Búp sen xanh – Chương II: Phần 5

THỜI NIÊN THIẾU

Mùa hè năm ấy, Thành thường rủ một số bạn học đi thăm lăng tẩm của các vua nhà Nguyễn, thăm ngàn thông núi Ngự, thăm các chùa Diệu Đế, Thúy Vân, Báo Quốc, Trúc Lâm, Tây Thiên, Thiên Mụ, tháp Phước Duyên…

Hôm đến chùa Thiên Mụ, ngồi bên tháp Phước Duyên soi bóng xuống dòng sông Hương, Võ Liêm Sơn thắc mắc :

– Chẳng biết có phật, có thần không mà ông cha mình dựng lên những chùa chiền, những đền đài cho tốn của, tốn công hề?

Một cuộc tranh luận khá sôi nổi kéo dài hồi lâu. Thành ngồi im lặng, mắt luôn luôn hướng lên ngọn tháp Phước Duyên cổ kính, vẻ khâm phục nghệ thuật kiến trúc của đầu thế kỷ mười bảy. Sơn “cù” Thành :

– Bữa ni ông Thành đi tu thực sự nên “mũ ni che tai”, không bình phẩm một lời mô với tụi mình!

– Sơn bắt đúng mạch Thành… Đúng lắm… Đúng lắm – Cả đám bạn nhao nhao vừa nói vừa ôm cổ Thành lay lay : – Đi tu hả? Thành đi tu thiệt hả?

Thành cười tủm tỉm :

– Mình, mình vẫn chăm chú nghe những lời hùng biện của các bạn đó chứ.

– Nghe sao mà ngồi im?

– Mình không để tâm nhiều lắm đến việc có hay không có thần phật. Mình mới cảm thấy : Nếu mặt đất này mà không có lấy một ngôi chùa, một tòa đền, một lâu đài thành quách thì tâm hồn con người sẽ cằn cỗi, nghèo nàn, sống không có kỷ niệm, không còn biết nhớ cội nhớ nguồn…. Mình cho là có đền, có chùa, có phong tục thờ tự để hướng con người về cõi thiện, ngăn chặn bớt tính ác của con người. Chính vì vậy mà con người cần phải có văn hóa.

Tan buổi viếng chùa Thiên Mụ, Thành về nhà thấy cha ngồi một mình trước bình hương, khói hương tỏa dài qua đầu cha. Thành đi rón rén tới bên cha, anh ngồi xuống mé giường, giọng sửng sốt :

– Cha… ơi! Chẳng hay… có chuyện chi hệ trọng?

Ông Huy nâng bàn tay lên khoát con lui ra. Biết ý cha, Thành đứng lên, đi xuống nhà bếp tìm anh Đạt. Không thấy anh, Thành đi ra sau vườn, nơi hai anh em thường ngồi mát dưới bóng cây đọc truyện. Đạt đang ngồi tựa lưng vào gốc cây hòe, tay cầm cuốn “Công ước xã hội” bằng tiếng Pháp, chăm chú đọc lúc Thành đến gần mới biết :

– Về khi mô rứa, Thành?

– Em vừa mới về. -Thành ngồi xuống bên anh. – Cha đang có chuyện chi buồn phiền dữ, em hỏi, cha nỏ nói chi cả?

– Cha ở Bộ về từ lúc giờ thìn và cha thắp nhang ngồi lặng thinh. Anh chả dám hỏi han chi cả.

– Cha không ăn cơm trưa, anh? – Không. Cha chỉ uống nước lão mai. (69)

Hai anh em ngồi thẫn thờ nhìn về cổ thành. Nắng quái chiều hôm trắng nhợt vắt đài trên lầu Ngũ phụng như một dải băng tang.

Bỗng tiếng trống ngũ liên nổi lên. Tiếng kèn Tây cũng lu loe từ các trại lính khố xanh, khố đỏ… Tiếng vọi đồng run run kéo dài : “Hoàng triều có biến, nghiêm lịnh toàn thành : Thần dân ở tại nhà, không ai được ra đường từ giờ dậu (độ 6 giờ chiều) qua giờ thìn (độ 8 giờ sáng). Ai trái lệnh sẽ bị nghiêm trị…”

Thành chạy theo anh Đạt về nhà. Đạt thấy cha vẫn ngồi nguyên như cũ, không dám xáp gần cha. Anh đi thẳng vàn bếp lo bữa ăn tối. Thành sà vào bên cha, hai tay anh ôm lấy đầu gối cha :

– Cha ơi! Cha ơi! Hoàng triều có biến! Cha có nghe vọi đồng gọi không, cha?

Quan thừa biện Huy giọng buồn buồn :

– Gọi anh con lên đây.

Hai anh em Thành ngồi cạnh cha. Quan thừa biện Huy nói, vẻ đau xót :

– Đức vua mưu việc đánh đổ ách thống trị của người Tây. Công việc đang tiến hành thì bị lộ.

Đức vua đã bị hạ ngục. Ba cha con cúi đầu trước dòng khói hương nghi ngút.

– Phen ni người Pháp họ mượn cớ để xóa hẳn ngôi vua ở nước Nam mình mất, phải không cha? – Đạt hỏi.

– Họ bỏ những ông vua cứng đầu, dám chống lại họ chứ chẳng bao giờ họ bỏ ngôi vua ở nước Nam mình, con ạ.

Thành ngẩng đầu, nhìn cha, nói : – Ra vậy, đức vua Thành Thái của chúng ta đâu phải…

– Lâu nay, cha thầm nghĩ: Thành Thái là một ông vua cam chịu sống hèn trên chiếc ngai vàng hư vị. Cha đã lầm nghĩ, các con ạ! – Giọng ông càng trở nên bùi ngùi: – Đức vua hằng ngày giả vờ lơ đễnh với mọi việc trước đất trời này. Ngài giấu kín chí lớn của ngài bằng cách ham đọc sách Pháp, tập lái ô tô, lái thuyền máy. Đức vua còn cắt tóc ngắn làm gương cho cả hoàng tộc bỏ đụm tóc. Người Tây cũng đã sợ cả cái lý tưởng cấp tiến ấy của đức vua.

– Người Pháp truất phế đức vua về “cái tội” ấy, thưa cha? – Thành hỏi.

– Bọn Trương Như Cương đã tố cáo với lão khâm sứ là : Đức Thành Thái từ lâu bí mật liên lạc với những nhà hoạt động trong tổ chức Duy Tân Hội và đang tìm cách trốn sang Nhật…

Ba cha con ông Nguyễn Sinh Huy như ba pho tượng im lìm giữa đêm hè kinh thành Huế.

******

Sáng ngày hai mươi mốt tháng sáu, năm Đinh Mùi (30-7-1907) dòng sông Hương như một khúc ruột quặn đau.

Mây của cơn giông từ đêm hôm trước đang tụ đọng từng khối đen đè nặng bầu trời kinh đô Huế!

Chim không bay về!

Hoa vườn Thượng uyển ủ rũ!

Mặt người dân kinh đô nặng trĩu căm hờn, ánh lên trong mắt niềm thương nhớ đức vua. Mỗi nhà một nhang án, hương nghi ngút, đặt trước sân, đầu ngõ, và mọi người quần áo chỉnh tề tiễn biệt đức vua Thành Thái!

Lệnh của tòa khâm : “Lính cấm trại, quan, viên chức túc trực tại triều”. Quan thừa biện Nguyễn Sinh Huy mặc triều phục vào Bộ Lễ từ sáng tinh mơ. Trước lúc vào triều, ông đốt một nén hương vòng, đặt lên án thư giữa sân, vái năm vái.

Thành cùng với anh Đạt nhập vào đám đông dân chúng. Từ cửa Đông Ba qua các ngả đường quanh Hoàng thành, dân lập bàn thờ hai dãy san sát.

Trên các ngả đường đều có lính gác. Tại cửa Đông Ba, Thượng Tứ, Ngọ Môn, lính Tây lính ta đứng hai hàng. Tên Đờ La-xuýt chễm chệ trên lưng con ngựa chiến, ghìm cương cho ngựa đi nước xăm, dẫn đầu một đơn vị lính kỵ binh lướt qua lướt lại dọc đường thành…

Từ bên hữu ngạn sông Hương, tên khâm sứ Lê-véc- cơ ngồi trong chiếc xe hơi hình thù như con bọ hung, qua cầu Thành Thái. Trên lầu Ngũ Phụng, tiếng vọi đồng cất lên : “Thần dân giữ trong nghiêm lịnh. Giờ đức vua lên đường biệt xứ bắt đầu”.

Mọi người đứng tại chỗ, cúi đầu xuống. Nguyễn Tất Thành đứng nghiêm trang nhìn lên phía Ngọ Môn. Lòng anh đau thắt. Bên tai anh những tiếng khóc nức nở. Nhiều cụ già quỳ thấp xuống hai bên đường. Anh nhìn thấp thoáng đức vua chân đi giày hở gót, mặc thường phục. Theo sau đức vua là các quan cùng triều. Tên khâm sứ Lê-véc-cơ bước tới. Đức vua dừng bước. Tên sĩ quan cận vệ của hắn tiến đến bên vua. Hắn nói và hai tay làm điệu bộ – vì xa, Tết Thành không nghe tiếng tên khâm sứ nói những gì. Một tên sĩ quan cận vệ hai tay nâng ra trước mặt vua Thành Thái trang giấy khổ rộng và bút nghiên. Đức vua cầm ném xuống đất chửi vào mặt tên Lê-véc-cơ, rỗi sải bước qua mặt nó, đi lên phía trước… Dân chúng chắp tay vái theo vua Thành Thái…

Cơn mưa chiều ập xuống kinh thành. Gió! Gió! Gió nổi từng cơn! Từng cơn gió xe mưa trong trời xa mù mịt!

Ba cha con quan thừa biện ngồi trong nhà nhìn mưa. Thành hỏi cha :

– Chúng con đứng đằng xa, chẳng rõ lão khâm sứ nói những gì mà đức vua đã không nén nổi giận?

– Họ đã làm theo lệnh ông toàn quyền Bô (Beau); mua chuộc và cưỡng ép đức vua phải tuyên cáo với quốc dân về tội âm mưu chống lại nước Đại Pháp. Nếu đức vua chịu theo điều kiện ấy thì mới được trở lại nguyên vị. Nếu không thì bị đày đi biệt xứ qua bể châu Phi. (70)

– Hừ! Người Pháp, người Pháp – Đạt kéo dài giọng – giở cái trò bần tiện quá!

Thành hỏi thêm cha :

– Đức vua Thành Thái đã cự tuyệt cái điều kiện hèn hạ ấy mà lúc lên đường đi đày biệt xứ, lão khâm sứ vẫn còn đón đường ép đức vua thì thật là dơ, phải không cha?

– Cái kế ấy thâm độc lắm chứ con. Họ chọn lúc bắt đầu cất bước ra đi, mà là đi đày. Đó là lúc dễ mềm yếu nhất dễ bỏ nhân cách cao thượng, tiết tháo, để chọn lấy sự sống an nhàn, chịu tiếng hèn hạ. Do đó viên khâm sứ đã viết sẵn lời tuyên cáo đưa cho đức vua ký. Đức vua đã nổi giận. Đức vua ném giấy bút xuống đất, mắt đức vua long lanh, ngài nói với thần dân:

Muôn dân nô lệ từng đàn,
Vui chi bệ ngọc ngai vàng riêng ta?
Hỡi ôi mất nước tan nhà,
Cừu thù quốc sỉ ấy là nợ chung.

Cơn mưa chiều kéo dài. Tiếng mưa âm vang như những tiếng nức nở của đất trời!

————

Chú thích:

(69) Gỗ cây mai già đun sôi để nguội
(70) Thực dân Pháp đưa vua Thành Thái vào giam tại Ô Cấp (Vũng Tàu). Mãi đến năm 1915 chúng mới bí mật đưa ông sang đảo Rê-uy-ni-ông (Réunion). Ngày 3-5-1916 chúng lại đày vua Duy Tân, con vua Thành Thái, sang một chỗ với cha.

Hoàng Nhật Minh