Tag Archive | Độc lập

Những con tem mang hình Bác kính yêu

Tem Bác Hồ năm 1946.

Ngay từ mùa thu năm 1946, một năm sau khi giành được độc lập, Nha Bưu điện Việt Nam được Chính phủ cho phép phát hành bộ tem mới thể hiện chân dung Hồ Chủ tịch. Người có vinh dự được vẽ mẫu tem này là họa sĩ Nguyễn Sáng, dựa vào bức ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh do nghệ sĩ Vũ Năng An chụp. Giống như ảnh, mẫu tem thể hiện được những nét đặc sắc của Bác Hồ: Thông minh, hiền hậu, kiên nghị được lồng trong khung những ngôi sao năm cánh. Tem có kích thước nhỏ xinh, in trên giấy tàu bạch mỏng mịn, gồm 5 mẫu, mỗi mẫu một màu (xanh lá mạ, đỏ, vàng, lam, tím), nhìn rất sinh động và trang trọng. Đã có những vần thơ mừng đón con tem:

“Tem mang hình Bác trên mình
Tem thêm sức mạnh, thêm tình trong tem”

Sau khi tem được phát hành, người ta chen nhau ở các bưu cục trong cả nước để mua tem Bác Hồ. Hồi này, đất nước ta đang ở thời kỳ bị “giặc đói” hoành hành. Mỗi con tem màu lam giá bốn hào, nhưng ai cũng mua với giá một đồng vì trên mặt tem in dòng chữ “+ phụ thu cứu quốc 6 hào”. Con tem nhỏ bé này đã đóng góp phần mình vào phong trào cứu đói và “Tuần lễ Vàng” lịch sử.

Tem Bác Hồ năm 1949.

Năm 1949, để đáp ứng yêu cầu kháng chiến, họa sĩ Nguyễn Sáng lại thiết kế bộ tem thứ hai về Bác Hồ, nhưng lần này Người ngồi ở tư thế hơi nghiêng, vẻ mặt trầm tư, sâu lắng, cũng dựa vào bức ảnh do Vũ Năng An chụp. Có thể nói, người chụp ảnh cũng như người thiết kế tem đã thực hiện tác phẩm của mình với tấm lòng kính yêu vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tem Liên Xô kỷ niệm 90 năm Ngày sinh Bác Hồ.

Tính đến nay, trong số trên 3.000 mẫu tem Việt Nam hiện có, có hàng trăm mẫu tem về Bác Hồ. Nếu cộng cả các mẫu tem về Bác Hồ mà nhiều nước trên thế giới phát hành, chúng ta có trên 500 con tem về Bác. Đó là con số mà một nhà sưu tầm tem có tiếng, ông Lê Đức Vân, đồng thời là một cán bộ cách mạng lâu năm, nghiên cứu, thống kê và công bố. Đã ngót 10 năm, ông Vân sưu tầm tem Bác Hồ, có ý định trưng bày một bộ sưu tập vô giá vào dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 120 của Người. Bộ sưu tập ấy in dấu chân của vị lãnh tụ trên từng chặng đường đấu tranh vì dân, vì nước, từ ngày Sài Gòn bôn ba ra nước ngoài tìm đường cứu nước cho đến lúc Người đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, từ khi Người chỉ đạo quân và dân ta tiến hành hai cuộc kháng chiến thần thánh chống ngoại xâm cho đến khi Người đi vào cõi vĩnh hằng.

Tem thể hiện bức ảnh “Bác Hồ bắt nhịp bài ca Kết đoàn”.

Có một điều rất đáng nói là phần lớn những con tem mang hình Bác đã được thiết kế trên cơ sở những bức ảnh cụ thể. Ngoài hai bức ảnh nói trên của Vũ Năng An, chúng ta được gặp những bức ảnh thể hiện trên tem như “Bác Hồ đọc báo tại chiến khu Việt Bắc” do nghệ sĩ Nguyễn Hồng Nghi chụp năm 1949 được dùng làm mẫu tem trong bộ tem “Kỷ niệm 35 năm truyền thống ngành Bưu điện” phát hành năm 1980 do họa sĩ Trần Huy Khánh thiết kế, hoặc từ bức ảnh nổi tiếng “Bác Hồ bắt nhịp bài ca Kết đoàn” do nghệ sĩ Lâm Hồng Long chụp năm 1960 cũng được các họa sĩ Trần Lương, Đặng Quý Quyền, Trần Thế Vinh và Nguyễn Thị Sâm thể hiện trên ba mẫu tem phát hành năm 1978, 1990 và 2000. Để thống nhất phương thức thiết kế tem theo dạng ảnh chụp, họa sĩ Trần Lương đã nghiên cứu 8 ảnh gốc của người chụp để đưa vào tem sao cho trung thực với lịch sử, thay cho phác thảo đơn nét bút sắt. Và để tính khái quát và ý nghĩa rộng lớn hơn, họa sĩ đưa nguyên hình Bác như trong ảnh, lược bỏ những chi tiết dàn hợp xướng và thay thế bằng hình mặt trống đồng Ngọc Lũ, tượng trưng cho 4.000 năm văn hiến Lạc Việt – Hùng Vương.

Tem thể hiện bức ảnh “Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội Tours (Pháp) năm 1920”.

Cũng cần đề cập những tác phẩm nhiếp ảnh tiêu biểu khác như bức ảnh “Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội Tours (Pháp) năm 1920” mà Đoàn thanh niên Cộng sản Pháp đã sưu tầm được và kính biếu Bác đã được dùng làm cơ sở thiết kế mẫu tem “Kỷ niệm 55 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam” phát hành năm 1985, hay như bức ảnh “Bác Hồ cùng Bộ Chính trị chỉ đạo chiến dịch Điện Biên Phủ” (do Đinh Đăng Định chụp) cũng được đưa vào một mẫu tem trong bộ tem “Kỷ niệm 30 năm chiến thắng Điện Biên Phủ” phát hành năm 1984.

Tem thể hiện bức ảnh “Bác Hồ với các anh hùng và dũng sĩ miền Nam”.

Tem bưu chính Việt Nam về thành phố mang tên Bác đã thể hiện tình cảm sâu lắng của đồng bào thành phố Hồ Chí Minh đối với vị lãnh tụ kính yêu, thông qua nhiều hình ảnh thân thương từ cuộc đời hoạt động phong phú của Bác như: Bác Hồ tưới cây vú sữa do đồng bào miền Nam gửi biếu, Bác Hồ với các anh hùng và dũng sĩ miền Nam… Mẫu tem 2 đồng trong bộ tem “Kỷ niệm 10 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam” phát hành năm 1985 ghi lại hình ảnh chiếc xe tăng cùng đoàn Quân Giải phóng tiến vào Dinh Độc lập, phía trên bên phải là hình ảnh Bác Hồ đang giơ tay vẫy chào thành phố thân yêu. Hình ảnh Bác Hồ giơ tay vẫy chào cũng có trong mẫu tem kỷ niệm 20 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước phát hành năm 1995, phía trên cánh cổng chợ Bến Thành rợp cờ đỏ sao vàng.

Tem thể hiện bức tượng “Bác Hồ với thiếu nhi”.

Bức tượng “Bác Hồ với thiếu nhi” của nhà điêu khắc Diệp Minh Châu tại vườn hoa phía trước Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh cũng đã được đưa lên tem hai lần vào năm 1995 và 1998.

Có dịp chiêm ngưỡng các bộ tem về Bác, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, chúng ta trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đối với các họa sĩ tài hoa, từ các cố họa sĩ lão thành như Nguyễn Sáng, Bùi Trang Chước, Nguyễn Văn Khanh… cho đến Nguyễn Thế Vinh, Trần Lương, Huy Toàn, Nguyễn Hiệp, Trịnh Quốc Thụ, Đỗ Việt Tuấn, Trần Ngọc Uyển, Đỗ Lệnh Tuấn, Nguyễn Thị Sâm, Trần Thế Vinh… Họ đã đem toàn bộ tâm huyết và tài năng nghệ thuật của mình để sáng tác những mẫu tem đẹp nhất, trang trọng nhất về Bác kính yêu./.

Theo Trần Đương
(vietstamp.net)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ – hiện thân của tình đoàn kết các dân tộc Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân của tình đoàn kết các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam. Sinh thời, Bác Hồ thường gọi mọi người dân và toàn dân ta là đồng bào, thể hiện một tình cảm tốt đẹp về nguồn gốc của dân tộc Việt Nam trong truyền thống lịch sử. Trong suy nghĩ và việc làm của Bác thì nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi.

Khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mới thắng lợi, trước những sự chia rẽ dân tộc của kẻ thù, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định chính sách đoàn kết dân tộc và nêu rõ: Cộng đồng các dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam dù là dân tộc đa số hay dân tộc thiểu số “đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt”, có chung giang sơn và Chính phủ nên phải đoàn kết, thật sự bình đẳng, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau để kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sớm nhìn thấy âm mưu thủ đoạn “chia để trị” của chế độ thực dân phong kiến và những thành kiến, định kiến còn nặng nề trong tư tưởng tình cảm của đồng bào các dân tộc, trong một bộ phận cán bộ…tạo nên những khoảng cách và các vết rạn, nứt trong mối quan hệ của chính quyền cách mạng với đồng bào. Người chỉ rõ rằng: Ðiều cần thiết nhất cho chúng ta là đoàn kết, cần phải xóa bỏ hết thành kiến, cần phải thật thà đoàn kết với nhau, giúp đỡ lẫn nhau để cùng tiến bộ, để cùng phục vụ nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng kêu gọi: Ngày nay, các dân tộc anh em muốn tiến bộ, muốn phát triển văn hóa của mình thì chúng ta phải tẩy trừ những thành kiến giữa các dân tộc, phải đoàn kết yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau như anh em một nhà.

Từ suy nghĩ và tầm nhìn như thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Ðảng Cộng sản Việt Nam có vai trò rất quan trọng trong xây dựng và phát triển khối đoàn kết dân tộc. Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chăm lo giáo dục cán bộ, đảng viên phải giữ gìn sự đoàn kết thống nhất của Ðảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình để làm hạt nhân của tình đoàn kết các dân tộc Việt Nam. Ðồng thời phải đoàn kết có nguyên tắc chống đoàn kết xuôi chiều hoặc cô độc, hẹp hòi. Bác Hồ đã dành nhiều tâm huyết xây dựng, củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất để tập hợp, đoàn kết mọi lực lượng, mọi người dân yêu nước để thực hiện mục tiêu chung của cách mạng, không phân biệt dân tộc, tôn giáo…

Trong khối đoàn kết các dân tộc Việt Nam, Bác Hồ là người đặc biệt quan tâm vun đắp tình hữu ái giữa dân tộc đa số với các dân tộc thiểu số, tình đoàn kết giữa các dân tộc thiểu số cũng như tình hữu ái, đoàn kết của từng dân tộc thiểu số. Có thể nói Chủ tịch Hồ Chí Minh là một lãnh tụ nêu tấm gương tiêu biểu nhất về chăm lo xây dựng, vun đắp đoàn kết các dân tộc thiểu số và nâng cao cuộc sống đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho tổ chức các hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số để đồng bào thực hiện quyền bình đẳng về chính trị và các quyền lợi khác cũng như trách nhiệm của các dân tộc đối với đất nước.

Tại các hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số, Bác Hồ rất quan tâm chăm lo vun đắp tình đoàn kết và đời sống của đồng bào các dân tộc. Phát biểu tại Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Anh em thiểu số chúng ta sẽ được:

1. Dân tộc bình đẳng: Chính phủ sẽ bãi bỏ hết những điều hủ tệ cũ, bao nhiêu bất bình đẳng trước sẽ sửa chữa đi.

2. Chính phủ sẽ gắng sức giúp cho các dân tộc thiểu số về mọi mặt:

a) Về kinh tế, sẽ mở mang nông nghiệp cho các dân tộc được hưởng.

b) Về văn hóa, Chính phủ sẽ chú ý trình độ học thức cho dân tộc.

Các dân tộc được tự do bày tỏ nguyện vọng và phải cố gắng để cùng giành cho bằng được độc lập hoàn toàn, tự do và thái bình (Xem Hồ Chí Minh Toàn tập, t4, tr110-111).

Nghiên cứu tư tưởng và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta nhận thấy rất rõ là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng, củng cố và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tình đoàn kết giữa các dân tộc thiểu số và đoàn kết của từng dân tộc thiểu số trong thời đại mới. Người đã lãnh đạo và đoàn kết được các dân tộc Việt Nam thực hiện công cuộc giải phóng dân tộc, kháng chiến thắng lợi và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho dân giàu, nước mạnh. Ðồng thời toàn bộ cuộc đời của Bác còn là hiện thân, một tấm gương tiêu biểu nhất của khối đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết và giúp đỡ đồng bào các dân tộc thiểu số. Nổi bật nhất là suốt thời gian gần 30 năm, kể từ khi về nước chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam năm 1941 cho đến khi từ biệt thế giới này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Trung ương Ðảng và Chính phủ luôn luôn quan tâm xây dựng và thực hiện các chính sách đối với đồng bào các dân tộc phát triển kinh tế, văn hóa, từng bước nâng cao đời sống đồng bào.

Bác Hồ về thăm lại Việt Bắc

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn để lại cho chúng ta một bài học lớn về nghĩa tình của người cộng sản, của người lãnh đạo đối với đồng chí, đồng bào các dân tộc thiểu số đã cưu mang giúp đỡ cách mạng khi khó khăn, khi chưa có chính quyền. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ có nhiều năm tháng sống gắn bó với đồng chí, đồng bào các dân tộc thiểu số từ đầu năm 1941 đến những năm kháng chiến chống thực dân Pháp lâu dài và gian khổ, ác liệt. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thương nhớ và ghi ơn những đồng chí, đồng bào các dân tộc đã nuôi dưỡng, chở che, đùm bọc. Người nhiều lần gửi thư thăm hỏi và tâm tình “Ở Hà Nội, xa cách với đồng bào nhưng không bao giờ tôi quên các đồng bào. Tôi luôn luôn nhớ đến lòng yêu mến và sự giúp đỡ của các đồng bào trong những ngày tháng tôi ở thượng du” (Xem Hồ Chí Minh Toàn tập, t4, tr.210). Chính vì sống gắn bó trong lòng đồng bào các dân tộc thiểu số, nên Chủ tịch Hồ Chí Minh là người hiểu và biết rất rõ những nỗi khổ đau của đồng bào các dân tộc thiếu số và Người đã dành nhiều tâm huyết nhằm giúp đồng bào vươn lên có cuộc sống khá hơn trong chế độ xã hội mới của đất nước chúng ta. Khi miền Bắc bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm công tác dân tộc và chỉ rõ: Các dân tộc thiểu số đoàn kết với dân tộc đa số. Cố nhiên cán bộ người Kinh phải giúp đỡ anh em cán bộ địa phương, nhưng phải làm sao cho cán bộ địa phương tiến bộ, để anh em tự quản lý lấy công việc ở địa phương chứ không phải là bao biện làm thay. Tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, làm cho đời sống đồng bào địa phương ngày càng khá hơn, cả về vật chất và tinh thần.

Bác bắt nhịp bài ca "Kết Đoàn"
Ảnh: Tuấn Anh

Ðể đoàn kết và nâng cao đời sống đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm giáo dục và huấn luyện cán bộ từ Trung ương đến địa phương phải chăm lo công tác vận động đồng bào các dân tộc thiểu số thực hiện thật tốt chính sách dân tộc của Ðảng. Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ miền núi năm 1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: Miền núi đất rộng người thưa, tình hình vùng này không giống tình hình vùng khác. Vì vậy, áp dụng chủ trương, chính sách phải thật sát với tình hình thực tế của mỗi nơi. Tuyệt đối chớ rập khuôn, chớ máy móc, chớ nóng vội. Mỗi ngành, mỗi Bộ ở Trung ương cần phải nhận rõ phần trách nhiệm của mình đối với miền núi và chú trọng hơn nữa công tác ở miền núi.

Người nhấn mạnh: Nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên và đoàn viên thanh niên là phải làm gương mẫu trong mọi công tác, làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc và không ngừng nâng cao đời sống của đồng bào miền núi. Tư tưởng và tấm gương vận động đồng bào các dân tộc thiểu số của Bác đã trở thành kim chỉ nam cho việc xây dựng các chính sách dân tộc của Ðảng và Nhà nước ta, là những giá trị và kiểu mẫu cho chúng ta thực hiện các chính sách dân tộc, thực thi các chương trình đối với vùng đồng bào các dân tộc.

Ðại hội đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số được tổ chức vào dịp kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một sự kiện có ý nghĩa to lớn trong đời sống chính trị đất nước, cũng là một dịp để cùng toàn Ðảng, toàn dân ghi sâu những di huấn và làm theo tấm gương của Bác đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, tiếp tục đổi mới chính sách dân tộc và tăng cường hơn nữa khối đoàn kết toàn dân./.

Theo Hochiminhhoc.com
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Hai bức chân dung Bác Hồ đầu tiên được vẽ cách đây 85 năm

Chân dung Nguyễn Ái Quốc do Eric Johanson vẽ ngày 19/9/1924, dòng chữ Việt và chữ Hán là do Người tự ghi (là bức vợ ông Johanson gửi tặng qua Đại sứ quán Việt Nam ở Thụy Điển).

Cho tới nay, nhiều nhà văn, nhà thơ, nhiều nhạc sĩ, họa sĩ, điêu khắc gia đã viết, vẽ và tạc tượng vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, hai bức chân dung đầu tiên của Người lại do một họa sĩ nước ngoài vẽ cách đây gần… 85 năm!

Cho tới nay, nhiều nhà văn, nhà thơ, nhiều nhạc sĩ, họa sĩ, điêu khắc gia đã viết, vẽ và tạc tượng vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, hai bức chân dung đầu tiên của Người lại do một họa sĩ nước ngoài vẽ cách đây gần… 85 năm!

Cuối năm 1923, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã từ Pháp sang Moskva (Liên Xô) để hoạt động cách mạng trong phong trào Quốc tế cộng sản. Người đã ở đây khá lâu để học tập và nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin, tìm con đường cứu dân cứu nước. Hoạt động của Người rất đa dạng và khẩn trương.
Ngoài giờ học tập ở Trường Cộng sản Phương Đông, Người còn tranh thủ tìm hiểu cuộc sống và lao động của nhân dân Xô Viết, tham gia các hoạt động về văn hóa – giáo dục, văn học – nghệ thuật. Và Bác đã tham dự cuộc triển lãm nghệ thuật tạo hình của Đức tại Bảo tàng Nghệ thuật quốc gia Moskva mùa Thu – 1924.

126 họa sĩ và điêu khắc gia tiến bộ của Đức đã trưng bày hơn 500 tác phẩm nghệ thuật của họ tại triển lãm này, được người xem đánh giá cao. Bác đã xem kỹ và đánh giá đúng mức những tác phẩm đó. Kỹ sư kiêm họa sĩ Đức người gốc Thụy Điển Eric Johanson cũng đã sang đây cùng những tác phẩm của mình.

Thấy nhà cách mạng phương Đông chăm chú xem các tác phẩm của mình, Johanson liền đến làm quen và thăm dò trao đổi ý kiến. Qua cuộc trò chuyện cởi mở về nội dung và nghệ thuật hội họa, Nguyễn Ái Quốc và Eric Johanson có những quan điểm hòa hợp. Rồi chẳng bao lâu họ đã thành đôi bạn tâm đắc về văn hóa nghệ thuật cũng như những quan điểm về chính trị, xã hội.

Thế là, họ đã tranh thủ giờ rỗi cùng nhau đi dạo phố, tìm hiểu đời sống người dân Xô Viết trong những năm đầu dưới chế độ mới. Đây cũng là dịp tốt để Nguyễn Ái Quốc hiểu biết thêm không những người Đức mà còn một dân tộc ở Bắc Âu nữa là Thụy Điển. Một ý nghĩ nảy ra trong đầu nhà cách mạng trẻ: Tranh thủ học thêm một ngoại ngữ nữa – tiếng Thụy Điển.

Trong hoàn cảnh đó, không tìm đâu ra được sách giáo khoa về ngôn ngữ nước này, Nguyễn Ái Quốc đã học ở người bạn tâm đồng ý hợp của mình. Và kết quả thật bất ngờ: Chỉ sau một thời gian ngắn, khi họa sĩ Johanson còn làm việc ở Moskva, Người đã trò chuyện với vị này bằng tiếng mẹ đẻ của ông.

Chân dung Nguyễn Ái Quốc đăng ở Báo Phụ nữ Xô Viết số 10 năm 1979. Nguyễn Ái Quốc ghi tên mình bằng chữ Việt và chữ Hán ở phía dưới, chữ ký của chính họa sĩ thì ở sát ve áo của Người.

Johanson đã không tiếc lời khen ngợi và khâm phục nhà cách mạng trẻ phương Đông là người thông minh, nhạy bén và uyên thâm nhiều lĩnh vực, trong đó có văn hóa, ngôn ngữ và cả hội họa của nhiều dân tộc. Ông đã linh cảm được về vị lãnh tụ tương lai của một dân tộc đang bị áp bức ở phương Đông mà lúc ấy chưa ai biết tới.

Trước khi rời đất nước Xô Viết về nước, Eric Johanson đã đề nghị người bạn quốc tế đồng cảm cho vẽ bức chân dung làm kỷ niệm. Trước yêu cầu chân thành đó, Nguyễn Ái Quốc đã đồng ý.

Đó là hai bức chân dung đầu tiên về vị lãnh tụ tương lai của một dân tộc bị áp bức ở phương Đông mà lúc đó chưa ai biết và nghĩ tới. Bằng chữ Việt và chữ Hán, Người đã tự tay ghi vào góc dưới bức chân dung: “Nguyễn Ái Quốc – 19/9/1924”

Hình ảnh và phong thái của Nguyễn Ái Quốc đã để lại những ấn tượng tốt đẹp và sâu sắc trong Johanson.

44 năm sau – năm 1968, khi Nguyễn Ái Quốc đã là vị Chủ tịch nước, là Bác Hồ kính yêu của dân tộc Việt Nam, khi Việt Nam đã trở thành biểu tượng của ý chí độc lập tự do đối với các dân tộc bị áp bức đang đấu tranh, người bạn năm xưa ấy của Bác Hồ đã ghi lại trong hồi ký của mình: “Cử chỉ văn hóa và thái độ thân mật chân tình của Người gây một ấn tượng là Người có uy tín lớn. Người có thể trở thành lãnh tụ nhưng không phải bằng một cái gì bề ngoài mà bằng học thức, bằng trí tuệ của mình…”.

Sau khi Johanson qua đời, tới cuối năm 1981, vợ ông kiểm kê lại tất cả những tác phẩm của chồng, đã phát hiện ra 1 trong 2 bức chân dung đó. Bà đã tới Đại sứ quán Việt Nam ở Thụy Điển để tặng lại kỷ vật quý báu này cho nhân dân ta.

Về cuộc đời họa sĩ Eric Johanson xin tóm lược mấy nét chính sau: Ông sinh năm 1895, làm nghề kỹ sư xây dựng và họa sĩ. Ông cùng vợ sang Đức làm ăn rồi gia nhập Đảng Cộng sản Đức, một trong những người sáng lập ra “Nhóm Đổ” – Hội các họa sĩ tiến bộ của Đức hoạt động vì người nghèo.

Là người khiêm tốn, ít nói, hay bẽn lẽn nhưng có cái nhìn nhận xét sâu sắc, nhạy bén, ông nhiệt tình tham gia cách mạng trong phong trào công nhân Đức. Những tác phẩm hội họa của ông thể hiện “nghệ thuật vị nhân sinh”, luôn đấu tranh bênh vực người lao động nghèo khổ. Sau cuộc triển lãm và làm việc ở Moskva, ông trở về Đức và tiếp tục hoạt động chống cuộc chiến tranh thế giới mới mà bọn phát xít Đức đang tích cực chuẩn bị.

Đến khi Hitler công khai phát động cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, thẳng tay đàn áp những người cộng sản và phong trào cách mạng, ông cùng vợ con tìm cách bí mật hồi hương. Từ năm 1938, ông đã thoát khỏi nanh vuốt bọn Đức Quốc xã khi đã an toàn trở về Thụy Điển.

Tại quê hương mình ông lại bị chính quyền tình nghi nên không thể liên hệ được với phong trào cách mạng bên ngoài, nhất là với Đảng Cộng sản Đức. Thế là ông cùng gia đình phải “ẩn dật” và kiếm sống bằng nghề vẽ của mình. Nhưng nhiều bức tranh tiến bộ mang đậm tính cách mạng ông không công bố. Một trong số đó là 2 bức tranh vẽ chân dung Bác Hồ của chúng ta.

Một bức (vẽ nghiêng) ông đã gửi cho báo Phụ nữ Xô Viết và báo này đã đăng trên số 10 năm 1979, nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Còn bức chính (vẽ trực diện), về sau (1981) vợ con ông mới phát hiện ra. Người bạn quốc tế thân thiết của Bác Hồ đã qua đời tháng 4/1979 tại ngoại ô Thủ đô Stockholm.

Triệu Hải
Theo antg.com.vn
Phương Thúy (st)

bqllang.gov.vn

Những điều ít biết về công tác bảo vệ Bác Hồ: Người cận vệ đầu tiên của Bác Hồ

Giadinh.net – Ông là người cận vệ đã bảo vệ Bác Hồ khi từ Côn Minh (Trung Quốc) về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Ông vinh dự và tự hào được Bác Hồ đặt tên, từng là Tư lệnh đầu tiên của Quân chủng Phòng không – Không quân và 23 năm liền giữ cương vị Phó Tổng tham mưu trưởng.

Kế hoạch bảo vệ an toàn đón Bác Hồ về nước

Ông là Thượng tướng Phùng Thế Tài, nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Từ đứa trẻ lang lang ở Côn Minh

Tên thật của ông là Phùng Văn Thụ, sinh ra trong một gia đình nghèo tại xã Văn Nhân, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây (cũ). Nhà đông anh em nên làm ruộng quanh năm mà không đủ ăn. Thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên mấy bà con đi buôn bán bên Trung Quốc bảo ông sang xin việc làm để kiếm sống.

Thượng tướng Phùng Thế Tài.

Năm 1933, khi đó mới 13 tuổi, ông theo một người làng đi kiếm sống. Điểm dừng chân đầu tiên của ông là thị trấn Chỉ Thôn, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Thị trấn này là một trạm hoả xa trung chuyển tất cả đầu máy từ Vân Nam về, từ Lào Cai của Việt Nam sang. Vì nhỏ tuổi nên ông không xin được việc của người lớn. Một gia đình bản địa nhận ông về làm giúp việc nhà.

Nhưng ở được một thời gian, vì không chịu được cảnh hống hách bắt nạt của con chủ nhà nên ông bỏ lên Côn Minh, thủ phủ của tỉnh Vân Nam. Suốt một tuần lễ không xin được việc gì. Giữa trời đông lạnh giá, bụng đói meo, quần áo tơi tả không có một bộ mang theo, ông lang thang rồi mệt ngủ luôn trên ghế đá công viên Hạ Lầu, ngoại thành Côn Minh. Đang thiu thiu, có một người đàn ông đánh thức dậy và nói bằng tiếng Việt: “Em từ đâu đến mà nằm ngủ ở đây?”

Sau khi trình bày hoàn cảnh của bản thân, ông được người đàn ông này đưa về hãng dầu cù là Nhị Thiên Đường. Qua một thời gian thử thách và được giác ngộ, ông được tham gia các đoàn thể và đi theo cách mạng.

Người gặp ông buổi tối ở công viên Hạ Lầu chính là đồng chí Vũ Anh (bí danh Trịnh Đông Hải). Thời gian đó đồng chí Vũ Anh được Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương cử sang Trung Quốc hoạt động cách mạng, làm Biện sự sứ, xây dựng cơ sở trong công nhân lao động. Năm 1939, chính đồng chí Vũ Anh đã dìu dắt, giúp đỡ và giới thiệu kết nạp ông vào Đảng Cộng sản Đông Dương (đồng chí Vũ Anh đã nhận ông làm con nuôi). Người thứ hai giới thiệu kết nạp ông là đồng chí Thanh Bình (sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đồng chí Thanh Bình là thứ trưởng Bộ Nội Vụ).

Thành cận vệ đầu tiên của Bác Hồ

Một buổi sáng đầu năm 1940, có người khách đến hãng Nhị Thiên Đường tìm gặp đồng chí Vũ Anh. Hai người đến địa điểm khác trao đổi công việc. Đến chiều, đồng chí Vũ Anh cho biết người đến tìm gặp là ông Trần và giao Phùng Thế Tài bảo vệ người này. Nhìn thái độ và nghe đồng chí Vũ Anh dặn dò cẩn thận, ông biết đây là một người rất quan trọng. Sau này, ông mới biết ông Trần chính là bí danh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Và ông đã trở thành cận vệ đầu tiên của Bác Hồ từ thời khắc ấy. Sau này ông được Bác đặt tên là Phùng Hữu Tài (một thời gian sau ông xin Bác cho đổi tên là Phùng Thế Tài).

Bác Hồ tặng quà Tết và nói chuyện với các chiến sỹ Đoàn không quân Sao Vàng.

Về kỷ niệm ngày đầu bảo vệ Bác Hồ, Thượng tướng Phùng Thế Tài kể: “Sau khi đồng chí Vũ Anh giới thiệu tôi là cận vệ, ông Trần nhìn tôi tỏ ý hài lòng. Tuần lễ đầu, ông Trần và tôi nói chuyện với nhau bằng tiếng Trung Quốc, sau mới dùng tiếng Việt. Do nguyên tắc hoạt động bí mật nên cả ông Trần và tôi làm như không quen biết nhau. Gọi là đi bảo vệ nhưng thực ra tôi có súng ống gì đâu. Tôi vốn hiếu động, dạo trước đã làm một quả đấm sắt, một con dao. Vậy là giờ đây nó hữu ích. Tôi không được phép vào nhà ở của ông Trần, mà chỉ được đứng chếch ở bên phải hoặc bên trái lề đường để quan sát. Thấy ông Trần đi là tôi đi theo cách 5 đến 10 mét”.

Trong dịp Tết Tân Tỵ (năm 1941), ông cũng nằm trong số những cán bộ đi cùng để bảo vệ Bác Hồ về nước. Khi về đến cột mốc 108, ông Phùng Thế Tài được tổ chức phân công ở lại Côn Minh hoạt động. Vì thạo tiếng Trung Quốc nên quân đội Tưởng tuyển ông làm cho cơ quan tình báo để chuẩn bị cho kế hoạch “ Hoa quân nhập Việt” và cho ông vào học lớp quân chính về nghiệp vụ tình báo của trường quân sự Hoàng Phố.

Là ngưòi thông minh, tiếp thu nhanh, chỉ sau khóa học ông được phong cấp Thiếu Hiệu (ngang với Thiếu Tá). Chúng cấp cho ông một số giấy chứng nhận đặc biệt, có đóng dấu Tưởng Thống chế. Giấy này cho phép được đi lại trong toàn quốc. Lợi dụng sự ưu đãi này, ông đã tranh thủ hoạt động có lợi cho phía ta. Những giấy tờ đó cũng đã thực sự trở thành “bảo bối” cứu nguy cho những chuyến công tác bảo vệ lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sang Trung Quốc sau này.

Đầu năm 1942, ông được tổ chức giao nhiệm vụ phụ trách đợt chuyển vũ khí về nước. Sau đó, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và đồng chí Vũ Anh cho ở lại Pác Bó tiếp tục làm nhiệm vụ bảo vệ Bác. Dạo đó, tổ bảo vệ “Ké Thu” (bí danh của Bác Hồ ở Pác Bó) gồm có: Phùng Chí Kiên, Lê Quảng Ba, Đinh Đại Toàn, Đặng Văn Cáp, Dương Đại Lâm, Phùng Thế Tài… Thời gian này cuộc sống của Ké Thu và tổ bảo vệ rất thiếu thốn. Lúc rảnh rỗi anh em trong tổ bảo vệ đi mò cua bắt ốc, đào củ mài. Thấy lãnh tụ Nguyễn ái Quốc gầy yếu anh em ưu tiên dành gạo nấu riêng. Người không cho làm như vậy và bảo: “Các chú chịu khổ được, Bác cũng chịu được”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm và chúc Tết Đoàn không quân Sao Vàng và các đơn vị bảo đảm kỹ thuật đường băng thuộc quân chủng Phòng không Không quân vào sáng mồng 1 Tết Đinh Mùi (9/2/1967). Cùng đi có Thượng tướng Văn Tiến Dũng-Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (người đi bên trái Bác) và Đại tá Phùng Thế Tài-Tư lệnh quân chủng Phòng không Không quân (người đi bên phải Bác).

Một mình bảo vệ Bác trở lại Trung Quốc

Tháng 8/1944, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lấy tên là Hồ Chí Minh và quyết định sang Trung Quốc gặp đại diện quân đồng minh để tranh thủ sự giúp đỡ. Đồng chí Phùng Thế Tài được giao nhiệm vụ bảo vệ Bác trong chuyến đi này.

Thượng tướng Phùng Thế Tài kể: “Lần ấy chỉ có một mình tôi đi bảo vệ Bác. Tôi mặc bộ dạ sỹ quan Tưởng oai lắm, nói thạo tiếng Trung Quốc, lại có sẵn giấy thông hành đặc biệt của chính quyền Tưởng Giới Thạch cấp hồi còn học ở trường quân sự Hoàng Phố nên yên trí. Bác mặc bộ quần áo của quân đội Tưởng, người ngoài nhìn chẳng khác anh lính trẻ đi với ông lính già. Khi đến Tĩnh Tây, cơm nước xong, Bác vào làm việc tại trụ sở của Quốc dân đảng Trung Hoa và là tổng hành dinh của Trung tướng Trần Bảo Xương.

Tối hôm đó, Bác ngủ ngay ở chỗ làm việc. Tôi không rõ Bác liên lạc với Trần Bảo Xương để làm gì, không dám hỏi vì nguyên tắc bí mật. Trên đường về phòng nghỉ, Bác nói bỏ quên mũ ở phòng khách bảo tôi quay lại lấy. Nhờ thế, tôi vô tình nghe lỏm được bọn Trần Bảo Xương đang bàn trong phòng kín tìm cách bắt giữ hai Bác cháu tôi. Tôi nghe thế rất lo, vội quay báo ngay với Bác. Bác rất bình tĩnh, chỉ thoáng một chút đăm chiêu. Suy nghĩ một lúc, Bác quyết định quay về Việt Nam ngay trong đêm hôm đó”.

“Nhưng làm sao mà ra khỏi hai cánh cổng sắt có lính gác của tổng hành dinh Trần Bảo Xương được? Như hiểu được ý tôi, Bác khẽ nói: “Ta đi ngay, không mang hành lý gì, đi người không, giả bộ với lính gác ra ngoài mua bao thuốc lá!”. Thoát khỏi được tổng hành dinh của Trần Bảo Xương, hai Bác cháu quên cả mệt, đi như chạy ra khỏi Tĩnh Tây và cuốc bộ một mạch không nghỉ. Sáng hôm sau trông thấy Bác quá mệt, người phờ phạc, lòng tôi quặn lại”.

Thời gian sau thấy năng khiếu chỉ huy quân sự và nguyện vọng của ông Phùng Thế Tài được đi chiến đấu ngoài mặt trận, Bác đồng ý. Trước khi ra mặt trận, Bác dặn ông: “Chú sẵn sàng đi chiến đấu, thế là tốt, nhưng nhớ đừng có “hữu dũng, vô mưu” đó nhé…”. Những lời Bác dạy, ông luôn thấm thía và là hành trang luôn theo ông, giúp ông vượt qua mọi khó khăn, gian khổ trong suốt cuộc đời. Ông đã trở thành vị tướng mà nói đến ai cũng biết: “Tướng Tài”.

Nguyễn Đức Quý

giadinh.net.vn

Những chuyện ít biết về công tác bảo vệ Bác Hồ: Kế hoạch bảo vệ an toàn đón Bác Hồ về nước

Giadinh.net – Cuối tháng 2/1940, được tin lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về đến Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc), Trung ương Đảng đã cử một số cán bộ như: Phạm Văn Đồng (bí danh là Lâm Bá Kiệt), Võ Nguyên Giáp (bí danh là Dương Hoài Nam), Đặng Văn Cáp (bí danh là Đặng Văn Linh), Hoàng Văn Lộc và một số đồng chí khác sang Trung Quốc để tìm gặp, báo cáo tình hình trong nước và xin chỉ thị của Người.

Sau gần 3 tháng, đến tháng 5/1940 đồng chí Phùng Chí Kiên dẫn đồng chí Đặng Văn Cáp đến Côn Minh gặp Bác.

Những người bảo vệ Bác về nước

Sau khi trao đổi, Bác đồng ý phương án về nước bằng đường Côn Minh – Lào Cai, qua huyện Khai Viễn. Bác phái đồng chí Bùi Thanh Bình, Hoàng Văn Lộc về Hồ Kiều (một thị trấn của tỉnh Vân Nam sát địa phận tỉnh Lào Cai nước ta) để thăm dò đường sá. Người chịu trách nhiệm nhóm công tác bảo vệ Bác trong thời gian chuẩn bị về nước là đồng chí Phùng Thế Tài.

Hưởng ứng cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và tiến tới kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Người, Báo GĐ&XH khởi đăng loạt tư liệu đặc biệt về công tác bảo vệ an ninh cho Bác.

Báo GĐ&XH cảm ơn Trung tá Nguyễn Đức Quý – Đội trưởng đội Nghiên cứu khoa học, Phòng Tham mưu, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ –  người đã trực tiếp chắp bút cho loạt bài này. Chúng tôi cũng trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo và cán bộ, chiến sỹ Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đã giúp đỡ để hoàn thành loạt tư liệu này. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Nhưng bất ngờ cuối tháng 6/1940 đường giao thông Côn Minh- Lào Cai bị tắc nghẽn nên kế hoạch không thực hiện được. Bác chỉ thị cho đồng chí Hoàng Văn Lộc phải trở lại ngay Côn Minh.

Ngày 5/1/1941, đồng chí Hoàng Văn Thụ, Thường vụ Trung ương Đảng từ Việt Nam sang Tân Khư (Tĩnh Tây- Quảng Tây- Trung Quốc) gặp Bác để báo cáo kết quả thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng về xây dựng và củng cố an toàn khu Cao Bằng và việc tổ chức thành lập Ban Công tác đội cũng như phong trào cách mạng ở đây.

Sau khi báo cáo kết quả việc chuẩn bị Hội nghị Trung ương lần thứ 8, đồng chí Hoàng Văn Thụ nêu nguyện vọng của Trung ương Đảng, đề nghị Bác về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đồng chí cũng đề nghị Bác về qua ngả Cao Bằng, vì trình độ giác ngộ cách mạng của nhân dân dọc biên giới tương đối cao và cán bộ ở đây vững vàng.

Ngày 6/1/1941, Bác Hồ cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên, Đặng Văn Cáp… được đồng chí Hoàng Sâm dẫn đi qua Nậm Bo xuống Nậm Quang (Tĩnh Tây- Trung Quốc) để chuẩn bị lập kế hoạch cụ thể cho việc về nước. Tại đây, Bác Hồ đang mở lớp học và trực tiếp huấn luyện chính trị cho 43 đồng chí trong Ban công tác đội do Trung ương cử sang. Thời gian lớp học kéo dài khoảng 20 ngày, kết thúc vào dịp gần Tết Âm lịch năm 1941 (Tân Tỵ).

Bức họa bảo vệ Bác về đến cột mốc 108, ngày 28/1/1941 tại Pác Bó (Cao Bằng).

Sau khi kết thúc lớp học, Bác mới chỉ đạo kế hoạch về nước. Người quyết định qua cột mốc 108 về Pác Bó (Cao Bằng). Đoàn về nước được chia làm 3 nhóm. Nhóm thứ nhất do đồng chí Hoàng Sâm phụ trách về nước bằng đường Xuyên Sơn tới Pác Bó.

Nhóm thứ hai do đồng chí Phùng Chí Kiên phụ trách đi qua cột mốc 108, rồi theo đường 203 về Pác Bó. Hai nhóm này về trước nắm tình hình hoạt động của địch, và tổ chức khảo sát đường đi để Bác về nước. Ngay khi hai nhóm đầu lên đường về nước thì nhóm thứ ba, trực tiếp bảo vệ Bác cũng đi về bản Nậm Tẩy (Quảng Tây-Trung Quốc) để chờ tin trong nước, sẵn sàng xuất phát khi điều kiện thuận lợi. Khi về nước, hành lý mà Bác mang theo hầu như chẳng có gì. Chỉ có một chiếc vali nhỏ quần áo cũ và một chiếc máy chữ xách tay hiệu “Ba Bi”. Chiếc máy chữ này là vật dụng cá nhân quý giá mà Bác luôn mang theo bên mình.

Sau một thời gian nắm tình hình, thời cơ đến, Bác Hồ quyết định lên đường về nước. Nhóm bảo vệ trực tiếp và đi theo Bác Hồ lúc này ngoài đồng chí Phùng Thế Tài, còn có những người sau: Hoàng Văn Lộc- một cán bộ người dân tộc Tày, có  kinh nghiệm hoạt động bí mật ở vùng Cao Bằng; Đặng Văn Cáp  là thanh niên rất khoẻ, giỏi võ, bắn súng cũng rất giỏi và biết chữa bệnh bằng thuốc nam; Thế An cũng là một người dân tộc Tày, rất thông thạo đường rừng, đặc biệt là những đường đi tắt; Lê Quảng Ba cũng là một cán bộ người dân tộc Tày, rất am hiểu phong tục của đồng bào dân tộc ít người, thông thạo tiếng  Dao, Mán, Nựng và tiếng Quan Hoả (Trung Quốc). Nhóm trực tiếp bảo vệ Bác Hồ do đồng chí Lê Quảng Ba phụ trách, tuy nhiên Bác Hồ chỉ đạo trực tiếp.

Cái Tết quê hương đầu tiên sau 30 năm xa Tổ quốc

Bác Hồ đã thống nhất kế hoạch hóa trang và phân công nhiệm vụ cho từng người. Về hóa trang, Bác phân tích: Vùng này có nhiều người dân tộc Nùng. Họ có phong tục, cứ đến Tết là các chàng rể (già cũng như trẻ) đều phải mang đồ lễ về “cúng ma” ở nhà bố mẹ vợ. Vì vậy, cả nhóm ăn mặc như những chàng rể người Nùng đang trên đường về nhà bố mẹ vợ. Bác Hồ cũng mặc một bộ quần áo đặc trưng của đàn ông Nùng thường mặc trong dịp Tết: quần áo chàm, đầu đội mũ kiểu bê-rê cũng may bằng vải màu chàm, chân đi đôi giày vải đen, quàng khăn để vừa ấm vừa che kín bộ râu.

Khu vực Bác làm việc trước đây.

Sáng sớm 28/1/1941, tức ngày mồng 2 Tết (Tân Tỵ), nhận được tin từ trong nước báo sang tình hình thuận lợi, cả đoàn xuất phát từ bản Nậm Quang từ rất sớm. Sau 8 giờ đi đường, khoảng 12h trưa thì cả đoàn đến dãy núi Phia Sum Khảo, nơi có cột mốc biên giới số 108 trên biên giới Việt – Trung, thuộc xã Trường Hà, châu Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.

Cùng lúc đó, nhóm được cử nhiệm vụ đi đón Bác do đồng chí Hoàng Sâm từ trong nước cũng có mặt tại cột mốc 108. Tất cả đều xúc động khi thấy Bác đứng lặng đi bên cột mốc số 108, ngắm nhìn núi rừng trùng điệp của tỉnh Cao Bằng- mảnh đất địa đầu của Tổ quốc. Sau 30 năm xa Tổ quốc, bôn ba đi tìm đường cứu nước, đúng vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã trở về đất nước. Người cúi xuống cầm nắm đất lên hôn. Sau đó Bác vui vẻ bắt tay chúc Tết mọi người.

Rời cột mốc 108, cả đoàn theo con đường mòn xuống thung lũng Pắc Bó. Tại đây đoàn công tác bảo vệ bố trí Bác ở gia đình nhà ông Máy Lỳ, dân tộc Nùng, một cơ sở cách mạng tin cậy.  Gia đình ông Máy Lỳ chỉ có hai vợ chồng và một người con gái. Đây là địa điểm thường được Trung ương Đảng chọn làm nơi hội họp và trạm dừng chân cho cán bộ đi công tác qua lại. Gia đình ông Máy Lỳ rất nghèo nhưng lại có tinh thần yêu nước nồng nàn. Căn nhà của ông nằm độc lập ở dưới một quả đồi nhưng thoáng đãng. Từ sân nhà nhìn ra có thể thấy toàn cảnh thung lũng ở phía trước. Sau nhà là một con suối, kế đến là một khu rừng rậm rất tiện cho yêu cầu bảo vệ khi có tình huống bất trắc có thể xảy ra.

Gia đình ông Máy Lỳ hầu như đã quen mặt biết tên hết các cán bộ trong đoàn nhưng không biết Bác là ai. Khi đến nhà ông Máy Lỳ, Bác mặc áo chàm, đi dép rơm, tay cầm gậy. Mọi người gọi Bác là ông Ké và giới thiệu là cán bộ dưới xuôi lên. Ông Máy Lỳ gọi con gái mang ra một thau nước nóng, mời ông Ké rửa trước.

 Nghỉ ngơi một lát, ông Máy Lỳ lại sai con gái bưng một mâm cỗ Tết ra mời ông Ké và đoàn cán bộ dùng. Bên mâm cỗ Tết, mọi người trò chuyện râm ran, riêng Bác cứ lặng yên, nét mặt rất xúc động. Ông Máy Lỳ nâng bát rượu mời Bác và anh em cán bộ cùng đi. Bác chúc sức khoẻ ông Máy Lỳ. Ông Máy Lỳ rất vui, gọi vợ và con gái ra tiếp khách để tỏ lòng mến khách.

Đến ngày 8/2/1941, đoàn cán bộ bảo vệ tiếp tục đưa Bác vào ở và làm việc trong hang Cốc Bó.

(Còn nữa)

Nguyễn Đức Quý

giadinh.net.vn

Ðền thờ Bác Hồ ở Pác Bó

Ðền thờ Bác Hồ ở Pác Bó

Có một ngôi đền thờ Bác Hồ mới được khánh thành ngày 19-5-2011, theo tôi, cũng là một ngôi đền thờ Bác Hồ hết sức độc đáo. Ðó là đền thờ Bác Hồ ở Pác Bó, Cao Bằng.

Lịch sử đã ghi lại, vào buổi sáng ngày 28-1-1941, từ Trung Quốc, Bác Hồ đã bí mật về nước. Ðiểm dừng chân đầu tiên của Người là cột mốc 108, sau tròn 30 năm bôn ba nơi xứ lạ quê người tìm đường cứu nước. Và hang Cốc Bó, một hang đá lạnh lẽo cách rất gần cột mốc 108 đã được chọn làm nơi tá túc, một “đại bản doanh” của cách mạng với một người duy nhất vừa “Tổng chỉ huy” vừa “lính” là Bác Hồ.

Bác Hồ đã ở trong hang Cốc Bó khoảng hai tháng. Tháng Giêng tháng Hai, khí hậu ở Cao Bằng rất lạnh, hang Cốc Bó dĩ nhiên còn lạnh lẽo hơn bội phần. Năm 1979, hang Cốc Bó đã bị quân xâm lược dùng chất nổ phá toang miệng hang, nhưng lòng hang vẫn còn nguyên vẹn. Người viết bài này đã từng đứng trên miệng hang, vào năm 2003, để nghe và nhìn những giọt nước lạnh rỏ tí tách từ các thạch nhũ xuống lòng hang, nơi Bác Hồ của chúng ta đã nằm ngủ trong những đêm rét mướt. Năm 2011, khi trở lại thăm hang Cốc Bó, thì đường lên miệng hang đã bị chặn lại vì một lý do “nhạy cảm” nào đó, nên khách du lịch không có cảm giác thật sự về cái lạnh trong lòng hang khi được nghe và nhìn những giọt nước lạnh từ trần hang rỏ xuống.

Những sự nghiệp lớn thường bắt đầu từ hành trình gian khổ. Vinh dự cho Pác Bó (tiếng Tày có nghĩa là “Miệng Nguồn”), khi địa danh này được coi là một “cột mốc khởi đầu” cho cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945. Thử nghĩ xem, nếu vào một ngày đầu năm 1941, Bác Hồ không về nước và ở hang Cốc Bó (tiếng Tày có nghĩa là “Hang Nguồn”), thì công cuộc vận động cách mạng chống thực dân Pháp sẽ như thế nào? Tình cờ chăng, khi một địa danh có lẽ khá vô danh như hang Cốc Bó lại trở thành một điểm sáng của lịch sử Việt Nam hiện đại? Nhưng với những ai đã từng đến thăm hang Cốc Bó, họ đều có chung nhận xét, đây không hề là chuyện tình cờ. Hình suối và thế núi ở Pác Bó có một vẻ gì thật đặc biệt, nó vừa khuất vừa mở, vừa kín vừa thông, dễ tiến dễ thoái, và một người có tầm nhìn xa rộng như Bác Hồ khi chọn địa danh này cho công cuộc dựng cờ khởi nghiệp, thì đó là sự lựa chọn sáng suốt và thực tế của một nhà quân sự và một nhà chính trị.

Trên đường vào trung tâm khu di tích Pác Bó, du khách đi sát qua một ngọn đồi có tên “Pò Tếng Chấy”, ngọn đồi có suối Lê-nin bao bọc ba bề, đứng trên ngọn đồi này nhìn về phía nam, tầm mắt chợt mở ra bát ngát.

Tỉnh Cao Bằng đã chọn đỉnh ngọn đồi ấy, ngọn đồi có tên là “Pò Tếng Chấy”, để làm nơi xây dựng đền thờ Bác Hồ. Chữ “Pò” ở đây có nghĩa là “đồi” là “ngọn đồi”, còn “Tếng Chấy” là gì thì tôi đã hỏi một số người dân địa phương, nhưng không ai biết nghĩa. Thôi thì cứ tạm gọi là đồi “Tếng Chấy” vậy. Bây giờ Bác Hồ đã hiển thánh, thì sự hiển thánh của Người cũng vô cùng giản dị, như chính đời sống của Người. Vì thế, đền thờ Bác Hồ được xây trên đỉnh ngọn đồi mang cái tên mộc mạc “Pò Tếng Chấy” cũng thật thú vị, nó đúng như phong cách sống của Bác lúc sinh thời.

Ðược thiết kế cách điệu từ hình dáng một ngôi nhà sàn của đồng bào dân tộc ở Pác Bó, đền thờ Bác Hồ không khiến người đến viếng phải choáng ngợp vì sự đồ sộ hay hình thức tân kỳ, mà có cảm giác ấm áp như đang đến với một ngôi nhà sàn bình dị bên trong có ngọn lửa bếp cháy rực suốt ngày đêm.

Không lặp lại mẫu kiến trúc ở các công trình tương tự trong cả nước, đền thờ Bác Hồ ở Pác Bó thanh thoát trong hình thể và uy nghi như một nơi tụ khí, vừa ung dung như một đài quan sát cho ta mở tầm mắt, lại vừa thân thiện gần gũi trước cảnh quan sông núi và cánh đồng lúa gieo của đồng bào dân tộc Nùng dưới chân đồi. Xây dựng và hoàn thành chỉ trong vòng một năm, từ 19-5-2010 đến 19-5-2011, đền thờ Bác Hồ ở Pác Bó vẫn kịp tỏa lên vẻ thiêng liêng và bình dị, cứ như ngôi đền đã tọa lạc trên ngọn đồi “Pò Tếng Chấy” này từ lâu lắm.

Quay về hướng nam, đền thờ Bác Hồ như gợi nhớ tấm lòng yêu thương vô hạn của Người đối với đồng bào miền Nam ngày đất nước còn phải chịu nỗi đau chia cắt. Bây giờ, đất nước đã liền một dải, thì “phương Nam” đây chính là “Nam quốc sơn hà” vậy! Bên trong đền thờ, đặt nơi trang trọng nhất ở gian chính điện là một bức tượng toàn thân Bác Hồ với dáng ngồi thanh thản. Trên cao nhất là bức hoành phi khắc bốn chữ “Hồng nhật cao minh” được mạ vàng trang trọng. Bên tả bức tượng khắc bài thơ bốn câu của Bác Hồ: “Non xa xa, nước xa xa/ Nào phải thênh thang mới gọi là/ Ðây suối Lênin, kia núi Mác/ Hai tay xây dựng một sơn hà/”. Nhà thơ Trần Hùng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng nói với tôi: “Anh nhìn kỹ xem, bức tượng Bác Hồ này rất có thần phải không? Dường như khí thiêng sông núi ở Pác Bó đã tụ cả vào bức tượng đồng này, khiến tôi mỗi lần chiêm ngắm lại một lần ngạc nhiên”. Ðúng là bức tượng Bác Hồ ở đền thờ này kỳ lạ thật, khiến ta có cảm giác an tĩnh khi chiêm ngắm, nhưng lại dấy lên trong ta một nỗi bồi hồi nào đó, vừa theo cách một tác phẩm nghệ thuật tác động tới người xem, vừa mang vẻ thiêng liêng thu hút ta như một bức tượng thánh.

Anh Trần Hùng kể, thời gian xây dựng đền thờ Bác Hồ, lúc đó anh đang là Giám đốc Sở VH, TT&DL, anh đã được lãnh đạo tỉnh cử lên hiện trường với công nhân suốt hai tháng cuối cùng, khi công trình sắp “về đích”. Ðó là thời gian cường độ lao động ở công trình là cao nhất, kỹ sư và công nhân phải làm cả ba ca. “Ðó là niềm vinh dự, một cơ may đã cho tôi được cùng góp sức nhỏ bé của mình vào công trình này anh ạ!”.

Có một chi tiết khiến tôi cảm động, đó là chiếc bàn nhỏ đặt ở góc đền thờ tiếp nhận những công đức của người đến viếng. Khi tôi và mấy người bạn xin được góp chút lòng thành, thì cô gái người Nùng là nhân viên bảo tàng đã cẩn thận ghi họ tên người cung hiến công đức trên tấm giấy hoa in sẵn rất đẹp và trao cho chúng tôi như một ghi nhận. Và như một món quà kỷ niệm./.

Theo nhandan.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Công trường 5: cơ sở nội dung và giá trị lịch sử

Năm 1956, sau khi hoàn thành nhiệm vụ Chủ nhiệm Hậu cần đoàn XP do Bác Hồ sáng lập tôi về nhận công tác mới tại cơ quan Phủ Chủ tịch cùng với đồng chí Vũ Kỳ, Tạ Quang Chiến… Thời gian đầu được giao phụ trách nhà khách. Năm 1957, tôi được cử vào làm nhiệm vụ trực tiếp giúp việc về sinh hoạt và làm việc của Bác kính yêu.

Đầu năm 1958, tôi được giao theo dõi việc làm ngôi nhà sàn bằng gỗ của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch. Ông Nguyễn Văn Ninh Viện trưởng Viện thiết kế Bộ Kiến Trúc trực tiếp nghe yêu cầu của Bác. Thiết kế xong, anh Ninh trình bản vẽ lên được Bác duyệt và cho thi công. Bác tự chọn khoảnh đất để dựng nhà. Biển gắn tại nhà sàn ông Ninh trực tiếp thiết kế tôi trình lên Bác duyệt và cho gắn lên nhà. Nhà sàn làm xong, Bác chuyển sang ở trong dịp tháng 5-1958. Mọi người đều phấn khởi. Anh em tham gia xây dựng công trình rất xúc động khi được Bác tổ chức buổi gặp gỡ trực tiếp cám ơn, chụp ảnh cùng anh em. Bức ảnh đó hiện lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Năm 1959, tôi được cấp trên giao nhiệm vụ trực tiếp theo dõi, chuẩn bị trang thiết bị, làm đầu mối liên lạc để giúp các đồng chí lãnh đạo Văn phòng PTT và PCT mà trực tiếp là các đồng chí Phan Mỹ, Nguyễn Kim Cương, Vũ Kỳ chỉ đạo điều hành công việc xây dựng Công trường 5 (Sơn Tây) – Tên gọi bí mật của Khu di tích Đá Chông ngày nay. Tên gọi Công trường 5 do ai đặt và tại sao như vậy tôi không rõ. Khi nhận nhiệm vụ và tiếp nhận các tài liệu văn bản tôi đã thấy tên gọi Công trường 5 được ghi trong các văn bản chính thức rồi.

Được tham gia công trình và trên cơ sở các tài liệu gốc của công trình còn lưu giữ trong đó có bản vẽ Bình đồ Công trường 5 do Cục Doanh trại (Tổng cục Hậu Cần – Bộ Quốc phòng) hoàn chỉnh ngày 8-11-1959 gửi VP Chủ tịch nước ngày 11-9-1959 có thể tóm tắt lược những vấn đề chính sau đây:

1. Phạm vi khu vực Công trường 5

Khu A: Được xây dựng trong các chỉ giới cắm mốc từ M1 đến M7gồm 2 dãy nhà nối liền nhau bằng lối đi có mái che (nhà cầu).

Ngôi nhà thứ nhất được thiết kế kiểu nhà sàn ở Hà Nội. Cao 2 tầng
Tầng 1 là nơi tiếp khách, là phòng họp Bộ Chính trị có kê một dãy bàn dài và ghế ngồi. Vì ở núi cao nên khác với nhà sàn ở Hà Nội nhà ở đây có lắp cửa để tránh rắn rết và các loại côn trùng.Cửa lùa làm bằng gỗ có thể có thể tháo rời. Khi cần bệ cửa thành ghế cho khách ngồi.

Tầng 2 chia thành 4 phòng: 3 phòng nghỉ và 1 phòng khách. Phòng nghỉ ở đầu hồi dành riêng cho Bác, hai phòng còn lại dành cho các đồng chí lãnh đạo hoặc tiếp khách và 1 phòng khách. Tổng diện tích xây dựng ngôi nhà này là 318,5m2 trong đó có 191,44m2 sử dụng.

Phía trước bên phải, đầu cầu thang xuống có xây hầm trú ẩn nhỏ bằng đá hộc đủ chỗ cho 3, 4 người sử dụng. Xung quanh nhà có rải sỏi, bó nền bằng gạch lá dừa đỏ. Bậc tam cấp vào nhà và hiên được làm bằng granitô.

Ngôi nhà thứ hai trong khu A là nhà 1 tầng. Được nối liền với nhà 2 tầng và chia thành các phòng chức năng: Thư ký, Bảo vệ tiếp cận, Bếp nấu ăn… Tổng diện tích xây dựng là 124,96 m2 trong đó có 85,2 m2 sử dụng

Khu B: Khu B nằm trên một quả đồi giữa khu nhà A và núi U Rồng theo thế yên ngựa. Khu vực này gồm có 2 nhà:

Ngôi nhà thứ nhất xây 2 tầng chia thành nhiều phòng để các đồng chí Trung ương, các đồng chí lãnh đạo cao cấp làm việc. Nhà xây để liền một lúc có thể đón tiếp và đủ chỗ làm việc cho nhiều người. Ngôi nhà 2 tầng này có diện tích xây dựng 301,65 m2 trong đó có 175 m2 sử dụng. Phía sau nhà có hầm trú ẩn dài cho nhiều người cùng sử dụng được.

Ngôi nhà thứ hai là nhà phục vụ: Bếp ăn, nhà kho… Ngôi nhà này có diện tích xây dựng 141,4 m2 trong đó có 104,25 m2 sử dụng.

Đi tiếp từ khu B sang, lên dốc là địa điểm làm sân bay trực thăng có diện tích 10.000 m2 giữa có sân bê tông phủ đất và trồng cỏ rộng 1600 m2 . Sân bay này được xây theo đồ án thiết kế và có sự giám sát của cán bộ kỹ thuật Cục Không quân

Khu C: Có dãy nhà xây 1 tầng kề hồ và sát phía xóm Đồi, gần đường mòn đi xuống bờ sông. Đây là nhà giành riêng cho cán bộ, chiến sĩ trung đội cảnh vệ Trung đoàn 600 thuộc Công an vũ trang. Diện tích xây dựng khu C là 342,76 m2trong đó có 205 m2 sử dụng.

Cùng với các dãy nhà, sân bay trực thăng… Công trường 5 còn có các công trình phụ trợ thiết yếu như: Nhà kho, nhà tắm, nhà vệ sinh… và nhà máy điện 25KVA, các bể chứa nước cho cả 3 khu vực, trạm lọc nước bảo đảm tiêu chuẩn, bệ rửa xe ôtô, bốt gác, vườn hoa, hòn non bộ….

Đường vào khu vực Công trường 5 có rải nhựa song cỏ mọc lan kín đường chỉ đủ cho một luồng xe vào, ra.

Nối vào khu vực ở Công trường 5 là các đường nội bộ rải đá cấp phối. Ra vào khu vực có đường đi riêng xa các khu nhà ở phía trong, rất kín đáo. Xung quanh khu vực này người dân địa phương vẫn đi lại bình thường, thuận tiện bằng đường mòn ven sông và đường nối các làng với nhau.

Vị trí Công trường 5 nằm giữa một khu rừng tự nhiên có nhiều cây cao bao phủ. ở giữa các ngọn đồi là vùng trũng có một hồ chứa, nước sông Đà có thể lưu dẫn vào hồ tự nhiên. Xung quanh cỏ lác mọc đầy. Các loại gà cỏ, chim, muông thú nhỏ thường lui về đây kiếm ăn tự nhiên.

Để giữ bí mật, khi xây dựng cây trong khu vực không được phép tuỳ tiện chặt phá. Nhiều cây lâu năm cạnh nhà sàn đến nay vẫn còn: Cây gạo, cây vải, long não, cây vải (ngoã), bồ hòn, cà phê… Nhiều cây được trồng thêm sau này như: Bạch Quế của Bộ Lâm nghiệp tặng trồng ở đây vừa thêm bóng mát lại có hương thơm lợi cho môi trường. Cây vú sữa miền Nam trồng trong vườn Bác cũng được chiết vài cành đem trồng trên Công trường 5 và một số nơi khác như: nhà nghỉ Hồ Tây, Khu vườn ươm trong PCT vì sợ nếu Mỹ ném bom trúng vào làm chết cây thì mất giống. Con đường dốc đi bộ từ phía bờ sông lên nhà, Bác nhắc trồng cây dâm bụt. Đến nay một số cây vẫn còn.

2. Quá trình xây dựng

Khu Công trường 5 có quyết định xây dựng từ tháng 6-1959. Sau vài tháng chuẩn bị, tháng 9-1959 bắt đầu khởi công xây dựng. Toàn bộ tài liệu liên quan đến công trình hiện còn lưu giữ đều đóng dấu và bảo quản theo mức độ Mật hoặc Tuyệt mật bởi tầm quan trọng và ý nghĩa chính trị của công trình.

Trước những yêu cầu về chất lượng và thời gian thiết kế, thi công công trình Ban lãnh đạo và Ban chỉ huy công trường đã được thành lập dưới sự chỉ đạo, điều hành của các đồng chí phụ trách Văn phòng Phủ Thủ tướng và Phủ Chủ tịch và đại diện tỉnh Sơn Tây, các lực lượng tham gia công trình.

Ngày 14/10/1959, Cục Doanh trại (Tổng cục Hậu cần) đã ra chỉ thị số 58/XD do Cục trưởng Dương Gia Khương ký đóng dấu Tối mật gửi Thượng khẩn đến Văn phòng Chủ tịch Phủ trong đó ghi rõ:

1/ Phòng thiết kế chịu trách nhiệm thiết kế đồ án theo yêu cầu của sở quan và lập dự toán để sở quan chuẩn bị tài chính và vật liệu cũng như nhân công
Đặc trách đ/c Nguyễn Duy Tuất trưởng ban Hội hoạ theo dõi việc chấp hành các đồ án thiết kế về mặt mỹ thuật cũng như kỹ thuật cho đến khi hoàn thành

2/ Phòng thiết kế phối hợp với Phòng kỹ thuật, ban điện thiết lập đồ án và dự toán thiết bị điện, bàn ghế tủ nước, màn và trang hoàng bên trong và giúp việc hướng dẫn thi công cho đến khi hoàn thành. Đồng chí Huyền có thể đứng trong BCH công trường nếu như được BLĐ chỉ định và chỉ có quan hệ với Cục về mặt kỹ thuật

3/ Tổng đội I chọn 1 đội công trình đảm nhận thi công chính cho việc xây dựng cho đến khi hoàn thành và cố gắng giúp đỡ công trường theo yêu cầu của đồng chí Huyền
4/ Phòng quản lý xây dựng doanh trại biệt phái đ/c Trương Quang Huyền trợ lý kỹ thuật đến làm đội trưởng đội công trình và chịu trách nhiệm hướng dẫn thi công bảo đảm kĩ thuật cho đến khi hoàn thành

Chỉ thị cũng nhấn mạnh: Các phòng, Ban chỉ huy tổng đội và các đ/c có tên có trách nhiệm động viên và làm công tác chính trị thật tốt để hoàn thành nhiệm vụ đúng kỳ hạn, bảo đảm chất lượng…

Theo quyết định của cấp trên UBHC tỉnh Sơn Tây đã cử đ/c Phương Chủ tịch tham gia Ban chỉ đạo và Đ/c Nguyễn Văn Rự Phó CVP UBHC tham gia BCH công trường đồng thời tham gia Đảng uỷ công trường. Tiếp đó cử 1 tổ cán bộ công tác trực tiếp dưới sự lãnh đạo của BCH công trường. Khi đ/c Phương đi học dài hạn TV Tỉnh ủy phân công Đ/c Nguyễn Văn Lễ, Uỷ viên UBHC tỉnh Sơn Tây thay thế. Tỉnh Sơn Tây có nhiệm vụ: Huy động nhân lực; Giải quyết những vấn đề có quan hệ đến tài sản của nhân dân; cung cấp các loại vật liệu có ở địa phương cho Công trường 5 lúc thi công. Văn phòng PTT cung cấp ngân sách và các điều kiện để Hà Tây hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Cục Không quân chịu trách nhiệm trong việc xây dựng đề án sân bay trực thăng: Chọn địa điểm; Làm thiết kế mẫu sân đỗ và chịu trách nhiệm về tiêu chuẩn và quy cách kỹ thuật; Tổ chức kiểm tra các giai đoạn trong quá trình thi công. Nội dung nhiệm vụ đã được ghi rõ trong tài liệu số 164/HC-KQ ngày 8/4/1960 của Cục Không quân do đ/c Cục trưởng Đại tá Đặng Tính ký có đóng dấu Tối mật gửi Văn phòng PCT. Đồng chí Đào Hữu Liêu Chủ nhiệm Hậu cần Cục Không quân được giao nhiệm vụ trực tiếp chăm lo công việc này

Trạm nước và hệ thống bể chứa, máy bơm, bể lọc và đường ống dẫn nước.. do Viện Thiết kế dân dụng thuộc Bộ Kiến trúc chịu trách nhiệm thiết kế và kỹ thuật

Viện Vi trùng học và Viện Vệ sinh (Bộ Y tế) chịu trách nhiệm lấy mẫu và phân tích đối chiếu tiêu chuẩn nước sử dụng trong khu vực.

Nguyên vật liệu xây dựng công trình do Tổng công ty Vật liệu xây dựng (Bộ Nội thương) đảm trách. Người trực tiếp được giao nhiệm vụ này là Đ/c Lưu Trọng Lạc…

Lực lượng xây dựng chủ yếu là bộ đội thuộc tiểu đoàn 2 và đại đội 4 Trung đoàn 259 thuộc Cục Công binh và quân số thuộc trung đoàn 600. Dân công chủ yếu sử dụng người của địa phương ở 3 xã: Thuần Mỹ, Ba trại và Minh Quang…

Các cơ quan, Bộ, Ngành và địa phương đã cùng phối hợp để xây dựng và hoàn thiện khu Công trường 5 theo đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng của một công trình quan trọng và có ý nghĩa chính trị vô cùng to lớn này.

Thời gian thi công khu vực Công trường 5 khoảng 10 tháng nhưng ngôi nhà sàn được xây dựng đầu tiên nên hoàn thành sớm nhất. Khi xây xong, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của anh Vũ Kỳ chúng tôi đã tiến hành việc lắp đặt và sắp xếp các thiết bị, đồ dùng bên trong ngôi nhà. Hầu hết là những thứ có sẵn của PCT đưa lên. Nhiều thứ có từ thời Pháp trong Dinh Toàn Quyền cũ. Bộ bàn ghế dùng họp BCT đưa từ Giao tế sang.

Trang thiết bị lắp đặt sắp xếp trong các phòng nghỉ ở tầng 2 đều giống nhau. Nhà tắm và nhà vệ sinh có lắp các thiết bị dùng chung chứ không chỉ cho riêng mình Bác dùng như nhiều người vẫn nói.

Khi nhà sàn xây xong, đường xung quanh nhà và đường đi từ phía bờ sông lên nhà đều lát sỏi cho thoát nước và mát chứ không phải để tiện cảnh vệ hoặc để Bác massage chân như một vài thông tin trước đây đã công bố trên báo chí. Có một lần khi ở nhà sàn gỗ tại Hà Nội, Bác hỏi tôi (Cù Văn Chước):

– Tại sao các chú lại lát gạch bê tông ? Sao không để sỏi như cũ quanh nhà sàn cho mát?

Tôi báo cáo: Thưa Bác, anh em sợ Bác bị vấp ngã.

Sau đó, không thấy Bác nhắc gì nữa.

Thời gian chúng tôi quản lý Công trường 5, Ban TCQTTW đã cử ông Huấn, ông Ven đến để cùng tham gia bảo quản và chăm sóc. Năm 1962 – 1963 khu Công trường 5 được giao cho Cục quản trị, Ban TCQTTW trực tiếp quản lý và sử dụng. Cử đồng chí Nguyễn Văn Bắc phụ trách nhà máy điện, trạm nước tiếp tục tham gia quản lý công trình. Còn các anh em khác thuộc Văn phòng Phủ Chủ Tịch, Văn phòng Thủ Tướng đều trở lại cơ quan cũ.
Sân bay trực thăng là một trong nhưng hạng mục thi công sau cùng với khu vực phụ trợ như: Bếp ăn, nhà kho ở khu C

3. Giá trị lịch sử Công trường 5

Khu vực Công trường 5 có ý nghĩa lịch sử hết sức đặc biệt: Lúc hoà bình đó là nơi họp Bộ chính trị, nơi làm việc của các lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Nhìn vào mục đích thiết kế khi xây dựng, căn cứ vào thực tế sắp xếp trong khu vực ta thấy đây là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đến làm việc, tổ chức các kỳ họp, tiếp khách Quốc tế,… và khi cần thì đề phòng với tình thế chiến tranh.

Thời gian đang xây dựng, tôi biết đôi lần Bác đến Công trường 5. Một lần, Bác đi cùng KTS Hoàng Linh và Phó Cục trưởng Đặng Kim Giang. Bác lên từ sáng mãi đến chiều mới về. Thấy đá tường và rèm cửa ngôi nhà màu hồng, Bác hỏi đ/c Hoàng Linh:

– Năm nay chú bao nhiêu tuổi ?

Sau khi nghe trả lời Bác nói:

– Chú sao trẻ tính thế ?

Ý Bác là dùng màu hồng để trang trí ngôi nhà này không hợp. Bác còn góp ý sửa lại cầu thang lên tầng 2 thích hợp với việc đón khách.

Hôm đó mảng trần nhà phòng ở của anh Vũ Kỳ bị lở mảng vữa rơi xuống, Bác nhắc anh em phải làm lại cho cẩn thận. Lần nữa lúc làm xong nhà Bác có lên gặp gỡ và nói chuyện với anh em. Giống như lần trước ở nhà sàn Bác cùng đến gặp và cám ơn anh em khi công trình hoàn thành.

Khối ảnh tư liệu của Bảo tàng cũng cho ta biết ngày 23/2/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng đồng chí Nguyễn Lương Bằng lên thăm khu vực đồn điền cà phê cũ ( CT. 5 sau này), cùng đi có anh Vũ Kỳ, bảo vệ có anh Định (Đội trưởng) và anh Uyển nay đã về hưu sống ở Nghệ An. Đón Bác tại đây có đ/c Phương, CT UBHC tỉnh uỷ Sơn Tây và đ/c Nguyễn Văn Rự, Phó chánh VP UBHC tỉnh hiện đã về hưu sống ở thôn Quảng Yên, xã Yên Sơn, Huyện Quốc Oai tỉnh Hà Tây. Hôm đó, Bác và đoàn công tác nghỉ ăn trưa tại đây. Buổi chiều, lúc 14 h Bác nói chuyện với gần 500 cán bộ chủ chốt của tỉnh và thị xã Sơn Tây về Hội nghị các ĐCS và Công nhân các nước XHCN và Tuyên ngôn hoà bình của Hội nghị đại biểu các ĐCS và Công nhân 65 nước họp tại Liên Xô. Báo Nhân Dân ngày 25/2/1958 đưa tin này trên đầu trang nhất.

Khi Công trường 5 đưa vào sử dụng Bác và một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ: Bác Tôn Đức Thắng, đ/c Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Văn Lương, Võ Nguyên Giáp… đã lên CT.5. Có lần đồng chí Phạm Văn Đồng đến ở đây nhiều ngày nghiên cứu tài liệu….

Sinh thời, hai lần Bác Hồ mời khách quốc tế thăm Công trường 5. Tháng 3/1961, Bác đưa Bà Đặng Dĩnh Siêu, phu nhân của Thủ tướng Chu Ân Lai – Khách mời của Đại hội Phụ nữ Việt Nam lên thăm Công trường 5. Cùng đi có Đại sứ Hà Vĩ, đ/c Lương Phong cán bộ SQ và 2 nữ đồng chí một là thư ký, một là phiên dịch.

Bà Đặng Dĩnh Siêu khi đến CT. 5 có mang 1 cây quít loại quả tròn có hạt từ Trung Quốc sang và 1 cây hoa Ngọc lan chuẩn bị từ Hà Nội lên để trồng tại đây. Hôm đó, Bà đã chụp nhiều ảnh sau có gửi lại tặng nên ta mới lưu lại được. Đó là những hình ảnh tư liệu rất hiếm về cuộc tiếp khách quốc tế ở CT. 5 Trong ảnh, Bác mặc chiếc áo khoác ngoài bằng lụa màu đen, vải may áo chính là quà tặng của Bà Đặng Dĩnh Siêu trước đó. Bác rất tinh tế và tình cảm trong ứng xử khi mặc chiếc áo này để tiếp người đã tặng vải cho mình.

Tháng 1/1962, Bác đưa anh hùng phi công vũ trụ Liên Xô G.Titốp lên thăm CT. 5. Tại đó

G.Titốp đã trồng cây hoa vàng làm kỉ niệm.

Khi sân bay xây dựng xong, có 2 lần Bác đi CT.5 bằng máy bay trực thăng. Cả 2 lần đều do phi công Liên Xô lái. Xuất phát từ sân Cột Cờ, khi lên đó bên dưới chỉ cần đốt lửa có khói báo hiệu là máy bay xuống được. Bác lên nhiều lần song tôi chưa thấy Bác ngủ lại đêm trên CT. 5. Bác đi trong ngày tối lại về Hà Nội.

Những năm đầu, cán bộ VPPTT và VPCTP chịu trách nhiệm quản lý công trình. Anh Hồ Văn Nhất (Trường), Lưu Quang Lập (Kiệm), Phan Đăng Lưu, Trần Văn Bắc ở đây chăm lo công việc sẵn sàng đón Bác và các đồng chí lãnh đạo lên làm việc, họp hành, nghỉ ngơi… Lực lượng cảnh vệ thuộc Trung đoàn 600 do anh Tăng Văn Dong và anh Việt Dũng phụ trách.

Bây giờ nghĩ lại thấy Bác và TƯ thật sáng suốt, lo xa. Công trường 5 là nơi họp BCT, nơi làm việc rất yên tĩnh, an toàn… Đặc biệt, đây là một trong những nơi tiếp khách quốc tế với không gian rất đẹp, văn minh thể hiện qua sự tinh tế, lịch thiệp không dễ có được ở một đất nước đang chiến tranh, bị chia cắt.

Hơn thế, với các điều kiện làm việc, sinh hoạt lâu dài và những điều kiện cơ sở để đối phó với chiến tranh phá hoại như: Bí mật địa điểm, xây hầm trú ẩn, sân bay và cơ sở vật chất tạm đủ để đáp ứng yêu cầu phục vụ các cơ quan lãnh đạo cuộc kháng chiến… Trên cơ sở các tiêu chí đó ta thấy Công trường 5 thực sự đã mang trong mình tầm vóc của khu căn cứ để có thể tiến lui an toàn khi cần thiết.

4. Công trường 5: Nơi gìn gìn an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tháng 9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. Đất nước đang bị chia cắt. Miền Bắc phải đối đầu với cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân vô cùng tàn khốc. Điều kiện thời tiết khí hậu vô cùng khó khăn cho công tác gìn giữ bảo vệ an toàn thi hài Bác…

Vấn đề tìm địa điểm bảo vệ an toàn đã trở lên cấp thiết. Chính trong thời điểm đó Công trường 5 được lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Quân đội… chọn làm địa điểm bí mật cho công việc thiêng liêng này.

Lịch sử Công trường 5 từ đó chuyển sang trang mới. Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (Bộ Tư lệnh 969) được thành lập có vinh dự gánh vác trách nhiệm to lớn. Vào những thời khắc quan trọng nhất tập thể cán bộ chiến sĩ đã âm thầm cống hiến trí tuệ, công sức, toàn tâm toàn trí hoàn thành trách nhiệm.

Năm 1975, Tổ quốc thống nhất, Nam Bắc một nhà. Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh khánh thành ngày 29/8/1975, chính thức mở cửa đón đồng bào cả nước và bạn bè quốc tế đến viếng Bác.

Từ đó Công trường 5 trở thành một địa điểm có ý nghĩa lịch sử văn hoá lâu dài. Nơi đây, đánh dấu những mốc quan trọng trong nghiên cứu cuộc đời và sự nghiệp vĩ đại, về tầm vóc tư duy, trí tuệ và sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc sáng suốt chỉ đạo và lựa chọn để xây dựng một nơi làm việc, tiếp khách một cách khoa học, văn minh đồng thời là căn cứ an toàn nhằm bảo vệ cơ quan đầu não lãnh đạo của ta trong cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mỹ xâm lược

Ngày nay, Công trường 5 còn là nơi góp phần nghiên cứu, tuyên truyền về sự nghiệp và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, một nơi sinh hoạt văn hóa – chính trị với các hình thức đa dạng, phong phú thu hút được sự quan tâm chú ý của đồng bào và chiến sỹ trong cả nước.
Là đơn vị trực tiếp quản lý, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị quan trọng mà Đảng, nhân dân và quân đội tin cậy giao phó. Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong gần 40 năm qua thực sự đã góp sức mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam ngày càng giàu mạnh. Đặc biệt nhất là trong việc gìn giữ an toàn, lâu dài, tôn vinh các giá trị vĩnh hằng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã và sẽ mãi mãi là tấm gương soi sáng sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

Chúng ta tự hào là con cháu Bác và nguyện suốt đời giương cao ngọn cờ Bác trao để đi đến thắng lợi cuối cùng

Trên đây là cơ sở nội dung và giá trị lịch sử của Công trường 5 – Khu vực có ý nghĩa và giá trị đặc biệt không gì sánh được. Những trang sử mới của Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng trong giai đoạn tiếp theo, chúng tôi nghĩ đã có nhiều các đồng chí lãnh đạo cơ quan, cán bộ, chiến sĩ đã và đang nghiên cứu sâu sắc hơn chúng tôi vì vậy cho phép chúng tôi xin được dừng tại đây.

Hà Nội, tháng 5/2007

Cù Văn Chước
Nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

50 năm Bác Hồ với Đá Chông Niềm tự hào của Đảng bộ và nhân dân Tỉnh Hà tây

Đ/c Lại Hồng Khánh - Uỷ viên Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Hà Tây tại hội thảo - ảnh Nguyễn Ngọc Hà

Kỷ niệm 117 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, hôm nay tại K9 – Đá Chông, huyện Ba Vì, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức cuộc Hội thảo khoa học với chủ đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với Khu Di tích Đá Chông” nhằm khẳng định giá trị văn hoá lịch sử của Khu Di tích, chúng tôi rất phấn khởi, vui mừng về cuộc Hội thảo này do Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng tổ chức.

Bởi vì địa danh K9 Đá chông, cách đây 50 năm Bác Hồ đã đến thăm và xem xét khu vực núi Đá Chông, để rồi sau đó Đá Chông mang mật danh “Công trường 5”, mật danh “K9” nơi nghỉ và làm việc của Bác Hồ và Trung ương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nơi bảo vệ giữ gìn thi hài Bác những năm 1969 – 1975. Chúng tôi cho rằng cuộc Hội thảo hôm nay còn có thêm một ý nghĩa khác, đó là chúng ta kỷ niệm 50 năm ngày Bác Hồ về thăm và khảo sát khu vực núi Đá Chông trên địa phận xã Minh Quang, huyện Bất Bạt ngày trước. Với những thực tế đó tại cuộc Hội thảo này Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Hà tây chúng tôi phát biểu với nội dung: 50 năm Bác Hồ với Đá Chông niềm tự hào của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hà Tây.

Bác Hồ với Đá Chông là một mảng đề tài nghiên cứu trong toàn bộ chương trình sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn về Bác Hồ với Hà Tây trong công tác lịch sử Đảng của Đảng bộ tỉnh Hà Tây. Sau khi Bác Hồ qua đời, từ năm 1969 Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Hà Tây đã chỉ đạo Ban nghiên cứu lịch sử Đảng sau đó là Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ tiến hành sưu tầm nghiên cứu và biên soạn những tư liệu Bác Hồ ở Hà Tây. Cho đến nay đã 4 lần Tỉnh uỷ chúng tôi cho xuất bản sách Bác Hồ ở vào thời điểm của các năm 1973; 1980; 1990 và năm 2006. Mỗi lần xuất bản sách Bác Hồ, chúng tôi lại hoàn thiện thêm những tư liệu và Bác. Song cả 3 lần xuất bản sách Bác Hồ trước đó Tỉnh uỷ chúng tôi vẫn chưa được phép công bố những sự kiện Bác Hồ ở Đá Chông. Riêng những sự kiện Bác Hồ ở Đá Chông sau khi Bác mất, vào những năm 1969 – 1972, trong những việc sưu tầm, xác minh được một số thời điểm Bác Hồ đến Đá Chông vào các năm 1957, 1958, 1959. Bởi vì các sự kiện này liên quan đến các sự kiện: Cuối năm 1956 Bác Hồ tặng cho Tỉnh uỷ Hà Tây chiếc xe ô tô GAT do Liên Xô sản xuất, vì Hà Tây có thành tích đóng góp xây dựng một số công trình ở “Công trường 5”. Chiếc xe ô tô đó mang biển số BAA – 257. Tỉnh uỷ giao cho đồng chí Xuân Trường Bí thư Tỉnh uỷ sử dụng.

Năm 1999 Trung ương chính thức công bố cho phép tham quan rộng rãi địa danh K9 – Đá Chông. Điều này đã tạo cho Hà Tây có điều kiện hoàn thiện thêm những tư liệu về Bác Hồ với K9 – Đá Chông ở Huyện Ba Vì . Với sự giúp đỡ của Bảo tàng Hồ Chí Minh, của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, năm 2006 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Tây đã cho xuất bản cuốn “Bác Hồ với Hà Tây”. Cuốn sách có 5 mục, trong đó mục II cuốn sách, Tỉnh uỷ Hà Tây công bố 61 lần Bác Hồ về thăm, về ở và làm việc tại Hà Tây. Với địa danh Đá Chông chúng tôi công bố 9 lần Bác Hồ về thăm.

Công bố 9 lần Bác Hồ về Đá Chông, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Hà Tây có những cơ sở của cả một quá trình sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn những cuốn sách về Bác Hồ. Trước hết, chúng tôi dựa vào các tài liệu do Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng trước đây sau đó là Phòng lịch sử Đảng, ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ sưu tầm bổ sung và dựa vào kết quả hai buổi gặp mặt nhân chứng lịch sử về Di tích K9 Đá Chông do Bảo tàng Hồ Chí Minh chủ trì. Bên cạnh đó chúng tôi còn dựa vào kết quả cuộc Hội thảo “Bác Hồ với Ba Vì” do Ban tuyên giáo Huyện uỷ Ba Vì trước đây tổ chức. Riêng hai cuộc gặp mặt nhân chứng lịch sử do Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp với Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức tại Hà Nội ngày 19/4 và ở Đá Chông ngày 1/7/2006 chúng tôi rất chú ý đến ý kiến phát biểu của 2 đồng chí Cù Văn Chước và Nguyễn Văn Mùi. Đặc biệt là ý kiến của đồng chí Nguyễn Văn Mùi, nguyên là lái xe của Phủ Chủ tịch đã từng đưa Bác Hồ lên K9. Ý kiến của đồng chí Mùi là: “Trước khi xây nhà ở trên đó, Bác có đi vài lần” và đồng chí kết luận “Bác lên K9 không quá 10 lần”. Phát biểu của đồng chí Nguyễn Văn Mùi đã phù hợp với kết quả khâu nối giữa 2 nguồn tư liệu: Một phần của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh trước đây và kết quả cuộc gặp mặt các nhân chứng lịch sử do Bảo tàng Hồ Chí Minh tổ chức.

Hà Tây là địa phương được Bác Hồ về thăm, về và làm việc nhiều lần. Đây là niềm tự hào của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hà Tây, trong đó K9 – Đá Chông lại là Khu căn cứ, là nơi bảo vệ và giữ gìn thi hài Bác. Công tác sưu tầm biên soạn lịch sử Đảng của tỉnh Hà Tây được tiến hành từ năm 1963. Việc sưu tầm tư liệu về Bác Hồ, chúng tôi làm thường xuyên từ nhiều năm nay và kết hợp chặt chẽ với Bảo tàng Hồ Chí Minh. Cuốn sách “Bác Hồ với Hà Tây” xuất bản năm 2006, chúng tôi công bố 9 lần Bác Hồ về Đá Chông ở các thời điểm:

– Lần thứ nhất vào mùa hè năm 1957.

– Lần thứ hai vào sáng ngày 23/2/1958.

– Lần thứ ba vào buổi sáng ngày 20/6/1959.

– Lần thứ tư vào sáng mồng 1 Tết Canh Tý năm 1960.

– Lần thứ năm vào tháng 3/1961, Bác đưa Đại sứ Trung Quốc Hà Vỹ lên Đá Chông.

– Lần thứ sáu Bác đưa đoàn Bà Đặng Dĩnh Siêu lên Đá Chông vào ngày 13/3/1961.

– Lần thứ bảy Bác đưa đoàn của Anh hùng phi công vũ trụ Giéc man Ti Tốp lên ngày 24/01/1962.

– Lần thứ tám Bác lên Đá Chông ngày 19/5/1963.

– Lần thứ chín là ngày 20/9/1964, Bác cùng một số Uỷ viên Bộ Chính trị và Uỷ viên dự khuyết Bộ Chính trị lên K9 trao đổi về tình hình đất nước sau sự kiện ngày 5/8/1964.
Trong 9 lần đó có 6 lần được giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh kết luận tại cuộc gặp mặt các nhân chứng ở Hà Nội vào ngày 19/4/2006. Ở đây tôi đi sâu vào sự kiện Bác Hồ lên Đá Chông vào các thời điểm 1957; 1958; 1959 và Tết Canh Tý 1960. Bởi lẽ những sự kiện này liên quan mật thiết với việc Bác tặng cho Tỉnh uỷ Hà Tây chiếc xe ô tô GAT vào cuối năm 1965.

Đối với sự kiện Bác Hồ lên Đá Chông vào mùa hè năm 1957 đây là lần đầu tiên Bác Hồ lên Đá Chông. Bác lên Đá Chông lần này là để khảo sát, xem xét địa bàn núi Đá Chông, sau khi có báo cáo của Tỉnh uỷ Sơn Tây, lúc đó đồng chí Nguyễn Xuân Trường làm Bí thư Tỉnh uỷ.

Bác lên Đá Chông lần này rất bí mật. Bởi lẽ ai cũng biết: Tháng 8/1956 đất nước ta không có Tổng tuyển cử để thống nhất Tổ quốc, sự nghiệp đấu tranh giải phóng Miền Nam và cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược sẽ rất gay go, ác liệt. Cuối năm 1956 Trung ương đã giao cho Sơn Tây tìm một địa điểm “Có núi, có sông, có rừng cây che phủ, gần đồng bào” với lý do để xây dựng nhà nghỉ. Thường trực Tỉnh uỷ Sơn Tây đã giao việc này cho Ty Công an và đồng chí Việt Tiến là Phó Ty Công an Sơn Tây thực hiện. Đồng chí tìm mãi và cuối cùng quyết định chọn địa điểm Đá Chông, sau đó trao đổi với đồng chí Tùng rồi mới Báo cáo với Bác, chính vì vậy mùa hè năm 1957 cách đây 50 năm Bác Hồ đã lên khảo sát, xem xét khu vực núi Đá Chông. Khi Bác lên đồng chí Việt Tiến ở phía xóm Bu đi ra và chờ Bác, Bác hỏi:

Chú làm gì ở đây?

Đồng chí Việt Tiến trả lời: Thưa Bác cháu dạy học

Bác nói: Dạy học sao lại đứng ở đây?

Đồng chí Việt Tiến đáp: Thưa Bác cháu dạy buổi chiều. Nói như vậy chính thực hôm đó Công an Sơn Tây có làm nhiệm vụ bảo vệ.

Bác xem xét địa điểm, phong cảnh và nghỉ trưa ở Đá Chông.
Về sự kiện Bác cùng đồng chí Nguyễn Lương Bằng lên thăm Đá Chông vào sáng 23/2/1958 cũng được Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng trước đây ghi nhớ do khi sưu tầm tài liệu sự kiện chiều ngày 23/2/1958 Bác Hồ về thị xã Sơn Tây thăm và nói chuyện với Hội nghị cán bộ tỉnh đang học tập 2 văn kiện: Tuyên bố của Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và công nhân các nước XHCN và Tuyên ngôn hoà bình của hội nghị đại biểu các Đảng cộng sản và công nhân 65 nước họp ở Matxcơva (11/1957). Chính khi sưu tầm tư liệu Bác về thăm và nói chuyện với Hội nghị cán bộ ở Sơn Tây mà lãnh đạo Ban chúng tôi có biết đến việc đồng chí Nguyễn Lương Bằng và Bác Hồ lên Đá Chông vào buổi sáng.

Sự kiện sáng ngày 20/6/1959, Bác Hồ lên lúc đó các công trình ở đây đang thi công và được mang mật danh “Công trường 5”. Chiều hôm 20/6/1959, Bác về thăm và nói chuyện với hơn 2000 đồng bào huyện Quốc Oai đang làm việc trên công trường đê Ngọc Tảo, huyện Phúc Thọ. Đối với sự kiện này báo tin Sơn Tây số ra 281 ngày 23/6/1959 đã đăng tin và bài nói chuyện của Bác. Khi chúng tôi tìm gặp đồng chí Việt Tiến, đồng chí đã kể lại được các đồng chí cùng đi với Bác nói là rất có thể lúc về Bác sẽ ghé vào thăm đê Ngọc Tảo và ở đây nhân dân đang đắp đê đông lắm. Chỗ nào thấy nhân dân lao động vui Bác thường hay dừng lại thăm hỏi, các anh em nên chuẩn bị trước.

Nhận được tin đó đồng chí Việt Tiến đã báo tin với Tỉnh chuẩn bị micro nếu Bác xuống thăm, quả nhiên buổi chiều ngày 20/6/1959 Bác Hồ vào thăm và nói chuyện với đồng bào Quốc Oai đang đắp đê vừa hết một tiếng đồng hồ. Kết thúc buổi nói chuyện Bác bắt nhịp hát bài “Kết đoàn”. Chính do việc tìm nhân chứng sống kể về sự kiện Bác Hồ thăm đê Ngọc Tảo buổi chiều ngày 20/6/1959 mà lãnh đạo Ban nghiên cứu lịch sử Đảng lúc đó đã biết được buổi sáng Bác về thăm “Công trường 5”.

Về sự kiện ngày mồng một Tết Canh Tý năm 1960, trước hết chúng tôi căn cứ vào cuộc trao đổi của Ban Tuyên giáo Huyện uỷ Ba Vì và cuộc toạ đàm ngày 01/7/2006 do Bảo tàng Hồ Chí Minh và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng tổ chức vào sổ ghi nhật ký của đồng chí Đỗ Viết Nam, nguyên là Tiểu đội trưởng cảnh vệ ở K9. Điều chúng tôi rất lý thú là những ý kiến về Bác lên Đá Chông sáng mồng một Tết Canh Tý năm 1960 trong 2 cuộc toạ đàm của huyện Ba Vì và Bảo tàng Hồ Chí Minh và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng tổ chức lại trùng với ý kiến của đồng chí Nguyễn Xuân Trường cách đây 15 – 16 năm.

Đồng chí Nguyễn Xuân Trường, nguyên là Bí thư Tỉnh uỷ Sơn Tây 1954 – 1960, Bí thư Tỉnh uỷ Hà Đông 1961 – 1965, Bí thư Tỉnh uỷ Hà Tây 1965 – 1976. Một đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ ở cả 2 thời kỳ khi còn là 2 tỉnh Hà Đông và Sơn Tây, khi đã hợp nhất thành tỉnh Hà Tây có vinh dự và đi cùng và chứng kiến nhiều lần khi Bác Hồ về thăm và làm việc ở Hà Tây. Năm 1991 đồng chí Xuân Trường về hưu, hàng tuần thường đi bộ sang Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ đọc các loại tài liệu. Khi ngồi nói chuyện về cuốn sách “Bác Hồ với Hà Sơn Bình” xuất bản năm 1990, đồng chí Xuân Trường có nói đến các sự kiện Bác Hồ ở Đá Chông nhưng do ở K9 Trung ương chưa cho công bố nên trước đây các đồng chí thường trực Tỉnh uỷ chỉ đạo các đồng chí không được nói, không được biên soạn. đồng chí Xuân Trường có nhắc đến sự kiện sáng mồng một Tết Canh Tý năm 1960. Tuy đồng chí không đi cùng với Bác hôm đó nhưng Công an tỉnh có đi bí mật, phần lớn công nhân tham gia xây dựng ở khu quan trọng của “Công trường 5” là người miền Nam nên Bác đã chúc Tết động viên.

Trong việc nghiên cứu Bác Hồ với Hà Tây, từ khi tách tỉnh Hà Sơn Bình, chúng tôi phân thành 4 mảng đề tài:

Mảng thứ nhất là sưu tầm nghiên cứu về các sự kiện của Bác ở Hà Tây trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Về mảng này chúng tôi mở đầu kể từ khi quân đội Pháp nổ súng tấn công Hải Phòng, Lạng Sơn cho đến 3/3/1947, Bác Hồ rời động Hoàng Xá (Quốc Oai) lên chiến khu Việt Bắc.

Mảng thứ 2 là sưu tầm nghiên cứu các sự kiện Bác về Đá Chông kể từ cuối năm 1956 – 1969.

Mảng thứ 3 là sưu tầm nghiên cứu những tư liệu về Bác với Đảng bộ và nhân dân Hà Tây kể từ sau Cách mạng Tháng 8/1945 đến khi Bác qua đời.

Mảng thứ 4 là sưu tầm nghiên cứu các sự kiện Bác Hồ đến thăm các đơn vị Quân đội, Công an đóng trên địa bàn tỉnh.

Tất cả 4 mảng đề tài đó, duy chỉ có mảng sưu tầm nghiên cứu những tư liệu Bác Hồ về Đá Chông là kéo dài nhất, thầm lặng nhất do chúng ta phải chờ đợi vào thời gian Trung ương cho công bố công khai địa danh K9, chính vì vậy những sự kiện Bác Hồ về Đá Chông mà Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Hà Tây công bố trong cuốn sách “Bác Hồ với Hà Tây” xuất bản năm 2006, theo chúng tôi đó là sự tổng hoà giữa việc sưu tầm khai thác tư liệu của ngành lịch sử Đảng tỉnh Hà Tây kể tù năm 1969 với việc gặp gỡ các nhân chứng do Bảo tàng Hồ Chí Minh và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng tổ chức; đồng thời còn là sự kết hợp giữa nhật ký công tác và ảnh tư liệu của những người tham gia công tác ở Đá Chông hoặc từng đến thăm Đá Chông, cũng như có lần đồng chí Vũ Kỳ đến làm việc riêng với Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh Hà Sơn Bình về Bác Hồ lên Đá Chông.

Với những cơ sở như vậy năm 2006 khi tiến hành sưu tầm tư liệu bổ sung và biên soạn cuốn “Bác Hồ với Hà Tây”, chúng tôi đã công bố 9 lần Bác Hồ về Đá Chông trong đó có phần Bác tặng thưởng chiếc ô tô GAT vào cuối năm 1965. Vì vậy tại cuộc Hội thảo này chúng tôi muốn trình bày những cơ sở đó mà trước đây bộ phận nghiên cứu – sưu tầm – biên soạn lịch sử Đảng của Đảng bộ tỉnh đã biết để các đồng chí hiểu thêm về quá trình Tỉnh uỷ Hà Tây chỉ đạo toàn bộ việc sưu tầm – biên soạn các sự kiện Bác Hồ về Hà Tây trong đó có sự kiện Bác đến Đá Chông.

Cuộc hội thảo ngày hôm nay, chúng ta vừa kỷ niệm 117 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, vừa kỷ niệm 50 năm Bác Hồ lên Đá Chông xem xét và khảo sát địa bàn. Những lần Bác Hồ lên Đá Chông cũng như việc Bộ Chính trị , Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định chọn K9 – Đá Chông làm nơi bảo vệ giữ gìn thi hài Bác đã cải tạo cho Đá Chông ngày hôm nay trở thành Khu Di tích lịch sử văn hoá của cả nước, có giá trị to lớn trong việc tuyên truyền truyền thống cách mạng, học tập đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cuộc Hội thảo hôm nay với các bài tham luận đứng ở các góc độ khác nhau, để bàn luận xoay quanh chủ đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với khu Di tích Đá Chông” đã giúp chúng tôi thêm nhiều vấn đề cùng nhau trao đổi sâu hơn những sử liệu về Bác ở Đá Chông, giúp chúng tôi hoàn thiện hơn mảng đề tài “Bác Hồ với Đá Chông” mà chúng tôi đã in trong cuốn “Bác Hồ với Hà Tây” xuất bản cuối năm 2006. Cuộc Hội thảo này đã giúp chúng tôi sưu tầm và xác minh để xuất bản cuốn sách về Bác Hồ trong những năm qua để sau này tiếp tục hoàn thiện ở những lần tái bản sau.

Bài Lại Hồng Khánh
Uỷ viên Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Hà Tây

bqllang.gov.vn

Như người cha hiền…

Tôi nhớ mãi mùa hè năm ấy, cách đây vừa tròn 50 năm, vào một ngày tháng 6 – 1957, Bác Hồ về thăm sư đoàn 325 chúng tôi, lúc ấy đang đóng quân ở Đồng Hới, Quảng Bình. Bốn giờ chiều, tin Bác đến, lòng chúng tôi rạo rực nôn nao một niềm vui khôn tả…

Chiếc xe con màu trắng đưa Bác đến. Hàng ngũ bộ đội nhốn nháo, ai cũng muốn nhoài người ra để được gần Bác hơn, được nhìn Bác rõ hơn. Đến gần bộ đội, Bác xuống xe, giơ mũ vẫy chào. Bác mặc bộ kaki màu sáng quen thuộc, chân đi đôi dép lốp. Tiếng hô “Hồ Chủ tịch muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!” muốn vỡ tung lồng ngực. Bác đáp lại: “Các cháu về đi, tối nay Bác cháu ta họp mặt”.

Chúng tôi giải tán về doanh trại, bồn chồn đứng ngồi không yên, chỉ chờ tiếng còi tập hợp để ra sân gặp Bác. Từ trong nhà, Bác ung dung đi ra, với bộ đồ nâu giản dị, một tay xách chiếc chiếu đơn gấp lại ở giữa, một tay cầm chiếc quạt giấy, thong thả trải chiếc chiếu lên thềm rồi ngồi xuống.

Tất cả chúng tôi, ai ai cũng muốn ngâm một bài thơ, hát một bài để nói lên niềm kính yêu vô hạn đối với Bác.
Cứ sau một tiết mục, Bác lại lấy ra từ một bọc vải một hoặc hai cái kẹo; ai ngâm thơ hay hát thì Bác cho hai cái, ai đọc thơ thì Bác cho một cái… Cứ như thế, Bác cháu quây quần suốt hai tiếng đồng hồ, giữa lãnh tụ và chiến sĩ không còn khoảng cách mà như hòa làm một, khác nào cha với con trong niềm thương yêu dạt dào tình cảm.

Thời gian trôi đi nhanh quá. Bác đứng dậy nhìn đoàn quân, giọng ôn tồn như lời cha hiền dặn con: “Các cháu ngâm thơ và hát rất hay, Bác còn muốn nghe mãi…. Nhưng trời đã khuya, mai các cháu còn phải học tập và công tác, Bác cũng phải làm việc. Trước khi ra về Bác đề nghị một việc: để kỷ niệm ngày Bác cháu mình gặp mặt, mỗi người hứa trồng cho Bác hai cây phi lao. Các cháu có làm được không?”.

“Được ạ! Được ạ! Hồ Chủ tịch muôn năm !”.

Theo lời Bác, kể từ ngày ấy khắp sư đoàn rộ lên một phong trào trồng cây phi lao phủ xanh bờ biển. Mỗi chúng tôi không chỉ trồng hai cây mà thi đua trồng thật nhiều, có chiến sĩ trồng hàng ngàn cây dọc suốt bờ biển Quảng Bình.
Mười tám năm sau…

Năm 1975, ngày thống nhất đất nước, trên đường về Nam, ngang qua Quảng Bình, tôi chú ý quan sát vùng đất mà bộ đội, trong đó có tôi, trồng phi lao ngày trước. Ôi! Không ngờ ngay trên tuyến lửa này, mặc cho bom cày đạn xới, suốt mười mấy năm chống Mỹ, những cây phi lao bé bỏng ngày xưa đã thành rừng dày đặc, xanh um, chạy dài tít tắp.

Ôi! Bác của chúng ta vĩ đại mà gần gũi biết bao! Màu xanh Bác để lại vẫn muôn đời còn đó.

Lê Đức Minh (Cựu chiến binh, Tân Phú, TP.HCM)

bqllang.gov.vn

Người đi đầu xóa đói, giảm nghèo

Có một cựu chiến binh-đại tá, một người lính dày dạn trận mạc, trở về với cuộc sống đời thường, lại tiếp tục đi đầu trong cuộc chiến chống đói nghèo, mang niềm vui, hạnh phúc đến với mọi người.

Ông là Lê Văn Tá ở xã Hòa Châu, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng. Một ngày cuối thu, tôi tìm đến căn nhà nhỏ ẩn mình trong khu vườn xinh xắn quay mặt ra cánh đồng mênh mông, ngập nước.

Câu chuyện của ông ngược dòng thời gian trở về những năm tháng chiến tranh ác liệt…. Mùa xuân năm 1961, từ Đại Từ (Thái Nguyên), ông tình nguyện trở về quê hương chiến đấu. Từ một chiến sĩ, tôi luyện trong chiến đấu, ông trở thành cán bộ tiểu đoàn. Với sự mưu trí, linh hoạt, ông cùng ban chỉ huy tiểu đoàn đã tổ chức nhiều trận đánh, phá hủy nhiều kho tàng, phương tiện chiến tranh của địch. Trận chiến đấu mà ông nhớ nhất là trận đánh đại đội hỗn hợp dân vệ, cảnh sát Tuy Hoà sau Mậu Thân 1968. Đêm ấy, trời tối đen như mực, ông cùng đơn vị bí mật tiếp cận mục tiêu, rồi bất ngờ đồng loạt nổ súng tấn công tiêu diệt toàn bộ đại đội địch dưới chân núi Chóp Chài. Sau đó, đơn vị rút lui về hậu cứ, ông ở lại nắm tình hình. Bị thất bại nặng nề, địch tổ chức lực lượng lùng sục hết sức gắt gao. Ông rút xuống hầm bí mật, tay cầm lựu đạn, sẵn sàng chiến đấu đến cùng. Ông tự nhủ: Nếu hi sinh thì cũng phải trong tư thế của người cộng sản. Sau một hồi xăm xoi, địch không tìm thấy gì nên lui quân… Với những chiến công ấy, Tiểu đoàn 85 vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, riêng ông được tặng 3 huân chương chiến công hạng I, hạng II và hạng III.

Năm 1990, ông nghỉ hưu. Thấy quê hương còn nghèo, ông nghĩ: “Còn sức, còn chiến đấu. Dù ở đâu cũng phải sống xứng đáng với danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ”. Khi địa phương và đồng đội tín nhiệm, ông không đắn đo nhận “chức” Chủ tịch Hội Cựu chiến binh của huyện và cùng lãnh đạo địa phương thực hiện công cuộc “xoá đói, giảm nghèo”, đương đầu với nhiệm vụ mới không kém phần cam go, thử thách. Hình ảnh người cựu chiến binh già trong bộ quân phục bạc màu, cùng chiếc xe đạp rong ruổi từ thôn này đến bản khác trở nên quen thuộc đối với đồng bào Hoà Vang. Ngày cũng như đêm, không quản nắng mưa, ông đến với từng chi hội, từng gia đình tìm hiểu hoàn cảnh, cùng họ tính kế làm kinh tế vườn đồi, trang trại, nuôi dạy con cái… Lăn lộn cùng đồng bào vùng dân tộc thiểu số, ông biết đời sống của họ vẫn còn muôn vàn khó khăn. Vì vậy, sau nhiều đêm trăn trở, ông đưa ra sáng kiến thành lập tổ hợp tác cựu chiến binh. Mục tiêu đặt ra là phát động phong trào tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống, góp phần tích cực vào công cuộc xoá đói, giảm nghèo trong hội viên và giúp đỡ đồng bào dân tộc Cơ Tu. Khi nghe các cựu chiến binh phác hoạ tiềm năng đất đai tại Khe Muông, Khe Dao ở hai bản Tà Lang và Giàn Bí, không chần chừ, ông cùng họ đi ngay đến đó để khảo sát. Cứ thế, ông xông pha đến từng thôn bản hẻo lánh, lội suối, băng rừng đi tìm địa điểm đào núi, dời non lấy đất canh tác.

Thời kỳ đầu hết sức khó khăn, ông phải kiên trì tuyên truyền, vận động đồng bào từ bỏ lề lối làm ăn cũ để theo hướng mới, lập thành hai tổ hợp tác sản xuất. Có đất rồi, phải dựng trại, mở đất trồng bắp, trồng đậu, nuôi trâu bò, lợn gà. Thiếu vốn, ông bàn với Thường vụ Hội Cựu chiến binh của huyện vận động chính quyền, ngân hàng huyện, các cơ quan hảo tâm, hỗ trợ hàng chục triệu đồng mua vật tư, nông cụ sản xuất, giống và phân bón. Có thời gian ông ở lại với các cựu chiến binh hai bản Tà Lang, Giàn Bí cả tháng trời. Sáng ra cùng họ khai phá đất hoang, trỉa đậu, trồng bắp, tối về ông phổ biến kinh nghiệm chăn nuôi gia súc, gia cầm. Trong khoảng thời gian 3 năm, ông và bà con dân bản khai hoang được 18 ha đất canh tác, đào đắp hơn 7.500 m3 đất đá, xây một đập tràn, 4 cống xả lũ, cùng với địa phương quy hoạch lại khu dân cư. Công sức của ông đã giúp 12 hộ cựu chiến binh và nhiều hộ không chỉ đủ ăn mà còn làm giàu trên chính mảnh đất quê hương mình. Mấy năm trở lại đây, nhờ sự vận động của ông, bà con tích cực trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi trọc, bảo vệ môi trường. Bản làng xa xôi ngày ấy từng ngày trù phú.

Trên cương vị Chủ tịch Hội Cựu chiến binh huyện, ông đã dồn hết tâm huyết cho công việc, xây dựng nhiều mô hình, đề xuất nhiều giải pháp có tính khả thi. Quỹ “đồng đội” do ông khởi xướng đã góp phần đẩy nhanh công cuộc xóa nghèo trong hội viên. Đến nay, 100% hộ cựu chiến binh ở Hòa Vang có nhà ở kiên cố, 2/3 hộ có mức sống khá và giàu. Mới đây, ông giữ chức Phó chủ tịch thường trực Hội Nạn nhân chất độc da cam, công việc lại càng thêm vất vả. Hằng ngày, ông xuống từng thôn bản khảo sát, phát hiện các trường hợp bị nhiễm chất độc da cam để có kế hoạch thăm hỏi, tặng quà, hỗ trợ kinh phí, làm nhà cửa.

Công việc chung vô cùng bận rộn ông vẫn tranh thủ phát triển kinh tế gia đình. Chỉ với 2 sào đất quanh nhà, ông nghiên cứu kỹ thổ nhưỡng, tính toán xen canh để lúc nào cũng có thu nhập…Vào vườn nhà ông mà thấy mát con mắt. Dưới giàn bầu, bí, khổ qua là những luống khoai môn. Cạnh gốc khoai môn là rau mùi tàu, diếp cá. Giữa luống khoai lang là ngô. Xung quanh bờ rào ông trồng dây mơ và chuối sứ… Mỗi năm gia đình ông thu nhập gần 20 triệu đồng từ khu vườn ấy. Sống mẫu mực, giàu lòng nhân ái, được mọi người tin yêu, hàng chục năm nay, gia đình ông liên tục đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa tiêu biểu xuất sắc”. Với những thành tích xuất sắc trong công tác đoàn thể, ông được Thủ tướng Chính phủ, Trung ương Hội CCB, UBND thành phố tặng 13 bằng khen. Tổng kết phong trào thi đua quyết thắng, từ năm 2000 đến nay, năm nào ông cũng đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, trong đó có cấp thành phố và toàn quốc.

Bà Dương Thị Nhung (từng là chiến sĩ Sư đoàn 2, Quân khu 5) rất tự hào nói về chồng mình: “Từ trước đến giờ ổng là vậy đó, khi đã quyết tâm làm việc gì là kiên trì cho đến cùng, bất chấp gian khổ!”. Còn ông, chỉ “kết luận” với tôi: “Phần thưởng lớn lao nhất của đời tôi là có được niềm tin của đồng đội và bà con lối xóm”.

Theo QĐND

bqllang.gov.vn

Chiếc huy hiệu Bác Hồ

Tôi đến thăm gia đình Bai, thắp cây nhang ngày Tết. Vật kỷ niệm mà tôi đã tặng Bai ngày lên đường thoát ly vẫn còn đây, đang nằm trên bàn thờ anh, bên cạnh những tấm huy chương lấp lánh. Chiếc huy hiệu bằng bạc ánh lên màu biêng biếc của thời gian. Nó như đang trở mình và thầm kể lại những buồn, vui mà nó đã từng chứng kiến.

Năm 1961, tôi lên bảy tuổi, nhà tôi cùng cả làng Lại Yên Thượng bị dồn vào ấp chiến lược. Để chuẩn bị cho việc dồn dân lập ấp, bọn Mỹ-Diệm đã khống chế, bắt bớ dữ dội. Chú Hai Tần, dì Sáu Son và những người nòng cốt khác đã bị bắt giam ở nhà lao tỉnh. Bác Ba, ba của Bai cũng bị bắt.

Cho đến khi, việc dồn dân cả làng Lại Yên Thượng xong, chúng mới thả những người ấy ra. Bác Ba, lúc ra tù trở về nhà thì thân thể đã không còn nguyên vẹn nữa. Bọn chúng đã chặt mất của bác Ba một bàn tay. Từ nay, bà con làng Lại Yên Thượng gọi bác Ba bằng một cái tên mới, như một bằng chứng luôn nhắc nhở lòng căm thù lũ giặc: Ba Cụt.

Hôm nhà tôi được dỡ xuống để đưa vào trong ấp, tôi ngồi trên chạc ba cây me sau nhà, cắn trái me non mà nước mắt cứ trào ra. Tôi đã nghe nhiều người nói rằng, khi con thú hay cái cây mà xa chủ của nó, thì nó nhớ, cứ héo hắt dần và chết đi. Vì thế, tôi cứ đinh ninh, những ngày sắp tới, khi gia đình tôi phải vào sống trong ấp chiến lược, thì cây me của tôi cũng ủ rủ, héo úa mà khô chết đi như lời người lớn nói. Cả nhà chuẩn bị đi. Má tôi giục tôi xuống đôi ba lần không được. Cuối cùng, chị Hai doạ sẽ bỏ tôi lại để mà chết theo cây me luôn, tôi mới chịu bò ra khỏi chạc ba quen thuộc như chiếc giường ngủ, tụt xuống đất. Tôi lững thững như người mất hồn đi theo sau chiếc xe bò lịch kịch, chở lỉnh kỉnh những đồ đoàn của gia đình cùng với chiếc bàn thờ ba tôi.

Gia đình tôi bắt đầu cuộc sống âm thầm trong ấp chiến lược. Má tôi lầm lì ít nói hẳn đi. Chị Hai tôi, thì cũng đổi tính nết, hay bẳn gắt và thường ít khi ra khỏi nhà. Tôi chỉ còn biết lủi thủi chơi những trò chơi vụn vặt chẳng thú vị tí nào với Bai. Tôi với Bai thân với nhau từ bé tí. Những ngày còn ở xóm Cũ, hai đứa thường leo chuyền trên những cành me xam xáp da tay và ngủ quên trên những chạc ba.

Tôi và Bai bắt đầu cắp sách đến trường “Ấp Tân Sinh”. Nhưng cũng chỉ được bốn tháng sau, tôi bỏ học. Từ ngày vào trường; cứ mỗi buổi sáng, trước khi vào lớp, cả lủ con nít chúng tôi đứng thẳng hàng, nghiêm trang rồi ong ỏng hát lên bài “Suy tôn Ngô Tổng Thống”. Tôi thấy chán bài hát ấy, vì không hiểu gì cả, nhưng cứ phải gân cổ mà hát thật to.

Một hôm, trong giờ ra chơi, Bai kéo tôi ra sau trường rồi hỏi nhỏ:

– Này, mày có biết Ngô Tổng Thống là ai không? Tôi trả lời như học thuộc lòng:

– Ngô Tổng Thống là chí sĩ cách mạng, là người đã … đã …

– Không phải! – Nó hét lên ngắt lời tôi một cách đột ngột và giận dữ – Ngô Tổng Thống là người đã giết ba mày và chặt tay ba tao trong tù, bắt cả nhà mày, nhà tao vào ấp sống khổ cực. Mày nghe chưa?

Tôi chụp tay nó, hốt hoảng:

– Sao mày biết? Ai nói với mày?

– Ba tao nói với tao hồi tối này.

Ai chứ bác Ba Cụt nói là tôi tin ngay. Bác Ba là người thân tín nhất của gia đình tôi từ ngày ba tôi mất. Sáng hôm sau, không như thường lệ phải thức dậy sớm để chuẩn bị đi học, tôi nằm lì trên giường trùm mền kín đầu. Tưởng tôi bệnh, chi Hai tôi giở mền sờ vào trán tôi, hỏi:

– Em bệnh phải không?

– Không! Tôi vùng vằng.

– Vậy sao em không dậy đi học?

Tôi tung mền ngồi dậy, nhìn chị trân trân rồi nói một cách cương quyết:

– Em không thèm đi học nữa!

Chị tôi hơi ngạc nhiên, ngồi xuống mép giường, vuốt tóc tôi rồi ân cần hỏi lại:

– Em nói cho chị nghe đi, sao lại không thèm đi học?

– Tại em không thèm hát suy tôn Ngô Tổng Thống nữa!

Rồi như có một luồng hơi nóng từ ngực tôi phả lên mặt nóng bừng, tôi nói như hét vào tai chị tôi:

– Vì người ta giết ba mình. Ngô Tổng Thống giết ba mình, chặt tay bác Ba, vì…

Chị Hai vội vàng lấy bàn tay bịt miệng tôi không cho tôi nói nữa. Lần này, thì chị tôi sửng sốt thật sự. Chị ôm chặt lấy tôi. Rồi hai chị em cùng khóc. Ngày hôm đó trôi qua lặng lẽ. Hai chị em không nói với nhau lời nào, nhưng trong lòng thì như có cái gì đang âm ỉ.

Sáng hôm sau, chị Hai gọi tôi xuống bếp. Chị nhẹ nhàng cầm tay tôi và mở cho những ngón tay xòe ra. Hình như chị đặt vào đó một vật gì nhỏ như đồng xu, cồm cộm rồi nắm chặt bàn tay tôi lại. Chị hỏi tôi nhỏ nhẹ:

– Em có nhớ cây me nhà mình không?

– Có, em nhớ lắm.

– Em có muốn về lại với nó không?

Tôi ngạc nhiên hỏi lại chị:

– Nhưng mà làm sao về được?

Chị không trả lời câu hỏi của tôi, mà mở bàn tay tôi ra. Cái vật be bé, tròn như đồng xu ấy nằm giữa lòng bàn tay tôi, có màu bạc; ở giữa là hình nổi gương mặt một ông già có chòm râu dài, trán rộng, vẻ hiền từ phúc hậu hao hao như hình ông bụt trong tranh vẽ in trong sách.

– Em biết ai đây không?

Tôi lắc đầu.

– Bác Hồ đó!

Lần đầu tiên, tôi nghe nói đến cái tên ấy. Tôi cầm cái vật be bé đó lên ngắm nghía, rồi hỏi chị Hai:

– Bác Hồ giống ông Bụt quá phải không chị?

– Ừ, Bác Hồ là ông tiên đó!

Chị Hai tôi nói và cười. Nụ cười tươi tắn hiếm hoi mà tôi được thấy ở chị từ ngày về sống trong ấp chiến lược này.

– Vậy Bác Hồ có giúp nhà mình và nhà thằng Bai về xóm cũ, cho em về với cây me được không chị? Tôi nói liền một hơi.

– Ừ, chị lại cười. Bác Hồ sẽ giúp cho bà con mình về lại xóm cũ, cho em về với cây me của em.

Tôi mừng quá, muốn nhảy lên, chạy mau đi tìm thằng Bai để nói cho nó biết điều này. Tôi lại ngắm nghía cái vật be bé có ảnh ông Bụt – Bác Hồ lần nữa; và bỗng nhớ đến gương mặt bì bì trong khung ảnh lớn treo phía trên bảng đen trong lớp học. Bây giờ, tôi mới thấy nó ác làm sao!

– Chắc Ngô Tổng Thống sợ Bác Hồ lắm hả chị?

– Ừ, sợ lắm!

Tôi cảm thấy lòng mình được thỏa mãn, được trả thù. Tôi đã biết được kẻ đã giết ba tôi, mà tôi phải suy tôn mỗi sáng, phải sợ một người. Tuy rằng, người ấy, giờ đây, tôi chỉ mới hình dung qua cái vật tròn tròn be bé này. Tôi áp nó lên ngực và nói với chị tôi:

– Chị cho em xin cái này nghe chị?

– Ừ, chị cho em. Em gọi nó là “huy hiệu Bác Hồ”.

Chị tôi đứng dậy, kéo tay tôi đi lên nhà trên, đến trước bàn thờ ba tôi được đặt giữa nhà, rồi nói nhỏ với tôi giọng xúc động:

– Chiếc huy hiệu Bác Hồ này là của ba mình. Trước lúc hy sinh trong tù, ba đã gửi lại cho các bạn tù và sau đó được bác Ba đem về cho chị em mình.

Chị nhìn tôi, thoáng suy nghĩ rồi nói tiếp:

– Bây giờ, chiếc huy hiệu này là của em. Nhưng em phải cất nó vào sau lưng khung ảnh của ba mới được. Cảnh sát mà thấy, nó sẽ đánh chết chị em mình.

Tôi gật đầu và nhìn chừng ra cửa cho chị cất huy hiệu vào sau khung ảnh ba. Xong rồi, chị thắp ba cây nhang, thầm thì nói với khung ảnh ba tôi điều gì đó, chị cắm nhang vào lư. Hai tay chị run run.

Suốt bốn năm sống trong ấp chiến lược; Bác Hồ trong trí tưởng tượng của tôi, lúc thì mờ ảo giống như ông Bụt hiện lên giúp cô Tấm lấy được hoàng tử; lúc thì sừng sửng, oai nghi như vua Quang Trung cưỡi voi đại phá quân Thanh được vẽ trong sách.

Cho đến khi, ấp chiến lược bị phá xong, về được vùng giải phóng, được tiếp tục đi học và sinh hoạt trong đội thiếu niên tiền phong, hình ảnh Bác Hồ luôn ở bên tôi hằng ngày, trên ngực áo nơi trái tim. Và đến ngày Bai lên đường để vào học trường thiếu sinh quân ở Miền, tôi đã tặng vật kỷ niệm ấy cho Bai. Nó cũng đã ấp ủ bên cạnh trái tim Bai suốt bao năm học tập và chiến đấu. Khi ngã xuống, máu của Bai đã thấm ướt đẫm chiếc huy hiệu này.

Trên bàn thờ Bai, chiếc huy hiệu vẫn ánh lên màu bạc. Tôi chợt nảy ra một ý định. Tôi sẽ nói với gia đình Bai xin lại chiếc huy hiệu kỷ niệm để tặng cho phòng truyền thống của trường phổ thông của xã và kể lại câu chuyện về chiếc huy hiệu này cho các em học sinh hiểu thêm về những cuộc đời đã hy sinh để có được hòa bình hôm nay và ngày mai tươi sáng.

Ngô Đình Miên

bqllang.gov.vn

Bệnh thành tích hay bệnh nói dối

(ĐCSVN)- Thành tích, theo đúng nghĩa đó là cái mà người ta đạt được cao hơn mức bình thường. Ở mỗi cuộc thi, thường thì thành tích được chỉ những cá nhân hay một tập thể nào đó đoạt giải; trong công việc hoặc học tập là những người hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đạt thứ hạng cao trong học tập, được cơ quan, đơn vị khen thưởng, đồng đội nể phục.

Nhìn từ góc độ tâm lý mọi con người đều thích được khen; mỗi khi làm được việc gì hay, tốt đẹp hoặc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ người ta đều muốn được đánh giá đúng và khi nhận được sự khen ngợi, tâm trạng của chúng ta đều rất phấn khởi; nhưng nếu bị chê thì không phải ai cũng dễ dàng chấp nhận, cho dù đó là những lời chê đúng. Đối với một cấp, một ngành hay một cơ quan, tổ chức nào đó cũng vậy.

Sẽ là rất tốt nếu thành tích đạt được là thật. Và sự khen thưởng đúng sẽ như một liều thuốc bổ khuyến khích người được khen càng cố gắng nỗ lực hơn, chí ít là phấn đấu để giữ vững thành tích cũ, không bị tụt hạng. Còn đối với những người khác, với đồng nghiệp thì cũng lấy đó làm tấm gương để phấn đấu, vươn lên “cho bằng chị, bằng em”. Vậy nếu xét về góc độ tích cực thì thành tích chính là động lực để chúng ta phấn đấu và người yêu thành tích không thể coi là xấu mà ngược lại đó là nét đẹp nên khuyến khích.

Nhưng tại sao lâu nay chúng ta lại thường dùng cụm từ bệnh thành tích hay chạy theo thành tích để gán ghép cho những kết quả ảo trong Giáo dục, y tế, trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội… ?

Thực ra thành tích không có tội. Tội là của sự hám danh, sự đại khái, không dám chịu trách nhiệm dẫn đến giả dối trong báo cáo của cấp dưới đối với cấp trên và sự quan liêu, thậm chí là thiếu khách quan, nhân nhượng trong việc đánh giá của cấp trên đối với cấp dưới.

Thực tế cho thấy có không ít cơ quan, đơn vị mặc dù kết quả hoạt động không được bao nhiêu, song do có “cách làm báo cáo tốt” nên đã được khen thưởng; song cũng có những đơn vị, nếu so kết quả thì không kém gì đơn vị kia, nhưng vì trung thực, làm được bao nhiêu báo cáo bấy nhiêu, nên không những không được khen mà thậm chí còn bị phê bình, bị chê… Chúng ta thường nói “khen thưởng là con dao hai lưỡi”, nếu khen thưởng đúng sẽ có tác dụng kích thích mọi người phấn đấu vươn lên; nhưng nếu khen không đúng sẽ cho “tác dụng ngược”. Sự quan liêu, thiếu khách quan trong việc đánh giá của cấp trên đối với cấp dưới sẽ vô tình “khuyến khích” và “nhân rộng” tính nói dối của cấp dưới. Bởi nếu cùng ngang nhau mà cơ quan này được khen còn cơ quan kia lại bị phê bình thì tất nhiên sẽ gây nên sự so bì ghen tỵ lẫn nhau hoặc nếu nể nang nhau thì họ sẽ học cách báo cáo thiếu trung thực để được khen. Mặt khác việc đánh giá, khen thưởng thiếu chính xác, không xứng đáng với thành tích thực cũng sẽ làm thui chột động cơ phấn đấu của mọi người vì chỉ cần cứ hoạt động bình bình, không mắc khuyết điểm gì là sẽ đạt “trong sạch vững mạnh”, “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”…. được khen thưởng….

Một nguyên nhân nữa dẫn đến “bệnh nói dối” trong báo cáo còn do sự chủ quan trong việc đưa ra các chỉ tiêu phấn đấu của các cấp, ngành. Thông thường muốn phát triển người ta đều phải đặt ra những mục tiêu cao hơn để phấn đấu vươn tới. Song mục tiêu đó cần phải dựa vào thực lực, có cơ sở khoa học, và phải phù hợp với điều kiện của từng địa phương, đơn vị, chứ không phải bằng mong muốn chủ quan.

Một người chưa biết tiếng Anh mà đặt ra mục tiêu trong một tháng vừa học vừa thi phải lấy được Chứng chỉ B thì dứt khoát chất lượng không phải là thật; một lớp học với quá nửa học sinh yếu mà đưa ra chỉ tiêu phải lên lớp trên 100% thì là điều không tưởng. Tương tự như vậy, một đoàn thể muốn đưa ra chỉ tiêu phát triển đoàn viên, hội viên thì trước hết phải có nguồn, quần chúng nơi đó có tự nguyện, thiết tha tham gia đoàn thể mình hay không và phải tính đến trình độ của cán bộ có khả năng vận động quần chúng tham gia hay không…; không đủ những yếu tố đó mà đưa ra những chỉ tiêu chủ quan thì sẽ tạo ra áp lực làm cho cấp dưới phải phấn đấu quá sức, khi không đạt thì vì sợ không được khen, lại bị phê bình, bị chê, nên dẫn đến báo cáo sai sự thật (trong thực tế đã có những đoàn thể xóa tên trong danh sách hàng chục ngàn hội viên, đoàn viên danh nghĩa); ở cơ sở do bị áp lực mà nói dối, cấp trên không kiểm tra hoặc đại khái trong việc đánh giá, chấp nhận kết quả đó và vô tình đã tiếp tay cho sự dối trá, tự mình nói dối mình, trở thành “nói dối có hệ thống”….

Tệ hại hơn là dựa vào những những báo cáo thiếu chính xác, những kết quả không có thực đó để tiếp tục hoạch định chính sách và lại đưa ra những chỉ tiêu không sát thực tế, mà không sát thực tế thì khó thực hiện đạt, nếu báo cáo không đạt thì sợ mất thi đua, không được khen, nên đành phải báo cáo sai sự thật, khiến cho cả hệ thống cứ trượt dài trong thành tích ảo. Và như vậy suy cho cùng cái mà lâu nay chúng ta thường gọi “bệnh thành tích” chính là “bệnh nói dối”.

Thiết nghĩ, một cơ thể có bệnh, muốn chữa khỏi thì trước hết phải tìm được đúng bệnh và những nguyên nhân gây ra bệnh đó; chẩn đoán sai đồng nghĩa với việc chữa trị sai, không những không khỏi bệnh mà còn có thể gây hại. “Bệnh thành tích” và “bệnh nói dối” hoàn toàn không đồng nhất với nhau cho nên cần phải phân ra rạch ròi. Bệnh thành tích, đó chỉ là biểu hiện của sự mong muốn; nhưng nói dối, báo cáo sai sự thật thì đã thể hiện trong hành vi, vì vậy cần phải kiên quyết ngăn chặn, phê bình, kiểm điểm nghiêm khắc, có như vậy chúng ta mới có được những kết quả thực trong hoạt động.

Tạ Trung Dũng

bqllang.gov.vn