Tag Archive | Dân tộc

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng (Từ tác phẩm Đường Kách Mệnh đến bản Di chúc cuối cùng)

(ĐCSVN) – Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, từ bài giảng đầu tiên trong tác phẩm Đường Kách Mệnh[1] đến bản Di chúc cuối cùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và việc tu dưỡng đạo đức, coi đạo đức là “cái gốc” của người cách mạng.

Vấn đề đạo đức cách mạng trong tư tưởng của Hồ Chí Minh luôn có sự nhất quán và tính lôgic cao về tinh thần cách mạng cũng như phương pháp tư duy, nhất là phương pháp tư duy khoa học, tư duy biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin, trên cơ sở truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, chắt lọc tinh hoa đạo đức của nhân loại, Người còn phát triển và sáng tạo những giá trị tư tưởng đạo đức mới phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Tầm quan trọng của đạo đức bao giờ cũng được Người đặt ở vị trí hàng đầu. Ngay từ khi Đảng ta chưa ra đời, không phải ngẫu nhiên những bài giảng đầu tiên của Người cho thế hệ thanh niên yêu nước đầu tiên ở nước ta theo con đường cách mạng vô sản là những bài giảng về tư cách của người cách mạng. Trong trang đầu cuốn Đường Kách Mệnh – Người đã ghi 23 nét tư cách của một người cách mạng trong ứng xử với mình, với người, với đời, với việc. Đó là những chuẩn mực: “Tự mình phải:

Cần kiệm.
Hòa mà không tư.
Cả quyết sửa lỗi mình.
Cận thận mà không nhút nhát.
Hay hỏi.
Nhẫn nại (chịu khó).
Hay nghiên cứu, xem xét.
Vị công vong tư.
Không hiếu danh, không kiêu ngạo.
Nói thì phải làm.
Giữ chủ nghĩa cho vững.
Hy sinh.
Ít lòng ham muốn về vật chất.
Bí mật.
Đối với người phải:
Với từng người thì khoan thứ.
Với đoàn thể thì nghiêm.
Có lòng bày vẽ cho người.
Trực mà không táo bạo.
Hay xem xét người.
Làm việc phải:
Xem xét hoàn cảnh kỹ càng.
Quyết đoán.
Dũng cảm.
Phục tùng đoàn thể”[2].

Trên cơ sở nhận thức về nền tảng của việc hình thành đạo đức mới, vấn đề đạo đức cách mạng được Người nhắc lại nội dung tương tự khi nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa, năm 1947, nhưng cụ thể hơn[3], gồm 5 điểm: một, Mình đối với mình; hai, Đối với đồng chí mình phải thế nào?; ba, Đối với công việc phải thế nào?; bốn, Đối với nhân dân; và năm, Đối với đoàn thể. Với những lời căn dặn này cho thấy, Người đã đặt vấn đề đạo đức cách mạng một cách rất lôgic và có cơ sở khoa học về các quan hệ lợi ích. Hầu như các nguyên tắc đạo đức Người đề ra trước hết cho mình thực hiện, sau đó mới để giáo dục người khác, có thể nêu ra một số chuẩn mực cơ bản về đạo đức cách mạng theo tư tưởng của Người, như sau:

1/ Nếu bài học về đạo đức cách mạng đầu tiên trong cuốn Đường Kách Mệnh, Người chỉ đề ra những nguyên lý chung thể hiện mối quan hệ giữa ba khía cạnh, phản ánh mối quan hệ đạo đức mới, đạo đức cách mạng mà người cách mạng cần quán triệt trước tiên, đồng thời nêu cao việc tu dưỡng đạo đức cách mạng; thì ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Người đã đề ra những nguyên tắc về hành vi đạo đức cách mạng đối với người có chức, có quyền trong Chính phủ từ toàn quốc đến các làng, Người đề nghị: “Mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: Cần, kiệm, liêm, chính” để “làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động”.

Người coi cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là phẩm chất đạo đức cơ bản nhất của con người mới, đồng thời là chuẩn mực cơ bản của nền đạo đức mới của dân tộc ta. Đây là phẩm chất được Người đề cập đến nhiều nhất, thường xuyên nhất với một nội dung đạo đức mới rất cách mạng mà vẫn giữ được nền tảng của các khái niệm đạo đức cũ rất quen thuộc với mọi người. Phẩm chất này gắn liền với họat động hàng ngày của mỗi con người và có quan hệ mật thiết với tư tưởng trung với nước, hiếu với dân. Chí công vô tư về thực chất là nối tiếp cần, kiệm, liêm, chính. Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công vô tư và ngược lại. Người có tinh thần chí công vô tư là người ham làm những việc ích nước, lợi dân, không ham địa vị, công danh, phú quý, không nghĩ đến quyền lợi cá nhân. Người cho rằng những cán bộ, đảng viên có đầy đủ đức tính nêu trên sẽ đứng vững trước mọi thử thách, hơn nữa yêu cầu họ phải thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đối với người, với việc và với chính mình.

Người từng nói: “Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công, vô tư. Mình đã chí công, vô tư thì khuyết điểm sẽ càng ít, mà những tính tốt như sau, ngày càng thêm. Nói tóm tắt, tính tốt ấy gồm có 5 điều: Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm” [4]. Có thể thấy rằng từ các khái niệm đạo đức cũ như: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm, Người đã đưa vào đây nội dung đạo đức mới bằng cách giải thích nó theo quan niệm mới, với một nội dung hoàn toàn khác, rất cách mạng, phản ánh các mối quan hệ một cách rõ ràng, cụ thể và dễ hiểu.

2/ Từ nội dung hẹp của các phạm trù đạo đức cũ, Người mở rộng, đưa vào đây một nội dung rất mới, tiến bộ, cách mạng, vượt qua những hạn chế của tư tưởng đạo đức truyền thống và nâng lên thành tư tưởng đạo đức mới, mà tiêu biểu nhất là các khái niệm: trung, hiếu, nhân, nghĩa… “Từ trung với vua thành trung với nước; từ hiếu với cha mẹ mình thành hiếu với dân; từ nhân chỉ là nhân ái thành nhân dân, từ cần cho riêng mình thành cần cho cả xã hội; từ kiệm cho riêng mình thành tiết kiệm chung phục vụ cho đất nước; từ liêm nghĩa là liêm khiết, không tham nhũng, nghĩa là chỉ giữ cho bản thân mình trong sạch, Người mở rộng thành vấn đề liêm khiết mang tính xã hội; từ chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đúng đắn, Người chuyển sang vấn đề thiện, ác; làm việc chính, là người thiện; làm việc tà là người ác”[5]. Người nhấn mạnh: “Người cán bộ phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải trái, giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”[6]. Trung vơí nước, hiếu với dân được coi là nội dung cơ bản nhất, bao trùm nhất trong tư tưởng đạo đức cách mạng của Người, thể hiện mối quan hệ giữa con người với Tổ quốc và nhân dân. “Trung với nước” là trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc, nước ở đây là nước của dân, dân là chủ nhân của đất nước. Người cho rằng bao nhiêu quyền hạn đều là của dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Xuất phát từ quan niệm như vậy, nên “hiếu” trong tư tưởng của Người chính là “Hiếu với dân”. Hiếu với dân không chỉ là xem người dân như đối tượng dạy dỗ, ban ơn mà là đối tượng phải phục vụ hết lòng. Ở người, lý luận luôn gắn chặt với thực tiễn, lời nói luôn đi đôi với việc làm. Cuộc đời của Người là minh chứng sinh động về tư tưởng tận trung với nước, tận hiếu với dân.

3/ Nếu như trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất của mỗi con người – công dân đối với Tổ quốc, đối với nhân dân, thì yêu thương con người là trách nhiệm của mỗi con người đối với con người. Người cho đây là phẩm chất cao đẹp nhất của con người. Yêu thương con người trước hết là tình cảm dành cho những người bị áp bức, bóc lột, những người cùng khổ. Yêu thương con người còn được thể hiện trong mối quan hệ hàng ngày với những người đồng chí xung quanh, trong cuộc sống bình thường. Phải luôn nghiêm khắc với bản thân, nhưng rộng rãi độ lượng với ngươì khác. Điều đặc biệt là ở Người, yêu thương con người luôn luôn gắn với niềm tin vào con người, tin vào lương tri, tin vào lòng dũng cảm, tin vào sức sáng tạo của họ trong hành trình con người tự giải phóng lấy mình, để con người làm chủ xã hội, làm chủ bản thân mình.

4/ Người đã có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cá nhân và giai cấp, giữa dân tộc và quốc tế, giữa truyền thống và hiện đại tạo ra trong quan niệm về đạo đức cách mạng sự hài hòa về các mối quan hệ lợi ích. Theo Người, tinh thần quốc tế trong sáng thực chất là chủ nghĩa yêu nước gắn liền với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Người cho rằng nếu tinh thần yêu nước không chân chính, tinh thần quốc tế không trong sáng thì có thể dẫn tới tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, hẹp hòi, sô vanh, biệt lập, kỳ thị chủng tộc. Từ rất sớm, Người đã chủ trương quan hệ với các quốc gia dân tộc và các tổ chức trên thế giới để thêm bạn, bớt thù. Quan điểm dân tộc đã được thổi vào thời đại, đã vượt qua biên giới quốc gia, hướng tới mục tiêu độc lập, dân chủ, hòa bình, hữu nghị và hợp tác.

Cần nhấn mạnh là tuy có những cách định nghiã khác nhau về nội hàm các khái niệm đạo đức cách mạng, nhưng nhìn chung ở Người đều có sự nhất quán về tinh thần cách mạng và phương pháp tư duy. Từ các khái niệm, phạm trù của các tư tưởng đạo đức đã có từ trước như: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm, đến cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; từ trung, hiếu, đến thiện, ác… bao giờ Người cũng có cách giải thích riêng về những chuẩn mực đạo đức phù hợp dễ hiểu, dễ chấp nhận với từng đối tượng, với mọi tầng lớp nhân dân: trí thức, quân đội, công an, công nhân, nông dân, phụ nữ, phụ lão, các cháu thiếu niên và nhi đồng… Đề cao đạo đức mới, Người đã thể hiện một tầm nhìn xa trông rộng về nhân cách con người. Những phẩm chất mà Người nêu ra là nhằm hướng con người tới cái thiện, cái tốt, cái cao cả, đồng thời ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện thoái hóa, biến chất có thể xảy ra, đặc biệt là chống khuynh hướng lạm dụng quyền lực để tham nhũng, lãng phí. Ngay cả trước khi qua đời, việc đầu tiên được đề cập đến trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân là nói về Đảng, việc đầu tiên khi đề cập đến Đảng là đạo đức, Người viết: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”[7].

Tóm lại, từ bài viết đầu tiên trong tác phẩm Đường Kách Mệnh đến bản Di chúc cuối cùng, dù ở những thời điểm lịch sử khác nhau nhưng tư tưởng của Người về đạo đức cách mạng đều có sức thuyết phục rất cao, có sức sống mạnh mẽ và có giá trị lâu bền. Bởi đó là sự thống nhất giữa lời nói, tư tưởng và hành động. Người đặt vấn đề đạo đức cách mạng từ lĩnh vực lý luận sang lĩnh vực thực tiễn, đưa đạo đức cách mạng vào chính sự nghiệp cách mạng, coi đó là một trong những nguyên tắc hoạt động cách mạng, phản ảnh các quan hệ mới về lợi ích tạo ra nền tảng vững chắc của chính quyền cách mạng nói chung và người cách mạng nói riêng./.
Tùng Khánh


[1] Đường Kách Mệnh, xuất bản năm 1927 – đây là một tác phẩm lý luận và chính trị vô cùng quan trọng, gồm những đề cương bài giảng của Nguyễn Ái Quốc, tức Chủ tịch Hồ Chí Minh giảng cho các lớp huấn luyện chính trị được tổ chức bí mật ở Quảng Châu, Trung Quốc từ đầu năm 1925 nhằm đào tạo cán bộ cách mạng nước ta, chuẩn bị về tư tưởng, đường lối và tổ chức cho việc thành lập một chính đảng mác xít của giai cấp công nhân Việt Nam.
[2] Nguyễn Ái Quốc. Đường Cách Mệnh. Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1982, tr..22-23.
[3] Xem thêm: Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 5. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 54-55.
[4] Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 5. Sđd, tr. 251.
[5] Thành Duy, Văn hóa đạo đức: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2004, tr. 35.
[6] Hồ Chí Minh. Toàn tập, Tập 7, Sđd, tr. 480.
[7] Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 12, Sđd, tr. 510.

cpv.org.vn

Đường Kách mệnh – ngọn đuốc soi đường của cách mạng Việt Nam

Kỷ niệm 85 năm tác phẩm “Đường Kách mệnh” của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1927-2012)

Tác phẩm Đường Kách mệnh xuất bản năm 1927.

(TCTG) – Trong cuộc đời mình, Hồ Chí Minh đã soạn thảo nhiều văn kiện lịch sử quan trọng, nhưng có thể khẳng định rằng Đường Kách mệnh là một trong số các tác phẩm, mà những ý tưởng hàm chứa trong đó, không chỉ được thực tiễn chứng minh là đúng đắn, độc đáo, sáng tạo mà còn có sức sống mãnh liệt, có sức lay động sâu xa trái tim hàng triệu triệu người.

Sinh ra và lớn lên khi phong trào đấu tranh yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của tầng lớp sĩ phu thời đó, dường như vẫn “đang ở trong đêm tối mà không có đường ra”, người thanh niên Nguyễn Tất Thành dù khâm phục ý chí và tấm gương cứu nước của các vị tiền bối cách mạng, song khác họ, Người đã chọn hành trình “tìm đường đi cho dân tộc” bằng một cuộc khảo nghiệm đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của nhiều quốc gia, qua nhiều châu lục. Sau gần 10 năm (1911-1920) bôn ba tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã từ một người yêu nước trở thành một người cộng sản. Khi đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, đến với con đường cứu nước theo quỹ đạo cách mạng vô sản, với một khát khao cháy bỏng về độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào, Hồ Chí Minh đã tin tưởng chắc chắn rằng: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An nam”[1].

Chọn Quảng Châu, Trung Quốc là điểm dừng chân để hoạt động cách mạng, tại đây, Người đã thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, mở lớp Huấn luyện chính trị, ra báo Thanh niên, truyền giảng cho đội ngũ cán bộ cốt cán, đầu tiên của Việt Nam những nội dung cơ bản của học thuyết Mác – Lênin, để chuẩn bị cho sự ra đời một chính Đảng vô sản kiểu mới ở Việt Nam.

Đường Kách mệnh tập hợp những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã giảng tại lớp Huấn luyện chính trị trong những năm 1925-1927, do Bộ tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông ấn hành và bí mật được chuyển về trong nước theo nhiều ngả đường khác nhau (1927-1930). Trong bối cảnh Việt Nam đang khủng hoảng trầm trọng về đường lối cách mạng, về phương pháp cách mạng và đặc biệt hơn là sự khủng hoảng về tổ chức cách mạng, hơn nữa, trong khi phong trào cách mạng của các dân tộc thuộc địa phát triển, hướng theo khẩu hiệu của Lênin vĩ đại: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!”, và ở Việt Nam với chính sách đàn áp hà khắc của thực dân Pháp: dư luận bị bưng bít thông tin, nhân dân bị đầu độc bởi văn hoá thực dân, thì những nội dung quan trọng của Đường Kách mệnh góp phần trang bị cho nhân dân tư tưởng mới của thời đại, đưa thế giới hội nhập với Việt Nam và đưa cách mạng Việt Nam hoà nhập cùng dòng chảy chung của cách mạng thế giới, càng trở nên có ý nghĩa lớn lao.

Cuốn Đường Kách mệnh do lão đồng chí Nguyễn Văn Hoan, nguyên Viện trưởng Viện công tố phúc thẩm Hà Nội sưu tầm được và tặng cho Bảo tàng Cách mạng Việt Nam ngày 26/7/1959 (ông Đặng Xuân Thiều Vụ trưởng Vụ bảo tồn – Bảo tàng đã ký nhận trong hồ sơ). Cũng theo “Hồi ký của đồng chí Nguyễn Lương Bằng”, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.182, cuốn sách này do chính ông đem về Việt Nam vào khoảng mùa thu năm 1927, và phát cho nhiều đồng chí của ta đang hoạt động ở khắp nơi, trong đó có mấy đồng chí tỉnh Hải Dương- quê hương của đồng chí.

2. Đường Kách mệnh hàm chứa những tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh, trong đó học thuyết Mác – Lênin được Người đưa vào Việt Nam theo cách của riêng mình thật giản dị, dễ hiểu, làm cho lý luận Mác – Lênin đến với Việt Nam như hạt giống tốt gặp mảnh đất mầu mỡ đã được chuẩn bị sẵn sàng. Đúng như Người đã viết: “Văn chương và hy vọng sách này chỉ ở trong hai chữ: Cách mệnh? Cách mệnh?! Cách mệnh !!!”[2].

Đường Kách mệnh đề cập trước tiên vấn đề Tư cách người cách mạng: Trong mục này, thông qua 23 điều răn, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Người cách mạng phải rèn luyện đạo đức cách mạng. Đảng Cộng sản – Bộ tham mưu tối cao của dân tộc chỉ kiên cường và hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình khi được trang bị lý luận cách mạng tiên tiến, và bao gồm những con người có trí tuệ, có đạo đức cách mạng và trung kiên nhất. Đánh giá cao vai trò, vị trí của đạo đức, coi đạo đức là gốc, là nền tảng của người cách mạng, liên quan đến sự thành bại của cách mạng, với một quan niệm mới, Hồ Chí Minh đã đưa vào nội dung đạo đức cách mạng bao hàm những vấn đề cơ bản về nhân sinh quan, thế giới quan cách mạng, về ý thức và phương pháp tư tưởng của giai cấp công nhân.

Hồ Chí Minh đã coi việc giáo dục đạo đức cách mạng là một trong những nguyên tắc cơ bản, nhằm xây dựng những con người cách mạng chân chính, tiến tới xây dựng một Đảng cách mạng chân chính của giai cấp công nhân Việt Nam. Đây cũng là một bài học quan trọng hàng đầu đối với tổ chức tiền thân của Đảng – Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, vì số đông lớp cán bộ khi đó, thuộc thành phần tiểu tư sản trí thức. Có đạo đức cách mạng, những thanh niên tiểu tư sản trí thức đó, mới tiếp thu được tinh thần và bản chất của chủ nghĩa Mác – Lênin, mới tự nguyện phấn đấu, quyết tâm hy sinh suốt đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp. Có thể nói, việc lấy tiêu chuẩn đạo đức làm một trong hai tiêu chuẩn (đức và tài) của người cán bộ cách mạng, người đảng viên cộng sản, ngay từ khi chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là một sáng tạo độc đáo, mang đậm dấu ấn Hồ Chí Minh.

Đường Kách mệnh xác định rõ mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, khẳng định con đường cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn: Đó là quan điểm cốt lõi của chủ nghĩa Mác – Lênin về con đường cách mạng Việt Nam, con đường: Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Tác phẩm nêu rõ cách mạng Việt Nam phải làm thành hai giai đoạn trên một nền tảng chung: Cách mạng dân tộc (quốc gia) và cách mạng xã hội chủ nghĩa (quốc tế). Mục đích của cuộc cách mạng thứ nhất là giải phóng dân tộc. Mục đích, đối tượng, tên gọi, lực lượng của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam được chỉ ra rất cụ thể, đó là: “Bọn cường quyền này bắt dân tộc kia làm nô lệ như Pháp với An Nam. Đến khi dân nô lệ ấy chịu không nổi nữa, tỉnh ngộ lên, đoàn kết lại, biết rằng thà chết được tự do hơn sống làm nô lệ, đồng tâm hiệp lực đánh đuổi tụi áp bức mình đi; ấy là dân tộc cách mệnh”[3]. Cùng với việc chỉ ra tên gọi của các cuộc cách mệnh (Tư bản cách mệnh, Dân tộc cách mệnh, Giai cấp cách mệnh), Hồ Chí Minh nhấn mạnh, trước hết chúng ta phải tập trung vào nhiệm vụ “dân tộc cách mệnh” để “giành lấy quyền tự do bình đẳng của dân nước mình” và khẳng định: Cuộc cách mạng thứ nhất (dân tộc cách mệnh) chuẩn bị những tiền đề cho cuộc cách mạng thứ hai (thế giới cách mệnh) về chính trị, tổ chức, kinh tế, văn hoá.

Đối tượng của “dân tộc cách mệnh” là đánh đổ chính quyền thuộc địa của Pháp. Chủ thể là toàn dân tộc, lấy quần chúng công nông làm nền tảng, vì công nông là những người bị tư bản áp bức “cho nên công nông là người chủ cách mệnh”, còn “học trò, nhà buôn nhỏ cũng bị tư bản áp bức, song không cực khổ bằng công nông; 3 hạng ấy chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông thôi”[4]. Làm rõ vấn đề lực lượng cách mạng và mối liên minh chiến lược giữa công nhân – nông dân và bầu bạn của họ trong khi thực hiện nhiệm vụ “dân tộc cách mệnh”, Đường Kách mệnh đã tập hợp được tất cả những người Việt Nam yêu nước vào cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Điều này đã được lịch sử cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong 82 năm qua chứng minh là hoàn toàn đúng đắn.

Đường Kách mệnh nhấn mạnh vai trò quan trọng hàng đầu của Đảng – nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam và việc lựa chọn mô hình nhà nước trong tương lai: Trên cơ sở nhận thức sâu sắc bản chất của thời đại mới, về nhiệm vụ và sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, về vai trò của những nhân tố đảm bảo cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc theo quỹ đạo của cách mạng vô sản đi đến thắng lợi cuối cùng, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt… Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”[5] . Cùng với những định hướng cụ thể về mục đích, đối tượng, nhiệm vụ, lực lượng và tổ chức tiền phong lãnh đạo cuộc cách mạng, Đường Kách mệnh cũng đồng thời nêu rõ vấn đề mô hình nhà nước trong tương lai khi cách mạng thành công, theo tinh thần: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”[6].

Đường Kách mệnh khẳng định cách mạng giải phóng dân tộc phải đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga với một phương pháp cách mạng mới: Đó là, để tiến hành một cuộc cách mạng mà khi chính quyền được thành lập là của dân chúng số nhiều, Hồ Chí Minh đã hướng về một cuộc cách mệnh “đến nơi”, đó là, cách mạng Nga cũng dạy chúng ta rằng: “Muốn cách mệnh thành công thì dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất”[7]. Như vậy, cùng với việc nhận thức được mối quan hệ chặt chẽ giữa yêu cầu giải phóng dân tộc và giải phóng con người là nhu cầu của thời đại và nắm bắt được tinh thần của học thuyết Mác – Lênin để giải quyết một cách triệt để nhu cầu ấy, Hồ Chí Minh đã đứng trên lập trường của giai cấp vô sản, để giải phóng dân tộc và giải phóng con người bằng một cuộc cách mạng vô sản và bước phát triển tiếp theo là xây dựng CNXH.

Nhận thức chính trị này đã đưa Hồ Chí Minh đến với định hướng cơ bản về con đường giải phóng dân tộc Việt Nam theo quỹ đạo cách mạng vô sản và thiết lập một thể chế quyền lực thuộc về nhân dân theo mô hình nhà nước Xô – Viết. Đó chính là con đường: Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, để đi tới xã hội cộng sản chủ nghĩa. Như vậy, khác với cuộc cách mạng vô sản ở các nước chính quốc: giai cấp công nhân giải phóng mình, đi tới (giúp đỡ) giải phóng các dân tộc bị áp bức và sau đó là giải phóng nhân loại, theo Hồ Chí Minh, khi tiến hành Dân tộc cách mệnh để giành lại độc lập cho Tổ quốc và tự do cho nhân dân, cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa đã giải quyết được một phần của nhiệm vụ giải phóng giai cấp, tạo cơ sở để đi tới giải phóng giai cấp hoàn toàn.

Không dừng lại ở đó, Đường Kách mệnh còn đồng thời chỉ ra phương pháp cách mạng: vận động quần chúng, tổ chức đấu tranh cách mạng, cách thức xây dựng các tổ chức quần chúng, v.v.. và thông qua đó tuyên truyền, giảng giải lý luận chủ nghĩa cho dân hiểu, để mọi người đồng chí, đồng đích, đồng lòng. Thông qua việc nêu rõ vai trò và cách thức tổ chức Công hội, Dân cày và Hợp tác xã, Đường Kách mệnh nhấn mạnh rằng: muốn tập hợp lực lượng của toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và đi lên CNXH, nhất định và không thể không tổ chức, phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng đó. Quần chúng tạo nên nguồn sức mạnh của Đảng và nếu không tập hợp, huy động được nguồn sức mạnh vô địch đó, Đảng sẽ không thể lãnh đạo cách mạng đi đến thành công được và điều này đã được tiến trình cách mạng Việt Nam chứng minh một cách sinh động.

Đường Kách mệnh xác định cách mạng Việt Nam nằm trong dòng chảy của cách mạng thế giới: Theo đó, thông qua việc trình bày lịch sử Đệ nhất quốc tế, Đệ nhị quốc tế, Đệ tam quốc tế (Quốc tế cộng sản), phân tích sự giống nhau và khác nhau giữa Đệ nhất quốc tế, Đệ nhị quốc tế với Đệ tam quốc tế; thực hiện khẩu hiệu của Đệ tam quốc tế: “Vô sản giai cấp và các dân tộc bị áp bức trong thế giới liên hợp lại!”, yêu cầu các Đảng cộng sản “phải hết sức giúp dân thuộc địa làm cách mạng” và đặt riêng một Ban chuyên nghiên cứu và giúp đỡ cho cách mạng bên Á Đông (Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản), Đường kách mệnh giáo dục cho các chiến sĩ cách mạng Việt Nam về chủ nghĩa quốc tế vô sản, và kết luận: “Xem những việc ấy thì đủ biết rằng An Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế”[8]. Chỉ rõ mối quan hệ mật thiết giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới, vấn đề đoàn kết dân tộc, giai cấp và quốc tế trong cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam, Hồ Chí Minh mở rộng tầm tư tưởng của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam bằng quan điểm chủ nghĩa yêu nước chân chính không thể tách rời chủ nghĩa quốc tế vô sản và khẳng định: “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của nhân dân An Nam cả”[9]. Ngoài ra, Đường Kách mệnh cũng giới thiệu về lịch sử, tổ chức của: Phụ nữ quốc tế, Công nhân quốc tế, Cộng sản thanh niên quốc tế, Quốc tế giúp đỡ (tổ chức Giúp đỡ của công nhân quốc tế), Quốc tế cứu tế đỏ, đồng thời khẳng định đó là nơi quy tụ, tập hợp và phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng của Quốc tế cộng sản.

3. Với một số trang không nhiều được trình bày trong 15 đầu mục lớn (cuốn sách hiện lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, dày 100 trang, số trang được đánh theo từng phần, không đánh số liên tục và sau đó được Nxb. Sự Thật nay là Nxb. Chính trị Quốc gia in trong Tuyển tập Hồ Chí Minh 5/1980, tái bản 4/1982, dày 146 trang, khổ nhỏ và sau đó in trong Hồ Chí Minh Toàn tập, xuất bản năm 1995- tập 2, bộ 12 tập; tập 2- bộ 15 tập, xuất bản năm 2010-2011), Đường Kách mệnh thực sự là văn kiện nền tảng lý luận đầu tiên, là cơ sở cho sự ra đời của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930.

85 năm đã trôi qua, những nội dung cơ bản mà Đường Kách mệnh đề cập đến như: Cách mạng, con đường cách mạng, lực lượng cách mạng, Đảng Cộng sản, và các tổ chức quần chúng của Quốc tế cộng sản, của Đảng Cộng sản, về phương pháp cách mạng, về đoàn kết, v.v.. đóng vai trò quan trọng như cuốn Làm gì của V.I. Lê-nin, vẫn luôn là chiếc cẩm nang, là bó đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi qua những năm đấu tranh giành chính quyền, qua hai cuộc trường chinh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, trong những năm cả nước cùng đi lên CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, đặc biệt là trong 25 năm chúng ta tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, vì một nước Việt Nam: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Được viết rất ngắn gọn, nhưng cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu, sau 85 năm,Đường Kách mệnh vẫn còn nguyên giá trị thời sự lớn lao. Không thể phủ nhận rằng, để có một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh đang ngày một phát triển, hội nhập cùng bạn bè quốc tế như hôm nay, cách mạng Việt Nam đã phải trải qua nhiều khúc ngoặt, nhưng vẫn giành được thắng lợi, vẫn kiên định con đường đã lựa chọn: Độc lập dân tộc và CNXH, ấy là vì, chúng ta có Đường Kách mệnh của Hồ Chí Minh soi đường, chỉ lối.

Trong cuộc đời mình, Hồ Chí Minh đã soạn thảo nhiều văn kiện lịch sử quan trọng, nhưng có thể khẳng định rằng Đường Kách mệnh là một trong số các tác phẩm, mà những ý tưởng hàm chứa trong đó, không chỉ được thực tiễn chứng minh là đúng đắn, độc đáo, sáng tạo mà còn có sức sống mãnh liệt, có sức lay động sâu xa trái tim hàng triệu triệu người. Không chỉ đem đến cho những người cách mạng Việt Nam trong những năm 20-30 của thế kỷ XX những vấn đề cốt lõi của học thuyết Mác – Lênin – ánh sáng tư tưởng của thời đại, 85 năm sau, dù thế giới đã nhiều đổi thay, thì những nội dung Đường Kách mệnh nêu ra, vẫn mang hơi thở của dân tộc và thời đại. Đó là con đường phát triển của nhân loại; là độc lập dân tộc và CNXH; là xây dựng một chính Đảng trong sạch vững mạnh về cả chính trị, tư tưởng và tổ chức, làm cho hệ thống lý luận của học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta…

Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng viết: Dù thế giới có đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh thì sống mãi, vì vậy, hiểu đúng, nắm vững và vận dụng sáng tạo những gì Hồ Chí Minh đã từng viết cách đây 85 năm, cũng chính là nhận thức đúng về chủ nghĩa Mác – Lênin trên mọi phương diện và không đi chệch mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Tuy nhiên, do đặc điểm và xu thế của thời đại ngày nay, từ những gì Hồ Chí Minh đã căn dặn trong Đường Kách mệnh, thì mỗi nước đều phải có con đường riêng để hướng tới một mục đích chung, làm đúng thì thắng lợi, làm sai thì thất bại. Nhưng để kiên định mục tiêu và “làm cho đến nơi” trong bối cảnh vừa có thuận lợi vừa có thách thức khôn lường, trong khi quán triệt nguyên tắc phải giữ vững độc lập về lãnh thổ, độc lập về chính trị, kinh tế, an ninh và quốc phòng, thì càng phải nhận thức một cách sâu sắc hơn tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn của công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Vì vậy, để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh” – xứng đáng với vai trò tiền phong và đưa sự nghiệp đổi mới của chúng ta đi đến thắng lợi hoàn toàn thì một trong những nhiệm vụ cấp bách là phải thực hiện thắng lợi Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Ðảng hiện nay” được thông qua ở Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI vừa qua ./.

TS. Văn Thị Thanh Mai

——————–

Chú thích:

[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t. 2, tr 280
[2]Hồ Chí Minh, Sđ d, t.2, tr. 262
[3] Hồ Chí Minh, Sđd, t.2, tr 265
[4] Hồ Chí Minh, Sđd, t.2, tr 266
[5] Hồ Chí Minh, Sđd, t.2, tr 267, 268
[6] Hồ Chí Minh, Sđd , t.2, tr. 270
[7]Hồ Chí Minh, Sđd , t.2, tr. 280
[8] Hồ Chí Minh, Sđd , t.2, tr. 287
[9] Hồ Chí Minh, Sđd , t.2, tr.301

Theo Tạp chí Tuyên giáo
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Những tác phẩm vô giá về giáo dục lý luận chính trị của Đảng ta

Đường Kách mệnh” và “Sửa đổi lối làm việc” là hai tác phẩm vô giá tiếp tục dẫn đường chỉ lối cho công tác lý luận và "thực hành lý luận" của Đảng ta. Ảnh tư liệu

(TCTG) – Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc giáo dục lý luận chính trị và giáo dục thực hành lý luận cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. “Đường Kách mệnh” và “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hai tác phẩm lý luận lớn, cũng là những tác phẩm vô giá về giáo dục lý luận chính trị của Người để lại.

Trong công tác xây dựng Đảng, Đảng ta luôn đặt nhiệm vụ xây dựng Đảng về lý luận chính trị là nhiệm vụ hàng đầu. Đây cũng chính là vấn đề mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta luôn quan tâm ngay từ khi phấn đấu thành lập Đảng cũng như trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta sau này. Người đã có rất nhiều bài viết, bài nói và những tác phẩm riêng về xây dựng Đảng nói chung, về công tác giáo dục lý luận chính trị nói riêng. Trong các tài liệu đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày rất rõ, rất toàn diện và cụ thể về vấn đề này, từ giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin đến vấn đề xây dựng Đảng mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; từ nội dung và nhiệm vụ học lý luận chính trị đến vấn đề nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác giáo dục lý luận chính trị.

1. “Đường Kách mệnh” – tác phẩm lý luận đầu tiên, cũng là tác phẩm lớn về giáo dục lý luận chính trị của Đảng ta

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác – Lênin sau khi đã nghiên cứu nhiều học thuyết, tìm hiểu nhiều tôn giáo trên thế giới. Người đã tự nhận mình là học trò của Đức Khổng Tử, của Chúa Giê su, của Các Mác, Tôn Dật Tiên…Cùng với việc tiếp thu những tinh hoa của các học thuyết ấy, Người còn tích lũy được nhiều kinh nghiệm thực tiễn qua việc nghiên cứu các cuộc cách mạng trên thế giới. Người nhận xét: Cuộc cách mạng Mỹ 1776 cũng như cuộc cách mạng Pháp 1789 đều là những cuộc “cách mạng không đến nơi… Cách mệnh An Nam nên nhớ điều ấy”(1) và “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có Đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lê-nin”(2).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chắt lọc những tinh hoa của lý luận và thực tiễn cách mạng thế giới để định ra con đường cách mạng Việt Nam. Khi gặp ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười, ánh sáng của chủ nghĩa Mác -Lênin, Người vui mừng khôn tả xiết. Người nói: Chủ nghĩa Lê-nin đối với cách mạng Việt Nam như người đi đường đang đói mà có cơm ăn, đang khát mà có nước uống. Người quyết định phải đến nước Nga, đến với Lê-nin. Tháng 6/1923, bất chấp muôn ngàn thử thách và hiểm nguy, Nguyễn Ái Quốc đã đến Tổ quốc của Cách mạng Tháng Mười.

Sau hơn một năm học tập và nghiên cứu tại Liên Xô, được chứng kiến công cuộc xây dựng CNXH, xây dựng cuộc sống hạnh phúc của nhân dân Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc càng mong sớm được trở về Tổ quốc. Người tin tưởng vào tương lai không xa trên đất nước thân yêu của mình cũng sẽ diễn ra sự nghiệp xây dựng CNXH. Tháng 3/1924, khi trả lời phỏng vấn phóng viên báo “Unita” của Đảng Cộng sản Ý tại Matxcơva – Giôvanni Giécmanéttô, Nguyễn Ái Quốc nói: Tôi sẽ trở về tổ quốc để đấu tranh cho sự nghiệp của chúng tôi. Ở bên chúng tôi có nhiều việc phải làm lắm… “Chúng tôi hiểu rõ là chúng tôi có trách nhiệm rất nặng nề và tương lai của các dân tộc tùy thuộc vào sự tuyên truyền và tinh thần hy sinh của chúng tôi”(3).

Nguyễn Ái Quốc xác định công việc đầu tiên phải làm là thành lập tổ chức của những người cộng sản, huấn luyện và đào tạo họ trở thành những chiến sỹ tiên phong cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Nguyễn Ái Quốc khẳng định giáo dục chủ nghĩa Lê-nin là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để những người cách mạng Việt Nam, trước hết là những người cộng sản, người lãnh đạo luôn là những người đi trước, dám hy sinh, xả thân vì sự nghiệp đó. Người còn chỉ rõ việc giáo dục chủ nghĩa Lê-nin là nguyên tắc đảm bảo cho Đảng có phương hướng, có nền tảng vững chắc và chỉ có theo chủ nghĩa Lê-nin mới đảm bảo cho Đảng trở thành người lãnh đạo đúng đắn và duy nhất của cách mạng Việt Nam.

Toàn bộ nội dung cuốn “Đường Kách mệnh” của Người là nhằm tổ chức và xây dựng Đảng ta theo tinh thần đó. Ngay trang đầu tiên của cuốn sách Nguyễn Ái Quốc đã trích câu nói nổi tiếng của Lê-nin trong tác phẩm “Làm gì”, rằng: “Không có lý luận cách mạng, thì không có cách mạng vận động…Chỉ có theo lý luận cách mạng tiên phong Đảng cách mạng mới làm nổi nhiệm vụ cách mạng tiên phong”. Người còn chỉ rõ: “Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm nòng cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam…Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin”(4).

Là tác phẩm lý luận nhưng hành văn của “Đường Kách mệnh” rất đơn giản và dễ hiểu. Nguyễn Ái Quốc viết: “Sách này muốn nói cho vắn tắt, dễ hiểu, dễ nhớ. Chắc có người sẽ chê rằng văn chương cụt quằn. Vâng! Đây nói việc gì cũng rất giản tiện, mau mắn, chắc chắn như hai lần hai là bốn, không tô vẽ, trang hoàng gì cả…Văn chương và hy vọng sách này chỉ ở trong hai chữ: Cách mệnh! Cách mệnh! Cách mệnh!!! Nguyễn Ái Quốc đã “Việt Nam hóa” lý luận Mác – Lênin một cách thật tài tình. Những vấn đề lý luận quan trọng Người mong muốn những người Việt Nam thấm nhuần được tóm tắt trong hai từ “Cách mệnh”. Hai từ này được giảng giải bằng những lời giản dị rất dễ hiểu, dễ nhớ. Người viết: Muốn làm cách mạng thì phải biết:

– Làm cho quần chúng giác ngộ.
– Phải giảng giải lý luận và chủ nghĩa cho dân hiểu.
– Làm cách mệnh phải bày sách lược cho dân.
– Muốn làm cách mệnh phải tập trung sức. Và muốn tập trung sức phải có đảng cách mệnh.

Với hai từ “Cách mệnh” Nguyễn Ái Quốc lại giảng giải: Cách mệnh là gì? Cách mệnh có mấy thứ? Vì sao mà sinh ra tư bản cách mệnh? Vì sao mà sinh ra dân tộc cách mệnh? Vì sao mà sinh ra giai cấp cách mệnh? Cách mệnh khó hay dễ? Cách mệnh trước hết phải có cái gì?. Đó là những vấn đề lý luận hết sức cần thiết để những người cách mạng Việt Nam lúc đó mở rộng hiểu biết về thế giới. Nguyễn Ái Quốc đã giảng giải những vấn đề đó trên quan điểm Mác – Lênin và cho rằng đó là nền tảng tư tưởng mà một chính đảng không thể thiếu. Bằng cách đó, chủ nghĩa Mác – Lênin đã đến với cách mạng và nhân dân Việt Nam, như hạt giống tốt gặp mảnh đất mầu mỡ đã được chuẩn bị sẵn sàng, đã tạo ra bước ngoặt lịch sử cho cách mạng Việt Nam.

Trên quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin và kinh nghiệm của phong trào cách mạng thế giới, Người chỉ rõ cách mạng Việt Nam là cách mạng giải phóng dân tộc và có hai giai đoạn: cách mạng giải phóng dân tộc sau đó là cách mạng vô sản. Hai giai đoạn đó có quan hệ chặt chẽ với nhau, cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. “Đường Kách mệnh” cũng đã chỉ rõ nhiệm vụ trước mắt của cách mạng Việt Nam là đánh đổ đế quốc Pháp và phong kiến tay sai. Lực lượng để tiến hành cuộc cách mạng ấy là toàn dân tộc, trong đó lực lượng chủ yếu là công nhân, nông dân.

Với những nhiệm vụ cách mạng được nêu lên trong “Đường Kách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc cũng đã chỉ rõ nguyên tắc chiến lược trong việc xác định đường lối cách mạng, đó là phải vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin. Đảng phải xây dựng cho mình một hệ thống lý luận riêng phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tiễn thì lý luận đó mới trở thành người dẫn đường, lý luận đó mới là lý luận chân chính. Sau này Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Từ trong học thuyết dạt dào sức sống của chủ nghĩa Lê-nin, chúng tôi khơi nguồn sức mạnh để giành thắng lợi cho sự nghiệp thiêng liêng là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, để giành thắng lợi cho CNXH” (5).

Đánh giá ý nghĩa tác phẩm “Đường Kách mệnh”, đồng chí Trường Chinh đã viết: “Đường Kách mệnh” chẳng những có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn trong thời kỳ đã qua mà còn soi sáng con đường cho nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn trong giai đoạn mới”(6).

2. “Sửa đổi lối làm việc”- một tác phẩm lớn về giáo dục thực hành lý luận chính trị theo quan điểm Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. Song Người cũng luôn nhấn mạnh rằng học Mác – Lênin là phải học tinh thần Mác – Lênin, học phương pháp Mác – Lênin để xử trí mọi việc. Người nói với cán bộ huấn luyện: “Các chú dạy cho cán bộ đảng viên và nhân dân về chủ nghĩa Mác – Lênin, chắc có nhiều người thuộc, nhưng các chú có làm cho mọi người hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là thế nào không? Theo Bác hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin tức là cách mạng phân công cho việc gì, làm chủ tịch nước hay nấu ăn, đều phải làm tròn nhiệm vụ. Không nên đào tạo ra những con người thuộc sách làu làu, cụ Mác nói thế này, cụ Lê-nin nói thế kia, nhưng nhiệm vụ của mình được giao quét nhà lại để cho nhà đầy rác”(7). Trong nhiều tài liệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục thực hành lý luận Mác – Lênin, thì tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” là một điển hình tiêu biểu.

Tiếp theo cuốn “Đường Kách mệnh”, ở tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục nêu rõ phải giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ và nhân dân ta. Người viết: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế”; “Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”. Vì vậy, ở tác phẩm này Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những khuyết điểm mà nhiều cán bộ còn mắc phải, như: kém lý luận, khinh lý luận, lý luận suông. Người cũng chỉ ra nguyên nhân của những khuyết điểm đó đều là do nhận thức chưa rõ vai trò của lý luận. Người nêu những người kém lý luận là những người lười học tập, lười nghiên cứu lý luận hoặc là do yêu cầu của nhiệm vụ có bước phát triển nhanh, mới, nên trình độ lý luận chưa theo kịp, dẫn đến kết quả làm việc thất bại. Người viết: “Vì kém lý luận nên gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo. Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý mình nghĩ thế nào làm thế ấy. Kết quả thường thất bại”.

Về chứng bệnh khinh lý luận, Người phân tích đó thường là khuyết điểm của những người cho rằng mình có kinh nghiệm và không biết phải kết hợp kinh nghiệm ấy với lý luận để giải quyết công việc. Người viết: “Có những cán bộ, những đảng viên cũ, làm được việc, có kinh nghiệm…Nhưng họ lại mắc phải cái bệnh khinh lý luận. Họ quên rằng: nếu họ đã có kinh nghiệm mà lại biết thêm lý luận thì công việc tốt hơn nhiều…Có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ. Những anh em đó cần phải nghiên cứu thêm lý luận, mới thành người cán bộ hoàn toàn”. Nhưng cũng theo Người: “Lý luận cốt là để áp dụng vào thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông”.

Một nội dung rất lớn và quan trọng của tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” là việc giáo dục tư cách đạo đức cách mạng để người đảng viên có thể biến lý luận thành hành động cụ thể. Người kết luận: “Chúng ta phải gắng học, đồng thời học thì phải hành”. Bởi vậy, trong toàn bộ 6 phần của nội dung cuốn sách là: Phê bình và sửa chữa; Mấy điều kinh nghiệm; Tư cách và đạo đức cách mạng; Vấn đề cán bộ; Cách lãnh đạo; Chống thói ba hoa, thì phần “Tư cách và đạo đức cách mạng” có vị trí đặc biệt quan trọng và có độ dài nhất trong tác phẩm.

Vấn đề đạo đức cách mạng cũng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên như một nguyên tắc “sống còn” trong xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam ở tác phẩm “Đường Kách mệnh” năm 1927. Và đây là nội dung giáo dục đầu tiên trong các lớp huấn luyện cán bộ của Đảng ta lúc đó. “Trung với nước, hiếu với dân”, phẩm chất cơ bản của đạo đức cách mạng mới được nêu lên rất rõ trong tác phẩm này. Có phẩm chất ấy người cán bộ đảng viên có thể sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp của Đảng, của dân tộc. “Vị công vong tư. Không hiếu danh. Không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Ít lòng ham muốn vật chất. Giữ vững chủ nghĩa. Biết hy sinh”…Tư cách đạo đức đó lại được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển sâu sắc thêm, cụ thể hơn trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” trong điều kiện mới, khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền.

Ở đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi đảng viên phải thực hiện một cách nghiêm túc mối quan hệ giữa lời nói và việc làm và nêu cụ thể nhiệm vụ của mỗi cán bộ đảng viên phải làm gì và làm như thế nào để thực hành lý luận. Những nhiệm vụ đó được Người trình bày cụ thể trong các phần: về phận sự của đảng viên và cán bộ; về tư cách và bổn phận của đảng viên; về vấn đề vì sao đảng viên phải rèn luyện tính Đảng. Điều cốt lõi để thực hiện những nhiệm vụ đó là phải trọng lợi ích của Đảng hơn lợi ích của cá nhân. Người viết: “Vô luận thế nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng”. Trái lại những đảng viên và cán bộ nào “ham muốn địa vị, tìm cách phát tài, ra mặt anh hùng, tự cao tự đại,v.v..Đó đều là trái với lợi ích của Đảng”. Cũng trong tác phẩm này, những vấn đề về đạo đức cách mạng một lần nữa được Người phân tích, giảng giải. Theo đó, nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm là những nội dung cơ bản của tư cách đạo đức cách mạng. Tư cách đạo đức ấy là cơ sở, là cốt lõi để thực hành lý luận. Người chỉ rõ: Trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư”, cho nên mắc phải tính chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân như một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các chứng bệnh nguy hiểm.

Đọc lại “Tư cách và đạo đức cách mạng” trong “Sửa đổi lối làm việc” chúng ta càng hiểu thêm tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Chúng ta cũng càng hiểu thêm mong muốn của Bác đối với sự phấn đấu tu dưỡng của mỗi người, để có đủ đức và tài đưa chủ trương, đường lối và nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.

3. Để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh phải “Sửa đổi lối làm việc” về phong cách và phương pháp lãnh đạo nhằm thực hành lý luận

Nói về “Cách lãnh đạo” trong “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên cách để cán bộ, đảng viên có thể tập hợp, tổ chức, lãnh đạo nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng và chính sách của Chính phủ. Đây là những bài học vô cùng quý báu để tránh được tình trạng: chủ trương, chính sách ban hành thì nhiều nhưng không thực hiện được, hoặc thực hiện không đến nơi đến chốn.

Nêu vấn đề phải lãnh đạo đúng, Người viết: Lãnh đạo đúng nghĩa là: 1- Phải quyết định mọi vấn đề cho đúng…2- Phải tổ chức sự thi hành cho đúng…3- Phải tổ chức kiểm soát. Ba nội dung lãnh đạo đó quan hệ mật thiết vơi nhau và đều gắn bó, dựa vào nhân dân, thực hành sự kết hợp đánh giá từ trên xuống với từ dưới lên để đánh giá được đúng đắn, hoàn thiện hơn. Để xây dựng được cách lãnh đạo như thế, Người nêu vấn đề phải chọn người lãnh đạo: “Chọn người và thay người lãnh đạo là vấn đề quan trọng trong việc lãnh đạo…Những người mắc phải bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, không làm được việc, phải thay đi; Những người cậy mình là “công thần cách mạng” rồi đâm ra ngang tàng, không giữ kỷ luật thì cần phải mời họ xuống công tác hạ tầng, khép họ vào kỷ luật để chữa tính kiêu ngạo, thói quan liêu cho họ và để giữ kỷ luật của Đảng và Chính phủ; Một hạng người thứ ba cũng không thể ở vị trí lãnh đạo, đó là hạng người nói suông. Đó là những người chỉ “biết nói và nói, nói giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Nhưng một việc gì thiết thực cũng không làm được”. Nếu để những người như thế ở vị trí lãnh đạo, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là sẽ chỉ làm hại uy tín của Đảng, không thể tập hợp, lãnh đạo được quần chúng nhân dân.

Vì vậy, học tập và làm theo tư tưởng, phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh, trước hết là phải phát hiện ra hạng người như thế và điều quan trọng là phải kiên quyết loại những người đó ra khỏi vị trí lãnh đạo, bởi vì họ quá xa lạ với phong cách và phương pháp lãnh đạo mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu trong “Sửa đổi lối làm việc”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: muốn lý luận được thực hành thì phải có lối làm việc thiết thực, hiệu quả. Người đòi hỏi mỗi cán bộ phụ trách phải thực hiện cho được lối làm việc này. Phải khắc phục bệnh quan liêu “hữu danh vô thực”, tránh lối “làm cho qua chuyện, làm lấy rồi”, chỉ ham làm chủ tịch này, uỷ viên nọ, chứ không làm công tác thực tế. Để lãnh đạo thiết thực, Người nêu lên hai cách lãnh đạo: Một là, liên hợp chính sách chung với chỉ đạo riêng. Hai là, liên hợp người lãnh đạo với quần chúng. Như thế là một cách lãnh đạo thiết thực. Người cũng cho đó là một cách vừa lãnh đạo vừa học tập và chỉ rõ: “Bất kỳ người lãnh đạo nào, nếu không học nổi những việc thiết thực, những người thiết thực và những bộ phận thiết thực của cấp dưới, để rút kinh nghiệm, thì nhất định không biết chỉ đạo chung cho tất cả các bộ phận”.

Thiết thực là phong cách lãnh đạo nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây cũng là bài học sâu sắc, là kinh nghiệm quý giá mà Người để lại trong “Sửa đổi lối làm việc” và trong thực tiễn lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Lãnh đạo thiết thực là cách tốt nhất để tập hợp, tổ chức và động viên nhân dân đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.

Suốt đời quan tâm đến việc giáo dục lý luận chính trị và giáo dục thực hành lý luận cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, “Đường Kách mệnh” và “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hai tác phẩm lý luận lớn, cũng là những tác phẩm vô giá về giáo dục lý luận chính trị Người để lại. Tư tưởng của Người, những lời tâm huyết của Người về vấn đề này đã, đang và mãi mãi soi sáng sự nghiệp xây dựng Đảng ta, Đảng của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam trên hành trình hướng tới tương lai./.

———-

Chú thích
(1), (2) (4). Hồ Chí Minh,Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.1995, t.2, tr.274, 280, 268.
(3). Hồ Chí Minh,Toàn tập, Sđd, t.1, tr.482.
(5). Hồ Chí Minh,Toàn tập, Sđd t.7,tr.519,520.
(6).Trường Chinh, Lời giới thiệu cuốn sách “Đường Kách mệnh”, Nxb.Sự Thật, H,1982, tr.17.
(7). Hồ Chí Minh,Toàn tập, Sđd, t.12, tr.554.

Theo Tạp chí Tuyên giáo
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ông lão 85 tuổi mê sưu tầm ảnh Bác Hồ

Ông Trần Phùng bên bộ sưu tập ảnh về Bác, bộ tài sản quý giá với ông.

(Dân trí) – Đã nhiều năm qua, các tấm ảnh về Bác mà cụ ông Trần Phùng (85 tuổi, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế) sưu tầm là tài sản quý giá nhất mà ông muốn cất giữ lại cho con cháu.

Sinh ra trong gia đình nghèo thuộc xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, từ nhỏ ông Phùng đã được nghe bố mẹ kể về con đường hoạt động cách mạng của Bác Hồ. Lớn lên đi học, cậu bé Phùng càng ý thức hơn về trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với dân tộc. Chính điều này đã thôi thúc ông quyết tâm tham gia hoạt động cách mạng.

Khi còn học ở Truờng Quốc Học, ông hăng hái tham gia phong trào thanh niên chống thực dân Pháp. Năm 1948 ông lên đường nhập ngũ vào chiến đấu tại chiến trường Quân khu 4. Về sau ông được chuyển ra công tác tại Tổng cục Hậu cần, lo việc tiếp tế lương thực, súng đạn cho tiền tuyến.

Cũng trong thời gian này, ông bắt đầu sưu tầm những tư liệu, ảnh về Bác Hồ. Đáng tiếc, trong một lần tham gia chiến đấu những tư liệu đó bị thất lạc. Đến nay ông chỉ còn lưu giữ được một số bức ảnh mà ông cho rằng có ý nghĩa trong việc giáo dục người thân, con cháu về tấm gương của Bác.

Động cơ để ông sưu tầm ảnh Bác đơn giản chỉ xuất phát từ lòng kính trọng và sự yêu mến đối với Bác, một nhân cách cao cả về đạo đức cũng như lối sống giản dị, tính khiêm nhường đáng để thế hệ sau học hỏi. “Hễ thấy đâu có ảnh Bác là tôi sưu tầm, hoặc xin lại từ những người bạn cùng chiến đấu, cũng có thể là cắt lại từ các tờ tạp chí… Nhưng phần nhiều tôi mua lại từ một số người” – ông Phùng cho biết.

Với cá nhân ông, mỗi bức ảnh đều có ý nghĩa riêng của nó. Trong những bức ảnh đó, bức ảnh chụp cảnh Bác Hồ bắt tay Bác Tôn một cách thân mật làm ông ấn tượng nhất. Ngoài ra, có tấm chụp cảnh Bác đang trò chuyện với các cơ quan, đơn vị nơi Bác đến thăm và các tấm chụp cảnh Bác nói chuyện thân mật với các vị phụ lão, phụ nữ, thiếu nhi, bộ đội, nông dân… Đặc biệt, có một số tấm ảnh chụp cảnh sinh hoạt của Bác như đang ngồi trên bàn làm việc, cho cá ăn, chăm sóc cây cối, đang hút thuốc…

Một số bức ảnh ấn tượng nhất được ông Phùng đóng khung và treo ở vị trí trang trọng trong nhà.

Những bức ảnh sưu tầm về Bác qua các thời kỳ được ông lưu giữ một cách khá cẩn thận, đóng khung và treo ở vị trí trang trọng nhất trong nhà. Dù năm nay ông Phùng đã 85 tuổi nhưng vẫn hết sức minh mẫn khi nhớ lại ngày ông được gặp và nói chuyện cùng Bác. Ông xem đó là động lực giúp ông phấn đấu và sống tốt như hôm nay. Đồng thời là tấm gương cao cả cho các thế hệ sau học tập.

Nhìn lên khung ảnh, ông Phùng nhớ lại ngày ông vinh dự được gặp Bác Hồ. “Hồi ấy, tôi đang tham gia chiến đấu tại chiến trường Quân khu 4, nghe tin Bác vào thăm ai nấy đều mừng rỡ. Bản thân tôi cũng hồi hộp không kém vì được tận mắt ngắm dung nhan của Bác mà bấy lâu tôi ấp ủ. Buổi trò chuyện được tổ chức ở ngay giữa sân dưới sự chứng kiến của đông đảo cán bộ, chiến sĩ”.

Nhấp chén nước trà, ông Phùng kể tiếp: “Hôm đó Bác Hồ kể rất nhiều chuyện về quá trình hoạt động, con đường phát triển của cách mạng trong những năm tiếp theo. Bác không quên động viên anh em phát huy tinh thần yêu nước, niềm tin vào chiến đấu nhất định sẽ giành được thắng lợi. Bác hỏi thăm về đời sống của chiến sĩ có khó khăn gì không, cũng không quên dặn cán bộ phải quan tâm đến đời sống của chiến sĩ…”

Tấm ảnh chụp Bác đang ngồi nghỉ hút thuốc rất giản dị mà ông Phùng còn giữ được.

“Đến khi về Bác không quên dặn toàn thể cán bộ, chiến sĩ toàn Quân khu phải đảm bảo sức khoẻ mới có thể tiếp tục chiến đấu. Kẻ thù dù mạnh đến đâu nhưng nếu có niềm tin, sự đoàn kết một lòng thì nhất định sẽ giành được thắng lợi lớn. Những lời động viên chân thành của Bác đã giúp chúng tôi có thêm động lực để chiến đấu” – ông Phùng tâm sự.

Được biết ông Phùng còn là người trực tiếp chứng kiến lễ trao ấn, kiếm năm 1945 của vua Bảo Đại cho chính quyền cách mạng, chấm dứt sự tồn tại của triều đại phong kiến kéo dài hàng ngàn năm và mở ra một thời đại mới cho dân tộc.

Trải qua 36 năm tham gia hoạt động cách mạng, qua 2 cuộc kháng chiến, ông Phùng vinh dự nhận được nhiều Bằng khen, Giấy khen do Đảng, Nhà nước trao tặng. Do tuổi cao, năm 1984 ông được nhà nước cho nghỉ hưu trở về quê hương cùng vợ nuôi dạy con cái.

Đã đến tuổi 85 nhưng ông Phùng vẫn giữ được vẻ minh mẫn và một tinh thần yêu nước, yêu Bác Hồ nồng nàn.

Với những đóng góp đối với cách mạng, ông được nhà nước trao Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng. Ông là người có lối sống giản dị mang bản chất của người lính, người ông mẫu mực đối với con cháu, một tấm gương cho nhiều thế hệ trẻ chúng tôi trân trọng noi theo./.

Theo Dantri.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

42 năm người Kor ở Trà Bồng mang họ Bác Hồ

Báo tin tức – Vào đúng dịp kỷ niệm 121 năm ngày sinh Bác Hồ và tiến tới ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011- 2016, chúng tôi có dịp trở lại vùng đất quế Trà Bồng – nơi đã nổ ra cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi vào ngày 28/8/1959, cuộc khởi nghĩa vũ trang đầu tiên của đồng bào các dân tộc Trà Bồng giành thắng lợi, đánh một đòn chí mạng vào chính quyền tay sai Mỹ không chỉ riêng ở Quảng Ngãi mà cả miền Nam Việt Nam. Đặc biệt, cũng tại mảnh đất này cách đây gần 42 năm, tại buổi lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh do Huyện ủy Trà Bồng tổ chức, hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ, đồng bào dân tộc Kor đã đề đạt nguyện vọng lên Trung ương được mang họ của Bác Hồ. Và từ đó đến nay người Kor Trà Bồng đều được mang họ Bác Hồ.

Già làng Hồ Chí Khánh trước bàn thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ảnh: Đinh Hương- TTXVN

Đầu tháng 9/1969, người Kor Trà Bồng (Quảng Ngãi) đau buồn đón nhận tin Bác Hồ về cõi vĩnh hằng. Nước mắt ướt đẫm trên những khuôn mặt dạn dày sương gió, từng chịu đựng đắng cay gian khổ suốt bao nhiêu năm đấu tranh với kẻ thù để gìn giữ lời thề “Suốt đời theo Đảng, theo Bác Hồ làm cách mạng”, đã từng vang lên trong đại hội Gò Rô chống Mỹ (tháng 7/1958), và tiếp ngân vang trong cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi tháng 8/1959.

Già làng Hồ Chí Khánh, lão thành cách mạng xã Trà Thủy, huyện Trà Bồng kể lại: Sáng ngày 9/9/1969, hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ và đồng bào Kor vượt núi, băng sông về chiến khu Trà Lãnh (nay thuộc huyện Tây Trà) dự lễ truy điệu Hồ Chủ tịch do Huyện ủy huyện Trà Bồng tổ chức, lắng nghe Di chúc của Người và Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Bức tượng Hồ Chủ tịch tạc từ thân cây quế được trang trọng đặt lên bàn thờ để mọi tấm lòng hướng về Người trong niềm đau thương xúc động. Tại buổi lễ này, các già làng người Kor đã đề đạt nguyện vọng của đồng bào “muốn mang họ Bác Hồ” thể hiện tấm lòng trung thành với Đảng, ghi nhớ công ơn và làm theo lời dạy của Cụ Hồ. Khi nhận được kiến nghị này, đồng chí Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất BCH Trung ương Đảng đã điện trả lời, đại ý: Trung ương Đảng không chủ trương việc đồng bào mang họ Bác, nhưng đây là nguyện vọng của dân, tấm lòng của dân, nên Trung ương đồng ý. Từ đó đến nay, đã 42 năm người Kor vinh dự và tự hào được mang họ Bác Hồ – Người cha của 54 dân tộc anh em trong đại gia đình Việt Nam.

Vùng đất quế Trà Bồng năm xưa, nay là 2 huyện Trà Bồng và Tây Trà, đang chuyển mình từng ngày trong sự nghiệp đổi mới, xóa bỏ lạc hậu, đói nghèo, xây dựng quê hương giàu đẹp. Điện lưới quốc gia, trường học, trạm y tế, đường giao thông bê tông đã về tận các bản làng. Vùng căn cứ địa cách mạng trên núi Cà Đam – cao hơn 1.000 m so với mực nước biển đã kiêu hãnh trong 2 cuộc kháng chiến, giờ đây đang được khảo sát, quy hoạch chi tiết để xây dựng thành khu du lịch nghỉ dưỡng sinh thái.

Và trên mảnh đất ấy, lời thề suốt đời theo Đảng, theo Bác Hồ vẫn ngan ngát trong hương quế Trà Bồng. Già làng Hồ Chí Khánh – một trong những cán bộ lão thành của huyện Trà Bồng hiện ở thôn 2, xã Trà Thủy tự hào: Là con cháu của Bác Hồ, đồng bào dân tộc Kor Trà Bồng rất tự hào với truyền thống cách mạng của quê hương. Trong những năm gần đây, người Kor một lần nữa được tiếp thêm sức mạnh mới thông qua Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đây là cuộc vận động lớn của Đảng, do đó mọi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân trong huyện Trà Bồng đã có sự chuyển biến tích cực về nhận thức tư tưởng, ý thức rèn luyện đạo đức, lối sống; tinh thần tự phê bình và phê bình, ý thức, trách nhiệm của đảng viên đối với Đảng được nâng cao. Và ngày 22/5 tới, ngày toàn dân tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, là con cháu Bác Hồ, già cùng các con cháu là cử tri ở các bản làng sẽ hăng hái tham gia bầu cử để bầu ra những đại biểu tiêu biểu nhất của Quốc hội khóa XIII và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016.

Nguyễn Đăng Lâm

baotintuc.vn

Truyền hình Thông tấn

Năm 69 (*)

TT – Khi nhớ lại năm 1969, tâm trí tôi luôn thấy hiện lên một màn mưa trắng trời, một triền sông ngầu đỏ, mênh mông cuộn xiết, nặng nề lao chảy như sắp cuốn phăng đi cả đôi bờ.

Một mùa thu cùng một Hà Nội chưa từng thấy bao giờ trước đó và không bao giờ còn thấy lại nữa, mà bốn chục năm qua rồi không phai mờ trong ký ức.

Các cháu thiếu nhi Hà Nội vào viếng Bác Hồ tại hội trường Ba Đình
Ảnh: HỮU CẤY

1. Mùa thu gian nan, triền miên mưa bão. Năm nào cũng thế, nhưng chừng như càng vào sâu trong cuộc chiến thì lũ sông Hồng càng năm càng lớn thêm lên. Trước rằm tháng bảy đã rất nguy cấp, sau rằm còn nguy cấp hơn. Đến giữa tháng 8 thì thanh niên nam nữ cả phố tôi tất tật không trừ ai được tổng huy động đi hộ đê. Thật ra là toàn bộ thành phố. Đàn ông trai tráng trên mặt đê. Phụ nữ tham gia vận chuyển đất đá lên đê.

Tới ngày Quốc khánh mực nước đã xuống nhiều nhưng chúng tôi vẫn dốc sức tiếp tục tôn cao và đắp dày thêm đoạn đê xung yếu. Đến tảng sáng mồng bốn, đang ngủ thì tôi bị lay dậy để lên xe về nhà…

2. Lúc đó khoảng bảy giờ sáng, xe chúng tôi đang trên cầu Long Biên. Cả hai chiều của cây cầu độc đạo qua sông Hồng đều đông nghịt, chen chúc người và xe, chuyển động chầm chậm từng bước chân, từng vòng bánh. Không tiếng còi xe hơi, không tiếng chuông xe đạp, không một tiếng nói tiếng cười, không cả những tiếng chân bước mặc dù dòng người vẫn đang không ngừng chuyển động.

Mặt ướt nước mưa và đang mắt nhắm mắt mở nhưng chỉ trong chốc lát tôi đã nhận ra mọi người, tất cả, hàng ngàn con người, trên suốt dọc chiều dài gần hai cây số của cây cầu ngang qua luồng nước xiết đều đang vừa đi vừa khóc, đúng hơn là lặng khóc, khóc không thành tiếng.

Bởi vì im ắng vô cùng. Người đi bộ dọc hai bên lan can cầu, đi tay không hoặc đang gồng gánh, người đang đạp xe, người đang dắt xe, những người đang đứng trên các thùng xe tải, người ngồi trong các xe chở khách. Những anh bộ đội. Những người dân phố. Những người dân quê. Bước đi và khóc, trong mưa.

Tám đứa chúng tôi trên thùng xe và cả anh tài xế trong cabin đều là những kẻ từ trên trời rơi xuống. Cả tuần liền bám trụ đê, lội bùn đội đất, ngơi tay là lăn ra ngủ, chúng tôi bị mưa lũ cô lập với thế gian. Vậy nhưng chỉ giây lát thôi, nhìn nỗi thương đau nhất loạt cùng lúc của cả một dòng người đông nghịt đang nghẹn ngào bước đi trong mưa, chúng tôi hiểu ngay ra sự thể.

“Bác Hồ…”. Một ai đó trong chúng tôi thảng thốt thì thào, ngập ngừng. Không dám chắc chắn điều mình nghĩ, nhưng chúng tôi đều đã cảm nhận chắc chắn điều đó. Bởi vì đối với chúng tôi, ngay cả trong thời kỳ rất nhiều đau thương ấy thì một nỗi đau lớn lao, nặng nề, sâu thẳm và muôn người như một đến nhường ấy chỉ có thể là do một duyên cớ duy nhất ở trên đời mà thôi.

Đúng lúc đó, một đầu tàu xe lửa không kéo theo toa, một mình chạy không tải qua cầu, từ Hà Nội sang Gia Lâm, khi ngang qua chỗ chúng tôi đã bất thần rúc còi. Có thể nói đầu tàu ấy cất tiếng than. Không phải về sau mường tượng lại mà tôi nói thế, mà thật sự là như thế, đấy là tiếng kêu, như của con người. Lập tức, một chiếc tàu kéo neo đậu đâu đó ở mạn Phà Đen cũng cất lên tiếng còi. Rồi từ phía ga Gia Lâm, nhiều đầu xe lửa khác đồng loạt cất tiếng. Những tiếng còi tàu đớn đau khản đặc vang vọng trong màn mưa.

Phía dưới, bên chiếc xe chở chúng tôi, một phụ nữ đang dắt xe đạp bỗng bật khóc thành tiếng. Cả ngàn người không thể cầm lòng đã không cầm được nước mắt. Tiếng nức nở truyền dọc đoàn người, lan đi trên cầu, ngang qua triền sông…

3. Năm tháng trôi qua, giờ đây nhìn về thời điểm ấy, qua những bức ảnh và thước phim tư liệu, người ta thường thấy một Hà Nội nước mắt. Nhưng những ai từng thật sự trải qua những ngày đó khi nhớ lại đều sẽ nhớ đến một Hà Nội trầm lắng, cương nghị. Cả một thành phố cắn chặt răng lại chịu đựng để trụ vững, vượt qua nỗi đau tột cùng.

Hồ Chủ tịch qua đời, mất mát lớn lao đó đã khiến toàn dân sát cánh bên nhau hơn bao giờ hết, biến nỗi đau thương thành sức mạnh. Nghe những lời đó, ngày nay người ta có thể thấy là văn vẻ và đại ngôn. Song với những ai đã sống trong lòng Hà Nội vào mùa thu năm 1969 thì khi nghe nhắc lại những lời tưởng như là khẩu hiệu ấy sẽ nhìn thấy lại rõ ràng tâm trạng, ý chí, nghị lực, bản lĩnh của chính bản thân mình, gia đình mình, bạn bè, hàng xóm của mình ngày đó.

Với những người ở lứa tuổi chúng tôi, sinh ra trong những năm 1950, 1951, 1952, nhập ngũ từ khoảng năm 1968 trở về sau, nếu được hỏi năm nào là năm ác liệt nhất trong đời bộ đội đều nói là năm 1972, tuy nhiên gian khổ nhất, nguy nan nhất thì hầu hết xác định là năm 1969, 1970. Đấy là thời sau Mậu Thân, mà cũng nhiều người gọi là “thời kỳ đầu sau ngày Bác mất “.

Làm thế nào, nhờ vào đâu nhỉ mà đồng đội mình và chính bản thân mình có thể chịu đựng được, trụ vững được trong những ngày tháng vượt quá xa sức chịu đựng của con người như vậy để rồi vượt qua, gồng mình gượng dậy, vươn dậy; để rồi cuối cùng tiến được tới ngày toàn thắng?

Tháng 9-1969, ngày tập trung tân binh của khu đội Ba Đình lẽ ra là mồng bảy, đã phải lùi tới ngày 15. Một là vì nguyện vọng của anh em chúng tôi muốn được lưu lại Hà Nội trong tuần quốc tang để được xếp hàng cùng mọi người vào hội trường Ba Đình viếng Bác, hai là vì số lượng thanh niên tình nguyện nhập ngũ nhiều lên vô kể trong những ngày ấy. Tình nguyện một cách quyết liệt, mong mỏi được lên đường ngay, không chấp nhận nán chờ đến đợt sau. Tất nhiên không riêng khu Ba Đình, không riêng Hà Nội mà cả nước, địa phương nào cũng thế.

Đợt tân binh mùa thu năm ấy, được gọi là đợt 969, đoàn 969, là một đợt mà trong đó rất nhiều người là con trai cuối cùng hoặc là con trai độc nhất của các bà mẹ, nghĩa là những người vốn không thuộc vào diện được gọi tòng quân nhưng vẫn nhất định dứt áo ra đi lên đường chiến đấu.

Trong tiểu đoàn tân binh chúng tôi hồi đó có cả một số bạn học đã có giấy gọi vào đại học trong nước và cả nước ngoài. Có người đã trên tàu liên vận tới biên giới Việt – Trung rồi, nghe tin Bác mất thì xuống tàu, quay trở về Hà Nội nhập ngũ…

4. Ngày 30-4-1975, khắp cả nước đâu đâu cũng vang dậy bài ca Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng. Khi đó đang ở Sài Gòn, lần đầu tiên nghe thấy bài hát ấy, trước mắt những lính 969 chúng tôi, tất nhiên, một cách không thể nào khác được, hiện lên cảnh tượng Hà Nội mùa thu năm 1969. Mà với riêng tôi thì cụ thể là khoảnh khắc đó, trên cầu Long Biên, ngang qua giữa sông Hồng sóng xô cuồn cuộn, khoảnh khắc thoạt tiên và bất thần, choáng váng biết tin Hồ Chủ tịch đã qua đời.

Biết tin Bác mất nhưng không phải là do nghe thông báo qua đài phát thanh, mà là nhìn thấy tin đó ở thần sắc và tâm khảm của tất cả mọi người, cảm thấy tin đó từ trong không gian đất trời.

BẢO NINH (nhà văn)

(*) Trích đăng từ báo Văn Nghệ Trẻ.

_________________________

Chúng tôi khóc trong rừng miền Đông

40 năm rồi mà ký ức về những ngày tháng “đời tuôn nước mắt trời tuôn mưa” vẫn làm trái tim 82 tuổi của nhà văn Sơn Tùng run lên vì xúc động. Ông kể với Tuổi Trẻ về một lễ tang đặc biệt nhất trong cuộc đời mình – lễ tang Bác Hồ trong chiến khu miền Đông Nam bộ tháng 9-1969.

Chúng tôi đóng quân tại trảng Tà Nốt, thượng nguồn sông Vàm Cỏ, sát Tân Biên, Tây Ninh. Ngày ấy tôi là người phụ trách kiêm phóng viên của báo Thanh Niên Giải Phóng. Lãnh đạo cơ quan có anh Đoàn Hồng Đoàn – bí thư trung ương Đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng, anh Lê Thiết – phó chủ tịch Hội LHTN Giải phóng (chủ tịch là anh Trần Bạch Đằng lúc đó đang vào nội thành), anh Phan Minh Tánh, anh Mười Thu, nhân viên văn phòng có Hai Trung, Út Nhì, Năm Nhanh, Hồ Hữu Nhật, trạm xá có bác sĩ Bích Nga, phóng viên có Phạm Hậu, Tâm Tâm (Tiền Phong)…

Tôi nhớ từng người như vậy vì chúng tôi đã ngồi quanh chiếc đài để nghe tin tức chiến sự và các hoạt động mừng ngày 2-9. Tối hôm đó, chúng tôi còn tổ chức mừng Quốc khánh bằng một “bữa tiệc” với lạc rang, rượu đế và nước trà. Không có ly chén, chỉ có hai chén, một rót rượu, một rót trà, chúng tôi quay vòng, chuyền tay nhau. Và chờ đợi.

Nhưng suốt cả ngày rồi đến đêm, chiếc đài vẫn nói và Bác vẫn không xuất hiện. Anh em tôi ngồi trong những căn nhà – hầm bán âm bán dương để tránh pháo bầy và bom B52, không khí nặng nề. Hôm sau dường như cũng không chịu nổi, anh Thép Mới ở bên báo Giải Phóng cũng chạy sang, bần thần: “Sơn Phong (bút danh của tôi thời ở chiến khu) ạ, tao vừa sang nhờ bên kỹ thuật điện ra Bắc hỏi sao không thấy Bác, anh em băn khoăn lắm”. Chúng tôi lại chờ đợi. Chúng tôi không ngủ suốt đêm đó.

5g hôm sau, ngày 4-9-1969, giọng nghẹn ngào của phát thanh viên Tuyết Mai từ Đài Tiếng nói VN, vừa mới nghe được nửa câu đầu: “Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ nước VNDCCH…” cả căn hầm đã bật khóc, tiếng khóc nghẹn ngào rồi òa lên nức nở. Cả cơ quan khóc ròng.

Tôi nhớ người đầu tiên chạy đến ôm lấy tôi nấc lên từng đợt là giáo sư Lê Thiết – người bạn thân thiết của luật sư Nguyễn Hữu Thọ và KTS Huỳnh Tấn Phát – bỏ thành lên chiến khu, ngày đêm mong ước hòa bình được ra Hà Nội gặp Bác Hồ. Ông nghẹn giọng: “Tùng ơi, thế là không khi nào mình còn được gặp Bác Hồ nữa rồi”.

Cả cơ quan u ám. Cơm đã dọn ra nhưng không ai ăn, bữa sáng, rồi bữa trưa, bữa tối cũng vậy. Chỉ những ai có việc phải đi công tác thì đi, vừa đi vừa khóc.

Chúng tôi quyết định tổ chức lễ truy điệu Bác Hồ ngay trong rừng. Bàn thờ Bác được kết băng hoa, chị em đi về hằng ngày luôn thay hoa mới. Chúng tôi đeo những chiếc băng tang nửa đỏ nửa đen. Sáng ra, đều đặn những bát cơm được đặt lên bàn thờ – như ở nhà chúng tôi cúng cha mẹ mình.

Tôi nhớ nhất trong những ngày ấy, có một tờ báo từ Sài Gòn đưa lên có bài của giáo sư Lý Chánh Trung viết về Bác. Trên tờ Đối Diện, từ giữa Sài Gòn, ông viết về Bác Hồ cực kỳ trân trọng và cảm động. Có những câu tôi thuộc lòng đến tận hôm nay.

Cũng chính từ lúc đó, tôi bắt đầu ghi chép những chi tiết về tang lễ và tình cảm của đồng bào, đồng chí với Bác để viết tập Nhớ nguồn: trí thức, sinh viên nội thành, chiến khu, đồng bào trong ấp chiến lược… nhớ Bác, anh em trinh sát ở Tháp Mười còn để tang Bác trong mùa nước nổi không một tấc đất nào nhoi nổi trên mặt nước.

VIỆT HOÀI ghi

tuoitre.vn

Những vần thơ về Chủ tịch Hồ Chí Minh

Người

TT – Một người không Phật mà rất Phật
Không tắm Hoàng Hà tắm sông Lam

Một người rất Mác mà ngoài Mác
Nghèo như chút nhút ngọt như cam

Một người quốc tế vì dân tộc
Một lòng sau trước nghĩa kết đoàn

Một người hóa thân thành dân nước
Không là thần thánh chẳng vua quan

Một người mang đủ bao khao khát
Như mọi con người ở trần gian

Cuộc đời vạn biến mà không khác
Một người toàn vẹn chỉ Việt Nam.

VIỆT PHƯƠNG (2005)

Ảnh tư liệu

Di chúc của Người

… Bác bình yên viết Di chúc ngay giữa ngày sinh nhật
Khi non sông đang chúc thọ Người
Dẫu ra đi cũng là ngày gieo hạt
Giấu niềm đau dưới một ngày vui.
Di chúc không viết lên đá, khắc lên vàng chói lọi
Mà trên bản tin hằng ngày, lật lại,
Sau bản tin một hôm, Người ký thác chuyện muôn đời.
Người không muốn lúc ra đi làm ta đột ngột
Bảo cái sinh cái tử cũng thường thôi
Câu thơ Đỗ Phủ “cổ lai hi”, Người sẽ nhắc
Bác chẳng muốn ta cau vầng trán nhìn quy luật
Bác không nói tuổi già, Bác bảo tám mươi xuân!
Lời văn trong suốt trong veo như nước mắt,
Cái nỗi đau đã lọc đến trong ngần.

Ôi, muôn vàn tình thương yêu tỏa ra từ lúc ấy
Muôn vàn tình thương yêu tràn lên khắp núi sông
Ngỡ như trên nghìn đỉnh non cao, vạn dòng nước chảy
Có tình thương của Bác bao trùm.

Người sắp xa nhân dân từng yêu suốt một đời
Xa miền Nam nửa thế kỷ rồi chẳng gặp
Xa các cháu nhi đồng, mùa hoa Tổ quốc
Gần Mác, Lênin, nhưng sắp chia tay đồng chí đấy rồi!

Di chúc Người viết cho ta, đâu phải vì Người
Bác sợ khi Bác đi rồi, ta sẽ lạnh
Sợ ta đau, sợ rồi ta lơ đễnh,
Sợ ta quên…
Người gửi lại một niềm tin
Còn như Người, Người đã hóa hương sen,
Trở về cái làng Sen muôn thuở
Mắt rưng lệ, ta đọc Di chúc Người từng câu từng chữ
Ngỡ như trước mắt, trên cao đâu đó, Bác nhìn.

CHẾ LAN VIÊN
(19-3-1976 – trích)

____________________

Thấm trong di chúc

… Quá thương đời và lo nỗi dân đau,
Bác cố tránh nói những lời ly biệt
Mượn câu thơ để khuây lòng thương tiếc.
Ôi lòng Người đo sao hết mông mênh
Nghĩ việc gì Bác cũng nghĩ từ dân
Nói về Đảng cũng vì dân mà nói,
Nước còn giặc, dân còn khi lạnh đói
Bác đắng lòng trong mỗi miếng cơm ăn,
Thắng quân thù dẫu phải mấy mươi năm
Nhưng hạt thóc rụng giữa đồng Bác tiếc.
Nguồn biển lớn uống muôn đời không hết
Vẫn kính nhường từng hạt nước trong sông.
Bác Hồ ơi! Vị muối mặn con ăn
Đã kết đậm bao tình thương của Bác,
Manh áo ấm con mặc khi trở rét
Đã dệt vào trăm mối Bác lo toan.
Phút giã từ trong ánh mắt đăm đăm
Nỗi ưu ái lại trào lên lần chót:
Hãy giữ đức cho trong, giữ lòng cho khiết
Sống kiệm cần, tương kết tương thân…

… Thế kỷ này đâu phải đã bình yên
Trái tim lớn nặng niềm đau mặt đất.
Tình bè bạn, phút ra đi, còn nhắc
Dao cắt lòng nhưng vẫn ngập yêu tin.

Lần đầu tiên Bác nói đến niềm riêng,
Cả nước khóc nghe những lời dặn cuối.
Ôi trời rộng và núi cao vời vợi
Sông biển nào sánh được Bác thương ta!
Bữa cơm ăn vẫn quen nhút quen cà,
Lúc nhắm mắt xin dân đừng tang chế.
Ôi tim Bác sao mà mênh mông thế!
Gương trong ngần cho muôn thuở cùng soi.

Triệu lòng người cùng cất gọi: Bác ơi!
“Muôn vàn tình thương yêu” Bác gửi lại trong lời.

VŨ QUẦN PHƯƠNG
(12-1969 – trích)

Về ba bản Di chúc của Bác Hồ

Di chúc của Bác có ba bản: bản viết năm 1965, bản viết năm 1968 và bản cuối cùng viết năm 1969. Những năm 1966, 1967 Bác chỉ xem chứ không sửa.

Bản di chúc viết năm 1965 gồm ba trang, Bác tự tay đánh máy (ghi rõ nhân dịp mừng 75 tuổi), đây là nội dung cơ bản của Di chúc, tương đối hoàn chỉnh so với những gì chúng ta đã biết.

Bản viết năm 1968 dài sáu trang, Bác viết tay hoàn toàn. Bác đã xem lại bản năm 1965, viết thêm về những việc cần làm của Đảng. Bác viết cả hai mặt giấy, đó là thói quen của Người, hoặc viết trên giấy một mặt, đã là giấy trắng thì bao giờ cũng viết tay trên cả hai mặt.

Bản cuối cùng năm 1969, chỉ có một trang, Bác viết thêm đoạn mở đầu của Di chúc. Đây cũng là bản viết tay, Bác viết trên mặt sau của tờ Tin Nhanh Tham Khảo Đặc Biệt của TTXVN mà ngày nào Bác cũng đọc để nắm tình hình đất nước và thế giới. Bản tin đề ngày 3-5-1969.

Cả ba bản thảo gốc Di chúc của Bác Hồ hiện còn nguyên hiện trạng, chất lượng tốt, được bảo quản tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng. Bản trưng bày tại Bảo tàng Hồ Chí Minh là bản photocopy màu.

Tiến sĩ NGUYỄN THỊ TÌNH
(nguyên giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh)

tuoitre.vn

Báo Pháp viết về sự kiện Bác Hồ đến Marseille

Báo tin tức – Nhân kỷ niệm 100 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Pháp, báo La Marseillaise, nhật báo của vùng Provence ở miền nam nước Pháp, đã dành trọn một trang khổ A3 và dòng tiêu đề chữ lớn ngay trang nhất của báo để giới thiệu sự kiện này, qua bài viết “Cách đây 100 năm, Hồ Chí Minh khám phá Marseille”.

Con tàu Đô đốc Latouche Tréville đã đưa người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đến Pháp.

Báo đăng toàn văn bài phỏng vấn ông Nguyễn Văn Bổn, Phó Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Pháp về những hoạt động của Bác khi tới thành phố Marseille của Pháp trên hành trình tìm đường cứu nước và sử dụng bức tranh minh họa vẽ Bác Hồ trên con tàu Đô đốc Latouche Tréville trên đường tới Pháp.

Trả lời các câu hỏi của phóng viên Leo Purguette, ông Nguyễn Văn Bổn đã giới thiệu với độc giả thành phố biển Marseille về sự kiện người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh đặt chân tới thành phố này cách đây 1 thế kỷ, cũng như những nhận thức của Bác về các vấn đề “giai cấp,” “thuộc địa,” “chủ nghĩa xã hội”… trước khi Bác đi tìm đường cứu nước. Ông đã giúp độc giả Pháp tìm hiểu vì sao Bác Hồ lại tìm đường tới nước Pháp, thấy được ý nghĩa của những chuyến khám phá đầu tiên này đối với cả sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như tình cảm của kiều bào Việt Nam tại Pháp đối với Bác Hồ.

Báo La Marseillaise đăng bài viết đúng dịp triển lãm “Bác Hồ với nước Pháp” diễn ra tại thành phố Marseille.

Bà Hélène Luc, Chủ tịch Hội hữu nghị Pháp – Việt, nhấn mạnh, cuộc triển lãm về cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh giúp tăng cường và phát triển những giá trị của tình đoàn kết Pháp – Việt.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nỗ lực phát triển tình đoàn kết giữa hai nước Việt Nam và Pháp. Những người cộng sản Pháp đầu tiên đã đón nhận người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc vào hàng ngũ của mình tại Đại hội Tours năm 1920. Sau đó, những nhà cách mạng Pháp như Henri Barbusse, Romain Roland đã hết lòng ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Nam trong cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp và vận động công luận Pháp phản đối Hoa Kỳ xâm lược Việt Nam. Ngày nay, Hội hữu nghị Pháp – Việt sẽ tiếp tục ủng hộ Việt Nam trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, đưa ra nhiều sáng kiến ủng hộ cuộc đấu tranh đòi công lý cho các nạn nhân chất độc da cam Việt Nam.

Lê Hà (P/v TTXVN tại Pháp)

baotintuc.vn

Trở lại nơi Bác Hồ viết Tuyên ngôn độc lập

Báo tin tức – Vào những ngày đầu tháng 9 lịch sử, chúng tôi có dịp trở lại ngôi nhà 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân, nơi Bác Hồ đã viết Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước ngày 2/9/1945. Ngôi nhà này đã được công nhận là Di tích Lịch sử văn hóa vào ngày 29/4/1979.

Những dấu ấn lịch sử

Dịp này, cán bộ của điểm di tích 48 Hàng Ngang- 35 Hàng Cân (Bảo tàng Hà Nội) đang chuẩn bị triển lãm chuyên đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bản Tuyên ngôn độc lập” dự kiến diễn ra trong quý IV/2011. Bà Nguyễn Thị Mai, phụ trách điểm di tích này cho biết: “Trưng bày dự kiến chia làm 3 phần: Ngôi nhà Hàng Ngang nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Bản Tuyên ngôn độc lập; Tư tưởng Hồ Chí Minh trong Bản Tuyên ngôn độc lập; Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kiên định giữ vững nền độc lập tự do. Những tư liệu, hiện vật, ảnh giới thiệu… tại triển lãm lần này do Bảo tàng Hà Nội, Bảo tàng Hồ Chí Minh và TTXVN hỗ trợ, cung cấp. Do điểm di tích này gắn với sự ra đời của Bản Tuyên ngôn độc lập nên triển lãm sẽ tập trung vào chủ đề này. Bản thân căn phòng, nơi Bác và các đồng chí Trung ương Đảng làm việc, tại tầng 2 của tòa nhà này, cũng đã là một minh chứng cho một thời khắc lịch sử của Cách mạng Việt Nam”.

Phần trưng bày ở tầng 1 tại 48 Hàng Ngang.

Theo bà Mai, trưng bày lần này sẽ có phần dành riêng liên quan đến chủ ngôi nhà 48 Hàng Ngang là gia đình nhà tư sản yêu nước Trịnh Văn Bô và lịch sử ngôi nhà 48 Hàng Ngang – nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử gắn liền với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. “Bên cạnh đó, triển lãm cũng làm nổi bật sự kế thừa truyền thống dân tộc của Bản Tuyên ngôn độc lập qua hai bản trích bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt- được nhìn nhận như là Bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Đại Việt thế kỷ XI và “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi – Bản Tuyên ngôn độc lập thứ 2 của Đại Việt thế kỷ XV. Và Bản Tuyên ngôn độc lập của Bác Hồ là kế thừa truyền thống đấu tranh giành độc lập tự do của dân tộc ta”, bà Mai cho biết thêm.

Nơi Bác Hồ họp với Thường vụ Trung ương Đảng (1945).

Nơi Bác Hồ viết Bản Tuyên ngôn độc lập (1945).

Được biết, trước đây, điểm di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn độc lập chỉ có tầng 1 và tầng 2 của tòa nhà 48 Hàng Ngang; phần còn lại do Chi cục Thuế Hoàn Kiếm sử dụng. Năm 2008, di tích này đã được UBND thành phố Hà Nội khôi phục nguyên gốc gồm cả tòa nhà 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân với diện tích mặt sàn hơn 443 m2. Trong khoảng thời gian năm 2008 – 2009, điểm di tích này tạm đóng cửa để tu sửa. Vào dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, nơi đây mới mở cửa trở lại với trưng bày chuyên đề “Học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, diễn ra từ tháng 5/2010. Hiện nội dung trưng bày này vẫn tiếp tục tại tầng 1 của ngôi nhà 48 Hàng Ngang.

Được sự giới thiệu của cán bộ điểm di tích 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân, chúng tôi đã có dịp gặp bà Hoàng Thị Minh Hồ, vợ ông Trịnh Văn Bô. Năm nay, dù 97 tuổi nhưng bà vẫn còn minh mẫn khi kể về những ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Bà Hoàng Thị Minh Hồ kể: “Ngôi nhà đã được ông bà sửa sang, tôn tạo theo lối kiến trúc hiện đại thời thuộc Pháp. Nhà có 4 tầng, tầng 1 làm cửa hàng bán tơ lụa tại 48 Hàng Ngang, còn phía 35 Hàng Cân là nơi để xe, kho hàng. Tầng 2 và tầng 3 có nhiều phòng dùng làm phòng tiếp khách, phòng ăn, phòng ngủ. Tầng 4 ngoài phòng để ở còn có một sân thượng phơi phóng. Ngôi nhà chạy dài theo kiểu “nhà ống” truyền thống, mặt trước là cửa hàng, còn mặt sau quay ra 35 phố Hàng Cân.

Lưu bút của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong sổ lưu niệm của di tích 48 Hàng Ngang- 35 Hàng Cân.

Do nằm ngay giữa khu buôn bán nhộn nhịp nên ngôi nhà 48 Hàng Ngang đã được chọn làm địa điểm đón Bác Hồ. Hơn thế, gia đình ông bà Trịnh Văn Bô là một gia đình yêu nước, được giác ngộ cách mạng và là một trong những cơ sở cách mạng tại nội thành, nên nơi đây đã được chọn làm nơi ở và làm việc của Bác cùng các đồng chí trong Thường vụ Trung ương Đảng trước ngày khởi nghĩa. Các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh đã đưa Bác đến ngôi nhà này. Xe ô tô đưa Bác không đỗ ở cửa trước mà đi vòng lối cổng sau thuộc phố Hàng Cân, vào tận sân trong.

Bà Hoàng Thị Minh Hồ kể: “Dịp cuối tháng 8/1945, gia đình tôi chỉ biết có một “thượng cấp” đến ở và làm việc. Khi các anh Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh dẫn Bác vào nhà, chúng tôi ra chào. Tôi còn nhớ Bác mặc rất giản dị, áo nâu, quần soóc nâu, đội mũ dạ. Chúng tôi đưa Bác lên gác 3, nơi tôi đã dọn sẵn một buồng, nhưng Bác lại xuống tầng 2 ở luôn cùng các đồng chí và làm việc tại đó. Đến ngày 2/9, khi Bác Hồ đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, gia đình tôi mới biết “thượng cấp” ở nhà chúng tôi chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bà Hoàng Thị Minh Hồ (thứ 2 từ trái sang).

“Những ngày tháng 8 này, tôi vẫn nhớ như in những ngày tháng hào hùng đó. Phố nào cũng có cờ đỏ sao vàng, người dân đổ ra đường đấu tranh, mít tinh giành độc lập. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố đất nước độc lập, người dân nào cũng vui vì từ nay không còn là người dân nô lệ nữa. Đó là điều sung sướng nhất”, bà Hoàng Thị Minh Hồ cho hay.

Làm sống động di tích

Đến điểm di tích 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân, chúng tôi được chị Nguyễn Bích Hạnh, cán bộ điểm di tích dẫn đi thăm, giới thiệu về ngôi nhà, chỉ dẫn nơi Bác đã ở và làm việc tại ngôi nhà này từ ngày 25/8 đến đầu tháng 9/1945; nơi Bác cùng Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định nhiều chủ trương quan trọng về đối nội, đối ngoại trong tình hình mới; về thể chế và thành phần của Chính phủ mới, về tổ chức ngày lễ Độc lập… Cũng chính tại căn phòng ở tầng 2 của ngôi nhà này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây cũng là văn kiện pháp lý, tuyên bố với toàn thế giới về quyền độc lập tự do của Việt Nam.

Chị Hạnh cho biết, du khách vào thăm điểm di tích này chủ yếu là khách nước ngoài; còn khách nội địa chủ yếu theo đoàn đến nhân dịp ngày lễ như thành lập Đoàn, dịp Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Bình quân khoảng 40 – 50 khách/ngày. Khảo sát ý kiến của các doanh nghiệp du lịch tại khu phố cổ cho thấy, khách quốc tế đến điểm di tích 48 Hàng Ngang vì muốn được chứng kiến nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Bản Tuyên ngôn độc lập. Tuy nhiên, hiện tại phần trưng bày chuyên đề về Bác ở đây không có gì mới so với hiện vật có tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, nơi mà nhiều du khách đã ghé thăm khi vào Lăng viếng Bác. Hiện tại dù căn nhà 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân đã được khôi phục nguyên gốc, nhưng phần cho du khách tham quan vẫn chỉ là tầng 1 và tầng 2 của khối nhà 48 Hàng Ngang, nên họ chỉ ghé qua chụp vài bức ảnh lưu niệm rồi về.

Theo các doanh nghiệp du lịch, điểm di tích này chưa thực sự tạo thành điểm thu hút do chưa đa dạng phần nội dung. Bên cạnh giới thiệu với du khách về một điểm Bác Hồ đã viết Bản Tuyên ngôn độc lập, điểm di tích này có thể khôi phục, giới thiệu các nét văn hóa của người Hà Nội đầu thế kỷ 19, nhất là nơi đây từng là cửa hàng bán lụa nổi tiếng. Sự giới thiệu đa dạng về các hoạt động văn hóa như ngôi nhà cổ 87 Mã Mây là điều đáng để học tập, để di tích đến gần với cuộc sống. Có vậy mới tạo được sức hút với du khách.

Tầng 2, nơi Bác viết Bản Tuyên ngôn độc lập gồm hai căn phòng, một phòng tiếp khách và một phòng Bác ở. Phòng tiếp khách có ban công nhìn ra mặt phố Hàng Ngang, rộng chừng 50 m2, có cửa kính, cửa chớp, che rèm lụa trắng. Căn phòng nhỏ Bác ở có diện tích khoảng 20 m2, đồ đạc rất đơn sơ. Chính tại căn phòng nhỏ bé này, Bác Hồ đã khởi thảo Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Bài và ảnh: Xuân Minh

baotintuc.vn

Những kỷ niệm của nhà báo nước ngoài cuối cùng phỏng vấn Bác Hồ

Báo tin tức – Chắc rất nhiều người khi nghĩ đến những người bạn Cuba thân thiết của nhân dân Việt Nam, đều nói đến nữ nhà báo Marta Rojas. Bà đã từng nhiều năm lặn lội trên đất nước Việt Nam trong thời gian chiến tranh, từ các tỉnh đồng bằng Bắc bộ cho tới những khu rừng bạt ngàn ở chiến trường miền Nam, và những bài báo của bà đã giúp cho nhân dân Cuba và Mỹ Latinh hiểu rõ thêm về cuộc đấu tranh chính nghĩa vì độc lập dân tộc của Việt Nam. Nhưng kỷ niệm không thể nào quên trong cuộc đời làm báo của bà Marta Rojas chính là cuộc phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh vào tháng 7/1969, chỉ hai tháng trước khi Người mãi mãi đi xa. Đó cũng chính là cuộc phỏng vấn cuối cùng của một nhà báo nước ngoài với vị lãnh tụ vô vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam.

Nhà báo Marta Rojas và bức ảnh mà Bác Hồ ký tặng bà sau cuộc phỏng vấn vào tháng 7/1969. Ảnh: Hoài Nam

Chúng tôi đến gặp nhà báo Marta Rojas tại nhà riêng vào một ngày giữa tháng 8 với mong muốn được bà thuật lại kỷ niệm về những chuyến đi thực tế ở chiến trường Việt Nam, và đặc biệt là cuộc phỏng vấn lịch sử với Bác Hồ. Khi biết được ý định của chúng tôi, cảm xúc của bà Marta Rojas dường như dâng trào. Những hoài niệm về một thời tuổi trẻ đầy nhiệt huyết ngay lập tức trở lại trong tâm trí của Marta Rojas. Với một trí nhớ tuyệt vời, một giọng kể ấm áp và đầy cuốn hút, câu chuyện của bà khiến chúng tôi cảm tưởng như tất cả vừa mới diễn ra hôm qua…

Marta Rojas và chị Phan Thị Quyên, vợ của anh hùng liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi trong rừng Tây Ninh. Ảnh: tư liệu của bà Marta Rojas

Đó là vào năm 1965. Marta Rojas, một phóng viên trẻ của báo Revolucion (Cách mạng), nhận được chỉ thị trực tiếp của Tổng tư lệnh Fidel Castro với yêu cầu phải sớm sang Việt Nam để tìm hiểu và thông tin một cách sống động và chân thực nhất về cuộc chiến đấu anh dũng, quả cảm của nhân dân Việt Nam vì độc lập dân tộc. Ngay khi chuẩn bị lên đường, bà Marta Rojas đã ấp ủ ý định phải bằng mọi cách phỏng vấn được Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài của Cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, do điều kiện lúc bấy giờ không cho phép nên bà đành phải gác lại “ước muốn cháy bỏng” đó với niềm tin sẽ có một ngày được gặp Bác Hồ. Năm đó bà Marta Rojas được đưa tới Campuchia và từ đó vượt rừng vào căn cứ địa của cách mạng miền Nam Việt Nam ở Tây Ninh. Trong thời gian ở cùng với các chiến sỹ cách mạng Việt Nam, bà đã viết hàng loạt bài báo để gửi về nước và nhờ đó nhân dân Cuba ở bên kia địa cầu càng hiểu thêm về cuộc kháng chiến trường kỳ đầy vất vả gian lao nhưng cũng vô cùng vẻ vang của nhân dân Việt Nam.

Nhà báo Marta Rojas (thứ tư từ phải sang) đang được các chiến sỹ quân giải phóng hướng dẫn cách lắp súng trong rừng Tây Ninh. Ảnh: tư liệu của bà Marta Rojas

Liên tiếp những năm sau đó bà Marta Rojas đều dành thời gian để đến với đất nước Việt Nam. Cũng vì tình yêu với đất nước hình chữ S mà bà đã tham gia tích cực vào các phong trào đoàn kết với Việt Nam và từng có mặt tại một số diễn đàn quốc tế với tư cách là một nhân chứng sống để tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ chống lại nhân dân Việt Nam. Và rồi tới năm 1969, trong một chuyến đi như bao chuyến đi khác mà bà thực hiện tới Việt Nam, Marta Rojas tiếp tục bày tỏ nguyện vọng được phỏng vấn Bác Hồ với các đồng chí lãnh đạo Việt Nam. Một ngày giữa tháng 7/1969 khi đang trọ tại khách sạn Thống Nhất, bà Marta Rojas bất ngờ nhận được một cuộc điện thoại của Tổng Biên tập báo Nhân Dân Hoàng Tùng với lời nhắn: “Sáng mai đúng 6 giờ 30 tôi sẽ đón đồng chí vào gặp Bác Hồ”.

Bà Marta Rojas bồi hồi nhớ lại: “Sáng hôm đó khi cùng với đồng chí Hoàng Tùng và một đồng chí phiên dịch vừa bước vào khuôn viên Phủ Chủ tịch thì tôi đã thấy từ xa một cụ già tươi cười tiến lại gần và chủ động chào tôi bằng tiếng Tây Ban Nha “Buenos días, Marta” (Chào buổi sáng đồng chí Marta). Sau một thoáng bất ngờ tôi nhận ra đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu mà tôi luôn ước ao được gặp mặt. Đã được đọc và nghe nhiều về Bác Hồ nhưng được gặp trực tiếp tôi mới cảm nhận hết được sự giản dị, gần gũi và lịch thiệp trong con người vĩ đại đó. Lúc đó Bác cũng hỏi thăm tôi về sức khỏe của đồng chí Fidel Castro và nói rằng bác rất thích đọc các bài diễn thuyết của vị Tổng tư lệnh đáng kính của nhân dân Cuba”.

Bà Marta Rojas (đội khăn rằn), nhà báo Raul Valdez Vivo (ngồi bên cạnh) đang được các chiến sỹ Quân giải phóng đưa qua sông. Ảnh: tư liệu của bà Marta Rojas.

Bà Marta Rojas kể rằng trong gần 30 phút đầu tiên của cuộc gặp gỡ đó, dường như bà trở thành người “bị phỏng vấn” khi Bác hỏi thăm về chuyến đi vào miền Nam đầu tiên của bà năm 1965. Bác cũng muốn biết về những cảm nhận của một nhà báo nước ngoài khi được tận mắt chứng kiến cuộc sống và tinh thần chiến đấu của các chiến sỹ ở miền Nam. Bà Marta Rojas vô cùng xúc động khi nhắc lại câu nói của Bác Hồ sau khi nghe bà tường thuật lại những trải nghiệm của mình rằng: “Nỗi đau và sự chịu đựng của nhân dân miền Nam cũng chính là nỗi khổ tâm của tôi. Tình yêu tôi dành cho nhân dân ở miền Nam cũng giống như nhân dân ở miền Bắc. Tôi luôn dành cả cuộc đời vì hạnh phúc của nhân dân mình”.

Bác Hồ cũng đề nghị bà Marta Rojas kể lại chuyến đi mà bà vừa thực hiện trước đó ít ngày vào khu vực vĩ tuyến 17 và hỏi thăm về lá cờ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở phía Bắc sông Bến Hải. “Bác nói rằng ngay ở những thời điểm khốc liệt nhất, hứng chịu nhiều nhất các đợt ném bom của kẻ thù thì lá cờ đó cũng không bao giờ ngừng tung bay. Quân và dân Việt Nam ở vùng đất lửa đó đã làm tất cả để bảo vệ lá cờ. Đó là biểu tượng của một nước Việt Nam thống nhất. Những tấm gương đó đã tiếp thêm sức mạnh cho chúng tôi trong cuộc chiến đấu trường kỳ”, nhà báo Marta Rojas hồi tưởng lại và cho biết thêm lúc đó bà nhận thấy trong ánh mắt của Bác Hồ một niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi cuối cùng của nhân dân Việt Nam.

Bà Marta Rojas cũng chia sẻ với Bác về tình hình của Cuba, cũng như tình cảm mà lãnh đạo và nhân dân Cuba anh em dành cho đất nước Việt Nam anh hùng. Bác Hồ đã gửi lời thăm hỏi tới các đồng chí lãnh đạo và nhân dân Cuba và kết luận bằng câu nói ví von: “Việt Nam và Cuba là hai người anh em ở hai nửa địa cầu. Khi Cuba ngủ thì Việt Nam thức để canh gác và khi Việt Nam ngủ thì Cuba thức để bảo vệ”.

Nhà báo Marta Rojas cũng nhớ lại một chi tiết vô cùng thú vị trước khi chia tay với Bác: “Với ước ao được phỏng vấn Bác Hồ nên trước mỗi chuyến đi tôi đều chuẩn bị một món quà để nếu có dịp gặp Người tôi sẽ tặng làm kỷ niệm. Trước chuyến đi năm 1969 đó, khi tôi đang còn đang loay hoay suy nghĩ xem chuẩn bị đồ lưu niệm gì thì đồng chí Celia Sanchez (thư ký của Tổng tư lệnh Fidel Castro) nói với tôi rằng nên mang một chiếc gạt tàn vì Bác Hồ có thói quen hút thuốc. Và đó là món quà tôi đã mang sang Việt Nam. Khi kết thúc cuộc phỏng vấn tôi đã đưa chiếc gạt tàn tặng Người. Bác Hồ rất vui vẻ nhận món quà của tôi và nói rằng Người đã bỏ thuốc rồi tuy nhiên chiếc gạt tàn đó vẫn rất có tác dụng. Vừa nói Bác vừa với tay lên bàn làm việc lấy những chiếc ghim giấy đặt vào chiếc gạt tàn”.

Bà Marta Rojas thổ lộ, điều đọng lại lớn nhất trong tâm trí của bà sau cuộc gặp gỡ đó chính là sự giản dị, chân thành và gần gũi trong con người vĩ đại của Bác Hồ. Sau này bà cũng đã có nhiều dịp thăm lại Việt Nam và mỗi lần trở lại bà đều nhận thấy những sự “thay da đổi thịt” của mảnh đất Việt Nam anh hùng đúng với mong muốn “xây dựng đất nước mười lần tươi đẹp hơn” của Bác.

Hoài Nam (P/v TTXVN tại Cuba)

baotintuc.vn

Về “Thủ đô kháng chiến” nghe kể chuyện Bác Hồ

Báo tin tức – Trong thời gian Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác Hồ đã có gần 6 năm sống và làm việc tại các địa điểm khác nhau trên đất Tuyên Quang. Đến tận bây giờ, những kỷ niệm và hình ảnh về Bác vẫn in đậm trong tâm trí nhiều đồng bào các dân tộc nơi đây. 

“Nhân dân nắng thì Bác cũng nắng”

Đã 66 năm trôi qua, nhưng kỷ niệm về Bác Hồ vẫn in đậm trong ký ức ông Viên Phúc Tần, 87 tuổi, thôn Cả, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương (Tuyên Quang). Ông Tần kể: “Trước Cách mạng tháng Tám, tôi làm Thư ký Chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh xã Kim Trận (nay là xã Tân Trào). Nhận chỉ đạo của cấp trên, tôi đã đi vận động cán bộ, nhân dân trong xã làm bè để đón Bác Hồ qua sông Phó Đáy về Tân Trào lãnh đạo cách mạng Việt Nam, chuẩn bị Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Trong thời gian Bác ở Tân Trào, tôi đã nhiều lần được gặp Bác. Có lần chúng tôi đi học Điều lệ Đảng về thì gặp Bác. Bác liền hỏi “Các cháu đi đâu về?”. Chúng tôi trả lời Bác là đi học về. Bác lại hỏi “Học cái gì?”. Chúng tôi trả lời: “Thưa Bác, chúng cháu đi học Các Mác ạ!”.

Lán Nà Lừa – nơi Bác Hồ đã sống và làm việc từ cuối tháng 5 đến 22/8/1945.

Tuy nhiên, kỷ niệm mà tôi nhớ nhất về Bác là vào năm 1961, Bác về lại Tân Trào, nói chuyện với bà con. Lúc đó, tôi đang là quyền Bí thư Đảng ủy xã Tân Trào. Biết Bác Hồ về thăm, bà con trong xã náo nức lắm. Ngay từ sáng sớm mọi người tập trung tại khu vực đình Tân Trào rất đông để nghe Bác nói chuyện. Trời nắng, một cán bộ bảo vệ lấy mấy tàu lá cọ để che cho Bác, Bác liền xua tay và bảo: “Không phải che cho Bác. Nhân dân nắng thì Bác cũng nắng”.

Cũng theo ông Tần, trong thời gian ở Tân Trào, Bác thường xuyên đi bộ và cải trang bằng chiếc khăn mặt trắng trùm lên đầu…

Rời nhà ông Tần chúng tôi tìm đến ngôi nhà sàn của ông Nguyễn Tiến Sự – người đã nhường nhà cho Bác Hồ sống và làm việc trong thời gian Người mới trở về từ Pác Bó. Ngôi nhà của ông Sự nằm cách cây đa Tân Trào khoảng 50 m. Giờ đây, ông Sự không còn nữa, nhưng các thế hệ con cháu ông vẫn luôn nhớ hình ảnh và những việc làm của Bác. Bà Hoàng Thị Mai, con dâu trưởng của ông Nguyễn Tiến Sự, năm nay đã 71 tuổi, kể lại: “Năm 1945, bố chồng tôi (ông Sự) là Chủ nhiệm Việt Minh xã Tân Trào. Một hôm, gia đình được giao nhiệm vụ đón tiếp bộ đội. Đến sẩm tối thì có một ông cụ mặc áo chàm dân tộc Nùng, đi giày vải, dẫn mấy người vào ngõ. Người trong làng được giới thiệu đó là đồng chí Thượng cấp và đều gọi Người là “Ông Cụ”. Gia đình dành một gian nhà để “Ông Cụ” ở và làm việc. Thường cứ 4 giờ sáng, “Ông Cụ” dậy và đánh thức mọi người dậy cùng tập thể dục, sau đó Cụ mới vào bàn làm việc. Thời gian rảnh Cụ dạy dân học chữ, trồng lúa, thực hiện nếp sống vệ sinh để tránh ốm đau bệnh tật, Cụ luôn gương mẫu đi đầu để mọi người làm theo. Sau đó, “Ông Cụ” chuyển lên lán Nà Lừa ở và làm việc. Và phải đến khi cuộc Tổng khởi nghĩa thắng lợi, nước nhà giành độc lập, nhân dân trong huyện nô nức đi rước ảnh Chủ tịch nước thì tôi mới biết “Ông Cụ” là Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Người được Bác Hồ tặng quà cưới

Còn với bà Nông Thị Mơ, dân tộc Tày, thôn Tân Lập, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương (Tuyên Quang) – người vinh dự được Bác Hồ tặng quà trong ngày cưới, thì dù năm nay đã bước sang tuổi 87, nhưng mỗi khi nhắc đến Bác Hồ, bà vẫn bồi hồi xúc động.

Bà Nông Thị Mơ, dân tộc Tày, thôn Tân Lập, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, đang kể cho cháu nghe những kỷ niệm về Bác Hồ.

Tiếp chúng tôi trong ngôi nhà sàn theo kiến trúc truyền thống của dân tộc Tày, bà Mơ tâm sự: “Vào trung tuần tháng 6 năm 1945, vợ chồng tôi tổ chức lễ cưới. Và thật vinh dự cho vợ chồng tôi là hôm tổ chức lễ cưới, Bác Hồ đã tới dự và tặng vợ chồng tôi hai đồng. Số tiền đó được Bác để trong chiếc hộp hình chữ nhật. Bác dặn vợ chồng tôi phải sống hạnh phúc, suốt đời yêu thương nhau”.

Đã 66 năm trôi qua, chiếc hộp đựng tiền của Bác tặng vẫn được bà Mơ lưu giữ cẩn thận như một báu vật trong cuộc đời. Cũng theo bà Mơ, nhớ lời Bác dặn, dù hoàn cảnh gia đình nhiều khi rất khó khăn, nhưng vợ chồng bà luôn thương yêu nhau, chưa khi nào nặng lời với nhau. Hiện 5 người con của bà đều đã trưởng thành và có công ăn việc làm ổn định.

Không chỉ hạnh phúc vì được Bác tặng quà cưới, mà kỷ niệm về những ngày tham gia Việt Minh ở căn cứ địa cách mạng Tân Trào, hình ảnh “Ông Ké Cách mạng” vẫn in sâu trong tâm trí bà và những người dân nơi đây. Ngoài thời gian làm việc, Bác Hồ dành sự quan tâm, thăm hỏi mọi người trong làng. Người còn cùng với bà con lao động, nói chuyện với cán bộ, chiến sỹ, động viên chị em phụ nữ hăng hái tăng gia sản xuất. Bác Hồ luôn động viên các chiến sỹ phải ăn thật no mới có sức đánh giặc, đem lại tự do cho đồng bào. Bà Mơ kể lại: “Thấy tôi và các chị em khác giã gạo, nấu cơm, Bác Hồ ân cần bảo “Các cô nấu cơm cho bộ đội cũng là đánh giặc đó…”.

Rời Tân Trào khi trời đã xế chiều, phong trào bê tông hóa đường giao thông nông thôn đang được bà con nơi đây triển khai rất khẩn trương để đưa Tân Trào thành vùng quê theo mô hình nông thôn mới. Ông Trần Khắc Viện, Bí thư Đảng ủy xã Tân Trào vui mừng cho biết: Phát huy truyền thống quê hương cách mạng và thực hiện lời dạy của Bác “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Những người thi đua là những người yêu nước nhất”, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong xã Tân Trào quyết tâm đoàn kết, cùng nhau thực hiện thành công các mục tiêu Đại hội Đảng bộ xã đã đề ra, phấn đấu đến năm 2015, thu nhập bình quân đầu người đạt 18 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới giảm dưới 20%; 95% số hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa…

Những địa danh ở Tuyên Quang Bác Hồ đã ở và làm việc

Thời kỳ tiền khởi nghĩa:
Ngày 21/5/1945: Bác Hồ từ Cao Bằng về tới làng Kim Long, xã Tân Trào (Sơn Dương). Bác ở và làm việc tại lán Nà Lừa tới 22/8/1945 thì rời Tân Trào về Thủ đô Hà Nội. Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp:
– Làng Sảo, xã Hợp Thành (huyện Sơn Dương) từ 2/4 – 19/5/1947;
– Khuôn Đào, xã Trung Yên (huyện Sơn Dương) từ 29/11 – 3/12/1947;
– Khuổi Tấu, xã Hùng Lợi (huyện Yên Sơn) từ 4/12 – 7/12/1947;
– Lũng Tẩu, xã Tân Trào (huyện Sơn Dương) từ 12/9 – 16/12/1948 và từ 10/1 – 6/4/1949;
– Xóm 5, xã Trung Trực (huyện Yên Sơn) từ 19/12/1948 – 10/1/1949;
– Khâu Lấu – Vực Hồ, thôn Bòng, xã Tân Trào (huyện Sơn Dương) từ 6/4 – 12/5/1949 và từ 1/6 – 16/10/1949;
– Bản Chương, bản Cóc, xã Hùng Lợi (huyện Yên Sơn) và Làng Mạ, xã Linh Phú (huyện Chiêm Hóa) từ 16/5 – 30/5/1949;
– Hang Bòng, xã Tân Trào (huyện Sơn Dương) từ 17/10/1949 – 1/9/1950; từ 10/10/1950 – 4/2/1951 và từ 20/2/1951 – 30/12/1952;
– Xã Kim Bình (huyện Chiêm Hóa) từ ngày 5 – 19/2/1951. Tại đây, Bác đã làm việc, trực tiếp chỉ đạo Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II.
(Theo Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang)

Quang Đán – Quang Cường

baotintuc.vn

Tấm lòng người dân Thái Lan với Bác Hồ

Báo tin tức – Nhiều thập niên qua, không chỉ cộng đồng Việt kiều mà cả người dân Thái, nhất là ở vùng Đông Bắc nước này, vẫn còn nhắc mãi về một người làm cách mạng có tên là Thầu Chín với tấm lòng thương yêu và trân trọng. Những tình cảm và kỷ niệm sâu sắc về Người luôn được nhân dân Thái Lan trân trọng giữ gìn và ngày càng được vun đắp, góp phần tăng cường mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước.

Nhà cách mạng Thầu Chín

Trong quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi khắp năm châu bốn biển. Người đã từng đến sống và hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước ở các tỉnh Udon Thani, Phichit, Nong Khai, Sakon Nakhon và một số nơi khác ở Thái Lan; để lại nhiều kỷ niệm sâu sắc và tình cảm tốt đẹp với con người xứ sở này.

Biểu diễn văn nghệ kỷ niệm lần thứ 121 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tại Làng Hữu nghị Thái – Việt.

Làng hữu nghị Thái-Việt ở tỉnh Nakhon Phanom được xây dựng và khánh thành vào năm 2004, để ghi nhớ một thời Bác Hồ đã sống và hoạt động tại đây với tên là Thầu Chín. Đó đồng thời là một trong những biểu tượng minh chứng cho tình hữu nghị giữa hai nước, sự yêu quý ngưỡng mộ của nhân dân Thái Lan, nhân dân Việt Nam đối với Hồ Chủ tịch.

Thầu Chín là bí danh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở Xiêm, nay là Vương quốc Thái Lan, trong thời gian từ năm 1928-1929. Thầu là tiếng Thái Lào, để gọi người nhiều tuổi và biểu thị sự tôn kính. Câu chuyện về cộng đồng người Việt cùng với Thầu Chín trên đất Xiêm ngày ấy đã vượt thời gian, trở thành một phần giá trị tài sản tinh thần, đặc biệt là ở những nơi dấu chân Người đã đi qua, giúp nở hoa hữu nghị.

Được Việt kiều và nhân dân yêu nước Thái che chở trước sự truy lùng của mật thám Pháp, Thầu Chín ở Nakhon Phanom cho đến tháng 11/1929 thì sang Trung Quốc, sau đó về Việt Nam chỉ đạo cách mạng. Ngoài bí danh Thầu Chín, một vài bí danh khác của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh cũng được Việt kiều tại Thái Lan nhắc đến với lòng kính trọng.

Theo tài liệu ghi nhận, từ bản Mạy ở Nakhon Phanom, nhà cách mạng Thầu Chín thường có mặt tại các bản Noọng Xén (cùng tỉnh Nakhon Phanom), bản Đông thuộc tỉnh Phichít, bản Noóng Ổn tỉnh Udon Thani…

Đến đâu Người cũng mang đến luồng sinh khí mới cho cuộc sống của bà con Việt kiều tại đó cùng với rất nhiều câu chuyện, rất nhiều thông tin được truyền đến bà con bằng phong cách nói chuyện rõ ràng và dễ hiểu, với sự hiểu biết rất rõ về tình hình kiều bào ở Thái Lan.

Bằng sự lôi cuốn và cảm hóa, Người mở mang tầm nhìn, cách nghĩ cho bà con qua các câu chuyện giản dị mà ẩn chứa nhân sinh quan sâu sắc, phổ biến cho bà con những kiến thức bổ ích về cách thức cải tạo vườn tạp thành vườn cây ăn quả, tìm chỗ đất thấp đào ao thả cá.

Người vận động bà con xin phép chính quyền sở tại mở lớp dựng trường dạy chữ Quốc ngữ cho con em, động viên người lớn học cả chữ Thái, chữ Việt để biết những điều cần thiết cho cuộc sống hiện tại, đồng thời tạo nền móng cho quá trình học tập lâu dài để có những kỹ năng tự phân tích, tự tổng hợp ứng dụng vào làm ăn.

Và bao trùm lên tất cả là học để làm người, để có khả năng làm chủ bản thân trong mọi hoàn cảnh, để đủ hiểu biết mà chung sống hòa hợp với các cộng đồng có văn hóa khác nhau.

Biểu tượng của tấm lòng cao cả

Nhân dịp lễ kỷ niệm lần thứ 121 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và lần thứ 100 ngày Người ra đi tìm đường cứu nước vừa tổ chức ở Làng Hữu nghị Thái-Việt, Tỉnh trưởng tỉnh Nakhon Phanom, ông Lơngxặc Vinittraimôntri nói rằng, tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và Thái Lan được vun đắp từ nhiều năm nay, nhất là từ thời Chủ tịch Hồ Chí Minh hoạt động tại làng Najok trong những năm 1928-1929. Nơi đây đã trở thành khu di tích, địa điểm du lịch mang tính lịch sử và văn hóa quan trọng của Thái Lan.

Khi bản Mạy, bản Noóng Ổn, bản Noọng Xén… của xứ “chùa Vàng” đã thành địa chỉ khá đặc biệt trong biên niên giữ nước của dân tộc Việt Nam ở thế kỷ XX, những tình cảm và kỷ niệm tốt đẹp về Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Thái Lan tiếp tục được giữ gìn và là biểu tượng tốt đẹp cho tình hữu nghị giữa hai nước, hai dân tộc.

Khi dẫn đầu đoàn Việt Nam vừa sang thăm Thái Lan và trao các huân chương, huy chương và bằng khen cho bà con kiều bào có nhiều đóng góp với sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, Thứ trưởng Ngoại giao kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Người Việt Nam ở Nước ngoài Nguyễn Thanh Sơn nói: “Thái Lan là địa bàn mà Bác Hồ của chúng ta đã sinh sống, học tập và hoạt động cách mạng. Tổ chức Việt kiều yêu nước tại Thái Lan cũng được Bác Hồ tổ chức, thành lập và xây dựng từ ban đầu cho nên quan hệ giữa nước ta với Thái Lan đang ngày càng được củng cố và phát triển tốt đẹp”. “Hy vọng trên đất nước Thái Lan, với sự kính trọng của nhân dân Thái dành cho Hồ Chủ tịch, các khu di tích lưu niệm về Bác Hồ ở bản Mạy và một số nơi khác sẽ được quan tâm và chúng ta sẽ cùng Thái Lan xây dựng những khu di tích đó xứng đáng với tình cảm, sự kính trọng của nhân dân hai nước dành cho Bác, xứng với vị thế và vai trò của Người trên thế giới”, Thứ trưởng nói thêm.

Theo Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn, các khu di tích và công trình ở Udon Thani, Khon Kaen cũng sẽ được Đảng và Chính phủ quan tâm đầu tư để tương xứng với một quốc gia có ngàn năm văn hiến như Việt Nam – đất nước luôn được bạn bè thế giới, trong đó có Thái Lan, ngưỡng mộ và khâm phục.

Bác Cao Văn San, Chủ tịch Tổng hội lâm thời người Việt Nam tại Thái Lan, cho hay, hai tiếng Bác Hồ hết sức thiêng liêng đối với kiều bào và tình cảm của Việt kiều đối với Bác Hồ là không bao giờ phai nhạt.

Vào dịp 19/5 hằng năm, bà con Việt kiều thường tổ chức lễ kỷ niệm ngày sinh của Bác, thắp hương tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh – một tấm gương sáng về đạo đức và sự tận tụy với Tổ quốc, nhân dân.

Bài và ảnh: Ngọc Tiến (P/v TTXVN tại Thái Lan)

baotintuc.vn