Tag Archive | Độc lập

Những chuyện cảm động về Bác Hồ qua lời kể của thành viên nhóm tình báo Con Nai (Mỹ)

Henry Prunier năm nay đã 86 tuổi, là một trong bảy thành viên của nhóm tình báo Con Nai (Deer Team) thuộc OSS. Theo lời kêu gọi của Bác Hồ, nhóm Con Nai nhảy dù xuống Tân Trào tháng 7 năm 1945 để giúp đỡ trong việc huấn luyện các chiến sĩ Việt Minh đánh Nhật.

Chúng tôi đến thăm hai ông bà Henry Albert Prunier và Maria Prunier vào một buổi sáng mưa lạnh ở vùng New England. Ông Henry Prunier rất vui khi biết chúng tôi có ý định tìm hiểu, tham vấn ông để làm một cuốn sách liên quan đến thời kì đó.

Theo ông, lịch sử sẽ dần trôi vào quên lãng nếu không có những người nhắc lại giai đoạn đặc biệt này của quan hệ giữa hai nước – Một giai đoạn rất ngắn khi Việt Nam và Hoa Kỳ đã từng là bạn.

Những thành viên của The Office of Strategic Services (OSS), đã giúp đỡ Việt Minh sử dụng vũ khí và cũng chính những thành viên ấy đã hết sức nhiệt tình chuyển giúp thư của Bác Hồ đến chính phủ Mỹ, đề nghị Tổng thống Truman công nhận độc lập của Việt Nam.

Chỉ tiếc rằng lịch sử đã đi theo hướng hai nước trở thành đối thủ trong cuộc chiến 20 năm.

Có lẽ ông là một trong rất ít người còn sống và đã cùng ông Allison K. Thomas (trưởng nhóm Con Nai), trở lại Hà Nội năm 1995 gặp gỡ các chiến sĩ Việt Minh mà ông đã có dịp sống và làm việc. Cuộc gặp mặt sau 50 năm được tổ chức theo sáng kiến của Hội Hữu nghị Việt – Mỹ và do Quỹ Ford tài trợ.

Khi đến Tân Trào, ông mới 24 tuổi, làm thông dịch viên cho nhóm. Chỉ có chưa đầy một tháng được tiếp xúc với Bác Hồ, đại tướng Võ Nguyên Giáp và các chiến sĩ Việt Minh, nhưng đã để lại trong ông những kí ức và kỷ niệm khó quên mà ông mang theo bên mình trong hành trình hơn nửa thế kỷ.

Ông nhớ rõ từng chi tiết khi nhảy dù xuống Tân Trào. Nhóm Con Nai ở cách Tân Trào 3 km, trước đó đây là nơi dành cho các lớp bồi dưỡng chính trị, nay thành thao trường huấn luyện của Việt Minh.

Nhóm Con Nai mỗi người mỗi việc, trong đó có bác sĩ đã từng chữa bệnh cho Bác Hồ khi Người bị ốm. Vũ khí, thuốc men, thực phẩm của họ đều được tiếp tế bằng máy bay trực thăng. Tuy nhiên, cả nhóm vẫn dùng thực phẩm của địa phương như cơm, ngô, măng rừng, rau và thịt gà. Ông nhớ nhất là bữa ăn rất thiếu rau, còn thịt gà là món ông nhớ nhất vì nó… không ngon một chút nào.

Tiếp đó là những ngày hành quân về Hà Nội cùng tướng Đàm Quang Trung, qua Thái Nguyên còn phải đánh nhau với tàn quân Nhật. Các ông về đến Hà Nội vào ngày 9/ 9/1945.

Ông được gặp lại Bác Hồ, bây giờ là Chủ tịch nước Việt Nam độc lập, với cảm giác ngỡ ngàng vì trước đó một tháng ông chỉ biết đó là “Mr. Hồ”. Con người giản dị đó giờ đây đã trở thành người đứng đầu một đất nước thoát khỏi ách thuộc địa.

Ông ở Hà Nội một thời gian ngắn, rồi sang Côn Minh và về Mỹ tháng 1/1946.Ông học đại học, rồi làm việc ở công ty gia đình J.S, Prunier and Sons.

Năm 1997, ông tham dự cuộc gặp mặt những thành viên OSS và các chiến sĩ Việt Minh tại New York. Hiện ông đang sống tại thành phố Webster nằm phía đông của bang Massachusetts, Hoa Kỳ.

Bước vào nhà, vật đầu tiên ông chỉ cho chúng tôi là bức tranh thêu trên lụa khổ 1,5 m x 0,6 m, về một nhân vật trong lịch sử Trung Quốc, được lồng trong khung kính, treo trang trọng trong phòng khách.

Đó là món quà của Bác Hồ tặng ông từ năm 1945, và ông đã giữ cho đến tận bây giờ. Mặc dù đã 62 năm đã trôi qua, nhưng bức tranh không hề phai màu, được bảo quản gần như mới…

Ông đưa chúng tôi vào nơi trước đây là Văn phòng giao dịch của công ty J.S. Prunier and Sons. Bây giờ, đây là nơi ông lưu giữ những cuốn sách về Bác Hồ, về Việt Nam, về đội Con Nai, OSS trong những ngày ở Đông Dương.

Những cuốn sách của các tác giả là thành viên của đội OSS như Charlse Fenn, Archimedes Patti, và các nhà nghiên cứu về Việt Nam sau này như William Duiker, Dixee R. Bartholomew-Feis. Ông gìn giữ cẩn thận từng băng ghi âm các cuộc phỏng vấn của các cơ quan truyền thông trong những năm 1960, cả những băng cối, sử dụng rộng rãi vào thời kỳ đó.

Ông cho chúng tôi xem những băng ghi hình về Bác Hồ của nhiều đài truyền hình, các hãng thông tấn khác nhau như Đài BBC, kênh truyền hình “Lịch sử” của Mỹ (History Channel) và các cuộc phỏng vấn ông khi làm phim về Bác.

Từng tập hồ sơ, nhật ký của đội OSS ông còn giữ từ năm 1945, rồi ông đem những bức hình của các chiến sĩ Việt Minh năm xưa so sánh với những bức ảnh ông chụp với họ khi gặp lại nhau năm 1995 ở Hà Nội và năm 1997 tại New York.

Đặc biệt nhất là những bức ảnh đen trắng ông được chụp chung với Bác Hồ, đại tướng Võ Nguyên Giáp và các chiến sĩ Việt Minh. Những bức ảnh gốc đã hơn 60 năm tuổi, chúng có mặt trên các tạp chí nổi tiếng như Life Magazine của Hoa Kỳ (1978), Paris Match của Pháp (1968) và trong nhiều phim tài liệu về lịch sử ngắn ngủi trong quan hệ Việt-Mỹ.

Ông tháo trên tường một khung kính nhỏ hơn khổ giấy A4 một chút, đó là chứng chỉ do Đại học Berkeley cấp ngày 2/9/1944, công nhận ông đã học qua khóa tiếng Việt trong 9 tháng (chứng chỉ ghi là tiếng Annam).

Hóa ra có trường đại học Mỹ đã dạy tiếng Việt từ thời kỳ đó. Ông trân trọng cho chúng tôi xem từng bài viết về Bác Hồ, được cắt ra từ báo hoặc tạp chí. Đã nhiều năm trôi qua, nhiều chỗ đã hoen ố, nhưng dường như chúng vẫn mang hơi thở của thời kỳ ra đời. Và với chúng tôi, những người tìm hiểu về lịch sử thì đó là kho tài liệu vô giá.

Đề tài ông thích nhất có lẽ là nói về Bác Hồ. Ông có thể ngồi hàng giờ nói chuyện về những kỷ niệm không bao giờ quên trong thời gian hơn ba tuần được tiếp xúc với Bác.

Mặc dù là phiên dịch tiếng Việt, nhưng ông bảo Bác Hồ nói tiếng Pháp và tiếng Anh rất thạo, đương nhiên là hơn hẳn tiếng Việt của ông nên Bác thường trao đổi trực tiếp bằng tiếng Anh, khiến ông gần như… thất nghiệp.

Biết ông là người Massachusetts, Bác nhắc lại kỷ niệm về những ngày Bác sống và làm việc ở Boston và New York. Ông nhắc đi nhắc lại ấn tượng về Bác Hồ: Một con người rất đời, giản dị nhưng có chí khí mãnh liệt, một con người rất Việt, nhưng mang trong mình mọi tính cách của thành viên thuộc cộng đồng thế giới.

Ông mỉm cười khi nói đến hình ảnh ông nhớ nhất về Bác Hồ là Bác mặc áo cánh và quần sooc khi ở Tân Trào và cả khi về Hà Nội, trên cương vị Chủ tịch nước, Bác vẫn ăn mặc giản dị như thế khi tiếp đón các thành viên OSS tại Phủ Chủ tịch. Bác chiêu đãi, tặng quà và cám ơn các thành viên trong nhóm. Bác không hề tỏ ra mình là nhân vật quan trọng, khi mà trên thực tế lúc đó Bác là người vô cùng quan trọng.

Ông buồn rầu kể: “Hồ Chí Minh đã nhờ chúng tôi viết thư về Mỹ đề nghị Tổng thống Truman công nhận quyền độc lập của Việt Nam. Chúng tôi là những người lính chứ không phải các chính trị gia, nên mặc dù đã làm hết sức mình, nhưng không giúp được gì nhiều. Chỉ tiếc là những bức thư đó sau này nằm trong kho lưu trữ quốc gia. Thời điểm ấy, nước Mỹ chỉ tập trung vào châu Âu, bỏ qua khu vực Đông Nam Á.

Tổng thống Truman đã để Charlse de Gaulle quyết định vấn đề Đông Dương. Phải chăng đây cũng là một phần nguyên nhân của cuộc chiến kéo dài 30 năm? Hồ Chí Minh mời chúng tôi trở lại Việt Nam bất cứ lúc nào, thế mà phải 50 năm sau tôi mới có dịp trở lại”.

Năm 1968, khi tổng thống Johnson leo thang chiến tranh, ném bom miền Bắc, tại Mỹ phong trào chống chiến tranh trong mọi tầng lớp nhân dân, sinh viên, thanh niên đã phân đất nước thành hai cực.

Nước Mỹ tìm hiểu về cuộc chiến, một tờ báo địa phương của thành phố Worcester, tiểu bang Massachusetts nơi ông sinh sống đã đăng bài về Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ của phía bên kia qua lời kể của Henry Prunier.

Bài báo ông cho chúng tôi xem không khác những điều ông trân trọng kể về Bác hôm nay. Trong cuộc phỏng vấn do đài phát thanh thành phố thực hiện, Henry Prunier đã khẳng định: “Chúng ta không bao giờ giành chiến thắng tại Việt Nam bởi vì chúng ta chiến đấu không có mục đích. Trong khi đó, người Việt chiến đấu vì mục đích, vì niềm khao khát độc lập tự do”.

Chúng tôi hỏi ông vì sao chỉ với thời gian rất ngắn ở Việt Nam mà ông đã có kết luận như vậy? Ông trả lời: “Đơn giản lắm, người Việt có chung niềm khao khát độc lập như chúng tôi đã có ở thế kỉ 18. Khi đó chúng tôi phải giành độc lập bằng mọi giá do chính sách thuế má nặng nề của nước Anh áp đặt lên chúng tôi, vì có mục đích chúng tôi mới chiến thắng trong cách mạng Mỹ”.

Ngay sau khi ông phát biểu trên đài phát thanh, con gái ông còn đang đi học đã bị một số bạn bè và cả thầy cô quy kết là “con của cộng sản”. Ông bảo họ muốn nói gì cũng mặc, với ông, cái gì ông cho là đúng thì ông làm. Và điều ông nói đã thành sự thật. Năm năm sau, những người lính Mỹ cuối cùng đã rút khỏi Việt Nam và năm 1975, đất nước ta đã hoàn toàn thống nhất. Với người viết bài này, đây là một cuộc gặp mặt thật cảm động và khó quên. Người đang làm cuốn sách liên quan đến thời kỳ lịch sử này là ông David Thomas, một cựu binh đã tham chiến tại Playku năm 1968, người đã trân trọng quý mến Bác Hồ và vẽ trên 50 bức tranh về Bác.

Henry Prunier, cựu binh của thế chiến II, người đã tham gia giúp Việt Minh kháng chiến chống Nhật. Còn David Thomas, cựu binh của Chiến tranh Việt Nam, người đã tham chiến chống lại quân đội nhân dân Việt Nam.

Hơn 30 năm sau, tại nước Mỹ, hai thế hệ cựu binh đều gật đầu đồng tình với ý kiến của ông Prunier: “Đúng, chúng ta (người Mỹ) đã thất bại bởi vì chúng ta chiến đấu không có mục đích”.

Theo: Minh Phương
(Bài viết đăng trên Tạp chí Sự kiện nhân chứng)

bqllang.gov.vn

“Càng già chí khí càng dai…”

Bác Tôn Đức Thắng sinh năm 1888, hơn Bác Hồ 2 tuổi. Tình cảm giữa Bác Hồ và Bác Tôn cũng hình thành từ rất sớm, khi hai người chưa hề gặp nhau: Bác Tôn Đức Thắng từng ngưỡng mộ Nguyễn Ái Quốc từ năm 1919 khi Người còn hoạt động trên đất Pháp, đã đưa ra “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” 8 điểm đòi quyền độc lập cho Việt Nam làm chấn động Hội nghị Véc-xây… Nhưng mãi đến cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, khi Bác Tôn được bầu là đại biểu Quốc hội và ra Hà Nội làm việc, lần đầu tiên Bác Tôn và Bác Hồ mới gặp mặt nhau.

Tại phiên họp vào ngày 8-11-1946 của kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa một, khi Chủ tịch Chính phủ liên hiệp (lâm thời) Hồ Chí Minh phát biểu từ chức, trao quyền để Quốc hội chọn người đứng ra lập Chính phủ mới-Chính phủ “tập họp nhân tài, đoàn kết kháng chiến”-thì đại biểu Quốc hội Nam Bộ Tôn Đức Thắng đã đứng lên dõng dạc phát biểu ý kiến: “Tôi xin giới thiệu Cụ Hồ Chí Minh, tức nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc là người xứng đáng hơn ai hết, đứng ra thành lập Chính phủ mới”. Ý kiến của Bác Tôn đã làm cho nhóm đại biểu các đảng phái phản động chưng hửng, thất vọng vì họ đã chuẩn bị sẵn một “danh sách tân chính phủ”…

Sau ngày Toàn quốc kháng chiến 19-12, Bác Tôn cùng hai con gái là Hạnh, Nghiêm đều đã tham gia cách mạng được theo cha lên chiến khu Việt Bắc công tác. Trong kháng chiến chống Pháp, Bác Tôn là quyền Bộ trưởng Nội vụ, Trưởng ban vận động thi đua ái quốc Trung ương, Trưởng ban Thường trực Quốc hội… Giữa chiến khu Việt Bắc những ngày kháng chiến, Bác Hồ thường mời Bác Tôn đến gặp để đàm đạo công việc, trao đổi ý kiến về những công việc cụ thể nhằm đẩy mạnh phong trào Thi đua ái quốc, đẩy mạnh kháng chiến.

Bác Tôn cũng là người có phong cách rất cần kiệm trong đời sống, giản dị trong sinh hoạt. Hai Bác xưng hô với nhau rất thân mật bằng đại từ “cụ” và thân tình như một đôi bạn tri kỷ luôn “tâm đầu ý hợp”. Sau ngày kháng chiến thành công, trở về sống ở Thủ đô, Bác Hồ vẫn chỉ ở và làm việc tại căn phòng của người thợ điện cạnh tòa nhà Phủ Chủ tịch. Ngày vợ chồng hai người con gái là chị Hạnh-anh Phúc và chị Nghiêm-anh Trúc theo cha (Bác Tôn) về Hà Nội, thì bà Giàu từ miền Nam tập kết ra, lúc này gia đình mới sum họp. Ở nhà 35 Trần Phú, vợ chồng chị Hạnh, chị Nghiêm cũng chỉ có một phòng rộng không quá 20m2, hai chị em nhất định nhường cho ông thư ký riêng của cha căn phòng rộng hơn, vì “gia đình ông đông người hơn”. Ở Hà Nội, Bác Hồ thường sang thăm gia đình Bác Tôn. Thấy Bác Tôn làm việc, nghỉ ngơi trên tầng 2, hằng ngày thường phải lên xuống cầu thang không thuận tiện và tốn sức tuổi già, Bác Hồ nhắc Văn phòng: “Phải sắp xếp và đưa cụ xuống tầng dưới để ít phải đi lại, xuống hầm (hầm trú ẩn tránh bom đạn khi máy bay Mỹ đánh phá) cũng nhanh hơn…”. Những thời gian có thể, thường vào chiều thứ bảy trong tháng, Bác Hồ lại cho mời Bác Tôn sang nhà sàn cùng ăn cơm và đàm đạo với nhau. Mỗi lần như vậy, khi đến giờ, Bác Hồ ra tận gốc cây sát bờ ao thả cá đứng đợi “đón bạn”. Khi Bác Tôn đến, Bác Hồ lên tiếng: “Chào cụ!”. Bác Tôn cũng liền chắp hai bàn tay đáp lại: “Chào cụ !” đáp lễ…

Vào dịp kỷ niệm 70 năm ngày sinh của Bác Tôn (20-8-1958), Quốc hội quyết định tặng Bác Tôn Đức Thắng Huân chương Sao Vàng. Tại buổi lễ, trước khi gắn huân chương lên ngực áo Bác Tôn, Bác Hồ rất vui và rất xúc động phát biểu: “Đồng chí Tôn Đức Thắng là một gương mẫu đạo đức cách mạng: Suốt đời cần, kiệm, liêm, chính; suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân… Thay mặt nhân dân và Chính phủ, tôi trân trọng trao tặng đồng chí Tôn Đức Thắng Huân chương Sao Vàng, là huân chương cao quý nhất của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, mà đồng chí Tôn Đức Thắng là người đầu tiên và rất xứng đáng được tặng…”.

Hai năm sau, ở tuổi 72, kỳ họp Quốc hội tháng 7-1960 đã tín nhiệm bầu Bác Tôn làm Phó chủ tịch nước. Bác Tôn không chịu nhận có thêm thư ký riêng với lý do “công việc không nhiều”, sử dụng thêm một cán bộ là lãng phí. Nhưng Bác Hồ không tán thành, vì Bác Tôn tuổi đã cao. Bác Hồ bàn với Văn phòng sắp xếp công việc để có người giúp việc Bác Tôn, nên năm 1962 mới có người giúp việc-thư ký cho Bác Tôn, đó là ông Lê Hữu Lập… Cho đến năm Mậu Thân 1968, Bác Tôn Đức Thắng tròn 80 tuổi giữa thời kỳ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang rất quyết liệt. Bác Hồ lúc đến chúc thọ người bạn già tri kỷ Tôn Đức Thắng, đã tặng bạn hai câu thơ:

“Càng già chí khí càng dai
Chống Mỹ, cứu nước ít ai hơn già”.

Tuấn Hải
(Tạp chí Sự kiện nhân chứng)

bqllang.gov.vn

Những tác phẩm vô giá về giáo dục lý luận chính trị của Đảng ta

Đường Kách mệnh” và “Sửa đổi lối làm việc” là hai tác phẩm vô giá tiếp tục dẫn đường chỉ lối cho công tác lý luận và "thực hành lý luận" của Đảng ta. Ảnh tư liệu

(TCTG) – Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc giáo dục lý luận chính trị và giáo dục thực hành lý luận cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. “Đường Kách mệnh” và “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hai tác phẩm lý luận lớn, cũng là những tác phẩm vô giá về giáo dục lý luận chính trị của Người để lại.

Trong công tác xây dựng Đảng, Đảng ta luôn đặt nhiệm vụ xây dựng Đảng về lý luận chính trị là nhiệm vụ hàng đầu. Đây cũng chính là vấn đề mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta luôn quan tâm ngay từ khi phấn đấu thành lập Đảng cũng như trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta sau này. Người đã có rất nhiều bài viết, bài nói và những tác phẩm riêng về xây dựng Đảng nói chung, về công tác giáo dục lý luận chính trị nói riêng. Trong các tài liệu đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày rất rõ, rất toàn diện và cụ thể về vấn đề này, từ giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin đến vấn đề xây dựng Đảng mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; từ nội dung và nhiệm vụ học lý luận chính trị đến vấn đề nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác giáo dục lý luận chính trị.

1. “Đường Kách mệnh” – tác phẩm lý luận đầu tiên, cũng là tác phẩm lớn về giáo dục lý luận chính trị của Đảng ta

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác – Lênin sau khi đã nghiên cứu nhiều học thuyết, tìm hiểu nhiều tôn giáo trên thế giới. Người đã tự nhận mình là học trò của Đức Khổng Tử, của Chúa Giê su, của Các Mác, Tôn Dật Tiên…Cùng với việc tiếp thu những tinh hoa của các học thuyết ấy, Người còn tích lũy được nhiều kinh nghiệm thực tiễn qua việc nghiên cứu các cuộc cách mạng trên thế giới. Người nhận xét: Cuộc cách mạng Mỹ 1776 cũng như cuộc cách mạng Pháp 1789 đều là những cuộc “cách mạng không đến nơi… Cách mệnh An Nam nên nhớ điều ấy”(1) và “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có Đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lê-nin”(2).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chắt lọc những tinh hoa của lý luận và thực tiễn cách mạng thế giới để định ra con đường cách mạng Việt Nam. Khi gặp ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười, ánh sáng của chủ nghĩa Mác -Lênin, Người vui mừng khôn tả xiết. Người nói: Chủ nghĩa Lê-nin đối với cách mạng Việt Nam như người đi đường đang đói mà có cơm ăn, đang khát mà có nước uống. Người quyết định phải đến nước Nga, đến với Lê-nin. Tháng 6/1923, bất chấp muôn ngàn thử thách và hiểm nguy, Nguyễn Ái Quốc đã đến Tổ quốc của Cách mạng Tháng Mười.

Sau hơn một năm học tập và nghiên cứu tại Liên Xô, được chứng kiến công cuộc xây dựng CNXH, xây dựng cuộc sống hạnh phúc của nhân dân Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc càng mong sớm được trở về Tổ quốc. Người tin tưởng vào tương lai không xa trên đất nước thân yêu của mình cũng sẽ diễn ra sự nghiệp xây dựng CNXH. Tháng 3/1924, khi trả lời phỏng vấn phóng viên báo “Unita” của Đảng Cộng sản Ý tại Matxcơva – Giôvanni Giécmanéttô, Nguyễn Ái Quốc nói: Tôi sẽ trở về tổ quốc để đấu tranh cho sự nghiệp của chúng tôi. Ở bên chúng tôi có nhiều việc phải làm lắm… “Chúng tôi hiểu rõ là chúng tôi có trách nhiệm rất nặng nề và tương lai của các dân tộc tùy thuộc vào sự tuyên truyền và tinh thần hy sinh của chúng tôi”(3).

Nguyễn Ái Quốc xác định công việc đầu tiên phải làm là thành lập tổ chức của những người cộng sản, huấn luyện và đào tạo họ trở thành những chiến sỹ tiên phong cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Nguyễn Ái Quốc khẳng định giáo dục chủ nghĩa Lê-nin là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để những người cách mạng Việt Nam, trước hết là những người cộng sản, người lãnh đạo luôn là những người đi trước, dám hy sinh, xả thân vì sự nghiệp đó. Người còn chỉ rõ việc giáo dục chủ nghĩa Lê-nin là nguyên tắc đảm bảo cho Đảng có phương hướng, có nền tảng vững chắc và chỉ có theo chủ nghĩa Lê-nin mới đảm bảo cho Đảng trở thành người lãnh đạo đúng đắn và duy nhất của cách mạng Việt Nam.

Toàn bộ nội dung cuốn “Đường Kách mệnh” của Người là nhằm tổ chức và xây dựng Đảng ta theo tinh thần đó. Ngay trang đầu tiên của cuốn sách Nguyễn Ái Quốc đã trích câu nói nổi tiếng của Lê-nin trong tác phẩm “Làm gì”, rằng: “Không có lý luận cách mạng, thì không có cách mạng vận động…Chỉ có theo lý luận cách mạng tiên phong Đảng cách mạng mới làm nổi nhiệm vụ cách mạng tiên phong”. Người còn chỉ rõ: “Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm nòng cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam…Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin”(4).

Là tác phẩm lý luận nhưng hành văn của “Đường Kách mệnh” rất đơn giản và dễ hiểu. Nguyễn Ái Quốc viết: “Sách này muốn nói cho vắn tắt, dễ hiểu, dễ nhớ. Chắc có người sẽ chê rằng văn chương cụt quằn. Vâng! Đây nói việc gì cũng rất giản tiện, mau mắn, chắc chắn như hai lần hai là bốn, không tô vẽ, trang hoàng gì cả…Văn chương và hy vọng sách này chỉ ở trong hai chữ: Cách mệnh! Cách mệnh! Cách mệnh!!! Nguyễn Ái Quốc đã “Việt Nam hóa” lý luận Mác – Lênin một cách thật tài tình. Những vấn đề lý luận quan trọng Người mong muốn những người Việt Nam thấm nhuần được tóm tắt trong hai từ “Cách mệnh”. Hai từ này được giảng giải bằng những lời giản dị rất dễ hiểu, dễ nhớ. Người viết:

Muốn làm cách mạng thì phải biết:

– Làm cho quần chúng giác ngộ.
– Phải giảng giải lý luận và chủ nghĩa cho dân hiểu.
– Làm cách mệnh phải bày sách lược cho dân.
– Muốn làm cách mệnh phải tập trung sức. Và muốn tập trung sức phải có đảng cách mệnh.

Với hai từ “Cách mệnh” Nguyễn Ái Quốc lại giảng giải: Cách mệnh là gì? Cách mệnh có mấy thứ? Vì sao mà sinh ra tư bản cách mệnh? Vì sao mà sinh ra dân tộc cách mệnh? Vì sao mà sinh ra giai cấp cách mệnh? Cách mệnh khó hay dễ? Cách mệnh trước hết phải có cái gì?. Đó là những vấn đề lý luận hết sức cần thiết để những người cách mạng Việt Nam lúc đó mở rộng hiểu biết về thế giới. Nguyễn Ái Quốc đã giảng giải những vấn đề đó trên quan điểm Mác – Lênin và cho rằng đó là nền tảng tư tưởng mà một chính đảng không thể thiếu. Bằng cách đó, chủ nghĩa Mác – Lênin đã đến với cách mạng và nhân dân Việt Nam, như hạt giống tốt gặp mảnh đất mầu mỡ đã được chuẩn bị sẵn sàng, đã tạo ra bước ngoặt lịch sử cho cách mạng Việt Nam.

Trên quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin và kinh nghiệm của phong trào cách mạng thế giới, Người chỉ rõ cách mạng Việt Nam là cách mạng giải phóng dân tộc và có hai giai đoạn: cách mạng giải phóng dân tộc sau đó là cách mạng vô sản. Hai giai đoạn đó có quan hệ chặt chẽ với nhau, cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. “Đường Kách mệnh” cũng đã chỉ rõ nhiệm vụ trước mắt của cách mạng Việt Nam là đánh đổ đế quốc Pháp và phong kiến tay sai. Lực lượng để tiến hành cuộc cách mạng ấy là toàn dân tộc, trong đó lực lượng chủ yếu là công nhân, nông dân.

Với những nhiệm vụ cách mạng được nêu lên trong “Đường Kách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc cũng đã chỉ rõ nguyên tắc chiến lược trong việc xác định đường lối cách mạng, đó là phải vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin. Đảng phải xây dựng cho mình một hệ thống lý luận riêng phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tiễn thì lý luận đó mới trở thành người dẫn đường, lý luận đó mới là lý luận chân chính. Sau này Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Từ trong học thuyết dạt dào sức sống của chủ nghĩa Lê-nin, chúng tôi khơi nguồn sức mạnh để giành thắng lợi cho sự nghiệp thiêng liêng là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, để giành thắng lợi cho CNXH” (5).

Đánh giá ý nghĩa tác phẩm “Đường Kách mệnh”, đồng chí Trường Chinh đã viết: “Đường Kách mệnh” chẳng những có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn trong thời kỳ đã qua mà còn soi sáng con đường cho nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn trong giai đoạn mới”(6).

2. “Sửa đổi lối làm việc”- một tác phẩm lớn về giáo dục thực hành lý luận chính trị theo quan điểm Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. Song Người cũng luôn nhấn mạnh rằng học Mác – Lênin là phải học tinh thần Mác – Lênin, học phương pháp Mác – Lênin để xử trí mọi việc. Người nói với cán bộ huấn luyện: “Các chú dạy cho cán bộ đảng viên và nhân dân về chủ nghĩa Mác – Lênin, chắc có nhiều người thuộc, nhưng các chú có làm cho mọi người hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là thế nào không? Theo Bác hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin tức là cách mạng phân công cho việc gì, làm chủ tịch nước hay nấu ăn, đều phải làm tròn nhiệm vụ. Không nên đào tạo ra những con người thuộc sách làu làu, cụ Mác nói thế này, cụ Lê-nin nói thế kia, nhưng nhiệm vụ của mình được giao quét nhà lại để cho nhà đầy rác”(7). Trong nhiều tài liệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục thực hành lý luận Mác – Lênin, thì tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” là một điển hình tiêu biểu.

Tiếp theo cuốn “Đường Kách mệnh”, ở tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục nêu rõ phải giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ và nhân dân ta. Người viết: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế”; “Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”. Vì vậy, ở tác phẩm này Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những khuyết điểm mà nhiều cán bộ còn mắc phải, như: kém lý luận, khinh lý luận, lý luận suông. Người cũng chỉ ra nguyên nhân của những khuyết điểm đó đều là do nhận thức chưa rõ vai trò của lý luận. Người nêu những người kém lý luận là những người lười học tập, lười nghiên cứu lý luận hoặc là do yêu cầu của nhiệm vụ có bước phát triển nhanh, mới, nên trình độ lý luận chưa theo kịp, dẫn đến kết quả làm việc thất bại. Người viết: “Vì kém lý luận nên gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo. Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý mình nghĩ thế nào làm thế ấy. Kết quả thường thất bại”.

Về chứng bệnh khinh lý luận, Người phân tích đó thường là khuyết điểm của những người cho rằng mình có kinh nghiệm và không biết phải kết hợp kinh nghiệm ấy với lý luận để giải quyết công việc. Người viết: “Có những cán bộ, những đảng viên cũ, làm được việc, có kinh nghiệm… Nhưng họ lại mắc phải cái bệnh khinh lý luận. Họ quên rằng: nếu họ đã có kinh nghiệm mà lại biết thêm lý luận thì công việc tốt hơn nhiều…Có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ. Những anh em đó cần phải nghiên cứu thêm lý luận, mới thành người cán bộ hoàn toàn”. Nhưng cũng theo Người: “Lý luận cốt là để áp dụng vào thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông”.

Một nội dung rất lớn và quan trọng của tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” là việc giáo dục tư cách đạo đức cách mạng để người đảng viên có thể biến lý luận thành hành động cụ thể. Người kết luận: “Chúng ta phải gắng học, đồng thời học thì phải hành”. Bởi vậy, trong toàn bộ 6 phần của nội dung cuốn sách là: Phê bình và sửa chữa; Mấy điều kinh nghiệm; Tư cách và đạo đức cách mạng; Vấn đề cán bộ; Cách lãnh đạo; Chống thói ba hoa, thì phần “Tư cách và đạo đức cách mạng” có vị trí đặc biệt quan trọng và có độ dài nhất trong tác phẩm.

Vấn đề đạo đức cách mạng cũng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên như một nguyên tắc “sống còn” trong xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam ở tác phẩm “Đường Kách mệnh” năm 1927. Và đây là nội dung giáo dục đầu tiên trong các lớp huấn luyện cán bộ của Đảng ta lúc đó. “Trung với nước, hiếu với dân”, phẩm chất cơ bản của đạo đức cách mạng mới được nêu lên rất rõ trong tác phẩm này. Có phẩm chất ấy người cán bộ đảng viên có thể sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp của Đảng, của dân tộc. “Vị công vong tư. Không hiếu danh. Không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Ít lòng ham muốn vật chất. Giữ vững chủ nghĩa. Biết hy sinh”…Tư cách đạo đức đó lại được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển sâu sắc thêm, cụ thể hơn trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” trong điều kiện mới, khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền.

Ở đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi đảng viên phải thực hiện một cách nghiêm túc mối quan hệ giữa lời nói và việc làm và nêu cụ thể nhiệm vụ của mỗi cán bộ đảng viên phải làm gì và làm như thế nào để thực hành lý luận. Những nhiệm vụ đó được Người trình bày cụ thể trong các phần: về phận sự của đảng viên và cán bộ; về tư cách và bổn phận của đảng viên; về vấn đề vì sao đảng viên phải rèn luyện tính Đảng. Điều cốt lõi để thực hiện những nhiệm vụ đó là phải trọng lợi ích của Đảng hơn lợi ích của cá nhân. Người viết: “Vô luận thế nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng”. Trái lại những đảng viên và cán bộ nào “ham muốn địa vị, tìm cách phát tài, ra mặt anh hùng, tự cao tự đại,v.v..Đó đều là trái với lợi ích của Đảng”. Cũng trong tác phẩm này, những vấn đề về đạo đức cách mạng một lần nữa được Người phân tích, giảng giải. Theo đó, nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm là những nội dung cơ bản của tư cách đạo đức cách mạng. Tư cách đạo đức ấy là cơ sở, là cốt lõi để thực hành lý luận. Người chỉ rõ: Trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư”, cho nên mắc phải tính chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân như một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các chứng bệnh nguy hiểm.

Đọc lại “Tư cách và đạo đức cách mạng” trong “Sửa đổi lối làm việc” chúng ta càng hiểu thêm tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Chúng ta cũng càng hiểu thêm mong muốn của Bác đối với sự phấn đấu tu dưỡng của mỗi người, để có đủ đức và tài đưa chủ trương, đường lối và nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.

3. Để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh phải “Sửa đổi lối làm việc” về phong cách và phương pháp lãnh đạo nhằm thực hành lý luận

Nói về “Cách lãnh đạo” trong “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên cách để cán bộ, đảng viên có thể tập hợp, tổ chức, lãnh đạo nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng và chính sách của Chính phủ. Đây là những bài học vô cùng quý báu để tránh được tình trạng: chủ trương, chính sách ban hành thì nhiều nhưng không thực hiện được, hoặc thực hiện không đến nơi đến chốn.

Nêu vấn đề phải lãnh đạo đúng, Người viết: Lãnh đạo đúng nghĩa là: 1- Phải quyết định mọi vấn đề cho đúng…2- Phải tổ chức sự thi hành cho đúng…3- Phải tổ chức kiểm soát. Ba nội dung lãnh đạo đó quan hệ mật thiết vơi nhau và đều gắn bó, dựa vào nhân dân, thực hành sự kết hợp đánh giá từ trên xuống với từ dưới lên để đánh giá được đúng đắn, hoàn thiện hơn. Để xây dựng được cách lãnh đạo như thế, Người nêu vấn đề phải chọn người lãnh đạo: “Chọn người và thay người lãnh đạo là vấn đề quan trọng trong việc lãnh đạo…Những người mắc phải bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, không làm được việc, phải thay đi; Những người cậy mình là “công thần cách mạng” rồi đâm ra ngang tàng, không giữ kỷ luật thì cần phải mời họ xuống công tác hạ tầng, khép họ vào kỷ luật để chữa tính kiêu ngạo, thói quan liêu cho họ và để giữ kỷ luật của Đảng và Chính phủ; Một hạng người thứ ba cũng không thể ở vị trí lãnh đạo, đó là hạng người nói suông. Đó là những người chỉ “biết nói và nói, nói giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Nhưng một việc gì thiết thực cũng không làm được”. Nếu để những người như thế ở vị trí lãnh đạo, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là sẽ chỉ làm hại uy tín của Đảng, không thể tập hợp, lãnh đạo được quần chúng nhân dân.

Vì vậy, học tập và làm theo tư tưởng, phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh, trước hết là phải phát hiện ra hạng người như thế và điều quan trọng là phải kiên quyết loại những người đó ra khỏi vị trí lãnh đạo, bởi vì họ quá xa lạ với phong cách và phương pháp lãnh đạo mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu trong “Sửa đổi lối làm việc”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: muốn lý luận được thực hành thì phải có lối làm việc thiết thực, hiệu quả. Người đòi hỏi mỗi cán bộ phụ trách phải thực hiện cho được lối làm việc này. Phải khắc phục bệnh quan liêu “hữu danh vô thực”, tránh lối “làm cho qua chuyện, làm lấy rồi”, chỉ ham làm chủ tịch này, uỷ viên nọ, chứ không làm công tác thực tế. Để lãnh đạo thiết thực, Người nêu lên hai cách lãnh đạo: Một là, liên hợp chính sách chung với chỉ đạo riêng. Hai là, liên hợp người lãnh đạo với quần chúng. Như thế là một cách lãnh đạo thiết thực. Người cũng cho đó là một cách vừa lãnh đạo vừa học tập và chỉ rõ: “Bất kỳ người lãnh đạo nào, nếu không học nổi những việc thiết thực, những người thiết thực và những bộ phận thiết thực của cấp dưới, để rút kinh nghiệm, thì nhất định không biết chỉ đạo chung cho tất cả các bộ phận”.

Thiết thực là phong cách lãnh đạo nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây cũng là bài học sâu sắc, là kinh nghiệm quý giá mà Người để lại trong “Sửa đổi lối làm việc” và trong thực tiễn lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Lãnh đạo thiết thực là cách tốt nhất để tập hợp, tổ chức và động viên nhân dân đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.

Suốt đời quan tâm đến việc giáo dục lý luận chính trị và giáo dục thực hành lý luận cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, “Đường Kách mệnh” và “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hai tác phẩm lý luận lớn, cũng là những tác phẩm vô giá về giáo dục lý luận chính trị Người để lại. Tư tưởng của Người, những lời tâm huyết của Người về vấn đề này đã, đang và mãi mãi soi sáng sự nghiệp xây dựng Đảng ta, Đảng của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam trên hành trình hướng tới tương lai./.

———-

Chú thích:

(1), (2) (4). Hồ Chí Minh,Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.1995, t.2, tr.274, 280, 268.
(3). Hồ Chí Minh,Toàn tập, Sđd, t.1, tr.482.
(5). Hồ Chí Minh,Toàn tập, Sđd t.7,tr.519,520.
(6).Trường Chinh, Lời giới thiệu cuốn sách “Đường Kách mệnh”, Nxb.Sự Thật, H,1982, tr.17.
(7). Hồ Chí Minh,Toàn tập, Sđd, t.12, tr.554.

Theo Tạp chí Tuyên giáo
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng một nền kinh tế mở

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm một cơ sở sản xuất. Ảnh: Tuấn Anh

Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Việt Nam không có tên trên bản đồ thế giới. Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do chủ tịch Hồ Chí Minh viết và công bố trước toàn thế giới là một sự kiện trọng đại, đánh dấu thắng lợi mở đầu của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Quốc hiệu, quốc huy, quốc ca, quốc kỳ của nước Việt Nam độc lập từ đó hiên ngang trên chính trường quốc tế, khẳng định quyền được bình đẳng giữa các dân tộc trên thế giới.

Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để đất nước bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới tự chủ. Nhưng tự chủ không có nghĩa là khép lại mà là tự lực, tự cường, là sự tự vận động bằng chính các nguồn lực sẵn có ngay trong lòng dân tộc mình, đất nước mình, không trông chờ, ỷ lại vào bất cứ nguồn viện trợ nào dù đó là sự viện trợ vô tư và khách quan nhất (trong thực tế không có sự vô tư và khách quan tuyệt đối đó); đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ, ủng hộ và hợp tác với các nước khác trên tinh thần đoàn kết và cùng có lợi, cùng vì mục tiêu hòa bình và phát triển. Hồ Chí Minh viết: “Những nguyên tắc của Lênin về quyền dân tộc tự quyết, về chung sống hòa bình, không can thiệp vào việc nội bộ của các nước khác, về quyền bình đẳng và quan hệ hai bên cùng có lợi giữa tất cả các nước, những nguyên tắc làm cơ sở cho chính sách đối ngoại của Liên Xô, đang chỉ cho nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc con đường đấu tranh giành thống nhất và độc lập dân tộc”.

Một nền kinh tế mở trước tiên phải xuất phát từ một nền xã hội mở, và một nền văn hóa mở. Hồ Chí Minh đã dẫn dắt cách mạng Việt Nam hòa nhập cùng cách mạng thế giới, tự nguyện là một bộ phận của cách mạng thế giới. Sự nghiệp cách mạng của Người là cuộc đấu tranh bền bỉ để toàn nhân loại bị áp bức thoát khỏi kiếp nô lệ, tiến tới thế giới đại đồng. Người kêu gọi: “Tất cả mọi người hãy đứng lên quanh lá cờ đỏ để chinh phục thế giới. Lao động tất cả các nước, đoàn kết lại !”. Lời kêu gọi của Nguyễn Ái Quốc là sự mở rộng khẩu hiệu của V.I.Lênin và cả khẩu hiệu của C.Mac và F.Enghen trước đó. Nó cụ thể hơn, bản chất hơn rằng thế giới sau Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại đã bước vào kỷ nguyên toàn thể nhân loại bị áp bức đồng loạt đứng lên “chặt đứt cả hai cái vòi của con đỉa” là chủ nghĩa đế quốc thực dân “hút máu” người lao động ở thuộc địa và cả ở chính quốc; rằng, đã đến lúc lao động toàn thế giới phải cùng nhau giành lại bằng được tất cả những quyền lợi mà chủ nghĩa tư bản dùng mọi thủ đoạn đã tước đoạt của họ, để từ đó bắt tay vào xây cuộc đời mới, cuộc đời tự do cho chính mình.

Đối với xã hội loài người, sự phát triển và tiến bộ của nó trước tiên và cũng là cứu cánh là làm sao thỏa mãn tối đa nhu cầu lao động của toàn thể nhân loại (thỏa mãn nhu cầu lao động chứ không phải thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ).

Lao động đã biến con người tự nhiên thành con người xã hội. Trong lao động và những thành quả của lao động mà con người đạt được, những giá trị của lao động được tích tụ thành những lớp trầm tích văn hóa để rồi từ đó lại tiếp tục kích thích con người lao động sáng tạo ra những văn hóa mới. Quá trình tích tụ văn hóa tiếp diễn không ngừng ngay cả trong các hình thái kinh tế – xã hội phân chia giai cấp; bởi chính nhu cầu sáng tạo trong lao động của người lao động tự giác duy trì nó, chứ không phải do mục đích của chế độ bóc lột duy trì nó. “Đỉnh cao” của chủ nghĩa tư bản khiến con người sớm nảy sinh mâu thuẫn đối kháng với nó, kịch liệt lên án nó, dễ dàng đồng lòng chống nó vì nó đã đưa sự bóc lột lao động thành “nghệ thuật”. Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, người lao động bị vô sản hóa. Họ bị tước đoạt quyền sở hữu về tư liệu sản xuất, mất cả quyền sở hữu cá nhân về mọi mặt; quyền ăn, ở, đi lại, phát biểu, ngôn luận,…Họ bị dồn vào các đô thị, họ đi lang thang. Họ buộc phải làm thuê trong các nhà máy, hầm mỏ,.. sức lao động của họ trở thành hàng hóa và mặc sức để bọn chủ bóc lột giá trị thặng dư của mình (điều mà C.Mác đã phát hiện). Ở thuộc địa, người lao động còn bị đối xử thậm tệ hơn. Bọn chủ tư bản coi họ chỉ là những công cụ biết chuyển động. họ bị áp bức bằng chính sách ngu dân, chủ yếu là rượu và thuốc phiện (điều mà Nguyễn Ái Quốc đã công khai vạch trần ngay tại quê hương của chủ nghĩa tư bản). Một “đỉnh cao” khác cũng thuộc bản chất của chủ nghĩa tư bản là “nghệ thuật” tạo ra hố ngăn cách ngày càng rộng và sâu giữa giàu và nghèo có tính toàn cầu, gây cho thế giới sự mất ổn định triền miên, làm cho các dân tộc hùng hằn lẫn nhau. Và, có thể coi tâm lý ảo tưởng về “tự do”, “bình đẳng”, về cuộc sống “phồn hoa” hướng tới sự thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ, gieo rắc dưới mọi hình thức và mọi thủ đoạn, là một “đỉnh cao” khác của chủ nghĩa tư bản. “Nghệ thuật gieo rắc” này, điển hình ngày nay là Mỹ, càng đạt hiệu quả dẫn đến sự kiện Liên Xô tan rã và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ. Bức tranh về một thế giới hiện đại dưới sự ảnh hưởng tác động trực tiếp của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhất là những mặt trái của nó, hiện đang đẩy xã hội loài người vào sự khủng hoảng toàn diện và đồng thời nảy sinh những mâu thuẫn đối kháng quyết liệt. Bằng nhãn quan kiệt xuất và tâm hồn trong sáng, Hồ Chí Minh đã dự cảm đúng về tương lai cách mạng Việt Nam trong xu thế phát triển của thế giới ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX. Người đã xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, con đường đi tới của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người khẳng định: Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Người mong muốn và vận động, giáo dục nhân dân phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh trên cơ sở thực hiện đời sống mới để cải tạo bản thân, cải tạo bản thân, tiếp tục hun đúc cho nền văn hóa dân tộc ngày thêm bền vững và tỏa rạng mãi mãi. Tâm hồn và tư tưởng của Hồ Chí Minh gây xúc động mạnh mẽ tới nhà báo Liên Xô Ôxip Medenxtam ngay từ lần gặp gỡ đầu tiên. Trên báo Ogonok số 39 ngày 23 tháng 12 năm 1923, Medenxtam viết: “Dáng dấp của con người đang ngồi trước mặt tôi đây, Nguyễn Ái Quốc, cũng đang tỏa ra một cái gì thật lịch thiệp và tế nhị. Văn minh Châu Âu trên đất nước ấy dùng lưỡi lê và rượu độc và che dấu tất cả những cái đó dưới tà áo dài đen của bọn cố đạo. Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu Châu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”. Sau này, đại hội đồng Liên Hợp Quốc cũng khẳng định điều đó khi tôn vinh Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc” và “Danh nhân văn hóa kiệt xuất” và tổ chức kỉ niệm 100 năm Ngày sinh của Người trên toàn thế giới.

Khi xây dựng một xã hội mở, một nền văn hóa mở thì nền kinh tế trong đó không thể khép kín. Đó là một lôgic tất yếu. Kinh tế có phát triển không và phát triển như thế nào đều phụ thuộc trước tiên và cuối cùng cũng là nhân tố con người, trong đó quan trọng lại là ý thức lao động của quần chúng nhân dân. Tiến hành cách mạng để giành độc lập, tự do cho dân tộc thì đồng thời giải phóng nhân dân hỏi kiếp nô lệ; nhưng, để toàn dân có ý thức lao động đúng đắn thì cách mạng phải tiếp tục thực thi những nhiệm vụ nặng nề nhằm gột rửa những thói hư tật xấu do chế độ thực dân và phong kiến cai trị tạo ra đã ăn sâu thành thói quen, thành sức ì trong tâm thức người lao động. Hồ Chí minh là người thấu triệt sự cấp bách “phải có giáo dục đạo đức công dân”, phải “giáo dục tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện Cần, Kiệm, Liêm, Chính” không chỉ nhằm giải quyết những khó khăn trước mắt mà cho cả công cuộc bảo vệ tổ quốc và xây dựng đất nước trong dài lâu. Ý thức lao động chuyển từ địa vị kẻ nô lệ sang người chủ đất nước trong người lao động là sự dịch chuyển vừa có tính đột biên vừa chậm chạp, có tác động ảnh hưởng, trực tiếp hay gián tiếp, tới quá trình giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất, tới quá trình xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất. Ý thức lao động ấy nếu không được giáo dục vận động thường xuyên lại có cơ hội nảy nở và phát triển những mặt xấu, tiêu cực một cách tràn lan như cỏ dại. Hồ Chí Minh đã nói: “ Nêu cao và thực hành Cần, Kiệm, Liêm, Chính tức là nhen lửa cho đời sống mới”; và, bằng nhiều cách lý giải khác nhau, dưới nhiều hình thức khác nhau, Người kiên trì giáo dục cán bộ đảng viên và nhân dân rèn luyện đạo đức cách mạng. Bản thân Hồ Chí Minh luôn là tấm gương trong sáng về sự tự rèn luyện ấy.

Nội dung “Đời sống mới” do Hồ Chí Minh đề xuất bao hàm mối quan hệ hữu cơ giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần do người lao động tạo dựng trực tiếp và chính họ trực tiếp hưởng những thành quả đó, vậy họ phải ý thức được ý nghĩa của việc thực hành cần, kiệm, liêm, chính và lợi ích mà đời sống mới đem lại cho họ. Sự tự ý thức ấy chẳng có con đường nào khác là phải học để giệt giặc dốt trong bản thân mình, để nâng cao hiểu biết và từ đó có khả năng đổi mới tư duy. Vấn đề là ở chỗ cán bộ – những người tổ chức và hướng dẫn quần chúng – có tự nguyện và chân thành làm công bộc của dân hay không ?, có ham học hỏi, có tự tu dưỡng đạo đức cách mạng hay không ? cán bộ không gương mẫu thực hành cần, kiệm, liêm, chính không đi đầu thực hiện đời sống mới, thì hiển nhiên dân không kính, không yêu, vì dân không còn tin cán bộ.đó là những điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh tiên lượng và thường xuyên nhắc nhở cán bộ đảng viên.Người luôn chỉ ra rằng dân là tất cả, dân là trên hết, Đảng và Nhà nước có nhiệm vụ lo cho dân về mọi mặt, từ cái lớn đến cái nhỏ, bằng việc tổ chức cho nhân dân cách thức xây dựng cuộc sống, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Tổ chức tốt thì phát huy được tính sáng tạo của dân, sức dân, để đưa đất nước đến giàu mạnh. Đồng thời phải biết tiết kiệm tiền của của dân để phát triển lâu dài. Thời còn bôn ba trên đất khách quê người Hồ Chí Minh đã nhận thức rằng: Từ một nước thuộc địa đứng dậy giành độc lập, tự do và xây dựng xã hội mới, dân tộc Việt Nam sẽ thiếu thốn mọi điều kiện, trong đó cái thiếu quan trọng nhất là thiếu trình độ tổ chức. Người đã dày công tìm hiểu và viết tác phẩm “Đường Kách mệnh”. Nội hàm của tác phẩm chính là phương thức tổ chức để tiến hành thắng lợi cách mạng giải phóng dân tộc và tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, mà việc áp dụng hình thức hợp tác xã là một trong những biện pháp tổ chức sản xuất quá độ từ thánh phần kinh tế cá thể lên thành phần kinh tế tập thể, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Điều đó có nghĩa là, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần là một điều kiện tất yếu của tổ chức sản xuất, điều kiện đó đặc biệt quan trọng và cần thiết đối với Việt Nam mới giành được độc lập, nền kinh tế đang ở tình trạng lạc hậu, kém phát triển. Trong “Thư gửi các giới công thương Việt Nam” Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Việc nước và việc nhà bao giờ cũng đi đôi với nhau. Nền kinh tế quốc dân thịnh vượng nghĩa là các sự kinh doanh của các nhà công nghiệp, thương nghiệp thịnh vượng. Vậy tôi mong giới công thương nỗ lực và khuyên các nhà công nghiệp và thương nghiệp mau mau gia nhập vào “công – thương cứu quốc đoàn” cùng đem vốn vào làm những công cuộc ích quốc lợi dân”. Chính sách mở cửa của chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trên nguyên tắc bảo đảm quyền độc lập tự chủ được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu thẳng thắn như sau: “Có thể rằng: Những cơ sở mà người Pháp đã bỏ vổn ra gây dựng ở đây từ trước đến giờ, nếu xét ra cho nền kinh tế quốc gia Việt Nam, sẽ được chúng ta chuộc lại dần dần. Có thể rằng: chúng ta hoan nghênh những người Pháp muốn đem tư bản vào xứ ta khai thác những nguồn nguyên liệu chưa có ai khai thác. Có thể rằng: Chúng ta sẽ mời những nhà chuyên môn Pháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu, đến đây giúp việc cho chúng ta trong cuộc kiến thiết quốc gia. Nhưng, phải nhắc lại rằng, điều kiện chính vẫn là họ phải thừa nhận nền độc lập của xứ này. Nếu không vậy, thì không thể nói chuyện gì được cả”.

Phép “ Dĩ bất biến ứng vạn biến” được Hồ Chí Minh vận dụng vào bất cứ hoàn cảnh nào, trong mọi lĩnh vực đối nội và đối ngoại, trong chính trị, văn hóa, kinh tế, quân sự. Nguyên tắc độc lập, tự chủ là trên hết, là bất di bất dịch, không một thế lực nào, kẻ thù nào có thể lay chuyển nổi. Chỉ như vậy mới bảo đảm độc lập cho dân tộc và tự do cho nhân dân. Bất cứ ai, việc gì làm lợi và có lợi cho nước, cho dân thì có thể sử dụng, huy động đến mức tối đa. Giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ và khôn khéo, linh hoạt, tùy cơ ứng biến, thì mọi cái khó thì trở nên dễ dàng. Người viết: “Việc dùng nhân tài, ta không nên căn cứ vào những điều kiện quá khắt khe. Miễn là không phản lại quyền lợi dân chúng, không là việt gian, thân Pháp, thân Nhật, có lòng trung thành với tổ quốc là có thể dùng được. Tài to ta dùng vào việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực vào việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy. Biết dùng người như vậy, ta không lo gì thiếu cán bộ”.

Năm 1946 thời điểm đầy sóng gió đối với cách mạng Việt Nam, vận mệnh của nước Cộng hòa non trẻ như ngàn cân treo sợi tóc, trước khi lên đường sang Pháp làm thượng khách, Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao quyền điều hành đất nước cho cụ Huỳnh Thúc Kháng. Người nói với cụ Huỳnh cái phép “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Người nói chuyện với đồng bào:

“Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của Tồ quốc và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo – là vì mục đích đó.…Bất kì bao giờ, bất kì ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích nước lợi dân. Vậy nên lần này, tôi xin hứa với đồng bào rằng: Tôi cùng anh em đại biểu sẽ gắng làm cho khỏi phụ lòng tin cậy của quốc dân”. Và, Người gửi thư tới đồng bào Nam bộ với lời lẽ thiết tha, xúc động: “Tôi xin đồng bào cứ bình tĩnh. Tôi xin hứa với đồng bào rằng Hồ Chí Minh không phải là người bán nước… Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lí đó không bao giờ thay đổi !”.

Tại Pháp, với cương vị là thượng khách của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng tài tình phép “Dĩ bất biến ứng vạn biến” để nhằm đạt được mục tiêu của mình cũng như nguyện vọng chung của dân tộc. Với tinh thần, như Người trả lời phỏng vấn của báo Franc – Tireur: “Tôi không muốn trở về Hà Nội tay không. Tôi muốn khi trở về nước sẽ đem về cho nhân dân Việt Nam những kết quả cụ thề với sự cộng tác chắc chắn mà chúng tôi mong đợi ở nước Pháp”. Chủ tịch Hồ Chí Minh làm mọi điều, bằng mọi cách để quảng bá chủ trương, chính sách đối ngoại của nước Việt Nam độc lập, để đấu tranh với tính ích kỉ, lòng hẹp hòi của những người cầm quyền Chính Phủ thực dân Pháp. Thông qua các cuộc tiếp xúc với đủ tầng lớp nhân dân tại Pháp, Người tuyên truyền lòng yêu chuộng hòa bình và ý chí sắt đá bảo vệ hòa bình của dân tộc Việt Nam, tinh thần tự lực tự cường phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hùng cường; Người vận động kêu gọi tình đoàn kết giữa các dân tộc, giữa nhân dân hai nước Việt – Pháp vì tương lai của một thế giới đại đồng. Trong diễn văn tại lễ kỷ niệm quốc khánh đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2/9/1946) do Hội Liên hiệp Việt kiều và Hội Hữu nghị Pháp – Việt tổ chức tại Paris, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Tôi tin tưởng rằng nước Pháp đã kháng chiến và giành được giải phóng sẵn sàng công nhận nền độc lập của chúng tôi, điều cần thiết phải có để một dân tộc mong muốn kết bạn với các dân tộc khác. Nước Pháp mới đặt ra cho mình mục đích là giải phóng các dân tộc. Tại sao nước Pháp mới lại vô tình trước số phận của nhân dân các nước đang theo đuổi những lí tưởng của chính mình? Vả lại, hoàn toàn độc lập quyết không có nghĩa là đoạn tuyệt. Nước Việt Nam đã long trọng cam kết tôn trọng những lợi ích văn hóa và kinh tế của Pháp trên đất nước Việt Nam; hơn thế nữa, Việt Nam còn sẵn sàng phát triển nó bằng sự hợp tác anh em và trung thực. Việt Nam độc lập, chẳng những không làm hại đến lợi ích của Pháp, mà còn tăng cường vị trí và củng cố uy tín của Pháp ở Châu Á.

Sự đóng góp của Việt Nam cho sự vĩ đại của nước Pháp và cho sức mạnh của Liên hiệp Pháp, điều đó tất nhiên tùy thuộc vào mức độ phồn vinh của Việt Nam, mà sự chia rẽ và chia cắt không thể mang lại phồn vinh. Thật là phi lý nếu toan tính dựa vào nước Việt Nam suy yếu, chia rẽ và bị chia cắt để đạt được sự hùng mạnh của Liên hiệp Pháp. Liên hiệp Pháp chỉ có được vai trò với điều kiện nó giữ được sự vững chắc, thống nhất và gắn bó củ nó, và điều kiện đó chỉ có thực hiện được khi mỗi thành viên của nó cũng giữ được sự vững chắc, thống nhất và gắn bó của mình. Đó là cái giá phải trả cho tương lai của Liên hiệp Pháp. Chúng ta biết rằng nhân dân tất cả các nước ở Pháp quốc hải ngoại đều quan tâm đến việc thực hiện điều này. Thực vậy, việc liên kết các dân tộc tự do, bình đẳng và bác ái, gắn bó bởi một trong những sợi dây mạnh mẽ nhất, một lý tưởng chung, đó là lý tưởng dân chủ; việc liên kết đó hấp dẫn biết bao. Liên hiệp Pháp sẽ có vai trò to lớn trong xã hội trong việc tổ chức xã hội loài người. Là một nước dân chủ, thành viên của Liên hiệp Pháp, nước Việt Nam mong muốn được đóng góp vào việc thiết lập và duy trì hòa bình và dân chủ trên thế giới, bên cạnh Liên Hợp quốc”.

Cần thiết phải trích dẫn như trên là để thấy rõ một cách đầy đủ và logic của lý luận của Hồ Chí Minh trong việc giải quyết các mối quan hệ đa chiều giữa lịch sử và thời đại, giữa chính trị, kinh tế và văn hóa, giữa dân tộc và quốc tế… Thực tiễn ngót một thế kỷ qua đã chứng minh tính đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh và cũng chứng minh rằng, do bản chất và dã tâm đen tối của các đế quốc thực dân đã cố tình làm mất đi những cơ hội cho những hợp tác tốt đẹp trên nguyên tắc đảm bảo tính tự quyết của mỗi dân tộc và các bên cùng có lợi.

Trong “Lời tựa” cho lần xuất bản cuốn thứ nhất cuốn “ Pari – Sài Gòn – Hà Nội” , Philippe Devillers viết: “Năm1946, chúng ta suýt nữa đã hiểu nhau và thỏa thuận được với nhau. Chỉ cần một chút nữa thôi là chúng ta đã có được không phải một “thỏa hiệp” hay một “tạm ước” mà văn bản một sự liên kết, hơn thế nữa, một sự đồng minh giữa hai dân tộc tự hào và tự do, trong khuôn khổ một tổng thể mà hai bên sẽ cùng nhau quy định. Lỡ mất bao nhiêu cơ hội tốt”. Điều này cho thấy một sự nuối tiếc của những công dân nước Pháp, họ ý thức được những mất mát trong lịch sử Pháp – Việt đã đem lại thiệt thòi cho cả hai dân tộc đáng lí không nên có. P.Dellivers cũng thừa nhận: “Ngay từ cuối 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu nhân dân Việt Nam phải tập phân biệt giữa những người Pháp: Một bên là thực dân đế quốc, một bên là những người dân chủ tin tưởng một cách chân thành vào các giá trị của tự do, công bằng, bác ái và hành động đi đôi với lòng tin” và “Bất hạnh đã đến, không phải không được kiểm soát cẩn thận. Sau đó, Chính phủ Pháp không muốn lên án chúng nên đã thi hành trong nhiều năm, vẫn trong bí mật, một chính sách mà lịch sử ngày nay lên án”. Trong cuốn sách này cũng trích thư của Charle de Gaulle gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 8 tháng 2 năm 1966: Giá có một sự hiểu biết nhau tốt hơn giữa người Việt Nam và người Pháp ngay sau đại chiến thế giới thì đã có thể tránh được những sự biến tai ác đang giằng xé đất nước ngài hôm nay”. Đây thực sự là một nhận thức muộn màng. Vì cách đó hai mươi năm, ngày 18 tháng 6 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời Hãng thông tấn AFP: “Tôi rất tin cậy ở kết quả hội nghị Pháp – Việt này. Hai nước Pháp – Việt xa nhau không phải vì văn hóa, lý tưởng mà chỉ vì quyền lợi của một vài cá nhân. Mục đích của Pháp là tự do, bình đẳng, bác ái, nếu Pháp thi hành đúng thì chắc chắn sẽ mua được tình thân thiện của nước Việt Nam”. Ngày ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng tất cả mọi nỗ lực để tránh cho hai dân tộc một cuộc chiến tranh đổ máu, đồng thời mở ra mối quan hệ cho sự phát triển trong hòa bình, độc lập. Song, chiến tranh đã đóng sập cánh cửa của sự phát triển đó không chỉ trong chín năm mà kéo dài tới tận tới năm 1975. Xâm lược Việt Nam và sau này đánh phá miền Bắc Việt Nam, đế quốc Mỹ theo vết xe đổ của thực dân Pháp tự mình chuốc lấy những thất bại đắng cay và cũng lại phải chua xót thừa nhận những đắng cay của mình, chẳng hạn như trường hợp của Robert S.McNamara – cượu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ. Trong cuốn “Nhìn lại quá khứ – tấm thảm kịch và những bài học về Việt Nam”, tuy bảo thủ và không được chân thành như người Pháp, nhưng McNamara vẫn phải rút ra “11 nguyên nhân chính gây ra thảm họa của chúng ta tại Việt Nam” và đi đến nhận định: “Tóm lại đó là những thất bại chính của chúng ta. Mặc dù chúng xuất hiện rời rạc nhưng ở một mức nào đó, chúng có liên quan với nhau: Thất bại ở một khía cạnh này lại góp phần tạo nên thất bại ở khía cạnh khác. Mỗi thất bại đó, đến lượt mình, lại trở thành mớ bòng bong”. Thực ra, thất bại của đế quốc Mỹ trong cuộc xâm lược Việt Nam đã bắt nguồn từ lúc Chính phủ Hoa Kỳ chưa chính thức can thiệp vào Đông Dương. Cũng ngay từ năm 1946, ngày 16 tháng 2, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định đường lối đối ngoại và thiện chí của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong thư gửi Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ: “…mục tiêu của chúng tôi là hoàn toàn và hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ. Chúng tôi sẽ làm hết sức mình để làm cho nền độc lập và sự hợp tác này trở nên có lợi cho toàn thế giới”. Tiếp theo, trong “Lời kêu gọi liên hợp quốc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “….nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực:

a. Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kĩ nghệ của mình.
b. Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế.

c. Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc.

Trong cuộc đấu tranh vì quyền thiêng liêng của mình, nhân dân Việt Nam có một niềm tin sâu sắc rằng họ cũng chiến đấu cho một sự nghiệp chung: Đó là sự khai thác tốt đẹp những nguồn lợi kinh tế và một tổ chức hiệu quả hiệu quả cho an ninh ở Viễn Đông”.

Chính sách mở cửa của Việt Nam đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố trước thế giới một cách thẳng thắn, chân thành và mạch lạc. Tư duy của Hồ Chí Minh cho thấy: Tuy mới thoát khỏi ách nô lệ kéo dài gần tám mươi năm nhưng khi dành được độc lập, dân tộc Việt Nam đã sẵn sàng hội nhập với thế giới trên tinh thần hiểu biết lẫn nhau sâu sắc và tầm nhìn thời đại. Đó là thái độ chủ động của một tư duy lược về sự hợp tác để đem lại những lợi ích thiết thực cho mọi quốc gia, cho mọi dân tộc, xóa bỏ những hận thù, những âm mưu, thủ đoạn can thiệp vào công việc nội bộ, quyền tự quyết của quốc gia này đối với quốc gia khác. Nhưng lịch sử – chính lịch sử của các cuộc xâm lăng của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã ngăn cản và làm chậm bước tiến đến hiện thực mà tư duy trong sáng của Hồ Chí Minh đã nêu lên từ giữa thế kỷ XX, để sau này bản thân họ phải hối tiếc cho chính những việc làm thiển cận của mình. Bởi, chiến tranh không chỉ đem đến cho dân tộc Việt Nam tang thương và thiệt thòi mà cũng đã cướp đi của dân tộc Pháp, dân tộc Mỹ và các quốc gia tham chiến những người con ưu tú, làm hoen ố những giá trị tinh thần cao cả và để lại những kí ức nặng nề cho các thế hệ sau đó. Tuy nhiên, mặc dù đã tự rút ra những bài học xương máu từ cuộc gây chiến với Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc nói chung, đế quốc Mỹ nói riêng vẫn chưa chịu sửa chữa những lỗi lầm, tiếp tục gây ra xung đột vũ trang trên thế giới và can thiệp vào các quyền tự quyết của các dân tộc khác. Hiện thực đó nói lên rằng: Bản chất của chủ nghĩa đế quốc – giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản – là không thay đổi; mặt khác nó biểu hiện con đường suy thoái không thể tránh khỏi của một hình thái kinh tế – xã hội đang mắc vào sự khủng hoảng toàn diện và triền miên không tìm ra lối thoát. Các nhà trí thức tiến bộ phương Tây đã và đang tiếp tục tìm kiếm cách lí giải sự bế tắc này dưới nhiều góc độ khác nhau trên các lĩnh vực kinh tế văn hóa, xã hội từ đó phê phán tùy theo mức độ và theo các quan điểm khác nhau. Chẳng hạn, Alain Touraine nhà xã hội học nổi tiếng người Pháp, trong cuốn “Phê phán tính hiện đại” đã phân tích những vấn đề do tính hiện đại đặt ra trong quá khứ cũng như hiện nay dưới góc độ triết học, cũng là sự tự phê phán chính những kinh nghiệm về tính hiện đại của Phương tây. A.Touraine viết: “Chúng ta ngày càng sợ rằng sự tăng trưởng phá vỡ mất những cân bằng tự nhiên cơ bản, làm tăng thêm những bất bình đẳng ở trình độ thế giới, áp đặt lên tất cả mọi người một cuộc chạy đua kiệt sức tới sự thay đổi. Đằng sau những nỗi lo ngại ấy đang hiện là một sự hoài nghi sâu xa hơn: Loài người phải chăng đang phá bỏ sự liên kết của nó với tự nhiên, đang trở thành dã man khi nó tưởng rằng đã được giải thoát khỏi sự bó buộc truyền thống và làm chủ được số phận của mình ?”. Điều này có nghĩa là, trải qua mấy trăm năm tồn tại, chủ nghĩa tư bản đem lại rất ít tiến bộ cho xã hội, ở chỗ nó không giải phóng thực sự để con người tự làm chủ số phận của mình, trái lại nền văn minh vật chất tăng trưởng ngày càng biểu hiện những mặt tiêu cực đến độ dã man trong các mối quan hệ ứng xử giữa con người với nhau. Người phương Tây đang phải tự nhìn lại chính mình và đối chiếu tư tưởng triết học của họ với tư tưởng minh triết phương Đông. Và, trong sự đối chiếu ấy họ nhận thức được Hồ Chí Minh là một nhà hiền triết, rằng Người đã quy tụ và phát huy một cách đầy đủ những giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại, của cả phương Đông và phương Tây đến độ thăng hoa của thế kỷ XX và trở thành “ Anh hùng giải phóng dân tộc” và “ Danh nhân văn hóa kiệt xuất” mà Đại hội đồng Liên hợp quốc đã nhất tôn vinh nhân dịp kỉ niệm 100 năm Ngày sinh của Người. UNESCO cũng đồng ý với nhận định: Hồ Chí Minh là “Hiện thân những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định diện mạo của mình và tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau”.

Thực tế cho thấy, muốn tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau thì các dân tộc, các quốc gia phải thực sự và thành tâm “mở lòng” mình bằng việc xây dựng chính sách đối ngoại mở, chính sách kinh tế mở trên các nguyên tắc bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, hợp tác để cùng nhau phát triển, tức là ai cũng có lợi trong sự hợp tác ấy. Những phát biểu của Hồ chí Minh đều xuất phát từ quyền lợi của dân tộc, của nhân dân mình và gắn với quyền lợi chung của các dân tộc trên thế giới, vì nền hòa bình thế giới và vì một thế giới đại đồng. Quan điểm về một nền kinh tế mở là một bộ phận khăng khít trong toàn bộ hệ thống quan điểm cách mạng của Người. Đề ra chính sách mở cửa và hợp tác với các nước trong mọi lĩnh vực, hơn ai hết Hồ Chí Minh rất thấu hiểu tình cảnh của một dân tộc bị o bế bởi phương thức sản xuất tự cấp tự túc, rằng nền kinh tế tiểu nông chỉ đem lại nghèo nàn và lạc hậu, không tạo ra được những cơ hội tiếp thu kĩ nghệ tiên tiến và như vậy không có cơ may để tiến kịp các dân tộc khác. Không những thế, chính sách “khai hóa” của thực dân, đế quốc (kiểu cũ hay kiểu mới cũng cùng bản chất) càng nhấn chìm dân tộc Việt Nam xuống bùn đen. Đấu tranh dành độc lập dân tộc, một mặt để thoát khỏi ách nô lệ, mặt khác để vươn ra thế giới, từng bước thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh. Một quốc gia không có nền độc lập, tự chủ thì không thể và không bao giờ đạt được mục tiêu dân giàu nước mạnh.

Ngược lại, khi đã giành được độc lập mà không có chính sách mở cửa và hợp tác với các nước khác trên cơ sở của các nguyên tắc đã được cộng đồng quốc tế quy định, thì quốc gia cũng không thể phát triển theo đúng quỹ đạo,có khi còn lâm vào tình trạng bế tắc, thậm chí bị các quốc gia mạnh hơn chi phối và đi đến mất quyền độc lập và tự chủ. Thực tế của thế giới ngày nay đã diễn ra như vậy. Vì vậy, xây dựng một xã hội mở, trong đó nền kinh tế mở có vai trò trực tiếp và quan trọng, là một yêu cầu khách quan. Một nền kinh tế mở là một nền kinh tế bao gồm đầy đủ hai nhóm nhân tố: Nội lực và ngoại lực; trong đó nhóm nhân tố nội lực mang tính quyết định. Tư duy của Hồ Chí Minh đã giải quyết thấu đáo mối quan hệ nhân quả này ngay từ khi Người còn bôn ba trên thế giới và đặc biệt sáng tỏ, khúc chiết sau khi nước nhà giành được chính quyền và lập nên nhà nước dân chủ nhân dân. Cho dù tư duy của Người đã bị các thế lực phản động ngăn cản bằng các cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài, thì tính đúng đắn của tư duy ấy vẫn được Đảng và nhân dân của Người thực hiện thành công, để cuối cùng dành được thắng lợi huy hoàng. Chính thực lực vốn có và thực lực ấy luôn được phát huy cao độ vừa là nhân tố thu hút sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ tận tình của bầu bạn và nhân dân trên thế giới, vừa là nhân tố quyết định đánh bại ý chí xâm lược của các cường quốc đế quốc mạnh gấp nhiều lần và đó cũng là nền tảng để sau khi chiến tranh chấm dứt, dân tộc Việt Nam đã “khép lại quá khứ”, “gác lại hận thù” nhanh chóng bắt tay với các nước trên tinh thần học hỏi để khôi phục và xây dựng đất nước giàu mạnh. Tư duy về một nền kinh tế mở của Hồ Chí Minh mang tầm chiến lược, vì đã kết tinh đầy đủ tính dân tộc và tính thời đại, phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới ngày nay.

Theo NXB Thanh Niên
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tìm hiểu thực chất và ý nghĩa của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh - Người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Ảnh: Tuấn Anh

Trong các bài viết, bài nói của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh hầu như không dùng ngôn ngữ triết học và không tự thừa nhận mình là nhà khoa học, nhưng trong tư tưởng của Người lại luôn nhất quán một thế giới quan, một nhân sinh quan, một hệ thống tư duy triết học.

Là học trò của C.Mác, Ph. Ăng ghen, V.I.Lênin nên thế giới quan, tư duy triết học của Người là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Người đã bảo vệ và phát triển tư duy triết học trên nền tảng triết học Mác – Lênin. Khác với các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh không để lại một tác phẩm triết học như: Hệ tư tưởng Đức, Luận cương Phoiơbắc, Biện chứng của tự nhiên, Bút ký triết học… Bởi vì, Hồ Chí Minh sống và hoạt động cách mạng trong thời đại đã có chủ nghĩa Mác – Lênin soi sáng, dẫn đường và nhiệm vụ của Người là cứu nước, cứu dân, giải phóng dân tộc khỏi áp bức, bóc lột, bất công đem lại hoà bình, tự do, hạnh phúc cho đồng bào. Chính nhiệm vụ này đã cuốn hút Người với tất cả tinh thần và sức lực, làm cho Người sống gần gũi với nhân dân, đem tinh tuý, sâu sắc của triết học diễn đạt thành những điều giản dị, cụ thể, rõ ràng và thiết thực để nhân dân dễ hiểu, dễ làm. Rõ ràng, phải có một trình độ triết học sâu sắc, uyên bác, Hồ Chí Minh mới có thể chuyển hoá thành triết học của cuộc sống. Nhờ đó, người trang bị cho cán bộ, đảng viên thế giới quan duy vật biện chứng, giúp họ nhìn nhận, xem xét, đánh giá đúng tình hình, đề ra đường lối, chủ trương, chính sách sát thực tế, có hiệu quả; đồng thời không rơi vào dao động, không mắc phải sai lầm ảo tưởng, chủ quan, duy ý chí cũng như giáo điều, xét lại; mặc dù khi viết, khi nói Người ít dùng các thuật ngữ triết học. Nghiên cứu di sản lý luận và cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, chúng ta thấy ở Người toát lên những tư tưởng triết học sâu sắc. Hồ Chí Minh đã dựa chắc vào vấn đề cơ bản triết học để giải quyết mối quan hệ giữa việc nâng cao đời sống vật chất và đời sống tinh thần, giữa phát triển sản xuất với củng cố hệ thống chính trị, tăng trưởng kinh tế với phát triển giáo dục văn hoá và nhiều mối quan hệ khác như mối quan hệ giữa xây dựng đất nước với đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ Tổ quốc; kết hợp sức mạnh của dân tộc với thời đại, giữa kháng chiến với kiến quốc. Rõ ràng, khi giải thích hàng loạt các vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Hồ Chí Minh đã nói tới triết học, bàn tới triết học và tư tưởng triết học Hồ Chí Minh thể hiện rõ những giá trị nhân văn đặc sắc, tràn đầy tinh thần biện chứng duy vật. Trong đó có sự hoà quyện đến nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, tinh hoa văn hoá, triết học phương Đông, phương Tây và lý luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê nin.

Với tư tưởng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Người, chúng ta nhận thấy ở đó có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa phép “biến dịch” của triết học phương Đông và phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin. Thế giới quan Hồ Chí Minh là thế giới quan khoa học. Trong đó, thế giới quan triết học Mác – Lênin đóng vai trò quyết định bản chất khoa học, cách mạng. Thế giới quan của Người còn ảnh hưởng của tư tưởng triết học dân tộc, của tinh hoá văn hoá, triết học phương Đông, phương Tây. Về khuynh hướng tư duy, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh đi sâu lý giải các vấn đề xã hội và nhân sinh. Bởi lẽ, xuất phát từ hoài bão lớn lao và mục đích chính trị cao cả là “cứu nước, cứu dân, giải phóng dân tộc” nên Người đặc biệt chú trọng xây dựng lý luận về chính trị – xã hội, đạo đức cách mạng nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn hơn là hình thức học thuyết triết học, nhận thức và lôgíc học như các nhà triết học vẫn thường làm.

Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là sản phẩm của quá trình hoạt động tư duy lý luận và cuộc đời hoạt động cách mạng của Người có vai trò to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Chính tư tưởng, quan điểm triết học của Người cùng với triết học Mác – Lênin luôn là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho cách mạng Việt Nam. Chúng ta không thể hiểu rõ bản chất khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh nếu như không hiểu cái gì là cốt lõi quy định cách nhìn, cách nghĩ và phương pháp cách mạng cũng như cái gì là trung tâm dẫn dắt đồng bào ta vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh đứng vững trên lập trường duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, đã đi vào thực tiễn xã hội Việt Nam, lấy cái cốt lõi là giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột, bất công, đem lại cuộc sống hoà bình, tự do, ấm no, hạnh phúc cho đồng bào làm mục đích hướng tới, đạt tới. Đây thực chất là những cống hiến to lớn của Hồ Chí Minh đối với việc bảo vệ và phát triển triết học Mác – Lênin trong điều kiện lịch sử mới, nhất là việc phát triển chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Những cống hiến của Hồ Chí Minh trong phát triển triết học Mác -Lênin là tư tưởng về giải phóng dân tộc, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Thực ra, hai khái niệm này đều được Hồ Chí Minh dùng cùng một nội hàm như nhau. Đối với Hồ Chí Minh, thực tế không đối lập với thực tiễn, nó chỉ rộng hơn thực tiễn mà thôi. Khi bàn về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn với tư cách là một nguyên tắc cơ bản của triết học Mác -Lênin, Hồ Chí Minh dùng khái niệm thực tiễn, liên hệ lý luận với thực tiễn thì Người thường dùng khái niệm thực tế thay cho thực tiễn. Ngày nay, trong đời sống hàng ngày, khái niệm thực tiễn và thực tế được nhân dân ta hiểu và sử dụng cùng nghĩa (xem Từ điển Tiếng Việt 1991). Trong thế giới quan triết học của Hồ Chí Minh, vấn đề con người chiếm vị trí hết sức quan trọng. Phương pháp tiếp cận và giải quyết vấn đề con người ở Hồ Chí Minh không phải là chung chung, trừu tượng, phi lịch sử như trong triết học nhân bản mà là con người hiện thực, con người lao động “đồng bào tôi”. Trọn đời mình, Người phấn đấu, hy sinh là nhằm mục đích đem lại độc lập, tự do, cơm no, áo ấm cho đồng bào. Chủ nghĩa nhân văn hiện thực cao cả của Hồ Chí Minh thể hiện ở lòng thương yêu con người, tôn trọng, tin tưởng ở nhân dân, coi sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân, vì dân. Có thể khái quát tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là sự kết hợp sáng tạo đạt đến sự nhuần nhuyễn giữa tư duy triết học Mác – Lênin mà cốt lõi là tư duy biện chứng duy vật trong sự hoà quyện với tư duy duy triết học và văn hoá phương Đông, phương Tây, tư duy, trí tuệ, văn hoá dân tộc Việt Nam và phong cách Hồ Chí Minh. Nhờ đó, Người đã tìm ra bản chất, quy luật và hình thành nên hệ thống luận điểm về chủ nghĩa thực dân, về cách mạng giải phóng dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội …có những quyết định đúng đắn, sáng tạo, đảm bảo cho cách mạng Việt Nam giành thắng lợi. Từ quan niệm trên, có thể thấy tư tưởng triết học Hồ Chí Minh có một số đặc trưng cơ bản như sau:

Trước hết, tư duy triết học Hồ Chí Minh là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính khoa học và tính cách mạng, giữa lập trường, quan điểm và phương pháp nhận thức, hành động. Sự kết hợp này vừa là đặc trưng tư duy triết học Hồ Chí Minh vừa là nguyên tắc của Hồ Chí Minh nhận thứ và hành động. Thể hiện sự nhất quán trong tư tưởng triết học của Người. Tư duy triết học Hồ Chí Minh là tư duy độc lập, sáng tạo, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, suy nghĩ và hành động, giữa lời nói và việc làm thể hiện sự hoàn chỉnh chu kỳ vận động: từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn hoạt động cách mạng Việt Nam. Tư duy triết học Hồ Chí Minh được thể hiện bằng ngôn ngữ trong sáng, giản dị, phổ thông, dễ hiểu, dễ xâm nhập vào quần chúng. Có thể coi đây là đặc trưng đặc sắc, độc đáo của tư duy triết học Hồ Chí Minh.

Việc nắm vững thực chất phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin và truyền thống triết học phương Đông, nắm vững ngôn ngữ của quần chúng nhân dân và quan hệ mật thiết với họ đã giúp Người diễn đạt tư tưởng triết học duy vật biện chứng vốn là tư duy khoa học, có hàm lượng trí tuệ cao, có sự trừu tượng hoá và khái quát cao, sâu sắc trở nên phổ thông, dễ hiểu mà vẫn giữ được bản chất khoa học, cách mạng của nó. Nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, xuyên suốt tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là xuất phát từ hiện thực khách quan, tôn trọng quy luật khách quan: Nắm vững quan điểm thực tiễn và thực hiện đúng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn; giải quyết mọi việc phải toàn diện, nhấn mạnh trọng điểm và lấy hiệu quả làm mục đích; xem xét sự việc trong sự phát triển, thực hiện “dĩ bất biến, ứng vạn biến”; giải quyết mọi việc đều vì con người, do con người, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân.

Phương pháp luận Hồ Chí Minh là phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử. Về thực chất, đó là phép biện chứng Hồ Chí Minh, là phương châm xem xét và hành động khoa học được Hồ Chí Minh đúc kết từ sự tiếp thu, kế thừa, vận dụng sáng tạo và bổ sung, phát triển phép biện chứng duy vật mác-xít, kết hợp với kế thừa truyền thống tư duy dân tộc, tư duy triết học phương Đông và thực tiễn giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam. Khái quát lại, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là hệ thống những quan điểm, quan niệm duy vật biện chứng về con đường cách mạng Việt Nam, thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, không kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa nhằm xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc hệ tư tưởng Mác – Lênin, bao quát nhiều lĩnh vực rộng lớn và phong phú mà nền tảng của nó là tư tưởng triết học. Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh không chỉ là sự tiếp thu, vận dụng sáng tạo triết học Mác – Lênin mà còn có sự phát triển Triết học Mác – Lênin, nhất là một số vấn đề về chủ nghĩa duy vật lịch sử, nhờ đó Hồ Chí Minh đã góp phần làm phong phú, giàu có thêm kho tàng lý luận Mác – Lênin nói chung, triết học Mác – Lênin nói riêng. Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học cách mạng, là linh hồn, ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong suốt hơn nửa thế kỷ qua. Cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà hạt nhân là thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng luôn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và nhân dân ta.

Theo cpv.org.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chiến lược Hồ Chí Minh về đào tạo người cán bộ, công chức

Chúng tôi cho rằng những chủ trương của Hồ Chủ tịch liên quan đến xây dựng và rèn luyện cán bộ, trong đó có việc đào tạo kiến thức và rèn luyện phẩm chất cán bộ của Người mang tính chiến lược. Nhưng trong toàn bộ di sản của Người hầu như không dùng từ “chiến lược” trong các giáo huấn cũng như các hoạt động của người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước. Vậy vấn đề xây dựng đội ngũ ở tầm chiến lược thể hiện như thế nào? Xin được nêu lại mấy giáo huấn sau đây của Người cho thấy tầm chiến lược của vấn đề này:

Đưa sự hiểu biết của người dân trong đó có cán bộ ở tầm “quốc hồn” của dân tộc khi Người nói: Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, nếu muốn không dốt thì phải học, học liên tục, học suốt đời để dân tộc đó có trí tuệ bền vững, nghĩa là việc học là việc chiến lược, liên tục, lâu dài;

Một trong những việc làm đầu tiên trong hoà bình kiến quốc là việc học để “diệt giặc dốt”. Coi việc học của công dân như là việc đánh giặc rõ ràng là vấn đề đó được đặt ở tầm quốc sách, chiến lược!

Một trong những đánh giá tiêu chuẩn cán bộ rất đơn giản nhưng cũng đầy bao quát về người cán bộ cũng mang tầm chiến lược dùng người và rèn luyện nhân cách: Tiêu chuẩn tài và đức. Tài mà thiếu thì khó làm mọi việc, đức thiếu thì vô dụng. Phẩm chất của công chức chính là vấn đề chiến lược của Đảng và Chính phủ trong việc cải cách nhà nước và đổi mới hệ thống chính trị.

Chúng tôi dùng chữ “chiến lược” để nhận thức vấn đề đào tạo và xây dựng đội ngũ trong tư tưởng Hồ Chí Minh từ cơ sở nhận thức như vậy.

Có thể nói những giáo huấn Hồ Chí Minh liên quan đến yêu cầu nâng cao sự hiểu biết về chuyên môn nghiệp vụ, rèn luyện chuyên môn đa phần nhằm vào công việc của người cán bộ trong bộ máy hành pháp. Thực ra, ở giai đoạn này những khi Hồ Chủ tịch đưa ra những chỉ thị giáo dục cán bộ, công chức cũng chưa phân biệt người làm việc trong bộ máy của Đảng và người làm việc trong bộ máy nhà nước. Nói cụ thể đa phần những bài nói hay viết của Người phần lớn liên quan đến đội ngũ những người làm trong bộ máy nhà nước.

Chính Hồ Chủ tịch là người Việt Nam đầu tiên chỉ ra vị trí cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước. Vì vậy Người có những lời dạy đối với đảng viên thì phần lớn là những đảng viên trong bộ máy chính quyền. Hơn nữa, ở vào thời kỳ này vấn đề phân quyền ở nước ta cũng chưa có điều kiện bàn tới như một phần của khoa học chính trị mà chỉ thể hiện trong cấu trúc thiết chế của Hiến pháp. Nhưng sự vận hành của bộ máy hành pháp là hoạt động cơ bản, bao trùm vì thời kỳ này nước ta đang trong giai đoạn của thời kỳ kháng chiến.

Vì vậy, những gì Người nói về đạo đức, về tác phong, về yêu cầu học tập của cán bộ cũng liên quan nhiều nhất đến đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy hành pháp.

Nhận xét về những chỉ giáo Hồ Chí Minh liên quan đến kiến thức, hiểu biết nói chung của cán bộ, công chức, chúng tôi thấy chúng không chỉ dừng lại như những kiến thức văn hoá, thậm chí kiến thức chuyên môn, mà còn cả những kiến thức về chính trị, đạo đức, nhân văn. Muốn có kiến thức phải học tập. Việc học diễn ra trong nhà trường, ở cơ quan, đoàn thể, ở trong xã hội và trong nhân dân…

Xin nêu một số chủ đề dưới đây:

Học để phụng sự Tổ quốc và nhân loại; phụng sự nhân dân và phụng sự giai cấp. Đó là yêu cầu chính trị vừa là sứ mệnh của công dân trước Tổ quốc, vừa là trách nhiệm của một con người trước nhân loại. Người phụng sự trực tiếp cho Tổ quốc chính là người làm việc trong bộ máy công quyền, là những cán bộ và công chức. Mỗi cá nhân là thành viên của một nhà nước và mỗi quốc gia là một tế bào tạo nên thế giới của nhân loại.

Với sự thấm nhuần giữa quốc gia, dân tộc với những nguyên lý mác xít về sứ mệnh chung của mỗi thành viên đối với sự tiến bộ nhân loại, những giáo huấn của Người thường không dừng lại ở quan hệ của mỗi cá nhân đối với Tổ quốc và còn mở rộng thành quan hệ trong một thế giới đồng loại.

Vì thế, khi đề cập mục đích học tập để phục vụ Tổ quốc thì Người nhấn mạnh trong mối quan hệ với mục tiêu cho nhân loại (Hồ Chí Minh, Toàn tập, T.5, Tr.684). Nếu chỉ nói ở cương vị một người đứng đầu nhà nước phải chăng Người đề cập trách nhiệm công dân trước Tổ quốc là đủ và nói tới nhân loại là nói theo tinh thần vô sản quốc tế Mác – Lê-nin? Theo chúng tôi đúng là như vậy.

Đối với một quốc gia, Hồ Chủ tịch đã nói: Một dân tộc dốt là dân tộc yếu (T.4, Tr.8). Như thế một thế giới gồm nhiều quốc gia thất học thì thế giới đó không thể có nhiều tiến bộ được.

Nếu từ đó mà liên hệ tới giáo huấn của Người về việc học để phụng sự Tổ quốc và nhân dân cũng có thể khẳng định rằng, một nền hành chính gồm những người cán bộ, công chức dốt thì không thể hoàn thành bổn phận công bộc cho dân được, không thể tạo ra sức mạnh của bộ máy nhà nước được…

Học để làm cán bộ, để làm việc

Có thể nói, đây chính là giáo huấn giành riêng cho cán bộ, công chức và đoàn thể. Tư tưởng về sự cần thiết phải học tập để có kiến thức cho mỗi con người nói chung và cho những người công bộc của dân nói riêng xuất phát từ mấy quan điểm cơ bản:

Xã hội nào cần con người thích hợp cho nó; muốn có chủ nghĩa xã hội cần có con người xã hội chủ nghĩa; muốn vậy phải là người có học người cán bộ là người cần học trước hết (để phụng sự nhân dân và để giúp dân chống sự dốt nát đó là một loại giặc ở bên trong của quốc gia).

Nói theo hiệu quả của công việc, cán bộ tốt là vốn liếng của đoàn thể (cán bộ, công chức tốt càng là vốn liếng của Nhà nước và của dân tộc, quốc gia); không có cán bộ tốt thì hỏng việc. Tốt là một phạm trù bao gồm hai phẩm chất hồng và chuyên… Nếu chỉ có hồng mà không có chuyên thì làm việc cũng khó (ngày nay có những việc nếu không học thì không thể làm được việc lớn); người tốt bụng là rất đáng quý nhưng Người cho rằng như thế là chưa đủ vì làm cán bộ là làm việc chứ không làm “Ông Bụt”!

Học là một công việc trau dồi kiến thức. Nhưng học không có nghĩa là chỉ học ở nhà trường. Trong điều kiện đất nước còn khó khăn của những năm kháng chiến gian khổ, việc học lại càng khó khăn hơn. Từ thực tiễn của việc học và điều kiện khó khăn của nước nhà, Hồ Chủ tịch đã chỉ cho mọi người thấy phương pháp để có thể học được, đó là:

Học ở trường học ở sách vở (đại học thì làm gì, trung học, tiểu học thì làm gì, Hồ Chí Minh, Toàn tập, T.9, Tr.509).

Học ở nhân dân, Người nói thế giới ngày nay đổi mới, nhân dân ngày càng tiến bộ, nếu cán bộ, công chức không học thì thành ra lạc hậu, vậy phải học để “tiến bộ đuổi kịp nhân dân” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, T.8, Tr.215).

Cán bộ, công chức phải tự học và tự mình học lấy những cái mới mỗi người cần phải rèn luyện và coi việc học như một nhu cầu (của sự hứng thú và của công việc). Vì vậy, Người nói người học phải “học không biết chán” (còn người dạy thì “dạy không biết mỏi”).

Thật là đúng đắn và khoa học, vì rằng chẳng có dân tộc nào mà ở đó việc học ở trường là công việc suốt đời, những đời người thì sự hiểu biết luôn ở phía trước. Không ai là người bình thường lại có thể nói việc học đối với họ là kết thúc vì không còn gì là họ không thành thạo!

Cho nên tự học không những là phương pháp mà còn là phương châm của hành động. Hồ Chủ tịch nói: Lấy tự học làm cốt; sắp xếp thời gian và bài học cho khéo (cho hợp lý – N.H.Kh), không phải có thầy thì học (Hồ Chí Minh, Toàn tập, T.5, Tr.273). Ngày nay, cán bộ, công chức được hưởng những điều kiện hoàn toàn mới: được ưu đãi về thời gian, được giành ngân sách cho học tập, được lượng hoá kiến thức trong lộ trình thăng tiến đã nói lên rằng: học là một phần trong đời công vụ của công chức và vấn đề học mà Hồ Chủ tịch kêu gọi thực sự là vấn đề chiến lược.

Thực tiễn cũng là trường học. Nguyên lý của việc học đã được Hồ Chí Minh đúc kết và giáo dục cán bộ: học phải đi đôi với hành (Hồ Chí Minh, Toàn tập, T.9, Tr.294; T.6, Tr.50; T.5, Tr.235). Để tránh sự giáo điều, sách vở của những người chỉ thuần tuý ham chữ, Người cho rằng nếu chỉ có lao động trí óc mà không có lao động chân tay thì chẳng khác nào người ta bị “bán thân bất toại” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, T.9, Tr.174); tách rời thực tế thì người có học chỉ như “cái hòm đựng chữ” mà thôi (Hồ Chí Minh, Toàn tập, T.5, Tr.234).

Để phòng ngừa bệnh kiêu ngạo của một số người được học Người đã chỉ ra những căn bệnh của người có học: xa rời thực tiễn, nói thì cái gì cũng thông nhưng động vào thực tiễn (những tình huống cụ thể) thì lại lúng túng như từ “trên trời rơi xuống”! Người nói rằng những người vì có ít chữ mà đã cho là trí thức thì chưa phải là “trí thức hoàn toàn”, nếu ai coi thường, khinh rẻ lao động thì chúng ta “kiên quyết chống lại”.

Chúng tôi xin dẫn một số quan điểm còn rất thời sự mà Hồ Chủ tịch phát biểu tại Hội nghị Giáo dục toàn quốc năm 1948 (1):

Phải sửa đổi triệt để chương trình giáo dục cho phù hợp với sự nghiệp kháng chiến kiến quốc. Đây có phải là quan điểm giáo dục phải đáp ứng nhu cầu của xã hội? Theo chúng tôi đúng là như vậy. Quan điểm này thể hiện rõ trong giáo dục đào tạo và bồi dưỡng đối với đội ngũ cán bộ, công chức.

Qua thực tiễn những năm vừa qua, chúng tôi thấy quan điểm của Hồ Chủ tịch còn rất có ý nghĩa thực tiễn cho việc đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hiện nay là:

Không thể cứ dạy theo kiểu người dạy cứ nói, người nghe cứ nghe. Người dạy không giải đáp được những vấn đề của thực tiễn khi người học có câu hỏi muốn làm rõ. Vì vậy, chương trình cũ, không phù hợp cần phải thay thế hoặc sửa đổi một cách phù hợp với thời kỳ đổi mới; đổi mới giai đoạn đầu (giai đoạn hội nhập trên “giấy”) phải phù hợp với giai đoạn tiếp theo (giai đoạn hội nhập thực tế).

Chúng ta phải sửa đổi cách dạy. Cách dạy ở đây bao hàm cả cách dạy của giáo giới và cách dạy theo đối tượng: Dạy ai cái gì và ai đi học cái gì? Có nên tiếp tục hay kéo dài việc đào tạo công chức theo kiểu “tiền bổ” như hiện nay, nghĩa là một người giữ chức vụ rồi (do bầu hay do bổ nhiệm) mới “cắp sách đi học”?

Thực tiễn giáo dục và đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân cũng như trong hệ thống công vụ hành chính đang trở thành vấn đề rất đáng quan tâm. Đó là sự cách biệt giữa cái học trong nhà trường và cái cần ngoài xã hội.

Phải đào tạo cán bộ mới và giúp đỡ cán bộ cũ. Đây là quan điểm có thể sát hợp với quan điểm chuẩn hoá kiến thức cho cán bộ, công chức trong đó có những người của bộ máy hành chính. Giúp đỡ theo chúng tôi chính là bồi dưỡng cập nhật kiến thức cho những cán bộ, công chức khi có những chính sách hay tình huống mới của quản lý đặt ra.

Nước ta đã từng tồn tại chế độ “hậu bổ”, nghĩa là một người học đáp ứng với tiêu chuẩn quy định cho một chức vụ thì mới được bổ nhiệm vào chức vụ (Tất nhiên cũng không thể cực đoan việc học một lần là xong, mà cần có sự bồi dưỡng có tính cập nhật. Việc này hoàn toàn khác với tình hình hiện nay là có người được bầu hay bổ nhiệm vào chức vụ lại phải đi học để có một bằng cấp cao hơn kiến thức họ có).

Vận dụng như thế nào?

Trong thời kỳ đổi mới với bao khó khăn và thử thách từ nhiệm vụ kinh tế – xã hội, an ninh và quốc phòng. Thực tiễn kinh tế – xã hội và những tình huống chiến lược cũng như những nhiệm vụ cụ thể nhiều khi chúng ta tỏ ra bế tắc chỉ vì việc học. Bế tắc không phải chúng ta không chú ý đến việc học tập đối với nền giáo dục quốc dân và đối với bộ máy nhân lực của Chính phủ chúng ta cũng đã làm được rất nhiều việc.

Nếu không, làm sao chúng ta đứng vững cho đến ngày nay với một nhà nước độc lập tự chủ, kinh tế phát triển đều đặn, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện. Vì vậy, xin được miễn nói những gì là thành tựu. Chỉ xin nói thêm về những thực trạng cần có đổi mới trong việc học tập cho cán bộ và công chức từ giáo huấn Hồ Chí Minh:

Chưa có chương trình cụ thể để gắn việc học với điều kiện của thực tiễn. Làm cái gì thì học cái đó trước, cái đó nhiều, cái đó suốt đời. Đưa người đã học vào bộ máy công chức là chính, lấy người chưa học là phụ (tránh tình trạng hiện nay: sinh viên thất nghiệp, công chức đi học tại chức!).

Đưa thực tiễn vào tất cả các khâu: phân bổ thời gian; bố trí con người “dạy thực tiễn” (như dạy sinh viên hành chính là trưởng phó phòng, chủ tịch, phó chủ tịch, dạy tiếp dân…).

Tiếp cận cách thức đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức trong nước với thế giới để tránh tình trạng bất cập có thể có: một bên là Việt Nam và một bên là thế giới còn lại!

Thiết nghĩ một trong những điều mà giáo huấn Hồ Chí Minh trở thành tư tưởng Hồ Chí Minh chính là giá trị “đi cùng thời đại” của những giáo huấn đó.

(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, T.5, Tr.462.

Theo PGS. TS. Nguyễn Hữu Khiên
Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Tâm trang (st)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh: Đặc sắc chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

Bác Hồ đọc tấm bia "Côn Sơn Tư Phúc tự bi” tại chùa Côn Sơn tỉnh Hải Dương, ngày 15-02-1965

“Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” (Hồ Chí Minh).

Thực đúng như vậy, nghiên cứu quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước lâu dài của dân tộc ta, có thể có đầy đủ cơ sở để đi tới một nhận định có tính khái quát: Chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại. Ở đây, bản chất Việt Nam được bộc lộ rõ ràng, đầy đủ, tập trung nhất hơn bất cứ ở lĩnh vực nào. Yêu nước đã trở thành một triết lý xã hội và nhân sinh của người Việt Nam, là đạo lý của dân tộc Việt Nam, một truyền thông sâu bền, cao đẹp, không còn dừng lại ở trình độ một nhận thức, một tình cảm, mà đã trở thành một chủ nghĩa, một lực lượng tinh thần vô cùng mạnh mẽ, có tác dụng to lớn trong việc động viên, cổ vũ mọi người dân sẵn sàng đứng lên bảo vệ Tổ quốc khi có nguy cơ xâm lược từ ngoài tới, hay kiên trì góp hết tinh thần và sức lực vào sự nghiệp dựng nước.

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam tuyệt nhiên không phải là một cái gì trừu tượng, mà là một sản phẩm đích thực của chính lịch sử Việt Nam, nó bắt nguồn từ những điều kiện cụ thể của Việt Nam, về hoàn cảnh địa lý, về khí hậu, về đời sống kinh tế, văn hóa – xã hội, về lịch sử. Cũng cần phải thấy yêu nước là một tình cảm và tư tưởng phổ biến mà dân tộc nào cũng có. Duy chỉ khác nhau là ở mỗi quốc gia, mỗi dân tộc thì tư tưởng và tình cảm yêu nước bị hình thành và phát triển trong những điều kiện không giống nhau, sớm muộn, đậm nhạt khác nhau mà thôi.

Liên hệ với nước Việt Nam chúng ta, về hoàn cảnh địa lý, nước ta ở vào một vị trí vô cùng quan trọng trên báo đảo Đông Dương, vào nơi tiếp xúc, ngã tư đường của vùng Đông Nam Á cả về tự nhiên và văn hóa, ở góc cực đông nam của đại lục châu Á, mặt nhìn ra biển Đông nối liền Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương. Là bao lơn của Thái Bình Dương, trên một chiều dài 3.300km, Việt Nam tuy được nối liền với lục địa bằng một mạng lưới đường giao thông thủy bộ thuận lợi, từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông, nhưng cũng tạo thành những hành lang thuận lợi cho việc thực hiện tham vọng bành trướng của các thế lực đen tối từ ngoài tới.

Về mặt khí hậu, Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nóng ẩm, nhiệt đới gió mùa, phù hợp với nghề trồng lúa nước, nhưng thường xuyên phải chống chọi hàng năm với lũ lụt, bão tố, hạn hán… Cũng là một vùng đất thống nhất trong đa dạng trên rừng, dưới biển, nằm sâu dưới đất đều chứa đựng nhiều tài nguyên phong phú và quý giá (ngọc trai, ngà voi, sừng tê, khoáng sản…) nên từ rất sớm đã phải đương đầu với các kẻ thù đầy tham vọng từ các nơi tới.

Rõ ràng trong bối cảnh đó, nhân dân Việt Nam từ rất sớm đã phải đứng trong vị thế vừa dựng nước vừa giữ nước. Lịch sử Việt Nam bắt đầu bằng một sự kiện có ý nghĩa vô cùng trọng đại là sự ra đời rất sớm của Nhà nước Văn Lang trên cơ sở hợp nhất tự nguyện của người Việt cổ (Lạc Việt và Âu Việt): “Vua Hùng đã có công dựng nước”, và nước Việt ngay từ lúc mới ra đời đã là một quốc gia có cương vực ổn định với một nền văn hóa rực rỡ, với sản phẩm trống đồng. Có thể khẳng định rằng sự xuất hiện sớm của Nhà nước Văn Lang đã tạo điều kiện rất cơ bản cho chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hình thành sớm.

Nhà nước thứ hai trong lịch sử Việt Nam là nước Âu Lạc (thống nhất giữa Tây Âu và Lạc Việt) với người thủ lĩnh kiệt hiệt là Thục Phán để chống lại sự xâm lược của nhà Tần từ phương Bắc tràn xuống, với sự kiện này đã nói rõ một đặc điểm của lịch sử Việt Nam: Bắt đầu dựng nước cũng là bắt đầu giữ nước! Tư thế chung của dân tộc ta trong lịch sử là phải luôn luôn vừa lao động xây dựng đất nước , vừa chiến đấu bảo vệ đất nước dựng nước đi đôi với giữ nước là một đặc điểm bao trùm, một quy luật cơ bản của lịch sử Việt Nam.

Đến cuối thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, vào cuối thời Văn Lang (và các vua Hùng) sang đầu thời Âu Lạc (và vua Thục) dân tộc Việt Nam đã đi vào chính sử. Và công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã được thực hiện quyết liệt và có kết quả. Vào cuối đời vua Hùng (thế kỷ 3 trước Công nguyên) đế chế Tần (Tần Thủy Hoàng) với âm mưu bành trướng xuống phía Nam đã cử 50 vạn quân xuống phía Nam để bình Bách Việt. Nhưng chúng đã vấp phải sức kháng cự quyết liệt của người Việt (cư dân Văn Lang – Âu Lạc) do Thục Phán đứng đầu đánh bại sau một cuộc kháng chiến kéo dài đến 6-7 năm trong những điều kiện vô cùng khó khăn, gian khổ, thiếu thốn đủ bề (từ 214 trước CN – 209 trước CN). Thục Phán là một thủ lĩnh người Âu Lạc đã cùng các thủ lĩnh người Văn Lang và quân dân Việt tổ chức cuộc chiến đấu, bãi chiến trường là miền rừng núi Việt Bắc và miền trung du miền Đông Bắc ngày nay. Cuối cùng nhà Tần đã phải ra lệnh bãi binh, rút hết quân ra khỏi phạm vi đất nước người Việt, cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ đầu tiên của tổ tiên ta đã giành được toàn thắng. Nước Âu Lạc là cao điểm cuối cùng của kỷ nguyên bắt đầu dựng nước và giữ nước. Sau chiến thắng oanh liệt đó, (đặc biệt là qua việc đoàn kết chiến đấu), tinh thần cố kết dân tộc trong nội bộ cộng đồng người Việt càng được củng cố và tăng cường.

Sau chiến thắng quân Tần (khoảng 208 trước CN) nhân uy tín sẵn có Thục Phán đã xưng là An Dương Vương đổi quốc hiệu là Âu Lạc, phản ánh sự hợp nhất chặt chẽ hơn giữa hai thành phần Việt tộc (Âu và Lạc) trong một chỉnh thể quốc gia, một kết cấu chính trị – xã hội cao hơn. Âu Lạc là một thể thống nhất Việt tộc có ý nghĩa là vừa thống nhất Dân tộc, vừa thống nhất Quốc gia) cao hơn Văn Lang. Thục Phán (An Dương Vương) quyết định dời đô từ Việt Trì (Phú Thọ) về ngã ba sông Đuống – sông Hồng là vùng đất Cổ Loa (huyện Đông Anh) xây thành, đánh dấu sự phát đạt của nền kinh tế vùng đồng bằng (cả về mật độ dân số, về trình độ nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp. Sự thành lập nước Âu Lạc là bước phát triển kế tục nước Văn Lang với hai thành tựu nổi bật về kỹ thuật quốc phòng (đắp thành Cổ Loa và cải tiến nỏ và tên nỏ)đáp ứng một nhu cầu bức xức chống ngoại xâm từ phía Bắc tới. Thời đại Văn Lang và Âu Lạc là thời đại văn minh Sông Hồng, thời đại các Vua Hùng và Vua Thục, một thời đại vô cùng quan trọng của lịch sử Việt Nam. Đó là thời kỳ hình thành dân tộc với nền tảng là một đời sống kinh tế chung cho toàn quốc, là thời kỳ hình thành Nhà nước đầu tiên. Đó cũng là thời đại hình thành một nền văn hóa dân tộc với một bản sắc độc đáo phi Hoa, phi Ấn với một phong cách Đông Sơn rất đặc trưng, rất điển hình và có ảnh hưởng lớn đến toàn vùng Đông Nam Á. Cộng đồng dân tộc Việt xây dựng từ đó một lối sống riêng, có một bản lĩnh vững vàng, và trên nền tảng đó đã xây dựng được một xã hội, một lối sống Việt Nam, một truyền thống Việt Nam. Đó cũng là thời kỳ hình thành ý thức dân tộc được tổng hợp từ những tình cảm gia đình, họ hàng, quan hệ đồng bào, tình làng nghĩa nước để trở thành một lòng yêu nước Việt Nam bất khả chiến bại, một ý thức về quyền sở hữu chung của dân tộc, về địa bàn đất đai, đất nước, lãnh thổ để trên nền tảng đó ý thức hệ của công cuộc giữ nước bắt đầu. Đó là kỷ nguyên bắt đầu dựng nước của dân tộc Việt Nam, mở đầu truyền thống dựng nước và giữ nước oai hùng của dân tộc, từ đó được nâng lên trình độ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.

Nhưng vào năm 183 trước CN, Triệu Đà lợi dụng tình hình phương Bắc rối loạn để xưng đế, lập nước Nam Việt, rồi đưa quân xuống phía Nam chiếm nước Âu Lạc, mở đầu một thời kỳ mất nước kéo dài hơn ngàn năm, là một thời kỳ thử thách lớn lao đối với sức sống của dân tộc với âm mưu đồng hóa toàn diện và triệt để của kẻ thù. Nhưng dân tộc Việt Nam đã nêu cao tinh thần bất khuất, kiên cường, bền bỉ đấu tranh để bảo tồn cuộc sống, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, quyết giành lại độc lập dân tộc. Các cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đánh Hán, Triệu Thị Trinh chống Ngô, Lý Bí chống Lương dựng nên nước Vạn Xuân, Triệu Quang Phục đánh đuổi quân thù ra khỏi bờ cõi, nhưng đến đầu năm 603 sau CN lại bị phong kiến phương Bắc đô hộ. Bất chấp tình hình bất lợi, phong trào khởi nghĩa vẫn bùng nổ liên tục, trên khắp mọi miền đất nước. Đến đầu thế kỷ 10 (905), Khúc Thừa Dụ đánh thắng quân phong kiến nước ngoài, xây dựng một chính quyền tự chủ. Năm 930, nhà Nam Hán sang xâm chiếm, Dương Đình Nghệ lại đánh bại chúng giành lại quyền tự chủ. Đến cuối năm 938 Ngô Quyền phá tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng kết thúc oanh liệt thời kỳ mất nước kéo dài hơn 1.000 năm. Một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc bắt đầu. Ngô Quyền lên ngôi vua, đóng đô ở Cổ Loa, đánh dấu một bước phát triển mới của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.

Sau khi Ngô Quyền mất, chính quyền trung ương bị tan rã, các thế lực phong kiến chia nhau hùng cứ các phương và tranh giành nhau quyết liệt, tạo nên thế 12 sứ quân cát cứ các địa phương. Yêu cầu cấp thiết của lịch sử lúc đó là phải khôi phục sự thống nhất của nước nhà. Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế (năm 968), đóng đô ở Hoa Lư, lập quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Từ đó, trải qua các triều Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, suốt trong năm thế kỷ (từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 15), quốc gia thống nhất ngày càng được củng cố, công cuộc xây dựng đất nước được tiến hành trên quy mô lớn, đặt nền tảng vững chắc và toàn diện cho sự phát triển của dân tộc và của Nhà nước phong kiến độc lập, việc dựng nước gắn liền với giữ nước. Nhưng cũng trong năm thế kỷ đó, không có thế kỷ nào dân tộc ta không phải chống ngoại xâm, thế kỷ 13 phải tới ba lần chống Nguyên – Mông. Đến thế kỷ 15, nhà Trần đổ nát và bị nhà Hồ thay thế. Nhưng cuộc kháng chiến do Hồ Quý Ly đứng đầu đã nhanh chóng thất bại vì không phát huy được sức mạnh vĩ đại của dân tộc để chống giặc giữ nước. Phong trào yêu nước dâng lên mạnh mẽ, lôi cuốn mọi tầng lớp, mọi thành phần, phát triển rộng khắp dần quy tụ vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi đứng đầu.

Sau 10 năm chiến đấu (1418-1428), với thắng lợi của cuộc kháng chiến, nền độc lập dân tộc được khôi phục và giữ vững, âm mưu xâm lược của kẻ thù bị đánh bại hoàn toàn. Tình hình đó tạo ra những điều kiện rất thuận lợi để củng cố và xây dựng đất nước. Nhưng đến thế kỷ 16, nhân triều Lê suy yếu, các phe phái phong kiến (Mạc, Trịnh, rồi Trịnh – Nguyễn) xung đột nhau. Đất nước bị chia cắt trên 200 năm. Trong sự phát triển như vũ bão của nông dân khởi nghĩa mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn vào cuối thế kỷ 18, dưới sự lãnh đạo của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ, dân tộc ta đã đánh thắng cả thù trong và giặc ngoài (1789). Sau chiến thắng, Vua Quang Trung cương quyết tiến hành xây dựng đất nước. Công cuộc phục hồi và phát triển kinh tế của Quang Trung đang mang lại những kết quả bước đầu đầy hứa hẹn thì ông đã bị bạo bệnh và mất đột ngột để tới năm 1802 chế độ quân chủ chuyên chế nhà Nguyễn lại được thiết lập trên cả nước.

Thời kỳ này chế độ phong kiến Việt Nam đã bước vào giai đoạn khủng hoảng suy vong. Phong trào nông dân khởi nghĩa tiếp tục lan tràn, chỉ trong vòng nửa thế kỷ đầu của triều Nguyễn đã có tới trên 300 cuộc khởi nghĩa nông dân lớn và nhỏ. Tới giữa thế kỷ 19, vận mạng dân tộc ta đứng trước một thử thách mới vô cùng nghiêm trọng là sự xâm lăng của tư bản Pháp. Lịch sử Việt Nam cũng chuyển sang một trang mới, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam phát triển theo những khuynh hướng mới. Chính Đảng vô sản ra đời (ngày 3-2-1930) tạo nên một bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Từ đây Cách mạng Việt Nam đi vào quỹ đạo của thời đại. Chủ nghĩa yêu nước lúc này là chủ nghĩa yêu nước của nhân dân, không bị hạn chế, biến chất bởi chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi, chủ nghĩa sô vanh tư sản, phong kiến. Chính trong thời kỳ Đảng lãnh đạo, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam càng có những điều kiện vô cùng thuận lợi để phát triển. Yêu nước ngày nay là kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp hài hòa với chủ nghĩa quốc tế vô sản chân chính, là đem hết nhiệt tình, trí tuệ và tài năng để xây dựng Tổ quốc theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trước mắt là xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh trên tinh thần hòa bình, hữu nghị và hội nhập, cùng nhau phát triển.

Để kết luận, có thể khẳng định chủ nghĩa yêu nước là động lực, là chìa khóa của lịch sử Việt Nam, đoàn kết yêu nước là sức mạnh vô địch của dân tộc. Về vấn đề này, có thể vận dụng bài học của Bác Hồ về yêu cầu khai thác, phát triển lòng yêu nước, cũng được trình bày trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần thứ II của Đảng (1951):

“Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý. Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm. Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày. Nghĩa là phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến”./.

Theo GS. Đinh Xuân Lâm
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Thời đại Hồ Chí Minh sinh ra trước hết từ chủ nghĩa yêu nước

Thời đại Hồ Chí Minh - thời đại mới của dân tộc Việt Nam

Lợi dụng thời cơ ngàn năm có một, nuôi dưỡng và phát động tinh thần dân tộc, Đảng Cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh, đã lãnh đạo nhân dân trên cả nước làm cuộc Cách mạng Tháng Tám thắng lợi.

Chiều 2-9-1945, tại vườn hoa Ba Đình, thay mặt Chính phủ Lâm thời, Hồ Chủ tịch đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc – kỷ nguyên độc lập, tự do. Thời đại mới mở ra từ đây. Thời đại đó được gọi theo tên người khai sinh ra nó – thời đại Hồ Chí Minh.

Thời đại Hồ Chí Minh sinh ra trước hết từ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, từ tinh thần dân tộc Việt Nam, được nuôi dưỡng và thăng hoa bằng tinh thần dân tộc hay như chính Hồ Chí Minh đã từng ý thức: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”.

Nhưng “cây muốn lặng, gió chẳng đừng”. Nhân dân Việt Nam sung sướng hưởng sự độc lập và tự do chưa được bao lâu thì thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Ngày 23-9-1945, nhân dân Sài Gòn, thay mặt nhân dân cả nước, đứng dậy chiến đấu bảo về nền độc lập dân tộc vừa mới giành được. Hành trình dân tộc đến với độc lập, tự do, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất Tổ quốc bắt đầu từ đây, vắt qua hai cuộc kháng chiến vĩ đại, hết chống Pháp đến chống Mỹ, ròng rã trong ngót 30 năm mới tới đích.

Cả nước vừa chống giặc đói, giặc dốt vừa dốc sức bằng phong trào “Nam tiến” chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam chống ngoại xâm. Thế và lực chúng ta lúc đó còn chênh vênh và mỏng nên không thể ngăn chặn được quân thù, song cũng đã kịp làm một số việc lớn chưa từng có trong lịch sử: Tổng tuyển cử bầu những người đại diện của mình vào Quốc hội, thành lập Chính phủ mới và thông qua Hiến pháp năm 1946. Hào khí Cách mạng Tháng Tám được phả vào đây một cách sống động và tự nhiên mà sau đó các thế lực chống đối muốn chối bỏ cũng không thể nào làm được bởi tính hợp pháp, hợp hiến của nó.

Rồi giặc Pháp trở lại Hà Nội hợp sức với các thế lực thù địch khác và dùng mọi thủ đoạn, quyết tâm tiêu diệt Chính phủ Hồ Chí Minh, cũng tức là muốn đánh sập ý chí độc lập tự do của dân tộc ta. Đại diện cho ý chí của toàn dân tộc, Hồ Chủ tịch dõng dạc tuyên bố lời thề chém đá “Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Quân dân Hà Nội chiến đấu cầm chân giặc cho cuộc rút lui chiến lược của Chính phủ Hồ Chí Minh lên Việt Bắc tổ chức kháng chiến không cân sức tựa như “châu chấu đá voi”. Cả nước theo tiếng gọi của Hồ Chí Minh, bỏ lại phía sau những cánh đồng xanh ngát, kinh thành bốc cháy, ra bưng biền, lên rừng núi đánh giặc trường kỳ. Người Hà Nội hào hoa dứt khoát “ra đi, đầu không ngoảnh lại”. Công nhân nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo “xẻ” nhà máy thành những bộ phận nhỏ, gồng gánh, mang vác đưa lên chiến khu dựng lại tiếp tục sản xuất, phục vụ kháng chiến. Những chí sĩ như Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại…, những trí thức như Nguyễn Văn Tố, Hoàng Đạo Thúy… cả những trí thức lớn từ Pháp mới về như Trần Đại Nghĩa, Tôn Thất Tùng… các văn nghệ sĩ như Văn Cao, Nguyễn Huy Tưởng… lên chiến khu, tham gia dựng lại cơ đồ, mở mang sự nghiệp. Thủ đô kháng chiến Tân Trào, Thái Nguyên, Tuyên Quang thắp sáng niềm tin cho toàn dân tộc: “Ở đâu đau đớn giống nòi/ Trông lên Việt Bắc mà nuôi chí bền”. Một lần nữa, sự cố kết dân tộc, tinh thần dân tộc được đẩy lên cung bậc cao nhất: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công!”.

Sau hơn bốn năm xây dựng, tích trữ lực lượng, Thu – Đông 1950, quân đội ta xông trận. Thắng lớn, cánh cửa biên giới thông thương với các nước trong phe dân chủ, với thế giới mở toang. Cuộc phá vây ngoạn mục đã hoàn thành trên thực tế (Trên bình diện ngoại giao, từ tháng 1-1950 bởi sự công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam của Trung Quốc, Liên Xô…). Thế và lực chúng ta vững hơn, mạnh lên. Từ đó, chúng ta chủ động trên chiến trường, khiến quân Pháp điều binh khiển tướng chạy theo như đèn cù, hết Tây Bắc đến Thượng Lào… và cuối cùng gom quân Pháp tại lòng chảo Mường Thanh và giáng trận Điện Biên “chấn động địa cầu”, buộc Pháp ngồi vào bàn Hội nghị Giơnevơ. Ta chưa được toàn vẹn lãnh thổ, nhưng ta đã có được nửa nước, đặc biệt Hà Nội – mảnh đất nghìn năm văn hiến, Thủ đô muôn đời – đã về với ta. Cũng trên Quảng trường Ba Đình sang sảng tiếng Bác đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày nào, giờ đây, ngày 1-1-1955, Chính phủ kháng chiến Hồ Chí Minh ra mắt và chào nhân dân Thủ đô sau hơn tám năm kháng chiến ở rừng núi. Hào khí Thăng Long – Hà Nội hội tụ với hào khí thắng giặc Pháp trở thành âm hưởng chủ đạo của thời đại. Châu Á, Châu Phi và Mỹ La tinh luôn vang mãi một cụm từ bất tử: “Việt Nam – Điện Biên Phủ – Hồ Chí Minh – Võ Nguyên Giáp”.

Ở miền Nam, Pháp đi, Mỹ tới. Chính quyền Sài Gòn do Mỹ dựng lên phá hoại Hiệp định Giơnevơ, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước chúng ta. Chúng tàn sát những người yêu nước, những người kháng chiến cũ bằng Luật 10/59 tàn bạo, bằng máy chém, bằng cực hình, bằng lao tù. Những vụ tàn sát Vĩnh Trinh, Phú Lợi thức tỉnh lương tri, kêu gọi hành động khẩn cấp. Cả nước một lần nữa “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai” và cùng với phong trào “Đồng Khởi” miền Nam tạo thành khúc dạo đầu của bản giao hưởng chống Mỹ, cứu nước, không chỉ lay động trái tim, khối óc toàn dân tộc ta, mà còn thức tỉnh lương tri nhân loại. Hai con đường huyền thoại trên bộ, trên biển (Đường Hồ Chí Minh xuyên Trường Sơn với những con đường nhánh có độ dài trên 7 nghìn km, Đường Hồ Chí Minh trên biển khởi đầu từ bến Vạn Hoa, Đồ Sơn, Hải Phòng) hình thành, chi viện sức người sức của cho chiến trường miền Nam. Quân và dân miền Nam lần lượt đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” bằng trận Ấp Bắc, Bình Giã, đánh thắng chiến lược “Chiến tranh cục bộ” bằng cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 và buộc Chính quyền Washington ngồi vào bàn Hội nghị Pari tháng 5-1968. Cục diện chiến tranh xoay chuyển, vừa đánh vừa đàm, có lợi cho ta. Nếu như Hội nghị Giơnevơ năm 1954, chúng ta bị sức ép từ nhiều phía nên thắng lợi không như ta mong muốn thì tại Hội nghị Pari này, ta chủ động và tự quyết định hoàn toàn vận mệnh của Tổ quốc ta bằng sự kết hợp khéo léo sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại.

Các quyết định ở bàn Hội nghị Pari, lúc hai bên, lúc bốn bên, đều tùy thuộc ở chiến trường. Những nhà ngoại giao Xuân Thủy, Lê Đức Thọ, Nguyễn Thị Bình dựa vào nền tảng tựa như bàn thạch từ những chiến thắng quân sự trên cả hai chiến trường Nam, Bắc mà ung dung ngồi vào bàn đàm phán. Trên chiến trường miền Nam, quân dân ta đã thắng lớn trong chiến dịch Đường 9 – Nam Lào, chiến dịch Trị – Thiên Xuân – Hè 1972. Ở miền Bắc, quân dân ta với trí thông minh và lòng quả cảm đã đánh thắng cuộc chiến tranh phá họai bằng không quân và hải quân tàn bạo của đế quốc Mỹ với tham vọng ngông cuồng của tướng Curtis Emerson Le May “đưa người Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá”. Và cuối cùng, bằng sức mạnh của tinh thần Việt Nam, quân dân ta đã giăng lưới thép tầng thấp, tầng trung, tầng cao “vít cổ” pháo đài bay B52 mà chính quyền Mỹ đem ra hù dọa những kẻ yếu bóng vía trên thế giới vào những ngày tháng Chạp năm 1972 trên đất Hà Nội mà thế giới biết tới là “Trận Điện Biên Phủ trên không”. Hoa Kỳ đã hết “vở”, buộc phải trở lại Hội nghị Pari và ngày 27-1-1973, Kítsinggơ, Cố vấn an ninh, sau trở thành Ngoại trưởng Hoa Kỳ, phải cầm bút ký vào bản Hiệp định Pari, công nhận nền độc lập, toàn vẹn lãnh thổ của chúng ta và rút hết quân đội Mỹ và chư hầu về nước.

Chính sách đối ngoại hai bước của Hồ Chí Minh đã được toàn Đảng, toàn Quân, toàn Dân thực hiện trọn vẹn. Bước 1: “Đánh cho Mỹ cút”. Bước hai: “Đánh cho ngụy nhào”, được khởi động thận trọng, nhưng khẩn trương chuẩn bị mọi điều kiện cho cuộc vùng dậy cuối cùng. Chiến dịch Phước Long cuối năm 1974 như chiến dịch trinh sát chiến lược, chúng ta toàn thắng. Thắng lợi Phước Long trùng vào lúc Hội nghị Bộ Chính trị đang họp nên Bộ Chính trị coi cả năm 1975 là thời cơ, nhưng chín muồi lúc nào là cơ hội lúc đó để tiến hành bước hai – đánh cho ngụy nhào, giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất Tổ Quốc như khát vọng của toàn dân tộc, của lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Bước hai được ấn nút vào tháng Ba, “mùa con ong đi lấy mật” ở Tây Nguyên bằng cuộc tấn công vào Buôn Mê Thuột. Buôn Mê Thuột thất thủ, Tây Nguyên “nóc nhà của Đông Dương” bị bỏ ngỏ. Thừa thắng xốc tới, ta mở chiến dịch Huế – Đà Nẵng với khí thế “thần tốc, thần tốc… một ngày bằng hai mươi năm” của Quân ủy Trung ương. Thế và lực của ta mạnh hơn bao giờ hết. Các đoàn quân chiến thắng với năm mũi tiến công, đang túc trực trước cửa ngõ Sài Gòn, chờ lệnh. Thời cơ chín muồi cho cuộc xung trận cuối cùng đã xuất hiện. Chiến dịch mang tên Hồ Chí Minh tiến công vào dinh lũy cuối cùng của chính quyền Sài Gòn, bắt đầu. Trưa ngày 30-4-1975, lá cờ Giải phóng của ta đã phấp phới bay trên nóc Dinh Độc lập. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, miền Nam đã hoàn toàn được giải phóng. Năm 1976 hai miền Nam Bắc thống nhất, non sông về trong một mối sau 21 năm chia cắt.

Như Hồ Chí Minh, người khai sinh nền cộng hòa dân chủ, đã từng nói (đại ý): Nước độc lập mà dân không được ăn no, mặc ấm, không được học hành thì độc lập không có nghĩa lý gì. Và trong những ngày gồng mình đánh giặc, Hồ Chí Minh đã nói tới viễn cảnh: Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Sau hơn 13 năm thử nghiệm, tìm tòi, cuối cùng, năm 1986, Đảng ta đã tìm thấy con đường ấm no, hạnh phúc và giàu mạnh của dân tộc bằng công cuộc “Đổi mới”, bắt đầu từ đổi mới tư duy, trước hết trong lĩnh vực kinh tế, sau đó sang lĩnh vực chính trị và văn hóa rồi đến hội nhập quốc tế mà thực chất là mở cửa “làm bạn với tất cả các nước trên thế giới”. Hào khí trong kháng chiến chống ngoại xâm bây giờ biến thành hào khí trong dựng xây đất nước giàu mạnh. Cả nước thành một đại công trường xây dựng. Đất nước thay da, đổi thịt mỗi ngày. Mức sống của nhân dân được cải thiện và nâng lên từng năm, từng năm. Ta đã vượt qua dưới hạn của nước nghèo và vững tin gia nhập vào các nước đang phát triển. Hào khí thời đại Hồ Chí Minh đang cộng hưởng nâng ta tiếp bước trong thời đại hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa.

Hào khí thời đại Hồ Chí Minh có một cội nguồn từ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, từ tinh thần dân tộc Việt Nam. Hào khí đó sẽ tiếp tục nâng bước ta đi tới tương lai – xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải nước ta như vua Lê Thánh Tông từng răn đe quần thần thuở trước: “Kẻ nào dám lấy một thước đất, một tấc đất của Thái Tổ để lại, để làm mồi cho giặc sẽ bị tru di tam tộc”./.

Theo PGS.TS. Phạm Xanh
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Xưa và nay trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh (Ảnh TL).

Cần phải thấy rằng Cụ Hồ thuộc lớp người “xưa nay hiếm” vì hiếm thấy những người như Cụ đã giải quyết nhuần nhị vấn đề xưa và nay. Cụ nhuần nhị cái xưa, nhuần nhị cái nay và kết hợp xưa nay cũng rất nhuần nhị, kỳ lạ. Cụ xem xét, tìm hiểu “xưa”, gạn đục khơi trong là để soi sáng hiện tại, phục vụ nay. Cụ nghiên cứu nay, chắt lọc tinh hoa hiện đại, học chủ nghĩa Mác – Lênin và “học tinh thần xử lý mọi việc”, là “học lập trường, quan điểm, phương pháp” để kiểm nghiệm lại “xưa”, cùng hướng tới nay. Cụ Hồ nói “trung với nước, hiếu với dân” là sự chứng minh không đoạn tuyệt cái xưa, mà đưa nội dung mới vào cái cũ. Cách chuyển “xưa” qua “nay” như vậy là rất nghệ thuật, tinh vi. Cuộc đời hoạt động cách mạng của Cụ Hồ là đi từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa xã hội. Tức là cụ đã đi từ cái quí của người Việt Nam từ ngàn xưa lưu truyền lại đến tinh thần triệt để cách mạng của giai cấp công nhân.

Ai cũng rõ không phải một mình Cụ Hồ nghiên cứu lý luận của Khổng Tử. Nhưng chỉ có Cụ Hồ nói rằng: “Lý luận của Khổng Tử không phải là tôn giáo mà là một thứ khoa học về kinh nghiệm đạo đức và sự trang nhã” (1). Cụ Hồ là người cộng sản chân chính. Và chính vì là người cộng sản chân chính mà Cụ biết thâu thái tất cả những giá trị chân chính của người xưa đã đạt được. Theo Cụ Hồ, Châu Á có Khổng Tử với thuyết Đại đồng là một trong những lý do cho phép chủ nghĩa cộng sản dễ thích nghi ở Châu Á hơn là bên Châu Âu. Có một lần tiếp chuyện phóng viên báo Đảng và Thông tấn xã Cộng hòa Dân chủ Đức là Irê-nê Pha-ba. Cụ Hồ đã nhận xét: “Nguyễn Du là một nhà thơ cổ điển vĩ đại của chúng tôi…Những người cộng sản chúng ta rất quí trọng cổ điển. Có nhiều dòng suối tiến bộ chảy từ ngọn nguồn cổ điển đó. Càng thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin, càng phải coi trọng những truyền thống tốt đẹp của cha ông”(2). Người cũng nhiều lần dạy rằng: “Hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa”. Tình nghĩa ở đây theo tôi hiểu chính là giá trị văn hóa tinh thần từ ngàn xưa của con người Việt Nam.

Nhớ lại cuộc hành trình vạn dặm của Cụ Hồ đi tìm đường cứu nước. Cụ đã đi từ môi trường văn hóa nông thôn đậm đặc tư tưởng Nho giáo ra môi trường văn hóa thành thị, từ “Tứ thư, ngũ kinh” đến “Tự do, bình đẳng, bác ái”. Cụ đi từ Đông sang Tây, từ Nho học đến Tây học, từ dân tộc tới nhân loại, từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam đến chủ nghĩa Mác-lênin. Rồi ngược lại, đan xen và hòa quyện. Đấy là một cuộc hành trình văn hóa khép kín Đông – Tây, kết hợp hài hòa, biện chứng giữa cổ truyền với hiện đại vì mục tiêu giải phóng con người và mưu cầu hạnh phúc cho mọi người, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Cụ Hồ quan niệm cái xưa, cái nay với một phương pháp tư tưởng hết sức biện chứng, không rập khuôn, cứng nhắc. Cụ phân biệt “cái cũ mà xấu”, “cái cũ phiền phức” và “cái cũ mà tốt”, “cái mới mà hay”, từ đó để có thái độ phá bỏ và xây dựng đúng mức. Lời dạy của Cụ Hồ là:

Xóa bỏ triệt để những cái cũ mà xấu, sửa đổi những cái cũ phiền phức, phát triển những cái cũ mà tốt; phải triệt để làm những cái mới mà hay; phải xây dựng nếp sống “thuần phong mỹ tục”, phải tẩy sạch những gì mà giáo dục thực dân để lại. Từ phương pháp tư tưởng đó trong tư tưởng Cụ Hồ, ta dễ dàng nhận thấy khi xem xét, đánh giá xưa nay, Cụ Hồ thường tìm lấy mẫu số chung là sự “mưu cầu hạnh phục của loài người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội” làm điểm tương đồng, chứ không phải vì nó là “xưa” hay là “nay”. Cụ Hồ chẳng đã từng “cố gắng làm người học trò nhỏ” của cả Khổng Tử, Giêsu, cả Mác và Lênin đó sao? Về vấn đề này, Cụ Hồ viết: “Tuy Khổng Tử là phong kiến và trong học thuyết của Khổng Tử có nhiều điều không đúng. Song những điều hay trong đó thì chúng ta nên học”(3). Người lại viết: “Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất, chân chổng lên trời. Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngẩng lên trời”(4).

Cụ Hồ đề cao tư tưởng tốt đẹp của người xưa không có nghĩa là quá lưu tâm tới cái xưa, đi hẳn vào cái xưa, là “nệ cổ”, “phục cổ”, là đóng khung quanh chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, vị kỷ, tách mình ra khỏi những vấn đề của thế giới hiện đại. Xưa, nay trong tư tưởng Cụ Hồ là sự hòa quyện và được xem xét bằng một thái độ khách quan, khoa học, cách mạng.

Liên quan tới xưa, nay và lớn hơn thế là vấn đề đặc điểm dân tộc, tình hình thực tế của nước ta với chủ nghĩa Mác – Lênin và kinh nghiệm của các nước anh em. Trong lĩnh vực này, Cụ Hồ là ngôi sao sáng chỉ đường cho chúng ta đi tới thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Cụ Hồ dạy “Chúng ta phải học chủ nghĩa Mác – Lênin để phân tích và giải quyết các vấn đề cụ thể của cách mạng nước ta…Hiện nay đứng về mặt xây dựng chủ nghĩa xã hội, tuy chúng ta đã có những kinh nghiệm dồi dào của các nước anh em, nhưng chúng ta cũng không thể áp dụng những kinh nghiệm ấy một cách máy móc, bởi vì nước ta có những đặc điểm riêng của ta. Không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em, là sai lầm nghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều. Nhưng nếu quá nhấn mạnh đặc điểm dân tộc để phủ nhận giá trị phổ biến với những kinh nghiệm lớn, cơ bản của các nước anh em thì sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa xét lại”(5).

Thiết nghĩ nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về xưa và nay sẽ rất bổ ích cho sự nghiệp cách mạng đổi mới hôm nay. Bởi vì như Lênin đã dạy: “Việc dạy dỗ, giáo dục và rèn luyện thanh niên phải xuất phát từ những vật liệu mà xã hội cũ đã để lại cho chúng ta. Chúng ta chỉ có thể xây dựng chủ nghĩa cộng sản từ tổng số những kiến thức, các tổ chức và thiết chế, bằng cái số dự trữ nhân lực và vật lực mà xã hội đã để lại cho chúng ta”(6).

——————————

(1) Bác Hồ với văn nghệ sĩ, NXB Tác phẩm mới, 1985, tr.294.
(2) Bác Hồ với văn nghệ sĩ, NXB Tác phẩm mới, 1985, tr 335-336.
(3) Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 5, ST. H. 1985, tr. 336.
(4) Hồ Chí Minh với các lực lượng vũ trang nhân dân, QĐND, 1962, tr.124.
(5) Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 7.1987. ST. H 1987, tr. 782.
(6) Lê nin. Toàn tập, tập 41, NXB Tiến Bộ. Mátxcơva. 1987, tr. 357

Theo cuốn Hồ Chí Minh – Hiện thân của Văn hóa hòa bình.
Anh Tú (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ với những người làm phim

Tổ làm phim có ba người: Suduki biên tập, Têramôtô quay phim (hai người bạn này là người Nhật), còn tôi là người của xưởng phim Quân đội biệt phái đi giúp bạn. Cuối năm 1965, chúng tôi được phép quay hình ảnh Bác Hồ. Tin vui đó đến với Tổ làm phim. Chúng tôi ai ai cũng náo nức mong đợi giờ phút được gặp Bác.

Để bảo đảm chất lượng hình ảnh và âm thanh trong nhiệm vụ mà chúng tôi cho là rất trọng đại này, từ Nhật Bản, hãng NDN đã điều thêm sang anh Phudi và một máy quay phim có ghi âm đồng bộ.

Chúng tôi đến phòng khách Phủ Chủ tịch chuẩn bị đón chờ Bác. Bác đi vào, vẫn với bộ quần áo kaki quen thuộc. Chúng tôi kính cẩn chào Bác. Bác giơ tay đáp lại và cho phép làm việc. Trong khi Bác trả lời những câu phỏng vấn của hãng truyền hình NDN thì trong máy quay phát ra những tiếng không êm khiến tôi rất lo ngại, nếu không may có gì trục trặc về kỹ thuật thì thật là thiếu sót lớn. Anh Phudi, một phóng viên quay phim đứng tuổi đã từng đi nhiều nước, có nhiều tuổi nghề, nhưng hôm nay cũng có vẻ hồi hộp, thao tác có phần lúng túng

Bác đã trả lời xong những câu phỏng vấn. Cuối cùng, Bác dùng tiếng Nhật gửi lời chào và chúc nhân dân Nhật Bản hạnh phúc. Có lẽ quá lo lắng nên tôi nói với anh Phudi: “Tiếng máy không êm, liệu có trục trặc kỹ thuật gì không?”, Phudi vội kiểm tra lại máy móc. Không ngờ Bác đã nghe thấy những điều chúng tôi trao đổi nhau. Đột nhiên, Bác bảo: “Các chú cứ làm cho tốt. Nếu cần Bác trả lời lại cho mà quay”. Tất cả chúng tôi đều sững sờ, xúc động trước câu nói chứa đựng sự thấu hiểu và ân tình của Bác đối với nhóm làm phim. “Thưa Bác, tốt rồi ạ”, nước mắt Phudi bỗng trào ra… Bác bảo: Nếu tốt rồi thì sang phòng bên, Bác cháu ta uống nước.

Phudi tâm sự với tôi, hơn hai mươi năm làm phim, anh đi nhiều nước, đã quay nhiều vị Nguyên thủ quốc gia. Nhưng nhiều nơi anh chỉ làm việc như cái máy. Các vị Nguyên thủ cứ diễn thuyết, mình cứ quay, việc của ai người ấy làm, không có sự giao lưu nào khác. Lần này được gặp Hồ Chủ tịch, ngay từ phút đầu anh đã xúc động, hồi hộp quá nên có lúng túng trong thao tác. Tất cả tâm trí anh bị chi phối bởi được gặp Bác Hồ, vị lãnh tụ nổi tiếng của một dân tộc anh hùng. Đến khi được nghe Bác Hồ nói sẵn sàng tạo điều kiện cho nhóm làm phim hoàn thành tốt nhiệm vụ, anh càng thêm xúc động.

Trong phòng trà có cà phê, bánh, kẹo, trái cây. Bác ngồi cùng với những người làm phim, thân mật như người cha ngồi cùng các con. Bác hỏi:

– Các chú sang Việt Nam công tác lâu chưa ?

Suduki đáp:

– Thưa Bác, con sang Việt Nam hơn một năm rồi ạ.

Bác bảo:

– Thế thì các chú khuyết điểm, sang Việt Nam hơn một năm mà vẫn phải nhờ chú này (Bác chỉ người phiên dịch). Hồi còn trẻ, Bác ra nước ngoài, chỉ sau sáu tháng là nghe và nói được tiếng nước đó, không cần phiên dịch. Từ nay, các chú nên học tiếng Việt, nhờ chú này (Bác lại chỉ anh phiên dịch) giúp đỡ.

Giờ phút gần Bác, ai cũng muốn kéo dài. Chúng tôi muốn được ở bên Bác lâu hơn, nhưng Bác còn bận nhiều việc. Bác tạm biệt ra về. Các bạn Nhật cứ đi theo Bác, tay cầm máy quay phim, máy ảnh mà như quên mất công việc, nét mặt ai cũng thẫn thờ, luyến tiếc.

Ống kính máy quay trong tay tôi không lúc nào rời Bác. Từng cử chỉ, từng bước đi, từng giọng nói, tiếng cười của Bác đối với tôi đều vô cùng quý giá.

Bác đã bước xuống bậc thềm sau phòng khách, các bạn Nhật vẫn bước theo sau. Bác chợt ngừng lại ngắt một bông hồng tặng Suduki rồi đi về phía nhà sàn. Như đoán được mọi người vẫn dõi theo, Bác quay lại mỉm cười đôn hậu và giơ tay chào tạm biệt. Ống kính của tôi vẫn theo Bác cho đến khi bóng Người đã khuất sau những hàng cây bên nếp nhà sàn.

Từ đó đến nay đã nhiều năm, mỗi khi nhìn tấm ảnh Bác Hồ vai khoác áo kaki, một tay cầm quyển sổ, một tay giơ cao chào tạm biệt những người làm phim, tôi lại nhớ đến kỷ niệm sâu sắc nhất trong cuộc đời của một phóng viên quay phim quân đội.

Theo Hoàng Văn Bổn, cuốn sách Bác Hồ với Đồng Nai – Đồng Nai với Bác Hồ

Phuly.edu.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chuyện ít biết về chàng thanh niên Văn Ba ở Mỹ

Bài viết tiếp của Laura Lam về thời gian Bác Hồ ở Mỹ, nơi Người ấn tượng với Tuyên ngôn độc lập, nơi sự thật về người da đen khiến Người sửng sốt, nơi Người phát hiện có những dân tộc đồng nỗi khổ với dân tộc mình ở Đông Dương.

Chàng thanh niên bắt đầu dùng cái tên “Văn Ba” cho chuyến hành trình trên biển của mình. Trên tàu Đô đốc Latouche-Tréville, công việc của anh là lau rửa nhà bếp, bốc than, đun nước và khuân những thùng thịt, cá, rau và đá từ phòng ướp lạnh đến cho các nhân viên làm bếp. Có 800 người trên tàu. Trong bộ quần áo thủy thủ màu xanh, mỗi ngày, Văn Ba làm việc cần cù từ sáng sớm đến tối mịt. Quần áo và da anh phủ đầy bụi, khói và đẫm mồ hôi. Mỗi đêm về, Ba chỉ có thời gian rất ít để nghỉ ngơi, sau đó anh đọc và viết, cho đến đêm.

Mùa Thu năm 1911, sau một thời gian ngắn làm vườn tại thành phố Le Havre, Tây Bắc nước Pháp, Ba trở lại biển với hãng vận tải đường biển của Pháp Messageries để đi New York. Thời tiết ở Le Havre ngày càng lạnh và anh không đủ sức khỏe để làm công việc ngoài trời. Vẫn chưa rõ anh đã làm công việc gì trong chuyến đi biển lần này.

Ba luôn luôn thận trọng, khéo léo và luôn tìm được cách thông minh để né tránh cơ quan chức năng nước ngoài. Anh dùng tên gì và khai báo thông tin gì cho cơ quan nhập cư Mỹ khi đến nước này vẫn là câu hỏi chưa có câu trả lời cho các sử gia quan tâm.

Ba từng một thời gian ngắn làm người giúp việc cho gia đình một người giàu có ở Brooklyn. Anh bị thành phố Boston cuốn hút và chẳng bao lâu sau đã tìm được công việc là người phụ giúp người làm bánh tại khách sạn Parker House. Chẳng bao lâu sau, anh đã trở thành người làm bánh chuyên nghiệp.

Boston là một thành phố lịch sử và người dân ở đây tự hào về truyền thống văn chương nổi tiếng của thành phố. Parker House được xây dựng năm 1855 và trở thành nơi hội họp thường xuyên của các cây bút xuất sắc của nước Mỹ, trong số này có Emerson, Thoreau, Hawthorne và Longfellow. Thời kỳ này được xem là Thời đại Hoàng kim đối với nền văn học Mỹ.

Bếp trưởng Văn Ba

Tác giả người Anh Charles Dickens thường đến thăm Parker House và trầm trồ trước vẻ tráng lệ của khách sạn rực rỡ nhất Boston này cũng như hương vị các món ăn được phục vụ ở đây. Parker House còn là nơi các thế hệ chính trị gia quốc gia và địa phương, trong đó có Ulysses Grant, Franklin Roosevelt, John F. Kennedy và Bill Clinton, họp các cuộc thảo luận riêng hay họp báo. Do Parker House gần khu vực nhà hát của Boston, nhiều nghệ sĩ nổi tiếng của thế kỷ thứ 19 đã coi đây như nhà của mình. Trong số này có Charlotte Cushman, Sarah Bernhardt, Edwin Booth, và anh trai của ông là John Wilkes Booth. Người ta đã nhìn thấy John Wilkes, nam diễn viên nổi tiếng, đang thực hành với khẩu súng lục gần khách sạn này ngay trước khi anh ta ám sát Tổng thống Abraham Lincoln.

Trong thế kỷ thứ 20, một loạt ngôi sao màn bạc và sân khấu kịch lẫy lừng – từ Joan Crawford, Judy Garland, và William Boyd, đến Adam ‘Batman’ West, Kelsey Grammer, và David Shiner, cũng coi đây như ngôi nhà thứ hai của mình.

Bếp ăn của Parker House nổi tiếng với phong cách nấu ăn Mỹ. Khi Văn Ba là người làm bánh chính, anh sẽ làm loại bánh kinh điển của Parker House. Parker House cũng được tín nhiệm với món bánh kem Boston và bánh trứng đường với chanh tuyệt vời. Ba rất giỏi làm những món bánh này.

Khi sống ở Boston, Ba thường đi tàu đến Harlem, một khu dân cư chính của người Mỹ gốc Phi ở New York. Anh đã tham dự những cuộc họp do Marcus Garvey, người Mỹ gốc Phi đầu tiên lãnh đạo phong trào chính trị chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, tổ chức. Ba đã quan sát thái độ của đảng Ku Klux Klan (3K) và lấy làm kinh khiếp trước lòng căm thù và thái độ ngược đãi của người Mỹ đối với những người da đen. Đã nhìn thấy tượng Nữ thần Tự do ở bến cảng New York, nên sự thật này khiến Văn Ba sửng sốt và ấn tượng mãi về sau này. Anh đã viết về tình trạng phân biệt chủng tộc với tư cách là người chứng kiến bằng những chi tiết sâu sắc.

Ba cũng gặp một số người Triều Tiên theo chủ nghĩa dân tộc ở Boston và anh cảm thấy thông cảm nhất đối với họ. “Hiệp ước sát nhập Nhật – Triều” vẫn có hiệu lực ở Triều Tiên. Người Triều Tiên đang trải qua những đau khổ cùng cực. Với mưu toan triệt tiêu văn hóa Triều Tiên, nhà cầm quyền Nhật Bản khi đó đã buộc các gia đình ở vùng lãnh thổ bị chiếm đóng này dùng tên họ Nhật Bản, ngôn ngữ Triều Tiên bị bài trừ khử một cách tàn nhẫn. Làn sóng kháng cự lan rộng dẫn đến phong trào chủ nghĩa dân tộc tháng 3/1919. Ba so sánh tình hình ở Triều Tiên với tình hình ở Đông Dương. Bài báo được đăng đầu tiên của anh về tình trạng này là “Indochine et Corée”, trên Le Populaire tháng 9/1919.

Từ Boston, Ba gửi bưu thiếp cho cụ Phan Chu Trinh, người đang sống lưu vong ở Paris. Ba cũng viết thư cho cha. Anh lo ngại sức khỏe của cha ngày càng kém đi. Khi Ba gặp lại một vị thuyền trưởng tại bến cảng New York, vị thuyền trưởng này đã đề nghị chuyển thư cho Ba, đến Khâm sứ ở Huế. Ba đã xin ông này cho lập một đường dây gửi tiền cho ngân hàng ở Đông Dương để gửi tiền cho cha. Ba không biết rằng chị gái mình đã bị bắt và cha anh không còn ở Huế. Cả hai hiện đang bị theo dõi vì tình nghi có những hoạt động bí mật chống lại chế độ thực dân Pháp.

Khách sạn Parker House ở Boston, nơi Văn Ba từng làm việc

Rất thích đọc sách, Ba đã dành nhiều thời gian tại phòng đọc của thư viện công cộng Boston gần khu phố Tàu Chinatown. Ba đọc về cuộc Cách mạnh Mỹ năm 1776 và ấn tượng sâu sắc với Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ. Khả năng tiếng Anh của Ba còn hạn chế, nhưng anh thông thạo tiếng Tàu và có thể hiểu các văn bản tiếng Anh với sự giúp đỡ của những người bạn Trung Quốc. Anh nghĩ người Mỹ đã tự giải phóng mình từ sự cai trị của Anh, vì vậy, sẽ thông cảm đối với người Việt Nam. Anh hy vọng Mỹ sẽ giúp Việt Nam trong cuộc chiến giành độc lập từ Pháp.

Văn Ba là người Việt Nam duy nhất ở Boston (khi đó). Anh hòa hợp với những người Trung Quốc, sống với họ và nói ngôn ngữ của họ. Anh cũng thích đến rạp chiếu phim với những người bạn Trung Quốc. Một số bộ phim câm mới được chiếu trong năm 1911 và 1912, một trong số này nói về cuộc Cách mạng Mỹ với tựa đề “Hand Across the Sea”.

Khách sạn Parker House được nâng cấp toàn diện vào những năm cuối thập niên 1920. Mặc dù thế hệ các nhân viên hiện nay không biết chi tiết về chàng thanh niên Văn Ba làm việc trong khu bếp của khách sạn gần một thế kỷ trước đây, nhưng họ cảm thấy tự hào là anh đã ở đây. Tất cả những khách thuê phòng ở đây cũng biết rằng Hồ Chí Minh đã là một phần trong lịch sử của khách sạn từ năm 1911 đến 1913.

Laura Lam

Theo dantri.com.vn
(Việt Hà dịch)
Phương Thúy (st)

bqllang.gov.vn

Đạo đức và nhân cách: Đặc điểm số một của tư tưởng Hồ Chí Minh

Khái niệm “đạo đức” xuất hiện trong văn chương Trung Quốc rất sớm mà cho đến thời Đường, đại văn hào Hàn Dũ còn viết rằng: “Đạo đức là những từ chưa được khẳng định”. Khác với khái niệm “nhân nghĩa” đã được khẳng định rồi. Ngay bây giờ, người ta vẫn còn lờ mờ hiểu ở chỗ đó. Nếu theo Hàn Dũ thì “mỗi việc đều làm theo nhân nghĩa” thì còn gọi là đạo, còn “tự mình có thể bằng lòng với chính mình, không cần ỷ lại vào người khác” gọi là đức. Nói như Hàn Dũ cũng chưa được rõ lắm, nhưng định nghĩa của ông trong luận văn “Nguyên đạo” gợi được nhiều ý. Đạo của Nho là nhân nghĩa, Đạo của Phật là từ bi cứu khổ.

Đạo đức của Cụ Hồ như lời của Phạm Văn Đồng nói là: Trung với nước, hiếu với dân, là cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, trong đó trung với nước, hiếu với dân thuộc về đạo, nói một cách khác đó là độc lập, chủ nghĩa xã hội; còn cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư là thuộc về đức, là bộ phận quan trọng của đức, đức trong tư tưởng của Cụ Hồ còn rộng lớn hơn nhiều, đức có thể được định nghĩa như là những tính con người cần phải rèn luyện để thực hiện cái đạo cơ bản hơn. Cái ý của Hàn Dũ rằng: “Tự mình có thể bằng lòng với chính mình, không cần ỷ lại vào người khác gọi là đức”, có lẽ như vậy. Đạo là gốc rễ, đức là thân cành hoa quả, như vậy có đức thì đạo mới được thực hiện, có đạo thì đức mới nảy sinh và phát huy tác dụng.

Khi Cụ Hồ từ trần, thì ở Pháp rộ lên một loạt bài báo của những nhân vật tiếng tăm tuyên dương Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà lãnh tụ Cộng sản trên thế giới, đã đặc biệt chú trọng đến vấn đề đạo đức trong lý luận và trong thực tiễn, không vị lãnh tụ nào sánh bằng. Họ nhấn mạnh Hồ Chủ tịch của chúng ta đã đặt vị trí “ưu tiên cho đạo đức”. Và họ tìm cách cắt nghĩa cái điều hơi lạ ấy. Đối với họ sở dĩ như vậy là do ông Hồ chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Khổng Mạnh. Tôi đồng ý hoàn toàn với họ rằng Cụ Hồ là vị lãnh tụ Cách mạng đã đặt đạo đức ở “vị trí ưu tiên”. Tôi cũng đồng tình rằng tinh túy của tư tưởng Khổng Mạnh còn ảnh hưởng tích cực ở Việt, nhưng tôi cho rằng sở dĩ ở Việt Nam cả trong thời kỳ cách mạng và kháng chiến, đạo đức được đặt ở vị trí ưu tiên và trước hết, điều ấy thuộc truyền thống dân tộc của một đất nước trong 2000 năm đã phải hằng mấy chục lần chống trả những kẻ xâm lược lớn mạnh hơn mình gấp bội. Muốn tồn tại, dân tộc Việt Nam không thể cậy vào số người mà phải dưa vào những con người chiến đấu. Lâu đời thành nếp tư tưởng quý trọng bậc nhất đạo đức, nhân cách, tính kiên cường bất khuất, đức quên mình vì nước vì dân… Đạo đức Cụ Hồ là đạo đức truyền thống Việt Nam. Ngày Lê-nin từ trần (1924) Nguyễn Ái Quốc khẳng định rằng sở dĩ các dân tộc Đông phương kính mến Lê-nin vì vị thầy của Cách mạng giải phóng dân tộc là một người: “Khinh thường xa hoa, yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị”. Cho nên khi mở lớp đào tạo cán bộ đầu tiên (1925), Hồ Chí Minh đã đặt ra 23 điều tư cách của người chiến sỹ được ghi trên trang đầu của sách giáo khoa “Đường Kách mệnh”. Chính vì vậy nên trong số các tiêu chuẩn bầu anh hùng quân đội trong kháng chiến, thì tiêu chuẩn đạo đức nhân cách được đặt lên hàng đầu trước cả những thành tích kỳ diệu.

Cán bộ hiện nay gồm có cả tài lẫn đức thì ước mong gì hơn? Nhưng nếu phải khiếm tài thì còn có thể hữu ích, chớ thiếu đức thì dùng vào đâu được?.

Theo GS. Trần Văn Giàu
(Tạp chí Tia sáng)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn