Tag Archive | Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bác Hồ trong Cải cách ruộng đất

Bác Hồ thăm hỏi bà con nông dân Tuyên Quang trong cải cách ruộng đất (1953). (Ảnh tư liệu)

(DVT.vn) – Sau đây là một vài mẩu chuyện nhỏ nói lên sự nhân ái, tài tình của Bác trong đời sống, trong công tác tư tưởng.

Nguyễn Sĩ Đại

Thiên cao Hồ viễn

Trong báo cáo bế mạc Hội nghị cán bộ TƯ tháng 3-1955, đồng chí Trường Chinh chỉ rõ:

“Hội nghị Trung ương lần thứ 7 đã đề ra 6 công tác để củng cố miền Bắc:

1.- Hoàn thành cải cách ruộng đất ở miền Bắc.
2.- Ra sức khôi phục kinh tế, nâng cao sản xuất.
3.- Xây dựng quân đội nhân dân hùng mạnh, củng cố quốc phòng.
4.- Chấn chỉnh công tác văn hóa, xã hội.
5.- Củng cố chính quyền nhân dân.
6.- Thành lập khu tự trị Thái, Mèo.

Trong 6 công tác cụ thể để củng cố miền Bắc thì cải cách ruộng đất là công tác trọng tâm, là công tác thứ nhất”.

Từ năm 1953, cuộc vận động Giảm tô (thuế) , sau đó là Cải cách ruộng đất được phát động. Người cày có ruộng, nông dân không còn bị địa chủ áp bức. Không khí phấn khởi từ hậu phương góp phần tạo nên tinh thần quyết chiến quyết thắng ở Điện Biên Phủ và các chiến trường khác. Nhưng sự khuynh tả đã gây nên nhiều oan ức và tổn thất lớn. Truy bức, đấu tố là một hình thức tai hại nhất, không đúng với phương pháp cách mạng và đạo lý dân tộc.

Xin trích tài liệu được in trong tập san Phát động quần chúng của Ủy ban Cải cách ruộng đất trung ương :

“Tính từ đầu đợt 6 giảm tô và đợt 2 cải cách ruộng đất đến nay ở các tỉnh Vĩnh- phúc, Bắc- giang, Sơn -tây, Thái – nguyên, đã xảy ra nhiều vụ tự sát nghiêm trọng. Theo báo cáo của các Đoàn ủy, trong những người tự sát không chỉ riêng có địa chủ mà có cả phú nông, người có ít ruộng đất cho phát canh và có cả trung nông, bần nông nữa.

Ở Bắc- giang có 19 vụ tự sát thì có 9 địa chủ, 1 phú nông, 2 con địa chủ, 1 tiểu thương có ít ruộng cho phát canh, 1 dân nghèo, 4 trung nông, 1 bần nông. Ngoài ra ở một số xã còn một số người định tự sát nhưng có người biết cứu được. Trong số những người tự sát thì địa chủ đầu sỏ rất ít, đa số là địa chủ thường và các thành phần khác. Riêng ở Thái- nguyên vì cán bộ chủ quan, thiếu cảnh giác nên đã xảy ra ba vụ địa chủ cường hào gian ác tự sát trước khi đấu tranh và một vụ địa chủ tự sát ngay trong khi xử án. Những vụ tự sát trên đều dồn dập vào cuối bước 2 và phần lớn xảy ra ở vùng mới giải phóng, nếu ta  không kịp thời sửa chữa thì sang giai đoạn đấu tranh quyết liệt các vụ tự sát còn có thể xảy ra nhiều hơn nữa”.
(Tài liệu đã dẫn, số 3, ngày 10-12-1954)

Trung ương Đảng, nhất là Bác Hồ , sớm phát hiện ra những sai lầm trong cải cách ruộng đất. Trong một bài nói chuyện tổng kết đợt 2 (đăng trên Tập san Phát động quần chúng số 7, ngày 5-3-1955)  Bác Hồ nói:

“Đợt cải cách ruộng đất thứ hai vừa rồi, các cô các chú đã có thành tích: đã giúp đỡ 75.000 nông dân có ruộng cày, tức là đã thực hiện được một phần chính sách “Người cày có ruộng”.

Khi nói về khuyết điểm, Người rất đau lòng  khi nhận thấy trình độ cán bộ rất thấp, không phân biệt được địch-ta, coi đội cải cách là vua, ”Thậm chí, có một số cán bộ hủ hóa, làm hại đến danh dự của Đảng, của Chính phủ, của tất cả cán bộ. Đó là một điều thật đáng thương tâm”.

Dùng nhục hình là điều phổ biến, điều Chủ tịch Hồ Chí Minh rất phản đối: “Trong đợt 2, một số cán bộ còn phạm khuyết điểm dùng nhục hình. Nhục hình là lối dã man, là cách của đế quốc, tư bản, phong kiến, nó dùng để trị quần chúng, trị cách mạng. Chúng ta có chính sách đúng, lý lẽ đúng, có lực lượng mạnh, sao còn dùng cách dã man? Dùng nhục hình là chưa tẩy sạch tư tưởng dã man, đầu óc phong kiến đế quốc… Đợt này, tuyệt đối không được dùng nhục hình, nếu dùng nhục hình là trái với chính sách của Đảng”…

Tuy vậy, khuyết điểm này còn kéo dài. Bệnh thành tích, quy cho được nhiều địa chủ, nhất là đầu sỏ, phản động khiến nhiều đội bắt con tố cha, vợ tố chồng, truy bức bắt phải nhận là Quốc dân đảng, Việt gian phản động…

Phương châm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Thêm bạn bớt thù”; trong khi nhiều đội, đoàn lại theo phương châm của Mao Trạch Đông :”Tranh thủ số đông, đả kích số it, lợi dụng mâu thuẫn, đánh từng tên một”. Cái phương châm này sau được áp dụng trong cách mạng văn hóa, gây tổn thất lớn ở Trung Quốc trong những năm sáu mươi.

Tại Hội nghị tổng kết cải cách ruộng đất Bắc – Bắc (Bắc Ninh, Bắc Giang), đầu năm 1956, Bác lại nghiêm khắc phê bình:

“Chưa nhận rõ ai là địch, ai là ta nên một số cán bộ mắc phải khuyết điểm nữa rất nghiêm trọng là dùng nhục hình. Bác đã nhiều lần nhắc: Dùng nhục hình là dã man. Chỉ có bọn đế quốc phong kiến mới dùng. Đánh người ta đau quá thì không có người ta cũng nhận là có. Như thế là cán bộ đã tự mình lừa mình”.

Oan khuất nhiều, đến nỗi có nơi 100% đảng viên đều bị xem xét, xử lý. Nhiều cán bộ trung cao cấp của Đảng cũng bị Đội bắt. Ngay cả bần, cố nông cũng bị tố. Hồi đó có câu Thiên cao Hồ viễn , nghĩa là trời thì cao, Bác Hồ thì xa, ai thấu nông nỗi này!

Ông Mai Văn Hách, Bí thư Đoàn 12 Bắc Hưng Yên tự kiểm điểm :  Cho rằng, tất cả những người trước đây ở trong bộ máy thống trị của địch chẳng nhiều thì ít đều có tội nên chúng tôi cho bắt nhất loạt… Lúc đó chúng tôi chỉ nghĩ : Có bắt như thế mới kiên quyết trấn áp phản cách mạng… Qua thống kê, thấy con số bắt ít, chúng tôi chỉ thúc cho các đội”sao bắt ít thế”. Việc duyệt địa chủ cường hào gian ác và bọn cầm đầu phá hoại, chúng tôi hoàn toàn giao cho các đồng chí Đoàn ủy viên cụm duyệt, cũng không kiểm tra lại xem duyệt có đúng không; do đó có đồng chí đã duyệt cho đội bắt một lúc hàng chục người…

Tình hình đó tạo ra một không khí nặng nề  Bà con họ mạc, hàng xóm láng giềng không dám đến chơi nhà nhau, gặp nhau ngoài đường không dám trò chuyện, thậm chí không dám chào hỏi vì sợ nhỡ xảy ra việc gì lại liên quan. Tối tối , nhan dân đi họp rất  đông, nhưng chỉ ngồi nghe, không phát biểu; đi họp đông đủ cũng vì sợ ở nhà nhỡ xảy ra việc gì lại liên quan…(Mai Văn Hách).

Cốc nước đổ rồi, đừng làm đổ thêm

Trong cải cách, với tinh thần” triệt để” của cách mạng nông dân, địa chủ thì quy lên địa chủ cường hào gian ác; phú nông thì quy lên địa chủ, trung nông, nông dân cũng quy lên phú nông. Hiện tượng quy sai phổ biến. Nông dân Việt Nam nghèo. Năm 1954,1955 lại càng nghèo. Vì thế, ở Phú Thọ, nhà nông dân có ba cái chum, 5 cái nồi đồng mâm thau cũng bị trưng mua. Tình hình cải cách, chỉnh đốn Đảng ở Nghệ Tĩnh càng thiên tả.

Bác Nguyễn Văn Phượng, Phó Văn phòng Tỉnh ủy Nghệ An thời kỳ 1957-1961 hiện trú tại khối 17, Phường Hưng Bình, thành phố Vinh có kể lại  với tôi một câu chuyện sau:

Dịp 2-9-1956, Khu ủy khu 4 (lúc đó do đồng chí Đặng Thí làm bí thư) mời các cụ đảng viên 1930- 1931 ở Nghệ An và Hà Tĩnh về thành phố Vinh dự Quốc khánh.

Năm ấy bão lớn. Nhà cửa đổ nhiều. Các cụ phải di chuyển chỗ ở hết chỗ này sang chỗ khác. Trong hội nghị, đồng chí Hoàng Văn Đường (tức Thạc), Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An , được ủy nhiệm báo cáo về sai lầm cải cách ruộng đất và chủ trương sửa sai. Các cụ phát biểu rất hăng. Gặp mặt xong, tổ chức tặng quà, đưa các cụ về nhưng không ai chịu. Các cụ nói: “Bây giờ địch họa, thiên tai không còn đường sống nữa. Chúng tôi chỉ mong được gặp mặt Bác Hồ ở quê hoặc được ra Hà Nội báo cáo tình hình với Bác”. Chữ “địch họa” ở đây với ý là tổn thất lớn do chính ta gây ra với ta trong cải cách ruộng đất. Nguyện vọng đó được báo cáo với Bác. Bác chấp thuận nhưng gợi ý đoàn ra Hà Nội không quá mười người. Khu ủy khu 4 đã mời các cụ Tam, Nhu, Hài của Hà Tĩnh, cụ Kế (Nghệ An) với các đồng chí Hoàng Văn Đường, Tỉnh ủy Nghệ An; Phan Văn Trưng, Bí thư Huyện ủy Thanh Chương; nữ đồng chí Liên (Nam Đàn); đồng chí Phổ (Anh Sơn) là những địa phương làm “ mạnh” trong cải cách ruộng đất. Phụ trách hậu cần và tổ chức chuyến đi là đồng chí Nguyễn Văn Phượng, cán bộ Văn phòng Tỉnh ủy Nghệ An.

Đoàn ra Hà Nội ăn nghỉ tại 54 Nguyễn Du. 14 giờ ngày 8-9-1956, xe đón đoàn vào gặp Bác tại ngôi nhà của Chính phủ tại phố Mai Xuân Thưởng.

Mọi người vừa ngồi xong thì Bác và đồng chí Nguyễn Duy Trinh xuất hiện. Bác ngăn không cho chào đón và lần lượt bắt tay thân thiết từng người một.

An tọa, Bác nói trước: “Báo cáo về tình hình Nghệ An, Hà Tĩnh, Bác đã đọc rồi… Mời các chú uống nước”.

Lời mời của Bác không thể không theo. Từng ngụm nhỏ trà sen thanh tao và đậm đà ân tình làm cho nỗi bực bội trong lòng mỗi người được lắng dịu đôi phần. Rồi không biết vô tình hay cố ý, bàn tay Bác chạm vào cốc nước trước mặt, làm nước đổ ra đĩa. Bác đặt cái chén lên như cũ và nói đại ý:

– Các chú cẩn thận nên được uống nước. Bác vô ý làm đổ chén nước thì Bác không được uống. Nước đã đổ ra đĩa rồi, có rót lại cũng không được đầy như trước mà lại còn mất vệ sinh… Mục đích ta làm cải cách ruộng đất để cho người cày có ruộng là đúng. Đúng không các chú.

Tiếng “Đúng ạ” đồng thanh.

– Nhưng phương pháp làm – Bác nói tiếp – thì có sai. Sai thì sửa…

Sau khi thăm hỏi, nghe thêm và quán triệt chủ trương của Trung ương, Bác gợi ý đi thăm Nhà máy Diêm và một số cơ sở nông nghiệp khác ở Hà Nội nhưng cả đoàn đều nói bây giờ thì sáng rồi, tình hình ở nhà còn bề bộn, đoàn xin phép về để cùng các địa phương tiếp tục sửa sai. Bác đồng ý và chỉ thị cho đồng chí Nguyễn Duy Trinh đưa các cụ đi khám mắt, tặng mỗi người một cặp kính. Rồi Bác chia cho mỗi người một điếu thuốc lá dặn chung:

– Đoàn kết sửa sai tốt nhá!

Bác quay sang hỏi giờ đồng chí Nguyễn Duy Trinh. Bác Phượng nhìn theo bóng Bác bàng hoàng.

Mới chớp mắt mà đã năm mươi phút trôi qua. Một buổi gặp ngắn ngủi với Bác giữa thủ đô mà bao nhiêu thắc mắc, bao nhiêu điều không hiểu như mây mù bỗng được vén lên. Bầu trời lại cao xanh một niềm tin phấn chấn.

dvt.vn

GS Hoàng Minh Giám kể về những ngày vận nước “nghìn cân treo sợi tóc” (P 3)

(DVT.vn) – Leclerc, Sainteny muốn hòa hoãn, nhưng D’Argenlieu ngoan cố phá hoại Hiệp định sơ bộ. Thường vụ Trung ương Đảng chủ trương “hòa để tiến”. Hòa hoãn, chứ chưa phải hòa bình.

PHẦN 3

Vì tình hình khẩn trương, lễ ký Hiệp định sơ bộ được tiến hành ngay vào hồi 16 giờ 30 phút hôm 6/3/1946, tại ngôi nhà 38 Lý Thái Tổ, với sự có mặt của các lãnh sự Mỹ, Anh, Trung Quốc và đại diện Đảng SFIO (Đảng Xã hội Pháp) là Caput.

Sau lễ ký, Sainteny nâng cốc chúc mừng Bác. Bác bĩnh tĩnh trả lời: “Cảm ơn ông. Nhưng thật ra, tôi chưa vừa lòng. Ông biết đấy, tôi muốn nhiều hơn, tôi muốn nước tôi độc lập, và chắc chắn nước tôi sẽ độc lập.”

Có thể nói rằng đó chính là nội dung câu trả lời vắn tắt của Bác cho Sainteny. Trong hoàn cảnh phức tạp và nguy hiểm, phải đối phó cùng một lúc với nhiều thù trong giặc ngoài, ta cần một sự hòa hoãn (không phải là hòa bình, mà là hòa hoãn) để tranh thủ thời gian, củng cố và phát triển lực lượng để tiếp tục và đẩy mạnh cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ, nhưng nhất định thắng lợi vẻ vang.

Tối hôm 6/3/1946, Bác Hồ và anh Võ Nguyên Giáp báo cáo với Hội đồng Chính phủ về việc ký Hiệp định sơ bộ, và chiều hôm sau (7/3/1946), ta tổ chức một cuộc mít-tinh tại quảng trường trước Nhà hát Lớn thành phố Hà Nội. Anh Giáp trình bày nội dung, ý nghĩa của bản Hiệp định. Anh nhấn mạnh lý do khiến ta phải ký là Mỹ và Anh ủng hộ Pháp, và Trung Quốc đã ký thỏa thuận cho quân đội Pháp thay thế quân đội Trung Hoa. Hiệp định sơ bộ vừa ký có thể ví như Hiệp định Brest – Litovsk ký kết vào năm 1918 giữa chính quyền Xô-viết với Đức.

Sau đó, Bác Hồ cũng phát biểu: “Mục tiêu cuối cùng của chúng ta là độc lập, thống nhất; cuộc đấu tranh còn lâu dài, gian khổ, ta đã nhận cho 15.000 quân Pháp vào thay quân đội Trung Quốc, sau 5 năm, Pháp sẽ rút hết quân đội về nước. Chúng ta phải tin vào Chính phủ, phải đoàn kết, tiếp tục chiến đấu. Riêng tôi, tôi hứa với đồng bào tiếp tục trung thành với Tổ quốc, với đồng bào, Hồ Chí Minh nhất định không bao giờ bán nước!”

Tất cả vạn người nghe Bác đều vô cùng xúc động, vỗ tay, và tiếng vỗ tay, hoan hô “Hồ Chủ tịch muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!” vang lên như sấm.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh với các thành viên Chính phủ lâm thời sau buổi họp đầu tiên.
Trong ảnh: GS Hoàng Minh Giám là người đứng thứ hai hàng thứ ba, từ trái sang phải.
(Ảnh do chị Hoàng Vĩnh Hạnh, con gái GS Hoàng Minh Giám cung cấp).

Ba ngày sau, ngày 9/3/1946, Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra chỉ thị nhan đề “Hòa để tiến”. Có thể nói rằng đó chính là nội dung câu trả lời lvắn tắt của Bác cho Sainteny. Trong hoàn cảnh phức tạp và nguy hiểm phải đối phó cùng một lúc với nhiều thù trong giặc ngoài, ta cần một sự hòa hoãn để tranh thủ thời gian, củng cố và phát triển lực lượng để tiếp tục và đẩy mạnh cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ, nhưng nhất định thắng lợi vẻ vang.

Theo tôi, do chưa có kinh nghiệm nên khi duyệt Hiệp định Sơ bộ, ta đã để một số chi tiết không chặt chẽ trong nội dung. Thí dụ: Khi có trưng cầu dân ý về vấn đề thống nhất ba kỳ thì nhất định nhân dân Nam kỳ không muốn mất đất đai của mình cho Pháp và cuộc trưng cầu sẽ có lợi cho ta. Nhưng trong Hiệp định không nói tới thời gian cụ thể của việc trưng cầu dân ý là một sơ sót bất lợi cho ta. Nếu thời gian dẫn tới cuộc trưng cầu dân ý càng dài thì thực dân Pháp càng có lợi và tiếp tục cai trị ở Nam kỳ.

Còn việc trưng cầu dân ý sẽ tổ chức chung trong cả nước hay làm riêng từng miền một? Sự không chặt chẽ và rõ ràng trong Hiệp định sẽ giúp Pháp gây cản trở cho ta. Nếu tổ chức trưng cầu dân ý trong cả nước thì có lợi cho ta, bởi vì nếu không may ở Nam Kỳ có ai dại dột ủng hộ Hiệp định Vua An Nam ký nhượng Nam kỳ cho Pháp, thì hai kỳ ngoài này sẽ bù lại số phiếu. Nếu có trưng cầu ý dân thì phải có hòa bình, còn nếu lúc đó nó đánh mình thì mình phải đánh trả. Trong văn bản cũng không nói tới vấn đề hòa bình khi có cuộc trưng cầu dân ý, như vậy là mình mới chỉ ký được với Pháp một hiệp định chưa trọn vẹn. Một hiệp định đúng nghĩa với tên của nó là “Hiệp định sơ bộ”.

Còn phía Pháp, đối với Hiệp định này có những phản ứng gì? Khi D’Argenlieu từ Pháp trở lại Đông Dương, Hiệp định sơ bộ 6/3 đã được ký kết vừa xong. Biết được tin này, D’Argenlieu phê phán gay gắt Leclerc, D’Argenlieu nói: “Lâu nay nước Pháp nổi tiếng dũng cảm, sao các anh lại đầu hàng nhanh thế?” Leclerc trả lời: “Với bản Hiệp định như thế, sao lại gọi là đầu hàng?” Sau chuyện này, hai tên trở thành kẻ thù của nhau. Lúc ký, Leclerc vẫn dưới quyền D’Argenlieu, nhưng y không xin chỉ thị của viên Cao ủy vì biết rằng nếu xin thì không bao giờ D’Argenlieu đồng ý để cho Sainteny ký. Vì vậy Leclerc và Sainteny bàn với nhau là đi đến việc ký Hiệp định 6/3.

Hạ tuần tháng 3/1946, D’Argenlieu ngỏ ý muốn gặp gỡ với Bác để bàn về quan hệ giữa hai nước. Quan hệ Việt – Pháp sau Hiệp định ngày càng xấu đi do D’Argenlieu cố tình phá hoại. Ở Nam bộ, D’Argenlieu ra lệnh cho quân Pháp càn quét, lấn chiếm; ở Bắc bộ, quân Pháp đi lại lung tung và tìm mọi cách phá hoại cuộc sống của nhân dân ta.

Trong Hiệp định sơ bộ có nói tới việc ký kết giữa ta và Pháp chỉ là tạm thời, sau đó, sẽ có một cuộc đàm phán và ký kết chính thức giữa hai chính phủ. D’Argenlieu muốn gặp Bác là để tìm cách cản trở việc đàm phán chính thức tại Paris, vì y muốn bưng bít sự thật ở Đông Dương. Ý định của y là hai bên sẽ đàm phán tại Hà Nội hoặc Sài Gòn, và nếu trường hợp đàm phán tại Paris, thì càng chậm càng tốt để y có thời gian thông báo tình hình cụ thể sang bên đó. Bác biết rất rõ âm mưu của viên Cao ủy này.

Thông qua Sainteny, D’Argenlieu ngỏ lời mời Bác với đại ý: “Tôi chưa gặp Cụ bao giờ. Lần này tôi muốn gặp để chào Cụ”. Bác nhận lời mời của D’Argenlieu và muốn hai bên sẽ gặp nhau tại Hà Nội. D’Argenlieu không muốn ra bắc vì nó sợ bị lép vế, sợ tình hình ở Hà Nội còn đang lộn xộn, Tưởng Giới Thạch chưa rút hết quân; và hơn nữa, chắc là nó sợ ta tổ chức ám sát nó. Còn việc D’Argenlieu muốn gặp Bác tại Sài Gòn tất nhiên là bị Người từ chối.

D’Argenlieu bèn nghĩ ra một kế là bố trí gặp Bác tại vịnh Hạ Long, vì ông ta cho rằng vịnh Hạ Long là địa điểm trung gian, không phải Sài Gòn và cũng không phải Hà Nội. Sau đó, ông ta nhờ Sainteny nói lại với Bác: “Nếu ông D’Argenlieu được gặp Chủ tịch ở một địa điểm nào khác thì thuận tiện hơn. Thí dụ ở vịnh Hạ Long. Ông Đô đốc và Hạm đội Pháp sẽ từ Sài Gòn đến Vịnh đón Chủ tịch, và một thủy phi cơ của Pháp sẽ đưa Chủ tịch đến nơi gặp. Xin Chủ tịch cho biết ý kiến”.

(Còn nữa)
Theo DVT

dvt.vn

Bác Hồ và lịch sử nước ta

Trong cuốn sách “Chiến đấu trong vòng vây”, hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Hữu Mai ghi), có đoạn đáng chú ý như sau:
“…Một hôm, anh Vũ Kỳ, thư ký của Bác, viết thư cho tôi, nói Bác cần có một cuốn lịch sử Việt Nam. Thật khó tìm được cuốn sách này khi mọi người đã rời thành phố với một chiếc ba lô trên vai. Sau đó tôi được biết anh Kỳ đã tìm được một cuốn “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim. Bác đánh dấu những đoạn viết về các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh chống ngoại xâm, đặc biệt là chiến tranh chống Nguyên Mông và khởi nghĩa Lam Sơn và dặn anh Kỳ nhắc anh Thận và tôi nên đọc lại những đoạn đó”. (trang 90)

Bác Hồ xem văn bia tại đền thờ Nguyễn Trãi ở Côn Sơn
Ảnh: T.L

Về sự kiện này, đồng chí Vũ Kỳ kể lại, sau ngày Toàn quốc kháng chiến 19-12-1946, Bác Hồ rời Hà Nội và từ ngày 18-2-1947, Bác làm việc ở tỉnh Thanh Hóa. Ở đây Bác đã viếng Vĩnh lăng – lăng của vị anh hùng giải phóng dân tộc Lê Lợi. Bác đọc lại một số đoạn sử trong cuốn “Việt Nam sử lược”. Bài học đánh giặc và giữ nước của ông cha đến lúc này hết sức thiết thân với dân tộc ta, nhất là khi bắt đầu kháng chiến chống Pháp, vũ khí của ta còn rất thô sơ (dao, gậy, tầm vông, kiếm) chống quân đội Pháp trang bị toàn vũ khí tối tân lại có viện trợ mọi mặt của Mỹ. Bác Hồ nhắc đồng chí Thận (Tổng Bí thư Trường Chinh) và đồng chí Võ Nguyên Giáp cần đặc biệt chú ý và nghiên cứu kỹ đoạn viết trong Việt Nam sử lược về chiến tranh chống giặc Nguyên Mông và chiến tranh chống giặc Minh.

Đoạn về chiến tranh chống giặc Nguyên Mông từ trang 132 đến trang 162. Giặc Nguyên Mông đã chiếm nửa thế giới và nước Tàu. Từ nước Tàu, chúng lấy cớ dẹp loạn Chiêm Thành nên mượn đường đi qua Việt Nam. Vua Trần Nhân Tông và cận thần biết rõ mưu đồ thâm độc của giặc Nguyên Mông sẽ chiếm nước ta nên từ chối, lấy cớ nước Nam không có đường đến Chiêm Thành. Giặc Nguyên Mông đòi tiến vào nước ta, đánh hay hòa, triều đình còn tranh cãi, một số người thấy Nguyên Mông mạnh quá, nước Tầu cũng đã phải chịu nữa là nước Nam. Chỉ còn cách hỏi ý kiến dân. Vua Trần Nhân Tông thông qua các bô lão họp tại điện Diên Hồng để bàn nên hòa hay nên đánh. Các bô lão đều đồng thanh xin đánh. Vua thấy dân đồng lòng như vậy cũng quyết kháng chiến. Lần đầu tiên nhân dân ta quyết định một vấn đề trọng đại của đất nước, Vua và triều đình coi đó như một mệnh lệnh cần chấp hành nghiêm chỉnh. Tháng 8 năm Giáp Thân (1284) Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn được phong chức Tiết chế thống lĩnh mọi lực lượng quân sự chống Nguyên Mông. Lời hịch truyền cho các vương hầu và quân sĩ thủy và bộ tại bến Đông bộ đầu, trước khi xuất kích bắt đầu cuộc kháng chiến đã được tóm tắt trong đoạn này như sau:

“…Bản chức phục mệnh thống đốc quân sĩ ra phá giặc. Các vương hầu và các tướng sĩ ai nấy phải cầm giữ phép tắc, đi đâu không được làm phiền nhiễu dân và phải đồng lòng hết sức đánh giặc, chớ thấy thua mà ngã lòng, chớ thấy được mà tự kiêu, việc quân có luật, phép nước không thân, các ngươi phải giữ…”

Những phẩm chất cao đẹp của một đội quân trung thành tuyệt đối với nhân dân đã được đúc kết trong lời hịch của Hưng Đạo Vương. Giặc Nguyên Mông tràn vào nước ta, tiến như vũ bão, thành Thăng Long thất thủ, Vua và triều đình rút về vùng nông thôn. Binh hùng tướng mạnh của địch chỉ vấp phải những trận đánh nhỏ của ta nhưng đều khắp các mặt trận đúng với tài thao lược “dùng ít thắng nhiều” của Hưng Đạo Vương. Giặc Nguyên Mông ba lần tiến vào nước ta, nhưng đều phải rút lui thảm hại. Sau hơn bốn năm kháng chiến, giữa năm 1288 ta toàn thắng, Vua sai mở tiệc khen thưởng quân sĩ, cho dân mở hội ba ngày, gọi là Thanh Bình diễn yến.

Đoạn về chiến tranh chống giặc Minh từ trang 199 đến trang 232 ghi lại mọi thủ đoạn tàn ác bắt người An Nam đồng hóa với người Tầu, lập ra đền miếu bắt dân ta cúng tế theo tục bên Tầu, cách ăn mặc cho đến học hành bắt theo như người Tầu. Mọi sách vở của ta giặc Minh đều thu nhặt hết mang về Tầu. Lại đặt ra các thứ thuế, bổ thêm sưu dịch lấy tiền của, làm cho dân ta kiệt quệ, đói khổ. Chính từ bước đường cùng này, không những mất nước mà còn bị đồng hóa. Vì vậy, nhân dân cả nước nhiệt liệt hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đứng đầu là Lê Lợi chống giặc Minh mặc dù giặc Minh rất mạnh, bộ máy cai trị tàn ác của chúng dầy đặc khắp nước, địa phương nào cũng có quan người Tầu thống trị. Cuộc chiến đấu cực kỳ gian khổ. Có lúc kiệt quệ, quân ta ăn cả cỏ; voi, ngựa gầy trơ xương cũng vẫn phải giết lấy thịt để ăn, tưởng không gượng dậy nổi nữa nhưng cuộc chiến đấu vẫn tiếp tục, vừa đánh vừa đàm, vừa đàm vừa đánh. Đội quân của Lê Lợi cũng như của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đều từ dân mà ra, hết lòng phục vụ nhân dân. Các tướng lĩnh của Lê Lợi, dù quyền cao chức trọng đều “lấy giáp trụ làm chăn áo, lấy đồng cỏ làm cửa nhà”, “cơm ăn sớm tối không được hai bữa, áo mặc đông hè chỉ có một manh”. Từ tướng đến quân đều đồng cam cộng khổ với dân, cuộc kháng chiến đến năm thứ 10 thì ta quét sạch giặc Minh, chính quyền cả nước đặt dưới quyền Lê Lợi, lúc này đã xưng vương là Lê Thái Tổ, còn gọi là Bình Định Vương. Quân ta bắt được nhiều tù binh, dân ta có người căm thù giặc Minh đòi phải giết hết. Về việc này, Việt Nam sử lược đã ghi ý kiến của Bình Định Vương như sau:

“Phục thù, báo oán là cái thường tình của mọi người, nhưng cái bản tâm người có nhân không muốn giết người bao giờ. Vả người ta đã hàng mà lại còn giết thì không hay. Nếu mình muốn thỏa cơn giận một lúc, mà chịu cái tiếng muôn đời giết kẻ hàng, thì sao bằng để cho muôn vạn con người sống mà khỏi được mối tranh chiến về đời sau lại để tiếng thơm lưu truyền thiên cổ trong sử sách”.

Đã không giết tù binh, mặc dầu vừa trải qua cuộc kháng chiến nhân dân còn thiếu thốn đủ mọi thứ, Lê Lợi vẫn cấp 500 thuyền mới đủ đưa hai vạn tù binh về Tầu, không những cấp cho tù binh đủ lương ăn mà còn cả áo quần. Và sử còn ghi một hành động hết sức khác thường không ai đoán nổi: Lê Lợi Bình Định Vương đã đến tận nơi tiễn các tù binh này, coi như bắt đầu thời gian giao hảo bình thường giữa hai nước.

Lê Lợi đã giao Nguyễn Trãi trọng trách làm bản báo cáo tổng kết cuộc kháng chiến 10 năm chống giặc Minh. Nguyễn Trãi là tham mưu thân cận nhất của Lê Lợi, có công rất lớn đã giúp Lê Lợi lãnh đạo cuộc kháng chiến. Bản báo cáo mang tên “Bình Ngô Đại Cáo” được sử ghi là “bản văn chương rất có giá trị đời Lê”, và không chỉ có đời Lê mà các thế hệ sau này đều coi “Bình Ngô Đại Cáo” là một Tuyên ngôn độc lập của Tổ quốc ta.

Trên đây là tóm tắt hai đoạn trong Việt Nam sử lược mà khi bắt đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, Bác Hồ đã căn dặn các lãnh đạo của Đảng phải đọc kỹ. Bài học sâu xa nhất mà hai cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông và giặc Minh để lại được nêu bật trong Việt Nam sử lược là phải coi sức mạnh của nhân dân là vô địch, không kẻ thù nào dù là Nguyên Mông hoặc giặc Minh đánh bại nổi, rõ ràng chúng chỉ có một lối thoát là đầu hàng, rút chạy. Cuộc kháng chiến 30 năm chống Pháp rồi chống Mỹ đã bắt đầu với những bài học vô giá ông cha để lại, với bao sự việc rất cụ thể ghi trong sử, chúng ta rất tự hào được sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, quân đội ta được dân quen gọi là Bộ đội Cụ Hồ, đã tiếp thu trọn vẹn phẩm chất cao đẹp của lực lượng võ trang dưới quyền thống lĩnh của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và Bình Định Vương Lê Lợi.

Dân tộc ta tồn tại đã ngàn năm, thường xuyên phải đối phó với giông bão về mọi mặt, tích lũy nhiều kinh nghiệm đánh giặc giữ nước và an dân trị nước. Chúng ta không ngạc nhiên khi Bác Hồ về nước sau hơn 30 năm xa cách, Bác đã viết ngay Lịch sử Việt Nam làm tài liệu học tập đào tạo cán bộ Việt Minh. Phải thông thạo lịch sử nước nhà mới có thể thực hiện đoàn kết muôn người như một đúng với truyền thống bao đời của ông cha, dù trong nước có giặc ngoại xâm hoặc không thì lúc nào cũng hòa hợp và đoàn kết không bỏ sót ai, không bao giờ chấp nhận lại có tầng lớp này chống tầng lớp kia.

Bác Hồ thường nêu gương các vị khai quốc công thần, anh hùng dân tộc để giáo dục thế hệ ngày nay. Đặc biệt mỗi lần nhắc đến Nguyễn Trãi, Bác biểu lộ một tấm lòng ưu ái và khâm phục sâu sắc. Chỉ có nhân dân là sức mạnh vô địch dù kẻ thù mạnh đến đâu và vai trò làm chủ đất nước sau khi đã giải phóng đất nước khỏi bọn xâm lược là những tư tưởng lớn của Nguyễn Trãi, đã vượt lên trên thời đại của ông, mãi mãi có sức sống cho đời sau. Lý tưởng của ông là cứu nước và cứu dân. Cứu nước mới là cứu dân thoát khỏi họa đàn áp bóc lột của bọn thống trị nước ngoài. Muốn cho dân thật sự hết lầm than khổ cực, còn phải cứu dân thoát khỏi ách đàn áp bóc lột của bọn thống trị trong nước. Như thế mới thực sự cứu dân, thực sự yêu dân, thực sự vì dân. Một số người chỉ nói giải phóng đất nước, nói cứu nước và thỏa mãn với đất nước không còn bóng tên xâm lược nhưng lại không hề nghĩ đến dân đã được giải phóng chưa? Chính quyền đã về tay ta nhưng ta là ai, là dân hoặc là những người xa dân, quan liêu, tham nhũng, chỉ lo cho cá nhân và phe nhóm mà Nguyễn Trãi gọi là bọn thống trị trong nước.

Bác Hồ rất tâm đắc với tư tưởng lớn của Nguyễn Trãi, ngay sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, nước ta được độc lập, Bác Hồ đã nhìn thấy vấn đề cốt lõi của cách mạng là chính quyền, quyền lực chính trị, quyền lực Nhà nước thuộc về ai? Cách mạng thắng lợi, mọi quyền lực phải thuộc về nhân dân và chỉ thuộc về nhân dân. Bác Hồ đã nói: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”.

Cho đến cuối đời, lúc nào Bác Hồ cũng đặc biệt quan tâm đến Đảng cầm quyền vì muốn dân thực sự được làm chủ, chỉ có dân mới được làm chủ thì Đảng phải là đầy tớ của dân. Nếu quyền đã được nhân dân giao phó lại không coi dân là chủ còn mình chỉ là người đầy tớ trung thành thì sớm muộn Đảng cũng sẽ xa dân, chưa phải là người lãnh đạo và người đầy tớ thật trung thành của nhân dân như Bác Hồ đã dạy.

Dân là chủ theo quan niệm của Nguyễn Trãi và của Hồ Chí Minh là một. Chính vì vậy Hồ Chí Minh thường xuyên “gần gũi” với Nguyễn Trãi. Mỗi lần Bác Hồ về thăm Côn Sơn, đền thờ Nguyễn Trãi, đồng chí Vũ Kỳ vẫn gọi là Bác Hồ “về thăm” Nguyễn Trãi. Giữa tháng 2-1965, Bác Hồ lại “về thăm” Nguyễn Trãi ở Côn Sơn trước khi Bác bắt đầu viết Di chúc. Trong bài báo “Tài liệu tuyệt đối bí mật” của đồng chí Vũ Kỳ phản ánh quá trình mấy năm Bác viết Di chúc, có một đoạn như sau:

Ngày 15 tháng 2 năm 1965, Bác Hồ “về thăm” Nguyễn Trãi ở Côn Sơn. Bác nghỉ trưa ở đó và xem rất kỹ văn bia trong đền thờ Nguyễn Trãi. Rồi đây các nhà viết sử có lẽ phải dành nhiều trang cho sự kiện không ngẫu nhiên này. Bởi Hồ Chí Minh tìm đến Nguyễn Trãi trong bước ngoặt lịch sử của dân tộc, đâu phải là một sự ngẫu nhiên. Cách nhau hơn năm thế kỷ (1380 – 1890) mà sao có những trùng hợp lạ kỳ, y như cuộc hẹn gặp lịch sử đã định sẵn. Hai nhà chính trị và quân sự kiệt xuất, hai nhà thơ lớn, hai nhân cách lớn và bao trùm lên tất cả là sự gặp nhau ở lòng tin tuyệt đối vào sức mạnh to lớn của nhân dân, là tấm lòng tha thiết đối với hạnh phúc nhân dân. Người đã từng nói: “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân”, cũng chính Nguyễn Trãi là người đã mở đầu “Bình Ngô Đại Cáo” bằng một câu bất hủ “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Hôm nay như hẹn vĩ nhân của thời đại mới với chân lý:

Gốc có vững, cây mới bền
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân.

Thái Duy

daidoanket.vn

GS Hoàng Minh Giám kể về những ngày vận nước “nghìn cân treo sợi tóc” (P 2)

Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946.

(DVT.vn) – Sainteny trắng trợn định “mua” tôi! Tưởng bắt tay với Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Sainteny nhiều lần tranh cãi đến quá nửa đêm. Hiệp định sơ bộ được ký…

PHẦN 2

Trong thời gian đầu, lúc chưa họp Quốc hội khóa I, Bác là Chủ tịch Chính phủ lâm thời và kiêm luôn chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Văn phòng của Bác thiếu một người giúp việc phụ trách về tiếng Pháp, vì thế anh Giáp đề xuất tôi. Tôi được Bác tin dùng, đồng thời, tôi giữ chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ Liên hiệp.

Theo chỉ thị của Bác, tôi đã nhiều lần lui tới nhà riêng của Sainteny. Y ở một căn nhà hai tầng, nơi góc hai phố Lý Thường Kiệt và Quang Trung (gần Viện Kiểm sát nhân dân tối cao bây giờ). Ngôi nhà này trước đây một người Pháp tên là Sacton ở, sau đã về nước. Trước đó, tôi đã nghe nói là các lãnh tụ Quốc dân đảng cũng hay lui tới nhà riêng Sainteny. Một lần, tôi đến nhà y và thấy trong ngăn kéo, y cố tình để hở một gói tiền to.

Sainteny mời tôi ngồi và hỏi: “Tôi nghe nói các anh làm việc không có lương à?” (Thực tế cũng đúng thôi vì độc lập rồi nhưng tiền không có, tiền ở nhà băng chúng lấy hết rồi). Tôi im lặng, y lại nói tiếp: “Anh cần tiền thì tôi cho vay tạm một ít. Những người của Quốc dân đảng ở nhà tôi vừa mới ra, tôi cũng cho một ít tiền”.

Sainteny trắng trợn đến như vậy đó! Với lòng tự trọng, tôi muốn mắng cho y một trận ngay lúc ấy, nhưng nghĩ đến nhiệm vụ mà Bác đã giao cho nên kiềm chế được. Tôi trả lời: “Một là, người của Quốc dân đảng có lấy tiền của anh hay không, thì tôi không biết. Hai là, chúng tôi không ăn lương nhà nước là đúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng không, vì cách mạng mới thành công, đang gặp rất nhiều khó khăn. Anh hãy cất tiền đi, tôi không cần! Nếu anh có nhiều tiền thì anh trực tiếp nói với cụ Hồ Chí Minh với tư cách là Nhà nước Pháp cho Chính phủ Hồ Chí Minh vay, còn nếu anh đưa tôi với tư cách cá nhân thì không ăn thua gì đâu!”

Nghe xong, Sainteny đóng ngăn kéo lại và nói: “Thôi để nói sau!”

Việc mua chuộc tôi đã không thành.

Lúc về, tôi báo cáo lại sự việc trên cho Bác nghe. Bác bảo tôi: “Chú không cáu kỉnh với nó thế là tốt, vì mình còn phải làm việc với nó mà. Trong ngoại giao, nó cư xử thế nào cũng được, còn mình thì phải khéo léo. Vấn đề nó định dùng tiền mua chuộc, chú nói một câu như thế là nó đủ hiểu rồi.”

Chủ tịch  Hồ Chí Minh và Sainteny trên chiếc thủy phi cơ bay ra Vịnh Hạ Long gặp  D’Argenlieu.
(Ảnh do chị Hoàng Vĩnh Hạnh, con gái GS Hoàng Minh Giám cung cấp).

Trước lúc chúng ta chuẩn bị Tổng tuyển cử trong toàn quốc, Bác và Sainteny bắt đầu có những cuộc gặp nhau. Phải gặp nhau một cách bí mật. Chỉ họp buổi tối, sau 20 giờ.

Trong các lần gặp nhau giữa Bác và Sainteny, một số vấn đề có thể thỏa thuận với nhau trên nguyên tắc, nhưng trên hai vấn đề cơ bản thì bế tắc:

1. Ta đòi Pháp công nhận Việt Nam là một nước độc lập, Pháp chỉ công nhận Việt Nam là một nước tự trị.

2. Ta đòi Pháp công nhận Nam kỳ, Trung kỳ, Bắc kỳ là đất nước Việt Nam; Pháp từ chối, với lý lẽ Nam kỳ là thuộc địa của Pháp.

Cuối tháng 2/1946, ta được tin Pháp và chính quyền Tưởng Giới Thạch đã ký một bản thỏa thuận. Pháp bằng lòng trả giá cho việc Tưởng rút quân, để quân Pháp vào thay thế. Cái giá đó là:

Pháp trả lại cho Tưởng những nhượng địa của Pháp trên đất Trung Quốc, nhường cho Tưởng phần con đường xe lửa Việt Nam ở bên kia biên giới Việt – Trung, bằng lòng cho hàng hóa Trung Quốc được miễn thuế vào cảng Hải Phòng, mở rộng quy chế về Hoa kiều sống trên đất nước Việt Nam.

Leclerc ra lệnh cho hạm đội Pháp sẵn sàng lên đường ra miền bắc, đồng thời chỉ thị cho Sainteny phải ký được một thỏa thuận với Chính phủ Hồ Chí Minh, vì nếu Chính phủ Hồ Chí Minh phát động chiến tranh du kích thì sẽ “rối ren lắm!”

Ngày mồng 5/3/1946, có tin hạm đội Pháp đã đến Vịnh Hạ Long, và sáng hôm sau, sẽ đến Hải Phòng. Trong các tướng tá Trung Quốc không có sự nhất trí: có kẻ tán thành rút quân, có kẻ không tán thành. Một tên đến gặp Bác, vẻ hốt hoảng, hỏi: “Sao phía Việt Nam không thỏa thuận với Pháp? Nếu xảy ra chiến tranh thì ai chịu trách nhiệm?”

Tối hôm đó, Bác và Sainteny họp đến quá nửa đêm, mà không có kết quả. Phía Pháp đề nghị giải quyết vấn đề mà Nam kỳ bằng một cuộc trưng cầu dân ý. Phía ta đồng ý. Nhưng về vấn đề công nhận độc lập của Việt Nam thì Sainteny nói phải chờ quyết định của Quốc hội Pháp. Bác nói: “Rất tiếc, chúng tôi không thể đồng ý với các ông!”

Hai bên chia tay lúc 1 giờ sáng. Hai người Pháp tỏ ý rất lo lắng.

Sáng hôm sau, có tin quân Tưởng đã nổ súng khi hạm đội Pháp tiến vào Cửa Cấm, và hai bên đã bắn nhau.Phía ta đề nghị với phía Pháp có cuộc họp lúc 12 giờ trưa.Trong buổi họp, Bác đề nghị thay từ “độc lập” bằng từ “tự do” trong dự thảo hiệp định với một định nghĩa của từ “tự do”. Phía Pháp đồng ý, và hai bên thông qua bản dự thảo Hiệp định sơ bộ.

Sau đây, tóm tắt nội dung một số điểm:

1. Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do có Chính phủ, có Quốc hội, có quân đội, có tài chính của mình, là thành viên của Liên hiệp Pháp và của Liên bang Đông Dương.

2. Chính phủ Pháp cam đoan sẽ thừa nhận quyết định của cuộc trưng cầu dân ý về vấn đề thống nhất ba kỳ.

3. Nước Việt Nam thuận cho 15.000 quân Pháp vào miền bắc Việt Nam thay thế quân Trung Quốc giải giáp quân Nhật. Số quân Pháp đó sẽ phải rút hết trong hạn 5 năm, mỗi năm rút 1/5.

4. Hai bên sẽ đình chiến ngay để mở cuộc đàm phán chính thức. Quân hai bên ở đâu vẫn cứ ở đấy.

5. Cuộc đàm phán chính thức sẽ tiến hành ở Hà Nội, Sài Gòn hoặc Paris với nội dung: quan hệ ngoại giao của Việt Nam với nước ngoài, quy chế của Đông Dương, những quyền lợi kinh tế và văn hóa của nước Pháp ở Việt Nam.

Kèm theo bản Hiệp định sơ bộ, có một bản phụ (accord annexe) quy định số quân Pháp vào miền bắc Việt Nam để thay thế quân đội Trung Quốc là 15.000 người, sẽ phải rút hết số quân đội đó khỏi Việt Nam sau thời hạn 5 năm, mỗi năm rút 1/5.

(Còn nữa)
Theo DVT

dvt.vn

GS Hoàng Minh Giám kể về những ngày vận nước “nghìn cân treo sợi tóc” (P 1)

Kỷ niệm 66 năm Cách mạng Tháng Tám, Báo DVT. vn trân trọng giới thiệu lời kể của GS Hoàng Minh Giám về những ngày “trứng nước” của nền cộng hòa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, tướng Leclerc, và Sainteny.

LỜI NÓI ĐẦU

GS Hoàng Minh Giám sinh năm 1904, tại làng Đông Ngạc, ngoại thành Hà Nội; mất năm 1995; cuộc đời trải dài gần trọn thế kỷ XX.

Phụ thân ông là cụ Phó bảng Hoàng Tăng Bí; mẫu thân là cụ bà Cao Nộn Thúy, con gái cụ Cao Xuân Dục, Thượng thư Bộ Học, Hiệp biện Đại học sĩ, Tổng tài Quốc sử quán.

Sinh ra và lớn lên trong một danh gia vọng tộc tầm cỡ lớn nhất đất nước, được xã hội đương thời ưu đãi, song, ngay từ thời trẻ, GS Hoàng Minh Giám đã căm ghét chế độ thực dân Pháp và hướng về Nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc.

Sau Cách mạng Tháng Tám, ông trở thành một cộng sự gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Là một gương mặt đại trí thức của thế kỷ XX, ông cũng là một nhân chứng lớn của lịch sử nước ta thời hiện đại.

Với tư cách Phó Tổng Biên tập, rồi Tổng Biên tập tạp chí Tổ Quốc, tôi may mắn được làm việc gần gũi GS Hoàng Minh Giám trong khoảng mười năm (1979 -1989), khi Giáo sư giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Biên tập tạp chí này (Chủ tịch Hội đồng Biên tập là GS Nguyễn Xiển). Vì thế, tôi được Giáo sư cho phép ghi nháp một số trang hồi ký. Bản ghi nháp ban đầu còn vụng về ấy, sau đó, được đích thân Giáo sư sửa chữa và nhuận sắc kỹ để bảo đảm độ trung thực và chuẩn xác tối đa.

Trân trọng giới thiệu một số trang hồi ký của Giáo sư với bạn đọc Báo DVT.vn.

HÀM CHÂU

PHẦN 1

Ngày 9/3/1945, quân đội Nhật đảo chính Pháp, lật đổ bộ máy cai trị của thực dân Pháp ở Đông Dương.

15 ngày sau (24/3/1945), chính quyền Pháp do De Gaulle cầm đầu, lưu vong ở nước ngoài, ra một tuyên ngôn, nói rằng sau chiến tranh, Pháp vẫn sẽ trở lại Đông Dương.

Tháng 8/1945, Nhật đầu hàng các nước Đồng minh. De Gaulle vội vàng cử tướng Leclerc chỉ huy quân đội viễn chinh đi tái chiếm Đông Dương, và cử thủy sư đô đốc d’Argenlieu làm Cao ủy Cộng hòa Pháp ở Đông Dương (tức là toàn quyền Đông Dương, với một nhãn hiệu mới). Chính phủ De Gaulle cử một “quan cai trị thuộc địa” tên là Cédille làm ủy viên Cộng hòa Pháp tại Nam Kỳ (tức là thống đốc Nam Kỳ), và một “quan cai trị thuộc địa” tên là Messmer làm ủy viên Cộng hòa Pháp ở Bắc Kỳ (tức thống sứ Bắc Kỳ).

Lúc đó, Cách mạng Tháng Tám đã thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được thành lập. Tên Cédille nhảy dù xuống vùng Tây Ninh. Tướng Gracey chỉ huy quân đội Anh (được các nước Đồng minh ủy nhiệm giải giáp quân đội Nhật) ra sức giúp Leclerc và Cédille bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược miền nam nước ta. Leclerc huênh hoang tuyên bố sẽ “bình định Nam Kỳ” trong vòng bốn tuần lễ.

Tên Messmer nhảy dù xuống vùng Bắc Ninh, bị dân quân địa phương bắt được, nhưng dân quân vì sơ suất, để nó sổng mất.

Trong thời gian đó, một sĩ quan tình báo Pháp tên là Sainteny, chỉ huy một đơn vị tình báo Pháp đóng ở Côn Minh (tỉnh Vân Nam, Trung Quốc), đi nhờ một máy bay Mỹ đến Gia Lâm, bị quân đội Nhật phát hiện, đưa về Hà Nội, giam lỏng ở phủ toàn quyền.

Một ngày trong khoảng giữa tháng 9/1945, tôi đang làm việc tại 12 Ngô Quyền (trụ sở Bộ Nội vụ, đồng thời là nơi làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh), một đồng chí cảnh vệ gác cổng vào báo cáo có hai người nước ngoài xin gặp một quan chức Việt Nam. Được cho vào, hai người kia nói: “Chúng tôi là hai sĩ quan Pháp, giúp việc ông Sainteny, gặp đại diện của Chính phủ Việt Nam để trao đổi ý kiến về vấn đề quan hệ giữa hai nước”.

Họ nói tiếp: “Ông Sainteny hiện đang ở trong phủ toàn quyền, nhưng quân đội Nhật không cho phép liên lạc với bên ngoài. Hai chúng tôi phải đánh lừa bọn lính Nhật, mới đến được đây. Từ nơi chúng tôi bị giam lỏng, chúng tôi đã theo dõi cuộc mít-tinh ngày 2/9 của các ông, rất đông người dự, nhưng rất trật tự, để lại cho chúng tôi một ấn tượng sâu sắc.”

Tôi ghi tên hai người Pháp, và bảo họ tôi sẽ trả lời sau.

Tôi báo cáo với Bác Hồ và anh Võ Nguyên Giáp (lúc đó là Bộ trưởng Bộ Nội vụ) và nói thêm rằng tôi đã nghe nói về Sainteny: Y là con rể của Albert Sarraut, nguyên toàn quyền Đông Dương; tên thật của y là Jean Roger, và y cũng đã là chủ của một hãng bảo hiểm ở Hải Phòng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Sainteny cùng các đại diện Đồng minh sau lễ ký kết Hiệp định sơ bộ (6/3/1946). Trong ảnh: Người thứ nhất bên trái là GS Hoàng Minh Giám.
(Ảnh: Gia đình GS Hoàng Minh Giám cung cấp)

Bác nói: “Chú Giáp có thể cho anh ta gặp, xem anh ta nói gì”.

Tôi báo cho Sainteny đến gặp anh Giáp, và sau đó, anh Giáp cho biết: “Thái độ của Sainteny là mềm mỏng, nhưng lập trường của anh ta thì không khác lập trường của tuyên ngôn ngày 24/3 của De Gaulle”.

Lúc đó, tình hình rất phức tạp:

1. Ở miền nam, cuộc kháng chiến của đồng bào ta là vô cùng anh dũng, và gây cho địch nhiều khó khăn, nhưng giặc Pháp được thực dân Anh ủng hộ ra sức đẩy mạnh khủng bố, càn quét, lấn chiếm.

2. Ở miền bắc, 180.000 quân Tưởng nhếch nhác, đói khát, bệnh tật, ăn bám, vừa là một gánh nặng, vừa là mối đe dọa. Bọn Việt Nam quốc dân đảng (thường được gọi là “Việt quốc”) và Việt Nam cách mạng đồng minh hội (thường được gọi là “Việt cách”) luôn luôn quấy rối, yêu sách, chống đối.

3. Giữa Tưởng và Pháp có mâu thuẫn rõ ràng: quân đội Tưởng còn ở đó, thì quân đội Pháp không thể kéo vào. Mâu thuẫn giữa Tưởng và Pháp, trên một khía cạnh nào đó, có lợi cho ta; nhưng Bác và Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã thấy trước rằng hai tên kẻ cướp kia, một ngày nào đó, sẽ đi đến dàn xếp với nhau “trên lưng” chúng ta.

Quả nhiên, tháng 1/1946, ta được tin đại diện của Pháp và đại diện của Tưởng đang mặc cả với nhau ở Trùng Khánh.

Thời gian đó, Bác và Sainteny đã bắt đầu có những cuộc gặp nhau. Phải gặp nhau một cách bí mật. Giúp việc Bác, chỉ có tôi. Giúp việc Sainteny, chỉ có Pignon. Chỉ họp buổi tối, sau 20 giờ. Họp trong ngôi nhà hiện nay mang số 38 Lý Thái Tổ, trên một phố vắng người, gần nơi ở của Sainteny và nơi làm việc của Bác. Bảo vệ an toàn và bí mật các buổi họp do phía ta đảm nhiệm.

(Còn nữa)
Theo DVT

dvt.vn

Mùa thu Cách mạng và sự ra đời của một bài hát

Nhiều thế hệ người Việt Nam có lẽ ai cũng thuộc và từng hát “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng” và mỗi khi ngân lên âm hưởng đó, trong mỗi người lại nhớ về Mùa thu Cách mạng, mùa thu năm 1945.

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi quê nhà Nghệ An (Ảnh: tư liệu)

Nhạc sĩ Phong Nhã, tác giả của bài hát đó có lần kể: Bài hát này được viết cuối năm 1945 và chính không khí sục sôi khí thế cách mạng của Mùa thu Tháng Tám lịch sử và công lao trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã tạo nguồn cảm hứng để tác giả viết: “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh…” và để tác phẩm sống mãi với thời gian.

Ngày 2/9/1945, một ngày đã đi vào lịch sử của dân tộc. Bác Hồ ra mắt lần đầu tiên ở Thủ đô Hà Nội và đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, long trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam đã độc lập, người Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập ấy. Với nhạc sĩ Phong Nhã đó là một khoảnh khắc lịch sử, một dấu ấn không bao giời phai.

Ngày 5/9/1945, chỉ sau 3 ngày chính quyền về tay nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho các cháu thiếu nhi với những lời lẽ thật tâm huyết: “Non sông Việt Nam có trở lên vẻ vang hay không. Dân tộc Việt Nam có vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”…

Tiếp đến Tết Trung thu độc lập đầu tiên – ngày 20/9/1945, Người lại viết thư gửi các cháu và căn dặn: Các cháu vào Hội Nhi đồng cứu quốc để “tập làm quen với đời sống chiến sĩ và giúp đỡ một vài việc nhỏ cho Cách mạng…”. Cũng Tết Trung thu năm ấy, Bác còn bày cỗ để đón một số các cháu vào vui Tết Trung thu cùng Bác và được Bác tặng kẹo!

Sự chăm sóc ân cần của Bác đối với thiếu nhi, nhất là với các cháu thiếu nhi nghèo khổ trong những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám đã thấm vào tâm hồn mỗi người Việt Nam, vào tâm hồn nhạc sĩ Phong Nhã. Tất cả những điều đó chính là khởi nguồn ra đời một sáng tác bất hủ, thể hiện tình cảm sâu nặng của thiếu nhi Việt Nam đối với vị Cha già kính yêu của dân tộc.

Thời điểm ấy, mới có ba bài hát về Bác Hồ: “Hồ Chí Minh muôn năm” (Minh Tâm), “Dân Nam ơi nhớ ơn Cụ Hồ” (Lưu Bách Thụ), “Bé yêu già Hồ” (Đỗ Nhuận) và trong suy nghĩ của tác giả, là phải tìm được từ nào đó xưng hô với Chủ tịch Hồ Chí Minh thân mật nhất, kính yêu nhất. Thế là hai tiếng Bác Hồ lần đầu tiên được đưa vào bài hát và được nhấn nhiều lần “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng”, đây cũng là dấu ấn tạo nên sự thành công của bài hát.

Ngày 19/5/1946, lễ kỷ niệm ngày sinh nhật Bác lần đầu tiên được tổ chức tại Hà Nội. Các cháu thiếu nhi Thủ đô đến chúc thọ Bác tại Phủ Chủ tịch (Nhà khách Chính phủ bây giờ). Lần đầu tiên các cháu trình diễn tập thể bài hát “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng” kính tặng Người. Khi Bác nghe đến câu hát: “Bác nay tuy đã già rồi, già rồi nhưng vẫn vui tươi”, Bác cười và nói: “Bác đã già đâu, Bác mới 56 tuổi”! Mọi người đến dự sinh nhật Bác đều vui với lời nói dí dỏm của Bác.

Bài hát “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng” ra đời như vậy. Bài hát đã được chọn là một trong những bài hát hay nhất của thế kỷ XX./.

Minh Hoàng
(website Tổ Quốc)

anninhthudo.vn

Học và làm theo gương Bác là nhiệm vụ thường xuyên của các cấp uỷ, của mỗi cán bộ, đảng viên*

(ĐCSVN)Ngày 17/8, đồng chí Lê Hồng Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng đã tới dự và phát biểu khai mạc Hội nghị quán triệt, triển khai thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị và Kế hoạch 03-KH/TW của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh (khu vực phía Bắc). Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu.

Hôm nay, trong không khí cả nước chuẩn bị kỷ niệm 66 năm Cách mạng Tháng 8 và Quốc khánh 2/ 9, tôi rất vui mừng đến dự và khai mạc Hội nghị cán bộ chủ chốt các đảng ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng các bộ, ngành, đoàn thể Trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy khu vực phía Bắc quán triệt, triển khai thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị và Kế hoạch 03-KH/TW của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, tôi xin gửi tới các đồng chí lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành công.

Tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh là kết tinh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và tinh hoa văn hóa của nhân loại, là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và nhân dân ta, là tấm gương sáng để mọi người Việt Nam học tập và noi theo. Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, Bộ Chính trị (khóa X) đã phát động Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn Đảng và toàn xã hội. Cuộc vận động đã nhận được sự hưởng ứng, sự tham gia tích cực của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhờ đó đã đạt được kết quả bước đầu quan trọng. Kết quả thực hiện Cuộc vận động đã khẳng định: việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vừa có ý nghĩa cấp bách, trước mắt, vừa có ý nghĩa cơ bản, lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Trên cơ sở đó, Đại hội XI của Đảng đã quyết định đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thành nhiệm vụ thường xuyên trong Đảng và xã hội.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội, ngày 14/5/2011, Bộ Chính trị (khóa XI) đã ban hành Chỉ thị 03-CT/TW về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Chỉ thị xác định rõ mục đích của việc tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là: Phát huy kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế trong việc thực hiện Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong thời gian qua, tiếp tục làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức sâu sắc những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh; tạo chuyển biến mạnh mẽ và sâu rộng hơn nữa về ý thức tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn tham nhũng, tiêu cực; góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng. Chỉ thị yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh phải trở thành nhiệm vụ thường xuyên, là trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, của mỗi cán bộ, đảng viên.

Để đạt được mục đích, yêu cầu đó, Bộ Chính trị yêu cầu cấp ủy đảng, trực tiếp là ban thường vụ cấp ủy, đồng chí bí thư cấp ủy phải trực tiếp chỉ đạo thực hiện, không thành lập ban chỉ đạo như trước đây. Ở Trung ương, chỉ đạo việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong toàn Ðảng và xã hội là nhiệm vụ của Ban Bí thư Trung ương Ðảng và đồng chí Tổng Bí thư; trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo đòi hỏi phải đồng bộ, chặt chẽ, kết hợp việc tổ chức học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, các cuộc vận động và các phong trào đang triển khai trong Đảng và trong xã hội; kết hợp giữa xây và chống với đẩy mạnh thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng.

Căn cứ vào nội dung Chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương đã ban hành Kế hoạch số 03-KH/TW, xác định các công việc cần thực hiện trong nhiệm kỳ khóa XI của Đảng, tập trung vào 8 nhóm công việc cụ thể:

Một là, tiếp tục tổ chức học tập tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, bao gồm cả việc học tập và làm theo tác phong, phong cách của Bác, thể hiện cụ thể trong công việc thường ngày, trong quan hệ với nhân dân, đồng chí, đồng nghiệp… Đặc biệt nhấn mạnh việc làm theo qua những hành vi thiết thực, cụ thể.

Hai là, tiếp tục xây dựng và tổ chức thực hiện những chuẩn mực đạo đức theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, phù hợp với đặc điểm hoạt động của từng ngành, từng địa phương, cơ quan, đơn vị trong giai đoạn hiện nay.

Ba là, quy định rõ trách nhiệm tự giác đi đầu, gương mẫu của cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu các cấp, của cán bộ, đảng viên. Xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên.

Bốn là, đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào sinh hoạt thường xuyên của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể. Xây dựng và tổ chức thực hiện tốt chương trình hành động của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị; chương trình tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Lấy kết quả học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một trong những tiêu chuẩn đánh giá, bình xét, phân loại đảng viên, tổ chức đảng hằng năm.

Năm là, tiếp tục chỉ đạo việc biên soạn chương trình, giáo trình về đạo đức Hồ Chí Minh để giảng dạy ở các cấp học, bậc học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở các học viện, trường chính trị, trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp.

Sáu là, coi trọng việc giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ. Cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp có biện pháp cụ thể để tổ chức, chỉ đạo thực hiện tốt việc giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ theo tấm gương đạo đức Bác Hồ.

Bảy là, định kỳ tổ chức kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết, phát hiện và biểu dương các điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Phê bình, uốn nắn các nhận thức lệch lạc, những việc làm thiếu gương mẫu, nói không đi đôi với làm. Đấu tranh với các quan điểm sai trái, các biểu hiện quan liêu, tham nhũng, lãng phí.

Tám là, tiếp tục đẩy mạnh việc tuyên truyền về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, về các điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ bằng nhiều hình thức phong phú và sinh động.

Ban Tuyên giáo Trung ương, cơ quan được Bộ Chính trị giao là thường trực thực hiện nhiệm vụ này, đã ban hành hướng dẫn số 12- HD/BTGTW để triển khai thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, Kế hoạch của Ban Bí thư. Sau đây, lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương sẽ trình bày cụ thể hơn với Hội nghị về những nội dung quan trọng của các văn bản, cũng như hướng dẫn về việc tổ chức triển khai thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, Kế hoạch của Ban Bí thư.

Thực hiện thắng lợi Chỉ thị của Bộ Chính trị, để đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành công việc thường xuyên trong Đảng và xã hội, có vai trò và tác động lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, trực tiếp góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng trong những năm tới. Nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức và triển khai thực hiện có kết quả Chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị cán bộ chủ chốt các cơ quan, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương để quán triệt và triển khai thực hiện, chia làm hai khu vực. Hội nghị khu vực phía Nam đã tổ chức ngày 12/8/2011 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hội nghị của chúng ta hôm nay là Hội nghị thứ hai dành cho các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc và các đảng ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng các bộ, ngành, Mặt trận, đoàn thể ở Trung ương.

Để hội nghị có kết quả thiết thực, tôi đề nghị các đồng chí nghiên cứu, quán triệt kỹ mục đích, yêu cầu và các nội dung cơ bản trong Chỉ thị của Bộ Chính trị và Kế hoạch thực hiện của Ban Bí thư; trao đổi, thảo luận về trách nhiệm của Ban cán sự đảng, đảng đoàn, thường vụ cấp ủy các cấp trong thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, Kế hoạch của Ban Bí thư; các nhiệm vụ, phương thức chủ yếu để triển khai Chỉ thị có hiệu quả; góp phần nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Tôi tin rằng, với nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, với trách nhiệm trước Đảng và nhân dân, nhất định Chỉ thị của Bộ Chính trị, Kế hoạch của Ban Bí thư sẽ được các cấp ủy, tổ chức Đảng thực hiện có kết quả tốt./.

——————–
* Đầu đề do Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đặt

cpv.org.vn

Người đánh xe ngựa đưa Nguyễn Tất Thành về trường Dục Thanh

Báo tin tức – Một sự kiện bất ngờ và xúc động không chỉ riêng cho gia đình ông Võ Huy Quang, mà cho những nhà nghiên cứu, cho tất cả chúng ta vốn yêu kính và rất quan tâm đến ai phát hiện thêm tư liệu mới về cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ.

Chân dung ông Võ Văn Trang (1890 -21/9/1969).

Nhân kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 -5/6/2011), được phép của gia đình ông Võ Huy Quang, chúng tôi xin công bố một đoạn ghi chép viết tay của cụ Võ Quang Miệng (Võ Văn Trang) là ông nội của Võ Huy Quang viết ngày 19 tháng 8 năm 1910 tại Bình Thuận, có liên quan đến việc người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, trước khi đến dạy học ở trường Dục Thanh (Phan Thiết), góp phần nối thêm cuộc hành trình Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước.

Cụ Võ Văn Trang, sinh năm 1890 tại làng Thuận Điền, xã Hàm Liêm, huyện Hàm Thuận (nay là Hàm Thuận Bắc) tỉnh Bình Thuận, là hội viên công ty nước mắm Liên Thành tại thị xã Phan Thiết được thành lập từ năm 1906, theo gợi ý của chí sĩ Phan Châu Trinh, do các ông Nguyễn Quý Anh, Nguyễn Trọng Lội (con trai nhà thơ yêu nước Nguyễn Thông) cùng các sáng lập viên khác như Hồ Tá Bang, Nguyễn Huệ Chi, Trần Lệ Chất,v.v… ít năm sau đó Liên Thành chuyển cơ sở sản xuất vào Sài Gòn.

Nhà nghiên cứu Võ Huy Quang – tử tù Côn Đảo – trong quá trình sưu tầm tư liệu để dựng lại bộ gia phả họ Võ của mình, cơ duyên xui khiến (hay ông nội mách bảo) ông tò mò tìm xem hai bìa (bìa hai lớp) của quyển “Võ gia khảo ký”, 1906 do ông nội ghi chép để lại. Vô cùng bất ngờ và sung sướng, ông Quang phát hiện một mảnh giấy vàng úa và chính là chữ của ông nội mình viết, có ghi ngày tháng năm và ký tên. Nước mắt ông trào ra. Ngưng một lát lấy lại bình tĩnh, lòng nghĩ thầm chắc là có điều gì tâm huyết hệ trọng lắm ông nội mới cất giấu kỹ như vậy? Mảnh giấy nhỏ chỉ chứa 74 chữ và số nhưng quý giá vô cùng (có bản kèm theo), nguyên văn như sau :

“Sáng ngày 19 tháng 8 năm 1910, tôi được chú Nguyễn Trọng Lội, chú Nguyễn Huệ Chi và chú Hồ Tá Bang trong Hội đồng quản trị của Thương quán Liên Thành, những người sáng lập ra Hội giáo dục Thanh niên thể dục thể thao gọi là Dục Thanh, cơ sở kinh tế Hội quán Liên Thành… Đưa xe ngựa đến chùa Phước An ở xứ Duồng, Gành Son gặp cụ Nghè Mô và sư thầy Tạ thủ Bửu Hữu Hiền để đưa một thầy giáo về dạy học ở trường Dục Thanh Phan Thiết.
Bình Thuận, ngày 19 tháng 8 năm 1910
Võ Văn Trang (ký tên)”

Bản viết tay này đã được Viện Khoa học hình sự thuộc Tổng cục cảnh sát PCTP (Bộ Công an) giám định và kết luận “là do cùng một người viết ra” tại Công văn số: 04-CV/C54-P5 “v/v trả lời kết quả giám định”, ngày 22 tháng 3 năm 2011 do Thiếu tướng PGS.TS Ngô Tiến Quý, Viện trưởng ký tên và đóng dấu.

Ngày 19/5/2011, Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Bình Thuận đã tổ chức trọng thể lễ trao nhận hiện vật “Bức thư” có nội dung liên quan đến sự kiện thầy giáo Nguyễn Tất Thành (Bác Hồ) dừng chân dạy học tại trường Dục Thanh – Phan Thiết – do ông Võ Huy Quang trao tặng.

Ông Võ Văn Trang còn là người cất giữ 9 (chín) đồng bạc Đông Dương do chính tay thầy giáo Nguyễn Tất Thành gửi trả bớt lại cho Liên Thành lúc chia tay .

Số là một ngày vào tháng 3 năm 1911 thầy giáo Nguyễn Tất Thành vào Sài Gòn. Trước khi thầy Thành ra đi, ông Nguyễn Quý Anh, phụ trách phân cuộc Liên Thành thương quán ở Sài Gòn, chỉ đạo ông Phạm Phú Hữu (cháu nội quan đại thần triều đình Huế Phạm Phú Thứ) chi 27 (hai mươi bảy) đồng bạc Đông Dương để trao cho Nguyễn Tất Thành làm lộ phí. Nhận tiền, Nguyễn Tất Thành do dự một hồi rồi chỉ nhận 18 (mười tám) đồng còn 9 đồng gửi lại. Thấy vậy ông Võ Văn Trang với lòng xúc động và kính trọng đã nhận giữ và gửi trả lại bằng 9 đồng bạc giấy cho ông Phạm Phú Hữu nộp vào quỹ Liên Thành thương quán.

Được biết, sau khi nghe hung tin Bác Hồ qua đời (3/9/1969), cụ Võ Văn Trang cùng tuổi và rất thương yêu quý trọng Bác Hồ đã vô cùng đau buồn, bỏ cả ăn uống, rồi nhịn ăn đến chết lúc 2 giờ sáng ngày 21//9/1969 trong căn hầm tránh pháo trong ấp chiến lược Tân Phú Xuân, huyện Hàm Thuận (Bình Thuận).

Nguyễn Thanh Bền (Ghi theo tư liệu của gia đình ông Võ Huy Quang)

baotintuc.vn

Hành trình sáng tạo tiểu thuyết “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng

images_05.Nhà văn Sơn Tùng cho biết, những gì viết trong “Búp sen xanh” chỉ là sự hé mở một phần về mối tình của bà Lê Thị Huệ, một người đã nguyện dành cả cuộc đời mình chờ đợi một thần tượng đã có sức toả sáng, lay động đến tận cùng tâm hồn mình.Hôm ấy, nhà văn Sơn Tùng bị vết thương hành hạ, những mảnh đạn trong đầu cựa quậy, các vết thương lại rỉ máu.

Ông phải nằm dưỡng sức ngay trên tấm phản, cạnh những giá sách có hàng ngàn cuốn sách về văn hoá đông tây, kim cổ.

Tôi ngồi bên, cầm lấy bàn tay mà các ngón đã co quắp lại vì mảnh đạn kẻ thù, lắng từng tiếng ông đều đều, thủ thỉ:

– Bác đã chuẩn bị đầy đủ tư liệu… Cố gắng để chống lại vết thương hoành hành và viết cho bằng được tiểu thuyết ” Bông Huệ trắng”…

Giọng ông như từ xa vắng dội về. Đôi mắt ông hướng vào trong, mạch hồi tưởng thức dậy cái chuỗi ngày ngót 60 năm về trước: Hồi ấy ông công tác tại Tỉnh đoàn Nghệ An, thường đến gặp bà Nguyễn Thị Thanh và ông Nguyễn Sinh Khiêm (chị gái và anh trai Bác Hồ) để tìm hiểu tư liệu.

Lúc đầu còn chưa biết gì về hoàn cảnh gia đình của Bác, nên hỏi mon men từ ông nội bà nội, sang ông bà ngoại và những bước thăng trầm của gia đình Bác Hồ trong tuổi ấu thơ cũng như những mối quan hệ để từ đó hình dung về mạch nguồn đã tạo nên nhân cách và thiên tư của Người.

* * *

Có một điều băn khoăn từ rất lâu, khi đã trở nên gần gũi và được tin cậy, chọn một thời điểm thích hợp, nhà văn Sơn Tùng hỏi bà Nguyễn Thị Thanh:

– O ơi, cháu có điều này xin được hỏi O, mong o hiểu … cháu muốn được thấu rõ những điều…

Bà Thanh tiếp lời:

– Cháu cứ hỏi, không phải e ngại, miễn là điều đó có thể nói được với cháu thì O sẽ nói .

Sau phút do dự, nhà văn thổ lộ điều tâm sự của mình:

– Cháu biết điều này không dễ gì… Nhất là lại hỏi với người bề trên… Nhưng mong O xá lỗi và cho cháu biết… Tại sao ba chị em O lại đều không xây dựng gia đình? Có gì ẩn khuất sau chuyện này không hả O?

Bà Thanh quay nhìn ra khu vườn xanh. Ngọn gió chiều lao xao trên tàu lá. Đôi mắt bà trở nên hoang vắng. Bà im lặng. Một niềm im lặng thẳm sâu mà như nói lên biết bao điều. Lúc sau bà cất giọng trầm, nén bên trong những rung cảm mãnh liệt:

– Hoàn cảnh nhà O… – Bà Thanh kìm một tiếng thở dài – Biết bao gian khó hiểm nghèo… Có nói ra cháu chưa chắc đã hình dung hết được… Cậu Thành thì đi xuất dương tìm con đường cứu nước. O và cậu Khiêm bị đi đày. Cậu Khiêm bị thực dân Pháp tra tấn dã man và tìm cách triệt nòi giống bằng cách tiêm thuốc… Khi ra tù thì tuổi đã cao, có những nỗi niềm u uẩn…

Bà Thanh như nghẹn lại, mắt ứa lệ:

– O đã già, không dễ gì ngồi nói lại những chuyện này với một người trẻ tuổi như cháu. Nhưng biết cháu là một người có thể thấu hiểu thì o mới nói- Cũng như cậu Khiêm, O cũng bị kẻ thù tra tấn dã man. Cháu có tưởng tượng được không? Chúng nung đỏ chiếc mâm đồng… Một chiếc mâm đồng nung đỏ mà chúng bắt O ngồi lên đó… Một nỗi đau đớn đến tận cùng xuyên sâu từ da thịt vào xương tủy… Nhiều ngày sau đó O không đi lại được… Vết bỏng đã làm biến dạng cả cơ thể, xoắn vặn cả tâm hồn O. Vậy thì, làm sao O có thể có gia đình được nữa…

Nhà văn Sơn Tùng lặng lẽ nhìn người chị gái của Bác Hồ. Dường như O Thanh vừa trải qua một cơn rùng mình. Chẳng biết nói gì hơn, ông kiên nhẫn đợi cho đến lúc bà Thanh bình tâm trở lại, giọng bà vẫn trầm trầm nhưng đã qua cơn ức nghẹn dần trở nên man mác:

– Tuổi xuân của O suy nghĩ về công việc cứu nước. Noi gương cụ Phan Bội Châu bỏ gia đình mà đi bôn ba hải ngoại… Hồi ấy O cũng có những đám hỏi. Cha O cũng đánh tiếng… Có một đám bên Hà Tĩnh… Người ta đã mang lễ vật đến… Nhưng O đội mâm đi trả. Một thời gian sau, cha O bị huyền chức đi luôn vào xứ Nam kỳ. Cậu Khiêm sau một thời gian hoạt động thì bị bắt…

Cậu Thành gác việc riêng lại để lo cứu nước. Khi cậu đi xuất dương O không biết. Chỉ biết trước đó cậu đã vào Phan Thiết, dạy ở Trường Dục Thanh, chỗ ông Hồ Tá Bang- người thân thiết của cha O hồi ở Huế.

Hồ Tá Bang làm ký lục tại Phan Thiết, đồng thời là sáng lập viên công ty nước mắm Liên Thành và Trường Dục Thanh. Trường Dục Thanh có nhiều thầy giáo là người khoa bảng có tư tưởng tiến bộ.

Cậu Khiêm ra tù năm 1920, và O đến năm 1922 cũng mới được ra, nhưng cả hai chị em đều bị quản thúc. Tin tức về những người thân trong gia đình đều bặt hết.

Mãi đến năm Kỷ Tỵ 1929, O đang bị quản thúc ở Kim Luông thì nhận được giây thép (bức điện) của gia đình cụ Hồ Tá Bang từ Sài Gòn ra, báo cho biết cha O đã qua đời tại xã Hoà An, Huyện Cao Lãnh, Sa Đéc. Và thế là O lo liệu vượt mọi khó khăn để vào hộ tang cha.

Hồi ấy vào Nam cũng giống như đi sang một nước khác. Không biết bao nhiêu là khó khăn chồng chất. Khi O vào đến nhà số 3, đường Ông Đốc Phương, có người của cụ Hồ Tá Bang dẫn O lên Gò Vấp.

Đó là một vùng mênh mông và hoang vu, trại cày của cụ Diệp Văn Cương (cha của nhà báo Diệp Văn Kỳ). Người ở đây nói hãy đợi Lê Thị Huệ lên dẫn O xuống Cao Lãnh. O muốn tự đi nhưng mọi người không đồng ý. O hỏi:

– Huệ nào?

Thì được trả lời: Đó là học trò của cụ phó bảng Sắc từ thời ở Huế.

Sau đó thì Lê Thị Huệ lên đưa O xuống mộ cha. Huệ kém cậu Thành vài tuổi. Gặp O, Huệ khóc. Lúc đó Huệ để tang cho cha O. O ở lại đó cho đến 49 ngày, tạ ơn những người lo tang cho cha O (phần nhiều trong số họ là học trò của cha O).

Trong thời gian đó, trò chuyện với Huệ, chị em hiểu nhau, và O mới biết Huệ là người thương của cậu Thành. Hai người đã có một tuổi thơ gắn bó từ hồi ở Huế. Cha Huệ làm bên bộ Công. Huệ mất mẹ. Thành cũng mồ côi mẹ. Cha O thì không tục huyền. Cha Huệ sau tục huyền với một người phụ nữ Huế, bà ta đanh đá, cảnh nhà không vui.

Khi vua Thành Thái bị đi đày, các quan dưới triều Thành Thái đều bị thuyên chuyển. Cha O vào Bình Khê, rồi vào lục tỉnh. Cha Huệ cũng bị thuyên chuyển, thế là Huệ với cậu Thành xa nhau…

Khi từ Phan Thiết vào Sài Gòn cậu Thành có gặp lại Huệ…

Huệ cũng cho biết, một lần cậu Thành có thư về. Thầy (cha O) gọi Huệ đến và cho biết. Khi đó cha O đang ở chùa, cắt thuốc giúp dân, một thời gian sau mới xuống hẳn Cao Lãnh.

Sau những lần trò chuyện, cuối cùng O dò hỏi xem Huệ sẽ tính liệu thế nào khi cậu Thành thì biền biệt bên trời Tây. Huệ nói với O, không giấu được xúc động: ” Có khi em đợi… Không đợi được thì em sẽ vào chùa…” .

O nắm lấy bàn tay Huệ không nói được gì. Sau đó thì O trở ra Bắc. Từ đó, O không còn gặp lại Huệ nữa. Mọi chuyện sau này ra sao O không được rõ…

Bà Thanh nhấn từng tiếng:

– Sau này yên hàn, nam bắc thông thương, cháu còn trẻ, nếu có dịp vào đàng trong, vào chỗ mộ cha O thì có thể lần ra được…

* * *

Chiến tranh liên miên. Cuộc sống bộn bề công việc trên các nẻo đường công tác. Năm 1967, đang làm phóng viên mặt trận dẫn đầu một tổ phóng viên cắm từ Thanh Hoá, Nghệ An đến Quảng Bình, Vĩnh Linh… ông (Sơn Tùng) được điều động lên Hà Giang để tổ chức mạng thông tín viên cho báo Tiền Phong và vận động bà con ở đây bỏ hút thuốc phiện.

Công việc đang tiến triển tốt thì ông lại được gọi về Hà Nội giao nhiệm vụ vào Nam lập báo Thanh niên giải phóng. Giữa lúc ấy ông nhận được tin bom Mỹ đánh vào cầu Giát, nơi vợ con ông đang sinh sống cả gia đình phải sơ tán, nhà cửa xóm làng tan hoang và tin em trai ruột của ông là Bùi Sơn Thanh hy sinh ở chiến trường Do Hải, Quảng Trị.

Vậy mà không một chút lưỡng lự, ông nhận nhiệm vụ và gấp rút chuẩn bị lên đường đi B.

Ngoài việc thực hiện những nhiệm vụ được giao, trong ông còn có một dự định không hé hở với một ai: Vào Nam, khi có cơ hội, sẽ tìm cho được Lê Thị Huệ và tìm hiểu thêm về những ẩn tích thời tuổi trẻ của Bác Hồ.

Đi bộ gần sáu tháng vượt Trường Sơn ông vào đến Nam Bộ. Báo Thanh niên giải phóng đóng ở Tây Ninh. Chiến tranh ác liệt, chưa có điều kiện xuống được Cao Lãnh. Một hôm có anh Lâm Văn Tẩy phụ trách Đoàn TNND Cách mạng từ Cao Lãnh lên, ông hỏi chuyện…

Anh Tẩy cho biết: Mộ cụ Nguyễn Sinh Sắc trước đây ở miếu Trời Sanh. Lính Sài Gòn định phá, nhưng hàng trăm người vây xung quanh mộ cụ Nguyễn Sinh Sắc, ngăn chặn hành động độc ác vô tri của chúng.

Một cuộc xô xát lớn xảy ra, 71 người đã bị thương nhưng tinh thần đấu tranh của người dân mỗi lúc một cao, cuối cùng chúng đành phải rút lui.

Năm 1971 nhà văn Sơn Tùng bị thương nặng, phải cáng ra miền Bắc. Ngoài nỗi buồn vì mang thương tật, mất 81% sức khoẻ, 3 mảnh đạn còn nằm trong hộp sọ, mắt chỉ còn 1 phần 10, hai bàn tay chỉ còn 3 ngón không co quắp và nhiều vết thương khác, trong lòng nhà văn Sơn Tùng có một nỗi buồn khác là việc tìm kiếm Lê Thị Huệ và những khát vọng sáng tác từ lâu ôm ấp càng trở nên xa vời hơn.

Nhưng ý chí đã giúp ông vượt qua thử thách ngặt nghèo nhất. Năm 1972, sau khi xin rút ngắn thời gian chữa bệnh từ Trung Quốc trở về, ông rèn luyện kiên trì và dần dần khắc phục tàn phế, dấn thân vào sáng tác.

Tháng chạp năm ấy, B52 đánh vào Khâm Thiên ông vẫn xông xáo, không quản nguy nan, là một trong những người đầu tiên đến tận hiện trường viết bài như lúc còn ở ngoài mặt trận.

* * *

Giải phóng Sài Gòn, giữa lúc mọi việc đang bề bộn, đầy bất trắc, ông xin giấy giới thiệu của Bộ Văn hoá, bán cả đồ dùng riêng tư để có tiền trở lại miền Nam tìm tư liệu về Bác Hồ, về cụ Nguyễn Sinh Sắc và bà Lê Thị Huệ.

Vào đến Cao Lãnh, nhà văn Sơn Tùng trú tại nhà ông Nguyễn Thành Mậu, Chủ tịch UBMT Giải phóng Tỉnh Sa Đéc, em ruột ông Nguyễn Thành Tây- một học trò của Nguyễn Tất Thành hồi còn ở Phan Thiết. Biết nhà văn vào tìm tư liệu về cụ Sắc, mọi người ai cũng hết sức vui mừng và yêu quý.

Từ những đầu mối mà ông Nguyễn Thành Mậu cho biết, nhà văn Sơn Tùng quay về Sài Gòn, tìm đến số 58C phố Cao Thắng, nhà của dược sư Hồ Tường Vân- Tổng thư ký Hội chữ thập đỏ của miền Nam, con gái cụ Hồ Tá Bang.

Sau đó tìm đến nhà 52 phố Bàn Cờ, nhà của bà Hồ Thị Liệt, chị gái của bà Hồ Tường Vân. Dược sư Hồ Tường Vân và bà Hồ Thị Liệt cho nhà văn biết thêm nhiều điều về bà Lê Thị Huệ.

Sau đó nhà văn Sơn Tùng tìm được nhà người cháu của bà Huệ và được đưa đến gặp bà Lê Thị Huệ trong một ngôi chùa cách Sài Gòn khá xa, trên đường đi Vũng Tàu.

Lúc đầu bà Huệ từ chối. Bà nói:

– Tôi làm sao có quan hệ với gia đình cụ Hồ được… Khéo người ta lại bảo tôi thấy sang bắt quàng làm họ…

Nhưng nhà văn Sơn Tùng vẫn rất kiên nhẫn thuyết phục. Ông tặng bà Huệ cuốn sách của mình viết về Bác Hồ có tên Nhớ nguồn do NXB phụ nữ vừa ấn hành và ảnh nhà văn được chụp cùng với Bác Hồ cũng như trình bày niềm mong ước gặp bà từ khi được O Nguyễn Thị Thanh kể hồi năm 1948.

Sau một khoảng lặng, nét mặt bà Huệ thay đổi. Bà trở nên thân tình hơn:

– Ông đã nói vậy và qua những gì tôi biết và cảm nhận về ông, tôi tin ông nói thật. Chắc ông cũng hiểu, có những kẻ xưng là người này người nọ nhưng sự thật thì không phải… Bây giờ tôi hỏi ông, xin ông cho tôi biết… Cụ Hồ đã qua đời thật hay chưa? Hay có chuyện gì …?

Bà Huệ lặng lại giây lát, gương mặt không giấu sự xúc động. Nhà văn Sơn Tùng không hiểu điều gì đang diễn ra trong tâm cảm của Bà Lê Thị Huệ. Chắc phải có một chuyện gì… một chuyện gì đây… khiến bà nghi ngờ…

Không phải đợi lâu, bên tai nhà văn giọng bà Huệ lại rành rọt:

– Khi anh Diệp Văn Kỳ nhận được thư cụ Hồ mời qua anh Hồ Tá Khanh (con cụ Hồ Tá Bang), anh Kỳ lại là bạn thân của Nguyễn Tất Thành… Vậy mà, anh Kỳ ra đến Lái Thiêu thì bị bắn chết. Từ đó, mất luôn mọi liên lạc với cụ Hồ.

Bà Huệ nhấn từng tiếng:

– Nói thật, tôi rất sợ liên quan đến chính trị. Tôi sợ ông đi thử nhân tâm. Với lại, có những điều đáng suy nghĩ lắm, sao có nhiều người tự xưng là người cách mạng, giải phóng mới có mấy tháng mà đã tranh nhau nơi ở… đã đối xử với nhau thiếu tình nghĩa con người…

Nhà văn Sơn Tùng thưa với bà Huệ:

– Cụ là một người tu hành, chắc cụ thấu hiểu rằng người đi tu rất nhiều, nhưng không phải ai cũng có thể thành Phật… Trong đội ngũ những người của cụ Hồ cũng có người thế này, thế khác…

Bà Huệ cười. Một nụ cười khô héo:

– Ông nói vậy, tôi cũng biết vậy. Qua những gì ông nói, tôi nhận thấy ông gần gũi với nhiều người trong gia đình cụ Hồ. Ông thực lòng muốn biết thì tôi nói để ông hiểu được cụ Hồ thời đó… – Giọng bà Huệ trở nên âm trầm, ẩn tàng bên trong niềm rung động thiêng liêng, nỗi xao xuyến mênh mông – Nguyễn Tất Thành là một thần tượng của tôi thời trẻ.

Cũng như Lục Vân Tiên với Kiều Nguyệt Nga… Cảnh ngộ chúng tôi đều mất mẹ… Qua những năm tháng sống gần nhau từ hồi ở Huế… có những kỷ niệm vô cùng đẹp đẽ… Chắc ông cũng hiểu rằng, Nguyễn Tất Thành phải có một cái gì đó thì tôi mới có thể chờ đợi và tôn thờ suốt cả cuộc đời mình…

Đôi mắt bà Lê Thị Huệ gợn lên một ánh buồn da diết.

– Sau này, khi anh Thành đi rồi… Tuổi trẻ của tôi u ám buồn và ngập chìm thương nhớ. Tôi mong ngóng chờ đợi một con người ở tận bên kia trái đất. Không gì có thể tả được cái nỗi lòng ngày ấy… Thỉnh thoảng anh Diệp Văn Kỳ gặp tôi có nói cậu Thành vẫn hoạt động bên Paris…

Bà Huệ lại lặng đi. Đợi lúc bà bình tâm trở lại, trước lúc chia tay, nhà văn Sơn Tùng thưa với bà:

– Từ những gì cụ nói hôm nay, cháu xin cụ được viết thành bài báo…

Bà Lê Thị Huệ nhìn thẳng vào nhà văn, vẫn giọng nhỏ nhẹ nhưng rành rọt:

– Không nên! Sau này tôi qua đời, ông có viết gì thì viết, nhưng đừng để người thời nay và cả sau này hiểu sai về chúng tôi ngày đó… Còn bây giờ thì không nên…

– Nhưng thưa cụ, cháu nghĩ, tình cảm của cụ với Nguyễn Tất Thành là một câu chuyện đẹp đẽ. Nguyễn Tất Thành vì việc Nước mà phải gác lại tình riêng, bôn ba khắp năm châu bốn biển tìm cho bằng được con đường giải phóng dân tộc.

Khi giành được Nước rồi, vẫn không xây dựng gia đình… Đến tận phút cuối cùng của cuộc đời cao cả ấy vẫn luôn nghĩ về miền Nam ruột thịt… Còn cụ, cụ vẫn giữ trọn vẹn mối tình trong trắng của mình qua bao thăng trầm của đời người, bao biến thiên của thời thế… Đó là một tấm gương lớn để giáo dục thanh niên, giáo dục con cháu ta cho mãi về sau…

Bà Huệ lắng nghe rồi lại từ tốn cất lời:

– Ông nói cũng phải, nhưng ông mới nói những điều thuận. Mà đời thì đâu chỉ có những cái thuận… Nếu ông viết, người ta sẽ nói là tôi điên. Một bà già sắp chết, đã đi tu để quên hết chuyện đời… Vậy mà bây giờ thấy người của Giải phóng đến lại còn kể về mối tình đầu để kiếm chác…

Sau buổi chia tay ấy với bà Huệ nhà văn Sơn Tùng giữ mãi lời nguyền: Sẽ không viết gì về mối tình này khi cụ đang còn sống.

***

Năm 1980 cụ Lê Thị Huệ qua đời. Năm 1981 Nhà văn Sơn Tùng bắt tay vào viết tiểu thuyết “Búp sen xanh” về thời tuổi trẻ của Bác Hồ. Trong tiểu thuyết này có nhân vật út Huệ và mối tình trong trắng không cất nên lời.

Cuốn sách này đến nay trở thành một trong những tiểu thuyết có lượng ấn hành lớn nhất ở nước ta với hơn nửa triệu bản. Tuy nhiên thời kỳ đó, có những quan điểm khác nhau về nhân vật út Huệ…

Thủ tướng Phạm Văn Đồng sau khi đọc xong “Búp sen xanh” đã mời nhà văn Sơn Tùng lên trò chuyện thân mật. Thủ tướng có hỏi về nhân vật út Huệ…

Và chính Thủ tướng đích thân viết lời tựa cho “Búp sen xanh” khi tái bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, vì những lý do tế nhị, đầu năm 2005 lời tựa này mới được công bố. Trong lời tựa có đoạn: “Cuốn sách “Búp sen xanh” nêu lên một vấn đề: ở đây tiểu thuyết và lịch sử có thể gặp nhau không? Vấn đề này các đồng chí hoạt động trong lĩnh vực văn học nghệ thuật và nói chung tất cả chúng ta cần suy nghĩ để có thái độ. Song ở đây cũng vậy, lời nói có trọng lượng rất lớn thuộc về người đọc, nghĩa là nhân dân”.

Nhà văn Sơn Tùng cho biết, những gì trong “Búp sen xanh” chỉ là sự hé mở một phần… Đó là lý do tại sao ông còn phải viết cuốn “Bông Huệ trắng”. Cuốn sách sẽ là một bản tình ca vô cùng trong trắng và thiêng liêng về mối tình của một con người đã nguyện dành suốt cả cuộc đời mình chờ đợi một thần tượng đã có sức toả sáng, lay động đến tận cùng tâm hồn mình. Người đó là Lê Thị Huệ…

Theo Tiền Phong Chủ Nhật

Hoàng Nhật Minh @ 12:37 05/04/2011

Giới thiệu tiểu thuyết “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng

Nhà văn Sơn Tùng sinh năm 1928, tại làng Hoa Luỹ (nay là Kim Luỹ), Diễn Châu, Nghệ An, một vùng đất ngay bên bờ biển. Sơn Tùng lớn lên trong cộng đồng dân chài lấy thuyền làm nôi và tiếng sóng vỗ bờ làm lời ru của mẹ. Chính cái mênh mông, phóng khoáng của biển cả đã hun đúc nên khí phách phóng túng pha chút ngang tàng của Sơn Tùng. Nhưng “gã thuyền chài” ấy lại được giáo dưỡng trong một gia đình nhà nho nghèo có truyền thống “trọng chữ hơn trọng miếng ăn”.

Nhà văn Sơn Tùng được phong Anh hùng lao động – Ảnh T.T. Sơn (dantri.com.vn)

Năm 1941, ở tuổi 16, tràn đầy nhiệt huyết, Sơn Tùng đeo ba lô hoà vào dòng chảy của cơn lốc cách mạng. Ban đầu ông hoạt động trong phong trào thanh niên, sinh viên thủ đô. Sau khi Hà Nội giải phóng, Sơn Tùng vào học tại trường Đại học nhân dân và sau đó trở thành cán bộ tuyên truyền của Đảng. Năm 1961 ông về viết cho báo Nông nghiệp và từ cuối năm 1962 là phóng viên của báo Tiền phong. Năm 1967 ông được điều vào Nam thành lập và phụ trách tờ Thanh niên giải phóng. Năm 1971 ông bị thương nặng và rời chiến trường miền Nam mang trên mình 14 vết thương, 3 mảnh đạn còn găm trong sọ não. Nửa người bên phải hầu như bị liệt, thần kinh chéo bị tổn thương nặng, mắt bên phải bị mờ. Ông được đưa sang Trung Quốc chữa bệnh và được vào viện điều dưỡng 3 năm liền. Sau đó ông xin về nhà và … luyện khí công. Với nghị lực phi thường, ông khổ luyện từ 2h sáng tới 8h tối, sức khoẻ ông dần dần bình phục. Trí nhớ cũng hồi phục dần. Khi tay phải duỗi ra được, chân tập tễnh bước thấp bước cao, Sơn Tùng đã lao vào công việc. Điều đầu tiên mà ông làm là truy tìm cho được tác giả của lá Quốc kỳ mà trong những năm tháng ở chiến trường miền Nam ông đã dày công tìm kiếm. Hàng chục chuyến đi, hàng ngàn giờ lao tâm khổ tứ, cuối cùng ông đã tìm ra được cho chúng ta tác giả Quốc kỳ: Nguyễn Hữu Tiến.

Một đời viết có duyên, đôi khi, chỉ cần để lại cho đời một câu thơ, một đầu sách, đã là đáng tự hào. Với Sơn Tùng, lẽ dĩ nhiên, ông để lại nhiều hơn thế, dù nhắc đến ông, điều đầu tiên người ta nhắc đến hẳn nhiên là ba chữ Búp sen xanh – một cuốn sách đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong ký ức của nhiều thế hệ bạn đọc bởi những trang viết kỹ lưỡng, chân tình, xúc động. Không chỉ “Búp sen xanh”, ông còn quyết dành trọn cả đời viết của mình cho đề tài gan ruột: Hồ Chí Minh, với cả chục đầu sách: Nhớ nguồn, Kỷ niệm tháng năm, Bông sen vàng, Trái tim quả đất, Bác về, Từ làng Sen, Hẹn gặp lại Sài Gòn, Hoa râm bụt, Sáng ánh tâm đăng, Bác ở nơi đây, Chuyện Bác Hồ cả trăm năm chưa hề thấu ngọn nguồn…

Với sự cố gắng phi thường, bất chấp bệnh tật, vết thương đau nhói hành hạ mỗi khi trái gió trở trời, từ năm 1974 đến 1990 ông đã cho ra đời 13 cuốn sách bằng tay phải chỉ còn 3 ngón co quắp. Tuy nhiên, công bằng mà nói, đề tài mà Sơn Tùng thể hiện thành công nhất vẫn là đề tài lãnh tụ, mà đỉnh cao là Búp sen xanh. Đây cũng là công trình mà ông bỏ ra nhiều thời gian và công sức nhất: bắt đầu từ năm 1948 và hoàn thành vào năm 1980. Bằng những chuyến đi không biết mệt mỏi, những cuộc tìm kiếm kiên trì, cuối cùng ông đã gặp được bà Lê Thị Huệ để rồi từ những câu chuyện với bà Huệ ở tuổi 80 ông đã tái dựng lại một trong những quãng đời gian khó, nhưng đẹp đẽ và thơ mộng nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phát hiện của Sơn Tùng đã mở ra một bước ngoặt, một cách tiếp cận hoàn toàn mới tới cuộc đời và sự nghiệp của Bác. Năm 1981 Búp sen xanh với 100.000 bản ra đời đã gây một tiếng vang lớn.

Cuốn tiểu thuyết lần lượt nhận đủ các loại giải thưởng và chuẩn bị tái bản lần thứ 2 thì không hiểu từ đâu xuất hiện một lời phán: cuốn sách “có vấn đề”. Ngày 23/6/1983, một tờ báo đã dành cả nửa trang phê phán Sơn Tùng dưới tiêu đề Vài ý kiến về Búp sen xanh: “…Không thể nào có một nhân vật Út Huệ yêu Bác, chờ đợi Bác, theo dõi con đường Bác đi cứu nước suốt hàng chục năm mà trong tư tưởng, hành động lại không có biểu hiện gì trước phong trào chung của cách mạng cả nước đang phát triển…”. Bài báo kết luận: “Điều nguy hiểm hơn là tác giả Búp sen xanh đã gắn sự kiện mối tình của Út Huệ và Bác với sự kiện cắm hoa huệ trong nhà sàn của Bác ở Phủ Chủ tịch, và gắn sự kiện đó với câu nói của Bác năm 1962 khi tiếp đoàn cán bộ miền Nam ra thăm miền Bắc: miền Nam luôn trong trái tim tôi”. May thay, cuối cùng thì một kết luận chính thức của cơ quan chức năng “Búp sen xanh không có vấn đề gì” đã dẹp bỏ những lời đồn đại và phê phán vô căn cứ đó. Lập tức 100.000 cuốn của lần tái bản thứ 2 đã ra mắt bạn đọc. Rồi mối tình của cô Út Huệ với chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã đựơc đưa lên màn ảnh bạc và ngày nay người ta tiếp nhận nó như một lẽ đương nhiên…

* Tác phẩm

————— Hết —————

(Theo Lê Thọ Bình – Vietnamnet 14/02/2004)


tennguoidepnhat.net

Bác Hồ với thương binh, liệt sĩ

Suốt 24 năm trên cương vị người đứng đầu nhà nước, trực tiếp lãnh đạo hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành sự quan tâm đặc biệt đến thương binh, liệt sĩ là những người cống hiến xương máu, hy sinh tính mạng để bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân.

Từ sau Cách mạng Tháng Tám đến khi Người đi xa, hầu như năm nào Bác cũng gửi thư, tặng quà tới thương binh và gia đình liệt sĩ. Trong giáo dục lòng yêu nước, Bác Hồ thường căn dặn cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ “ăn quả phải nhớ người trồng cây”, phải chăm lo đền ơn thương binh, liệt sĩ, những người bỏ thân vì nước và đồng bào, máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước nở hoa độc lập, kết quả tự do.

Dù bận nhiều công việc, Bác Hồ vẫn dành cho thương binh, bệnh binh những tình cảm yêu thương, quý trọng sâu nặng. Trong kháng chiến, sau các chiến dịch, chỉ đạo việc quân, Bác Hồ thường quan tâm chăm sóc thương, bệnh binh. Đến các nơi chữa bệnh, nuôi dưỡng thương binh, Người ân cần thăm hỏi, tặng quà từ tiền tiết kiệm và đồ dùng của mình để thêm phần chăm sóc cho thương binh. Bác nêu gương, biểu dương, khuyến khích, tặng huy hiệu của Người cho những thương binh khắc phục đau yếu, thương tật “tàn nhưng không phế” có nghị lực vươn lên trong cuộc sống và động viên anh, chị em thương binh tuy đã suy giảm sức khoẻ mà vẫn cố gắng học tập, làm việc, cống hiến cho xã hội. Người còn căn dặn thương, bệnh binh phải khiêm nhường, biết ơn sự săn sóc của đồng bào, không được ra vẻ công thần, cần cố gắng tự lực, cánh sinh…

Cảm động biết bao, trước khi “từ biệt thế giới này”, tháng 5 năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thêm mấy điểm vào bản Di chúc lịch sử. Trong mấy điểm ấy, Người căn dặn toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta: Ngay sau khi cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi, công việc đầu tiên đối với con người là chăm lo cho thương binh và những người có công trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Nội dung của những việc này là phần chủ yếu, quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về người có công mà Người đã “viết thêm” vào Di chúc, tuy “không đi sâu vào chi tiết” nhưng rất sâu sắc, thể hiện đạo lý, truyền thống nhân văn cao cả của dân tộc “uống nước nhớ nguồn”.

60 năm qua, kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị chọn “Ngày thương  binh” và 32 năm cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi hoàn toàn, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta ra sức thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh, gắng sức đền ơn, đáp nghĩa người có công với nước. Các chính sách, chỉ thị, pháp lệnh của Đảng và Nhà nước về chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công đã phát huy cao độ truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, lòng yêu nước của đồng bào cả nước và làm nảy nở ở các địa phương, các ngành, các đơn vị, nhiều phong trào đền ơn đáp nghĩa người có công, làm xúc động tâm can đồng chí, đồng bào. Từ năm 1994, khi Nhà nước ban hành Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, quỹ đền ơn đáp nghĩa ra đời, số tiền do nhân dân đóng góp đến nay lên đến hơn 1000 tỷ đồng. Các bà mẹ Việt Nam Anh hùng còn sống được nhận phụng dưỡng suốt đời. Hàng trăm nghìn ngôi nhà tình nghĩa được xây mới. Nhiều phong trào có ý nghĩa thiêng liêng, thể hiện tình cảm biết ơn vô hạn của toàn dân, toàn quân ta với các thương binh như tặng sổ tiết kiệm, vườn cây “đền ơn đáp nghĩa”. Nhiều việc hiếu nghĩa được tiếp tục đẩy mạnh như tìm mộ liệt sĩ, nhiều cựu chiến binh trở lại chiến trường xưa để đi tìm đồng đội; quy tập hài cốt liệt sĩ, xây đài tưởng niệm, chăm sóc các nghĩa trang liệt sĩ, xây mộ, dựng bia, tu bổ, tổ chức các sinh hoạt giáo dục thế hệ trẻ tại các nghĩa trang Quảng Trị, Trường Sơn, Bến Dược, Củ Chi… Đúng như Đại hội X của Đảng tổng kết: Các phong trào đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc người có công, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, thương binh, gia đình liệt sĩ… thu hút sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân đã góp phần quan trọng nuôi dưỡng, chăm sóc các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, xây dựng hàng chục nghìn ngôi nhà tình nghĩa, đỡ đần các nạn nhân chất độc da cam, con liệt sĩ, thương binh…

Sau hơn 20 năm đổi mới, nước ta vẫn còn là nước nghèo, dù cố gắng rất lớn thực hiện chính sách và pháp lệnh người có công, song trên cả nước vẫn còn  khoảng 55 nghìn hộ gia đình chính sách đang sống trong những ngôi nhà tranh tre nứa lá (gọi là nhà tạm) và cùng với nơi ở tạm bợ, đời sống hàng ngày của nhiều hộ gia đình chính sách, nhất là ở các vùng căn cứ kháng chiến, vùng sâu, vùng cao, vùng xa còn rất nhiều khó khăn, vất vả, cả đời sống vật chất và đời sống văn hóa. Chương trình hành động của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội  hướng tới kỷ niệm 60 năm Ngày thương binh, liệt sĩ được cả nước hưởng ứng góp phần cải thiện một bước quan trọng đời sống người có công trong cả nước, phấn đấu không còn hộ chính sách nghèo, 95% số gia đình  chính sách có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của người dân ở khu dân cư. Thực hiện mục tiêu này, cao hơn trách nhiệm, nghĩa vụ là tinh thần “đền ơn, đáp nghĩa” của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị, các tổ chức kinh tế, xã hội với tấm lòng tri ân những thương binh, liệt sĩ đã không tiếc xương máu bảo vệ độc lập, tự do, hoà bình và hạnh phúc cho nhân dân.

Phạm Văn Khánh

baobacgiang.com.vn

Thường xuyên Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Bác Hồ mãi mãi là tấm gương cho thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam học tập và noi theo ( Nguồn: Ảnh tư liệu)

Hơn bốn năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, chặt chẽ của các cấp ủy, tổ chức đảng, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã được triển khai sâu rộng trong hệ thống chính trị và toàn xã hội, làm cho toàn Ðảng, toàn dân nhận thức sâu sắc hơn về những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Cống hiến trọn đời mình cho lý tưởng cao cả: Giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng trọn vẹn cho ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc ta suốt hàng nghìn năm lịch sử. Người là hiện thân của khối đoàn kết toàn Ðảng, toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế. Tư tưởng và tấm gương đạo đức của Người mãi mãi ngời sáng ý chí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập, tự chủ, lòng yêu nước, yêu nhân dân thắm thiết; sáng ngời phẩm chất cách mạng: hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; suốt đời cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Tấm gương đạo đức của Người là sự kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại. Thực hiện cuộc vận động lớn, chúng ta đã tạo được những chuyển biến về nhận thức và ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, góp phần vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội X của Ðảng. Tuy nhiên như Báo cáo Chính trị của BCH T.Ư Ðảng khóa X tại Ðại hội lần thứ XI của Ðảng đã chỉ rõ: ‘Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chưa thực sự đi vào chiều sâu, ở một số nơi còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao, làm theo chưa đạt yêu cầu’.

Ngày 14-5 vừa qua, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 03-CT/T.Ư về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Chỉ thị nhấn mạnh, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người là rất quan trọng và cần thiết, chẳng những đáp ứng yêu cầu cấp bách trước mắt, mà còn có ý nghĩa cơ bản, lâu dài đối với sự nghiệp cách mạng của Ðảng và nhân dân ta.

Ðể đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thành nền nếp thường xuyên đạt hiệu quả ngày càng cao, đòi hỏi cấp ủy đảng các cấp, trực tiếp là ban thường vụ cấp ủy, đồng chí bí thư cấp ủy cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc quán triệt sâu sắc, đầy đủ và tổ chức thực hiện nghiêm túc Chỉ thị của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo đúng Kế hoạch số 03-KH/T.Ư ngày 1-7-2011 của Ban Bí thư về triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/T.Ư ngày 14-5-2011 của Bộ Chính trị từ nay đến năm 2015. Trong bối cảnh của tình hình và nhiệm vụ mới, chúng ta quyết tâm làm cho toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân ta nhận thức sâu sắc những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh; tạo sự chuyển biến sâu sắc hơn nữa ý thức tu dưỡng, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội thực dụng, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và các tệ nạn tham nhũng, tiêu cực, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội XI của Ðảng. Phải coi việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người là việc làm hằng ngày, là trách nhiệm và là lợi ích thiết thân của mọi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; gắn kết chặt chẽ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, các cuộc vận động đang triển khai; các phong trào thi đua yêu nước; tạo nên động lực thúc đẩy việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị ở từng địa phương, đơn vị. Ðây là công việc đòi hỏi ý thức tự tu dưỡng tự rèn luyện của từng người. Cán bộ, đảng viên giữ chức vụ càng cao, càng phải gương mẫu cho cấp dưới và các tầng lớp nhân dân học theo, noi theo, kể cả tác phong, phong cách công tác lãnh đạo, chỉ đạo.

Ðiều quan trọng có ý nghĩa quyết định là phải xây dựng cho được những chuẩn mực đạo đức theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh phù hợp thực tiễn hoạt động của từng ngành nghề, cơ quan, đơn vị, phù hợp từng đối tượng; theo phương châm: dễ hiểu, dễ nhớ, dễ vận dụng. Xây dựng và thực hiện nghiêm túc các quy định, quy chế về trách nhiệm tự giác gương mẫu của cán bộ chủ chốt, người đứng đầu cơ quan, đơn vị; quy định về đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ vào sinh hoạt thường xuyên của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân. Tiếp tục xây dựng và thực hiện chương trình giảng dạy và học tập tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cho học sinh, sinh viên, cán bộ, đảng viên. Cùng với đó là các quy định, quy chế kiểm tra, giám sát đồng bộ, chặt chẽ của cấp ủy đảng, chính quyền và đoàn thể để việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là nhiệm vụ hằng ngày, thường xuyên, tiến tới trở thành nhu cầu tự thân của từng tập thể và cá nhân, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Ðội ngũ những người làm văn học, nghệ thuật, báo chí cần tiếp tục sáng tạo nhiều hơn nữa những tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao về tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; động viên, cổ vũ, tôn vinh những tập thể, cá nhân kiên trì, bền bỉ học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người.

Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi đường cho chúng ta đi tới tương lai tươi sáng! Ðạo đức của Người là tấm gương để chúng ta suốt đời học tập và làm theo!

(Theo báo Nhân dân)

cpv.org.vn