Tag Archive | Dân tộc

Những phút hiếm hoi bên cạnh người chị và người anh của Bác Hồ

Giadinh.net – Gần 60 năm trôi qua, nhưng kỷ niệm được gặp anh trai và chị gái của Bác Hồ vẫn không phai nhoà trong tâm trí Đại tá Huỳnh Thúc Cẩn, nguyên Cố vấn Quân sự tại nước bạn Lào thuộc Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Một sáng tháng 5/1948, tôi lúc đó là cán sự, trợ lý của Phòng Chính trị Liên khu 4 được cấp trên phái vào Nghệ An công tác. Đúng là “cầu được ước thấy”, ước mơ ấp ủ lâu nay. Một dịp nào đó được vào thăm quê Bác, được gặp anh và chị của Bác.

Tôi vội chuẩn bị một ruột tượng gạo đầy để ăn trên đường, củng cố đôi dép Bình Trị Thiên, cuốc bộ ba ngày hơn 200 cây số từ Thọ Xuân (Thanh Hoá) theo kiểu “bốn tập”, vì thời gian công tác có hạn.

Đường đi tuy lạ, nhưng ở đâu dù xa hay gần, bất kỳ ai, từ cụ già đến trẻ nhỏ, khi hỏi đường về nhà cụ Cả Khiêm, mọi người đều biết và chỉ dẫn nhiệt tình. Tôi vào nhà cụ Cả Khiêm, rất may lúc này bà Thanh cũng vừa đến (bà Thanh ở nhà riêng bên làng Hoàng Trù quê ngoại).

Sau khi chào hỏi, giới thiệu xong, tôi xin phép được xưng hô “bác, cháu”, như thường quen được gọi Bác Hồ xưa nay. Ngay lập tức bà Thanh chỉnh lại: “ở quê choa, mi phải gọi là o Thanh mới đúng. Thế mi quê ở mô mà nỏ biết như rứa?

– Thưa o, cháu quê ở Quảng Bình – tôi trả lời.

Trên bàn thờ gia tộc, bức trướng Phó Bảng của cụ Nguyễn Sinh Sắc – thân sinh ba chị em của Bác Hồ, tuy đã nhuộm màu thời gian, hương khói, nhưng rất rạng rỡ truyền thống. Tôi xin phép thắp nén hương tưởng nhớ công ơn hai cụ đã sinh ra những người con vĩ đại, góp phần làm rạng danh dân tộc, non sông đất nước Việt Nam.

Ngồi đối diện trước mặt tôi là hai nhà nho yêu nước, hai nhà cách mạng đã từng vào sinh ra tử, tù đầy bao phen. Hai cụ già tuổi cổ lai hy hiền từ và đôn hậu, đôi mắt tinh anh, quắc thước, đã hy sinh tình cảm tuổi trẻ cho đại nghĩa dân tộc. Tôi thấy bồi hồi xúc động khi cảm nhận được trong dáng vóc, khuôn mặt của cụ Cả Khiêm, có hình ảnh của Bác Hồ. Hai anh em Bác rất giống nhau.

– Thưa bác và o – tôi hỏi – lâu nay thiên hạ có đồn nhiều về sấm Trạng Trình: “Bò Đái thất thanh, Nam Đàn sinh thánh”, có nghĩa là như thế nào ạ?

Cụ Cả Khiêm vừa trò chuyện, nhưng hai tay vẫn vê tròn các viên thuốc tễ (cụ là một lương y) vội ngừng tay lại, ngẫm nghĩ một chút, không vội trả lời ngay, cụ mỉm cười nói:

– Thế cháu có nghe, trong thời gian qua, họ cũng đồn nhiều câu thơ, cũng gọi là “sấm Trạng Trình”, cũng có cái thật, cái giả, ví như:

“Mặt trời đã xế ngang chùa

Nhà này bảy miệng ăn vừa thì thôi”.

Rồi suy ra, tổng số vua nhà Nguyễn viết bằng chữ Hán, chỉ có bảy chữ khẩu (miệng); chữ khẩu thuộc dòng máu chính thống, nếu bị lai tạp thì không tính, là hết thời…

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà nho uyên bác, văn võ toàn tài, là một nhà thơ, có tài tiên tri thời nhà Mạc, có thể ví như Khổng Minh Gia Cát Lượng ở thời Tam quốc phân tranh bên Trung Quốc, thời nào người ta cũng thường dựa vào thơ của ông, có cả thơ thật và thơ giả, rồi liên hệ, ứng dụng, ví von, suy đoán; dùng những hiện tượng, các sự kiện, các nhân vật có thật, rồi cường điệu hoá, huyền thoại hoá, làm sao cho hợp ý muốn, ước mơ hy vọng chủ quan của người đời lúc ấy mà thôi.

– Dạ vâng, cháu hiểu – tôi trả lời.

Cụ nói tiếp: – Cháu là bộ đội cũng nên hiểu, làm việc gì cũng phải dựa vào “thiên thời, địa lợi, nhân hoà”, phải có thời và phải có thế, nếu chỉ có thời mà không có thế, hoặc chỉ có thế mà không có thời cũng nỏ được mô. Thời cơ rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định cháu ạ. Cuộc khởi nghĩa Đô Lương, phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, các ông Phan Đình Phùng, Đội Cung, Phan Bội Châu… đều không thành công do có nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan, trong đó có lý do là thời cơ lúc đó chưa chín muồi, không có đường lối cách mạng đúng, không có sức mạnh của đông đảo quần chúng nhân dân, không có điều kiện thuận lợi của quốc tế và trong nước, thì làm sao có Khởi nghĩa tháng Tám thành công được?

Nghe cụ lý giải tôi, càng thấy sâu sắc những lời nói của một nhà chính trị dày dạn, của một người ông, một người cha chân tình giảng dạy cặn kẽ cho con cái mình.

Sợ cụ mệt, tôi bắt chuyện với o Thanh:

– Thưa o, sau khi nước nhà được độc lập, o đã có dịp ra thăm Bác Hồ ở Hà Nội năm 1946 (vừa hỏi tôi vừa chỉ tay lên ảnh Bác Hồ trên cao), khi gặp o có nhận ra Bác và cái ảnh này có giống Bác Hồ không ạ?

O Thanh cười hiền từ, vui vẻ nói:

– Sau mấy chục năm xa cách, lần đầu tiên chị em choa được gặp nhau “Giỏ nhà ai quai nhà nấy” mần răng mà khác được.

Sau này tìm hiểu thêm mới biết o Thanh cũng là một nhà thơ có bút danh là “Bạch Liên nữ sĩ”.

Chứng kiến tận mắt cuộc sống của o Thanh và bác Khiêm, từng người đều không có tổ ấm riêng, mỗi người chỉ có một mái nhà tranh, một chõng tre, một khung cửi, một bộ tràng kỷ là kỷ vật để lại; trong cái chạn bát chỉ có một cái bát, một đôi đũa, một cái thìa, một lọ cà dầm tương, nhút, không thấy gạo cơm, thịt cá gì cả, tôi cảm động không cầm nổi nước mắt. Cụ Cả Khiêm vỗ vai tôi và nói:

– “Tay làm hàm nhai” có chi mô, chị em choa có làm nghề thuốc, vừa giúp bà con, vừa tự nuôi sống mình đủ ăn đơn giản, dân dã mà khoẻ là được,

“nhút Thanh Chương tương Nam Đàn” có tiếng mà!

Cùng với người em – Bác Hồ – vị Chủ tịch nước hết mình với Tổ quốc, nhân dân, cụ Cả Khiêm và bà Thanh sống giản dị, dân dã giữa đời thường; hàng ngày vẫn say sưa cần mẫn như bao người dân khác, vẫn giữ nếp nhà, gia giáo, gia phong của gia đình, một nơi đã tạo nên những nhân cách lớn của ba chị em: Không tham giàu sang, không màng danh lợi, có một lòng nhân ái tuyệt vời. Ôi! đã mấy chục năm xa cách thế mà đến nay, chưa có một lần nào sum họp đầy đủ cả ba chị em, dưới mái nhà tranh tại nơi chôn rau cắt rốn này!

Sau khi gặp được o Thanh và cụ Cả Khiêm, may mắn lớn lao của tôi đó là 3 năm sau tôi được gặp Bác Hồ (28/2/1951), khi Bác về động viên đơn vị trước khi ra trận tham gia chiến dịch Hoàng Hoa Thám ở Tuyên Quang.

Thật không có gì cảm động bằng sự quan tâm của Bác với cương vị không riêng là Chủ tịch nước, mà còn là tình cảm của người Cha, người Bác, là một tình cảm đặc biệt và độc đáo, phong cách rất Việt Nam, nhân hậu, nghĩa tình. Có lẽ hiếm có vị tổng thống, thủ tướng của một nước nào trên thế giới có một phong cách như vậy trước hàng quân.

Đúng 60 năm sau, tôi được trở lại thăm quê Bác. Cảnh xưa còn đó, nhưng đã vắng bóng hai cụ và Bác cũng đã đi xa. Tôi đã có dịp đi nghiên cứu ở nước ngoài, đã viếng thăm lăng Lê Nin, lăng Đimitơrốp, đã đi trên các đại lộ Hồ Chí Minh ở Mátxcơva, Xôphia, cancútta (Ấn Độ). Nhưng khi nghĩ mình là dân, là con của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, khi thấy được cái mẫu mực trong cuộc sống hết sức giản dị, đơn sơ của một gia đình “toàn tâm toàn ý vì Tổ quốc độc lập, vì nhân dân ấm no hạnh phúc, vì chủ nghĩa xã hội”, mà có lẽ khó có người nào làm được như vậy, nếu không có chữ “Tâm”. Có lẽ vì vậy, một số lãnh tụ nước ngoài đã ca ngợi Bác Hồ như sau:

1. “Chí khí tráng sơn hà – Cứu quốc anh hùng duy hữu nhất”

“Minh tinh quang vũ trụ – Á, Âu hào kiệt thị vô song”.

(Nghĩa là: Chí khí bao gồm cả núi sông, gọi là anh hùng cứu nước chỉ có một, ngôi sao sáng cả bầu trời, đó là hào kiệt Á, Âu thì thực không hai).

2. Hồ Chủ Tịch là một công dân vĩ đại, một đảng viên vĩ đại, một lãnh tụ vĩ đại. Ba cái vĩ đại đó đều tập trung ở một con người vĩ đại: Đồng chí Hồ Chí Minh.

Huỳnh Thúc Cẩn (Đại tá CCB – Hà Nội)

giadinh.net.vn

Đẩy mạnh hoạt động công tác dân vận ở Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đại tá Phạm Văn Lập, Phó Tư lệnh tặng Bằng khen cho các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác dân vận năm 2011

Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là đơn vị được Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ chính trị đặc biệt: Giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và Công trình Lăng của Người; tổ chức đón tiếp phục vụ đồng bào, khách quốc tế đến viếng Bác, tham quan Khu Di tích K9; tổ chức phục vụ các hoạt động tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và nghi lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng. Trong những năm qua, đơn vị đã chủ động khắc phục khó khăn, nỗ lực phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, xây dựng Đảng bộ TSVM, đơn vị VMTD.

Trong đó, đã làm tốt công tác giáo dục về chính trị, tư tưởng; tổ chức các lớp học nghiên cứu, quán triệt nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, trọng tâm là Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của quân đội, các quy chế, quy định của địa phương trên địa bànđóng quân. Cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị đã thường xuyên triển khai thực hiện nghiêm túc có hiệu quả công tác dân vận; cùng với cấp ủy, chính quyền địa phương, các lực lượng có liên quan phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giải quyết tốt các sự việc xảy ra, giữ vững trật tự, an toàn khu vực.

Thường xuyên rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy chế, quy định và triển khai thực hiện nghiêm túc, phát huy tốt nhất vai trò trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy các cấp nâng cao chất lượng quản lý đơn vị toàn diện về mọi mặt. Tập trung thực hiện tốt một số quy chế, quy định như: Quy định tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ; Quy chế về công tác phối hợp hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng Ban Quản lý Lăng với các lực lượng vũ trang Thủ đô trong bảo đảm an ninh an toàn tuyệt đối cho các buổi lễ viếng cấp Nhà nước, các đoàn nguyên thủ quốc gia, các đoàn cấp Bộ trưởng, đón tiếp đồng bào và khách quốc tế vào Lăng viếng Bác, thắp hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và tham quan Thủ đô; xây dựng và chấp hành nghiêm Quy chế công tác dân vận của đơn vị. Các quy chế, quy định phối hợp bảo đảm an ninh với cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương trên địa bàn đóng quân đã góp phần tăng cường quan hệ phối hợp các lực lượng và đoàn kết quân dân; giữ vững kỷ cương, kỷ luật trong đơn vị, tạo môi trường thuận lợi để đơn vị hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao, xây dựng đơn vị an toàn, địa bàn đóng quân an toàn, góp phần giữ vững an ninh, trật tự và an toàn xã hội.

Thiếu tướng Đặng Nam Điền, Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng và Thủ trưởng Phòng Chính trị,
Đoàn 595 trao nhà tình nghĩa cho bà Đỗ Thị Xuyên tại xã Trịnh Xá,
huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam

Hàng năm đơn vị đã chủ trì tổ chức Hội nghị phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng vũ trang của các quận, huyện thuộc thành phố Hà Nội bảo đảm an ninh, an toàn tuyệt đối như: Phục vụ Lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội năm 2010; Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng; cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016, các ngày lễ, tết, các sự kiện sinh hoạt chính trị, văn hóa diễn ra tại Lăng, Quảng trường Ba Đình và Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ.

Phối hợp và tổ chức tốt việc giao ban an ninh theo quy định giữa Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng với Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, với các lực lượng vũ trang trên địa bàn quận Ba Đình, quận Đống Đa, huyện Ba Vì, kịp thời thông báo tình hình, kết quả công tác phối hợp, hiệp đồng trong giải quyết các sự việc cụ thể có liên quan tới công tác bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, không để xảy ra bị động, bất ngờ; trong từng thời kỳ và hàng năm làm tốt công tác sơ kết, tổng kết, biểu dương khen thưởng kịp thời đối với những tập thể và cá nhân có thành tích suất sắc trong công tác dân vận. Bên cạnh đó, đơn vị đã phối hợp cùng với Sở Giáo dục thành phố Hà Nội, các trường trung học phổ thông trên địa bàn đóng quân như Trường Phạm Hồng Thái, Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Siêu, Hoàng Diệu…Xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện hoàn thành xuất sắc các nội dung giáo dục kiến thức quốc phòng cho học sinh các nhà trường; tổ chức tốt, an toàn, chu đáo 2 lớp “Học kỳ quân đội” cho 180 cháu, tạo ấn tượng, tình cảm tốt đẹp về hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ bên Lăng Bác. Tích cực hưởng ứng các phong trào của địa phương phát động, như vận động 100% cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ tham gia phong trào xây dựng Quỹ “Đền ơn, đáp nghĩa”, Quỹ “Vì người nghèo”; tổ chức tặng sổ tiết kiệm cho gia đình chính sách phường Điện Biên, ủng hộ Quỹ “Vì người nghèo” của thành phố Hà Nội; xây tặng nhà tình nghĩa, thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách trên địa bàn đóng quân nhân kỷ niệm Ngày Thương binh Liệt sỹ 27/7, tham gia ủng hộ Quỹ “Chất độc da cam”; Quỹ “Người tàn tật” quận Ba Đình. Qua đó giáo dục cho cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ về truyền thống đạo lý uống nước nhớ nguồn, tri ân các thế hệ đi trước, sẻ chia với những người có hoàn cảnh khó khăn, lá lành đùm lá rách thể hiện nghĩa cử cao đẹp của người chiến sỹ bên Lăng Bác góp phần củng cố, tăng cường mối quan hệ đoàn kết quân dân. Tích cực tham gia các phong trào hoạt động thể dục, thể thao, văn hóa văn nghệ với các đơn vị kết nghĩa, các lực lượng quần chúng địa phương trên địa bàn, tạo được tình cảm ấn tượng tốt đẹp.

Thường xuyên giáo dục, quán triệt, rèn luyện nâng cao nhận thức cho cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ và người lao động nhận thức đầy đủ về vai trò tầm quan trọng của công tác phòng chống lụt, bão, cứu hộ, cứu nạn giảm nhẹ thiên tai và phòng chống cháy nổ, cháy rừng; xây dựng, bổ sung, hoàn thiện phương án và tổ chức cho bộ đội luyện tập thành thục, sẵn sàng đối phó với các tình huống có thể xảy ra. Chú trọng công tác phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền các cấp, các lực lượng của địa phương, chuẩn bị đầy đủ lực lượng, phương tiện, vật chất bảo đảm cho xử lí các tình huống nhằm hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại có thể xảy ra. Thường xuyên phối hợp chặt chẽ với công an các quận, huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội trong việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ và người lao động nắm vững và chấp hành nghiêm Luật giao thông, bảo đảm 100% cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ và người lao động chấp hành nghiêm Luật giao thông và tham gia giao thông bảo đảm an toàn tuyệt đối.

Từ thực tế đó đã khẳng định việc tổ chức thực hiện tốt, có hiệu quả về công tác dân vận ở Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, tinh thần và trách nhiệm phục vụ tận tình, chu đáo đối với đồng bào và khách quốc tế đến viếng Bác, tham quan Khu Di tích K9 và các hoạt động chính trị diễn ra trên Quảng trường Ba Đình. Phát huy những thành tích đã đạt được, trong thời gian tới đơn vị sẽ tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt công tác dân vận của Đảng, góp phần xây dựng địa bàn đóng quân an toàn, giữ vững tình hình an ninh, trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn đóng quân./.

Đức Hùng

bqllang.gov.vn

Nữ đoàn viên đầu tiên được Bác Hồ đào tạo làm tình báo

Sinh năm 1916 ở xã Hưng Tân, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An, người con gái ấy được cha mẹ đặt tên cúng cơm là Nguyễn Thị Tích. Ông Nguyễn Trọng Quyến – thân sinh chị là một trong những người sớm được giác ngộ cách mạng, đứng trong hàng ngũ cộng sản từ những năm 1929 – 1930. Mẹ đẻ của chị mắc bệnh hiểm nghèo và qua đời khi chị mới 3 tháng tuổi.

Năm 1924, một người bạn chiến đấu tên là Cố Khôn đến nhà đưa thư của ông Quyến gửi cho gia đình và đón Nguyễn Thị Tích đi. Ông Khôn đặt cho chị tên mới: Hoàng Lệ Minh. Tiếp đến, Hoàng Lệ Minh được đưa sang Lào để học chữ. Lớp học lúc đó chỉ có 5 người Việt Nam (ba trai, hai gái) do đồng chí Võ Tùng thay mặt đoàn thể phụ trách lớp.

Tròn 10 tuổi, Lệ Minh lại được đoàn thể đưa sang Xiêm (Thái Lan) học tại trường “Hoa Anh Học Hiệu” ngay tại Bangkok. Đây là lớp học do Bác Hồ sáng lập. Cả lớp gồm: Lý Tự Trọng, Lý Phương Đức, Lê Quang Đạt, Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong và Hoàng Lệ Minh với cái tên mới – Lý Tiểu Muội. Học được một năm thì Bác Hồ đến đón tất cả sang Quảng Châu (Trung Quốc) gửi vào học tại Trường Trung Sơn Tiểu học. Lý Tiểu Muội được đặt tên mới là Ngô Ứng Thuận. Sau này, Ngô Ứng Thuận còn có tên là Lý Phương Thuận, bí danh là Lý Sâm, Lý Tâm hoặc Lê Thị Tâm.

Tốt nghiệp Trường Trung Sơn Tiểu học, Lý Phương Thuận được phân công nhiệm vụ tại cơ quan bí mật của Chi bộ Hải ngoại của Đảng ta, do đồng chí Phùng Chí Kiên phụ trách. Nhiệm vụ cụ thể của Lý Phương Thuận là chuyển tài liệu bí mật, giao liên dẫn đường kiêm phiên dịch đưa đón các đồng chí của Đảng từ trong nước mới ra hoặc học xong, trở về nước tiếp tục hoạt động.

Thời gian sau, Lý Phương Thuận nhận được chỉ thị của Bác Hồ xin vào làm công nhân ở Nhà máy Điện Kỳ (sản xuất pin đèn). Làm việc ở Nhà máy Điện Kỳ một năm, lúc đó Lý Phương Thuận đã tròn 18 tuổi và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tháng 4 – 1931, Lý Phương Thuận nhận được chỉ thị về giúp việc trong cơ quan bí mật của Việt Nam Thanh niên Cách mạng ở Hồng Kông, được giao nhiệm vụ dịch tài liệu và giao liên bí mật. Thời kỳ này, Bác Hồ được gọi là đồng chí Lý Thụy và dùng bí danh mới là Tống Văn Sơ. Còn Lý Phương Thuận thì có một bản lý lịch trích ngang mới: Lý Phương Thuận, bí danh Lý Sâm, quê quán: Nam Kinh, Trung Quốc, cháu gái của Tống Văn Sơ. Nhận công tác ở đây được khoảng hai tháng thì ngày 6/6/1931, cảnh sát Hồng Kông vây chặt ngôi nhà 186 phố Tam Lung (Cửu Long, Hồng Kông) – nơi đặt trụ sở của Việt Nam Thanh niên Cách mạng. Tống Văn Sơ và người cháu gái Lý Phương Thuận cùng bị bắt. Khi bị bắt, Lý Phương Thuận tuy đã 18 tuổi nhưng vóc dáng nhỏ bé, mảnh khảnh, tự khai mới 15 tuổi và là cháu gái Tống Văn Sơ. Vì không có đủ chứng cứ buộc tội Lý Phương Thuận nên tại phiên tòa xét xử Tống Văn Sơ lần thứ nhất (diễn ra ngày 31/7/1931), Lý Phương Thuận đã được tha.

Biết Lý Phương Thuận sẽ không thoát khỏi sự bủa vây của mật thám Tưởng, Anh, Pháp, vì chị đã hai lần bị bắt trong phong trào công xã Quảng Châu, nên Tống Văn Sơ đã bí mật viết một lá thư cho Cường Để, cháu đích tôn của Hoàng Thái tử Nguyễn Phúc Cảnh (con vua Gia Long), được Phan Bội Châu tác động, đưa lên làm Hội trưởng Hội Duy Tân chống Pháp, sau bị truy đuổi sống lánh nạn ở Nhật. Lá thư được chuẩn bị từ nhà tù Victoria (Hồng Kông) cho Lý Phương Thuận và Bác dặn tìm cách sang Nhật tạm thời cư trú nhờ sự giúp đỡ của Cường Để.

Lý Phương Thuận đã thực hiện đúng chỉ đạo của Tống Văn Sơ nhưng chỉ ở nhà Cường Để (Nhật) được một thời gian thì Nhật – Pháp thỏa hiệp trục xuất Cường Để, chị phải trở lại Quảng Châu, tiếp tục làm việc tại Nhà máy Điện Kỳ vừa để kiếm sống vừa tìm thời cơ bắt liên lạc với đoàn thể. Làm việc tại đây vẫn không an toàn, Lý Phương Thuận lại quay về Thượng Hải xin vào làm công nhân ở một nhà máy đóng giày. Tại đây, Lý Phương Thuận gặp đồng chí Đỗ Đăng Trình và biết tình hình Thượng Hải sắp có biến, nên lại chạy về Quế Châu và mất liên lạc hoàn toàn với đoàn thể, làm nghề bán báo để tự nuôi sống.

Cuối tháng 8-1945, đang ở Quế Châu, Lý Phương Thuận được tin trong nước đã tổng khởi nghĩa, chị lập tức tìm đường trở về Tổ quốc. Về đến Hà Nội, Lý Phương Thuận gặp bà Tống Minh Phương. Bà Phương tin Lý Phương Thuận là người Hoa nên sẵn lòng cưu mang. Vào nhà bà Phương ở phố Hàng Buồm, Lý Phương Thuận thấy trên bàn thờ Tổ quốc treo lá cờ đỏ sao vàng, bên dưới là tấm ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lý Phương Thuận thầm bàng hoàng bởi người trong ảnh chính là ông Tống Văn Sơ – đồng chí Lý Thụy ngày nào. Với đức tính thận trọng của cán bộ hoạt động bí mật, chị kiên nhẫn tìm người kín đáo liên lạc với Bác Hồ. Được tin, Bác cho bố trí đưa Lý Phương Thuận tới ngay. Không bút mực nào tả xiết sự phấn khởi của chị khi được gặp lại Bác kính yêu sau 14 năm gián đoạn liên lạc. Ngay sau đó, Bác Hồ gọi đồng chí Lê Giản – Tổng giám đốc Nha Công an Trung ương lên và trực tiếp giới thiệu: “Đây là cô Hoàng Lệ Minh/Lý Phương Thuận, người đã từng trải qua hoạt động bí mật, có nhiều kinh nghiệm. Cô ấy thạo tiếng Trung, Pháp và Anh. Chú đang rất cần những cán bộ như thế này tìm hiểu và đối phó với bọn Tưởng”. Thế là cô Hoàng Lệ Minh/Lý Phương Thuận được trở lại với cái tên “quê mùa” Nguyễn Thị Tích và bắt tay ngay vào làm nhiệm vụ tình báo với vai bình phong tiếp viên tại khách sạn Thăng Long (trước cửa ga Hà Nội), nơi bọn sĩ quan Tưởng, tiếp đến là sĩ quan Pháp thường lui tới.

Chị Tích đã xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ của nữ tình báo viên đầu tiên thuộc lực lượng công an, thu được nhiều tin tức quan trọng. Tiêu biểu là thông tin về âm mưu của bọn Tưởng rắp tâm bắt cóc Bác Hồ tháng 12.1945 và đặc biệt là ý đồ kế hoạch của thực dân Pháp dùng bọn phản động Quốc dân Đảng ở trụ sở phố Ôn Như Hầu hòng gây đảo chính vào tháng 7/1946 để bóp chết Chính phủ nước Việt Nam độc lập.

Câu chuyện về cuộc đời chị Tích kết thúc có hậu. Trực tiếp chỉ đạo chị trong công tác trinh sát nắm tình hình âm mưu thủ đoạn giặc Tưởng là đồng chí Trần Lung. Sau này ông được đề bạt các chức vụ như Trưởng ty Công an Hòa Bình, Trưởng ty Công an Hà Nam, Cục trưởng Cục Hình sự Bộ Công an. Từ tình cảm mến phục giữa đồng đội, chị Tích và anh Lung đã nảy nở tình yêu trong sáng, họ trở thành đôi bạn trăm năm, xây tổ ấm hạnh phúc trọn đời.

Theo Báo Thanh Niên
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Những con tem mang hình Bác kính yêu

Tem Bác Hồ năm 1946.

Ngay từ mùa thu năm 1946, một năm sau khi giành được độc lập, Nha Bưu điện Việt Nam được Chính phủ cho phép phát hành bộ tem mới thể hiện chân dung Hồ Chủ tịch. Người có vinh dự được vẽ mẫu tem này là họa sĩ Nguyễn Sáng, dựa vào bức ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh do nghệ sĩ Vũ Năng An chụp. Giống như ảnh, mẫu tem thể hiện được những nét đặc sắc của Bác Hồ: Thông minh, hiền hậu, kiên nghị được lồng trong khung những ngôi sao năm cánh. Tem có kích thước nhỏ xinh, in trên giấy tàu bạch mỏng mịn, gồm 5 mẫu, mỗi mẫu một màu (xanh lá mạ, đỏ, vàng, lam, tím), nhìn rất sinh động và trang trọng. Đã có những vần thơ mừng đón con tem:

“Tem mang hình Bác trên mình
Tem thêm sức mạnh, thêm tình trong tem”

Sau khi tem được phát hành, người ta chen nhau ở các bưu cục trong cả nước để mua tem Bác Hồ. Hồi này, đất nước ta đang ở thời kỳ bị “giặc đói” hoành hành. Mỗi con tem màu lam giá bốn hào, nhưng ai cũng mua với giá một đồng vì trên mặt tem in dòng chữ “+ phụ thu cứu quốc 6 hào”. Con tem nhỏ bé này đã đóng góp phần mình vào phong trào cứu đói và “Tuần lễ Vàng” lịch sử.

Tem Bác Hồ năm 1949.

Năm 1949, để đáp ứng yêu cầu kháng chiến, họa sĩ Nguyễn Sáng lại thiết kế bộ tem thứ hai về Bác Hồ, nhưng lần này Người ngồi ở tư thế hơi nghiêng, vẻ mặt trầm tư, sâu lắng, cũng dựa vào bức ảnh do Vũ Năng An chụp. Có thể nói, người chụp ảnh cũng như người thiết kế tem đã thực hiện tác phẩm của mình với tấm lòng kính yêu vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tem Liên Xô kỷ niệm 90 năm Ngày sinh Bác Hồ.

Tính đến nay, trong số trên 3.000 mẫu tem Việt Nam hiện có, có hàng trăm mẫu tem về Bác Hồ. Nếu cộng cả các mẫu tem về Bác Hồ mà nhiều nước trên thế giới phát hành, chúng ta có trên 500 con tem về Bác. Đó là con số mà một nhà sưu tầm tem có tiếng, ông Lê Đức Vân, đồng thời là một cán bộ cách mạng lâu năm, nghiên cứu, thống kê và công bố. Đã ngót 10 năm, ông Vân sưu tầm tem Bác Hồ, có ý định trưng bày một bộ sưu tập vô giá vào dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 120 của Người. Bộ sưu tập ấy in dấu chân của vị lãnh tụ trên từng chặng đường đấu tranh vì dân, vì nước, từ ngày Sài Gòn bôn ba ra nước ngoài tìm đường cứu nước cho đến lúc Người đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, từ khi Người chỉ đạo quân và dân ta tiến hành hai cuộc kháng chiến thần thánh chống ngoại xâm cho đến khi Người đi vào cõi vĩnh hằng.

Tem thể hiện bức ảnh “Bác Hồ bắt nhịp bài ca Kết đoàn”.

Có một điều rất đáng nói là phần lớn những con tem mang hình Bác đã được thiết kế trên cơ sở những bức ảnh cụ thể. Ngoài hai bức ảnh nói trên của Vũ Năng An, chúng ta được gặp những bức ảnh thể hiện trên tem như “Bác Hồ đọc báo tại chiến khu Việt Bắc” do nghệ sĩ Nguyễn Hồng Nghi chụp năm 1949 được dùng làm mẫu tem trong bộ tem “Kỷ niệm 35 năm truyền thống ngành Bưu điện” phát hành năm 1980 do họa sĩ Trần Huy Khánh thiết kế, hoặc từ bức ảnh nổi tiếng “Bác Hồ bắt nhịp bài ca Kết đoàn” do nghệ sĩ Lâm Hồng Long chụp năm 1960 cũng được các họa sĩ Trần Lương, Đặng Quý Quyền, Trần Thế Vinh và Nguyễn Thị Sâm thể hiện trên ba mẫu tem phát hành năm 1978, 1990 và 2000. Để thống nhất phương thức thiết kế tem theo dạng ảnh chụp, họa sĩ Trần Lương đã nghiên cứu 8 ảnh gốc của người chụp để đưa vào tem sao cho trung thực với lịch sử, thay cho phác thảo đơn nét bút sắt. Và để tính khái quát và ý nghĩa rộng lớn hơn, họa sĩ đưa nguyên hình Bác như trong ảnh, lược bỏ những chi tiết dàn hợp xướng và thay thế bằng hình mặt trống đồng Ngọc Lũ, tượng trưng cho 4.000 năm văn hiến Lạc Việt – Hùng Vương.

Tem thể hiện bức ảnh “Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội Tours (Pháp) năm 1920”.

Cũng cần đề cập những tác phẩm nhiếp ảnh tiêu biểu khác như bức ảnh “Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội Tours (Pháp) năm 1920” mà Đoàn thanh niên Cộng sản Pháp đã sưu tầm được và kính biếu Bác đã được dùng làm cơ sở thiết kế mẫu tem “Kỷ niệm 55 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam” phát hành năm 1985, hay như bức ảnh “Bác Hồ cùng Bộ Chính trị chỉ đạo chiến dịch Điện Biên Phủ” (do Đinh Đăng Định chụp) cũng được đưa vào một mẫu tem trong bộ tem “Kỷ niệm 30 năm chiến thắng Điện Biên Phủ” phát hành năm 1984.

Tem thể hiện bức ảnh “Bác Hồ với các anh hùng và dũng sĩ miền Nam”.

Tem bưu chính Việt Nam về thành phố mang tên Bác đã thể hiện tình cảm sâu lắng của đồng bào thành phố Hồ Chí Minh đối với vị lãnh tụ kính yêu, thông qua nhiều hình ảnh thân thương từ cuộc đời hoạt động phong phú của Bác như: Bác Hồ tưới cây vú sữa do đồng bào miền Nam gửi biếu, Bác Hồ với các anh hùng và dũng sĩ miền Nam… Mẫu tem 2 đồng trong bộ tem “Kỷ niệm 10 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam” phát hành năm 1985 ghi lại hình ảnh chiếc xe tăng cùng đoàn Quân Giải phóng tiến vào Dinh Độc lập, phía trên bên phải là hình ảnh Bác Hồ đang giơ tay vẫy chào thành phố thân yêu. Hình ảnh Bác Hồ giơ tay vẫy chào cũng có trong mẫu tem kỷ niệm 20 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước phát hành năm 1995, phía trên cánh cổng chợ Bến Thành rợp cờ đỏ sao vàng.

Tem thể hiện bức tượng “Bác Hồ với thiếu nhi”.

Bức tượng “Bác Hồ với thiếu nhi” của nhà điêu khắc Diệp Minh Châu tại vườn hoa phía trước Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh cũng đã được đưa lên tem hai lần vào năm 1995 và 1998.

Có dịp chiêm ngưỡng các bộ tem về Bác, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, chúng ta trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đối với các họa sĩ tài hoa, từ các cố họa sĩ lão thành như Nguyễn Sáng, Bùi Trang Chước, Nguyễn Văn Khanh… cho đến Nguyễn Thế Vinh, Trần Lương, Huy Toàn, Nguyễn Hiệp, Trịnh Quốc Thụ, Đỗ Việt Tuấn, Trần Ngọc Uyển, Đỗ Lệnh Tuấn, Nguyễn Thị Sâm, Trần Thế Vinh… Họ đã đem toàn bộ tâm huyết và tài năng nghệ thuật của mình để sáng tác những mẫu tem đẹp nhất, trang trọng nhất về Bác kính yêu./.

Theo Trần Đương
(vietstamp.net)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ – hiện thân của tình đoàn kết các dân tộc Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân của tình đoàn kết các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam. Sinh thời, Bác Hồ thường gọi mọi người dân và toàn dân ta là đồng bào, thể hiện một tình cảm tốt đẹp về nguồn gốc của dân tộc Việt Nam trong truyền thống lịch sử. Trong suy nghĩ và việc làm của Bác thì nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi.

Khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mới thắng lợi, trước những sự chia rẽ dân tộc của kẻ thù, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định chính sách đoàn kết dân tộc và nêu rõ: Cộng đồng các dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam dù là dân tộc đa số hay dân tộc thiểu số “đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt”, có chung giang sơn và Chính phủ nên phải đoàn kết, thật sự bình đẳng, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau để kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sớm nhìn thấy âm mưu thủ đoạn “chia để trị” của chế độ thực dân phong kiến và những thành kiến, định kiến còn nặng nề trong tư tưởng tình cảm của đồng bào các dân tộc, trong một bộ phận cán bộ…tạo nên những khoảng cách và các vết rạn, nứt trong mối quan hệ của chính quyền cách mạng với đồng bào. Người chỉ rõ rằng: Ðiều cần thiết nhất cho chúng ta là đoàn kết, cần phải xóa bỏ hết thành kiến, cần phải thật thà đoàn kết với nhau, giúp đỡ lẫn nhau để cùng tiến bộ, để cùng phục vụ nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng kêu gọi: Ngày nay, các dân tộc anh em muốn tiến bộ, muốn phát triển văn hóa của mình thì chúng ta phải tẩy trừ những thành kiến giữa các dân tộc, phải đoàn kết yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau như anh em một nhà.

Từ suy nghĩ và tầm nhìn như thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Ðảng Cộng sản Việt Nam có vai trò rất quan trọng trong xây dựng và phát triển khối đoàn kết dân tộc. Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chăm lo giáo dục cán bộ, đảng viên phải giữ gìn sự đoàn kết thống nhất của Ðảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình để làm hạt nhân của tình đoàn kết các dân tộc Việt Nam. Ðồng thời phải đoàn kết có nguyên tắc chống đoàn kết xuôi chiều hoặc cô độc, hẹp hòi. Bác Hồ đã dành nhiều tâm huyết xây dựng, củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất để tập hợp, đoàn kết mọi lực lượng, mọi người dân yêu nước để thực hiện mục tiêu chung của cách mạng, không phân biệt dân tộc, tôn giáo…

Trong khối đoàn kết các dân tộc Việt Nam, Bác Hồ là người đặc biệt quan tâm vun đắp tình hữu ái giữa dân tộc đa số với các dân tộc thiểu số, tình đoàn kết giữa các dân tộc thiểu số cũng như tình hữu ái, đoàn kết của từng dân tộc thiểu số. Có thể nói Chủ tịch Hồ Chí Minh là một lãnh tụ nêu tấm gương tiêu biểu nhất về chăm lo xây dựng, vun đắp đoàn kết các dân tộc thiểu số và nâng cao cuộc sống đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho tổ chức các hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số để đồng bào thực hiện quyền bình đẳng về chính trị và các quyền lợi khác cũng như trách nhiệm của các dân tộc đối với đất nước.

Tại các hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số, Bác Hồ rất quan tâm chăm lo vun đắp tình đoàn kết và đời sống của đồng bào các dân tộc. Phát biểu tại Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Anh em thiểu số chúng ta sẽ được:

1. Dân tộc bình đẳng: Chính phủ sẽ bãi bỏ hết những điều hủ tệ cũ, bao nhiêu bất bình đẳng trước sẽ sửa chữa đi.

2. Chính phủ sẽ gắng sức giúp cho các dân tộc thiểu số về mọi mặt:

a) Về kinh tế, sẽ mở mang nông nghiệp cho các dân tộc được hưởng.

b) Về văn hóa, Chính phủ sẽ chú ý trình độ học thức cho dân tộc.

Các dân tộc được tự do bày tỏ nguyện vọng và phải cố gắng để cùng giành cho bằng được độc lập hoàn toàn, tự do và thái bình (Xem Hồ Chí Minh Toàn tập, t4, tr110-111).

Nghiên cứu tư tưởng và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta nhận thấy rất rõ là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng, củng cố và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tình đoàn kết giữa các dân tộc thiểu số và đoàn kết của từng dân tộc thiểu số trong thời đại mới. Người đã lãnh đạo và đoàn kết được các dân tộc Việt Nam thực hiện công cuộc giải phóng dân tộc, kháng chiến thắng lợi và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho dân giàu, nước mạnh. Ðồng thời toàn bộ cuộc đời của Bác còn là hiện thân, một tấm gương tiêu biểu nhất của khối đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết và giúp đỡ đồng bào các dân tộc thiểu số. Nổi bật nhất là suốt thời gian gần 30 năm, kể từ khi về nước chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam năm 1941 cho đến khi từ biệt thế giới này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Trung ương Ðảng và Chính phủ luôn luôn quan tâm xây dựng và thực hiện các chính sách đối với đồng bào các dân tộc phát triển kinh tế, văn hóa, từng bước nâng cao đời sống đồng bào.

Bác Hồ về thăm lại Việt Bắc

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn để lại cho chúng ta một bài học lớn về nghĩa tình của người cộng sản, của người lãnh đạo đối với đồng chí, đồng bào các dân tộc thiểu số đã cưu mang giúp đỡ cách mạng khi khó khăn, khi chưa có chính quyền. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ có nhiều năm tháng sống gắn bó với đồng chí, đồng bào các dân tộc thiểu số từ đầu năm 1941 đến những năm kháng chiến chống thực dân Pháp lâu dài và gian khổ, ác liệt. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thương nhớ và ghi ơn những đồng chí, đồng bào các dân tộc đã nuôi dưỡng, chở che, đùm bọc. Người nhiều lần gửi thư thăm hỏi và tâm tình “Ở Hà Nội, xa cách với đồng bào nhưng không bao giờ tôi quên các đồng bào. Tôi luôn luôn nhớ đến lòng yêu mến và sự giúp đỡ của các đồng bào trong những ngày tháng tôi ở thượng du” (Xem Hồ Chí Minh Toàn tập, t4, tr.210). Chính vì sống gắn bó trong lòng đồng bào các dân tộc thiểu số, nên Chủ tịch Hồ Chí Minh là người hiểu và biết rất rõ những nỗi khổ đau của đồng bào các dân tộc thiếu số và Người đã dành nhiều tâm huyết nhằm giúp đồng bào vươn lên có cuộc sống khá hơn trong chế độ xã hội mới của đất nước chúng ta. Khi miền Bắc bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm công tác dân tộc và chỉ rõ: Các dân tộc thiểu số đoàn kết với dân tộc đa số. Cố nhiên cán bộ người Kinh phải giúp đỡ anh em cán bộ địa phương, nhưng phải làm sao cho cán bộ địa phương tiến bộ, để anh em tự quản lý lấy công việc ở địa phương chứ không phải là bao biện làm thay. Tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, làm cho đời sống đồng bào địa phương ngày càng khá hơn, cả về vật chất và tinh thần.

Bác bắt nhịp bài ca "Kết Đoàn"
Ảnh: Tuấn Anh

Ðể đoàn kết và nâng cao đời sống đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm giáo dục và huấn luyện cán bộ từ Trung ương đến địa phương phải chăm lo công tác vận động đồng bào các dân tộc thiểu số thực hiện thật tốt chính sách dân tộc của Ðảng. Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ miền núi năm 1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: Miền núi đất rộng người thưa, tình hình vùng này không giống tình hình vùng khác. Vì vậy, áp dụng chủ trương, chính sách phải thật sát với tình hình thực tế của mỗi nơi. Tuyệt đối chớ rập khuôn, chớ máy móc, chớ nóng vội. Mỗi ngành, mỗi Bộ ở Trung ương cần phải nhận rõ phần trách nhiệm của mình đối với miền núi và chú trọng hơn nữa công tác ở miền núi.

Người nhấn mạnh: Nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên và đoàn viên thanh niên là phải làm gương mẫu trong mọi công tác, làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc và không ngừng nâng cao đời sống của đồng bào miền núi. Tư tưởng và tấm gương vận động đồng bào các dân tộc thiểu số của Bác đã trở thành kim chỉ nam cho việc xây dựng các chính sách dân tộc của Ðảng và Nhà nước ta, là những giá trị và kiểu mẫu cho chúng ta thực hiện các chính sách dân tộc, thực thi các chương trình đối với vùng đồng bào các dân tộc.

Ðại hội đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số được tổ chức vào dịp kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một sự kiện có ý nghĩa to lớn trong đời sống chính trị đất nước, cũng là một dịp để cùng toàn Ðảng, toàn dân ghi sâu những di huấn và làm theo tấm gương của Bác đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, tiếp tục đổi mới chính sách dân tộc và tăng cường hơn nữa khối đoàn kết toàn dân./.

Theo Hochiminhhoc.com
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Hai bức chân dung Bác Hồ đầu tiên được vẽ cách đây 85 năm

Chân dung Nguyễn Ái Quốc do Eric Johanson vẽ ngày 19/9/1924, dòng chữ Việt và chữ Hán là do Người tự ghi (là bức vợ ông Johanson gửi tặng qua Đại sứ quán Việt Nam ở Thụy Điển).

Cho tới nay, nhiều nhà văn, nhà thơ, nhiều nhạc sĩ, họa sĩ, điêu khắc gia đã viết, vẽ và tạc tượng vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, hai bức chân dung đầu tiên của Người lại do một họa sĩ nước ngoài vẽ cách đây gần… 85 năm!

Cho tới nay, nhiều nhà văn, nhà thơ, nhiều nhạc sĩ, họa sĩ, điêu khắc gia đã viết, vẽ và tạc tượng vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, hai bức chân dung đầu tiên của Người lại do một họa sĩ nước ngoài vẽ cách đây gần… 85 năm!

Cuối năm 1923, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã từ Pháp sang Moskva (Liên Xô) để hoạt động cách mạng trong phong trào Quốc tế cộng sản. Người đã ở đây khá lâu để học tập và nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin, tìm con đường cứu dân cứu nước. Hoạt động của Người rất đa dạng và khẩn trương.
Ngoài giờ học tập ở Trường Cộng sản Phương Đông, Người còn tranh thủ tìm hiểu cuộc sống và lao động của nhân dân Xô Viết, tham gia các hoạt động về văn hóa – giáo dục, văn học – nghệ thuật. Và Bác đã tham dự cuộc triển lãm nghệ thuật tạo hình của Đức tại Bảo tàng Nghệ thuật quốc gia Moskva mùa Thu – 1924.

126 họa sĩ và điêu khắc gia tiến bộ của Đức đã trưng bày hơn 500 tác phẩm nghệ thuật của họ tại triển lãm này, được người xem đánh giá cao. Bác đã xem kỹ và đánh giá đúng mức những tác phẩm đó. Kỹ sư kiêm họa sĩ Đức người gốc Thụy Điển Eric Johanson cũng đã sang đây cùng những tác phẩm của mình.

Thấy nhà cách mạng phương Đông chăm chú xem các tác phẩm của mình, Johanson liền đến làm quen và thăm dò trao đổi ý kiến. Qua cuộc trò chuyện cởi mở về nội dung và nghệ thuật hội họa, Nguyễn Ái Quốc và Eric Johanson có những quan điểm hòa hợp. Rồi chẳng bao lâu họ đã thành đôi bạn tâm đắc về văn hóa nghệ thuật cũng như những quan điểm về chính trị, xã hội.

Thế là, họ đã tranh thủ giờ rỗi cùng nhau đi dạo phố, tìm hiểu đời sống người dân Xô Viết trong những năm đầu dưới chế độ mới. Đây cũng là dịp tốt để Nguyễn Ái Quốc hiểu biết thêm không những người Đức mà còn một dân tộc ở Bắc Âu nữa là Thụy Điển. Một ý nghĩ nảy ra trong đầu nhà cách mạng trẻ: Tranh thủ học thêm một ngoại ngữ nữa – tiếng Thụy Điển.

Trong hoàn cảnh đó, không tìm đâu ra được sách giáo khoa về ngôn ngữ nước này, Nguyễn Ái Quốc đã học ở người bạn tâm đồng ý hợp của mình. Và kết quả thật bất ngờ: Chỉ sau một thời gian ngắn, khi họa sĩ Johanson còn làm việc ở Moskva, Người đã trò chuyện với vị này bằng tiếng mẹ đẻ của ông.

Chân dung Nguyễn Ái Quốc đăng ở Báo Phụ nữ Xô Viết số 10 năm 1979. Nguyễn Ái Quốc ghi tên mình bằng chữ Việt và chữ Hán ở phía dưới, chữ ký của chính họa sĩ thì ở sát ve áo của Người.

Johanson đã không tiếc lời khen ngợi và khâm phục nhà cách mạng trẻ phương Đông là người thông minh, nhạy bén và uyên thâm nhiều lĩnh vực, trong đó có văn hóa, ngôn ngữ và cả hội họa của nhiều dân tộc. Ông đã linh cảm được về vị lãnh tụ tương lai của một dân tộc đang bị áp bức ở phương Đông mà lúc ấy chưa ai biết tới.

Trước khi rời đất nước Xô Viết về nước, Eric Johanson đã đề nghị người bạn quốc tế đồng cảm cho vẽ bức chân dung làm kỷ niệm. Trước yêu cầu chân thành đó, Nguyễn Ái Quốc đã đồng ý.

Đó là hai bức chân dung đầu tiên về vị lãnh tụ tương lai của một dân tộc bị áp bức ở phương Đông mà lúc đó chưa ai biết và nghĩ tới. Bằng chữ Việt và chữ Hán, Người đã tự tay ghi vào góc dưới bức chân dung: “Nguyễn Ái Quốc – 19/9/1924”

Hình ảnh và phong thái của Nguyễn Ái Quốc đã để lại những ấn tượng tốt đẹp và sâu sắc trong Johanson.

44 năm sau – năm 1968, khi Nguyễn Ái Quốc đã là vị Chủ tịch nước, là Bác Hồ kính yêu của dân tộc Việt Nam, khi Việt Nam đã trở thành biểu tượng của ý chí độc lập tự do đối với các dân tộc bị áp bức đang đấu tranh, người bạn năm xưa ấy của Bác Hồ đã ghi lại trong hồi ký của mình: “Cử chỉ văn hóa và thái độ thân mật chân tình của Người gây một ấn tượng là Người có uy tín lớn. Người có thể trở thành lãnh tụ nhưng không phải bằng một cái gì bề ngoài mà bằng học thức, bằng trí tuệ của mình…”.

Sau khi Johanson qua đời, tới cuối năm 1981, vợ ông kiểm kê lại tất cả những tác phẩm của chồng, đã phát hiện ra 1 trong 2 bức chân dung đó. Bà đã tới Đại sứ quán Việt Nam ở Thụy Điển để tặng lại kỷ vật quý báu này cho nhân dân ta.

Về cuộc đời họa sĩ Eric Johanson xin tóm lược mấy nét chính sau: Ông sinh năm 1895, làm nghề kỹ sư xây dựng và họa sĩ. Ông cùng vợ sang Đức làm ăn rồi gia nhập Đảng Cộng sản Đức, một trong những người sáng lập ra “Nhóm Đổ” – Hội các họa sĩ tiến bộ của Đức hoạt động vì người nghèo.

Là người khiêm tốn, ít nói, hay bẽn lẽn nhưng có cái nhìn nhận xét sâu sắc, nhạy bén, ông nhiệt tình tham gia cách mạng trong phong trào công nhân Đức. Những tác phẩm hội họa của ông thể hiện “nghệ thuật vị nhân sinh”, luôn đấu tranh bênh vực người lao động nghèo khổ. Sau cuộc triển lãm và làm việc ở Moskva, ông trở về Đức và tiếp tục hoạt động chống cuộc chiến tranh thế giới mới mà bọn phát xít Đức đang tích cực chuẩn bị.

Đến khi Hitler công khai phát động cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, thẳng tay đàn áp những người cộng sản và phong trào cách mạng, ông cùng vợ con tìm cách bí mật hồi hương. Từ năm 1938, ông đã thoát khỏi nanh vuốt bọn Đức Quốc xã khi đã an toàn trở về Thụy Điển.

Tại quê hương mình ông lại bị chính quyền tình nghi nên không thể liên hệ được với phong trào cách mạng bên ngoài, nhất là với Đảng Cộng sản Đức. Thế là ông cùng gia đình phải “ẩn dật” và kiếm sống bằng nghề vẽ của mình. Nhưng nhiều bức tranh tiến bộ mang đậm tính cách mạng ông không công bố. Một trong số đó là 2 bức tranh vẽ chân dung Bác Hồ của chúng ta.

Một bức (vẽ nghiêng) ông đã gửi cho báo Phụ nữ Xô Viết và báo này đã đăng trên số 10 năm 1979, nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Còn bức chính (vẽ trực diện), về sau (1981) vợ con ông mới phát hiện ra. Người bạn quốc tế thân thiết của Bác Hồ đã qua đời tháng 4/1979 tại ngoại ô Thủ đô Stockholm.

Triệu Hải
Theo antg.com.vn
Phương Thúy (st)

bqllang.gov.vn

Những điều ít biết về công tác bảo vệ Bác Hồ: Người cận vệ đầu tiên của Bác Hồ

Giadinh.net – Ông là người cận vệ đã bảo vệ Bác Hồ khi từ Côn Minh (Trung Quốc) về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Ông vinh dự và tự hào được Bác Hồ đặt tên, từng là Tư lệnh đầu tiên của Quân chủng Phòng không – Không quân và 23 năm liền giữ cương vị Phó Tổng tham mưu trưởng.

Kế hoạch bảo vệ an toàn đón Bác Hồ về nước

Ông là Thượng tướng Phùng Thế Tài, nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Từ đứa trẻ lang lang ở Côn Minh

Tên thật của ông là Phùng Văn Thụ, sinh ra trong một gia đình nghèo tại xã Văn Nhân, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây (cũ). Nhà đông anh em nên làm ruộng quanh năm mà không đủ ăn. Thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên mấy bà con đi buôn bán bên Trung Quốc bảo ông sang xin việc làm để kiếm sống.

Thượng tướng Phùng Thế Tài.

Năm 1933, khi đó mới 13 tuổi, ông theo một người làng đi kiếm sống. Điểm dừng chân đầu tiên của ông là thị trấn Chỉ Thôn, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Thị trấn này là một trạm hoả xa trung chuyển tất cả đầu máy từ Vân Nam về, từ Lào Cai của Việt Nam sang. Vì nhỏ tuổi nên ông không xin được việc của người lớn. Một gia đình bản địa nhận ông về làm giúp việc nhà.

Nhưng ở được một thời gian, vì không chịu được cảnh hống hách bắt nạt của con chủ nhà nên ông bỏ lên Côn Minh, thủ phủ của tỉnh Vân Nam. Suốt một tuần lễ không xin được việc gì. Giữa trời đông lạnh giá, bụng đói meo, quần áo tơi tả không có một bộ mang theo, ông lang thang rồi mệt ngủ luôn trên ghế đá công viên Hạ Lầu, ngoại thành Côn Minh. Đang thiu thiu, có một người đàn ông đánh thức dậy và nói bằng tiếng Việt: “Em từ đâu đến mà nằm ngủ ở đây?”

Sau khi trình bày hoàn cảnh của bản thân, ông được người đàn ông này đưa về hãng dầu cù là Nhị Thiên Đường. Qua một thời gian thử thách và được giác ngộ, ông được tham gia các đoàn thể và đi theo cách mạng.

Người gặp ông buổi tối ở công viên Hạ Lầu chính là đồng chí Vũ Anh (bí danh Trịnh Đông Hải). Thời gian đó đồng chí Vũ Anh được Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương cử sang Trung Quốc hoạt động cách mạng, làm Biện sự sứ, xây dựng cơ sở trong công nhân lao động. Năm 1939, chính đồng chí Vũ Anh đã dìu dắt, giúp đỡ và giới thiệu kết nạp ông vào Đảng Cộng sản Đông Dương (đồng chí Vũ Anh đã nhận ông làm con nuôi). Người thứ hai giới thiệu kết nạp ông là đồng chí Thanh Bình (sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đồng chí Thanh Bình là thứ trưởng Bộ Nội Vụ).

Thành cận vệ đầu tiên của Bác Hồ

Một buổi sáng đầu năm 1940, có người khách đến hãng Nhị Thiên Đường tìm gặp đồng chí Vũ Anh. Hai người đến địa điểm khác trao đổi công việc. Đến chiều, đồng chí Vũ Anh cho biết người đến tìm gặp là ông Trần và giao Phùng Thế Tài bảo vệ người này. Nhìn thái độ và nghe đồng chí Vũ Anh dặn dò cẩn thận, ông biết đây là một người rất quan trọng. Sau này, ông mới biết ông Trần chính là bí danh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Và ông đã trở thành cận vệ đầu tiên của Bác Hồ từ thời khắc ấy. Sau này ông được Bác đặt tên là Phùng Hữu Tài (một thời gian sau ông xin Bác cho đổi tên là Phùng Thế Tài).

Bác Hồ tặng quà Tết và nói chuyện với các chiến sỹ Đoàn không quân Sao Vàng.

Về kỷ niệm ngày đầu bảo vệ Bác Hồ, Thượng tướng Phùng Thế Tài kể: “Sau khi đồng chí Vũ Anh giới thiệu tôi là cận vệ, ông Trần nhìn tôi tỏ ý hài lòng. Tuần lễ đầu, ông Trần và tôi nói chuyện với nhau bằng tiếng Trung Quốc, sau mới dùng tiếng Việt. Do nguyên tắc hoạt động bí mật nên cả ông Trần và tôi làm như không quen biết nhau. Gọi là đi bảo vệ nhưng thực ra tôi có súng ống gì đâu. Tôi vốn hiếu động, dạo trước đã làm một quả đấm sắt, một con dao. Vậy là giờ đây nó hữu ích. Tôi không được phép vào nhà ở của ông Trần, mà chỉ được đứng chếch ở bên phải hoặc bên trái lề đường để quan sát. Thấy ông Trần đi là tôi đi theo cách 5 đến 10 mét”.

Trong dịp Tết Tân Tỵ (năm 1941), ông cũng nằm trong số những cán bộ đi cùng để bảo vệ Bác Hồ về nước. Khi về đến cột mốc 108, ông Phùng Thế Tài được tổ chức phân công ở lại Côn Minh hoạt động. Vì thạo tiếng Trung Quốc nên quân đội Tưởng tuyển ông làm cho cơ quan tình báo để chuẩn bị cho kế hoạch “ Hoa quân nhập Việt” và cho ông vào học lớp quân chính về nghiệp vụ tình báo của trường quân sự Hoàng Phố.

Là ngưòi thông minh, tiếp thu nhanh, chỉ sau khóa học ông được phong cấp Thiếu Hiệu (ngang với Thiếu Tá). Chúng cấp cho ông một số giấy chứng nhận đặc biệt, có đóng dấu Tưởng Thống chế. Giấy này cho phép được đi lại trong toàn quốc. Lợi dụng sự ưu đãi này, ông đã tranh thủ hoạt động có lợi cho phía ta. Những giấy tờ đó cũng đã thực sự trở thành “bảo bối” cứu nguy cho những chuyến công tác bảo vệ lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sang Trung Quốc sau này.

Đầu năm 1942, ông được tổ chức giao nhiệm vụ phụ trách đợt chuyển vũ khí về nước. Sau đó, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và đồng chí Vũ Anh cho ở lại Pác Bó tiếp tục làm nhiệm vụ bảo vệ Bác. Dạo đó, tổ bảo vệ “Ké Thu” (bí danh của Bác Hồ ở Pác Bó) gồm có: Phùng Chí Kiên, Lê Quảng Ba, Đinh Đại Toàn, Đặng Văn Cáp, Dương Đại Lâm, Phùng Thế Tài… Thời gian này cuộc sống của Ké Thu và tổ bảo vệ rất thiếu thốn. Lúc rảnh rỗi anh em trong tổ bảo vệ đi mò cua bắt ốc, đào củ mài. Thấy lãnh tụ Nguyễn ái Quốc gầy yếu anh em ưu tiên dành gạo nấu riêng. Người không cho làm như vậy và bảo: “Các chú chịu khổ được, Bác cũng chịu được”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm và chúc Tết Đoàn không quân Sao Vàng và các đơn vị bảo đảm kỹ thuật đường băng thuộc quân chủng Phòng không Không quân vào sáng mồng 1 Tết Đinh Mùi (9/2/1967). Cùng đi có Thượng tướng Văn Tiến Dũng-Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (người đi bên trái Bác) và Đại tá Phùng Thế Tài-Tư lệnh quân chủng Phòng không Không quân (người đi bên phải Bác).

Một mình bảo vệ Bác trở lại Trung Quốc

Tháng 8/1944, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lấy tên là Hồ Chí Minh và quyết định sang Trung Quốc gặp đại diện quân đồng minh để tranh thủ sự giúp đỡ. Đồng chí Phùng Thế Tài được giao nhiệm vụ bảo vệ Bác trong chuyến đi này.

Thượng tướng Phùng Thế Tài kể: “Lần ấy chỉ có một mình tôi đi bảo vệ Bác. Tôi mặc bộ dạ sỹ quan Tưởng oai lắm, nói thạo tiếng Trung Quốc, lại có sẵn giấy thông hành đặc biệt của chính quyền Tưởng Giới Thạch cấp hồi còn học ở trường quân sự Hoàng Phố nên yên trí. Bác mặc bộ quần áo của quân đội Tưởng, người ngoài nhìn chẳng khác anh lính trẻ đi với ông lính già. Khi đến Tĩnh Tây, cơm nước xong, Bác vào làm việc tại trụ sở của Quốc dân đảng Trung Hoa và là tổng hành dinh của Trung tướng Trần Bảo Xương.

Tối hôm đó, Bác ngủ ngay ở chỗ làm việc. Tôi không rõ Bác liên lạc với Trần Bảo Xương để làm gì, không dám hỏi vì nguyên tắc bí mật. Trên đường về phòng nghỉ, Bác nói bỏ quên mũ ở phòng khách bảo tôi quay lại lấy. Nhờ thế, tôi vô tình nghe lỏm được bọn Trần Bảo Xương đang bàn trong phòng kín tìm cách bắt giữ hai Bác cháu tôi. Tôi nghe thế rất lo, vội quay báo ngay với Bác. Bác rất bình tĩnh, chỉ thoáng một chút đăm chiêu. Suy nghĩ một lúc, Bác quyết định quay về Việt Nam ngay trong đêm hôm đó”.

“Nhưng làm sao mà ra khỏi hai cánh cổng sắt có lính gác của tổng hành dinh Trần Bảo Xương được? Như hiểu được ý tôi, Bác khẽ nói: “Ta đi ngay, không mang hành lý gì, đi người không, giả bộ với lính gác ra ngoài mua bao thuốc lá!”. Thoát khỏi được tổng hành dinh của Trần Bảo Xương, hai Bác cháu quên cả mệt, đi như chạy ra khỏi Tĩnh Tây và cuốc bộ một mạch không nghỉ. Sáng hôm sau trông thấy Bác quá mệt, người phờ phạc, lòng tôi quặn lại”.

Thời gian sau thấy năng khiếu chỉ huy quân sự và nguyện vọng của ông Phùng Thế Tài được đi chiến đấu ngoài mặt trận, Bác đồng ý. Trước khi ra mặt trận, Bác dặn ông: “Chú sẵn sàng đi chiến đấu, thế là tốt, nhưng nhớ đừng có “hữu dũng, vô mưu” đó nhé…”. Những lời Bác dạy, ông luôn thấm thía và là hành trang luôn theo ông, giúp ông vượt qua mọi khó khăn, gian khổ trong suốt cuộc đời. Ông đã trở thành vị tướng mà nói đến ai cũng biết: “Tướng Tài”.

Nguyễn Đức Quý

giadinh.net.vn

Những chuyện ít biết về công tác bảo vệ Bác Hồ: Kế hoạch bảo vệ an toàn đón Bác Hồ về nước

Giadinh.net – Cuối tháng 2/1940, được tin lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về đến Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc), Trung ương Đảng đã cử một số cán bộ như: Phạm Văn Đồng (bí danh là Lâm Bá Kiệt), Võ Nguyên Giáp (bí danh là Dương Hoài Nam), Đặng Văn Cáp (bí danh là Đặng Văn Linh), Hoàng Văn Lộc và một số đồng chí khác sang Trung Quốc để tìm gặp, báo cáo tình hình trong nước và xin chỉ thị của Người.

Sau gần 3 tháng, đến tháng 5/1940 đồng chí Phùng Chí Kiên dẫn đồng chí Đặng Văn Cáp đến Côn Minh gặp Bác.

Những người bảo vệ Bác về nước

Sau khi trao đổi, Bác đồng ý phương án về nước bằng đường Côn Minh – Lào Cai, qua huyện Khai Viễn. Bác phái đồng chí Bùi Thanh Bình, Hoàng Văn Lộc về Hồ Kiều (một thị trấn của tỉnh Vân Nam sát địa phận tỉnh Lào Cai nước ta) để thăm dò đường sá. Người chịu trách nhiệm nhóm công tác bảo vệ Bác trong thời gian chuẩn bị về nước là đồng chí Phùng Thế Tài.

Hưởng ứng cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và tiến tới kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Người, Báo GĐ&XH khởi đăng loạt tư liệu đặc biệt về công tác bảo vệ an ninh cho Bác.

Báo GĐ&XH cảm ơn Trung tá Nguyễn Đức Quý – Đội trưởng đội Nghiên cứu khoa học, Phòng Tham mưu, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ –  người đã trực tiếp chắp bút cho loạt bài này. Chúng tôi cũng trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo và cán bộ, chiến sỹ Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đã giúp đỡ để hoàn thành loạt tư liệu này. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Nhưng bất ngờ cuối tháng 6/1940 đường giao thông Côn Minh- Lào Cai bị tắc nghẽn nên kế hoạch không thực hiện được. Bác chỉ thị cho đồng chí Hoàng Văn Lộc phải trở lại ngay Côn Minh.

Ngày 5/1/1941, đồng chí Hoàng Văn Thụ, Thường vụ Trung ương Đảng từ Việt Nam sang Tân Khư (Tĩnh Tây- Quảng Tây- Trung Quốc) gặp Bác để báo cáo kết quả thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng về xây dựng và củng cố an toàn khu Cao Bằng và việc tổ chức thành lập Ban Công tác đội cũng như phong trào cách mạng ở đây.

Sau khi báo cáo kết quả việc chuẩn bị Hội nghị Trung ương lần thứ 8, đồng chí Hoàng Văn Thụ nêu nguyện vọng của Trung ương Đảng, đề nghị Bác về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đồng chí cũng đề nghị Bác về qua ngả Cao Bằng, vì trình độ giác ngộ cách mạng của nhân dân dọc biên giới tương đối cao và cán bộ ở đây vững vàng.

Ngày 6/1/1941, Bác Hồ cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên, Đặng Văn Cáp… được đồng chí Hoàng Sâm dẫn đi qua Nậm Bo xuống Nậm Quang (Tĩnh Tây- Trung Quốc) để chuẩn bị lập kế hoạch cụ thể cho việc về nước. Tại đây, Bác Hồ đang mở lớp học và trực tiếp huấn luyện chính trị cho 43 đồng chí trong Ban công tác đội do Trung ương cử sang. Thời gian lớp học kéo dài khoảng 20 ngày, kết thúc vào dịp gần Tết Âm lịch năm 1941 (Tân Tỵ).

Bức họa bảo vệ Bác về đến cột mốc 108, ngày 28/1/1941 tại Pác Bó (Cao Bằng).

Sau khi kết thúc lớp học, Bác mới chỉ đạo kế hoạch về nước. Người quyết định qua cột mốc 108 về Pác Bó (Cao Bằng). Đoàn về nước được chia làm 3 nhóm. Nhóm thứ nhất do đồng chí Hoàng Sâm phụ trách về nước bằng đường Xuyên Sơn tới Pác Bó.

Nhóm thứ hai do đồng chí Phùng Chí Kiên phụ trách đi qua cột mốc 108, rồi theo đường 203 về Pác Bó. Hai nhóm này về trước nắm tình hình hoạt động của địch, và tổ chức khảo sát đường đi để Bác về nước. Ngay khi hai nhóm đầu lên đường về nước thì nhóm thứ ba, trực tiếp bảo vệ Bác cũng đi về bản Nậm Tẩy (Quảng Tây-Trung Quốc) để chờ tin trong nước, sẵn sàng xuất phát khi điều kiện thuận lợi. Khi về nước, hành lý mà Bác mang theo hầu như chẳng có gì. Chỉ có một chiếc vali nhỏ quần áo cũ và một chiếc máy chữ xách tay hiệu “Ba Bi”. Chiếc máy chữ này là vật dụng cá nhân quý giá mà Bác luôn mang theo bên mình.

Sau một thời gian nắm tình hình, thời cơ đến, Bác Hồ quyết định lên đường về nước. Nhóm bảo vệ trực tiếp và đi theo Bác Hồ lúc này ngoài đồng chí Phùng Thế Tài, còn có những người sau: Hoàng Văn Lộc- một cán bộ người dân tộc Tày, có  kinh nghiệm hoạt động bí mật ở vùng Cao Bằng; Đặng Văn Cáp  là thanh niên rất khoẻ, giỏi võ, bắn súng cũng rất giỏi và biết chữa bệnh bằng thuốc nam; Thế An cũng là một người dân tộc Tày, rất thông thạo đường rừng, đặc biệt là những đường đi tắt; Lê Quảng Ba cũng là một cán bộ người dân tộc Tày, rất am hiểu phong tục của đồng bào dân tộc ít người, thông thạo tiếng  Dao, Mán, Nựng và tiếng Quan Hoả (Trung Quốc). Nhóm trực tiếp bảo vệ Bác Hồ do đồng chí Lê Quảng Ba phụ trách, tuy nhiên Bác Hồ chỉ đạo trực tiếp.

Cái Tết quê hương đầu tiên sau 30 năm xa Tổ quốc

Bác Hồ đã thống nhất kế hoạch hóa trang và phân công nhiệm vụ cho từng người. Về hóa trang, Bác phân tích: Vùng này có nhiều người dân tộc Nùng. Họ có phong tục, cứ đến Tết là các chàng rể (già cũng như trẻ) đều phải mang đồ lễ về “cúng ma” ở nhà bố mẹ vợ. Vì vậy, cả nhóm ăn mặc như những chàng rể người Nùng đang trên đường về nhà bố mẹ vợ. Bác Hồ cũng mặc một bộ quần áo đặc trưng của đàn ông Nùng thường mặc trong dịp Tết: quần áo chàm, đầu đội mũ kiểu bê-rê cũng may bằng vải màu chàm, chân đi đôi giày vải đen, quàng khăn để vừa ấm vừa che kín bộ râu.

Khu vực Bác làm việc trước đây.

Sáng sớm 28/1/1941, tức ngày mồng 2 Tết (Tân Tỵ), nhận được tin từ trong nước báo sang tình hình thuận lợi, cả đoàn xuất phát từ bản Nậm Quang từ rất sớm. Sau 8 giờ đi đường, khoảng 12h trưa thì cả đoàn đến dãy núi Phia Sum Khảo, nơi có cột mốc biên giới số 108 trên biên giới Việt – Trung, thuộc xã Trường Hà, châu Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.

Cùng lúc đó, nhóm được cử nhiệm vụ đi đón Bác do đồng chí Hoàng Sâm từ trong nước cũng có mặt tại cột mốc 108. Tất cả đều xúc động khi thấy Bác đứng lặng đi bên cột mốc số 108, ngắm nhìn núi rừng trùng điệp của tỉnh Cao Bằng- mảnh đất địa đầu của Tổ quốc. Sau 30 năm xa Tổ quốc, bôn ba đi tìm đường cứu nước, đúng vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã trở về đất nước. Người cúi xuống cầm nắm đất lên hôn. Sau đó Bác vui vẻ bắt tay chúc Tết mọi người.

Rời cột mốc 108, cả đoàn theo con đường mòn xuống thung lũng Pắc Bó. Tại đây đoàn công tác bảo vệ bố trí Bác ở gia đình nhà ông Máy Lỳ, dân tộc Nùng, một cơ sở cách mạng tin cậy.  Gia đình ông Máy Lỳ chỉ có hai vợ chồng và một người con gái. Đây là địa điểm thường được Trung ương Đảng chọn làm nơi hội họp và trạm dừng chân cho cán bộ đi công tác qua lại. Gia đình ông Máy Lỳ rất nghèo nhưng lại có tinh thần yêu nước nồng nàn. Căn nhà của ông nằm độc lập ở dưới một quả đồi nhưng thoáng đãng. Từ sân nhà nhìn ra có thể thấy toàn cảnh thung lũng ở phía trước. Sau nhà là một con suối, kế đến là một khu rừng rậm rất tiện cho yêu cầu bảo vệ khi có tình huống bất trắc có thể xảy ra.

Gia đình ông Máy Lỳ hầu như đã quen mặt biết tên hết các cán bộ trong đoàn nhưng không biết Bác là ai. Khi đến nhà ông Máy Lỳ, Bác mặc áo chàm, đi dép rơm, tay cầm gậy. Mọi người gọi Bác là ông Ké và giới thiệu là cán bộ dưới xuôi lên. Ông Máy Lỳ gọi con gái mang ra một thau nước nóng, mời ông Ké rửa trước.

 Nghỉ ngơi một lát, ông Máy Lỳ lại sai con gái bưng một mâm cỗ Tết ra mời ông Ké và đoàn cán bộ dùng. Bên mâm cỗ Tết, mọi người trò chuyện râm ran, riêng Bác cứ lặng yên, nét mặt rất xúc động. Ông Máy Lỳ nâng bát rượu mời Bác và anh em cán bộ cùng đi. Bác chúc sức khoẻ ông Máy Lỳ. Ông Máy Lỳ rất vui, gọi vợ và con gái ra tiếp khách để tỏ lòng mến khách.

Đến ngày 8/2/1941, đoàn cán bộ bảo vệ tiếp tục đưa Bác vào ở và làm việc trong hang Cốc Bó.

(Còn nữa)

Nguyễn Đức Quý

giadinh.net.vn

Ðền thờ Bác Hồ ở Pác Bó

Ðền thờ Bác Hồ ở Pác Bó

Có một ngôi đền thờ Bác Hồ mới được khánh thành ngày 19-5-2011, theo tôi, cũng là một ngôi đền thờ Bác Hồ hết sức độc đáo. Ðó là đền thờ Bác Hồ ở Pác Bó, Cao Bằng.

Lịch sử đã ghi lại, vào buổi sáng ngày 28-1-1941, từ Trung Quốc, Bác Hồ đã bí mật về nước. Ðiểm dừng chân đầu tiên của Người là cột mốc 108, sau tròn 30 năm bôn ba nơi xứ lạ quê người tìm đường cứu nước. Và hang Cốc Bó, một hang đá lạnh lẽo cách rất gần cột mốc 108 đã được chọn làm nơi tá túc, một “đại bản doanh” của cách mạng với một người duy nhất vừa “Tổng chỉ huy” vừa “lính” là Bác Hồ.

Bác Hồ đã ở trong hang Cốc Bó khoảng hai tháng. Tháng Giêng tháng Hai, khí hậu ở Cao Bằng rất lạnh, hang Cốc Bó dĩ nhiên còn lạnh lẽo hơn bội phần. Năm 1979, hang Cốc Bó đã bị quân xâm lược dùng chất nổ phá toang miệng hang, nhưng lòng hang vẫn còn nguyên vẹn. Người viết bài này đã từng đứng trên miệng hang, vào năm 2003, để nghe và nhìn những giọt nước lạnh rỏ tí tách từ các thạch nhũ xuống lòng hang, nơi Bác Hồ của chúng ta đã nằm ngủ trong những đêm rét mướt. Năm 2011, khi trở lại thăm hang Cốc Bó, thì đường lên miệng hang đã bị chặn lại vì một lý do “nhạy cảm” nào đó, nên khách du lịch không có cảm giác thật sự về cái lạnh trong lòng hang khi được nghe và nhìn những giọt nước lạnh từ trần hang rỏ xuống.

Những sự nghiệp lớn thường bắt đầu từ hành trình gian khổ. Vinh dự cho Pác Bó (tiếng Tày có nghĩa là “Miệng Nguồn”), khi địa danh này được coi là một “cột mốc khởi đầu” cho cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945. Thử nghĩ xem, nếu vào một ngày đầu năm 1941, Bác Hồ không về nước và ở hang Cốc Bó (tiếng Tày có nghĩa là “Hang Nguồn”), thì công cuộc vận động cách mạng chống thực dân Pháp sẽ như thế nào? Tình cờ chăng, khi một địa danh có lẽ khá vô danh như hang Cốc Bó lại trở thành một điểm sáng của lịch sử Việt Nam hiện đại? Nhưng với những ai đã từng đến thăm hang Cốc Bó, họ đều có chung nhận xét, đây không hề là chuyện tình cờ. Hình suối và thế núi ở Pác Bó có một vẻ gì thật đặc biệt, nó vừa khuất vừa mở, vừa kín vừa thông, dễ tiến dễ thoái, và một người có tầm nhìn xa rộng như Bác Hồ khi chọn địa danh này cho công cuộc dựng cờ khởi nghiệp, thì đó là sự lựa chọn sáng suốt và thực tế của một nhà quân sự và một nhà chính trị.

Trên đường vào trung tâm khu di tích Pác Bó, du khách đi sát qua một ngọn đồi có tên “Pò Tếng Chấy”, ngọn đồi có suối Lê-nin bao bọc ba bề, đứng trên ngọn đồi này nhìn về phía nam, tầm mắt chợt mở ra bát ngát.

Tỉnh Cao Bằng đã chọn đỉnh ngọn đồi ấy, ngọn đồi có tên là “Pò Tếng Chấy”, để làm nơi xây dựng đền thờ Bác Hồ. Chữ “Pò” ở đây có nghĩa là “đồi” là “ngọn đồi”, còn “Tếng Chấy” là gì thì tôi đã hỏi một số người dân địa phương, nhưng không ai biết nghĩa. Thôi thì cứ tạm gọi là đồi “Tếng Chấy” vậy. Bây giờ Bác Hồ đã hiển thánh, thì sự hiển thánh của Người cũng vô cùng giản dị, như chính đời sống của Người. Vì thế, đền thờ Bác Hồ được xây trên đỉnh ngọn đồi mang cái tên mộc mạc “Pò Tếng Chấy” cũng thật thú vị, nó đúng như phong cách sống của Bác lúc sinh thời.

Ðược thiết kế cách điệu từ hình dáng một ngôi nhà sàn của đồng bào dân tộc ở Pác Bó, đền thờ Bác Hồ không khiến người đến viếng phải choáng ngợp vì sự đồ sộ hay hình thức tân kỳ, mà có cảm giác ấm áp như đang đến với một ngôi nhà sàn bình dị bên trong có ngọn lửa bếp cháy rực suốt ngày đêm.

Không lặp lại mẫu kiến trúc ở các công trình tương tự trong cả nước, đền thờ Bác Hồ ở Pác Bó thanh thoát trong hình thể và uy nghi như một nơi tụ khí, vừa ung dung như một đài quan sát cho ta mở tầm mắt, lại vừa thân thiện gần gũi trước cảnh quan sông núi và cánh đồng lúa gieo của đồng bào dân tộc Nùng dưới chân đồi. Xây dựng và hoàn thành chỉ trong vòng một năm, từ 19-5-2010 đến 19-5-2011, đền thờ Bác Hồ ở Pác Bó vẫn kịp tỏa lên vẻ thiêng liêng và bình dị, cứ như ngôi đền đã tọa lạc trên ngọn đồi “Pò Tếng Chấy” này từ lâu lắm.

Quay về hướng nam, đền thờ Bác Hồ như gợi nhớ tấm lòng yêu thương vô hạn của Người đối với đồng bào miền Nam ngày đất nước còn phải chịu nỗi đau chia cắt. Bây giờ, đất nước đã liền một dải, thì “phương Nam” đây chính là “Nam quốc sơn hà” vậy! Bên trong đền thờ, đặt nơi trang trọng nhất ở gian chính điện là một bức tượng toàn thân Bác Hồ với dáng ngồi thanh thản. Trên cao nhất là bức hoành phi khắc bốn chữ “Hồng nhật cao minh” được mạ vàng trang trọng. Bên tả bức tượng khắc bài thơ bốn câu của Bác Hồ: “Non xa xa, nước xa xa/ Nào phải thênh thang mới gọi là/ Ðây suối Lênin, kia núi Mác/ Hai tay xây dựng một sơn hà/”. Nhà thơ Trần Hùng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng nói với tôi: “Anh nhìn kỹ xem, bức tượng Bác Hồ này rất có thần phải không? Dường như khí thiêng sông núi ở Pác Bó đã tụ cả vào bức tượng đồng này, khiến tôi mỗi lần chiêm ngắm lại một lần ngạc nhiên”. Ðúng là bức tượng Bác Hồ ở đền thờ này kỳ lạ thật, khiến ta có cảm giác an tĩnh khi chiêm ngắm, nhưng lại dấy lên trong ta một nỗi bồi hồi nào đó, vừa theo cách một tác phẩm nghệ thuật tác động tới người xem, vừa mang vẻ thiêng liêng thu hút ta như một bức tượng thánh.

Anh Trần Hùng kể, thời gian xây dựng đền thờ Bác Hồ, lúc đó anh đang là Giám đốc Sở VH, TT&DL, anh đã được lãnh đạo tỉnh cử lên hiện trường với công nhân suốt hai tháng cuối cùng, khi công trình sắp “về đích”. Ðó là thời gian cường độ lao động ở công trình là cao nhất, kỹ sư và công nhân phải làm cả ba ca. “Ðó là niềm vinh dự, một cơ may đã cho tôi được cùng góp sức nhỏ bé của mình vào công trình này anh ạ!”.

Có một chi tiết khiến tôi cảm động, đó là chiếc bàn nhỏ đặt ở góc đền thờ tiếp nhận những công đức của người đến viếng. Khi tôi và mấy người bạn xin được góp chút lòng thành, thì cô gái người Nùng là nhân viên bảo tàng đã cẩn thận ghi họ tên người cung hiến công đức trên tấm giấy hoa in sẵn rất đẹp và trao cho chúng tôi như một ghi nhận. Và như một món quà kỷ niệm./.

Theo nhandan.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Công trường 5: cơ sở nội dung và giá trị lịch sử

Năm 1956, sau khi hoàn thành nhiệm vụ Chủ nhiệm Hậu cần đoàn XP do Bác Hồ sáng lập tôi về nhận công tác mới tại cơ quan Phủ Chủ tịch cùng với đồng chí Vũ Kỳ, Tạ Quang Chiến… Thời gian đầu được giao phụ trách nhà khách. Năm 1957, tôi được cử vào làm nhiệm vụ trực tiếp giúp việc về sinh hoạt và làm việc của Bác kính yêu.

Đầu năm 1958, tôi được giao theo dõi việc làm ngôi nhà sàn bằng gỗ của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch. Ông Nguyễn Văn Ninh Viện trưởng Viện thiết kế Bộ Kiến Trúc trực tiếp nghe yêu cầu của Bác. Thiết kế xong, anh Ninh trình bản vẽ lên được Bác duyệt và cho thi công. Bác tự chọn khoảnh đất để dựng nhà. Biển gắn tại nhà sàn ông Ninh trực tiếp thiết kế tôi trình lên Bác duyệt và cho gắn lên nhà. Nhà sàn làm xong, Bác chuyển sang ở trong dịp tháng 5-1958. Mọi người đều phấn khởi. Anh em tham gia xây dựng công trình rất xúc động khi được Bác tổ chức buổi gặp gỡ trực tiếp cám ơn, chụp ảnh cùng anh em. Bức ảnh đó hiện lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Năm 1959, tôi được cấp trên giao nhiệm vụ trực tiếp theo dõi, chuẩn bị trang thiết bị, làm đầu mối liên lạc để giúp các đồng chí lãnh đạo Văn phòng PTT và PCT mà trực tiếp là các đồng chí Phan Mỹ, Nguyễn Kim Cương, Vũ Kỳ chỉ đạo điều hành công việc xây dựng Công trường 5 (Sơn Tây) – Tên gọi bí mật của Khu di tích Đá Chông ngày nay. Tên gọi Công trường 5 do ai đặt và tại sao như vậy tôi không rõ. Khi nhận nhiệm vụ và tiếp nhận các tài liệu văn bản tôi đã thấy tên gọi Công trường 5 được ghi trong các văn bản chính thức rồi.

Được tham gia công trình và trên cơ sở các tài liệu gốc của công trình còn lưu giữ trong đó có bản vẽ Bình đồ Công trường 5 do Cục Doanh trại (Tổng cục Hậu Cần – Bộ Quốc phòng) hoàn chỉnh ngày 8-11-1959 gửi VP Chủ tịch nước ngày 11-9-1959 có thể tóm tắt lược những vấn đề chính sau đây:

1. Phạm vi khu vực Công trường 5

Khu A: Được xây dựng trong các chỉ giới cắm mốc từ M1 đến M7gồm 2 dãy nhà nối liền nhau bằng lối đi có mái che (nhà cầu).

Ngôi nhà thứ nhất được thiết kế kiểu nhà sàn ở Hà Nội. Cao 2 tầng
Tầng 1 là nơi tiếp khách, là phòng họp Bộ Chính trị có kê một dãy bàn dài và ghế ngồi. Vì ở núi cao nên khác với nhà sàn ở Hà Nội nhà ở đây có lắp cửa để tránh rắn rết và các loại côn trùng.Cửa lùa làm bằng gỗ có thể có thể tháo rời. Khi cần bệ cửa thành ghế cho khách ngồi.

Tầng 2 chia thành 4 phòng: 3 phòng nghỉ và 1 phòng khách. Phòng nghỉ ở đầu hồi dành riêng cho Bác, hai phòng còn lại dành cho các đồng chí lãnh đạo hoặc tiếp khách và 1 phòng khách. Tổng diện tích xây dựng ngôi nhà này là 318,5m2 trong đó có 191,44m2 sử dụng.

Phía trước bên phải, đầu cầu thang xuống có xây hầm trú ẩn nhỏ bằng đá hộc đủ chỗ cho 3, 4 người sử dụng. Xung quanh nhà có rải sỏi, bó nền bằng gạch lá dừa đỏ. Bậc tam cấp vào nhà và hiên được làm bằng granitô.

Ngôi nhà thứ hai trong khu A là nhà 1 tầng. Được nối liền với nhà 2 tầng và chia thành các phòng chức năng: Thư ký, Bảo vệ tiếp cận, Bếp nấu ăn… Tổng diện tích xây dựng là 124,96 m2 trong đó có 85,2 m2 sử dụng

Khu B: Khu B nằm trên một quả đồi giữa khu nhà A và núi U Rồng theo thế yên ngựa. Khu vực này gồm có 2 nhà:

Ngôi nhà thứ nhất xây 2 tầng chia thành nhiều phòng để các đồng chí Trung ương, các đồng chí lãnh đạo cao cấp làm việc. Nhà xây để liền một lúc có thể đón tiếp và đủ chỗ làm việc cho nhiều người. Ngôi nhà 2 tầng này có diện tích xây dựng 301,65 m2 trong đó có 175 m2 sử dụng. Phía sau nhà có hầm trú ẩn dài cho nhiều người cùng sử dụng được.

Ngôi nhà thứ hai là nhà phục vụ: Bếp ăn, nhà kho… Ngôi nhà này có diện tích xây dựng 141,4 m2 trong đó có 104,25 m2 sử dụng.

Đi tiếp từ khu B sang, lên dốc là địa điểm làm sân bay trực thăng có diện tích 10.000 m2 giữa có sân bê tông phủ đất và trồng cỏ rộng 1600 m2 . Sân bay này được xây theo đồ án thiết kế và có sự giám sát của cán bộ kỹ thuật Cục Không quân

Khu C: Có dãy nhà xây 1 tầng kề hồ và sát phía xóm Đồi, gần đường mòn đi xuống bờ sông. Đây là nhà giành riêng cho cán bộ, chiến sĩ trung đội cảnh vệ Trung đoàn 600 thuộc Công an vũ trang. Diện tích xây dựng khu C là 342,76 m2trong đó có 205 m2 sử dụng.

Cùng với các dãy nhà, sân bay trực thăng… Công trường 5 còn có các công trình phụ trợ thiết yếu như: Nhà kho, nhà tắm, nhà vệ sinh… và nhà máy điện 25KVA, các bể chứa nước cho cả 3 khu vực, trạm lọc nước bảo đảm tiêu chuẩn, bệ rửa xe ôtô, bốt gác, vườn hoa, hòn non bộ….

Đường vào khu vực Công trường 5 có rải nhựa song cỏ mọc lan kín đường chỉ đủ cho một luồng xe vào, ra.

Nối vào khu vực ở Công trường 5 là các đường nội bộ rải đá cấp phối. Ra vào khu vực có đường đi riêng xa các khu nhà ở phía trong, rất kín đáo. Xung quanh khu vực này người dân địa phương vẫn đi lại bình thường, thuận tiện bằng đường mòn ven sông và đường nối các làng với nhau.

Vị trí Công trường 5 nằm giữa một khu rừng tự nhiên có nhiều cây cao bao phủ. ở giữa các ngọn đồi là vùng trũng có một hồ chứa, nước sông Đà có thể lưu dẫn vào hồ tự nhiên. Xung quanh cỏ lác mọc đầy. Các loại gà cỏ, chim, muông thú nhỏ thường lui về đây kiếm ăn tự nhiên.

Để giữ bí mật, khi xây dựng cây trong khu vực không được phép tuỳ tiện chặt phá. Nhiều cây lâu năm cạnh nhà sàn đến nay vẫn còn: Cây gạo, cây vải, long não, cây vải (ngoã), bồ hòn, cà phê… Nhiều cây được trồng thêm sau này như: Bạch Quế của Bộ Lâm nghiệp tặng trồng ở đây vừa thêm bóng mát lại có hương thơm lợi cho môi trường. Cây vú sữa miền Nam trồng trong vườn Bác cũng được chiết vài cành đem trồng trên Công trường 5 và một số nơi khác như: nhà nghỉ Hồ Tây, Khu vườn ươm trong PCT vì sợ nếu Mỹ ném bom trúng vào làm chết cây thì mất giống. Con đường dốc đi bộ từ phía bờ sông lên nhà, Bác nhắc trồng cây dâm bụt. Đến nay một số cây vẫn còn.

2. Quá trình xây dựng

Khu Công trường 5 có quyết định xây dựng từ tháng 6-1959. Sau vài tháng chuẩn bị, tháng 9-1959 bắt đầu khởi công xây dựng. Toàn bộ tài liệu liên quan đến công trình hiện còn lưu giữ đều đóng dấu và bảo quản theo mức độ Mật hoặc Tuyệt mật bởi tầm quan trọng và ý nghĩa chính trị của công trình.

Trước những yêu cầu về chất lượng và thời gian thiết kế, thi công công trình Ban lãnh đạo và Ban chỉ huy công trường đã được thành lập dưới sự chỉ đạo, điều hành của các đồng chí phụ trách Văn phòng Phủ Thủ tướng và Phủ Chủ tịch và đại diện tỉnh Sơn Tây, các lực lượng tham gia công trình.

Ngày 14/10/1959, Cục Doanh trại (Tổng cục Hậu cần) đã ra chỉ thị số 58/XD do Cục trưởng Dương Gia Khương ký đóng dấu Tối mật gửi Thượng khẩn đến Văn phòng Chủ tịch Phủ trong đó ghi rõ:

1/ Phòng thiết kế chịu trách nhiệm thiết kế đồ án theo yêu cầu của sở quan và lập dự toán để sở quan chuẩn bị tài chính và vật liệu cũng như nhân công
Đặc trách đ/c Nguyễn Duy Tuất trưởng ban Hội hoạ theo dõi việc chấp hành các đồ án thiết kế về mặt mỹ thuật cũng như kỹ thuật cho đến khi hoàn thành

2/ Phòng thiết kế phối hợp với Phòng kỹ thuật, ban điện thiết lập đồ án và dự toán thiết bị điện, bàn ghế tủ nước, màn và trang hoàng bên trong và giúp việc hướng dẫn thi công cho đến khi hoàn thành. Đồng chí Huyền có thể đứng trong BCH công trường nếu như được BLĐ chỉ định và chỉ có quan hệ với Cục về mặt kỹ thuật

3/ Tổng đội I chọn 1 đội công trình đảm nhận thi công chính cho việc xây dựng cho đến khi hoàn thành và cố gắng giúp đỡ công trường theo yêu cầu của đồng chí Huyền
4/ Phòng quản lý xây dựng doanh trại biệt phái đ/c Trương Quang Huyền trợ lý kỹ thuật đến làm đội trưởng đội công trình và chịu trách nhiệm hướng dẫn thi công bảo đảm kĩ thuật cho đến khi hoàn thành

Chỉ thị cũng nhấn mạnh: Các phòng, Ban chỉ huy tổng đội và các đ/c có tên có trách nhiệm động viên và làm công tác chính trị thật tốt để hoàn thành nhiệm vụ đúng kỳ hạn, bảo đảm chất lượng…

Theo quyết định của cấp trên UBHC tỉnh Sơn Tây đã cử đ/c Phương Chủ tịch tham gia Ban chỉ đạo và Đ/c Nguyễn Văn Rự Phó CVP UBHC tham gia BCH công trường đồng thời tham gia Đảng uỷ công trường. Tiếp đó cử 1 tổ cán bộ công tác trực tiếp dưới sự lãnh đạo của BCH công trường. Khi đ/c Phương đi học dài hạn TV Tỉnh ủy phân công Đ/c Nguyễn Văn Lễ, Uỷ viên UBHC tỉnh Sơn Tây thay thế. Tỉnh Sơn Tây có nhiệm vụ: Huy động nhân lực; Giải quyết những vấn đề có quan hệ đến tài sản của nhân dân; cung cấp các loại vật liệu có ở địa phương cho Công trường 5 lúc thi công. Văn phòng PTT cung cấp ngân sách và các điều kiện để Hà Tây hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Cục Không quân chịu trách nhiệm trong việc xây dựng đề án sân bay trực thăng: Chọn địa điểm; Làm thiết kế mẫu sân đỗ và chịu trách nhiệm về tiêu chuẩn và quy cách kỹ thuật; Tổ chức kiểm tra các giai đoạn trong quá trình thi công. Nội dung nhiệm vụ đã được ghi rõ trong tài liệu số 164/HC-KQ ngày 8/4/1960 của Cục Không quân do đ/c Cục trưởng Đại tá Đặng Tính ký có đóng dấu Tối mật gửi Văn phòng PCT. Đồng chí Đào Hữu Liêu Chủ nhiệm Hậu cần Cục Không quân được giao nhiệm vụ trực tiếp chăm lo công việc này

Trạm nước và hệ thống bể chứa, máy bơm, bể lọc và đường ống dẫn nước.. do Viện Thiết kế dân dụng thuộc Bộ Kiến trúc chịu trách nhiệm thiết kế và kỹ thuật

Viện Vi trùng học và Viện Vệ sinh (Bộ Y tế) chịu trách nhiệm lấy mẫu và phân tích đối chiếu tiêu chuẩn nước sử dụng trong khu vực.

Nguyên vật liệu xây dựng công trình do Tổng công ty Vật liệu xây dựng (Bộ Nội thương) đảm trách. Người trực tiếp được giao nhiệm vụ này là Đ/c Lưu Trọng Lạc…

Lực lượng xây dựng chủ yếu là bộ đội thuộc tiểu đoàn 2 và đại đội 4 Trung đoàn 259 thuộc Cục Công binh và quân số thuộc trung đoàn 600. Dân công chủ yếu sử dụng người của địa phương ở 3 xã: Thuần Mỹ, Ba trại và Minh Quang…

Các cơ quan, Bộ, Ngành và địa phương đã cùng phối hợp để xây dựng và hoàn thiện khu Công trường 5 theo đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng của một công trình quan trọng và có ý nghĩa chính trị vô cùng to lớn này.

Thời gian thi công khu vực Công trường 5 khoảng 10 tháng nhưng ngôi nhà sàn được xây dựng đầu tiên nên hoàn thành sớm nhất. Khi xây xong, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của anh Vũ Kỳ chúng tôi đã tiến hành việc lắp đặt và sắp xếp các thiết bị, đồ dùng bên trong ngôi nhà. Hầu hết là những thứ có sẵn của PCT đưa lên. Nhiều thứ có từ thời Pháp trong Dinh Toàn Quyền cũ. Bộ bàn ghế dùng họp BCT đưa từ Giao tế sang.

Trang thiết bị lắp đặt sắp xếp trong các phòng nghỉ ở tầng 2 đều giống nhau. Nhà tắm và nhà vệ sinh có lắp các thiết bị dùng chung chứ không chỉ cho riêng mình Bác dùng như nhiều người vẫn nói.

Khi nhà sàn xây xong, đường xung quanh nhà và đường đi từ phía bờ sông lên nhà đều lát sỏi cho thoát nước và mát chứ không phải để tiện cảnh vệ hoặc để Bác massage chân như một vài thông tin trước đây đã công bố trên báo chí. Có một lần khi ở nhà sàn gỗ tại Hà Nội, Bác hỏi tôi (Cù Văn Chước):

– Tại sao các chú lại lát gạch bê tông ? Sao không để sỏi như cũ quanh nhà sàn cho mát?

Tôi báo cáo: Thưa Bác, anh em sợ Bác bị vấp ngã.

Sau đó, không thấy Bác nhắc gì nữa.

Thời gian chúng tôi quản lý Công trường 5, Ban TCQTTW đã cử ông Huấn, ông Ven đến để cùng tham gia bảo quản và chăm sóc. Năm 1962 – 1963 khu Công trường 5 được giao cho Cục quản trị, Ban TCQTTW trực tiếp quản lý và sử dụng. Cử đồng chí Nguyễn Văn Bắc phụ trách nhà máy điện, trạm nước tiếp tục tham gia quản lý công trình. Còn các anh em khác thuộc Văn phòng Phủ Chủ Tịch, Văn phòng Thủ Tướng đều trở lại cơ quan cũ.
Sân bay trực thăng là một trong nhưng hạng mục thi công sau cùng với khu vực phụ trợ như: Bếp ăn, nhà kho ở khu C

3. Giá trị lịch sử Công trường 5

Khu vực Công trường 5 có ý nghĩa lịch sử hết sức đặc biệt: Lúc hoà bình đó là nơi họp Bộ chính trị, nơi làm việc của các lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Nhìn vào mục đích thiết kế khi xây dựng, căn cứ vào thực tế sắp xếp trong khu vực ta thấy đây là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đến làm việc, tổ chức các kỳ họp, tiếp khách Quốc tế,… và khi cần thì đề phòng với tình thế chiến tranh.

Thời gian đang xây dựng, tôi biết đôi lần Bác đến Công trường 5. Một lần, Bác đi cùng KTS Hoàng Linh và Phó Cục trưởng Đặng Kim Giang. Bác lên từ sáng mãi đến chiều mới về. Thấy đá tường và rèm cửa ngôi nhà màu hồng, Bác hỏi đ/c Hoàng Linh:

– Năm nay chú bao nhiêu tuổi ?

Sau khi nghe trả lời Bác nói:

– Chú sao trẻ tính thế ?

Ý Bác là dùng màu hồng để trang trí ngôi nhà này không hợp. Bác còn góp ý sửa lại cầu thang lên tầng 2 thích hợp với việc đón khách.

Hôm đó mảng trần nhà phòng ở của anh Vũ Kỳ bị lở mảng vữa rơi xuống, Bác nhắc anh em phải làm lại cho cẩn thận. Lần nữa lúc làm xong nhà Bác có lên gặp gỡ và nói chuyện với anh em. Giống như lần trước ở nhà sàn Bác cùng đến gặp và cám ơn anh em khi công trình hoàn thành.

Khối ảnh tư liệu của Bảo tàng cũng cho ta biết ngày 23/2/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng đồng chí Nguyễn Lương Bằng lên thăm khu vực đồn điền cà phê cũ ( CT. 5 sau này), cùng đi có anh Vũ Kỳ, bảo vệ có anh Định (Đội trưởng) và anh Uyển nay đã về hưu sống ở Nghệ An. Đón Bác tại đây có đ/c Phương, CT UBHC tỉnh uỷ Sơn Tây và đ/c Nguyễn Văn Rự, Phó chánh VP UBHC tỉnh hiện đã về hưu sống ở thôn Quảng Yên, xã Yên Sơn, Huyện Quốc Oai tỉnh Hà Tây. Hôm đó, Bác và đoàn công tác nghỉ ăn trưa tại đây. Buổi chiều, lúc 14 h Bác nói chuyện với gần 500 cán bộ chủ chốt của tỉnh và thị xã Sơn Tây về Hội nghị các ĐCS và Công nhân các nước XHCN và Tuyên ngôn hoà bình của Hội nghị đại biểu các ĐCS và Công nhân 65 nước họp tại Liên Xô. Báo Nhân Dân ngày 25/2/1958 đưa tin này trên đầu trang nhất.

Khi Công trường 5 đưa vào sử dụng Bác và một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ: Bác Tôn Đức Thắng, đ/c Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Văn Lương, Võ Nguyên Giáp… đã lên CT.5. Có lần đồng chí Phạm Văn Đồng đến ở đây nhiều ngày nghiên cứu tài liệu….

Sinh thời, hai lần Bác Hồ mời khách quốc tế thăm Công trường 5. Tháng 3/1961, Bác đưa Bà Đặng Dĩnh Siêu, phu nhân của Thủ tướng Chu Ân Lai – Khách mời của Đại hội Phụ nữ Việt Nam lên thăm Công trường 5. Cùng đi có Đại sứ Hà Vĩ, đ/c Lương Phong cán bộ SQ và 2 nữ đồng chí một là thư ký, một là phiên dịch.

Bà Đặng Dĩnh Siêu khi đến CT. 5 có mang 1 cây quít loại quả tròn có hạt từ Trung Quốc sang và 1 cây hoa Ngọc lan chuẩn bị từ Hà Nội lên để trồng tại đây. Hôm đó, Bà đã chụp nhiều ảnh sau có gửi lại tặng nên ta mới lưu lại được. Đó là những hình ảnh tư liệu rất hiếm về cuộc tiếp khách quốc tế ở CT. 5 Trong ảnh, Bác mặc chiếc áo khoác ngoài bằng lụa màu đen, vải may áo chính là quà tặng của Bà Đặng Dĩnh Siêu trước đó. Bác rất tinh tế và tình cảm trong ứng xử khi mặc chiếc áo này để tiếp người đã tặng vải cho mình.

Tháng 1/1962, Bác đưa anh hùng phi công vũ trụ Liên Xô G.Titốp lên thăm CT. 5. Tại đó

G.Titốp đã trồng cây hoa vàng làm kỉ niệm.

Khi sân bay xây dựng xong, có 2 lần Bác đi CT.5 bằng máy bay trực thăng. Cả 2 lần đều do phi công Liên Xô lái. Xuất phát từ sân Cột Cờ, khi lên đó bên dưới chỉ cần đốt lửa có khói báo hiệu là máy bay xuống được. Bác lên nhiều lần song tôi chưa thấy Bác ngủ lại đêm trên CT. 5. Bác đi trong ngày tối lại về Hà Nội.

Những năm đầu, cán bộ VPPTT và VPCTP chịu trách nhiệm quản lý công trình. Anh Hồ Văn Nhất (Trường), Lưu Quang Lập (Kiệm), Phan Đăng Lưu, Trần Văn Bắc ở đây chăm lo công việc sẵn sàng đón Bác và các đồng chí lãnh đạo lên làm việc, họp hành, nghỉ ngơi… Lực lượng cảnh vệ thuộc Trung đoàn 600 do anh Tăng Văn Dong và anh Việt Dũng phụ trách.

Bây giờ nghĩ lại thấy Bác và TƯ thật sáng suốt, lo xa. Công trường 5 là nơi họp BCT, nơi làm việc rất yên tĩnh, an toàn… Đặc biệt, đây là một trong những nơi tiếp khách quốc tế với không gian rất đẹp, văn minh thể hiện qua sự tinh tế, lịch thiệp không dễ có được ở một đất nước đang chiến tranh, bị chia cắt.

Hơn thế, với các điều kiện làm việc, sinh hoạt lâu dài và những điều kiện cơ sở để đối phó với chiến tranh phá hoại như: Bí mật địa điểm, xây hầm trú ẩn, sân bay và cơ sở vật chất tạm đủ để đáp ứng yêu cầu phục vụ các cơ quan lãnh đạo cuộc kháng chiến… Trên cơ sở các tiêu chí đó ta thấy Công trường 5 thực sự đã mang trong mình tầm vóc của khu căn cứ để có thể tiến lui an toàn khi cần thiết.

4. Công trường 5: Nơi gìn gìn an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tháng 9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. Đất nước đang bị chia cắt. Miền Bắc phải đối đầu với cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân vô cùng tàn khốc. Điều kiện thời tiết khí hậu vô cùng khó khăn cho công tác gìn giữ bảo vệ an toàn thi hài Bác…

Vấn đề tìm địa điểm bảo vệ an toàn đã trở lên cấp thiết. Chính trong thời điểm đó Công trường 5 được lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Quân đội… chọn làm địa điểm bí mật cho công việc thiêng liêng này.

Lịch sử Công trường 5 từ đó chuyển sang trang mới. Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (Bộ Tư lệnh 969) được thành lập có vinh dự gánh vác trách nhiệm to lớn. Vào những thời khắc quan trọng nhất tập thể cán bộ chiến sĩ đã âm thầm cống hiến trí tuệ, công sức, toàn tâm toàn trí hoàn thành trách nhiệm.

Năm 1975, Tổ quốc thống nhất, Nam Bắc một nhà. Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh khánh thành ngày 29/8/1975, chính thức mở cửa đón đồng bào cả nước và bạn bè quốc tế đến viếng Bác.

Từ đó Công trường 5 trở thành một địa điểm có ý nghĩa lịch sử văn hoá lâu dài. Nơi đây, đánh dấu những mốc quan trọng trong nghiên cứu cuộc đời và sự nghiệp vĩ đại, về tầm vóc tư duy, trí tuệ và sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc sáng suốt chỉ đạo và lựa chọn để xây dựng một nơi làm việc, tiếp khách một cách khoa học, văn minh đồng thời là căn cứ an toàn nhằm bảo vệ cơ quan đầu não lãnh đạo của ta trong cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mỹ xâm lược

Ngày nay, Công trường 5 còn là nơi góp phần nghiên cứu, tuyên truyền về sự nghiệp và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, một nơi sinh hoạt văn hóa – chính trị với các hình thức đa dạng, phong phú thu hút được sự quan tâm chú ý của đồng bào và chiến sỹ trong cả nước.
Là đơn vị trực tiếp quản lý, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị quan trọng mà Đảng, nhân dân và quân đội tin cậy giao phó. Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong gần 40 năm qua thực sự đã góp sức mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam ngày càng giàu mạnh. Đặc biệt nhất là trong việc gìn giữ an toàn, lâu dài, tôn vinh các giá trị vĩnh hằng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã và sẽ mãi mãi là tấm gương soi sáng sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

Chúng ta tự hào là con cháu Bác và nguyện suốt đời giương cao ngọn cờ Bác trao để đi đến thắng lợi cuối cùng

Trên đây là cơ sở nội dung và giá trị lịch sử của Công trường 5 – Khu vực có ý nghĩa và giá trị đặc biệt không gì sánh được. Những trang sử mới của Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng trong giai đoạn tiếp theo, chúng tôi nghĩ đã có nhiều các đồng chí lãnh đạo cơ quan, cán bộ, chiến sĩ đã và đang nghiên cứu sâu sắc hơn chúng tôi vì vậy cho phép chúng tôi xin được dừng tại đây.

Hà Nội, tháng 5/2007

Cù Văn Chước
Nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

50 năm Bác Hồ với Đá Chông Niềm tự hào của Đảng bộ và nhân dân Tỉnh Hà tây

Đ/c Lại Hồng Khánh - Uỷ viên Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Hà Tây tại hội thảo - ảnh Nguyễn Ngọc Hà

Kỷ niệm 117 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, hôm nay tại K9 – Đá Chông, huyện Ba Vì, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức cuộc Hội thảo khoa học với chủ đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với Khu Di tích Đá Chông” nhằm khẳng định giá trị văn hoá lịch sử của Khu Di tích, chúng tôi rất phấn khởi, vui mừng về cuộc Hội thảo này do Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng tổ chức.

Bởi vì địa danh K9 Đá chông, cách đây 50 năm Bác Hồ đã đến thăm và xem xét khu vực núi Đá Chông, để rồi sau đó Đá Chông mang mật danh “Công trường 5”, mật danh “K9” nơi nghỉ và làm việc của Bác Hồ và Trung ương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nơi bảo vệ giữ gìn thi hài Bác những năm 1969 – 1975. Chúng tôi cho rằng cuộc Hội thảo hôm nay còn có thêm một ý nghĩa khác, đó là chúng ta kỷ niệm 50 năm ngày Bác Hồ về thăm và khảo sát khu vực núi Đá Chông trên địa phận xã Minh Quang, huyện Bất Bạt ngày trước. Với những thực tế đó tại cuộc Hội thảo này Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Hà tây chúng tôi phát biểu với nội dung: 50 năm Bác Hồ với Đá Chông niềm tự hào của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hà Tây.

Bác Hồ với Đá Chông là một mảng đề tài nghiên cứu trong toàn bộ chương trình sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn về Bác Hồ với Hà Tây trong công tác lịch sử Đảng của Đảng bộ tỉnh Hà Tây. Sau khi Bác Hồ qua đời, từ năm 1969 Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Hà Tây đã chỉ đạo Ban nghiên cứu lịch sử Đảng sau đó là Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ tiến hành sưu tầm nghiên cứu và biên soạn những tư liệu Bác Hồ ở Hà Tây. Cho đến nay đã 4 lần Tỉnh uỷ chúng tôi cho xuất bản sách Bác Hồ ở vào thời điểm của các năm 1973; 1980; 1990 và năm 2006. Mỗi lần xuất bản sách Bác Hồ, chúng tôi lại hoàn thiện thêm những tư liệu và Bác. Song cả 3 lần xuất bản sách Bác Hồ trước đó Tỉnh uỷ chúng tôi vẫn chưa được phép công bố những sự kiện Bác Hồ ở Đá Chông. Riêng những sự kiện Bác Hồ ở Đá Chông sau khi Bác mất, vào những năm 1969 – 1972, trong những việc sưu tầm, xác minh được một số thời điểm Bác Hồ đến Đá Chông vào các năm 1957, 1958, 1959. Bởi vì các sự kiện này liên quan đến các sự kiện: Cuối năm 1956 Bác Hồ tặng cho Tỉnh uỷ Hà Tây chiếc xe ô tô GAT do Liên Xô sản xuất, vì Hà Tây có thành tích đóng góp xây dựng một số công trình ở “Công trường 5”. Chiếc xe ô tô đó mang biển số BAA – 257. Tỉnh uỷ giao cho đồng chí Xuân Trường Bí thư Tỉnh uỷ sử dụng.

Năm 1999 Trung ương chính thức công bố cho phép tham quan rộng rãi địa danh K9 – Đá Chông. Điều này đã tạo cho Hà Tây có điều kiện hoàn thiện thêm những tư liệu về Bác Hồ với K9 – Đá Chông ở Huyện Ba Vì . Với sự giúp đỡ của Bảo tàng Hồ Chí Minh, của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, năm 2006 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Tây đã cho xuất bản cuốn “Bác Hồ với Hà Tây”. Cuốn sách có 5 mục, trong đó mục II cuốn sách, Tỉnh uỷ Hà Tây công bố 61 lần Bác Hồ về thăm, về ở và làm việc tại Hà Tây. Với địa danh Đá Chông chúng tôi công bố 9 lần Bác Hồ về thăm.

Công bố 9 lần Bác Hồ về Đá Chông, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Hà Tây có những cơ sở của cả một quá trình sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn những cuốn sách về Bác Hồ. Trước hết, chúng tôi dựa vào các tài liệu do Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng trước đây sau đó là Phòng lịch sử Đảng, ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ sưu tầm bổ sung và dựa vào kết quả hai buổi gặp mặt nhân chứng lịch sử về Di tích K9 Đá Chông do Bảo tàng Hồ Chí Minh chủ trì. Bên cạnh đó chúng tôi còn dựa vào kết quả cuộc Hội thảo “Bác Hồ với Ba Vì” do Ban tuyên giáo Huyện uỷ Ba Vì trước đây tổ chức. Riêng hai cuộc gặp mặt nhân chứng lịch sử do Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp với Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức tại Hà Nội ngày 19/4 và ở Đá Chông ngày 1/7/2006 chúng tôi rất chú ý đến ý kiến phát biểu của 2 đồng chí Cù Văn Chước và Nguyễn Văn Mùi. Đặc biệt là ý kiến của đồng chí Nguyễn Văn Mùi, nguyên là lái xe của Phủ Chủ tịch đã từng đưa Bác Hồ lên K9. Ý kiến của đồng chí Mùi là: “Trước khi xây nhà ở trên đó, Bác có đi vài lần” và đồng chí kết luận “Bác lên K9 không quá 10 lần”. Phát biểu của đồng chí Nguyễn Văn Mùi đã phù hợp với kết quả khâu nối giữa 2 nguồn tư liệu: Một phần của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh trước đây và kết quả cuộc gặp mặt các nhân chứng lịch sử do Bảo tàng Hồ Chí Minh tổ chức.

Hà Tây là địa phương được Bác Hồ về thăm, về và làm việc nhiều lần. Đây là niềm tự hào của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hà Tây, trong đó K9 – Đá Chông lại là Khu căn cứ, là nơi bảo vệ và giữ gìn thi hài Bác. Công tác sưu tầm biên soạn lịch sử Đảng của tỉnh Hà Tây được tiến hành từ năm 1963. Việc sưu tầm tư liệu về Bác Hồ, chúng tôi làm thường xuyên từ nhiều năm nay và kết hợp chặt chẽ với Bảo tàng Hồ Chí Minh. Cuốn sách “Bác Hồ với Hà Tây” xuất bản năm 2006, chúng tôi công bố 9 lần Bác Hồ về Đá Chông ở các thời điểm:

– Lần thứ nhất vào mùa hè năm 1957.

– Lần thứ hai vào sáng ngày 23/2/1958.

– Lần thứ ba vào buổi sáng ngày 20/6/1959.

– Lần thứ tư vào sáng mồng 1 Tết Canh Tý năm 1960.

– Lần thứ năm vào tháng 3/1961, Bác đưa Đại sứ Trung Quốc Hà Vỹ lên Đá Chông.

– Lần thứ sáu Bác đưa đoàn Bà Đặng Dĩnh Siêu lên Đá Chông vào ngày 13/3/1961.

– Lần thứ bảy Bác đưa đoàn của Anh hùng phi công vũ trụ Giéc man Ti Tốp lên ngày 24/01/1962.

– Lần thứ tám Bác lên Đá Chông ngày 19/5/1963.

– Lần thứ chín là ngày 20/9/1964, Bác cùng một số Uỷ viên Bộ Chính trị và Uỷ viên dự khuyết Bộ Chính trị lên K9 trao đổi về tình hình đất nước sau sự kiện ngày 5/8/1964.
Trong 9 lần đó có 6 lần được giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh kết luận tại cuộc gặp mặt các nhân chứng ở Hà Nội vào ngày 19/4/2006. Ở đây tôi đi sâu vào sự kiện Bác Hồ lên Đá Chông vào các thời điểm 1957; 1958; 1959 và Tết Canh Tý 1960. Bởi lẽ những sự kiện này liên quan mật thiết với việc Bác tặng cho Tỉnh uỷ Hà Tây chiếc xe ô tô GAT vào cuối năm 1965.

Đối với sự kiện Bác Hồ lên Đá Chông vào mùa hè năm 1957 đây là lần đầu tiên Bác Hồ lên Đá Chông. Bác lên Đá Chông lần này là để khảo sát, xem xét địa bàn núi Đá Chông, sau khi có báo cáo của Tỉnh uỷ Sơn Tây, lúc đó đồng chí Nguyễn Xuân Trường làm Bí thư Tỉnh uỷ.

Bác lên Đá Chông lần này rất bí mật. Bởi lẽ ai cũng biết: Tháng 8/1956 đất nước ta không có Tổng tuyển cử để thống nhất Tổ quốc, sự nghiệp đấu tranh giải phóng Miền Nam và cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược sẽ rất gay go, ác liệt. Cuối năm 1956 Trung ương đã giao cho Sơn Tây tìm một địa điểm “Có núi, có sông, có rừng cây che phủ, gần đồng bào” với lý do để xây dựng nhà nghỉ. Thường trực Tỉnh uỷ Sơn Tây đã giao việc này cho Ty Công an và đồng chí Việt Tiến là Phó Ty Công an Sơn Tây thực hiện. Đồng chí tìm mãi và cuối cùng quyết định chọn địa điểm Đá Chông, sau đó trao đổi với đồng chí Tùng rồi mới Báo cáo với Bác, chính vì vậy mùa hè năm 1957 cách đây 50 năm Bác Hồ đã lên khảo sát, xem xét khu vực núi Đá Chông. Khi Bác lên đồng chí Việt Tiến ở phía xóm Bu đi ra và chờ Bác, Bác hỏi:

Chú làm gì ở đây?

Đồng chí Việt Tiến trả lời: Thưa Bác cháu dạy học

Bác nói: Dạy học sao lại đứng ở đây?

Đồng chí Việt Tiến đáp: Thưa Bác cháu dạy buổi chiều. Nói như vậy chính thực hôm đó Công an Sơn Tây có làm nhiệm vụ bảo vệ.

Bác xem xét địa điểm, phong cảnh và nghỉ trưa ở Đá Chông.
Về sự kiện Bác cùng đồng chí Nguyễn Lương Bằng lên thăm Đá Chông vào sáng 23/2/1958 cũng được Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng trước đây ghi nhớ do khi sưu tầm tài liệu sự kiện chiều ngày 23/2/1958 Bác Hồ về thị xã Sơn Tây thăm và nói chuyện với Hội nghị cán bộ tỉnh đang học tập 2 văn kiện: Tuyên bố của Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và công nhân các nước XHCN và Tuyên ngôn hoà bình của hội nghị đại biểu các Đảng cộng sản và công nhân 65 nước họp ở Matxcơva (11/1957). Chính khi sưu tầm tư liệu Bác về thăm và nói chuyện với Hội nghị cán bộ ở Sơn Tây mà lãnh đạo Ban chúng tôi có biết đến việc đồng chí Nguyễn Lương Bằng và Bác Hồ lên Đá Chông vào buổi sáng.

Sự kiện sáng ngày 20/6/1959, Bác Hồ lên lúc đó các công trình ở đây đang thi công và được mang mật danh “Công trường 5”. Chiều hôm 20/6/1959, Bác về thăm và nói chuyện với hơn 2000 đồng bào huyện Quốc Oai đang làm việc trên công trường đê Ngọc Tảo, huyện Phúc Thọ. Đối với sự kiện này báo tin Sơn Tây số ra 281 ngày 23/6/1959 đã đăng tin và bài nói chuyện của Bác. Khi chúng tôi tìm gặp đồng chí Việt Tiến, đồng chí đã kể lại được các đồng chí cùng đi với Bác nói là rất có thể lúc về Bác sẽ ghé vào thăm đê Ngọc Tảo và ở đây nhân dân đang đắp đê đông lắm. Chỗ nào thấy nhân dân lao động vui Bác thường hay dừng lại thăm hỏi, các anh em nên chuẩn bị trước.

Nhận được tin đó đồng chí Việt Tiến đã báo tin với Tỉnh chuẩn bị micro nếu Bác xuống thăm, quả nhiên buổi chiều ngày 20/6/1959 Bác Hồ vào thăm và nói chuyện với đồng bào Quốc Oai đang đắp đê vừa hết một tiếng đồng hồ. Kết thúc buổi nói chuyện Bác bắt nhịp hát bài “Kết đoàn”. Chính do việc tìm nhân chứng sống kể về sự kiện Bác Hồ thăm đê Ngọc Tảo buổi chiều ngày 20/6/1959 mà lãnh đạo Ban nghiên cứu lịch sử Đảng lúc đó đã biết được buổi sáng Bác về thăm “Công trường 5”.

Về sự kiện ngày mồng một Tết Canh Tý năm 1960, trước hết chúng tôi căn cứ vào cuộc trao đổi của Ban Tuyên giáo Huyện uỷ Ba Vì và cuộc toạ đàm ngày 01/7/2006 do Bảo tàng Hồ Chí Minh và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng tổ chức vào sổ ghi nhật ký của đồng chí Đỗ Viết Nam, nguyên là Tiểu đội trưởng cảnh vệ ở K9. Điều chúng tôi rất lý thú là những ý kiến về Bác lên Đá Chông sáng mồng một Tết Canh Tý năm 1960 trong 2 cuộc toạ đàm của huyện Ba Vì và Bảo tàng Hồ Chí Minh và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng tổ chức lại trùng với ý kiến của đồng chí Nguyễn Xuân Trường cách đây 15 – 16 năm.

Đồng chí Nguyễn Xuân Trường, nguyên là Bí thư Tỉnh uỷ Sơn Tây 1954 – 1960, Bí thư Tỉnh uỷ Hà Đông 1961 – 1965, Bí thư Tỉnh uỷ Hà Tây 1965 – 1976. Một đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ ở cả 2 thời kỳ khi còn là 2 tỉnh Hà Đông và Sơn Tây, khi đã hợp nhất thành tỉnh Hà Tây có vinh dự và đi cùng và chứng kiến nhiều lần khi Bác Hồ về thăm và làm việc ở Hà Tây. Năm 1991 đồng chí Xuân Trường về hưu, hàng tuần thường đi bộ sang Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ đọc các loại tài liệu. Khi ngồi nói chuyện về cuốn sách “Bác Hồ với Hà Sơn Bình” xuất bản năm 1990, đồng chí Xuân Trường có nói đến các sự kiện Bác Hồ ở Đá Chông nhưng do ở K9 Trung ương chưa cho công bố nên trước đây các đồng chí thường trực Tỉnh uỷ chỉ đạo các đồng chí không được nói, không được biên soạn. đồng chí Xuân Trường có nhắc đến sự kiện sáng mồng một Tết Canh Tý năm 1960. Tuy đồng chí không đi cùng với Bác hôm đó nhưng Công an tỉnh có đi bí mật, phần lớn công nhân tham gia xây dựng ở khu quan trọng của “Công trường 5” là người miền Nam nên Bác đã chúc Tết động viên.

Trong việc nghiên cứu Bác Hồ với Hà Tây, từ khi tách tỉnh Hà Sơn Bình, chúng tôi phân thành 4 mảng đề tài:

Mảng thứ nhất là sưu tầm nghiên cứu về các sự kiện của Bác ở Hà Tây trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Về mảng này chúng tôi mở đầu kể từ khi quân đội Pháp nổ súng tấn công Hải Phòng, Lạng Sơn cho đến 3/3/1947, Bác Hồ rời động Hoàng Xá (Quốc Oai) lên chiến khu Việt Bắc.

Mảng thứ 2 là sưu tầm nghiên cứu các sự kiện Bác về Đá Chông kể từ cuối năm 1956 – 1969.

Mảng thứ 3 là sưu tầm nghiên cứu những tư liệu về Bác với Đảng bộ và nhân dân Hà Tây kể từ sau Cách mạng Tháng 8/1945 đến khi Bác qua đời.

Mảng thứ 4 là sưu tầm nghiên cứu các sự kiện Bác Hồ đến thăm các đơn vị Quân đội, Công an đóng trên địa bàn tỉnh.

Tất cả 4 mảng đề tài đó, duy chỉ có mảng sưu tầm nghiên cứu những tư liệu Bác Hồ về Đá Chông là kéo dài nhất, thầm lặng nhất do chúng ta phải chờ đợi vào thời gian Trung ương cho công bố công khai địa danh K9, chính vì vậy những sự kiện Bác Hồ về Đá Chông mà Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Hà Tây công bố trong cuốn sách “Bác Hồ với Hà Tây” xuất bản năm 2006, theo chúng tôi đó là sự tổng hoà giữa việc sưu tầm khai thác tư liệu của ngành lịch sử Đảng tỉnh Hà Tây kể tù năm 1969 với việc gặp gỡ các nhân chứng do Bảo tàng Hồ Chí Minh và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng tổ chức; đồng thời còn là sự kết hợp giữa nhật ký công tác và ảnh tư liệu của những người tham gia công tác ở Đá Chông hoặc từng đến thăm Đá Chông, cũng như có lần đồng chí Vũ Kỳ đến làm việc riêng với Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh Hà Sơn Bình về Bác Hồ lên Đá Chông.

Với những cơ sở như vậy năm 2006 khi tiến hành sưu tầm tư liệu bổ sung và biên soạn cuốn “Bác Hồ với Hà Tây”, chúng tôi đã công bố 9 lần Bác Hồ về Đá Chông trong đó có phần Bác tặng thưởng chiếc ô tô GAT vào cuối năm 1965. Vì vậy tại cuộc Hội thảo này chúng tôi muốn trình bày những cơ sở đó mà trước đây bộ phận nghiên cứu – sưu tầm – biên soạn lịch sử Đảng của Đảng bộ tỉnh đã biết để các đồng chí hiểu thêm về quá trình Tỉnh uỷ Hà Tây chỉ đạo toàn bộ việc sưu tầm – biên soạn các sự kiện Bác Hồ về Hà Tây trong đó có sự kiện Bác đến Đá Chông.

Cuộc hội thảo ngày hôm nay, chúng ta vừa kỷ niệm 117 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, vừa kỷ niệm 50 năm Bác Hồ lên Đá Chông xem xét và khảo sát địa bàn. Những lần Bác Hồ lên Đá Chông cũng như việc Bộ Chính trị , Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định chọn K9 – Đá Chông làm nơi bảo vệ giữ gìn thi hài Bác đã cải tạo cho Đá Chông ngày hôm nay trở thành Khu Di tích lịch sử văn hoá của cả nước, có giá trị to lớn trong việc tuyên truyền truyền thống cách mạng, học tập đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cuộc Hội thảo hôm nay với các bài tham luận đứng ở các góc độ khác nhau, để bàn luận xoay quanh chủ đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với khu Di tích Đá Chông” đã giúp chúng tôi thêm nhiều vấn đề cùng nhau trao đổi sâu hơn những sử liệu về Bác ở Đá Chông, giúp chúng tôi hoàn thiện hơn mảng đề tài “Bác Hồ với Đá Chông” mà chúng tôi đã in trong cuốn “Bác Hồ với Hà Tây” xuất bản cuối năm 2006. Cuộc Hội thảo này đã giúp chúng tôi sưu tầm và xác minh để xuất bản cuốn sách về Bác Hồ trong những năm qua để sau này tiếp tục hoàn thiện ở những lần tái bản sau.

Bài Lại Hồng Khánh
Uỷ viên Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Hà Tây

bqllang.gov.vn

Như người cha hiền…

Tôi nhớ mãi mùa hè năm ấy, cách đây vừa tròn 50 năm, vào một ngày tháng 6 – 1957, Bác Hồ về thăm sư đoàn 325 chúng tôi, lúc ấy đang đóng quân ở Đồng Hới, Quảng Bình. Bốn giờ chiều, tin Bác đến, lòng chúng tôi rạo rực nôn nao một niềm vui khôn tả…

Chiếc xe con màu trắng đưa Bác đến. Hàng ngũ bộ đội nhốn nháo, ai cũng muốn nhoài người ra để được gần Bác hơn, được nhìn Bác rõ hơn. Đến gần bộ đội, Bác xuống xe, giơ mũ vẫy chào. Bác mặc bộ kaki màu sáng quen thuộc, chân đi đôi dép lốp. Tiếng hô “Hồ Chủ tịch muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!” muốn vỡ tung lồng ngực. Bác đáp lại: “Các cháu về đi, tối nay Bác cháu ta họp mặt”.

Chúng tôi giải tán về doanh trại, bồn chồn đứng ngồi không yên, chỉ chờ tiếng còi tập hợp để ra sân gặp Bác. Từ trong nhà, Bác ung dung đi ra, với bộ đồ nâu giản dị, một tay xách chiếc chiếu đơn gấp lại ở giữa, một tay cầm chiếc quạt giấy, thong thả trải chiếc chiếu lên thềm rồi ngồi xuống.

Tất cả chúng tôi, ai ai cũng muốn ngâm một bài thơ, hát một bài để nói lên niềm kính yêu vô hạn đối với Bác.
Cứ sau một tiết mục, Bác lại lấy ra từ một bọc vải một hoặc hai cái kẹo; ai ngâm thơ hay hát thì Bác cho hai cái, ai đọc thơ thì Bác cho một cái… Cứ như thế, Bác cháu quây quần suốt hai tiếng đồng hồ, giữa lãnh tụ và chiến sĩ không còn khoảng cách mà như hòa làm một, khác nào cha với con trong niềm thương yêu dạt dào tình cảm.

Thời gian trôi đi nhanh quá. Bác đứng dậy nhìn đoàn quân, giọng ôn tồn như lời cha hiền dặn con: “Các cháu ngâm thơ và hát rất hay, Bác còn muốn nghe mãi…. Nhưng trời đã khuya, mai các cháu còn phải học tập và công tác, Bác cũng phải làm việc. Trước khi ra về Bác đề nghị một việc: để kỷ niệm ngày Bác cháu mình gặp mặt, mỗi người hứa trồng cho Bác hai cây phi lao. Các cháu có làm được không?”.

“Được ạ! Được ạ! Hồ Chủ tịch muôn năm !”.

Theo lời Bác, kể từ ngày ấy khắp sư đoàn rộ lên một phong trào trồng cây phi lao phủ xanh bờ biển. Mỗi chúng tôi không chỉ trồng hai cây mà thi đua trồng thật nhiều, có chiến sĩ trồng hàng ngàn cây dọc suốt bờ biển Quảng Bình.
Mười tám năm sau…

Năm 1975, ngày thống nhất đất nước, trên đường về Nam, ngang qua Quảng Bình, tôi chú ý quan sát vùng đất mà bộ đội, trong đó có tôi, trồng phi lao ngày trước. Ôi! Không ngờ ngay trên tuyến lửa này, mặc cho bom cày đạn xới, suốt mười mấy năm chống Mỹ, những cây phi lao bé bỏng ngày xưa đã thành rừng dày đặc, xanh um, chạy dài tít tắp.

Ôi! Bác của chúng ta vĩ đại mà gần gũi biết bao! Màu xanh Bác để lại vẫn muôn đời còn đó.

Lê Đức Minh (Cựu chiến binh, Tân Phú, TP.HCM)

bqllang.gov.vn