Tag Archive | Độc lập

Hồ Chí Minh và Hiến pháp 1946

QĐND – Thế là đã 65 năm Quốc hội khóa I thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước ta, ngày 9-11-1946. Thời gian là vị quan tòa nghiêm khắc và công minh nhất thẩm định sự đúng sai của những tư tưởng, những quyết sách và nhất là hướng đi. Nhìn lại một chặng đường lịch sử gần hai phần ba thế kỷ, càng hiểu ra sự minh triết của Hồ Chí Minh, tác giả của Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, cha đẻ của Hiến pháp 1946 đặt nền móng cho Nhà nước pháp quyền đích thực của quốc gia ấy.

Ngay trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 3-9-1945, Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ”! Trong bộn bề những việc cấp bách hằng ngày với thù trong giặc ngoài, Hồ Chí Minh vẫn trực tiếp chỉ đạo việc soạn thảo Hiến pháp và cho ra đời bản Hiến pháp 1946 mà cho đến nay, giới nghiên cứu về luật pháp đánh giá là bản Hiến pháp mẫu mực nhất: Một hiến pháp dân chủ.

Là người bôn ba khắp năm châu bốn biển, thông hiểu nền văn hóa Tây phương từ một sự hiểu biết sâu sắc triết lý phương Đông và truyền thống văn hóa nước mình, Hồ Chí Minh có điều kiện trải nghiệm để nhìn ra những điều mà người khác có thể không nhìn thấy. Hơn ai hết, Hồ Chí Minh hiểu rõ dân tộc mình, nhân dân mình cần cái gì nhất. Điều đó quy định nội dung của Tuyên ngôn Độc lập 2-9-1945 và Hiến pháp 1946 – lời tuyên bố đĩnh đạc của nhân dân Việt Nam trước thế giới, khẳng định ý chí và khát vọng của dân tộc mình.

Dân chủ nằm ngay trong tên nước và mục tiêu hướng tới, tức cũng là hướng đi, được ghi rõ ngay dưới tên nước: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc. Nước có độc lập thì dân mới có tự do để làm ăn sinh sống, tự do suy nghĩ và hành động để mưu cầu hạnh phúc. Dân chủ là điều kiện tiên quyết để có tự do và có tự do mới thực sự có hạnh phúc!

Bác Hồ bỏ lá phiếu bầu cử tại Hà Nội năm 1960. Ảnh tư liệu.

Thế nhưng, “dân chủ không thể được áp đặt bởi sự màu nhiệm những cơ chế của chính nó, dân chủ cần những người mang nó, sống động trong con người họ, và làm cho nó tồn tại sống động đối với tất cả mọi người”(1), ý tưởng ấy có sức gợi mở cho những tìm tòi về phương thức thực hành dân chủ mà Hồ Chí Minh tìm cách thực hiện. Hiến pháp 1946 là một minh chứng cho điều đó.

Thực ra Hồ Chí Minh hiểu rằng: “trong nhiều xã hội ngoài châu Âu, thông điệp đấu tranh giai cấp nghe xuôi tai hơn thông điệp dân chủ; sự phê phán nhân quyền dễ trót lọt hơn ý tưởng về dân quyền. Và như vậy là vì những lý do lịch sử: Ý tưởng về nhân quyền do bọn thực dân mang tới cho họ, áp đặt bằng nòng súng. Nhân quyền thuộc về kẻ chiến thắng, đương nhiên, trước mắt kẻ thua trận, đó là thứ ngụy trang cho sự thống trị thực dân”(2). Tuy nhiên, trong Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã dẫn ra tư tưởng về nhân quyền, bởi vì “ý tưởng xây dựng xã hội trên nền tảng quyền con người… là một ý tưởng phổ quát, đáp ứng một hy vọng toàn cầu”(3).

Cần nhớ rằng, trong “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” gửi đến Hội nghị Véc-xây năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã đòi “thay đổi chế độ sắc luật bằng chế độ luật…”. Trong “Việt Nam yêu cầu ca” cũng đã có câu: “Bảy xin hiến pháp ban hành/ Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”(4) [phải chăng đây là từ nguyên ngữ “l’esprit des lois” của Montesquieu?].

Trước đó, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra: “nếu có một đảng độc lập tồn tại thì đảng này không phải đi ăn xin một vài quyền tự do mà thiếu nó thì con người là một tên nô lệ khốn khổ”… “Rất ôn hòa cả về nội dung lẫn hình thức, các nguyện vọng của chúng tôi nhằm vào những cải cách chủ yếu cho việc giải phóng chúng tôi, và nhằm vào những quyền tự do mà nếu không có chúng thì con người ngày nay chỉ là một kẻ nô lệ khốn nạn”(5).

Dẫn ra những điều trên để hiểu rằng, hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà Hồ Chí Minh đã mở đầu Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra Nhà nước dân chủ cộng hòa của mình bằng những câu tiêu biểu nhất về quyền con người, về khát vọng cháy bỏng của con người trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp: “Hỡi đồng bào cả nước! Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Từ “quyền con người”, quyền đương nhiên không phải do ai ban phát cả, Hồ Chí Minh dẫn đến quyền của dân tộc với nội dung như đã dẫn ra ở trên.

Những ý tưởng tiêu biểu ấy được thể hiện một cách thật giản dị, dễ hiểu trong Hiến pháp 1946 với 70 điều. Nội dung tập trung về xác lập quyền của công dân và quyền của nhà nước, quyền giữa các cơ quan nhà nước với nhau, ở đó nổi bật lên hai vấn đề cơ bản nhất: Ngăn cấm sự lạm quyền của quyền lực nhà nước và đảm bảo quyền tự do dân chủ của công dân.

Để làm được điều đó, nội dung của Hiến pháp 1946 làm nổi bật lên nguyên tắc cơ bản: Đặt pháp quyền ở trên nhà nước và quyền phúc quyết Hiến pháp thuộc về nhân dân. Nhà nước pháp quyền ấy phải được tổ chức theo nguyên tắc “tam quyền phân lập” để kiểm tra nhau. Cơ quan Nhà nước và công chức chỉ làm được những điều luật pháp cho phép còn dân thì được phép làm tất cả những điều gì mà luật pháp không cấm. Những yếu tố pháp quyền nổi lên trên nguyên tắc quyền lực và tổ chức quyền lực là điều mà những Hiến pháp sau này không làm rõ được, thậm chí bỏ quên! Công việc của nhà nước và các cơ quan công quyền phải công khai và minh bạch trước dân, dân có quyền tham gia vào việc hoạch định pháp luật, giám sát và kiểm soát…

Trong nội dung của Hiến pháp 1946, nét nổi bật là việc kiểm soát quyền lực nhà nước chứa đựng tinh thần khoan dung của truyền thống Việt Nam. Ngay tại Điều 1 đã nổi rõ lên tinh thần ấy. “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả các quyền bính trong nước là của toàn dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Những điểm khác như Hội đồng nhân dân cũng được xác định như một cơ quan “tự quản” của nhân dân địa phương, quyết định các vấn đề của địa phương, do nhân dân địa phương bầu chọn và chịu trách nhiệm trước họ. Ở đây đã thấp thoáng bóng dáng những đường nét tư duy về cái mà ngày nay ta gọi là “xã hội dân sự”. Định chế luật sư cũng đã được đề ra. Thậm chí, trong bối cảnh của một nhà nước mới thành lập, đang phải đối phó với thù trong giặc ngoài mà đã chững chạc khẳng định: “Những người ngoại quốc tranh đấu cho dân chủ và tự do mà phải trốn tránh thì được trú ngụ trên đất Việt Nam” trong Điều 16 của Hiến pháp 1946! Càng nghĩ càng thấm thía về tầm nhìn Hồ Chí Minh.

Và rồi, ở một đất nước mà nhà nước mang nặng “truyền thống” quan liêu, Hồ Chí Minh đã đòi hỏi xây dựng một “nhà nước đày tớ của dân”, điều mà nhiều nhà tư tưởng lớn của loài người đã từng ấp ủ, nhưng vấn đề là Hồ Chí Minh đã sớm đưa ngay ý tưởng đó vào việc tổ chức nhà nước và cố gắng thực hiện. Hồ Chí Minh đã nghiêm khắc cảnh báo ngay từ ngày chính quyền còn trong trứng nước: “các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân… Dân chủ thì Chính phủ phải là đày tớ. Làm việc ngày nay không phải để thăng quan phát tài. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”.

Có thể nói, cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nước được thể hiện trong Hiến pháp 1946 đã đặt nền móng cho một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, trong đó các quyền tự do, bình đẳng về chính trị và xã hội của người công dân được công nhận và được bảo đảm bằng luật pháp. Hiến pháp năm 1946 thể hiện rất tập trung tư duy của Hồ Chí Minh về Nhà nước. Vì vậy, việc sửa đổi Hiến pháp sắp tới chỉ có ý nghĩa khi trung thực và nghiêm cẩn quán triệt điều ấy. Cũng có nghĩa là phải dám chỉ ra những bất cập của các bản Hiến pháp ra đời sau Hiến pháp 1946 và nguyên nhân cơ bản về những bất cập đó. Có như vậy thì việc sửa đổi Hiến pháp 1992 mới có ý nghĩa thiết thực, khỏi lãng phí sức người, sức của khi mà cuộc sống của dân đang còn quá nhiều khó khăn. Mọi sự khoa trương hình thức đều đi ngược với tư tưởng Hồ Chí Minh và sẽ đánh mất niềm tin của dân.

(1) Đại bách khoa toàn thư Pháp
(2, 3) Francois Furet. “Số phận một ý tưởng”. Người đưa tin UNESCO. Hà Nội, 1989, số 6, tr.5
(4, 5) Hồ Chí Minh Toàn tập. Tập 1. NXBCTQG Hà Nội 1995, tr.5 và tr.10

GS Tương Lai

qdnd.vn

Sửa đổi Hiến pháp năm 1992 dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI vừa qua đã khẳng định luận điểm chỉ đạo mới (tiếp theo luận điểm chỉ đạo rất tiến bộ và dân chủ của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X về việc xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp và trong việc ban hành quyết định của các cơ quan công quyền) là: Nghiên cứu xây dựng, bổ sung các thiết chế và cơ chế vận hành cụ thể để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; khẩn trương nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992…

Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền bao giờ cũng mang tính pháp chế tối thượng

Không có khái niệm chung về Hiến pháp. Qua nghiên cứu Hiến pháp của các nhà nước pháp quyền trên thế giới thì thấy, Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền là đạo luật cơ bản nhà nước có tính pháp chế tối thượng và hiệu lực pháp lý trực tiếp cao nhất trên toàn bộ lãnh thổ của một quốc gia, mà trong đó ghi nhận và điều chỉnh các chế định trung tâm và chủ yếu nhất liên quan đến những cơ sở của chế độ hiến định, các quyền và tự do của con người và của công dân, các lĩnh vực cơ bản và quan trọng hơn cả trong việc tổ chức, thực hiện và kiểm soát quyền lực nhà nước của bộ máy công quyền cũng như trong đời sống chính trị, kinh tế và xã hội của đất nước. Như vậy, có thể khẳng định rằng bản chất chính trị, tư tưởng và pháp lý của Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền được thể hiện ở chỗ, với tư cách là văn kiện chính trị pháp lý chủ yếu và là khế ước xã hội quan trọng nhất của một quốc gia, Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền bao giờ cũng mang tính pháp chế tối thượng so với tất cả các văn bản quy phạm pháp luật khác trong hệ thống pháp luật của quốc gia đó, có hiệu lực pháp lý trực tiếp cao nhất. Đồng thời, Hiến pháp là nền tảng của quyền lực nhà nước và trật tự pháp luật, là cơ sở để thực thi và bảo vệ một cách vững chắc và hữu hiệu các quyền và tự do hiến định của con người và của công dân tránh khỏi sự xâm hại của quyền lực nhà nước. Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền ghi nhận và điều chỉnh ba nhóm quan hệ xã hội chủ yếu và quan trọng nhất gồm: Các chế định trung tâm và chủ yếu nhất liên quan đến những cơ sở của chế độ hiến định, các quyền và tự do của con người của công dân; các lĩnh vực cơ bản và quan trọng hơn cả trong việc tổ chức, thực hiện và kiểm soát quyền lực nhà nước của bộ máy công quyền và các lĩnh vực cơ bản, quan trọng hơn cả trong đời sống chính trị, kinh tế và xã hội của đất nước.

Nghiên cứu tổ chức bộ máy quyền lực nhà nước trong các nhà nước pháp quyền trên thế giới đương đại cho thấy, nếu các quy phạm này trong Hiến pháp được soạn thảo một cách khoa học, chặt chẽ về mặt kỹ thuật lập hiến, nhất quán về logic pháp kỹ và khả thi, đáp ứng được việc điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội chủ yếu nhất thì sẽ có vai trò rất quan trọng đối với việc tổ chức bộ máy quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền trên 3 khía cạnh. Thứ nhất, bằng việc ghi nhận đầy đủ những nguyên tắc cơ bản, các quy phạm và các chế định quan trọng hơn cả về tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước tương ứng với ba nhánh quyền lực truyền thống là quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền khẳng định một chân lý tối thượng – tinh hoa của nền văn minh nhân loại là, nhân dân – người sáng tạo nên lịch sử – tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, chủ quyền của nhân dân cao hơn chủ quyền của nhà nước. Vấn đề này thể hiện rõ nhất ở quyền lập hiến của nhân dân. Thứ hai, bằng việc phân công rõ ràng, rành mạch nhưng thẩm quyền và chức năng của các cơ quan công quyền tương ứng với ba nhánh quyền lực truyền thống đã nêu, Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền góp phần tạo nên các cơ sở hiến định để các quan chức của các cơ quan này có thể thực thi đúng, đầy đủ và hiệu quả chức trách công vụ của mình với tư cách là những công bộc, những người đầy tớ của nhân dân. Thứ ba, bằng việc ghi nhận đầy đủ, khoa học và chặt chẽ những nguyên tắc cơ bản, các quy phạm và các chế định quan trọng hơn cả về kiểm soát quyền lực nhà nước tương ứng với ba nhánh quyền lực, Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền góp phần điều chỉnh ở mức cao nhất sự phối hợp, phân công và cân bằng, cũng như sự kiểm tra và chế ước lẫn nhau giữa các cơ quan công quyền của các nhánh này nhằm loại trừ các biểu hiện tùy tiện, lạm quyền, tệ quan liêu, tham nhũng, hách dịch, cửa quyền, xâm phạm các quyền và tự do hiến định của công dân, đồng thời đem lại các dịch vụ công tốt nhất cho xã hội.

Những hạn chế trong quy định về tổ chức bộ máy nhà nước của Hiến pháp 1992

Sau gần 20 năm thực hiện Hiến pháp năm 1992, nước ta đã thu được những thành tựu rất lớn. Tuy nhiên, xét ở khía cạnh tổ chức bộ máy quyền lực nhà nước, Hiến pháp năm 1992 đã bộc lộ một số hạn chế cần được phân tích sâu sắc với cái nhìn thẳng thắn để phục vụ cho việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 tới đây.

Hiện nay, Hiến pháp chưa có sự điều chỉnh về mặt lập hiến quy trình lập pháp cũng như quy trình miễn nhiệm các chức vụ nhà nước cao cấp do Quốc hội phê chuẩn và do Chủ tịch nước bổ nhiệm. Chưa xác định được ranh giới rõ rệt giữa các cơ quan thuộc các nhánh quyền lực nhà nước khác nhau. Hiến pháp năm 1992 cũng thiếu các quy phạm đề cập đến cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước nói chung để tạo nên được sự phối hợp và cân bằng cũng như sự kiểm tra và chế ước nhau giữa các cơ quan công quyền thuộc các nhánh quyền lực nhà nước. Đây chính là vấn đề cơ bản nhất tạo ra kẽ hở cho sự tuỳ tiện, hiệu quả thấp và năng lực quản lý nhà nước yếu trong hoạt động của các cơ quan công quyền.

Các quy phạm liên quan đến cơ chế bảo vệ Hiến pháp hiện hành cũng chưa đầy đủ và còn mang tính một chiều vì trong khi hai nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp được Hiến pháp trao khá nhiều quyền để thực hiện sự kiểm soát quyền lực đối với nhánh quyền lực tư pháp thì ngược lại, không có quy định nào ghi nhận sự kiểm soát quyền lực của nhánh tư pháp đối với hành pháp và lập pháp.

Quy trình lập hiến và hiệu lực của Hiến pháp là phần rất quan trọng cần được điều chỉnh cụ thể và công khai từng công đoạn trong quy trình lập hiến như soạn thảo – sửa đổi – bổ sung – thông qua – công bố Hiến pháp để toàn thể nhân dân được biết nhưng Hiến pháp hiện hành mới ghi nhận một công đoạn của quy trình lập hiến là: Khi nào thì Hiến pháp được sửa đổi.

Nghiên cứu kỹ các quy phạm của Hiến pháp năm 1992 có liên quan đến việc tổ chức bộ máy quyền lực nhà nước cũng thấy bộc lộ một số hạn chế. Hiến pháp năm 1992 thiếu một chế độ hiến định cơ bản là chế độ xã hội với sự điều chỉnh chưa đầy đủ một số lĩnh vực liên quan đến đời sống xã hội của một quốc gia và các lợi ích thiết thực của nhân dân cũng như một số đối tượng yếu thế trong xã hội. Các quy phạm về các chế định quyền con người và quyền công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp nhưng về mặt kỹ thuật lập pháp cũng có một số vấn đề. Ví dụ, Hiến pháp quy định các quyền cơ bản của công dân, vậy các quyền không cơ bản là các quyền nào và không lẽ, các quyền không cơ bản này không cần được ghi nhận trong Hiến pháp hay sao? Hiến pháp cũng thiếu các quy phạm về cơ chế pháp lý để bảo vệ các quyền hiến định này khiến cho những công dân không có kiến thức về pháp luật rất khó tự bảo vệ được các quyền hiến định của mình khi các quyền này bị xâm phạm.

Sửa đổi Hiến pháp năm 1992 dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh

Để khắc phục những hạn chế nêu trên trong việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 tới đây, trước hết cần bảo đảm sự nhận thức khoa học thống nhất về việc sửa đổi Hiến pháp dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh mà sự phản ánh rõ nét hơn cả trong Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa để từ đó kế thừa các giá trị của Hiến pháp năm 1946, lĩnh hội những tinh hoa quý báu từ chủ nghĩa lập hiến của nhân loại.

Từ thực tiễn thi hành Hiến pháp năm 1992 và trên cơ sở nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật kiểu mới của Việt Nam cho phép khẳng định rằng: Ba đặc tính nhân dân, dân chủ và pháp quyền là nội dung quan trọng nhất của một Nhà nước và nền pháp luật kiểu mới sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 của Hồ Chí Minh mong muốn xây dựng (mà sự thể hiện rõ nét nhất điều này là sự chỉ đạo sáng suốt của Người trong việc soạn thảo ra bản Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa – nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á). Hiến pháp sửa đổi nhất thiết phải là Hiến pháp phản ánh rõ nét chủ quyền của nhân dân trong toàn bộ các quy định về tổ chức bộ máy quyền lực nhà nước. Vì theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Chính phủ ta là Chính phủ của nhân dân”…; “là đày tớ, công bộc của nhân dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân chứ không phải là để đè đầu cưỡi cổ dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”; “Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ… nếu Chính phủ mà có hại cho dân chúng, thì dân chúng phải lật đổ Chính phủ đó”; “Trong bầu trời này không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”; “Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ bất kỳ ở cấp nào, ngành nào đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân”; “Bao nhiêu lợi ích đều phải vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân ta phải hết sức tránh”…

Hiến pháp sửa đổi nhất thiết phải là bản Hiến pháp thể hiện trên thực tế sự tham gia rộng rãi của nhân dân vào các hoạt động của quá trình tổ chức bộ máy quyền lực nhà nước. Vì Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được nhân dân”; “Nước ta là nước dân chủ. Địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”; “Chính quyền nhân dân lãnh đạo phải dân chủ, thiết thực… và có nhiệm vụ thực hiện tự do dân chủ cho dân chúng”; “Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền” nên “quyền phải giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người”.

Hiến pháp sửa đổi cũng nhất thiết phải là bản Hiến pháp ghi nhận đầy đủ, rõ ràng, khoa học và chính xác các cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, đặc biệt là cơ chế bảo hiến bằng nhánh quyền lực tư pháp để tránh khắc phục những hạn chế trong tổ chức bộ máy quyền lực nhà nước hiện hành. Vì quan niệm chủ quyền của nhân dân và dân chủ chỉ có thể được thực hiện trên thực tế bằng Hiến pháp và pháp luật trong nhà nước pháp quyền nên ngay từ năm 1922 trong tác phẩm Việt Nam yêu cầu ca, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Bảy xin Hiến pháp ban hành, trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Hiến pháp sửa đổi cần trao cho nhân dân quyền trực tiếp bầu ra những người công bộc đại diện cho họ để thực hiện quyền lực ở cả hai nhánh quyền lực nhà nước còn lại mà Hiến pháp năm 1992 chưa quy định như: Nhánh quyền hành pháp – bầu Chủ tịch nước và tất cả Chủ tịch UBND các cấp; nhánh quyền tư pháp – bầu tất cả các thẩm phán Tòa án nhân dân và tất cả các kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân địa phương các cấp.

Sửa đổi Hiến pháp dựa trên tư tưởng lấy dân làm gốc

Cần xác định một cách đồng bộ những cơ sở khoa học, thực tiễn của việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam. Cụ thể, việc sửa đổi Hiến pháp cần bảo đảm sự phù hợp với thực tiễn pháp lý cũng như các điều kiện cụ thể hiện nay của nước ta về kinh tế, xã hội, tâm lý, đạo đức, văn hóa, lịch sử, tôn giáo, truyền thống… để sau khi được thông qua, các quy định của Hiến pháp sửa đổi sẽ thực sự là những căn cứ pháp lý nền tảng cho hệ thống pháp luật quốc gia cũng như cho việc điều chỉnh những nhóm vấn đề chủ yếu tương ứng với các lĩnh vực cơ bản và quan trọng nhất trong sinh hoạt nhà nước – xã hội.

Việc sửa đổi Hiến pháp cần đáp ứng được các quan hệ xã hội đang tồn tại ở Việt Nam đương đại trong gần 20 năm qua và có tính đến sự phát triển tiếp tục của các quan hệ xã hội này trong tương lai để sau khi được thông qua các quy định của Hiến pháp sửa đổi đi vào cuộc sống lâu dài.

Cần lĩnh hội các tư tưởng pháp lý tiến bộ và dân chủ với tư cách là những tinh hoa của nền văn minh nhân loại như: sự tôn trọng và bảo vệ các quyền và tự do của con người và của công dân; sự phối hợp, phân công, cân bằng, kiểm tra và chế ước nhau giữa các nhánh quyền lực nhà nước; sự bảo vệ Hiến pháp bằng nhánh quyền lực tư pháp…

Việc sửa đổi Hiến pháp cần góp phần thúc đẩy một cách tích cực cho thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển và củng cố các thiết chế của xã hội dân sự và thành công của công cuộc cải cách tư pháp trên đất nước Việt Nam. Và điều quan trọng là, việc sửa đổi Hiến pháp cần dựa trên tư tưởng lấy dân làm gốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đề xuất điều chỉnh 5 nhóm quan hệ xã hội chủ yếu trong sửa đổi Hiến pháp năm 1992

Nên chăng trong lần sửa đổi Hiến pháp tới đây, cần điều chỉnh ít nhất 5 nhóm quan hệ xã hội chủ yếu tương ứng với ít nhất là 18 lĩnh vực chủ yếu và quan trọng trong sinh hoạt nhà nước – xã hội gồm:

Thứ nhất: nhóm những vấn đề liên quan đến 3 chế độ hiến định lớn của một quốc gia là chế độ chính trị, chế độ kinh tế và chế độ xã hội.

Thứ hai: nhóm những vấn đề liên quan đến địa vị pháp lý của cá nhân là chế định các quyền con người, chế định nghĩa vụ công dân và hệ thống các cơ chế pháp lý để bảo vệ các quyền hiến định này ở cả hai cấp độ quốc gia và quốc tế.

Thứ ba: nhóm những vấn đề liên quan đến đến các chế định về tổ chức, thực hiện và kiểm soát quyền lực nhà nước là quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và quyền kiểm sát – nếu vẫn giữ nguyên việc tổ chức hệ thống Viện kiểm sát nhân dân như hiện nay và chính quyền địa phương.

Thứ tư: nhóm những vấn đề liên quan đến quy trình lập hiến gồm soạn thảo – sửa đổi – bổ sung – thông qua và công bố Hiến pháp cũng như hiệu lực của Hiến pháp.

Thứ năm: nhóm những vấn đề liên quan đến các quy định chuyển tiếp để điều chỉnh hiệu lực tạm thời của các quy định pháp luật hiện hành và thẩm quyền của một số chức vụ nhà nước thuộc cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp nếu không trái với các quy định của Hiến pháp sửa đổi.

Theo TSKH Lê Văn Cảm (daibieunhandan.vn)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Nét bình dị trong cuộc sống đời thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Suốt cả cuộc đời mình, Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam đã hiến dâng cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Người không ham danh vọng, không có của riêng. Tất cả những gì thuộc về Người đều trở nên gần gũi, thiêng liêng với non sông, đất nước, làm nên một huyền thoại Hồ Chí Minh, “kỳ diệu không những về mặt con người mà còn với tư cách là lãnh tụ của một dân tộc, của một quốc gia. Chữ “kỳ diệu” dùng ở đây là để nói về một con người có một thể chất và một tâm hồn giản dị như thế, xuất thân từ nơi đồng ruộng”[1].

Hồ Chí Minh là một người giản dị, yêu thiên nhiên, luôn gần gũi với thiên nhiên. Trong bất cứ thời điểm nào, đang làm gì, ở đâu thì cuộc sống đời thường của Người cũng luôn thanh đạm, nề nếp, có chừng mực, điều độ, ngăn nắp, gọn gàng. Dù là anh Văn Ba đang làm phụ bếp trên tàu Đô đốc Latut xơtrêvinl, là Nguyễn Ái Quốc trong những năm tháng sống đầy khó khăn ở thủ đô Pari của nước Pháp, là một vị Chủ tịch nước đang sống kham khổ nơi chiến khu trong những năm kháng chiến, hay là một vị nguyên thủ quốc gia đang sống và làm việc tại Khu Phủ Chủ tịch ở Thủ đô Hà Nội, thì cũng vẫn là một Hồ Chí Minh yêu lao động, hết sức giản dị và tiết kiệm. Càng yêu thương nhân dân, khát vọng đem lại độc lập, tự do và hạnh phúc cho nhân dân, Người càng giản dị, tiết kiệm trong cuộc sống đời thường. Không chỉ yêu thương con người, tình yêu thiên nhiên, sống hoà quyện với thiên nhiên một cách bình dị, thanh tao, với nếp nhà sàn nhỏ, có vườn cây, ao cá, những khóm hoa của Người luôn lộng gió thời đại, song vẫn đậm đà bản sắc, cốt cách tâm hồn Việt.

Hồ Chí Minh trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa nhưng khác nhiều vị lãnh tụ, Người chọn cho mình một cuộc sống bình dị như đại đa số người dân bình thường, không cách biệt, không vương giả. Từ chối dinh thự của Toàn quyền Đông Dương cũ, Người chọn nơi ở và làm việc cho mình là một ngôi nhà chật hẹp vốn của người thợ điện phục vụ trong khu vực Phủ Phủ Toàn quyền Đông Dương. Mặc dù các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước mời Người ra ở tại toà nhà lớn để cuộc sống đỡ vất vã hơn, nhưng Người từ chối. Cuối cùng, Người đã chọn ngôi nhà sàn, giống kiểu nhà sàn của đồng bào nơi vùng cao của chiến khu Việt Bắc. Khi dọn về ở và làm việc tại ngôi nhà sàn, Người dùng tầng dưới dùng làm nơi họp Bộ Chính trị và làm việc với cán bộ các bộ, ban, ngành, tiếp một số đoàn khách, bạn bè đồng chí gần gũi, hoặc các cháu thiếu niên, nhi đồng. Người chỉ dành cho mình một chút riêng ở tầng trên nhà sàn với hai phòng nhỏ, diện tích mỗi phòng hơn 10m2. Ghét thói xa hoa, lãng phí, hưởng thụ, và xa lạ với thói phô trương, hình thức, trong phòng làm việc cũng như phòng ngủ của Người chỉ có những đồ vật thật sự cần thiết và hết sức đơn giản.

Bữa ăn hàng ngày của Bác thường có canh cua, tương cà, dưa muối, cá bống kho với lá gừng… Đó là những món ăn quen thuộc, dân giã, mang hương vị của mỗi làng quê Việt Nam mà Người ưa thích. Quý trọng công sức, tài sản và cả thời gian của nhân dân, trong mỗi bữa ăn, Người không bao giờ để thừa, tránh lãng phí. Nếu biết không thể ăn hết, Người thường san ra trước khi ăn để phần người khác dùng hoặc để lại cho bữa sau. Đặc biệt, sau các bữa ăn, Người thường tự mình sắp xếp gọn gàng bát đĩa trên bàn để các đồng chí phục vụ khi thu dọn đỡ vất vả. Tiết kiệm và sức giản dị, vị Chủ tịch nước những lúc làm việc ở nhà thường mặc bộ quần áo bà ba lụa màu nâu, đi đôi guốc gỗ. Còn khi tiếp khách, đi công tác Người thường mặc bộ quần áo ka ki bốn túi và đi đôi dép cao su. Người luôn luôn quan tâm tới lợi ích của nhân dân, nghĩ những điều dân nghĩ, lo những điều dân lo, hiến dâng cả đời mình cho nhân dân, không hề quan tâm tới bản thân. “Người cư xử nhiệt tình, khiêm tốn, gần gũi, bình dị, giữ mối liên hệ thân mật không cách biệt với quần chúng”[2].

Trong sinh hoạt hàng ngày, Người luôn đặt cho mình một kỷ luật hết sức chặt chẽ, giữ nếp trật tự, ngăn nắp gọn gàng, thường xuyên chú ý đến việc rèn luyện sức khoẻ, đồng thời sắp xếp thời gian thực hiện mọi công việc thật hợp lý và hiệu quả. Rất chú ý cho việc rèn luyện sức khoẻ được dẻo dai, hàng ngày Người giữ nếp tập thể dục hay quyền thuật buổi sáng và đi bách bộ buổi chiều đều dặn. Những năm tháng sống ở trong Khu Phủ Chủ tịch, Người thường luyện gân tay bằng cách nắm hai hòn cuội, luyện đôi chân bằng cách đi bách bộ, tập võ hay đánh bóng chuyền để nâng cao thể lực và sức khoẻ, phòng tránh bệnh tật, ốm đau. Cho đến những năm cuối đời, Người vẫn gắng đi bộ, và mỗi ngày đi thêm mấy chục mét với hy vọng vẫn có sức khoẻ để mong thực hiện khát vọng được vào thăm đồng bào miền Nam.

Người luôn giữ thói quen đọc báo chí, bản tin trước giờ làm việc hàng ngày, đánh dấu các bài cần chú ý để tiện việc theo dõi, trao đổi ý kiến và sử dụng khi cần thiết. Người đã đọc, đối chiếu, cắt dán và sưu tầm được 19 quyển báo cắt dán về tấm gương Người tốt, Việc tốt. Qua những bản báo cáo, những bản tin, và có theo dõi, đối chiếu, Người đã tặng gần 4000 Huy hiệu cho những tấm gương người tốt, việc tốt với hy vọng nhân rộng những bông hoa đẹp đó để “cả dân tộc ta là một rừng hoa đẹp”.

Với những công việc trong ngày, trong tuần, trong tháng – từ việc họp hành, làm việc với các đồng chí lãnh đạo chủ chốt, phụ trách các Bộ, ban, ngành, tiếp khách trong nước và quốc tế, đến việc viết báo, đọc và trả lời thư từ, đi thăm cán bộ, nhân dân các địa phương, hay xem phim, xem văn nghệ, v.v… đều được Người bố trí một cách hết sức hợp lý. Người luôn cố gắng để mỗi công việc sao cho tốn ít thời gian, ít làm phiền cơ sở, mà lại thu được kết quả cao nhất.

Người cũng có thói quen tự mình đánh máy lấy những bài báo, bài viết, những thư từ gửi đi các nơi. Những việc cá nhân trong sinh hoạt thường ngày như chuẩn bị chăn màn đi ngủ, sắp xếp gọn gàng sau khi thức dậy Người đều tự mình làm lấy. Thương những đồng chí phục vụ vất vả, những hôm trời mưa to, Người ác vẫn xắn quần đi đến nhà ăn. Cũng thương đông đảo mọi người phải chờ mình vất vả, dù trời mưa rất to, Người vẫn cố gắng đi đến cho kịp buổi họp.

Ngoài giờ làm việc, một trong những công việc Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu thích đó là tăng gia sản xuất. Hình ảnh một Hồ Chí Minh cuốc đất trồng rau, thực hiện khẩu hiệu “Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa!” trong những năm tháng kháng chiến không khác một Hồ Chí Minh cùng anh em cán bộ trong Khu Phủ Chủ tịch cuốc đất trồng rau, vừa để cải thiện bữa ăn, vừa để rèn luyện sức khoẻ.

Những lúc ốm đau Người không chỉ tự mình chịu đựng, mà còn động viên những người chung quanh. Không muốn làm phiền đến mọi người, để mọi người lo lắng quá nhiều, khi thấy sức khoẻ bắt đầu giảm sút dần, Người ung dung bắt đầu ngồi viết bản Di chúc lịch sử để lại cho hậu thế. Cách bốn năm trước lúc đi xa (từ ngày 19/5/1965), cứ mỗi năm vào dịp tháng 5, Người lại đem ra xem lại một lần và sửa chữa bổ sung. Cuối cùng, Người để lại muôn vàn tình thương yêu và những lời dặn dò tâm huyết cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta và bạn bè quốc tế trong Tài liệu Tuyệt đối bí mật đó.

Là một vị Chủ tịch nước, nhưng Hồ Chí Minh vẫn khôn nguôi nỗi nhớ những đầm sen, những hàng dâm bụt, giếng cốc, núi Hồng Lĩnh, sông Lam … ở quê nhà và những danh lam thắng cảnh của đất nước mà Người từng thấy trên con đường vào Huế, trên suốt cả chặng đường dài đi về phía nam của Tổ quốc thuở trước. Người mang theo những hình ảnh thân thương đó trong suốt những năm tháng đi tìm đường cứu nước và khi trở về hoạt động bí mật ở vùng núi phía Bắc, Người thường sống gần gũi với núi, với suối, với rừng cây,v.v..

Khi sống trong trong ngôi nhà sàn dưới bóng cây râm mát ở khu Phủ Chủ tịch suốt ngày rộn rã tiếng chim, Người thường ra bờ ao ngồi cho cá ăn vào buổi chiều. Mảnh đất nhỏ trước nhà sàn, Người dành trồng đủ các loại cây hoa hoa mộc, hoa nhài, hoa sói, hoa dạ hương, hoa bưởi, hoa ngâu có hương thơm dịu mát, có hàng rào hoa dâm bụt chạy quanh nhà như ở Làng Sen quê nhà. Phía sau nhà là vườn cam quê hương, bên kia bờ ao cá là vườn trồng rau xanh và một số cây ăn quả như cam, bưởi, hồng, táo, xoài, dừa … bốn mùa có hoa thơm, quả ngọt và rau xanh. Đầu nhà sàn là cây vú sữa, trước nhà là những cây dừa đều là những cây của đồng bào miền Nam ruột thịt gửi tặng. Những lúc mát trời, Người vẫn ngồi đọc sách, tiếp khách bên giàn hoa giấy trong một không gian thiên nhiên thoáng đãng phía sau toà nhà Phủ Chủ tịch. Yêu thiên nhiên, nên dù công việc bận rộn nhiều, nhưng Người vẫn sắp xếp thời gian đi thăm các danh lam thắng cảnh, các di tích lịch sử của đất nước. Bảo vệ thiên nhiên, Người nâng nui cả một cây bụt mọc bên bờ ao cá bị sâu mục và mối ăn làm rỗng ruột đến quá nửa thân. Người không đồng ý chặt bỏ với một lời giải thích hết sức đơn giản và thuyết phục: việc chặt bỏ một cây thì dễ nhưng trồng được cây to, có bóng mát như vậy thì phải mất hàng chục năm mới có được, và Người đã hướng dẫn cho người làm vườn cách cứu chữa cho cây bụt mọc bị sâu mục và mối xông khỏi bệnh.

Không chỉ biết thụ hưởng những gì thiên nhiên dành cho con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn muốn con người phải trả lại cho thiên nhiên những gì đã bị mất đi vì con người, vì thiên tai địch hoạ. Đề xướng phong trào “Tết trồng cây”, Người nói: “Việc này tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều”[3], và yêu cầu: “Trồng cây nào, tốt cây ấy”[4]. Phong trào trồng cây gây rừng, phủ xanh đất trống, đồi trọc do Người phát động ngày nay đã trở thành một phong tục tập quán tốt đẹp trong nhân dân:

“Mùa xuân là Tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân”[5].

Với Người, tình yêu thiên nhiên gắn liền với xuất phát từ tình yêu đất nước, tình yêu con người, vì hạnh phúc của con người, vì tương lai của đất nước. Gắn trồng cây với nhiệm vụ trồng người, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên chăm lo, bồi dưỡng thế hệ trẻ, chăm lo đào tạo thế hệ cách mạng cho muôn đời sau. Mùa xuân cuối cùng của cuộc đời, Người đi trồng cây trên đồi Vật Lại, Ba Vì, Hà Tây. Người mời một số cán bộ có trách nhiệm đến bàn tiếp vấn đề trồng người. Người từng suy nghĩ: Phải bắt đầu từ việc chăm sóc cây mới trồng, từng con người mới lớn, nâng niu từng tấm gương người tốt, việc tốt xuất hiện ở trong cuộc sống hàng ngày của hàng triệu triệu quần chúng nhân dân lao động trong cả nước. Phải có nhiều cây mới thành rừng, phải có nhiều người tốt mới thành một xã hội tốt đẹp. Bác Hồ là người khởi xương, cổ vũ, tổ chức và mãi mãi là tấm gương sáng cho mọi thế hệ trong sự nghiệp trồng cây, trồng người của đất nước và dân tộc ta.

Yêu thương con người và tình yêu thiên nhiên rộng lớn đã tạo nên tinh thần lạc quan, tâm hồn thư thái, khoáng đạt, phong cách ung dung tự tại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong mọi hoàn cảnh. Hơn tất cả mọi người, Người truyền tinh thần lạc quan cho những người xung quanh bằng những lời nói đầy thuyết phục, những câu chuyện vui nhẹ nhàng, những trao đổi hài hước luôn đem lại những tiếng cười sảng khoái dễ chịu, và đặc biệt là sự quan tâm đầy tình nghĩa đối với mọi người, mọi gia tầng trong xã hội.

Ham muốn tột bậc của Người “là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[6]. Người là vậy, là một Hồ Chí Minh bình dị trong cuộc sống đời thường của cá nhân mình, để dành hết thảy cho dân cho nước, cho khát vọng độc lập dân tộc và chủ nghiã xã hội trên đất nước ta. Một Hồ Chí Minh – anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất của dân tộc Việt Nam bình dị trở thành một mẫu mực của đạo đức cách mạng luôn sống mãi: “Những gì thuộc về Người, từ phẩm chất đến hành động, vẫn sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam, nhân dân các dân tộc yêu độc lập, tự do, hoà bình, công lý và những người tiến bộ trên trái đất. Tấm gương anh hùng và tấm gương đạo đức sống tràn đầy tình yêu Tổ quốc và nhân dân một cách tự nguyện đó đã được truyền lại cho các thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam ngày nay”[7]./.

Nguyễn Văn Công
Phó GĐ Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Theo ditichhochiminhphuchutich.gov.vn
Tâm Trang (st)

[1] Cụ Hồ Chí Minh từ trần, báo A-sa-hi buổi chiều, ngày 5/9/1969, Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch, tập III, Nxb. Sự thật, H.1971, tr.232
[2] Cốc Nguyên Dương: Tinh thần Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi, Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Unesco và Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam, Nxb.KHXH, H.1990, tr.120.
[3] Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. CT QG, Hà Nội, 2000, Tập 9, tr. 558.
[4]Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, Tập 10, tr. 110.
[5] Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, Tập 11, tr. 356
[6] Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, Tập 4, tr 161.
[7] Nay Pe-na: Chủ tịch Hồ Chí Minh với cách mạng Cam-pu-chia, Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Unesco và Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam, Nxb.KHXH, H.1990, tr.49.

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về “Thân dân” và “Dân chủ”

Kể từ lúc còn là người dân xứ thuộc địa ra đi tìm đường cứu nước cho đến khi đã trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của Nhà nước Việt Nam độc lập, Hồ Chí Minh luôn luôn tâm niệm bốn chữ “yêu nước, thương dân”. Trong tư tưởng của Người, đất nước – Tổ quốc bao giờ cũng gắn liền với nhân dân. Nói yêu nước là phải nói tới yêu dân, lo cho dân, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân, tin tưởng ở sức mạnh của nhân dân. Nhân dân vừa là động lực của cách mạng, là nguồn sức mạnh quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, vừa là đối tượng phục vụ của cách mạng, cách mạng phải mang lại quyền lợi cho nhân dân: Quyền con người và quyền công dân, quyền được ăn no mặc ấm, được học hành, quyền hưởng hạnh phúc.

1. Không gì quý bằng nhân dân

Truyền thống tốt đẹp của mỗi dân tộc bao giờ cũng được phát huy cùng sự trường tồn của dân tộc ấy. Qua mỗi giai đoạn lịch sử, dân tộc Việt Nam đã làm rạng rỡ những bài học quý giá của quá khứ, biến chúng thành những nhân tố góp phần chiến thắng cho cuộc đấu tranh hiện tại và góp phần mở ra triển vọng tươi sáng cho tương lai. Các anh hùng dân tộc của chúng ta sở dĩ làm nên nghiệp lớn, vì không bao giờ họ tách mình khỏi truyền thống tốt đẹp của dân tộc mà ngược lại, bao giờ họ cũng tiêu biểu cho những nguyện vọng cao cả nhất, bức thiết nhất của mỗi thời đại. Là một anh hùng dân tộc vĩ đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế tục xứng đáng nhất sự nghiệp và công đức của những anh hùng đi trước, đã thu góp tinh hoa tư tưởng mà dân tộc ta đã xây dựng nên từ máu lửa của cuộc chiến đấu để sinh tồn và phát triển.

Các vị vua anh minh, các anh hùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam đều có tư tưởng “thân dân”, biết dựa vào sức dân, phát huy sức mạnh toàn dân để xây dựng lực lượng vũ trang, tiến hành chiến tranh chống ngoại xâm. Trong Binh thư yếu lược, Trần Quốc Tuấn đưa ra kế sách “Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”. Với niềm tin “chúng chí thành thành” (ý chí nhân dân là bức thành vững chắc), Trần Quốc Tuấn chủ trương lấy nông dân làm nguồn bổ sung dồi dào, vô tận cho quân đội thông qua hình thức bách tính giai vi binh (trăm họ là binh), tận dân vi binh (mỗi người dân là một người lính). Và đến thời của Nguyễn Trãi (thế kỷ XV) thì vai trò cứu nước của nhân dân chính thức được tuyên dương xứng đáng. Theo Nguyễn Trãi, “phúc chu thuỷ tín dân do thuỷ” tức là sức của dân như nước, nước chở thuyền và cũng có thể lật thuyền. Sau chiến thắng chống quân Minh, Nguyễn Trãi đã viết Đại cáo Bình Ngô không chỉ ghi công cho trời thần, danh tướng, mà còn cẩn trọng ghi công lao của nhân dân lao khổ – sức mạnh đầu tiên xung phong đánh thắng giặc Minh: “dựng gậy làm cờ, bốn phương dân cày tụ họp”.

Tiếp sau truyền thống của dân tộc, truyền thống gia đình cũng là một nhân tố quan trọng giúp cho Hồ Chí Minh sớm hình thành quan điểm coi trọng dân, hiểu dân, đánh giá cao vai trò của dân. Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là một người có tư tưởng yêu nước, thương dân. Với quan niệm học để làm người chứ không phải học để làm quan, vả lại trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp thống trị, làm quan là làm tay sai cho giặc, là đắc tội với đồng bào, nên sau khi đỗ Phó bảng (năm 1901), cụ đã lần lữa việc ra làm quan nhiều năm. Mãi đến năm 1906, cụ được bổ nhiệm làm thừa biện Bộ Lễ, phụ trách “công việc trường ốc”. Tiếp xúc với học trò, cụ thường nói: “Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ, hựu nô lệ” nghĩa là: Làm quan là nô lệ trong đám nô lệ, lại càng nô lệ hơn. Sự tức chí đó khiến cụ bị triều đình cho là “bất phùng thời”, phải đi khỏi kinh đô để vào làm tri huyện Bình Khê (Bình Định). Ngồi ghế Tri huyện nhưng cụ thường giao du với các nhà Nho yêu nước ở địa phương hơn là có mặt ở công đường, tạo điều kiện cho những nông dân thiếu tiền thuế, những người tham gia phong trào chống thuế… đang bị giam cầm, trốn thoát. Cụ rất oán ghét bọn cường hào bức hiếp nông dân và thường đứng về phía nông dân chống lại chúng.

Tư tưởng yêu nước, thương dân của người cha đã ảnh hưởng sâu sắc tới thời niên thiếu của Nguyễn Tất Thành. Mặt khác, trong quá trình trưởng thành ở quê nhà, rồi đi học ở Huế, càng đi vào cuộc sống của nhân dân, Nguyễn Tất Thành càng thấm thía thân phận cùng khổ của người dân mất nước. Người đã tận mắt chứng kiến cảnh đoạ đày dân đi phu ở Cửa Rào (Nghệ An) và tự bản thân Người cũng đã tham gia những cuộc biểu tình đòi giảm sưu, giảm thuế của nông dân sáu huyện của tỉnh Thừa Thiên (tháng 4-1908). Ấn tượng theo suốt cuộc đời Người là hình ảnh những người dân mất nước cần được giải phóng khỏi đoạ đày, đau khổ, cần được sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Tư tưởng đó, thực tế đó đã nằm trong hành trang của Người khi xuất dương tìm đường cứu nước. Với dự định: “Tôi muốn đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”, ngay từ những ngày hoạt động cách mạng đầu tiên trên đất Pháp, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã lấy tên là Nguyễn Ái Quốc.

Khi viết tác phẩm “Đường cách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc đã khảo cứu về các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới: Cách mạng Mỹ năm 1776, cách mạng Pháp năm 1789 và cách mạng Nga năm 1917. Từ sự phân tích nội dung, tính chất các cuộc cách mạng ở Mỹ, ở Pháp, Người đi đến kết luận: đó đều là những cuộc cách mạng không đến nơi – nghĩa là cách mạng rồi mà dân vẫn bị áp bức, bóc lột. Người chỉ rõ: “chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”(1). Người khẳng định chỉ có cách mạng Tháng Mười Nga là đã thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng hạnh phúc tự do, bình đẳng thật sự. Bài học mà Nguyễn Ái Quốc rút ra qua nghiên cứu cách mạng Tháng Mười Nga là: Cách mạng Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mạng thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc.

Sau khi tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, đi theo con đường cách mạng Tháng Mười Nga, tán thành và gia nhập Quốc tế III, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc tiếp nhận thêm quan điểm về “Dân” của chủ nghĩa Mác-Lênin. Đó là quan điểm coi quần chúng nhân dân là những người làm ra lịch sử. Nhưng chữ “Dân” của những người sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học đã được Nguyễn Ái Quốc cụ thể hoá trong hoàn cảnh của Việt Nam. Người quan niệm “Dân” là bao gồm toàn bộ những người lao động và những người có tinh thần yêu nước. Như vậy phạm vi “Dân” của Hồ Chí Minh rất rộng, bao gồm nhiều giai cấp, tầng lớp, cùng nguồn gốc, tổ tiên là dân tộc Việt Nam, cùng có chung một điều là tinh thần yêu nước. Không chỉ có thế, Hồ Chí Minh còn chú ý đến cái lõi giai cấp trong quảng đại quần chúng nhân dân – công nhân, nông dân và trí thức (công-nông-trí). Với đặc điểm này, khái niệm nhân dân của Hồ Chí Minh vừa bảo đảm đúng theo tinh thần chủ nghĩa Mác-Lênin về quan điểm giai cấp khi tập hợp lực lượng cách mạng, vừa rất phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh Việt Nam, nơi giai cấp công nhân còn ít ỏi, nông dân chiếm hơn 90% dân số, tầng lớp thanh niên trí thức có tinh thần yêu nước, cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tin vào vai trò to lớn của nhân dân Việt Nam trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm và thấy đó là sức mạnh vô tận của dân tộc mà Đảng Cộng sản phải trân trọng. Người khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”(2). Hồ Chí Minh đánh giá đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước, đều có lòng nồng nàn yêu nước, sẵn sàng hy sinh tất cả để phục vụ Tổ quốc. Cho nên mỗi khi cách mạng cần đến sức người, sức của thì nhân dân đều nhiệt liệt hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và Chính phủ, nhờ vậy cách mạng đã thành công, kháng chiến đã thắng lợi. Người hỏi: “Cách mạng thành công là do ai?” và trả lời “do quần chúng”. Người khẳng định một cách chắc chắn rằng “nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng”(3). Do đó mà “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng đoàn kết của nhân dân”(4). Người đã dùng những lời lẽ tôn vinh nhân dân lên hàng tối thượng trong tất cả các lực lượng và chỉ rõ vai trò to lớn nhất của nhân dân mà không có lực lượng nào có thể sánh được.

2. Nước ta là một nước dân chủ

Con người là một giá trị cao quý và là mục tiêu của bất cứ cuộc cách mạng nào. Chính vì vậy, bảo vệ và phát huy các quyền cơ bản của con người phải là trọng tâm và là cái đích cuối cùng của mỗi cuộc cách mạng, của mỗi thể chế tiến bộ. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, cứu nước thực chất là cứu dân, mưu độc lập cho dân tộc thực chất là mưu cầu độc lập tự do cho nhân dân. Phấn đấu cho một xã hội mà ở đó dân tộc được độc lập, dân quyền được tự do, dân sinh được hạnh phúc là tiêu chí xem xét một cuộc cách mạng, cũng là sự nghiệp cả cuộc đời Người mong đạt tới. Người khẳng định: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(5).

Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch sử dân tộc – kỷ nguyên độc lập tự do và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Sự kiện lịch sử trọng đại này gắn liền với tên tuổi Chủ tịch Hồ Chí Minh, người giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, xây dựng lực lượng, căn cứ địa cách mạng, lãnh đạo Tổng khởi nghĩa và đặc biệt là soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Bản Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày 2-9-1945 đã và đang còn vang vọng những lời bất hủ, những giá trị cao đẹp của nhân loại:

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

“Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc lại câu mở đầu của bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776, một câu trong bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của nước Pháp 1789 nhằm vạch ra rằng những tư tưởng đó là những ý kiến chung có giá trị tiến bộ toàn nhân loại, là những lẽ phải không ai có thể chối cãi được. Và tư tưởng của Việt Nam về quyền con người cũng có nội dung phổ biến như vậy, có chung lý tưởng với nhân loại về quyền bình đẳng, quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của con người. Đó là lẽ tự nhiên, là tạo hoá chứ không phải do ai ban phát. Nhưng, nét sáng tạo độc đáo của Tuyên ngôn độc lập 2/9/1945 là ở chỗ: có sự mở rộng khái niệm quyền con người ra đến “quyền làm người”, đến “quyền dân tộc”. Những tư tưởng này được phát triển từ những tư tưởng đòi các quyền, các yêu sách của nhân dân An Nam từ năm 1919 của Hồ Chí Minh. Nó chứng tỏ tư duy lý luận của Hồ Chí Minh đạt đến mức biện chứng sâu sắc. Nó xuất phát từ thực tế lịch sử dân tộc ta, gần một thế kỷ bị giặc ngoại xâm thống trị, mọi quyền con người đều bị tước đoạt, kể cả những quyền tối thiểu nhất. Dân tộc có được độc lập thì mới có tiền đề để thực hiện các quyền con người. Mặt khác, dân tộc được độc lập mà nhân dân không có quyền gì, nhân dân không được tự do thì độc lập dân tộc cũng không có ý nghĩa. Như vậy, có thể thấy khái niệm quyền con người ở Tuyên ngôn độc lập đã được triển khai tới mức cụ thể trong thực tiễn, là công cụ thiết thực và sắc bén chỉ đạo hoạt động thực tiễn cách mạng nước ta là: phải giải phóng dân tộc, giành được độc lập dân tộc, quyền bình đẳng dân tộc, sau đó mới có thể giải phóng con người, mới có thể xác lập được quyền con người và quyền công dân. Thực hiện tốt quyền con người, quyền công dân lại là cơ sở để giữ gìn độc lập dân tộc, để độc lập dân tộc có ý nghĩa đích thực.

Ngay sau khi tuyên bố độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu vấn đề xây dựng nhà nước dân chủ mới của dân, do nhân dân là người làm chủ, thể hiện quan điểm: bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Đối với Hồ Chí Minh, dân chủ là điều cốt tử còn chuyên chính chỉ là phương tiện đảm bảo dân chủ. Người chỉ rõ: “Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân, chuyên chính là cái khoá, cái cửa đề phòng kẻ phá hoại, nếu hòm không còn khoá, nhà không có cửa thì sẽ mất cắp hết. Cho nên có cửa phải có khoá, có nhà phải có cửa. Thế thì dân chủ cũng cần phải có chuyên chính để giữ gìn lấy dân chủ”(6). Điều kiện, tiền đề và là thước đo trình độ làm chủ của nhân dân được thể hiện ở ba mặt: Bảo đảm dân quyền, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí.

Với tư cách là người đứng đầu Đảng và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà vừa mới được thành lập sau Cách mạng tháng Tám, Hồ Chí Minh đã nhắc nhở: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”(7). Chính vì thế, phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 3/9/1945 đã đề ra những nhiệm vụ cấp bách là: Cứu đói cho dân, chống giặc dốt, xoá bỏ những thứ thuế hà khắc do chế độ cũ để lại, ban hành quyền tự do dân chủ cho nhân dân, thực hiện nền giáo dục nhân dân, thực hiện tự do tín ngưỡng, nam nữ bình quyền,… Và trong muôn vàn công việc của người lãnh đạo tối cao của đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng không quên việc tiếp chuyện, lắng nghe ý kiến của đại biểu các đoàn thể nhân dân. Người viết thông cáo tiếp dân bằng những lời lẽ thật giản dị, ân cần, thể hiện lòng yêu quý, sự tôn trọng với đồng bào: “Từ năm nay tôi sẽ rất vui lòng tiếp chuyện các đại biểu của các đoàn thể… Gửi thơ nói trước, để tôi sắp thì giờ, rồi trả lời cho bà con, như vậy thì khỏi phải chờ đợi mất công”(8).

Ngày 20/2/1947, nói chuyện với các đại biểu nhân sĩ trí thức, phú hào tỉnh Thanh Hoá, Hồ Chí Minh tiếp tục nhấn mạnh: “Chính phủ cộng hoà dân chủ là gì? Là đầy tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì chính phủ phải là đầy tớ… Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ”(9). Người khẳng định: dân chủ là nhân dân là người làm chủ đất nước, chủ xã hội, chủ cuộc sống. Các cấp chính quyền Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, bao giờ, ở đâu, xuất phát của hành động cũng là vì lợi ích của nhân dân mà làm và chịu trách nhiệm trước nhân dân.

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, một Đảng ra đời từ phong trào cách mạng của nhân dân, có thiên chức lãnh đạo cách mạng vì mục đích phục vụ nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm lợi ích cao nhất của mình, thì Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng, hoàn toàn không có một bức tường ngăn cách nào giữa nhiệm vụ lãnh đạo và nhiệm vụ phục vụ: “Tất cả đường lối, phương châm, chính sách… của Đảng đều chỉ nhằm nâng cao đời sống của nhân dân nói chung”(10). Đây là quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh. Dẫn ra hai câu thơ của đại văn hào Trung Quốc Lỗ Tấn: “Hoành my lãnh đối thiên phu chỉ, Phủ thủ cam vi nhũ tử ngưu” mà Người tạm dịch là “Trợn mắt xem khinh nghìn lực sĩ, Cúi đầu làm ngựa các nhi đồng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi đến kết luận: “Đảng Lao động Việt Nam không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân”(11). Rõ ràng, quan điểm Đảng, chính quyền, cán bộ và đảng viên là đầy tớ của nhân dân chỉ có ở chế độ ta và do bản chất của chế độ ta quy định.

Nội dung khái niệm “đầy tớ”, “công bộc” của dân được Hồ Chí Minh chỉ ra rất rõ, rất cụ thể chứ Người không nêu ra để mị dân. Theo Người, “điều chủ chốt” nhất của đạo đức cách mạng là “quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng”, là “tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân. Cán bộ, đảng viên phải có thái độ yêu kính nhân dân, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, học hỏi quần chúng, thật thà, ngay thẳng, không giấu dốt, giấu khuyết điểm, giấu sai lầm; khiêm tốn, gần gũi quần chúng; không được kiêu ngạo, phải thực sự cầu thị, không được chủ quan; kiên quyết dựa vào quần chúng, giáo dục và phát động quần chúng tiến hành thắng lợi mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Và cũng từ rất sớm, rất kiên quyết, Người đã đặt vấn đề đấu tranh để ngăn ngừa các tệ quan liêu, chuyên quyền, tham ô, lãng phí, đặc quyền đặc lợi trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Người coi đó là thứ giặc rất nguy hiểm, chà đạp quyền dân chủ, làm hư hỏng cán bộ, phá vỡ kỷ cương, kỷ luật, có thể làm ruỗng nát chế độ dân chủ từ bên trong.

Tháng 1-1960, tại buổi lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng ta, Người lại nói: “Hễ còn có một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn, thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ. Cho nên Đảng vừa lo tính công việc lớn như đổi nền kinh tế và văn hoá lạc hậu của nước ta thành một nền kinh tế và văn hoá tiên tiến, đồng thời lại luôn luôn quan tâm đến những việc nhỏ như tương cà mắm muối cần thiết cho đời sống hằng ngày của nhân dân. Cho nên Đảng ta vĩ đại vì nó bao trùm cả nước, đồng thời vì nó gần gũi tận trong lòng mỗi đồng bào ta. Đảng ta vĩ đại vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”(12). Bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh khi trả lời các nhà báo, đã nói rõ: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân”(13) và “bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích là làm cho ích quốc lợi dân”(14).

Trên thế giới, đã có không ít trường hợp những người quyền cao chức trọng, là lãnh tụ, đứng ở vị trí đỉnh tháp quyền lực thì quên mất nền tảng quyền lực là nhân dân; họ coi dân chúng như là một công cụ, phương tiện để phục vụ cho mục đích củng cố và thao túng quyền lực của mình. Còn với Hồ Chí Minh, Người coi việc mình làm Chủ tịch là do nhân dân ủy thác cho. Người tự cho mình là “người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận”, là “người đày tớ trung thành của đồng bào”. Đó là tư cách rất đúng đắn của vị lãnh tụ Đảng cầm quyền trong giai đoạn nhân dân giữ vai trò làm chủ đất nước, xây dựng một xã hội mới.

Xứng đáng là Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công sáng lập, chăm lo xây dựng, một đảng đã được tôi luyện và trưởng thành trong lò lửa đấu tranh cách mạng anh dũng của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vươn lên thực hiện sứ mệnh lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp xây dựng đất nước. Đảng và Nhà nước ta luôn luôn dựa vào dân, tin ở dân, phát huy quyền làm chủ thực sự, tiềm lực và sức sáng tạo của nhân dân. Ngay từ những ngày đầu tiên của tiến trình đổi mới, Đảng đã xác định: “Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng lấy dân làm gốc, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”. Điều này được coi là bài học kinh nghiệm hàng đầu trong 4 bài học cơ bản mà Đại hội VI nêu lên để định hướng cho công cuộc đổi mới. Từ những sáng kiến của nhân dân, tư tưởng đổi mới được thai nghén và hình thành ngày càng rõ nét. Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam là một bước ngoặt cực kì quan trọng, đánh dấu sự ra đời của chủ trương đổi mới trên mọi lĩnh vực của công cuộc cách mạng và đời sống xã hội. Đổi mới là sự trở về với di sản Hồ Chí Minh, rũ bỏ bệnh giáo điều, bệnh duy ý chí, bệnh quan liêu, mở ra nhận thức mới về Việt Nam và con đường cũng như động lực phát triển của dân tộc.

Kế thừa và khẳng định tư tưởng của Hồ Chí Minh về nhân dân làm chủ đất nước, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã ghi rõ: “Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức” (Điều 2); “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân; xây dựng đất nước giàu mạnh, thực hiện công bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” (Điều 3).

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người suốt đời phấn đấu quên mình vì đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam, người có lòng tin lớn lao vào nhân dân, tin vào mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi, vào trí tuệ, tài năng và phẩm chất của con người Việt Nam. Nhân dân làm chủ đất nước, là tác giả của thắng lợi liên tiếp trong cuộc cách mạng Tháng Tám 1945, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ và ngày nay cũng là tác giả của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Tiếp tục phát huy sức mạnh của nhân dân để xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh chính là sự kế tục và phát triển sáng tạo tư tưởng nhân dân làm chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tình hình mới./.

Theo Th.s Vũ Thị Kim Yến
Khu Di tích Phủ Chủ tịch
Thu Hiền (st)

—————-

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002, t.2, tr.270
(2), (11) Sđd, t.6, tr.171, 185
(3), (8), (13), (14) Sđd, t.4, tr.56, 10, 240, 240
(4), (6) Sđd, t.8, tr.276, 279-280
(5) Sđd, t.12, tr.501
(9) Sđd, t.5, tr.60
(10), (12) Sđd, t.10, tr.380, 4

bqllang.gov.vn

Chuyện hai lần Bác về thăm quê

Bác Hồ nói chuyện tại Kim Liên trong lần thứ 2 về thăm quê. (Ảnh: Tư liệu)

GiadinhNet – Trong suốt cuộc hành trình tìm đường cứu nước cho đến khi nước nhà được độc lập, rồi đến tận những năm cuối đời, Bác Hồ kính yêu chỉ sắp xếp được 2 lần về thăm quê hương. Tuy thế nhưng đến hôm nay, trong lòng người dân xứ Nghệ vẫn còn vẹn nguyên kỉ niệm về những mẩu chuyện nhỏ mà sáng ngời đạo đức của Bác – một nhân cách lớn song lại vô cùng giản dị, gần gũi.

Cũ nhưng chưa hỏng: Không bỏ

Ông Trần Minh Siêu, nhà nghiên cứu lịch sử kể lại: Chỉ có 2 lần về thăm quê hương vào dịp tháng 6/1957 và tháng 12/1961, nhưng trong ký ức của người dân xứ Nghệ, đặc biệt những người đã từng được gặp và tiếp xúc với Bác vẫn còn nhớ như in những câu chuyện nhỏ nhưng sáng ngời đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Năm 1957, tình hình trong nước và thế giới có nhiều biến chuyển xán lạn. Miền Bắc sau ba năm khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh đã thu được một số thành quả. Do vậy, về đối ngoại, Bác muốn đi thăm, cảm ơn các nước anh em, bè bạn trên thế giới đã ủng hộ Việt Nam. Trước lúc lên đường Bác quyết định về thăm một số địa phương thuộc khu IV, trong đó có Nghệ An. Theo lịch trình, ngày 12-13/6/1957, Bác thăm tỉnh Thanh Hóa. Ngày 14-16/6/1957, Bác về Nghệ An. Ngày 15/6, Bác thăm Hà Tĩnh. Sáng ngày 16/6/1967, Bác mới về quê cha, đất tổ ở làng Kim Liên, Nam Đàn. Hôm đó đúng vào ngày Chủ nhật.

Nhiều người đón Bác trong ngày này chợt nhớ rằng, trước đó 11 năm (cuối năm 1946), tiếp anh, chị ruột của mình là bà Nguyễn Thị Thanh và ông Nguyễn Sinh Khiêm sau mấy chục năm trời xa cách, Bác cũng chọn ngày Chủ nhật. Chỉ qua một chi tiết nhỏ, cũng thấy Bác vô cùng phân minh, giữa việc công và việc tư. Trong suốt cuộc đời của Người, điều này cũng thể hiện rất rõ.

Trở lại với ngày 13/6 (trước 3 ngày Bác về Kim Liên), mãi tới 11 giờ đêm Bác mới về tới Vinh. Khi Bác đang nói chuyện với đồng chí Nguyễn Chí Thanh – Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Khu ủy Khu IV ở trong phòng khách thì một đồng chí mời đồng chí phục vụ Bác ra kiểm tra phòng tắm. Nơi đó, đã để sẵn hai giá thau, mấy chiếc khăn mặt mới và một miếng xà phòng thơm cho Bác. Đồng chí Trần Quốc Hoàn, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an (đi cùng Bác) lúc đó có mặt ở đó thấy vậy bảo: “Hãy cất bớt đi, chỉ để một giá thau và miếng xà phòng là đủ”.

Sau đó, đồng chí phục vụ Bác lấy trong túi xách ra một chiếc khăn bông trải lên giá thau, khăn vẫn trắng mềm, nhưng đã có đường chỉ khâu ở giữa. Đồng chí nói nhỏ nhẹ: “Khăn của Bác đã cũ, mòn như thế này, có lần tôi định thay chiếc khăn mới để Bác dùng, không ngờ Bác gọi tôi lại hỏi: Khăn của Bác đâu, nó còn dùng được, việc gì mà phải thay khăn khác”. Đồng chí phục vụ chỉ vào giữa khăn rồi nói: Đây là đường khâu của Bác và “tiết lộ” thêm rằng, mũ Bác đội cũng đã cũ lắm rồi, nhưng chưa ai dám đem thay. Đồng chí Trần Quốc Hoàn xác nhận câu chuyện và nói tiếp: Về đồ dùng, Bác chỉ cho phép loại bỏ những thứ đã thực sự hư hỏng. Bác làm như vậy vì cũng mong chúng ta làm như vậy. Phải giản dị, tiết kiệm, giảm đến mức tối thiểu việc chi tiêu cho riêng mình để tăng thêm sự đầy đủ cho người khác, đó là ý của Người.

Khi vào phòng ngủ, thấy ở giường nằm, trên chiếu còn trải thêm một lớp vải mềm, Bác khẽ bảo: “Chú Thanh, chú Khoát (Nguyễn Trương Khoát, Bí thư Tỉnh ủy – PV) cho cất bớt lớp vải này đi, dạo này trời nóng không cần đến”. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh nói: “Dạ thưa Bác, giường này nan thưa và cứng, chỉ trải một lần chiếu thôi thì sợ…”. Bác hiểu ý, liền nói để đồng chí Thanh yên tâm: “Thôi cứ để một lần chiếu là đủ”.

Chủ tịch nước cũng ăn cơm độn

Vào cuối năm 1961, Bác Hồ về thăm quê hương Nghệ An lần thứ 2 (từ ngày 8-10/12). Chiều ngày 8/12, sau khi làm việc với Tỉnh ủy Nghệ An, Bác đến thăm nhà ăn tập thể của cơ quan. Bác nhấc từng chiếc lồng bàn lên để thấy tận mắt khẩu phần ăn của cán bộ, nhân viên. Sau đó, Bác nhận lời mời ăn cơm tối cùng với các đồng chí lãnh đạo tỉnh. Bữa cơm hôm ấy, ngoài mấy món đơn giản, chị em phục vụ nhà bếp đã chọn gạo trắng để đãi Bác. Khi mọi người đã ngồi vào bàn ăn, đột nhiên Bác bảo một cán bộ đi cùng đưa gói cơm của đoàn ra. Đó là một gói cơm trắng độn ngô đỏ. Đồng chí phục vụ lấy dao cắt ra từng miếng, chia đều cho mọi người để cùng ăn với Bác. Lúc này các đồng chí Tỉnh ủy cứ nhìn nhau, không ai dám xới cơm trắng ra. Hóa ra trước chuyến đi, bộ phận Văn phòng đã chuẩn bị cơm nắm cho Bác. Lúc này cả nước đang thực hiện ăn gạo độn màu để có đủ gạo chi dùng và dự trữ, Bác cũng thực hiện như bất cứ người dân nào. Một vị Chủ tịch nước mà giản dị đến mức không ngờ, nói luôn đi đôi với làm, làm một cách tự giác, đó là một trong nhiều đức tính quý báu của Bác, có sức lay động lòng người. Bữa cơm hôm đó, những người tham dự ai cũng đều xúc động, nghẹn ngào.

Sáng ngày 10/12/1961, Bác đến thăm HTX cao cấp Vĩnh Thành, lá cờ đầu về phong trào trồng cây toàn miền Bắc. Lúc Bác đang nói chuyện với cán bộ, nhân dân thì nắng lên cao. Một cán bộ xã xuống nhà một người dân mượn cái ô lên che cho Bác. Vừa dương ô lên, Bác gạt ra và bảo:” Bác không phong kiến”. Người chỉ xuống cả biển người phía dưới, cũng đang đứng dưới nắng. Ai nấy đều cảm động trước cách xử sự của Người. Kết thúc buổi nói chuyện, Bác còn dặn: “Bà con, các cô, chú nên về làm bù, hôm nay Trung ương và Bác về làm mất của bà con một buổi cày…”.

Cả cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người luôn tâm niệm phương châm “lấy dân làm gốc”. Vì vậy mà mọi hành động, lời nói, Người đều hướng đến nhân dân, vì nhân dân. Nghĩ tới Người, ông Trần Minh Siêu xúc động: “Bác của chúng ta là một tấm gương lớn về đạo đức cách mạng: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí Công Vô Tư, suốt đời hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân”.

Theo Giadinh.net.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – người vun đắp tình hữu nghị Việt Nam với thế giới

Bác Hồ với thiếu nhi quốc tế tại Mát-xcơ-va năm 1955. Ảnh tư liệu

QĐND – Ngay từ những ngày đầu giành lại độc lập cho dân tộc và đến mãi sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nêu tấm gương sáng trong việc vun đắp tình hữu nghị của Việt Nam với chính phủ, nhân dân các nước trên thế giới. Dưới đây là những câu chuyện về tình hữu nghị ấy.

Bức tranh thêu tặng Đại tá Xtê-phen L.Noóc-ling-giơ

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 116 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 13-5-2006, bà Giên Coi-lơ, cháu dâu của Đại tá Xtê-phen L.Noóc-ling-giơ, đã trao tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh bức tranh thêu tùng hạc, một kỷ vật quý của Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng Đại tá Xtê-phen L.Noóc-ling-giơ tháng 10-1945.

66 năm trước, Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc, cũng là lúc nước ta chớp thời cơ, giành được độc lập. Đội quân G5, đơn vị cứu tế xã hội của Hoa Kỳ đối với quân Đồng minh do Đại tá L.Noóc-ling-giơ đứng đầu đến Hà Nội, với sứ mệnh nhân đạo là giải phóng tù binh đang bị Nhật giam giữ, đồng thời chăm sóc, hỗ trợ thuốc men, lương thực cho những số phận bất hạnh đến từ các nước khác nhau. Đoàn cứu tế xã hội Hoa Kỳ đến Hà Nội đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam quan tâm, giúp đỡ.

Đầu tháng 10 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp Đại tá L.Noóc-ling-giơ để bàn việc giúp đỡ, vận chuyển lương thực từ Nam ra Bắc. Sự kiện này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo trong phiên họp Hội đồng Chính phủ, ngày 9-10-1945.

Bức tranh dưới bàn tay tài hoa của nghệ nhân, trên nền vải thô màu vàng nhạt, những đường thêu đã làm hình ảnh chim hạc đậu trên cây tùng hiện lên sinh động, cùng lời chúc tốt đẹp nhất của Hồ Chí Minh: “Best greetings from Ho Chi Minh, Oct. 1945” (Những lời chúc tốt đẹp nhất của Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 1945). Đường bo bằng vải xa-tanh màu đỏ nâu càng tôn thêm vẻ đẹp tinh tế của tặng vật.

Sinh thời, Đại tá L.Noóc-ling-giơ treo bức tranh này ở nơi trang trọng nhất trong nhà riêng của ông, tại Niu Y-oóc. Trải qua hơn 60 năm, bức tranh được gia đình Đại tá L.Noóc-ling-giơ gìn giữ, rồi vượt hàng nghìn cây số, từ nước Mỹ bên kia bán cầu, trở về Việt Nam, với một thông điệp hòa bình hữu nghị giữa các dân tộc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với gia đình Rây-mông Ô-brắc

Năm 1946, sau cuộc đàm phán với Pháp không kết quả, nhận lời mời của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sang thăm Pháp với danh nghĩa Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ giữa tháng 6 đến giữa tháng 9-1946.

Ngày 27-7-1946, Việt kiều ở Pháp đã tổ chức một cuộc chiêu đãi tại Vườn Hồng Ba-ga-ten ở Pa-ri để chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông Rây-mông Ô-brắc có mặt trong buổi chiêu đãi. Sau đó, ông mời Bác về ở nhà mình, ở ngoại ô Pa-ri.

Bác đến ở nhà ông Rây-mông Ô-brắc 6 tuần, từ đầu tháng 8 đến giữa tháng 9-1946. Trong thời gian ở cùng gia đình, lúc đầu bà Ô-brắc và mẹ bà nấu cho Bác ăn. Sau này, thấy bận và Bác có nhiều khách, nên anh em đã cử ông Ty, một Việt kiều yêu nước đến nấu ăn cho Bác. Ông Ty có một cửa hàng ăn nhưng ông đã đóng cửa, đến phục vụ Bác. Mỗi buổi sáng, người nhà ông Ô-brắc mang đến cho Bác sách báo tiếng Pháp và báo chí tiếng Anh, Đức, Nga… Bác thường đọc báo ngay trên thảm cỏ. Hằng ngày Bác cũng tiếp khách ở ngoài vườn. Chính phủ Pháp dành cho Bác một tầng trong một ngôi nhà lớn ở gần Khải hoàn môn, nhưng Bác thường không vào Pa-ri tiếp khách, mà mời về nhà ông Ô-brắc.

Ông Ô-brắc kể lại rằng, cuối tháng 7, nhân ngày sinh của ông, Bác đã tặng ông một bức tranh của họa sĩ Vũ Cao Đàm, một trí thức Việt kiều yêu nước. Bức tranh tả một bà mẹ mới sinh con, đang vươn cánh tay dài với những ngón tay mảnh dẻ vuốt đầu cháu bé. Ít lâu sau, bà Ô-brắc sinh cháu Ê-li-da-bét. Bác đã đến nhà hộ sinh thăm, tặng hoa và nhận là người đỡ đầu. Người gọi Ê-li-da-bét là Ba-bét. Gia đình ông Ô-brắc vô cùng vui sướng và hạnh phúc. Vào những dịp sinh nhật Ba-bét, Người thường gửi thư và quà tới ông bà Ô-brắc và con gái đỡ đầu của mình. Quà của Bác là quả cầu nhỏ hay một con trâu bằng ngà, có khi là một bức ảnh chân dung của Người, hoặc một đồng tiền vàng có mang hình Bác và đặc biệt là tấm lụa vàng để Ba-bét may áo cưới.

Ba-bét sau này là giáo viên và có ba người con. Những món quà của Bác Hồ tặng, Ba-bét vẫn giữ gìn như những kỷ vật. Ba-bét đã nói với chồng và các con: “Chúng ta đang sống lại một kỷ niệm đẹp đẽ nhất trong đời mà Bác Hồ đã dành cho chúng ta”.

Sau năm 1946, ông Ô-brắc đã gặp Bác hai lần. Một lần vào năm 1955, ở Bắc Kinh, khi Bác đang thăm Trung Quốc. Bác đã mời ông ăn sáng và mời sang Hà Nội, gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng, để giúp giải quyết vấn đề buôn bán giữa Việt Nam và Pháp. Ông đi xe lửa từ Bắc Kinh đến Lạng Sơn, sau đó đi xe Jeep đến Hà Nội. Ông ở Việt Nam khoảng nửa tháng, đi thăm Hà Nội và Vịnh Hạ Long. Lần thứ hai, năm 1967, ông cùng Viện trưởng Viện Pa-xtơ H.Ma-cô-vích sang để trao đổi về tình hình Việt Nam. Bác cùng Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp ông tại Nhà sàn, Hà Nội. Sau 12 năm xa cách, ông được gặp Bác. Đây cũng là lần cuối cùng.

Ông Ô-brắc đã viết cuốn sách “Où s attarde la mémoire” (Những gì để nhớ), xuất bản năm 1946, trong đó kể lại những kỷ niệm gắn bó với cuộc đời của ông. Bác Hồ và Việt Nam đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng vợ chồng Rây-mông Ô-brắc. Ông bà đã trở thành những người bạn thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam.

Bác Hồ với Thủ tướng Ấn Độ Nê-ru

Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Ấn Độ lần thứ hai. Trong cuộc mít-tinh có hàng vạn người dự tại Thủ đô Niu Đê-li, các bạn Ấn Độ làm sẵn một cái ghế cho Bác Hồ ngồi trên bục danh dự. Chiếc ghế trông như một cái ngai vàng, rất lớn. Trong khi đó, Thủ tướng Ấn Độ ngày ấy là J.Nê-ru thì chỉ ngồi một chiếc ghế bình thường như mọi người khác. Khi Thủ tướng Nê-ru mời Bác Hồ ngồi vào chiếc ghế đó, Bác dứt khoát từ chối. Thấy vậy, Thủ tướng Nê-ru nói: “Ngài là khách danh dự của chúng tôi, việc ngài ngồi lên chiếc ghế này chính là niềm vinh dự của chúng tôi”. Chứng kiến điều này, hàng vạn người dự mít-tinh phía dưới quảng trường đứng cả lên xem. Hai vị lãnh tụ của hai nước cứ nhường nhau, chẳng ai chịu ngồi lên chiếc ghế lớn ấy. Cuối cùng, Thủ tướng Nê-ru đành gọi người cho chuyển chiếc ghế đi, thay bằng một chiếc ghế khác giản dị hơn. Thấy vậy, hàng vạn người dân Ấn Độ dưới quảng trường rất cảm kích vỗ tay vang dội và hô rất to: “Hồ Chí Minh muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm!”. Chuyện này được người Ấn Độ sau đó kể lại rất nhiều, trở thành một huyền thoại của họ về Bác Hồ.

Trong chuyến thăm này, tại một bữa tiệc do Thủ tướng Nê-ru chiêu đãi Bác Hồ có món thịt gà địa phương rất nổi tiếng. Người Ấn Độ khi ăn cơm không dùng thìa, dĩa mà dùng 5 ngón tay để bốc thức ăn. Cả Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ cũng muốn dùng tay bốc thức ăn. Nhưng tại bữa tiệc quốc tế người ta phải dùng dao, thìa, dĩa cho lịch sự. Khi món thịt gà được đưa ra, các quan khách Ấn Độ có vẻ không quen dùng dao, dĩa. Bác Hồ rất tinh ý, Người nói với Thủ tướng Nê-ru: “Thịt gà phải ăn bằng tay thì mới ngon chứ còn ăn bằng thìa dĩa thì khác nào nói chuyện với người yêu lại phải qua ông phiên dịch”. Nghe Bác Hồ nói vậy, cả bàn tiệc cười vang làm cho không khí bữa tiệc hôm đó rất vui vẻ và thân mật.

Bác Hồ với ba người con đỡ đầu

Sinh thời, Bác Hồ luôn luôn dành sự quan tâm và tình cảm yêu thương nhất cho các cháu thiếu nhi trong và ngoài nước, bởi đó là những chủ nhân tương lai của nước nhà và nhân loại. Tình cảm và sự quan tâm chăm sóc của Bác dành cho thiếu nhi trong nước và quốc tế thể hiện ở nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau, trong đó có cả tình cảm mà Bác Hồ đã dành cho những người con đỡ đầu của mình.

Ngoài Ba-bét, người con đỡ đầu đầu tiên, Bác Hồ còn có hai người con khác, một là người Đức, người thứ hai là người Nga. Kơ-nớt Vôn-gang Oan-thơ Hát-man ở miền Nam nước Đức có ngày sinh trùng với ngày sinh của Người: 19- 5-1951. Chính vì sự trùng hợp ngẫu nhiên này mà ông bà Oan-thơ Hát-man, cha mẹ của Kơ-nớt, đã gửi thư tới Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ cảm tình ủng hộ cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam và xin Người nhận Kơ-nớt Vôn-gang Oan-thơ Hát-man làm con đỡ đầu.

Tại Việt Bắc, mặc dù bộn bề công việc để lãnh đạo nhân dân ta kháng chiến chống Pháp và kiến thiết đất nước, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành thời gian viết thư trả lời ông bà Hát-man. 5 tháng sau ngày gửi thư, ông bà Hát-man đã nhận được thư trả lời của Người. Bức thư được đánh máy trên giấy với nội dung: “Tôi thân ái mừng bà và ông vừa có cháu trai là Kơ-nớt Vôn-gang Oan-thơ Hát-man. Tôi cảm ơn bà và ông đã gửi thư và ảnh cho tôi. Và tôi rất vui lòng nhận cháu làm con đỡ đầu. Tôi gửi biếu cháu một bức ảnh nhỏ và một đồng Việt Nam để làm kỷ niệm. Tôi chắc rằng ở trong nước Đức dân chủ nhân dân và dưới sự chăm sóc của Chủ tịch W.Pi-ếch và của Đảng, bà và ông sẽ nuôi dạy cháu mau lớn, vui vẻ, mạnh khỏe, mai sau cháu sẽ thành một chiến sĩ tốt trong sự nghiệp phát triển nước Đức xã hội chủ nghĩa, gắn chặt tình thân thiện giữa hai dân tộc Đức – Việt và giữ gìn dân chủ cùng hòa bình thế giới. Tôi gửi bà và ông lời chào thân ái, và gửi cháu nhiều cái hôn. Việt Nam 15-9-1951, Hồ Chí Minh”.

Nhận được thư của Bác, gia đình ông Hát-man vô cùng xúc động, bởi tình cảm và sự quan tâm mà Người đã dành cho gia đình ông. Vào dịp Kơ-nớt Vôn-gang Oan-thơ Hát-man tròn 3 tuổi, Bác gửi tặng gia đình ông Hát-man một bức ảnh Người. Bức ảnh Người chụp chung với một bé gái, phía sau Bác viết: “Thân ái gửi con đỡ đầu yêu quý Kơ-nớt Vôn-gang W.Hát-man. Việt Nam, 19-5-1954 – Hồ Chí Minh”.

Gia đình ông Hát-man rất trân trọng những tình cảm của Bác Hồ dành cho họ. Các bức ảnh chụp chung trong dịp Người sang thăm Cộng hòa dân chủ Đức được lưu giữ như những kỷ vật, dù thời gian trôi qua đã nhiều năm. Còn với người con đỡ đầu của Bác, dù lúc còn học ở trường, khi tham gia quân đội hay là cán bộ kỹ thuật làm việc tại một xí nghiệp lai bò giống, Kơ-nớt đều mang theo bên mình một trong những tấm ảnh chụp chung với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Còn cô bé người Nga, I-ri-na Đi-mi-tơ-ri-ép-na Đê-ni-a, được Bác Hồ nhận làm con đỡ đầu trong trường hợp khác.

I-ri-na Đi-mi-tơ-ri-ép-na Đê-ni-a sinh vào mùa xuân năm 1958, là con của nhà báo Đi-mi-tơ-ri Gơ-ri-gô-rê-vích và vợ là bác sĩ An-na Xta-xi-a Va-xi-lép-na, ở thành phố Giu-cốp-xki, ngoại ô Mát-xcơ-va. Mặc dù chưa một lần được gặp hay nói chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng với tấm lòng kính yêu Bác, nên khi sinh con gái, họ đã viết thư gửi Người. Bức thư viết: “Chúng cháu được biết, tình yêu của Người đối với trẻ em và của trẻ em đối với Người vô cùng sâu sắc. Theo phong tục Nga cổ truyền, một phong tục tốt đẹp ở nước Nga, chúng cháu chân thành đề nghị Người làm cha đỡ đầu của đứa con nhỏ của chúng cháu – con gái tên là I-ri-sơ-ca”.

Không lâu sau ngày gửi thư, gia đình đã nhận được thư trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác viết: “Cô An-na Xta-xi-a Va-xi-lép-na và chú Đi-mi-tơ-ri Gơ-ri-gô-rê-vích thân mến! Tôi đã nhận được thư của cô chú và chân thành cảm ơn cô chú đã mời tôi làm cha đỡ đầu cho con gái của cô chú. Tôi mong rằng, sự nhận lời của tôi sẽ thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết anh em giữa hai dân tộc Việt Nam và Liên Xô. Hôn con gái đỡ đầu bé nhỏ của tôi và chúc cháu được mạnh khỏe, hạnh phúc. Chúc cô chú đạt nhiều thành tích trong công tác, trong cuộc sống. Chào thân ái, Hồ Chí Minh”.

Cùng với lá thư, còn có một bức ảnh chân dung của Người, trên đó viết dòng chữ Nga: “Hôn con I-ri-sơ-ca, chúc con mạnh khoẻ và hạnh phúc! Cha nuôi Hồ”./.

Theo qdnd.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Cách thức tiếp thu di sản tư tưởng nhân loại ở Hồ Chí Minh

Luận giải nội dung trong những tư tưởng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu từ di sản tư tưởng nhân loại (Nho giáo, Cơ Đốc giáo, Phật giáo, Tôn Dật Tiên, Mác – Lênin,…), trong bài viết này, tác giả đã khẳng định: Mặc dù tiếp thu nhiều dòng tư tưởng khác nhau, song tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống nhất quán, không lẫn lộn với bất cứ nhà tư tưởng nào của dân tộc và nhân loại. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã thể hiện trình độ phát triển cao về trí tuệ, nhân cách đạo đức và tầm thước của một vĩ nhân. Nguyên lý triết học chi phối cách tiếp biến các giá trị tư tưởng này không chỉ là quan điểm toàn diện, chỉnh thể, mà còn là tinh thần khoan dung và gắn kết với thực tiễn Việt Nam.

Sinh thời, trong một lời tự bạch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo của Jêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Jêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có ưu điểm chung đó sao? Họ đều mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu hạnh phúc cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, tôi tin rằng họ nhất định sống chung với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm một người học trò nhỏ của các vị ấy”(1)

Đọc những lời viết trên, khi tiếp cận với tư tưởng Hồ Chí Minh, đã có rất nhiều ý kiến khác nhau. Có người cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự phát triển một cách sáng tạo tư tưởng của C.Mác và V.I.Lênin. Không ít người lại khẳng định tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh mang nội dung Nho giáo rõ rệt và chính sách phát triển đất nước Việt Nam của Người chịu ảnh hưởng mạnh mẽ chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn, nhất là khi Người viết: “Tôi kính cẩn cầu Đức Thượng đế phù hộ dân tộc Việt Nam và giúp cho Việt Nam đi đến cuộc thắng lợi cuối cùng. Thượng đế và Tổ quốc muôn năm”(2) thì nhiều người tin rằng lòng nhân ái, khoan dung của Jêsu là một mẫu mực đối với “người học trò nhỏ” Hồ Chí Minh.

Sự thật thì tư tưởng Hồ Chí Minh đã từng tiếp cận và tiếp thu nhiều dòng tư tưởng khác nhau, đã từng “ mưu cầu hạnh phúc cho loài người”. Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ tiếp thu Nho giáo, Cơ Đốc giáo, Mác – Lênin, Tôn Dật Tiên, mà còn tiếp thu cả Phật giáo, hệ tư tuởng tư sản; ca ngợi cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ; tiếp cận với tư tưởng về nhà nước của A.Lincôn; cổ vũ tinh thần yêu nước của đạo Cao Đài, Hoà Hảo. Hồ Chí Minh đã từng viết: “Đức Phật là đại từ đại bi, cứu khổ, cứu nạn, muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn Người phải hy sinh tranh đấu, diệt lũ ác ma. Chúng ta làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca”(3).

Tiếp thu nhiều dòng tư tưởng khác nhau, song tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống nhất quán, không lẫn lộn với bất cứ nhà tư tưởng nào của dân tộc và của nhân loại, mặc dù Người tiếp nhận các giá trị từ truyền thống văn hoá của dân tộc và loài người tiến bộ. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã vận động trong lịch sử dân tộc và loài người, xác lập thành nền tảng tư tưởng của thời đại Hồ Chí Minh. Đó là thời đại mà nhân dân Việt Nam đã nâng các giá trị truyền thống lên một tầm cao mới và hiện diện trước loài người như một dân tộc anh hùng, văn minh, lịch thiệp, hiện đại.

Mỗi nhà tư tưởng lớn trong văn hoá nhân loại đều có sắc thái riêng của mình. Hồ Chí Minh nói mình là “một người học trò nhỏ” của Khổng Tử! Thật ra, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ khác về cơ bản, mà còn vượt rất xa tư tưởng của Khổng Tử trên mọi phương diện. Hồ Chí Minh ca ngợi ưu điểm của học thuyết Khổng Tử là tu dưỡng cá nhân, song ngay từ năm 1927, Người đã viết: “Khổng giáo dựa trên 3 sự phục tùng: quân – thần; phụ – tử; phu – phụ và năm đức chủ yếu: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Khổng Tử đã viết Kinh Xuân thu để chỉ trích “những thần dân nổi loạn” và “những đứa con hư hỏng”, nhưng ông không viết gì để lên án những tội ác của “những người cha tai ác” và “những hoàng tử thiển cận”… Ông rõ ràng là người phát ngôn bênh vực những người bóc lột chống lại những người bị áp bức. Nếu Khổng Tử sống ở thời đai chúng ta và nếu ông khăng khăng giữ những quan điểm ấy thì ông sẽ trở thành phần tử phản cách mạng”(4).

Theo Hồ Chí Minh, về mặt học thuyết thì tư tưởng của Khổng Tử là hệ tư tưởng chỉ phù hợp với “một xã hội bình yên không bao giờ thay đổi” và do vậy, trên phương diện hệ thống, nó không thể phù hợp với xã hội mới. Song, về yếu tố, nó thiên về triết lý nhập thế, hành đạo giúp đời, mong muốn thế giới đại đồng có những kỹ năng giáo dục đạo đức tỉ mỉ; mặc dù không phải nội dung của mọi yếu tố này đều mang ý nghĩa tiến bộ. Khi nghiên cứu nội dung của những yếu tố trong học thuyết của Khổng Tử, Hồ Chí Minh đã tách chúng ra khỏi ý thức hệ của giai cấp phong kiến thống trị, giai cấp từng tạo sự bất bình đẳng về giới tính, thế hệ, giai cấp và dân tộc. Người cũng sử dụng những khái niệm nhân, nghĩa, trí, dũng, cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư của Nho giáo, nhưng đó là Nho giáo đã Việt Nam hoá, mang rất nhiều yếu tố dân tộc và tam giáo đồng hành. Những yếu tố này đã được Người xây dựng nội hàm cách mạng và hiện tại trong hệ thống tư tưởng của mình. Nội hàm của những khái niệm này khác hoàn toàn với nội hàm thuộc hệ tư tưởng Nho giáo.

Cũng như vậy, Hồ Chí Minh đã ca ngợi lòng nhân ái cao cả của Thiên Chúa giáo. Chúa Jêsu đã kêu gọi con chiên của Chúa “Hãy yêu kẻ thù của mình, làm ơn cho kẻ ghét mình, cho phước cho kẻ rủa mình và cầu nguyện cho kẻ sĩ phục mình”. Chúa Jêsu dạy con người không tham lam, trộm cắp, hãy sống trong sạch, hãy cho khi người ta xin. Hồ Chí Minh đã đọc rất kỹ Tân ướcCựu ước, hiểu thấu đáo sách Mathiơ và Luca. Người thấy nhân tố thương yêu con người thì Thiên Chúa giáo với Khổng giáo cũng cùng chung một ưu điểm. Trong một bức thư phúc đáp ngài G.Bidon, Thủ tướng của Chính phủ Pháp – nước đang xâm lăng Việt Nam lúc đó, Người đã viết: “Chúng ta đều được kích thích bởi một tinh thần. Triết lý đạo Khổng, và triết lý phương Tây đều tán dương một nguyên tắc đạo đức: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”(5). Nhấn mạnh lòng thương người của một số học thuyết tôn giáo, một lần khác, Người lại viết: “Chúa Jêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”(6). Tiếp thu tư tưởng nhân ái bao la của Đức Chúa Jêsu, song Hồ Chí Minh cũng thấy rằng, “cách đây 2000 năm, Đức Chúa Jêsu đã nói là ta phải yêu mến các kẻ thù của ta. Điều đó đến bây giờ vẫn chưa thực hiện được”(7).

Vấn đề cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là thương người, mà còn phải hành động như thế nào để giải thoát cảnh cực khổ của những người bất hạnh. Khi tiếp thu triết lý thương người của mọi tôn giáo, Hồ Chí Minh đã tìm cách giải thoát những con người đang bị áp bức, bóc lột ra khỏi lầm than, cơ cực. Khi đồng cảm với triết lý thương người của Đức Chúa Jêsu, Người không dừng lại ở triết lý ấy trong suy nghĩ mà luôn hành động, luôn thực hiện cái triết lý ấy trong hoạt động thực tiễn. Giáo sư Trần Văn Giàu, khi nghiên cứu tình thương yêu bao la của Hồ Chí Minh, đã viết rằng: “Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân văn giải thoát của những lớp người hèn yếu, lao khổ, của các dân tộc bị chà đạp, giải thoát chính bằng ý thức, lực lượng của mình”(8).

Khi tiếp thu các tư tưởng nhân ái bao la của các bậc đại nhân tiền bối, Hồ Chí Minh không chỉ gắn tình yêu của mình vào con người, vào đồng loại, rộng lượng đối với kẻ thù, chấp nhận độc thoại giữa các chính kiến, mà còn quan tâm sâu sắc hơn đến việc thực hiện, việc giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và con người. Yêu con người, Hồ Chí Minh đã tìm mọi phương thức mang lại tự do cho con người. Triết lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Người chính là hệ quả của cách tiếp thu lòng nhân ái bao la của các bậc đại trí, đại nhân tiền bối.

Ai cũng biết Hồ Chí Minh là một người mácxít. Trong lời tự bạch dẫn ở trên, Người đã ca ngợị phương pháp làm việc biện chứng của chủ nghĩa Mác. Chính chủ nghĩa Mác – Lênin đã thức tỉnh và làm hoàn thiện chủ nghĩa yêu nước ở Hồ Chí Minh gắn với thời đại mới. Khẳng định chủ nghĩa Mác – Lênin đã cung cấp cách nhìn mới về thế giới cho mình, Người viết: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đoạ đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”(9).

Hoàn toàn tin theo phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác, Hồ Chí Minh đã truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX. Theo phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác, Người đã xuất bản báo LeParia, viết báo L’humanitéLa vie Ouvriere, công bố Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường Cách Mệnh và nhiều tác phẩm lớn khác. Trong ý tưởng triết học của Người, phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác là một thế giới khoa học, là một vũ khí cách mạng mang lại hạnh phúc cho nhân loại. Nhiều người thấy Hồ Chí Minh vận dụng nhuần nhuyễn phương pháp luận mácxít đã khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh chính là tư tưởng của chủ nghĩa Mác được vận dụng vào thực tiễn Việt Nam. Chính Người đã chỉ ra rằng: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn nhân loại”(10).

Phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác đã chỉ dẫn cho Hồ Chí Minh mối quan hệ tương hỗ giữa cái riêng và cái chung, giữa dân tộc và nhân loại, truyền thống và hiện đại, dân tộc và tộc người, cá nhân và xã hội, lý luận và thực tiễn trong quá trình phát triển. Người thấy rõ nguyên tắc căn bản của phương pháp biện chứng mácxít là thống nhất giữa lý luận với thực tiễn. Người viết: “Trong khi nhấn mạnh sự quan trọng của lý luận, đã nhiều lần đồng chí Lênin nhắc đi nhắc lại rằng lý luận cách mạng không phải là giáo điều, nó là kim chỉ nam cho hành động cách mạng; và lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính chất sáng tạo; lý luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động… Phải cụ thể hoá chủ nghĩa Mác – Lênin cho thích hợp với điều kiện hoàn cảnh từng lúc và từng nơi”(11). Do vậy, theo Người, “học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình… Học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn”, chứ không phải “học thuộc lòng”, “học để trang sức”(12).

Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh tuy hội tụ những giá trị nhân văn cao cả trong các học thuyết Khổng Tử, Jêsu, C.Mác và V.I.Lênin, nhưng tư tưởng đó là tư tưởng Hồ Chí Minh chứ nhất định không thể là tư tưởng Nho giáo, Thiên Chúa giáo, Mác – Lênin hay Tôn Văn. Một số người đã dựa vào lời tự bạch của Hồ Chí Minh: “Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta” để cho rằng, trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh thì chủ nghĩa Tôn Văn biểu hiện khá rõ nét trên nhiều lĩnh vực chính trị quan trọng.

Chủ nghĩa tam dân (dân tộc, dân quyền, dân sinh) của Tôn Trung Sơn là một học thuyết nằm trong phạm trù cách mạng tư sản khi phong trào duy tân nổi lên ở Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam. Ở Việt Nam, do ảnh hưởng chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn, học thuyết dân quyền với những nội dung dân sinh, dân trí, dân khí đã được các nhà ái quốc trong phong trào Duy Tân đề xướng. Hồ Chí Minh ngưỡng mộ Tôn Dật Tiên không chỉ ở chủ thuyết dân tộc, dân quyền, dân sinh, mà còn tìm hiểu chủ trương “Liên Nga, liên cộng, phù trợ công” này của ông. Tôn Dật Tiên đã phê phán đạo đức học của HánTống Nho, đồng thời xây dựng lý tưởng đạo đức thiên hạ vị công.

Sự gặp gỡ giữa tư tưởng của Tôn Trung Sơn với Hồ Chí Minh là gặp ở quan điểm về chủ nghĩa dân tộc. Trong chủ nghĩa tam dân, Tôn Trung Sơn quan tâm sâu sắc đến quyền lợi dân tộc. Ngay từ năm 1924, Hồ Chí Minh cũng đã nhận định: “Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước”. Cùng với chủ nghĩa dân tộc, Người cũng rất quan tâm tới xây dựng một nền đạo đức mới vượt qua học thuyết đạo đức của Khổng Tử. Song, trong tư tưởng của Người, chủ nghĩa dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa quốc tế. Người viết: “Khi chủ nghĩa dân tộc… thắng lợi, thì… nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế”(13).

Hồ Chí Minh đã nói tới độc lập cho dân tộc, tự do cho đồng bào, hạnh phúc cho nhân dân. Ở Người, đặc điểm nổi bật là tin tưởng sắt đá vào sức mạnh của nhân dân. Phạm trù nhân dân đã tạo nên sức sống và sự sáng tạo to lớn trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người viết: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”(14). Tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân với ý nghĩa nhân dân là người có thể cách mạng tới cùng thì không thể giống với tư tưởng dân sinh của Tôn Văn.

Rõ ràng, trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã có sự tiếp thu nhiều di sản tư tưởng trong văn hoá nhân loại, nhưng đây là một sự tiếp biến đặc biệt, sự tiếp biến vượt gộp để tạo ra một giá trị tư tưởng độc đáo, mới mẻ, cách mạng. Trong hệ tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta thấy rất rõ nền tảng tinh thần sâu sắc nhất là những giá trị truyền thống của dân tộc. Đó là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần khoan dung, ý chí tự lực tự cường và ý thức đoàn kết. Song, tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần khoan dung, ý chí tự lực tự cường, ý thức đoàn kết dân tộc truyền thống. Nếu Hồ Chí Minh chỉ là hiện thân của những giá trị văn hoá truyền thống thì tư tưởng Hồ Chí Minh cũng không vượt qua chủ nghĩa dân tộc chật hẹp của nhiều nhà tư tưởng trong nền văn hoá truyền thống Việt Nam. Cũng thế, nếu Hồ Chí Minh chỉ tiếp thu sự tu dưỡng trong học thuyết đạo đức của Khổng Tử, lòng nhân ái của Jêsu, phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác và chính sách Tam dân của Tôn Dật Tiên thì tư tưởng của Người cũng không vượt qua được những hạn chế của thời đại phản ánh trong hệ tư tưởng của những nhà tiền bối. Chính nhờ đã cởi bỏ đựơc chiếc dây ràng buộc học thuyết của các vị tiền bối trong khuôn khổ tính thời đại của họ mà tư tưởng Hồ Chí Minh đã mang giá trị của thời đại mới, vượt hẳn những tư tưởng của thời đại đã qua. Hồ Chí Minh đã tiếp biến nhiều tư tưởng của các vị tiền bối và các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc ta trong thời đại cách mạng khoa học – kỹ thuật và những phong trào cách mạng lớn đang dâng lên cuồn cuộn ở thế kỷ XX: phong trào dân chủ, phong trào giải phóng dân tộc và phong trào xã hội chủ nghĩa.

Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh đã vượt qua chiếc áo chật trong tư tưởng tu thân của Khổng Tử. Chủ nghĩa nhân văn hành động của Hồ Chí Minh đã vượt xa lòng thương người của tôn giáo Jêsu. Sự vận dụng sáng tạo phép biện chứng của chủ nghĩa Mác vào việc giải quyết những vấn đề dân tộc ở Việt Nam đã làm phong phú phép biện chứng duy vật và mang một sức mạnh mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa yêu nước quốc tế ở Hồ Chí Minh khác hẳn với chủ nghĩa vị quốc chật hẹp. Quan điểm về tính nhân dân với lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh khác rất xa với chủ nghĩa Tam dân Tôn Trung Sơn. Phong cách tư duy của Hồ Chí Minh là phong cách tư duy tổng hợp, khái quát, độc lập, tự chủ, sáng tạo gắn với thực tiễn đang vận động.

Tiếp biến nhiều dòng tư tưởng trong di sản tinh thần của nhân loại, song tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống tư tưởng được hình thành trong ba phong trào lớn của thế kỷ XX, nhằm đưa dân tộc Việt Nam tới độc lập, đất nước thống nhất tiến lên chủ nghĩa xã hội, nhân dân được sống tự do, ấm no, hạnh phúc, góp phần ổn định tình hình thế giới, phát triển hữu nghị giữa các dân tộc, vì tiến bộ xã hội và sự phát triển tốt đẹp các giá trị cá nhân và cộng đồng con người và tự nhiên.

Cách tiếp thu các di sản tư tưởng nhân loại của Hồ Chí Minh đã xác lập hệ tư tưởng Hồ Chí Minh sáng tạo, thống nhất bởi bốn tiểu hệ thống:

Thứ nhất là chủ nghĩa yêu nước và tình yêu con người. Đó là tình yêu những con người bị áp bức, bị bóc lột; là chủ nghĩa yêu nước quốc tế kết hợp với sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, sức mạnh cá nhân với sức mạnh cộng đồng trên cơ sở tư tưởng nền tảng “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Thứ hai là tư tưởng xây dựng nhà nước kiểu mới. Đó là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở một nền dân chủ của dân, do dân, vì dân và sức mạnh thuộc về nhân dân.

Thứ ba là tư tưởng về tương lai của con người, của xã hội loài người, của đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đó là một chủ nghĩa xã hội Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là “xã hội văn hoá cao”.

Thứ tư là tư tưởng về mối quan hệ giữa dân tộc và quốc tế, con người và tự nhiên. Đó là những tư tưởng lớn về một thế giới hoà bình, đầy tình hữu nghị, về một môi trường tự nhiên thân thiện, tươi đẹp và trong lành.

Bốn tiểu hệ thống này liên kết với nhau bởi quan điểm toàn diện nhằm gắn sự phát triển đời sống vật chất với đời sống tinh thần của con người, truyền thống với hiện đại, cá nhân với xã hội, dân tộc với quốc tế, con người với tự nhiên.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ trình độ phát triển cao về trí tuệ, nhân cách đạo đức và tầm thước của một vĩ nhân, khi tiếp biến các giá trị tư tưởng của truyền thống và nhân loại. Nguyên lý triết học chi phối cách thức tiếp biến các giá trị tư tưởng truyền thống và nhân loại không chỉ là quan điểm chỉnh thể, toàn diện mà còn là tinh thần khoan dung Hồ Chí Minh. Có lần Người đã tự bạch rằng: “Phải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể… chí công vô tư”, “sông to, biển rộng, thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng nó rộng và sâu. Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn, thì một chút nước cũng đầy tràn, vì độ lượng nó hẹp nhỏ”(15).

Yêu con người, yêu đồng loại, yêu người cùng khổ, tin tưởng và yêu thương nhân dân, yêu thiên nhiên từ mầm lá đến nhành hoa, rộng lượng đối với kẻ thù, chấp nhận đối thoại giữa các chính kiến là nhân cách Hồ Chí Minh, khi tiếp biến các di sản tư tưởng trong văn hoá nhân loại. Nhờ cách tiếp thu sáng tạo những di sản này để mưu cầu hạnh phúc cho dân tộc và loài người và với nhiều cống hiến khác trong giáo dục nghệ thuật, giao lưu quốc tế và giữ gìn bản sắc dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được UNESCO tôn vinh là một anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất của nhân loại./.

__________________________

(1) Hồ Chí Minh Truyện (Bản dịch Trung văn của Trương Niêm Thức. Bát Nguyệt xuất bản xã Thượng Hải xuất bản, 1949). Dẫn theo: Phan Văn Các. Nho giáo xưa và nay. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991.
(2) Hồ Chí Minh Toàn tập, t.4. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.490.
(3) Hồ Chí Minh. Sđd., t.5, tr.197.
(4) Hồ Chí Minh. Sđd., t.2, tr.453 – 454.
(5) Hồ Chí Minh. Sđd., t.4, tr.267.
(6) Hồ Chí Minh. Sđd., t.6, tr.225.
(7) Hồ Chí Minh. Sđd., t.4, tr.272.
(8) Trần Văn Giàu. Vĩ đại một con người. Nxb Long An, 1990, tr.92.
(9) Hồ Chí Minh. Sđd., t.10, tr.127.
(10) Hồ Chí Minh. Sđd., t.1, tr.464 – 465.
(11) Hồ Chí Minh. Sđd., t.8, tr.496.
(12) Hồ Chí Minh. Sđd., t.9, tr.292.
(13) Hồ Chí Minh. Sđd., t.1, tr.467.
(14) Hồ Chí Minh. Sđd., t.8, tr.279.
(15) Hồ Chí Minh. Sđd., t.5, tr.279, 644.

ĐỖ HUY
(Giáo sư, tiến sĩ, Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam)

vientriethoc.com.vn

Đọc Di chúc của Bác Hồ nghĩ về thực hành tiết kiệm chống lãng phí

(TCTG) – Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác luôn quan tâm đến việc tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí và điều đó có một ý nghĩa đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống xâm lược, giành độc lập dân tộc cũng như trong hoà bình, xây dựng, kiến thiết nước nhà.

Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta bản Di chúc lịch sử. Di chúc của Người là một văn kiện lịch sử vô giá, kết tinh trong đó tinh hoa, tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp của Người; là những lời dặn chứa chan tình cảm của Người cho toàn Đảng, toàn dân và là di sản tinh thần vô giá để lại cho muôn đời con cháu. Di chúc cũng là những suy nghĩ, trăn trở, tâm huyết của Người về vấn đề xây dựng Đảng, về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta, về nhân dân lao động, về bồi dưỡng cách mạng cho thế hệ sau, về phong trào đoàn kết quốc tế…

Bên cạnh đó, Di chúc của Người còn gây xúc động mạnh mẽ cho hàng triệu trái tim người dân Việt Nam khi nói đến việc riêng. Người chỉ dành vài dòng nói về việc riêng của mình “Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân. Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là “hoả táng”. Tôi mong rằng cách “hoả táng” sau này sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất ruộng. Khi ta có điện thì điện táng càng tốt hơn”(1).

Những lời dặn của Người về việc tang lễ khi Người đi xa là việc rất riêng tư nhưng vẫn vì công việc chung của đất nước, vì tình thương yêu vô hạn với đồng bào. Đó chính là những lời dạy về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác luôn quan tâm đến việc tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí và điều đó có một ý nghĩa đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống xâm lược, giành độc lập dân tộc cũng như trong hoà bình, xây dựng, kiến thiết nước nhà. Không phải đến lúc chuẩn bị cho việc sẽ “đi xa” Bác mới đề cập đến vấn đề này mà chỉ một ngày sau khi thành lập nước, khi nói về những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Người đã nhấn mạnh: “Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện; nó đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hoá dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian dảo, tham ô và những thói xấu khác. Chúng ta có nghĩa vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta… Tôi đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tư tưởng nhân dân bằng cách thực hiện cần, kiệm, liêm, chính”(2).

Theo Bác, thực hành “cần, kiệm, liêm, chính” là nền tảng của đạo đức cách mạng, của người cán bộ cách mạng. Người đã chỉ ra một cách cụ thể tiết kiệm là gì? Vì sao phải tiết kiệm? Tiết kiệm những gì? và ai cần tiết kiệm? Người khẳng định: “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần; là một dân tộc văn minh tiến bộ”(3). Bác dạy “Nếu mỗi người tiết kiệm một chút, sản xuất một chút, góp lại sẽ thành một số rất to; Chớ tưởng tiết kiệm những cái cỏn con như mẩu giấy, ngòi bút là không có ảnh hưởng. Một người như thế, trăm người như thế, vạn người như thế, công quỹ đã bớt được một số tiền đáng kể, lấy ở mồ hôi, nước mắt dân nghèo mà ra.” “Tiết kiệm không phải là bủn xỉn, khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của cũng vui lòng. Như thế mới đúng là tiết kiệm”.(4). Người luôn hiểu rằng “Một hột gạo, một đồng tiền, tức là một số mồ hôi nước mắt của đồng bào”.

Đi đôi với việc thực hành tiết kiệm phải chống lãng phí, chống bệnh quan liêu, vì theo Bác, ruộng đất, máy móc không tự nó làm ra của cải mà phải do sức lao động của con người sáng tạo nên. Do đó, nếu làm ra được bao nhiêu lại tiêu xài hết bấy nhiêu thì không lại hoàn không; “sản xuất mà không tiết kiệm thì như gió vào nhà trống”. “Tuy không trộm cắp của công như tham ô, nhưng lãng phí cũng làm cho nhân dân và chính phủ thiệt thòi, hao tổn, kết quả thì lãng phí cũng có tội như tham ô”. Bác nghiêm khắc phê phán những việc làm gây ra sự lãng phí, tổn thất về thời gian, sức lao động, vật tư, tiền bạc của nhân dân và nhà nước. Bác chỉ rõ, nguồn gốc của việc gây ra bệnh lãng phí, đó là bệnh quan liêu và “hoặc vì lập kế hoạch không chu đáo, hoặc tính toán không cẩn thận”, “hoặc vì bệnh hình thức xa xỉ phô trương” “hoặc vì thiếu tinh thần bảo vệ của công”. Vì thế phải kiên quyết chống bệnh lãng phí, chống thói họp lu bù, chống việc làm ẩu để sản phẩm làm ra không sử dụng được, chống việc liên hoan ăn uống bừa bãi. Hoang phí cũng là một tội ác bởi chính nó đã góp phần không nhỏ trong việc gây nên những tiêu cực của xã hội.

Muốn làm tốt việc tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu thì cán bộ, đảng viên phải gương mẫu thực hành trước và phải biến nó thành một phong trào quần chúng rộng rãi. Trong buổi bế mạc Hội nghị cán bộ lần thứ 6 của Đảng, ngày 18-01-1949, Bác nhấn mạnh “Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước… Hô hào tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước”(5).

Cùng với những lời dạy về thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu, cuộc đời của Người chính là tấm gương mẫu mực, minh chứng về đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm chính để toàn Đảng, toàn dân học tập, noi theo.

Sinh thời, Bác Hồ cũng không dành cho mình một sự ưu đãi nào. Ngay từ những ngày đầu mới dành được chính quyền, Bác vẫn cùng ăn cơm chung với anh em trong cơ quan Bắc Bộ Phủ, cũng một suất ăn bình thường như các đồng chí khác. Trở về Hà Nội lần thứ hai, sau kháng chiến chống Pháp, với cương vị là Chủ tịch nước, nhưng Bác không ở Dinh toàn quuyền lộng lẫy, khang trang mà ở ngôi nhà của một người thợ điện cũ chỉ có 3 phòng nhỏ đơn sơ. Đến ngày 17-5-1958, Bác chuyển hẳn sang ngôi nhà sàn gỗ mà ngày nay đã đi vào huyền thoại đẹp đẽ của cuộc đời Người…

Sau 5 năm thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng và Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, với những kết quả đạt được và kinh nghiệm rút ra từ những hạn chế, yếu kém, Đảng ta quyết tâm “Thực hiện kiên trì, kiên quyết, có hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng lãng phí”; coi đó “là nhiệm vụ rất quan trọng, vừa cấp bách, vừa lâu dài của công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước”(6). Đây cũng là một nội dung quan trọng của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tăng cường việc củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Thực hiện được những điều đó không những có ý nghĩa đối với chúng ta hôm nay mà còn mãi mãi có ý nghĩa, tác dụng to lớn cho các thế hệ mai sau để “xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(7), thoả lòng mong muốn cuối cùng của Người trước lúc đi xa./.

Theo tuyengiao.vn
Thu Hiền (st)

_____________________

(1) – Bác Hồ viết Di chúc, Hồi ký của Vũ Kỳ, Thế Kỷ ghi, Nxb Thuận Hoá, Huế 2005, Tr.151.
(2) – Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, tập 4, Tr.8
(3) – Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXb CTQG, H.2002, tập 5, tr.642
(4) – Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H.2002, tập 5, tr.637
(5) – Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H.2002, tập 5, tr.552

bqllang.gov.vn

Tượng đài và các công trình tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trên thế giới

Châu Mỹ:

*- Cu Ba:

1- Tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Thủ đô La Habana

2- Trường cấp II Hồ Chí Minh ở tỉnh Jarugo.

Trước đây là trường cấp II ở nông thôn Bainon (Esbec de Saihoa). Trong chuyến thăm hữu nghị chính thức Cuba của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng, ngày 23/3/1974, Chủ tịch Phidel Castro và đồng chí Phạm Văn Đồng đến thăm và chính thức khánh thành trường. Trong cuộc mít tinh trọng thể, Chủ tịch Phidel Castro đã quyết định trường mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ khi thành lập đến nay, trường là một trong hai cơ sở mạnh trong các hoạt động đoàn kết, hữu nghị với Việt Nam và là một trong hai cơ sở đầu tiên được Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Cu ba công nhận: Chi hội hữu nghị với Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 95 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trường thường xuyên tiến hành các đợt sinh hoạt tư tưởng, tổ chức hội thảo, hội nghị và các hoạt động chính trị văn hoá, thể thao… nhân các ngày lễ kỷ niệm lớn của Việt Nam, đặc biệt là nhân dịp ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

3- Trường cấp I Bác Hồ (Escuele Semi-internado Primaria Tio Hồ) ở Thủ đô La Habana. Trường thuộc quận Playa, Thủ đô La Habana.

Ngày 1/9/1976, theo quyết định của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Cu Ba, Trường được thành lập và mang tên Bác Hồ để bày tỏ tình đoàn kết, hữu nghị của Cuba với nhân dân Việt Nam.

Châu Âu:

*- Cộng hoà Liên bang Nga:

1- Quảng trường và tượng đài Hồ Chí Minh tại Thủ đô Mátxcơva.

2- Đại lộ Hồ Chí Minh ở thành phố Ulianốpxcơ.

*- Hunggari:

1- Đài tưởng niệm Hồ Chí Minh tại công viên thành phố Zalaegerszey, cách Thủ đô Budapest khoảng 220km.

*- Pháp:

1- Nhà số 9, ngõ Công Poanh (Compoint) quận 17, Paris.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ở đây 20 tháng, từ 14/7/1921 đến 14/3/1923. Tại đây, Người tham gia sáng lập “Hội liên hiệp thuộc địa” và được bầu làm uỷ viên thường trực của Hội. Người đã khởi thảo Tuyên ngôn, Điều lệ và Lời kêu gọi. Đây là một tổ chức yêu nước và cách mạng có tổ chức và quy mô đầu tiên hoạt động hợp pháp ở Paris.

Người thành lập tờ báo Le Paria (Người cùng khổ), cơ quan ngôn luận của Hội, vừa là người sáng lập, kiêm chủ bút, biên tập và phát hành báo. Nhờ công lao của Nguyễn Ái Quốc, tờ báo đã góp phần quan trọng vào việc tuyên truyền, giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin ở các nước thuộc địa. Trong thời gian này, Người còn viết nhiều bài báo có tác động lớn, đả kích thực dân Pháp xâm lược và bóc lột nhân dân các nước thuộc địa của Pháp.

Ngày 14/3/1923, Người rời nhà số 9 ngõ Công poanh, dọn đến số nhà 3 phố Mácsơ Đê Patơriacsơ, quận 5, Paris. Đây chính là nơi đặt trụ sở “Hội liên hiệp thuộc địa” và là toà soạn báo Le Paria..Năm 1983, Trung ương Đảng Cộng sản Pháp đã gắn biển di tích.

Năm 1986, chủ sở hữu ngôi nhà phá bỏ nhà cũ để xây nhà mới 9 tầng. Những kỷ niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh được chính quyền thành phố Môngtơrơi (Montreuil) đưa về trưng bày và dựng thành “Không gian Hồ Chí Minh” trong Bảo tàng Lịch sử Môngtơrơi.

Năm 2001, Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp và chính quyền thành phố Paris đã gắn lại biển di tích tại ngôi nhà số 9.

2- Bảo tàng Lịch sử sống Môngtơrơi.

Những kỷ vật của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời kỳ sống tại Pháp và đặc biệt là ở ngôi nhà số 9 ngõ Công Poanh được đưa về đây và dựng thành “Không gian Hồ Chí Minh”.

Ngày 19 tháng 5 năm 2005,chính quyền thành phố Môngtơrơi đã dựng tượng bán thân Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay trong khuôn viên bảo tàng.

Châu Á:

*- Trung Quốc:

1- Nhà số 248 và 250 (trước là nhà số 13a và 13b) đường Văn Minh.

Nơi đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổ chức các lớp huấn luyện chính trị cho các thanh niên yêu nước trong thời gian từ đầu 1926 đến 4/1927. Tầng dưới của ngôi nhà là cửa hàng bán tạp hoá. Lớp học và chỗ ở của các học viên ở tầng 3. Trước cửa nhà có gắn tấm biển đề “Chính trị đặc biệt huấn luyện Ban” bằng chữ Hán. Chính từ những bài giảng của Người, Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức đã tập hợp lại và xuất bản thành cuốn “Đường Cách mệnh”, tác phẩm lý luận cách mạng đầu tiên ở Việt Nam, được những nhà cách mạng Việt Nam cuối những năm 20 của thế kỷ XX coi là cuốn “cẩm nang, sách gối đầu giường của mình”.

2- Khách sạn Nam Dương ở Liễu Châu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ở khách sạn này từ cuối năm 1943 đến 9/1944, sau khi ra khỏi nhà tù Quốc dân Đảng. Hiện nay, khách sạn là nhà số 2, đường Liễu Thạch, thành phố Liễu Châu, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Trong thời gian ở đây, Người đã triển khai nhiều hoạt động cách mạng Việt Nam, như mở lớp học đào tạo cán bộ cách mạng Việt Nam, tham gia một số hoạt động của Việt Nam cách mạng đồng minh hội, tham dự Đại hội các đoàn thể cách mạng Việt Nam ở nước ngoài họp tại Liễu Châu (3-1944). Tại đây, Người cũng đã có nhiều cuộc tiếp xúc với các tổ chức chống Nhật, chống Pháp của người Việt Nam ở Liễu Châu, chắp nối liên lạc với Đảng ta, chuẩn bị điều kiện để trở về nước, tiếp tục lãnh đạo phong trào. Hiện nay, thành phố Liễu Châu đã dành cả tầng 1 và 2 phòng trên tầng 2 để trưng bày tái hiện về hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Liễu Châu và một số mốc chính trong quan hệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Chính phủ Trung Quốc như Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Tống Khánh Linh…. Căn phòng Người đã ở và làm việc được trưng bày như nguyên gốc.
Ngôi nhà đã được gắn biển (Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh) năm 2001.

*- Ấn Độ:

1- Tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tại công viên nằm giữa giao điểm đường Hồ Chí Minh và đường Giaoaháclan Nêru, ở thành phố Cancútta.

2- Tại Thủ đô Niu Đêli có một đại lộ mang tên Hồ Chí Minh

*- Thái Lan:

1- Nhà Hợp tác tại bản Mạy, huyện Mương, tỉnh Nakhonphanom.

Tháng 7 năm 1928, Nguyễn Ái Quốc đến Xiêm (Thái Lan). Từ Băng Cốc, Người đã đi đến những nơi có Việt Kiều như Phì Chịt, Udon Thani, Sacon Nakhon… Khoảng cuối năm 1928, Người đến bản Mạy, thuộc tỉnh Nakhon Phanom. Tại đây, Nguyễn Ái Quốc với bí danh là Thầu Chín ở trong nhà ông Võ Trọng Đài. Ngôi nhà này ở phía sau mảnh đất của ông Huê Đạm và bà Nguyễn Thị Nuôi. Khi thấy ông Chín khuyên mọi người làm nhà đàng hoàng để làm nơi sinh hoạt, gọi là nhà Hợp tác thì vợ chồng ông Huê Đạm đã hiến mảnh đất ấy làm trụ sở Hội và làm nơi ở cho anh em độc thân. Những ngày xây dựng nhà Hợp tác, ông Chín tham gia tất cả các công việc, như đóng gạch, dựng nhà, lợp mái…

Nhà Hợp tác có ba gian, mỗi gian rộng khoảng 20m2. Mái lợp ngói gỗ, vách nhà thưng ván lá sách cả bốn phía. Cửa lớn, cửa nhỏ đều bằng gỗ, nền nhà lát gạch vuông do hội viên Hội hợp tác tự đóng lấy. Nhà ngăn đôi theo chiều dọc. Nửa nhà phía trước hoàn toàn để trống. Gian giữa đặt một bàn con, hai bên có vài chiếc ghế dài dùng để hội họp hoặc học tập. Nửa nhà phía sau, hai gian bên dùng làm phòng ngủ, có phản gỗ để nằm, có cửa sổ và hai cửa ra vào phòng. Các cháu học sinh ở lớp học bên nhà hàng xóm thường ra sân Hợp tác chơi, ông Chín cũng có lúc ra vui chơi với các cháu.

Những người ở đây phần lớn là những thanh niên yêu nước được đưa từ trong nước sang. Họ chỉ ở đây một thời gian, rồi bắt liên lạc đi Uđon, Phì Chịt… Dù chỉ ở trong thời gian ngắn, nhưng ho ăn mặc giống như người dân bản, tham gia lao động, xay thóc, giã gạo với bà con. Nhà Hợp tác ở bản Mạy thực sự trở thành trạm liên lạc, đưa đón những người Việt Nam yêu nước.

Trong thời gian ở đây, ông Chín đã động viên mọi người học tiếng Thái để hiểu phong tục, tập quán và được cư dân bản địa quý mến. Chính Người cũng nêu một tấm gương về tự học. Người còn chủ trương mở trường học cho trẻ em, dạy trẻ em chữ Việt để các em không quên gốc gác. Ông khuyên mọi người phải biết đoàn kết giữa người Việt với người Thái, người Việt với người Việt. Những điều ông Chín dạy đã trở thành bài học cho các thế hệ Việt kiều ở bản Mạy nói riêng và Việt kiều ở Thái Lan nói chung: Dù sống nơi đâu cũng luôn hướng về Tổ quốc và hết lòng đoàn kết hữu nghị với nhân dân nước bạn.

Tháng 1 năm 2004, Thủ tướng hai nước Việt Nam – Thái lan và các đại biểu dự Hội nghị liên Chính phủ Việt – Thái đã khai trương Làng Hữu nghị Việt – Thái ở bản Mạy, trong đó hạt nhân là di tích Nhà Hợp tác, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ở và làm việc.

Châu Phi:

*- Cộng hoà Mađagátxca:

– Quảng trường và tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Thủ đô Antananarivô.

*- Cộng hoà nhân dân Ănggôla:

– Đại lộ Hồ Chí Minh tại Thủ đô Luanđa.

Theo Lamdong.gov.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Giải phóng Thủ Đô 10/10/1954: Những chuyện bây giờ mới kể

Nhân dân Hà Nội mừng đón đoàn quân giải phóng ngày 10/10/1954. Ảnh:Tư liệu

Tiếp quản Sở Trước bạ

Hà Nội có Sở Trước bạ và quản thủ điền thổ do người Pháp lập ra từ những năm đầu thế kỷ XX khi tiến hành mở mang thành phố (vì vậy Sở mang tên quản lý ruộng đất – điền thổ – chứ chưa phải quản lý nhà đất như tên gọi ngày nay). Bên cạnh đó là Sở Địa chính phụ trách đất đai cả xứ Bắc kỳ. Lại có Phòng Pháp chế nhà cửa tại tòa Thị chính nơi người dân đến giao dịch mua bán bất động sản.

Tháng 9/1954, cơ sở báo cho cán bộ ta biết đối phương có âm mưu mang theo vào Sài Gòn tất cả những hồ sơ, tài liệu về nhà đất Hà Nội. Những hồ sơ gốc này được bảo mật và sắp xếp trong những ô, ngăn tủ chuyên dụng, bảo đảm yêu cầu tra cứu sử dụng tiện lợi.

Vậy mà tất cả những hồ sơ nhà cửa đất cát sở hữu công và tư nhân, qua đó có thể vẽ lại chân dung diện mạo Thăng Long Hà Nội xưa, đang bị đóng hòm, chuyển xuống Hải Phòng rồi lên tàu thủy đưa vào Nam. Mục đích thâm hiểm của đối phương là sẽ gây cho Hà Nội rối loạn về quản lý nhà đất. Mất hồ sơ gốc thì người dân sẽ dựa vào đâu, chính quyền sẽ dựa trên cơ sở nào để hoạch định phát triển thành phố, để giải quyết những vụ phân chia tài sản, tranh chấp nhà cửa đất đai? Người dân sống ở nhà quê phải có ruộng vườn, ở thành thị phải có nhà đất. Không một tấc cắm dùi là câu tục ngữ nói lên sự gắn bó mật thiết giữa đất với người.

Bất chấp mọi hiểm nguy, những người làm việc ở sở quản lý điền thổ đã bí mật mang từng chồng hồ sơ đi phân tán cất giấu. Cho đến khi ô tô nhà binh xịch đỗ trước cổng sở thì nhân viên vắng mặt, những hòm tài liệu rõ ràng được khóa, niêm phong cẩn thận đã không cánh mà bay!

Vậy mà đúng ngày quy định, khi cán bộ ta về tiếp quản thì các công chức, nhân viên Sở Trước bạ và quản lý điền thổ có mặt đông đủ và các hòm, gói, cặp hồ sơ nhà đất được chở tới cơ quan, sắp xếp gọn gàng trật tự như cũ, trong các ngăn, tủ đúng theo quy tắc quản lý tiên tiến, khoa học, văn minh. Và bất ngờ, ông giám đốc Sở Trước bạ Trần Văn Du xuất hiện, bàn giao cho cán bộ tiếp quản toàn bộ hồ sơ, tài liệu, tài sản của Sở. Mấy ngày qua ông phải đi trốn vì lo bị ngụy quyền bắt vào Sài Gòn, cho dù được hứa hẹn đi theo họ thì sẽ được trọng dụng, lương tăng cao hơn rất nhiều. Và chính ông, những ngày qua đã cùng nhân viên tích cực cất giấu, phân tán những bộ hồ sơ vô giá.

Mấy ai biết những người làm việc trông coi giấy tờ sổ sách điền thổ một thời chưa xa ấy đã lặng lẽ góp phần nhỏ bé vào thành công to lớn tiếp quản Thủ đô và cũng nhờ đó, việc quy hoạch mở mang thành phố, công tác quản lý nhà đất ở Hà Nội những năm sau này được nền nếp, ổn định, để lại tín xác cho những “sổ đỏ” hôm nay.

Trong số công chức lưu dung (danh từ chỉ những người làm việc dưới chế độ cũ ở lại làm việc sau ngày giải phóng Thủ đô) duy nhất có ông Du được Ủy ban Hành chính Hà Nội giữ nguyên chức Giám đốc Sở. Gia đình ông cũng được công nhận là “cơ sở kháng chiến”, được tặng Bằng khen.

“Không phải gạo đâu”

Hà Nội giải phóng được 15 ngày thì dân thành phố nhao lên vì… thiếu gạo ăn. Bề ngoài không khí vẫn vui tưng bừng. Cổng chào dựng khắp nơi, cờ đỏ sao vàng, đèn hoa kết treo lộng lẫy. Tiếng hát sol lá sol, đêm múa sạp vui tưng bừng. Nhưng gạo?…

Những năm người Pháp tạm chiếm Hà Nội, các gia đình được ăn gạo “bông” từ Sài Gòn chở ra. Nhiều người chê gạo bán theo sổ nhân khẩu tuy rẻ nhưng thổi không ngon cơm nên vẫn đong gạo quê từ các “đại lý” có nguồn từ lính ngụy ăn cướp chở về và từ bà con nông dân ngoại thành gánh vào bán lẻ. Lúc này, Hà Nội thiếu gạo! Bọn đầu cơ thính nhạy tung tin gây hoang mang. Các nhà giàu tích trữ gạo. Giá gạo tăng vòn vọt. Đài nước ngoài đưa tin chính phủ Hồ Chí Minh để dân đói!

Theo ngành lương thực báo cáo thì ta không thiếu lương thực. Nhưng khó khăn trước mắt vì các kho của nhà nước chỉ trữ thóc, việc xay xát dựa vào thủ công. Phương tiện vận chuyển rất thiếu thốn. Những người gánh gạo bán rong chẳng hiểu sao mất hút sau ngày tiếp quản. Mà tâm lý người tiêu dùng ở thành phố mới giải phóng rất dễ bị kích động.

Thế rồi. Thật đáng ngạc nhiên, người ta thấy từng đoàn ô tô chở gạo về các kho trong nội thành. Những kho gạo mậu dịch mới đặt thêm ở phố hàng Chiếu, hàng Khoai gần chợ Đồng Xuân chợ Bắc Qua, ga xe lửa đầu cầu Long Biên là nơi ngày đêm rất đông người tụ họp buôn bán. Theo đoàn xe tải là những anh bộ đội áo xanh mũ nan giày vải. Các anh khuân những bao đay căng phồng, nặng trịch, xếp cao tận nóc kho. Nhìn kho, nhìn gạo, các bà nội trợ bảo nhau:

– Cứ nghe tin đồn nhảm nữa đi!

Chẳng ai đong gạo tích trữ nữa, việc làm này bị dư luận lên án mạnh mẽ. Nhưng cái chính là có thêm nhiều cửa hàng bán lẻ cho khách mua dễ dàng, mua không hạn chế. Người ta còn bảo nhau:

– Ra cảng Phà Đen mà xem, hàng trăm tấn gạo phủ bạt nằm chờ ô tô chuyển vào kho kia kìa.

Chính các bà nội trợ là những người “làm công tác tư tưởng” hiệu quả nhất. Chỉ trong ít ngày, thị trường lương thực ổn định, lòng dân yên.

Là một trong những người được “trưng dụng” tham gia công tác đột xuất ngày ấy, người viết bài này quen bác công nhân bát tê (ngày nay gọi là cửu vạn) biệt danh tên Ba Tạ vì trong một cuộc thi tài ông đã vác nổi trên vai ba tạ gạo. Ba Tạ nốc rượu như uống nước lã, thuộc Kiều, mê truyện Tam quốc. Chiều tà trên phố hàng Muối, ông Ba Tạ mượn chén tự hào khoe mình góp phần phục vụ “chiến dịch” chạy gạo cho dân Hà Nội ngày đầu tiếp quản. Bất chợt ông vỗ đùi khen:

– Cụ Hồ thánh thật! Việt Minh giỏi thật!

Rồi ông ghé tai tôi, nói nhỏ:

– Phục các anh sát đất. Tình cờ tôi phát hiện có nhiều bao không phải là bao gạo!

Một đời làm phu khuân vác, cái vai ông chạm vào bao tải là biết bên trong đựng gạo hay những hạt không phải gạo. Nhưng ông đã giữ kín điều mình biết rõ, vì một điều gì đấy hết sức thiêng liêng.

Hôm nay, tự nhiên ngồi nhớ đến ông Ba Tạ. Ông là người đã góp phần giữ cho dân tình thành phố này yên ổn trong những ngày đầu chính quyền ta tiếp quản thành công. 55 năm đã qua, xin kể lại chuyện này.

Theo baotintuc.vn
Lê Văn Ba (Cựu tù Chính trị Hỏa Lò)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Lời nhắc nhở của Bác kính yêu

Bác Hồ đến thăm và nói chuyện với Đại đoàn quân Tiên Phong tại Đền Hùng. Ảnh: Tư liệu

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta đã kết thúc thắng lợi bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.

Theo chủ trương của Đảng, các cơ quan Trung ương, các Bộ ngành rời căn cứ Việt Bắc về tiếp quản Thủ đô Hà Nội, tiếp tục sự nghiệp cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã vạch ra.

Tính mạng, tài sản nhân dân là trên hết

Một trong những nhiệm vụ cấp bách, quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta lúc đó là tổ chức tốt việc tiếp quản Thủ đô Hà Nội. Kế hoạch tiếp quản Thủ đô Hà Nội được Trung ương Đảng chỉ đạo thống nhất và hết sức chặt chẽ. Ngày 19/7/1954, Hội đồng Chính phủ thông qua 8 chính sách đối với Thủ đô Hà Nội cũng như các thành phố mới được giải phóng và 10 điều kỷ luật của bộ đội, cán bộ, công nhân và công an khi vào thành phố.

Ngày 6/9/1954, Trung ương Đảng quyết định thành lập Đảng uỷ tiếp quản Thủ đô Hà Nội do đồng chí Trần Quốc Hoàn – Ủy viên Trung ương Đảng – Bộ trưởng Bộ Công an làm Bí thư. Đặc biệt, trước khi về tiếp quản thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho bộ đội, công an và cán bộ. Người nhắc nhở: “Có thể những người khi kháng chiến thì rất anh dũng, trước bom đạn không chịu khuất phục nhưng đến khi về thành thị lại bị tiền bạc, gái đẹp quyến rũ, mất lập trường sa vào tội lỗi. Cho nên bom đạn của địch không nguy hiểm bằng “viên đạn bọc đường” vì nó làm hại mình mà mình không thấy”

Bám sát nhiệm vụ chính trị của Đảng, lực lượng CAND đã kịp thời rút kinh nghiệm trong việc duy trì trật tự cách mạng ở những nơi quân Pháp bị ta tiến công phải rút chạy như thị xã Hà Nam, Phát Diệm, thành phố Nam Định, để xây dựng kế hoạch tiếp quản thủ đô Hà Nội chặt chẽ và sát hợp. Căn cứ vào nhu cầu tiếp quản Thủ đô Hà Nội của Trung ương, Bộ Công an xác định nhiệm vụ của CAND là: “Thiết lập trật tự cách mạng, đả kích bọn gián điệp phản động, bọn tàn binh cũ và bọn côn đồ đang phá hoại để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân và bảo vệ các cơ quan xí nghiệp, kho tàng của quốc gia”.

Biện pháp cụ thể khi vào tiếp quản thủ đô Hà Nội của lực lượng CAND là: “Ra sức xây dựng cơ sở, điều tra tìm kiếm bọn tay sai địch cài lại, những âm mưu hoạt động của chúng, chú trọng nắm tình hình bọn tàn binh côn đồ, lưu manh, đặc biệt là danh sách, địa chỉ, lý lịch, chỗ ở của bọn đầu sỏ, thu thập tình hình chính trị xã hội, tranh thủ số nhân viên cũ tình nguyện ở lại với ta, giữ gìn tài liệu, dụng cụ”. Đồng thời mở các lớp tập huấn về công tác tiếp quản. Nhằm quán triệt tình hình nắm vững chính sách, kỷ luật khi vào tiếp quản thủ đô Hà Nội. Bồi dưỡng nghiệp vụ về thu hồi các cơ quan công sở của địch. Mặt khác, lực lượng công an xác định trách nhiệm phục vụ và nắm tình hình các cơ quan, xí nghiệp, kho tàng. Có kế hoạch bảo vệ các cơ quan đó, hạn chế thấp nhất thiệt hại về cơ sở vật chất khi tiếp quản.

Ngày tiếp quản Thủ đô đã đi vào lịch sử. Ảnh: Tư liệu

Ngày đi vào lịch sử

Lực lượng Cảnh vệ CAND có nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước về tiếp quản thủ đô. Trung ương giao cho đồng chí Lê Thanh Nghị – Uỷ viên Trung ương Đảng thành lập một tổ công tác tiền trạm để gấp rút tiến hành những công việc chuẩn bị đón Bác và các đồng chí lãnh đạo cấp cao về lại Thủ đô Hà Nội.

Trên tinh thần đó, đồng chí Lê Thanh Nghị nhanh chóng thành lập tổ tiền trạm và trực tiếp chỉ định những đồng chí tham gia gồm: Đồng chí Tạ Quang Chiến (Văn phòng Phủ Thủ tướng) phụ trách Thanh niên xung phong làm Tổ trưởng; đồng chí Phan Văn Xoàn và đồng chí Quách Quý Hợi (Cục Cảnh vệ); đồng chí Nông Đức Chiến (Bộ Tổng Tham mưu); đồng chí Tạ Đình Hiểu (Chính uỷ Trung đoàn 600). Tổ công tác nhanh chóng xây dựng kế hoạch bảo vệ trên đường về, tính toán từng trạm nghỉ dừng chân, phối hợp với Ban Tài chính Quản trị Trung ương lo địa điểm nơi ở và làm việc của Bác, bố trí lực lượng trinh sát, phối hợp lực lượng công an địa phương có liên quan kết hợp bảo vệ.

Ngày 8/10/1954, Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn đã về Hà Nội trực tiếp chỉ đạo công tác tiếp quản. Bộ trưởng đã chỉ định gần 200 trinh sát vào nội thành bám sát các mục tiêu quan trọng như Sở Mật thám và các cơ sở của địch trong thành phố. Ta còn bố trí lực lượng bảo vệ an ninh – trật tự dọc các tuyến đường chuẩn bị cho các lực lượng vào tiếp quản thủ đô. Ngay buổi chiều 8/10/1954 tướng Mát – xông (Masson), Tư lệnh các đơn vị thoái triệt đã tổ chức lễ cuốn cờ trong thành Hoàng Diệu (Hà Nội).

Ngày 9/10/1954, Uỷ ban Quân chính Hà Nội được thành lập. Theo kế hoạch tiếp quản thủ đô, các tổ tự vệ, công an nội thành làm nhiệm vụ dẫn đường cho các lực lượng tiếp thu từng công sở, xí nghiệp, vị trí quân sự, từng đường phố, thôn xã. Không khí những ngày này ở thủ đô Hà Nội thật náo nhiệt, đồng bào Hà Nội đổ ra kín hai bên đường với nhiều lời hô, lời chào, những cánh tay giương cao vẫy cờ, hoa, những nụ cười… Trên tất cả các xe tiến vào Hà Nội, anh chị em đứng lên nhoài người ra thành xe vẫy mũ, vẫy khăn và không cầm được nước mắt xúc động của giờ phút gặp gỡ ban đầu. Tiếp quản đến đâu có lực lượng bộ đội, công an, tự vệ canh gác bảo vệ đến đó.

Ngày 10/10/1954, theo sự phân công lực lượng công an Hà Nội tiếp quản Sở Mật thám, Sở Cảnh sát, Trại giam Hoả Lò và các quận, đồn cảnh sát của địch. Khi vào chiếm lĩnh, ta đã tuyên bố giải tán các tổ chức cũ của địch, thành lập các tổ chức mới của công an, đồng thời bảo vệ, quản lý toàn bộ cơ sở, tài liệu, phương tiện trong các cơ quan này.

Căn cứ vào chủ trương của Đảng uỷ tiếp quản và Uỷ ban Quân chính, công an Hà Nội đã tổ chức cho các đối tượng là ngụy quân, ngụy quyền, mật thám, chỉ điểm của địch ra trình báo. Qua công tác đăng ký đối tượng, kết hợp với lực lượng trinh sát và phát động quần chúng, công an Hà Nội đã nắm được 12.000 đối tượng các loại, trong đó có 203 sĩ quan, 2.840 hạ sĩ quan, hơn 7.800 ngụy quyền, gián điệp, mật vụ chỉ điểm của địch.

Về công tác bảo vệ lãnh tụ, trong vòng hai tháng, lực lượng Cảnh vệ CAND đã bảo vệ an toàn Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước trở lại Thủ đô Hà Nội. Những ngày đầu tiếp quản Thủ đô, Bác Hồ ở và làm việc trên tầng 2 của ngôi nhà trong nhà thương Đồn Thuỷ (nay là bệnh viện Trung ương Quân đội), có một trung đội lực lượng vũ trang – Trung đoàn 600 bảo vệ vòng ngoài, bên trong có lực lượng bảo vệ tiếp cận canh gác 24/24 giờ.

Mặc dù tình hình an ninh chính trị và trật tự xã hội ở Thủ đô Hà Nội những ngày mới giải phóng hết sức phức tạp, bọn phản động tay sai đế quốc Mỹ và Pháp như Đại Việt, Việt Nam Quốc dân Đảng, Phục Quốc.. liên tiếp chống phá, tìm cách cài lại bọn tay sai để thực hiện âm mưu phá hoại ta, nhất là tìm cách ám hại lãnh tụ, nhưng với sự chỉ đạo thống nhất, chặt chẽ của Trung ương Đảng và trực tiếp là Bộ Công an, các lực lượng trong ngành công an đã bảo vệ an toàn Bác Hồ, các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước, các cơ quan Trung ương tiếp quản và duy trì ổn định an ninh – trật tự ở Thủ đô Hà Nội. Từ đây miền Bắc hoàn toàn giải phóng, đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương vững chắc để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Theo Giadinh.net.vn (Nguyễn Đức Quí)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.v

Những người cận vệ Bác Hồ

Bảo vệ Bác Hồ thăm Đền Hùng năm 1962 (Ông Nguyễn Ngọc Cẩn ngồi thứ tư từ trái sang). Ảnh do ông Nguyễn Ngọc Cẩn cung cấp.

Từ năm 1967, sức khoẻ Bác Hồ đã giảm nhiều, bước chân đi không còn nhanh nhẹn như xưa; một lần cùng Bác Tôn xuất hiện trước đông đảo đồng bào, Bác Hồ bảo: “Để tôi nắm tay Cụ đi cho đỡ run, đồng bào khỏi thấy!”. Câu nói ấy của Bác Hồ đã khiến anh em Cảnh vệ và những người chứng kiến trào nước mắt, một sĩ quan Cảnh vệ nhớ lại.

Sáng tháng Năm rộn rã nắng đẹp. Ông Nguyễn Ngọc Cẩn và bà Lưu Thị Tính lại cùng các cựu sĩ quan Cảnh vệ vào Lăng viếng Bác, thăm lại Nhà sàn và Khu Di tích Phủ Chủ tịch, nơi họ đã có những năm tháng được bảo vệ Bác Hồ. Ông Cẩn và bà Tính có lẽ là đôi vợ chồng duy nhất cùng là Cảnh vệ, cùng được bảo vệ, phục vụ Bác Hồ và các đồng chí Bộ Chính trị tiền bối.

Ông Nguyễn Ngọc Cẩn có thời gian 20 năm làm công tác Cảnh vệ, từng được bảo vệ, phục vụ Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Sinh năm 1933 tại Mê Linh (Hà Nội), ông Cẩn tham gia cách mạng từ sớm rồi đi thanh niên xung phong lên Việt Bắc. Sau khi về tiếp quản Thủ đô, ông được tuyển vào Cảnh vệ từ năm 1955. Xúc động nhớ lại lần đầu được gặp Bác, ông kể: Hôm ấy, tôi cùng anh Hoàng Hữu Kháng (Cục trưởng Cục Cảnh vệ) đi vào Nhà sàn. Bên bờ ao cá, chúng tôi thấy Bác đang nói chuyện với các đồng chí Phan Mỹ (Chánh Văn phòng Phủ Thủ tướng) và Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị. Anh Kháng lên tiếng chào Bác và hai đồng chí lãnh đạo, tôi thì quá xúc động cứ đứng ngây người mất một lát mới cất được lời chào. Đây là lần đầu tiên tôi được gặp Bác, nhìn thấy Bác gần như vậy. Bác mặc bộ quần áo bà ba giản dị, chân đi đôi dép cao su quen thuộc từ những năm kháng chiến ở Việt Bắc. Bác hỏi anh Kháng: “Chú này là ai?”. Sau khi nghe anh Kháng báo cáo, Bác nhìn tôi tỏ ý hài lòng: “Trông chú nhanh nhẹn, hoạt bát. Chú cố gắng phấn đấu, làm việc cho tốt!”.

Ngày ấy, mỗi lần Bác đi công tác nước ngoài, anh em Cảnh vệ tiễn Bác ngay tại Nhà sàn, chỉ một số ít được tháp tùng Bác sang sân bay Gia Lâm. Chúng tôi thường đứng thành hàng bên Nhà sàn, bịn rịn từ biệt và chúc Bác thượng lộ bình an. Bác lần lượt bắt tay từng người. Bác luôn nhắc nhở những anh em trẻ phải học tập nâng cao trình độ… Tôi nhớ một lần Bác đi công tác ở Liên Xô; khi Bác trở về, chúng tôi tổ chức đón Bác tại Nhà sàn. Bác ân cần hỏi thăm tình hình sức khỏe, gia đình của chúng tôi. Rồi Bác quay sang đồng chí lãnh đạo phòng là anh Nguyễn Tất Liêm, hỏi: Năm nay, chú có bố trí cho anh em nghỉ mát không? Anh Liêm báo cáo cụ thể với Bác, đơn vị đã bố trí cho anh em đi nghỉ mát, ai quê ở xa còn được kết hợp nghỉ phép… Bác tỏ ý hài lòng, rồi lấy quà chia cho chúng tôi.

Một vinh dự lớn lao với ông Cẩn và bà Tính. Năm 1961, ông bà lập gia đình với nhau. Trong đám cưới của đôi trẻ, Hồ Chủ tịch do bận công tác đã ủy nhiệm người thư kí của mình là đồng chí Vũ Kỳ đến mừng. Ông Cẩn nhớ lại: Trước ngày làm đám cưới, tôi suy nghĩ mãi rồi quyết định mời Bác đến dự, chúc phúc cho chúng tôi. Hôm ấy, trên đường đưa Bác từ Phủ Chủ tịch về Nhà sàn, khi đi bộ tới ao cá, tôi mạnh dạn: “Thưa Bác, cháu sắp lập gia đình. Hai vợ chồng cháu kính mời Bác đến dự đám cưới ạ!”. Bác nhìn tôi, đôi mắt Bác thật vui, rồi hỏi: “Vậy vợ chú là ai?”. Tôi trả lời: “Thưa Bác, vợ cháu là cô Tính, cũng là quân của anh Kháng ạ”…

Món quà cưới Bác Hồ dành cho vợ chồng ông Cẩn là một đôi hài nhung, mà mãi sau này hai ông bà mới biết đó chính là quà của Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tặng Hồ Chủ tịch, để dùng giữ ấm đôi chân trong mùa đông.

Kỷ niệm khó phai mờ trong kí ức của vợ chồng ông Cẩn là tình cảm giữa Bác Hồ với Bác Tôn, hai vị lãnh tụ tiêu biểu cho đại đoàn kết dân tộc. Năm 1968, Bác Tôn tròn 80 tuổi, Bác Hồ đã đến chúc thọ người bạn già, ôm hôn thắm thiết và tặng Bác Tôn hai câu thơ: “Càng già, chí khí càng dai/ Chống Mỹ, cứu nước ít ai hơn Già“.

Những lần tiếp khách, đặc biệt là tiếp cán bộ, chiến sĩ Nam Bộ hay các cháu nhi đồng miền Nam, Bác Hồ đều nhắc bộ phận Văn phòng, Thư ký nhớ mời Bác Tôn cùng dự. Hình ảnh Bác Hồ, Bác Tôn tiếp và ôm hôn các đại biểu, dũng sĩ, các cháu nhi đồng là những thông điệp ấm áp, tràn đầy niềm tin vào khối đại đoàn kết dân tộc, vào thắng lợi hoàn toàn của sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Từ năm 1967, sức khoẻ Bác Hồ đã giảm nhiều, bước chân đi không còn nhanh nhẹn như xưa; một lần cùng Bác Tôn xuất hiện trước đông đảo đồng bào, Bác Hồ bảo: “Để tôi nắm tay Cụ đi cho đỡ run, đồng bào khỏi thấy!”. Câu nói ấy của Bác Hồ đã khiến anh em Cảnh vệ và những người chứng kiến trào nước mắt, thương hai Bác vô cùng.

Bác Hồ cùng Thủ tướng Phạm Văn Đồng và cán bộ, chiến sĩ Cảnh vệ (Xuân Quý Mão 1963). Ảnh: Tư liệu.

Ông Cẩn còn nhớ, Bác Tôn là người năng hoạt động, tập luyện thể thao, Bác rất thích đi xe đạp ra ngoại thành vào buổi sáng sớm. Về sau, anh em Cảnh vệ, bác sĩ lo ngại Bác Tôn tuổi đã cao, lỡ đi xe đạp mà bị ngã thì hậu quả khó lường. Anh em đề nghị Bác Tôn không đi xe đạp nữa, nhưng Bác cười hồn hậu: “Đạp xe để rèn luyện sức khỏe, đến ngày thống nhất đất nước còn có sức đi thăm đồng chí, đồng bào!”. Nghe Bác Tôn nói vậy, anh em Cảnh vệ hiểu lòng Bác, nhưng vẫn rất lo lắng, bèn báo cáo với đồng chí Lê Hữu Lập, người phụ trách bộ phận thư ký văn phòng của Bác Hồ và Bác Tôn.

Ngày 2/9/1969, ông Cẩn đón Bác Tôn từ nhà riêng ở 35 Trần Phú (Hà Nội) vào nơi Bác Hồ nằm nghỉ trong một căn nhà phía sau Nhà sàn. Ông cũng là người chứng kiến giờ phút Bác Hồ lâm chung, có Bác Tôn và các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước đứng quanh giường bệnh. Những dòng nước mắt chảy dài và tiếng khóc thổn thức của những người đồng chí, người học trò xuất sắc của Bác; không ai kìm nén được lòng mình trước tổn thất lớn lao của cả dân tộc… Ngay trong ngày hôm ấy, ông Cẩn đã ghi lại những dòng cảm xúc của mình vào một cuốn sổ: “Bác ơi, Bác đi xa thật rồi ư? Nỗi đau này quá lớn với chúng con, những người lính Cảnh vệ từng được bảo vệ, phục vụ Bác”…

Trước lúc tạm biệt tôi, ông Cẩn lại tỉ mỉ gói ghém cẩn thận những cuốn sổ của mình và những bức ảnh được chụp chung với Bác Hồ, vốn đã trở thành tài sản vô giá với gia đình ông. Tôi bắt chặt tay ông, đôi bàn tay ấm áp của người sĩ quan Cận vệ của Bác Hồ và Bác Tôn. Trong nắng tháng Năm rạng rỡ, mái tóc trắng như cước của ông bồng bềnh trên đôi mắt chứa đầy kỷ niệm.

Người chứng kiến việc Bác Hồ đề nghị Bác Tôn không nên đi xe đạp ra đường phố nữa, chính là bà Lưu Thị Tính. Bà Tính kể: Hôm ấy, như thường lệ tôi vào kiểm tra bảo đảm an toàn bữa ăn của Bác Hồ, thì đúng lúc Bác Hồ mời Bác Tôn dùng cơm. Sau bữa cơm, hai Bác đàm đạo khá lâu. Rồi Bác Hồ thân mật nói với Bác Tôn, đại ý: “Về tuổi tác thì Cụ hơn tôi, nhưng về nhiệm vụ Nhà nước phân công, thì tôi là cấp trên. Nay Cụ đã tuổi cao, sức yếu; đề nghị Cụ không nên đi xe đạp ra ngoài phố nữa, lỡ té ngã thì rất nguy hiểm… Cụ bảo trọng là phúc lớn cho đất nước”.

Theo CAND.com.vn
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn