Tag Archive | Hồ Chí Minh

Vấn thoại – Lời hỏi

VẬN THOẠI

Xã hội đích lưỡng cực,
Pháp quan dữ phạm nhân;
Quan viết: nhĩ hữu tội,
Phạm viết: ngã lương dân;
Quan viết: nhĩ thuyết giả,
Phạm viết: ngã ngôn chân;
Pháp quan tính bản thiện,
Giả trang ác ngân ngân;
Yếu nhập nhân ư tội,
Khước giả ý ân cần;
Giá lưỡng cực chi gian,
Lập trước công lý thần.

LỜI HỎI

Hai cực của xã hội,
Quan toà và phạm nhân;
Quan bảo: anh có tội,
Phạm nhân thưa: tôi dân lành;
Quan bảo: anh nói dối,
Phạm nhân thưa: tôi nói thật;
Quan toà tính vốn thiện,
Lại hầm hầm giả làm bộ ác;
Muốn khép người vào tội,
Lại ra vẻ ân cần;
Giữa hai cực này,
Có thần công lý đứng.

———————-

Hai cực trong xã hội,
Quan toà và phạm nhân;
Quan rằng: anh có tội,
Phạm thưa: tôi lương dân;
Quan rằng: anh nói dối,
Phạm thưa: thực trǎm phần;
Quan toà tính vốn thiện,
Vờ làm bộ dữ dằn;
Muốn khép người vào tội,
Lại ra vẻ ân cần;
ở giữa hai cực đó,
Công lý đứng làm thần.

HUỆ CHI – NGUYỄN SĨ LÂM dịch
cpv.org.vn

Cách mạng Tháng Tám và bài học xây dựng nhà nước pháp quyền

(VOV) – Những kinh nghiệm trong buổi đầu đầu lập nước ấy đang được kế thừa và phát huy trong quá trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN theo đường lối của Đảng

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự dẫn dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa dân tộc Việt Nam từ thân phận nô lệ rũ bùn đứng dậy làm chủ nhân đất nước. Dẫu buổi đầu đầy cam go thách thức nhưng người dân Việt Nam đã tự tay thực hiện quyền làm chủ, cầm lá phiếu bầu nên Quốc hội, chọn những người ưu tú nhất vào bộ máy nhà nước để lãnh đạo nhân dân chống thù trong giặc ngoài giữ vững nền độc lập.

Những kinh nghiệm trong buổi đầu đầu lập nước ấy đang được kế thừa và phát huy trong quá trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN theo đường lối của Đảng.

Năm nay đã vào tuổi 93, Giáo sư Lưu Văn Đạt, Chủ tịch Hội đồng tư vấn Dân chủ – Pháp luật Ủy ban TƯ MTTQ Việt Nam dường như gắn trọn đời mình với sự nghiệp cách mạng mà ông đã nhiệt tình tham gia từ những năm đầu của cuộc kháng chiến kiến quốc. Mấy mươi năm công tác, dù ở cương vị nào, Giáo sư Lưu Văn Đạt cũng thể hiện sự uyên bác của một chuyên gia về pháp luật. Việc ra đời một nhà nước dân chủ ngay sau khi lật đổ ách thống trị thực dân phong kiến là một thành công vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cương vị người cầm lái con thuyền cách mạng. Chính Người đã đặt những viên gạch đầu tiên cho đường lối xây dựng nhà nước pháp quyền khi giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc. Bằng mục tiêu trong sáng, bằng uy tín, tài năng, đạo đức và tinh thần quyết tâm “dù có đốt cháy cả dải Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một di sản quí giá về tình thần đoàn kết, hòa hợp dân tộc trong quá trình xây dựng nhà nước cách mạng.

Giáo sư Lưu Văn Đạt chia sẻ: “Điều mà tôi tâm đắc nhất là tinh thần đại đoàn kết dân tộc, trọng nhân tài của Hồ Chủ tịch. Bác nói là ai có tâm huyết thì Bác sẵn sàng tiếp nhận để làm việc cho đất nước. Lúc bấy giờ Đảng viên có bao nhiêu đâu, những người ngoài Đảng thì rất đông. Nhưng những người ngoài Đảng đều là những người ủng hộ Việt Minh, ủng hộ Đảng và Hồ Chủ tịch. Hầu hết trí thức lúc bấy giờ đều đứng dưới lá cờ của Hồ Chủ tịch, sẵn sàng làm mọi việc giúp ích cho đất nước”.

Nhờ vậy mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng được một chính phủ đủ sức lãnh đạo công cuộc kháng chiến kiến quốc thành công. Những trí thức phong kiến như Phạm Khắc Hòe, Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn… rồi những trí thức mới như Vũ Đình Hòe, Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Minh Giám, Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng… đều là nhân tài Việt Nam được đào tạo ở nước ngoài cũng trở về góp sức xây dựng đất nước.

Giáo sư Nguyễn Trọng Phúc – nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng – Học viện Chính trị hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh phân tích: Thắng lợi lớn nhất, triệt để nhất của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là đánh đổ chế độ nô lệ, xây dựng nhà nước kiểu mới, nhà nước do dân và vì dân. Cuộc bầu cử Quốc hội tháng 1/1946 và sau đó là thành lập chính phủ liên hiệp kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu là một bước đi có tính chiến lược, thể hiện sự tài ba của Bác. Bài học lớn trong xây dựng nhà nước của cuộc Cách mạng tháng Tám là sự thay đổi bản chất nhà nước. Nói như Bác Hồ là: “Nhà nước ấy không phải để đè đầu cưỡi cổ dân như chế độ thực dân phong kiến, mà bộ máy chính phủ từ trung ương đến địa phương phải là công bộc của dân, phục vụ nhân dân”.

Theo Giáo sư Nguyễn Trọng Phúc, tư tưởng xây dựng nhà nước pháp quyền đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nói đến khi Người gửi bảng yêu sách 8 điều đến Hội nghị Versaill xây năm 1919. “Tám điểm yêu sách, đầu tiên Cụ chú ý vấn đề pháp luật, trong đó có một câu là “trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Trong tác phẩm Đường Cách Mệnh thì Cụ lại nói là cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều. Đấy chính là quyền làm chủ, quyền lợi, quyền lực. Cuộc bầu cử tháng Giêng năm 46 để khẳng định cơ sở pháp lý của nhà nước. Nhà nước này là Nhà nước hợp hiến, hợp pháp, do dân cử, xác định không những cơ sở thực tế mà còn là cơ sở pháp lý của Nhà nước trong đối nội và đối ngoại” – Giáo sư Nguyễn Trọng Phúc nói.

Phó Giáo sư Sử học Lê Mậu Hãn cho rằng thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã khẳng định tư thế của một dân tộc khát khao tự do, một quốc gia khát khao độc lập. Cả đời bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh đạo cách mạng thành công đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ là để thực hiện cho được hoài bão xây dựng một nhà nước của dân, do dân và vì dân. Tư tưởng ấy là bài học rất quí. Phó Giáo sư Lê Mậu Hãn cho rằng: “Thắng lợi đó là thắng lợi của tư tưởng nhà nước pháp quyền của Hồ Chí Minh mà Đảng tổ chức lãnh đạo. Và trong cuộc bầu cử đó toàn dân có quyền ứng cử và bầu cử. Cho nên đó là thắng lợi của tư tưởng dân tộc bình đẳng, dân chủ và đại đoàn kết. Đó là một bài học kinh nghiệm có giá trị đặc biệt khi hiện nay đặt vấn đề phải tích cực phát huy quyền dân chủ tự do cho nhân dân để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đang tiến lên trong điều kiện khó khăn”.

Theo Giáo sư Lưu Văn Đạt, để xây dựng nhà nước pháp quyền vững mạnh, không phải ở luật pháp – tức pháp trị, mà cái chính là đạo đức của người cán bộ cách mạng – tức đức trị. Tính vì dân của nhà nước phải được thể hiện bằng những việc hết sức cụ thể: “Có một phương châm Hồ Chủ tịch đề ra là cái gì có lợi cho dân thì hết sức làm, cái gì có hại cho dân thì hết sức tránh. Điều này Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong kỳ nhậm chức cũng đã nhắc lại. Tôi nghĩ rằng nếu như tất cả công chức viên chức của nhà nước, các nhà lãnh đạo luôn suy nghĩ đến phương châm đó chắc chắn là nhà nước pháp quyền của chúng ta sẽ thực sự là của dân, do dân và vì dân. Bởi vì cuối cùng là vì dân, vì dân là vì lợi ích của nhân dân, cái gì có lợi cho nhân dân thì làm”.

Nghị quyết Đại hội toàn quốc của Đảng lần thứ XI xác định: Không ngừng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Việc nhanh chóng tổ chức bầu cử Quốc hội khóa XIII và hoàn thiện bộ máy nhà nước vừa qua đã thể hiện quyết tâm ấy của toàn Đảng toàn dân ta.

Đất nước đang kỳ vọng ở đường lối đổi mới của Đảng, vào quyết tâm của Chính phủ nói không với nạn quan liêu tham nhũng, quyết tâm xây dựng bộ máy công quyền hết lòng phục vụ dân, để nhà nước ta thực sự là nhà nước pháp quyền, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ./.

Vân Thiêng
vov.vn

Bài học về lãnh đạo quần chúng làm cách mạng

Chỉ trong vòng nửa tháng, từ ngày 14 đến ngày 28-8-1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nhân dân đã nổi dậy đồng loạt tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, “lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(1).

Nhận định về nguyên nhân thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, đồng chí Trường Chinh khẳng định: “Cuộc khởi nghĩa Tháng Tám 1945 đã đạt được mục đích giành chính quyền, mục đích trực tiếp của mọi cuộc cách mạng, vì nó là sự nghiệp của toàn dân đoàn kết, kiên quyết chiến đấu để tự giải phóng, do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo”(2).

Cách mạng Tháng Tám để lại những bài học lịch sử quý báu. Một trong những bài học luôn có ý nghĩa thực tiễn là bài học về phát động, tổ chức, hướng dẫn quần chúng tạo thành những cao trào sôi nổi hoàn thành những nhiệm vụ lịch sử của cách mạng.

Ý Đảng hợp lòng dân là một cơ sở quyết định để có cao trào cách mạng

Đảng ta là một đội tiên phong của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam. Mục tiêu phấn đấu của Đảng cũng là nguyện vọng của đông đảo quần chúng. Đường lối, chủ trương của Đảng không phải dựa trên ý muốn chủ quan của một bộ phận mà căn cứ vào tình hình thực tiễn của đất nước, khả năng, nguyện vọng của quần chúng.

Vào thời kỳ tiền khởi nghĩa, nguyện vọng bức thiết của cả dân tộc lúc bấy giờ là thoát khỏi ách thống trị tàn bạo của phát xít Nhật. Ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp, Đảng phát động cao trào kháng Nhật cứu nước làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa. Ý Đảng hợp với lòng dân, khẩu hiệu cứu quốc có sức cổ vũ lớn đối với mọi giai cấp, mọi tầng lớp, mỗi người dân yêu nước. Khắp các địa phương, từ rừng núi đến đồng bằng, thành thị đều nô nức khẩn trương chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Được lệnh khởi nghĩa, toàn dân đồng loạt vùng lên với khí thế mãnh liệt của lực lượng chính trị quần chúng đông đảo và lực lượng vũ trang, bán vũ trang. Ở một số địa phương, do điều kiện thông tin liên lạc nên lệnh khởi nghĩa của Trung ương tới muộn, đảng bộ và Mặt trận Việt Minh căn cứ vào tình hình cụ thể của địa phương, vào phương hướng hành động của Đảng đã chủ động lãnh đạo quần chúng nổi dậy khởi nghĩa.

Bài học ý Đảng hợp với lòng dân thể hiện rất điển hình trong Cách mạng Tháng Tám và được phát triển trong những thời kỳ cách mạng sau đó, Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15, khóa II đến với sự mong chờ khát khao của đồng bào miền Nam đã làm bùng lên phong trào Đồng Khởi. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân đã tạo nên những phong trào cách mạng trên nhiều lĩnh vực, đạt được những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới.

Những sai lầm, vấp váp của Đảng trong tiến hành cải cách ruộng đất, trong việc đề ra kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội ở Đại hội IV (năm 1976) của Đảng đều có nguyên nhân do Đảng chủ quan, chưa nắm vững thực tiễn, chưa kịp thời nắm bắt được nguyện vọng, khả năng của quần chúng nhân dân. Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề với sự lãnh đạo của Đảng. Muốn phát huy được tinh thần cách mạng của quần chúng nhân dân, trước hết đường lối, chủ trương của Đảng phải coi lòng dân là một điểm xuất phát quan trọng hàng đầu.

Chăm lo đáp ứng nguyện vọng trước mắt và lâu dài của nhân dân

Vào đầu năm 1945, nạn đói diễn ra khủng khiếp ở các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Hai triệu người chết đói, hàng triệu người khác đang bị đói và có nguy cơ chết đói. Trước tình hình đó, Mặt trận Việt Minh kêu gọi: “Phá kho thóc Nhật cứu đói”. Hàng triệu nông dân nghèo dù chưa giác ngộ cao nhưng để cứu bố, mẹ, vợ, con và bản thân mình khỏi chết đói đã rầm rộ tham gia cuộc đấu tranh phá kho thóc Nhật. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quần chúng nhân dân từ hình thức đấu tranh cho quyền lợi kinh tế hằng ngày đến giác ngộ chính trị, đấu tranh cho độc lập dân tộc. Đi theo Việt Minh cứu nhà cũng chính là đi theo Việt Minh để cứu nước. Đó là nhận thức cụ thể, sâu sắc và biện chứng của nhân dân. Nhân dân được phát động vùng dậy với khí thế hừng hực khởi nghĩa chống Nhật giành chính quyền. Qua sự kiện lịch sử này, đồng chí Lê Duẩn đã rút ra kết luận: “Một khẩu hiệu sát đúng với tình thế cụ thể có sức dấy lên cả một phong trào”(3).

Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta ngày càng nhận thức rõ lợi ích vật chất là động lực trực tiếp. Đảng và Nhà nước ta đã có đường lối, chính sách thường xuyên chăm lo đời sống của mọi tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, mỗi người cần nhận thức đúng đắn mối quan hệ hài hòa giữa quyền lợi vật chất với quyền lợi tinh thần, lợi ích kinh tế với những vấn đề chính trị, xã hội, quyền lợi trước mắt của bản thân, gia đình với mục tiêu chung của đất nước, của cách mạng. Đặc biệt, cần chống những quan niệm sai trái coi lợi ích vật chất là duy nhất, chỉ lo “ích kỷ phi gia”, bàng quan với cuộc sống khó khăn của người xung quanh, với sự nghiệp cách mạng của đất nước, của dân tộc.

Nêu cao vai trò tiên phong gương mẫu xả thân vì nước của cán bộ, đảng viên.

Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, người cán bộ, đảng viên vì lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dám xả thân mình để hoạt động cách mạng. Họ tuyên truyền, vận động, tổ chức và hướng dẫn quần chúng đấu tranh. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, người cán bộ, đảng viên đều nêu cao vai trò tiền phong gương mẫu. Những nơi đòi hỏi phải hy sinh, khó khăn gian khổ thì “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Trong đoàn biểu tình, cán bộ, đảng viên đi hàng đầu. Trong chiến đấu, đảng viên xung phong lên phía trước. Đảng viên luôn nêu gương sáng dẫn dắt, cổ vũ quần chúng đi theo cách mạng. Nhờ vậy, trong Cách mạng Tháng Tám, chỉ với 5.000 đảng viên mà Đảng đã phát động, tổ chức, lãnh đạo được phong trào cách mạng rộng lớn của toàn dân.

Sau khi cách mạng thành công, nhất là trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, đảng viên, cán bộ thường được giao các cương vị công tác “có chức, có quyền”. Từ đó, xuất hiện không ít “quan cách mạng” như Bác Hồ đã cảnh báo từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng. Hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị suy thoái về phẩm chất đạo đức, quan liêu, tham nhũng, không những mất uy tín trước nhân dân, làm suy giảm uy tín của Đảng, mà còn đang là lực cản phong trào cách mạng của quần chúng. Tệ nạn này đã trở thành quốc nạn. Đảng phải thực sự dựa vào dân, kiên quyết loại trừ những “quan cách mạng”, làm trong sạch đội ngũ, khôi phục niềm tin của dân với Đảng.

Thấm nhuần nguyên lý của Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, để lại những bài học quý giá luôn nóng bỏng tính thời sự mà chúng ta cần nghiêm túc vận dụng có hiệu quả, đưa cách mạng nước ta tiếp tục giành những thắng lợi mới./.

—————–
(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, t6, tr 159
(2) Trường Chinh, Cách mạng Tháng Tám, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Nxb Sự thật, Hà Nội 1975, t 1, tr 374
(3) Lê Duẩn, Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, Nxb Sự thật, Hà Nội 1975, tr 46-47.

Trần Thông, Trường Đại học Chính trị Bắc Ninh
Nguồn: Tạp chí Xây dựng Đảng
tapchicongsan.org.vn

Hào khí Cách mạng Tháng Tám – phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, bài học lớn trong thời đại ngày nay

CMT8.5Đoàn người biểu tình ngày 19/8/1945 trước cửa Bắc Bộ Phủ  Hà Nội.

Cách mạng Tháng Tám là kết quả một quá trình đấu tranh lâu dài, kiên cường, bất khuất của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Ðảng  và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ðược tôi luyện trong thử thách gian khổ, trong máu lửa đấu tranh; qua các cao trào cách mạng, Ðảng ta đã từng bước trưởng thành, xây dựng và phát triển về tổ chức, gắn bó với lực lượng quần chúng cách mạng, tạo thời cơ và nắm bắt thời cơ, lãnh đạo nhân dân vùng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.

Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám đã lật đổ chế độ thực dân, đế quốc hàng trăm năm; xóa bỏ chế độ phong kiến hàng nghìn năm, thiết lập nền dân chủ cộng  hòa, đưa  nước Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Cách mạng Tháng Tám là kết tinh của tinh thần, ý chí tự lực tự cường, của trí tuệ con người Việt Nam, của truyền thống lịch sử và văn hóa Việt Nam. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của Chủ nghĩa Mác – Lê-nin được vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh Việt Nam, là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng đúng đắn, đầy sáng tạo của Ðảng ta, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, gắn sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, là thành quả rực rỡ của sức mạnh Đại đoàn kết toàn dân tộc.

Cách mạng tháng Tám đã để lại cho chúng ta nhiều bài học quý báu, nhưng có thể nói bài học lớn nhất, sâu sắc nhất đó là “Bài học phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc” để giành và giữ chính quyền. Giành chính quyền, đó là mục tiêu của bất cứ cuộc cách mạng nào. Tin tưởng mạnh mẽ ở lực lượng cách mạng của nhân dân, Đảng ta đã chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang với các hình thức và quy mô thích hợp, giành chính quyền từng bộ phận, thành lập và mở rộng các căn cứ địa cách mạng và sẵn sàng chuyển sang hình thức tổng khởi nghĩa khi có điều kiện.

Ngay từ đầu chúng ta đã xác định việc giành chính quyền về tay nhân dân, xây dựng chính quyền của dân và phục vụ nhân dân, chính vì thế; Đảng đã tập hợp và phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công nhân – nông dân – trí thức, khai thác và phát huy triệt để động lực tình thần, nêu cao “ý chí Việt Nam”, tinh thần dũng cảm, sáng tạo, sẵn sàng xông lên cứu nước cứu nhà, tạo thành nguồn động lực to lớn để đưa Cách mạng Tháng Tám đến thắng lợi hoàn toàn. Khơi dậy sức mạnh vô địch của hàng chục triệu quần chúng được giác ngộ, với ý thức giành chính quyền cho mình và của mình để rồi xây dựng chính quyền mưu lợi cho hạnh phúc của mình. Bài học lớn của việc giành chính quyền và giữ chính quyền là Đảng ta đã biết chăm lo xây dựng lực lượng cách mạng, làm cho lực lượng cách mạng đủ mạnh, thu hút được đông đảo quần chúng tham gia, từ đó làm thay đổi so sánh lực lượng giữa ta và địch, tạo ra thời cơ cách mạng để đưa cuộc cách mạng đến thành công.

Lực lượng cách mạng có được chính là nhờ Đảng nắm bắt đúng nguyện vọng của quần chúng, biết gắn lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc với nhau, có mục tiêu chính trị rõ ràng, phương pháp cách mạng đúng đắn. Vận dụng tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng ta đã đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, thể hiện trong khẩu hiệu đấu tranh từng thời kỳ như: Độc lập dân tộc, người cày có ruộng, 10 chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh, chủ trương phá kho thóc của Nhật để cứu đói cho dân và hàng loạt hình thức vận động, tập hợp lực lượng, khơi dậy tiềm năng sáng tạo của quần chúng khác.

Chính vì thế Đảng ta đã tập hợp và phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng liên minh công nhân – nông dân và trí thức, tạo nên một nguồn động lực mạnh mẽ đưa cách mạng tiến lên. Đảng ta đã kiên quyết dùng bạo lực cách mạng và đã biết sử dụng bạo lực cách mạng một cách thích hợp và đúng lúc để đập tan bộ máy nhà nước cũ, lập ra bộ máy nhà nước mới của dân, do dân và vì dân. Bạo lực cách mạng được sử dụng ở Cách mạng Tháng Tám chính là sử dụng lực lượng chính trị và lực lượng quân sự, gắn kết hai hình thức đấu tranh là đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, tạo nên sức mạnh tổng hợp của cách mạng để tiến lên giành chính quyền.

Sau khi chính quyền về tay nhân dân, nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà non trẻ ra đời. Đảng ta đã phải lãnh đạo nhân dân ta đương đầu với bao nhiêu thử thách. Ngân khố cạn kiệt, hai mươi vạn quân Tưởng kéo vào miền Bắc; bọn thực dân Pháp núp sau lưng quân đội Anh kéo vào miền Nam. Tất cả bọn chúng đều nhằm lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ của ta.

Để giữ vững chính quyền, Đảng và Nhà nước ta đã dựa chắc vào nhân dân, tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thần để đấu tranh thắng lợi với thù trong giặc ngoài. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận động nhân dân thực hiện tốt 3 nhiệm vụ cách mạng: Chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Chính quyền cách mạng đã kịp thời ban hành các chính sách nhằm bồi dưỡng sức dân, thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, thi đua học chữ quốc ngữ, củng cố và mở rộng khối đoàn kết dân tộc, lãnh đạo cuộc Tổng tuyển cử bầu cử Quốc hội khoá đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà vào ngày 06/01/1946, tổ chức đánh bại mọi âm mưu phản cách mạng, tạo cơ sở pháp lý cho cuộc đấu tranh với kẻ thù và tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới.

Kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám 1945 và Quốc khánh 2/9, chúng ta càng hiểu rõ giá trị lịch sử, thực tiễn sâu sắc mà Cách mạng Tháng tám đã mang lại nhận thức đầy đủ trách nhiệm của các thế hệ hôm nay và mai sau trong việc vận dụng và phát triển những bài học kinh nghiệm quý giá, những tư tưởng mang tầm thời đại của Cách mạng Tháng Tám vào công cuộc đổi mới đất nước, phấn đấu xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, giàu mạnh về kinh tế, văn hóa – xã hội; đảm bảo về an ninh, quốc phòng, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Theo ubmttq.hochiminhcity.gov.vn
Huyền Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Quyết định lịch sử của Hồ Chí Minh trong thời khắc Cách mạng Tháng Tám

Phủ Khâm Sai (Bắc Bộ Phủ) 19-8-1945

Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ, với tầm nhìn của một lãnh tụ thiên tài, Hồ Chí Minh nhận định: Chiến tranh không chỉ là nguy cơ cướp đi hàng triệu sinh mạng con người ở các nước tham chiến, đồng thời là cơ hội để nhân dân các nước nhược tiểu đứng lên giành độc lập. Trước sự chuyển biến nhanh chóng của tình hình thế giới, với tư duy chiến lược sắc sảo, nhạy bén, bằng nhạy cảm chính trị thiên tài, Người đã giải quyết thành công vấn đề giải phóng dân tộc. Người đề nghị Quốc tế Cộng sản để Người trở về nước lãnh đạo cách mạng Việt Nam và được chấp nhận. Rời Liên Xô về nước, Người tích cực chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết cho cách mạng Việt Nam. Tháng 6-1940, tại Trung Quốc, Người bắt đầu liên lạc được với Đảng ta. Tại buổi gặp các đồng chí lãnh đạo Đảng ở “Ban hải ngoại”, Người nêu một nhận định chính xác: Chủ nghĩa phát xít nhất định bị tiêu diệt, đây là thời thuận lợi cho các dân tộc dứng lên tự giải phóng. Được tin Pháp đầu hàng Đức, Người phân tích: “Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”(1).

Với kinh nghiệm hoạt động quốc tế phong phú, trên cơ sở phân tích, đánh giá chính xác tình hình thế giới, mưu đồ của chủ nghĩa phát xít, Người quyết định thành lập “Việt Nam đồng minh hội” ngay trên đất Trung Quốc. Trước mắt, để hợp pháp hóa về mặt tổ chức, có điều kiện về nước một cách công khai; còn lâu dài, để có tổ chức liên lạc với quốc tế. Những quyết định trên thể hiện tầm nhìn xa trông rộng, sự mẫn cảm chính trị đầy trách nhiệm của Bác Hồ trước vận mệnh của dân tộc, định hướng cho thành công của Cách mạng Tháng Tám. Người tích cực triển khai các hoạt động quốc tế dồn dập: trực tiếp gặp đại diện Đảng Cộng sản Trung Quốc, gửi thư cho Quốc tế Cộng sản yêu cầu giúp đỡ… Người quyết định mở lớp huấn luyện chính trị và quân sự cấp tốc đưa về nước tuyên truyền, tổ chức các đoàn thể cứu quốc, chọn Cao Bằng làm căn cứ địa cách mạng… Những quyết định sáng suốt và kịp thời của Bác Hồ trong việc tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, chuẩn bị thực lực bên trong là bước chuẩn bị cần thiết cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.

Giữa lúc bão táp cách mạng đang nổ ra dồn dập, mùa xuân năm 1941, Bác Hồ về nước. Đây là cuộc gặp gỡ lịch sử giữa vị lãnh tụ tối cao với cả một dân tộc đang sục sôi đấu tranh và mong chờ sự dẫn đường, chỉ lối. Nhận thức rõ yêu cầu lịch sử đó, ngay từ lúc còn ở đất Trung Quốc, Người đã chỉ thị: “Trung ương Đảng phải chuyển về nước để trực tiếp lãnh đạo phong trào”(2). Tháng 2-1941, sau 30 năm bôn ba, Bác Hồ về đến Cao Bằng, trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam.

Về nước được hơn 3 tháng, với danh nghĩa là đại biểu Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ tám từ ngày 10 đến 19-5-1941, Hội nghị quyết định dương cao hơn nữa ngọn cờ giải phóng dân tộc, xác định rõ: “cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng”(3). Đó chính là sự phát triển hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng do Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (tháng 11-1939) và lần thứ 7 (tháng 11-1940) của Đảng đề ra. Chủ trương đó đã thể hiện tư duy chiến lược, nhãn quan chính trị nhạy bén của Bác Hồ, đồng thời phản ánh đúng tâm tư nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân là thoát khỏi ách áp bức “một cổ hai tròng” của đế quốc và phong kiến tay sai. Bác Hồ đã chủ động xây dựng lực lượng cách mạng hùng hậu đủ sức tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Người vạch ra đường lối cách mạng trước thời cơ mới: “Sẽ thành lập một Chính phủ nhân dân của Việt Nam dân chủ cộng hòa, lấy lá cờ đỏ ngôi sao vàng năm cánh làm lá cờ Tổ quốc” (Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ VIII, Đảng Cộng sản Đông Dương, 5-1941). Hội nghị đã mở ra một trang sử mới trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, quyết định thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, đóng góp to lớn vào kho tàng lý luận về cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam.

Sau Hội nghị, Người chỉ đạo soạn thảo các Văn kiện của Mặt trận Việt Minh như Tuyên ngôn, Chương trình và Điều lệ. Những văn kiện này thể hiện đầy đủ sự thống nhất quan điểm giữa Bác Hồ và Trung ương Đảng ta về những vấn đề thuộc chiến lược của cách mạng Việt Nam. Thành lập Mặt trận Việt Minh là quyết định sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đáp ứng đúng yêu cầu của lịch sử, dẫn đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám. Có thể nói không có Việt Minh thì không có Cách mạng Tháng Tám. Song song với việc xây dựng lực lượng chính trị, Đảng và Bác Hồ chú trọng từng bước xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng. Sau khởi nghĩa Bắc Sơn, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng quyết định duy trì, phát triển Đội du kích Bắc Sơn làm vốn quân sự lâu dài cho cách mạng. Đây là một quyết định sáng suốt và táo bạo. Chính nhờ có chủ trương đúng đắn đó, Đảng đã xây dựng được các trung đội cứu quốc, lực lượng quân sự chính quy đầu tiên của các mạng nước ta. Tháng 9-1944, xét thấy khởi nghĩa vũ trang chưa chín muồi, Bác Hồ ra chỉ thị hoãn cuộc khởi nghĩa Cao – Bắc – Lạng, lựa chọn trong hàng ngũ du kích Cao – Bắc – Lạng số cán bộ và đội viên xuất sắc nhất làm nòng cốt cho đội quân chủ lực. Đồng thời, Người ra chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và chỉ rõ: “Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh… Tuy lúc đầu quy mô nó còn nhỏ nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của Giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”(4). Lực lượng cách mạng chính trị và lực lượng vũ trang không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, đã tạo điều kiện vô cùng quan trọng cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi nhanh chóng. Mùa thu năm 1945, Người chỉ thị thành lập Khu giải phóng và cử ra Ủy ban cách mạng để lãnh đạo các mặt trận chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. Khu giải phóng đã trở thành căn cứ địa cách mạng, hậu phương vững chắc để tiến tới tổng khởi nghĩa trong cả nước.

Chiến tranh thế giới chuyển biến nhanh chóng, Bác Hồ phát hiện ra mâu thuẫn giữa Mỹ – Anh – Pháp về thuộc địa nói chung, về Đông Dương nói riêng. Bác Hồ gặp đại diện Mỹ ở Côn Minh bàn phương thức hợp tác Việt Minh – Mỹ. Thực hiện kế hoạch hợp tác đó, Mỹ đã giúp Việt Minh một số súng đạn, thuốc men, nhân viên điện đài và một số quân tình nguyện Mỹ huấn luyện cho lực lượng vũ trang Việt Minh, cách sử dụng các loại vũ khí, điện đài và kỹ thuật, chiến thuật trận địa. Ngược lại, Việt Minh đã cung cấp cho Mỹ những thông tin quan trọng về hoạt động của Nhật, đã cứu và giúp đỡ nhiều phi công Mỹ rơi trên đất nước ta. Bác Hồ quan hệ với Quốc dân đảng Trung Hoa và Mỹ là những quyết định sáng suốt, nhằm vừa tranh thủ họ, vừa hạn chế họ, thêm bạn, bớt thù cho cách mạng Việt Nam; đồng thời cho họ thấy rõ cuộc đấu tranh của dân tộc ta là cuộc đấu tranh của lực lượng dân chủ trong mặt trận đồng minh chống phát-xít mà họ cần quan hệ. Đây là minh chứng điển hình cho quan điểm của Bác Hồ về đoàn kết mọi lực lượng có thể đoàn kết, tranh thủ mọi lực lượng có thể tranh thủ, thực hiện cho được mục tiêu độc lập, tự do. Với tầm nhìn chiến lược, trong Thư gửi đồng bào toàn quốc, Người chỉ rõ: “Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các đồng minh quốc xã tranh được sự thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc một năm rưỡi nữa, thời gian rất gấp, ta phải làm nhanh”(5). Ngày 12-8-1945, qua chiếc đài thu thanh nhỏ, Bác Hồ biết Nhật đàm phán với Đồng Minh, trước nguy cơ bị thất bại hoàn toàn, phát xít Đức đầu hàng đồng minh, ở Đông Dương quân Nhật hoảng loạn, phong trào cách mạng cả nước sôi sục, những điều kiện cho tổng khởi nghĩa đã chín muồi. Chớp thời cơ, Bác Hồ cùng Trung ưởng Đảng ta đã chuẩn bị gấp “Hội nghị toàn quốc của Đảng” và “Đại hội đại biểu quốc dân” ở Tân Trào. Người nhấn mạnh: Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập. Và “Cần tranh thủ từng giây, từng phút, tình hình sẽ biến chuyển nhanh chóng. Không thể để lỡ cơ hội”(6). Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ngày 14 và 15-8-1945, quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trong toàn quốc trước khi Đồng minh vào, đề ra đường lối đối nội và đối ngoại sau khi Tổng khởi nghĩa. Ngày 16-8-1945, Đại hội quốc dân họp quyết định thành lập Ủy ban ban giải phóng dân tộc Việt Nam, tức Chính phủ. Ngay sau Đại hội, Người gửi Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa tới đồng bào cả nước: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy dùng sức ta mà giải phóng cho ta… Chúng ta không thể chậm trễ”(7).

Hội nghị toàn quốc, Đại hội quốc dân và Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra chủ trương, kế hoạch Tổng khởi nghĩa kịp thời, đúng thời cơ, động viên được sự đoàn kết nhất trí của toàn dân trong giờ phút quyết định của lịch sử dân tộc dể giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Hưởng ứng Lệnh Tổng khởi nghĩa của Đảng, đáp lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới ngọn cờ Việt Minh, nhân dân ta triệu người như một nhất tề đứng lên khởi nghĩa, giành thắng lợi từng phần tiến tới giành thắng lợi trên toàn quốc, làm nên Cách mạng Tháng Tám 1945 lịch sử, Người quyết định soạn thảo Tuyên ngôn độc lập, ấn định ngày ra mắt quốc dân và tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trước khi quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật. Đây là quyết định nhạy bén, sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước sự chuyển biến nhanh chóng của tình hình quốc tế sau chiến tranh; đồng thời khẳng định ý chí sắt đá của dân tộc ta quyết tâm bảo vệ nền độc lập mới giành được.

Ngày 2-9-1945, tại vườn hoa Ba Đình, trước cuộc mít-tinh của hàng vạn đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới: “Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”(8). Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam mới là thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam, cũng là thắng lợi đầu tiên của Chủ nghĩa Mác-Lênin ở một nước thuộc địa. Chủ tịch Hồ Chí Minh, người con của lịch sử, quyết định sáng suốt những bước đi của cách mạng, tiên đoán chính xác, lãnh đạo Đảng và nhân dân ta chớp thời cơ, giành thắng lợi. Ở thời điểm lịch sử 1945, Người trở thành huyền thoại đẹp nhất. Cống hiến của Người đã giúp cho dân tộc ta hồi sinh, mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập, tự do và đi lên chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. Lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác Hồ đã đóng góp quan trọng vào tiến trình cách mạng thế giới, phá vỡ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, xóa đi một vết nhơ trong lịch sử nhân loại là chế độ thực dân, thực hiện vai trò tiên phong trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và tiến bộ xã hội. Thắng lợi đó gắn liền với những quyết định sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chứng minh tính đúng đắn và khoa học của những tư tưởng cách mạng của Người trong thời đại mới…

Trương Thị Hoài
Trường Sĩ quan Lục quân 2,
HT: 3cb, 38, Biên Hòa, Đồng Nai

———————————

(1). Đầu nguồn, Nxb Văn học, H,1975, tr.234. (2). Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử Nxb CTQG, H, 1993, tr.54. (3). Văn kiện Đảng toàn tập, t7, tr.119. (4). Hồ Chí Minh, Toàn tập, t3, Nxb CTQG, H, 2000, tr.507-508. (5). Hồ Chí Minh, Toàn tập, t3, Nxb CTQG, H, 2000, tr.505-506.(6). Võ Nguyên Giáp: Từ nhân dân mà ra, Nxb QĐND, H, 1969, tr.212. (7). Hồ Chí Minh Toàn tập, t3, Nxb CTQG, H, 2000, tr.554. (8). Hồ Chí Minh Toàn tập,t3, Nxb CTQG, H, 2000, tr557.

Trương Thị Hoài, Trường Sĩ quan Lục quân 2
HT: 3cb, 38, Biên Hòa, Đồng Nai
xaydungdang.org.vn

Bán lộ tháp thuyền phó Ung – Giữa đường đáp thuyền đi Ung Ninh

BÁN LỘ THÁP THUYỀN PHÓ UNG

Thừa chu thuận thuỷ vãng Ung Ninh,

Hĩnh điếu thuyền lan tự giảo hình;

Lưỡng ngạn hương thôn trù mật thậm,

Giang tâm ngư phủ điếu thuyền khinh.

GIỮA ĐƯỜNG ĐÁP THUYỀN ĐI UNG NINH1)

Đáp thuyền xuôi dòng đi Ung Ninh,

Chân bị treo lên giàn thuyền như tội hình treo cổ;

Làng xóm hai bên sông thật là đông đúc,

Giữa lòng sông, thuyền câu của ông chài lướt nhẹ.

————————

Đáp thuyền thẳng xuống huyện Ung Ninh,

Lủng lẳng chân treo tựa giảo hình;

Làng xóm ven sông đông đúc thế,

Thuyền câu rẽ sóng nhẹ thênh thênh.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Nam Ninh ngục – Nhà ngục Nam Ninh

NAM NINH NGỤC

Giam phòng kiến trúc đính “ma đǎng”,

Triệt dạ huy hoàng chiếu điện đǎng;

Nhân vị mỗi xan duy hữu chúc,

Sử nhân đỗ tử chiến cǎng cǎng.

NHÀ NGỤC NAM NINH

Nhà lao xây dựng rất “môđéc” ,

Suốt đêm đèn điện sáng rực;

Nhưng vì bữa ǎn nào cũng chỉ có cháo,

Khiến cho bụng người ta cứ run bần bật.

————————–

Nhà lao xây dựng kiểu tân thời,

Đèn điện thâu đêm sáng rực trời;

Nhưng mỗi bữa ǎn lưng bát cháo,

Cho nên cái bụng cứ rung hoài.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Nạp muộn – Buồn bực

NẠP MUỘN

Hoàn cầu chiến hoả thước thương thiên,

Tráng sĩ tương tranh phó trận tiền;

Ngục lý nhàn nhân nhàn yếu mệnh,

Hùng tâm bất trị nhất vǎn tiền.

BUỒN BỰC

Lửa chiến tranh trên hoàn cầu nóng chảy
cả trời xanh,

Tráng sĩ đua nhau ra mặt trận;

Trong tù, người nhàn lại nhàn quá đỗi,

Chí lớn mà không đáng giá một đồng tiền.

——————————

Tráng sĩ đua nhau ra mặt trận,

Hoàn cầu lửa bốc rực trời xanh;

Trong ngục người nhàn nhàn quá đỗi,

Chí cao mà chẳng đáng đồng trinh.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Thính kê minh – Nghe gà gáy

THÍNH KÊ MINH

Nhĩ chỉ bình thường nhất chích kê,

Triêu triêu báo hiểu đại thanh đề;

Nhất thanh hoán tỉnh quần lê mộng,

Nhĩ đích công lao dã bất đê.

NGHE GÀ GÁY

Ngươi chỉ là một chú gà bình thường,

Mỗi sớm, lớn tiếng gáy để báo sáng;

Một tiếng thôi mà gọi tỉnh giấc mộng của
dân chúng,

Công lao ngươi chẳng phải là xoàng.

———————–

Ngươi tuy chỉ một chú gà thường,

Báo sáng, ngày ngày tiếng gáy vang;

Một tiếng, toàn dân bừng tỉnh mộng,

Công ngươi đâu có phải là xoàng.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Nhất cá đổ phạm “ngạnh” liễu – Một người tù cờ bạc “chết cứng”

NHẤT CÁ ĐỔ P HẠM “NGẠNH” LIỄU

Tha thân chỉ hữu cốt bao bì,

Thống khổ cơ hàn bất khả chi;

Tạc dạ tha nhưng thụy ngã trắc,

Kim triêu tha dĩ cửu tuyền quy.

MỘT NGƯỜI TÙ CỜ BẠC “CHẾT CỨNG”

Thân hình anh ấy chỉ còn da bọc xương,

Khổ đau, đói rét, không chống đỡ nổi;

Đêm qua anh còn nằm ngủ cạnh tôi,

Sáng nay đã về chín suối.

Thân anh da bọc lấy xương,

Khổ đau, đói rét hết phương sống rồi;

Đêm qua còn ngủ bên tôi,

Sáng nay anh đã về nơi suối vàng!

NAM TRÂN dịch

Bản dịch khác:

Anh chỉ làn da bọc dúm xương,

Khổ đau, đói rét sức khôn đương;

Đêm qua còn ngủ bên tôi đó,

Mà sáng hôm nay đã suối vàng.

NGUYỄN SĨ LÂM dịch
cpv.org.vn

Cách mạng Tháng Tám – mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc ta. Kỷ nguyên của “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”

cmt8
Quốc kỳ nền đỏ sao vàng, được thông qua ngày ngày 16/8/1945 tại Tân Trào

Cách mạng Tháng Tám thắng lợi hoàn toàn không phải là một sự ngẫu nhiên mà là kết quả của một quá trình đấu tranh lâu dài, kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Để đi đến thành công của Cách mạng Tháng Tám, Đảng ta phải trải qua 3 cuộc vận động cách mạng đầy gian khó là: Cuộc vận động những năm 1930 – 1935, mà đỉnh cao là phong trào Xô viết – Nghệ tĩnh (1930-1931), tiếp theo là giai đoạn khủng bố trắng và thoái trào cách mạng (1932-1935); cuộc vận động những năm 1936 – 1939, với cao trào là Mặt trân Dân chủ năm 1938, Đảng lại phải vượt qua tổn thất do cuộc khủng bố của địch gây ra để đi tiếp chặng đường mới; cuộc vận động những năm 1939 – 1945, Đảng ta đã sáng suốt phát triển cả lực lượng chính trị lẫn lực lượng vũ trang, dấy lên cao trào tiền khởi nghĩa, chủ động nắm bắt thời cơ mới để tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Trước tình hình thế giới đầy biến động, đầu năm 1945, phe Đồng minh đang thừa thắng xông lên giải phóng các nước bị phát xít chiếm đóng và tiến thẳng vào sào huyệt của phát xít Đức, buộc chúng phải đầu hàng vô điều kiện. Ngày 8/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật và chỉ trong một thời gian ngắn đã buộc phát xít Nhật phải đầu hàng vô điều kiện. Lúc này, Ban Thường vụ Trung ương họp và ra Nghị quyết nêu rõ: “ Kẻ thù số một của các dân tộc Đông Dương lúc này không phải là tất cả chủ nghĩa đế quốc mà chỉ là đế quốc phát xít, đặc biệt là phát xít Nhật – Pháp”. Hội nghị chỉ rõ, toàn bộ công tác của Đảng trong lúc này là chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Tháng 3 năm 1945, Hội nghị Thường vụ Trung ương mở rộng họp và ra Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Tháng 4 năm 1945, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang, đẩy mạnh tuyên truyền xung phong có vũ trang cướp kho thóc của Nhật để cứu đói, đẩy mạnh xây dựng các đội tự vệ vũ trang, du kích cứu quốc, mở Trường đào tạo cấp tốc cán bộ quân sự, phát động chiến tranh du kích ở những nơi có đủ điều kiện, giải phóng từng vùng, mở rộng căn cứ địa cách mạng. Từ đây cao trào kháng Nhật cứu nước diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào từ ngày 13/8/1945 đến ngày 15/8/1945 đã đi đến kết luận: “Những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương đã chín muồi”, vì vậy phải “Kịp thời hành động, không bỏ lỡ cơ hội”, khẩn trương “Đánh chiếm ngay những nơi chắc thắng, không kể thành phố hay thôn quê, thành lập ủy ban nhân dân ở những nơi làm chủ”, tất cả vì mục tiêu “Việt Nam hoàn toàn độc lập”. Đến 23h ngày 13/8/1945, Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1: Hiệu triệu toàn dân đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền. Tiếp đó, ngày 16/8/1945, Đại hội Quốc dân tại Tân Trào đã thông qua 10 chính sách lớn của Việt Nam, thông qua Lệnh Tổng khởi nghĩa, quyết định Quốc kỳ là lá cờ nền đỏ sao vàng, Quốc ca là bài Tiến Quân Ca và bầu ra Ủy ban Dân tộc Giải phóng Trung ương, tức Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn thể đồng bào ta hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta!”.

tong khoi nghia
Ảnh Tư liệu

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân cả nước đã đồng loạt đứng dậy, tiến hành cuộc Khởi nghĩa giành chính quyền trong khắp cả nước. Cuộc Tổng khởi nghĩa bắt đầu nổ ra từ ngày 14 tháng 8 và đến ngày 18 tháng 8, chúng ta đã giành được thắng lợi ở nông thôn đồng bằng Bắcbộ, đại bộ phận các tỉnh miền Trung, một phần miền Nam và ở các thị xã Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Hội An, Quảng Nam. Ngày 19 tháng 8, Khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội. Ngày 23 tháng 8, Khởi nghĩa thắng lợi ở Huế và các thị xã: Bắc Cạn, Hòa Bình, Hải Phòng, Hà Đông, Quảng Trị, Quảng Bình, Bình Định, Lâm Viên, Gia Lai, Tân An, Bạc Liêu. Ngày 25 tháng 8, Khởi nghĩa thắng lợi ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Lạng Sơn, Kon Tum, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Thủ Dầu Một, Châu Đốc, Trà Vinh, Biên Hòa, Tây Ninh, Bến Tre,… Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8 năm 1945, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn. Lần đầu tiên trong lịch sử chính quyền trong cả nước thuộc về nhân dân.

Sáng 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn độc lập”, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Từ đó lịch sử Việt Nam bước sang một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

anh ngay doc lap
Ảnh Tư liệu

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là kết quả tất yếu của 15 năm chuẩn bị chu đáo của Đảng ta, là kết quả của cuộc đấu tranh yêu nước rộng lớn của dân tộc, sự hy sinh anh dũng của đồng bào, đồng chí cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta đã đập tan được xiềng xích nô lệ của đế quốc thực dân và lật nhào được chế độ quân chủ chuyên chế, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa – nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Từ đây nước Việt Nam là của người Việt Nam, Đảng ta từ một Đảng hoạt động bí mật, bất hợp pháp trở thành một Đảng cầm quyền.

Từ khi Cách mạng Tháng Tám thành công đến nay đã 67 năm, nhưng những giá trị lịch sử sâu sắc mà Cách mạng Tháng Tám đem lại vẫn vẹn nguyên như thuở nào. Từ những bài học lịch sử sâu sắc đó mà Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng vào thực tiễn cuộc sống để đem lại hạnh phúc, ấm no cho nhân dân, xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh hơn và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Kim Yến
cpv.org.vn

Nhập lung tiền – Tiền vào nhà giam

NHẬP LUNG TIỀN

Sơ lai yếu nạp nhập lung tiền,

Chí thiểu nhưng tu ngũ thập nguyên;

Thảng nhĩ vô tiền bất nǎng nạp,

Nhĩ tương bộ bộ bỉnh ma phiền.

TIỀN VÀO NHÀ GIAM

Mới đến, phải nộp khoản tiền vào nhà lao,

ít nhất cũng nǎm mươi đồng;

Nếu anh không có tiền, không nộp được,

Mỗi bước đi anh sẽ gặp chuyện rắc rối.

Mới đến nhà giam phải nộp tiền,

Lệ thường ít nhất nǎm mươi “nguyên”!

Nếu anh không có tiền đem nộp,

Mỗi bước anh đi, một bước phiền.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn