng căn cứ địa Bắc Sơn – Võ Nhai, hy sinh ở Ngân Sơn (Bắc Kạn); đồng chí Hoàng Văn Thụ – Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng bị thực dân Pháp xử bắn năm 1944 ở Trường bắn Tương Mai; rồi Hoàng Văn Lộc, người bảo vệ, giúp việc Bác từ Xiêm (Thái Lan), đầu năm 1941 theo Bác về Pác Bó (Cao Bằng) mất tại Khuôn Tát (Định Hóa) 1948… Người đã biến nỗi đau thương, mất mát khơi dậy thành phong trào “đền ơn đáp nghĩa”, đẩy mạnh kháng chiến, kiến quốc mau tới thắng lợi.

Bác còn gửi thư cho các cháu thiếu nhi, nhi đồng tổ chức các “Đội Trần Quốc Toản” –“Từ 5 đến 10 cháu tổ chức thành một đội, giúp nhau học hành, khi học rảnh rang, cả đội đem nhau đi giúp đồng bào. Trước thì giúp các nhà chiến sỹ, các thương binh, lần lượt giúp các nhà ít người. Thí dụ: quét nhà, gánh nước, lấy củi, xay lúa, giữ em, dạy chữ quốc ngữ…”

Tháng 7 năm 1948, Bác gửi anh em thương binh và bệnh binh lời nhắn nhủ chí tình:“Các đồng chí sẽ trở nên người công dân kiểu mẫu ở hậu phương cũng như các đồng chí đã làm người chiến sỹ kiểu mẫu ngoài mặt trận”

Vào tháng 7 năm 1953, Bác gửi thư cho Bộ trưởng Bộ Thương binh, cựu binh:

“…Nhân dịp “Ngày thương binh” tôi xin gửi một tháng lương của tôi và 50 cái khăn tay do đồng bào phụ nữ Thái biếu tôi, nhờ cụ chuyển cho anh em thương binh lời chào thân ái của tôi”.

Người tích cực tham gia, khen thưởng, tổ chức nhân rộng phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” lên tầm cao mới.

Ngày nay du khách đến thăm Khu Di tích “Cây đa 27 tháng 7” có hai, ba nhánh cây cổ thụ tỏa bóng mát rượi một cây đa nhỏ cỡ gần 2 người ôm cách đó 30m vẫn được dân chăm bón, gìn giữ. “Địa điểm công bố Ngày Thương binh – Liệt sỹ toàn quốc 27/7/1947” được xếp hạng Di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia đúng dịp kỷ niệm 50 năm.

Nhà Lưu niệm mới xây dựng, hòa quyện, nghè Ông, nghè Bà. Tảng đá vân mây trắng hình trụ, bia di tích cao 3m, rộng 3m, nặng gần 7 tấn ghi: “Nơi đây, ngày 27/7/1947, ba trăm cán bộ, bộ đội và đại diện các tầng lớp nhân dân địa phương họp mặt nghe công bố bức thư Bác Hồ, ghi nhận sự ra đời Ngày Thương binh – Liệt sỹ ở nước ta”. Ngày Bác Hồ về thăm Hùng Sơn (02/3/1958), Người nhắc đến niềm tự hào của mảnh đất quê hương Ngày Thương binh – Liệt sỹ, phải chăm lo đời sống nhân dân, nhất là gia đình thương binh, liệt sỹ, gia đình có công với nước…

(Trích bài Nơi phát tích Ngày thương binh toàn quốc in trong cuốn Bút ký – Tư liệu ATK in dấu lịch sử của tác giả Đồng Khắc Thọ)

Theo http://www.thainguyen.gov.vn
Thu Hiền (st)

 

 

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh và “quan hệ đặc biệt” Việt Nam – Lào

“Việt – Lào hai nước chúng ta; tình sâu hơn nước Hồng Hà – Cửu Long” (Hồ Chí Minh).

Khi nói về mối quan hệ nghĩa tình giữa hai Đảng, hai nước, hai dân tộc Việt Nam và Lào, Bác Hồ kính yêu của chúng ta – Người đã dày công vun đắp cho mối quan hệ Việt – Lào đã nhấn mạnh, đó là mối “quan hệ đặc biệt”. Và đúng như vậy, để nói cho hết về mối “quan hệ đặc biệt” ấy cần phải ngược dòng lịch sử, để lịch sử chứng minh cái nghĩa, cái tình và tấm lòng thủy chung, son sắt, sát cánh bên nhau của hai Đảng, hai dân tộc Việt – Lào trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung, giành độc lập cho dân tộc và cùng nhau xây dựng hòa bình, hướng tới tương lai hạnh phúc.

Chu tich HCM va quan hẹ VN-Lao

Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn

Nền tảng của quan hệ Việt – Lào xuất phát từ quan hệ truyền thống lâu đời giữa hai nước láng giềng gần gũi, cùng chung sống trên bán đảo Đông Dương. Mối quan hệ truyền thống ấy trở nên “đặc biệt” từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện (sau này là Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào) trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng của hai dân tộc Việt Nam và Lào, cùng sát cánh bên nhau chiến đấu chống kẻ thù chung, xây đắp nên tình đoàn kết keo sơn, thuỷ chung, son sắt Việt – Lào.

“Quan hệ đặc biệt” trên nền tảng của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần cách mạng quốc tế cao cả.

Là một người yêu nước và là một người cộng sản với tinh thần quốc tế cao cả, ngay từ năm 1921, khi đấu tranh cho phong trào giải phóng “các dân tộc thuộc địa”, lên án chế độ hà khắc của các nước đế quốc đối với các dân tộc bị áp bức, Nguyễn Ái Quốc đã dũng cảm đứng lên tố cáo chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương. Người đã mô tả nỗi khổ cực của nhân dân hai nước Việt – Lào trong chế độ bắt phu đi làm tạp dịch, làm đường tại Đông Dương của Pháp: Chúng không hề phân biệt ai là Việt, ai là Lào, mà chỉ coi là dân Đông Dương thuộc Pháp; nếu trốn đi phu hay nổi dậy chống lại đều bị bắn chết, những ai ốm đau đều phải gửi xác lại nơi “rừng xanh núi đỏ”. Trên các đoạn đường xuyên Đông Dương đều có xác phu Việt bên cạnh xác phu Lào. Người viết: “Ở Luông Pha-băng nhiều phụ nữ nghèo khổ thảm thương phải mang xiềng đi quét đường chỉ vì một tội không nộp nổi thuế”. Những tiếng nói đanh thép của Nguyễn Ái Quốc trong “Bản án chế độ thực dân Pháp” đã lột tả được cái tận cùng của sự tàn ác, vô lương tâm của chủ nghĩa đế quốc, lột tả nỗi đau đớn của những dân tộc bị áp bức và bị buộc làm nô lệ trong chế độ thực dân.

Trong những năm đầu thành lập Đảng và trong suốt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của cách mạng hai nước Việt – Lào, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi mối quan hệ đoàn kết Việt – Lào vừa là nghĩa vụ quốc tế, vừa là lợi ích sống còn của mỗi nước. Tại Hội nghị Trung ương tháng 10 năm 1930, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương đã xác định đường lối cách mạng của ba nước Đông Dương và khẳng định: Ba nước Đông Dương cần phải đoàn kết chống ách thống trị của bọn thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc… Sau Hội nghị, thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một số đảng viên của Đảng từ Việt Nam và Thái Lan đã sang hoạt động xây dựng cơ sở cách mạng ở Lào, các Chi bộ cộng sản sau đó đã được thành lập ở Sa-va-na-khet, Tha-khek và Viêng Chăn. Tháng 9 năm 1934, Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đã được thành lập tại Lào, chịu trách nhiệm lãnh đạo phong trào cách mạng Lào. Kể từ đó, cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân hai nước ngày càng phát triển trong tình đoàn kết chiến đấu, tạo nên sức mạnh chung để cùng tiến hành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám (Cách mạng Lào cũng đồng thời thắng lợi vào tháng 8 năm 1945), giành độc lập cho nhân dân.

“Quan hệ đặc biệt” trên tinh thần “giúp bạn là tự giúp mình”, coi trọng quyền dân tộc tự quyết cũng như tính độc lập, tự chủ cách mạng của mỗi nước.

Hiểu rõ về tầm quan trọng của mối quan hệ Việt – Lào trong sự nghiệp cách mạng của hai nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên căn dặn: “Cách mạng Lào không thể thiếu sự giúp đỡ của cách mạng Việt Nam và cách mạng Việt Nam cũng không thể thiếu sự giúp đỡ của cách mạng Lào” và “Ta phải nhận thức rõ rằng, hai dân tộc anh em Miên, Lào được giải phóng, thì nước ta mới được giải phóng thực sự và hoàn toàn”. Để từ đó, với tinh thần “giúp bạn là tự giúp mình”, Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã cử hàng chục vạn con em yêu quý của mình sang công tác và phối hợp với quân và dân Lào chiến đấu tại các chiến trường của Lào, máu của biết bao anh hùng, liệt sỹ Việt Nam hòa quyện với máu của quân và dân Lào để đem lại thắng lợi vẻ vang cho hai dân tộc. Cũng với tình cảm đặc biệt ấy, Đảng, Chính phủ và nhân dân Lào đã dành phần đất của mình cho Việt Nam mở tuyến đường vận tải chiến lược cho chiến trường miền Nam (Đường Hồ Chí Minh) và với ý chí “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, lớp lớp các đoàn quân lên đường ra trận cùng nhân dân chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân 1975, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Thắng lợi quyết định ấy đã tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng Lào giành thắng lợi hoàn toàn và lập nên nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào ngày 2-12-1975. Khi nhận định về ý nghĩa thắng lợi của cách mạng Việt Nam năm 1975, đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hản, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào khẳng định “Do mối quan hệ khăng khít giữa cách mạng ba nước Lào, Việt Nam, Căm-pu-chia và với tính chất Đông Dương là một chiến trường, thời cơ khách quan do thắng lợi hoàn toàn của nhân dân hai nước anh em đem lại, nhất là của cách mạng Việt Nam, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với cách mạng nước ta (Lào)”. Điều thần kỳ lịch sử đó còn phải kể đến một trong những nguyên nhân cơ bản là hai Đảng đã lãnh đạo nhân dân hai nước luôn trân trọng và biết phát huy mối quan hệ đặc biệt Việt – Lào.

Thực tế lịch sử cho thấy, quan hệ đặc biệt Việt – Lào là kết quả của việc vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh thực tiễn của cách mạng Việt Nam và Lào, là sản phẩm của việc kết hợp đúng đắn chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản. Trong khi giải quyết đúng đắn và sáng tạo mối quan hệ đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, đề cao tình đoàn kết, sự ủng hộ và tương trợ lẫn nhau giữa các dân tộc bị áp bức trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng quyền dân tộc tự quyết cũng như tính độc lập, tự chủ cách mạng của mỗi nước. Theo Người “kháng chiến Việt – Miên – Lào là chung của chúng ta, là bổn phận của chúng ta. Việt Nam kháng chiến có thành công thì kháng chiến Miên, Lào mới thắng lợi và kháng chiến Miên, Lào có thắng lợi thì kháng chiến Việt Nam mới hoàn toàn thắng lợi”. Người khẳng định “Chính phủ, mặt trận và nhân dân Việt Nam ra sức hết lòng, thành thực giúp đỡ mặt trận nhân dân Lào, Miên một cách không có điều kiện”; “Mà giúp nước bạn tức là tự giúp mình” nên “phải ra sức giúp đỡ một cách tích cực, thiết thực hơn”. Trong quá trình giúp cách mạng Lào, Người chỉ rõ, khi giúp bạn, phải nắm vững nguyên tắc dân tộc tự quyết. Việc gì cũng phải đựơc Đảng và nhân dân Lào đồng ý rồi mới làm. Bởi vì, người làm nên lịch sử Lào không ai khác chính là nhân dân Lào, cách mạng Lào phải do nhân dân Lào tự làm lấy, sự nghiệp cách mạng Lào phải do Đảng Nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo. Tại Hội nghị Trung ương III (khóa II), Hồ Chủ tịch nêu rõ: “cho đến nay chúng ta phải cố gắng giúp đỡ hơn nữa” và cũng từ đó, nhiệm vụ giúp đỡ cách mạng Lào ngày càng được tăng cường, quan hệ đoàn kết Việt – Lào càng thêm gắn bó, mật thiết.

Theo thời gian, mối “quan hệ đặc biệt” Việt – Lào được Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng và dày công vun đắp ngày càng được tăng cường và phát triển, trở thành động lực thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước. Đặc biệt từ khi hai nước thực hiện công cuộc đổi mới với nhiều khó khăn và thách thức, nhưng với truyền thống tốt đẹp của mối “quan hệ đặc biệt” và dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào, quan hệ giữa hai nước ngày càng được tăng cường, mở rộng và giành được những thắng lợi to lớn. Đó cũng là thành quả được kết tinh từ lịch sử, từ sứ mệnh mà hai Đảng, hai dân tộc đã chung sức, chung lòng, chung vai gánh vác qua những chặng đường đầy khó khăn, gian khổ của cuộc đấu tranh giành độc lập và giải phóng đất nước./.

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XIII)

Quần chúng pháp hoan hô Hồ Chủ Tịch – Cụ Chủ tịch đánh điện mừng nước phi luật tân độc lập.

1 giờ trưa, Thượng sứ D’Argenlieu làm tiệc hoan nghênh Hồ Chủ tịch ở lữ quán Ritz. Cũng đông khách như các tiệc trước.

5 giờ chiều, thành phố Paris hoan nghênh Hồ Chủ tịch ở toà Thị chính. Cũng cờ xí rực rỡ, cũng nghi tiết đường hoàng như các cuộc hoan nghênh trước. Nhưng lần này có vẻ dân chúng rõ ràng hơn. Tuy trời mưa, từ ngoài đường cho đến xung quanh sân, dân chúng vòng trong vòng ngoài, đứng chật như nêm. Chung quanh sân có đặt lan can bằng gỗ, để giữ trật tự cho dễ. Từ trên lầu đến ngoài cửa, đều có giải thảm đỏ. Có đội danh dự mũ đồng, gươm bạc sắp hàng hai bên. Quốc kỳ Việt và Pháp phất phới rực rỡ trên toà nhà Thị chính.

Xe Hồ Chủ tịch đi đến đâu, quần chúng Pháp đều hoan hô. Nhất là trẻ em và phụ nữ Pháp càng nhiệt liệt. Ông Thị trưởng Vergnolles cùng với Ban hội đồng thành phố Paris, Ban hội đồng quận Seine, đại biểu Chính phủ Pháp thì có các Bộ trưởng Michelet, Gay, Moutet, các tướng lĩnh, Đô đốc D’Argenlieu và những khách trọng yếu, ra tận cửa đón Hồ Chủ tịch. Phòng khai hội ở tầng trên, hàng nghìn người đã ngồi sẵn không hở chỗ nào. Đó là những người có giấy mời đặc biệt.

Hồ Chủ tịch vào, toàn thể đứng dậy vỗ tay.

Trên đài, Hồ Chủ tịch và ông Thị trưởng ngồi giữa, quý khách ngồi hai bên, quay mặt đối dân chúng. Ông Thị trưởng đọc bài diễn vǎn hoan nghênh, đầy ý nghĩa Việt – Pháp thân thiện. Hồ Chủ tịch đáp lại, đại ý nói: Paris là nguồn cách mệnh, Paris sẽ giúp cho các dân tộc được quyền độc lập.

Lễ nghi xong rồi, vào dự tiệc trà. Rồi Hồ Chủ tịch và ông Thị trưởng ký sổ vàng.

Lúc đi ra, Hồ Chủ tịch cho một em nhỏ Pháp một quả đào. Em nhỏ ấy ôm Cụ hôn. Mấy hôm sau, bố mẹ em nhỏ ấy mách lại rằng: về nhà em đó giữ mãi quả đào làm kỷ niệm, không cho ai động đến và cũng không chịu ǎn, và gặp ai cũng khoe.

8 giờ rưỡi, Cụ Chủ tịch đặt tiệc mời Chủ tịch Bidault, các Bộ trưởng, các vị trọng yếu trong Quốc hội Pháp và các tướng lĩnh. Phái bộ ta giúp Cụ tiếp khách. Chủ khách thân mật chuyện trò. Đến 12 giờ khuya mới tan cuộc.

Hôm nay chính là ngày Phi Luật Tân tuyên bố độc lập. Bốn trǎm nǎm nay, nước Phi Luật Tân bị hết nước này áp bức đến nước khác áp bức. Sau cùng là nước Mỹ cai trị. Nước Mỹ dùng chính sách khôn khéo, thừa nhận Phi Luật Tân độc lập. Như thế đã được lòng dân Phi, mà lại không mất lợi quyền người Mỹ.

Tại Manille là kinh đô Phi Luật Tân, sau 21 phát súng báo hiệu, 50 vạn người hoan hô. Từ đây, 18 triệu người Phi Luật Tân trở nên một dân tộc độc lập.

Hồ Chủ tịch có gửi điện chúc mừng. Chủ tịch Phi Luật Tân gửi điện trả lời cảm ơn.

Hôm nay, được tin Chính phủ Tchécoslovaquie vừa mới thành lập do ông Gơttwald là lãnh tụ Đảng Cộng sản làm Chủ tịch.

Chính phủ này là một chính phủ Mặt trận quốc dân, các đảng phái đều có tham gia, Đảng Cộng sản giữ những bộ Nội vụ, Tuyên truyền, Công tác, Thương mại; Đảng Xã hội giữ 3 bộ: Tư pháp, Giáo dục và bộ Buôn bán với nước ngoài; Đảng Dân chủ giữ 2 bộ: Công nghệ và Tiếp tế.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (VIII)

Đại biểu phụ nữ các nước đến thǎm Hồ Chủ Tịch – cụ tiếp đại biểu hội thanh niên thế giới.

Ngày 28 tháng 6

Sáng sớm, đi chơi vườn Saint Cloud, một thắng cảnh gần Paris.

12 giờ trưa, Đại tướng Juin và tướng Devèze đến chơi.

Chiều 8 giờ, đại biểu phụ nữ các nước đến thǎm Cụ Chủ tịch. Có: bà Sportisse, người Pháp làm nghị viên cho xứ Algérie, bà Barjonet, Trung ương uỷ viên Tổng hội phụ nữ Pháp, bà Kayser, bà Jacquier, luật sư, con gái cụ Cachin, bà Ricole, thư ký của Tổng hội phụ nữ Pháp; bà Passonaria, nghị viên Tây Ban Nha Cộng hoà, bà Hando, đại biểu ấn Độ trong Liên hiệp quốc, bà Mason, đại biểu phụ nữ người da đen ở Mỹ, bà Willish, đại biểu phụ nữ Mỹ, bà Alexandrovskaia, nghị viên Nga v.v.. Chị em phụ nữ Việt Nam thì có chị Châu.

Các bà nói chuyện về phụ nữ vận động ở các nước, rồi hỏi thǎm kỹ càng về sự sinh hoạt, tổ chức vận động của phụ nữ Việt Nam.

Hồ Chủ tịch trả lời, đại khái nói: Trong mấy mươi nǎm vận động độc lập, phụ nữ Việt Nam hy sinh khá nhiều. Chị Minh Khai là một người tiêu biểu trong thời kỳ đó. Đến lúc kháng chiến, chị em phụ nữ hǎng hái tham gia. Từ ngày dân Việt Nam tranh được chính quyền, phụ nữ đều ra sức gánh vác công việc. Nào giúp đỡ chiến sĩ, tǎng gia sản xuất. Nào chống nạn mù chữ, tham gia tuyển cử, Tuần lễ Vàng, Đời sống mới, v.v., việc gì phụ nữ cũng hǎng hái.

Các bà đại biểu nghe vậy, rất là vui lòng. Rồi ân cần gửi lời thân ái chúc phụ nữ Việt Nam gắng sức phấn đấu, và mong rằng phụ nữ ta sẽ giúp sức vào cuộc phụ nữ vận động thế giới. Các bà lại nói với Cụ Chủ tịch rằng: Liên đoàn Phụ nữ dân chủ thế giới trong cuộc khai hội hôm vừa rồi, đã công nhận đoàn thể phụ nữ Việt Nam làm hội viên.

Đó là một vinh hạnh lớn cho phụ nữ Việt Nam ta, nay đã có địa vị trong thế giới. Từ đây, phụ nữ ta cũng phải gắng sức làm thế nào để trong thì đoàn kết toàn thể chị em, đặng giúp việc xây dựng nước nhà; ngoài thì cộng tác với những đoàn thể dân chủ phụ nữ thế giới. Như thế mới xứng đáng địa vị của phụ nữ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Ngày 29 tháng 6

Sáng sớm, đi chơi rừng Vincennes. Cánh rừng đẹp này ở cạnh Paris, gần xóm lao động. Có thể nói rằng: Boulogne ở đầu Paris, là rừng của những người giàu có; Vincennes ở cuối Paris, là rừng của các lớp bình dân. ở đây có một toà pháo đài, trong mấy nǎm Pháp bị Đức chiếm, người Đức thường đem những người chí sĩ Pháp đến đó mà xử tử.

12 giờ, Thượng sứ D’ Argenlieu mời Cụ Chủ tịch ǎn cơm trưa. Có ông Đồng, ông Giám, ông Hà, và mấy người đại biểu Pháp cùng ǎn.

Chiều 8 giờ, Cụ Chủ tịch tiếp đại biểu Hội Thanh niên thế giới, có người Mỹ, người Anh, người ấn, người Đan Mạch, v.v. và đại biểu của các đoàn thể thanh niên Pháp, như Thanh niên Công giáo, Thanh niên Dân chủ, Thanh niên Cộng hoà, Thanh niên Hướng đạo, v.v..

Tất cả hơn 20 thanh niên, trai có, gái có. Họ ân cần hỏi: Thanh niên Việt Nam đoàn kết thế nào? Tranh đấu thế nào? Sinh hoạt thế nào? Giáo dục thế nào? Giúp công việc kiến thiết thế nào? Mấy phần trǎm thanh niên đã tổ chức? v.v..

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (VII)

Cụ chủ tịch tiếp các nhà báo, các nhà nhiếp ảnh và các nhà chiếu bóng –
những vị trọng yếu trong 3 chính đảng lớn nhất ở Pháp đến thǎm Hồ Chủ Tịch.

Ngày 25 tháng 6

6 giờ sáng, Cụ Chủ tịch và anh em tuỳ tùng đi thǎm mộ ông Khánh Ký.

Ông Khánh Ký là một người chụp ảnh có tiếng, trước có quen Cụ Phan Chu Trinh và nhiều nhà cách mạng Việt Nam ở Pháp. Tháng trước, ông Khánh Ký có gửi thơ tỏ ý muốn về nước và Cụ Chủ tịch cũng định giúp cho ông về. Chẳng may, trước mấy hôm phái bộ ta đến Pháp thì ông mất.

5 giờ chiều, Cụ Chủ tịch tiếp các nhà báo. Hơn 100 đại biểu các báo Pháp và báo ngoại quốc, nam có, nữ có, lại có nhiều nhà chụp ảnh và chiếu bóng. Có những người viết báo nổi tiếng như bà Tabouie Genevière, bà Simone Téry, ông Baillet, v.v..

Sau khi mời các nhà báo ǎn bánh và uống trà, Cụ Chủ tịch nói đại ý cảm ơn Chính phủ và nhân dân Pháp đã đón tiếp Cụ long trọng, thân mật; cảm ơn các báo tỏ tình thân thiện. Trước khi chưa chính thức gặp Chính phủ Pháp thì Cụ chưa tiện nói nhiều về chính trị. Chỉ có thể nói chung một câu là dân Việt Nam đòi thống nhất và độc lập.

Các nhà báo chuyện trò vui vẻ trong một tiếng đồng hồ.

Chiều 7 giờ, Cụ Chủ tịch tiếp các nhà lãnh tụ Đảng M.R.P (Đảng Cộng hoà bình dân, tức là Đảng của Thủ tướng Bidault): ông Francis Gay, Bộ trưởng, ông Michelet, Bộ trưởng, ông Schumann, Chủ tịch đảng và những uỷ viên Trung ương như: ông Collie, ông Gortès, ông Debay, ông Amaury, ông Terrenoire, ông Max André v.v..

Các báo đǎng tin rằng giấy bạc nước Hongrie mất giá đến nỗi người ta lấy giấy bạc 1000 làm đóm hút thuốc!

Vua Cao Mên là Sihanouk qua Pháp tháng trước, hôm nay từ giã Paris, trở về nước.

Ngày 26 tháng 6

7 giờ sáng, Cụ Chủ tịch đi thǎm anh em phái bộ ở lữ quán Sainte Anne và Louvre.

10 giờ, các đại biểu Liên đoàn ái hữu người Việt ở Marseille, Bordeaux, Toulouse và các tỉnh khác đến chào Hồ Chủ tịch và báo cáo tình hình của kiều bào ở Pháp.

5 giờ chiều, luật sư Bloncourt đến thǎm Cụ Chủ tịch. Ông Bloncourt là người da đen ở xứ Martinique. Tuy ông là dân Tây, có vợ Pháp, làm ǎn rất phát đạt, nhưng ông vẫn ra sức tranh đấu bênh vực cho các thuộc địa. Ông thường viết báo ủng hộ nước ta.

8 giờ, các vị lãnh tụ Xã hội Pháp đến thǎm Cụ Chủ tịch. Có bà Marty Capgras, Bộ trưởng Philip và Bộ trưởng Moutet, nghị viên Lussy, bác sĩ Boutbien, vǎn sĩ Rosenfeld, và những Trung ương uỷ viên Dechezelles, Roux, Stible, v.v.. Chuyện trò vui vẻ, 11 giờ khuya khách mới ra về.

Ngày 27 tháng 6

6 giờ sáng, đi dạo rừng Boulogne, quay về Trocadéro. Trocadéro xây đắp rất nguy nga. Một bên là Viện khảo cổ về loài người, một bên là Viện khảo cổ hải quân. Giữa là vườn rộng, có hồ nước. Đứng ở giữa sân trông thẳng ra thì thấy tháp sắt Eiffel và cả vùng chung quanh đó. Phong cảnh rất đẹp.

Trở về lữ quán, có mấy nhà báo đến xin chụp ảnh Hồ Chủ tịch.

1 giờ trưa, ông Sainteny mời Cụ Chủ tịch đến ǎn cơm ở nhà riêng ông ấy. Có 4-5 người Pháp chuyên môn về kinh tế ở nước ta, cũng đến ǎn cơm và nói chuyện. Họ đều tán thành hai bên Việt Pháp cộng tác một cách thật thà thì có ích cho cả đôi bên.

8 giờ chiều. Những vị trọng yếu trong Đảng cộng sản Pháp đại biểu cho 50 vạn đảng viên đến thǎm Hồ Chủ tịch.

Có các bà: Braun, Phó Chủ tịch Quốc hội, Jeannette, nghị viên, Vaillant Couturier, nghị viên, vợ chồng cụ Cachin.

Các ông: Thorez, Phó Chủ tịch Chính phủ Pháp, Duclos, Phó Chủ tịch Quốc hội, Marty, Trung ương uỷ viên, Mauvais, Trung ương uỷ viên, Billoux, Bộ trưởng Bộ Kiến thiết, Tillon, Bộ trưởng Bộ Quân khí.

Thế là trong mấy hôm nay, những người trọng yếu trong 3 đảng to nhất ở Pháp: Đảng Cộng hoà (M.R.P), Đảng Xã hội (S.F.I.O) và Đảng Cộng sản (P.C) đều có đến thǎm Hồ Chủ tịch.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (VI)

Đại tướng Juin đến chào Chủ tịch – các cháu gặp Bác –
Ông thượng sứ D’argenlieu, ông Moutet và Hội Pháp – Việt đến chào Chủ tịch.

Ngày 23 tháng 6

Tất cả các báo Pháp đều đǎng lên trương nhất về cuộc đón tiếp Cụ Chủ tịch.

6 giờ 30, Cụ Chủ tịch và mấy anh em đi dạo rừng Boulogne. Tuy gọi là rừng nhưng kỳ thực là cái vườn rộng thênh thang, có non bộ, ao nước, hoa cỏ xinh tươi, cây cối um tùm, lại có sân đánh vợt, hồ bơi thuyền. Có hàng cơm quán rượu. Đây là một thắng cảnh ở Paris, nổi tiếng khắp thế giới.

12 giờ, Đại tướng Juin đến chào Cụ Chủ tịch. Ông Juin là một danh tướng, hiện nay giữ chức Tham mưu trưởng trong quân đội Pháp. Hồi tháng tư vừa rồi, ông ở Trung Hoa về có ghé xuống Hà Nội thǎm Cụ Chủ tịch. Ông là người có tài lớn nhưng tính tình lại rất giản dị.

Buổi trưa, anh em phái đoàn và ba đại biểu lính chiến Việt Nam ở lại ǎn cơm. Kế đó, các anh em trí thức ta ở Pháp đến chào Cụ Chủ tịch. Phần nhiều anh em là thầy thuốc, kỹ sư, trạng sư và một vài người hoạ sĩ, ai cũng náo nức muốn về ngay để giúp Tổ quốc.

5 giờ chiều, có 50, 60 trẻ em giai gái, lớn thì 13, 14 tuổi, bé thì chưa đầy nǎm. Có em thì cha mẹ là người Việt, em thì bố ta mẹ tây. Lắm em không hiểu tiếng ta, nhưng em nào cũng biết hát “Tiến quân ca” và “Hồ Chí Minh”.

Nhân dịp Cụ Chủ tịch qua Pháp, các em đều mặc áo ta. Các chị phụ nữ cũng vậy. Nhiều chị em Pháp cũng mặc áo ta.

Cụ Hồ trao lá cờ của nhi đồng Việt Nam ở Hà Nội tặng nhi đồng Việt Nam ở Pháp, rồi Cụ mời các em ǎn bánh, uống nước trà. Các em hát múa, chơi đùa rất là vui vẻ. Lúc nào cũng xúm xít ríu rít bên Cụ, em thì đòi Cụ ẵm, em thì nắm lấy tay. Chẳng những các em không biết lạ mà em nào cũng tỏ vẻ như biết Cụ đã lâu, rất mến yêu và thân thiết.

Trước khi các em về, Cụ Hồ và các em có chụp ảnh kỷ niệm.

Hai hôm nay, nhiều nhà báo Pháp và ngoại quốc đến phỏng vấn, nhưng Cụ Chủ tịch đều từ tạ, và hứa rằng mai kia sẽ gặp chung tất cả các báo.

Hôm nay, Chính phủ Pháp thành lập, có 30 Bộ trưởng và Thứ trưởng. Đảng M.R.P 10 người, Đảng Cộng sản 10 người, Đảng Xã hội 7 người. Các đảng nhỏ có 3 người.

Ngày 24 tháng 6

Sáng sớm, Cụ Chủ tịch và anh em cũng đi dạo rừng Boulogne, chừng một tiếng đồng hồ.

8 giờ 30, hơn 100 anh em đại biểu kiều bào Nam Bộ đến chào cụ Chủ tịch. Sau khi nghe Cụ giải thích tình hình ở nước nhà, anh em đồng thanh hứa trung thành với Tổ quốc và ra sức ủng hộ chính phủ, để làm cho nước nhà độc lập và thống nhất. Nhiều anh em cảm động ứa nước mắt.

Buổi trưa, Bộ trưởng Moutet và nhiều người tai mắt trong chính phủ Pháp đến chào Cụ Chủ tịch. Tiếp đó, Thượng sứ D’Argenlieu cũng đến chào Cụ.

7 giờ chiều, Ban trị sự Hội Pháp – Việt đến chào mừng Hồ Chủ tịch. Trong đó có các ông: Justin Godart, Cựu Bộ trưởng, nhà kiến trúc sư danh tiếng, Francis Jourdain, giáo sư và nghị viên Rivet, giáo sư Baillet, Tướng Petit, ông hội trưởng Liên đoàn báo giới Pháp, trạng sư Nordman, vǎn sĩ Bloch, nhà lãnh tụ phụ nữ vận động bà Cotton v.v..

Ngày hôm nay rất nhiều kiều bào suốt ngày đến thǎm Cụ. Các nơi gửi thơ, đánh điện tín về cũng nhiều.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (V)

Đi thǎm suối nước nóng – từ biệt biarritz – chặng tiếp đón thứ nhất:
từ sân bay Bourget về khách sạn Royal monceau – các cháu bên Pháp gặp Bác.

Ngày 19 tháng 6

Đi thǎm xứ Dax. ở đây có suối nước nóng gần như nước sôi. Suối ấy mỗi ngày chảy gần triệu rưỡi lít, uống rất lành. Mùa rét có máy đem nước ấy vào nhà làm cho ấm. Người ta dùng bùn xứ Dax để chữa bệnh thấp. Có nhà tắm đặc biệt cho người có bệnh, họ lấy bùn phủ cả người hoặc nằm vào bùn nóng. Làm như thế ít lâu thì hết bệnh.

Đi thǎm Lourdes – Lourdes là một nơi phong cảnh rất đẹp. Có nhà thờ đạo nguy nga và có tiếng là thiêng. Hàng nǎm rất nhiều người đến cầu nguyện, nhất là cầu nguyện cho khỏi bệnh tật.

Ngày 20 tháng 6

Cụ Chủ tịch và mấy anh em tuỳ tùng đi câu cá thu với thuyền chài làng Handaye, gần Biarritz.

Thuyền ra cách bờ chừng 5 cây số thì bắt đầu câu. Cần câu dài như cây tre. Dây câu rất dài, mồi bằng vỏ bắp ngô, tước nhỏ như sợi tóc, cột vào lưỡi câu. Câu chừng 2 tiếng đồng hồ chẳng được gì. Đến khi gần trở về thì câu được 13 con, mỗi con cân nặng chừng 12 đến 15 cân tây.

Chiều nay, có ông Tillon, Bộ trưởng Bộ Quân giới và ba nghị viên Pháp đến Biarritz chào Chủ tịch. Mấy ông ǎn cơm chiều với Chủ tịch, rồi ngủ lại một đêm.

Ngày 21 tháng 6

Đi chơi quanh miền Biarritz. Trên bờ bể còn nhiều pháo đài do người Đức làm để đề phòng cuộc đổ bộ của các nước Đồng minh. Nhưng hiện nay đã bị phá huỷ hết.

Khắp vùng, đường sá thẳng thắn, rộng rãi, sạch sẽ, hai bên có giồng cây rất đẹp và mát mẻ. Tự vùng này trở lên phía Bắc có rất nhiều rừng thông. Những rừng thông giồng đã 150 nǎm nay, mục đích để che gió bể và ngǎn cát khỏi bay lấp ruộng nương. Đồng thời gỗ thông và nhựa thông bán được nhiều tiền. ở các rừng thông, người ta dùng lửa, củi phải rất cẩn thận, vì cây thông dễ cháy, và nếu không may mà cháy thì lửa chóng lan rộng ra ngay.

Ngày 22 tháng 6

Cụ Chủ tịch lên Paris.

12 giờ ở lữ quán ra đi. Các quan chức sở tại, đội cảnh sát và công an tề tựu tiễn Cụ. Trên sây trường bay có bộ đội bồng súng chào. Cụ Chủ tịch bắt tay mọi người và nói mấy câu cảm ơn, hết thảy đều tỏ tình quyến luyến.

Đúng 1 giờ trưa, máy bay cất cánh. Trên máy bay có cắm cờ Việt Nam, cờ Pháp. Trông xuống thấy phố xá, làng mạc, ruộng nương xanh, đỏ, man mác và phì nhiêu. Miền này không bị chiến tranh tàn phá mấy.

Gần đến Paris, máy bay liệng quanh một vòng ngắm thành phố Paris, và ngoại ô, to và rộng. Những cái dễ nhận nhất và thấy trước hết là tháp sắt Eiffel, lǎng vua Nã Phá Luân có nóc tròn và sơn bằng vàng, nhà thờ đạo “Sacré Coeur” trên gò Montmartre, Cửa Khải hoàn (Arc de Triomphe) có mười hai đường phố chầu lại, nhà thờ “Notre Dame” và nhiều ống khói của các nhà máy cao ngất, có cái đương nghi ngút toả khói.

Đúng 4 giờ 15, máy bay đỗ xuống trường bay Le Bourget. Khi tàu liệng thấp đã ngó thấy người đông như kiến trên sân.

Tàu vừa tắt máy đã thấy Bộ trưởng Bộ Hải ngoại, Bộ trưởng Bộ Nghi lễ đại biểu cho Chính phủ Pháp, các tướng, các đô đốc, đại biểu cho hải, lục, không quân ra đón Chủ tịch vào nhà ga. Từ trong nhà ga rải một đường thảm nhung đỏ dài ra đến chỗ lên xe ô tô. Khắp xung quanh và trong nhà ga, treo nhiều cờ Việt Nam và Pháp. Trên một đỉnh cột cao nhất trước ga, phấp phới một lá cờ đỏ sao vàng lớn. Ngoài thềm ga, có đại biểu các đảng, các đoàn thể Pháp và đại biểu kiều bào xúm lại hoan nghênh và hoan hô Chủ tịch. Một đại biểu phụ nữ Pháp tặng Cụ bó hoa và thân thiết hôn Cụ. Đại biểu kiều bào cũng tặng hoa.

Đội quân danh dự cử bài quốc ca Việt và Pháp. Cụ Chủ tịch và đại biểu Chính phủ Pháp đứng chào cờ, rồi đi duyệt binh. Hàng nghìn kiều bào, trí thức, lao động, binh lính, phụ nữ, nhi đồng, đủ mặt các giới hoan hô, mừng rỡ, tưng bừng rộn rã. Hàng trǎm người chụp ảnh và quay phim xúm xít chụp trước, quay sau.

Trước khi lên xe, đại biểu Hãng thông tấn Pháp đem máy truyền thanh lại xin Cụ nói mấy câu. Đại ý Cụ nói: Cảm ơn Chính phủ và dân chúng Pháp tiếp đãi một cách long trọng, mong sau này hai dân tộc Pháp và Việt cộng tác một cách bình đẳng, thật thà, và thân thiện.

Nói xong, Cụ Chủ tịch cùng đại biểu Pháp và ông trưởng đoàn phái bộ ta lên xe vào Paris. Trước sau, nhiều xe ô tô và mô tô của Công an cục Paris và Bộ Nội vụ đi hộ vệ và dẫn đường. Hai bên đường từ trường bay về lữ quán, cách mấy chục thước lại có một người cảnh binh đứng canh, cấm xe cộ và người không được đi lại. Dân chúng Paris đứng hai bên đường rất đông, nhiều chỗ xe Chủ tịch qua họ vỗ tay và hoan hô, tỏ tình hoan nghênh và thân thiện.

Ở lữ quán cũng có một bộ đội danh dự đứng chào và canh gác. Trên cửa lữ quán tung bay một lá cờ đỏ sao vàng rất lớn.

“Royal Monceau” là một lữ quán sang trọng ở Paris. Đã có sự sắp sửa trước phòng khách, phòng ǎn, phòng giấy, buồng ngủ, buồng tắm cho Cụ Chủ tịch và anh em tuỳ tùng. Chính phủ Pháp để 3 cái xe ô tô để Cụ dùng và mỗi khi đi đâu cũng có người theo hộ vệ.

Cuộc đón tiếp chính thức đến đây là một đoạn.

cpv.org.vn