Tag Archive | Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 tháng 9

Mục đích Cách mạng Tháng Tám là gì?

Là giành lại hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ cho Tổ quốc ta, cho nhân dân ta.

Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2 tháng 9 nước ta tuyên bố độc lập. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Tổng tuyển cử tự do được tổ chức, nhân dân toàn quốc ta đã bầu ra Quốc hội. Quốc hội thông qua Hiến pháp và bầu ra Chính phủ Trung ương. Chính quyền địa phương từ xã đến tỉnh đều do nhân dân cử ra. Thế là lúc đó chúng ta đã bắt đầu thực hiện thống nhất, độc lập và dân chủ.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 7, tr.337.

Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân điển hình ở một nước thuộc địa nửa phong kiến do giai cấp công nhân lãnh đạo. Thắng lợi ấy đã đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội. Đó là thắng lợi của đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, dân chủ của giai cấp công nhân, kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến. Đó là thắng lợi của đường lối đoàn kết toàn dân, sử dụng bạo lực cách mạng để lật đổ ách thống trị của đế quốc và phong kiến. Đó là sự tài tình, sáng tạo của Đảng trong việc tạo thời cơ, nắm vững thời cơ, khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Sách đã dẫn (Sđd), tập 6, tr.629.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công. Đó là thắng lợi đầu tiên của Chủ nghĩa Mác-Lênin ở một nước thuộc địa nửa phong kiến. Cách mạng đã đập tan xiềng xích của thực dân Pháp và phát xít Nhật, lật nhào chế độ quân chủ phong kiến thối nát trên đất nước ta, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á.

Sđd, tập 4, tr.544

Cách mạng Tháng Tám đã thành công vì có được ba điều kiện không thể thiếu được đối với bất cứ một cuộc cách mạng phản đế nào ở một nước thuộc địa; đó là sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, sự thành lập một mặt trận dân tộc phản đế rộng rãi, khởi nghĩa vũ trang.

Sđd, tập 8, tr.53.

Cách mạng Tháng Tám đã giải phóng đồng bào ta ra khỏi chế độ quân chủ chuyên chế và xiềng xích thực dân.

Cách mạng Tháng Tám đã xây dựng cho nhân dân ta cái nền tảng Dân chủ Cộng hòa và thống nhất độc lập.

Sđd, tập 5, tr.187.

Cách mạng Tháng Tám đã lật đổ nền quân chủ mấy mươi thế kỷ, đã đánh tan xiềng xích thực dân gần 100 năm, đã đưa chính quyền lại cho nhân dân, đã xây nền tảng cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc.

Đó là một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử của nước ta.

Cách mạng Tháng Tám thắng lợi đã làm cho chúng ta trở nên một bộ phận trong đại gia đình dân chủ thế giới.

Sđd, tập 6, tr.160

Theo www.xaydungdang.org.vn
Thu Hiền (st)

Libǎng 12-1943 (1)

Libǎng là gì? Chắc là nhiều độc giả chưa từng nghe nói đến tên xứ này. ấy là một nước nhỏ ở Cận Đông, gần đây đã làm cho thế giới phải chú ý.

Libǎng ở cạnh xứ Xyri, đất rộng 38 vạn dặm vuông (dặm Anh), dân số 70 vạn người, kinh đô là Bâyrút, ngày trước thuộc Thổ Nhĩ Kỳ, đến nǎm 1861 thì thoát ly nước Thổ mà độc lập, song lại bị đế quốc Pháp bao biện.

Sau Thế giới đại chiến lần thứ nhất, Libǎng đòi hoàn toàn độc lập, nhưng không được. Tháng 7-1922, Hội Quốc liên uỷ nhiệm xứ ấy cho nước Pháp. Trong lời uỷ nhiệm có định rằng: “trong hạn 3 nǎm, Pháp phải lập nên Hiến pháp cho Libǎng và Xyri, và phải làm cho hai nước ấy thành nước độc lập”.

Hiến pháp thì có Hiến pháp Libǎng được Pháp quẳng cho tấm áo Cộng hoà có Tổng thống, có Nội các, có Nghị viện.

Nhưng Hiến pháp lại do người Pháp định ra và chung quy chỉ lợi cho nước Pháp, dân tộc Libǎng chỉ có tiếng mà không có miếng. Bởi vậy, dân Libǎng lấy làm cǎm giận, nên đến nǎm 1925 nổi cách mệnh chống với Pháp. Đế quốc Pháp đối phó với cách mệnh Libǎng cũng như chúng đã từng đối phó với cách mệnh Việt Nam và cách mệnh ở các thuộc địa khác của chúng. Nghĩa là chúng dùng uy lực tàn sát mà đàn áp và đốt phá mấy thành thị để thị uy. Trong cuộc tranh đấu ấy, dưới sự tàn bạo của giặc Pháp, 6000 cách mệnh chiến sĩ Libǎng chìm thây trong bể máu. Song cuộc đại khủng bố của giặc Pháp chẳng những không làm cho dân Libǎng kinh sợ, mà trái lại bể máu đào ấy chẳng bao lâu lại nổi lên một trận sóng to gió lớn khác khiến cho đế quốc Pháp phải hoảng sợ, ấy là: nǎm 1931, dân Lêbanôn lại vùng dậy gây thành phong trào bãi khoá, bãi thị, bãi công, chống thuế, v.v.. Công cuộc vận động tiến hành tràn lan khắp nơi.

Nǎm 1936, công cuộc cách mệnh đại vận động lại dấy nổi làm cho đế quốc Pháp phải nhượng bộ và theo lời hứa của Pháp: sau 3 nǎm sẽ để cho Libǎng được độc lập hẳn. Nhưng vì cuộc Thế giới đại chiến lần thứ hai bùng nổ, nên cuộc độc lập của Libǎng chưa được thực hiện. Cho tới nǎm 1940, Pháp bị mất nước. Cách đó ít lâu, Anh mang quân đánh Xyri, Pháp bị thua. Nhưng Anh lại giao Xyri và Libǎng cho bọn Đờ Gôn giữ.

Nǎm 1941, Anh Pháp dân tộc giải phóng uỷ viên hội (bọn Đờ Gôn) lại hứa cho Libǎng độc lập. Nhưng trong thời kỳ chiến tranh, bọn Đờ Gôn vẫn được quyền đại lý Libǎng.

Đầu tháng 11-1943, nghị viện Lêbanôn sửa chữa lại Hiến pháp. Uỷ viên của phái Đờ Gôn ở Libǎng bảo rằng Hiến pháp mới không lợi cho đế quốc Pháp, nên bắt giam Tổng thống, Tổng lý và 49 nghị viên Libǎng. Dân chúng tiếp tin ấy, rất mực công phẫn, lập tức nổi lên can thiệp. Người Pháp phái cảnh sát ra dẹp, nhưng cảnh sát cũng đồng tình với dân chúng cự tuyệt không chịu tuân theo mệnh lệnh, nên người Pháp lại phái lính Xênêgan (lính châu Phi) đàn áp. Việc ấy phát sinh từ ngày 10-11-1943, đến nay cũng chưa giải quyết xong. Xem việc ấy thì chúng ta đủ biết nhận thấy:

1) Bất kỳ bọn Pêtanh hay bọn Đờ Gôn cũng vẫn mang tâm lang sói, khư khư trong cái khuôn khổ đế quốc chủ nghĩa, đều là kẻ thù chung của những dân tộc các xứ thuộc địa hay bảo hộ mà trước đây, tại những nơi đó mà chúng đã hoành hành bao thủ đoạn tàn bạo bóc lột, dẫu rằng hiện tại chính thân thể chúng cũng đương bị quằn quại ở chỗ trong cảnh nước mất nhà tan. Và trước đây ít lâu, bọn Đờ Gôn há chẳng từng phải đem những câu “Dân tộc giải phóng” trưng bày với thế giới để cầu mong các cường quốc giúp đỡ, thế mà đối với các dân tộc khác vận động sự giải phóng độc lập thì chúng lại giở tay đàn áp đến cùng. Đấy là một lẽ mà chúng ta cần phải nhận biết.

2) Libǎng tuy là một nước rất nhỏ, dân số Việt Nam ta 20 phần thì đem so với dân số của họ thật không bằng một phần của ta. Thế mà dân tộc Libǎng, trong khoảng 18 nǎm trời (1925-1943) gây nên biết bao cuộc đấu tranh oanh liệt, sự thất bại trong nhất thời đã không làm nản lòng chiến sĩ, thì sự tiếp tục phi thường đáng kính ấy là một lẽ tất nhiên phải có, dân tộc đó anh dũng lại thêm tinh thần đoàn kết cả nước một lòng thì ai là chẳng kính phục? mà loài lang sói vì thế cũng phải trùng gan ngại bước.

Việt Nam hiện đang chuẩn bị đánh Nhật, đuổi Pháp để giành lấy sự độc lập tự do, vậy nên vô luận gần hay xa và bất cứ dân tộc nào nổi lên chống với đế quốc xâm lược đều là bạn thân của dân tộc Việt Nam ta vậy. Cho nên chúng ta rất đồng tình và mong cho công cuộc cách mạng của dân tộc Libǎng được thắng lợi. Tuy xa cách nhau mấy nghìn dặm, chúng ta đồng thanh cùng với anh, với chị em Libǎng hô to khẩu hiệu:

Đánh đổ bọn đế quốc xâm lược!
Libǎng cách mạng thành công muôn nǎm!
Các dân tộc bị áp bức được hoàn toàn giải phóng!

Hồ Chí Minh

Báo Đồng Minh,
số 18, tháng 12-1943.
cpv.org.vn

———————————-

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.

Chào xuân

Nǎm cũ lịch cũ vừa qua,
Nǎm mới lịch mới lại tới!

Sau mùa đông lạnh lẽo, muôn vật tiêu điều. Và tạo hoá lại cho mùa Xuân mang đến cho thế gian những vẻ tốt tươi ấm áp, muôn hoa tươi thắm, ngàn lá đua xanh. Loài động vật cũng nhờ Xuân mà khôi phục lại sinh khí. Vậy nên gọi là Xuân sinh.

Loài người lợi dụng cái luật tự nhiên của tạo hoá, chẳng những hưởng thụ cái hạnh phúc khoái lạc của mùa Xuân, và lại nhận cái không khí phồn vinh của ngày Xuân để sắp đặt cái kế hoạch hoạt động và sống còn cho cả nǎm, nên tục ngữ có câu “Nhất niên chi kế thuỷ ư Xuân”.

Cũng vì thế cho nên nǎm mới thì người ta có những cuộc vui vẻ, sung sướng cho xứng đáng với Xuân và để mừng Xuân. Chẳng những là kẻ giàu sang tiếp Xuân với sự hồ hởi, mà người nghèo khó thấy Xuân cũng vui mừng.

“Mồng một đốt toang ba chiếc pháo
Ba mươi kéo tuốt một con nêu”

Chỉ có ba chiếc pháo mà vẫn inh ỏi cười Xuân như ai! Xuân chẳng những là ôn hoà tươi đẹp, mà lại chí công vô tư. Đã không riêng cho một hạng người nào, cũng không riêng cho một nơi nào. Cho nên có câu ca dao:

“Xuân ơi, Xuân hỡi, hỡi Xuân,
Từ xa tới gần, Xuân khắp mọi nơi”.

*

*      *

Song luật xã hội không theo vòng tròn của luật tự nhiên. Từ xưa đến nay, nơi nào cũng có Xuân. Từ xưa đến nay cây nào cũng tươi tốt. Nhưng cách thức loài người đón rước Xuân này và đón rước mùa Xuân trước, khác nhau nhiều lắm.

Ngày nay, những tiếng pháo lốp đốp chào Xuân đã bị những tiếng đùng đùng của ngư lôi ngoài bể và đại bác trên bờ át mất. Cái sắc đỏ của hoa đào, màu điều của câu đối Xuân, tựa hồ đã nhuộm bằng giọt máu hồng của những chiến sĩ ở các sa trường khắp thế giới! Khi ai hưởng bánh chưng, rượu ngọt, củ kiệu, thịt đông, sao cho khỏi nhớ đến chiến sĩ ǎn tuyết, uống sương trên mặt trận!

Trong tự nhiên thì Xuân này không khác gì các Xuân trước. Nhưng trong xã hội thì Xuân này là một chiếc tranh Xuân, một Xuân trọng yếu, chẳng những nó giúp giùm sinh kế của loài người trong một nǎm mà nó sẽ quyết định mệnh vận của loài người trong bao nhiêu thời đại.

Vậy muốn biết Xuân này sẽ có ảnh hưởng thế nào, thì chúng ta phải kiểm thảo lại những cuộc chuyển biến trong thế giới từ Xuân trước.

*

*      *

Đến Xuân này:

Trung Nhật chiến tranh đã 6 nǎm rưỡi
Thế giới đại chiến 4 nǎm
Nga Đức chiến tranh đã 2 nǎm rưỡi
Thái Bình Dương chiến tranh 2 nǎm

Muốn biết từ Xuân này, chiến tranh sẽ thế nào thì chúng ta phải xét lại từ Xuân nǎm ngoái đến giờ, chiến tranh đã đến bước nào rồi.

Từ Xuân nǎm ngoái, quân các nước Đồng minh đã đứng vào chủ động. Quân các nước Trục – Tâm đứng về bị động. Minh quân bước qua thế công. Trục quân lui lại thế thủ. Chiến lược chớp nhoáng của Trục hoàn toàn thất bại. Chiến lược (trì cửu) của Đồng minh hoàn toàn thắng lợi.

Mặt trận Đức – Nga

Xuân trước, trong độ này, 38 vạn tinh binh của Đức đánh vào thành Xtalingrát. Nhưng kết quả bị một trận thất bại rất to. Trong lúc quân Nga giải vây thành Xtalingrát bắt được nǎm ngàn tướng lãnh và hơn 9 vạn lính Đức. Trận ấy là trận thắng lợi to nhất và đầu tiên của quân Đồng minh. Từ đó trở đi, quân Trục cứ thất bại mãi, mà quân Đồng minh, nhất là quân Nga thì lại thắng lợi luôn và lấy lại được nhiều thành trì trọng yếu như:

Tháng 2 lấy lại Gorsk, Rostof, Kharkof
Tháng 3 lấy lại Yoff, Virsma
Tháng 7 lấy lại Orel
Tháng 8 lấy lại Belarus
Tháng 9 lấy lại Staline, Chianof Smolensk
Tháng 10 lấy lại Maiopol và các thành khác
Tháng 11 lấy lại Kieb 1
Tháng 12 lấy lại biên thuỳ Balan – Nga

Trong lời diễn thuyết kỷ niệm Cách mệnh Nga, ngày 6-11 dương lịch, Đại nguyên soái Xtalin nói rằng: “Kết quả trong 7 tháng vừa qua, quân đội ta tiến được nơi thì 500 cây số, nơi thì 1500 cây số. Đã giải phóng hơn một triệu cây số vuông đất nước của ta, tức là hai phần ba đất đai tạm thời bị Đức chiếm cứ… Trong một nǎm nay, trên mặt trận Nga, quân phát xít Đức đã tổn thất hơn 4 triệu người, trong số đó, một triệu tư người chết tại mặt trận. Phát xít Đức mất trên 14.000 chiếc tàu bay, hơn 35.000 chiếc xe tǎng, hơn 40.000 khẩu đại pháo…”.

Trong lúc viết bài chào Xuân này, quân Nga đuổi quân Đức chẳng những ra khỏi đất Nga, mà lại vào sâu gần 60 cây số trong nước Ba Lan.

*

*      *

ở Địa Trung Hải, từ Xuân trước đến Xuân này, Minh quân cũng thắng lợi luôn, mà bên Trục cũng thất bại mãi.

Ngày 3-1-1943, đệ 8 quân (1) Anh khởi phản công từ Ai Cập, đệ 19 quân (2) Anh và viễn chinh quân Mỹ đổ bộ tại Marốc và Angiêri. Quân Trục phải bỏ Libi (thuộc địa của ý) mà rút cả ở Tuynidi. Đến trung tuần tháng 5 thì quân Đức và ý hoàn toàn bị đánh tan.

Trong trận đó, bao nhiêu thuộc địa của ý đều mất sạch. Quân Trục tổn thất hơn 95 vạn người. Trong số đó, 37 vạn lính ý, 15 vạn lính Đức, 17 đại tướng và 2 nguyên soái bị cầm tù.

Về khí giới thì quân Trục mất:

Tàu bay, hơn 8000 chiếc
Đại pháo 8100 khẩu
Xe tǎng 2250 cái
Tàu thuỷ 210 vạn tấn

Qua tháng 6, quân Anh, Mỹ đánh vào đảo Xixin của ý. Ngày 17-3 thì đảo ấy đầu hàng.

Trong một thời gian không đầy hai tháng, mà quân Đức và quân ý mất hơn 17 vạn người chết, bị thương và bị cầm tù.

Chiếm được cǎn cứ địa ấy rồi, qua ngày 3-9, Minh quân đổ bộ tại phía nam ý. Cách 5 ngày sau thì nước ý xin hàng. Trừ một bộ phận nhỏ bị Đức ép bắt theo nó, bộ phận lớn quân đội ý với hết thảy hải quân của ý, hơn 100 chiếc tàu binh lớn, bé đều theo Minh quân cả.

Thế là về mặt trận này, Minh quân cũng đại thắng. Mútxôlini phải chạy trốn.

*

*      *

Tại Thái Bình Dương. Tuy Minh quân không có những cuộc đại thắng lợi như các mặt trận kia, nhưng cũng giành được địa vị chủ động, bước qua thế công và khá tiến bộ.

Tại Bắc Thái Bình Dương, từ hôm 12-2-1943, Mỹ bắt đầu phản công, đến cuối tháng 5-1943 lấy lại đảo Marian.

Tại Nam Thái Bình Dương, từ tháng 7 đến tháng 10, Minh quân lấy lại được 6 nơi cǎn cứ tại bán đảo và một nơi cǎn cứ địa tại quần đảo Sokman.

Trong 2 nǎm, tại mặt trận Nam, Nhật mất 1300 tàu bay và 1500 chiếc tàu thuỷ lớn và bé.

Tại Trung Quốc, mùa Xuân trước đến mùa Xuân này, không có đại chiến tranh. Trong tháng 11, 12, tại miền Bắc tỉnh Hồ Nam, nhất là tại Thường Đức đã làm cho giặc Nhật một mẻ mất hồn.

*

*      *

Đoán trước để xét sau, xem sự chuyển biến nói trên, thì chúng ta có thể nói rằng: Xuân này sẽ là một Xuân thắng lợi cho mặt trận phản xâm lược.

Xuân là Xuân chung, vậy chúng ta phải gắng sức công tác thế nào cho Đồng minh hội chúng ta cũng có phần thắng lợi chung của Đồng minh lớn kia.

Vậy xin kết luận vài lời nôm na rằng:

Rót cốc rượu Xuân, mừng cách mạng.
Viết bài chào Tết, chúc thành công!

Hồ Chí Minh

Báo Đồng Minh,
số Xuân Giáp Thân.
cpv.org.vn

———————————–

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.

Trả lời cho bọn De Gaulle (1)

Gần đây, Pháp quốc giải phóng ủy hội ở Alger, tuyên bố rằng sau cuộc chiến tranh này, nước Pháp sẽ sẵn lòng ban cho dân Việt Nam vài sự cải thiện.

Thưa Ngài, Tổ quốc của Ngài là đại Pháp, đã đầu hàng Hitler một cách rất vẻ vang, hơn 500 tướng và hai triệu lính của quý quốc đương bị Đức cầm tù một cách rất oanh liệt, ba phần tư non sông quý quốc đương bị người chiếm lĩnh. Bốn mươi triệu đồng bào của Ngài đương trong kiếp ngựa, trâu, nhân dân quý quốc hiện nay bánh không có ǎn, áo không đủ mặc, phải quyên áo cũ của nhân dân Việt Nam, một triệu thanh niên nam nữ nước Ngài phải qua làm cu ly bên Đức. Xin Ngài lo cứu nước và dân tộc của Ngài đã, rồi sẽ nói đến việc khác; còn Việt Nam chúng tôi, 40 nǎm nay nhờ “công đức” quý quốc đã nhiều rồi. Lần này, chúng tôi quyết dùng súng, đạn, gươm, dao để đạp đổ ơn huệ ấy và giành lại độc lập tự do cho Việt Nam. Chúng tôi xin Ngài chớ lo! Và chúc Ngài hai chữ Thất Bại!.

Hồ Chí Minh

Báo Đồng Minh,
số Xuân Giáp Thân.
cpv.org.vn

—————————–

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.

Báo cáo của Phân hội Việt Nam thuộc Hội quốc tế chống xâm lược 3-1944

Do Hồ Chí Minh đọc tại Đại hội các đoàn thể cách mạng Việt Nam ở nước ngoài họp tại Liễu Châu (Quảng Tây – Trung Quốc) tháng 3-1944.

————————

I- NGUYÊN NHÂN TỔ CHỨC

Trong lịch sử 80 nǎm mất nước đau khổ và đen tối, chúng ta đã không ngừng làm rạng rỡ ngọn cờ nghĩa cứu nước vẻ vang.

Từ sau nǎm 1862, khi vua Tự Đức ký hiệp ước bán nước, cắt nhượng ba tỉnh Sài Gòn, Biên Hoà, Mỹ Tho cho giặc Pháp, các bậc nghĩa sĩ giàu lòng yêu nước thương dân đã từ bỏ cả cơ nghiệp của cải, dắt díu vợ con chạy ra Trung Kỳ, thà cam chịu sống cuộc đời gian truân, vất vả của kẻ hái củi, chài lưới, chứ thề không đội trời chung với giặc Pháp.

Trong bốn mươi nǎm, từ 1870 đến 1910, dưới sự lãnh đạo của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám và các bậc anh hùng hào kiệt khác, đồng bào chúng ta đã anh dũng trường kỳ chống lại quân giặc, làm cho kẻ thù ǎn không ngon ngủ không yên. Suốt bốn mươi nǎm đó, các cuộc nổi dậy đã liên tiếp nổ ra:

1905: Nông dân Trung Kỳ khởi nghĩa.

1910: Binh lính Việt Nam khởi nghĩa tại Hà Nội.

1915: Nhân dân Phú Thọ mưu khởi nghĩa.

1916: Tháng 6 vua Duy Tân mưu khởi nghĩa!

Tháng 8 cùng nǎm, đồng bào thiểu số Ba Xa bạo động.

1918: Bình Liêu mưu khởi nghĩa.

1919: Quảng Nam mưu khởi nghĩa.

1923: Liệt sĩ Phạm Hồng Thái ném bom mưu sát toàn
quyền Méclanh.

1930: Khởi nghĩa Yên Bái.

1930-1931: Nghệ An khởi nghĩa.

Cuối nǎm 1940: Bắc Kỳ và Nam Kỳ khởi nghĩa.

1941: Đô Lương (Trung Kỳ) khởi nghĩa.

Những sự tích vừa oanh liệt lại vừa bi tráng nêu trên, một mặt cho chúng ta thấy rằng: đất nước Việt Nam tuy bị giày xéo dưới gót sắt đẫm máu của dị tộc, nhưng tinh thần dân tộc của người Việt Nam vĩnh viễn không vì thế mà bị tiêu diệt, mặt khác cũng dạy chúng ta rằng: Không có một sức mạnh thống nhất của cả nước, không có sự giúp đỡ mạnh mẽ của bên ngoài, công cuộc vận động giải phóng khó mà thành công được, nhất là hiện nay, chúng ta đang đứng trước hai tên cướp xâm lược hung ác nhất của phương Đông và phương Tây, chúng ta lại càng cần toàn dân nhất trí, càng cần sự giúp đỡ của bên ngoài.

Muốn đoàn kết toàn dân, cần phải có một đoàn thể rộng lớn, rất độ lượng thì mới có thể thu hút được mọi đoàn thể và cá nhân có lòng thiết tha yêu nước, không phân biệt tuổi tác, gái trai, tôn giáo, nghề nghiệp, giai cấp, đảng phái. Mục đích của đoàn thể ấy phải thiết thực tiêu biểu cho những yêu cầu và nguyện vọng của nhân dân cả nước: Đoàn kết toàn dân, tranh thủ ngoại viện, đánh đuổi kẻ thù, khôi phục Tổ quốc. Thái độ của đoàn thể ấy phải cao cả, ngay thẳng, mới có thể không thiên lệch, không dựa trên định kiến của một đảng phái, mới có thể được sự tin tưởng và ủng hộ của các tổ chức, các đảng phái và của toàn dân.

Phân hội Việt Nam chính là một đoàn thể ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu đó của thời đại. Phương pháp tranh thủ ngoại viện của đoàn thể này là:

– Bước thứ nhất: liên lạc với các đoàn thể anh em các nước như Phân hội Trung Quốc, Phân hội Mỹ, v.v..

– Bước thứ hai: nhờ các đoàn thể anh em giới thiệu với Chính phủ các nước.

– Bước thứ ba: với thái độ chân thành và cởi mở, yêu cầu các Chính phủ, trước hết là Chính phủ Trung Quốc giúp đỡ.

Cho đến nay, về mặt đoàn kết trong nước đã có được những thành tích đáng kể, nhưng về mặt tranh thủ sự giúp đỡ của bên ngoài thì chưa có gì.

Về phần mình – Phân hội Việt Nam trong Hội quốc tế chống xâm lược – cũng không sao tránh khỏi những điều nọ tiếng kia của một số người, chúng tôi thấy chưa cần phải thanh minh. Giờ đây, hãy cứ mặc cho gió Xuân thổi đi, trong tương lai sẽ để sự thật chứng minh là đủ.

II- HỆ THỐNG TỔ CHỨC

Tổ chức của Phân hội Việt Nam có hai loại hội viên:

– Một là hội viên cá nhân: có rất nhiều người từ trước đến nay chưa tham gia một đoàn thể nào, nay muốn tham gia công việc cứu nước. Phân hội Việt Nam sẽ tuỳ theo hoàn cảnh của họ, tập hợp những người cùng một nghề nghiệp thành một tiểu tổ và sẽ cử người phụ trách đặc biệt liên hệ với họ.

– Hai là hội viên đoàn thể: đó là những đoàn thể mà các hội viên tán thành gia nhập Phân hội.

Việc hợp nhất nhiều đảng phái khác nhau và các tổ chức không đảng phái (như hợp tác xã, v.v.) xem chừng như rất phức tạp, rất mâu thuẫn, khó tránh khỏi va chạm và xung đột, nhưng trên thực tế thì rất đơn giản, vì rằng:

1- Mọi người đều cùng chung một mục đích là cứu nước.

2- Mọi người đều có những công tác thiết thực và phải làm tròn.

3- Mọi người đều hiểu rằng còn thì cùng còn, mất thì cùng mất.

4- Người phụ trách giải quyết công việc đúng đắn.

Phân hội Việt Nam chỉ yêu cầu các hội viên của mình tuân thủ mấy điều dưới đây:

1- Trong Hội không được bàn chuyện đảng phái; ngoài hội thì hoàn toàn tự do.

2- Có vấn đề gì, mọi người cần thẳng thắn, công khai thảo luận; có công việc gì, mọi người đều đồng tâm hiệp lực cùng làm.

3- Thường ngày, mọi người không được công kích lẫn nhau; gặp khi nguy hiểm, mọi người phải ra tay giúp đỡ.

Kết quả là: giữa các đảng phái không còn tình trạng tranh chấp hơn thua, sự chân thành đoàn kết không phải chỉ ở đầu lưỡi mà trở thành sự thật.

Hệ thống tổ chức: Toàn quốc chia thành kỳ, mỗi kỳ chia thành tỉnh, huyện, tổng, xã, thôn. Nơi nào đông hội viên thì lấy thôn làm đơn vị. Nơi nào ít hội viên thì lấy tổng hoặc xã làm đơn vị.

III- CÁCH LÃNH ĐẠO

Cho đến khi tôi rời nước, tình hình vẫn thế này: Cả nước chỉ có mấy người, đủ cả Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ, họ là những sáng lập viên, đồng thời cũng là uỷ viên trong Ban Chấp hành toàn quốc. Về tư cách mà nói, mỗi người một tư cách khác nhau: Một số là những người tài giỏi; một số là những bậc lão thành, có danh vọng được nhân dân tín nhiệm. Tuy vậy, họ giống nhau ở chỗ đều là những nhân sĩ thiết tha yêu nước, liêm khiết, trung thực, công tâm. (Cho nên tôi rất tin tưởng rằng, nếu có tổng tuyển cử, dân chúng nhất định sẽ bầu họ). Họ phân công, hợp tác, mỗi người gánh vác một phần trách nhiệm, không có chủ tịch. Dĩ nhiên là họ không có lương, mà ngược lại khi có tiền, họ còn phải bỏ tiền túi của mình ra cho đoàn thể dùng. Vì hoàn cảnh khó khǎn, họ rất ít khi họp hội nghị toàn thể, trừ những trường hợp vạn bất đắc dĩ. Khi có việc, những người phụ trách kỳ bộ nào đó bàn bạc cách thức tiến hành, rồi đưa trưng cầu ý kiến những người phụ trách hai kỳ bộ kia, sau khi mọi người tán thành thì phân công nhau mà làm. Ví dụ, muốn ra một bản tuyên ngôn, các người phụ trách Bắc Kỳ dự thảo, rồi gửi dự thảo cho những người phụ trách ở Nam Kỳ, Trung Kỳ. Sau khi mọi người đồng ý, mỗi Kỳ chịu trách nhiệm in lấy Tuyên ngôn mà phân phát trong phạm vi Kỳ của mình. Lúc gặp việc khẩn cấp, chẳng hạn như địch tiến hành khủng bố ở Nam Kỳ thì Kỳ bộ Nam Kỳ một mặt phát động cuộc “vận động chống khủng bố”, mặt khác báo cho hai Kỳ để hưởng ứng ngay.

Mọi hành động, các địa phương phải tuân thủ những nguyên tắc và thời hạn do Trung ương quy định, còn cách thức thực hiện, họ có thể tuỳ cơ ứng biến. Mọi công tác phải có kế hoạch trước khi đưa ra làm, làm xong phải tổ chức kiểm điểm. Tất cả những kinh nghiệm thành công cũng như thất bại đều đǎng trên báo bí mật để mọi người nghiên cứu.

IV- CÁCH TUYÊN TRUYỀN

Có tuyên truyền bằng miệng, tuyên truyền bằng vǎn tự và tuyên truyền bằng hành động.

1- Tuyên truyền bằng miệng có hai loại: Nói chuyện với từng người và nói chuyện tập thể. Loại trước thì mỗi hội viên đều phải làm, như giải thích cho bạn bè thân thích hiểu tại sao phải đánh đuổi quân thù, phải cứu nước; có khôi phục được Tổ quốc thì mới không phải nộp thuế, khỏi bị bắt đi làm phu và mọi người mới có cơm ǎn, áo mặc, v.v.. Loại sau thì khi hội viên khai hội, cán bộ giải thích các vấn đề để nâng cao sự hiểu biết cho họ, nói cho họ biết cách tuyên truyền. Khi bà con cấy cày, gặt hái hoặc làm những công việc có đông người, cán bộ địa phương hoặc những hội viên có khả nǎng ǎn nói đến làm giúp họ, nhân dịp đó mà tuyên truyền thì sẽ có tác dụng nhanh chóng và to lớn.

2- Tuyên truyền bằng vǎn tự có ba loại: Truyền đơn, báo chí bí mật và biểu ngữ. Làm báo bí mật là công việc rất khó khǎn vì không dễ gì kiếm được nguyên liệu. Chẳng hạn, nếu ta mua giấy nhiều quá dễ bị nghi ngờ và có thể gặp nguy hiểm. Song, nếu biết dựa vào sự sốt sắng của các hội viên, dẫu có khó khǎn gì cuối cùng vẫn tìm được cách giải quyết. ở một số nơi thường hay bị địch lùng sục, chúng tôi cứ cách mấy chục dặm lại đặt một “nhà in”: một phiến đá, một ít giấy mực, giấu ở những nơi thật kín đáo không ai biết. Địch đến thôn Đông, chúng tôi in báo ở thôn Đoài, chúng tới thôn Nam, chúng tôi in báo ở thôn Bắc. Chúng không thể tìm ra chúng tôi, còn chúng tôi cứ tiếp tục ra báo đúng kỳ hạn. Báo là thứ vũ khí của ta mà địch cǎm ghét nhất.

Viết biểu ngữ cũng là một cách tuyên truyền rất lý thú. Bờ tường, mặt đường, gốc cây, lá cây, đều là những chỗ giúp ta tuyên truyền cách mạng. Cột điện, dây điện cũng là những nơi rất tốt để cǎng biểu ngữ. Những nơi có sông ngòi, chúng tôi lấy tre, gỗ, nứa, chuối đóng thành bè, cǎng biểu ngữ lên trên rồi thả xuôi theo dòng nước.

3- Tuyên truyền bằng hành động, tức là mỗi hội viên đều phải gương mẫu trong mọi việc để tỏ cho mọi người thấy rằng có tổ chức, có đoàn thể có tốt hơn.

Cương lĩnh tuyên truyền phải hết sức giản đơn, ai ai cũng hiểu được, nhớ được. Đoàn kết, đánh địch, cứu nước, chỉ sáu chữ ấy thôi là đủ rồi.

Cách tuyên truyền như diễn kịch, ca hát, v.v., chúng tôi không dùng được.

V- CÁCH HUẤN LUYỆN

Trước tiên, cơ quan lãnh đạo định ra một chương trình học tập, cử một vài người hoặc vài nhóm, vừa đi thí nghiệm, vừa tranh thủ ý kiến của người học. Sau đó, việc biên soạn các bài giảng phải hoàn toàn cǎn cứ vào yêu cầu của học viên những đợt huấn luyện trước kết hợp với kinh nghiệm của các giảng viên.

Tư cách học viên: Tất cả cán bộ địa phương nhất thiết phải được huấn luyện. Kế đó là những hội viên ưu tú, cuối cùng là tất cả các hội viên không phân biệt già trẻ, gái trai, miễn là muốn học đều có thể tham gia.

Thời gian huấn luyện: Một hoặc hai tuần lễ.

Địa điểm huấn luyện: Hang động, núi rừng, ruộng mía, nương ngô, v.v., nơi nào bảo đảm được bí mật đều có thể là những giảng đường thiên nhiên của họ. Nhưng cũng có khi một lớp học cách một hai ngày lại phải dời đi chỗ khác.

Các bài giảng đại khái gồm:

– Vì sao phải làm cách mạng?

– Vì sao phải đoàn kết?

– Khai hội tiểu tổ như thế nào?

– Phát biểu ý kiến như thế nào?

– Tự phê bình và phê bình đồng chí như thế nào?

– Bước đầu tuyên truyền cho bè bạn như thế nào?

– Giữ bí mật như thế nào?

– Những hành động hung ác của kẻ thù.

– Tình hình thế giới (kinh nghiệm kháng chiến của Trung Quốc).

– Tình hình trong nước.

Cần khuyến khích học viên dạy cho nhau học chữ quốc ngữ.

Những vấn đề trên đều do chính các hội viên tự đưa ra yêu cầu được học tập. Cơ quan lãnh đạo chỉ cần chọn một số người có thể làm giảng viên, đưa giáo trình cho họ nghiên cứu, khi họ đã nghiên cứu thông suốt, nắm được các vấn đề rồi thì cán bộ địa phương đón họ về tổ chức các lớp.

Vấn đề ǎn, ở của giảng viên đều do học viên cùng nhau giải quyết, vì thế nên không tốn kém đồng nào mà lớp huấn luyện mọc lên như nấm, cơ quan lãnh đạo có cảm giác là số giảng viên “cung không kịp với cầu”.

Kết quả rõ rệt nhất của các lớp huấn luyện là tất cả hội viên không kể già trẻ đều biết giữ bí mật.

VI- TÀI CHÍNH CỦA HỘI

Phân hội Việt Nam không quy định hội viên phải đóng hội phí mà áp dụng nguyên tắc “có tiền góp tiền”, “có sức góp sức”. Hội viên tuỳ theo hằng tâm hằng sản của mình mà giúp đỡ kinh phí cho Hội. Lúc đầu, Hội chi phí mất khá nhiều tiền (số tiền này do các hội viên có nhiệt tâm tự nguyện đóng góp). Vì muốn đặt cơ quan ở các khu “quý tộc” của các thành phố lớn để che mắt địch, Hội đã thuê nhà tây, mua sắm đồ đạc sang trọng, trang trí rất hào nhoáng, đường hoàng. Được ít lâu, có báo động, tất cả đồ đạc phải bỏ hết! Qua vài lần kinh nghiệm quá đắt như vậy, đành phải bỏ ý định lập cơ quan cố định.

Hiện nay, trừ chi phí cho báo chí và việc đi lại ra, không còn khoản gì khác phải tiêu nhiều tiền nữa, lúc cần thiết, các hội viên đều hǎng hái quyên góp, vì mọi người đều tin tưởng rằng mỗi một đồng xu họ bỏ ra đều được dùng vào công việc chung cho nước nhà, cho dân tộc, chứ không phải rơi vào túi riêng của một ai. Đủ thấy câu tục ngữ xưa “Có người ắt có của” là đúng lắm vậy.

VII – CÔNG TÁC CỦA HỘI

Đằng trước thì quân thù đàn áp, đằng sau thì dân chúng thôi thúc, theo dõi, công tác của Hội hiện nay chỉ có gian khổ, chỉ có hiểm nguy, hoàn toàn không thể cầu danh lợi, địa vị cho cá nhân, cho nên người nào muốn làm việc cho Hội thì chỉ có vùi đầu vào công việc, ra sức mà làm. Ai không thật lòng muốn làm việc cho Hội thì không thể chỉ đeo nhãn hiệu suông được. Với lại, công việc thì nhiều, phạm vi hoạt động lại rộng, người nào có công việc của người ấy, nên không có sự tranh chấp. Hơn nữa, do cùng đồng cam cộng khổ, hoạn nạn có nhau, nên rất có tinh thần đoàn kết. Và vì đoàn kết chặt chẽ nên công việc dễ phát triển. Kết quả công tác, thành công tuy nhiều, song thất bại cũng không phải ít.

Thành công ở chỗ, mặc dù hai tên đế quốc hung ác nhất thi hành chính sách khủng bố dã man và giữa vòng vây của bọn mật thám Pháp, Nhật, bọn Việt gian, Hán gian, mà trong một nǎm rưỡi ngắn ngủi, Hội đã đoàn kết được hơn hai mươi vạn người, bao gồm các đoàn thể, các đảng phái, các cá nhân, các dân tộc mà trước đây vẫn có nhiều thành kiến với nhau. Một nước với hai mươi lǎm triệu dân mà mới có hai mươi vạn người có tổ chức, nghĩa là cứ 125 người mới có một người có tổ chức, con số đó thật quá ít ỏi. Nhưng chúng tôi có thể nói là phạm vi đoàn kết này đang mở rộng, đang phát triển.

Chúng ta biết rằng, thành công đó một nửa là nhờ sự đoàn kết thành thật và sự cố gắng hoạt động của cán bộ, một nửa là nhờ ảnh hưởng của cuộc kháng chiến anh dũng của Trung Quốc. Xin cử một ví dụ thực tế: ở một địa phương nọ, khi đưa cuốn sách “Những hành động tàn bạo của Nhật Bản” (do Hội đồng quân sự Trung Quốc xuất bản) cho mọi người bí mật chuyền nhau xem, rất nhiều người, nhất là chị em phụ nữ, khi xem xong cảm động đến rơi nước mắt. Mọi người đều nói: “Bọn quỷ Nhật thật hung ác, không đập chết chúng nó thì chúng ta không sống được”. Sau đó, nhiều người cả nam lẫn nữ đều gia nhập tổ chức.

Thất bại ở chỗ:

1- Rất nhiều cán bộ tốt, vì làm việc quá nhiều, bồi dưỡng không đủ nên sinh đau ốm, có khi ốm đến chết (đó là sự đau lòng khó tránh khỏi trong hoàn cảnh hoạt động bí mật).

2- Có nơi vì thiếu kinh nghiệm, lộ bí mật để cơ quan bị vỡ và nhiều đồng chí bị bắt, bị giết.

3- Vì giao thông liên lạc không thuận tiện, cơ quan cấp trên không kịp thời giải quyết những vấn đề khó khǎn, do đó đưa đến thất bại.

4- Thiếu sự tuyên truyền đối ngoại: Một là vì mới thành lập, phải hoàn toàn giữ bí mật; hai là thiếu nhân tài ngoại giao; ba là lần đầu tiên đi làm ngoại giao, cử ba người thì hai người giữa đường hy sinh, còn lại một người nhờ được Trung Quốc chǎm nom hết sức chu đáo, nhưng đã một nǎm rưỡi vẫn chưa thấy trở về.

Về điểm này, Trung Quốc cũng cho chúng ta một bài học quý báu, rằng nếu tự mình không có thực lực làm cơ sở thì không thể nói gì đến ngoại giao, giả dụ như Trung Quốc nếu không có mấy nǎm kháng chiến kiên quyết và gian khổ, thì chớ mong gì có thể xoá bỏ được các điều ước bất bình đẳng, và các nước đồng minh cũng chẳng giúp đỡ gì Trung Quốc.

Tuy vậy, về phần chúng tôi, lúc nào cũng tin tưởng vững chắc ở đạo đức truyền thống của Trung Quốc là “bênh vực kẻ yếu, giúp đỡ người nguy, cứu kẻ sắp chết” và tin tưởng vào quốc sách của Trung Quốc là “Liên hiệp các dân tộc nhược tiểu trên thế giới để cùng nhau phấn đấu”. Vì thế, chúng tôi cho rằng: lần này “thất bại là mẹ thành công”, chúng tôi quyết không ngã lòng.

VIII. MẤY VẤN ĐỀ KHÓ KHĂN

Dân chúng thường cho rằng: Đoàn thể là thần thông quảng đại, là tài giỏi việc gì cũng làm được, do đó từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ, họ đều nhờ đến đoàn thể. Anh A và anh B cãi lộn nhau, họ cũng tìm đến đoàn thể nhờ phân xử phải trái. Anh X và anh Y tranh giành nhau gia tài cũng đến nhờ đoàn thể giải quyết, v.v.. Nhưng câu hỏi khó trả lời nhất là:

“Đoàn thể tổ chức chúng tôi lại cốt để đánh giặc Nhật, giặc Pháp. Hiện nay tổ chức xong rồi, thế bao giờ thì đánh?”.

“Đoàn thể nói với chúng tôi rằng: Trung Quốc nhất định sẽ giúp chúng ta đánh đuổi quân thù, vậy đến bao giờ họ mới giúp?”.

IX. HY VỌNG CỦA CHÚNG TÔI

Đồng bào chúng ta đã đau khổ đến tột bực rồi. Dân chúng trong nước chỉ có một yêu cầu là đánh đuổi quân thù, khôi phục Tổ quốc.

Hoàn cảnh của chúng ta bây giờ, đúng như Tưởng Trung Chính (1) tiên sinh đã nói: “Không phát động được quốc dân đứng lên phấn đấu thì không thể rửa nhục, tự cường được”.

Tình hình thế giới đang rất có lợi cho chúng ta, cho nên tôi hy vọng rằng: Đồng minh hội, sau Hội nghị này có thể thực sự chấn chỉnh lại nội bộ, thực sự đoàn kết được các lực lượng cách mạng Việt Nam ở nước ngoài, thực sự kết hợp thành một khối với các lực lượng cách mạng ở trong nước, nhằm thực hiện cho được như lời của Tưởng tiên sinh: “Hoạt động thực tế trong nước lấy hội, đảng làm đầu, viện trợ của bên ngoài lấy kiều bào làm chính”.

Tôi hy vọng rằng phạm vi giúp đỡ của Trung Quốc đối với nhân dân Việt Nam ngày càng thiết thực, ngày càng mở rộng hơn. Được như thế, sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam nhất định sẽ sớm thành công.

Tài liệu chữ Hán,bản chụp lưu tại
Bảo tàng cách mạng Việt Nam.
cpv.org.vn

————————————–

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.

Báo cáo về tình hình các đảng phái trong nước 3-1944

Do Hồ Chí Minh đọc tại Đại hội các đoàn thể cách mạng Việt Nam ở nước ngoài họp tại Liễu Châu (Quảng Tây Trung Quốc) tháng 3-1944.

————————

Vì chúng ta muốn các đảng phái, các đoàn thể trong nước tham gia Đồng minh hội, nên tôi xin báo cáo về tình hình các đảng phái trong nước như sau:

1- Có người nói: ở Việt Nam có quá nhiều đảng phái. Lại có người nói: ở Việt Nam chẳng có đảng phái nào. Dù điều họ nói đúng hay không đúng, đều làm cho những người hoạt động ở trong nước phấn khởi, vì điều đó chứng tỏ rằng ở trong nước chúng tôi đã giữ được bí mật, cần biết rằng: Quân thù không sợ cái gì, chỉ sợ nhân dân Việt Nam đoàn kết. Điều luật đầu tiên của chúng là ngǎn cấm không cho dân chúng lập ra đảng phái, vì đó là vũ khí tổ chức duy nhất.

2- Có người cho rằng đảng phái ở Việt Nam quá nhiều, đó là một ấn tượng không tốt. Kỳ thực không phải như thế. Tại sao vậy? Chúng ta mất nước đã hơn tám mươi nǎm, kẻ thù của chúng ta là hai tên cướp hung ác ở phương Đông và phương Tây, chúng dùng nọc độc thuốc phiện, giáo dục nô lệ, chính sách trường kỳ khủng bố và nhiều chính sách thâm độc khác, hòng làm tê liệt sự hiểu biết của chúng ta, hòng tiêu diệt tinh thần dân tộc và đè bẹp nghị lực đề kháng của chúng ta. Các đảng phái ở Việt Nam, trừ các đảng phái thân Nhật, thân Pháp mới được đẻ ra gần đây, đều ra đời và trưởng thành trong hoàn cảnh muôn vàn gian khổ. Điều đó chứng tỏ sự hiểu biết của nhân dân Việt Nam đã không bị kẻ thù làm tê liệt mà vẫn tiến theo kịp trào lưu của thế giới. Tinh thần dân tộc và nghị lực đề kháng của nhân dân Việt Nam không hề bị tiêu diệt.

3- ở trong nước, không chỉ các chính đảng, mà cả các đoàn thể không đảng phái, thậm chí các hình thức tổ chức như các tổ tương trợ, v.v. cũng phải hết sức giữ bí mật mới không bị phá hoại và mới có thể tồn tại được. Do đó, không những người ở nước ngoài mà ngay người ở trong nước cũng ít biết được về tình hình các đảng phái.

Theo tôi được biết, những chính đảng cũ và ít nhiều có thế lực, cả thảy có sáu đảng: Đảng Xã hội (thành lập tám nǎm nay); Việt Nam Quốc dân đảng (thành lập mười tám nǎm nay); Việt Nam Tân Quốc dân đảng (thành lập mười ba nǎm nay); Đảng Cộng sản Việt Nam (thành lập mười bốn nǎm nay); Đảng Lập hiến (thành lập hai mươi nǎm nay); Đảng Bảo hoàng (thành lập khoảng mười nǎm nay).

Những đoàn thể không đảng phái, có: Đoàn thanh niên phản đế; Hội phụ nữ giải phóng; Hội công nhân; Hội nông dân (Hiện nay các đoàn thể trên có thêm hai chữ “Cứu quốc”, và Việt Nam độc lập đồng minh.

Hiện nay, họ đều liên hiệp thành một mặt trận cứu quốc, tức Phân hội Việt Nam của Hội quốc tế chống xâm lược.

4- Trong những chính đảng kể trên, nổi bật nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyên nhân rất đơn giản. Quân thù mong muốn nước ngoài đồng tình với chính sách khủng bố của chúng, nên chúng quy tất cả các phong trào chống đối ở trong nước, thậm chí cả những hành vi bỉ ổi như phá nhà, cướp của đều đổ tội cho Đảng Cộng sản.

Có một nhà vǎn Pháp viết một vở kịch, nhan đề là “Hạnh phúc gia đình”. Vai chính trong vở kịch là một cặp vợ chồng mới cưới, cô dâu bị bệnh đau đầu, cô ả khǎng khǎng cho rằng mình bị cộng sản bỏ thuốc độc; và những chuyện như mèo nhảy làm vỡ đĩa bát trong bếp đến chuyện nướng bánh không chín, nấu súp không ngon, cô ả cũng đổ tội cho cộng sản cả. Qua đó đủ thấy tâm địa của kẻ thù và phản ứng ở nước ngoài là thế nào rồi! Có kẻ cho rằng ở Việt Nam, đâu đâu cũng là cộng sản, tất cả các đoàn thể, các tổ chức đều là cộng sản trá hình, tất cả mọi hành động đều do cộng sản ba đầu sáu tay chỉ huy!

5- Người Việt Nam có sợ cộng sản không ? Không. Cả nước Việt Nam chúng ta, không có một nhà bǎng nào là của người Việt Nam, không có một người Việt Nam nào là nhà tư bản lớn. Tài sản của chúng ta, một lần đã bị “cộng” cho giặc Pháp, một lần bị “cộng” cho giặc Nhật, còn có cái gì để mà “cộng” nữa?

Người có học thức lại càng không sợ. Nǎm 1789, do cuộc Đại cách mạng Pháp mà tư tưởng dân chủ truyền bá khắp Âu châu. Nǎm 1917, do cuộc cách mạng Nga mà tư tưởng cộng sản truyền bá khắp thế giới. Đó là trào lưu tư tưởng của thời đại, sợ nó thì thật không đúng. Huống hồ, “làm theo nǎng lực, hưởng theo nhu cầu”, “mọi người đều bình đẳng về kinh tế”, “cần phải làm cho đời sống và sự sinh tồn của mỗi người dân được bảo đảm”, đó là những tư tưởng từ thiện, tương thân tương ái, nhân dân ấm no, thế giới đại đồng.

6- Trước đây, các đảng phái thường công kích lẫn nhau trên báo chí. A nói A phải, B nói B tốt, cốt để tranh giành quần chúng. Bây giờ họ rất đoàn kết với nhau, vì:

a- Mọi người đều hiểu, đã là dân mất nước thì đảng phái gì, chủ nghĩa gì cũng vô dụng; đồng thời mọi người đều có chung một mục đích là: Cứu nước, cứu dân tộc.

b- Kẻ địch đều coi chúng ta là kẻ thù. Chẳng may bị chúng nó bắt được thì dù thuộc đảng phái nào, không bị cầm tù cũng bị chặt đầu. Ví dụ, hồi Nam Kỳ khởi nghĩa, người Đảng Lập hiến, người Đảng Cộng sản hay người Việt Nam Quốc dân đảng cũng đều cùng nhau tranh đấu và cùng nhau hy sinh.

c- Ngoài công việc cứu nước ra thì lý luận gì, công tác gì, cũng không được nhân dân ủng hộ.

d- Mọi người đều phải theo trào lưu cách mạng thế giới: Nước Trung Quốc tam dân chủ nghĩa, nước Anh đế quốc chủ nghĩa, nước Nga Xôviết cộng sản chủ nghĩa, nước Mỹ tư bản chủ nghĩa đều có thể hợp tác với nhau để chiến thắng quân thù. Các đảng phái ở Trung Quốc đều tập hợp chung quanh Quốc dân đảng Trung Quốc để chống Nhật cứu nước. Nước Pháp tự do có Đảng Cộng sản Pháp tham gia; nước Đức tự do có Đảng Cộng sản Đức tham gia, cùng nhau ra sức cứu Tổ quốc, cứu đồng bào. Việt Nam là một bộ phận của thế giới, cũng không thể đi ngược dòng lịch sử được.

Hiện nay ở trong nước không cần nêu khẩu hiệu “Đoàn kết các đảng phái”, vì điều này đã trở thành hiện thực, mà cần phải mở rộng khối đoàn kết đến toàn dân để đạt tới mục đích: Bên trong có lực lượng của mình, bên ngoài tranh thủ được sự giúp đỡ của các nước Đồng minh, trước hết là của Trung Quốc, đặng hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Tài liệu chữ Hán,
bản chụp lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

cpv.org.vn

Phép dùng binh của ông Tôn Tử

Ông Tôn Tử là một người quân sự có tiếng nhất ở Trung Quốc. Ông sinh hơn 2.000 nǎm trước. Ngày nay chẳng những trường học Trung Quốc, mà những trường học quân sự các nước cũng lấy phép này làm gốc và ra sức nghiên cứu. Vì phép ông Tôn Tử tuy đã lâu đời nhưng nguyên tắc đến nay vẫn là rất đúng.

Nguyên tắc của Tôn Tử chẳng những dùng về quân sự đúng, mà dùng về chính trị cũng rất hay. Cách ông Tôn Tử nói rất giản đơn vắn tắt, chữ ít mà nghĩa nhiều. Nếu dịch theo từng câu từng chữ thì khó hiểu lắm. Cho nên đây chỉ dịch theo ý nghĩa. Mong các đồng chí ra sức nghiên cứu cho hiểu rõ nguyên tắc đó, và dùng nó trong công tác chính trị và quân sự của mình. Phép dùng binh Tôn Tử có 13 chương:

1- Kế hoạch.

2- Phép chiến tranh.

3- Đánh bằng mưu.

4- Quân hình.

5- Thế của binh.

6- Chỗ mạnh và chỗ yếu.

7- Quân tranh.

8- Chín dự biến.

9- Phép hành quân.

10- Địa hình.

11- Chín thứ đất.

12- Phép đánh bằng lửa.

13- Dùng trinh thám.

Việt Minh xuất bản tháng 2-1945.
In theo sách Việt Minh xuất bản.
cpv.org.vn

Tuyên ngôn độc lập 2-9-1945

Hỡi đồng bào cả nước,

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Lời nói bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập (32) nǎm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền (33) của Cách mạng Pháp nǎm 1791 cũng nói:

“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

Thế mà hơn 80 nǎm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngǎn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngǎn cản dân tộc ta đoàn kết.

Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tuỷ, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.

Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.

Chúng đặt ra hàng trǎm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.

Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.

Mùa thu nǎm 1940, phát xít Nhật đến xâm lǎng Đông Dương để mở thêm cǎn cứ đánh Đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối nǎm ngoái sang đầu nǎm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

Ngày 9 tháng 3 nǎm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 nǎm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật.

Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa.

Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.

Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thuỳ, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.

Sự thật là từ mùa thu nǎm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.

Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 nǎm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hoà.

Bởi thế cho nên, chúng tôi, Lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xoá bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.

Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.

Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh (34) đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các hội nghị Têhêrǎng (35) và Cựu Kim Sơn (36) quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.

Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 nǎm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy nǎm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!

Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

Bản sao bǎng ghi âm,
lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

——————————-

32. Tuyên ngôn Độc lập nǎm 1776 của Hoa Kỳ: Trong cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân Bắc Mỹ chống chủ nghĩa thực dân Anh (1775-1781), các xứ thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ đã tổ chức các cuộc Đại hội đại biểu để thảo luận những biện pháp chống bọn thực dân Anh. Đại hội lần thứ hai họp ở Philađenphia nǎm 1775 đã cử ra một Uỷ ban do Giépphécxơn làm Chủ tịch để thảo ra một bản nghị quyết tuyên bố các xứ thuộc địa là những nước tự do độc lập, tách khỏi phạm vi, quyền lực của Anh hoàng. Bản dự án nghị quyết này được đại biểu 13 bang thông qua ngày 4-7-1776 và trở thành Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ.

Bản Tuyên ngôn Độc lập này tiêu biểu cho nguyện vọng các dân tộc thuộc địa ở Bắc Mỹ đấu tranh để giành lại độc lập tự do cho nhân dân Mỹ lúc bấy giờ.

Sau khi giành được độc lập, giai cấp tư sản Mỹ lên nắm chính quyền đã phản bội quyền lợi của nhân dân, thi hành chính sách phân biệt chủng tộc, áp bức bóc lột nhân dân trong nước, đồng thời xâm lược các nước khác. Chúng đã thực hiện những thủ đoạn tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, áp dụng chính sách thâm độc và nham hiểm của chủ nghĩa thực dân mới, thống trị về mặt kinh tế và lũng đoạn về chính trị nhằm thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới, chà đạp trắng trợn lên những nguyên tắc tự do, bình đẳng đã ghi trongTuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ.

Vận dụng tinh thần, tư tưởng tự do, bình đẳng – tiêu biểu cho nguyện vọng độc lập, tự do của nhân dân Mỹ, khi soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích một câu trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ, khẳng định quyền bình đẳng, tự do và độc lập của nhân dân Việt Nam. Tr.555.

33. Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp: Cuộc cách mạng nǎm 1789 ở Pháp là một cuộc cách mạng tư sản điển hình. Sau khi lật đổ chính quyền phong kiến, chính quyền mới- chính quyền tư sản- được thiết lập.

Ngày 26-8-1789, Hội nghị lập hiến do chính quyền mới này tổ chức đã thông qua một vǎn kiện có tính chất cương lĩnh – bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền nổi tiếng của cách mạng Pháp.

Bản Tuyên ngôn này đã công khai ghi rõ các quyền tự do dân chủ: tự do thân thể, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, quyền bình đẳng của mọi người trước pháp luật, quyền chống áp bức…

Bản Tuyên ngôn đã có ảnh hưởng lớn đến phong trào của nhân dân các nước đang đấu tranh chống chế độ phong kiến lúc bấy giờ. Nhưng khi giai cấp tư sản đã giành được quyền thống trị đất nước, chúng đã công khai chà đạp lên các quyền tự do dân chủ đó. Chúng ra sức bóc lột nhân dân lao động ở trong nước và thực hiện chính sách xâm lược và bóc lột các thuộc địa vô cùng tàn khốc. Tr. 555.

34. Đồng minh: Liên minh các nước chống chủ nghĩa phát xít trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945), hình thành vào cuối nǎm 1941 đầu nǎm 1942.

Tháng 1-1942, tại Oasinhtơn (Mỹ), 26 nước Đồng minh trong đó có Liên Xô, Anh, Mỹ ký chung vào bản Tuyên ngôn chống phát xít xâm lược và bảo đảm trong cuộc chiến tranh này không có sự giảng hoà riêng rẽ. Nhưng mục đích của việc ký Tuyên ngôn đó rất khác nhau. Liên Xô ký Tuyên ngôn này nhằm mục đích tiêu diệt chủ nghĩa phát xít, khôi phục chế độ dân chủ ở châu Âu. Còn Mỹ và Anh ký Tuyên ngôn nhằm đánh bại thế lực của Đức và Nhật để xác lập quyền bá chủ thế giới. Về sau, các chính phủ Mỹ và Anh đã phản bội Đồng minh, phá hoại tất cả các điều khoản trong Tuyên ngôn. Tr. 557.

35. Hội nghị Têhêrǎng: Hội nghị của đại diện ba nước Liên Xô, Mỹ và Anh họp từ ngày 28-11 đến ngày 1-12-1943 tại Têhêrǎng (thủ đô nước Iran).

Hội nghị đã thông qua kế hoạch tiêu diệt các lực lượng vũ trang của phát xít Đức, quyết định mở mặt trận thứ hai ở châu Âu trước ngày 1-5-1944 và thông qua Nghị quyết bảo đảm nền hoà bình lâu dài trên toàn thế giới sau chiến tranh, v.v.. Nhưng sau đó, giới cầm quyền ở Mỹ và Anh không thi hành đầy đủ những điều khoản đã được ký ở Hội nghị này. Tr. 557.

36. Hội nghị Cựu Kim Sơn: Hội nghị gồm đại diện 51 nước do Liên Xô, Mỹ, Anh và Trung Quốc (chính phủ Tưởng Giới Thạch) triệu tập, họp tại Cựu Kim Sơn (tức Xan Phranxixcô, một thành phố công nghiệp và hải cảng của nước Mỹ) từ ngày 25-4 đến ngày 26-6-1945 để thành lập một tổ chức quốc tế lấy tên là Liên hợp quốc.

Mục đích thành lập tổ chức quốc tế này là nhằm ngǎn ngừa và loại trừ những mối đe doạ đối với hoà bình, phát triển quan hệ thân thiện giữa các dân tộc và thực hiện sự hợp tác giữa các nước để giải quyết những vấn đề quốc tế; tôn trọng các quyền tự do cǎn bản của con người, không phân biệt chủng tộc, nam, nữ, tiếng nói và tín ngưỡng. Tất cả các nước hội viên đều bình đẳng, không một nước nào có quyền can thiệp vào nội bộ của các nước khác.

Nhưng tất cả những nguyên tắc quan trọng trên đây đều bị bọn đế quốc thực dân vi phạm nên không thể thực hiện đầy đủ được. Tr.557.

Bác Hồ bạn đọc lớn của Báo Công an nhân dân

Sinh thời, mặc dù bận trăm công ngàn việc nhưng Bác Hồ vẫn thường xuyên đọc các loại báo, trong đó có Báo Công an nhân dân.

Ngày 1/11/1946, Tờ Công an mới – tiền thân của Báo Công an nhân dân – ra mắt bạn đọc, được phát hành rộng rãi trong nhân dân. Ngay trong những số báo đầu tiên đã dành một phần đưa tin về hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng như huấn thị công tác của Người.

Trong những năm ở chiến khu Tân Trào, Nội san Rèn  luyện, kế tiếp Báo Công an mới, đã tập trung hướng dẫn, uốn nắn để cán bộ, chiến sỹ thực hiện tốt lời dạy của Bác về sửa đổi lề lối làm việc mà Bác đã viết dưới bút danh X.Y.Z.

Ngày 11/3/1948, tại khu căn cứ địa Việt Bắc, sau khi nhận được tờ Nội san Bạn dân do đồng chí Hoàng Mai, Giám đốc Công an khu 12 gửi lên biếu Bác, Bác đã viết thư gửi Công an khu 12, trong đó có đoạn:

“… Trên báo cần làm cho anh chị em công an nhận rõ, công an của ta là công an nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ và dựa vào dân mà làm việc. Nhân dân ta có hàng chục triệu người, có hàng mấy chục triệu tai, mắt, tay, chân. Nếu biết dựa vào dân thì làm việc gì cũng xong.

Trên tờ báo phải luôn luôn nhắc nhở anh em rèn luyện tư cách đạo đức. Tư cách người Công an cách mệnh là:

– Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính.

– Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ.

– Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành.

– Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép.

– Đối với công việc, phải tận tụy.

– Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo.

Nói tóm lại, là những đạo đức và tư cách mà người công an cách mệnh phải có, phải giữ cho đúng. Những điều đó chẳng những luôn luôn nêu trên báo mà lại nên viết thành ca dao cho mọi người học thuộc, nên viết thành khẩu hiệu tại những nơi anh em công an thường đến (bàn giấy, nhà ăn, phòng ngủ…). Ngoài ra, công an thường phải kiểm soát nhân viên và công việc của mình. Mỗi cng an viên đóng chỗ nào thì cần dạy cho dân quân, tự vệ nơi đó cách điều tra, xét giấy, phòng gian… dạy cho dân ở nơi đó giữ bí mật, và tự mình phải luôn luôn giữ lễ phép, tránh hách dịch”.

“Cán bộ báo chí cũng là chiến sỹ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ. Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng, cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa…” Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam năm 1962.

Thư Bác được anh em trong đơn vị chuyền tay nhau đọc. Các số Báo Rèn luyện của Nha Công an Trung ương đã đăng lại bức thư của Bác và được chuyển về các khu, các tỉnh để học tập, sau đó lực lượng Công an cả nước phát động phong trào học tập và làm theo Sáu điều Bác Hồ dạy.

Trở lại thời gian trước đây, vào giữa năm 1949, một hôm, Nha Công an Trung ương gửi đến Nhà in Rèn luyện một tập bản thảo viết tay, được viết theo thể văn vần, nội dung huấn luyện cán bộ. Nha yêu cầu phải in thật đẹp và hẹn ngày phải có sách để gửi về Nha. Sau đó, Nha mới cho biết đó là tập tài liệu do Bác Hồ viết, vì thế anh em nhà in ai nấy đều cảm thấy phấn khởi vì đó là niềm vinh dự: Sự kiện này đã trở thành một kỷ niệm không bao giờ quên đối với những anh em đã làm việc ở Nhà in Báo Rèn luyện hồi đó.

Báo Công an nhân dân vinh dự được đón nhận một độc giả rất đặc biệt: Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Khi đọc bài “Lực lượng Cảnh sát nhân dân phục vụ tốt công cuộc vận động chống đầu cơ, buôn lậu, lấy cắp vật tư, tài sản của Nhà nước”, Bác ghi bằng mực đỏ hai chữ “nên khen” và mở vòng đơn (đã nói với A. Hoàn rồi) – (đồng chí Trần Quốc Hoàn là Bộ trưởng Bộ Công an); khi đọc những bài về gương người tốt, việc tốt: “Dũng cảm cứu dân và cứu tài sản của Nhà nước”, “Hết lòng vì dân”… Bác khuyên vòng tròn đỏ trên đầu bài và ghi “Tặng 1 hh” (tức là tặng một Huy hiệu của Người cho chiến sỹ lập công).

Báo Công an nhân dân số 361, ra ngày 4/6/1968 đăng bài “Công an khu phố Hai Bà Trưng (Hà Nội) vận động quần chúng đấu tranh chống bọn tội phạm hình sự và các tệ nạn xã hội khác”. Tờ báo được gửi đến Bác. Bác Hồ xem xong, thấy đây là việc làm tốt, liền viết thư cho đồng chí Bộ trưởng Bộ Công an lúc bấy giờ để biểu dương và nhắc nhở công an Thủ đô Hà Nội nên học tập gương điển hình này. Bác viết: “Khu phố Hai Bà làm việc này tốt. Nếu đôn đốc các khu phố khác học tập và thi đua với khu phố Hai Bà, thì chắc họ cũng làm được như thế, và toàn Thủ đô Hà Nội có thể triệt được tệ lưu manh, trộm cắp…”.

Đó là bút tích của Bác, hiện còn lưu giữ trong Bảo tàng Công an nhân dân.

Bao CAND
Bút tích của Bác trên Báo Công an nhân dân số 462

Ngày nay, Báo Công an nhân dân tiếp tục tuyên truyền về cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, về các điển hình tiên tiến thực hiện tốt Sáu điều Bác dạy trong cuộc vận động “Công an nhân dân chấp hành nghiêm điều lệnh, xây dựng nếp sống văn hóa vì nhân dân phục vụ”; tuyên truyền những cuộc thi tìm hiểu về Đảng, Bác… Các thế hệ làm báo luôn ghi nhớ và giữ mãi những kỷ niệm sâu sắc về Bác Hồ kính yêu.

Theo www.cand.com.vn
Kim Yến (st)

Lời khuyên anh em viên chức

Anh em viên chức hiện giờ đang gặp nhiều nỗi khó khǎn vì giá sinh hoạt đắt đỏ. Nhưng ta chớ nên quên rằng nước nhà đang ở thời kỳ kháng chiến. Anh em viên chức, cũng như toàn thể quốc dân, muốn qua được bước khó khǎn hiện tại, phải biết hy sinh một chút về tinh thần để tham dự vào công cuộc kiến quốc. Có chịu kham khổ bây giờ, mai sau mới được hưởng nhiều quyền lợi. Vậy để giúp công việc Chính phủ một cách đắc lực, để nâng cao tinh thần kháng chiến, anh em viên chức bây giờ phải có 4 đức tính là: cần, kiệm, liêm, chính. Cần, anh em viên chức phải tận tâm làm việc, một người làm bằng hai, ba người. Và phải tôn trọng kỷ luật. Anh em phải theo nguyên tắc là có việc mới cần đến người, chứ không phải là có sẵn người nên phải tìm việc cho làm. Kiệm, phải biết tiết kiệm đồng tiền kiếm được, cũng như các vật liệu và đồ dùng trong các sở. Rút bớt hết những sự gì không cần thiết, chớ phao phí giấy má và các thứ của công. Phao phí những thứ đó tức là phao phí mồ hôi nước mắt của dân nghèo. Chớ tưởng tiết kiệm những cái cỏn con như mẩu giấy, ngòi bút là không có ảnh hưởng. Một người như thế, trǎm người như thế, vạn người như thế, công quỹ đã bớt được một số tiền đáng kể, lấy ở mồ hôi nước mắt dân nghèo mà ra.

Có cần, có kiệm, không tiêu đến nhiều tiền, anh em viên chức mới có thể trở nên liêm, chính để cho người ngoài kính nể được.

Anh em viên chức phải gột bỏ hẳn những ý nghĩ trái với 4 nguyên tắc trên do chính sách của bọn thực dân gây nên trong đám công chức thời Pháp và Nhật thuộc.

Nói ngày 17-1-1946.

Báo Cứu quốc, số 146, ngày 19-1-1946.
cpv.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn được trân trọng ở Thái Lan

Nhiều thập niên qua, không chỉ cộng đồng Việt kiều mà cả người dân Thái, nhất là ở vùng Đông bắc nước này, vẫn còn nhắc mãi về một người làm cách mạng có tên là Thầu Chín với tấm lòng thương yêu và trân trọng.

HCM luon duoc tran trong o thai lanCác thanh thiếu nhi là con em Việt kiều múa hát trong dịp kỷ niệm
Ngày sinh của Bác tại Làng hữu nghị. (Ảnh: Ngọc Tiến/Vietnam+)

Những tình cảm và kỷ niệm sâu sắc về Người luôn được nhân dân Thái Lan trân trọng giữ gìn và ngày càng được vun đắp để làm tăng thêm mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước.

            Nhà cách mạng Thầu Chín

Trong quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi khắp năm châu, bốn biển, trong đó có Thái Lan. Người đã từng đến sống và hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước ở các tỉnh Udon Thani, Phichit, Nong Khai, Sakon Nakhon và một số nơi khác ở Thái Lan; để lại nhiều kỷ niệm sâu sắc và tình cảm đối với đất nước, con người xứ sở này.

Làng hữu nghị Thái – Việt ở tỉnh Nakhon Phanom được xây dựng và khánh thành vào năm 2004, để ghi nhớ một thời Bác Hồ đã sống và hoạt động tại đây với tên là Thầu Chín. Đó đồng thời là một trong những biểu tượng minh chứng cho tình hữu nghị giữa hai nước, sự yêu quý ngưỡng mộ của nhân dân Thái Lan, nhân dân Việt Nam đối với Hồ Chủ tịch.

Thầu Chín là bí danh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở Xiêm, nay là Vương quốc Thái Lan, trong thời gian năm 1928 – 1929. Thầu là tiếng Thái Lào, để gọi người nhiều tuổi và biểu thị sự tôn kính. Câu chuyện về cộng đồng người Việt cùng với Thầu Chín trên đất Xiêm ngày ấy đã vượt thời gian, trở thành một phần giá trị tài sản tinh thần, đặc biệt là ở những nơi dấu chân Người đã đi qua giúp nở hoa hữu nghị.

Được Việt kiều và nhân dân yêu nước Thái che chở trước sự truy lùng của mật thám Pháp, Thầu Chín ở Nakhon Phanom cho đến tháng 11 năm 1929 thì sang Trung Quốc, sau đó về Việt Nam chỉ đạo cách mạng. Ngoài bí danh Thầu Chín, một vài bí danh khác của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh cũng được Việt kiều tại Thái Lan nhắc đến với lòng kính trọng.

Theo tài liệu ghi nhận, từ Bản Mạy ở Nakhon Phanom, nhà cách mạng Thầu Chín thường có mặt tại các Bản Noọng Xén (cùng tỉnh Nakhon Phanom), Bản Đông thuộc tỉnh Phichít, Bản Noóng Ổn tỉnh Udon Thani…

Đến đâu Người cũng mang đến luồng sinh khí mới cho cuộc sống của bà con Việt kiều tại đó cùng với rất nhiều câu chuyện, rất nhiều thông tin được truyền đến bà con bằng phong cách nói chuyện rõ ràng và dễ hiểu, với sự hiểu biết rất rõ về tình hình kiều bào ở Thái Lan.

Bằng sự lôi cuốn và cảm hóa, Người mở mang tầm nhìn, cách nghĩ cho bà con qua các câu chuyện giản dị mà ẩn chứa nhân sinh quan sâu sắc, phổ biến cho bà con những kiến thức bổ ích về cách thức cải tạo vườn tạp thành vườn cây ăn quả, tìm chỗ đất thấp đào ao thả cá.

Người vận động bà con xin phép chính quyền sở tại mở lớp dựng trường dạy chữ quốc ngữ cho con em, động viên người lớn học cả chữ Thái, chữ Việt để biết những điều cần thiết cho cuộc sống hiện tại, đồng thời tạo nền móng cho quá trình học tập lâu dài để có những kỹ năng tự phân tích, tự tổng hợp ứng dụng vào làm ăn.

Và bao trùm lên tất cả là học để làm người, để có khả năng làm chủ bản thân trong mọi hoàn cảnh, để đủ hiểu biết mà chung sống hòa hợp với các cộng đồng có văn hóa khác nhau.

            Biểu tượng của tấm lòng cao cả

Nhân dịp Lễ kỷ niệm lần thứ 121 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và lần thứ 100 ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước vừa tổ chức ở Làng Hữu nghị Thái – Việt, Tỉnh trưởng tỉnh Nakhon Phanom, ông Lơngxặc Vinittraimôntri nói rằng tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và Thái Lan được vun đắp từ nhiều năm nay, nhất là từ thời Chủ tịch Hồ Chí Minh hoạt động tại làng Najok trong những năm 1928-1929. Nơi đây đã trở thành Khu Di tích, địa điểm du lịch mang tính lịch sử và văn hóa quan trọng của Thái Lan.

Khi dẫn đầu đoàn Việt Nam vừa sang thăm Thái Lan và trao các Huân chương, Huy chương và Bằng khen cho bà con kiều bào có nhiều đóng góp với sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, Thứ trưởng Ngoại giao kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Người Việt Nam ở Nước ngoài Nguyễn Thanh Sơn nói: “Thái Lan là địa bàn mà Bác Hồ của chúng ta đã sinh sống, học tập và hoạt động cách mạng ở đây. Tổ chức Việt kiều yêu nước tại Thái Lan cũng được Bác Hồ tổ chức, thành lập và xây dựng từ ban đầu cho nên quan hệ giữa nước ta với Thái Lan đang ngày càng được củng cố và phát triển tốt đẹp.”

“Hy vọng trên đất nước Thái Lan, với sự kính trọng của nhân dân Thái dành cho Hồ Chủ tịch, các Khu Di tích lưu niệm về Bác Hồ ở Bản Mạy và một số nơi khác sẽ được quan tâm và chúng ta sẽ cùng Thái Lan xây dựng những Khu Di tích đó xứng đáng với tình cảm, sự kính trọng của nhân dân hai nước dành cho Bác, xứng với vị thế và vai trò của Người trên thế giới” – Thứ trưởng nói thêm.

Theo Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn, các Khu Di tích và công trình ở Udon Thani, Khon Kaen cũng sẽ được Đảng và Chính phủ quan tâm đầu tư để tương xứng với một quốc gia có ngàn năm văn hiến như Việt Nam – đất nước luôn được bạn bè thế giới, trong đó có Thái Lan, ngưỡng mộ và khâm phục.

Bác Cao Văn San, Chủ tịch Tổng hội lâm thời người Việt Nam tại Thái Lan, cho hay hai tiếng Bác Hồ hết sức thiêng liêng đối với kiều bào và tình cảm của Việt kiều đối với Bác Hồ là không bao giờ phai nhạt.

Vào dịp 19 tháng 5 hằng năm, bà con Việt kiều thường tổ chức lễ kỷ niệm Ngày sinh của Bác, thắp hương tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh – một tấm gương sáng về đạo đức và sự tận tụy với Tổ quốc, nhân dân./.

Theo dangcongsan.vn
Kim Yến (st)

Tết

Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng đồng tình và bác ái. Trong lúc này toàn quốc đồng bào từ giàu đến nghèo, từ già đến trẻ, ai cũng sửa soạn ǎn Tết mừng Xuân. Tôi kêu gọi đồng bào và các đoàn thể làm thế nào để chia sẻ cuộc vui Xuân mừng Tết với:

Những chiến sĩ oanh liệt ở trước mặt trận,

Những gia quyến các chiến sĩ,

Những đồng bào nghèo nàn,

Sao cho mọi người đều được hưởng các thú vui về Tết Xuân đầu tiên của nước Việt Nam độc lập.

Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 147, ngày 21-1-1946.
cpv.org.vn