Tag Archive | Độc lập

Học tập lời dạy của Bác về thi đua ái Quốc

Trong “Lời kêu gọi về thi đua ái quốc” ngày 11 tháng 6 năm 1948, Bác Hồ đã dạy: “Mục đích thi đua ái quốc là gì ? Là“ Diệt giặc đói khổ, Diệt giặc dốt nát, Diệt giặc ngoại xâm”. Để đạt được 3 mục đích trên, phải “ Dựa vào lực lượng của dân, Tinh thần của dân. Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu nghèo, lớn nhỏ, đều cần phải thi đua.

Sau một năm phát động thi đua ái quốc, Bác Hồ đã chỉ ra những khuyết điểm trong công tác thi đua đó là “ còn nhiều nơi nhân dân, mà trước hết là cán bộ, chưa thật hiểu rõ ràng ý nghĩa của phong trào thi đua ái quốc.

Tưởng lầm thi đua là một việc khác với những công việc hàng ngày. Tưởng lầm thi đua chỉ nhất thời. Nhiều nơi đặt những kế hoạch thi đua không sát với hoàn cảnh, không sát với địa phương. Nơi thì đặt kế hoạch to quá, rồi làm không nổi. Nơi thì ban đầu làm quá ồ ạt, đến nỗi ít lâu sau thì đuối sức đi, không tiếp tục thi đua được. Nơi thì mỗi một đoàn thể, mỗi một ngành đều có một kế hoạch riêng mà kế hoạch thì không ăn khớp với nhau, thành thử “ trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”.

Nhân dân thì bù đầu, không đủ sức mà theo cả các kế hoạch và không biết nên theo kế hoạch nào. Nhiều nơi có kinh nghiệm, hoặc kinh nghiệm thành công hoặc kinh nghiệm thất bại, nhưng không biết trao đổi cho nơi khác, để tránh cái dở, học cái hay của nhau. Nơi thì các ban vận động thi đua chỉ biết làm theo chỉ thị cấp trên. Trung ương gửi chỉ thị thế nào, khu cứ nguyên văn gửi xuống tỉnh, tỉnh cứ nguyên văn gửi xuống huyện, huyện cứ nguyên văn gửi xuống xã, chứ không biết điều tra kỹ lưỡng, áp dụng thiết thực”.

Để “Cùng nhau sửa chữa khuyết điểm”, Bác Hồ đã dạy: “công việc hàng ngày chính là thi đua. Từ trước đến giờ ta vẫn ăn, vẫn mặc, vẫn ở. Nay ta thi đua ăn, mặc, ở cho sạch, cho hợp vệ sinh, cho khỏi đau ốm. Xưa nay ta vẫn làm ruộng, nay ta thi đua làm cho đất ruộng tốt hơn, sản xuất nhiều hơn.

Thi đua là phải trường kỳ, là phải giải thích cho mọi người dân hiểu rõ rằng: thi đua ái quốc là lợi ích của mình, lợi ích của gia đình mình và ích lợi cho làng, cho nước, cho dân tộc. Mọi người dân đều hiểu rõ thì tất cả mọi khó khăn đều giải quyết được, tất cả mọi khuyết điểm đều sửa chữa được”
Hiện các cấp, các ngành và các đoàn thể Mặt trận đã và đang có nhiều phong trào thi đua yêu nước, do vậy cần “ Học tập và làm theo” lời dạy của Bác Hồ về thi đua ái Quốc.

Ngọc Bích

ubmttq.hochiminhcity.gov.vn

Con đường Cách mạng Tháng Mười Nga theo tư tưởng Hồ Chí Minh

TCCSĐT – Mặc dù trên quê hương của Cách mạng Tháng Mười đã có nhiều thay đổi, thành quả của cuộc cách mạng này đã bị đánh cắp… Nhưng không thể coi Cách mạng Tháng Mười đã đi vào quá khứ mà phải thấy đi lên chủ nghĩa xã hội vẫn là quy luật tiến hóa của nhân loại mà Cách mạng Tháng Mười là một mốc son chói lọi mở đầu thời đại mới…

Cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh từ Anh trở lại Pháp. Tại đây, Người tiếp nhận những thông tin đầu tiên về Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Từ chỗ chưa biết V.I.Lênin là ai, thậm chí còn không biết nước Nga ở đâu, dần dần Người nhận ra rằng: Trên thế giới đã xảy ra một sự kiện lớn lao chưa từng có: Một dân tộc đã lật đổ bọn áp bức bóc lột mình, tự tổ chức quản lý mọi công việc đất nước, không cần bọn chủ và bọn toàn quyền. Việc đó xảy ra ở nước Nga với những người dũng cảm phi thường và người đứng đầu những người dũng cảm ấy là người dũng cảm nhất: V.I. Lênin. Thế là, Hồ Chí Minh quyết định ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga. Hồ Chí Minh viết: “Lúc bấy giờ tôi ủng hộ Cách mạng Tháng Mười chỉ là theo cảm tính. Tôi chưa biết tầm quan trọng lịch sử của nó. Tôi kính yêu Lênin vì Lênin là một nhà yêu nước vĩ đại đã giải phóng đồng bào mình, trước đó tôi chưa hề đọc một quyển sách nào của Lênin”(1)

Từ đó cho đến cuối đời mình, đề tài Cách mạng Tháng Mười Nga được Hồ Chí Minh trở đi trở lại rất nhiều lần. Trên thực tế, ở Hồ Chí Minh đã hình thành một hệ thống quan điểm sâu sắc, mới mẻ về Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917.

Cách mạng Tháng Mười – Cuộc cách mạng mở đầu thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội

Theo Hồ Chí Minh, nước Nga trước Cách mạng Tháng Mười vừa là nhà tù của các dân tộc, vừa bị một nhóm tài phiệt thế giới nô dịch. Dưới sự thống trị của Nga hoàng, nhân dân là những cái máy bằng thịt, những viên đạn bằng thịt để bọn đế quốc sử dụng xâu xé nhau. Trong xã hội cũ, quần chúng lao động là những người làm ra của cải nhưng bị chìm trong đói khổ và ngu dốt. Đó là số phận khốc hại và lâu dài của đại đa số nhân dân.

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, số phận của những người lao động đã có sự thay đổi căn bản. Hồ Chí Minh viết: “Như ánh mặt trời rạng đông xua tan bóng tối, cuộc Cách mạng Tháng Mười đã chiếu rọi ánh sáng mới vào lịch sử loài người,…mở đầu một kỷ nguyên mới trong lịch sử”(2). Sự kiện giai cấp công nhân Nga dưới sự lãnh đạo của những người Bôn-sê-vích đứng đầu là V.I. Lênin, liên minh chặt chẽ với nông dân và những người lao động lật đổ chính quyền của bọn địa chủ, tư sản bắt tay xây dựng xã hội chủ nghĩa được Hồ Chí Minh coi là: Sự kiện lớn lao nhất trong lịch sử loài người. Hồ Chí Minh viết: Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản từ chỗ là một ước mơ cao đẹp của loài người, sau Cách mạng Tháng Mười vĩ đại đã trở thành hiện thực…

Nhất quán quan điểm về ý nghĩa mở đầu thời đại mới của Cách mạng Tháng Mười, Hồ Chí Minh vạch rõ: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười đã tạo nên một thời đại mới – thời đại thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và sụp đổ của chủ nghĩa tư bản. Người nhấn mạnh: “Cách mạng Tháng Mười mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới”(3).

Trong hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh rất coi trọng công tác tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận. Từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, Người đã đúc rút thành những bài học quý. Hồ Chí Minh viết: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười đã dạy cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới những bài học hết sức quý báu bảo đảm cho sự nghiệp giải phóng triệt để của giai cấp công nhân và cả loài người. Giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam ngày càng thấm nhuần những bài học lớn của Cách mạng Tháng Mười. Những bài học đó là:

Có sự lãnh đạo của một Đảng cách mạng chân chính, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Thực hiện cho được liên minh công nông. Trong cuộc đấu tranh gian khổ chống kẻ thù của giai cấp và dân tộc, cần dùng bạo lực cách mạng, chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy và bảo vệ chính quyền. Để bảo đảm thắng lợi cho cuộc đấu tranh một mất một còn giữa cách mạng và phản cách mạng cần có tinh thần cách mạng triệt để, luôn giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, không sợ gian khổ, hy sinh, kiên quyết đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Cần kết hợp chặt chẽ lòng yêu nước nồng nàn với tinh thần quốc tế chân chính.

Với tinh thần đó, Hồ Chí Minh kết luận: “Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa đến như thế”(4).

Tác động của Cách mạng Tháng Mười đối với phong trào giải phóng dân tộc

Là người viết Bản án chế độ thực dân Pháp và người đi tiên phong trong việc thực thi bản án ấy, Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc vị trí, vai trò của Cách mạng Tháng Mười đối với các dân tộc thuộc địa và phong trào giải phóng dân tộc.

Theo Hồ Chí Minh, trước Cách mạng Tháng Mười, nhân dân các nước thuộc địa là những công cụ biết nói, là “phương tiện vận tải hai chân”, là “những cái bia sống”, tính mạng người thuộc địa không đáng một đồng trinh. Hồ Chí Minh cho rằng nhân dân các nước thuộc địa đang sống trong chế độ nô lệ đương đại. Người viết: “Cho tới tận Cách mạng Tháng Mười, ở các nước thuộc địa, học thuyết xã hội chủ nghĩa đã bị coi là thứ học thuyết chỉ dành riêng cho những người da trắng”(5). Nhưng giấc ngủ hàng thế kỷ của các dân tộc thuộc địa đã bị tiếng sấm Cách mạng Tháng Mười đánh thức. Cách mạng Tháng Mười đã mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại cách mạng giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh chỉ rõ: Thắng lợi của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười có một ý nghĩa hết sức quan trọng đối với số phận của dân tộc phương Đông. Nó thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, chỉ cho họ con đường giải phóng, nêu gương tự do dân tộc thực sự.

Thực tế cho thấy sau Cách mạng Tháng Mười, phong trào giải phóng dân tộc có sự phát triển về chất. Hồ Chí Minh dẫn chứng: “Cuộc Cách mạng Tháng Mười đã thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc, làm cho nó trở thành một làn sóng mãnh liệt trong tất cả các nước phương Đông: Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Dương, Việt Nam. Một số nước như Trung Quốc, Việt Nam, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản theo con đường Cách mạng Tháng Mười đã giành thắng lợi và thiết lập chế độ mới. Cả lý luận Mác – Lênin, kinh nghiệm Cách mạng Tháng Mười và thực tế cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở một số nước đã xác lập và chứng minh một chân lý. Hồ Chí Minh viết: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(6).

Như vậy, Hồ Chí Minh cho rằng tác động của Cách mạng Tháng Mười đến phong trào giải phóng dân tộc được thể hiện trên các mặt chủ yếu:

Cách mạng Tháng Mười nêu cho họ tấm gương. Điều này là cực kỳ quan trọng. Bởi vì đối với các dân tộc phương Đông một tấm gương sống còn có giá trị hơn những bài diễn văn tuyên truyền. Cách mạng Tháng Mười để lại cho họ những bài học kinh nghiệm to lớn, quý báu. Nhà nước Xô-viết – sản phẩm của Cách mạng Tháng Mười ủng hộ giúp đỡ to lớn có hiệu quả về vật chất và tinh thần đối với phong trào giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đánh một đòn mạnh vào kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc, Cách mạng Tháng Mười đã đem đến cho các dân tộc phương Đông một sự giúp đỡ có tính quyết định”(7).

Cần nói thêm là Hồ Chí Minh có những bài viết sâu sắc, cảm động và sự biết ơn, sự kính trọng của các dân tộc thuộc địa đối với V.I. Lênin – linh hồn của Cách mạng Tháng Mười. Bởi vì tên tuổi, sự nghiệp của V.I. Lênin gắn bó chặt chẽ với thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười và Nhà nước Xô-viết. Hồ Chí Minh cho rằng, V.I. Lênin đã đặt tiền đề cho một thời đại mới, thật sự cách mạng trong các nước thuộc địa, trong con mắt cũng như trong cuộc đời đau khổ của các dân tộc thuộc địa, V.I. Lênin là người đã sáng tạo ra cuộc đời mới. Hồ Chí Minh khẳng định: “Khi còn sống, Lênin là người thầy, người cha của các dân tộc bị áp bức. Sau khi mất, Người là ngôi sao chỉ đường tiến tới sự nghiệp giải phóng vĩ đại của nhân loại bị áp bức. Lênin sống mãi trong lòng mọi người dân nô lệ ở các nước thuộc địa”(8).

Con đường Cách mạng Tháng Mười với con đường cách mạng Việt Nam

Hồ Chí Minh có nhiều bài viết luận giải rất khúc chiết, thấu lý đạt tình về tác động của Cách mạng Tháng Mười đến cách mạng Việt Nam và mối quan hệ khăng khít, chặt chẽ, bền vững, lâu dài giữa hai cuộc cách mạng này. Theo Người, trước Cách mạng Tháng Mười nhân dân Việt Nam bị bọn đế quốc thực dân bưng tai, bịt mắt, chưa hiểu gì về chủ nghĩa Mác và cũng chưa nghe nói đến V.I. Lênin.

Từ năm 1917 đến năm 1924, thực dân Pháp giăng một tấm lưới dày đặc xung quanh Việt Nam để ngăn chặn những tin tức về Cách mạng Tháng Mười. Vì vậy, thông tin về cuộc cách mạng này lọt vào Việt Nam một cách ít ỏi, chậm chạp bằng con đường bí mật từ Pháp sang, từ Trung Quốc đến. Những năm ấy người dân nước ta có cách tiếp nhận thông tin về Cách mạng Tháng Mười rất sáng tạo. Khi sách báo và tuyên truyền của chính thực dân Pháp và bọn tay sai nói xấu Cách mạng Tháng Mười, nói xấu chủ nghĩa cộng sản thì nhân dân bí mật bảo nhau: Cách mạng Tháng Mười, chủ nghĩa cộng sản có hại cho đế quốc tức là có lợi cho chúng ta, chủ nghĩa cộng sản, Cách mạng Tháng Mười là kẻ thù của chủ nghĩa thực dân tức là anh em của các dân tộc bị áp bức. Hồ Chí Minh viết: Bàn tay bẩn thỉu của thực dân không che được mặt trời chính nghĩa…

Đối với cách mạng Việt Nam, Cách mạng Tháng Mười là tiếng sấm báo hiệu mùa xuân, là mặt trời chói lọi, là cơm ăn, nước uống. Về sự cần thiết của Cách mạng Tháng Mười đối với nhân dân ta, Hồ Chí Minh viết: “Nhờ Đảng Cộng sản Pháp và Đảng Cộng sản Trung Quốc, những người cách mạng Việt Nam đã được tiếp thu ảnh hưởng đầy sự sống của Cách mạng Tháng Mười và chủ nghĩa Mác – Lênin. Điều đó tựa như người đang khát mà có nước uống, đang đói mà có cơm ăn”(9).

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, những sự kiện có ý nghĩa và mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều chịu tác động của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười. Với Hồ Chí Minh, cách mạng trước hết cần có Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời sau Cách mạng Tháng Mười 13 năm nhưng hai sự kiện này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Kinh nghiệm bản thân của Việt Nam chứng tỏ rằng chính là nhờ Đảng của những người Bôn-sê-vích và của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại mà ở Việt Nam có một đảng mác-xít – lê-nin-nít”(10).

Mười lăm năm sau ngày thành lập, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giành được chính quyền, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, Hồ Chí Minh cho rằng: Đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã kiên quyết đứng lên đấu tranh chống thực dân Pháp và bè lũ tay sai. Năm 1945 đã làm Cách mạng Tháng Tám đánh đổ thực dân giải phóng đất nước, xây dựng chính quyền nhân dân. Hồ Chí Minh khẳng định: Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám chứng tỏ sự đúng đắn của con đường Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại đã vạch ra.

Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười vào thực tế Việt Nam. Những bài học đó không chỉ có ý nghĩa trước mắt mà còn có giá trị lý luận và thực tiễn lâu dài. Người không chỉ căn dặn nhân dân ta mà còn tuyên bố với bạn bè quốc tế rằng: “Kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười là ngôi sao soi đường cho chúng tôi trong sự nghiệp xây dựng một cuộc đời hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam”(11).

Cho đến những năm cuối đời, Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục suy nghĩ về con đường Cách mạng Tháng Mười với lòng trân trọng và biết ơn sâu sắc. Từ câu tục ngữ Việt Nam: Uống nước nhớ nguồn”, năm 1967, Hồ Chí Minh liên tưởng: Càng nhớ lại những ngày tủi nhục mất nước, nhớ lại bước đường cách mạng đầy gian khổ, hy sinh mà cũng đầy thắng lợi vẻ vang, giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam càng thấm thía công ơn của V.I. Lênin và Cách mạng Tháng Mười.

Một quan điểm có ý nghĩa phương pháp luận mang tính chỉ đạo lâu dài đối với Đảng và nhân dân ta được Hồ Chí Minh chỉ ra là: “Đi theo con đường do Lênin vĩ đại vạch ra, con đường của Cách mạng Tháng Mười, nhân dân Việt Nam đã giành được những thắng lợi rất to lớn. Chính vì vậy mà mối tình gắn bó và lòng biết ơn của nhân dân Việt Nam đối với Cách mạng Tháng Mười vẻ vang, đối với Lênin vĩ đại …là vô cùng sâu sắc”(12).

Quan điểm trên đây của Hồ Chí Minh giúp chúng ta nhận thức đúng đắn rằng những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của hơn 25 năm đổi mới có mối liên hệ biện chứng với con đường Cách mạng Tháng Mười.

Sự nghiệp đổi mới diễn ra không chỉ trong thời cơ thuận lợi mà gặp phải nhiều khó khăn, thử thách, trong đó có cả những thử thách hiểm nghèo, trước hết là sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Trong điều kiện đó, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn kiên trì quan điểm của mình về thời đại mới, được mở ra từ Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) chỉ rõ: Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc gay go, phức tạp của nhân dân các nước vì hòa bình độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chủ nghĩa xã hội hiện đứng trước nhiều khó khăn thử thách. Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co. Song loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử. Qua hai mươi năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1991-2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung và phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định tinh thần đó và bổ sung thêm: “Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”(13), con đường do Cách mạng Tháng Mười khai phá.

Ngay từ khi đi vào đổi mới, Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam đã khẳng định dứt khoát rằng đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà là tìm ra những biện pháp, cách thức thực hiện mục tiêu đó nhanh hơn, có hiệu quả hơn. Đó chính là sự kiên định lý tưởng và mục tiêu của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười.

Đặc biệt, nguyên tắc chỉ đạo sự nghiệp đổi mới được Đảng ta luôn quán triệt là: Đổi mới trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội. Chỉ với nguyên tắc ấy, Đảng và nhân dân ta mới từng bước hiện thức hóa con đường mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn – con đường Cách mạng Tháng Mười. Điều cần khẳng định là con đường do Cách mạng Tháng Mười vạch ra nói chung, những bài học kinh nghiệm của nó nói riêng vẫn có trong hành trang của mỗi chúng ta hôm nay.

——————————————-

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 10, tr. 126
(2) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 8, tr. 558-559
(3) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 12, tr. 301
(4))Hồ Chí Minh: Sđd, t. 12, tr .300
(5) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 2, tr. 219
(6) Hồ Chí Minh: Sđd, t.9, tr. 314
(7) Hồ Chí Minh: Sđd, t.8, tr.565

(8) Hồ Chí Minh: Sđd, t.2, tr. 209
(9) Hồ Chí Minh: Sđd, t.8, tr.570-571
(10) Hồ Chí Minh: Sđd, t.8, tr.585
(11) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 8, tr.l 577
(12) Hồ Chí Minh: Sđd, t.12, tr.309
(13)Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 69

Theo Tạp chí Cộng sản
Nguyễn Khánh Bật
PGS, TS, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác ở Pác Bó

Pác Bó là nơi phát nguyên của sông Giàng, một nhánh của con sông Bằng, hợp với sông Hiến rồi chảy sang Long Châu, Trung Quốc. Pác Bó cũng như phần đông các ngọn nguồn khác, nước từ các hang đá chảy ra, nhưng đặc biệt là hang này rất cao, khi mưa mới có nước chảy, còn mùa khô, nước chỉ ngấm qua các khe đá. Ngay ngoài cửa hang là một vực sâu, nước trong xanh nhìn thấu đáy, có từng đàn cá rầm xanh bơi lượn.

Trong hang không tối lắm, nhưng phải ngồi lâu mới nhìn rõ cảnh vật bên trong. Lòng hang không bằng phẳng mà lô nhô những đá. Những ngày mưa, nước rỉ theo khe đá chảy vào hang, lạnh thấu xương, Bác Hồ đã ở đây trong những năm gian khổ.

Sáng nào, Bác cũng dậy sớm tập thể dục. Bác tập rất đều, rất đúng giờ. Cứ trông thấy Bác dậy, không cần xem đồng hồ cũng biết lúc đó là năm giờ. Dụng cụ thể thao của Bác là hai hòn đá to bằng quả trứng vịt, Bác thường nắm nắm để luyện tập gân tay; và hai đôi chày, một đôi vừa, một đôi thật to và nặng để thay quả tạ sắt tập hàng ngày. Bác thường tắm sớm sau giờ tập thể dục để chống lạnh. Ngoài ra, Bác còn tập leo núi. Nói về tài đi bộ, leo núi của Bác thì ít người theo kịp.

Bác tập thể dục xong, tắm, rồi làm việc. Công việc buổi sáng của Bác thường là viết lách, dịch sách hoặc viết báo. Buổi trưa, Bác gặp cán bộ, nghe báo cáo tình hình hoặc bồi dưỡng cho cán bộ về lý luận cách mạng và kinh nghiệm công tác. Buổi chiều, Bác lại tiếp tục công việc buổi sáng. Nhưng dù bận mấy, Bác vẫn dành ra một số thời gian để làm vườn, đi lấy củi hoặc sửa sang chỗ ăn ở. Buổi tối, thường là Bác đọc sách, nói chuyện, giáo dục cho cán bộ, hoặc đi đến với đồng bào, đầu để trần, mặc bộ quần áo chàm giản dị như một ông già địa phương. Mười giờ tối, Bác đi ngủ.

Một ngày làm việc bình thường của Bác là như thế. Lúc nào có công tác gì khác, Bác sắp xếp lại thời gian và thực hiện kế hoạch mới của ngày đó. Có lần Bác đi công tác xa về đúng vào giờ đọc báo hàng ngày, Bác treo mũ, cất gậy và ngồi ngay vào bàn đọc báo. Đồng chí phục vụ mời Bác đi nghỉ, Bác bảo: “Cứ để Bác đọc. Bác đã quen như thế rồi”. Đối với Bác, thời gian rất quý, Bác tranh thủ tường phút để suy nghĩ và giải quyết thêm một số công việc.

Có thể nói, suốt một ngày, suốt cả cuộc đời hoạt động của Bác, trừ lúc ngủ, không một phút nào Bác không làm việc để đem lại lợi ích chung cho cách mạng.

(Trích trong tác phẩm BÁC HỒ KÍNH YÊU, Nhà xuất bản Kim Đồng, năm 1980)

CÂU CHUYỆN CÁI ĐỒNG HỒ-BÀI HỌC VỀ SỰ ĐOÀN KẾT

“Năm 1954, các cán bộ tham gia cải cách ruộng đất đang dự Hội nghị tổng kết ở Hiệp Hòa (Hà Bắc) để rút kinh nghiệm làm tốt đợt mới ở vùng giải phóng, thì có lệnh Trung ương rút bớt một số người đi học lớp tiếp quản Thủ đô. Ai nấy đều háo hức muốn đi. Nhất là những người quê Hà Nội. Bao năm xa nhà, nhớ Thủ Đô, nay được dịp về công tác, anh em bàn tán rất sôi nổi. Nhiều người đề nghị cấp trên chiếu cố nỗi niềm riêng đó và cho được toại nguyện. Tư tưởng cán bộ dự hội nghị có chiều phân tán… Ban lãnh đạo ít nhiều thấy khó xử.

Giữa lúc đó thì Bác Hồ đến thăm Hội nghị. Hôm đó giữa mùa thu, nhưng trời vẫn còn nóng. Bác bước lên diễn đàn, mồ hôi ướt đầm hai bên vai áo nâu của Bác…Khi tiếng vỗ tay đã ngớt, Bác hiền từ nhìn khắp hội trường và nói chuyện về tình hình thời sự. Nói đến nhiệm vụ của toàn Đảng trong lúc này, Bác bỗng rút trong túi áo giơ ra một chiếc đồng hồ quả quýt và hỏi:

– Các chú có trông thấy cái gì đây không ?

Mọi người đồng thanh:

– Cái đồng hồ ạ.

– Thế trên mặt đồng hồ có những chữ gì ?

– Có những chữ số ạ.

– Những cái kim ngắn, kim dài để làm gì ?

– Để chỉ giờ, chỉ phút ạ.

– Cái máy bên trong dùng để làm gì ?

– Để điều khiển cái kim chạy ạ.

Bác mỉm cười, hỏi tiếp:

– Thế trong cái đồng hồ, bộ phận nào là quan trọng ?

Mọi người còn đang suy nghĩ thì Bác lại hỏi:

– Trong cái đồng hồ, bỏ một bộ phận đi có được không ?

– Thưa không được ạ.

Nghe mọi người trả lời, Bác bèn giơ cao chiếc đồng hồ lên và kết luận:

– Các chú ạ, các bộ phận của một chiếc đồng hồ cũng ví như các cơ quan của một Nhà nước, như các nhiệm vụ của cách mạng. Đã là nhiệm vụ của cách mạng thì đều là quan trọng, đều cần phải làm. Các chú thử nghĩ xem: Trong một chiếc đồng hồ mà anh kim đòi làm anh chữ số, anh máy lại đòi ra ngoài làm cái mặt đồng hồ…cứ tranh nhau chỗ đứng như thế thì có còn là cái đồng hồ được không ?

Chỉ trong ít phút ngắn ngủi, câu chuyện chiếc đồng hồ của Bác đã khiến cho ai nấy đều thấm thía, tự đánh tan được những suy nghĩ riêng tư vô lý”.

(Trích trong tác phẩm BÁC HỒ KÍNH YÊU, Nhà xuất bản Kim Đồng, năm 1980)

Qua mẩu chuyện trên, ta có thể rút ra được rất nhiều điều có ý nghĩa:

1. Trong mỗi cơ quan, đơn vị: mỗi cá nhân được phân công một nhiệm vụ và có bổn phận làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao, có như vậy thì mới tạo nên hiệu quả chung của cả tập thể cơ quan, đơn vị. Cần phải hiểu rằng việc phân cấp các chức danh, chức vụ trong cơ quan, đơn vị nhằm phân biệt nhiệm vụ, quyền hạn mà bản thân mỗi cá nhân phải thực hiện khi đảm nhận chức trách đó.

Việc suy bì, tính toán hơn thiệt về quyền lợi, trách nhiệm trong khi thực hiện nhiệm vụ, hoặc hành vi lánh nặng tìm nhẹ, suy nghĩ quan liêu, cục bộ… sẽ dễ dẫn đến sự mất đoàn kết trong nội bộ, từ đó sẽ ảnh hưởng đến kết quả thực hiện nhiệm vụ chung của cả đơn vị. Ngược lại nếu các cá nhân trong một tập thể nhận thức được vai trò, chức trách của mình và cố gắng thực hiện tốt nhiệm vụ được phân công, bất kể là ở vị trí Thủ trưởng hay nhân viên, tất cả đều nhắm tới một mục tiêu chung của đơn vị thì hiệu quả công tác chắc chắn đạt tỷ lệ cao.

2. Trong xã hội: Bằng những đặc điểm riêng của mình mà các ngành, các cấp… khác nhau tạo nên một bức tranh xã hội phong phú. Hãy thử tưởng tượng nếu tất cả mọi người đều đi làm công nhân hết thì lấy đâu ra người nông dân để trồng trọt, chăn nuôi tạo ra lương thực, thực phẩm nuôi sống xã hội, nếu ai cũng muốn làm kỹ sư thì lấy đâu ra thợ để thực hiện những việc thủ công… Những nét riêng đó kết lại với nhau tạo thành một xã hội hoàn chỉnh.

3. Trong công tác Mặt trận: các giai tầng, các ngành, các giới, các dân tộc – tôn giáo trong xã hội đều có đặc điểm riêng. Người làm công tác Mặt trận cũng giống như người thợ sửa đồng hồ, phải biết gắn kết những đặc điểm riêng lại để tạo nên một khối thống nhất thực hiện nhiệm vụ chính trị thông qua các phong trào hành động cách mạng tại đơn vị, địa phương. Có như vậy thì “cái đồng hồ” do Mặt trận làm ra sẽ chạy tốt, phục vụ cho xã hội một cách có hiệu quả nhất.

Theo nguồn: http://www.ubmttq.hochiminhcity.gov.vn
Anh Tú (st)

bqllang.gov.vn

Vị Chủ tịch với người bạn cũ

Đồng chí Nguyễn Ái Quốc (hàng ngồi - bìa trái) và một số đại biểu Đại hội đại biểu lần V Quốc tế cộng sản - Ảnh tư liệu

Lise London là một nữ chiến sĩ cộng sản, đã từng hoạt động chung với Bác Hồ. Trong hồi ký về cuộc đời thăng trầm của mình, bà kể lại những cuộc gặp gỡ đặc biệt với Bác Hồ, câu chuyện cảm động về tình bạn, tình đồng chí thủy chung dẫu cho vật đổi sao dời…

Dưới đây là trích dịch những đoạn bà viết về mối quan hệ của bà với Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.

Nụ cười Nguyễn Ái Quốc

Trong đơn vị ở Pháp của chúng tôi có thêm một thành viên người Việt Nam. Tôi không còn nhớ tên anh lúc anh ở Mátxcơva. Tôi vẫn gọi tên anh khi biết lúc ở Pháp: Nguyễn Ái Quốc. Nhỏ nhắn và mảnh dẻ, đôi mắt sinh động và thông minh, biểu lộ nhã nhặn và tươi cười, bộ mặt anh nhẵn, tóc rậm và đen lánh. Anh tham gia những buổi dã ngoại, những buổi tối của chúng tôi. Những lúc đó, anh gần gũi với Gérard (sau này Gérard là chồng của tác giả). Tôi là con cưng của nhóm và anh tỏ ra thích thú với sự líu lo của tôi. Chúng tôi biết anh ở Pháp đã lâu, rất thông thạo tiếng Pháp. Anh biết Paris hơn chúng tôi rất nhiều và thường kể về những khám phá của anh trong các buổi dạo chơi, đi thăm các di tích lịch sử, những hẻm mà người ta đã thấy viết trong các tiểu thuyết của Balzac, Dumas và Victor Hugo. Mãi lâu sau này, tôi ngạc nhiên khi biết anh gia nhập Đảng Cộng sản Pháp từ năm 1920.

Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Pháp họp ở Fontainebleau. Với tư cách Giám đốc tuần báo Femmes Fran5caises (Phụ nữ Pháp), tôi tham dự buổi chiêu đãi danh dự những người kháng chiến Pháp, do Hồ Chí Minh tổ chức tại khách sạn Crillon. Tôi ngồi đối diện với Chủ tịch Hồ Chí Minh, ở đầu bên kia chiếc bàn rất lớn trang trí hoa hồng. Sau một lúc bỡ ngỡ, nhưng rồi tôi cũng nhận ra người bạn cũ bởi nụ cười dù đã hàng chục năm trôi qua. Tôi mỉm cười và kín đáo chào anh. Lát sau, một thành viên trong đoàn theo anh lại gần tôi và khẽ nói bên tai:

– Đồng chí Chủ tịch mong gặp bà, xin bà vui lòng đi theo tôi.

Một mình tôi ngồi trong phòng khách trải thảm tơ màu vàng. Một lát sau, Hồ Chí Minh bước vào. Anh ôm hôn tôi: “Tôi nhận ra chị ngay tức khắc. Tôi rất sung sướng gặp lại chị sau nhiều năm xa cách. Tôi biết cả chồng chị và chị đều bị tù đày. Tôi muốn nghe nhiều chuyện tỉ mỉ, nhưng tôi còn nhiều khách. Sáng mai chị có thể đến khách sạn ăn điểm tâm với tôi được không? Xin hãy đưa cả Gérard cùng đến”.

Tôi vui vẻ nhận lời, nhưng Gérard không thể đến được vì đang ở Thụy Sĩ chữa bệnh ho lao. Cuộc hẹn vào… lúc 6 giờ sáng.

Ngày hôm sau, đúng giờ đã hẹn, Hồ Chí Minh đón tôi ở phòng ăn và mời tôi ngồi đối diện trước chiếc bàn tròn nhỏ. Chúng tôi thân mật nói chuyện với nhau không ngại nghi thức lễ tân.

Vào tháng 5-1950, cùng với gia đình, chúng tôi sống ở Prague (Tiệp Khắc), từ trước đó hơn một năm, Hồ Chí Minh gửi cho tôi một bức ảnh và những lời thăm hỏi ân cần.

Vào tháng 1-1951, Gérard của tôi bị bắt, sau đó được tha và được khôi phục về hình thức vào tháng 2-1956.

Bất ngờ từ vị Chủ tịch

Vào buổi sáng của tháng 11-1957, Gérard bất ngờ nhận thiệp mời của cá nhân Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thiệp mời ghi rõ kính mời Artur London và Lise Ricol dự một buổi chiêu đãi tại lâu đài Hoàng gia ở Prague. Chúng tôi đến dự và tìm cách hòa vào đám đông khách khứa.

Vài phút sau, một thành viên của phái đoàn Việt Nam lại gần và nói với tôi:

– Đồng chí Chủ tịch của chúng tôi đề nghị ông bà đứng ở chỗ nhất định, mong ông bà chỉ cho tôi được biết. Chủ tịch nhất thiết muốn gặp ông bà.

– Tốt lắm, chúng tôi đứng đây không xê dịch đi đâu nữa…

Sau những bài diễn văn chính thức, Hồ Chí Minh đứng lên cùng với Chủ tịch Tiệp Khắc Zapotocky và Thủ tướng Slôvác Siroky, bắt đầu đi chào từng cá nhân quan khách mời, có Trưởng ban lễ tân đi theo giới thiệu với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đang đi nửa chừng, trông thấy tôi phía bên kia gian phòng rộng lớn, quên cả nghi thức lễ tân, Người lao tới và rảo bước qua khoảng không. Tất cả vội bước theo, không hiểu Người đi đâu.

Khi tới gần tôi, Người giơ hai tay và ôm hôn tôi; rồi quay lại phía Zapotocky và Siroky đang sững sờ ngạc nhiên trong khoảnh khắc, chưa hiểu Hồ Chí Minh làm gì.

Người nói với họ:

– Đây là Lise thân yêu của tôi. Cô ấy không thay đổi gì…

Quay lại phía tôi, Người hỏi:

– Gérard của chúng ta đâu, anh ốm à, sao anh không có mặt ở đây?

– Có chứ, đang đứng sau chúng ta!

Người dang hai tay về phía Gérard. Người thì thầm:

– Anh đã phải chịu đựng đau khổ biết bao!

Tất cả gian phòng ngạc nhiên theo dõi cảnh tượng bất ngờ.

Chủ tịch Zapotocky bảo người Trưởng ban lễ tân:

– Cần phải biểu dương những cuộc tái ngộ hiếm có như thế này. Hãy mang rượu sâmbanh lại đây!

Cầm lấy tay tôi, Hồ Chí Minh nói nhỏ với tôi:

– Tôi rất muốn gặp riêng Gérard và Lise. Chiều nay thì không thể được rồi. Ngày mai tôi đã phải rời Prague đi Varsovie, vậy Gérard và Lise hãy đến dùng điểm tâm với tôi… vào lúc 5g sáng.

Nói xong mấy lời, Người bước theo đoàn tiếp tục công việc chào các quan khách.

Ngày hôm sau, từ sáng sớm chúng tôi đã có mặt tại nơi ở của Hồ Chí Minh. Người ở trong phòng ăn cùng với Phạm Văn Đồng và giới thiệu Phạm Văn Đồng với chúng tôi. Tất cả chúng tôi ngồi quanh chiếc bàn tròn, dự một buổi điểm tâm thịnh soạn.

Với sự đối xử tế nhị thường lệ, Hồ Chí Minh bắt đầu hỏi thăm gia đình, sức khỏe của Gérard.

Phần tôi, tôi kể cho anh nghe gia đình chúng tôi sống như thế nào…

Hồ Chí Minh không đặt câu hỏi để làm ngưng câu chuyện, gương mặt biểu lộ sự đớn đau.

Những dòng nước mắt chảy trên gò má gầy của anh. Chúng tôi xúc động không nói nên lời.

Lise London gốc Tây Ban Nha, tham gia hoạt động ở Đảng Cộng sản Liên Xô, trong cơ quan của Quốc tế cộng sản, ở đó bà đã gặp Artur London, cán bộ của Đảng Cộng sản Tiệp Khắc. Cả hai lần lượt được cử về Tây Ban Nha, chiến đấu trong đội xung kích quốc tế và trở thành vợ chồng.

Cả hai vợ chồng đã tham gia chiến đấu, đã bị bắt đưa đi đày. Bà đã viết hai cuốn hồi ký. Trong cuốn thứ hai có một số đoạn nói về việc bà quen và gặp Hồ Chủ tịch ở Mátxcơva (Nga) năm 1935, ở Paris (Pháp) năm 1946 và ở Tiệp Khắc năm 1957.

Cuốn hồi ký của bà do Nhà xuất bản Seuil, Paris xuất bản tháng 10-1996.

Theo Việt Báo
Trần Giang dịch
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Tấm danh thiếp đầu tiên Bác Hồ gửi cho báo chí

Danh thiếp Bác Hồ gửi cho báo Xung phong.

Có một người tham gia cách mạng từ khi tuổi còn nhỏ đến khi về hưu; người đó, suốt cả cuộc đời lại chỉ làm công tác thiếu nhi. Đó là ông Quản Tập – Nguyên Phó Tổng biên tập báo Thiếu niên Tiền phong.

Năm 1946, Quản Tập, người Đội trưởng đội Hướng Đạo Sinh xuất sắc được cấp trên cử đi dự cuộc gặp mặt Đội Hướng Đạo Sinh Việt Nam do cụ Hoàng Đạo Thúy triệu tập ở Hà Nội tại Đông Dương học xá tức là chỗ trường Đại học Bách khoa Hà Nội bây giờ.

Đội Hướng Đạo Sinh do Quản Tập làm Đoàn trưởng có tên là Hồng Châu (lấy tên vùng quê trong lịch sử gồm nhiều huyện như Ninh Giang, Tứ Kỳ thuộc tỉnh Đông – tức Hải Dương bây giờ). Các đoàn cắm trại làm lều riêng biệt có trang trí cờ hoa rất đẹp. Các đội viên mặc áo nâu, quần xanh, có khăn thắt nút, đội nón, chống gậy tre…

Bỗng từ xa có một đoàn người lớn đến thăm trại. Đi đầu là cụ Hoàng Đạo Thúy, ông Tạ Quang Bửu (Cụ Hoàng Đạo Thúy, ông Tạ Quang Bửu là Hội trưởng, Hội phó Hướng Đạo Sinh Việt Nam). Đi sau là một ông già dáng người tầm thước, trán cao, mắt sáng. Đó là Hồ Chủ tịch. Sau khi thăm trại, Cụ Hồ dừng lại trước mặt Quản Tập. Cụ hỏi:

– Cháu ở đoàn nào?

– Dạ thưa Cụ, cháu ở đoàn Hồng Châu.

Cụ lại hỏi:

– Tại sao lại là Hồng Châu?

– Thưa Cụ, đó là tên lịch sử cũ của vùng quê cháu thuộc tỉnh Đông.

– Thế à, rất hay.

Rồi Cụ nhận xét:

Báo Xung phong của thiếu nhi Ninh Giang, số Tết Mậu Tý 1948

– Trại của các cháu rất đẹp, lều cọc đều rất tốt, các cháu lại còn biết đào hố để bỏ rác thế là rất vệ sinh…

Quản Tập cầm một xâu bánh gai đến gần Cụ Hồ.

– Thưa Cụ, đây là bánh gai, sản phẩm của quê cháu, ngon nhất nước, cháu biếu Cụ.

– Cảm ơn các cháu.

Nói rồi Cụ bước qua hàng rào làm bằng dây thừng. Quản Tập chạy lên phía trước, vừa đi thụt lùi vừa ngắm Cụ. Cụ nói:

– Cháu phải cẩn thận, đi như thế dễ vướng vào dây, ngã đau đó.

– Cháu đi thế để ngắm Cụ được nhiều hơn, khi về cháu vẽ Cụ trên tờ báo tường ạ.

Thấy cử chỉ tinh nghịch ấy, Cụ cũng đứng lại:

– Cám ơn nhà báo tường.

Sở dĩ như thế là vì phong trào làm báo tường trong thiếu niên thời đó rất phát triển.

Báo Xung phong của thiếu nhi Ninh Giang, số Tết Mậu Tý 1948

Sau buổi ấy, Quản Tập về báo cáo cho Huyện bộ Việt Minh, được Huyện bộ Việt Minh khen ngợi và cho đó là một vinh dự cho huyện nhà. Năm 1947, Đội Thiếu niên Ninh Giang hoạt động rất mạnh. Lúc này Ninh Giang đã tiêu thổ kháng chiến, Đội Thiếu niên đi về hàng ngày truyền thông tin lên huyện, tỉnh và ngược lại. Đội Thiếu niên được tổ chức trò chơi tập thể, vui chơi giải trí, tập múa hát những bài ca cách mạng… Đội thành lập tờ báo, lấy tên là Xung phong. Tờ Xung phong được dán ở các chòi thông tin. Hình thức báo cũng giống như những tờ báo tường lúc đó.

Các đội viên có nhiệm vụ viết những thông tin mình biết lên một tờ giấy, viết thành nhiều bản rồi tập hợp dán ở những nơi đông người qua lại. Báo chủ yếu nói lên những điều cấp trên cần truyền đạt xuống người dân, và những tiếng nói của người dân muốn phản ánh cấp trên một cách đơn giản.

Nhà báo Thép Mới và họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm có lần được tiếp xúc với “Ban Biên tập” đã khen ngợi: “Tờ báo rất đẹp. Trên thế giới chưa có tờ báo nào như thế”.

Báo Xung phong của thiếu nhi Ninh Giang, số Tết Mậu Tý 1948

Đến tháng 6-1947, khi Quản Tập được điều về tỉnh công tác, ông tổ chức tờ báo lớn hơn, phạm vi hoạt động rộng lớn hơn. Mới đầu vẫn là tờ báo viết tay, chép thành nhiều bản, phát hành theo đường dây thiếu niên giao thông đi dán ở những nơi công cộng, tập trung đông người. Sau đó, tờ báo bắt đầu in li tô. Huyện đội Việt Minh ngoài việc cung cấp giấy, đá li tô, mực in còn lùng sục để mua đá, có khi phải lên tận Hà Nội để mua giấy Mỹ… Khi in li tô được nhiều bản (100 tờ dán ở các chòi thông tin), tờ dành riêng một số gửi cho Cụ Hồ ở chiến khu Việt Bắc.

Báo gửi cho Cụ Hồ ở Việt Bắc cũng đi theo đường thiếu niên giao thông theo địa chỉ: Kính gửi Cụ Hồ Chủ tịch – Chiến khu Việt Bắc.

Bỗng một hôm, Đội Thiếu niên giao thông đưa về một chiếc phong bì bé xíu, bằng giấy xi măng ở góc có số công văn 15 MCH2.

Kính gửi: Báo Xung phong – Cơ quan của trẻ em yêu nước tỉnh Hải Dương. Trong phong bì là một tấm danh thiếp của Cụ Hồ.

Tấm danh thiếp in hai mặt: Mặt sau có chữ Hồ Chí Minh bằng chữ Hán. Mặt trước ở giữa là chữ Hồ Chí Minh bằng chữ quốc ngữ, toàn bộ là 8 câu thơ lục bát được đánh máy bằng loại rubăng mực tím:

Bác nhận được báo Xung phong
Cảm ơn các cháu có lòng gửi cho
Các cháu nghe Bác dặn dò
Phải biết yêu nước, phải lo học hành
Siêng làm việc, siêng tập tành
Phải giữ kỷ luật là thành cháu ngoan
Bác yêu các cháu muôn vàn
Bác gửi các cháu một ngàn cái hôn.

Thời gian sau, gặp ông Vũ Kỳ, thư ký riêng của Bác Hồ, Quản Tập nói lại chuyện đó.

Ông Vũ Kỳ nói:

– Thế là các cậu quá vinh dự. Không phải ai Bác cũng gửi danh thiếp. Phải là người được Bác yêu quý lắm.

– Thế thật hả anh?

– Chứ sao, cậu có cái may là báo trẻ em. Báo trẻ em duy nhất của cả nước khi ấy.

Đây là danh thiếp đầu tiên Bác Hồ gửi cho báo chí.

Tỉnh ủy Hải Dương cũng coi đó là vinh dự cho cả tỉnh. Vì thế hồi ấy ông Vũ Kiên là Bí thư Tỉnh Đoàn, sau làm Thường vụ Tỉnh ủy Hải Dương, Phó Bí thư Tỉnh ủy Nam Định, nay đã bước sang tuổi 90 (ông là một trí thức, đã học trường Bưởi – trường THPT Chu Văn An bây giờ) cho phát triển tờ báo, chọn phóng viên và mở rộng đề tài của báo, cho đăng cả thơ ca, hướng dẫn thể dục thể thao và các phong trào cách mạng ở địa phương.

Cũng phải nói thêm rằng, tờ báo Xung phong ra đời và phát triển được là nhờ sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy Hải Dương. Đồng chí Vũ Huy Hiệu, Bí thư Tỉnh ủy về sau làm Thống đốc Ngân hàng Việt Nam, năm nay vừa tròn 100 tuổi và đồng chí Phan Điền, Phó Bí thư Tỉnh ủy phụ trách công tác dân vận và tài mậu (sau làm Bí thư Tỉnh ủy Nam Định) đã có công xây dựng, tạo mọi điều kiện cho báo phát triển.

Một trong những người có công với tờ báo Xung phong phải kể đến ông Quốc Tiến (lúc ấy 14 tuổi) người trình bày và viết bài lên đá để in li tô được nhiều bản. Ông Tiến hiện nay đã 78 tuổi, đang ở thành phố Hồ Chí Minh.

Báo Xung phong phát triển nên năm 1948 đã tổ chức Hội nghị Cộng tác viên. Danh thiếp của Bác Hồ được Tỉnh ủy cho giấy in hàng loạt phát cho mỗi thiếu nhi trong tỉnh một tờ.

Cũng năm 1948, Hội những người làm báo Việt Nam tổ chức Đại hội báo chí miền Duyên hải Bắc Bộ – các tỉnh ven biển miền Bắc như Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng, Nam Định, Móng Cái – do ông Hoàng Tùng, Phó Chủ nhiệm Việt Minh Khu 3, ông Nguyễn Tường Phượng, trưởng đoàn báo chí kháng chiến chủ trì. Báo Xung phong cũng được cử đại biểu đi dự Đại hội ngang với các tờ báo khác.

Ngày 15-5-1950, Quản Tập được điều về Ban Huynh trưởng Thiếu nhi Trung ương. Lúc ấy, ông Lưu Hữu Phước, nhạc sĩ giữ chức Trưởng ban Huynh trưởng. Quản Tập được dự lễ kỷ niệm lần thứ 60 sinh nhật Bác Hồ và tổ chức ngày Quốc tế Thiếu nhi đầu tiên của Việt Nam, được Trung ương Đoàn giao việc chuẩn bị xuất bản báo Yêu trẻ. Điều đáng nói là khi lên Trung ương Đoàn (1950), Quản Tập có mang nhiều tờ báo Xung phong đi theo.

Ông Lưu Hữu Phước khi đi dự Liên hoan Thanh niên sinh viên Thế giới ở Béc-lin (CHDC Đức) (VN là hội viên) có mang 10 tờ báo Xung phong trưng bày ở Liên hoan. Các đại biểu dự liên hoan rất thích tờ báo ấy vì họ thấy tờ báo trẻ em mà làm rất đẹp, nội dung rất phong phú được ra đời trong khi đất nước Việt Nam còn non trẻ, kháng chiến bộn bề./.

Theo Tienphong.vn
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Phụ nữ miền Nam và “đồng bạc Cụ Hồ”

Những "đồng bạc Cụ Hồ" được đồng bào Nam Bộ gìn giữ trong suốt những năm đất nước bị chia cắt. Ảnh: Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ.

Sinh thời, với niềm thương nhớ khôn nguôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nghĩ đến đồng bào miền Nam ruột thịt. Người nói: “Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”… Bác Hồ cũng luôn mong muốn được vào thăm nhân dân miền Nam và đã nhiều lần đề nghị Bộ Chính trị ý nguyện thiêng liêng đó.

Nhưng rồi, vì điều kiện sức khỏe, ý nguyện ấy của Người không được thực hiện. Trước lúc đi xa, Người nắm chặt tay đồng chí Nguyễn Văn Linh, Bí thư Trung ương Cục miền Nam ra công tác ở miền Bắc như muốn nói rằng “Miền Nam mãi mãi ở trong trái tim tôi”. Cũng với tấm lòng như vậy, tình cảm nhân dân miền Nam dành cho Bác thật hết sức thiêng liêng. Chỉ riêng “đồng bạc Cụ Hồ” mà thấm đẫm nghĩa nhân, được cất giữ, bao bọc giữa triệu triệu tấm lòng…

Chuyện đổi tiền “đặc biệt”

Trong quá trình đi tìm tư liệu thực hiện công trình “Phụ nữ Long An – Truyền thống và lịch sử”, tôi vô cùng ngạc nhiên, thú vị khi được gặp những nhân chứng vô cùng sống động. Một trong những nhân chứng kể lại nhiều câu chuyện gây ấn tượng mạnh mẽ trong tôi là bà Ðặng Thị Diềm, nguyên Ủy viên Thường vụ, Trưởng ban Dân vận Tỉnh ủy Long An, hiện đang sống ở thị xã Tân An.

Bà Diềm kể: Năm 1943, khi bị Nhật “chia sẻ” quyền kiểm soát Ðông Dương, để đáp ứng nhu cầu vật chất cho quân Nhật, Pháp cho in giấy bạc JDEO 100 đồng mà bà con quen gọi là “giấy xăng đỏ” để nuôi quân Nhật. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, tiền này tập trung vào nội cứ Long An nhiều nhất, vì lúc đó ta chưa in giấy bạc Cụ Hồ, nên phải tạm xài tiền ấy. Quân khu Ðông Thành (Quân khu 7) cắt tiền “giấy xăng đỏ” ra làm hai, đóng dấu Quân khu Ðông Thành cho nhân dân lưu hành trong chiến khu, xem như tiền độc lập của Việt Minh, còn ở nội thành, Pháp in bạc khác, không thừa nhận “giấy xăng đỏ” ấy.

Ðến khi đồng bạc Cụ Hồ ra đời, Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ không thừa nhận, không chịu đổi tiền ấy bằng tiền Cụ Hồ. Dân quân Ðông Thành chết đứng, chết ngồi. Lúc ấy tôi trong Ban Chấp hành Phụ nữ tỉnh Tân An. Chị em phụ nữ quân khu Ðông Thành xuống bàn với chúng tôi, nhờ can thiệp với ngân khố tỉnh và ngân khố Nam Bộ cho đổi bạc “giấy xăng đỏ” ra tiền Cụ Hồ, vì đó là mồ hôi nước mắt của bà con.

Chúng tôi chạy qua Tỉnh ủy bàn. Tỉnh ủy không dám cho đổi vì phải đợi sự thương lượng với Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ. Chúng tôi bèn đi tìm anh Hà Huy Giáp, lúc ấy là Chủ nhiệm Kỳ bộ Việt Minh, cũng không quên gặp anh Bảy Chiếm (Cao Ðăng Chiếm) ở Sở Công an Nam Bộ, lại nhờ anh Ung Văn Khiêm, Ủy viên Nội vụ Nam Bộ. Chúng tôi cắt nghĩa cho ba anh nghe là: Pháp đã giựt của dân. Trước sự bức xúc lưu thông tiền tệ, quân khu 7 đã đóng dấu lên bạc JDEO, thừa nhận đồng “giấy xăng đỏ” như đồng bạc Cụ Hồ, nay Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ không thừa nhận đồng tiền này thì ta thất tín với dân và dân sẽ nói: “Việt Minh cũng như Pháp thôi, cũng hại dân chớ không giúp dân” thì ta nghĩ sao về mặt uy thế chính trị. Chúng tôi khẩn khoản yêu cầu Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ giải quyết thỏa đáng cho dân và báo cáo rõ về Trung ương. Ba anh suy nghĩ lâu lắm, cùng chúng tôi kéo qua Sở Tài chính Nam Bộ. Trước vấn đề trọng đại này, ông Kha Vạn Cân lúc ấy đang nắm giữ Sở Tài chính Nam Bộ cũng không dám tự quyết định, mà phải điện hỏi ý kiến của Xứ ủy Nam Bộ

Chúng tôi cùng chờ ý kiến Xứ ủy. Tới chiều, Xứ ủy liên hệ với Quân khu 7 và Tân An quyết định cho Tân An xuất ngân khố, đổi liền số bạc mà Quân khu Ðông Thành đã đóng dấu lên tờ giấy JDEO cắt làm hai là 50 đồng, còn bạc nguyên, bạc mới không đổi vì sợ giặc lợi dụng sơ hở của ta, luồn tiền vào phá hoại ngân khố cách mạng. Các cơ quan của Tân An hợp tác với Sở Công an Nam Bộ kiểm tra, lập biên bản kiểm kê toàn bộ “giấy xăng đỏ” ở Quân khu Ðông Thành, ở Ðồng Tháp Mười. Trên cơ sở đó, Sở Tài chính Nam Bộ cùng kho bạc Tân An mới xuất tiền xuống tận xóm ấp để đổi cho dân. Qua việc đó, nhân dân rất vui mừng, phấn khởi, càng có thêm niềm tin vào Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ.

Giữ lấy giá trị “đồng bạc Cụ Hồ”

Ði đôi với biện pháp vơ vét của cải nhân dân, quân Pháp tăng cường phá hoại kinh tế kháng chiến bằng các thủ đoạn như độc quyền thương mại, hạ giá đồng bạc Ðông Dương, phá hoại và cướp lương thực của nhân dân. Vào năm 1952-1953, địch dùng thủ đoạn tung bạc giả – loại giấy 100 đồng có hình Chủ tịch Hồ Chí Minh, thường được gọi là “đồng bạc Cụ Hồ” vào vùng giải phóng, hoặc phát không cho số người hay ra vào giữa vùng giải phóng và vùng địch, chủ yếu là thương nhân Hoa kiều; thậm chí dùng máy bay rải trong vùng giải phóng của ta, làm đồng bạc của ta mất giá. Trong vai trò sĩ quan phiên dịch của phòng Nhì, cơ quan tình báo của Pháp, chi nhánh Long Xuyên, điệp viên Trần Hiến kể: “Một Hoa kiều bị bắt đưa vào Long Xuyên, đi trên chiếc xe lôi, chở ba bao tải đầy bạc Cụ Hồ giả. Qua hỏi cung, tôi được biết số bạc đó do một thiếu tá Pháp bán, hắn mua lại tại Chợ Lớn chở về nhà số 36 đường Phan Thanh Giản – Long Xuyên để chờ đưa vào vùng kháng chiến… Sau tra hỏi, thấy không khai thác được gì thêm, người Hoa kiều ấy được tha về”. Tên trưởng chi nhánh phòng Nhì ở Long Xuyên tha hắn về vì đó là “chiến hữu”, tay chân của quân Pháp phá hoại nền kinh tế kháng chiến nhưng Ban hành động Cần Thơ đã trừng trị hắn vì tội trạng “phá hoại nền kinh tế”, quyết giữ đúng giá trị “đồng bạc Cụ Hồ” mà nhân dân rất tín nhiệm, tự hào và trân trọng.

Bằng mọi cách cất giữ những đồng tiền in hình Bác

Biết bao nhiêu người mẹ, người chị miền Nam đã đương đầu với nguy hiểm để giữ lấy những gì liên quan đến Bác. Khi Bác Hồ mất, nhiều đền thờ tưởng niệm Bác đã được dựng lên ngay giữa vùng địch chiếm đóng. Trong nội thành, phụ nữ Sài Gòn tổ chức đám giỗ nghi trang để truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Huyện, Giám đốc Viện Dục Anh đã mặc hai chiếc áo dài đen và trắng liên tục trong ba năm để tang Bác Hồ. Trong nhà tù Chí Hòa, nữ tù chính trị đã để tang Bác Hồ trong một tuần lễ, sau đó bị đàn áp khốc liệt, bị đày đi Côn Ðảo…

Bà Phan Thị Mai (Việt Nữ), nguyên Bí thư Ðảng ủy Sở Y tế Nam Bộ đã kể câu chuyện cảm động về một bà mẹ khi bị giam chung với bà trong tù.

Chuyện kể rằng: “Có một bà lúc trước ở vùng giải phóng, bán quán nhỏ bên đường. Khi ta tập kết, bà còn lại một số tiền Cụ Hồ. Có ai mách với giặc, một buổi sáng bà đi chợ, lính ở bót kéo đến phá cửa vào chòi của bà lục lấy số bạc Cụ Hồ mà bà đã trân trọng cất giữ từ lâu. Khi bà về, mọi người đến cho bà hay sự việc và hối bà đi trốn. Bà bỏ đi. Ai cũng tưởng bà đi trốn nên yên tâm, nào ngờ bà đến bót lấy số tiền đó. Ðịch bắt bà bỏ tù. Trong tù, chị em hỏi: “Sao bà không trốn đi, đến bót làm chi cho nó bắt?”. Bà nói: “Bỏ tù thây kệ nó chớ. Thứ đồ ăn cướp, giữa ban ngày đến lấy tiền của người ta”. Ai cũng cười mà rưng rưng nước mắt, vì thấy người dân trong vùng địch trân trọng giữ gìn hình ảnh Bác Hồ, mặc dù biết phải nguy hiểm”.

Những “đồng bạc Cụ Hồ” tuy chỉ được lưu hành mấy năm trong vùng kháng chiến nhưng đó là đồng tiền được lưu giữ trong lòng nhân dân lâu bền nhất. Với tấm lòng kính yêu hướng về Bác, nhiều người mẹ, người chị đã hy sinh, chấp nhận tù đày, bằng mọi cách cất giữ những đồng tiền in hình Bác giữa vùng địch chiếm đóng. Cho đến nay, Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ đã có bộ sưu tập hàng trăm “đồng bạc Cụ Hồ” được tìm thấy từ khắp các tỉnh thành./.

Theo Trầm Hương
Nhân dân cuối tuần
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Gặp ông cụ 7 năm bảo vệ Bác Hồ

Ông Nguyễn Hữu Trực năm nay đã 79 tuổi nhưng ông rất khỏe mạnh và quắc thước

(Dân trí) – Với ông, khoảng thời gian làm nhiệm vụ bảo vệ bên Bác, từng khóm cây, ngọn cỏ, con mương trong Phủ Chủ tịch ông vẫn nhớ, vẫn thuộc như lòng bàn tay. Giờ đây mỗi khi nhớ lại quãng thời gian đó ông vẫn còn bồi hồi xúc động…

Chúng tôi tìm đến thôn Giữa, xã Nghĩa Hưng, huyện Lạng Giang hỏi nhà Đại tá Nguyễn Hữu Trực thì ai cũng biết, đó là một căn nhà nhỏ với vườn cây xanh rợp bóng mát nằm cách cổng làng khoảng chừng 200m.

Khi chúng tôi đến, Đại tá Nguyễn Hữu Trực, từng công tác trong ngành Công an, năm nay đã 79 tuổi, đang phụ cháu vớt bèo ngoài ao cá sau nhà. Tuy đã ở cái tuổi xưa nay hiếm, mái tóc đã bạc trắng nhưng Đại tá Trực vẫn còn minh mẫn, dáng đi nhanh nhẹn. Nhấp ngụm nước chè, ông bồi hồi nhớ lại khoảng thời gian 35 năm hoat động cách mạng của mình với niềm vinh dự, hạnh phúc và may mắn được làm nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ trong suốt 7 năm.

Ông sinh năm 1932 trong một gia đình tại thôn Giữa, xã Nghĩa Hưng, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Tháng 10/1950, ông tham gia lực lượng thanh niên xung phong phục vụ các Chiến dịch Biên Giới, Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám.

Sau đó, ông vào công tác trong ngành Công an từ tháng 2/1955. Sau một thời gian huấn luyện nghiệp vụ, lần đầu tiên ông cùng Đội Cảnh vệ tháp tùng Bác đi thăm viếng nghĩa trang liệt sỹ vào dịp kỷ niệm Quốc khánh lần thứ 10. Ngay sau đó ông được điều về làm cảnh vệ vòng ngoài của Phủ Chủ tịch.

Sau bao nhiêu năm bôn ba, tháng 6/1957, lần đầu tiên Bác trở về thăm lại quê hương Nghệ An. Lần đó ông được tham gia bảo vệ Bác về quê. Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ ba, dưới sự chỉ đạo của đồng chí Vũ Kỳ, ông được trực tiếp bảo vệ và bố trí lịch tiếp khách của Bác trong Phủ Chủ tịch. Cũng vào năm đó ông được kết nạp Đảng.

Dù đã bao nhiêu năm trôi qua, nhưng với ông, khoảng thời gian làm nhiệm vụ bảo vệ bên Bác, từng khóm cây, ngọn cỏ, con mương trong Phủ Chủ tịch ông vẫn nhớ vẫn thuộc như lòng bàn tay. Với ông Trực những lần bảo vệ Bác về quê, đi công tác, thăm nhân dân, bộ đội, các cháu học sinh và thiếu niên nhi đồng vẫn còn vẹn nguyên trong ký ức của ông.

“Sau Đại hội Đảng lần thứ ba, Bác muốn đi thăm bà con nông dân thu hoạch mùa màng. Vì lo có chuyện gì không may xảy ra nên chúng tôi đã bố trí một ruộng đang gặt để Bác xuống thăm. Nhưng Bác nhận ra Bác bảo: Các chú lại bố trí rồi! làm gì có bà con nào đi gặt đều ăn mặc quần áo đen giống nhau thế kia. Bác đã không xuống, Bác bảo cứ cho xe chạy tiếp. Đến khu cánh đồng ở huyện Đan Phượng (tỉnh Hà Tây cũ) Bác bảo dừng xe lại. Biết Bác đến mọi người khắp cánh đồng vui mừng, xúc động vội vàng đến bên Bác khi mà trên tay vẫn còn cầm dao gặt lúa và đòn gánh. Anh em chúng tôi được một phen phát hoảng. Rồi vào ngày 30 Tết năm 1960, Bác muốn đi thăm chợ Đồng Xuân, chúng tôi lên kế hoạch cải trang cho Bác nhưng Bác không đồng ý”.

“Lần đó, Bác mặc áo bông, đội mũ và quàng khăn để che bộ râu đi rồi ra thăm chợ xem cuộc sống của đồng bào chiều 30 Tết như thế nào. Bác đi đến khắp các dãy trong chợ, qua từng cửa hàng nhưng không ai nhận ra Bác. Nhưng khi đi gần hết chợ thì có hai cháu thiếu niên nhận ra Bác. Hai cháu thiếu niên tý nữa thì reo lên “A Bác Hồ”, cũng may là chúng tôi kịp ra hiệu để hai cháu nhỏ không hét lớn lên, ra đến cuối chợ có xe đến đón Bác, khi đó mọi người mới vỡ ra trong tiếc nuối là Bác đến”.

Trong suốt 7 năm phục vụ Bác Hồ, 5 năm ông làm nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài và 2 năm trực tiếp phục vụ Bác Hồ trong Phủ Chủ tịch. Những kỷ niệm đó không bao giờ phai nhạt trong ông.

Ông còn nhớ như in, những ngày tháng phục vụ Bác trong Phủ Chủ tịch. Vào ngày nghỉ nào, Bác cũng tổ chức và xem chiếu phim cùng anh em cảnh vệ và đội ngũ phục vụ. Những năm bảo vệ bên Bác, ông được ăn Tết cùng với Bác một lần và một lần cùng cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Ông Trực xúc động nhớ lại: “Bác sống rất giản dị và tiết kiệm. Đi công tác, Bác không vào luôn trụ sở hay nhà máy mà Bác đi thăm cuộc sống, sinh hoạt của mọi người trước và không bao giờ ăn cơm ở đó. Quà Tết các địa phương gửi biếu Bác, Bác không dùng mà gửi tặng các cụ già, thiếu nhi, thương binh và bộ đội…”.

Ông Trực bồi hồi nhớ lại quãng thời gian phục vụ bên Bác Hồ

Đến năm 1962, ông Trực được cử đi học nghiệp vụ tại Liên Xô. Sau hai năm học tập, ông về làm giảng viên Học viện An ninh. Năm 1976, ông được cử về trường Lào (Trường Đào tạo cán bộ cho nước bạn Lào). Đến năm 1990 thì ông nghỉ hưu với hàm Đại tá.

Trong suốt khoảng thời gian 35 năm phục vụ cách mạng, ông được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, và Huân chương Tự do hạng Nhì của nước bạn Lào.

Vợ chồng Đại tá Nguyễn Hữu Trực có 5 người con, hiện con cái của ông bà đã thành đạt và ra ở riêng. Hàng ngày ông cùng vợ sống trong căn nhà nhỏ nơi thôn Giữa.

Hơn ai hết, những ngày này, ông Trực lại bồi hồi nhớ lại những cảm xúc về khoảng thời gian hạnh phúc, vinh dự được sống và phục vụ bên Bác, được phục vụ Bác và được Bác ân cần dạy bảo những điều hay lẽ phải trong công việc và cuộc sống. Những tình cảm của Bác suốt cuộc đời ông không bao giờ quên…

Theo Nguyễn Khoát – Duy Tuyên
dantri.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông và tình bạn thủy chung Hồ Chí Minh – Loseby

Mùa xuân năm 1930, sau khi triệu tập và chủ trì thành công Hội nghị hợp thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc – Tống Văn Sơ tiếp tục ở lại Hồng Kông, hoạt động cách mạng. Người ở tại ngôi nhà 186 phố Tam Kung, Cửu Long – Hương Cảng, và nơi đó trở thành trụ sở liên lạc bí mật giữa Nguyễn Ái Quốc và một số đồng chí khác.

1. Nguyễn Ái Quốc những năm 1931-1933

Kể từ khi thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp ký tên vào bản Yêu sách của nhân dân An Nam gửi hội nghị Vecxay – Pháp, cho đến khi sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành một nhân vật quan trọng trong kế hoạch lùng bắt của thực dân Pháp. Vì vậy, hoạt động giữa vòng vây của nhiều kẻ thù, kèm theo một án tử hình vắng mặt của toà Đại hình Vinh theo phán quyết số 115 (10-10-1929), cùng lệnh truy nã ráo riết của thực dân Pháp luôn là những khó khăn, là những hiểm nguy cận kề đối với Nguyễn Ái Quốc. Trong khi những bản tin hàng ngày của cảnh sát hình sự Bắc Kỳ luôn cập nhật những thông tin hoạt động và ảnh của Nguyễn Ái Quốc: “Tin tình báo: Đã ở lâu năm tại Mỹ, Anh, Pháp và Nga, hiện nay có lẽ đang ở Viễn Đông, có thể là Đông Dương”([1]), thì dù đã rất cẩn trọng nhưng thật không may, địa chỉ Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông đã vô tình rơi vào tay mật thám Anh (khi cảnh sát Xingapo bắt dược Sécgiơ Lơphơrăng – Serge Lefranc). Cuộc mặc cả giữa mật thám Pháp ở Đông Dương và mật thám Anh ở Hồng Kông, kèm theo những điều kiện có lợi cho cả hai bên đã dẫn đến cuộc vây ráp, bắt lén Nguyễn Ái Quốc – Tống Văn Sơ ở số nhà 186 Tam Kung – Hương Cảng (6-6-1931).

Thực dân Pháp rất mừng trước việc Nguyễn Ái Quốc bị bắt. Toàn quyền Rôbanh (Robin) đã điện từ Hà Nội vào báo tin cho Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp, Bộ Ngoại giao Pháp và Tổng Lãnh sự Pháp tại Hồng Kông về “niềm vui bất ngờ này” và đồng thời mở cuộc vận động chính quyền Hồng Kông giao Nguyễn Ái Quốc cho chính quyền Pháp bằng cách dẫn độ về Đông Dương hoặc giam giữ ở một nơi xa xôi nào đó của Anh trên nguyên tắc “có đi có lại”, chứ tuyệt nhiên không được “trả tự do” cho Người, vì “trả tự do cho con người vô cùng năng động và nguy hiểm này là khả năng cần phải tránh bằng mọi giá”([2]). Không chỉ có vậy, nhấn mạnh việc “trả tự do cho Nguyễn Ái Quốc chỉ có thể làm trầm trọng thêm những hoạt động có hại của phong trào Đông Dương”, chính quyền Pháp còn vận động chính quyền Anh ở Luân Đôn giao Nguyễn Ái Quốc cho chúng, v.v..

Trong khi đó, biết tin Nguyễn Ái Quốc bị bắt, Hồ Tùng Mậu, qua Liên đoàn Quốc tế cứu tế đỏ đã đến gặp luật sư Lôdơbi (Francis Henry Loseby) – một luật sư tiến bộ người Anh ở Hồng Kông nhờ giúp đỡ. Việc bắt lén người trái pháp luật đã bị bại lộ khi báo chí đồng loạt đưa tin sự kiện Nguyễn Ái Quốc bị bắt. Và để hợp pháp hóa việc bắt giữ, Thống đốc Hồng Kông đã phải ra lệnh bắt giam Người nhiều lần và Sở cảnh sát Hồng Kông buộc phải đồng ý để luật sư vào gặp Tống Văn Sơ (24-6-1931).

Luật sư đã tìm cách bào chữa và ngăn cản âm mưu của chính quyền Hồng Kông giao nộp Nguyễn Ái Quốc cho chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương. Gặp gỡ và hỏi chuyện Tống Văn Sơ ở nhà lao, sau khi tiếp xúc và trả lời những câu hỏi liên quan đến vụ án mà luật sư nêu ra, người tù Tống Văn Sơ cảm ơn sự quan tâm của luật sư đối với mình, và tỏ ý băn khoăn vì không có tiền để trả công cho ông. Trước một người thanh niên Việt Nam gầy, xanh, song vẻ cương nghị, sự thông minh trong từng câu nói bằng tiếng Anh và đôi mắt sáng đã làm luật sư xúc động. Luật sư chân tình nói: Tôi nhận giúp vì danh dự chứ không phải vì tiền. Luật sư nói sẽ ra sức cứu giúp, mong người tù hãy tin tưởng và hãy cung cấp cho luật sư những điều gì có thể giúp trong việc bênh vực…Và rằng, biết được mỗi người cách mạng đều có bí mật riêng của họ, nên ông đã không muốn hỏi thêm nhiều nữa…

Thời gian Tống Văn Sơ bị giam giữ cũng đồng thời là khoảng thời gian nước rút của cuộc đua giữa một bên là gia đình luật sư và những người bảo vệ Tống Văn Sơ, một bên khác là sự cấu kết, có điều kiện của mật thám Anh và mật thám Pháp muốn hãm hại Tống Văn Sơ. Dưới sức ép của dư luận và những phương tiện thông tin báo chí như: Báo Nhân Đạo của Đảng Cộng sản Pháp ngày 19-6-1931 đăng bài “Bọn đế quốc câu kết với nhau. Người Anh đã bắt nhà cách mạng An Nam ở Thượng Hải” – thực chất Người bị bắt ở Hồng Kông và khẳng định: “Vụ bắt Nguyễn Ái Quốc không dập tắt được làn sóng cách mạng của nhân dân Đông Dương”. Báo Điện tín Hồng Kông ngày 22-6-1931 thì đưa tin “Một vụ bắt giữ quan trọng ở Hồng Kông. Thành công của Chính phủ Pháp. Nhà lãnh đạo An Nam bị bắt”, còn báo Bưu điện Hoa Nam buổi sáng ngày 20-7-1931 khi đang bài “Vụ án Nguyễn- Người yêu nước” đã đưa ra câu hỏi đặt ra trong Phủ Toàn quyền Đông Dương là” hiện Nguyễn Ái Quốc có bị trục xuất hay không”, v.v.. luật sư Lodơbi đã đưa vụ án Tống Văn Sơ ra xử trước Tòa tối cao.

Lần đầu tiên trong lịch sử thuộc địa, Toà án tối cao phải xét xử một bản án chính trị. Tính chất đặc biệt của vụ án, sự giúp đỡ cùng tài trí của luật sư và người cộng sự, sự thông minh và nhất quán trong từng câu trả lời của Tống Văn Sơ đã buộc toà án phải xét xử một cách công khai. Tống Văn Sơ phải trải qua ba cuộc thẩm vấn của Thư ký Trung Hoa vụ Hồng Kông và 9 phiên toà xét xử tại Hồng Kông (ngày 31-7-1931 là phiên thứ nhất, diễn ra trong không khí căng thẳng, quyết liệt và phiên cuối cùng kết thúc vào ngày 12-9-1931).

Luật sư Gien Kin (F.C. JenKin), người cộng sự thay mặt luật sư Lôdơbi bào chữa trước toà cho Tống Văn Sơ suốt chín phiên đã vạch ra những điểm sai trái, vi phạm luật của chính quyền Hồng Kông. Ngay phiên thứ nhất (31-7-1931), luật sư đã cho rằng: “Những bị can đã bị cảnh sát bắt ngày 6 tháng 6 mà không có lệnh bắt giữ là một việc làm bất hợp pháp”([3]). Ở phiên thứ hai (14-8-1931) thì ông nhấn mạnh: “Chỉ có chính quyền mới là người có quyền trục xuất ngay tức khắc và ban hành bất cứ một lệnh nào. Yêu cầu Tòa đề nghị công tố bảo đảm không thực hiện lệnh trục xuất chừng nào tính pháp lý của lệnh đó chưa được khẳng định”([4]). Cũng tại phiên thứ hai, luật sư cho rằng: lời khai có tuyên thệ của Tống Văn Sơ tố cáo nội dung thẩm vấn của ban Thư ký Trung Hoa vụ do Công tố Alabaxtơ đọc không đúng luật, trong đó nêu rõ ý kiến của nguyên đơn là nếu bị “trục xuất đến Đông Dương, tôi (Tống Văn Sơ) sẽ bị giết, dù có xét xử hay không xét xử”. Phiên tòa thứ ba (15-8-1931) là một cuộc tranh cãi về trục xuất, và phản đối việc giao nộp Tống Văn Sơ cho người Pháp trong đó Tống Văn Sơ nói rằng” Tôi không muốn bị trục xuất. Tôi muốn được tự do tôi muốn được sang Anh quốc”([5]). Tiếp theo, trong phiên thứ tư (20-8-1931), Tòa tuyên bố lệnh trục xuất thứ nhất là sai do nội dung thẩm vấn sai, và Công tố tuyên bố lệnh trục xuất thứ hai vừa được ban hành vào chiều ngày thứ 7 (15-8). Luật sư cho rằng việc ban hành một lệnh mới giữa hai phiên tòa là sai trái… Tại phiên tòa thứ năm (24-8-1931), luật sư đề nghị Tòa áp dụng Luật Bảo thân (Habeas Corpus) cho Tống Văn Sơ. Điểm đặc biệt của phiên này là những lời chỉ trích mạnh mẽ Hội đồng hành pháp về “sự lừa dối và bịp bợm”. Theo luật sư cả hai lệnh trục xuất (lệnh trục xuất và lệnh buộc phải lên một tàu biển) cũng đều bất hợp pháp… Ông cho rằng “lệnh trục xuất Nguyễn Ái Quốc về Đông Dương thực chất là sự dẫn độ trá hình nhằm đưa Nguyễn Ái Quốc vào chỗ chết”. Và lệnh trục xuất có điều kiện này chính là nhằm pháp hóa nội dung bức thư ngày 31-7-1931 của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp nói Bộ Thuộc địa Anh hứa sẽ làm mọi cách để ngăn chặn Nguyễn Ái Quốc trên tinh thần “sẽ yêu cầu Bộ Thuộc địa làm mọi cách để kẻ phiến loạn Đông Dương này không thể tiếp tục hoạt động được nữa”.

Trong phiên thứ sáu (25-8-1931), luật sư yêu cầu Công tố tuyên bố tài liệu đánh máy câu hỏi và câu trả lời của Tống Văn Sơ do Trung Hoa Thư ký vụ đưa ra, trong đó nêu Tống Văn Sơ cung khai bí danh thứ ba Nguyễn Ái Quốc “là tài liệu giả” để ép cung. Trước tòa, công tố viên đã đọc lời khai của Tống Văn Sơ trong các phiên thẩm vấn, nhưng Người đã không công nhận những điều xuyên tạc trong biên bản, đồng thời, sự thông minh, nhất quán và thận trọng trong từng câu trả lời, đã khiến Tòa không thể khép Người vào bất cứ tội danh nào để đưa về Đông Dương. Đến phiên thứ bảy (2-9-1931), những tình tiết cụ thể cho thấy: sự thừa nhận Tống Văn Sơ bị bắt, bị giam giữ bất hợp pháp cho thấy chính quyền Hoàng gia có hai đuối lý theo điều khoản trong sắc lệnh của Hồng Kông, vì vậy: trục xuất Tống Văn Sơ nghĩa là “không thể làm cho việc giam giữ bất hợp pháp trở thành hợp pháp bằng việc ban hành một lệnh hợp lệ”([6]). Vấn đề đòi trả tự do cho Tống Văn Sơ không được giải quyết dứt điểm tại Tòa Hồng Kông, bởi rằng: dù biết Nguyễn Ái Quốc vô tội, biết chính quyền thực dân Pháp muốn đưa Người về Đông Dương để in án tử hình, song để “không làm mất lòng nhau”, chính quyền Luân Đôn vẫn chỉ thị Thống đốc Hồng Kông ra lệnh trục xuất Nguyễn Ái Quốc về Đông Dương. Trong phiên thứ tám (11-9-1931), mặc dù đã thừa nhận những điều sai trái trong quá trình bắt Người, song Tòa vẫn quyết định thực hiện lệnh trục xuất Nguyễn Ái Quốc. Luật sư GienKin đã kịch liệt phản đối về tính hợp pháp lệnh trục xuất của Thống đốc, và thông báo sẽ kháng án lên Hội đồng Cơ mật. Và phiên cuối cùng – phiên thứ chín (12-9-1931), Tòa đã cho phép kháng án lên Hội đồng Cơ mật và chỉ thị rằng: hồ sơ phải được chuẩn bị và gửi đi trong vòng ba tháng.

Tiền án phí và những thủ tục bắt buộc đã được luật sư lo liệu đầy đủ và hai người bạn của luật sư là luật sư Đơnít Nôen Pơrít (Denis Noel Pritt) và Risớt Xtaphớt Cơríp (Stafford Cripps) đã nhận lời giúp đỡ Tống Văn Sơ. Theo luật sư Risớt Xtaphớt Cơríp, vụ án này là một biểu hiện rất xấu cho chính quyền Hồng Kông và Bộ Thuộc địa, và nếu xét xử, thì chắc chắn Nguyễn Ái Quốc thắng lợi, vì lệnh trục xuất của Thống đốc Hồng Kông đã vượt quá giới hạn. Trên cơ sở đó, để không làm mất uy tín của chính quyền Hồng Kông, luật sư đại diện Bộ Thuộc địa Anh đã tìm cách thoả thuận với luật sư của Tống Văn Sơ. Kết quả của cuộc thoả thuận (vẫn thực hiện lệnh trục xuất của Thống đốc Hồng Kông, nhưng hủy bỏ lệnh phải đi trên một con tàu của Pháp, đến một địa điểm thuộc lãnh thổ của Pháp, mà được tự do lựa chọn nơi mình đến) đã được trình lên nhà Vua, được nhà Vua đồng ý. Toà án Viện Cơ mật Hoàng Gia Anh đã đồng ý trả tự do cho Tống Văn Sơ, và ngày 28-12-1932, Tống Văn Sơ định đi đến nước Anh, song khi đi đến Xinhgapo, Tống Văn Sơ lại bị chính quyền sở tại buộc quay trở lại Hồng Kông và ngày 19-1-1933, Người lại bị bắt giam.

Ngay khi ấy, Người đã kịp thời viết thư báo tin cho luật sư Lôdơbi và nhờ ông giúp đỡ. Luật sư đã đề nghị Thống đốc Hồng Kông can thiệp, và Thống đốc đã buộc phải ra lệnh thả Tống Văn Sơ và hạn trong ba ngày Tống Văn Sơ phải rời khỏi Hồng Kông. Một lần nữa gia đình luật sư Lodơbi lại bênh vực và cứu Tống Văn Sơ ra khỏi nhà tù. Kế hoạch di chuyển và bí mật tổ chức cho Tống Văn Sơ trốn đã được vạch ra. Khi ở tạm thời trong Ký túc xá Hội Thanh niên Thiên chúa giáo Trung Hoa (YMCA), khi thì ở ngay trong nhà của luật sư Lodơbi, cuối cùng ngày 22-1-1933, Nguyễn Ái Quốc – Tống Văn Sơ đã cải trang thành một thương gia Trung Quốc giàu có, và với một viên thư ký tháp tùng (thư ký của luật sư, tên Lung Ting Chang), Người đi xuồng ra khơi, rồi lên tàu Anhui đi Hạ Môn (Amoy). Bí mật rời Hồng Kông, tàu cập bến Hạ Môn vào ngày 25-1-1933, vừa đúng 30 Tết âm lịch.

Ở Hạ Môn một thời gian, Người lên Thượng Hải, và sau khi nhờ bà Tống Khánh Linh giúp đỡ, Nguyễn Ái Quốc bắt liên lạc được với Quốc tế Cộng sản và trở về Liên Xô an toàn sau đó.

2. Tình bạn thủy chung Hồ Chí Minh – Lôdơbi

Sau khi rời khỏi Hồng Kông, Nguyễn Ái Quốc đã hai lần viết thư cho luật sư Lôdơbi, nhưng vì sợ nhà cầm quyền tìm ra địa chỉ của Người nên luật sư đã không trả lời. Trong thời gian đó, Tống Văn Sơ tiếp tục hành trình tìm đường giải phóng dân tộc. Mùa xuân năm 1941, Người trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng cả nước. Và giương cao ngọn cờ độc lập, tự do, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản do Hồ Chí Minh đứng đầu, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mùa thu năm 1945 đã thành công. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, và người Thanh niên Việt Nam -Tống Văn Sơ được gia đình luật sư cứu giúp năm nào ở Hồng Kông, giờ đây trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Vẫn tiếp tục đấu tranh cho hoà bình, độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi sau 9 năm kháng chiến gian khổ. Tuy nhiên, để có một nền hoà bình trọn vẹn ở cả hai miền Nam, Bắc, nhân dân Việt Nam vẫn phải tiếp tục vừa xây dựng CNXH ở miền Bắc, vừa tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng ở miền Nam.

Là lãnh tụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn bộn bề công việc, song dù bận, Người vẫn không quên gửi thư, thiếp và quà đến gia đình luật sư Lodơbi mỗi dịp Nôen, khi Xuân về, Tết đến. Năm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư và ảnh của Người đến gia đình luật sư và gia đình luật sư cũng đã gửi thư và ảnh cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mùa xuân năm 1960, nhận lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hai vợ chồng luật sư cùng người con gái đã sang ăn Tết cổ truyền với nhân dân Việt Nam (26-1 đến 3-2-1960), thăm đất nước mà họ đã từng được nghe qua lời kể của người tù từ năm 1931. Trong chuyến đi thăm Vịnh Hạ Long, mỏ than Cẩm phả, thăm Bảo tàng cách mạng Việt Nam, nhà máy Cơ khí Hà Nội, Trại nhi đồng miền Nam tại Hà Nội,.. câu chuyện kể về “cành đào Lôdơbi”, tấm thịnh tình của người dân Việt Nam tri ân gia đình luật sư Lôdơbi – những người đã có công cứu thoát người con ưu tú nhất của dân tộc Việt Nam trong bối cảnh hiểm nghèo, đã không chỉ làm đẹp thêm những phẩm cách thủy chung, cao quý của người dân đất Việt, mà còn làm ấm lòng những vị khách quý của Bác Hồ.

Trở về Hồng Kông, luật sư đã viết thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-2-1960), bày tỏ lòng cảm ơn Người và sự hiếu khách của nhân dân Việt Nam đối với gia đình ông trong những ngày thăm Việt Nam. Không chỉ có vậy, ông viết: “Chúng tôi không thể quên đất nước Việt Nam tươi đẹp, những khuôn mặt rạng rỡ nụ cười của con người Việt Nam, và con đường mà tất cả các bạn đã trải qua để dẹp bỏ mọi dấu vết đau thương của quá khứ… và Ngài nói rằng tôi “đã cứu sống ngài”, điều đó có thể đúng, nếu vậy thì đó chính là việc làm tốt nhất mà tôi đã từng làm, và đó mãi mãi là một việc làm sáng suốt; về phần tôi thì tôi thấy mình đã được đền đáp hơn nhiều với những ký ức về những ngày ở Việt Nam, và những món quà mà tôi được tặng sẽ luôn là vật kỷ niệm về những ngày tuyệt vời đó”[7].

7 năm sau đó, luật sư Lôdơbi qua đời. Báo Hoa Nam buổi sáng ở Hồng Kông (1967) đưa tin luật sư mất, cùng những dòng chữ thân yêu của gia đình với nội dung: Xin đừng mang hoa đến viếng, hãy dùng số tiền phúng viếng đó để giúp đỡ người nghèo. Nhận được tin vị ân nhân đã cứu sống mình qua đời, không với tư cách Chủ tịch nước, không ở cương vị Quốc gia, giữa nồng hậu thân tình gia đình, vòng hoa gửi Kính viếng Luật sư của vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giản dị với dòng chữ: “Hồ Chí Minh kính viếng“. Hai năm sau đó, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của chúng ta qua đời, Điện chia buồn của gia đình luật sư gửi Lãnh sự quán Việt Nam tại Quảng Châu – Trung Quốc in đậm dòng chữ: “Được tin Chủ tịch qua đời, xin bày tỏ tình cảm sâu sắc nhất“, có kèm chữ ký của Bà luật sư cùng người con gái.

Cùng với thời gian, tình nghĩa trọn vẹn thuỷ chung của Hồ Chí Minh với luật sư Lôdơbi, tấm lòng trước sau như một của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Nhân dân Việt Nam đối với gia đình luật sư Lôdơbi, cũng như gia đình luật sư Lôdơbi đối với Việt Nam sẽ vẫn còn lưu truyền mãi. Đâu đó trong bức tranh thêu Chùa Một Cột Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng luật sư, trong bộ quần áo, mũ, giày, kính gia đình luật sư tặng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng năm nào, trong những bức ảnh của gia đình Luật sư Lôdơbi, trong những kỷ vật, những sưu tập tài liệu liên quan đến vụ án Hồng Kông những năm 1931-1933.., đang lưu giữ tại bảo tàng Hồ Chí Minh, bảo tàng cách mạng Việt Nam, Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch và ở những nơi khác nữa trên mảng đất Việt Nam, tại gia đình luật sư, vẫn thấy hiển hiện một tình bạn cao cả, một ân tình sâu nặng Hồ Chí Minh – Lôdơbi mà muôn đời các thế hệ con cháu mai sau ngưỡng mộ và chiêm nghiệm.

TS. Văn Thị Thanh Mai
Ban Tuyên giáo Trung ương

[1] Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Nxb. CTQG, H, 2004, tr.50
[2] Robin, Điện khẩn mật mã, Hà Nội ngày 8/6/1931 trong cuốn Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Nxb. CTQG, H, 2004, tr.72
[3] Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Nxb. CTQG, H, 2004, tr.118
[4] Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Nxb. CTQG, H, 2004, tr.130
[5] Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Nxb. CTQG, H, 2004, tr.135-136
[6] Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Nxb. CTQG, H, 2004, tr.151
[7] Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Nxb. CTQG, H, 2004, tr.250

ditichhochiminhphuchutich.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh – Tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta – Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh trong văn kiện Đại hội IX của Đảng – Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong Báo cáo Chính trị của Ban cấp hành TW trình bày tại Đại hội lần thứ IX của Đảng ở ngay phần “Về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”, đã khẳng định: Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dụng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Khẳng định này là sự tổng kết khoa học thực tiễn phong phú của cách mạng nước ta trong nhiều nǎm qua, là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta. Bài viết này xin góp phần làm rõ thêm quá trình nhận thức của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới ngày nay.

1- Trên con đường nhận thức của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong Vǎn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam nǎm 1991 đã ghi rõ: “Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động cách mạng”. Có phải đây là lần đầu tiên Đảng ta nói đến tư tưởng Hồ Chí Minh? Và sự nhận thức của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh từ đó đến nay phát triển như thế nào? Thật ra, ngay trong các vǎn kiện do Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh khởi thảo và được thông quá từ Hội nghị thành lập đảng Cộng sản Việt Nam tháng 2 nǎm 1930, đường lối, những quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh để được thể hiện.

Những vǎn kiện đầu tiên của Đảng như Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng tuy là khởi thảo, rất ngắn gọn, nhưng đã hàm chứa con đường phát triển của cách mạng Việt Nam là: “Tập hợp đa số quần chúng nông dân, chuẩn bị cách mạng thổ địa và lật đổ bọn địa chủ phong kiến… Tập hợp hoặc lôi kéo phú nông, tư sản và tư sản bậc trung, đánh đổ các đảng phái phản cách mạng như Đảng Lập hiến…” (trích Chương trình tóm tắt của Đảng” (1) và “tranh đấu để tiêu trừ tư bản đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản” (trích Tôn chỉ của đảng cộng sản Việt Nam) (2).

Như vậy, trong các vǎn kiện lịch sử này tuy chưa đưa ra khái niệm “tư tưởng Hồ Chí Minh”, nhưng tư tưởng của Hồ Chí Minh đã chỉ ra con đường phát triển của cách mạng Việt Nam; là cơ sở, nền tảng đường lối của Đảng ta. Đó là con đường cách mạng triệt để: con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đến Hội nghị TW lần thứ VIII tháng 5-1941, tư tưởng về con đường phát triển của cách mạng Việt Nam được bổ sung và phát triển thêm một bước, góp phần tích cực tạo thành chiến công của Cách mạng Tháng 8 – 1945: Phá tan xiềng xích Pháp Nhật, thành lập nước Việt Nam mới.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện trong đường lối kháng chiến kiến quốc, trong đường lối chính trị của Đảng ta. Trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, tác phong đạo đức, những quan điểm tư tưởng của Hồ Chí Minh là yếu tố quan trọng tạo thành đường lối kháng chiến là thành nguồn cổ vũ, động viên quân và dân ta kháng chiến thắng lợi. Vì vậy, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng – Đại hội kháng chiến, Đảng ta đã chỉ ra mối quan hệ khǎng khít giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối chính trị của Đảng ta: “Đường lối chính trị, nề nếp làm việc và đạo đức cách mạng của Đảng ta là đường lối, tác phong và đạo đức của Hồ Chủ tịch…”. Vì vậy: “Toàn Đảng hãy ra sức học tập đường lối chính trị, tác phong đạo đức cách mạng của Hồ Chủ tịch, sự học tập ấy là điều kiện tiên quyết làm cho Đảng ta mạnh và làm cho cách mạng đi đến thắng lợi hoàn toàn” (3).

Trong những nǎm tháng kháng chiến gian lao, chính “đường lối tác phong đạo đức” của Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự là nhân tố quan trọng tạo thành đường lối kháng chiến của dân tộc, động viên quân dân làm nên thắng lợi của kháng chiến. Đã hàng nhiều thập kỷ Đảng ta tổng kết những yếu tố làm nên những chiến thắng của dân tộc nhưng chưa có điều kiện đặt ra vấn đề nghiên cứu cuộc đời và tư tưởng Hồ Chí Minh như một nhiệm vụ tương ứng với tầm quan trong vốn có của nó.

Tình hình trên đây có nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, do bận kháng chiến. Thứ hai, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến quyền lợi, hạnh phúc của quần chúng nhân dân, thường “hoãn” lại những công việc ca ngợi công đức hay việc tổ chức Ngày sinh của Người.

Còn nhớ, sau Cách mạng Tháng Tám, chính Người đã khuyên nhà báo đến Phủ Chủ tịch xin viết tiểu sử của Người rằng: “chúng ta nên làm những công việc hết sức cần kíp đi ! Còn tiểu sử của tôi… thong thả sẽ nói đến” (4). Có lần, tại cuộc gặp gỡ với đông đảo quần chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc một phóng viên liên tục chĩa máy quay phim về Người rằng: Chú hãy hướng máy quay về phía nhân dân đi !. Trong kháng chiến chống Pháp cũng như chống Mỹ, không ít lần Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bố trí đi công tác địa phương trong dịp sinh nhật của Người. Tấm gương trong sáng, vì nước, vì dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự là nguồn cổ vũ mọi tầng lớp nhân dân nghe theo Đảng, Bác, phục vụ kháng chiến. Cả dân tộc tôn kính Người, gọi Người là vị “Cha già dân tộc” (5).

Mặt khác, đây cũng là một lý do làm cho việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh có phần muộn hơn so với tầm quan trọng vốn có của nó. Là Tổng Bí thư của Đảng ta, đồng chí Trường Chinh sớm thấy rõ vai trò đặc biệt quan trọng của Hồ Chí Minh cùng với tư tưởng của Người đối với tiến trình cách mạng Việt Nam. Đồng chí Trường Chinh là người lãnh đạo cấp cao của Đảng ta sớm có những tổng kết, những bài viết có giá trị khoa học, chính trị cao về Chủ tịch Hồ Chí Minh (như “Hồ Chủ tịch – người sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng ta”, “Kính chúc Hồ Chủ tịch mạnh khoẻ sống lâu” nǎm 1951). Tuy nhiên cũng phải đến giữa nǎm 1960, nhân địp kỷ niệm 70 nǎm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh thì khái niệm “Tư tường” mới được đề cập đến trong việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh.

Trong bài viết : “Hồ Chủ tịch, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam”, đồng chí Trường Chinh đã chỉ rõ mối quan hệ máu thịt giữa Hồ Chí Minh với cách mạng Việt Nam, giữa vai trò to lớn của tư tưởng đạo đức của Người đối với việc giáo dục tư tưởng đạo đức cho cán bộ đảng viên. Đồng chí Trường Chinh viết: “Ngày 19 tháng 5 nǎm nay, đồng chí Hồ Chí Minh Chủ tịch kiêm Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, vừa đúng 70 tuổi. Giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam ra sức thi đua yêu nước lấy thành tích chúc thọ vị lãnh tụ kính yêu của mình. Nhân dịp này, chúng ta hãy ôn lại tiểu sử và sự nghiệp của Hồ Chủ tịch, tìm hiểu và học tập tư tưởng, đạo đức và tác phong của Người để phục vụ nhân dân được tốt hơn” (6).

Đây là cái mốc quan trọng đánh dấu sự nhận thức của Đảng ta đối với vấn đề nghiên cứu học tập tư tưởng Hồ Chí Minh. Vấn đề cần được ghi nhận ở ngay mốc đầu tiên này là đồng chí Trường Chinh và Đảng ta đã sớm thấy rõ bản chất cách mạng, vai trò to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp phục vụ Tổ quốc phục vụ nhân dân. Trên thực tế, đường lối chính trị, tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh vẫn luôn luôn góp phần tích cực tạo dựng đường lối của Đảng ta. Tuy nhiên phải từ sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, việc nghiên cứu về cuộc đời và tư tưởng của Người mới được triển khai mạnh hơn. Đặc biệt là, bầu bạn, đồng chí quốc tế và không ít người trước đây đã từng “đối diện” với Hồ Chí Minh lại sớm có nhiều công trình nghiên về Người từ nhiều giác độ.

Có nhiều người đánh giá rất cao về Hồ Chí Minh, không chỉ về tư cách một chính khách, người anh hùng giải phóng dân tộc mà cả về tư cách nhà vǎn hoá lớn – một phẩm chất, một tư cách mà nhiều người Việt Nam còn chưa thấy được. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (3-1982) đã tiến thêm một bước trong việc đánh giá về ý nghĩa vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại hội xác định nhiệm vụ to lớn trước mắt là: “Đảng ta phải đặc biệt coi trọng việc tổ chức học tập một cách có hệ thống tư tưởng, đạo đức, tác phong của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong toàn Đảng”. Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991), vấn đề nghiên cứu học tập tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng. Hơn thế, Đảng ta còn khẳng định trong các vǎn kiện Đại hội chính thức rằng: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”.(7)

Đây là mốc có ý nghĩa đặc biệt trong việc xác định đúng đắn vị trí tư tưởng Hồ Chí Minh đối với toàn bộ tiến trình của cách mạng Việt Nam. Đây là “một bước phát triển hết sức quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận Đảng”(8). Tuy nhiên cũng cần thấy rằng, bước phát triển này đã được chuẩn bị từ rất lâu. Có thể kể ra từ Đại hội lần thứ hai của Đảng nǎm 1951, khi Đảng ta đặt vấn đề học tập đường lối, đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh. Nǎm 1991 là thời điểm tổng kết kinh nghiệm, bài học của cách mạng Việt Nam trong hơn 40 nǎm mà rút ra kết luận quan trọng về tư tưởng Hồ Chí Minh.

2- Phát huy sức mạnh cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới.

Nửa đầu những nǎm 80, Việt Nam cũng như nhiều quốc gia xã hội chủ nghĩa khác lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội. Đối mặt trực tiếp với tình trạng này, mỗi nước đều ra sức tìm kiếm con đường thoát khỏi khủng hoảng, truy tìm “chủ thuyết” xây dựng lý luận mới phù hợp với con đường giữ gìn và chấn hưng đất nước trong tình hình mới. Đối với Trung Quốc, đó và con đường cải cách mở cửa, đối với Liên Xô là Cải tổ. Còn đối với Việt Nam là Đổi mới. Nhiều nước xã hội chủ nghĩa khác cũng cố gắng tìm con đường đi cho mình, nhưng phần lớn họ đã không thành công.

Dẫn ra bối cảnh trên đây để thấy rằng: Đảng ta khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động cho Đảng ta là một sự lựa chọn lịch sử, là cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận. Đây là sự lựa chọn chưa có trong lịch sử, chưa có tiền lệ. Sự lựa chọn đúng sai sẽ liên quan đến vận mạng của cả dân tộc. ở đây cần thấy rõ cả 2 mặt của vấn đề lựa chọn. Một là, bản chất cách mạng triệt để, tính nhân đạo sâu sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác-Lênin là một yếu tố để Đảng và dân tộc ta lựa chọn làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ Nam cho hành động. Hai là, Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện đã mang trong mình tính cách mạng triệt để, tính chủ động sánh tạo trong mọi hoàn cảnh, nên trước bối cảnh cực kỳ khắc nghiệt này, Đảng ta đã sáng suốt khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở lý luận, chỗ dựa tinh thần cho việc giữ vững độc lập và chấn hưng đất nước.

Và trên thực tế đó là sự lựa chọn cực kỳ đúng đắn. Đảng ta tiếp tục dẫn đường đi cho dân tộc trong bối cảnh khủng hoảng. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Việt Nam đang phát triển với những triển vọng tốt đẹp. Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin là cơ sở của công cuộc Đổi mới. Chính vì vậy, đến Đại hội lần thứ VII (1996), Đảng ta tiếp tục khẳng định vai trò to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong đường lối của mình. Trong 6 bài học được rút ra sau 10 nǎm đổi mới, thì bài học thứ nhất là: Phải “kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” (Cùng với: giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong quá trình đổi mới, nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ tổ quốc) (9). Đến Đại hội lần thứ IX của Đảng (2001), tư tưởng Hồ Chí Minh chiếm phần quan trọng trong đường lối chiến lược của Đảng.

Lần đầu tiên, khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh được trình bày khá đầy đủ trong Vǎn kiện của Đại hội, trong phần “Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Đó là: “Tư tương Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiệu cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa vǎn hoá của nhân loại.

Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn nền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc, về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, về phát triển kinh tế và vǎn hoá, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; về chǎm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân…

Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta” (10). Vǎn kiện còn khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.”(11).

Việc khẳng định một lần nữa: Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ Nam cho hành động là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta. Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng cộng sản Việt Nam lãnhd dạo đã chỉ ra rằng : mọi thắng lợi của cách mạng đều gắn liền với đường lối cách mạng mang tính triệt để và sáng tạo của Đảng ; trong đó : tư tưởng Hồ Chí Minh là một yếu tố cực kỳ quan trọng đảm bảo cho đường lối của Đảng luôn mang tính cách mạng và sáng tạo trong mọi hoàn cảnh.

Ngày nay, khi công cuộc đổi mới càng triển khai toàn diện, đi vào bề sâu thì Đảng ta càng tìm thấy ở tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin nhiều quan điểm, kinh nghiệm quý báu. Bởi vậy, Đảng ta, một lần nữa trong các vǎn kiện Đại hội IX đã trình bày khá toàn diện về nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh, ở một vị trí cực kỳ quan trọng trong vǎn kiện : “Về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Đây là một sự khẳng định và một sự đảm bảo chắc thắng cho con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đó là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta. Cố Thủ tướng Phạm Vǎn Đồng đã có lần chỉ cho chúng ta giá trị của nguồn tài sản này : tư tưởng Hồ Chí Minh là một kho tàng đầy quý báu, là di sản chứa đựng biết bao giá trị, gia trị đó nói cho cùng là giá trị vǎn hoá mà chúng ta khai thác chưa được bao nhiêu./.

TS. Lê Vǎn Tích
Phó viện trưởng Viện Hồ Chí Minh

cpv.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh: Sinh khí của một học thuyết

Tư tưởng Hồ Chí Minh, sắc lại, vì con người, do con người. Suy thoái đạo đức là khởi điểm cho mọi suy thoái. Tư tưởng Hồ Chí Minh từng chấp nhận cái mềm dẻo cần thiết cho đại cục nhưng chính trong những hy sinh thông minh ấy, phẩm chất con người, xã hội phải được củng cố hơn bao giờ hết, nếu không, những bước lùi sẽ là quá trình tuột dốc “không phanh” chẳng hé ra tiền đề cho những bước tiến…

…………………………………………..

1. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, theo tôi nghĩ, là nghiên cứu đồng thời ba bộ phận hợp thành một tổng thể:

– Trước tác.

– Cuộc đời.

– Diễn biến của đất nước, xã hội và con người Việt Nam từ khi tư tưởng Hồ Chí Minh tác động tại đây cho đến hôm nay.

Cả ba bộ phận hợp thành đều mang tầm quan trọng như nhau, bổ sung cho nhau, cả ba cộng lại mới đủ sức vẽ lên trung thực toàn bộ và hệ thống một tư tưởng lớn của Việt Nam và thời đại.

Trước tác là mặt biểu thị trực tiếp nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh. Qua các bài báo, phát biểu, sách, sáng tác văn học, lời kêu gọi… suốt 5 thập kỷ (1919 – 1969), chúng ta biết được quan điểm của Người trước các vấn đề đặt ra cho vận nước và một số vấn đề đặt ra cho loài người. Tuy nhiên, sẽ chỉ tiếp cận một phần tư tưởng Hồ Chí Minh nếu chúng ta chủ yếu nghiên cứu tư tưởng của Người qua trước tác, Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng gắn chặt tư duy với hành động thực tiễn.

Cuộc đời của Người từ buổi thanh niên đến khi vĩnh biệt chúng ta nối dài một chuỗi hoạt động cách mạng không ngơi nghỉ. Tư tưởng của Người hóa thân vào các ứng xử cả tầm chiến lược lẫn trong giao tiếp đời thường. Chính phạm vi hoạt động của Người, công tác mà Người đảm trách, mối quan hệ của Người với đủ đối tượng và nhất là chính với tư cách con người mà Người sống với chung quanh đã nói thậm chí nhiều hơn những gì Người lưu lại cho chúng ta trong Toàn tập.

Cái mà có người gọi là tác phong Hồ Chí Minh phản ánh một lối sống gần với tự nhiên, xuất phát từ sự chân thật trong cốt cách. Trước tác và cuộc đời của Hồ Chí Minh rất phong phú, song cũng chưa phản ánh trọn vẹn tư tưởng của Người. Không thể xem quá trình diễn biến của cách mạng, đất nước, xã hội và con người Việt Nam từ 1920, 1930, đặc biệt từ 1945 và nhất là hiện nay như ngoại biên của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Làm sao hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh nếu không hiểu cái gì là trung tâm dẫn đồng bào ta thực hiện toàn thắng cuộc cách mạng tháng Tám, hai cuộc kháng chiến và đang thực hiện thắng lợi bước đầu sự nghiệp Đổi mới. Sự đứng vững của Việt Nam trước cơn khủng hoảng cực kỳ gay gắt dẫn đến sự sụp đổ của nhiều nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Liên Xô, cơn thoái trào cách mạng xã hội chủ nghĩa thế giới và ngay những thành tựu kinh tế hiện nay của nước ta cũng không ra khỏi sự hướng dẫn của tư tưởng Hồ Chí Minh – có những thoát ly đấy và đã thoát ly tư tưởng Hồ Chí Minh thì không phải là thành tựu mà trái lại hoặc dự báo cho cái rất xấu khó tránh khỏi dù với toàn cục hay với từng cá nhân.

Như vậy, quỹ đạo của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với Việt Nam hết sức rộng.

2. Tư tưởng Hồ Chí Minh được ấp ủ lâu dài trong cái nôi chủ nghĩa yêu nước, tẩm mình sâu sắc trong hồn dân tộc, là kết tinh của truyền thống nhiều nghìn năm dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam. Trên cái nền kiên cố ấy, trên mảnh đất phì nhiêu ấy, tư tưởng Hồ Chí Minh gạn lọc các hạt giống trí tuệ cổ kim phương Đông, phương Tây và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, sản phẩm khoa học hiện đại vào một đất nước cụ thể. Người ta không thể tìm thấy chủ nghĩa quốc gia cực đoan, thủ cựu, hẹp hòi, vị kỷ, cũng như người ta không thể tìm thấy chủ nghĩa quốc tế không tưởng trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh – lúc còn là Nguyễn Ái Quốc – đã nói rõ chủ nghĩa Lênin cung cấp cho Người chủ yếu nhất là điều gì và tại đại hội Tours, một đại hội của những đảng viên xã hội và cộng sản, Người nhấn mạnh quan điểm của mình. Chủ nghĩa quốc tế vô sản đến với Người tức đến với nước Việt Nam thuộc địa, chậm tiến và Người thể hiện sự nghiệp quốc tế qua sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người – giải phóng tập thể dân tộc thoát khỏi ách nô lệ nước ngoài đồng thời giải phóng những “cùng đinh” thoát khỏi “giặc đói, giặc dốt”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng Mác-Lênin đã được tiêu hóa vào không gian và thời gian xác định, lấy cái cốt lõi giải phóng con người khỏi ách áp bức, tự do hóa tiềm năng con người bắt đầu từ một đối tượng cụ thể là đồng bào của Người. Để thực hiện nhiệm vụ đó, tư tưởng Hồ Chí Minh dựa trên nguyên lý giải phóng con người bị áp bức trong xã hội tư bản, trong các xứ thuộc địa nói chung để tìm ra phương thức giải phóng con người Việt Nam. Tất nhiên, trào lưu giải phóng vốn đa dạng, tư tưởng Hồ Chí Minh chọn khả năng tối ưu hơn cả.

Tư tưởng Hồ Chí Minh chấm dứt ở Việt Nam mặc cảm “nỗi buồn nhược tiểu” và trang bị cho những người dân Việt Nam bình thường niềm tự tin khả năng “đào núi lấp biển, có chí cũng làm nên”.

3. Tư tưởng Hồ Chí Minh tất nhiên là tư tưởng chính trị, định hướng chính trị song mang đặc thù dễ phân biệt với các tư tưởng đương thời khác ở phần lớn biểu hiện của tư tưởng dưới dạng văn hóa. Nói cách khác, tư tưởng Hồ Chí Minh tác động vào xã hội như một sức mạnh văn hóa, sức mạnh hợp chất lý và tình, tổng quát và đơn lẻ, thuyết phục bằng cảm hóa. Đặc thù này bộc lộ rõ và trở thành xuyên suốt từ 1945, tức từ khi nước ta giành được độc lập, Đảng Cộng sản trở thành đảng cầm quyền.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một thành tố quan trọng trong nền văn hóa dân tộc Việt Nam, là chuẩn mực bổ sung cho nền luân lý truyền thống. Cũng có thể xem tư tưởng Hồ Chí Minh đã hiện đại hóa nền luân lý lâu đời của Việt Nam. Cái đáng lưu ý là tư tưởng Hồ Chí Minh như giáo huấn xã hội chủ nghĩa mà không mâu thuẫn với giáo huấn dân tộc cổ truyền thậm chí dân gian. Gạch nối này tôn tạo văn hóa dân tộc, đồng thời truyền bá các tri thức hiện đại, các khái niệm đạo đức hiện đại.

Tự biểu hiện đến trình độ một nền văn hóa, tư tưởng Hồ Chí Minh thâm nhập vào xã hội, ảnh hưởng đến nếp nghĩ, nếp sống hàng chục triệu người, đến quan hệ cộng đồng và đến sự tu thân cá nhân. Đạo đức Hồ Chí Minh, phần kết tinh lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chúng ta có thể cắt nghĩa hiện tượng trên ở chỗ tư tưởng Hồ Chí Minh xuất phát từ chữ “Cứu” – cứu nước, cứu dân, cứu người – và ở chỗ một tư tưởng đạt mức xã hội hóa như thói quen cần phải giữ gìn, vun bồi của mọi người Việt Nam thuộc mọi giới, mọi lứa tuổi…

Theo tôi, về phương diện này, tư tưởng Hồ Chí Minh đã “đắc đạo”.

4. Tư tưởng Hồ Chí Minh coi rất trọng đoàn kết dân tộc trong các lĩnh vực đấu tranh. Việt Nam là nước nhỏ, luôn phải đối phó với nạn xâm lược nước ngoài, tồn tại trong điều kiện thiên nhiên có nơi rất khắc nghiệt. Cho nên, những “tình làng, nghĩa xóm”, “đồng bào”, “người chung một nước”, v.v… đã nối liền nhân dân ta suốt nhiều nghìn năm. Đó cũng là cái lẽ sinh tồn của dân tộc. Tư tưởng Hồ Chí Minh thừa kế gia tài đồ sộ, giàu có ấy, mở rộng biên độ khái niệm quần chúng đến tất cả những ai vẫn còn thừa nhận mình là con dân nước Việt Nam.

Sáng tạo này nắm được cái hồn của nhận thức đấu tranh giai cấp và nhờ đó đã hóa giải khôn ngoan những đối kháng về quyền lợi bộ phận trong những hoàn cảnh nhất định phục vụ tập trung cao nhất cho quyền lợi toàn cục, bởi vì mục tiêu của cách mạng đồng thời phải là mục tiêu của nhân dân lao động và, trong các trường hợp xác định, mục tiêu ấy thống nhất với đòi hỏi của dân tộc và tình thế. Chỉ có như vậy, hành động cho cái chung mới huy động được đông đảo người tham gia.

“Đại đoàn kết” của tư tưởng Hồ Chí Minh là một tư duy triết học, khác với một số nhà tư tưởng đương thời khi họ có quan điểm cực đoan về mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, tách biệt hoặc đối lập một cách siêu hình các tầng lớp xã hội cơ bản với các tầng lớp xã hội khác, khiến quá trình cách mạng vừa chậm vừa khó khăn không đáng có. Tư tưởng Hồ Chí Minh cố tìm mẫu số chung của toàn dân tộc thay vì khoét sâu sự cách biệt, đặt tiến trình xoáy trôn ốc đi lên của lịch sử trên căn bản quy tụ thay vì loại trừ.

5. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã thực hiện nhiệm vụ lịch sử: Đưa Đảng Cộng sản trở nên chính đảng đại biểu của dân tộc mà không làm nhòa tính công nhân tiền phong. Chính ý thức thời đại cho phép tư tưởng Hồ Chí Minh thành đạt trong vấn đề mấu chốt này cả trên bình diện lý luận lẫn thực tiễn, cả trong quá trình giành độc lập dân tộc lẫn thời kỳ xây dựng xã hội mới.

Xử lý vấn đề mấu chốt này liên quan đến ba trọng điểm: một, Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân phải thể hiện cho được ý nghĩa tiền phong chính yếu là đi đầu một đội ngũ quần chúng đông đúc, gồm tuyệt đại đa số dân tộc, không biệt phái, không đứng trên mà đứng trong đội ngũ ấy; hai, chủ nghĩa quốc tế vô sản hòa nhập với dân tộc, cái phổ cập phải được đặc thù hóa, Đảng Cộng sản phải tự trở thành đảng của dân tộc; ba, khi đảng đã cầm quyền, sự thống nhất lên đến mức cao giữa giai cấp, nhân dân, dân tộc, quốc gia và đảng mà lợi ích bao trùm là lợi ích dân tộc – dân tộc không tự tôn, không tham vọng bá quyền, thông cảm và đoàn kết với mọi lực lượng tiến bộ, tán thành, ủng hộ cái đúng, chống cái sai bất kể từ đâu đến, khôn khéo (song tự trọng), tự xếp mình như mọi dân tộc khác trong cộng đồng thế giới.

6. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một khoa học, nó luôn tiếp nhận sự bồi bổ từ trí tuệ, thực tế phát triển của Việt Nam và thế giới. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh vào đầu thế kỷ XXI này tức nghiên cứu một tầng nấc cụ thể của tư tưởng ấy sau nhiều chục năm vận động. Cũng như nghiên cứu các học thuyết Phật, Lão, Khổng, Thiên Chúa, Mác… điều chúng ta quan tâm phát hiện là phương pháp tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dù rằng trong tư tưởng Hồ Chí Minh không hiếm những giáo huấn đã dân gian hóa.

Giữa một thế giới biến động – và đảo lộn nữa – Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh và đôi phần khiêm tốn mà chúng ta vừa giành được trong những năm qua khẳng định rằng con đường chúng ta đi dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh là đúng. Tuy nhiên, nếu nhìn thực trạng Việt Nam hiện nay, chúng ta dễ dàng thấy sự tuân thủ tư tưởng Hồ Chí Minh chưa nghiêm, nếu không nói là lơi lỏng.

Trong thứ tự: tu thân, tề gia, trị quốc, chúng ta đã vấp hai cái đầu, do vậy, trị quốc rơi vào chỗ khó khăn – sẽ còn khó khăn hơn. Bên ngoài – những người Cộng sản, những người xã hội chủ nghĩa, những người tiến bộ và đương nhiên, luôn kẻ thù – theo dõi chúng ta với niềm tin, nỗi lo và sự đố kỵ. Tư tưởng Hồ Chí Minh giúp chúng ta vượt cơn thử thách một cách ngoạn mục, nhưng sự suy thoái đạo đức đe dọa chúng ta. Trong sự suy thoái ấy, óc độc tôn, độc quyền tất nhiên đẻ ra đẳng cấp “ăn trên ngồi trước”, hủy hoại thành quả cách mạng, nguy hiểm hơn mọi âm mưu thâm độc nhất của kẻ thù.

Trong bối cảnh thế giới hiện nay, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh đồng thời có nghĩa nghiên cứu về một thời sự: chủ nghĩa xã hội, chế độ định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển đất nước trong lúc cả phong trào xã hội chủ nghĩa gặp khó khăn nghiêm trọng ở một nước không đông lắm về dân số, không rộng lắm về đất đai, không phát triển lắm về kinh tế. Tất nhiên, đây là một chủ nghĩa xã hội xét từ thực chất, tức không phải mang trong nó chủ nghĩa bành trướng, không đối địch với nhân quyền, kết hợp dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng và đạo lý trong một thể hài hòa, nói cách khác, phù hợp với tư trào hiện đại của loài người.

Tất nhiên, tư tưởng Hồ Chí Minh không thể cho tất cả đáp số của mọi bài toán nảy sinh trong mọi điều kiện lịch sử, đó cũng không phải là thánh kinh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh, sắc lại, vì con người, do con người. Suy thoái đạo đức là khởi điểm cho mọi suy thoái. Tư tưởng Hồ Chí Minh từng chấp nhận cái mềm dẻo cần thiết cho đại cục nhưng chính trong những hy sinh thông minh ấy, phẩm chất con người, xã hội phải được củng cố hơn bao giờ hết, nếu không, những bước lùi sẽ là quá trình tuột dốc “không phanh” chẳng hé ra tiền đề cho những bước tiến.

Đến nay, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời đã 34 năm. Tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn sống với chúng ta. Nhưng, cần phải nhớ chính hôm nay, ngày mai, chính những người Cộng sản Việt Nam, chính nhân dân Việt Nam là tác giả nối tiếp trên tư duy, trong tình cảm và trên thực địa tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh đã bảo vệ thành công sự nghiệp xây dựng đất nước, xã hội, con người Việt Nam qua bao nhiêu giông tố – không phải lãnh tụ của quốc gia nào cũng làm được như thế.

Đó là một học thuyết đầy sinh khí.

Hạnh phúc đối với dân tộc Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam có tư tưởng Hồ Chí Minh. Càng hạnh phúc khi tư tưởng ấy, học thuyết ấy được kế thừa theo tinh thần trung thành các nguyên lý bản chất và luôn được bổ sung, đổi mới.

TRẦN BẠCH ĐẰNG – 3-1993
(theo Đến với Tư tưởng Hồ Chí Minh – NXB Trẻ – 2-2007)

Tuổi trẻ Onlnie

Hồ Chí Minh với độc lập dân tộc – chủ nghĩa xã hội

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những đóng góp to lớn và sáng tạo về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. (Nguồn: Internet)

Nhân kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phó Giáo sư, tiến sĩ Tô Huy Rứa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương đã có bài viết : “Những cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội.” TTXVN trân trọng giới thiệu bài viết của giáo sư, tiến sĩ Tô Huy Rứa:

Với dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh là sự kết tinh những gì tốt đẹp, ưu tú nhất của trí tuệ và tư tưởng, tình cảm và đạo đức, nhân cách và lối sống của con người và dân tộc Việt Nam. Người tiêu biểu cho cốt cách và bản lĩnh của dân tộc, cho bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại. Tinh hoa của dân tộc, lương tâm và khí phách của thời đại đã được thể hiện chân thực và cảm động, trong sáng và đẹp đẽ, cao thượng và bất khuất qua con người, cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh.

Khi đã tìm thấy con đường cách mạng và nhận thức được chân lý của thời đại cách mạng nhờ giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin, với sự thức tỉnh và cổ vũ của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã dồn tất cả nỗ lực và tinh lực của đời mình để thực hiện đến cùng lý tưởng và mục tiêu cách mạng: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là tư tưởng chủ đạo, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong quá trình đó, Người vừa học tập và nghiên cứu lý luận, vừa tham gia các phong trào đấu tranh chính trị của công nhân và lao động ở những nơi Người đi qua, đã trực tiếp lăn lộn và trải nghiệm suốt mấy thập kỷ trong cuộc hành trình tìm đường cứu nước, cứu dân.

Bằng con đường lao động, vô sản hóa, Người làm đủ mọi nghề, đi qua nhiều miền đất khác nhau, tham gia các sinh hoạt của công nhân, thợ thuyền, ở ngay sào huyệt của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa thực dân, Người có điều kiện quan sát trực tiếp tình cảnh sống của những người lao động dưới ách áp bức bóc lột tàn bạo của tư bản ở chính quốc đối với các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc.

Thực tiễn này đã giúp Người nhận rõ bản chất của chủ nghĩa tư bản và thực dân, cũng như hình thành ở Người tình hữu ái giai cấp đối với những người cùng khổ. Cũng chính thực tiễn này đã cung cấp cho Người những căn cứ để xác minh một sự thật mà Người đã từng hoài nghi về “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” do giai cấp tư sản đưa ra.

Người muốn hiểu rõ đằng sau những lời đẹp đẽ trong châm ngôn tư sản ấy, thực chất của nó là cái gì? Mười năm đầu trong cuộc đi tìm chân lý tại chính quê hương của chủ nghĩa tư bản đã đem lại cho Người những thu hoạch lớn, những kết luận chính trị quan trọng, tác động sâu sắc đến tư tưởng, quan điểm, đường lối của Người. Đó là, ở đâu đâu đế quốc tư bản thực dân cũng dã man, tàn bạo, cũng đầy rẫy những quan hệ phi nhân tính; ở đâu đâu những người lao động nghèo khổ, bần cùng cũng là bạn bè, anh em, đồng chí của nhau, họ phải được tập hợp lại, chủ động đấu tranh, “đem sức ta mà giải phóng cho ta.”

Trong quá trình tìm đường cứu nước cứu dân và định hình đường lối chính trị giải phóng, giành độc lập dân tộc, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh không chỉ hoạt động ở châu Âu, ở các nước phương Tây tư bản chủ nghĩa, mà Người còn hoạt động ở phương Đông, châu Á, tìm hiểu thực tiễn các phong trào đấu tranh ở Trung Quốc và Thái Lan.

Những cứ liệu từ thực tiễn đó giúp cho Người so sánh, phân tích, tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong các kết cấu kinh tế – xã hội, các mâu thuẫn giai cấp và dân tộc ở những khu vực địa chính trị tiêu biểu, nơi diễn ra những phân hóa và mâu thuẫn giai cấp, dân tộc rất khác nhau giữa phương Tây và phương Đông, giữa các nước tư bản châu Âu với các nước châu Á đang còn tồn tại rất nhiều tàn tích phong kiến và đang là đối tượng khai thác, nô dịch của chủ nghĩa thực dân.

Mối quan tâm đặc biệt nổi bật của Người là tình hình Đông Dương, đặc biệt là Việt Nam khi đã mất độc lập chủ quyền và đang bị chủ nghĩa thực dân đè nén, thống trị. Do đó, đối với Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, việc nghiên cứu, khảo sát thế giới, khu vực và quốc tế cũng chỉ nhằm hướng tới giải phóng và phát triển dân tộc mình, đặt cách mạng Việt Nam trong phong trào cách mạng thế giới, sao cho phù hợp với trào lưu, xu thế chung của lịch sử thế giới và thời đại.

Bước ngoặt lớn trong sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh là khi Người giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin và lựa chọn con đường cách mạng vô sản. Chỉ có cuộc cách mạng này mới giải phóng được giai cấp vô sản, giải phóng các dân tộc bị áp bức khỏi ách thống trị của đế quốc, thực dân, mới thực hiện được độc lập tự do, hoà bình và hạnh phúc cho các dân tộc.

Sự kiện lịch sử đánh dấu bước ngoặt đó là vào năm 1920, tại Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp họp ở thành phố Tours, Người đã cùng với những đại biểu ưu tú của giai cấp công nhân Pháp tán thành Quốc tế III và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ một người yêu nước tiến bộ, Người đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, trở thành người chiến sĩ xã hội chủ nghĩa (Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.10, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.241).

Năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến nghiên cứu, khảo sát trực tiếp tại nước Nga Xôviết của Lênin, thấy rõ sự sinh thành chủ nghĩa xã hội, nhất là những cải cách kinh tế với chính sách kinh tế mới (NEP) do Lênin khởi xướng làm hồi sinh nước Nga. Người có điều kiện nghiên cứu sâu hơn chủ nghĩa Lênin cũng như ảnh hưởng rộng lớn của Cách mạng Tháng Mười, mở ra thời đại mới – quá độ tới chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.

Những tư tưởng đó đã được Người nghiền ngẫm sâu sắc, đã củng cố và khẳng định niềm tin của Người về cách mạng giải phóng dân tộc trong quỹ đạo của cách mạng vô sản, lực lượng lãnh đạo cuộc cách mạng đó chỉ có thể là giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản.

Như thế, từ 1911 đến 1920 là một thập kỷ Người tìm đường và đã thấy con đường sẽ đi. Từ 1920-1924 và sau đó từ 1925-1927 khi Người viết các tác phẩm lý luận, truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, nhất là “Đường Kách mệnh” (1927), đó là một giai đoạn lịch sử đặc biệt, hình thành về cơ bản lý luận cách mạng giải phóng dân tộc của Người. Đó cũng là thời gian mà Người chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời chính dảng cách mạng kiểu mới ở Việt Nam.

Tư tưởng và phương pháp cách mạng sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc được thể hiện tập trung, cô đọng trong các văn kiện đầu tiên thành lập Đảng, do chính Người trực tiếp soạn thảo: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt của Đảng, tháng 2/1930.

Các mốc thời gian và sự kiện sau đó phản ánh những hoạt động vô cùng phong phú, kiên định, tích cực sáng tạo, nhưng cũng đầy thử thách đối với Người. Chính thực tiễn lịch sử cách mạng đã là sự thẩm định khách quan, công tâm nhất đối với giá trị, sức sống, ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đây thực sự là điểm nổi bật về sức sáng tạo vượt trước của Hồ Chí Minh, về bản lĩnh Hồ Chí Minh.

Cho đến khi Người về nước (1941) trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam thì tư tưởng, phương pháp cách mạng đầy sáng tạo của Người mới được khẳng định đầy đủ, nhanh chóng đi vào thực tiễn, đem lại lời giải đúng đắn nhất về lý luận để thúc đẩy cách mạng trong thực tiễn. Đó chính là chân giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Những sáng tạo và cống hiến lịch sử của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thể hiện ở những điểm nổi bật sau đây:

Một là, nhận thức sáng tạo về chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Mác-Lênin. Nghiên cứu các tác phẩm kinh điển, Người nhận thấy một trong những ưu điểm đặc sắc nhất của lý luận Mác-Lênin là phép biện chứng. Đó là phép biện chứng của phát triển xã hội, là khoa học và cách mạng của sự phát triển, xóa bỏ trật tự xã hội cũ bất công, tàn bạo và hướng tới xây dựng trật tự xã hội mới, dân chủ, công bằng và nhân đạo, xứng đáng nhất với con người – đó là chủ nghĩa cộng sản.

Người cũng đặc biệt đề cao học thuyết cách mạng của Lênin, cả trí tuệ khoa học, tính triệt để cách mạng lẫn đạo đức và nhân cách của người sáng lập ra học thuyết Đảng kiểu mới, lãnh đạo thành công cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử, biến chủ nghĩa xã hội từ một học thuyết lý luận thành hiện thực xã hội mới, một chế độ xã hội mới.

Người nhận rõ chủ nghĩa Mác-Lênin là biểu hiện và kết tinh tinh hoa trí tuệ và tư tưởng của thời đại, của văn hoá nhân loại. Song, Người cũng đặt ra một vấn đề hết sức nghiêm túc về nhận thức khoa học: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại” (Sđd, t.1, tr.465).

Người đặt vấn đề về sự cần thiết phải vận dụng quan điểm và phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác để xem xét sự khác nhau cơ bản giữa kết cấu kinh tế và kết cấu giai cấp – xã hội giữa phương Tây với phương Đông. Người cũng nêu rõ, mai đây, khi chủ nghĩa tư bản phương Tây làm thay đổi phương Đông thì đấu tranh giai cấp có trở nên quyết liệt không? và Người khẳng định, đại thể là có, nếu xét gương của Nhật Bản. Người còn giải thích rằng, thật ra là có, vì sự Tây phương hóa ngày càng tăng và tất yếu của phương Đông – nói cách khác, chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng cả ở đó (Sđd, t.1, tr.465).

Nếu phân hoá giai cấp đã trở nên rõ rệt và đối kháng giai cấp từ sự phân hóa ấy là sâu sắc và gay gắt ở phương Tây trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, thì ở phương Đông và Việt Nam lại không hẳn là như vậy. ở đây, nổi bật lên mâu thuẫn dân tộc và xã hội với chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân từ bên ngoài xâm lược vào chứ không phải là mâu thuẫn giai cấp.

Do đó, nếu giải phóng giai cấp và đấu tranh giai cấp như một đặc trưng nổi bật và là một đòi hỏi bức xúc ở phương Tây tư bản chủ nghĩa, thì ở phương Đông, trong đó có Việt Nam lại nổi lên đặc trưng khác, đó là giải phóng dân tộc, là giải quyết mâu thuẫn dân tộc với chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân xâm lược để giành độc lập, xóa bỏ tình trạng thuộc địa và phụ thuộc dưới ách đô hộ, thống trị của thực dân.

Đó là lý do giải thích vì sao Người chủ trương đoàn kết tất cả các giai cấp trong dân tộc để tạo ra sức mạnh giải phóng. Trong khi tin tưởng chắc chắn rằng, lý luận của chủ nghĩa Mác là đúng đắn không chỉ ở phương Tây mà còn ở phương Đông, Người còn có dự báo đầy mẫn cảm rằng, chủ nghĩa cộng sản dễ áp dụng và cách mạng cộng sản chủ nghĩa dễ thành công hơn chính trong thực tiễn phương Đông, châu Á và Việt Nam. Một trong những cơ sở luận chứng cho giả thuyết đó là sức đoàn kết dân tộc, truyền thống cộng đồng đã tỏ ra rất gần gũi với bản chất của chủ nghĩa cộng sản.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh còn nêu ra một luận điểm rất khoa học và sáng tạo, tỏ rõ chính kiến độc lập đầy bản lĩnh của Người. Đó là, muốn áp dụng chủ nghĩa Mác, áp dụng lý thuyết cộng sản của Mác vào phương Đông và Việt Nam thì phải “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông. Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được” (Sđd, t.1, tr.465). Người cũng xác định rằng, nhiệm vụ ấy đang đặt ra về mặt lý luận mà những người cộng sản phải đáp ứng.

Những luận điểm nêu trên được Nguyễn Ái Quốc nói rõ vào năm 1924, đủ thấy tư chất và bản lĩnh sáng tạo của người cộng sản trẻ tuổi với sức bay của tư duy và tư tưởng vượt trước thời đại như thế nào. Sau này, Người còn có nhiều luận điểm sáng tạo khác đối với việc nhận thức bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Có thể nêu một vài thí dụ tiêu biểu. Người nhìn nhận chủ nghĩa Mác-Lênin trong dòng chảy của sự tiến hóa tư tưởng, biết thâu thái tất cả những gì tiến bộ, ưu tú, tinh hoa của tư tưởng, văn hóa nhân loại để vừa hiểu rõ sự phong phú của tư tưởng, văn hóa nhân loại, vừa thấy sự phát triển nhảy vọt của những tư tưởng mácxít vốn không tách rời, không ở bên ngoài mà ở trong tổng số và tổng hợp của toàn bộ những giá trị tinh hoa đó.

Chẳng thế mà, trong khi tin và đi theo chủ nghĩa Mác – Lênin, Người vẫn rất trân trọng tư tưởng từ bi, bác ái của đạo Phật, khoan dung văn hóa cao cả của chúa Giêsu, tinh thần thực tiễn trong Tam dân chủ nghĩa của Tôn Trung Sơn. Với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ là khoa học và cách mạng, mà còn là đạo đức và văn hóa. Người đã từng chỉ rõ, đọc hàng trăm, hàng nghìn quyển sách Mác – Lênin mà ăn ở với nhau không có tình có nghĩa thì làm sao gọi là Mác – Lênin được.

Người cũng là nhà tư tưởng mácxít nổi bật nhất khi tiếp cận chủ nghĩa xã hội, tiếp cận nền chính trị của giai cấp công nhân và bản chất của đảng cộng sản từ góc độ đạo đức học và văn hoá đạo đức. Người nói, chủ nghĩa xã hội đối lập với chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng xã hội chủ nghĩa đối lập với tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, chính trị cốt ở đoàn kết và thanh khiết, Đảng là đạo đức, là văn minh.

Chân lý – một vấn đề của nhận thức luận khoa học – được Hồ Chí Minh mở rộng sang bình diện đạo đức học. Cái gì tốt cho dân, có lợi cho dân, cái đó là chân lý. Phục vụ nhân dân, làm công bộc trung thành và tận tụy của dân là phục tùng chân lý cao nhất, là lựa chọn một lẽ sống cao thượng nhất.

Vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đặc biệt chú trọng yêu cầu sáng tạo, không máy móc rập khuôn, muốn vậy phải hiểu rõ đặc điểm, hoàn cảnh và những điều kiện lịch sử cụ thể. Người căn dặn chúng ta phải chú ý học tập kinh nghiệm của Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em, nhưng không được sao chép mà phải có tinh thần độc lập tự chủ. Người nói rõ, ta và Liên Xô rất khác nhau về trình độ phát triển, về lịch sử và văn hoá. Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm khác với Liên Xô vẫn là người mácxít.

Nhận thức đúng đắn và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh, điều kiện lịch sử đặc thù của Việt Nam là điểm xuất phát về lý luận và thực tiễn, về ý thức hệ của Hồ Chí Minh. Đó chẳng những là cơ sở để có những phát kiến sáng tạo, những cống hiến của Hồ Chí Minh về tư tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, mà còn là sự cống hiến đặc sắc của Người, góp phần làm phong phú chủ nghĩa Mác – Lênin và kho tàng lý luận cách mạng thế giới.

Hai là, vạch trần bản chất của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, thực dân và nêu lên tư tưởng về cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa phải phối hợp chặt chẽ với cách mạng vô sản ở chính quốc. Nguyễn Ái Quốc là người đã viết tác phẩm lý luận mácxít Bản án chế độ thực dân Pháp rất nổi tiếng vào năm 1925. Tác phẩm này là một tổng kết lịch sử, một cáo trạng đối với chủ nghĩa thực dân, để sau đó 20 năm, vào năm 1945, Người viết nên Tuyên ngôn độc lập, khai sinh chế độ dân chủ cộng hoà của nước Việt Nam độc lập, đồng thời là cáo chung chế độ thực dân ở Việt Nam sau hơn 80 năm tồn tại của nó.

Người phân tích: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản; con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra” (Sđd, t.1, tr.298).

Cách mạng phải có sự phối hợp ở cả chính quốc và thuộc địa, giống như một con chim hai cánh, một cánh vỗ ở thuộc địa, một cánh vỗ ở chính quốc. Sự diễn đạt cụ thể và giản dị trên đây đã hàm chứa tư tưởng về tính triệt để của cách mạng chống chủ nghĩa tư bản, thực dân và tính tất yếu của sự phối hợp các phong trào cách mạng vì mục tiêu giải phóng ở các nước thuộc địa, phụ thuộc và ở các nước tư bản chủ nghĩa. Đó là biểu hiện lập trường cách mạng triệt để và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân trên toàn thế giới.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã nhận rõ, đối với những người lao động và vô sản ở khắp mọi nơi, dù màu da có khác nhau nhưng họ đều có chung một kẻ thù và cũng có chung một mục tiêu tranh đấu. Đế quốc thực dân ở đâu đâu cũng là ác quỷ, phải đánh đổ nó đi. Còn anh em vô sản ở đâu đâu cũng là bạn bè, anh em, đồng chí của nhau. Trên đời này, suy đến cùng, cũng chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản (Sđd, t.1, tr.266).

Người đề cập tới tình hình Đông Dương và những cơ sở cho sự chín muồi cách mạng ở đó. Đó vừa là những khẳng định khoa học, vừa là những dự báo chính trị mẫn cảm. Người viết: “người Đông Dương không chết, người Đông Dương vẫn sống, sống mãi mãi. Sự đầu độc có hệ thống của bọn tư bản thực dân không thể làm tê liệt sức sống, càng không thể làm tê liệt tư tưởng cách mạng của người Đông Dương. Luồng gió từ nước Nga thợ thuyền, từ Trung Quốc cách mạng hoặc từ Ấn Độ chiến đấu đang thổi đến giải độc cho người Đông Dương” (Sđd, t.1, tr.28).

Theo đánh giá của Người, “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến. Bộ phận ưu tú có nhiệm vụ phải thúc đẩy cho thời cơ đó mau đến. Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi. Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi” (Sđd, t.1, tr.28). Cho đến khi, Luận cương của Lênin được Người hấp thụ như tìm thấy cẩm nang đi đường, Người đã xác định rõ ràng con đường giải phóng dân tộc là con đường cách mạng vô sản.

Ba là, Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã giải quyết thành công mối quan hệ giữa dân tộc với giai cấp, giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp trên lập trường giai cấp công nhân. Trong những năm 20 – 30 của thế kỷ XX, không phải tất cả những người cách mạng và yêu nước, dù đứng trên lập trường cộng sản, đã ý thức đầy đủ và thật sự quan tâm tới vận động cách mạng giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Song, đây lại là vấn đề cốt tử mà Nguyễn Ái Quốc đặc biệt chú ý, từ khi tham gia hoạt động trong Đảng Cộng sản Pháp.

Người đã thẳng thắn phê phán thái độ thờ ơ hoặc lãng quên phong trào cách mạng ở thuộc địa và đòi hỏi Đảng Cộng sản phải xác định rõ trách nhiệm của Đảng đối với việc thúc đẩy và phối hợp hành động với các phong trào cách mạng ở thuộc địa. Người đã sớm đi đến một kết luận quan trọng: sự nghiệp giải phóng dân tộc phải đồng thời gắn liền với sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và giải phóng xã hội; cả hai cuộc giải phóng đó đều là sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, là sự nghiệp của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Các bản tham luận nổi tiếng của Người tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản (17/6 đến 8/7 năm 1924) đã chứng tỏ điều đó.

Những luận điểm sau đây cho thấy tính hệ thống và sự nhất quán của Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc và cách mạng vô sản: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và cách mạng thế giới.” (Sđd, t.1, tr.416) Chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân trên thế giới,” “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản.” (Sđd, t.9, tr.314)

Cái mới và bản lĩnh sáng tạo của Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc và cách mạng vô sản là ở chỗ:

– Không tách rời giai cấp khỏi dân tộc.

– Giải phóng dân tộc trên lập trường giai cấp công nhân, trên nền tảng ý thức hệ của giai cấp công nhân nên cách mạng giải phóng dân tộc với mục tiêu giành độc lập dân tộc phải do giai cấp công nhân và đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản lãnh đạo. Cũng do đó, con đường tiến lên của dân tộc và của xã hội Việt Nam chỉ có thể là con đường xã hội chủ nghĩa, gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội bằng cách quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.

Thực tiễn khẳng định, tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng và phát triển đã mở ra con đường phát triển tốt đẹp nhất cho dân tộc Việt Nam: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã đặt nền móng lý luận cho cách mạng Việt Nam trong thời đại mới, đã tìm thấy con đường phát triển đúng đắn, hợp lý, có triển vọng nhất, phù hợp với trào lưu tiến hoá chung của nhân loại và xu thế phát triển của thời đại.

Bốn là, nhờ có lý luận và phương pháp cách mạng đúng đắn, Hồ Chí Minh đã cùng với Đảng lãnh đạo nhân dân và dân tộc ta đánh bại chủ nghĩa thực dân kiểu cũ và mới, đưa dân tộc ta vào hàng ngũ các dân tộc tiên phong của thế giới, xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của nước ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội cũng có những nét sáng tạo đặc sắc, có giá trị và ý nghĩa hiện đại, không chỉ với nước ta mà còn đối với các nước xã hội chủ nghĩa khác trong loại hình “phát triển rút ngắn” và “quá độ gián tiếp,” do bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, thực hiện từng bước từ dân chủ nhân dân tới chủ nghĩa xã hội.

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh có cả một hệ vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội, từ đặc trưng, bản chất, mục tiêu, con đường, phương thức, mô hình và bước đi cũng như những giải pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong sự kết hợp giữa tính phổ biến với tính đặc thù, tính giai cấp – dân tộc – nhân dân với tính thời đại và tính nhân loại trong thế giới đương đại ngày nay.

Hồ Chí Minh đã phát triển lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học bằng cách bổ sung một cách tiếp cận đạo đức học cũng đồng thời là một quan niệm cụ thể về chủ nghĩa xã hội. Người đã dự cảm từ rất sớm một vấn đề mà ngày nay ta càng thấy rõ tính hệ trọng đối với sự phát triển của chủ nghĩa xã hội: Không đánh bại chủ nghĩa cá nhân thì không thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội (Sđd, t.9, tr.291).

Cũng như vậy, không đảm bảo thực hành dân chủ rộng rãi thì không thể chống được quan liêu, lãng phí, tham ô, tham nhũng. Rõ ràng, chủ nghĩa xã hội là đối lập với chủ nghĩa cá nhân. Thành bại của chủ nghĩa xã hội tùy thuộc vào chỗ, những người xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là đội ngũ tiên phong có đủ dũng khí và quyết tâm để đánh thắng thứ “giặc nội xâm” mà Người coi là kẻ thù nguy hiểm nhất hay không?

Do đó, chủ nghĩa xã hội không chỉ là kinh tế – một nền kinh tế phồn vinh, giàu có, một thể chế chính trị dân chủ – pháp quyền, đảm bảo quyền làm chủ thực chất của nhân dân, một xã hội công bằng, bình đẳng cho sự phát triển hài hoà cá nhân và cộng đồng, mà còn là một nền tảng đạo đức trong sạch, thấm sâu vào các quan hệ xã hội lành mạnh, một hệ giá trị văn hoá nhân bản, nhân đạo và nhân văn, kết hợp được truyền thống, bản sắc dân tộc với những tinh hoa của thời đại vì độc lập – tự do – hạnh phúc cho mọi con người, mọi dân tộc.

Sự sâu sắc và tinh tế văn hóa, đặc biệt là văn hóa đạo đức của Hồ Chí Minh là ở chỗ, Người đem vào tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội một nhiệm vụ chiến lược – “trồng người,” đào tạo, giáo dục, rèn luyện cán bộ, coi đó là công việc gốc của Đảng; và thực hành đạo đức cách mạng được Người quan tâm suốt đời như một chiến lược, cả tư tưởng lẫn hành động.

Chiến lược đó là cốt lõi của chiến lược con người, chiến lược xây dựng, phát triển, đồng thời là chiến lược bảo vệ chủ nghĩa xã hội, làm cho cách mạng, Đảng cách mạng, người cách mạng, có sức mạnh tự bảo vệ. Điều đó cho thấy, tư duy chiến lược của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở tầm thời đại và hiện đại như thế nào, nhất là đem tư tưởng của Người soi rọi vào tình hình hiện nay cũng như trước những đòi hỏi mới của thời đại, trong xu thế toàn cầu hoá và trong bối cảnh hội nhập.

Người chỉ rõ, bản chất sâu xa và tính ưu việt nổi bật của chủ nghĩa xã hội là thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Người khẳng định, không gì quý bằng dân, không gì mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân, và dân chủ là quý báu nhất trên đời của dân. Là chủ thể gốc của mọi quyền lực, nhân dân phải là chủ sở hữu đích thực của dân chủ, phải là chủ xã hội, chủ nhà nước, kiểm soát được nhà nước của mình và xã hội phải là một xã hội dân chủ. Người còn nhấn mạnh, thực hành dân chủ rộng rãi sẽ là chiếc chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. Vậy là, Người đã thấy vai trò động lực của dân chủ đối với tiến bộ và phát triển, đối với chủ nghĩa xã hội.

Lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh thấm nhuần sâu sắc không chỉ khoa học, cách mạng mà còn là đạo đức, là văn hóa, tức là nhân văn. Người từng nói, chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học sẽ là nguồn sức mạnh vô tận, chắc chắn sẽ đưa loài người đến hạnh phúc vô tận (Sđd, t.9, tr.131). Phải xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa sao cho đời sống vật chất ngày càng tăng, đời sống tinh thần ngày càng tốt, xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ. Tất cả đều nhằm vào hạnh phúc của nhân dân. Dân chỉ biết đến dân chủ khi dân được ăn no, mặc ấm. Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân vẫn cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì (Sđd, t.4, tr.152).

Mấu chốt của xây dựng chủ nghĩa xã hội, theo Hồ Chí Minh là phải dựa vào dân, đem tài dân, sức dân để làm lợi cho dân, để mưu cầu hạnh phúc cho dân. Việc gì có lợi cho dân phải quyết làm cho bằng được. Việc gì có hại tới dân phải quyết tránh cho bằng được. Quyền làm chủ của dân, hạnh phúc của dân, sự phát triển tự do, dân chủ, công bằng trong xã hội – đó là những giá trị đảm bảo cho chế độ phát triển bền vững và chủ nghĩa xã hội thực sự là một xã hội văn hóa cao, trong đó, con người là con người xã hội chủ nghĩa, nhân dân là chủ và làm chủ, dân tộc trở thành một dân tộc thông thái.

Chủ nghĩa xã hội nhân dân và nhân văn trong chiều sâu triết lý nhân văn chủ nghĩa của Hồ Chí Minh là ở đó. Trong những tư tưởng hàm xúc đó đã toát lên đầy đủ những vấn đề cốt yếu về mục tiêu, bản chất, động lực, cách làm và bước đi của chủ nghĩa xã hội. Đó là chủ nghĩa xã hội Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó cũng là một trong những cống hiến sáng tạo nổi bật của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội.

Năm là, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội thể hiện một quan hệ biện chứng, thấm nhuần sâu sắc quan điểm thực tiễn – phát triển và đổi mới. Những luận giải cô đọng, hàm xúc của Hồ Chí Minh cho thấy, độc lập dân tộc là tiền đề, là điều kiện của chủ nghĩa xã hội, đó là nền tảng chính trị, là cơ sở dân tộc và chủ quyền nhân dân của chủ nghĩa xã hội.

Theo đó, chủ nghĩa xã hội sinh thành, phát triển và hoàn thiện là đảm bảo thực chất, đầy đủ và bền vững nhất của độc lập dân tộc. Đó cũng là thước đo dân chủ và tự do của phát triển xã hội, một xã hội văn minh, hiện đại mà lịch sử tìm thấy sự biểu hiện tốt nhất ở chủ nghĩa xã hội.

Chủ nghĩa xã hội, đó cũng chính là cách thức tổ chức xã hội tốt nhất để làm cho Tổ quốc, đất nước, quốc gia – dân tộc trường tồn, con người cá nhân và cộng đồng xã hội được phát triển tự do, toàn diện mọi khả năng sáng tạo, được thụ hưởng hạnh phúc vật chất, tinh thần trong một môi trường lành mạnh, tốt đẹp nhất. Đó cũng chính là hàm ý sâu xa trong một chân lý lớn mà Hồ Chí Minh nêu ra: “Không có gì quý hơn độc lập tự do.” Giá trị ấy cũng chính là chủ nghĩa xã hội, một chủ nghĩa xã hội phát triển thông qua đổi mới, sáng tạo và hiện đại hóa./.

(TTXVN/Vietnam+)
vietnamplus.vn