Tag Archive | Chủ tịch Hồ Chí Minh

TGĐ UNESCO ca ngợi tấm gương học tập suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Một số sản phẩm kim khí tự tạo của em Ngô Viết Sơn, lớp 8 C trường Phổ thông công nghiệp cấp III Đống Đa – Hà Nội tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân sinh nhật Người năm 1965.

Tại lễ khai mạc, bà Irina Bokova, Tổng giám đốc UNESCO khẳng định: “Triển lãm này đã tôn vinh cam kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về học tập suốt đời. Đó cũng là một tầm nhìn mà UNESCO luôn thúc đẩy và hướng tới”. Bà Irina Bokova cho rằng, Hồ Chí Minh trước hết là một nhà thơ, nhà báo, nhà giáo, do vậy Người nhận thức rõ về sức mạnh của tri thức, tri thức đó không chỉ thu nạp một lần ở tuổi ấu thơ và là quá trình học tập suốt đời. Người đã áp dụng điều này và không bao giờ ngừng học hỏi.

Khái niệm “Học tập suốt đời” là coi học tập diễn ra dưới mọi hình thức, cả chính quy, không chính quy thông qua những giai đoạn khác nhau của cuộc đời con người, từ độ tuổi mầm non cho tới khi về già.

Học tập suốt đời khuyến khích, hỗ trợ và động viên việc con người tìm đến tri thức trên cơ sở tự nguyện, tự giác vì những lý do cá nhân hay lý do chuyên môn.

Bà cũng đánh giá, Việt Nam đang trên đà phát triển nhanh chóng, tăng trưởng kinh tế tạo đà phát triển cho văn hoá-giáo dục…và vui mừng khi được biết Việt Nam chi 20% ngân sách quốc gia cho giáo dục. Điều đó thể hiện cam kết của Việt Nam đối với học tập. UNESCO cam kết sẽ sát cánh với Việt Nam cả về nhân lực, vật lực trong các dự án về giáo dục. Điển hình là việc UNESCO sẽ hỗ trợ “Học tập suốt đời” tại Việt Nam.

Với gần 300 tài liệu hiện vật, phim ảnh, triển lãm tập trung giới thiệu về truyền thống khuyến tài, khuyến học của Việt Nam. Nêu cao tấm gương tự học mẫu mực và vai trò to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc thúc đẩy học tập suốt đời cho mọi người dân Việt Nam

Việt Nam luôn coi trọng nhiệm vụ giáo dục học tập suốt đời và coi đó là chìa khóa quan trọng góp phần xây dựng xã hội bình đẳng và tiến bộ hơn. Vì học tập suốt đời có vai trò trọng tâm trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội toàn diện của Việt Nam. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam (4-2006) nêu rõ: “ Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở-mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người và những hình thức học tập, thực hành linh hoạt,đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên; tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học, đảm bảo sự công bằng xã hội trong giáo dục”.

Tự học tập và học tập suốt đời là một luận điểm quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (1947), Bác viết: “Lấy tự học làm cốt”. Ngày 21-7-1956, nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khóa I, Trường Đại học Nhân dân Việt Nam, Bác dặn: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, tr.215).

tutuonghochiminh.vn

Hồ Chí Minh là một trí thức lớn hoạt động thực tiễn

GS Đỗ Huy

Nhân sơ kết 4 năm hưởng ứng Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, kỷ niệm 121 năm ngày sinh, 100 năm tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, VHNA đã có lời mời giáo sư Đỗ Huy (ViệnTriết học), người đã có nhiều năm nghiên cứu về Hồ Chí Minh làm khách tháng 4. Câu chuyện trao đổi tập trung về sự nghiệp và nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh và ý nghĩa của nó với sự vận động của văn hoá nước nhà. Chúng tôi giới thiệu một số nội dung của cuộc trao đổi này.

Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh bắt nguồn từ cái đúng, cái tốt

Thưa GS, là người có nhiều năm nghiên cứu về văn hoá và Hồ Chí Minh, vậy theo GS ở Hồ Chí Minh những phẩm chất văn hoá nào là nổi trội và tiêu biểu nhất?

Nếu văn hoá là trình độ Người của các quan hệ xã hội, thì nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh tiêu biểu cho một trình độ trí tuệ vô cùng mẫn cán và thông thái, một tầm nhìn rất xa, rất rộng, khoan dung và giàu năng lượng thực tiễn; một ý chí vô song biểu hiện thành những giá trị đạo đức vĩnh cửu và một tấm lòng yêu nước cháy bỏng, tinh thần tự hào dân tộc hoàn quyện với những giá trị văn minh tiến bộ của nhân loại. Theo tôi, phẩm chất văn hoá nổi trội và tiêu biểu nhất ở Hồ Chí Minh biểu hiện trong nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh. Đó là một nhân cách của vĩ nhân thấu hiểu thực tế hơn mọi người, nhìn xa hơn mọi người, nhận thức đúng hơn mọi người và có ý chí mạnh mẽ hơn mọi người, đặc biệt là hoà quyện và thấu hiểu cuộc sống của bản thân mình với nhiều tầng lớp, giới tính, thế hệ khác nhau trong dân tộc và nhân loại. Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh đã kết tinh cái đúng, cái tốt và cái đẹp của dân tộc và loài người tiến bộ.

Văn hoá Hồ Chí Minh là một hệ thống thống nhất hài hoà các giá trị, chúng tôi nghĩ vậy. Theo GS thì hệ thống giá trị đó được kết tinh từ những nguồn gốc nào?  Và năng lượng, năng lực nào đã chọn lựa, thâu hoá và sắp xếp các giá trị từ các hệ thống khác nhau thành một hệ thống hoàn hảo, và hài hoà ở Hồ Chí Minh, thành văn hoá Hồ Chí Minh?

Hệ thống giá trị tạo nên nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh bắt nguồn từ cái đúng. Những phẩm chất văn hoá ở Hồ Chí Minh luôn luôn gắn liền với các quy luật vận động khách quan, là sản phẩm lịch sử của quá trình hoạt động thực tiễn của Người trong các phong trào lớn của thế kỷ XX. Cái đúng thể hiện trong nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh vừa gắn liền với các quy luật khách quan vừa gắn với tầm nhìn khoa học, với năng lượng trí tuệ, gắn lý luận với thực tiễn, gắn dân tộc với nhân loại, cá nhân với xã hội, gắn cái chung với cái riêng, gắn cái động với cái tĩnh…

Trong hệ thống giá trị tạo thành nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh thì cái tốt được thể hiện thành ý chí và tư tưởng đạo đức của Người. Và tư tưởng đạo đức ấy có nguồn gốc rất xa từ những giá trị đạo đức của dân tộc. Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là hiện thân của tư tưởng hoà đồng, đoàn kết, yêu nước, thích ứng, tiết kiệm, giản dị của truyền thống dân tộc. Tuy nhiên, hệ thống giá trị tạo nên nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh về phương diện đạo đức và tư tưởng đã gắn với thế giới quan khoa học của cái đúng. Hồ Chí Minh đã nâng các giá trị đạo đức của truyền thống dân tộc lên một tầm cao mới. Ý chí đạo đức, tinh thần yêu nước ở Hồ Chí Minh gắn với những thành tựu khoa học và thế giới quan biện chứng của thế kỷ XX. Vì thế, những giá trị và tư tưởng đạo đức trong nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh đã vượt xa và cơ cấu lại những nội dung cơ bản của các giá trị đạo đức truyền thống.

Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh còn thể hiện mạnh mẽ sức sống trong hệ thống giá trị của cái đẹp. Về phương diện thẩm mỹ đặc trưng ở khả năng sáng tạo tuyệt vời trong mọi hoạt động của Người đều hướng tới cái hài hoà, cái đẹp. Mỹ cảm và lý luận về giáo dục thẩm mỹ trong nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh luôn luôn đánh thức những khát vọng sâu thẳm của con người về một thế giới khoan dung và hoàn thiện. Chính hệ thống giá trị mỹ cảm này đã làm cho nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh không chỉ sáng tạo nên các tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị thẩm mỹ cao mà còn tạo nên những chuyển biến lý luận căn bản của văn hoá nghệ thuật cách mạng ở Việt Nam.

Hệ giá trị ấy là thành quả của phương pháp khoa học ở Hồ Chí Minh trong mọi hoạt động sống. Phương pháp ấy gắn cái riêng với cái chung, cái dân tộc với cái quốc tế, cái dân tộc với các tộc người, các cá nhân với cái xã hội, con người với tự nhiên. Hệ giá trị ấy đồng thời cũng là thành quả của ý chí đạo đức Hồ Chí Minh.

Xét về mặt hình thức thì văn hoá Hồ Chí Minh gần hơn với hệ thống văn hoá nào theo cách phân loại giai cấp tính (phong kiến, tư sản, vô sản…), hoặc là theo địa lý nhân văn (phương Đông hay phương Tây, Khổng giáo hay Ki tô giáo…)?

Nhiều người nghĩ rằng, hình thức văn hoá mà Hồ Chí Minh lựa chọn là hình thức văn hoá Nho giáo. Sự thật thì ngay từ năm 1927, nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc đã phát hiện hệ thống giá trị Nho giáo duy trì rất nhiều bất công, bất bình đẳng xã hội. Vì thế, trên phương diện hệ thống, hình thức văn hoá Nho giáo không thể phù hợp với nền văn hoá mới ở Việt Nam. Tuy hệ thống Nho giáo có những yếu tố nhập thế, hành đạo giúp đời, mang thế giới đại đồng và có kỹ năng giáo dục đạo đức tỉ mỉ, nhưng nó là hình thức văn hoá duy trì một trật tự xã hội bình yên, không bao giờ thay đổi. Hồ Chí Minh trong các tư tưởng về văn hoá của mình có sử dụng nhiều khái niệm thuộc hệ thống giá trị văn hoá Nho giáo, nhưng Người đã đưa vào đó những nội hàm rất mới. Những nội hàm này hoàn toàn không nằm trong hệ thống giá trị văn hoá Nho giáo mà nó là một bộ phận hợp thành của hệ thống giá trị văn hoá Việt Nam mới của thời đại Hồ Chí Minh.

Cũng như vậy, cụ Hồ nói cụ cố gắng làm một người học trò nhỏ của Giêsu nói riêng và của đạo đức phương Tây nói chung vì ở đó tán dương lòng bác ái, cổ vũ lòng từ thiện. Song hình thức văn hoá mà Hồ Chí Minh lựa chọn lại không thể là hình thức văn hoá Thiên chúa giáo hay của phương Tây bởi vì hình thức văn hoá mà Hồ Chí Minh lựa chọn để xây dựng nền văn hoá Việt Nam mới phải gắn liền với việc giải phóng những người nghèo khổ ra khỏi mọi sự tha hoá, trong đó có sự tha hoá, sự ban ơn về mặt tinh thần. Hình thức văn hoá mà Hồ Chí Minh lựa chọn là một hình thức văn hoá gắn với những năng lượng giải phóng, đổi mới, phát triển của đại đa số nhân dân. Phải hành động để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người lao động, người cùng khổ khỏi mọi tha hoá. Vì thế, hình thức văn hoá mà Hồ Chí Minh lựa chọn phải là thành quả của cuộc đấu tranh của tuyệt đại đa số nhân dân vì phẩm giá dân tộc và tự do của con người. Hình thức văn hoá ấy phải bắt nguồn từ truyền thống và những năng lượng tiềm ẩn của dân tộc.

Nhiều người cho rằng, học thuyết của Tôn Văn được Chủ tịch Hồ Chí Minh chú ý nhất để xây dựng nền văn hoá mới ở Việt Nam. Đúng là chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh ngưỡng mộ khi ông chủ trương liên Nga, liên công và phù trợ công nông và phê phán đạo đức học của Hán và Tống Nho. Sự gặp gỡ giữa tư tưởng của Tôn Trung Sơn và Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc. Ngay từ năm 1924, Hồ Chí Minh đã nhận định: “chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước” (Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.1, tr. 467). Tuy vậy, hình thức văn hoá mới ở Việt Nam mà Hồ Chí Minh lựa chọn không phải là hình thức văn hoá mà Tôn Văn đề xuất. Trước hết là chủ nghĩa dân tộc trong văn hoá Việt Nam không phải là chủ nghĩa dân tộc chật hẹp, một chủ nghĩa quốc gia. Trong văn hoá mới ở Việt Nam , Hồ Chí Minh đã lựa chọn một chủ nghĩa dân tộc gắn liền với tinh thần quốc tế, một hình thức văn hoá dân tộc khi thắng lợi nó sẽ gắn chặt với chủ nghĩa quốc tế. Trong hình thức văn hoá này mọi sự sáng tạo, hưởng thụ đều là do nhân dân quyết định. Phạm trù nhân dân tạo nên bản sắc, sức sống và hình thức văn hoá mới do Hồ Chí Minh lựa chọn.

Trong hình thức văn hoá mà Hồ Chí Minh hướng đến xây dựng, người ta thấy rõ nhất là những giá trị tinh thần truyền thống. Đó là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần khoan dung, ý chí tự lực tự cường, ý thức đoàn kết; song những giá trị truyền thống này đã được Hồ Chí Minh gắn với tinh thần của thời đại mới, những mục tiêu phát triển đất nước theo hướng chủ nghĩa xã hội.

Nghiên cứu tư tưởng văn hoá Hồ Chí Minh, ta có thể thấy, ngoài tính dân tộc, tính nhân loại phổ biến của các hình thức văn hoá, còn có hình thức giai cấp, hình thức dân tộc, hình thức tộc người, hình thức vùng, hình thức miền, hình thức nhóm, hình thức liên văn hoá văn hoá cá nhân… Văn hoá mà Hồ Chí Minh lựa chọn là gắn truyền thống với hiện đại, dân tộc với quốc tế, cá nhân với xã hội vì một chủ nghĩa nhân văn cao cả. Sự đa dạng văn hoá là cội nguồn của sự phát triển văn hoá.

Văn hoá Hồ Chí Minh có những giá trị nào có ý nghĩa toàn nhân loại?

Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh đã cống hiến cho thời đại nhiều giá trị xuất sắc. Những kiệt tác của Người như Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường kách mệnh, Tuyên ngôn độc lập… không chỉ có ý nghĩa cho công cuộc giải phóng dân tộc ở Việt Nam mà nó còn cổ vũ phong trào giải phóng nhiều dân tộc trên thế giới. Hồ Chí Minh đã được tổ chức UNESCO tôn vinh là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam.

Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh vừa là một nhà hoạt động cách mạng quốc tế vừa là một anh hùng giải phóng dân tộc. Những hoạt động văn hoá, những sản phẩm văn hoá của Hồ Chí Minh đều hướng tới chống cái xấu, cái ác, bảo vệ, cổ vũ cái tốt, cái đẹp. Hoạt động của Hồ Chí Minh mang lại ấm no, hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam và góp phần bảo vệ hoà bình và tình hữu nghị giữa các dân tộc. Vì lý do đó, nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh sống mãi không chỉ trong lòng dân tộc Việt Nam mà còn mãi trong lòng nhân dân nhiều dân tộc trên thế giới.

Như tôi đã nói ở trên, tính bất tử, tính nhân loại của những giá trị văn hoá của nhân cách văn hoá theo Hồ Chí Minh không phải ở chỗ nhà văn hoá đó hoạt động văn hoá ở ngoài dân tộc mà tính nhân loại phổ biến của văn hoá nằm ngay trong tính dân tộc của văn hoá. Nhiều nhà văn hoá tầm cỡ trên thế giới được toàn thể nhân loại tôn vinh do họ hoạt động văn hoá vì cái đúng, cái tốt, cái đẹp của dân tộc mình. Trong thế giới này, mỗi dân tộc đều là một bộ phận của cộng đồng quốc tế. Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh chống chủ nghĩa thực dân ở Việt Nam có ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh mang lại độc lập tự do, quyền bình đẳng và công bằng cho nhân dân Việt Nam đều được nhân loại tôn vinh. Vì thế, nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh vừa có giá trị dân tộc vừa có giá trị nhân loại.

Hồ Chí Minh là một trí thức lớn hoạt động thực tiễn

Hồ Chí Minh là một trí thức lớn của dân tộc. Đề nghị GS phân tích vai trò của Hồ Chí Minh với dân tộc trong tư cách một trí thức lớn?

Vâng, đúng, tôi cũng đồng ý với cách tiếp cận và nhận thức của anh khi nhận định Hồ Chí Minh là một nhà trí thức lớn, mặc dù cho đến nay rất ít công trình nghiên cứu chuyên biệt về nhà trí thức lớn Hồ Chí Minh. Sở dĩ ở Việt Nam và cả nhà nghiên cứu nước ngoài chưa có những công trình tầm cỡ nghiên cứu chuyên biệt về nhà trí thức Hồ Chí Minh bởi vì những chuẩn mực về trí thức, nhà trí thức, nhà trí thức lớn ở mỗi dân tộc, mỗi thời đại, mỗi giai cấp có sự khác nhau.

Tôi nghĩ cụ Hồ là một trí thức lớn trên cả lĩnh vực khoa học và lĩnh vực nghệ thuật. Mỗi lĩnh vực Cụ đều có sản phẩm có chất lượng cao và có ý nghĩa xã hội to lớn. Kiệt tác Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường kách mệnh, Tuyên ngôn độc lập, Sửa đổi lối làm việc đều là những di sản tinh thần quý hiếm đặc trưng cho văn hoá Hồ Chí Minh, thời đại Hồ Chí Minh. Những bài thơ trong Ngục trung nhật ký, những bài thơ làm trong khi đi đánh trận, trên rừng Việt Bắc và hàng ngàn bài báo của Hồ Chí Minh chứa rất nhiều giá trị lịch sử, nghệ thuật mà nhiều đời sau còn phải nghiên cứu. Toàn tập Hồ Chí Minh, hàng vạn trang sách chứa đựng một trình độ tri thức uyên bác, chúng trở thành những cuốn sách kinh điển của cả dân tộc Việt Nam và loài người tiến bộ. Có nhà trí thức lớn nào ở Việt Nam đã có sản phẩm trí tuệ, sản phẩm văn hoá như thế!

Trong hoạt động thực tiễn truyền đạt tri thức, Hồ Chí Minh đã mở những lớp huấn luyện lý luận cách mạng cho những nhà hoạt động cách mạng, những nhà trí thứ lớn. Người đóng góp to lớn vào việc xây dựng hệ thống giáo dục nhân dân và những quan điểm giáo dục mới ở Việt Nam.

Hồ Chí Minh là một nhà trí thức hoạt động thực tiễn. Người đã đào tạo rất nhiều nhà trí thức kiểu mới. Với đường lối công – nông – trí đoàn kết thành một khối, Người đã đưa nhiều nhà trí thức từ nghiên cứu sách vở xuống hoạt động thực tiễn và nhiều người lao động chân tay đến lớp học cũng như tự học trở thành những trí thức thực tiễn của dân tộc.

Tôi đồng ý với anh, Cụ Hồ là một nhà trí thức lớn của Việt Nam. Cái tôi chú ý nhất ở nhà trí thức Hồ Chí Minh là Người luôn tìm cách nâng cao dân trí và đặc biệt là đào tạo thật nhiều trí thức cho đất nước. Cách mạng vừa thành công Cụ đã mở một mặt trận to lớn chống giặc dốt. Cuộc chiến đấu chống ngoại xâm rất ác liệt, Cụ vẫn cho mở rất nhiều trường học để đào tạo trí thức cho cuộc kháng chiến. Cụ đã gửi rất nhiều thanh niên sang nước ngoài để học tập kiến thức về kiến thiết đất nước.

Có thể nói, vai trò của nhà trí thức Hồ Chí Minh là nâng cao trình độ tri thức cho dân tộc, rèn tạo đội ngũ trí thức kiểu mới, gắn trí thức với mọi hoạt động thực tiễn của dân tộc, nâng dân tộc Việt Nam lên một tầm cao trí tuệ mới của thời đại, đặt cơ sở cơ bản cho một xã hội học tập và chuẩn bị tích cực cho nền kinh tế trí thức.

Trong bối cảnh hiện nay, theo GS thì giới trí thức nước ta cần học tập và làm theo những phẩm chất nào nhất của Hồ Chí Minh?

Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh hội tụ trí thông minh của một nhà minh triết, lòng dũng cảm phi thường của một anh hùng, ý chí mạnh mẽ của một nhà đạo đức, tài năng của nhà nghệ sĩ, sự mềm dẻo và khôn khéo của một nhà ngoại giao, sự kiên định của người cộng sản và lòng khoan dung vô bờ của một người mẹ hiền .

Anh hỏi chúng ta nên làm theo những phẩm chất nào ở Hồ Chí Minh? Câu trả lời không dễ, bởi vì tuỳ công việc của mỗi người, tuỳ trình độ của mỗi người, tuỳ hoàn cảnh của mỗi người, chúng ta coi tấm gương nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh là nguồn cổ vũ và giáo dục. Tôi nghĩ rằng, Hồ Chí Minh là một vĩ nhân, có rất nhiều phẩm chất của một vĩ nhân mà ta muốn làm theo cũng rất khó, đấy là chưa nói đến không thể. Tôi nhớ đến hai sự việc. Một sự việc vào năm 1945, ngay khi cách mạng mới thành công, trong hàng ngũ cách mạng đã xuất hiện rất nhiều ông quan cách mạng. Nhiều người đọc bức thư của Cụ Hồ gửi cho uỷ ban nhân dân các làng, các xã, các huyện, các tỉnh, các kỳ và muốn làm theo để chống lại mấy ông quan cách mạng tham ô, hủ hoá, nhưng quan điểm giai cấp coi công nông là tốt đẹp, là trong sạch, những người trí thức không có phương tiện và phương thức gì để giúp đỡ cách mạng chống lại những “ông quan cách mạng” ấy. Vào những năm cuối của thập kỷ 60 của thế kỷ XX, trong Di chúc của Cụ Hồ có viết đến một cuộc chiến đấu khổng lồ dựa vào nhân dân để chống lại những hư hỏng của cán bộ đảng viên. Cụ nói, trước tiên là xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Công việc lớn như vậy vào những năm 60 của thế kỷ trước trong cơ chế quan liêu bao cấp, giới trí thức cũng bất lực không đóng góp gì được trước cái hư hỏng của xã hội. Trên quan điểm giai cấp ấu trĩ, có thời kỳ trí thức đã trở thành đối tượng cần cải tạo trước tiên.

Vậy trí thức của nước ta cần thể hiện vai trò của mình với dân tộc như thế nào trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay?

Bây giờ, vào thời kỳ đổi mới, nhưng đổi mới lại đẻ ra rất nhiều quyền lực. Quyền lực chính trị, quyền lực của đồng tiền, quyền lực thế hệ. Trong xã hội, sự phân tầng rất nhanh, đơn giá cho nhiều sản phẩm của người lao động trí óc rất rẻ, địa vị xã hội của họ không được những chuẩn mực bảo hộ đúng đắn. Tôi đơn cử: một giáo sư, một viện sĩ sản xuất một cuốn sách từ 5 năm đến 10 năm, đưa đến nhà xuất bản, khi sách ra, họ được tiền nhuận bút 10% theo giá bìa và số lượng in. Cuốn sách nào cũng in với số lượng rất ít, tiền nhuận bút vô cùng ít ỏi. Các trí thức muốn phục vụ Tổ Quốc cũng khó.

Theo ý tôi, hiện nay trong xã hội Việt Nam có rất nhiều lĩnh vực vô chuẩn tạo ra tình trạng thiếu công bằng, quy luật giá trị của thị trường bị vi phạm nghiêm trọng. Chúng ta chuyển từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cái cơ chế này tồn tại còn lâu dài nhưng hệ thống lý luận về nó, công cụ hành chính điều chỉnh nó đang có chỗ bất cập, chưa hoàn thiện. Tôi nghĩ, hãy tập trung giới trí thức có năng lực lý luận và thực tiễn xây dựng cho được một hệ thống lý luận phát triển đất nước theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đủ sức thuyết phục là một công việc lớn hiện nay.

Phản biện với mục đích xây dựng có phải là yêu nước, là có trách nhiệm với đất nước không?

Rõ ràng xã hội của chúng ta đang có rất nhiều vấn đề cần phải bàn, phải phản biện để làm rõ những cản trở, những mâu thuẫn, những vấn đề cần giải quyết để thúc đẩy xã hội tiến lên. Những vấn đề đó có liên quan trực tiếp đến vấn đề tôi vừa trình bày ở trên. Đó là xây dựng nội dung lý luận có tính thuyết phục về lộ trình phát triển cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với thực tiễn ở nước ta. Tích tụ ruộng đất cho sản xuất lớn trong nông nghiệp theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là thế nào? Vì sao đất đai nhà nước quản lý mà lại lộn xộn và khiếu kiện như vậy? Vì sao sự phân tầng xã hội ta lại nhanh và sâu đến như vậy? Những vấn đề ngân hàng, tài chính, môi trường, công nghiệp hoá, hiện đại hoá… phạm vi phản biện xã hội đến đâu? Phản biện xã hội có trách nhiệm rồi có thể thực hiện được không? Rất nhiều vấn đề lý luận, mục tiêu thì tốt đẹp nhưng thực hiện được trong thực tế là rất khó. Tôi nghĩ rằng cần thiết phải phản biện xã hội để thiết lập cho được một số hệ chuẩn cơ bản làm cho xã hội ổn định, sinh thành và phát triển theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong đó phải thiết lập được hệ thống hữu hiệu khắc phục rủi ro, đề phòng khủng hoảng, ngăn chặn cái dốt, cái xấu, cái ác.

Phản biện xã hội có trách nhiệm trong lúc này chính là thể hiện lòng yêu nước tích cực. Hãy phát huy tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc để những phản biện có ý nghĩa tích cực, đẩy xã hội tiến lên.

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã được phát động hơn 4 năm. Chúng tôi thấy sự hưởng ứng rất rộng rãi và sôi nổi. Với tư cách một chuyên gia nghiên cứu về Hồ Chí Minh, theo ông, cuộc vận động đã đem lại những hiệu quả xã hội như thế nào? Nó đã có những tác động đến đời sống của đất nước ra sao?

Điểm nổi bật trong tấm gương và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là các quan hệ đạo đức mới phải gắn với khoa học và pháp luật. Nên tập trung vào tiêu điểm những giá trị đạo đức dựa trên khoa học và pháp luật để học tập, giáo dục và làm theo. Khoa học, pháp luật sẽ giúp chúng ta hiểu đúng đắn và nên làm theo nhân cách phẩm chất đạo đức nào ở Hồ Chí Minh. Gắn việc học tập và làm theo tấm gương cũng như tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với những cơ sở khoa học và chuẩn mực pháp luật, người học tập và làm theo sẽ có ý thức tự chủ và tự giác rõ ràng hơn.

Cụ Hồ đã đi xa hơn 40 năm rồi. Các thế hệ cháu chắt của Cụ hôm nay vẫn thông cảm sâu sắc trước nỗi đau thống thiết của Cụ trước những sai phạm về đường lối cải tạo nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp ở Việt Nam trong tình hình thế giới có cuộc đối đầu khốc liệt. Cơ chế đạo đức do Cụ thiết lập trong thời kỳ quan liêu, bao cấp khi chuyển sang cơ chế thị trường, dù là cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng đã biến đổi và biến dạng rất nhiều và rất mau chóng; Nó đã làm lỏng lẻo, lay chuyển, khoả lấp rất nhiều quan hệ đạo đức trong gia đình và ngoài xã hội. Sự phân tầng xã hội rất mau và rất sâu làm đảo lộn rất nhiều quan hệ đạo đức tốt đẹp do Cụ Hồ xây dựng trước đây. Nhiều người tốt, người lao động trung thực bị cái xấu, cái ác lừa đảo, tấn công trở thành bi kịch. Lối sống thực dụng đang gia tăng mạnh mẽ. Nhiều quan hệ xã hội hiện nay đang được bôi trơn bằng tiền bạc. Sự huênh hoang về những giá trị vật chất đang lấn át những giá trị tinh thần… Trước tình hình như vậy, cần phải học tập và làm theo những tư tưởng và tấm gương đạo đức tốt đẹp của Người trên cơ sở khoa học và pháp luật./.

Cơ chế đạo đức do Bác thiết lập trong thời kỳ quan liêu, bao cấp khi chuyển sang cơ chế thị trường, dù là cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng đã biến đổi và biến dạng rất nhiều và rất mau chóng. Sự phân tầng xã hội rất mau và rất sâu làm đảo lộn rất nhiều quan hệ đạo đức tốt đẹp do Bác Hồ xây dựng trước đây. Nhiều người tốt, người lao động trung thực bị cái xấu, cái ác lừa đảo, tấn công trở thành bi kịch. Lối sống thực dụng đang gia tăng mạnh mẽ. Nhiều quan hệ xã hội hiện nay đang được bôi trơn bằng tiền bạc. Sự huênh hoang về những giá trị vật chất đang lấn át những giá trị tinh thần… Trước tình hình như vậy, cần phải học tập và làm theo những tư tưởng và tấm gương đạo đức tốt đẹp của Bác trên cơ sở khoa học và pháp luật. Tôi thấy việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong thời gian vừa qua dù ít hay nhiều đã khơi dậy được tính thiện trong cộng đồng, hướng mọi người đến những điều tốt đẹp và qua đó ngăn chặn được phần nào tình trạng suy thoái đạo đức xã hội, nhất là trong cán bộ, đảng viên.

Theo GS thì đời sống văn hoá nước nhà hiện nay đang có những vấn đề, những biểu hiện nào là đáng lo ngại, đáng chấn chỉnh, điều chỉnh nhất? Căn nguyên của tình trạng sa sút, bất cập đó là gì? Và chúng ta phải bắt đầu từ đâu để “căn chỉnh” lại nền văn hoá của chúng ta?

Nền văn hoá mà chúng ta đang xây dựng là một nền văn hoá của cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nó cùng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tạo thành một chỉnh thể hữu cơ của thể chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Nó vừa là sản phẩm vừa là động lực của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nó phát triển và tồn tại suốt thời kỳ đổi mới trong thể chế kinh tế thị trường.

Kể từ năm Bính Dần (1986) đến nay nền văn hoá này đã trải qua 2 Giáp Dần, 5 kỳ đại hội Đảng. Mỗi kỳ đại hội Đảng nó lại được đổi mới cho sát với thực tiễn của nền kinh tế thị trường hơn. Tuy nhiên, thực tiễn hơn hai thập kỷ qua đã cho người ta nhận thấy rằng rất nhiều vấn đề về văn hoá cần phải quan tâm hơn nữa thì thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mới trở thành một chỉnh thể phát triển nhịp nhàng. Các làn sóng xuất khẩu, đầu tư, tin học, các quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá diễn ra cấp tập đẩy nền văn hoá tiến tới hiện đại trong khi đó chưa có một cơ chế tổng thể đủ mạnh để gìn giữ những giá trị truyền thống. Rõ ràng, căn nguyên nhãn tiền là ta phát triển những giá trị hiện đại mà không có cơ chế đủ mạnh gìn giữ, phát huy những giá trị truyền thống. Ta phát triển thị trường tự do ào ạt mà sung lực của định hướng xã hội chủ nghĩa lại chưa đủ mạnh. Đó là chưa nói tới một vấn đề quan trọng là chúng ta giải quyết vấn đề lợi ích tập thể, lợi ích cá nhân không nhất quán, thiếu cơ sở khoa học làm cho chủ nghĩa cá nhân phát triển rất mạnh trong nền văn hoá, sản sinh ra những lối sống thực dụng đề cao quá mức các giá trị vật chất, xem thường thậm chí không chú ý đến đạo đức, đến các giá trị tinh thần. Nền văn hoá tình nghĩa bị sa sút, nền văn hoá biết xấu hổ bị mai một. Các văn kiện của Đảng suốt 20 năm qua liên tục chỉ mặt, đặt tên cho những hiện tượng tham nhũng, sa sút lý tưởng… nhưng chúng vẫn còn đó!

Trong Di chúc, Bác đã chỉ rõ những hư hỏng trong xã hội và đề xuất một cuộc chiến đấu khổng lồ để chống lại những hư hỏng đó, để xây dựng những cái tốt đẹp trong nền văn hoá mới. Cuộc chiến đấu này phải dựa vào sức mạnh vĩ đại của nhân dân. Theo Bác Hồ trong Di chúc, thì việc trước tiên là xây dựng và chỉnh đốn Đảng và việc đầu tiên là quan tâm đến các vấn đề con người. Con người đầu tiên Bác Hồ quan tâm đó là người cộng sản. Nếu người cộng sản mà đánh mất lý tưởng, sa sút về đạo đức thì không thể trở thành người lãnh đạo nền văn hoá mới mà sự thật, nhân dân cũng không cần những người như họ là người đầy tớ trung thành của mình.

Chúng ta thường hay nói tới một giải pháp để phát triển mạnh mẽ nền văn hoá là Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Nhưng mà Đảng muốn lãnh đạo tốt nền văn hoá mới thì phải nâng cao năng lực lãnh đạo, phải chỉnh đốn phương pháp làm việc. Cũng như vậy, nhà nước muốn quản lý tốt nền văn hoá mới thì các quan chức của nhà nước phải trong sạch và bộ máy phải tổ chức có hiệu lực. Còn nhân dân không thể làm chủ tốt được nếu trình độ dân trí thấp và thiếu hiểu biết về pháp luật.

Trong Di chúc, Bác Hồ đã chỉ ra rằng, để xã hội có một nền văn hoá tốt đẹp thì đầu tiên phải là vấn đề con người. Ngoài vấn đề người cộng sản ra, chúng ta phải quan tâm đến đất đai cho nông dân, tiền lương và chỗ ở cho công nhân, việc làm và định hướng giá trị cho thanh niên, giải phóng tiềm năng sáng tạo của phụ nữ, thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công và người cao tuổi… Khi thực hiện tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hoá phải quan tâm quyết liệt đến tiến bộ và công bằng xã hội.

Rõ ràng là nguyên nhân căn bản của sự sa sút về văn hoá là do trình độ tổ chức xã hội của chúng ta yếu kém, hệ thống lý luận về phát triển xã hội theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ và nó chưa phản ánh được những vấn đề sâu xa của cuộc sống… Chúng ta chưa tổ chức và quản lý tốt nguồn lực con người, không quản lý tốt nguồn tài nguyên của đất nước, chưa hiểu hết và làm chủ được nguồn lực tài chính. Nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, nguồn tài chính là linh hồn của một nền văn hoá. Làm chủ được nhân lực, tài nguyên, tài chính chúng ta có thể điều chỉnh được hầu hết các quan hệ văn hoá; chúng ta có thể gìn giữ các di sản quý hiếm và hiện đại hoá nền văn hoá, chúng ta có thể khắc phục được những yếu kém và nuôi dưỡng những cái tốt đẹp.

Từ năm 1923 đã có người nói rằng, Hồ Chí Minh là đại diện của nền văn hoá của tương lai. Liệu bây giờ chúng ta có thể căn cứ vào những giá trị Hồ Chí Minh để sửa, và xây nền văn hoá của chúng ta?

Vâng, đúng là từ năm 1923, ông Menđenxtam – một nhà nghiên cứu văn hoá người Nga có tiếp xúc với Nguyễn Ái Quốc/ Hồ Chí Minh. Lúc đó, ông nhìn thấy trong nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh rất nhiều điểm mới lạ so với văn hoá phương Tây và ông cho rằng từ nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh toả ra một ánh sáng văn hoá của tương lai. Đó là một lời khen rất tuyệt vời về văn hoá giàu bản sắc Việt Nam. Thực tế lúc đó, Hồ Chí Minh là một nhân cách văn hoá Việt Nam hiện hữu chứ không phải là tương lai Việt Nam hay thế giới ngày mai mới xuất hiện những giá trị văn hoá ấy.

Từ năm 1923 cho đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh ngày càng được nhân dân Việt Nam, nhân dân thế giới yêu chuộng hơn. Thậm chí, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời được hơn 20 năm sau, năm 1990, tổ chức UNESCO còn tôn vinh Người là một nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam. Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh có một năng lượng kế thừa và toả sáng những nhân cách văn hoá lỗi lạc trong lịch sử dân tộc Việt Nam tạo thành cả một thời đại mang tên mình.

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có nhiều nhà văn hoá là sản phẩm và mang dấu ấn của mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Nhà văn hoá Nguyễn Trãi, nhà văn hoá Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà văn hoá Nguyễn Du đều là sản phẩm của thời đại mà các ông sống. Nhà văn hoá Hồ Chí Minh đánh dấu thời đại giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người của Việt Nam trong thế kỷ XX. Những di sản văn hoá của Người hiện thân của những phẩm giá dân tộc, rất giàu sức sống, đang toả sáng ở những năm đầu của thế kỷ XXI này.

Tôi nghĩ, lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam sẽ xuất hiện những nhà văn hoá mới kế thừa những giá trị của nhà văn hoá Hồ Chí Minh khi họ hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ lịch sử mới của thời đại và dân tộc.

Nếu vậy thì, theo GS, chúng ta, nhà nước và mỗi người dân cần phải làm gì, đặc biệt là vai trò của giới trí thức trong công cuộc vĩ đại nhưng gian khó và phức tạp này?

Chúng ta đang sống trong một thế giới đa cực đầy biến động nhanh chóng. Việt Nam đang vươn lên để khoả lấp những mất mát của những năm dài chinh chiến, để sánh vai cùng với những cường quốc khác trên thế giới. Điểm bắt đầu vươn lên của chúng ta rất mệt nhọc và vô cùng khó khăn: ruộng đất manh mún, công nghiệp, nông nghiệp đều kém phát triển, cơ sở hạ tầng còn chắp vá. Một thập kỷ nữa chúng ta mới phấn đấu trở thành nước công nghiệp… Tôi nghĩ, hiện nay đất nước đang cần đến nhiều nhà trí thức để xây dựng nền kinh tế tri thức. Vấn đề chính như tôi đã trình bày là giải phóng tiềm năng của những nguồn lực. Làm thế nào để đào tạo và sử dụng tốt trí thức để xây dựng đất nước ta hiện nay không phải là dễ. Cơ sở vật chất để sáng tạo, điều kiện vật chất và tinh thần cùng với những quan hệ đồng sự trong lao động sáng tạo đều là những bài toán khó trong cơ chế thị trường đang từng ngày, từng ngày tạo ra sự phân tầng xã hội rất nguy hiểm.

Trong xã hội của chúng ta hiện nay, ngành sản xuất tinh thần còn chưa được chú ý thích đáng và đúng mức do đó nó ảnh hưởng rất nhiều đến việc phát huy các tiềm năng lao động của trí thức. Có lẽ người trí thức hiện nay đang chờ nhu cầu của thị trường để sáng tạo và chờ những chính sách đột phá khả thi để sẵn sàng lao động.

Dù trong tình hình khó khăn và phức tạp như thế nào, tôi vẫn tin tưởng lòng yêu nước tuyệt vời và sức chịu đựng phi thường của người trí thức Việt Nam. Họ luôn gìn giữ phẩm giá cá nhân và phẩm giá dân tộc.

Bản chất của sự phát triển văn hoá là phát triển tự do của con người. Cụ Hồ Chí Minh nói rằng: Không có gì quý hơn độc lập tự do. C.Mác và Ph.Ăngghen cũng nói: “Phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”. Người trí thức Việt Nam có văn hoá là những người rất yêu tự do. Họ hướng đến những giá trị tự do do Cụ Hồ, C.Mác và Ph.Ăngghen đề xuất để lao động, để sáng tạo, để phục vụ Tổ quốc, để phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam./.

Phan Thắng (Thực hiện)
Theo Văn hóa Nghệ An

tutuonghochiminh.vn

Tư liệu Chủ tịch Hồ Chí Minh với Phật giáo

Nghiên cứu cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, điều chúng ta dễ dàng bắt gặp là ở chỗ Người có nhiều mối quan hệ gắn bó với Phật giáo, không chỉ ở mặt tư tưởng, tình cảm mà cả chính bằng những việc làm cụ thể.

Trên bình diện tư tưởng, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều mặt gần gũi, gặp gỡ với giáo lý Phật giáo. Cốt tủy của Phật giáo là Từ bi hỷ xả, Vô ngã vị tha, Cứu khổ cứu nạn. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tôn chỉ mục đích của đạo Phật nhằm xây dựng cuộc đời thuần mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui và no ấm”(1).

Mang khát vọng giải phóng nhân quần ra khỏi cảnh khổ đau, Thái tử Tất Đạt Đa đã rời bỏ cảnh sống vương giả, xuất gia tìm đạo: “Ta không muốn sống trong cung vàng điện ngọc, Ta không muốn sống trong cảnh vương giả trị vì thiên hạ, hưởng cuộc đời sung sướng cao sang trên mồ hôi nước mắt của lê dân. Ta không muốn sống trong xã hội bất công mà Ta đã chứng kiến. Ta quyết định ra đi, dù phải xông pha trên gió bụi lao lung, Ta cố tìm ra mối đạo giải thoát cho nhân loại muôn loài”(2).

hochiminh-2.gifCùng với hạnh nguyện trên đây của Thái tử Tất Đạt Đa, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành lớn lên trong cảnh nước mất nhà  tan, đã sớm nhận ra cảnh:

Trên đời nghìn vạn điều cay đắng
Cay đắng chi bằng mất tự do.

Điều đó thôi thúc Nguyễn Tất Thành bất chấp mọi gian khổ hiểm nguy, bôn ba khắp năm châu bốn biển để tìm đường cứu nước, cứu dân. “Tôi muốn đi ra nước ngòai xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”(3). Với ý chí và quyết tâm đó, nên ngay giữa thủ đô Paris, trong sự bủa vây của mật thám Pháp, Nguyễn Ái Quốc vẫn không hề nao núng về lý tưởng cứu nước, cứu dân của mình: “Tôi thích làm chính trị thì tôi chẳng sợ chết, cũng chẳng sợ tù đày. Trong đời này chúng ta chỉ chết có một lần, tại sao lại sợ?”(4).

Cách đây trên 2.500 năm, khát vọng công bằng xã hội đã được Đức Thế Tôn nêu lên như một quy luật xã hội, cô đọng lại trong lời dạy nổi tiếng, mang tính vượt thời gian: “Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ, không có đẳng cấp trong giọt nước mắt cùng mặn. Mỗi người khi mới sanh không phải có sẵn dấu tin-ca (tilca) trên trán, không đeo sẵn dây chuyền trong cổ”(5). Phật dạy các đệ tử: “Này các Tỳ kheo! Hãy tu hành vì hạnh phúc cho quần chúng, vì an lạc cho quần chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc và an lạc cho chư Thiên và loài người” (Tương Ưng Bộ kinh); “Này các Tỳ kheo! Xưa và nay Ta chỉ nói lên sự khổ và diệt khổ” (Trung Bộ kinh).

Với Hồ Chí Minh thì “tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng… Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”(6). Vì vậy đối với Người, “bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích là làm sao ích quốc lợi dân. Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn đau khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”.

Phật giáo chủ trương: “Dĩ chúng tâm kỷ tâm”. Đối với Phật giáo, con người là cao hơn tất cả: “Nhân thị tối thắng”. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dân chúng công nông là gốc cách mệnh” (7) và “nhân nghĩa là nhân dân. Trong bầu trời không có gì tốt đẹp vẻ vang bằng phục vụ lợi ích cho nhân dân”(8).

Trong Phật giáo, các vị Bồ tát xem nỗi đau khổ của chúng sinh là nỗi đau khổ của minh, bao giờ nỗi đau khổ của chúng sinh chưa dứt thì thề chưa thành Phật, ngài Địa Tạng Bồ tát thệ nguyện:

Chúng sanh độ tận phương chứng Bồ đề,
Địa ngục vị không thệ bất thành Phật”.

(Chúng sinh độ hết mới chứng đạo Bồ đề,
Địa ngục nếu còn thề không thành Phật).

Với Chủ tịch Hồ Chí Minh thì “suốt đời, tôi chỉ có một ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”(9). Nhân bản Hồ Chí Minh nói theo cách nói của Phật giáo là sự “kết tinh bằng Từ bi, Trí tuệ, Dũng mãnh, hướng dẫn chúng sinh đạt tới mục đích Giác ngộ và Giải thoát, chuyển cõi Sa bà này thành cõi Tịnh độ,  và cuộc đời cơ cực này thành nếp sống Cực lạc”(10).

hochiminhvoi-pg.gif

Ảnh tư liệu Bảo tàng HCM – Xuân Loan sưu tầm

Nhận rõ những giá trị cao đẹp của Phật giáo, có sự gần gũi, gặp nhau với tư tưởng Phật giáo trên những nét lớn, Chủ tịch Hồ Chí Minh bao giờ cũng nhìn Phật giáo với một thái độ trân trọng: “Nền tảng và truyền thống của triết học Ấn Độ là lý tưởng hòa bình bác ái. Liên tiếp trong nhiều thế kỷ, tư tưởng của Phật giáo, nghệ thuật khoa học Ấn Độ đã lan khắp thế giới”(11). Năm 1958, khi sang thăm Ấn Độ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Chúng tôi rất sung sướng được thăm quê hương Đức Phật, quê hương của một trong những nền  văn minh lâu đời nhất thế giới”(12). Nhà thơ Huy Cận viết: “Khi bình sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn có một tấm long kính mộ sâu sắc và cảm động đối với Đức Phật Thích Ca – người sáng lập ra đạo Phật, cũng như đối với tất cả các vị sáng lập những tôn giáo lớn. Người đã cảm nhận ở các vị giáo chủ này trước hết là lòng thương cảm sâu sắc đối với số phận của những chúng sinh và ý muốn thiết tha làm sao giảm nhẹ hoặc xóa bỏ những nỗi đau khổ của con người trên trái đất”(13).

Trong hành động cụ thể, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều gắn bó với Phật giáo. Theo nghị sĩ Thái Lan Si-pha-nôn Vi-shit Va-ra-ron, năm 1927, khi hoạt động ở Thái Lan, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng điện Phật to nhất của chùa Phô-thi-sôm tỉnh U-đon, Đông Bắc Thái Lan. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã vận động Việt kiều góp sức, góp của và đứng ra chủ trì việc xây dựng. Cũng thời gian này, chùa Lô-ka-nu-kho (Băng-cốc) là cơ sở hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ở đây, Người đã được Hòa thượng Thích Bình Lương hết lòng giúp đỡ.

Khi nước nhà được độc lập, nhà sư về nước. Lúc nhà sư lâm bệnh điều trị ở Bệnh viện Việt – Xô, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm. Khi nhà sư viên tịch, Người đã gửi vòng hoa đến viếng với nội dung: “Kính viếng Hòa thượng Thích Bình Lương”, dòng chữ nhỏ dưới đề: “Đồng chí Hồ Chí Minh”. Giáo sư Trần Văn Giàu cũng cho biết thêm khi hoạt động cách mạng ở Thái Lan, Chủ tịch Hồ Chí Minh sống rất giản dị và kham khổ như một nhà tu hành, có khi Người đã mặc áo cà sa của nhà sư.

Năm 1941, khi về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trong điều kiện hết sức khó khăn giữa núi rừng Pắc Bó, Nguyễn Ái Quốc đã vẽ ảnh Phật treo trên vách đá để quần chúng có nơi chiêm ngưỡng vào những dịp lễ Tết.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, mặc dầu bề bộn với nhiều công việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành thời gian đến thăm chùa Quán Sứ, chùa Bà Đá. Nói chuyện với Tăng Ni, tín đồ Phật tử ở đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nhà nước chúng tôi luôn luôn tôn trọng tự do tín ngưỡng, Phật giáo Việt Nam với dân tộc như hình với bóng, tuy hai mà một. Tôi mong các Hòa thượng, Tăng Ni và Phật tử hãy tích cực thực hiện tinh thần Tư bi, Vô ngã, Vị tha trong sự nghiệp cứu nước, giữ nước và giữ đạo để cùng toàn dân sống trong Độc lập, Tự do, Hạnh phúc”(14).  Đối với Người, làm được như vậy tức là “đã làm theo lòng Đại từ, Đại bi của Đức Phật Thích Ca”(15).

Trong thời gian từ năm 1954 đến lúc qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi thăm nhiều chùa, nhiều cơ sở Phật giáo ở miền Bắc, tiếp xúc với nhiều Tăng Ni, Phật tử. Ngày 19-5-1960, trong lúc Hoà thượng Thích Thanh Chân, trụ trì chùa Hương, đang chuẩn bị vào Phủ Chủ tịch để chúc thọ Hồ Chủ tịch tròn 70 tuổi, thì 5 giờ sáng hôm đó, Người lại vào thăm chùa Hương. Tại đây, Người đã chỉ thị cho chính quyền địa phương phải sửa lại những con thuyền, bắc thêm cầu phao và làm thêm một con đường mới, để các Tăng Ni, Phật tử đi lại chiêm bái được dễ dàng và an toàn.

Khi ở miền Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện chính sách kỳ thị tôn giáo, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi Tăng Ni, Phật tử “hãy ra sức giúp đỡ cán bộ, hăng hái thực hiện mọi công tác của Chính phủ, chấp hành đúng chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, ngăn chặn âm mưu của Mỹ – Diệm và bọn tay sai chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, hãy ra sức đấu tranh giành thống nhất đất nước”(16). Khi chính quyền Ngô Đình Diệm tiến đến chính sách tiêu diệt Phật giáo bằng việc ra lệnh cấm treo cờ Phật giáo thế giới vào dịp Lễ Phật đản năm 1963, Tăng Ni, Phật tử miền Nam đã đứng dậy đấu tranh quyết liệt.

Để phản đối chính sách bất công, gian ác của chính quyền Ngô Đình Diệm, ngày 11-6-1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại Sài Gòn với hạnh nguyện:

“Khói thơm cảnh tỉnh bao người ác,
Tro trắng phẳng san hố bất bình”(17).

Trước sự hy sinh phi thường và dũng cảm của Hòa thượng Thích Quảng Đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức cảm động và Người đã có câu đối kính viếng Hòa thượng:

Vị pháp thiêu thân vạn cổ hùng huy thiên nhật nguyệt.
Lưu danh bất tử bách niên chính khí địa sơn hà”(18).

Đêm 20 rạng ngày 21-8-1963, chính quyền Ngô Đình Diệm tiến hành “Kế hoạch nước lũ”, cho quân tấn công hầu hết các ngôi chùa dùng làm cơ sở đấu tranh trên khắp miền Nam. Tiếp theo, chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp khốc liệt cuộc đấu tranh của sinh viên, học sinh Sài Gòn phản đối Diệm đàn áp tôn giáo. Ngày 25-8-1963, nữ sinh Quách Thị Trang bị bắn chết trước bùng binh chợ Bến Thành (Sài Gòn). Ngày 28-8-1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời tuyên bố, nghiêm khắc lên án chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp dã man Tăng Ni, Phật tử và khủng bố, bắt bớ giáo sư, sinh viên, học sinh miền Nam: “Gần đây, ở miền Nam Việt Nam lại xảy ra thêm một tình trạng cực kỳ nghiêm trọng và đau thương. Bọn Ngô Đình Diệm đốt phá chùa chiền, khủng bố sư sãi và đồng bào theo đạo Phật. Chúng đóng cửa các nhà trường, bắt bớ hàng loạt giáo sư và sinh viên, học sinh. Tội ác của chúng, nhân dân ta đều căm giận. Cả thế giới đều lên tiếng phản đối, nhân dân tiến bộ Mỹ cũng tỏ lòng bất bình… Trước tình hình ấy, đồng bào miền Nam ta đã đoàn kết nhất trí, không phân biệt sĩ nông công thương, không phân biệt chính kiến, tôn giáo, kiên quyết đấu tranh để giành lại tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam tất yếu sẽ thắng lợi: “Dưới ngọn cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, cuộc đấu tranh chính nghĩa của đồng bào miền Nam được sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới, nhất định giành được thắng lợi”; đồng thời bày tỏ sự cảm ơn đối với nhân dân thế giới đã ủng hộ cuộc đấu tranh của Tăng Ni, tín đồ Phật tử miền Nam chống chế độ bạo quyền Ngô Đình Diệm: “Thay mặt nhân dân Việt Nam, tôi chân thành cảm ơn nhân dân và chính phủ các nước Phật giáo, các nước xã hội chủ nghĩa anh em, cảm ơn nhân dân yêu chuộng hòa bình và chính nghĩa trên thế giới, cảm ơn nhân dân và nhân sĩ tiến bộ nước Mỹ đã nghiêm khắc lên án Mỹ – Diệm và nhiệt tình ủng hộ nhân dân miền Nam”(19).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao những đóng góp, hy sinh của Tăng Ni, tín đồ Phật giáo trong hai cuộc kháng chiến. Năm 1964, trong thư gửi Đại hội kỳ 3 Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam, Người viết: “Các vị Tăng Ni, tín đồ Phật giáo trước đây có công với kháng chiến, nay thì đang góp sức cùng toàn dân xây dựng miền Bắc giàu mạnh và đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà”. Hòa thượng Thích Đôn Hậu (chùa Linh Mụ, Huế), người thoát ly tham gia kháng chiến vào dịp quân và dân miền Nam mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, rất có lý khi khẳng định rằng: “Sự hiểu biết của Người rất uyên bác, không những Người nắm chắc lịch sử yêu nước của Phật giáo Việt Nam trong quá khứ, mà Người còn theo dõi rất cụ thể những hoạt động yêu nước của Phật giáo nước ta hiện nay”(20). Ông Srivalisnha, Chủ tịch Hội Truyền bá đạo Phật Mahabodi ở Ấn Độ phát biểu trong lần tiếp Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi Người sang thăm Ấn Độ (1958): “Chúng tôi kính cẩn và nhiệt liệt hoan nghênh ngài Chủ tịch đã từ bỏ những hào nhoáng lộng lẫy… Cũng như Hoàng đế Asoka, một Phật tử đầy lòng hy sinh, Chủ tịch đã nêu cao trước thế giới một lý tưởng mà chỉ có thể thực hiện bởi một người đầy lòng tin tưởng… Chủ tịch thật là một người kiêm cả công, nông, trí thức cách mạng với một lòng từ bi là đạo đức quý nhất của tín đồ Phật giáo. Các Phật tử Ấn Độ chúng tôi rất lấy làm tự hào mà xem Ngài là một con người của một nước đã có quan hệ mật thiết về văn hóa và tín ngưỡng hơn hai ngàn năm với Ấn Độ chúng tôi”(21). Và, thực tế là đã có một con đường mang tên Hồ Chí Minh ở thủ đô New Delhi, Ấn Độ.

Những dòng tư liệu trên đây giúp chúng ta hiểu rõ hơn và đầy đủ hơn về mối quan hệ gắn bó sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Phật giáo trong quá trình hoạt động cách mạng của Người, cả trong nhận thức và trong hành động; nó giải thích rõ vì sao Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến đã đi theo con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn và đã có những đóng góp hết sức to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước trước đây và ngày nay đang chung lưng đấu cật cùng với toàn dân bảo vệ và xây dựng đất nước Việt Nam thân yêu ngày càng “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn.

Lê Cung PGS. TS.Khoa Lịch sử,Trường Đại học Sư phạm Huế.
Theo báo Giác Ngộ online

(1) Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch. Tập IV, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1958, tr.39.
(2) Thích Diệu Niệm. Tư tưởng Hồ Chí Minh gần gũi với tư tưởng Phật giáo. Nội san Nghiên cứu Phật giáo số 1, Hà Nội, 1991, tr.33.
(3) Trần Dân Tiên. Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch. NXB Văn Học, Hà Nội, 1970, tr.11.
(4) Nguyễn Phan Quang. Thêm một số tư liệu về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở Pháp 1917-1923. NXB TP.HCM, 1995, tr.47.
(5) Võ Đình Cường. Ánh đạo vàng. Phật học Viện Quốc tế xuất bản, USA, 1987, tr.92-93.
(6) Hồ Chí Minh. Toàn tập, Tập IV. NXB Sự Thật, Hà Nội, 1984, tr.1.
(7) Hồ Chí Minh. Toàn tập, Tập II. NXB Sự Thật, Hà Nội, 1984, tr.197.
(8) Hồ Chí Minh. Phát huy tinh thần cầu học cầu tiến. NXB Sự Thật, Hà Nội, 1960, tr.62-63.
(9) Hồ Chí Minh. Toàn tập, Tập IV. NXB Sự Thật, Hà Nội, 1984, tr.100.
(10) Thích Đức Nghiệp. Hồ Chủ tịch, một biểu trưng nhân bản Việt Nam, trong Đạo Phật Việt Nam. NXB TP.HCM, 1995, tr.318.
(11) Hồ Chí Minh. Truyện và ký. NXB Văn Học, Hà Nội, 1985, tr.201.
(12) Hồ Chí Minh. Sđd, tr.208
(13) Cù Huy Cận. Hồ Chí Minh – nhà văn hóa lớn, một người hiền của thời đại chúng ta. Báo Nhân Dân ngày 1-9-1989.
(14) Thích Đức Nghiệp, Sđd, tr.321-322.
(15) Thư Hồ Chủ tịch gởi Hội Phật tử Việt Nam, ngày 30-8-1947.
(16) Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Tập IV. NXB Sự Thật, Hà Nội, 1958, tr.39.
(17) Kệ thiêu thân cúng dường Chánh pháp của Hòa thượng Thích Quảng Đức viết trước lúc tự thiêu.
(18) Phạm Hoài Nam. Bồ tát Thích Quảng Đức, ngọn đuốc xả thân vì Đạo pháp và Tổ quốc. Báo Sài Gòn Giải Phóng, ngày 30-5-2005.
(19) Lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tình hình miền Nam Việt Nam hiện nay. Báo Quân Đội Nhân Dân, ngày 29-8-1963, tr.1.
(20) Bác Hồ trong lòng dân Huế. Thành ủy Huế, 1990, tr.35.
(21) Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa. NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1990, tr.30.

biendong.vntime.vn

Tầm nhìn Hồ Chí Minh qua con mắt một nhà báo Mỹ (Kỳ 4)

“Các ông sẽ phải bỏ cuộc”

QĐND – … Từ núi rừng Việt Bắc vào những tháng trước khi Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc,  ông Hồ qua máy vô tuyến điện của Trung úy phi công Mỹ Giôn đã liên hệ thăm dò người Pháp ở Côn Minh.

Những bức điện ông nhờ Trung úy Giôn chuyển hộ đến tay Lê-ôn Pi-nhông (Léon Pignon), một chính trị gia chuyên nghiệp Pháp (về sau là Cao ủy Pháp ở Đông Dương) và Thiếu tá Giăng Xanh-tơ-ni (Jean Sainteny), sĩ quan của lực lượng Pháp Tự do (Đại diện Pháp ở Bắc Việt Nam). Cả hai người khi đó đang ở Côn Minh. Sau khi đọc bức điện của ông Hồ yêu cầu Pháp cam kết trao trả độc lập trong vòng năm đến mười năm, Pi-nhông và Xanh-tơ-ni trả lời họ sẵn sàng thương lượng nhưng lại không nói rõ thời gian và địa điểm. Vào lúc này người Mỹ trở thành một vấn đề đối với người Pháp. Đầu tháng 4-1945, chính quyền Mỹ dỡ bỏ lệnh của Ru-dơ-ven không giúp đỡ các lực lượng hoạt động bí mật ở Đông Dương, Cục Tình báo Chiến lược Mỹ (O.S.S.) bắt đầu tiến hành việc tái huấn luyện và cung cấp trang bị cho khoảng 2000 lính Pháp vừa chạy sang Côn Minh sau đảo chính của Nhật, có kế hoạch cho các toán Pháp – Mỹ nhảy dù xuống Đông Dương và tiếp theo sẽ thả đồ tiếp tế trang bị nếu có thể tổ chức được các đội du kích kháng chiến. Thật sự lúc này người Pháp một mặt sẵn sàng nhận mọi giúp đỡ vật chất của Mỹ nhưng lại rất muốn tránh bất cứ sự dính líu trực tiếp nào của Mỹ vào Đông Dương. Tướng Hi-li-oen, cựu Cục trưởng O.S.S. sau này đã nói: “Hết sức rõ ràng là vào tháng 6-1945, người Pháp hoàn toàn chỉ nghĩ đến việc tìm cách giữ không để người Mỹ vào Đông Dương hơn là lo việc đánh bại Nhật hoặc làm cái gì khác để đưa cuộc chiến tranh đến kết thúc thắng lợi trong vùng này”.

Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945. Ảnh tư liệu

Người Mỹ vào Đông Dương không nhiều, nhưng đã có một số toán O.S.S. được thả dù xuống vùng rừng núi và có giúp lực lượng ông Hồ một số súng tiểu liên, các-bin. Vào lúc chiến tranh kết thúc, bộ đội Việt Minh được bổ sung thêm vũ khí lấy được của Nhật ráo riết chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Khắp toàn Đông Dương nổi lên phong trào độc lập. Dưới sự chỉ huy của Võ Nguyên Giáp, bộ đội Việt Minh tiến vào Hà Nội ngày 17-8-1945. Một tuần sau, một chiếc máy bay của lực lượng Pháp Tự do đưa Thiếu tá Xanh-tơ-ni nhảy dù xuống Hà Nội cùng với Thiếu tá Mỹ A-si-mét Pa-ti (Archimedes Patti) của O.S.S. Nhiệm vụ của Pa-ti là giải phóng tù binh chiến tranh. Để làm việc này, Pa-ti phải có sự hợp tác của người Nhật bởi vì lúc này quân Trung Quốc làm nhiệm vụ tiếp quản chưa tới. Xanh-tơ-ni cảm thấy mọi hoạt động của mình đang bị Việt Minh và người Nhật cản trở với lý do bảo đảm an ninh cho ông ta. Nhưng Xanh-tơ-ni cho là do có sự nương nhẹ của Pa-ti, Việt Minh đã cầm giữ mấy trăm người Pháp trong khách sạn Metropole. Xanh-tơ-ni bất bình, sau năm ngày đến Hà Nội, ông về Can-cút-ta (Calcutta), Ấn Độ: “Đang có một âm mưu cấu kết của Đồng minh nhằm hất người Pháp ra khỏi Đông Dương”. Nhưng thật ra chỉ là chuyện tình cờ chứ không phải câu kết.

Mấy tuần sau thêm một số người Mỹ đến Hà Nội, trong đó có một số sĩ quan cao cấp của Bộ tư lệnh Chiến đấu Mỹ từ Trung Quốc. Họ tỏ ra cởi mở, có cảm tình với Việt Minh, đặc biệt là với ông Hồ. Thiếu tá Pa-ti không giấu giếm việc ủng hộ nền độc lập của Việt Nam. Theo nguồn tin của Pháp, Pa-ti có nói sẽ giúp ông Hồ xin vũ khí và một vị tướng Mỹ nói ông ta có quan hệ với giới kinh doanh ở Mỹ và họ có thể gửi giúp chế độ mới ở Việt Nam các máy móc hạng nặng để tái kiến thiết đất nước. Việc ông Hồ cần sự giúp đỡ thì đã rõ. Ha-rôn I-dắc (Harold Isaacs), một đồng nghiệp của tôi làm việc ở Newsweek đã được gặp ông Hồ vào tháng 11-1945 kể rằng, ông Hồ có nói ông sẵn sàng để cho người Pháp giữ được địa vị kinh tế của họ ở Việt Nam nếu họ công nhận nền độc lập của Việt Nam. Ông Hồ hỏi lại: “Sao lại không? Chúng tôi đã phải trả bằng xương máu hàng mấy thập kỷ rồi. Ví phỏng chúng tôi phải trả thêm mấy trăm triệu đồng nữa để giành được tự do thì không đáng hay sao?”.

… Cảm tình của người Mỹ đối với ông Hồ vào cuối năm 1945 và đầu năm 1946 thể hiện trong việc thành lập Hội Hữu nghị Việt-Mỹ. Cuộc họp đầu tiên của hội ở Hà Nội có một tướng Mỹ và các sĩ quan Mỹ dự. Đáp lại những lời hoan nghênh, ca ngợi hữu nghị đối với nước Mỹ, vị tướng Mỹ mong muốn rồi đây sẽ có những việc như trao đổi sinh viên giữa hai bên.

Thiếu tá Xanh-tơ-ni một lần gặp một chuyện ông cho là sỉ nhục khi đang ngồi xe Jeep có treo cờ Pháp bị quân Nhật bắt giữ, sau đó được thả nhờ có sự can thiệp của một đại tá Mỹ. Đối với người Mỹ, Xanh-tơ-ni có nhận xét: “Tinh thần chống chủ nghĩa thực dân ấu trĩ đã làm mờ mắt hầu hết người Mỹ”. Tuy gặp nhiều chuyện không hài lòng, chính Xanh-tơ-ni hơn bất cứ người Pháp nào, lại có cảm tình với Hồ Chí Minh và đã cố gắng thúc đẩy chính sách hợp tác thực sự với ông.

Sau hai lần gặp ông Hồ vào cuối tháng 9 và đầu tháng 10-1945, Xanh-tơ-ni có nhận xét ông Hồ là “một nhân vật đầy nghị lực và đáng kính”. Sau này trong cuốn sách “Chuyện một nền hòa bình bị bỏ lỡ, 1945-1947”, Xanh-tơ-ni đã viết: “Con người rất mực giản dị này, với khuôn mặt ta thoáng nhìn đã thấy ngay sự thông minh mẫn tiệp, tài giỏi, tinh tế, là một nhân vật thuộc lớp người có những phẩm chất cao quý nhất, là một người chẳng bao lâu sẽ đứng vào hàng đầu trên cục diện châu Á”.

Xanh-tơ-ni là người đã tham gia phần lớn việc thương lượng với ông Hồ và đạt được Hiệp định ngày 6-3-1946. Trong cuốn sách của mình, Xanh-tơ-ni có trích dẫn lời ông Hồ nói: “Khi chúng tôi muốn tự cai quản đất nước mình… chúng tôi sẽ cần đến các chuyên gia, các kỹ sư và nguồn tư bản của các ông để xây dựng một nước Việt Nam độc lập, hùng mạnh”. Xanh-tơ-ni nói: “Ông Hồ muốn có một Liên hiệp Pháp được xây dựng, trong đó Việt Nam là hòn đá tảng… Ông ấy muốn đất nước ông phải được độc lập và muốn nền độc lập ấy có vai trò của người Pháp… Thật đáng tiếc là nước Pháp đã không đánh giá đúng con người đó và không hiểu hết giá trị và sức mạnh của ông ấy”.

… Một lần, trong thời gian Hội nghị Fontainebleau (1946), ông Hồ đã nói với Xanh-tơ-ni và Ma-ri-uýt Mu-tê (Marius Moutet): “Nếu chúng tôi phải chiến đấu để giành độc lập thì chúng tôi sẽ chiến đấu. Các ông có thể giết được mười người của chúng tôi và chúng tôi chỉ giết được một người của các ông nhưng cuối cùng các ông sẽ là người phải bỏ cuộc”.

Rô-bớt Sáp-lân, sinh năm 1917, thường xuyên viết cho các báo The New Yorker, Herald Tribune, Newsweek ; trong Thế chiến II là phóng viên chiến tranh của Newsweek trên mặt trận Thái Bình Dương. Do tính chất công việc, R. Sáp-lân biết khá nhiều chuyện về Việt Nam trong những năm chiến tranh. Ông cũng là bạn của Thiếu tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn, của Giáo sư La-ri Bơ-man (Larry Berman), tác giả cuốn “Điệp viên hoàn hảo”. Sau 1975 ông có trở lại thăm Việt Nam.

Cuốn “The Lost Revolution” (Cuộc cách mạng bị bỏ lỡ) của R. Sáp-lân ra mắt độc giả từng phần lần đầu tiên trên các báo từ năm 1955, sau đó xuất bản thành sách, liên tục tái bản có bổ sung vào những năm 1962, 1963, 1964, 1965. Điều đáng chú ý là trong cuốn sách của Mỹ, tác giả phê phán Pháp và Mỹ liên tục sai lầm, đã bỏ lỡ cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 của nhân dân Việt Nam, bỏ lỡ nhiều cơ hội hợp tác với Cụ Hồ Chí Minh do không hiểu được nguyện vọng cháy bỏng của Cụ Hồ là độc lập dân tộc cho nhân dân Việt Nam, không tin Cụ Hồ thành thật muốn hợp tác với Đồng minh để chống Nhật cứu nước và sẵn sàng quan hệ với phương Tây để xây dựng đất nước sau khi giành được độc lập.

Quang Doãn
(Giới thiệu và biên dịch)

Kỳ 1: Câu chuyện của viên Trung úy Mỹ
Kỳ 2: Bức thư của Hồ Chí Minh
Kỳ 3: “Ông già người Việt” và những cuộc gặp với người Mỹ

qdnd.vn

Tầm nhìn Hồ Chí Minh qua con mắt một nhà báo Mỹ – Kỳ 3

“Ông già người Việt” và những cuộc gặp với người Mỹ

QĐND – Cuối năm 1941, Nguyễn Ái Quốc bị mật vụ của Quốc dân đảng Trung Quốc bắt giữ. Họ biết ông là cộng sản nhưng cứ gán ghép cho là “gián điệp của Pháp” và bắt ông vào tù ở Liễu Châu. Cũng giống như những người Trung Quốc từ lâu, khi nhìn sang Bắc kỳ, Quốc dân đảng lúc ấy đã có ý đồ gây dựng riêng một phong trào “độc lập’ chống Pháp, đứng đầu là những người Việt thân Trung Quốc mà họ thu nhặt được. Tuy nhiên, chẳng bao lâu họ nhận ra rằng chỉ có các nhóm du kích cộng sản của Mặt trận Việt Minh do Nguyễn Ái Quốc tổ chức là những người duy nhất có kinh nghiệm hoạt động thực sự ở Đông Dương. Không ai khác ngoài Việt Minh có thể có một mạng lưới điệp viên ở đó, trừ một ngoại lệ. Trường hợp ngoại lệ này, kỳ cục thay lại là một tổ chức tình báo do một nhóm nhân viên dân sự đứng đầu gồm khoảng một chục nhà kinh doanh có quyền lợi ở Đông Dương thuộc các nước Đồng minh, mỗi người trong nhóm có tổ chức cộng tác viên riêng gồm người Pháp, Hoa và Việt; lúc đầu, mục đích của họ là làm mọi cách có thể được để bảo vệ tài sản các nước Đồng minh ở Viễn Đông. Sau trận Trân Châu Cảng, tổ chức duy nhất này bắt đầu hợp tác với du kích của ông Hồ để thu thập tin tình báo cung cấp cho lực lượng không quân của Đồng minh đóng căn cứ ở Trung Quốc và Ấn Độ.

Đầu năm 1943, từ trong nhà tù, Nguyễn Ái Quốc gửi một bức thư cho Trương Phát Khuê, viên lãnh chúa quân phiệt nam Trung Hoa, cũng là một thủ lĩnh quan trọng của Quốc dân đảng, từng tranh chấp quyền bính với Tưởng Giới Thạch và thường có quan điểm riêng của mình về Đông Dương. Nguyễn Ái Quốc nói với Trương Phát Khuê nếu được trả tự do, ông sẽ tập hợp mạng lưới tình báo của mình ở Đông Dương và sẽ cộng tác với Trương. Nhận được bức thư, Trương ra lệnh thả ông ra khỏi nhà tù ở Liễu Châu không cần báo cáo cho Tưởng Giới Thạch biết. Và chính từ thời điểm Nguyễn Ái Quốc đổi tên là Hồ Chí Minh, trước hết là để giấu lai lịch đối với Tai Li, trùm mật vụ của Tưởng. Với tên Hồ Chí Minh, ông trở thành người cầm đầu một tổ chức tập hợp rộng rãi các nhóm cách mạng người Việt gọi là Đồng minh Hội, được Trung Hoa Quốc dân đảng ủng hộ, còn Việt Minh do cộng sản tổ chức lúc đầu cũng chỉ là một bộ phận của tổ chức này.

Trong năm 1943 và 1944, Việt Minh tăng cường xây dựng lực lượng chính trị và đến cuối năm 1944, họ có một lực lượng quân sự độc lập gồm hàng vạn người dưới sự chỉ huy của Võ Nguyên Giáp, một luật sư kiêm nhà giáo trẻ tuổi, lúc bấy giờ đã bộc lộ tài năng xuất sắc về quân sự. Do tính độc lập của Việt Minh ngày càng tăng, mối quan hệ của ông Hồ với Trung Hoa Quốc dân đảng ở Trùng Khánh và Côn Minh không tránh khỏi trở nên căng thẳng. Trong tình hình đó, Trương Phát Khuê – người đã bảo trợ ông Hồ cũng chẳng làm được gì. Về phía người Pháp thì cả chính phủ Vichy (thủ tướng Pétain – ND) lẫn phe nước Pháp tự do (của tướng De Gaulle – ND) cũng đều lo lắng trước tình hình hoạt động của ông Hồ, cả hai thế lực này đã dẹp mối bất đồng có từ lâu để trao đổi tin tức mật về ông Hồ.

Trong nửa năm cuối 1944, ông Hồ bắt đầu nhìn sang phía người Mỹ, và những gì xảy ra trong hai năm tiếp sau đó, kể cả câu chuyện thơ mộng lạ lùng trong rừng giữa ông Hồ với những người lính trẻ như Giôn, đã mang âm hưởng một vở kịch vui nhưng câu chuyện trên thực tế lại có một kết thúc buồn. Vào cuối năm 1944 và đầu năm 1945, ông Hồ đã 4 lần đến cơ quan Cục Tình báo Chiến lược của Mỹ ở Côn Minh để yêu cầu viện trợ vũ khí, đáp lại Việt Minh sẽ tiến hành các hoạt động tình báo và phá hoại chống Nhật, tiếp tục hoạt động cứu trợ các phi công Mỹ bị Nhật bắn rơi. Nhưng lần nào đề nghị của ông cũng bị bác bỏ. Theo lời kể của P. E. Hi-li-oen (P. E. Helliwell), Cục trưởng Cục Tình báo Chiến lược Mỹ ở Trung Quốc luôn luôn nhất quán trong chủ trương không giúp những người đã biết rõ là cộng sản như ông Hồ vì lo ngại sẽ có hậu quả rắc rối sau chiến tranh.

Tuy nhiên, cùng thời gian ấy, vẫn theo lời kể của Hi-li-oen, dù chính sách của Tổng thống Ru-dơ-ven đã công bố là Mỹ không dính dáng gì với phong trào kháng chiến ở Đông Dương – sau này Hi-li-oen có nói rằng, bản thân ông ta không hề nhận được lệnh trực tiếp nào về vấn đề này – mà việc quyết định không giúp ông Hồ lúc đó chủ yếu là do ông Hồ không chịu cam kết chỉ dùng số vũ khí nhận được để chống Nhật chứ không dùng để chống Pháp.

Nhưng ông Hồ vẫn kiên trì thương lượng. Cuối cùng, Hi-li-oen trao cho ông 6 khẩu súng ngắn và 20.000 viên đạn, nhưng chỉ coi đó là quà tặng đáp lại việc Việt Minh cứu được 3 phi công Mỹ. Sau đó, vào thời gian Mỹ hứa trao trả độc lập cho Phi-líp-pin, ông Hồ viết thư cho Ri-sác Hép-nơ (Richard Heppner), Cục trưởng Cục Tình báo Chiến lược Mỹ ở Trung Quốc thời kỳ cuối chiến tranh Thế giới thứ II, yêu cầu Mỹ giúp đỡ bằng cách gây áp lực với Pháp trao trả độc lập cho Đông Dương. Sự thực là ông Hồ cũng còn nhận được vài sự giúp đỡ khác của Cục Tình báo Chiến lược và một số cơ quan khác của Mỹ và Đồng minh nhiều hơn 6 khẩu súng ngắn của Hi-li-oen, nhưng sự giúp đỡ về vật chất đó chẳng có gì là to lớn như khi họ hào hứng hứa hẹn khích lệ ông. Một quan chức tình báo cao cấp ở Viễn Đông đã nói: “Ông Hồ muốn làm việc với chúng ta nhưng chúng ta không bao giờ bắt tay ông ấy vì chúng ta không thể cung cấp tài chính cho ông ấy”.

Ông Hồ còn thăm dò nhiều nguồn viện trợ khác trong các nước Đồng minh. Trung tướng Cle Chen-nôn (Claire Chennault), Tư lệnh Tập đoàn không quân 14 của Mỹ đã được các bạn bè Quốc dân đảng Trung Quốc báo trước, phải tránh liên hệ với ông Hồ nhưng rồi có lần đã có người giới thiệu “một ông già người Việt” đến xin gặp. Cũng chẳng có gì xảy ra sau lần gặp đó, nhưng người Anh thì tỏ ra sẵn sàng giúp đỡ hơn và vào tháng 11-1944, sau khi ông Hồ bí mật trở lại Bắc Kỳ với một lực lượng Việt Minh khoảng hai trăm người, họ đã thả dù tiếp tế cho những người Pháp thuộc phe kháng chiến (phe De Gaulle – ND) và cho du kích Việt Minh. Cùng đi với ông có một người trước đây có quan hệ với các nhà cựu kinh doanh Mỹ ở Đông Dương, những người này đã có lúc cộng tác với người của ông Hồ. Nhóm bí mật này vốn lúc đầu làm việc cho Cục Tình báo Chiến lược, nhưng lúc này lại thuộc quyền của một cơ quan của Lục quân Mỹ, Cơ quan Yểm trợ Không-Lục (AGAS-Air Ground Aid Service).

Số vũ khí mà ông Hồ và nhóm người ít ỏi của ông đưa về Bắc Kỳ lúc đó một phần là từ các nguồn của Cục Tình báo Chiến lược (O.S.S) mặc dù ngay từ đầu số vũ khí ấy phân phát ra không phải vì mục đích đó, một phần là lấy từ các kho vũ khí khác của Mỹ.

Ngay giữa miền rừng núi phía Bắc của Bắc Kỳ, trong một vùng hỗn tạp có đủ các loại: Phỉ Trung Quốc, tàn quân Pháp tự do, một số lính Mỹ nhảy dù xuống và nhiều nhóm quốc gia khác tích cực hoạt động, Hồ Chí Minh đã lập đại bản doanh cách mạng của mình. Bộ đội Việt Minh dưới quyền của ông Giáp, người chỉ huy trẻ tuổi, đã thành công trong hoạt động quấy rối quân Nhật, tuyên truyền vận động cho công cuộc giải phóng Việt Nam, cứu thêm được một số phi công Đồng minh. Một người Mỹ đã từng sống với ông Hồ tại cơ quan chỉ huy trong rừng của ông trong thời kỳ đó nay còn nhớ nét nổi bật nhất ở ông Hồ là “một con người có tính cách mạnh mẽ, ý chí kiên định”. Anh ta nhận xét về ông Hồ như sau: “Muốn đánh giá một con người cần dựa trên cơ sở xem người đó đang đeo đuổi cái gì. Ông Hồ không thể là người theo Pháp, và ông biết cách đánh Pháp theo cách của mình. Ông rất e ngại Trung Hoa Dân quốc, và không thể cộng tác với họ vì ông biết họ lúc nào cũng rất tham lam. Mát-xcơ-va thì ở quá xa… Nếu không đứng về phía Đồng minh trong cuộc chiến tranh, tất nhiên là ông Hồ không có thêm cơ hội giành lại độc lập cho đất nước từng bị sự thống trị lâu dài của chủ nghĩa thực dân Pháp. Nhưng bây giờ (năm 1965), ông Hồ đã ngồi lên lưng ngựa rồi, mặc dù không rõ con ngựa ông đang cưỡi là loại ngựa gì. Nhưng có thể nói chắc chắn là vào thời gian đó ông ta đã giúp chúng ta (Mỹ). Chúng ta và người Pháp lúc ấy đang ở trong thế có thể giúp ông trong tương lai. Tôi nghĩ, sau này ông ấy sẽ vẫn sẵn sàng giữ quan hệ tốt với phương Tây”./.

Quang Doãn
(Giới thiệu và biên dịch)

Kỳ 1: Câu chuyện của viên Trung úy Mỹ
Kỳ 2: Bức thư của Hồ Chí Minh

Kỳ 4: Các ông sẽ phải bỏ cuộc.

qdnd.vn

Tầm nhìn Hồ Chí Minh qua con mắt một nhà báo Mỹ – Kỳ 2

Bức thư của Hồ Chí Minh

QĐND – Ông Hồ và Giôn đã từng uống rượu, ăn gan hổ ninh nhừ. Ngày nay nhắc lại chuyện cũ, Giôn thú thật sự ngây thơ của mình là hồi ấy anh cứ nghĩ rằng ông Hồ không phải là người cộng sản. Nhưng dù ông đúng là cộng sản, Giôn vẫn tin chắc rằng ông Hồ rất thành thật muốn hợp tác với phương Tây, đặc biệt với Pháp và Hoa Kỳ. Giôn hiện còn giữ hai lá thư viết bằng tiếng Anh của ông Hồ gửi cho anh ta lúc ở trong rừng. Một lá thư viết không bao lâu sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh vào lúc Việt Minh sắp sửa nắm được quyền kiểm soát phong trào quốc gia, toàn văn như sau :

Trung úy (Giôn) thân mến,

Từ lúc chia tay với ông đến nay sức khỏe của tôi có kém đi. Có lẽ tôi sẽ phải nghe lời khuyên của ông di chuyển đến một vùng khác dễ tìm lương thực để sức khỏe được tốt hơn.

Tôi gửi tặng ông một chai rượu, hy vọng ông sẽ vừa ý. Mong ông vui lòng cho tôi biết những tin tức về tình hình quốc tế ông đã nhận được.

Nhờ ông gửi tới Đại bản doanh của ông bức điện sau đây :

1. Đại Việt (một tổ chức quốc gia chống Việt Minh) đang có kế hoạch tiến hành hoạt động khủng bố người Pháp ở nhiều nơi rồi đổ trách nhiệm cho VML (Mặt trận Việt Minh). VML đã chỉ thị cho hai triệu hội viên và dân chúng thuộc quyền của mình hết sức cảnh giác và khi có điều kiện phải chặn đứng âm mưu tội ác của Đại Việt. VML tuyên bố trước thế giới mục tiêu của mình là độc lập dân tộc. VML đấu tranh bằng biện pháp chính trị và nếu cần sẽ bằng biện pháp quân sự. Nhưng không bao giờ dùng hành động tội ác và bất lương. 

2. Ủy ban Giải phóng Dân tộc của VML đề nghị các nhà chức trách của chính phủ Hoa Kỳ thông báo cho Liên hợp quốc tình hình sau đây. Chúng tôi đã đứng về phía Liên hợp quốc đánh Nhật. Ngày nay Nhật đầu hàng, chúng tôi đề nghị Liên hợp quốc thực hiện lời hứa của mình là mọi dân tộc sẽ được hưởng dân chủ và độc lập. Nếu Liên hợp quốc quên lời hứa long trọng của mình và không trao độc lập hoàn toàn cho Đông Dương, chúng tôi sẽ tiếp tục chiến đấu cho đến khi giành được độc lập mới thôi.

Ký tên: Ủy ban Giải phóng của VML.

Xin cảm ơn ông vì đã làm phiền ông nhiều. Xin gởi ông lời chúc tốt đẹp

Thân ái chào ông, Hồ (sic)

(“sic” có nghĩa là “giữ đúng nguyên văn tiếng Anh” của người viết bức điện – ND).

Ngày 19-8-1945, hơn 10 vạn quần chúng thủ đô Hà Nội đã tham gia mít tinh, mở đầu cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Ảnh tư liệu

Điều gì có thể cắt nghĩa được sự khác biệt giữa hai thời kỳ 1945 và 1965, giữa những ngày chung sống thân thiết của Giôn với ông Hồ Chí Minh ở trong rừng-thời kỳ mà Mỹ đang có uy tín rộng lớn ở châu Á-với tấm thảm kịch phức tạp của cuộc chiến tranh Việt Nam ngày nay, khi mà người Mỹ đang tiến hành cuộc ném bom đất nước của ông Hồ? (Sách này tái bản lần thứ 5 vào năm 1965).

Những người cho rằng lẽ ra cần phải tranh thủ ông Hồ về phía chúng ta nay vẫn giữ quan điểm đó mặc dù từ lâu họ biết rõ sự thực ông Hồ không bao giờ chao đảo khỏi con đường Mác-xít – Lê-nin-nít. Mặc dù những quan điểm tư tưởng của ông thuộc lớp người chính thống Mác – Lê-nin (mà cũng có thể chính vì những quan điểm đó rất chính thống), và cũng do Đông Dương ở xa Mát-xcơ-va của Xta-lin mà ông Hồ đã viết nên bản tiểu sử cách mạng độc đáo riêng của mình. Vào thời kỳ đó, ông không tỏ ra là một kẻ ly khai phong trào cộng sản quốc tế mà lại càng bộc lộ là một chiến sĩ Bôn-sê-vích có quan điểm độc lập, một Mô-hi-can Mác-xít cuối cùng giữa chốn hoang vu Đông Nam Á chống chế độ thực dân. Nếu cho rằng đó chẳng qua là ông ta đã mê hoặc được vài người Mỹ để tạo mối quan hệ bạn bè vui vẻ nhưng nguy hiểm trong những tháng trước và sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, nhưng lại có thể kể ra nhiều loại bằng chứng khác nữa ngoài câu chuyện của Trung úy Giôn để chứng minh một cách chắc chắn rằng ông Hồ đã thật lòng với điều ông nói, ông rất muốn kết thân với những người Mỹ và những người Pháp có tư tưởng tự do, những người mà ông hy vọng có thể giúp ông tìm ra một con đường ôn hòa để giành lại tự do cho Việt Nam. Phải chăng đó chỉ là một nước cờ của ông Hồ, một diễn viên tuyệt vời, và phải chăng ông đã lợi dụng một số ít bạn bè người nước ngoài để xúc tiến sự nghiệp cháy bỏng của mình theo viễn ảnh của Mát-xcơ-va? Có khá nhiều bằng chứng về sự thành thực của ông Hồ để bác bỏ kết luận quá giản đơn đó. Chẳng phải do Mát-xcơ-va ở quá xa, không giúp gì cho ông Hồ một cách cụ thể trong những năm khó khăn trước đó, nhưng điều quan trọng là lúc bấy giờ nước Trung Hoa cộng sản chưa ra đời. Vậy thì lúc đó có ai hơn người Mỹ – những người đang tỏ ra tích cực chống chủ nghĩa thực dân khi vạch ra kế hoạch cho thế giới sau chiến tranh – đang có tư thế có thể giúp ông Hồ giành lại tự do cho đất nước từ tay người Pháp và đồng thời ngăn chặn được sự xâm nhập của Trung Hoa Quốc dân Đảng?

Chính sách của chính quyền Mỹ trong thời gian chiến tranh đối với vấn đề Đông Dương có lúc tỏ ra tích cực nhưng cũng có lúc mập mờ. Tổng thống Ru-dơ-ven (Roosevelt) có lúc đã nhận được sự chấp thuận có tính chất thăm dò của Xta-lin và Tưởng Giới Thạch về việc thực hiện chế độ ủy trị đối với Đông Dương sau chiến tranh, mặc dù trước đó cả hai nước này đã tán thành ý kiến trao trả độc lập cho người Việt Nam. Sớc-sin (Churchill) đã có phản ứng tiêu cực đối với đề nghị thực hiện chế độ ủy trị và Ru-dơ-ven đã chê trách ông ta là một kẻ theo chủ nghĩa đế quốc già cỗi. Tuy nhiên Ru-dơ-ven lại có thái độ có phần mập mờ khi có thời cơ cần phải làm cái gì đó để mở đường thực hiện độc lập cho Việt Nam. Tháng 10-1944, ông ta nói với Bộ trưởng Ngoại giao Co-đen Hun (Cordell Hull): “Chúng ta không được có bất cứ quan hệ nào đối với các nhóm kháng chiến ở Đông Dương”. Và khi một phái đoàn của phe nước Pháp tự do tới Kandy (Xây-lan) để yêu cầu Bộ tư lệnh Đông Nam Á của Đồng minh giúp đỡ, Ru-dơ-ven đã ra lệnh: “Không một đại diện nào của Mỹ ở Viễn Đông, bất kể là dân sự hay quân sự, được phép có bất cứ quyết định nào liên quan đến các vấn đề chính trị với người Pháp hay bất cứ người nào khác”.

“Người nào khác” có thể bao gồm cả ông Hồ Chí Minh mặc dù Ru-dơ-ven chưa từng nghe nói về ông ta. Ông Hồ từ lâu vốn là người bí ẩn, có nhiều tên gọi. Về điều này, ta chỉ cần nhớ lại thời kỳ 1939, khi ông Hồ còn lấy tên là Nguyễn Ái Quốc. Năm ấy, tiếp theo sự thất bại của Mặt trận Bình Dân ở Pháp, Đảng Cộng sản Đông Dương do ông Hồ xây dựng phải phân tán và đi vào hoạt động bí mật. Khi quân Nhật tràn vào Bắc Kỳ tháng 9-1940, những người cộng sản và những người quốc gia không cộng sản đã tiến hành nhiều cuộc khởi nghĩa chống cả Pháp và Nhật, nhưng đã nhanh chóng bị đàn áp. Tháng 5-1941, sau khi Nhật dựng lên chế độ bù nhìn gồm những người Pháp theo chính phủ Vichy, ông Hồ cùng những người cộng sản Việt Nam khác đã tổ chức cuộc họp với một số người theo chủ nghĩa quốc gia tại Tsin Li trên đất Trung Quốc gần biên giới Bắc kỳ. Họ đã tập hợp nhiều bộ phận đang hoạt động phân tán vào tổ chức Việt Nam Độc lập Đồng minh-gọi tắt là Việt Minh-và linh hồn lãnh đạo của tổ chức này, người được bầu làm người đứng đầu, là ông già để râu Nguyễn Ái Quốc, người bất ngờ xuất hiện trong buổi họp, mặc dù trước đó nhiều người tin rằng ông đã chết vì bệnh lao ở trong rừng nhiều năm rồi. Không hề phô trương mình là người cộng sản, ông Hồ đã cùng với bạn bè tập trung vào việc thành lập một mặt trận quốc gia chung để tiếp tục cuộc chiến đấu chống cả Nhật và Pháp để giành tự do cho Việt Nam.

Quang Doãn
(giới thiệu và biên dịch)

Kỳ 1: Câu chuyện của viên Trung úy Mỹ

Kỳ 3: “Ông già người Việt” và những cuộc gặp với người Mỹ

qdnd.vn

Tầm nhìn Hồ Chí Minh qua con mắt một nhà báo Mỹ – Kỳ 1

QĐND – Trong cuốn sách của mình, Cuộc cách mạng bị bỏ lỡ (The Lost Revolution), được xuất bản năm 1965, nhà báo Mỹ Rô-bớt Sáp-lân (Robert Shaplen) cho rằng, Pháp và Mỹ đã không nhận định đúng về Cụ Hồ Chí Minh và không biết ứng xử một cách thực tế vào năm 1945 và 1946 đối với cuộc Cách mạng Tháng Tám của Việt Nam, gây ra hai cuộc chiến tranh tàn bạo và phi lý, để rồi cùng phải chịu thất bại thảm hại nặng nề nhất trong lịch sử đối với cả Pháp và Mỹ. Cuộc cách mạng bị bỏ lỡ chủ yếu nói về tình hình Việt Nam, những diễn biến trong những tháng trước cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cho đến năm 1965, khi Mỹ đẩy mạnh leo thang chiến tranh Việt Nam.

Xin trích giới thiệu với bạn đọc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Ma-ghi-uýt Mu-tê (Marius Moutet) ký bản tạm ước Việt – Pháp ngày 14-9-1946. Ảnh tư liệu

Câu chuyện của viên Trung úy Mỹ

Trong những tháng trước và sau cuộc chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, nếu như mối quan hệ giữa người Mỹ và Việt Minh ở Nam Kỳ chưa bao giờ vượt qua tính chất thăm dò thì ở phía Bắc, mối quan hệ đó lại có phần chặt chẽ hơn rất nhiều. Có nhiều thời điểm trong lịch sử đã xảy ra những sự kiện mà sau này nhìn lại dù còn mờ mịt hay rời rạc, những sự kiện ấy vẫn gợi ra rất nhiều giả định về khả năng phát triển tình hình tiếp sau đó: Giá như vào thời điểm đó những sự kiện ấy đã được đánh giá một cách khác đi, giá như cứ để cho những sự kiện ấy được tiến triển thuận chiều… thì cả chuỗi sự kiện tiếp theo có thể đã khác đi rồi chăng? Ngày nay (năm 1965), chúng ta có cơ sở để tin rằng đã từng có những mối quan hệ giữa ông Hồ Chí Minh và một số người Mỹ trong năm 1945 và 1946, và đặc biệt hơn là mối quan hệ của ông Hồ với một nhóm nhỏ nhà chính trị và ngoại giao Pháp. Ngày nay, người ta có thể dễ dàng gạt bỏ những sự kiện ấy và cho rằng ý nghĩa của chúng chẳng có gì quan trọng nếu cứ đinh ninh rằng những người cộng sản và đặc biệt là ông Hồ chưa bao giờ có một ý đồ nào khác ngoài việc lập một quốc gia cộng sản theo hình ảnh Mát-xcơ-va ở Việt Nam. Tuy nhiên, theo quan điểm của một số người với từng mức độ am hiểu tình hình chính trị khác nhau sau chiến tranh thế giới II và từng góp phần tạo nên lịch sử của thời kỳ đó, những giả thiết xa xôi như thế chỉ là sự giản đơn hóa quá mức cả một chuỗi tình huống chính trị hết sức tế nhị và phức tạp lúc bấy giờ.

Tôi vẫn luôn có chung quan điểm với rất nhiều, nếu không nói là phần lớn những người đã theo dõi tình hình Đông Dương, là vào thời kỳ đó cả người Pháp và Mỹ, đặc biệt là những nhà vạch chính sách chủ chốt của nước Pháp ở Pa-ri lúc bấy giờ, đã phạm một sai lầm nghiêm trọng không biết ứng xử một cách thực tế hơn với ông Hồ Chí Minh vào năm 1945 và 1946, và bởi đó, toàn bộ tiến trình các sự kiện tiếp sau đó có thể đã diễn biến khác đi, dẫn đến chiến tranh đổ máu. Trong những năm gần đây (giữa thập kỷ 1960 – ND), một số quan chức Mỹ ở cấp cao nhất đã nói với tôi rằng, theo họ nghĩ đáng lẽ ra cần phải đi một nước cờ táo bạo với ông Hồ Chí Minh vào thời đó. Lịch sử, trái với lòng tin của nhiều người, rất hiếm khi tự lặp lại và cũng rất hiếm khi có được thời cơ lần thứ hai. Đây là một trong những thảm kịch đặc biệt của chính sách Mỹ sau chiến tranh thế giới thứ hai đã bỏ lỡ nhiều cơ hội đầu tiên.

Có nhiều cách thuật lại khác nhau trong việc ông Hồ tìm cách liên lạc với phương Tây trong và sau chiến tranh thế giới thứ hai. Chúng ta hãy bắt đầu bằng một chuyện tuy có phần chất phác đơn sơ, nhưng lại nói lên được rất nhiều thực tế lúc bấy giờ. Đó là câu chuyện về  một cựu Trung úy Lục quân Mỹ – trong câu chuyện này tôi chỉ được gọi anh ta là Giôn (John) – người vào tháng 5-1945 đã nhảy dù xuống khu căn cứ của ông Hồ nằm trong rừng gần làng Kim Lũng ở Việt Bắc để thực hiện nhiệm vụ thiết lập một đường dây bí mật giải thoát các nhân viên quân sự Đồng Minh. Làng Kim Lũng ở ven khu rừng già, nằm khuất sau lùm cây rậm. Những thung lũng nhỏ hẹp lọt giữa những dãy núi cao và ở một trong những thung lũng nhỏ đó, khu căn cứ của ông Hồ Chí Minh gồm 4 chiếc lán nhỏ cất bên cạnh một dòng suối dưới chân một đỉnh núi cao cách biệt với thế giới bên ngoài. Mỗi lán chỉ rộng khoảng 1,2 mét vuông, cột tre đỡ sàn cao cách mặt đất khoảng 1,2 mét. Ông Hồ cũng sống kham khổ như những người khác.

Chính giữa cái nôi cách mạng nguyên sơ nằm sâu trong vùng Nhật kiểm soát, Trung úy Giôn đã có cơ hội độc nhất được sống và làm việc với ông Hồ trong nhiều tháng. Anh ta nhận thấy, ông Hồ hoàn toàn có thái độ hợp tác khi ông phái các toán du kích đi trinh sát lùng sục yểm trợ, kể cả một lần đi cứu một số người Pháp bị giam giữ gần biên giới Trung Quốc. Giôn đã dùng chiếc máy vô tuyến xách tay của anh để giúp ông Hồ bắt liên lạc lần đầu tiên với những nhân viên thương lượng người Pháp lúc bấy giờ đang ở Côn Minh, Trung Quốc, những người mà chẳng bao lâu sau đó có thể sẽ cùng tranh luận với ông Hồ ở Hà Nội về tương lai của Đông Dương sau chiến tranh. Nhưng chính bản thân Giôn đã đóng một vai trò trực tiếp hơn liên quan tới những vấn đề của Việt Nam trong câu chuyện thân mật với ông Hồ khi ông đang chuẩn bị cho bản Tuyên ngôn Độc Lập.

Giôn kể lại: “Ông Hồ nhiều lần hỏi tôi có thể nhớ được lời văn của bản Tuyên ngôn Độc lập của chúng ta (Mỹ) không. Tôi chỉ là một người Mỹ bình thường, làm sao tôi nhớ được. Tất nhiên, nếu cần tôi có thể điện về Côn Minh xin thả dù cho tôi một bản”. (Có một điều ít người biết, chính ở sân bay Lũng Cò – Tuyên Quang, một bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ đã được Không đoàn 14 thả xuống theo yêu cầu của Nguyễn Ái Quốc… – “Đường dẫn đến Tuyên ngôn độc lập” của Đại tá Thế Kỷ, người giúp việc cho ông Vũ Kỳ, Thư ký của Bác Hồ – theo Báo Tuổi Trẻ cuối tuần 31-8-2008).

Nhưng điều cốt yếu mà ông Hồ cần lại chính là tinh thần toát lên của bản tuyên ngôn đó. Càng trao đổi ý kiến với ông, tôi càng thấy thực sự ông biết nhiều hơn tôi. Trong hầu hết mọi chuyện tôi trao đổi với ông, ông đều biết rõ hơn tôi, nhưng thấy yêu cầu của ông rất kiên quyết, buộc lòng tôi cũng phải nói lên ý kiến của mình và thật là một điều lạ là ông rất chú ý lắng nghe tôi nói. Ông Hồ thật sự là một người hết sức dễ mến. Nếu như tôi phải nêu lên một đức tính về ông già đang ngồi trên ngọn đồi trong khu rừng ngày ấy, thì đó là đức tính hiền hậu ở con người ông”.

Quang Doãn
(Giới thiệu và biên dịch)

Kỳ 2: Bức thư của Hồ Chí Minh

qdnd.vn

Thiên tài Hồ Chí Minh là khả năng tập hợp người yêu nước

QĐND – Như Sự kiện và Nhân chứng từng giới thiệu, nữ nhà văn Mỹ Lê-đi Bớc-tơn là một tác giả, dịch giả nổi tiếng về văn học và văn học sử về đề tài Việt Nam. Bà là một nhà hoạt động xã hội theo lý tưởng của tổ chức cứu trợ Quây-cơ (Quaker), nhưng cuộc sống của nhân dân Việt Nam đã thôi thúc bà cầm bút. Cảm phục thiên tài Hồ Chí Minh, bà đã dịch cuốn Vừa đi đường vừa kể chuyện của Người sang tiếng Anh (Bảo tàng Hồ Chí Minh và NXB Thế giới xuất bản năm 2009), viết sách và nhiều bài báo về vị lãnh tụ của nhân dân Việt Nam.

Nhà văn Lê-đi Bớc-tơn. Ảnh: Khôi Nguyên

Phóng viên (PV): Thưa nhà văn Lê-đi Bớc-tơn,bà bắt đầu nghiên cứu về Hồ Chí Minh từ năm nào?

Bà Lê-đi Bớc-tơn: Tôi bắt đầu nghiên cứu sâu về Hồ Chí Minh từ năm 1995, sau khi hoàn thành cuốn Tiếp sau nỗi buồn viết về Việt Nam. Tên tiếng Anh của cuốn sách tôi lấy ý từ một tứ thơ trong bài “Trời hửng”, thuộc tập Nhật ký trong tù. Dĩ nhiên là tôi đã quan tâm tới Chủ tịch Hồ Chí Minh từ lâu và ngày càng nhận thấy rõ hơn rằng: Khi chúng tôi, những người phương Tây, nghĩ rằng mình đã biết rõ Hồ Chí Minh, thì chính lại là lúc có thể mắc sai lầm rất rõ rệt.

Trong những năm chúng tôi soạn thảo Tiếp sau nỗi buồn, chị Nguyễn Hạc Đạm Thư kể cho tôi nghe những mẩu chuyện về quan sát riêng của chị về Hồ Chí Minh. Một số trong các mẩu chuyện đó đã xuất hiện trong Hồ Chí Minh: Một hành trình của tôi. Tôi thật cảm hứng khi nghe các câu chuyện về Hồ Chí Minh do các bạn bè Việt Nam từng tham gia Cách mạng Tháng Tám và các cuộc kháng chiến kể lại. Rồi tôi gặp được những người từng biết về Chủ tịch Hồ Chí Minh khá rõ để nghe họ kể về Người.

– Chúng ta hãy thử làm một thống kê xem bà đã có mấy cuốn sách về Hồ Chí Minh? Có mấy cuốn về Việt Nam?

– Với sự trợ giúp của bạn bè ở Việt Nam và trên thế giới, tôi vừa viết xong một cuốn sách tiểu sử khổ nhỏ về lãnh tụ Hồ Chí Minh bằng tiếng Anh, nhan đề Hồ Chí Minh: Một hành trình với nhiều thông tin chưa từng được công bố. Đã có rất nhiều người đóng góp vào tập sách.

Chúng tôi hy vọng bản tiếng Việt cuốn Hồ Chí Minh: Một hành trình sẽ được NXB Thế giới phát hành vào mùa xuân này.

Tôi viết cuốn sách này vì áy náy về những thông tin thiếu chuẩn xác bằng tiếng Anh khi viết về Hồ Chí Minh. Nhiều nhà văn phương Tây đã không nhờ các đồng nghiệp Việt Nam soát xét lại bản thảo của họ. Chúng tôi, những người nước ngoài dễ mắc lỗi khi viết về đề tài Việt Nam. Tôi cũng là người đặc biệt hay mắc lỗi. Nhưng sau mỗi lần như thế, tôi đã học hỏi thêm được nhiều điều. Tôi tập hợp thêm những chi tiết, tìm hiểu sâu hơn vấn đề, rồi những vấn đề mới xuất hiện. Nhờ đó, nội dung cuốn sách Hồ Chí Minh: Một hành trình ngày càng trở nên phong phú.

Mọi người nghĩ tôi đã viết nhiều sách về Việt Nam. Trên thực tế điều này không đúng. Tôi có viết một cuốn sách về người tị nạn đã rời khỏi Việt Nam. Còn về đất nước con người Việt Nam, tôi chỉ viết cuốn After Sorrow, sau đó được dịch sang tiếng Việt (Tiếp sau nỗi buồn), và tiếng Pháp (Vietnam l’après-chagrin). Các bản này đều được NXB Thế giới phát hành.

Bìa cuốn sách “Vừa đi đường vừa kể chuyện” do nhà văn Lê-đi Bớc-tơn chuyển ngữ sang tiếng Anh.
Ảnh: Khôi Nguyên

Nhưng tôi có hiệu đính, giúp nghiên cứu, hoặc là đồng tác giả của nhiều cuốn sách. Học giả Hữu Ngọc và tôi cùng biên soạn tập sách song ngữ nhỏ: Những câu thường hỏi về văn hóa Việt.

– Bà đã dịch một số tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh sang tiếng Anh. Những cuốn đó được mọi người đón đọc như thế nào?

– Sát hạch đối với nhà văn hay nhà thơ chính là các tác phẩm của họ liệu có thể được các thế hệ nối tiếp nhau đọc hay không. Hè năm vừa qua, tôi đã đọc một số đoạn của bản tiếng Anh cuốn Vừa đi đường vừa kể chuyện cho những người dân Bô-xtơn(Boston), Mỹ. Trong số những đoạn tôi đã đọc có mẩu chuyện về các phòng thiêu người nơi phát xít Đức tàn sát sáu triệu người Do Thái trong Chiến tranh thế giới thứ II. Đây là một trong những đoạn văn có sức tố cáo nhất về tội ác diệt chủng đối với người Do Thái. Sau đó, nhiều người, cả dân gốc Do Thái và những người không phải là Do Thái, đã nói rằng họ rất xúc động về đoạn văn này của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

– Có những bài viết của bà, ví dụ như “Tài giả dạng của Hồ Chí Minh” là phát hiện mới và độc đáo. Trong bài viết đó, bà trích bài báo của tờ South China morning Post miêu tả vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931-1933. Những tài liệu đó bà khai thác ở Việt Nam hay nước ngoài?

Vài năm trước đây, khi chuẩn bị sang Anh công tác, tôi đã đến hỏi TS. Nguyễn Thị Tình, lúc đó Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh, rằng tôi có thể tìm hiểu tại Luân Đôn về những gì mà Bảo tàng đang quan tâm. Chị Tình nhờ tôi tìm hiểu những hồ sơ tư liệu có liên quan đến luật sư Lô-giơ-bai (Loseby) và vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông. Tôi đã tới tra cứu ba ngày tại Lưu trữ Quốc gia Anh.

Tôi đã không tìm được điều gì. Hoàn toàn không. Nhưng trước khi ra sân bay rời Luân Đôn, tôi ngồi “chơi” với mục tìm kiếm trên chiếc máy tính trữ các thư mục của Lưu trữ Quốc gia Anh. Một cách cầu âu, tôi đánh chữ “Nguyen Ai Quoc”. Sau hai tiếng “póp, póp”, đã xuất hiện hai tệp “Vụ bắt giữ Nguyễn Ái Quốc”, một được lưu trữ vào năm 1931, một vào năm 1932. (Hóa ra trước đó tôi đã tìm kiếm bằng những từ khóa không thích hợp. Xin được gợi ý: Nếu tìm hiểu Hồ Chí Minh không nên tìm kiếm bằng từ khóa Tống Văn Sơ khi ở phương Tây. Đây là từ được dịch sang tiếng Việt, không phải từ gốc, chỉ sử dụng trong tiếng Việt. Ở nước ngoài, cần tìm kiếm bằng từ khóa “Sung Man Cho”, hoặc “Nguyen Ai Quoc”).

Nhà văn Lê-đi Bớc-tơn (thứ nhất từ trái sang) chụp ảnh với bà Nguyễn Thị Thập (thứ hai từ trái sang) Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và một số nữ cán bộ cách mạng. Ảnh tư liệu

Các thông tin trong hai tệp được trữ dưới dạng micrô phim. Tôi “kéo” được hai cuộn phim từ ô phích đựng phim, in chúng ra, rồi chạy nước rút ra sân bay, vác theo 250 trang tài liệu cùng đồ đoàn của mình.

Vụ án nào cũng có hai bên. Việt Nam từ lâu đã biết về bên “bị” là Hồ Chí Minh, thông qua hồi ức của Người thể hiện trong cuốn Vừa đi đường vừa kể chuyện, cũng như qua chuyến thăm Việt Nam của luật sư Lô-giơ-bai năm 1960. Còn hai cuộn micrô phim kể trên mở đường đến bên “nguyên” của vụ án, bên chống lại Hồ Chí Minh, đó là đế quốc Anh và thực dân Pháp.

Cả thảy, tôi đã dành 5 năm để nghiên cứu Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông trong những chuyến đi công tác ở Pháp, Anh, Hồng Kông, Nhật, và cả khi ở Hoa Kỳ (Vâng, đúng vậy. Nhiều hồ sơ có liên quan đến Người hiện có cả ở Lưu trữ Quốc gia Hoa Kỳ!). Các đồng nghiệp tại Bảo tàng Hồ Chí Minh đã dựa vào tư liệu của cả hai phía để biên soạn một cuốn sách về Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông. Các chuyên gia thiết kế, chế bản của NXB Chính trị Quốc gia đã sáng tạo ra một bố cục sách gây được ấn tượng thật sâu sắc. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn chưa ngừng công việc tìm kiếm sử liệu liên quan đến sự kiện này. Chẳng hạn, chỉ mới gần đây thôi, tôi mới tìm được ra tấm ảnh của Phran-xít Gien-kin (Francis Jenkin), vị trạng sư bào chữa đã biện hộ cho Hồ Chí Minh tại Tòa án tối cao Hồng Kông. Chúng tôi sẽ giới thiệu bức ảnh chân dung của Phran-xít Gien-kin trong bản tiếng Việt cuốn Hồ Chí Minh: Một hành trình sắp ra mắt bạn đọc.

– Bà từng lặn lội sang Luân Đôn để tìm hiểu những ngày Hồ Chí Minh làm việc ở đó – một việc mà rất ít nhà sử học Việt Nam có dịp thực hiện. Đó có phải là lợi thế của bà so với đồng nghiệp Việt Nam khi nghiên cứu về Người?

– Khi ở Luân Đôn, tôi đã phát hiện được một số chi tiết chưa chuẩn xác trên sách báo viết về quãng đời của Hồ Chí Minh tại Luân Đôn, và cũng xác định được rằng đã không thể tìm được tư liệu để minh chứng cho một số sự việc đang cần thẩm định. Chẳng hạn, đã xác định được rằng chàng trai Nguyễn Tất Thành lúc đó chưa rành tiếng Anh đến mức có thẻ vào đọc tại Phòng đọc Hình tròn của Thư viện trung tâm Anh quốc. Hơn nữa, đã không có một bí danh, biệt danh nào của Hồ Chí Minh xuất hiện trên sổ đăng ký bạn đọc, được bảo quản cẩn thận từ những ngày đó.

Tôi cũng xác định được rằng không tìm được các tư liệu từ những năm 1900 thể hiện quá trình Hồ Chí Minh làm việc tại khách sạn Đrây-tơn Coóc-tơ (Drayton Court Hotel), khu Oét I-linh (West Ealing), Luân Đôn (nay là một quán rượu đông khách), hoặc tại Khách sạn Các-tơn (Carlton) sang trọng ở trung tâm Luân Đôn (khách sạn này đã bị bom của Đức phá hủy hoàn toàn trong Chiến tranh thế giới thứ II).

Từ cương vị công tác cho một tổ chức phi chính phủ quốc tế, quả thật tôi đã có được ưu thế rõ rệt so với một số đồng nghiệp Việt Nam. Vì cương vị ấy cho phép tôi có những dịp công tác sang các nước ngoài Việt Nam, khi tôi có thể “quá giang”, “lợi dụng” chuyến công tác cho cơ quan để tra cứu về Hồ Chí Minh trong các kho lưu trữ. Từ khi về hưu, tôi đã không còn có được lợi điểm này, trừ chuyến đi mỗi dịp hè từ Hà Nội về Hoa Kỳ để lên lớp tại một khóa học Văn khoa. Cơ hội để tìm thấy một “dấu chân” của Hồ Chí Minh ở Hoa Kỳ hôm nay quả là có phần mỏng manh. Nhưng tôi vẫn ra sức tìm kiếm vào mỗi dịp được về Mỹ.

Có thể tôi có ưu thế trong kỹ năng tìm kiếm, nhờ “lô gích tâm lý” – sự kết hợp giữa tư duy toán học, do từng là giáo viên toán, với phương pháp kết cấu mạch văn. Chẳng hạn, có một số sử gia Hoa Kỳ nói rằng thời gian Hồ Chí Minh sống tại Bô-xtơn là không quan trọng? Có thật như thế? Kết luận như thế quả là ngược với lô gích tâm lý. Một người trẻ tuổi như Hồ Chí Minh lúc đó không học được điều gì trong suốt một năm trời ở một nước ngoài? Nếu điều này đúng, các trường đại học ở Mỹ cử sinh viên của họ sang Việt Nam thực tập một năm để làm gì?

Hãy khảo sát tình hình Bô-xtơn năm 1912-1913. Chúng ta thấy phong trào đấu tranh giành độc lập cho Phi-líp-pin thoát ách đô hộ của Mỹ, thấy bộ luật kỳ thị như Luật áp dụng riêng cho người Hoa (Hồ Chí Minh trong mắt xã hội Mỹ, do ngoại hình, hẳn được nhìn nhận như người Hoa), thấy trào lưu chống phân biệt chủng tộc sục sôi trong cộng đồng Mỹ gốc Phi (những người bị đô hộ trong lòng Hợp chủng quốc Hoa Kỳ), thấy dồn dập những cuộc tuần hành đòi quyền bầu cử cho phụ nữ. Hồ Chí Minh hẳn đã quan sát, học hỏi kinh nghiệm của các làn sóng đấu tranh này.

Giả định chúng ta áp dụng lô gích tâm lý lên tình hình trên đường phố. Chúng ta diễu qua cửa ra vào dành cho nhân viên của Pa-cơ Hao-xơ (Paker House), nơi thấp thoáng trong màn khói bếp, những người nấu bếp bận rộn giữa những đống rau củ, thịt cá. Chúng ta đi trên các phố của thành Bô-xtơn, dùng trí tưởng tượng một cách có lô gích để tư duy, xem người thanh niên có tính cách và tâm lý như Nguyễn Tất Thành-Hồ Chí Minh sẽ quan tâm đến điều gì. Chúng ta sẽ tiếp tục dòng suy tưởng tại thư viện công. Chúng ta lật các tờ báo, tạp chí, tranh ảnh của những năm 1912-1913, đọc các văn bản, các quảng cáo thời đó, để hình dung những gì Nguyễn Tất Thành-Hồ Chí Minh đã quan sát được năm 1913.

Tuy nhiên, lần theo dấu chân Nguyễn Tất Thành, chúng ta gần như chưa tìm được những dấu vết chắc chắn. Hiện nhiều câu văn vẫn chỉ mới ở dạng giả định, với các trạng từ như “hẳn”, “chắc là”, “có lẽ” …

– Bà phát hiện sự thú vị trong lời mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là sự nhạy cảm của nhà văn hay là tính chính xác của một giáo viên dạy toán?

– Các chi tiết về Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam là một phát hiện đột xuất của tính lô-gích: Khi tôi biên dịch Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam, câu trích dẫn từ Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ khi được dịch ngược sang tiếng Anh lại biến thành một câu khác! Tôi hỏi lại Sác-lơ Phen (Charles Fenn), cựu sĩ quan OSS của Đồng minh, đóng tại Côn Minh năm 1945. Ông Phen trả lời vào tháng 8-1945, theo yêu cầu của Cụ Hồ ông đã gửi sang Hà Nội nguyên bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ cho Người. Nhận thức rằng Hồ Chí Minh khoảng năm 1913 hẳn đã quan sát phong trào đòi quyền bầu cử của phụ nữ Mỹ, rồi tư duy về giá trị của kết luận của Người trong Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam, tôi thấy rõ: Trong khi dịch Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, Hồ Chí Minh đã chủ động chuyển hoán lời kêu gọi, sao cho nó bao gồm được cả đối tượng phụ nữ và dân tộc ít người.

– Có nghĩa là trong Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ không có từ “Tất cả mọi người” như trong Tuyên ngôn Độc lập mà Hồ Chí Minh viết?

– Vài năm trước, tôi có phát biểu trước vài trăm sinh viên và hơn mười giáo sư tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Một giáo sư Việt Nam rất giỏi tiếng Anh đã thử thách luận điểm của tôi về cách Hồ Chí Minh trình bày phần đầu bản Tuyên ngôn Độc lập. Ông ấy nói: “Chẳng nhẽ chữ “men” trong tiếng Anh lại không ngụ ý “tất cả mọi người”, tức là “cả đàn ông và đàn bà”?

“Vâng”, tôi đáp. “Vấn đề chính ở chỗ ấy. Nhưng Hồ Chí Minh hẳn đã chứng kiến hàng đoàn biểu tình, tuần hành của phụ nữ Mỹ đòi quyền bầu cử. Và Người hẳn cũng biết rằng từ “men” vào thời Hoa Kỳ ra bản Tuyên ngôn Độc lập không bao gồm phụ nữ.

“Ở hội trường này có bao nhiêu người trên 18 tuổi?”, tôi hỏi, giơ tay mình lên. Một rừng cánh tay giơ lên. “Đây cũng chính là độ tuổi đi bầu cử ở Hoa Kỳ hôm nay. Nhưng nếu chúng ta ở đây đặt mình vào thời Hoa Kỳ ra bản Tuyên ngôn Độc lập thì không một ai trong chúng ta được quyền bỏ phiếu. Không một ai. Vì sao? Vì “men” thời đó có nghĩa là “người da trắng có tài sản lớn”. Tôi là người da trắng duy nhất ở đây, nhưng không phải là người có tài sản gì đáng kể”.

Năm 1913, Hồ Chí Minh chắc chắn đã cảm thấy sự gạt bỏ người Hoa và người Mỹ gốc Phi khỏi diện được hưởng những quyền mà người Mỹ da trắng có tài sản đáng kể được thụ hưởng. Tôi khẳng định chắc chắn rằng Hồ Chủ tịch đã đặt các câu trích từ văn bản nhà nước của Mỹ và Pháp trong đoạn mở đầu của Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam xuất phát từ các nguyên nhân về ngoại giao cấp nhà nước. Nhưng tôi cũng nhận thấy Người đã đưa vào bản Tuyên ngôn này các tư tưởng rất quan trọng của mình. Cách sử dụng ngôn từ của Hồ Chủ tịch đã thể hiện mạnh mẽ rằng Việt Nam là cộng đồng bình quyền của mọi dân tộc, và của mọi công dân cả nam và nữ.

– Nghiên cứu về Hồ Chí Minh, bà thấy ở người có điều gì đặc biệt so với các danh nhân khác?

– Chúng ta đã được biết về nhiều nhân vật lỗi lạc, đồng thời biết rằng thiên tài thường bộc lộ trong một mặt cụ thể. Còn ở Hồ Chí Minh, sự lỗi lạc của Người vượt ra khỏi khuôn khổ của một lĩnh vực nhất định. Người có khả năng đọc, nói và viết nhiều thứ tiếng, có khả năng làm thơ cả ở những thể loại khó về niêm luật, đồng thời có khả năng biểu đạt những ý tưởng phức tạp bằng những mệnh đề đơn giản, để người bình thường có thể hiểu được. Người có kiến thức sâu về chiến lược quân sự và đường lối ngoại giao, có trí nhớ tuyệt vời về những ai đã từng gặp trong đời, không phụ thuộc vào địa vị xã hội của họ, tinh thông về công tác vận động quần chúng. Danh sách này, mỗi chúng ta đều có thể bổ sung vào.

Tuy nhiên, có tài chưa đủ. Và tài năng chưa hẳn là thông thái.

Nhân tài thường bị thách thức bởi những nhân tài khác (cao nhân tất hữu cao nhân trị). Đó là lý do chúng ta thấy biết bao bút chiến và khẩu chiến trong các giới làm khoa học ở mọi nơi trên thế gian này. Nhưng thiên tài ở Hồ Chí Minh còn là khả năng tuyệt vời tập hợp những người yêu nước có chuyên môn và óc sáng tạo. Sau đó, Người cử họ vào các lĩnh vực công tác khác nhau, nơi họ có thể phát huy tốt nhất năng lực của mình cho một nước Việt Nam vừa giành độc lập. Người đưa ra những chỉ thị rõ ràng, động viên cao nhất tính chủ động sáng tạo trong thi hành nhiệm vụ được giao.

Với nhiều sự đóng góp như thế, nhưng Hồ Chí Minh rất sáng suốt khi thể hiện sự khiêm nhường. Người đã tránh được những cám dỗ vật chất, để trở thành mẫu mực cho người dân.

That’s leadership (Bản lĩnh lãnh đạo). Đó chính là đức độ của người lãnh đạo.

Hồng Sơn – Lê Đỗ (thực hiện)

qdnd.vn

GS Hoàng Minh Giám kể về những ngày vận nước “nghìn cân treo sợi tóc” (P 6)

Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946.

(DVT.vn) – Theo Bác Hồ chỉ đạo, GS Hoàng Minh Giám thay mặt Đảng Xã hội Việt Nam dự Đại hội Đảng Xã hội Pháp và trình bày lập trường của Chính phủ VNDCCH.

Năm 1933, lần đầu tiên, nước Pháp có một Chính phủ Mặt trận Bình dân (Gouvernement du Front populaire). Đảng Xã hội Pháp (SFIO) được thành lập một chi nhánh tại Bắc Kỳ (Fédération SFIO du Tonkin), do Louis Caput làm thư ký, và kết nạp một số đảng viên là người Việt Nam.

Hai năm sau, lần đầu tiên Ngày Quốc tế Lao động (1/5) được kỷ niệm công khai và long trọng ở Hà Nội tại khu Đấu Xảo (nay là Cung Văn hóa lao động hữu nghị Việt – Xô) với 25 nghìn người dự. Số người Pháp dự không quá mấy chục; còn lại là người “bản xứ”: đại biểu công nhân, nông dân ngoại thành, tiểu thương, tiểu chủ, sinh viên, học sinh và giáo viên nhiều trường học (trong đó có Trường Thăng Long), công chức, nhà văn, nhà báo, đại biểu các Hội Ái hữu do Đảng Cộng sản bí mật lãnh đạo, động viên.

Sau ngày 2/9/1945 (nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập), một vấn đề đặt ra là có cần một Đảng Xã hội Việt Nam, không phải là chi nhánh của SFIO, mà là của những người trí thức Việt Nam yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội.

Trước khi Bác Hồ và Đoàn đại biểu ta tại Hội nghị Fontainebleau đi Pháp (31/5/1946), Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt) ra đời (27/5/1946), với nhiệm vụ mở rộng khối đoàn kết toàn dân. Hai tháng sau (22/7/1946), Đảng Xã hội Việt Nam được thành lập, tự nguyện là một thành viên tích cực của Hội Liên Việt, cùng với các thành viên khác của Hội, ra sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang bị nhiều giặc ngoài, thù trong quấy rối và đe dọa.

Lúc đó tôi không có mặt ở Hà Nội, mà đang công tác trên đất Pháp, trong Đoàn đại biểu Việt Nam dự Hội nghị Fontainebleau. Tôi nhận được điện của đồng chí Phan Tư Nghĩa, Tổng Thư ký Đảng Xã hội Việt Nam (và nguyên đảng viên SFIO trên đất Pháp).

Tôi báo cáo với Bác Hồ (Bác có mặt ở Paris với tư cách là khách mời của Chính phủ Pháp). Bác bảo: “Tốt lắm. Chú cố gắng làm tốt nhiệm vụ được giao”. Rồi Bác nói thêm: “Hiện nay trong Quốc hội và Chính phủ Pháp, có ba đảng lớn hơn cả là: Đảng MRP (Phong trào Cộng hòa bình dân) theo khuynh hướng De Gaulle, Đảng Cộng sản, và Đảng SFIO. Đảng MRP không ủng hộ ta. Đảng Cộng sản ủng hộ ta. Nhưng không đảng nào trong hai đảng đó chiếm được đa số. Đảng Xã hội tuy có ít phiếu hơn, nhưng đứng về phía nào thì phía đó thắng”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên phái đoàn Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Fontainebleau tại một buổi gặp gỡ bà con Việt kiều tại Pháp.
(Trong ảnh: Người đứng thứ hai hàng thứ hai từ phải sang là GS Hoàng Minh Giám)

Bác quen nhiều đảng viên quan trọng của đảng SFIO, đặc biệt là Léon Blum, lãnh tụ của đảng. Chúng ta biết rằng trước kia Bác là đảng viên SFIO. Năm 1920, trong Đại hội họp ở thành phố Tours, Bác cùng Marcel Cachin và một số lớn đồng chí rút ra khỏi SFIO, gia nhập Quốc tế thứ ba và lập ra Đảng Cộng sản Pháp.

Để làm nhiệm vụ do Đảng Xã hội Việt Nam giao, tôi có một số thuận lợi. Louis Caput, nguyên thư ký chi nhánh SFIO Bắc Kỳ, có mặt ở Paris. Một người Pháp khác mà tôi quen từ trước Cách mạng Tháng Tám, vì người ấy cũng là đảng viên SFIO, thuộc Fédération SFIO Bắc kỳ, và dạy học ở Trường đại học Luật Hà Nội, tên là Lambrouquère và một số Việt kiều tại Pháp, trong đó có anh Đặng Chấn Liêu (em ruột anh Đặng Phúc Thông trong Đoàn ta dự Hội nghị Fontainebleau) đã giúp tôi làm quen với một số đảng viên Pháp của SFIO có nhiệt tình với nhân dân Việt Nam, thí dụ: anh Decheizèle (trong Ban Tổ chức của Trung ương Đảng SFIO), anh Jean Roux (luật gia và nhà báo, thường viết cho báo Franc Tireur và là ủy viên “Ban các vấn đề thuộc địa” (Commission des affaires coloniales của SFIO).

Caput và Labrouquère, một hôm hỏi tôi: “Anh có muốn gặp Marius Moutet không?” Thấy tôi có vẻ ngập ngừng một giây lát rồi mới trả lời: “Có, tất nhiên có”, họ nói: “Anh chớ ngại gì cả! Anh là SFIO, Moutet không thể không gặp anh!”

Tôi không nói cho họ biết lý do sự ngập ngừng của tôi trong giây lát, trước khi trả lời họ: “Có, tất nhiên có!” Lý do đó là sự việc sau đây, đã xảy ra hồi đầu năm 1946: Lúc đó tôi đã tiếp tại Văn phòng Bộ Nội vụ, Luật sư Gustave Moutet (con trai của Marius, Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại) được cử đến Việt Nam tìm hiểu tình hình. Trong khi trả lời một số câu hỏi của Gustave Moutet, tôi nói: “Chắc ông biết rằng nước chúng tôi đã là nạn nhân của hai cuộc chiếm đóng: cái thứ nhất là của quân đội Nhật, cái thứ hai là của quân đội Tưởng…”, anh ta “chêm” luôn một câu: “Còn cuộc chiếm đóng thứ ba nữa là của các ông!” (Et une troisième occupation: la vôtre!).

Tôi sửng sốt vì câu nói quái gở đó. Tôi phải tự kiềm chế, không phản ứng câu nói đó, tôi chỉ rút ngắn buổi tiếp khách.

Một ngày cuối tháng 6/1946, Labrouquère báo cho tôi biết Marius Moutet đã gửi thiếp mời tôi đến gặp tại Bộ Pháp quốc hải ngoại. Đúng ngày hẹn, tôi đã đến, nhưng buổi tiếp đó không làm tôi phấn khởi, vì ông ta không tỏ vẻ quan tâm nghe, khi tôi trình bày lập trường của ta về độc lập, thống nhất của Việt Nam, về vị trí của Việt Nam trong Liên bang Đông Dương, trong Liên hiệp Pháp; trái lại, ông ta tỏ rất quan tâm và phát biểu nhiều về quyền lợi mà ta sẽ dành cho thực dân Pháp còn sống trên đất nước ta.

Trái với Marius Moutet, một đảng viên SFIO khác mà đoàn ta đã có dịp làm quen trong thời gian Hội nghị Fontainebleau, đã để lại cho chúng tôi một ấn tượng sâu sắc. Đó là giáo sư Paul Rivet, giám đốc Bảo tàng Con người (Musée de l’homme). Theo yêu cầu của ta là trong Đoàn đại biểu Pháp không nên chỉ có những công chức thuộc địa, Chính phủ Pháp đã đề nghị ba đảng MRF, Cộng sản, SFIO cử mỗi đảng một đảng viên tham gia đoàn Pháp. Đảng MRF đã cử ông Jugias; Đảng Cộng sản cử đồng chí Lozeray; Đảng SFIO đã cử Giáo sư Paul Rivet.

Ngày 5/7/1946, trưởng đoàn Pháp là Max André triệu tập các đoàn viên nghe thông báo nội quy của đoàn và đường lối chủ trương của Chính phủ Pháp trong Hội nghị Fontainebleau sẽ khai mạc hôm sau là ngày 6/7/1946. Buổi họp kết thúc, các đại biểu chào ra về. Khi bắt tay Paul Rivet, Max André nói: “Hẹn sáng mai nhé!” Paul Rivet trả lời: “Không! Sáng mai tôi không đến”. Max André ngạc nhiên hỏi: “Vì sao?” Và Paul Rivet trả lời: “Vì tôi từ chức” (Je suis démisionnaire).

Sau đó, Giáo sư viết một bài trên báo Le Populaire, nói lý do việc từ chức của mình, và tóm tắt trong một câu ngắn gọn: “Tôi không muốn là một người bị lừa dối, không muốn là một con tin, không muốn là một kẻ đồng lõa” (Je ne veux être ni dupe, ni otage, ni complice).

Hội nghị Fontainebleau bị bế tắc do những hành động phá hoại của bè lũ d’Argenlieu. Đoàn ta về nước. Bác cũng về nước, sau khi ký một Tạm ước (Modus vivendi) với Pháp. Bác cử một đoàn gồm ba người (Hoàng Minh Giám, Trần Ngọc Danh, Dương Bạch Mai) đại diện Chính phủ ta ở nước Pháp. Do đó, tôi có dự – với tư cách là đại diện Đảng Xã hội Việt Nam Đại hội toàn quốc (Congrès national) của Đảng SFIO cuối tháng 9 đầu tháng 10/1946. Lúc đó, tình hình Đảng SFIO không vui vẻ lắm… Tổng Thư ký sắp hết nhiệm kỳ là Daniel Mayer, không có hy vọng được tái cử, và nhiều người đã nói tên người thay thế là Guy Mollet.

Tôi đến dự Đại hội, phát biểu ý kiến, chào mừng Đại hội, trình bày tóm tắt lập trường của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong Hội nghị Fontainebleau, khẳng định ý chí của nhân dân Việt Nam là độc lập, thống nhất của Tổ Quốc mình, trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp (Indépendance et unité du Viêt-nam dans le cadre de l’Union Française).

Tổng Thư ký sắp hết nhiệm kỳ không tỏ vẻ mặn mà với sự có mặt của đại diện Đảng Xã hội Việt Nam. Nhưng sau buổi họp, một số đại biểu SFIO và một đại biểu Công đảng Anh (Parti Travailiste) cũng là khách mời của Đại hội, đến bắt tay và chúc mừng cuộc đàm phán Việt – Pháp sẽ tiếp tục đầu tháng 1/1947 (theo Tạm ước 14/9/1946) và sẽ đạt kết quả tốt.

(Còn nữa)

dvt.vn

GS Hoàng Minh Giám kể về những ngày vận nước “nghìn cân treo sợi tóc” (P 5)

(DVT.vn) – Chỉ có Bác Hồ và GS Hoàng Minh Giám giữa “vòng vây” của các chiến hạm Pháp, đạn đại bác lên nòng, Bác vẫn bình thản đối đáp với đô đốc d’Argenlieu.

D’Argenlieu đứng bên cạnh Bác, có vẻ hân hoan đắc chí giới thiệu lần lượt các chiến hạm diễu qua trên mặt biển. Bác thỉnh thoảng vẫy tay chào… D’Argenlieu trả lời, có vẻ thích thú… Có một lúc d’Argenlieu đang nói chuyện với một số sĩ quan tùy tùng đến báo cáo gì đó, Bác quay lại phía tôi và nói khẽ:

– Nó làm ra vẻ tôn trọng ta lắm. Thật ra, nó muốn phô trương lực lượng để dọa ta đó. Nhưng ta có sợ đâu!

Xong cuộc duyệt binh, d’Argenlieu mời Bác dự một tiệc trà nhẹ, ngắn, với toàn thể quan khách, rồi sau đó, mời Bác đến “phòng khách danh dự” để đàm thoại về vấn đề thi hành các điều khoản của Hiệp định sơ bộ 6/3. Dự cuộc này, ngoài Bác và d’Argenlieu, chỉ có tôi.

Phát biểu trước, Bác nhắc d’Argenlieu chú ý việc thi hành nghiêm chỉnh các điều khoản nói về trách nhiệm của hai bên phải đình chỉ ngay chiến sự ở miền nam Việt Nam, quân đội mỗi bên đóng ở đâu phải ở nguyên đó. Nếu chiến sự tiếp tục như hiện nay, thì tất nhiên không thể tạo nên không khí thuận lợi cho “cuộc đàm phán hữu nghị và chân thành” được nêu lên trong Hiệp định sơ bộ.

D’Argenlieu không đáp lời Bác, không tranh luận mà đứng dậy, một cách long trọng, xoa tay và nói:

– Thưa ngài Chủ tịch, tôi xin lưu ý Ngài một điều: xin Ngài đừng gọi tôi là “Ông đô đốc”, mà gọi tôi là “Ông cao ủy”.

Ông ta ngồi xuống, và chờ Bác nói. Tôi sực nhớ rằng từ lúc đặt chân lên chiến hạm Emile Bertin, Bác chưa hề gọi d’Argenlieu là “Ông cao ủy”.

Sau khi d’Argenlieu đã ngồi xuống, Bác liền nói với một giọng nói và một nét mặt rất bình thản:

– Thưa ông cao ủy, chúng ta tiếp tục nói về việc thi hành Hiệp định sơ bộ 6/3. Trong Hiệp định đó, đã khẳng định sự cần thiết mở lập tức cuộc đàm phán hữu nghị và chân thật (ouverture immédiate des négociations amicales et franches).

D’Argenlieu nói:

– Thưa Ngài Chủ tịch, nước Pháp sẽ nghiêm túc thi hành các điều khoản của Hiệp định sơ bộ. Nhưng hiện nay, Hội nghị nói trên chưa họp được, vì phải chờ cuộc tổng tuyển cử sắp tổ chức ở Pháp để thành lập một chính phủ mới. Vả lại, để giải quyết một số vấn đề rất mới, như vấn đề Liên hiệp Pháp (L’union française), cần có thời gian nghiên cứu, thảo luận trong Quốc hội Pháp.

Bác thấy rõ ý đồ của d’Argenlieu là trì hoãn, kéo dài thời gian, Bác nói:

– Không thể chờ lâu được. Kéo dài thời gian chờ đợi, thì rất nguy hiểm. Hiện nay, chiến tranh chưa được chấm dứt ở miền nam Việt Nam, và không phải không có nguy cơ chiến tranh nổ ra ở miền bắc. Quân đội Nhật, quân đội Trung Quốc cũng chưa rút… Tình hình có thể trở nên phức tạp, rối ren.

Lúc đó, tôi xin phép Bác phát biểu, và tôi nói mấy câu vắn tắt, nhấn mạnh ý: Không nên để cho dư luận trong công chúng Việt Nam mất tin tưởng vào thiện của phía Pháp và vào khả năng đi đến một giải pháp hòa bình và hữu nghị. (Trong thời gian đàm phán giữa Bác và Sainteny đi đến Hiệp định sơ bộ 6/3, Bác vẫn cho phép, không những cho phép mà còn phát biểu, nếu có gì quá mạnh, mình sẽ “uốn nắn”; có người đấm, có người xoa; tất nhiên đừng đấm quá mạnh, quá mức cần thiết).

Cuộc tranh luận kéo dài, Bác nói:

– Nhân dân chúng tôi rất có kỷ luật, nhưng hiện nay tình hình trong dư luận ngày càng căng thẳng. Cần có những hành động thiết thực cụ thể, để tránh một sự bùng nổ.

D’Argenlieu suy nghĩ, rồi nói:

– Trong khi chờ đợi nước Pháp có một quốc hội và một chính phủ mới, chúng tôi đề nghị tổ chức một hội nghị trù bị cho hội nghị chính thức.

Để tránh một sự bế tắc, Bác đồng ý với d’Argenlieu. Và sau khi trao đổi ý kiến, hai bên đi đến quyết định: một hội nghị trù bị Việt-Pháp sẽ họp ở Đà Lạt. D’Argenlieu cũng tán thành ý kiến của Bác sẽ cử một đoàn đại biểu của Quốc hội Việt Nam đi thăm hữu nghị Quốc hội và nhân dân Pháp để tạo không khí thuận lợi cho Hội nghị Việt – Pháp chính thức sẽ họp sau Hội nghị trù bị Đà Lạt.

Cuộc hội đàm kết thúc lúc 17 giờ 30 phút. Lễ tiễn đưa không có bắn súng, không có duyệt hạm đội trên biển như trong lễ đón, nhưng vẫn có đội quan danh dự và đông đủ quan chức văn võ của d’Argenlieu.

D’Argenlieu nói:

– Tôi rất tiếc rằng thủ tục lễ nghi không cho phép chúng tôi mời Chủ tịch ở lại đây đêm nay để ngắm “phong cảnh thần tiên” trên vịnh Hạ Long.

Bác trả lời:

– Tôi cảm ơn Ngài nhiều lắm, những rất tiếc, vì phải trở về Hà Nội ngay.
Pignon lúc đó nói:

– Xin Chủ tịch cho phép tôi trình bày một đề nghị: Chúng tôi rất hân hạnh nếu ông Giám vui lòng ở lại đây với chúng tôi, để sáng mai sẽ cùng nhau trở về Hà Nội.

Bác trả lời, rất vui vẻ:

– Điều này hoàn toàn do ông Giám quyết định. Đề nghị ông Giám trả lời Pignon.

Tôi nói:

– Tôi xin cảm ơn Hồ Chủ tịch. Tôi chân thành cảm ơn ông bạn Pignon; nhưng rất tiếc tối hôm nay tôi phải có mặt ở Hà Nội. Rất tiếc.

GS Hoàng Minh Giám tại Hội nghị Fontainebleau năm 1946 (người ngồi đầu tiên tử trái sang).
(Ảnh do chị Hoàng Vĩnh Hạnh, con gái GS Hoàng Minh Giám cung cấp)

Chiếc thủy phi cơ chở Bác, Sainteny và chúng tôi về Hà Nội.

Trên đường bay từ Hà Nội đến vịnh Hạ Long và từ vịnh Hạ Long về Hà Nội, tôi thấy Bác rất chăm chú nhìn xuống những vùng mà chiếc thủy phi cơ bay qua. Trong chuyến bay về, có một lúc Bác quay lại nói rất khẽ với tôi:

-Địa hình này không thuận lợi cho du kích chiến; nhưng có quyết tâm và biết cách đánh thì dù khó khăn thế nào, cũng vượt qua được.

(Còn nữa)

dvt.vn

Bác Hồ của chúng ta là như vậy đó

Hơn 40 năm làm công tác dân vận – Mặt trận, với trách nhiệm được giao, tôi có hạnh phúc lớn là được tiếp xúc với nhiều chính khách, nhiều nhân sĩ, trí thức nổi tiếng, các vị tiêu biểu của các dân tộc, các tôn giáo, trong đó không ít người đã được Bác Hồ cảm hóa, trở thành cộng sự thân thiết của Bác, tiếp thu tư tưởng của Người và đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc và xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất.

Mỗi lần kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh lại một lần anh chị em làm công tác Mặt trận chúng tôi có dịp được nghe chính những người trong cuộc kể lại những câu chuyện đầy xúc động về tầm nhìn xa, trông rộng, lòng bao dung, độ lượng, sức hút kỳ diệu và tài cảm hóa lạ thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Những câu chuyện đó được anh em chúng tôi ghi chép đầy đủ. Nhân dịp kỷ niệm 66 năm ngày Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, tôi trích đăng chuyện kể của Luật sư Phan Anh, Phó Chủ tịch thứ nhất Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa III, tại buổi họp mặt của Mặt trận ngày 10-5-1990 kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Bác Hồ. Không ai nghĩ rằng đây là buổi nói chuyện cuối cùng của Luật sư tại cơ quan Mặt trận vì chỉ sau đó hơn một tháng, ngày 28-6-1990 luật sư Phan Anh đã vĩnh biệt chúng ta. Tiêu đề bài viết này chính là câu kết bài nói của Luật sư.

Ông kể: Theo tôi nhớ, từ trung tuần tháng 7 đến trung tuần tháng 8-1945, những cuộc thương lượng giữa Chính phủ Trần Trọng Kim với Việt Minh diễn ra dồn dập tại Hà Nội. Mở đầu là việc ông Lê Trọng Nghĩa với vai giáo sư Lê Ngọc đã có cuộc tiếp xúc đầu tiên với Khâm sai đại thần Phan Kế Toại ngay tại Phủ khâm sai trong giờ hành chính. Tiếp đó là cuối tháng 7, Thủ tướng Trần Trọng Kim ra Bắc Bộ để thị sát thực địa và điều đình với Nhật cũng đã được ông Phan Kế Toại bố trí tiếp xúc với đại diện Việt Minh ở Hà Nội.

Trước tình hình chuyển biến mau lẹ, ngày 18-8 Khâm sai Phan Kế Toại lại gặp các ông Nguyễn Khang, Lê Trọng Nghĩa, Trần Đình Long tại Phủ khâm sai, chính thức mời Việt Minh cộng tác với Chính phủ Trần Trọng Kim và sẵn sàng chờ Mặt trận cử người tham gia Chính phủ. Cùng ngày, Bộ trưởng Hoàng Xuân Hãn cũng xin gặp Việt Minh, mời Việt Minh tham gia Chính phủ mở rộng và đề nghị trong tình hình quân Đồng minh đang trên đường vào Việt Nam mong cuộc thương lượng tiếp tục, Việt Minh nên nắm vùng nông thôn, Chính phủ lâm thời quản lý các thành phố để có danh nghĩa nói chuyện với Đồng minh.

Tất cả các cuộc thương lượng đều không có kết quả. Ông Trần Trọng Kim giao tôi làm thuyết khách cuối cùng với hy vọng: Với “tài hùng biện của Phan Anh” may ra còn cứu vãn được tình thế.

Nể lời Thủ tướng Trần Trọng Kim, tôi nhận lời và chuẩn bị kỹ cho cuộc gặp.

Tôi còn nhớ, ngày 25-8 Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Tân Trào về Hà Nội. Ngày 26, Người chủ trì Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Ngày 28, báo chí Hà Nội công bố danh sách 15 thành viên của Chính phủ cách mạng do Bác làm Chủ tịch. Cũng ngày đó, tôi đến gặp lại giáo sư Hoàng Minh Giám – một trí thức tiêu biểu của nước ta, thầy Hiệu trưởng trường Thăng Long xưa mà tôi đã một thời dạy học ở đó. Ông lúc này là Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ và được Giáo sư cho biết Cụ sẽ tiếp tôi vào 9 giờ sáng hôm sau. Hay tin tôi ra “đấu tranh” với Chủ tịch Hồ Chí Minh, chú Phan Mỹ – em tôi, một cán bộ cách mạng, vội gặp tôi can ngăn:

– Từ trước đến nay, tôi vẫn phục Anh, coi Anh là thần tượng. Nhưng với việc anh định “đấu tranh” với Cụ thì Anh mê muội quá chừng. Anh muốn “đội đá, vá trời” chăng? – Tôi chỉ mỉm cười, chẳng phản đối, cũng chẳng thanh minh.

Đúng giờ, tôi đến địa điểm hẹn. Tôi quá bất ngờ và đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Đón tôi là một ông Tiên thực thụ. Cụ vận bộ kaki bạc màu, đi đôi bata của đồng bào dân tộc Tày. Cụ không chờ tôi lên mà dáng nhanh nhẹn, Cụ vội bước xuống ngang chỗ tôi đứng bắt tay:

– Tôi đã chờ chú từ lâu. Người nói – Trước khi ra Bắc, chú đã về quê choa chưa?

Tôi bối rối và thực sự xúc động. Những điều lâu nay tôi chuẩn bị công phu nay tan biến cả trước một con người cao sang nhưng không xa cách, một vĩ nhân xa quê hương, đất nước hơn một phần ba thế kỷ nhưng vẫn không quên thổ ngữ thân thương. Tôi ấp úng trả lời:

– Thưa Cụ, con chưa kịp về quê nhà.

Cụ ôm eo tôi cùng bước lên, đưa tôi vào phòng khách. Đồng chí Đàm Quang Trung (1) lúc đó là Đội trưởng đội bảo vệ Bác vào định rót nước mời khách.

Cụ ngăn:

– Chú Phan Anh là khách của Bác, để Bác tiếp. Chú cứ lo việc của chú. Chính tay Bác rót nước mời tôi, thân mật như cha con lâu ngày gặp lại.

Vừa uống nước, Cụ vừa giải thích cho tôi hiểu tình hình thời cuộc và đời sống cùng cực của dân ta hiện nay. Cụ nói ý:

– Dân ta bao năm một cổ đôi tròng, sống dưới chế độ áp bức của thực dân, phong kiến và phát xít Nhật. Nay ta đã giành được độc lập, phải mau chóng tái thiết quốc gia để dân có cơm ăn, áo mặc, được học hành. Chú là người tài cao, học rộng, tôi đề nghị chú ra gánh vác việc nước và trực tiếp làm Chủ tịch Ủy ban Kiến thiết quốc gia.

Tôi ngỡ ngàng trước một sự việc mà mình chưa bao giờ nghĩ tới, liền thưa:

– Thưa Cụ, con chỉ được đào tạo về luật chứ chưa được đào tạo về kiến thiết xây dựng.

– Thế tôi có được ai đào tạo để làm Chủ tịch nước đâu? Dân giao thì mình phải làm, phải vừa làm, vừa học và làm cho tốt, cho thật tốt.

Bác Hồ của chúng ta là như vậy đó. Ngày 29-8-1945 là ngày mà Bác Hồ đổi đời cho tôi, cho gia đình tôi.

45 năm đã trôi qua, tôi lớn lên theo cách mạng, lớn lên theo sự dìu dắt, bảo ban của Người, của Bác Hồ kính yêu của chúng ta.

Con đường mà Luật sư đi theo cách mạng là như vậy. Luật sư Phan Anh là Chủ tịch đầu tiên của Ủy ban Kiến thiết quốc gia của nước ta.

Ngày 2-3-1946 Chính phủ liên hiệp quốc gia được thành lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, ông được mời giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng. Tháng 7-1946 ông được Chính phủ giao trọng trách Tổng Thư ký Phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đi dự Hội nghị Fontainbleau đàm phán với Chính phủ Pháp.

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, ông từng đảm nhiệm các chức vụ: Bộ trưởng Bộ Kinh tế (1948), Bộ trưởng Bộ Công thương (1954). Tháng 7-1954, ông là phái viên Phái đoàn Việt Nam đàm phán tại Hội nghị Giơnevơ.

Sau Hiệp định Giơnevơ, Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao ông đảm nhận nhiều trọng trách: Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Bộ trưởng Bộ Thương nghiệp rồi Bộ trưởng Bộ Ngoại thương.

Luật sư Phan Anh là đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VIII, là Phó Chủ tịch Quốc hội khóa VII. Ông cùng luật sư Nguyễn Mạnh Tường sáng lập Hội Luật gia Việt Nam và trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của Hội và là Ủy viên Thường vụ của Hội Luật gia dân chủ thế giới.

Đối với sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc và hoạt động của Mặt trận Dân tộc thống nhất, luật sư Phan Anh là thành viên của Ban Vận động thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam. Ngày 29-5-1946 khi Hội chính thức được thành lập, ông được cử làm Ủy viên Thường vụ.

Ngày 10-9-1955 MTTQ Việt Nam ra đời, ông tiếp tục được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam cho đến khi Đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận trong phạm vi cả nước vào tháng 2-1977.

Tại Đại hội I và Đại hội II MTTQ Việt Nam, luật sư Phan Anh được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch. Và tại Đại hội III ông được cử làm Phó Chủ tịch thứ nhất Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam.

Luật sư Phan Anh là một trí thức tiêu biểu, tài năng và đức độ, một nhà hùng biện nổi tiếng, một trong những nhân vật đã từng được cộng tác mật thiết bên cạnh Bác Hồ trong nhiều năm và đã có những cống hiến to lớn vào việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và Mặt trận Dân tộc thống nhất.

 Nguyễn Túc
(Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam)

(1) Sau này là Thượng tướng, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước

GS Hoàng Minh Giám kể về những ngày vận nước “nghìn cân treo sợi tóc” (P 4)

(DVT.vn) – Bác Hồ gặp d’Argenlieu trên Vịnh Hạ Long. Viên đô đốc Pháp ra lệnh cho các chiến hạm “diễu binh”, nói là để “chào mừng” nhưng thực ra là để đe doạ.

Như chúng ta đã biết, sau khi Hiệp  định sơ bộ 6/3/1946 được ký  kết, một mong muốn của d’Argenlieu, theo báo cáo của Sainteny, là được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác trả lời Sainteny:

– Tôi sẵn sàng tiếp ông Thủy quân đô đốc.

Sainteny nói:

– Thưa Chủ tịch, có một điều trở ngại.

– Trở ngại gì vậy?

– Ông đô  đốc nghĩ rằng sự có mặt của tướng Lư Hán là một trở ngại. Ông này đang ở Phủ Toàn quyền, và quân đội Trung Quốc chưa rút về nước. Nếu ông d’Argenlieu được gặp Chủ tịch ở một địa điểm nào khác, thì thuận tiện hơn. Thí dụ ở Vịnh Hạ Long. Ông đô đốc và hạm đội Pháp sẽ từ Sài Gòn đến vịnh đón Chủ tịch, và một thủy phi cơ của Pháp sẽ đưa Chủ tịch đến nơi gặp. Xin Chủ tịch cho biết ý kiến. Bác đồng ý, và hẹn ngày 24/3/1946 sẽ gặp d’Argenlieu trên vịnh Hạ Long.

Ngày 2/9/1945 ở Quảng trường Ba Đình, Hà Nội.

Đầu buổi chiều hôm đó, một thủy phi cơ đã đón Bác đi vịnh Hạ Long có Sainteny hộ tống. Đi giúp Bác, có tôi và anh Vũ Đình Huỳnh. Cố vấn Vĩnh Thụy cũng đi, nhưng hẹn sẽ khởi hành từ Hải Phòng, bằng một phương tiện khác.

Lúc chiếc thủy phi cơ hạ cánh xuống vịnh Hạ Long, tiến  đến sát chiến hạm Emile Bertin (trên đó có d’Argenlieu), Bác và chúng tôi đã trèo lên boong tàu, và được tin Cố vấn Vĩnh Thụy đã đến trước chúng tôi, nhưng lúc trèo lên chiếc thang để lên boong tàu thì bị tuột chân xuống nước biển, quần áo ướt hết. Vì thế, Cố vấn đã quay về Hải Phòng và xin lỗi, không có mặt trong buổi tiếp đón.

Trên chiếc chiến hạm Emile Bertin, trang trí cờ quạt lộng lẫy, đô đốc d’Argenlieu mặc quân phục đại lễ, với đông đảo quan chức văn võ và một  đơn vị lính thủy, đã xếp hàng chỉnh tề đón Bác.

Kèn chào nổi lên hoan nghênh vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

D’Argenlieu giới thiệu các quan khách có mặt. Tôi nhận thấy trong các quan khách đó, có một số nhân vật đã gặp trong thời gian thương lượng Hiệp định sơ bộ 6/3: Pignon, Gouron, Torel, Compain, v.v. Đa số các nhân vật đó là những công chức thuộc địa Pháp cao cấp (công sứ, thanh tra mật thám, v.v.) tập hợp xung quanh d’Argenlieu. Một người trong đám đó, béo phệ, nói tiếng Việt rất thạo, với một giọng hoàn toàn Việt Nam, nhích lại gần tôi, và nói:

– Tôi xin tự giới thiệu, tôi là Coussean, nguyên công sứ  tỉnh Sơn La.

Nghe anh ta nói, tôi có một cảm giác rất khó chịu, ghê  tởm, khó tả. Hồi Pháp thuộc, tôi đã nghe nói nhiều về tên Coussean này, công sứ tỉnh Sơn La, nổi tiếng là một tên đao phủ, đã hành hạ, giết hại bao nhiêu người cách mạng Việt Nam không may rơi vào tay nó, trong nhà tù Sơn La…

Tôi không trả lời nó, làm như không nghe rõ nói gì. Vừa lúc đó d’Argenlieu mời Bác tiến tới vài chục bước, để từ trên chiếc boong tàu Emile Bertin xem cuộc “diễu binh” trên biển của hạm đội Pháp (gồm năm, sáu chiến hạm) chào mừng Bác. Nhiều loạt đại bác nổ vang trong nhiều phút, rồi các chiến hạm diễu qua, quân lính trên các chiến hạm hô vang: “Hu-ra, Hu-ra, Hu-ra, Hu-ra…” theo nhịp điệu của quân nhạc…

D’Argenlieu đứng bên cạnh Bác, có vẻ hân hoan đắc chí  giới thiệu lần lượt các chiến hạm diễu qua trên mặt biển. Bác thỉnh thoảng vẫy tay chào… D’Argenlieu trả lời, có vẻ thích thú… Có một lúc d’Argenlieu đang nói chuyện với một số sĩ quan tùy tùng đến báo cáo gì đó, Bác quay lại phía tôi và noi khẽ:

– Nó  làm ra vẻ tôn trọng ta lắm. Thật ra, nó muốn phô trương lực lượng để dọa ta đó. Nhưng ta có sợ đâu!

Xong cuộc duyệt binh, d’Argenlieu mời Bác dự một tiệc trà  nhẹ, ngắn, với toàn thể quan khách,, rồi sau đó mời Bác đến “phòng khách danh dự” để đàm thoại về vấn đề thi hành các điều khoản của Hiệp định sơ bộ 6/3. Dự cuộc này, ngoài Bác và d’Argenlieu, chỉ có tôi.

Phát biểu trước, Bác nhắc d’Argenlieu chú ý việc thi hành nghiêm chỉnh các điều khoản nói về trách nhiệm của hai bên phải đình chỉ ngay chiến sự  ở miền nam Việt Nam, quân đội mỗi bên đóng ở đâu phải ở nguyên đó. Nếu chiến sự tiếp tục như hiện nay, thì tất nhiên không thể tạo nên không khí thuận lợi cho “cuộc đàm phán hữu nghị và chân thành” được nêu lên trong Hiệp định sơ bộ.

(Còn nữa)

dvt.vn