Tag Archive | Chuyện kể về Người

Đảng phải trong sạch, vững mạnh

Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của Đảng và dân tộc ta đã căn dặn: “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân”.

Thực tiễn từ ngày thành lập Đảng đến nay cho thấy, vận mệnh của dân tộc ta đã gắn liền với vận mệnh của Đảng. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là điều kiện quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng, của dân tộc đã chứng minh: bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, Đảng liên hệ chặt chẽ với quần chúng, được quần chúng tin tưởng, ủng hộ thì Đảng vững mạnh, lãnh đạo cách mạng thành công; còn nếu xa rời quần chúng, không được quần chúng tin tưởng, ủng hộ thì sẽ suy yếu, giảm sút sức chiến đấu và có khi vấp phải thất bại. Muốn vững mạnh, muốn được quần chúng tin tưởng, ủng hộ, Đảng phải luôn trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân. “Dễ trăm lần, không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”.

Đảng trong sạch để cho dân tin yêu phải gồm những đảng viên trong sạch, có lý tưởng, đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư vì đảng viên chính là cầu nối giữa Đảng với dân. Là “đầy tớ” của nhân dân, mỗi cán bộ, đảng viên phải tận tụy phục vụ nhân dân, một lòng một dạ vì lợi ích của nhân dân.

Để Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, phải kiên quyết đưa những đảng viên thoái hóa, biến chất ra khỏi Đảng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nguyên nhân sâu xa khiến người đảng viên mắc những căn bệnh nguy hiểm như kiêu ngạo, hống hách, tham ô, lãng phí chính là chủ nghĩa cá nhân. “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, Đảng phải xây dựng, chỉnh đốn để ngày càng vững mạnh về mọi mặt. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước.

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đang được thực hiện sâu rộng trong Đảng và trong toàn xã hội sẽ thúc đẩy bước chuyển biến mới trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, tăng cường sự thống nhất đoàn kết trong Đảng, làm cho Đảng ngày càng vững mạnh và trong sạch, đủ sức lãnh đạo và tổ chức nhân dân vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa đất nước ngày càng giàu mạnh, đáp ứng lòng mong mỏi của nhân dân.

  • Hoàng Liên

baobinhdinh.com.vn

Xây dựng đạo đức là nhiệm vụ hàng đầu

Xây dựng Đảng thật sự trong sạch, “là đạo đức, là văn minh” là chủ đề của Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” năm 2010. Đây cũng chính là điều mà sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh – người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, luôn luôn quan tâm sâu sắc.

Trong công tác xây dựng Đảng, một trong những công việc Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm là xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng. Người cho rằng muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Người luôn đòi hỏi mỗi người cán bộ, đảng viên phải có đạo đức cách mạng, phải kết hợp chặt chẽ đức và tài, trong đó đức là gốc. Theo tư tưởng của Người, đạo đức cách mạng là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, bất kỳ khó khăn nào cũng kiên quyết làm đúng chính sách, nghị quyết của Đảng, làm gương cho quần chúng, hòa mình với quần chúng thành một khối, tin – hiểu – lắng nghe ý kiến của quần chúng, thực hiện “cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư”. Người coi đạo đức là cội nguồn của người cách mạng. Người chỉ rõ: Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ, đòi hỏi người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi nâng cao đạo đức cách mạng phải đi đôi với chống chủ nghĩa cá nhân. Người cho rằng chủ nghĩa cá nhân trái ngược với đạo đức cách mạng, “là mẹ đẻ ra mọi tính hư, tật xấu”. Người gọi chủ nghĩa cá nhân là “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng” và chống chủ nghĩa cá nhân “là một cuộc cách mạng nội bộ”. Do đó “thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân”.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng đã rất chú trọng làm theo lời dạy của Người, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên, tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống đã và đang diễn ra là rất nghiêm trọng. Trong đó, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức trong hệ thống chính trị đã không làm được bốn điều dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: Siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Họ đã gây thiệt hại về kinh tế, xa rời nhân dân, gây phiền hà cho nhân dân, gây mất đoàn kết nội bộ, đặc biệt là làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân ta đang ra sức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng và tiến hành đại hội đảng các cấp, chuẩn bị tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu hiện nay của mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng là “phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư… Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” như lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn trong Di chúc.

  • Thảo Trân

baobinhdinh.com.vn

Tấm gương soi cho muôn đời

“Những ai muốn biết thế nào là một con người thực sự? Vẻ đẹp của thế giới ở đâu? Ở đâu có mùa xuân? Xin hãy đến thăm cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự tồn tại điển hình của một anh hùng của thời đại chúng ta” – Đó là cảm xúc được viết lên tự đáy lòng của bạn bè quốc tế sau khi tìm hiểu cuộc đời và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Một Tổng biên tập của một tờ báo nước ngoài, khi được Bác tiếp ở phòng khách của Người đã viết: “Chúng tôi được dẫn vào tầng dưới ngôi nhà sàn của Bác – gọi là phòng khách của một vị nguyên thủ quốc gia mà vô cùng giản dị, có lẽ không khác gì những gian nhà của nông dân VN mà tôi có dịp tới: trong gian phòng này có lẽ chỉ có mỗi bộ ghế mây được coi là nổi bật. Nếu tất cả chúng ta đều học và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ thì làm gì có những ông quan mới thăng chức đến nhiệm sở mới, vẫn muốn bắt bỏ đi các tiện nghi của người tiền nhiệm để mua tiện nghi mới theo ý muốn”.

Lo cho dân ăn no, mặc ấm luôn là nỗi lo thường trực trong lòng Bác. Người nói: “Đảng và Chính phủ… phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân… Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay đến mấy cũng không thực hiện được”. Làm gương để cán bộ Đảng, Nhà nước thực hiện lời dạy đó, Bác Hồ đã tự mình thực hành. 15 năm cuối cùng Bác sống ở Hà Nội lúc kinh tế khó khăn, Bác yêu cầu: Chiều thứ 7 hàng tuần để Bác ăn cháo để bớt phần gạo cho dân. Dân, cán bộ ăn cơm độn ngô, khoai, sắn bao nhiêu phần trăm thì độn cho Bác bấy nhiêu phần trăm. Đi công tác Bác mang theo cơm nắm muối vừng để đỡ phiền mọi người. Mùa đông, Bác mặc chiếc áo bông do đồng bào biếu. Vì dùng mãi vỏ áo đã đứt chỉ ở khủy tay và cổ, Bác bảo mạng nó lại…

Theo Tiến sĩ Trần Viết Hoàn- nguyên Giám đốc Khu Di tích Phủ Chủ tịch, con cháu hôm nay học tập Bác, nhưng “không phải là đòi hỏi ta cứ phải ăn cơm độn khi lương thực đã dồi dào, cứ mặc quần áo vá, cứ đi dép cao su khi kinh tế của ta đã khá giả mới là học và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ. Mà là để hiểu tấm gương đạo đức Bác Hồ luôn sống trong hoàn cảnh của nhân dân, đất nước. Bác sống vì dân chứ không sống vì mình, để lòng ta trong sáng hơn, xem xét mình cái gì không xứng đáng với dân với nước để sửa lỗi lầm”.

Cuộc đời và tư tưởng của Bác Hồ giản dị và lớn lao mãi mãi là “tấm gương soi cho muôn đời” của tất cả chúng ta, các thế hệ người Việt Nam hôm qua, hôm nay và mãi mãi về sau.

  • Quang Anh

baobinhdinh.com.vn

Tôi là người cộng sản như thế này này!

Bác Hồ của chúng ta, từ sau khi bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế thứ ba tại Đại hội Tua Đảng Xã hội Pháp đêm 30-12-1920, thì cũng từ giờ phút ấy, Người trở thành người cộng sản, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, đồng thời cũng là người cộng sản Việt Nam đầu tiên.

Từ người yêu nước trở thành người cộng sản, như Người đã nói rõ, là do trải qua thực tế đấu tranh và nghiên cứu lý luận, Người đã hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.

Trong gần 50 năm mang danh hiệu người cộng sản, khi thuận lợi, lúc khó khăn dù khi chỉ là một người thợ ảnh bình thường hay đã trở thành vị Chủ tịch nước đầy uy tín và danh vọng, ở buổi cách mạng thắng lợi giòn giã hay khi bị kẻ thù dồn dập phản kích, lúc nào Bác Hồ của chúng ta cũng tỏ ra là một người cộng sản kiên định, thuỷ chung, nghĩa khí, thắng không kiêu, bại không nản, vô cùng khiêm tốn nhưng cũng rất mực tự hào về danh hiệu người cộng sản của mình.

Đã có thời, có người quá nhấn mạnh phẩm chất siêu việt của người cộng sản, cho rằng đó là những người có một tính cách đặc biệt riêng. Không biết đó có phải là một trong những nguyên nhân đẻ ra cái gọi là “thói kiêu ngạo cộng sản” hay không?

Có điều chắc chắn rằng Bác Hồ của chúng ta không tán thành cách nói thậm xưng đó, nhất là khi Đảng cầm quyền, vào lúc cách mạng đang thuận lợi. Người nói: ”Đảng viên chúng ta là những người rất tầm thường, vì chúng ta đều là con của giai cấp công nhân của nhân dân lao động…Thế thôi. Chính vì chúng ta rất tầm thường cho nên Đảng ta rất vĩ đại”.

Người đã từng nói nhiều lần: Người cộng sản cũng là con người, nên có ưu, có khuyết, có tốt, có xấu.

”Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra”. ”Cũng như những người hàng ngày lội bùn mà trên mình họ có hơi bùn, vết bùn… Cần phải tắm rửa lâu mới sạch”. Vì vậy, Người dạy: Không phải cứ khắc lên trán hai chữ ”cộng sản” là được nhân dân tín nhiệm đâu; phải khiêm tốn, không hiếu danh, không kiêu ngạo, phải nhớ mình vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ của nhân dân.

Bác Hồ của chúng ta, trong cuộc đời hoạt động cách mạng đi Âu về Á, đã từng đối mặt với bao gian khổ, khó khăn (hai lần ngồi tù: 1931-1933 và 1942-1943), đã từng lãnh án tử hình vắng mặt (năm 1929); nhưng vì tin vào lý tưởng, tin vào nhân dân, tin ở chính mình nên lúc nào Người cũng ung dung, tự tại, luôn thể hiện nhân cách cao đẹp của người cộng sản.
Năm 1931, khi Người bị nam trong nhà ngục Vichtoria của đế quốc Anh tại Hồng Kông hoặc khi bị bệnh phải đưa vào nhà thương, nhiều “ông bà” người Anh có quyền thế và cả một số nhân viên người Trung Quốc đã rủ nhau đến xem, ý chừng họ muốn thấy mặt mũi “lạ lùng” của một người cộng sản! Cuối cùng, họ đã bắt gặp một nhân cách lớn mà họ rất khâm phục và sẵn lòng giúp đỡ từ đó.

Năm 1944, tại Liễu Châu, tuy Người được ra khỏi ngục Quốc dân đảng, nhưng vẫn bị quản thúc vì họ biết Người là lãnh tụ cộng sản, hông muốn thả cho về nước. Bác Hồ nói thẳng với Trương Phát Khuê: Tôi là người cộng sản, nhưng điều mà tôi quan tâm hiện nay là độc lập và tự do của nước Việt Nam. Chính lòng yêu nước, đức độ và tài trí của Bác Hồ đã làm cho Trương cảm phục, trả 1ại tự do và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Người trở về Việt Nam.

Năm 1946, ở Pari, trong một cuộc họp báo, một nhà báo Pháp muốn làm giảm thiện cảm của những người Pháp không ưa cộng sản đối với Bác, bằng cách đưa ra một câu hỏi:

– Thưa Chủ tịch, Ngài có phải là cộng sản không?

Bác Hồ của chúng ta liền đi đến lẵng hoa bày trên bàn, vừa rút ra từng bông tặng mỗi người, vừa vui vẻ nói:

– Tôi là người cộng sản như thế này này !

Đó cũng là điều giúp ta có thể hiểu được vì sao mấy chục năm qua, thế giới có bao sự đổi thay, Bác Hồ vẫn luôn được cả thế giới tôn kính và ngưỡng vọng, coi như một biểu tượng cao cả của nhân đạo, chính nghĩa của hoà bình, một kiểu người cộng sản hài hoà giữa yêu nước và quốc tế, anh hùng dân tộc và danh nhân văn hoá, phương Đông và phương Tây.
Có thể dẫn ra đây một ý kiến, trong rất nhiều ý kiến của nhà báo Mỹ Saphơlen, viết từ năm 1969:

“Trong rừng Việt Bắc, Cụ Hồ như một ông tiên. Nếu có ai bảo đấy là một người cộng sản thì tôi có thể nói Cụ là một người cộng sản khác với quan niệm chúng ta vẫn thường nghĩ; và theo tôi, có thể dùng một từ mới: Một người cộng sản phương Đông, một người cộng sản việt Nam”./.

dongthap.gov.vn

Nâng niu tất cả chỉ quyên mình (Phần 3)

Chân dung Hồ Chủ tịch

Có lần Bác đến dự cuộc họp cán bộ cấp cao, khi nghỉ giải lao các đồng chí vào phòng giải khát riêng, còn anh em khác không thuộc diện tiêu chuẩn đứng ngoài uống nước trà, thấy vậy Bác ra mời anh em vào hết, Bác bảo: “Ai đến họp đều có phần như nhau”. Cứ mỗi lần chiêu đãi khách khi tan tiệc Bác bảo “Theo tục lệ Việt Nam, khi đi ǎn cỗ thì phải có phần mang về, các chú nhớ lấy phần về chia cho người ở nhà cho các cháu, người được ǎn phải nhớ người ở nhà” . Việc đó thành nếp mãi về sau. Ai được Bác chiêu đãi đều có phần mang về cho người ở nhà.

Về tặng thưởng của Bác thì có nhiều với mọi đối tượng. Hồi mới đầu kháng chiến có một phóng viên nước ngoài gửi tặng Bác mấv bức ảnh, Người không quên gửi tặng lại ảnh có tựa đề thân thiện, Ai có thành tích kháng chiến Bác gửi thư khen ngợi gửi tặng quà là chiếc áo mà đồng bào tặng Bác Khi cấp dướí ốm đau Bác biết, Bác đến tận giường bệnh hỏi thǎm Người yêu thơ gửi thơ tặng Bác, Bác gửi tặng lại thơ những bài thơ đó thường là thơ tức cảnh, là cảm xúc thực, dung dị, xuất phát từ hoàn cảnh thực mà ai nhận được cũng cảm thấy gần gũi, xúc động bởi trái tim và tấm lòng Bác quá bao la, soi rõi tận tâm can xúc cảm của con người. Những ngày cuối cuộc kháng chiến, Bác nhận được thơ của hai cháu thân quen là Hà, Hạnh (con gái nhà vǎn Đặng Thai Mai). Bác viết thư trả lời và gửi kèm “Bài thơ tức cảnh khi thức giấc”:

Kìa bãi cát, nọ rừng thông,
Nước nước, non non, khéo một vùng,
Đang đợi người thơ cùng bạn vẽ,
Đến chơi cảnh trí với rừng sông.
Tay đàn, cặp sách, ông đầu bạc.
Hồ rượu, xâu nem, ả má hồng.
Được phép ngao du cùng tuế nguyệt
Vì rằng kháng chiến đã thành công.

Khi biết tin chị Hà có thai, Bác viết thư cǎn dặn. “Phải cẩn thận, nếu không cần kíp lắm thì không nên cưỡi ngựa, lội suối trèo đèo và làm gì nặng nề mệt nhọc quá. Bao giờ có dịp Bác sẽ đến thǎm cháu…”. Có lẽ món quà quý nhất đối với người nhận là mấy lời Bác dặn dò chân tình, là câu thơ, bài thơ được Bác viết tặng với một nỗi niềm tâm sự, một cảm xúc tràn đầy tình người, một niềm hy vọng về tương lai tươi sáng cho người nhận cho tất cả đất trời, nhân loại. Khi biết tin cụ già ở Hải Phòng tuổi đã trên trǎm, vẫn cùng con cháu cầm bút cắp sách đi “diệt giặc dốt”, Bác viết thư khen ngợi “Cụ đã nêu tấm gương sáng cho con cháu noi theo…”. Đọc báo Bác biết tin đội dân quân gái, đội lão dân quân có thành tích bắn rơi máy bay Mỹ, Bác gửi thư, tặng cờ khen thành tích. Giặc Mỹ ném bom ra miền Bắc? Bác tặng cờ thưởng luân lưu cho quân và dân Quân khu IV, cho các tỉnh tuyến đầu “Cờ thưởng luân lưu” của Bác dành thưởng cho những đơn vị bắn rơi nhiều máy bay nhất trong ngày, trong tháng, trong nǎm, Cho nên cờ được chuyền tay nhau đi đến các trận địa nơi nóng bỏng nhất như thêm sức mạnh cho các chiến sĩ “nhằm thẳng quân thù mà bắn”, quyết vít cổ “thần sấm”, “con ma” thật nhiều dâng Bác, dâng Tổ quốc.

Hàng tháng Bác dặn đồng chí Vượng phụ trách khen thưởng Phủ Thủ Tướng, tổng kết lại trong tháng mỗi tỉnh, mỗi ngành, mỗi bộ, mỗi trường học, đoàn thể được Bác thưởng bao nhiêu huy hiệu. Có con số cụ thể để điều tra xem xét. Vì sao nơi này nhiều nơi kia ít Vì sao ít, có phải vì phong trào kém hay vì chưa có báo cáo kịp thời, để nhắc nhở những nơi đó. Hàng ngày Bác đọc báo, có tin người tốt việc tốt Bác thấy thưởng được huy hiệu là Người vòng tròn bên cạnh, đồng chí giúp việc Bác dựa trên những dánh dấu đó mà gửi tặng huy hiệu. Đặc biệt khi thưởng huy hiệu Bác chú ý nhất là những người đi đầu khởi xướng phong trào, còn khi đã thành phong trào thì phải có thành tích cao và liên tục. Chị Phạm Thị Vách người đi đầu trong phong trào thuỷ lợi của tỉnh Hải Hưng Bác gửi thưởng huy hiệu cho chị Vách, còn sau đó đã thành phong trào có người đạt thành tích cao hơn chị Vách nhưng Bác chưa thưởng. Lúc đầu chuyên gia nước bạn sang giúp ta còn ít, Bác tặng huy hiệu của Người. Về sau sang đông, nhiều nước khác nhau, ta chủ trương tặng huy hiệu hữu nghị. Họ không thích, họ bảo huy hiệu Bác Hồ quý hơn. Đi xuống địa phương để khuyến khích phong trào trồng cây, Bác chỉ cây đa to ngoài đồng với các đồng chí cán bộ địa phương: “Các chú biết không khi xưa các cụ ta trồng cây đa ngoài đồng là để khi làm mệt, trời nóng người ta tránh nóng, hồi xưa các cụ đã làm được thế, ngày nay chẳng lẽ con cháu không biết noi theo, trồng nhiều cây hơn để khi đi trên đường đâu cũng có bóng mát. Khi biết những nơi chưa có phong trào trồng cây tốt có nơi trồng nhiều nhưng không chǎm sóc để cây chết và bị hỏng nhiều, nên hiệu quả thấp, thấy vậy Bác phát động phong trào “Các cụ trồng, các cháu chǎm”, Từ đó miền Bắc phong trào trồng cây phát triển vững chắc hơn.

Bác đặc biệt quan tâm đến ngành giáo dục, vì nước muốn mạnh dân trí phải cao. Đầu tư, quan tâm đến giáo dục là việc làm cho tương lai, sau khi cách mạng thành công Bác viết lá thư đầu tiên là lá thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam mới. Trong số lần đi thǎm các cơ quan đơn vị, địa phương… Bác dành nhiều lần, nhiều thời gian về thǎm các trường học. Bác quan tâm đến ngành giáo dục không chỉ trên giấy tờ mà ở những chính sách. Bác cǎn dặn các cán bộ từ Trung ương đến địa phương, các ngành, các đoàn thể phải xem giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội, thể hiện ở trong các chủ trương, chính sách phải được thực thi trong cơ chế thích hợp. Bác tặng thưởng cho giáo viên dạy giỏi, cho học sinh học giỏi. Giải thưởng là một cuốn sổ đặt tên là “Giải thưởng Bác Hồ”. Khi làm cuốn sổ thưởng Bác dặn, đây là giải thưởng nhưng nên có giấy cho các cháu dùng, sổ phải kẻ hàng cho các cháu dễ viết, in tên trường, lớp, tên học sinh. Trên trang đầu in 5 điều Bác Hồ dạy thiếu nhi. Những quyển sổ giải thưởng đó ra đời nǎm đầu tiên của chính quyền cách mạng, là nguồn động viên lớn lao cho thầy và trò lập thành tích trên mặt trận giáo dục. Sau này ngành giáo dục đề ra tiêu chuẩn đạt giải thưởng Bác Hồ” quá cao, các môn học phải đạt điểm 10 và đạo đức tốt. Bác có ý kiến đối với các cháu học sinh dân tộc ít người nên châm chước có thể có điểm 9 vẫn được thưởng. Từ khi phát động phong trào đến nǎm 1968 tổng kết lại ngành giáo dục đã nhận được 6210 giải thưởng của Bác Hồ, trong đó có 423, giải tặng cho giáo viên dạy giỏi có thành tích tốt.

Món quà Bác tặng, tuy nhỏ bé nhưng mang một ý nghĩa thiết thực, mà Bác gửi gắm vào đó một điều mong muốn, một lời khuyên chân tình. Có lần anh em trẻ mới bổ sung làm nhiệm vụ bảo vệ cơ quan, vì chưa quen một số nguyên tắc bảo vệ nên thường có mặt hạn chế. Khi thấy Bác có đôi đũa đẹp, anh em bànnhau dấu đi, mỗi người cắt một khúc giữ trong mình làm kỷ vật. Đồng chí phụ trách phê bình anh em gay gắt. Biết chuyện, Bác lấy tặng mỗi người một cuốn sổ với lời đề tặng. Anh em rất sung sướng và cuốn sổ ngày ngày được anh em dùng ghi những việc làm tốt, những suy nghĩ hay: Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam còn lưu giữ hai kỷ vật Bác tặng, đó là chiếc máy quay đĩa và ghi âm vào đĩa nhựa hiệu Wilox má bà con Việt kiều tặng Bác khi Bác sang Pháp nǎm 1946. Chiếc đồng hồ Rolex Royal do Việt kiều ở Thái Lan tặng Bác, Bác cũng tặng lại đài.

Bác viết hàng nghìn bài báo, khi có nhuận bút vǎn phòng đều gửi vào tiết kiệm, đến nǎm 1967, tổng số tiền lên đến 25.000 đồng (tương đương 60 cây vàng), khi biết, bộ đội pháo binh trực chiến dưới trời nóng, khát nước, Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ chuyển số tiền đó để mua nước uống cho các chiến sĩ trực phòng không. Bác lo cho con người từ cái nhỏ nhất đến việc lớn, Bác quan tâm từ người cán bộ đến anh em chiến sĩ, dù ở đâu, hoàn cảnh nào. Nhớ lần họp Hội đồng Chính phủ tại thôn Chúc Sơn đầu nǎm 1948, đồng chí Hoàng Hữu Nam nhờ cụ chủ nhà mua hộ cho 20 quả trứng luộc để anh em ǎn về đêm cho đỡ đói Giữa cuộc họp Bác đến, cùng lúc đó rổ trứng được mang đến, Bác biết số trứng không đủ cho số người họp, nhưng nhất định từ chối không được, Bác vờ lấy một quả như mọi người. Có lần nhân ngày sinh nhật Bác, ở chiến khu anh em phục vụ cố gắng cải thiện bữa ǎn tươi. Gần trưa Bác đứng hóng mát ở bóng cây thấy một đồng chí cán bộ đi công tác, phi ngựa qua, Bác cho gọi lại và mời vào ǎn cơm thân mật với Bác và anh em nhân ngày vui. Được biết bố đẻ liệt sỹ Lý Tự Trọng (thời kỳ Bác hoạt động ở Thái Lan, ông này thường mời Bác những món ǎn dân tộc mà Bác rất thích) ra Hà Nội, Bác cho mời vào nơi Bác, trong không khí hàn huyên nhớ thủa hàn vi, Bác mời ǎn những món ǎn xưa như để nhắc lúc nào cũng nhớ về nhau như đôi bạn tri kỷ. Hồi ở chiến khu, Bác tiếp anh hùng La Vǎn Cầu, khi anh qua một trận chíến đấu rất anh dũng. Đến bữa cơm Bác nói chân tình để anh ǎn được nhiều cơm: “Hôm nay Bác thết chú, chú ǎn đừng làm khách nhé, bởi toàn “cây nhà lá vườn” cả, này nhé rau xanh Bác trồng, gà Bác nuôi, trứng là trứng gà Bác nuôi đẻ đấy, chỉ có mǎng muối là phải mua thôi. Chú ǎn thật no đấy!”. Hai Bác cháu chuyện trò vui vẻ bữa ǎn anh Cầu ǎn được nhiều hơn bình thường. Tối đó Bác lưu anh Cầu ở lại ngủ qua đêm. Bác quý, Bác xem anh như con đẻ. Sau này về Hà Nội, tại cuộc họp Quốc hội, khi nghỉ giải lao, Bác gọi anh Cầu lại hỏi thǎm sức khoẻ, gia đình. Biết anh Cầu đã có vợ, con. Vợ anh, là chiến sỹ thi đua ngành công nghiệp giấy Trần Thị Thanh, Bác hỏi anh Cầu: “Thế cô ấy có lớn lên được tý nào không?”. Hôm sau Bác mời cả nhà anh vào thǎm Bác tại Phủ Chủ tịch. Bác ân cần, chu đáo quan tâm đến con người là vậy, nhớ lần Bác đến thǎm bệnh viện Khu tự trị Việt Bắc, Bác hỏi người phụ trách trong bệnh viện có bệnh nhân nào nặng nhất, cho Bác đến thǎm. Bác được dẫn đến chỗ chị cấp dưỡng khu gang thép Thái Nguyên, chị bị bỏng đến 80%, lúc đó chị đã qua cơn nguy kịch nhưng vẫn nằm bất động, Bác đến gần giường ân cần hỏi:”Cháu có đau lắm không?”. Biết bệnh tình nguy kịch Bác rất lo cho tính mạng chị Bác dặn y bác sĩ: “Bệnh nặng thế liệu có chữa khỏi không? Các cô các chú cố gắng cứu lấy chị”. Bác đến thǎm như thêm sức mạnh kỳ diệu cho chị và cả tập thể y bác sĩ, họ đã quyết tâm vượt qua được cơn bệnh hiểm nghèo.

Những chuyến đi xuống thǎm các cơ sở sản xuất, thǎm nhân dân, mặc dầu đã có chương trình bố trí cho Bác đi, nhưng Bác vẫn có cách tiếp xúc trực tiếp với dân. Một lần nhân đầu nǎm mới Bác lên Vĩnh Phú thǎm và chúc tết Các đồng chí cấp tỉnh đã chuẩn bị một số nơi cho Bác đến. Bác biết, nên Bác chưa đến những nơi đó trước. Bác vào thǎm một gia đình của một đồng chí dang chiến đấu ở miền Nam, Bác ân cần hỏi thǎm sức khoẻ gia đình việc học hành của các cháu và sự quan tâm của địa phương ra sao, chị chủ nhà nói những gì có thật, khác xa sự báo cáo của địa phương, Bác không vui, Bác phê bình thế là không tốt với dân, lừa dối cấp trên. Khi tập trung nói chuyện với nhân dân các đồng chí cán bộ thì ngồi gần Bác, còn các cụ thì ngồi phía sau chỗ xa Bác đứng. Bác trực tiếp sắp xếp lại, Bác mời các cụ lên ngồi gần Bác, rồi Bác mới bắt đầu nói chuyện. Bác rất biết những nhược điểm của một số cán bộ thường mắc bệnh hình thức chủ nghĩa, cho nên khi đi đâu thǎm dân, Bác dặn các đồng chí phục vụ, bảo vệ không được cho cán bộ địa phương biết trước. Một lần Bác xuống thǎm nhà trẻ, Bác đi vào cổng giữa trời nắng chang chang đã thấy hai dãy hàng các cháu, quần áo ǎn mặc chỉnh tề, cháu nào mặt cũng đỏ gay vì nắng. Thấy Bác các cháu rất vui, Bác cùng hoà trong niềm vui với trẻ thơ như để bớt đi nỗi vất vả mà các cháu phải chịu đựng khi chờ đợi Bác. Nhưng khi về Bác phê bình, vì sao “để lộ ra” , vì sao bắt các cháu đứng giữa nắng. Tết nǎm 1962, theo kế hoạch ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội bố trí Bác đi chúc tết một số gia dình, Bác dặn đồng chí phục vụ ngoài chương trình của thành phố bố trí cho Bác đi thǎm một số gia đình còn khó khǎn. Sau khi “hoàn thành” chương trình của thành phố, Bác vào phố hàng Hàng Chĩnh đến thǎm nhà chị Tín. Chị đi gánh nước thuê ra đến ngõ thì gặp Bác, cảm động quá đôi quai thùng rơi xuống đất. Bác đến gần ôn tồn động viên chị, hỏi thǎm sức khoẻ gia đình và học hành của các cháu. Được biết chồng mất sớm, một mình nuôi bốn con còn nhỏ, thiếu ǎn, thiếu mặc nên các cháu thất học. Nhìn trong nhà thấy không có gì cả, Bác hỏi; “Thế mẹ con cô ǎn tết thế nào?”. Chị trả lời trong nước mắt: “Dạ thưa Bác không có gì để đón tết cả, cả nhà chỉ còn một lon gạo để dành sáng mồng một tết nấu cháo cho các cháu ǎn, nên tuy nǎm hết tết đến cũng phải tranh thủ đi gánh nước thuê, kiếm ít tiền mua cái gì cho các cháu”. Nghe vậy, Bác rất cảm động. Bác tặng quà cho các cháu và dặn: “Cố gắng sǎn sóc các cháu”, Chị cảm động nói? “Không ngờ như gia đình cháu mà Bác cũng đến thǎm”. Bác ân cần bảo: “Bác không đến thǎm những gia đình như gia đình cô thì thǎm ai”. Khi xe đưa Bác về đến nhà thì gia đình một số đồng chí cán bộ vui mừng ra đón Bác, chúc tết Bác. Nhưng tất cả bỗng im lặng và đi chậm lại khi thấy Bác đi chúc Tết về mà không vui, vào nhà, Bác kể chuyện đến thǎm gia đình chị Tín cho mọi người nghe, và Bác nhấn mạnh: “Ta có chính quyền trong tay nhưng không sát dân, cho nên phục vụ nhân dân chưa tốt”. Sáng hôm sau mặc dầu mồng một Tết Bác cho gọi đồng chí Chủ tịch ủy ban Nhân dân thành phố lên và nói lại chuyện trên, Người nghiêm khắc nhắc nhở chung cán bộ thành phố chưa sâu sát dân, chưa biết cách tổ chức vận động nhân dân “lá lành đùm lá rách” có nhiều gia đình Tết đến mà không có Tết, đó là lỗi của cán bộ không gần dân, ta có chính quyền nhưng chưa gần và hiểu dân”. Bác đến thǎm dân, Bác tới những nơi cán bộ ít hoặc không bước chân đến, nơi đó người dân phải chịu đựng nỗi vất vả, gian nan.

Nhớ lần Bác đến thǎm một cơ quan Bác đi thẳng vào nhà ǎn, Bác bước xuống chỗ nhớp nháp, trơn, đồng chí cán bộ lãnh đạo cơ quan vội thưa Bác là chỗ đó bẩn, dễ ngã, đồng chí mời Bác đi hướng khác, nhưng Bác không nghe, Bác nói: “Bác đi lối này để chú biết lần sau dọn cho sạch sẽ”. Vào nhà ǎn Bác xem kỹ tường, trần nhà, nền nhà bàn ǎn, Bác chỉ vào chỗ ruồi đang bay, Bác bảo: Hình như có tiếng vè vè của máy bay “trực thǎng”. Bác phê bình, đại ý “hồi xưa thằng Tây nó to, ác như thế, nó có súng to súng nhỏ mà ta còn đánh được, thế mà bây giờ con ruồi nó không có súng, nó không to thế mà các cô các chú không đoàn kết tiêu diệt được nó”. Bác phê bình là vì sức khoẻ của anh em cán bộ, Bác mong mọi người cùng nhau tiến bộ không chỉ ở những công việc lớn lao mà ngay cả những việc tưởng tầm thường nhỏ nhặt. Có lần đến thǎm đơn vị, thấy một đồng chí có vết bẩn ở mặt mà đồng chí không chú ý nên không biết. Bác đến gần ân cần lấy khǎn mặt của mình lau cho đồng chí và phê bình nhẹ:”Lần sau chú phải chú ý hơn”. Tết nǎm 1956, Bác đến thǎm trường thương binh hỏng mắt, Bác vui vẻ nói chuyện với anh em thương binh. Bác rất khen ngợi tinh thần khắc phục khó khǎn, bệnh tật, luôn cố gắng phấn đấu vươn lên Bác rất vui lòng khi được biết số tiền Bác tặng đã được dùng vào trồng rau, nuôi lợn cải thiện bữa ǎn cho anh em. Bác ân cần động viên: Các chú được học chữ, học nghề sau này phục vụ nhân dân được tốt hơn, như vậy các chú “tàn nhưng không phế”. Thời kỳ kháng chiến ở chiến khu, khi nghe tin đôi trai gái Bác quen biết, tổ chức lễ cưới Bác bận không đến được, Bác gửi thiếp chúc mừng:

“Chúc Lương Thuận đoàn kết chặt chẽ. Ký tên Hồ Chí Minh” Lần sau nhân dịp đi công tác Bác ghé thǎm nhà, anh chị là cán bộ tài chính nhưng kinh tế cũng như mọi gia đình khác vào nhà không có bàn ghế ngồi Bác bảo ra ngồi ngoài thềm cho thoáng mát, Bác ngồi xuống vỉa hè bảo chị Thuận và mọi người cùng ngồi cạnh, Bác hỏi thǎm mọi mặt, Bác khuyên nên tích cực tǎng gia sản xuất, thấy cháu bé con chị ngồi trong xe cút kít làm bằng gỗ, Bác bế cháu âu yếm, dỗ dành bón từng thìa cơm cho cháu. Nhớ hồi ở Pác Bó, khi vào bản thǎm bà con thấy các cháu nhỏ nghịch dơ bẩn không tắm giặt, Bác bảo các đồng chí cùng đi tìm một cây gỗ lớn về làm một cái máng đựng nước rồi tắm cho các cháu. Thời kỳ Bác ở Trung Quốc, có lần đến tuyên truyền cách mạng trong anh em công nhân đường sắt Bác ở tạm trong một cơ sở tin cậy, thời gian rỗi Bác thường tham gia lao động giúp gia đình, như chặt củi, hái rau, nấu cơm. Thấy chị chủ nhà vất vả, lo toan mọi việc, Bác không nề hà giúp chị trong những công việc của người phụ nữ. Gia đình có cháu bé hay khóc, Bác dỗ rất khéo tắm giặt sạch sẽ, khéo vỗ về nên khi Bác cho ǎn cháu thường ǎn được nhiều, từ đó, cháu ít khóc, chóng lớn, không những chỉ chủ nhà mà mọi người ai cũng khen và phục tài cúa Bác. Có lần Bác gặp gỡ các anh hùng lực lượng vũ trang, thấy cô gái nhỏ bé, Bác đến gần và hỏi:

“Cháu là gì”, cô gái thưa với Bác: “Dạ thưa Bác, cháu là dân quân” Bác vui vẻ nói: “Là dân quân, cháu vừa là dân, vừa là quân, hai nhiệm vụ nặng nề cháu có vất vả lắm không?”.

Thường thường trước ngày duyệt binh kỷ niệm Quốc khánh 2-9, Bác đến thǎm các lực lượng tham gia duyệt binh thử, Bác nói đại ý, hôm nay Bác đến để các cô các chú nhìn thấy Bác trước, ngày mai tại quảng trường Ba Đình trước toàn dân và khách quốc tế các cô các chú lo làm cho đúng động tác, khỏi ảnh hưởng đến quân thể và uy tín của các lực lượng vũ trang.

Bác Hồ gần với dân là vậy. Không chỉ xuất phát từ nỗi lo toan của vị Chủ tịch nước với dân mà còn là tình thương yêu con người với con người. Bác lo lắng giáo dục đội ngũ cán bộ vừa có tài nhưng phải có đức. Bác theo dõi sự tiến bộ của cán bộ từ học hành, công tác đến các mối quan hệ với dân. Bác thương yêu giúp đỡ những người yếu, những hoàn cảnh khó. Nỗi lo, tình thương ở Bác đã trở thành tâm linh của một vĩ nhân, một bậc thánh hiền.

sites.google.com

Nâng niu tất cả chỉ quyên mình (Phần 2)

Chân dung Hồ Chủ tịch

Nhiều lúc Bác muốn đi dã ngoại bí mật vừa thǎm dân được lâu, rõ hơn và thay đổi không khí. Bác bảo đồng chí phục vụ chuẩn bị thức ǎn, không nói với ai, sáng đi sớm không mang theo bảo vệ và quay phim, chụp ảnh. Hành trình Bác định trước đến đâu thǎm nơi nào, nghỉ ǎn cơm ở đâu, mấy giờ về… Bác thấy đi như vậy thoải mái, thích thú lại đỡ tốn thời gian và tiền bạc. Vì một lần Bác về thǎm một tỉnh nghèo cán bộ tỉnh tổ chức liên hoan linh đình đón Bác, Bác bảo: “Các chú làm thế này thì lần sau dân không ai mong Bác về nữa các chú cho công an, bộ đội đứng gác khắp nơi làm dân họ sợ không dám đến gần Bác. Mà dân có đến cũng là do các chú sắp đặt nên không tự nhiên vui vẻ” . Đến thǎm vào mùa rét Bác đội mũ lông, quấn khǎn kín, hôm đó các đồng chí quay phim nhiếp ảnh đông Bác nói vui, hôm nay Bác không biểu diễn đâu, các chú chẳng có làm ǎn được gì. Hôm đó vui kể chuyện đồng chí bác sĩ người Cửu Long kể ở trong đó có những con tôm to bằng bắp tay, đồng chí Vũ Kỳ không tin, Bác cười góp vui nghe nói Đồng Tháp mười có muỗi to lắm, muỗi đậu ngoài màn người nằm trong màn nắm được chân nó, nó dẫy hai cánh đập như hai cái quạt máy mát lắm, mọi người được phen cười vui vẻ.
Tết nǎm 1966, Bác về thǎm tỉnh Thái Bình. Ngày 30 Tết Bác đi thǎm và nói chuyện một số nơi. Đêm 30 Tết; Bác tranh thủ làm việc, liên quan đến chương trình mồng Một Tết, Gần đến Giao thừa, đồng chí phục vụ mời Bác đi nghỉ. Bác bảo “Còn ít phút nữa bước sang nǎm mới, cộng việc của nǎm cũ không nên để lại”. Xong công việc thời gian đã chuyển sang nǎm mới, biết phòng bên có nhiều người thức dậy đón nǎm mới, Bác xách đèn bão sang thǎm và chúc tết mọi người, sau đó Bác trở về làm việc tiếp. Bác về thǎm tỉnh lần thứ 5, Bác bảo Thái Bình là tỉnh 5 tấn, Bác đã về 5 lần, nếu thêm nhiều tấn nùa Bác sẽ về nhiều nữa.

Lòng tin ở nhân dân trong Bác là tuyệt đối, Bác bảo nếu trong dân còn người xấu, họ chưa yêu cách mạng thì cách mạng phải tỏ rõ lòng khoan dung, thuyết phục chứ tuyệt đối không bắt ép. Có lần Bác về thǎm tỉnh Yên Bái, các đồng chí bố trí mít tinh đón Bác trong doanh trại tỉnh đội Bác không đồng ý, Bác nói mít tinh đón Bác không nên làm trong đơn vị bộ đội, các chú canh gác cẩn mật thì ai dám vào, vả lại nếu mọi người vào được thì còn đâu là cẩn mật. Theo ý Bác nên chọn chỗ nào thuận tiện để mọi người đến được, thành phần đến tham dự là toàn dân. Các đồng chí bảo vệ cứ bǎn khoǎn sợ kẻ xấu lẫn vào, biết được ý nghĩ đó, Bác nói: “Những người xấu cũng cho họ vào, nếu không cho họ nghe chuyện thì làm sao họ giác ngộ được, họ sẽ không làm điều gì xấu đâu”. Lần về thǎm mỏ Quảng Ninh công nhân phấn khởi chạy ào ra đón Bác, có chị cũng vội bế con chạy ra đón Bác, vì vội quá nên không kịp thấy trong tay con mình cầm vật gì. Thấy hai mẹ con chạy vội, Bác ôn tồn: “Đi từ từ kẻo ngã” Bác tiến lại gần hai mẹ con, Bác nhẹ nhàng gỡ con dao nhỏ trên tay đứa bé rồi đưa cho chị và ân cần dặn: “Đừng cho trẻ con chơi dao, nguy hiểm” , lúc đó mọi người mới nhận ra. Bác đi thǎm đảo Vạn Hoa, Bác hỏi các chiến sỹ có được xem phim, xem vǎn nghệ thường xuyên không, các chiến sĩ trả lời Bác là 6 tháng được xem phim một lần, còn vǎn nghệ thì chưa lần nào. Bác quay sang đồng chí Lê Trọng Tấn nói: “Hôm nay có ông tướng đi cùng đây “ông” nghĩ thế nào?”. Đồng chí hứa với Bác là sẽ sửa chữa khuyết điểm, Bác nói ngay: “Chú hứa chung chung quá” đồng chí hứa với Bác là 6 tháng một lần xem vǎn công còn 3 tháng một lần xem phim, Bác gật đầu, cười đồng ý.
Ban Việt kiều đưa lên Bác kế hoạch đón Việt kiều ở Thái Lan về nước Bác phê bình, là chỉ chú trọng đến lễ đón tiếp chứ không chú ý bố trí công ǎn việc làm, nơi ǎn ở cho người về nước, Bác chỉ thị, phải có biện pháp cụ thể cho tương lai của kiều bào, sử dụng hợp lý khả nǎng chuyên môn, công việc của họ, và trường học cho con em Việt Kiều.

Bác giáo dục cán bộ đối với nhân dân không được phân biệt, cách biệt, không được có thái độ cho dân vùng này tốt nơi kia xấu, ở đâu, người nào cũng phải bình đảng, tôn trọng yêu quý nhân dân thì họ mới yêu quý cán bộ. Đối với dân tộc ít người, tôn giáo hay Việt kiều về nước, tinh thần đại đoàn kết của Bác luôn luôn được mọi tầng lớp mọi giới ủng hộ.

Bác đến thǎm huyện Mường Tè, nơi xa xôi của tỉnh Lai Châu, khi thấy nhân dân còn cực khổ lạc hậu, Bác đi bộ xuống tận bản làng nơi nhân dân đang sống theo tập quán cũ, Bác bảo, chúng ta có Đảng, có Chính quyền nhưng chưa mang ánh sáng vǎn minh đến những vùng cao như ở đây, chúng ta còn có lỗi với dân, rồi Bác chỉ thị cho cán bộ địa phương phải có biện pháp cụ thể giúp đỡ đồng bào cải thiện đời sống, lối sống, để họ dần dần tiến kịp miền xuôi, có như vậy cách mạng mới thực sự của toàn dân, công bằng với mọi nơi. Nǎm 1957 , Bác về thǎm Đồng Hới, khi được biết nguyện vọng của đại biểu Phật giáo thiên chúa giáo xin được thǎm Bác. Mặc dầu chương trình rất nhiều, Bác bảo, gặp cán bộ cốt cán, đảng viên thì lúc nào cũng được, bây giờ các chú để Bác được gặp các Cụ. Bác đi bộ đến chỗ các cụ đã tập trung đông đủ, lúc đó có một bà cụ thay mặt mọi người mang bó hoa lên tặng Bác. Bác sung sướng cầm bó hoa và cảm ơn, rồi nhanh nhẹn tách bó hoa làm đôi đi đến tặng cho sư Phổ Minh và cha cố Thông. Những người có mặt lúc đó ai cũng cảm động và quý phục phong cách linh hoạt tài tình của Bác. Một biểu hiện đoàn kết tôn giáo cao quý đẹp đẽ cử chỉ đó của Bác đã nói bao điều mà ai cũng hiểu, ghi nhớ sâu sắc Hai lần về thǎm quê hương Nghệ An, Bác đều đến thǎm Hội Phật giáo, sư bà Thích Dlệu Niệm tặng Bác lẵng hoa làm theo 5 cánh “5 chân lý hợp nhất” và một bài thơ, Bác trân trọng nhận hoa và đọc thơ, xong Bác lấy bút đề tặng lại thơ cho nhà sư nữ và cho cả tǎng ni phật tử Nghệ An. Đến nǎm 1962, Bác đến thǎm trường Hội Phật giáo, lúc đó sư nữ Thích Diệu Niệm cũng ra học, từ xa Bác đã nhận ra, Bác đến nói chuyện hỏi han công việc Hội Phật giáo Nghệ An, nhà sư tặng Bác bài thơ, ý trong bài thơ là làm tốt những điều Bác dặn khi hai lần về thǎm quê, Bác vui vẻ bảo: “Như ri thì sư nhớ lời Bác dặn”.

Bác quý trọng nhân cách con người. dù người đó là ai, tầng lớp nào, bên Bác dẫu một lần ai cũng cảm thấy giá trị của cuộc đời được nâng lên. Bác không bao giờ nói “cho” mà chỉ nói “biếu cô”, “biếu chú”, “tặng cô”, tặng chú”… Bác không ngồi nghe khi người khác đứng nói, sẵn có ghế Bác mời cùng ngồi, nếu không có ghế thì cùng đứng có lần đến thǎm bà con nông dân, có các cụ già đến nghe Bác nói chuyện không có ghế phải ngồi xuống đất, Bác bảo tìm ghế cho các cụ rồi Bác mới bắt đầu nói chuyện với mọi người.

Khi có chút quà ngon, Bác không dành riêng cho mình, mà dẫu ít Bác cũng chia đều cho anh em phục vụ. Bác không quan niệm “lộc bất tận hưởng” một cách máy móc, mà xuất phát từ tấm lòng quý trọng con người. Có đồng chí đi họp ở Pari về, mang biếu Bác gói kẹo mà ở bên Pháp Bác rất thích. Có kẹo ngon, lạl hiếm, Bác đem chia đều cho mọi người, có người thấy kẹo của Bác chỉ có ít, muốn để dành cho Bác ǎn, nên từ chối không dám nhận, Bác bảo, ít cũng phải chia đều, mỗi người hưởng một ít. ở nhà sàn, buổi trưa xung quanh mọi người ngủ trưa yên tĩnh, có việc lên xuống, Bác ghì quả chuông treo ở cầu thang lên xuống cho nó khỏi kêu, làm anh hưởng đến giấc ngủ mọi người. Bác bận nhiều việc lớn của Đảng, của Nhà nước nhưng việc nhỏ Bác không quên, khi có anh em phục vụ đi phép, Bác đến gửi quà và gửi lời thǎm sức khoẻ gia đình, khi trả phép Bác đến hỏi han tình hình gia đình. Có đồng chí vì bận công tác không về thǎm quê và gia đình được, khi người nhà lên thǎm, Bác biết bao giờ Bác cũng gặp, nếu gặp vào đúng tối thứ bảy có phim, Bác mời xem phim. Có một lần trong buổi xem phim, Bác thấy một cụ già ngồi xem, lúc đó hỏi thǎm không tiện, sau Bác hỏi đồng chí Vũ Kỳ cụ già xem phim là ai mà không báo để Bác biết tiếp chuyện, được biết là bố của bác sĩ Mẫn (người bảo vệ sức khoẻ riêng của Bác ) lúc đó cụ già đã lên đường về quê, vì không gặp được cụ, Bác gửi bác sĩ Mẫn một chai mật ong nhờ chuyển về làm quà biếu cụ. Cụ già ở quê rất cảm động khi đón nhận món quà quý giá của Chủ tịch nước gửi. Hàng nǎm đến tối 30 Tết, anh em không về quê đón Tết. Bác tổ chức gặp mặt tất niên. Bác thường bố trí Bác ngồi một bên bàn còn Thủ tướng Phạm Vǎn Đồng ngồi đối diện, anh em ngồi quây quần xung quanh, đêm giao thừa có hai Bác và anh em nên không khí trong Phủ Chủ tịch thêm ấm cúng không khí gia đình. Khi mọi người yên chỗ ngồi, Bác đi một vòng xung quanh kiểm tra xem còn thiếu ai. Nếu thiếu Bác dặn đồng chí cấp dưỡng để phần lại cho anh em đi vắng. Những anh em ngồi cạnh Bác lúc đầu thường e dè, không tự nhiên tay cầm đũa cứ lóng ngóng. Bác chủ động gắp thức ǎn và động viên, có khi Bác pha trò một câu gì đó tạo không khí vui vẻ những lúc đó Bác hiện thân một người Cha bên đàn con yêu quý trong giờ phút thiêng liêng chuyển nǎm cũ sang nǎm mới. Xong buổi liên hoan Bác cùng anh em chụp ảnh lưu niệm và vui vǎn nghệ “cây nhà lá vườn” Bác đi thǎm nước ngoài nhiều lần, họ biếu Bác nhiều tiền và quà , Bác cho vào công quý hết, cái nào chia được Bác chia cho anh em. Mỗi lần đi nước ngoài về Bác thường mua quà kỷ niệm cho anh em phục vụ, khi đôi bít tất lúc chiếc khǎn hay gói kẹo.

Bác sống cuộc đời một vị Chủ tịch nước, nhưng mỗi người chúng ta đều thấy một phần cuộc đời mình trong đó, bởi vì Bác là hiện thân cốt cách dân tộc, là cái chung trong mỗi cái riêng.
Bác chu tất với mọi người, mọi việc, có lần Bác đi qua nhà ǎn thấy đồng chí Lơ người nấu ǎn cho Bác đang dùng cát để đánh xoong cho sạch, Bác rẽ vào bày cách đánh xoong nồi chóng sạch lại không bị xước mòn. Hồi ở chiến khu khi đi trong rừng gặp trời mưa vắt nhiều, Bác bày cho cách dùng tàn thuốc lá để chống vắt rất hiệu quả Bác thường xuyên khuyên bác sĩ học cách chữa bệnh bằng thuốc nam, ta là người nam hợp với thuốc nam vì cha ông tổ tiên đã để lại kinh nghiệm quý báu đó ta nên phát huy thêm. Bác kể chuyện hồi xưa Bác đi bộ từ Nghệ An vào Huế. Dọc đường chân bị sưng lên đau không đi được nhờ xoa bóp bằng nước tiểu đỡ đau mới đi tiếp được. Khi về già có lần Bác đau ở bả vai, bác sĩ cho chạy vật lý trị liệu mãi không khỏi, Bác lấy lá ngải cứu vò với nước tiểu xoa vào chỗ đau, chỉ mấy lần làm thấy giảm hẳn.

Đối với khách là người nước ngoài nếu là người quen biết từ trước, Bác tiếp không những trên cương vị Chủ tịch nước mà còn trên tình cảm anh em gần gũi, khách đến tuy là lần đầu Bác cũng rất chu tất, truớc khi khách về nước, Bác đến thǎm, gửi quà… hôm sau Bác lại đến chia tay. Bác bảo họ là khách, mình là chủ làm thế mới có tình có nghĩa. Rời Việt Nam, nhưng khách không quên Việt Nam có Bác Hồ, con người của mọi người. Một lần có vị quan chức của một nước đi thǎm các nước láng giềng quanh ta, người này có cảm tình với Việt Nam. Lúc đó nước ta đang có chiến tranh, có người đến bàn với Bác, ta lấy cớ không có điều kiện tiếp nên không mời, Bác bảo “Khi người anh em đi qua trước ngõ không mời vào nhà chơi là không lịch sự” Bác đích danh mời vị đó vào thǎm. Khi về nước vị khách hết lòng ca ngợi Việt Nam và tích cực ủng hộ nhân dân Việt Nam chiến đấu.

Bác quan tâm con người không chung chung, mà rất cụ thể, không những đối với những người gần gũi bên Bác, những người Bác gặp mà còn đến những người có thể Bác không gặp. Khi đi qua chiếc cầu gập ghềnh hay gặp hòn đá khập khiễng Bác dừng lại cùng anh em sửa sang cho chắc để người đi sau khỏi gặp nguy hiểm. Lội qua suối gặp hòn đá trơn Bác cúi xuống nhặt ném đi xa để người đi sau không bị ngã. Có lần đi chiến dịch, đường đi nhiều ổ gà, phía trước có hòn đá to, đồng chí lái xe cứ cho xe vượt, không ngờ xe va vào hòn đá bị hỏng, Bác xuống xe, chiếu đèn pin giúp cho các đồng chi sửa xe, Bác động viên cứ bình tĩnh chữa cho cẩn thận. Khi xe sửa chữa xong tiếp tục lên đường, bấy giờ Bác mới nói: “Đáng ra lúc nãy chú cho xe dừng lại lǎn hòn đá xuống vực rồi mới đi, có lâu cũng chỉ dǎm phút, không phải dừng sửa chữa mất hơn nửa tiếng, mà lại giúp các xe sau không bị nạn, chú đã “tham đĩa bỏ mâm”.

Trên đường ra trận Bác cùng lǎn lộn với anh em, cùng đổ mồ hôi cùng sôi khí thế. Khi đi chỗ đường trơn, suối đá trơn gập ghềnh, anh em bảo vệ muốn giúp Bác kảo ngã, Bác bảo tự Bác đi dễ hơn, hơn nữa Bác đi nhanh và khéo hơn các chú đấy. Có lần mùa mưa, gặp con suối nước chảy xiết, việc cần gấp phải qua, các đồng chí đang lúng túng không biết làm sao qua được. Bác bảo tìm sợi dây rừng thật chắc buộc chặt vào người rồi dìu dắt nhau qua, Nhớ lần Đại Hội Đảng lần thứ II ở Tuyên Quang, Bác biết chị Quý nhân viên phục vụ Đại hội mới sinh cháu bé được 5 tháng, Bác bảo, Bác sẽ đến thǎm, vì ngại nơi ở xa và chưa chu tất, gia đình muốn bế cháu đến thǎm Bác. Bác bảo, ông phải đến thǎm cháu chứ. Thế rồi Bác tranh thủ thời gian đến thǎm, cho quà và chụp ảnh với cháu. Nhạc sỹ Phong Nhã lên báo cáo với Bác về tình hình thiếu nhi. Nhạc sĩ chuẩn bị nhiều nội dung lớn, nhưng khi lên Bác chỉ hỏi kỹ về việc các cháu con nhà nghèo vào đội ra sao, việc ǎn ở, học hành, vui chơi thế nào, Bác chǎm chú lắng nghe nhạc sĩ kể về các cháu tham gia mít tinh, tuần hành., cổ động. Bác đǎm chiêu nhìn ra trời. nắng nóng và nói, nhưng nhớ đừng để các cháu đi đầu trần dưới nắng dễ bị ốm. Mùa rét Bác chỉ thị cho Bộ Giáo dục khi nhiệt độ xuống 10 độ C thì cho các cháu học sinh cấp I nghỉ học, xuống dưới 10 độ C cho các cấp các trường nghỉ học.

sites.google.com

Nâng niu tất cả chỉ quyên mình (Phần 1)

Chân dung Hồ Chủ tịch

Một lần một người bạn nước ngoài hỏi Bác về tài sản riêng Bác vui vẻ chỉ đàn cá Bác đang cho ǎn và nói. “Đây là tài sản của tôi”. Bác sống trọn cuộc đời cống hiến, ra đi không để lại chút gì riêng tư, từ nguồn vui gia đình sản phẩm tinh thần quý giá của con người bình thường, đến tài sản vật chất.

Suốt cuộc đời Bác chỉ nghĩ đến giải phóng những người lao động cần lao, nghĩ đến nhân dân mình, dân tộc mình. Lo từ việc nhỏ bình thường đến đại sự quốc gia. Quan tâm từ miếng ǎn cho người nghèo đến sự thái bình cho dân tộc. Nhớ hồi làm phụ bếp bên Anh, khi rửa bát đĩa, Bác để riêng những thức ǎn thừa còn lại, gói vào một gói, khi về mang ra cho những người nghèo khổ ǎn xin ngoài đường. Khi dự tiệc chiêu đãi ở Pari, ra về Bác dành quả táo cho em nhỏ. Khi mùa hè đến? mồ hôi thấm áo, Người nghĩ đến những chiến sỹ phòng không trên trận địa nóng bỏng. Khi đi công tác ở nước ngoài được biết có loại cây lá xanh quanh nǎm không rụng lá, Bác nghĩ tới chị lao công đêm đêm vất vả quét lá nên Bác khuyên tìm cách đưa loại cây ấy về nước. Khi đi thǎm hồ Suối Hai thấy nhà nghỉ của Tỉnh ủy xây to đẹp, Bác bảo phải lo xây nhà cho nhân dân lao động trước. Lúc đi công tác xa lâu ngày Bác nghĩ đến những người phục vụ mình ở nhà, Bác dặn những ngày Bác đi xa các chú tranh thủ về thǎm quê hương gia đình. Đối với người phục vụ, Bác quý trọng xem như những người thân thiết nhất, Bác không có gia đình riêng, họ là những người gần gũi với Bác như những người ruột thịt. Đầu tháng 5- 1948, đồng chí Lộc, người nấu ǎn cho Bác không may bị sót rét ác tính mất. Bác thương xót, và đã khóc như mất đi một người ruột thịt. Đến ngày kỷ niệm sinh nhật Bác, anh em tìm một bó hoa rừng chúc mừng sinh nhật Người. Trong phút giây xúc động, Bác rơm rớm nước mắt:

– Cảm ơn các chú, nhưng bó hoa này ta mang ra đặt lên mộ đồng chí Lộc.

Và Bác kể cho mọi người nghe về cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Lộc. Đồng chí vốn là Việt kiều ở Thái Lan, gặp Bác bên đó, đồng chí đã đi theo giúp việc Bác. Hai người thường quẩy hai bồ thuốc giả làm người đi bán thuốc rong, đi đến nơi có bà con Việt kiều để tuyên truyền cách mạng. Bác sang Trung Quốc đồng chí Lộc cũng theo sang, rồi cùng về nước với Bác. Đồng chí lo công việc ǎn uống cho Bác. Hồi đó sinh hoạt khó khǎn, có lúc phải ǎn ngô bung, hoặc cơm độn ngô, đồng chí Lộc bao giờ cũng dành phần nhiều cơm cho Bác. Bữa nào đồng chí cũng chắt lấy nước cơm đặc, nài nỷ Bác uống cho kỳ được. Cách mạng tháng Tám thành công: đồng chí xung phong ở lại xây dựng công binh xưởng cho cách mạng. Theo Bác hoat động cách mạng ở nước ngoài, tới khi cách mạng thành công đồng chí Lộc vẫn an tâm vui vẻ làm một công việc hết sức bình thường – nấu cơm cho Bác.

Phục vụ Bác có nhiều anh em dân tộc ở Cao Bằng. Có đồng chí được một thời gian nhớ nhà và cũng vì hoàn cảnh gia đình nên xin Bác cho về giúp gia đình. Bác rất muốn đồng chí cùng ở lại nhưng vì hoàn cảnh gia đình và ý nguyện của họ, Bác đồng ý. Khi có ai đi công tác lên vùng đó Bác nhờ ghé vào thǎm, nhắc nhở địa phương giúp đỡ đồng chí khi gặp khó khǎn. Thời gian ở Pắc Bó có lần Bác nhận được gói quà có đường và lạc. Bác cho làm kẹo và báo đồng chí Cáp mang vào trong bản phân phát cho các cháu. Mọi người rất muốn để lại cho Bác bồi dưỡng, biết ý Bác nói: “Người già nên để kẹo cho các cháu” trước lý lẽ của Bác, đồng chí Cáp Phải mang kẹo vào cho các cháu. Hồi ở Tân Trào, đồng chí Thắng mới được cử về phục vụ Bác. Đồng chí chí có một: bộ quần áo vải mộc. Khi làm việc với Bác đồng chí cố nén không ho, nhưng vừa ra khỏi nhà đồng chí ho rũ rượi, thấy vậy Bảc bảo: “Chú Thắng ốm à”. “Sao trông người chú khác thế”. Nói rồi Bác đứng dậy lấy chiếc áo trấn thủ của mình đưa cho đồng chí và dặn: “Chú mặc tạm cho đỡ lạnh, mùa đông cốt nhất phải giữ ngực cho ấm”. Đồng chí Tháng ngần ngại không dám cầm, vì thấy Bác không có áo ấm tốt mà Bác cũng phải mặc độn nhiều áo. Thấy vậy Bác giục, rồi Bác hiền từ giúp đồng chí cài từng chiếc nút áo. Có lần Bác đến thǎm đồng chí Lê Trọng Tấn, gia đình làm bánh mời Bác, Bác ǎn một miếng thấy ngon, Bác xin một ít mang về cho anh em phục vụ. Hồi ở Việt Bắc, kỹ sư Trần Đại Nghĩa dồn hết trí tuệ tâm huyết để nghiên cứu vũ khí mới cho quân đội. Biết kỹ sư thường làm việc ban đêm, có khi làm việc suốt sáng, lại nghiện thuốc lá Bác dành một phần thuốc của mình đến biếu kỹ sư. Sau đó Bác chỉ thị cho hậu cần dù khó khǎn cũng cố tìm thuốc lá đủ hút cho kỹ sư. Có lần về ban đêm đồng chí bảo vệ đứng gác nơi ở của Bác không may trượt chân rơi xuống hầm tránh máy bay. Nghe tiếng động Bác vội chạy ra không kịp đi dép và mặc áo ấm Bác giúp đồng chí lên khỏi miệng hầm, Bác nắn bóp chân cho đồng chí ấy rồi ân cần bảo: “Chú cứ ngồi yên cho đỡ đau, để Bác gác cho”. Đồng chí cảm động nói không nên lời, chỉ biết làm theo. Về mùa đông Bác ở gác hai trên nhà sàn nên gió lạnh, cơ quan tìm cho Bác chiếc lò sưởi điện. Một lần nửa đêm gió lạnh, Bác thức giấc dậy nghe tiếng người gác ho phía dưới. Bác cầm chiếc lò sưởi điện và tự tay nối dây điện từ trên gác hai xuống cho đồng chí bảo vệ, và nói: “Bác nằm trên nhà đã có chǎn đắp ấm rồil”. Một buổi trưa, thấy đã quá giờ đổi gác bình thường, Bác mang chuối xuống mời, đồng chí bảo vệ thưa với Bác đang bận gác không đặt súng xuống được, xin Bác lúc khác. Bác bảo đưa súng Bác cầm gác cho: “ǎn đi kẻo đói, cốt là ǎn lúc này”. Đồng chí Tùng vừa được chuyển từ một đơn vị ở chiến trường về làm nhiệm vụ bảo vệ Bác. Một hôm Bác đang cho cá ǎn đồng chí đứng gác từ xa. Bác gọi lại hỏi thǎm sức khoẻ gia đình vợ con… Bác nói” Thế là chú về chỗ Bác được 3 tháng rồi đấy nhỉ? Dạo nàv chú đã hết sốt rét chưa” đồng chí Tùng không cầm được nước mắt không ngờ Bác bận trǎm công nghìn việc mà vẫn chú ý đến một chiến sĩ bình thường như mình. Bác không những nhớ mặt, nhớ tên từng người mà còn hiểu rõ hoàn cảnh gia đình, tâm tư tình cảm của họ. Bác không những quan sát đến đời sống sinh hoạt hàng ngày mà còn lo lắng tới sự tiến bộ trong công tác của từng người – Bác thường nhắc nhở mỗi người mỗi việc cố gắng tiến bộ không ngừng. Bác ân cần hỏi dồng chí Tùng:”Chú về đây đã khá lâu, thế chú có biết cầu thang lên xuống nơi cạnh chú đứng có mấy bậc?” Những việc tưởng bình thường nhưng đối với người công an, bảo vệ càng cần phải tỷ mỉ, sâu sát cụ thể. Một đêm, lúc khoảng hai giờ mưa phùn gió bấc, Bác thức giấc đi xuống cầu thang đến cạnh đồng chí bảo vệ, Bác hỏi: “Chú gác từ mấy giờ?”,”Chú mặc thế có đủ ấm không?”, Bác đến gần sửa lại vành mũ và kéo lại cổ áo cho kín và bảo: “Lần sau chú gác đêm giá lạnh nhớ đi giày, nếu đi dép phải có tất cho đủ ấm, đi dép chân không đêm sương giá lạnh dễ bị ốm”.

Thời gian sau ngày giải phóng, mới về Hà Nội nhân ngày Tết cổ truyền, các đồng chí bảo vệ, phục vụ mang bó hoa đến chúc Tết Bác. Bác rất vui mừng và nói:”Các chú khéo vẽ chuyện, Bác và các chú sống bên nhau hàng ngày, việc gì phải hoa. Từ nay các chú tǎng gia được rau, xu hào, bắp cải, Tết đến chọn mấy cây đẹp cho vào chậu cảnh mang tới biếu Bác, Bác sẽ để trước cửa phòng khách, khách đến Bác sẽ giới thiệu của các chú biếu Bác, thế là Bác có quà tặng, các chú lại được Bác tuyên tryền cho. Hết Tết các chú lại mang về chén, như vậy chẳng mất gì cả”. Từ đó thành thông lệ, hàng nǎm Tết đến anh em chọn 4 cây bắp cải, 4 cây xu hào loại to đẹp nhất tới chúc Tết Bác. Những cây xu hào bắp cải xen lẫn với gốc quất, gốc đào góp thêm thi vị bên ngôi nhà Bác ở. Nhớ lại đầu nǎm 1946, nơi nghỉ của anh em bảo vệ Bác ở Bắc Bộ phủ, về mùa hè nóng ẩm vì ở nhà kho cũ, chật chội. Thấy thế, Bác cho lên phòng khách ngủ cho thoáng mát. ở phòng khách anh em sơ ý làm vỡ mặt đá của chiếc bàn lớn. Đồng chí cán bộ phụ trách cáu gắt nặng nề và không cho anh em lên đó ngủ nữa. Bác nghiêm khắc bảo:”Cái bàn quý hơn hay anh em chiến sỹ quý hơn. Vỡ sau ta tìm cái khác, chỉ cần giáo dục anh em có ý thức bảo vệ của công. Chú mở cửa cho anh em vào ngủ tiếp”. Tuy bận nhưng Bác vẫn thường xuyên xuống nhà bếp, khu vệ sinh để kiểm tra xem có sạch sẽ không. Bữa ǎn có những món gì phải mua, món gì tǎng gia cải thiện được. Nhớ ngày Tết cuối cùng của Bác, Bác và Bác Tôn chụp ảnh chung với anh em trong đội bảo vệ có đồng chí Cương ít tuổi nhất được Bác rất quý. Trước khi chụp ảnh Bác gọi:”Viên kim cương của Bác đâu, lại đây đứng bên Bác”- Bác quan tâm từ cái lớn, sâu sát từ cái nhỏ đời thường của anh em. ở chiến khu việt Bắc, tối ngủ anh em thường để dép lộn xộn khi báo động hoặc sáng dậy, lẫn dép lung tung. Trước khi ngủ Bác đi kiểm tra một vòng, sắp xếp lại gọn gàng đôi nào đôi nấy sáng ra ai cũng ngạc nhiên, sau mới biết tối qua Bác kiểm tra và xếp lại. Từ đó trở đi nội vụ từ đôi dép đến đồ dùng cá nhân anh em đều sắp xếp ngǎn nắp. Bác đi thǎm nhiều nơi, nhưng không qua loa đại khái, Bác quan tâm đến tập thể nhưng không quên cái nhỏ nhất của người dân. Bác không những rất ghét tội tham ô ǎn cắp của dân mà còn phê bình gay gắt bệnh hình thức dối cấp trên lừa dân. Bác đến thǎm một cơ quan thấy đèn trang trí từ cổng vào nhà hội trường sáng trưng, xung quanh khẩu hiệu đèn xanh đèn đỏ loè loẹt, Bác đi thẳng vào nơi ǎn ở khu vệ sinh của cán bộ thấy tối tǎm chật chội. Bác cho tập trung cán bộ chủ chốt trong cơ quan, Bác chỉ nói: “Các chú không thương quần chúng”. Khi duyệt các chủ trương, chỉ thị Bác sửa chữa nhiều nhất chú ý nhiều nhất ở chỗ có quan tâm đến lợi ích, đời sống sinh hoạt của quần chúng hay không. Có lần đồng chí Nguyễn Tạo lên báo cáo Bác về phong trào trồng cây. Khi nghe xong được biết các cụ có thành tích rất lớn, Bác hỏi: “Thế công sá đối với các cụ thế nào”, Đồng chí Tạo trả lời Bác: “Thưa Bác các Cụ ǎn theo công diểm của hợp tác xã ạ” Bác hỏi cụ thể và được biết các loại cây như nhãn, vải, cam, quít. Khi thu hoạch các Cụ không được hưởng phần nào, Bác phê bình, đồng chí thưa với Bác sẽ về nhắc các địa phương dành một phần thu hoạch biếu các cụ Bác nói ngay: “Không phải biếu mà các Cụ có quyền hưởng, người nào làm nhiều hưởng nhiều, hợp tác xã chia cho các Cụ như vậy là không công bằng, không theo nguyên tắc phân phối lao động xã hội chủ nghĩa – ai làm nhiều hưởng nhiều, ai làm ít hưởng ít”, Nǎm 1963, Bác về thǎm tỉnh Vĩnh Phú, trên đường Bác rẽ vào một gia đình nông dân. Gặp bà cụ già, Bác hỏi thǎm sức khoẻ và kinh tế, Cụ thưa gia đình có 5 người được chia 3 tạ thóc. Bác hói: “Thế có đủ ǎn không?”, Cụ già chưa kịp trả lời thì một đồng chí trong tỉnh uỷ trả lời: ‘Thưa Bác, đấy mới là hợp tác xã chia tạm chưa phải chính thức”. Bác phê bình ngay: “Bác có hỏi chú đâu mà chú trả lời”. Như được thêm chỗ dựa lòng tin, Cụ già thưa thật với Bác hằng nǎm, nếu ǎn uống theo định lượng tằn tiện, độn thêm ngô sắn thì cũng tạm đủ”. Rồi Bác bảo đồng chí có trách nhiệm nghe nói để tính toán lại cho sát đừng để dân quá vất vả thiệt thòi. Nhà nước phải lấy phục vụ dân làm chính. Nǎm 1960, Bác ra thǎm đảo Tuần Châu (Vịnh Hạ Long) khi ca nô vừa rời bến thì trong bờ có tiếng vọng ra: “Sao các ông không cho tôi gặp Cụ Hồ”. Biết chuyện Bác cho ca nô quay lại, trên bờ một cụ già trên 70 tuổi bị mù, Bác vội chạy đến chỗ cụ và nói: “Thưa cụ, tôi đây, Cụ có khoẻ không”. Nghe tiếng Bác, cụ già đứng không vững nữa, khuỵ xuống trên cánh tay nâng đỡ của Bác: “Bác đây ư Bác Hồ, tôi được gặp Bác thật ư! “. Đôi bàn tay xương xẩu của cụ già vuốt trên cánh tay, trên vai Bác, hai dòng nước mắt trào ra từ đôi mắt mù loà của cụ chảy xuống hai gò má nhǎn nheo. Bác đứng lặng hồi lâu, xúc động. Mọi người đứng lặng cảm động trước tình cảm của hai con người. Một lần đến thǎm bệnh viện Bạch Mai mọi người ra đón và tặng hoa, Bác nhận bó hoa rồi đên tặng một cụ già đang trông xe đạp ở cổng bệnh viện. Bác bảo với cụ và mọi người: “Cụ trông xe đạp cũng rất quan trọng, nếu mà trông không cẩn thận mất xe đạp của các cô các chú, hỏi có ai an tâm công tác không?” Một lần đến thǎm một nhà máy thấy cô công nhân đang chạy máy để bộ tóc dài, Bác ra hiệu dừng máy đến gần ân cần nhắc: “Cháu là gái khi lao động vấn tóc lên và đội mũ bảo hiểm để bảo đảm an toàn, bộ tóc là góc con gái”. Lần đi thǎm Vĩnh Phú, trên đường thấy hai chị em ǎn mặc rách rưới, dắt tay nhau đi, Bác cho dừng xe hỏi chuyện hai chị em về hoàn cảnh gia đình, bố mẹ, được biết bố hai em đi bộ đội, Bác hỏi ǎn có đủ không, trưa, sáng ǎn gì, cùng lúc đó có đồng chí tự xưng là cán bộ xã nhanh nhẩu trả lời thay hai em, Bác nhắc nhở: “Bác có hỏi chú đâu, nếu chú là cán bộ xã thì tại sao lại để con cái người đi bộ đội phải ǎn mặc, đói rách thế này”. Dọc đường, thấy cột số Km chỉ ghi rõ chữ số 65 còn chữ địa danh bị mờ, Bác nhắc nhở cán bộ giao thông phải chú ý để sửa lại. Đi qua Cổ Nhuế, thấy dân bón rau phân tươi, Bác nhắc phải đề phòng ruồi, bệnh tật vệ sinh. Đến trạm bơm Chèm, thấy chân đê bị sụt lở, Bác nhắc trồng tre để bảo vệ đê. Khi giải quyết các vụ tranh chấp đất đai nhà cửa, các đồng chí phân tích người này sai, người kia có khuyết điểm. Bác kết luận, do chỗ ở quá chật chội nên mới sinh ra tranh chấp, chứ phải người ta ghét bỏ nhau đâu. Khi đến thǎm nhà dân nơi chật chội, ổ chuột, bẩn thỉu, Bác phê bình gay gắt cán bộ không sâu sát dân, quan liêu, không thương dân, phải tìm mọi cách vận động, tổ chức bà con dọn vệ sinh, sửa sang nhà cửa, lối ra vào và phối hợp với cơ quan chức nǎng lo nhà cho dân. Khi về hợp tác xã thǎm nông dân, Bác xuống tận các gia đình để biết mức sống của dân chứ không nghe hoàn toàn các báo cáo. Thǎm xã Nam Chính, Bác vào nhà anh Giao một nông dân lao động cần cù, đứng ngoài sân, Bác hỏi mấy câu chuyện làm ǎn sinh hoạt đời sống rồi vào nhà xem vại gạo, cót thóc, vòng ra phía sau xem chuồng lợn, nhà vệ sinh, thấy hai con lợn đang án. Bác khen lợn đẹp, giống lợn thẳng lưng mông to chắc chóng lớn, rồi Bác xem giếng nước, nhà tắm, Bác nhìn xuống giếng và bảo: “Giếng nên có nắp đậy, vừa sạch vừa đề phòng tai nạn”. Xem nhà tắm Bác khen xây thế này là tốt nhưng nên đơn giản hơn trong lúc ít gạch, nhà nào không có gạch nên làm bằng cót, trồng cây dâm bụt xung quanh, khi cót hỏng thì dâm bụt đã tạo thành nhà tắm kín đáo mà đẹp.

sites.google.com

Bác Hồ – cha của chúng con

Thật hiếm đôi vợ chồng nào trong cả nước có vinh dự, hạnh phúc nhiều lần được trực tiếp gặp Bác, bảo vệ Bác, được báo cáo với Bác, được nghe Bác trò chuyện, khuyên bảo, được Bác chụp ảnh cùng, tặng kỷ vật, được ăn cơm với Bác, được túc trực bên linh cữu Bác như cựu chiến binh, đại tá Nguyễn Sáng, nguyên Tham mưu phó, Cục trưởng Cục Kinh tế Quân khu Ba cùng vợ là bà Lê Thị Định, nguyên đại biểu Quốc hội khoá II, Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình. Qua những câu chuyện kể của ông Sáng, bà Định, chúng ta càng hiểu thêm và học tập được nhiều bài học về tấm gương đạo đức sáng ngời của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sao đời mình lại có may mắn lạ kỳ
Đại tá Nguyễn Sáng kể

Ngày 10-1-1946, tôi được đồng chí Nguyễn Văn Nam – Chính trị viên, đồng chí Nguyễn Văn Bắc – Chi đội trưởng Chi đội 3 Giải phóng quân thị xã Thái Bình giao nhiệm vụ huy động lớp đào tạo tiểu đội trưởng cùng với bộ phận cảnh vệ Uỷ ban hành chính kháng chiến tỉnh Thái Bình bảo vệ Bác và Chính phủ về thăm đê Đìa Hưng Nhân bị vỡ.

Không hiểu thế nào từ trưa, nhân dân thị xã đã chờ sẵn ở cổng. Khoảng 15h, Bác và các thành viên Chính phủ về tới Uỷ ban hành chính kháng chiến tỉnh. Đồng chí Bùi Đăng Chi – Trưởng ban Tuyên huấn tỉnh “khẩn cấp” yêu cầu tôi chuẩn bị một chiếc bàn, chiếc ghế để Bác nói chuyện. Tôi cùng mấy đồng chí học viên lớp tiểu đội trưởng vào khênh chiếc bàn to cùng chiếc ghế đặt giữa cổng để Bác nói chuyện. Kê bàn xong thì Bác tới, tôi được đứng liền ngay sau Bác. Tất cả cán bộ, nhân dân trật tự lắng nghe từng lời Bác căn dặn. Nhìn Bác, vị Chủ tịch nước bộn bề công việc của người đứng đầu chính quyền cách mạng non trẻ, vẫn vượt đường xa về chia sẻ những thiệt hại do thiên tay gây ra với nhân dân Thái Bình, tình cảm tôi cứ trào dâng, nước mắt cứ tự nhiên chảy ra, “quên” cả nhiệm vụ bảo vệ. Một thanh niên mới trở thành anh bộ đội được một năm, tôi đã được gặp và bảo vệ Bác kính yêu.

Chỉ cần một lần được đứng cạnh Bác đủ để nhớ suốt đời, nhưng đâu ngờ ba tháng sau, tôi được bảo vệ Bác. Lần này gần hơn, lâu hơn!

Đó là ngày 28-4-1946, như đã hứa, Bác về thăm đê Đìa khi đê đắp xong. Tôi lại được đồng chí Nguyễn Văn Bắc giao cho khẩu súng ngắn Pạc-khoọc để làm nhiệm vụ bảo vệ Bác cùng với các đồng chí cận vệ. Tôi mặc quần soóc, đội mũ ca lô. Khoảng 9h Bác lên gác hai của Hội trí – thể dục (Sân vận động Thái Bình ngày nay) nói chuyện với hai cố đạo người Tây. Tôi đứng ngay sau ghế của Bác để bảo vệ Bác. Sau đó đồng chí Nguyễn Văn Ngọ – Bí thư Tỉnh uỷ Thái Bình mời Bác ra ban công nói chuyện với nhân dân. Lần này Bác về, sáng sớm dòng người đón Bác từ 12 phủ, huyện như trảy hội, kín cả sân bãi rộng. Cờ, băng, biển, biểu ngữ đủ màu sắc rợp trời. Tiếng hoan hô: “Cụ Hồ muôn năm!” vang như sấm dậy. Trời nắng và nóng, tôi được đồng chí Ngô Lãng – Phó ban Tuyên truyền tỉnh giao “thêm” nhiệm vụ cầm ô che cho Bác. Che cho Bác được mấy phút, đang nói, Bác quay lại nhắc tôi: “Chú che cho cụ Huỳnh!”. Tôi đáp: “Vâng ạ!”. Nhưng tôi vẫn chỉ che cho Bác. Một hai phút sau, Bác lại quay lại nhắc, lần này kiên quyết hơn: “Bác đã bảo chú che cho cụ Huỳnh!”. Tôi liền đứng vào giữa (ở phía sau) để che ô cho Bác và cả cụ Huỳnh Thúc Kháng. Hôm đó, Bác nhắc nhở cán bộ, nhân dân Thái Bình phải cố gắng hơn nữa để chiến thắng “giặc đói, giặc dốt” và bảo vệ chính quyền cách mạng.

Với tấm lòng biết ơn vô hạn, tỏ quyết tâm thực hiện lời kêu gọi của Bác, nhân dân Thái Bình biếu Bác một buồng chuối, quả bí đao, quả bí ngô và mười củ khoai lang to. Bác quay sang bảo tôi: “Chú bê quả bí lên cho đồng bào nhìn thấy quả bí ngô to”. Tôi liền bê quả bí lên ngang đầu mà không làm che Bác và cụ Huỳnh. Quả bí phải nặng tới chục cân. Tiếng hô: “Cụ Hồ muôn năm!” lại vang lên tưởng như không dừng nếu Bác không giơ tay lên cao vẫy chào tạm biệt.

Năm 1952, lúc đó tôi là Tham mưu trưởng “Mặt trận 5” được giao phụ trách 7 đồng chí cùng lên chiến khu Việt Bắc dự một lớp chỉnh huấn. Sau 15 ngày đường giao liên, chúng tôi đã có mặt ở khu vực Quán Vuông, huyện Sơn Dương ATK. Hôm khai mạc, cả lớp được đón Bác. Sau hai tháng học tập, trước khi lớp bước vào đợt “tự kiểm điểm”, “tổng tiến công vào chủ nghĩa cá nhân”, Bác đến động viên, quán triệt. Bàn nói chuyện của Bác đặt ở đỉnh đồi, học viên các tỉnh đứng xung quanh, đoàn Thái Bình ở xa đến sau nên phải đứng ở chân đồi cạnh đường mòn. Bỗng tự nhiên Bác xuất hiện ngay trước mặt, sau này tôi đoán ra chắc Bác nhìn thấy đoàn chúng tôi đều mặc quần áo nâu (các đoàn khác mặc nhiều màu như xanh, tím, vàng… vải ka-ki chiến lợi phẩm) nên Bác dừng lại trước đoàn Thái Bình và hỏi: “Các chú ở đâu?”. Tôi báo cáo: “Thưa Bác chúng cháu ở Khu tả ngạn vùng hậu địch”. Bác còn hỏi ra lâu chưa, có khoẻ không? Rồi tự nhiên Bác bảo đồng chí Hiệu trưởng Hồng Cương là Bác không lên đỉnh đồi mà sẽ đứng tại đây nói chuyện, cho anh em quay lại. Thế là tôi cùng 6 anh em Thái Bình được gần Bác nhất. Sau này các đoàn khác đùa vui bảo: “Thái Bình trâu chậm lại uống nước trong”. Tôi không hiểu sao đời mình lại có may mắn lạ kỳ đến thế!

Tôi không bao giờ nghĩ là mình sẽ được gặp Bác một lần nữa. Vậy mà hạnh phúc lại đến bất ngờ. Lúc đó tôi là Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn pháo binh 374 đóng ở Thậm Thình cách Đền Hùng 3 cây số. 3 giờ sáng ngày 18-8-1962, tôi nhận được công văn của đồng chí Nguyễn Khai – Uỷ viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương: “Đúng 7 giờ sáng nay (19-8) đồng chí Thủ trưởng Lữ đoàn lên đền Hùng làm việc và đón Bác vào thăm đơn vị”. Ngay lập tức, tôi triệu tập Đảng uỷ lữ đoàn, các ban chỉ huy tiểu đoàn họp khẩn cấp bàn kế hoạch đón Bác. Cả đơn vị vừa phấn khởi, vừa “cuống” cả lên! Đêm đó tôi viết đi viết lại báo cáo với Bác mà không biết báo cáo những nội dung gì. Đúng giờ, lên đền Thượng, tôi đã thấy phái đoàn ngồi quanh Bác trên chiếc chiếu hoa trước cửa đền. Đồng chí Nguyễn Khai giới thiệu và nhường tôi ngồi cạnh Bác. Bác nói luôn: “Có gói mứt chuối đặc sản Phú Thọ, Bác cho chú, chú ăn ngay đi, ngon lắm đấy!”. Rồi Bác hỏi vui: “Lữ đoàn là cái gì hở chú?”. Tôi bối rối đành trả lời Bác: “Thưa Bác, lữ đoàn bé hơn sư đoàn và lớn hơn trung đoàn ạ”. Bác cười rất vui và bảo: “Chú này láu cá, láu cá”. Bên tháp cổ tôi tranh thủ báo cáo kế hoạch đón Bác với đồng chí Nguyễn Khai. Tôi nhìn vào thấy Bác nằm nơi cửa Đền Hùng giản dị trong quần áo nâu nhạt màu, gối lên chiếc khăn bông, chiếc khăn mặt đặt trên trán. Tự nhiên nước mắt cứ trào ra.

Bác vào đơn vị, thăm doanh trại, nơi ăn ở, Bác hỏi tôi: “Bếp của đơn vị chú ngày nào cũng sạch bóng như thế này à?”. Tôi lúng túng, đồng chí Nguyễn Khai đỡ lời: “Thưa Bác chắc các chú có sự chuẩn bị chu đáo hơn để đón Bác”. Bác nhìn tôi đầy tình cảm vị tha. Trên đường đến “lễ đài” có một chiến sĩ báo cáo rất to: “Báo cáo thủ trưởng: C12 đang hành quân cấp tốc chưa về kịp”. Biết thế, Bác bảo tôi dừng lại chỗ cây si rất đẹp, cành lá sum xuê. Bác cầm tay tôi rồi nói: “Bác cháu ta ngồi xuống đây nghỉ một lát, chờ đơn vị đang về, nhân thể chú xem còn vấn đề gì lát nữa Bác nói chuyện với đơn vị”. Tất cả những điều tôi báo cáo, Bác đều nhắc nhở đồng chí Nguyễn Khai ghi lại. Nói chuyện với đơn vị xong, Bác đã ghi vào sổ vàng truyền thống những dòng chữ sáng rõ, nghĩa tình: “Luôn luôn cố gắng học tập, cố gắng lao động sản xuất, luôn luôn sẵn sàng chiến đấu bảo vệ cách mạng, bảo vệ Tổ quốc. Chúc các cháu vui vẻ, mạnh khoẻ, đoàn kết, tiến bộ” – Bác Hồ 19-8-1962.

Cây bút Pác-ke mà đại tá Sáng đưa Bác ghi những dòng lưu niệm trên, đại tá đã giữ suốt 2 cuộc kháng chiến và suốt 30 năm. Đầu năm 1999, Bộ Tư lệnh pháo binh đã cử người về xin nhận chiếc bút đưa vào Bảo tàng lịch sử Binh chủng Pháo binh.

“Bác cho cô Định cái gậy này…”
Đồng chí Lê Thị Định kể

Cuộc đời phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân của tôi đã hai lần vinh dự trực tiếp được gặp Bác, lần nào cũng ghi tạc trong lòng.

Một ngày cuối tháng 2-1967, đang ở khu sơ tán xã Đông Hoàng, huyện Đông Hưng, Thái Bình, tôi được điện về ngay Tân Hoà, Vũ Thư họp Thường vụ Tỉnh uỷ bất thường. Đang có chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, không hiểu họp gì, nhưng sao tôi cảm thấy rất vui. Sau khi thông báo việc chuẩn bị đón Bác về thăm Thái Bình, đồng chí Ngô Duy Đông – Bí thư Tỉnh uỷ và tôi lúc đó là Phó chủ tịch tỉnh được giao nhiệm vụ đón Bác tại bến phà Triều Dương. Xe của chúng tôi sang được bến Hưng Yên thì đồng chí Vũ Kỳ cho biết xe của Bác đã xuống phà và đồng chí dẫn chúng tôi xuống chào Bác. Bác bắt tay chúng tôi thân mật. Đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ mời Bác về cơ quan Tỉnh uỷ sơ tán tại xã Tân Hoà, Vũ Thư (nay trở thành khu lưu niệm về Bác). Xe đến bến đò Cống Vực, chúng tôi mời Bác xuống ca-nô. Nhìn thấy Bác, đồng chí lái ca-nô ngồi thụp xuống. Bác biết đồng chí cảm động liền hỏi: “Chú lái ca-nô này à?”. Chúng tôi đáp lời vì đồng chí ấy không dám đứng trước Bác. Bác nói ngay: “Bác cho phép, chú lái ca-nô đi”. Tới gần bờ, ca-nô không vào được, chúng tôi chuẩn bị ca-nô lúc nước lớn, khi Bác qua là ban đêm, nước xuống. Mọi người rất lo, nhất là đang thời kỳ “chiến tranh phá hoại của Mỹ”. Đồng chí Ngô Duy Đông đành mời Bác xuống thuyền. Thuyền đến bờ, tôi cùng đồng chí Tố Hữu đi hai bên đưa Bác lên đê. Bác hỏi tôi: “Cô Định cho Bác biết còn lối nào đi lý thú hơn”. Đồng chí Tố Hữu nhắc tôi: “Bác phê bình đấy!”. Đến bây giờ, chúng tôi vẫn chưa hết suy nghĩ về việc chuẩn bị chưa kỹ lưỡng.

Về đến xã Tân Hoà, trong bữa cơm, Bác ăn cơm nắm mang theo từ Hà Nội. Tôi cứ nài nỉ Bác ăn bát cơm nóng và xin Bác miếng cơm nắm. Bác nói: “Bác ăn cơm nắm quen rồi”. Biết tình cảm của chúng tôi, Bác cho một miếng cơm nắm. Tôi bẻ đôi đưa cho đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ một nửa. Bác thấy tôi thích món dưa chua, Bác hỏi: “Cô Định ăn dưa chua có ngon không?”. Tôi đáp: “Thưa Bác ngon ạ!”. Bác cười trìu mến và nói: “Dưa Bác đưa từ Hà Nội về đấy!”. Bữa cơm giản dị nhưng ấm áp tình cha con thân thiết vô cùng. Sau bữa ăn, Bác kể chuyện đi Pháp, Anh, Ấn Độ. Bác hỏi tình hình tỉnh, đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ, đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh báo cáo với Bác. Nghe xong Bác lần lượt hỏi chuyện từng đồng chí cán bộ tỉnh. Bác hỏi tôi: “Cô Định làm việc gì?”. “Dạ thưa Bác, cháu phụ trách tài chính, thương nghiệp ạ!”. “Cô có sợ thiếu hàng không?”. “Thưa Bác cháu thấy khó khăn lắm!”. Bác dặn dò ngay: “Hàng ít nhưng cốt sao phân phối cho công bằng hợp lý”. Bác còn hỏi toàn tỉnh có bao nhiêu phụ nữ tham gia chính quyền. Nghe tôi báo cáo xong, Bác gợi ý: “Cô có báo cáo gì với Bác không?”. Tôi suy nghĩ và mạnh dạn thưa: “Chị em phụ nữ còn vất vả lắm mà vẫn bị chồng đánh ạ!”. Tôi vừa nói xong, nét mặt Bác buồn hẳn, nghiêm lại, rồi Bác nhắc nhở: “Bác giao cho các đồng chí là phải giáo dục toàn Đảng, toàn dân tuân theo pháp luật, đánh vợ là phạm pháp, là dã man. Trên thế giới người ta tôn trọng phụ nữ lắm. Đồng chí Lê-nin cũng nói: “Phụ nữ là nửa dân số của xã hội, nếu phụ nữ không được giải phóng thì nửa dân số chưa được giải phóng…”. Đêm đó Bác làm việc tới tận 1 giờ sáng, các đồng chí lãnh đạo tỉnh phải mời Bác đi ngủ. Sáng hôm sau, Bác dậy rất sớm, tay xách đèn bão bước ra nhà ngoài. Bác nói: “Năm mới Bác chúc Tết các đồng chí”. Chúng tôi rất cảm động, lẽ ra chúng tôi đến chúc Tết Bác trước mới phải. Đúng là sự bao dung của một lãnh tụ, của một người cha.

Sáng hôm sau, trên đường đến đình Phương Cáp nói chuyện với nhân dân, qua chiếc cầu tre, Bác nhắc nhở chúng tôi phải lưu ý cầu cống, đường sá cho dân đi lại an toàn. Đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ giới thiệu Bác với nhân dân, Bác nói ngay: “Bác mà chú còn phải giới thiệu cơ à?”. Hôm đó Bác nói chuyện về sản xuất nông nghiệp, về trồng cây, nuôi cá. Bác hỏi đồng chí Chủ tịch tỉnh: “Thái Bình đã trồng được bao nhiêu cây?” Đồng chí Chủ tịch báo cáo mỗi người trồng đựơc 12 cây, Bác lại hỏi: “Cây thì chú tính thế nào, vì có nơi tính cả cây muồng muồng cho nhiều!”. Cả hội trường cười vang. Bác lại hỏi Thái Bình nuôi cá thế nào. Đồng chí Bí thư trả lời: “Chúng cháu đã làm…” Bác nhắc nhở ngay: “Chú nói cụ thể chứ nói đã và đang thì dễ thôi”. Rồi Bác động viên khen ngợi các cụ phụ lão, khen xã Hợp Hoà, HTX Tân Phong xã Việt Hùng sản xuất giỏi. Cuối cùng Bác hỏi vui: “Nghe nói Thái Bình vẫn còn tệ đánh vợ. Ngồi ở đây có chú nào đánh vợ thì dũng cảm giơ tay lên”. Cả hội trường im lặng. Thấy thế đồng chí Đào Ngọc Chế – Phó chủ tịch tỉnh liền đáp: “Thưa Bác, không dám đánh mà chỉ kỳ kèo thôi ạ!”. Bác nghiêm lại rồi nói thêm: “Kỳ kèo rồi đi đến chỗ bạt tai chứ gì?”. Cả hội trường vỗ tay vang dội.

Lần thứ hai tôi được gặp Bác là vào đầu năm 1969, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Thái Bình lại được Ban Bí thư cho lên báo cáo với Bác kế hoạch chuẩn bị đại hội đảng bộ. Nghe báo cáo xong, Bác hỏi về tình hình mọi mặt, rồi đột ngột Bác hỏi tôi: “Riêng tệ đánh vợ Bác hỏi cô Định, Thái Bình đã giảm chưa”. Tôi không ngờ bận trăm công ngàn việc của đất nước đang trong thời chiến mà Bác vẫn nhớ câu chuyện Bác về Thái Bình mấy năm trước. Tôi liền thưa với Bác là Thái Bình có sự chuyển biến, tiến bộ hơn. Nghe xong, Bác liền chỉ vào cây gậy và nói: “Bác cho cô Định cái gậy này để trừng trị những ai đánh vợ”. Và thật không ngờ, đây là lần cuối cùng tôi được ngồi bên Bác. Mấy tháng sau Người đã đi xa…
Sau này, chiếc gậy mà Bác cho đã được chuyển về và đặt vào bảo tàng tỉnh Thái Bình.

Những giây phút được túc trực bên linh cữu Người
Đại tá Nguyễn Sáng kể

Theo Chỉ thị của Quân uỷ Trung ương, Quân khu Đông Bắc được cử các cán bộ cao cấp về Hà Nội chịu tang Bác. Chúng tôi được Ban tang lễ phân công mỗi người 2 ca trực, mỗi ca 15 phút bên linh cữu Bác. Ban tang lễ quy định khi “làm nhiệm vụ” không được khóc thành tiếng. Bên ngoài Hội trường Ba Đình, các đoàn đại biểu xếp hàng kín cả sân trước, còn nhân dân cứ nối hàng suốt đêm ngày qua lễ đài viếng Bác. Mưa gió tầm tã mà không một ai mặc áo mưa. Vào ca trực 22h đêm, một bên là cụ Phan Văn Bạch – Chánh toà án tối cao, một bên là tôi. Cụ Bạch xúc động quá, chỉ đứng được mấy phút. Còn tôi cứ phải cắn chặt răng lại nhất là khi thấy các cháu thiếu nhi khóc lóc thảm thiết, nước mắt tôi tuôn trào suốt ca trực, ướt cả vạt áo trước ngực. Đến phiên trực lần thứ hai, 2h sáng tôi và đồng chí Tư lệnh hải quân Nguyễn Bá Phát trực. Đồng chí Phát trực được 5 phút, khẩu súng trường vẫn trong tay và người cứ khuỵ dần xuống. Còn tôi lúc đó cảm thấy “như là không trọng lượng”. Tuy vẫn tỉnh nhưng mắt tôi không còn trông rõ gì nữa. Nước mắt vẫn tuôn chảy ướt đẫm áo ngực. Xong 15 phút trực, tôi không chủ động xách khẩu súng trường được nữa. Một đồng chí trong ban tổ chức tang lễ đã đến xách giúp tôi. Đó là lần thứ 5 tôi may mắn được bên Người và cũng là lần đưa tiễn Bác – Người cha của toàn thể dân tộc đi xa…

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng online

hcmpc.com.vn

Nhớ người cha thân yêu

TTO – Sau chiến dịch Điện Phủ toàn thắng ngày 7 tháng 5 năm 1945, tôi và một số đồng chí  thuộc E98 – F316 được cấp trên cho đi làm nhiệm vụ “đặc biệt”. Ai cũng hồi hộp. Đến khi cấp trên tuyên bố: “Các đồng chí được vinh dự lớn, bổ sung làm nhiệm vụ bảo vệ cơ quan Trung Ương và Bác Hồ” thì lòng tôi vỡ òa sung sướng…

Tiếp quản Thủ đô ngày 10 tháng 10 năm 1954, ngày 11-10-1954 anh em chúng tôi trong trang phục gọn gàng, súng đạn sẵn sàng tiến quân vào Hà Nội nhận nhiệm vụ cao quí mới. Những ngày đầu, cơ quan Trung ương đóng tại nhà thương Đồn Thủy (nay là Quân y viện 108), về sau chuyển về khu Ba Đình.

Năm đó Bác rất khỏe và đi đứng nhanh nhẹn, ánh mắt Bác thật ấm áp trìu mến. Thường ngày Bác hay mặc bộ bà ba màu nâu và đi dép cao su. Lúc rảnh rỗi, Bác tập trung anh em cảnh vệ lại, bằng giọng nói rõ ràng và ấm áp, Bác chỉ bảo cho chúng tôi biết phong tục tập quán riêng của đồng bào Hà Nội, cách đi đứng và những việc thông thường rất cần thiết như vào nhà tắm, nhà vệ sinh, uốn nắn chúng tôi từng lời ăn tiếng nói…

Với tấm lòng yêu mến lãnh tụ, nhân dân trong nước và kiều bào nước ngoài thường hay tặng Bác những món quà đặc biệt quí hiếm. Một lần, có người dân chài lặn lội từ miền biển lên, biếu Bác mấy cân bong bóng cá. Bác giao cho đồng chí Cẩn mang đến tặng đơn vị chúng tôi. Bác còn cẩn thận nhờ đồng chí Cẩn, là người lo cơm nước cho Bác chế biến để anh em chúng tôi được thưởng thức đặc sản.

Một lần khác, có tiền nhuận bút từ Liên Xô (cũ) gởi về, Bác đem đến tặng đại đội chúng tôi trước lễ Quốc Khánh 2-9 khoảng hai, ba tháng. Bác dặn: “Nhiều no ít đủ, Bác không có nhiều tiền cho các chú. Số tiền này, các chú mua con giống tăng gia thêm để đến ngày Quốc Khánh các chú có đủ thịt, cá, rau mà liên hoan cùng nhau”.

Ngày lễ lớn những năm đầu tiếp quản Thủ đô, nhân dân Hà Nội và các cơ quan đoàn thể tham dự mit tinh thả bồ câu trắng tung bay rợp trời, tượng trưng cho khát vọng hòa bình. Hàng đàn bồ câu trắng ở lại quanh lễ đài, quanh nhà khách Chủ tịch và quanh nhà Bác ở. Đất lành chim đậu, Bác rất vui. Những lúc rảnh rỗi, Bác thường cho bồ câu ăn. Vậy mà có một vài đồng chí bộ đội vô ý thức bắt bồ câu làm thịt. Bác không vui, phê bình thật nhẹ nhàng, thấm thía: “Nhân dân thả bồ câu để cầu nguyện hòa bình, sao các chú nỡ giết thịt?”.

Nhớ một ngày hè, Bác dạo quanh vườn bắt gặp tổ 3 người chúng tôi là anh Hạnh, anh Thái và tôi đang trèo cây hái nhãn. Sợ quá, tưởng Bác sẽ quở trách, ai ngờ Bác vui vẻ dặn dò: “Hái nhãn ăn cũng được nhưng phải hết sức cẩn thận, kẻo ngã thì khốn”.

Những việc làm của Bác, những lời của Bác dạy bảo chúng tôi chỉ là những chuyện thông thường, rất giản dị nhưng đã làm chúng tôi nhớ mãi như những điều thiêng liêng, bởi những điều đó xuất phát từ tình thương bao la của Bác, thắm đượm tình cảm của Bác – như tình cảm một người cha dành cho những đứa con thân yêu của mình.

Những lần đại tiệc, tiếp khách nước ngoài, Bác đều dặn dò bộ phân giao tế nhớ để phần cho bộ đội bảo vệ. Những hôm có đoàn ca kịch hoặc chiếu phim, ngoài những người đang làm nhiệm vụ còn tất cả chúng tôi đều được quây quần quanh Bác cùng xem. Một lần đoàn kinh kịch của Trung Quốc biểu diễn tích xưa có vai các tướng đấu kiếm với nhau, buổi biểu diễn kết thúc, các đại sứ nước ngoài đua nhau tặng hoa cho vị tướng đóng vai thắng trận. Riêng Bác, Bác tặng hoa cho viên tướng đóng vai thua trận. Bác cười vui: “Ăn cho đều, kêu cho khắp, phải động viên họ để lần sau đánh thắng chứ”.

Có lần đoàn tuồng Ái Liên biểu diễn phục vụ cơ quan Chính phủ vở Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài, diễn viên trình diễn xuất sắc làm rung động lòng người, khán giả hoan nghênh nhiệt liệt. Xong buổi diễn Bác có vẻ không được vui, Người bước lên sân khấu và đọc mấy vần thơ:

“Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài
Chữ tình nên trọng, chữ tài nên thương
Lão già dở dở ương ương.
Làm đôi anh chị dở duyên không thành
Đánh cho phong kiến tan tành,
Cho trăm ngàn Sơn Bá – Anh Đài thành đôi”

Bác dạy chúng tôi những bài học thật tế nhị, trong lúc chờ phim, chúng tôi quây quần bên Bác vui văn nghệ, một cô gái xung phong hát bằng tiếng nước ngoài, Bác đề nghị: “Người mình nên hát tiếng mình thì Bác và các chú ở đây mới hiểu, mới hay chứ”. Lại một đồng chí bộ đội xung phong: “Tôi ra đây hát mừng Cụ Hồ sống lâu muôn tuổi”, Bác bảo: “Chú hát bài khác, bài này cũ lắm rồi!”.

Có một đêm chiếu phim ở Liên Xô (cũ) không có người thuyết minh chính, một cán bộ học ở Nga về có lẽ chưa quen nên dịch nghe không được rõ. Bác cười bảo để Bác thuyết minh cho. Chúng tôi lắng nghe từng đoạn, từng ý, Bác dịch thật mạch lạc, gãy gọn, dễ hiểu… Ở Bác, điều gì cũng thật giản dị, và hình như điều gì Bác cũng có thể làm được!…

HOÀNG VĂN HIỂN

tuoitre.vn

Chuyện Bác Hồ đi bầu cử

Khi Bác đến, tổ bầu cử có ý cho mọi người dừng lại để Bác bầu cử trước. Thấy vậy, Người nói thẳng thắn: “Ai đến trước, bầu trước. Bác đến sau, Bác chờ”.

Chuyện Bác Hồ đi bầu cửNgày 8/5/1960, nhân dân và thanh thiếu niên Thủ đô Hà Nội chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh đến bỏ phiếu bầu Quốc hội Khóa II nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại phòng bỏ phiếu số 1, tại số nhà 67 phố Cửa Bắc, khu phố Ba Đình – Hà Nội. Ảnh: Mai Nam.
Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, trong hoàn cảnh chính quyền non trẻ gặp muôn vàn khó khăn, cùng một lúc phải chống lại thù trong giặc ngoài và giặc đói giặc dốt, Bác Hồ vẫn đề nghị Chính phủ lâm thời tổ chức sớm cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu.

Tại cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên (Quốc hội khoá I) năm 1946,Thủ đô Hà Nội là nơi Bác Hồ ra ứng cử. Gần đến ngày bầu cử, có 118 vị là Chủ tịch Ủy ban Hành chính đã công bố một bản đề nghị “Yêu cầu Cụ Hồ Chí Minh không phải ra ứng cử trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới. Chúng tôi ủng hộ và suy tôn vĩnh viễn Cụ Hồ Chí Minh là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”.

Đây cũng là nguyện vọng của đông đảo nhân dân ta. Mặc dù vậy, Bác Hồ đã viết một bức thư ngắn cảm tạ đồng bào và đề nghị đồng bào cho Người thực hiện quyền và nghĩa vụ của người công dân.

Bức thư có đoạn viết: “Tôi là công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nên tôi không thể vượt qua thể lệ của cuộc Tổng tuyển cử đã định”.

Trước ngày Tổng tuyển cử một hôm, tại khu Việt Nam học xá (Nay là khu vực Trường Đại học Bách Khoa, Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh dự mít tinh của hơn hai vạn đồng bào Hà Nội ủng hộ cuộc bầu cử Quốc hội.

Tại cuộc mít tinh, Người nói: ” Làm việc bây giờ là hy sinh, là phấn đấu quên lợi ích riêng mà nghĩ lợi ích chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không bầu”.

Trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khoá I, Người đã trúng cử với số phiếu rất cao. Khi kỳ họp thứ nhất Quốc hội Khoá I tín nhiệm bầu vào vị trí Chủ tịch Chính phủ kháng chiến, Người phát biểu: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh, phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh vác chức Chủ tịch là vì đồng bào uỷ thác, thì tôi phải gắng làm, cũng như mọi người lính vâng lệnh Quốc dân ra trước mặt trận”.

Đúng 14 năm sau, sáng 15/4/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự và phát biểu tại phiên bế mạc kỳ họp thứ 12 Quốc hội khoá I. Sau khi nêu lên: “Quốc hội ta là Quốc hội dân chủ đầu tiên ở vùng Đông Nam châu Á, cũng là Quốc hội đầu tiên của các nước thuộc địa cũ được độc lập tự do”.

Là Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, Quốc hội khoá I đánh dấu bước phát triển nhảy vọt về thể chế dân chủ cộng hòa. Do điều kiện đất nước bị chia cắt, nhiệm kỳ hoạt động của Quốc hội khoá I kéo dài từ tháng 1/1946 đến tháng 5/1960.

Thông qua 12 kỳ họp, đặc biệt là hoạt động của Ban Thường trực Quốc hội, luôn có mặt bên cạnh Chính phủ để chỉ đạo công tác kháng chiến – kiến quốc; xây dựng Hiến pháp, Luật Cải cách ruộng đất; đàm phán, ký kết và đấu tranh thi hành Hiệp định Giơ ne vơ; khôi phục kinh tế miền Bắc.

Quốc hội khóa I đã góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy, giải phóng và đưa miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội, chi viện cho công cuộc giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ những cống hiến của Quốc hội khoá I suốt 14 năm và khẳng định: “Quốc hội ta đã hết lòng vì dân, vì nước, đã làm tròn một cách vẻ vang nghĩa vụ của người đại biểu của dân”.

Người cảm ơn Quốc hội khóa I và tin chắc rằng Quốc hội khóa II của chúng ta sẽ đưa hết tinh thần và lực lượng để tiếp tục đẩy mạnh công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Cùng năm 1960 ấy, ngày 24/4, phát biểu tại cuộc mít tinh của nhân dân Thủ đô chào mừng các vị ứng cử đại biểu Quốc hội tại Hà Nội ra mắt cử tri Thủ đô, sau khi cảm ơn đồng bào đã nhất trí yêu cầu Người và các vị khác ra ứng cử vào Quốc hội khoá II, Người đã nêu lên tính chất dân chủ của Luật Bầu cử, giá trị cao quý của lá phiếu cử tri và tin tưởng rằng những cử tri sáng suốt sẽ bầu ra được một Quốc hội có những đại biểu thật xứng đáng.

Người thay mặt các ứng cử viên hứa với đồng bào: ” Những người được cử vào Quốc hội khoá II sẽ luôn luôn cố gắng để xứng đáng là những người đầy tớ trung thành của đồng bào, những đại biểu cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư, hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội.

“Bác đến sau, Bác chờ”

Sự tôn trọng, dân chủ, nghiêm túc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thể hiện ở việc làm rất nhỏ của công tác bầu cử. Đồng chí Hoàng Hữu Kháng, cận vệ của Bác Hồ, sau này là Cục trưởng cục Cảnh vệ (nay là Bộ Tư lệnh Cảnh vệ – Bộ Công an) kể lại: Chiều 27/4/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi bầu cử HĐND cấp huyện và xã. Người bỏ phiếu tại hòm phiếu số 6, Tiểu khu 1, Khu phố Ba Đình, Hà Nội đặt tại Nhà thuyền (Hồ Tây).

Khi Bác đến, tổ bầu cử có ý cho mọi người dừng lại để Bác bầu cử trước. Thấy vậy, Người nói thẳng thắn: “Ai đến trước, bầu trước; Bác đến sau, Bác chờ”. Sau đó, Người đã gương mẫu chờ đến lượt mình mới lấy lá phiếu và bầu cử. Nghĩa vụ là vậy, còn về “quyền” Bác cũng kiên quyết thực hiện đúng quyền của mình. Bác yêu cầu đưa lý lịch những người ứng cử để Người cân nhắc lựa chọn.

Một nhà báo định chụp ảnh Bác đang bầu cử, Người đã lấy tay che lá phiếu và ngăn lại: “Không ai được vào đây. Đây là phòng viết phiếu kín của cử tri. Phải tôn trọng cử tri. Phải tôn trọng tự do và bí mật của công dân!”.

Sau khi bỏ phiếu xong, ra về đến Phủ Chủ tịch, Bác xuống xe quay sang hỏi đồng chí Hoàng Hữu Kháng: “Chú có biết vì sao Nguyễn Hải Thần bị nhân dân khinh ghét không?”

Năm 1945, mỗi lần Nguyễn Hải Thần đi đâu bọn lính bảo vệ ông ta ngồi trên xe tay lăm lăm súng lưỡi lê tuốt trần và còn đặt khẩu đại liên diễu võ giương oai, trông rất lố lăng.

Nghe Bác hỏi đồng chí Hoàng Hữu Kháng chột dạ và cảm thấy cuộc bảo vệ hôm đó có điều gì sơ suất khiến Bác không hài lòng. Sau này đồng chí bảo vệ tiếp cận ngồi cùng xe Bác nói lại, khi Bác đến nơi bỏ phiếu, nhìn thấy vắng cử tri, Bác không vui. Bác muốn như mọi người dân bình đẳng khi đi thực hiện quyền làm chủ của mình.

Ôn lại những câu chuyện về Bác, chúng ta càng thấy rõ hơn tâm huyết và tầm nhìn xa trông rộng của Bác; Người đã đặt những viên gạch đầu tiên cho một xã hội bình đẳng, dân chủ và dày công vun đắp, xây dựng một Nhà nước thật sự của dân, do dân và vì dân.

Theo Nguyễn Đức Quý

Công An Nhân dân

vtc.vn

Ứng cử viên Hồ Chí Minh

Bác Hồ với nông dân (từ sách Ánh sáng từ sông Hồng, 1955 - của nhà báo Đức Franz Faber)

TTCT – Ngày 10-12-1945, danh sách ứng cử viên khu vực Hà Nội được niêm yết rộng rãi. Trong danh sách, Bác đứng thứ hai sau cụ Nguyễn Văn Tố. Tất cả 74 ứng cử viên, chọn lấy sáu đại biểu.

>>Vị Chủ tịch với người bạn cũ
>>Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản tinh thần vô giá
>>Hai bộ sưu tập tranh độc đáo về Bác Hồ
>>Chuyên trang mới trên Tuổi Trẻ Online: Theo gương Bác

Một điều bất ngờ với Chủ tịch Hồ Chí Minh trước ngày tổng tuyển cử là: tại thủ đô Hà Nội, 118 chủ tịch các UBND và tất cả đại biểu làng xã tại Hà Nội đã nhất trí công khai một bản kiến nghị.

Nội dung bản kiến nghị là: Yêu cầu Cụ Hồ Chí Minh được miễn phải ứng cử trong cuộc tổng tuyển cử sắp tới vì Cụ đã được toàn dân suy tôn là Chủ tịch vĩnh viễn của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đáp lại nguyện vọng trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư trả lời đồng bào ngoại thành Hà Nội:

“Tôi rất cảm động được đồng bào quá yêu mà đề nghị: tôi không phải ra ứng cử, đồng bào các nơi khắc cử tôi vào Quốc hội. Nhưng tôi là một công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nên tôi không thể vượt khỏi thể lệ của cuộc tổng tuyển cử đã định.

Tôi ra ứng cử ở Hà Nội, nên không thể ra ứng cử ở nơi nào nữa.

Xin cảm tạ đồng bào đã có lòng yêu tôi và yêu cầu toàn thể đồng bào hãy làm tròn nhiệm vụ người công dân trong cuộc tổng tuyển cử sắp tới”.

Mặc dù tất cả ứng cử viên đã được đăng tiểu sử kèm theo ảnh trên báo, nhưng cử tri còn muốn được trực tiếp nghe các ứng cử viên nói rõ chương trình hành động của mình. Đó là những cuộc tiếp xúc rộng rãi, diễn ra hết sức sôi nổi ở khắp mọi nơi, trong một khung cảnh thật sự tự do và dân chủ.

Chiều 5-1-1946, Bác đến Khu học xá (nay là Trường đại học Bách Khoa, Hà Nội) cùng các ứng cử viên gặp gỡ cử tri.

Hôm ấy, trước đông đảo quần chúng có mặt, Bác đã nói với các ứng cử viên:

“… Vừa rồi đây, ta vừa giành được độc lập. Một số ít người, chỉ một số ít thôi, đã quên cái công khó nhọc của dân chúng. Ta đã phải hi sinh nhiều mới có cái quyền cầm lá phiếu ngày nay đó. Cụ Phan Đình Phùng, cụ Hoàng Hoa Thám đã khó nhọc vì cái quyền dân chủ ấy lắm. Biết bao người đã bị bắn, bị chém, đã đeo cái tên chính trị phạm và bị nhốt đầy các nhà tù Sơn La, Côn Đảo, Ban Mê Thuật mới đòi được cái quyền dân chủ ngày nay…”.

Bác Hồ còn quay sang phía các ứng cử viên nhắc nhở:

“Làm việc nước bây giờ là hi sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ đến lợi chung…”.

Rồi hướng về các cử tri, Bác căn dặn: “Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu. Ngày mai, không ai ép, không ai mua, toàn dân sẽ thực hiện cái quyền dân chủ ấy…”.

Sáng 5-1-1946, lời kêu gọi quốc dân đi bầu cử của Chủ tịch Hồ Chí Minh được các báo đều đăng:

“Ngày mai, mồng 6 tháng Giêng năm 1946.

Ngày mai, là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ:

Ngày mai, là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình.

Ngày mai, dân ta sẽ tỏ cho các chiến sĩ ở miền Nam rằng: về mặt quân sự thì các chiến sĩ dùng súng đạn mà chống quân thù. Về mặt chính trị, thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống với quân địch. Một lá phiếu cũng có sức lực như một viên đạn.

Ngày mai, dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình, và gánh vác việc nước.

Ngày mai, người ra ứng cử thì đông, nhưng số đại biểu thì ít, lẽ tất nhiên, có người được cử, có người không được cử.

Những người trúng cử sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào. Phải luôn luôn nhớ và thành thực câu: Vì lợi nước, quên lợi nhà; vì lợi chung, quên lợi riêng…”.

Đúng 7g sáng 6-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng hàng vạn cử tri thủ đô đi làm nghĩa vụ công dân.

Tư liệu TTXVN