Tag Archive | Dân tộc

Những giá trị văn hoá Hồ Chí Minh

Năm 1923, lần đầu tiên Nguyễn Ái Quốc đến nước Nga, quê hương của V.I. Lê-nin, của Cách mạng Tháng Mười vĩ đại. Tại đây, Người đã gặp nhà thơ xô-viết tên là Ô-Xíp Man-đen-xtam. Và ngay từ lúc ấy, chính nhà thơ đã phát hiện: ”Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa, không phải là văn hóa châu Âu, mà có lẽ là nền văn hóa của tương lai”.

Thế rồi, gần 70 năm sau – năm l990, khi Hồ Chí Minh đã đi xa, giữa lúc trên thế giới có những biến động to lớn, chủ nghĩa xã hội lâm vào khủng hoảng sâu sắc, phong trào cách mạng quốc tế đứng trước những thử thách nghiêm trọng, chính trong thời điểm ấy, chúng ta lại được chứng kiến một sự kiện quan trọng. Đó là lần đầu tiên Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) quyết định tổ chức kỷ niệm trọng thể trên thế giới một lãnh tụ cách mạng với tư cách là người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất của nhân loại. Và đó chính là Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Nghị quyết của UNESCO nêu rõ: ”Sự đóng góp về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống ngàn năm của nhân dân Việt Nam. Và những tư tưởng của Người là hiện thân của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình, tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”.

Tìm hiểu về nhà văn hóa Hồ Chí Minh, chúng ta thấy luôn hội tụ những gì đẹp nhất, trong sáng nhất, vinh quang nhất suốt hàng nghìn năm văn hiến của dân tộc, trong tiến trình lịch sử của đất nước. Vì vậy, mỗi người Việt Nam chúng ta đến với văn hóa Hồ Chí Minh đều cảm thấy rất gần gũi. Tiến sĩ M. Át-mét, Giám đốc UNESCO khu vực châu Á – Thái Bình Dương, nhận xét: ”Cuộc đời của Người mang ảnh hưởng của những giá trị truyền thống dân tộc, có những đóng góp vào việc tạo nên một nền văn hóa Việt Nam hiện đại và điều đó cũng được khẳng định trong bài Điếu văn truy điệu Người ở Hà Nội (năm 1969): ”Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta”.

Đồng thời, ở Hồ Chí Minh còn thể hiện một cách tiêu biểu và nổi bật sự kết hợp hài hòa giữa những giá trị nhân văn của dân tộc, những đạo lý của con người Việt Nam với chủ nghĩa Mác – Lê-nin – chân lý của thời đại và tinh hoa văn hóa nhân loại bao gồm cổ, kim, Đông, Tây. Chính từ lòng yêu nước sâu sắc và ham học hỏi, từ thực tiễn hoạt động cách mạng phong phú, sôi nổi, liên tục, không mệt mỏi mà Người đã tiếp thu, chắt lọc, chuyển hóa những giá trị và tinh hoa ấy bằng một trí tuệ mẫn tiệp, óc nhạy cảm, sự sáng tạo. Đây là nét đặc sắc, nổi bật nhất của tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh. Vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh đã và còn đem đến cho Việt Nam cũng như thế giới những giá trị và tầm vóc văn hóa mới.

Trong quá trình hoạt động cách mạng, vì sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người và giải phóng nhân loại, Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với nhiều nền văn hóa ở nhiều châu lục, nhiều vùng, nhiều quốc gia; ở phương Đông và phương Tây; ở chính quốc và thuộc địa; ở các dân tộc da trắng, da vàng cũng như da đen. Ít có một lãnh tụ cách mạng, một nhà văn hóa nào trên thế giời từng đi nhiều nơi, đến nhiều nước, làm nhiều nghề, am hiểu nhiều về các dân tộc và các nền văn hóa khác nhau như Hồ Chí Minh. Do đó, những người phương Tây có thể tìm thấy trong tư tưởng Hồ Chí Minh tinh thần của chủ nghĩa nhân đạo thời kỳ Phục Hưng, tư tưởng dân chủ của Thế kỷ Ánh sáng, tinh thần độc lập và nhân quyền của cách mạng Mỹ, tư tưởng tự do – bình đẳng – bác ái của cách mạng Pháp và tinh thần cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Còn những người ở phương Đông lại thấy trong tư tưởng Hồ Chí Minh những nét gần gũi, phù hợp với “chủ nghĩa tam dân” của Tôn Trung Sơn, tinh thần yêu nước, khắc khổ hy sinh vì dân của M. Găng-đi, cũng như sự tu dưỡng đạo đức của học thuyết Khổng Tử, đức từ bi của Phật Thích Ca, tinh thần bác ái của Chúa Giê-su. Rồi khi đọc một áng văn chương chính trị, một bài báo, hoặc một lời phát biểu của Người, ta lại phát hiện ra những điều lý thú và kinh ngạc về sự kết hợp giữa tính hài hước của văn chương Pháp; chất hàm xúc, thanh cao của thơ Đường; tính hiện thực của M. Goóc-ki, cùng sự sắc nhọn của ngòi bút Lỗ Tấn, sự gần gũi, trong sáng của Nguyễn Du…Ông T.N. Ca-un, Chủ tịch Trung tâm Ấn Độ nghiên cứu về Đông Dương nhận xét: các bài thơ, tiểu luận và điền văn của Người phản ánh một sự hiểu biết sâu sắc về lịch sử và văn minh nhân loại và một niềm tin chung thủy đối với bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc và quốc gia, kể cả dân tộc mình và các dân tộc khác trên thế giới. Nhưng điều kỳ lạ là, những nền văn hóa cả phương Đông lẫn phương Tây, từ cổ đại đến cận đại và hiện đại, khi thể hiện ở Hồ Chí Minh luôn mang một phong cách rất Việt Nam, đầy tính nhân văn, rất bình dị, gần gũi nhưng cũng rất sâu sắc, mới mẻ, hiện đại và cách mạng.

Ở Hồ Chí Minh, những giá trị tinh thần cao cả, bền vững và tốt đẹp của văn hóa dân tộc được hình thành, phát triển trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, trong lao động sản xuất như: truyền thống yêu nước, lòng nhân ái, tinh thần dân chủ, chủ nghĩa anh hùng cách mạng… luôn được đề cao, củng cố và phát huy. Song chúng không dừng lại ở những giá trị truyền thống mà thông qua tư tưởng, đạo đức, lối sống và những lời dạy của Người mà được lồng ý nghĩa sâu sắc, giá trị cao cả; tạo nên sức mạnh, niềm tin ở mỗi con người, ở các dân tộc và của cả cộng đồng. Ở đây hàm chứa một nền văn hóa mới: Văn hóa cách mạng với những giá trị truyền thống, vừa có nội dung yêu nước, tiến bộ và nhân văn cao đẹp; vừa thể hiện được chức năng nhận thức, giáo dục và thẩm mỹ. Hồ Chí Minh là một con người vĩ đại, nhưng lại gần gũi với mọi người, với nhân dân lao động. Ở Người, cái vĩ đại, cao cả được thể hiện thông qua cái bình thường, giản dị. Nhưng cần hiểu rằng, sự giản dị của Bác không phải là giản đơn mà là sự giản dị, trong sáng xuất phát từ một lý tưởng đạo đức cao đẹp, một nếp sống văn hóa hợp với khoa học, với thẩm mỹ mới; giản dị mà phong phú, văn minh. Sự giản dị của Hồ Chí Minh không chỉ biểu hiện của văn hóa, của đạo đức mà còn là một tinh thần dân chủ và quan điểm quần chúng cao đẹp. Bác bao giờ cũng nghĩ đến dân, chăm lo tới lợi ích chính đáng và không ngừng đấu tranh cho tự do, độc lập của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân. Bác luôn yêu thương, tin tưởng, kính trọng và hòa mình vào nhân dân. Có thể nói, lối sống giản dị, gần gũi với mọi người phản ánh cái cốt lõi tâm hồn của Bác, tấm lòng của Bác đối với hạnh phúc của con người, với tương lai của dân tộc và nhân loại. Đồng chí Phạm Văn Đồng nói: Hồ Chí Minh cao mà không xa, mới mà không lạ, lớn mà không làm ra vĩ đại, soi sáng mà không làm choáng ngợp.

Có một nét đẹp nữa trong văn hóa Hồ Chí Minh mà chúng ta cần nói tới. Đó là sự khiêm tốn. Giáo sư X. Mau-roi (Ấn Độ) cho rằng, tình thương nhân dân, sự khiêm tốn và giản dị trong lối sống của Người là sâu sắc và hồn nhiên. ”Sự khiêm tốn của Người là nổi tiếng” . Nếu như khiêm tốn là phẩm chất của những người cách mạng chân chính, của nhà văn hóa lớn, thì điều đó được thể hiện một cách đầy đủ, tập trung nhất ở con người Hồ Chí Minh. Người không bao giờ đặt mình cao hơn dân tộc và sự nghiệp cách mạng của Đảng, cho dù Bác là người tiêu biểu cho tinh hoa, khí phách của dân tộc, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta. Đối với Hồ Chí Minh, khiêm tốn vừa là văn hóa, vừa là đạo đức, đòi hỏi mỗi người, dù bất kỳ ai, cũng phải thường xuyên học tập, rèn luyện và thể hiện trong cuộc sống hằng ngày. Khiêm tốn gắn liền với tự chủ, tự tin; tin ở bản thân, ở tập thể, ở tiền đồ tươi sáng của dân tộc, ở mục tiêu, lý tưởng và con đường cách mạng mà Đảng ta, nhân dân ta lựa chọn.

(Tạp chí Cộng sản)

cpv.org.vn

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với vấn đề xây dựng văn hóa trong Đảng hiện nay

Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như việc vận dụng tư tưởng của Người trong mọi lĩnh vực của sự nghiệp cách mạng Việt Nam, với sự đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cách mạng cũng như những con người Việt Nam mới luôn là vấn đề thời sự, thể hiện tính cần thiết, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải tiếp tục đào sâu suy nghĩ, kiên trì phấn đấu và noi theo. Đó là sự nghiệp của toàn Đảng, của hệ thống chính trị, nhằm góp phần xây dựng thành công một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

1 – Vị trí của vấn đề đạo đức trong văn hóa nói chung

Văn hóa, theo định nghĩa chung nhất, là những giá trị vật chất và tinh thần mà loài người sáng tạo nên trong tiến trình lịch sử. Còn theo cách hiểu thông thường nhất, đó là toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội, bao gồm cả tư tưởng xã hội, tri thức xã hội, đạo đức xã hội, đời sống và lối sống xã hội…

Không phải đến bây giờ, mà ngay từ lâu, khi Đảng ta mới thành lập và khi nhà nước cách mạng mới ra đời, Bác Hồ đã khẳng định rằng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, “văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Có nghĩa, đạo đức chỉ là một bộ phận của văn hóa chứ không phải là toàn bộ nền văn hóa. Tuy nhiên, đó là bộ phận có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Bởi lẽ, khi xem xét trình độ văn hóa của một xã hội, người ta không thể không nói đến con người trong xã hội, mà nói đến con người thì không thể không nói đến đạo đức. Tư tưởng xã hội và đạo đức xã hội đều có vai trò quyết định đối với hành vi của con người trong xã hội. Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc sống và hành động được dư luận xã hội thừa nhận. Những tiêu chuẩn, nguyên tắc đó quy định, điều chỉnh hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội. Như vậy, đạo đức cũng chính là phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đó mà có. Trong các quan hệ xã hội, những vấn đề thuộc về dân tâm, dân ý, dân trí, dân quyền, và dân sinh …, đều thuộc về và là sự biểu hiện của văn hóa một xã hội, mà mức độ biểu hiện cao hay thấp tùy thuộc một phần quan trọng vào đạo đức.

2 – Vị trí của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh

Đại hội IX của Đảng ta đã đưa ra một mệnh đề cấu thành định nghĩa rất chuẩn xác về tư tưởng Hồ Chí Minh, rằng “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam”. Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh cần được nghiên cứu không phải dưới góc độ những ý kiến, những suy nghĩ riêng lẻ, cụ thể, mà trong sự tổng hợp có tính hệ thống, tức là nghiên cứu dưới góc độ một học thuyết chính trị – cách mạng. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một bộ phận của tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh. Nói cách khác, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là một bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa lại là một bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương tiêu biểu, một mẫu mực tuyệt vời về đạo đức, không chỉ đạo đức của con người xã hội mà còn là đạo đức của một lãnh tụ cách mạng, suốt đời hy sinh, phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Tuy nhiên, nghiên cứu tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ là nghiên cứu những phẩm chất cao quý thể hiện trong cuộc sống của Người, mà còn là nghiên cứu những quan điểm của Người về đạo đức, những quan điểm đó đã, đang và sẽ còn chỉ đạo dài lâu cho sự nghiệp của Đảng ta xây dựng văn hóa dân tộc nói chung và xây dựng văn hóa trong Đảng nói riêng.

Xuyên suốt các tác phẩm của Người, từ “Đường Cách mệnh” (1927), “Sửa đổi lối làm việc” (1947), “Cần, kiệm, liêm, chính” (1949) cho đến “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (1969) và bản Di chúc của Người (1969), ta thấy toát lên tinh thần và những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức.

Khái niệm đạo đức, được Hồ Chí Minh tập trung đề cập trong các tác phẩm của Người là đạo đức của xã hội mới, cao hơn nữa là đạo đức cách mạng, đạo đức của cán bộ, đảng viên. Những phẩm chất đạo đức cao quý chung nhất, cơ bản nhất mà Người nêu lên đối với cán bộ cách mạng:

Một là: trung với nước, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Không phải một lần mà rất nhiều lần, không phải đối với một số đối tượng nhất định mà đối với rất nhiều đối tượng khác nhau, Người luôn luôn nhắc nhở rằng, điều chủ chốt nhất của đạo đức cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, là trung với nước, hiếu với dân.

Hai là: nhân, nghĩa, trí, dũng. Nhân là thật thà yêu thương, giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân. Vì thế mà sẵn sàng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà không ham giàu sang, không ngại cực khổ, không sợ uy quyền. Nghĩa là ngay thẳng, không có tà tâm, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Đảng. Trí là đầu óc trong sạch, sáng suốt, dễ hiểu lý luận, dễ tìm phương hướng, biết xem người, xét việc,… Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm, thấy khuyết điểm có gan sửa chữa; cực khổ khó khăn có gan chịu đựng; có gan chống lại vinh hoa phú quý không chính đáng; nếu cần, có gan hy sinh cả tính mạng mình…

Ba là: cần, kiệm, liêm, chính. Cần là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm; thấy rõ lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta… Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tiền của của nhân dân, của nước, của bản thân mình, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi; không phô trương hình thức, không liên hoan chè chén lu bù… Liêm là luôn luôn tôn trọng, gìn giữ của công và của dân; phải trong sạch, không tham lam; không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng, không ham người tâng bốc mình… Chính “nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn”. Đối với mình thì không tự cao, tự đại, luôn luôn chịu khó học tập, cầu tiến bộ, luôn luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa chữa điều dở… Đối với người thì không nịnh hót cấp trên, không xem khinh người dưới; luôn luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc. Đối với việc thì để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà… Cần, kiệm, liêm, chính luôn luôn đi liền với chí công, vô tư, tức là hết lòng chăm lo công việc chung, không tơ hào, tư lợi.

Trung, hiếu, nhân, nghĩa, trí, dũng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư đều là những khái niệm vốn có từ Nho học và đạo đức từ lâu đời của ông cha ta, song đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đổi mới và phát triển, thậm chí có những khái niệm đổi mới hẳn về nội dung, như xưa kia là trung với vua, hiếu với cha mẹ, nay là trung với nước, hiếu với dân. Do đó, những phẩm chất đạo đức được Người nêu lên chính là những phẩm chất của đạo đức mới, của con người mới và nền văn hóa mới. Nó là sự kết hợp tinh thần cách mạng của giai cấp công nhân với truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc và những tinh hoa đạo đức của nhân loại.

Đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh còn có tầm sâu rộng hơn, vượt qua khuôn khổ quốc gia để tạo nên sự kết hợp hài hòa và nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, xem “bốn phương vô sản đều là anh em”…

3 – Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với vấn đề xây dựng văn hóa trong Đảng hiện nay

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) của Đảng ta nêu rõ rằng, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong những nội dung cơ bản của việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng yêu cầu: đưa các nhân tố văn hóa, tinh thần thấm sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII, ghi rõ: “Để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng về văn hóa, phải xây dựng văn hóa từ trong Đảng, trong bộ máy nhà nước…” và khẳng định rằng: “Từ nay đến năm 2000, đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết là trong các tổ chức đảng và nhà nước, trong các đoàn thể quần chúng và trong từng gia đình”. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng một lần nữa yêu cầu: “Nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân”. Kết luận của Hội nghị Trung ương 10, khóa IX, nhấn mạnh: Tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống lành mạnh trong xã hội, trước hết là trong các tổ chức đảng và nhà nước. Trong Diễn văn đọc tại Lễ kỷ niệm 75 năm Ngày thành lập Đảng vừa qua, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cũng yêu cầu phải phấn đấu để mỗi tổ chức đảng và đoàn thể, mỗi cơ quan nhà nước đều là “một tấm gương văn hóa trong xã hội”.

Nhắc lại các nghị quyết nói trên để thấy rõ tính bức bách của nhiệm vụ xây dựng văn hóa trong Đảng hiện nay; cũng là để thấy rõ rằng muốn xây dựng được tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết phải xây dựng được các phẩm chất đó trong các tổ chức của Đảng và bộ máy của Nhà nước…

Đối chiếu với tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức mà chúng tôi vừa đề cập, ta càng thấy rõ vai trò quan trọng biết dường nào của đạo đức cách mạng trong việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nói chung, và xây dựng văn hóa trong Đảng nói riêng. Không phải ngẫu nhiên trong Di chúc Người nói về Đảng và đặc biệt nhấn mạnh vấn đề đạo đức: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.

Những lời dạy của Bác Hồ về đạo đức cách mạng, đối với Đảng ta, đối với mỗi cán bộ, đảng viên, ngày nay vẫn còn mang tính thời sự nóng hổi; nhất là những phẩm chất trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân, về cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, về nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, về đảng viên đi trước, làng nước theo sau… là không bao giờ cũ. Nếu có cái gì gọi là cũ thì đó chính là nhận thức của chúng ta về các lời dạy của Bác không đến nơi, đến chốn, không thật đầy đủ và nhuần nhuyễn, nhất là chúng ta nói mà không đi đôi với làm, hoặc nói nhiều làm ít, khiến cho đời sống văn hóa trong Đảng, nhất là đời sống về đạo đức, có những biểu hiện suy thoái nghiêm trọng. Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (lần 2), khóa VIII, đòi hỏi phải khắc phục bằng được tình trạng suy thoái về tư tưởng, đạo đức và lối sống trong cán bộ, đảng viên, đặc biệt là tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, một căn bệnh nguy hiểm đang đục khoét cơ thể sống của Đảng ta. Trong cuộc chiến đấu sinh tử này, mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta càng phải đề cao trách nhiệm tu dưỡng và thực hành tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.

Theo Hà Đăng, Tạp chí Cộng sản tháng 8/2005

cpv.org.vn

Văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh – giá trị và ý nghĩa

1. Cả dân tộc và nhân loại tôn vinh Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hóa thế giới. Kết tinh trong mình những tinh hoa của truyền thống dân tộc, thâu thái và chắt lọc những giá trị đặc sắc của hai nền văn hóa Đông – Tây qua các thời đại lịch sử, lại được ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin soi đường với sức cổ vũ của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã được lịch sử chuẩn bị và đào luyện để trở thành vĩ nhân.

Song những nhân tố khách quan đó mới chỉ là những điều kiện cần chứ chưa đủ. Nhờ những nỗ lực đặc biệt và nghị lực phi thường trong trường đời lao động, học tập và tranh đấu, với năng lực tư duy độc lập và sáng tạo, Hồ Chí Minh đã sớm hình thành tư chất của một triết gia, nhà tư tưởng lớn sau này của Việt Nam và thế giới.

Tư chất ấy biểu hiện ở sự nhạy cảm, mẫn cảm sâu sắc của trái tim yêu nước, thương dân, thương nhân loại khổ đau, dù khác màu da, tiếng nói nhưng cùng chung tình cảnh nô lệ dưới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân tàn bạo, phi nhân. Tư chất ấy còn biểu hiện ở động cơ cao thượng thấm nhuần tính nhân bản – quan tâm tới số phận con người thì phải tìm đường tranh đấu, giải phóng dân tộc mình và các dân tộc khác ra khỏi xiềng xích nô lệ, làm cho họ có cuộc sống xứng đáng với con người trong độc lập – tự do – hạnh phúc. Đây là hoài bão, khát vọng của cả cuộc đời Người. Chúng ta bắt gặp ở đây, trong những khái niệm trên mà Người từng nói, một sự quy tụ tất cả những gì Người mong muốn và hiểu biết: sự gặp gỡ giữa mục tiêu chính trị và hệ giá trị văn hóa. Đó là chính trị đầy tính nhân đạo của chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là văn hóa của người cộng sản giác ngộ khoa học để nắm vững quy luật, sẵn sàng hành động, hiến dâng, hy sinh, hóa thân trọn vẹn và toàn vẹn bản thân mình vào dân tộc và nhân loại. Cái triệt để và nhất quán ấy lại là biểu hiện chân chính, đích thực nhất của bản chất giai cấp công nhân cách mạng mà lúc nào và ở đâu Người cũng bền bỉ thực hành lời nói đi đôi với việc làm, trau dồi bốn đức cần kiệm liêm chính, nghiêm khắc với mình, rộng lòng khoan thứ với người, kiên trì “giữ chủ nghĩa cho vững” và “ít lòng ham muốn về vật chất”, bởi cách mạng chân chính thì suốt một đời phải thân dân và chính tâm, đoàn kết và thanh khiết. Với Hồ Chí Minh, đó không chỉ là tư tưởng, chính kiến và chủ thuyết mà còn là hành động, lối sống, hành vi ứng xử hằng ngày. Tất cả đều thống nhất trong sự hài hòa thấu lý, đạt tình, giản dị và sâu sắc, chân thực và tự nhiên, trở thành cốt cách và bản lĩnh của Người ấy là một bản lĩnh văn hóa.

2 – Ở Hồ Chí Minh, cuộc đời và sự nghiệp, tư tưởng và phương pháp, trí tuệ và đạo đức, lối sống và phong cách, tất cả đều hòa quyện và chung đúc lại thành nhân cách của Người ấy là một nhân cách văn hóa, và văn hóa Hồ Chí Minh thực sự là một kiểu mẫu hiếm thấy của văn hóa làm người, văn hóa nhân cách trong thời đại ngày nay. Chiều sâu nhân bản và tầm cao nhân đạo của triết lý và tư tưởng Hồ Chí Minh từ cội nguồn dân tộc đã đến cùng thời đại, nâng văn hóa của Người lên, sinh thành các giá trị nhân văn. Bao nhiêu học giả uyên bác và thông thái trên thế giới từ bấy lâu nay vẫn miệt mài trong cuộc tìm kiếm không bao giờ dứt định nghĩa về văn hóa. Song suy đến cùng, văn hóa là nhân văn, là sự không ngừng phát triển, bồi đắp để hoàn thiện nhân tính. Đặt niềm tin nơi con người, tôn trọng nhân cách và nâng niu giá trị con người, rằng con người phải trở nên tốt đẹp trong một thế giới có tính người nhiều hơn như C. Mác nói, đó là sức mạnh của nhân văn, là lực đẩy của phát triển và tính hướng đích của mọi tiến bộ xã hội.

Nhân văn trong triết lý nhân sinh và triết học hành động của Hồ Chí Minh làm cho tư tưởng thâm thúy, sâu sắc kiểu hiền triết Á Đông của Người luôn hướng tới và gắn liền với hoạt động thực tiễn vì con người và cuộc sống của nó. Coi dân là chủ thể làm nên mọi giá trị ở đời nên Người trọng dân và tin dân. Lấy dân làm đối tượng phục vụ, nên Người yêu dân, thương dân, gần dân, thấu hiểu dân tình, chăm lo dân sinh, nâng cao dân trí để thực hành dân chủ. Người đã cùng với Đảng và bộ máy công quyền do Người lãnh đạo làm tất cả những gì có thể làm để bồi dưỡng sức dân, chăm lo, phát triển sức dân, đồng thời hết sức tiết kiệm sức dân. Người căn dặn: mỗi đồng tiền, bát gạo mà chúng ta tiêu dùng đều là mồ hôi, nước mắt của dân. Thương dân thì phải tiết kiệm. Lãng phí là không thương dân. Tham ô là có tội với dân. Phải diệt trừ tội ác đó. Trong điều giản dị ấy, sự cảm động từ một tấm lòng đã có sức cảm hóa mọi tấm lòng khác. Ấy là lòng nhân ái. Đây là một trong những điểm tựa vững chắc, trở thành nguyên tắc ứng xử của Người.

Người tin rằng, đã là người thì ai cũng có tình người. Thức tỉnh điều tốt đẹp ấy, làm cho nó nảy nở, phát triển, đó là phương pháp, nghệ thuật giáo dục con người của Hồ Chí Minh. Yêu thương vì không bao giờ mất đi niềm tin cậy và vị tha nên phải bao dung, phải có lòng độ lượng, độ lượng vĩ đại. Người đưa ra một tổng kết từ sự trải nghiệm trực tiếp của mình: sông sâu, bể rộng bao nhiêu nước cũng vừa, cái đĩa cạn, cái chén nhỏ thì chỉ một giọt nước cũng tràn đầy. Chỉ sợ mình không có lòng bao dung nhân ái chứ không sợ người ta không theo mình. Sự chân thành và hết mình ấy trong ứng xử để giáo dục, cảm hóa con người, thuyết phục và thu phục nhân tâm ở Hồ Chí Minh thực sự là một kiểu mẫu, một tấm gương soi cho đương thời và hậu thế. Người tiêu biểu cho văn hóa ứng xử, trong đó kết hợp làm một sức mạnh của khoa học – đạo đức với nét đẹp tinh tế của văn hóa. Người là một nhà văn hóa lớn, trong đó nhà tư tưởng và nhà giáo dục hiện ra không phải với tính hàn lâm, sách vở, với sự cao đạo xa cách mà trái lại, dung dị như đời thường, rất mực gần gũi với con người đời thường, ai ai cũng cảm nhận trực tiếp được. Người truyền bá tư tưởng như một sự thực hành, chỉ dẫn trực tiếp cho mọi người cách nghĩ, cách viết, cách nói mà cao sâu hơn tất cả là cách sống làm người và ở đời. Người nói ít, làm nhiều, chủ yếu là hành động, chỉ nói và viết khi cần thiết, đã nói thì phải làm, phải thật thà nhúng tay vào việc. Người giáo dục đạo lý, tình thương bằng sự nêu gương, bằng chăm sóc việc “trồng người” tỷ mỷ, chu đáo như người làm vườn vậy. Triết lý, triết học Hồ Chí Minh là triết lý, triết học về văn hóa; ở đó, trực quan, biểu cảm sinh động nhất được thể hiện trong văn hóa ứng xử của Người. Sinh thời, dù trong nhiều năm ở cương vị người đứng đầu Đảng và Nhà nước, dù đã trở thành lãnh tụ của dân tộc, nhà hoạt động lỗi lạc trong phong trào cách mạng thế giới, được mọi người tôn kính và ngưỡng mộ, nhưng Hồ Chí Minh luôn luôn tự ý thức mình chỉ là một con người bình thường giữa muôn người. Người từ chối mọi danh hiệu, huân chương, phần thưởng dành cho riêng mình. Người chỉ nhận mình là nhà hoạt động chính trị chuyên nghiệp và ham muốn tột bậc của Người chỉ là làm cho nước nhà được độc lập, dân ta có tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, được học hành, được sống no đủ, hạnh phúc.

Theo Hồ Chí Minh, phục vụ nhân dân, suốt đời làm đầy tớ trung thành của nhân dân, làm công bộc tận tụy hết lòng vì nhân dân, đó là phục tùng chân lý cao nhất và là thực hành một lẽ sống cao thượng nhất. Cuộc đời của Người và tất cả những gì Người đã làm, từ lúc ra đi tìm đường cứu nước cho đến giây phút cuối cùng, khi trái tim ngừng đập, khối óc ngừng suy nghĩ, đã minh chứng một cách thuyết phục và cảm động nhất cho văn hóa làm người của Người. Bởi Người cũng quan niệm như C. Mác: Hạnh phúc là đấu tranh. Ai đấu tranh đem lại hạnh phúc nhiều nhất cho người khác thì người ấy có hạnh phúc nhất.

Không chỉ mọi người Việt Nam mà cả bạn bè quốc tế đã gọi Người một cách trìu mến nhất: Bác Hồ! Cả một buôn làng của đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng Trị Thiên – Huế đều lấy họ Hồ làm họ của mình để ghi nhớ công ơn của Người và tâm niệm: hãy sống như Người đã sống.

Không có khái quát nào đầy đủ, chân thực hơn về Hồ Chí Minh – một con người, một cuộc đời, một sự nghiệp đã hiến dâng trọn vẹn cho dân tộc mình, cho thời đại và cho nhân loại, như chính câu thơ của Tố Hữu: “Nâng niu tất cả chỉ quên mình”. Cũng như vậy, Phạm Văn Đồng, một trong những học trò xuất sắc của Người, từng là nhà lãnh đạo nổi tiếng của Đảng và Nhà nước ta trước đây đã viết về Người: “Đời Hồ Chủ tịch trong như ánh sáng”. Ánh sáng tư tưởng, trí tuệ, đạo đức Hồ Chí Minh có nguồn sáng từ những chân lý lớn của lịch sử và thời đại, từ quy luật của muôn đời, kết tinh lại thành những giá trị văn hóa. Nó phản chiếu vào Hồ Chí Minh – Con người ở tầm vóc Đại Trí, Đại Nhân, Đại Dũng, Con người mang giá trị Chân – Thiện – Mỹ, gắn bó máu thịt với nhân dân, hóa thân vào nhân dân nên đã sống trong lòng nhân dân bền chặt, vĩnh hằng.

Lý tưởng đã trở thành hiện thực và hiện thực đã vươn tới lý tưởng. Dân tộc và non sông đất nước đã sinh ra Người và chính Người đã làm rạng rỡ non sông đất nước và dân tộc như một sự thăng hoa.

Hồ Chí Minh là hiện tượng văn hóa độc đáo ấy, bởi Người là một trong số hiếm hoi các lãnh tụ đã trở thành huyền thoại ngay từ khi còn sống.

3 – Theo giáo sư Trần Văn Giàu, tầm cỡ của một hiền triết chưa chắc ở chỗ giải đáp mối tương quan giữa tồn tại và tư tưởng, ở chỗ xác định thế giới là thực tại hay là ảo ảnh, khả tri hay bất khả tri, ở chỗ lựa chọn giáo điều quen thuộc hay sáng tạo mới lạ, mà chung quy lại là ở mức quan tâm đến Con người, con người thật đang sống trên quả đất này và chắc chắn còn sống lâu dài đến vô tận thời gian, lấy đó làm trung tâm của mọi suy tư và chủ đích của mọi hành động. Cụ Hồ thuộc loại hiền triết đó, vì thế mà Cụ lớn..

Đọc lại nhận xét tinh tế và sâu sắc trên đây, rất tự nhiên, ta nhớ tới một câu trong Di chúc của Người: “Đầu tiên là công việc đối với con người.

Bản thân Người cũng từng khẳng định: lòng thương yêu của tôi đối với nhân dân và nhân loại không bao giờ thay đổi.

Một học giả nước ngoài đã viết về Người: Cụ Hồ là một người xây dựng lương tri, xây dựng khi nó thiếu, tái tạo khi nó mất. Cụ thức tỉnh kẻ u mê, ân cần đỡ dậy người trượt ngã, biến vạn ức người bình thường thành anh hùng vô danh và hữu danh trong lao động, trên chiến trường, trong ngục tối, trước máy chém .

Lật lại các trang sử liệu, chúng ta không thể bỏ qua chi tiết này: Ét-mông Mi-sơ-lê, Bộ trưởng Các quân chủng Pháp, người được ủy nhiệm tiếp Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946 ở Pa-ri đã nhận xét về Người: Đó là một người cộng sản theo lý tưởng. Ông đã chọn chủ nghĩa cộng sản, đúng thế, nhưng có một chủ nghĩa nhân văn sâu sắc. Đó là một chủ nghĩa cộng sản có tình người, một chủ nghĩa cộng sản tôn trọng cá nhân, biết khóc, biết cười, biết ngâm vịnh.

Là một chính khách tư sản, Ét-mông Mi-sơ-lê, dĩ nhiên không thể hiểu được bản chất của chủ nghĩa cộng sản. Ở bên trong cái rào chắn của thế giới quan tư sản, ông chỉ có thể nhìn nhận chủ nghĩa cộng sản với những thiên kiến, lệch lạc. Nhưng điều đáng nói là ở chỗ, ông ta đã hiểu đúng Hồ Chí Minh, nói lên được chủ nghĩa nhân văn sâu sắc của Người. Có thể nói, văn hóa Hồ Chí Minh, đặc biệt là văn hóa ứng xử của Người thể hiện sâu đậm chất nhân văn ấy. Nếu lao động – đấu tranh và tình thương là bản chất con người, nơi biểu hiện và khẳng định nhân tính, thì Hồ Chí Minh mang bản chất ấy hơn ai hết. Người nêu lên một luận đề tư tưởng và phương pháp có giá trị và ý nghĩa như một tuyên ngôn, một cương lĩnh về giáo dục: Con người chứ không phải thánh thần nên ai cũng có cái hay và cái dở, cái tốt và cái xấu, ở trong lòng. Phải làm cho cái hay, cái tốt nảy nở như hoa mùa xuân, còn cái xấu, cái dở thì mất dần đi rồi tới chỗ mất hẳn.

4 – Văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh là văn hóa giáo dục, kết hợp giáo dục bằng lời (giảng giải, tuyên truyền, thuyết phục) với thực hành bằng công việc thực tế hằng ngày và bằng sự nêu gương. Tất cả những điều đó phải xuất phát từ lòng chân thành, khiêm tốn, giản dị, nhân ái, vị tha. Đó là sức mạnh bền bỉ để con người vượt qua mọi khó khăn, giữ vững được niềm tin, làm chủ chính mình và hoàn cảnh nhằm để đi tới mục đích của cuộc đời và sự nghiệp.

Điều gợi ý sâu sắc từ tư tưởng và thực tiễn sống động Hồ Chí Minh là ở chỗ, văn hóa ứng xử trước hết là văn hóa tự ứng xử. Trau dồi học vấn để từng bước đạt tới sự trưởng thành văn hóa; rèn luyện đạo đức, đặc biệt là các đức tính để rèn luyện nhân cách – những nội dung giáo dục ấy phải thấm sâu vào tình cảm con người, tăng cường được năng lực trí tuệ, tự giác trở thành nhu cầu và lối sống. Và như vậy, giáo dục trở thành tự giáo dục. Bởi thế, biết hướng thiện và phục thiện là một khởi nguồn quan trọng để mỗi con người tự hoàn thiện nhân cách của chính mình. Phải tự mình trở nên tốt đẹp – đó là một nhu cầu cao quý của đời sống tinh thần và thế giới nội tâm của con người; đó là động lực để con người tự mình học tập, noi gương những điều tốt đẹp ở người khác, biết tôn trọng những giá trị ở đời, biết yêu thương và tin cậy con người.

Đủ hiểu vì sao, suốt cuộc đời mình, Hồ Chí Minh luôn chú trọng giáo dục cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ mà Người rất mực thương yêu, về phương pháp và dùng phương pháp để thực hành chân lý, dùng những tấm gương trong thực tế và tự mình nêu gương để giáo dục con người trở nên tốt đẹp. Phương châm mà Người nêu lên và căn dặn chúng ta là, bất cứ việc gì, dù to hay nhỏ, muốn thực hiện được, muốn mọi người cùng làm thì phải có phương pháp cho đúng và dùng phương pháp cho khéo. Người là bậc thầy của phương pháp, và ở tầm triết học, Người là nhà biện chứng thực hành xuất sắc nhất của cách mạng Việt Nam, của dân tộc ta trong thế kỷ XX. “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” là sự cô đúc tất cả tư tưởng, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh, là bản chất văn hóa Hồ Chí Minh. Đó cũng là nguyên tắc và chuẩn mực của Người trong văn hóa ứng xử mà chúng ta cần học tập, vận dụng hiện nay.

5. Từ sự nghiệp lớn của Đảng và của dân tộc ta, đến cuộc sống riêng tư của mỗi người, bằng những trải nghiệm hằng ngày của chính mình, mỗi chúng ta đều cảm nhận rằng: Bác Hồ vẫn còn sống mãi với chúng ta, vẫn ở bên cạnh chúng ta, dẫn dắt chúng ta đi tới thắng lợi của Đổi mới, tới mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tới sự tốt đẹp của cuộc sống, sự hoàn thiện của nhân cách, văn hóa làm người. “Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn”. Có trí tuệ, tình thương, tấm lòng bao dung, nhân ái của Bác cổ vũ, thúc đẩy, những thế hệ người Việt Nam hôm nay và mãi mãi sau này sẽ làm nên nhiều điều tốt đẹp xứng đáng với lòng mong đợi của Người.

Đúng như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết về Người, về nhân cách Hồ Chí Minh, văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh: “Hồ Chí Minh cao mà không xa, mới mà không lạ, to lớn mà không làm ra vĩ đại, chói sáng mà không làm ai choáng ngợp, mới gặp lần đầu mà đã dường như thân thiết từ lâu”.

Theo GS,TS Hoàng Chí Bảo, Tạp chí Cộng sản tháng 5/2005

cpv.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh, những giá trị văn hóa dân tộc và thời đại

Giám đốc UNESCO khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Tiến sĩ Modagat Ahmed khẳng định, Hồ Chí Minh sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là một người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ, mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này.

Tư tưởng Hồ Chí Minh – theo cách nói của Cố Thủ tướng Phạm Văn Ðồng – là một kho tàng đầy của báu, là di sản chứa đựng biết bao giá trị, giá trị đó nói cho cùng là giá trị văn hóa mà chúng ta khai thác chưa được bao nhiêu.

Tổ chức UNESCO đánh giá Chủ tịch Hồ Chí Minh theo chức năng của một tổ chức giáo dục, khoa học, văn hóa thế giới: Người đã để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại, góp phần to lớn vào cuộc đấu tranh vì những mục tiêu cao cả và khát vọng lớn lao của nhân loại tiến bộ là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Hồ Chí Minh đã có sự đóng góp quan trọng về nhiều lĩnh vực: văn hóa, giáo dục, nghệ thuật. Người là hiện thân cho khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau.

Cố Thủ tướng Phạm Văn Ðồng đưa ra một cách lập luận để hiểu ý nghĩa của bản Nghị quyết của UNESCO: Tôi hình dung Hồ Chí Minh là người đem lại ánh sáng, ánh sáng văn hóa, ánh sáng cách mạng cho nhân dân ta và góp phần đem lại ánh sáng cho nhân dân nhiều nước khác, để xua tan bóng tối của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, của dốt nát, đói nghèo, bệnh tật đè nặng lên cuộc sống của các dân tộc bị áp bức.

Như vậy, văn hóa có tầm quan trọng to lớn và ý nghĩa cách mạng sâu xa đối với vận mệnh của nhân dân các nước.

Văn hóa còn được nhận thức là hiểu biết, hiểu biết làm người, hiểu biết xử sự, xử thế. Và xử sự, xử thế trong xã hội có áp bức, bóc lột giai cấp, dân tộc và con người là làm cách mạng. Hiểu sứ mệnh và sức mạnh của văn hóa như vậy – cái mà kẻ thù của loài người rất căm ghét – mới thấy hết tầm vóc, trí tuệ văn hóa Hồ Chí Minh – Người để lại cho hôm nay và muôn đời mai sau những giá trị văn hóa vĩnh hằng.

Trong lòng nhân loại tiến bộ, Hồ Chí Minh hiện thân cho nền văn hóa tương lai. Ðó là một nền văn hóa luôn có sự kết hợp chặt chẽ giữa văn hóa với cách mạng, cách mạng với văn hóa. Trong thế kỷ 20,
Hồ Chí Minh đủ trí tuệ và bản lĩnh, giương cao ngọn cờ chống chủ nghĩa thực dân, mà chống chủ nghĩa thực dân là đạt tới đỉnh cao giá trị nhân văn, giá trị văn hóa của loài người. Sự nghiệp văn hóa Hồ Chí Minh luôn có sự kết hợp giữa truyền thống với hiện đại, dân tộc với quốc tế, phương Ðông với phương Tây. Giờ đây người ta nói nhiều tới sự đối thoại và đa dạng văn hóa, điều mà cách đây sáu mươi năm Hồ Chí Minh đã từng đề cập một cách sâu sắc và giải quyết thành công. Người phủ nhận lời tiên tri nhuốm mầu huyền thoại của một trí thức người Anh là Kipling: Ðông là Ðông, Tây là Tây, hai bên không bao giờ gặp nhau. Theo Hồ Chí Minh, triết lý đạo Khổng cũng như triết lý phương Tây đều đề cao một nguyên tắc đạo đức: điều mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác.

Triết lý sống của Hồ Chí Minh là ở đời và làm người phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ, bị áp bức. Trong khi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đem quân xâm lược Việt Nam, Hồ Chí Minh nói với nhân dân các nước đó rằng máu nào cũng là máu, người nào cũng là người. Một thanh niên Pháp, Mỹ hy sinh, tôi cũng đau lòng như một thanh niên Việt Nam hy sinh. Hồ Chí Minh hiện thân cho một chủ nghĩa nhân văn cao cả – chủ nghĩa nhân văn cách mạng và hành động. Người cũng hiện thân cho khát vọng của loài người về tự do, hạnh phúc, hòa bình; về các giá trị chân – thiện – mỹ. Người trả lời rõ ràng, ngắn gọn, đầy đủ với các nhà báo: yêu nhất điều thiện, ghét nhất điều ác. Thiện ở đây là hòa bình, độc lập, dân chủ, công bằng, văn minh, tiến bộ, giàu mạnh.

Hồ Chí Minh hiện thân cho nền văn hóa hòa bình. Người chủ trương đối thoại thay cho đối đầu. Nhà ngoại giao Pháp Jean Sainteny là một người đối thoại chính của Hồ Chí Minh trong những cuộc đàm phán với Pháp đã phải thừa nhận trong tác phẩm mang tựa đề “Lịch sử một nền hòa bình bị bỏ lỡ” rằng Hồ Chí Minh có một sự hiểu biết văn hóa rộng lớn, thông minh, vô tư, tạo ra uy tín không có gì so sánh nổi. Một nền hòa bình bị bỏ lỡ vì Chính phủ Pháp không hiểu và đánh giá đúng nhân vật này.

Giám đốc UNESCO khu vực châu Á – Thái Bình Dương là Tiến sĩ Modagat Ahmed khẳng định Hồ Chí Minh sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là một người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ, mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này.

Chúng ta đang sống trong một thế giới đầy biến động. Nhưng nói như Tiến sĩ Thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô V.M Sonsev, trong mọi biến đổi cũng có một số điểm quan trọng không hề thay đổi. Ðó là lý tưởng xã hội chủ nghĩa, các tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa, tự do, dân chủ và công bằng xã hội, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà yêu nước vĩ đại, người theo chủ nghĩa quốc tế đã cống hiến trọn đời mình cho những lý tưởng đó.

Thế giới càng biến đổi càng phải nhìn nhận đúng vai trò của văn hóa và giá trị văn hóa. Bởi vì xét đến cùng thì “Sự thăng hoa của văn hóa là đỉnh cao nhất của sự phát triển”. Xét trên ý nghĩa đó, Hồ Chí Minh là một con người kỳ diệu cho tất cả mọi thời đại. Hồ Chí Minh là một nhà văn hóa chân chính. Bởi vì người làm cách mạng không chỉ giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, mà còn vì một khát vọng cao quý nhất là giải phóng con người thoát khỏi nền văn hóa nô dịch, chống lại sự tha hóa con người. Cuộc đời hoạt động và sự nghiệp vĩ đại của Người là tấm gương cao đẹp, trong sáng về một quan niệm nhân sinh về thế giới, tỏa sáng chủ nghĩa nhân văn mới, kết tinh những tư tưởng, tình cảm, những ước mơ lớn của nhân loại. Ðúng như lời phát biểu của Chủ tịch Hội đồng Hòa bình thế giới Romet Chandra: “Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập, tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ đâu, nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao”.

PGS, TS Bùi Ðình Phong

cpv.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài của Đảng ta, nhà tư tưởng lớn của thời đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống hoàn chỉnh những quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, đó là những quan điểm nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu từ con người và cũng trở lại về với con người. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng và vì quần chúng, trong đó, phụ nữ là một lực lượng quan trọng. Người viết “Xem trong lịch sử cách mệnh chẳng có lần nào là không có đàn bà, con gái tham gia” và “An Nam cách mạng cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công”.

Trong một lần trả lời phỏng vấn Đài Phát thanh BBC (Anh), nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã nói: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi xướng con đường giải phóng phụ nữ tại Việt Nam. Người đã thức tỉnh phụ nữ tham gia giải phóng dân tộc, nhân loại và từ đó giải phóng chính mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cảm thông sâu sắc với nỗi thống khổ của người phụ nữ Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai”.

Trong quá trình hoạt động của mình, Nguyễn Ái Quốc đã dành nhiều bài báo tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân, đồng thời vạch rõ tình cảnh bị áp bức, bóc lột và đàn áp thậm tệ của nhân dân các nước thuộc địa, đặc biệt Người đã nhấn mạnh rằng ở các nước thuộc địa, phụ nữ chính là những người bị bóc lột tàn bạo và bị áp bức dã man nhất và chiếm số đông nhất. Trong bài “Những kẻ đi khai hóa” (Le Paria, ngày 1-7-1922) và bài “Phụ nữ Việt Nam và chế độ thực dân Pháp” (Le Paria, ngày 1-8-1922), Nguyễn Ái Quốc đã dựng lên một bức tranh cho người đọc thấy tình cảnh của phụ nữ Việt Nam dưới chế độ thuộc địa của chủ nghĩa thực dân Pháp. Đó là hình ảnh về những người phụ nữ lao động nghèo khổ làm nghề gánh muối có thể bị giết chết, bị đánh đập dã man, hoặc chỉ vì một lý do rất nhỏ là làm mất giấc ngủ của một viên Nhà đoan hay dám bày tỏ bất công của mình với chủ. Đó là việc những người phụ nữ bất kể bà già, trẻ em, phụ nữ có thai hay đang cho con bú đều có thể bị hãm hiếp hoặc tra tấn một cách man rợ mà không một người có lương tri nào có thể hình dung nổi.

Nguyễn Ái Quốc cũng vạch trần tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam, và đặc biệt đối với phụ nữ trong nhiều bài viết khác. Người đã không chỉ nêu lên cho người đọc thấy phụ nữ Việt Nam dưới chế độ thuộc địa của thực dân Pháp bị áp bức rất dã man, mà còn vạch rõ sự bất công, không có công lý dưới chế độ thuộc địa. Do đó, phải giải phóng phụ nữ khỏi áp bức, bất công và công cuộc giải phóng đó phải gắn liền với công cuộc giải phóng dân tộc. Người chỉ ra rằng, nếu nước nhà được độc lập thì nhân dân mới được tự do, trong đó có cả phụ nữ: “…đàn bà, con gái cũng nằm trong nhân dân, nếu cả dân tộc được tự do, đương nhiên họ cũng được tự do…”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở sự tố cáo tội ác của chế độ thực dân – phong kiến đối với người phụ nữ, mà còn động viên, tổ chức cho phụ nữ tham gia công cuộc giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội. Trong tác phẩm “Đường kách mệnh” được tập hợp từ những bài giảng tại các lớp huấn luyện cán bộ cách mạng Việt Nam tổ chức tại Quảng Châu (Trung Quốc) giữa những năm 20 của thế kỷ XX, Người viết: “Ông C.Mác nói rằng: Ai biết lịch sử thì biết rằng, muốn sửa sang xã hội không có phụ nữ giúp vào thì chắc không làm nổi. Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái thì biết xã hội tiến bộ như thế nào”. Theo Người, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, phụ nữ không chỉ được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột mà phải được giải phóng khỏi những tàn dư của hủ tục, định kiến hẹp hòi của tư tưởng phong kiến; vươn lên đóng góp sức mình xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho phụ nữ. Người luôn đấu tranh cho quyền bình đẳng của phụ nữ. Người nói rằng: “Chúng ta làm cách mạng là để tranh lấy quyền bình đẳng, trai gái đều ngang quyền như nhau. Lê-nin dạy chúng ta: Phụ nữ là một nửa xã hội. Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng cả. Phụ nữ thì phải tự mình phấn đấu giữ gìn quyền bình đẳng với đàn ông. Đàn ông phải kính trọng phụ nữ”. Người luôn yêu cầu Đảng, Chính phủ và các tổ chức đoàn thể tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia hoạt động và Người cũng nghiêm khắc nhắc nhở chị em phải cố gắng tự vươn lên trong lao động, học tập và công tác.

Trước lúc đi xa, trong bản “Di chúc”, Người biểu dương tinh thần chiến đấu, hy sinh và căn dặn toàn Đảng, toàn dân ta phải quan tâm, chăm sóc phụ nữ: “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất, Đảng và Chính phủ phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ”.

Ngày nay, trong thời kỳ hiện đại, người phụ nữ đã có sự năng động hơn, được tham gia vào công việc xã hội nhiều hơn trước đây. Thực hiện bình đẳng giới đã tạo điều kiện khích lệ phụ nữ vươn lên trong mọi lĩnh vực. Phụ nữ ngày nay về cơ bản không còn bị ràng buộc bởi những định kiến, những quy ước lạc hậu, cổ hủ ảnh hưởng đến cuộc sống và công việc. Tuy nhiên, ở nông thôn, phụ nữ vẫn chịu nhiều thiệt thòi bởi đời sống còn khó khăn, nhận thức của gia đình cũng như thôn xóm còn hạn chế về quyền bình đẳng nam nữ. Vì vậy, phát huy vai trò tích cực các tổ chức Hội Phụ nữ ở nông thôn để chị em có điều kiện giao lưu, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm là điều vô cùng cần thiết. Đảng và Nhà nước ta cần quan tâm hơn nữa để phụ nữ được thực hiện một cách toàn diện về quyền bình đẳng của mình như lời căn dặn cuối cùng trong bản “Di chúc” của Bác Hồ kính yêu.

T.D

CMH Theo baoanhdatmui

sogddt.camau.gov.vn

Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá

Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa là một di sản vô giá, là những giá trị vĩnh cửu mà Người để lại cho dân tộc Việt Nam và cho nhân loại. Những tư tưởng ấy không phải chỉ nằm trong các bài viết, bài nói, trong những, tác phẩm của Người, mà còn nằm trong phong trào cách mạng của quần chúng, trong con người Hồ Chí Minh.

Chính vì vậy, Tổ chức Giáo dục – Khoa học – Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) suy tôn Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam và là một nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại. Người là sự kết tinh truyền thống văn hóa hàng nghìn năm của nhân dân Việt Nam; là một hình mẫu cao đẹp của con người trong thời đại mới, một biểu tượng của chủ nghĩa nhân văn với đầy đủ ý nghĩa của nó, một tấm gương sáng tuyệt vời về người Cộng sản. Toàn bộ di sản tưtưởng của Người không những là một kho báu văn hóa của dân tộc Việt Nam, mà đã trở thành gia tài của nhân loại.

Nét đặc sắc nổi bật nhất của tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh là sự kết hợp, hài hòa giữa dân tộc với quốc tế, giai cấp với nhân loại, truyền thông với hiện đại, trên cơ sở một chủ nghĩa nhân văn tất cả vì hạnh phúc của con người, vì sự hoàn thiện của con người. Con người với ý nghĩa đầy đủ nhất, như Hồ Chí Minh nói, đó là mỗi một người, là những người thân, trong một gia đình những người gần gũi trong làng xã, phố phường, tập thể, là những người trong một nước cho đến phạm vi rộng rãi nhất là cả loài người. Văn hóa Hồ Chí Minh là văn hóa của con người, do con người, vì con người. Phải chăng, như các nhà khoa học đã định nghĩa về văn hóa, ở Hồ Chí Minh văn hóa chính là nhân hoá.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của minh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn xác định văn hóa cũng là một mặt trận, văn hóa có vị trí quan trọng và quan hệ khăng khít với các mặt trận chính trị kinh tế, quân sự, tạo thành những mặt trận trong cuộc kháng chiến toàn diện cua dân tộc. Nhiệm vụ của văn hóa là góp phần để kháng chiến và kiến quốc thành công. Theo quan điểm Hồ Chí Minh: ”Văn hóa tinh thần, văn hóa chính trị phải soi đường cho quốc dân đi”. Người nhấn mạnh: Văn hóa là một bộ phận của sự nghiệp cách mạng, có quan hệ chặt chẽ với chính trị, có nhiệm vụ phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Ngay sau khi vừa giành được chính quyền về tay nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời đưa ra những kế sách văn hóa vào chiến lược phát triển đất nước. Trước hết, Người rất quan tâm đến việc mở mang dân trí, xóa nạn mù chữ, chống giặc dốt. Người coi sự dốt nát cũng là một thứ giặc, xem thói quen và những hủ tục lạc hậu cũng là một loại kẻ thù. Với tầm nhìn bao quát, sâu sắc và sáng suốt, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi văn hóa cách mạng phải là văn hóa hành động, văn hóa gắn liền với nhu cầu thực tiễn giác ngộ quần chúng, hướng quần chúng vào ý thức tự giải phóng mình và giai phóng toàn đân tộc. Người nói: Phải giáo dục nhân dân chúng ta, làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập. Phải ”làm cho quốc đân có tinh thần vì nước quên mình”, ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập, tự do. Cùng với cuộc đấu tranh chống nạn mù chữ, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào xây dựng đời sống mới và viết cuốn sách ”Đời sống mới” để hướng dẫn các tầng lớp nhân dân thực hiện. Hưởng ứng lời kêu gọi của Người, nhân dân các địa phương đã tích cực thực hiện cuộc vận động xây dựng đời sống mới, và từ đó đã dần đần hình thành những thuần phong mỹ tục mới, từng bước tạo nền vững chắc cho sự phát triển của nền văn hóa, nghệ thuật, khoa học, giáo dục… nước nhà.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ trách nhiệm của Đảng trong lãnh đạo công tác văn hóa, không chỉ đề ra đường lối văn hóa đúng đắn mà phải xúc tiến việc đào tạo con người mới và cán bộ mới cho cuộc kháng chiến, kiến quốc. Văn hóa, giáo dục phải chủ động tạo ra những con người ấy. Người cho rằng, trong xây dựng đời sống văn hóa mới, phải triệt để tẩy trừ mọi xấu xa, tác hại của tàn tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hóa đế quốc. Đồng thời ra sức bảo vệ, phát huy, phát triển những truyển thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc và hấp thụ những cái mới, cái hay, cái đẹp, cái tốt của các dân tộc, của văn hóa tiến bộ thế giới, để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học và đại chúng. Theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng.một nền văn hóa mới cũng là nhằm xây dựng con người mới Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống. Luận điểm nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa, có tầm chiến lược và tầm nhìn xa trông rộng, cần phải nghiên cứu, quán triệt sâu sắc. Hồ Chí Minh không những là lãnh tụ tối cao của Đảng và dân tộc, mà còn là chiến sĩ tiên phong trên mặt trận văn hóa văn nghệ. Người thường xuyên quan tâm lãnh đạo xây dựng và phát triển văn hóa mới. Khi thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta, buộc nhân dân ta phải cầm vũ khí để bảo vệ độc lập dân tộc, Người đưa ra phương châm chiến lược: “kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến” và coi ”Văn hóa-nghệ thuật cũng là một mặt trận, văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy”, Người chỉ rõ mối quan hệ khăng khít giữa chính trị và văn nghệ, giữa cách mạng và nghệ sĩ cách mạng. Người khẳng định dân tộc bị áp bức thì văn nghệ cũng mất tự do. Văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng”. Người coi văn nghệ là vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà ”Nay ở trong thơ nên có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong”. Trong nhiều bài nói, bài viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định văn hóa là một mặt trận, cho nên người chiến sĩ trên mặt trận ấy phải có lập trường vững, tư tưởng đúng, hiểu thâu về cuộc sống và con người, có tài năng sáng tạo… đặt lợi ích của kháng chiến, của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Trong suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ chống thực dân Pháp và đế quôc Mỹ, khắp các chiến trường ác liệt lúc nào cũng có mặt những chiến sĩ văn hóa, những chiến sĩ kiên cường, dũng cảm, lấy công tác tư tưởng văn hóa làm trận địa, làm vũ khí để sáng tạo nên những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật có sức thuyết phục làm rung động lòng người, cổ vũ tinh thần chiến đấu và sản xuất của quân và dân ta. Chủ nghĩa yêu nước và tinh thần căm thù giặc đã khơi nguồn cho những sáng tạo văn hóa nghệ thuật đầy sức sống chiến đấu, tạo nên một thời kỳ sôi động nhất của hoạt động văn hóa trong cả nước.

Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Hồ Chi Minh về văn hóa, Đảng ta xác định: Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, nhiệm vụ trọng tâm của văn hóa, văn nghệ là sáng tạo nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ, có tác động sâu sắc, xây dựng con người mới Việt Nam ngang tầm với sự nhiệp CNH- HĐH đất nước. Đồng thời phát huy truyền thống cao đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào đời sống xã hội, vào từng người, từng gia đình và từng cộng đồng dân cư, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thân cao đẹp trình độ dân trí cao.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa mãi mãi là ngọn đèn chiếu sáng đưa dân tộc ta tiến lên xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiên, đậm đà bản sắc dân tộc trong quá trình khu vực hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế và sự giao lưu văn hóa giữa các quốc gia, dân tộc hiện nay.

Lê Hồng Phan (báo Quảng Bình)

cpv.org.vn

“Nơi Bác yên nghỉ – Nơi hội tụ niềm tin”

(ĐCSVN) – Hơn 31 nghìn người! Đó là con số kỷ lục về lượng du khách đến viếng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vào một buổi sáng… Nhưng phía sau dòng người vô tận ấy là biết bao công việc miệt mài của những cán bộ, chiến sĩ Bộ Tư lệnh Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhân kỷ niệm 116 năm ngày sinh của Bác, Đại tá, TS. Vũ Văn Bình- Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Lăng đã có cuộc trò chuyện với Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thưa đồng chí, một mốc quan trọng trong gần 40 năm giữ gìn, bảo vệ an toàn thi hài Hồ Chủ tịch là việc chúng ta đã pha chế thành công dung dịch và làm chủ công nghệ bảo quản thi hài Bác. Xin đồng chí cho biết, Bộ Tư lệnh (BTL) Lăng đã làm thế nào để có được thành tựu quan trọng ấy?

Sau khi Người qua đời, đồng bào, chiến sĩ cả nước thương nhớ Người khôn xiết, bầu bạn quốc tế cũng chia sẻ nỗi đau buồn sâu sắc với chúng ta. Thể theo nguyện vọng rất thiết tha của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, Bộ Chính trị, Trung ương Đảng đã quyết định bảo vệ, giữ gìn lâu dài thi hài Bác. Nhiệm vụ thiêng liêng và trọng trách lớn lao đó được giao cho Quân đội. Đoàn 69- đơn vị tiền thân của bộ đội bảo vệ Lăng được thành lập và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ trong những năm đầu giữ gìn, bảo vệ thi hài Bác. Gần 40 năm qua, cán bộ, chiến sĩ tổ y tế đặc biệt, Đoàn 69 và từ năm 1975 đến nay là Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vừa xây dựng vừa trưởng thành, hoàn thành nhiệm vụ chính trị đặc biệt mà Đảng và nhân dân giao phó.

Ngay từ ngày Bác đi xa, chúng ta đã một mặt dựa vào sự giúp đỡ của Liên Xô để bảo quản tốt thi hài của Người, một mặt tích cực xây dựng lực lượng cán bộ khoa học hướng tới tự chủ, tự lực, tự cường trong công tác bảo quản và giữ gìn thi hài của Bác.

Do được chuẩn bị tốt như vậy, nên khi Liên Xô, Đông Âu sụp đổ, chúng ta từng bước làm chủ công nghệ giữ gìn thi hài Bác. Song công việc đó không hề đơn giản, bởi đấy là một ngành khoa học công nghệ tổng hợp. Khi thực hiện quá trình công nghệ giữ gìn thi hài Bác, chúng ta phải kết hợp nhiều ngành kĩ thuật trong khi chưa có kinh nghiệm. Tuy nhiên vẫn phải giữ tốt thi hài của Bác với 3 yêu cầu: “Thi hài không bị phân huỷ, không sạm màu, không bị biến dạng” để nhân dân đến viếng vẫn thấy thi hài nguyên vẹn như lúc Bác còn sống.

Một vấn đề hết sức quan trọng là phải có một loại dung dịch hóa chất để bảo quản thi hài. Trước năm 1990 các chuyên gia Liên Xô trực tiếp có mặt tại Việt Nam để giúp ta về công nghệ pha chế dung dịch này, nhưng đến năm 1992, do sự biến động chính trị, việc giúp đỡ ngày càng hạn chế. Trước tình hình trên, các nhà khoa học Việt Nam phải nhanh chóng, chủ động khắc phục khó khăn. Sau 3 lần pha chế thành công tại Hà Nội, dung dịch để bảo quản thi hài Bác do các chuyên gia Việt Nam pha chế đã được các bạn Nga công nhận. Vì thế, từ ngày 29/4/1995 các bạn đã chính thức bàn giao cho ta nhiệm vụ làm thuốc thường xuyên bảo quản thi hài Bác. Cho đến nay, thi hài Bác vẫn rất tốt, và sẽ bảo quản được lâu dài đáp ứng niềm mong mỏi của toàn dân.

Theo các chuyên gia về y học, việc gìn giữ thi hài trên thế giới rất khó khăn (không chỉ riêng ở VN) để công tác giữ gìn thi hài của Bác được lâu dài, BTL Lăng sẽ phải làm như thế nào?

Về công nghệ giữ gìn thi hài trên thế giới thì nước Nga có nhiều kinh nghiệm và ta cũng đã tiếp thu, học tập được rất nhiều. Nhưng chúng ta cũng phải hiểu là giữ gìn thêm mỗi năm là thêm sự phức tạp. Hơn nữa thi hài nào cũng sẽ bị chuyển hoá theo thời gian và năm tháng, do sự tác động của môi trường, nhất là khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm ở nước ta. Song, giữ gìn được lâu dài thi hài của Bác luôn là quyết tâm của Bộ Chính trị, Đảng ủy quân sự Trung ương, các ngành khoa học và cũng là mong ước của toàn dân. Để làm được như vậy chúng tôi đã phối hợp với các ngành khoa học, các giáo sư của trường đại học và một số viện nghiên cứu khoa học… nhằm tìm ra các giải pháp tốt nhất. Với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự nỗ lực, sáng tạo của BTL Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự giúp đỡ hiệu quả của bạn, tôi xin khẳng định, trong điều kiện hiện nay, chúng ta sẽ tiếp tục bảo quản lâu dài thi hài Hồ Chủ tịch.

Vẫn biết việc bảo quản giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhiệm vụ cao cả mà Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng giao cho các anh và là công việc không đơn giản chút nào. Nhưng hiện nay có ý kiến cho rằng, hoạt động của bộ đội Lăng Chủ tịch là rất ” nhàn”. Vậy đồng chí suy nghĩ gì về vấn đề này?

Có thể khẳng định rằng, chỉ những ai ít quan tâm, thiếu hiểu biết về bộ đội Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh mới nói như vậy. Chứ còn đại bộ phận nhân dân đều có thể hiểu được sự gian khó, hy sinh của chúng tôi, nhất là những đồng chí đang ngày đêm canh giữ giấc ngủ bình yên cho Bác; các chiến sĩ đã phải vất vả tập luyện gian khó mới có thể đứng nghiêm hàng vài giờ đồng hồ như vậy. Không phải ai cũng có thể làm được việc đó. Rất nhiều đồng chí qua thời gian đầu được rèn luyện, huấn luyện đã không chịu được. Có đồng chí còn ngất đổ “như cây chuối” và phải chuyển sang công việc khác. Đó là còn chưa kể nắng, mưa, đêm hôm… Chúng tôi cũng đang ngày đêm nỗ lực phấn đấu vươn lên trên tất cả các lĩnh vực công tác. Rồi hàng loạt công việc: nghiên cứu hoàn chỉnh công nghệ ướp, bảo quản thi hài trong điều kiện nhiệt đới, trùng tu để công trình luôn khang trang, đảm bảo an ninh và sạch đẹp khu vực Quảng trường… Nói như thế để thấy rằng, tất cả cán bộ, chiến sĩ trong Bộ Tư lệnh đều cống hiến bằng trái tim, khối óc của chính mình.

Hiện nay đồng bào các dân tộc thiểu số vùng sâu, xa đến được HN vào thăm viếng Lăng Bác là rất khó khăn. Để tạo điều kiện cho các đồng bào dân tộc thiểu số và các bà con vùng sâu, xa được vào thăm viếng Bác, BTL Lăng đã tổ chức thực hiện như thế nào?

Chúng tôi đã phối hợp với ngành đường sắt Việt Nam và các tỉnh ở xa để có sự hỗ trợ về tiền tàu, xe cho đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng xa khi về Hà Nội để vào Lăng viếng Bác. Đối với những bà con có chế độ chính sách thì được giảm từ 60% – 90% giá vé đi lại (tùy theo chế độ). Khi bà con đến Hà Nội, chúng tôi cho xe ra tận ga để đón và liên hệ mượn nhà nghỉ để khách thăm Lăng chỉ phải trả tiền điện, nước chứ không phải trả tiền thuê phòng. Vì hiện nay, BTL Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn chưa có nhà khách.

Do làm tốt công tác đó nên mấy năm trở lại đây, những đoàn khách ở xa như: Đồng Nai, Tiền Giang… và các tỉnh khác đến viếng Bác rất đông. Tiêu biểu là ngày 2-9-2004, số lượng khách thăm viếng lên tới hơn 31.000 người trong một buổi sáng.

Khi có số lượng khách đông như thế, mọi công tác đảm bảo an ninh trật tự cho đến vệ sinh môi trường có nhiều khó khăn… Nhưng chính tình cảm của nhân dân đối với Bác lại là động lực, là niềm vui thôi thúc chúng tôi phục vụ tốt hơn.

Cùng với nhiệm vụ bảo quản, giữ gìn lâu dài thi hài của Bác thì một nhiệm vụ rất quan trọng của các đồng chí là phải góp phần làm nổi bật văn hóa Hồ Chí Minh cho du khách. Vậy, BTL Lăng đã quan tâm đến vấn đề này như thế nào?

Hình ảnh Bác Hồ đã đọng lại không chỉ trong trái tim nhân dân Việt Nam, mà còn đọng lại trong bạn bè quốc tế. Chính vì thế ai tới Hà Nội và nhiều khách quốc tế cũng đều mong muốn vào Lăng viếng Bác. Vì vậy, cán bộ, chiến sĩ, nhân viên BTL Lăng phải thể hiện sự nhiệt tình, chu đáo, văn minh… nhất trong việc tiếp đón và như thế chính là góp phần gìn giữ tư tưởng của Người, bởi vì việc mỗi cán bộ chiến sĩ thể hiện tư thế, tác phong quân nhân chững chạc, có văn hoá cũng chính là góp phần tô thắm hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” với những phẩm chất cao đẹp mà chính Người lúc sinh thời đã dày công rèn luyện, vun đắp. Trong những lần du khách đến viếng Lăng Bác, chúng tôi còn chiếu những phim tư liệu để đồng bào được xem những hình ảnh khi Bác còn sống. Chính vì thế mà nhiều du khách đã vào Lăng viếng Bác xong rồi nhưng lại không muốn ra về, cứ nấn ná ở lại như muốn được kéo dài thêm thời gian bên Bác- người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất của thế giới.

Xin cảm ơn đồng chí./.

Triệu Sơn Hảo (thực hiện)

cpv.org.vn

Hồ Chí Minh – nhà văn hóa lớn, hiện thân của tinh hoa văn hóa Việt Nam

(ĐCSVN) – Thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác – Lênin, tinh hoa văn hóa thế giới và các giá trị văn hóa dân tộc, hòa mình trong hoạt động phong phú của nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận rő ý nghĩa lớn lao, vị trí đặc biệt quan trọng của văn hóa, do đó Người đã chỉ rő: “Văn hóa soi đường quốc dân đi”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khi lãnh đạo toàn dân giành lại độc lập cho dân tộc cũng đã trả lại vị trí xứng đáng cho văn hóa Việt Nam, mở ra một thời đại mới cho văn hóa Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh đi vào nhân dân không chỉ tồn tại một cách trừu tượng trên lĩnh vực ý thức – tư tưởng mà đã thâm nhập sâu vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội của dân tộc, đã trở thành văn hóa dân tộc. Hồ Chí Minh – tư tưởng của Người, thiên tài và toàn bộ sự nghiệp của Người trở thành biểu tượng cao đẹp và sáng ngời của vãn hóa dân tộc Việt Nam trong thời đại mới. Ðó là sự trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh, bởi cái gì đã đi vào văn hóa thì sẽ sống mãi với dân tộc, với loài người.

Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu trong nước và thế giới đang bàn đến văn hóa chính trị Hồ Chí Minh, văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh, văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh, văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh, văn hóa lao động, văn hóa sống Hồ Chí Minh v.v… Hiện nay nhiều ý tưởng được bàn rộng ra như: văn hóa lãnh đạo, văn hóa Đảng, văn hóa cơ quan, văn hóa lao động… theo tư tưởng Hồ Chí Minh là như thế nào, cần thể hiện những đặc trưng và phẩm chất gì? Nghiên cứu, làm sáng tỏ những điều đó chắc chắn sẽ là một đóng góp không nhỏ vào việc xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa truyền thống văn hóa cổ, kim, đông, tây; đặc biệt là tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, đỉnh cao của tư tưởng nhân văn của nhân loại, nhờ đó đã kết tinh ở Người những giá trị văn hóa vừa dân tộc, vừa hiện đại, vừa nhân văn. Là chiến sĩ tiên phong của nền văn học – nghệ thuật, báo chí cách mạng, đấu tranh cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, cho công bằng, tình thương và lẽ phải trên trái đất, sự đóng góp của Người về văn hóa rất phong phú và đa dạng, thấm đượm trong toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của Người, được tỏa sáng trong từng việc làm, từng cử chỉ, từng mối quan hệ với đồng chí, đồng bào và bạn bè quốc tế. Cái cốt lõi trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh là lòng yêu nước, thương dân, thương yêu con người và niềm tin đối với con người hết sức bao la, sâu sắc, tất cả vì con người, tất cả do con người. Đó là một nhân sinh quan, một triết lí sống rất nhân văn, là đạo đức cách mạng của người cộng sản. Người quan niệm: “Nghĩ cho cùng, mọi vấn đề… là vấn đề ở đời và làm người. Ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ bị áp bức”. Chính vì vậy, suốt đời Người đã hy sinh chiến đấu chống áp bức bất công, đem lại cuộc sống tự do, hạnh phúc cho nhân dân, cho dân tộc, cho nhân loại. Như vậy, Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà tư tưởng lỗi lạc, mà còn là một nhà hoạt động thực tiễn đầy tài năng; không chỉ là một nhà chính trị vĩ đại, mà còn là một nhà văn hóa kiệt xuất. Ngay từ năm 1923, nhà thơ Nga Ô-xíp Man-đen-xtan đã nhận xét rằng: “Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một nền văn hóa, không phải là văn hóa châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hóa của tương lai”.

Với những cống hiến xuất sắc cho dân tộc và nhân loại, năm 1990, kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Liên hợp quốc đã ra nghị quyết công nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn, danh nhân thế giới.

TS. Bùi Thế Đức

cpv.org.vn

Di tích Phủ Chủ tịch, một sáng tạo văn hoá

Việc nghiên cứu các di tích trong khu di tích phủ Chủ tịch là để tìm đến những giá trị văn hóa tinh thần đã và đang kết đọng trong từng sự vật gắn với đời sống thường nhật của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nghiên cứu Di tích Phủ Chủ tịch không chỉ nghiên cứu những di tích ở khuôn viên Phủ Chủ tịch mà có thể mở rộng hơn ra cả khu Quảng trường Ba Đình bao quanh nó, để thấy sự sáng tạo các giá trị văn hóa gắn kết, hòa quyện với nhau.

1. Các giá trị văn hóa nhân văn, nhân bản:

Tinh thần nhân văn đối với con người:

Tinh thần nhân văn, nhân bản sâu sắc nhất là tinh thần vì con người, vì hạnh phúc của con người. Đối với Hồ Chí Minh, tinh thần ấy trước hết vì nhân dân mình: hướng đến sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất Tổ quốc, đem lại đời sống tốt đẹp hơn cho nhân dân Việt Nam. Người đã từng bộc lộ ý tưởng nhân văn của mình: ”Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ta có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.

Tinh thần nhân văn hóa thân trong sự nghiệp cách mạng cao cả của Người và cả trong đời sống thường nhật. Phủ Chủ tịch, nơi ở và làm việc của Hồ Chí Minh đã chứng minh cho ý tưởng nhân văn cao cả: lấy hạnh phúc của nhân dân làm hạnh phúc của mình. Do vậy, nơi đây thể hiện một cuộc sống hết sức bình dị, ”một cái nhà nho nhỏ nơi non xanh nước biếc” để ngoài giờ làm việc thì ”câu cá trồng rau”.

Chúng tôi muốn mượn lời của Chủ tịch văn phòng đại diện Vương quuốc Bỉ tại Việt Nam, để nói về sự hiểu biết giá trị nhân văn Hồ Chí Minh qua ngôi nhà sàn của Người: ”Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có một nỗi trăn trở và mục tiêu duy nhất là cống hiến cho dân tộc mình, và ngôi nhà của Người là một minh chứng cho lý tưởng đó”.

Tinh thần nhân văn bao trùm lên tất cả những ứng xử văn hóa của Người và thể hiện ở mỗi hàng cây, ngọn cỏ và mỗi nhành hoa… trong khu Di tích.

Đối với các thế hệ con người, các tầng lớp nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ quan tâm, chăm sóc, động viên, khuyến khích, mà Người còn nâng cao thêm nhân cách, vị thế của họ. Như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhận xét: ”Người hạ mình cho vừa tầm mọi người Việt Nam để nâng đỡ mọi người Việt Nam lên đến tầm Người”. Do vậy, từ cái ăn, cái mặc, đồ dùng của Người đang lưu giữ ở đây rất giản dị, gần gũi với cuộc sống của nhân dân. Nhà thơ Tố Hữu đã viết: Một đôi dép lốp mòn quai gót, Vài mảnh quần nâu mấy áo sờn.

Đặc biệt, đối với Người, Phủ Chủ tịch chỉ là nơi làm việc của vị Chủ tịch một nước dân chủ cộng hòa chứ không còn là nơi thâm nghiêm biểu trưng cho uy quyền như dưới chế độ phong kiến, thực dân. Không những thế, nó còn là nơi vui chơi của các cháu thiếu niên, của những người đồng chí, người bạn và những người phục vụ tại đây.

Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh cho đón các cháu thiếu niên vào vui chơi với Người tại Phủ Chủ tịch (xưa là Phủ Toàn quyền) hay Người cho xây bể cá vàng ở ngôi nhà sàn khẳng định điều đó và hơn nữa, Người muốn trao cho các cháu vị thế làm chủ đất nước của các công dân tương lai. Khi đoàn đại biểu các anh hùng lực lượng vũ trang miền Nam ra thăm miền Bắc, vào Phủ Chủ tịch, Người không từ Chủ tịch phủ ra đón, mà xuất hiện từ Đường Xoài đến với họ.

Người làm như vậy không phải để tạo ra sự bất ngờ mà Người muốn một sự gần gũi như người cha, người bác đón con cháu trở về trong một không gian lịch sử (Đường Xoài dẫn đến ngôi đình cổ).

Tình cảm của Người đối với nhân dân được vật hóa vào tất cả các sự vật ở đây. Nói cách khác, từ gốc cây, ngọn cỏ, con cá đều toát lên tinh thần nhân văn của Người. Từ “cây xanh bốn mùa” gợi nhớ sự thông cảm của Người đối với chị lao công đêm đông quét rác, từ ”cây cọ đầu” gợi nỗi ưu tư trước đời sống khó khăn, vất vả của nhân dân, từ “cây vú sữa” gợi nhớ nỗi nhớ ”miền Nam nỗi nhớ nhà” của Người… Phải chăng sự thương cảm của Bác đối với những người lao động, người dân binh thường đã được Tố Hữu ghi lại trong dòng thơ: Con cá rô ơi! chớ có buồn, Chiều chiều Bác vẫn đợi rô luôn.

Tục ngữ Việt Nam thường nói đến ”con rô – con giếc”, ”con tôm – con tép” – chỉ người dân lao động bình thường – đọc câu thơ trong bối cảnh ngày hôm nay chúng ta càng xúc động hơn.

Trở lại với cây, với hoa quả trong ”vườn Bác” chúng ta thấy sự quan tâm của Người với biết bao lớp người trong xã hội. Cây ”vú sữa”, ”cây dừa miền Nam” là biểu hiện tình cảm của Người đối với đồng bào miền Nam ruột thịt, ”đi trước về sau”. Hàng cây dâm bụt ”đỏ hoa quê” là biểu hiện của tình yêu quê hương tha thiết với ”bao nhiêu tình” của Người. Cây cam, ”cây xanh bốn mùa”, cây bưởi, cây cọ đầu… biểu hiện tình cảm đối với quê hương, đất nước và nhân dân mình. Cây hoàng lan – ”cây vũ trụ”, cây cam, cây dừa Xiêm là biểu hiện của tinh thần quốc tế, tinh thần hữu nghị của Người và của nhân dân ta đối với đồng chí, với bạn bè gần xa.

Từ vườn cây ao cá của Người trong khu Di tích Phủ Chủ tịch đến phong trào ”Vườn cây – ao cá Bác Hồ” gần đây và hôm nay là cả một chương trình VAC của đất nước, chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp trong cả nước, không chỉ nói lên ý nghĩa kinh tế của tư tưởng Hồ Chí Minh mà sâu sắc hơn ià một ý nghĩa nhân văn cao cả trong những di sản vật chất và tinh thần Người để lại cho chúng ta.

Giá trị nhân văn đối với tự nhiên:

Mối quan hệ giữa con người với con người quy định mối quan hệ của con người đối với tự nhiên và ngược lại. Tinh thần văn hóa nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với thiên nhiên cũng nằm trong quan hệ đó.

Sự gắn bó giữa con người với tự nhiên, con người gần gũi hòa quyện với thiên nhiên được biểu hiện ngay trong môi trường sinh thái của khu Di tích Phủ Chủ tịch. Tâm thức ấy luôn luôn thường trực trong tâm hồn Người từ căn cứ địa Cao Bằng đến chiến khu Việt Bắc. Và về đến Thủ đô Hà Nội ”trở lại” với thiên nhiên cũng vườn cây, ao cá, hoa thơm, trái ngọt và ”Một cái nhà nho nhỏ với non xanh nước biếc để câu cá, trồng rau… không dính gì đến vòng danh lợi”.

Tinh thần nhân văn cao cả của Hồ Chí Minh thể hiện nơi Chủ tịch phủ, không chỉ ở sự hòa quyện, gắn bó với thiên nhiên mà còn ở sự nâng đỡ tự nhiên, cải tạo tự nhiên, thích ứng tích cực với hoàn cảnh tự nhiên. Việc Người hướng dẫn anh chị em làm vườn chữa mối đục thân cây bụt mọc là một minh chứng. Việc Người cứu cây đa con, sống trên bẹ cây to bị gió đánh bật xuống đất cũng là một di vật chứng minh cho tinh thần thương yêu thiên nhiên của Người.

Đến nơi đây, những khách du lịch phương Tây ý thức sâu sắc về mối quan hệ giữa tự nhiên và con người đã cảm nhận được điều gì nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh sống và làm việc? ”Tôi có cảm nghĩ rằng: nơi đây tuyệt đẹp và tràn đầy ý nghĩa. Tôi càng hiểu được những giá trị tư tưởng có thể cảm nhận được từ cảnh quan tĩnh lặng thanh bình tại ngôi nhà này” (Khách du lịch Niu Di Lân – K.Baitz). Con người chỉ có sống bình yên khi hòa mình vào tự nhiên, giữ gìn tự nhiên, cải tạo tự nhiên. Do vậy, đến khu Di tích Phủ Chủ tịch, họ tìm lại cảm giác đó: ”Ngôi nhà này của Chủ tịch Hồ Chí Minh là bằng chứng về sự cống hiến quên mình của Người cho nhân dân Việt Nam. Quang cảnh vườn cây, ao cá, nhà sàn tạo cảm giác bình yên và thanh thản cho du khách. Người luôn luôn là nguồn động lực tinh thần cho các thế hệ người Việt Nam sau này và mãi mãi” (Khách du lịch Thụy Sĩ – Visune Shanth). Bình yên và thanh thản là trạng thái hạnh phúc của con người. Trong hoàn cảnh sống đầy biến động hiện nay, với một nhịp độ sống gấp gáp, dồn nén với bao tai họa đang đe dọa con người, thì việc tìm thấy cảm giác đó thật là quý giá. Di tích Phủ Chủ tịch đã trở thành ”Thánh địa rực rỡ soi sáng tinh thần” (Nhà Vua Malaysia) không chỉ trên con đường dành độc lập tự do của các dân tộc mà còn trên con đường đi đến hạnh phúc cho toàn nhân loại bằng triết lý hòa hợp giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với đồng loại.

2. Các giá trị thẩm mỹ nghệ thuật:

Khu di tích đã khắc họa phẩm chất cao cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

Một nét độc đáo hiện ra ở đây là cái cao cả lại được biểu hiện trong cái giản dị, khiêm nhường. Khu Di tích Phủ chủ tịch không phải là một công trình lớn như Kim Tự tháp (Ai Cập), Vạn Lý trường thành (Trung Quốc), Vườn treo BabiLon (I Rắc) hay cung điện Véc-Xây (Pháp)… mà chỉ là một khuôn viên bình thường về cả quy mô và kiến trúc. Nhưng cái giản dị của nó lại phản ánh một phẩm chất tinh thần cao đẹp của một vĩ nhân. Có lẽ, không nhiều khách tham quan, trước khi đến đây đã tìm hiểu đầy đủ phẩm chất tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhưng khi thăm viếng nơi ở và nơi làm vlệc của Người tại khu Chủ tịch phủ này (và cũng chỉ mới xem các hiện vật ở đây) đã cảm nhận được phẩm chất cao cả của Người. Vị đại diện cơ quan Liên hợp quốc tại Việt Nam đã ghi cảm tưởng: ”Không một ai đến thăm nơi ở khiêm nhường này mà không trào dâng những niềm xúc cảm trước sự vĩ đại của một Con Người đã trở thành huyền thoại trong cuộc sống đời thường của mình”.

Theo lý thuyết biểu trưng về sự sáng tạo văn hóa của con người thì có thể nói rằng mỗi sự vật, mỗi di vật ở Phủ Chủ tịch đều mang một linh hồn ghi dấu phẩm chất cao đẹp của nhân cách Hồ Chí Minh – một nhân cách văn hóa tích hợp giữa cái chân – cái thiện – cái mỹ. Đó là sự kết hợp giữa một nhà chính trị nhân văn và một nhà văn hóa. Người vừa là người sáng tạo văn hóa vừa là biểu tượng của văn hóa Việt Nam. Nhân cách văn hóa Hồ Chí Minh và các di vật của Người trở thành di sản văn hóa của dân tộc.

Lê Quý Đức
(Theo tạp chí Văn hoá Nghệ thuật)

cpv.org.vn

Ngôi nhà sàn huyền thoại

Phủ Chủ tịch ở Hà Nội vốn xưa là dinh thự của Toàn quyền Đông Dương, được xây dựng từ năm 1900. Sau ngày 19-12-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn nơi đây làm Thủ phủ của Nhà nước và Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hòa.

Trong khuôn viên rộng lớn, mặc dù có nhiều công trình kiến trúc sang trọng, đầy đủ tiện nghi song Bác Hồ không ở. Người chọn cho mình một ngôi nhà nhỏ nguyên là nơi ở của những người thợ điện Việt Nam phục vụ cho Toàn quyền Đông Dương, làm nơi ở và làm việc của mình.

Mãi gần bốn năm sau Bác Hồ chuyển đến ở trong một ngôi nhà sàn làm bằng gỗ, nhỏ bé, giản dị và đơn sơ được dựng lên ở một góc nhỏ của khuôn viên Phủ Chủ tịch. Đây là nơi ở và làm việc chính thức của Bác cho tới khi Người đi xa. Ngôi nhà sàn được xây dựng trong khuôn viên Phủ Chủ tịch, ngay giữa lòng Thủ đô Hà Nội, trước hết đó là ý muốn của Bác Hồ. Người không chấp thuận đề nghị của Trung ương và Chính phủ mời Bác ra ở trong dinh thự sang trọng, đầy đủ tiện nghi mà các đời toàn quyền Đông Dương đã ở trước đây. Bác Hồ coi đó là thành quả cách mạng của nhân dân nên để làm nơi gặp gỡ đồng bào trong nước, nơi tiếp khách quốc tế và các nghi lễ ngoại giao. Bác muốn Trung ương cho Bác làm một cái nhà sàn nho nhỏ, theo kiểu của bà con dân tộc thiểu số trên Việt Bắc, để ở và làm việc. Người đề nghị nhà làm bằng loại gỗ bình thường và nhỏ thôi, dựng gần bờ ao cho thoáng mát.

Mười lăm năm cuối cuộc đời sống và làm việc tại Phủ Chủ tịch, trong đó 11 năm trực tiếp ở nhà sàn là một khoảng thời gian khá dài trong sự nghiệp cách mạng của vị lãnh tụ kính yêu và là giai đoạn có ý nghĩa vô cùng lớn lao, quyết định đối với sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà. Chính vì vậy, nơi ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch đã trở thành một địa danh lớn phản chiếu về cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một tấm gương hết lòng phục vụ lợi ích của nhân dân, đấu tranh không mệt mỏi cho danh dự, tự do và độc lập của Tổ quốc mình” – Người là Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới.

Ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời (2-9-1969), khu vực Phủ Chủ tịch đã sớm được hình thành là một di tích lịch sử-văn hóa-danh nhân. Ngày 25-11-1970, Bộ Chính trị Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 206-NQ/TƯ. Điều 2, Nghị quyết có ghi rõ: “Bảo quản tốt khu lưu niệm các di tích và hiện vật lưu niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch”.

Trên suốt chặng đường 35 năm tồn tại, như minh chứng cho chân giá trị lịch sử của một vĩ nhân-một dân tộc, Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch mà điểm nổi bật, đặc trưng là ngôi nhà sàn Bác Hồ ở và làm việc, với đầy đủ ý nghĩa quan trọng và lớn lao không những đã trở thành một địa danh trên bản đồ hành hương mà còn đọng lại ấn tượng sâu đậm trong triệu triệu trái tim con người.

35 năm qua, kể từ ngày Bác Hồ đi xa, Nhà sàn đã được bảo quản chu đáo, nguyên trạng. Gần 40 triệu lượt người đã đến tham quan, nghiên cứu, học tập. Trong đó có khách của hơn 150 nước trên thế giới, gồm các vị nguyên thủ quốc gia, các chính khách và đủ các đối tượng khác nhau, khi đến Việt Nam vào thăm nơi Bác Hồ ở và làm việc.

Nhà sàn Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch đã trở thành di sản văn hóa vô giá của dân tộc và có ý nghĩa quốc tế. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: Cuộc đời của Bác Hồ có vô vàn cái giản dị, nhưng Nhà sàn-nơi Bác ở và làm việc là điều giản dị nhất, nó trở nên kỳ diệu hơn, hấp dẫn hơn. Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng từng nói: “Cái nhà sàn đơn sơ của Bác vẻn vẹn chỉ có vài ba phòng, trong lúc tâm hồn của Bác lộng gió thời đại thì cái nhà nho nhỏ đó luôn luôn lộng gió và ánh sáng, phảng phất hương thơm của hoa vườn, một đời sống như vậy thanh bạch và tao nhã biết bao”.

Trước ngôi nhà sàn tĩnh lặng, một nhà báo phương Tây đã thốt lên đầy xúc động: Con người ta khi đạt đến đỉnh cao của vinh quang thường hay bị vinh hoa quyến rũ. Nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh không thế. Người đã vượt lên trên tất cả, Người đã chiến thắng chính bản thân mình để trở thành con người hoàn thiện. Ngôi nhà này là hiện thân của tinh thần đó. Một đại diện của Liên hợp quốc đã nói đầy thán phục: “Chủ tịch Hồ Chí Minh thật thông minh khi chọn ngôi nhà này để ở. Ngôi nhà này đã nói lên tất cả con người ông: nhân cách, tầm vóc trí tuệ, phong cách sống và đạo đức cách mạng”.

Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành huyền thoại. Ngôi nhà sàn-nơi Người ở và làm việc tại Phủ Chủ tịch cũng đi vào huyền thoại. Nó tồn tại mãi mãi trong trái tim nhân dân Việt Nam và bạn bè thế giới. Hàng triệu lời khen, hàng vạn dòng cảm tưởng tốt đẹp khi đến thăm nơi ở và làm việc của Bác tại Phủ Chủ tịch càng minh chứng chiều sâu giá trị của di sản văn hóa Hồ Chí Minh. Với những ý nghĩa lớn lao đó, Nhà sàn Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch là di tích lịch sử-văn hóa đặc biệt quan trọng của đất nước, là nơi hội tụ cả giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể. Vinh dự cho dân tộc ta, nhân dân ta, đất nước ta có Hồ Chí Minh. Tự hào cho di sản văn hóa Việt Nam có Nhà sàn Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch. Vinh dự và tự hào đó của nhân dân ta nói chung, có niềm vinh dự và tự hào của những con người, chiến sĩ đã góp trí tuệ, công sức xây dựng nên Nhà sàn Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch. Đồng thời nó cũng thuộc về những cán bộ công chức và người lao động trong suốt 35 năm qua đã tận tụy bảo quản, giữ gìn và phát huy tác dụng di sản văn hóa vô giá đó.

Trước xu thế phát triển mới của nước ta trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập toàn diện với thế giới thì di sản văn hóa-Nhà sàn Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch càng hội tụ đầy đủ những điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hòa để tuyên truyền hơn nữa những tinh thần văn hóa-tư tưởng Hồ Chí Minh tới mọi người dân Việt Nam cũng như trên trường quốc tế. Tuy nhiên, ngoài ý thức và tình cảm với di sản của Bác Hồ để lại, cần phải có những phương tiện kỹ thuật, những tiến bộ khoa học để giữ gìn lâu dài một di tích gắn với cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hy vọng rằng, với niềm tự hào là những người trực tiếp xây dựng Tổng cục Nhà sàn Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch, ngành xây dựng Tổng cục Hậu cần Quân đội luôn luôn quan tâm và sẵn sàng góp phần vào nhiệm vụ bảo tồn di sản văn hóa có ý nghĩa lớn lao này.

BTS
Theo Bùi Kim Hồng, Báo QĐND

cpv.org.vn

Tư duy quân sự Hồ Chí Minh – tiếp cận từ góc độ vǎn hoá

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân

“Quân sự” dùng ở đây hiểu theo nghĩa rộng, như “quân sự” trong “đường lối quân sự” của Đảng. Tư duy quân sự Hồ Chí Minh là sự tiếp tục của tư duy chính trị Hồ Chí Minh bằng chiến tranh và trong chiến tranh cách mạng, nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu của cách mạng vì độc lập dân tộc (ĐLDT) và chủ nghĩa xã hội (CNXH). Đã có nhiều công trình nghiên cứu công phu về tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Bài này chỉ tiếp cận đôi điều từ góc độ văn hóa, xuất phát từ nguồn gốc văn hóa và ảnh hưởng văn hóa đối với tư duy chính trị Hồ Chí Minh là: tinh hoa văn hóa Việt Nam, chủ nghĩa Mác – Lê-nin (là cơ sở lý luận và phương pháp luận, cũng là tinh hoa văn hóa phương Tây hiện đại đã trở thành tinh hoa văn hóa nhân loại), cùng ảnh hưởng của những tinh hoa văn hóa khác Đông – Tây kim cổ.

* * *

Văn hóa bản chất là nhân văn. Nói văn hóa với tư duy quân sự dường như nghịch lý. Nhưng đó lại là thuận lý, mười lần thuận lý đối với tư duy quân sự Hồ Chí Minh. Bởi, với Hồ Chí Minh, “dùng binh là việc nhân nghĩa, muốn cứu nước, cứu dân”. Bởi chiến tranh chính nghĩa, yêu nước và cách mạng là “văn minh thắng bạo tàn”. Chiến tranh xâm lược, phi nghĩa không có gì liên quan đến văn hóa, đến văn minh, trái lại, là chống lại văn hóa, phản lại văn minh một cách tàn bạo nhất – dù dưới bất cứ chiêu bài gì, cả chiêu bài “can thiệp nhân đạo”, như ở Cô-xô-vô mà thực chất là xâm lược.

Tư duy quân sự Hồ Chí Minh, đó trước hết vẫn là việc giải quyết những vấn đề chính trị của chiến tranh và trong chiến tranh nhằm đáp ứng những yêu cầu của chiến tranh, của đấu tranh vũ trang – quy luật chung của chiến tranh – nhằm giành thắng lợi cho chiến tranh cách mạng và tiếp tục đưa cách mạng phát triển trong chiến tranh. Nó phản ánh những vấn đề có tính quy luật của chiến tranh nhân dân, chiến tranh cách mạng ở Việt Nam trong thời đại mới.

Cụ thể là: xác định mục đích chính trị của chiến tranh cách mạng là nhằm thực hiện mục tiêu cơ bản và lâu dài của cách mạng: ĐLDT (dân chủ nhân dân), tiến lên CNXH, vì nhiệm vụ dân tộc và nghĩa vụ quốc tế. Xây dựng lực lượng của chiến tranh cách mạng trên cơ sở khối đại đoàn kết của toàn dân tộc, lấy liên minh công nông làm nền tảng, phát động và tổ chức toàn dân đánh giặc, lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt, mở rộng đoàn kết quốc tế.

Giải quyết những vấn đề về phương thức tiến hành chiến tranh và nghệ thuật quân sự trên cơ sở vận dụng trong chiến tranh và theo yêu cầu của quy luật quân sự, những phương pháp và hình thức đấu tranh cách mạng, phát động và tổ chức toàn dân đánh địch một cách toàn diện: quân sự, chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa. Do vậy, tiếp cận tư duy quân sự Hồ Chí Minh, không thể tách rời nguồn gốc văn hóa và ảnh hưởng văn hóa đối với tư duy chính trị Hồ Chí Minh (như nêu ở trên).

Trực tiếp liên quan đến tư duy quân sự xét theo góc độ văn hóa, đó là văn hóa quân sự. Trong vàn hóa Việt Nam, có một bộ phận tiêu biểu là văn hóa quân sự Việt Nam (VHQSVN) – linh hồn của truờng phái quân sự Việt Nam. Bởi nói dân tộc là phải nói bản sắc văn hóa. Nói trường phái quân sự dân tộc không thể không thấy dòng máu văn hoá dân tộc chảy trong đó. Đây là dòng văn hoá quân sự (VHQS) chủ yếu trong tư duy quân sự (cũng là tư duy chính trị) Hồ Chí Minh.

Cũng cần nói thêm, văn hóa bản chất là nhân văn nhưng mang bản sắc riêng của các dân tộc khác nhau và dấu ấn riêng của những giai cấp khác nhau trong lịch sử phát triển lâu dài của dân tộc (quốc gia – dân tộc). VHQSVN được xây dựng và phát triển trong lịch sử lâu dài giữ nước gắn với dựng nước của dân tộc Việt Nam: trong các cuộc khởi nghĩa dân tộc và chiến tranh dân tộc, chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc nhằm lật đổ ách thống trị ngoại bang và đánh bại chiến tranh xâm lược. VHQSVN phát triển cả trong sự nghiệp củng cố quốc phòng kết hợp với phát triển kinh tế và văn hóa qua những thế kỷ sống trong hòa bình. VHQSVN thấm nhuần tinh hoa văn hoá Việt Nam, thể hiện trong chiến tranh lòng yêu nước, thương nòi, tinh thần cộng đồng và ý thức dân chủ, đặc biệt ở làng xã.

Nhờ vậy mới có quyết tâm chiến đấu kiên cường để bảo vệ cộng đồng, bảo vệ quê hương, đất nước; mới có “cả nước đánh giặc”, “toàn dân là binh”, đánh địch toàn diện, đánh địch khắp nơi, làm chủ làng xã, có thể tạm thời mất nước nhưng không để mất làng, không để mất bản sắc văn hoá dân tộc, từ làng, nhà lấy lại nước, giữ gìn và phát triển văn hoá dân tộc (đương nhiên dưới sự lãnh đạo của tập đoàn phong kiến tiến bộ, giữ vai trò lịch sử tích cực trong dân tộc). Có văn hoá yêu nước nồng nàn, tinh thần cố kết dân tộc, mới có chiến tranh toàn dân quyết đánh và quyết thắng, cách đánh mưu mẹo, thông minh, sáng tạo, “lấy đoản chế trường”, “lấy yếu đánh mạnh”.

Có bình đẳng nam nữ (thuận vợ, thuận chồng, tát Biển Đông cũng cạn – chứ không phải “phu xướng, phụ tùy”), mới có “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Đó là chiến tranh và chiến thắng của văn hóa “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” của dân tộc nhỏ đánh thắng kẻ thù xâm lược to bắt nguồn từ sức mạnh của văn hóa. Dân tộc Việt Nam rất yêu chuộng hòa bình, thiết tha với hòa bình trong độc lập tự do, hiểu rõ cái giá của độc lập tự do.

Do vậy, cố gắng tránh chiến tranh mà vẫn giữ được độc lập, tự do; buộc phải làm chiến tranh thì quyết thắng trong mọi hoàn cảnh để giữ được độc lập tự do; đánh địch bằng mọi cách, đánh cả vào lòng địch (tâm công) chứ không riêng bằng quân sự; cầu đánh bại quân địch chứ không cầu tiêu diệt nhiều quân địch; thắng rồi nhưng vẫn “mở đường hiếu sinh” tha chết cho tàn quân chiến bại, lấy đường hòa hiếu với kẻ xâm lược bị đánh bại để “dập tắt muôn đời chiến tranh”.

Tư duy quân sự Hồ Chí Minh đậm cái chất của văn hóa Việt Nam, VHQSVN truyền thống phát triển lên một chất mới, trên cơ sở chủ nghĩa Mác Lê-nin, để đánh thắng kẻ thù xâm lược trong thời đại mới là bọn đế quốc có tiềm lực quân sự hiện đại của nền công nghiệp hiện đại cùng quân đội của chúng được trang bị nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại. (Khác kẻ thù trước đây mà ông cha ta đánh thắng cùng trình độ phát triển, cùng hình thái kinh tế – xã hội với nước ta thời đó).

Hồ Chí Minh và Đảng ta đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam, tìm ra đáp số của bài toán mới đó, trước hết bằng lời giải về chính trị – đường lối cách mạng thấm nhuần văn hóa, lời giải về quân sự thấm nhuần văn hóa: lời giải về văn hóa. Chính giới Mỹ, nhiều nhà chiến lược của Mỹ thừa nhận: thắng lợi của Việt Nam với Mỹ là thắng lợi của văn hóa Việt Nam.

Nên nói thêm: Văn hoá Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Tư duy quân sự Hồ Chí Minh đương nhiên còn tiếp nhận những dòng văn hoá khác, những tri thức quân sự cổ kim đông tây. Bác Hồ của chúng ta từng lược dịch Binh pháp Tôn Tử, viết Kinh nghiệm du kích Tàu, Kinh nghiệm du kích Pháp, Kinh nghiệm du kích Nga, Phép dạy làm tướng của Khổng Minh… Những di sản quân sự Mác và Ăng-ghen – nhất là của Ăng-ghen được Bác nghiên cứu khi nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Trong quá trình cuộc kháng chiến lâu dài chống hai đế quốc to, tư duy quân sự của Bác đã từng bước được làm phong phú thêm bởi khoa học quân sự xô-viết, kinh nghiệm đấu tranh vũ trang của cách mạng Trung Quốc, những kiến thức về vũ khí kỹ thuật hiện đại. Bác không chỉ coi trọng xây dựng dân quân du kích và cách đánh du kích mà coi trọng cả xây dựng bộ đội chủ lực, xây dựng các quân binh chủng kỹ thuật hiện đại, cách đánh của quân đội chính quy.

Văn hóa trong tư duy quân sự Hồ Chí thể hiện rõ ở chủ nghĩa nhân văn mới, có thể gọi là chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh, sản phẩm tổng hợp của chủ nghĩa yêu nước và lòng nhân ái truyền thống Việt Nam với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản. Cố tránh chiến tranh nếu có thể được. Buộc phải làm chiến tranh thì đó là vì nhân nghĩa, vì mục đích chính nghĩa, nhân văn của chiến tranh. Quán triệt tư tưởng nhân văn trong xây dựng lực lượng, trong các cách đánh; tìm mọi cách giảm tổn thất cho ta và cả cho địch. Bác từng nói: “Tôi quý sinh mạng thanh niên Pháp như quý sinh mạng thanh niên Việt Nam”. “Máu thanh niên Pháp hay máu thanh niên Việt Nam cũng đều là máu”.

Như đã biết, sau thắng lợi của cách mạng tháng 8/1945, trước âm mưu xâm lược của nhiều kẻ thù cùng lúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm mọi cách rất kiên quyết và khéo léo, đối nội và đối ngoại, kể cả những biện pháp đau đớn, để bảo vệ thành quả cách mạng, củng cố nền độc lập mới giành được mà không phải làm chiến tranh. Nhưng thực dân phản động Pháp cố tình cướp nước ta hòng đạt lại ách thống trị của chúng. “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ?”.

Chiến tranh yêu nước như vậy, rõ ràng là nhân văn, vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì cuộc sống của mỗi người dân. Trong mấy thập kỷ chiến tranh, Hồ Chí Minh và Đảng ta nhiều lần tiến hành các cuộc thương lượng hòa bình, ký kết những hiệp ước hòa bình: Hiệp định sơ bộ 6/3, Tạm ước 14/9, Hiệp nghị Giơ-ne-vơ, Hiệp định Pa-ri. Nhưng các thế lực xâm lược vẫn cố tình áp đặt chiến tranh, buộc nhân dân ta cuối cùng vẫn phải giành lấy hòa bình bằng chiến tranh – hòa bình trong Độc lập Tự do. Hồ Chí Minh, những người cộng sản không sùng bái bạo lực, không sùng bái cả bạo lực cách mạng, bạo lực cách mạng chỉ cần thiết để đánh bại bạo lực phản cách mạng. Cuộc chiến tranh yêu nước 30 năm 1945 – 1975 hoàn toàn do kẻ thù áp đặt chúng ta phải tiến hành.

Chủ nghĩa nhân văn trong tư duy quân sự Hồ Chí Minh thể hiện trong nhiều chủ trương chiến lược và sách lược của Đảng ta trong quá trình chiến tranh, trong các cách đánh của lực lượng vũ trang nhân dân, trong nhiều chính sách đối với nhân dân, quân đội, cả đối với những người lầm đường, tù hàng binh, đối với kẻ thù, mà mọi người đều biết. Nổi lên vẫn là sự quan tâm của Hồ Chí Minh đối với con người, đối với nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân chiến đấu và phục vụ chiến đấu kết hợp chiến đấu với xây dựng. Tích cực bồi dưỡng sức dân đi đôi với động viên sức dân, chăm lo mọi mặt đời sống của các tầng lớp nhân dân, của công nông, của bộ đội. Đẩy mạnh việc xây dựng chế độ mới ngay trong hoàn cảnh chiến tranh để càng đánh càng mạnh, để nhân dân lao động, để mọi người dân được hưởng từng bước thành quả của cách mạng ngay trong chiến tranh.

Những đòn tiến công ngoại giao trong chiến tranh, chính sách đối ngoại có nguyên tắc và đầy tình nghĩa của Đảng và Nhà nước ta thể hiện nổi bật trong hoạt động của cá nhân Hồ Chí Minh. ở Người, trong quan hệ đối ngoại, là sự am hiểu sâu sắc văn hóa và văn minh Đông Tây, lòng yêu nước, vị tha gắn liền với lòng căm thù địch, tính nguyên tắc cứng rắn gắn liền với sách lược mềm dẻo, có lý có tình, khiến bạn bè khâm phục, kẻ thù kiêng nể. Cuộc hòa đàm ở Pari (1968-1973) đã gây ấn tượng mạnh trong chính giới và báo giới thế giới về một “trường phái ngoại giao Việt Nam”.

Đó là di sản quý báu của văn hóa Hồ Chí Minh, của tư duy chính trị – quân sự – ngoại giao Hồ Chí Minh mà những học trò của Người kế tục xuất sắc khi Người đã đi xa. Tiếp cận từ góc độ văn hóa tư duy quân sự Hồ Chí Minh, giúp chúng ta hiểu rõ hơn tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư duy chính trị – quân sự Hồ Chí Minh nói riêng để xử lý theo góc độ văn hóa những vấn đề quân sự, quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 của Đảng về văn hóa mà chúng ta đã biết.

Quang Cận (Tạp chí Quốc phòng toàn dân, tháng 5/2000)

cpv.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác phụ nữ trong xây dựng chủ nghĩa xã hội

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu nữ trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, tháng 9-1960

Phụ nữ chiếm một nửa dân số trên thế giới. Lịch sử đã chứng minh phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trước kia, phụ nữ ở nhiều quốc gia chủ yếu làm công việc nội trợ. Ngày nay, phụ nữ đã vươn lên về mọi mặt, đóng góp to lớn trên mọi lĩnh vực khoa học và xã hội. Từ năm 1910, thế giới tiến bộ lấy ngày 8-3 là “Ngày Đàn bà và con gái”, sau đổi là “Ngày Phụ nữ Quốc tế”.

Ở nước ta hiện nay, đội ngũ cán bộ nữ được tạo điều kiện phát huy quyền làm chủ, đáp ứng ngày càng cao yêu cầu của sự nghiệp xây dựng đất nước. Phong trào phụ nữ đã có bước phát triển, các tầng lớp phụ nữ tỏ rõ có năng lực, phẩm chất, nêu cao tinh thần yêu nước, đoàn kết, phát huy tiềm năng, sức sáng tạo trong học tập, lao động sản xuất và công tác, đạt những thành tích xuất sắc trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng. Đội ngũ cán bộ nữ đã có bước trưởng thành rõ rệt. Số lượng và chất lượng cán bộ nữ phát triển không ngừng. Trong các cấp uỷ đảng và ở các vị trí lãnh đạo từ Trung ương đến cơ sở đều có cán bộ nữ tham gia.

Tuy nhiên, cho đến nay, nhiều cấp uỷ đảng chưa nhận thức sâu sắc, đầy đủ quan điểm của Đảng về công tác cán bộ nữ, chưa thực sự coi cán bộ nữ là một bộ phận quan trọng trong công tác cán bộ, chưa thấy hết tiềm năng, vai trò, vị trí của đội ngũ cán bộ nữ nên việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, chính sách đối với cán bộ nữ chưa đầy đủ, còn có biểu hiện định kiến, khắt khe, cầu toàn, chưa quan tâm đến yếu tố giới nên đội ngũ cán bộ nữ phát triển chưa vững chắc, mất cân đối, thiếu đồng bộ, phân bố không đồng đều ở các địa phương, các lĩnh vực. Tỷ lệ cán bộ nữ tham gia cấp uỷ, chính quyền còn thấp, nhất là ở cơ sở.

Nghiêm trọng hơn, hiện nay, tình trạng buôn bán phụ nữ qua biên giới, nạn bạo hành trong gia đình mà nạn nhân là phụ nữ đang gây nhức nhối trong xã hội. Đó là biểu hiện của sự bất bình đẳng.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới vị trí, vai trò của người phụ nữ, đặc biệt là trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH), coi chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ nữ là một nhiệm vụ quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến một nửa số dân, đến từng gia đình trong cộng đồng xã hội.

Chính vì thế, những tư tưởng của Người về công tác phụ nữ trong xây dựng CNXH cần được quán triệt một cách sâu sắc và toàn diện, nhằm giúp cho mọi người có nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của phụ nữ. Qua đó, các cấp uỷ đảng đề ra nhiều biện pháp cụ thể hơn, tạo điều kiện cho phụ nữ phát huy hết tiềm năng của mình. Đồng thời, đối với phụ nữ Việt Nam ở khắp mọi miền đất nước, đây là một dịp tốt nhằm ôn lại và thực hiện những di huấn thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần cùng nhân dân cả nước hoàn thành các nhiệm vụ vẻ vang mà Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra.

Mấy nét chính trong tư tưởng của Người về công tác phụ nữ

Thấm nhuần truyền thống văn hoá dân tộc đồng thời tiếp thu sâu sắc Chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh rất hiểu và đặc biệt quan tâm đến vai trò, vị thế của người phụ nữ trong phong trào cách mạng. Người không chỉ nêu lên tình cảnh khổ nhục của người phụ nữ dưới chế độ thực dân phong kiến mà còn chỉ ra khả năng cách mạng của họ.

Trong bộ Hồ Chí Minh toàn tập (12 tập), trong tổng số 1.941 bài nói và viết, đã có nhiều bài Người nhắc đến phụ nữ. Trong bài Phụ nữ Phương Đông, Người viết: “Phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ tham gia bảo vệ đất nước chống sự xâm lược của chủ nghĩa đế quốc phương Tây. Phụ nữ Ấn Độ vùng lên chống sự đô hộ của Anh. Phụ nữ Trung Quốc tham gia cuộc cách mạng năm 1912. Phụ nữ Triều Tiên đã và đang đấu tranh vì độc lập của Tổ quốc. Phụ nữ Nhật Bản đã buộc Chính phủ phải huỷ bỏ đạo luật cấm phụ nữ tham gia đời sống chính trị và v.v.

Trong đời sống kinh tế những “bông hồng” của phương Đông bắt đầu tỏ cho chủ nghĩa tư bản thấy ở họ có những chiếc gai nhọn. Những cuộc bãi công của nữ công nhân ở các nhà máy và xưởng dệt lụa không còn là hiện tượng hiếm nữa”.

Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Người đã chỉ ra rằng cách mệnh Pháp dạy cho chúng ta, đàn bà và trẻ con cũng giúp làm việc cách mệnh được nhiều.

Trong tác phẩm này, Người cũng dành một phần nói về “Phụ nữ quốc tế”. Trong đó, Người nói: “Xem trong lịch sử cách mệnh chẳng có lần nào là không có đàn bà, con gái tham gia. Cách mệnh Pháp có những người như cô học trò Sáclốt Coócđây rút dao đâm chết người tể tướng hung bạo, như bà Luy Misen ra giúp tổ chức Pari Công xã. Khi Nga cách mệnh, đàn bà ra tình nguyện đi lính; sau tính lại lính cách mệnh đàn bà chết hết 1854 người. Nay cách mệnh Nga thành công mau như thế, đứng vững như thế, cũng vì đàn bà, con gái hết sức giùm vào. Vậy nên muốn thế giới cách mệnh thành công, thì phải vận động đàn bà, con gái công nông các nước”. (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, HN,1995, t.2, tr.288).

Người nêu gương chiến đấu của bà Trưng Trắc và kêu gọi: như buổi ấy là buổi phong kiến mà đàn bà, con gái còn biết cách mệnh. Huống chi bây giờ hai chữ “nữ quyền” đã rầm rầm khắp thế giới, chị em ta lại gặp cảnh nước suy vi, nỡ lòng nào ngồi yên được! Chị em ơi! Mau mau đoàn kết lại!

Người nói với đại biểu phụ nữ các nước rằng: lúc kháng chiến, chị em phụ nữ hăng hái tham gia. Từ ngày dân Việt Nam tranh được chính quyền, phụ nữ đều ra sức gánh vác công việc. Nào giúp đỡ chiến sĩ, tăng gia sản xuất. Nào chống nạn mù chữ, tham gia tuyển cử, Tuần lễ vàng, Đời sống mới, v.v, việc gì phụ nữ cũng hăng hái.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng vô cùng phong phú của mình, Người luôn quan tâm tới các phong trào của phụ nữ. Dù bận trăm công ngàn việc khác nhau, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc vẫn dành thì giờ tham dự nói chuyện tại các hội nghị và đại hội của tổ chức phụ nữ, ít nhất Người cũng gửi thư căn dặn với tấm lòng của một người Cha, người Bác thân yêu trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

Nhiều chị em là cán bộ lãnh đạo, là anh hùng, chiến sĩ thi đua trong lao động và chiến đấu, là dũng sĩ từ tiền tuyến lớn miền Nam… đã được Người ân cần đón tiếp, tặng hoa và quà, được ăn cơm hoặc xem văn nghệ cùng Người.

Hồ Chí Minh luôn khẳng định: lực lượng phụ nữ là một bộ phận không thể tách rời của cách mạng, một trong những nhân tố quan trọng bảo đảm mọi thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Người tặng phụ nữ Việt Nam 8 chữ vàng: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”.

Người nói: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”. Đó cũng là lời khẳng định vị trí, vai trò của phụ nữ là rất to lớn trong sự nghiệp xây dựng đất nước.

Cần có kế hoạch thiết thực trong việc giúp đỡ phụ nữ

Trong nhiều bài viết, bài nói của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở các cơ quan Đảng, chính quyền, các tổ chức phải tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia hoạt động.

Trong Thư gửi Hội nghị Nông dân cứu quốc toàn quốc lần thứ hai, Người kêu gọi Hội Nông dân cứu quốc phải thiết thực, tổ chức rộng rãi và chặt chẽ nhất là kết nạp thanh niên và phụ nữ nông thôn vào hội làm cho hội đông thêm, mạnh thêm và hăng hái thêm.

Khi nói chuyện tại Đại hội Giáo dục phổ thông toàn quốc, Người chỉ ra rằng sau này công tác giáo dục phần nhiều phải do phụ nữ đảm nhiệm. Muốn phụ nữ đảm nhiệm, thì phải bồi dưỡng cho phụ nữ.

Nói chuyện tại Đại hội Chiến sĩ thi đua ngành thương nghiệp lần thứ nhất, Người nhắc nhở: “đoàn thể phụ nữ, cơ quan phụ trách cần chú ý dìu dắt, giúp đỡ hơn nữa để nhiều chị em có thể thay cho nam giới trong công việc buôn bán”.

Nói chuyện tại Hội nghị Các đại biểu phụ nữ tham gia công tác chính quyền toàn miền Bắc, Người căn dặn: từ nay, các cấp đảng, chính quyền địa phương, khi giao công tác cho phụ nữ, phải căn cứ vào trình độ của từng người và cần phải tích cực giúp đỡ phụ nữ nhiều hơn nữa.

Người quan tâm đến những phụ nữ có con nhỏ và để tạo điều kiện cho họ lao động sản xuất, Người đã chỉ ra: muốn cho người mẹ sản xuất tốt thì cần tổ chức tốt những nơi gửi trẻ và những lớp mẫu giáo.

Người rất quan tâm đến phụ nữ các dân tộc thiểu số, Người nhắc nhở đảng uỷ các cấp ở miền núi cần phải ra sức phát triển đảng viên và đoàn viên phụ nữ, cần phải đào tạo và giúp đỡ cán bộ phụ nữ các dân tộc.

Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc thiêng liêng, Người căn dặn Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo.

Như vậy, trong nhiều bài nói, bài viết của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm, nhắc nhở Đảng và Nhà nước cùng các tổ chức chính trị – xã hội phải tạo điều kiện để phụ nữ tham gia đóng góp sức nhằm xây dựng CNXH thành công ở nước ta.

Bản thân phụ nữ phải cố gắng vươn lên

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm nhưng cũng có yêu cầu cao đối với phụ nữ. Người luôn khuyên bảo chị em phải tự cố gắng vươn lên để khẳng định mình chứ không phải chờ Đảng, Chính phủ đề ra các chủ trương, chính sách.

Người kêu gọi:

Chị em phụ nữ nông thôn THI ĐUA góp sức hoàn thành tốt cải cách ruộng đất và lập những tổ đổi công tốt.

Chị em công nhân và công chức THI ĐUA làm tròn nhiệm vụ của mình.

Chị em trí thức THI ĐUA góp phần vào việc phát triển văn hoá.

Nữ thanh niên tuỳ theo cương vị của mình, THI ĐUA học và hành, xung phong trong mọi công việc.

Người chỉ rõ cấp trên có cất nhắc cán bộ phụ nữ nhưng chưa mạnh dạn, tức là còn phần nào chưa coi trọng trí tuệ, tài năng của phụ nữ. Vậy phụ nữ phải làm sao cho người ta thấy phụ nữ giỏi, lúc đó cán bộ không cất nhắc, anh chị em công nhân sẽ cử mình lên.

Nói chuyện tại Hội nghị Cán bộ thảo luận dự thảo Luật Hôn nhân và gia đình, Người nói: Về phần mình, chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình, mà tự mình phải tự cường, phải đấu tranh.

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày Quốc tế Phụ nữ, Người khen ngợi phụ nữ Việt Nam ta sẵn có truyền thống đấu tranh anh dũng và lao động cần cù. Trong kháng chiến, phụ nữ ta từ Bắc đến Nam đều hăng hái tham gia đánh giặc cứu nước. Nhưng phụ nữ ta cần phải cố gắng nhiều để theo kịp chị em các nước bạn, góp phần nhiều hơn nữa trong việc xây dựng CNXH.

Tại Hội nghị Phụ nữ lao động tiên tiến và chiến sĩ thi đua toàn thành phố Hà Nội lần thứ hai, Người chỉ rõ: “Hiện nay, trong các ngành, số phụ nữ tham gia còn ít. Đảng và Chính phủ rất hoan nghênh, sẵn sàng cất nhắc và giao cho phụ nữ những chức trách quan trọng. Muốn vậy, bản thân phụ nữ phải:

Gắng học tập chính trị, học tập văn hoá, kỹ thuật.

Nâng cao tinh thần yêu nước và giác ngộ xã hội chủ nghĩa.

Hăng hái thi đua thực hiện “cần kiệm xây dựng Tổ quốc, cần kiệm xây dựng gia đình.

Đoàn kết chặt chẽ, ra sức tham gia sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà và giữ gìn hoà bình thế giới” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.89).

Nói chuyện tại Hội nghị Các đại biểu phụ nữ tham gia công tác chính quyền toàn miền Bắc, Người phê bình: “Phụ nữ ta còn một số nhược điểm như bỡ ngỡ, lúng túng, tự ti, thiếu tin tưởng vào khả năng của mình; mặt khác, phụ nữ cũng gặp nhiều khó khăn về gia đình, con cái. Muốn giải quyết khó khăn không nên ỷ lại vào Đảng, Chính phủ mà phải quyết tâm học tập, phát huy sáng kiến, tin tưởng ở khả năng mình, nâng cao tinh thần tập thể, đoàn kết giúp đỡ nhau để giải quyết mọi khó khăn của phụ nữ trong công tác chính quyền”.

Người căn dặn: tất cả phụ nữ phải hăng hái nhận lấy trách nhiệm của người làm chủ đất nước, tức là phải ra sức thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, xây dựng CNXH. Muốn làm trọn nhiệm vụ vẻ vang đó, phụ nữ ta phải xoá bỏ cái tâm lý tự ti và ỷ lại; phải có ý chí tự cường, tự lập; phải nâng cao lên mãi trình độ chính trị, văn hoá, kỹ thuật.

Trong Hội nghị Cán bộ phụ nữ miền núi, Người căn dặn chị em phải cố gắng học tập. Học văn hoá, học chính trị, học nghề nghiệp. Nếu không học thì không tiến bộ. Có quyết tâm thì nhất định học được.

Người luôn khuyến khích chị em tự mình cố gắng vươn lên khẳng định mình. Điều đó thể hiện sự quan tâm, thương yêu và đầy tinh thần trách nhiệm của một vị lãnh tụ luôn theo sát, cổ vũ các phong trào của phụ nữ.

Đấu tranh cho quyền bình đẳng nam nữ

Theo Hồ Chí Minh, công tác phụ nữ trong xây dựng CNXH, một trong những nội dung quan trọng là phải đấu tranh giành quyền bình đẳng cho phụ nữ.

Người chỉ rõ: “Đảng và Chính phủ ta luôn luôn chú ý nâng cao địa vị của phụ nữ. Hiến pháp định rõ “nam nữ bình đẳng” và luật lấy vợ lấy chồng, v.v. đều nhằm mục đích ấy”.

Trong bài Phải thật sự tôn trọng quyền lợi của phụ nữ, Người viết: “Phụ nữ chiếm một nửa tổng số nhân dân. Để xây dựng CNXH thì phải thật sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ. Hiến pháp và pháp luật của nước ta đã quy định rõ điều đó”.

Người nhắc nhở là phải kính trọng phụ nữ. “Chúng ta làm cách mạng là để tranh lấy quyền bình đẳng, trai gái đều ngang quyền như nhau. Lênin dạy chúng ta: phụ nữ là một nửa xã hội. Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng cả. Phụ nữ thì phải tự mình phấn đấu giữ gìn quyền bình đẳng với đàn ông. Đàn ông phải kính trọng phụ nữ”.

Những lời dạy đó của Người thể hiện sự quan tâm sâu sắc, đồng thời cũng tỏ rõ rằng Người luôn đấu tranh để cho phụ nữ được hưởng quyền bình đẳng với nam giới.

Gắn sự nghiệp giải phóng phụ nữ với sự nghiệp xây dựng CNXH.

Trong Hội nghị Cán bộ thảo luận dự thảo Luật hôn nhân và gia đình, Bác nói: “Bây giờ toàn dân ta ai cũng muốn xây dựng CNXH. Muốn xây dựng CNXH phải làm gì? Nhất định phải tăng gia sản xuất cho thật nhiều. Muốn sản xuất nhiều thì phải có nhiều sức lao động. Muốn có nhiều sức lao động thì phải giải phóng sức lao động của phụ nữ.

Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người.

Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng CNXH chỉ một nửa”. (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.523).

Trong xây dựng CNXH, phụ nữ phải được giải phóng khỏi những tàn dư của hủ tục, định kiến hẹp hòi của tư tưởng phong kiến; vươn lên đóng góp sức mình xây dựng CNXH.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho phụ nữ. Người luôn đấu tranh cho quyền bình đẳng của phụ nữ, yêu cầu Đảng, Chính phủ và các tổ chức đoàn thể tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia hoạt động, nghiêm khắc nhắc nhở chị em phải cố gắng tự vươn lên trong học tập và công tác. Thấm nhuần lời dạy của Người, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách cụ thể, thiết thực nhằm phát huy khả năng của phụ nữ trong công cuộc xây dựng đất nước.

Phụ nữ Việt Nam ta đã luôn làm theo lời dạy của Người, cố gắng học tập, công tác và đang dần khẳng định vị thế của mình trong xã hội. Trong 4 kỳ đại hội toàn quốc của Đảng gần đây đều có cán bộ nữ tham gia Bộ Chính trị hoặc Ban Bí thư. Nhiệm kỳ khoá X, số Uỷ viên Trung ương là nữ có 16/181 người, chiếm tỷ lệ 8,83%. Trong các cấp chính quyền, phụ nữ cũng đã có mặt ở tất cả các vị trí lãnh đạo, cương vị phó chủ tịch nước, phụ nữ vẫn duy trì trong cả hai khoá. Tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội tăng từ 18,5% ở khoá IX lên 26,2% ở khoá X và 27,3% ở khoá XI. Đặc biệt, phụ nữ giữ cương vị chủ nhiệm các ủy ban của Quốc hội tăng nhanh từ 22,2% ở khoá IX lên 33,3% ở khoá X và đến khoá XI có tỷ lệ khá cao 40%. Tỷ lệ đảng viên nữ tăng đều theo từng năm. Năm 1994 chỉ có 16,4% đảng viên nữ. Năm 1999 có 19,3%; nếu năm 2002 là 21,7% thì năm 2005 tỷ lệ này là 25%. Điều đó nói lên vai trò của phụ nữ ngày càng quan trọng.

Người phụ nữ hiện đại trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá rất cần sự quan tâm của gia đình và xã hội. So với nam giới, phụ nữ đã bị chi phối nhiều thời gian và công sức vào công việc gia đình. Thực hiện bình đẳng giới đã tạo điều kiện khích lệ phụ nữ vươn lên trong mọi lĩnh vực. Phụ nữ ngày nay về cơ bản không còn bị ràng buộc bởi những định kiến, những quy ước lạc hậu, cổ hủ ảnh hưởng đến cuộc sống và công việc. Tuy nhiên, ở nông thôn, phụ nữ vẫn chịu nhiều thiệt thòi bởi đời sống còn khó khăn, nhận thức của gia đình cũng như thôn xóm còn hạn chế về quyền bình đẳng nam nữ. Vì vậy, phát huy tính tích cực của tổ chức hội phụ nữ ở nông thôn để chị em có điều kiện giao lưu, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm là điều vô cùng cần thiết.

Tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia trên mọi lĩnh vực của xã hội, đó là trách nhiệm của toàn xã hội. Phụ nữ chiếm một nửa dân số, phụ nữ là người nuôi dạy trực tiếp các thế hệ tương lai của đất nước. Nếu như người phụ nữ được học hành, được nâng cao kiến thức về mọi mặt sẽ tác động tích cực tới chất lượng thế hệ tương lai. Phụ nữ có thể hoàn thành nhiệm vụ tốt hay không, điều đó phụ thuộc rất nhiều vào người chồng trong mỗi gia đình. Chỉ khi nào có sự cảm thông, chia sẻ, giúp đỡ của gia đình thì người phụ nữ mới có điều kiện hoàn thành mọi công việc với hiệu quả cao nhất.

Nguyễn Thị Bích Thúy
Khoa Xây dựng Đảng Học viện Chính trị – Hành chính khu vực IV

xaydungdang.org.vn