Tag Archive | Chủ tịch Hồ Chí Minh

Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông – Phần thứ ba: B

Giải pháp chủ yếu nhằm bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng khu di tích lịch sử chủ tịch hồ chí minh tại đá chông (tiếp theo)

oOo

II. YÊU CẦU CÔNG TÁC BẢO TỒN, TÔN TẠO VÀ PHÁT HUY TÁC DỤNG KHU DI TÍCH

Yêu cầu về công tác giữ gìn, bảo quản, tôn tạo và phát huy tác dụng Khu di tích gồm một số nội dung sau đây:

1. Công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng Khu di tích đảm bảo tính chân thực, khách quan và khoa học

Tiếp tục tiến hành xác minh, làm rõ các sự kiện gắn với quá trình Bác, Trung ương Đảng lựa chọn, làm việc, tiếp khách quốc tế… và sau này Bộ Chính trị, Đảng ủy Quân sự Trung ương chọn làm nơi giữ gìn thi hài Bác trong những năm chiến tranh. Những sự kiện này phải được tổ chức hội thảo và xác minh rõ tính chân thực, chính xác.

Sưu tầm hồ sơ gốc, những hiện vật khi bắt đầu xây dựng, những đồ dùng lúc Bác đang sống hay phục vụ quá trình giữ gìn thi hài Bác phải được sưu tầm đầy đủ và giữ gìn nguyên vẹn, lâu dài.

Quá trình tôn tạo, bảo quản, giữ gìn và phát huy tác dụng Khu di tích phải bảo đảm khách quan, chính xác từng hiện vật, sự kiện; tuyệt đối không được áp đặt tính chủ quan.

2. Công tác bảo tồn, tôn tạo hiện vật đảm bảo tuyệt đối an toàn, không để hư hỏng, mất mát

Hiện vật tại Khu di tích được gắn liền với cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự nghiệp giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác. Đây là những hiện vật gốc, có giá trị lịch sử. Vì vậy, phải được bảo quản, giữ gìn, bảo vệ tuyệt đối an toàn. Những hiện vật dễ hỏng, dễ vỡ (đồ gỗ, đồ sứ, thủy tinh…) cần có kế hoạch bảo vệ và có phương án trưng bày an toàn, tránh hư hỏng, thất lạc. Một số hiện vật quý nên phục chế, không trưng bày hiện vật gốc.

3. Công tác bảo tồn, tôn tạo hiện vật Khu di tích phải gắn chặt với nhiệm vụ chính trị của đơn vị

Đảng, Nhà nước, trực tiếp là Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh quản lý, giữ gìn K84. Vì vậy, các hoạt động của Khu di tích phải tuân thủ những quy định về Khu di tích lịch sử. Những vấn đề đề xuất bảo quản, tôn tạo, phát huy ý nghĩa, giá trị của Khu di tích tuyệt đối không ảnh hưởng đến nhiệm vụ chính trị. Ngược lại, những công trình phục vụ cho yêu cầu nhiệm vụ không được
phá vỡ cảnh quan, môi trường và ranh giới của Khu di tích.

bqllang.gov.vn

Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông – Phần thứ ba: C

Giải pháp chủ yếu nhằm bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng khu di tích lịch sử chủ tịch hồ chí minh tại đá chông (tiếp theo)

oOo

III. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM BẢO TỒN, TÔN TẠO VÀ PHÁT HUY TÁC DỤNG KHU DI TÍCH

1. Thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo tồn, tôn tạo và đón tiếp, tuyên truyền

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của lãnh đạo, chỉ huy các cấp, của cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ với nhiệm vụ bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng Khu di tích

Hiện nay, việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng Khu di tích Đá Chông là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, là một trong những nhiệm vụ chính trị của Đoàn 285. Do vậy, Thường vụ, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh luôn luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện toàn diện các nhiệm vụ của Đoàn 285. Đồng thời chỉ đạo các cơ quan thường xuyên hướng dẫn, tạo điều kiện giúp đỡ Đoàn 285 hoàn thành tốt công tác bảo tồn, tôn tạo các hiện vật và thực hiện tốt công tác đón tiếp, tuyên truyền nhân dân đến tưởng niệm Bác và tham quan Khu di tích. Bộ Tư lệnh đã giao nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan, đơn vị như sau:

+ Phòng Tham mưu chỉ đạo việc xây dựng tổ chức lực lượng hợp lý; huấn luyện, rèn luyện bộ đội về quân sự, nghi lễ, công tác bảo vệ an ninh địa bàn.

+ Phòng Chính trị chỉ đạo công tác bồi dưỡng, giáo dục nâng cao bản lĩnh chính trị, bảo vệ chính trị nội bộ trong sạch, xây dựng mối đoàn kết quân dân gắn bó; sưu tầm, làm rõ các tài liệu, sự kiện về Khu di tích.

+ Phòng Hậu cần chỉ đạo việc trồng, chăm sóc, bảo vệ, phòng chống cháy rừng, tăng gia sản xuất, lựa chọn cây trồng, vật nuôi phù hợp, hiệu quả; quan tâm nơi ăn ở, sinh hoạt và bảo đảm chế độ, chính sách cho cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ.

+ Phòng Kỹ thuật chỉ đạo về công tác bảo quản, tu sửa các hiện vật, sử dụng, vận hành các thiết bị kỹ thuật, xây dựng các công trình liên quan.

+ Cơ quan Văn Phòng tổ chức hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác đón tiếp, tuyên truyền; tiếp nhận và thông báo, trao đổi với Đoàn 285 về các lực lượng đến Khu di tích.

+ Đoàn 275 và các cơ quan, đơn vị có lực lượng tham gia huấn luyện, thi công công trình ở khu vực phải tăng cường giáo dục cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ về ý thức, trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn Khu di tích.

+ Ban Quản lý Quảng trường Ba Đình, Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ và môi trường phối hợp với Đoàn 285 trồng, chăm sóc cây, đầu tư các dự án về tăng gia sản xuất, bảo vệ rừng.

Đối với Đảng ủy, chỉ huy Đoàn 285 luôn quán triệt sâu sắc nhiệm vụ được giao, vừa chủ động tham mưu, đề xuất các giải pháp, vừa tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức đơn vị làm tốt công tác bảo vệ, giữ gìn tuyệt đối an toàn Khu di tích và thực hiện tận tình, chu đáo nhiệm vụ đón tiếp, tuyên truyền nhân dân đến tưởng niệm Bác, sinh hoạt chính trị và tham quan khu vực.
Thường xuyên bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Thường vụ Đảng ủy Đoàn 969, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng và công tác chỉ đạo, hướng dẫn giúp đỡ của các cơ quan, đơn vị trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Trong quá trình thực hiện, mỗi nội dung công việc luôn có sự biến động và các yếu tố phức tạp nảy sinh (bảo đảm an ninh, phòng chống cháy rừng, xử lý các tình huống…), do vậy lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 285 phải thường xuyên quán triệt sâu sắc nhiệm vụ, tích cực chủ động triển khai hoàn thành toàn diện các nội dung công việc theo kế hoạch. Những nội dung đột xuất, phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phải chấp hành chế độ báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo trước khi tiến hành. Riêng những nhiệm vụ, tình huống khẩn trương, yêu cầu nhanh chóng xử lý, sau đó tổng hợp báo cáo kết quả để tiếp tục xin ý kiến chỉ đạo của Thường vụ, Bộ Tư lệnh.

Trước hết phải coi trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, làm cho cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ trong đơn vị nhận thức sâu sắc về niềm vinh dự tự hào gắn với trách nhiệm được Đảng, Nhà nước, Quân đội tin tưởng giao thực hiện nhiệm vụ chính trị đặc biệt. Hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ, giữ gìn Khu di tích là góp phần quan trọng vào việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác. Làm tốt công tác đón tiếp, tuyên truyền là góp phần quan trọng vào việc phát huy ý nghĩa chính trị, lịch sử – văn hoá của Khu di tích Đá Chông.

Giáo dục để cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ nhận thức đầy đủ mục đích, yêu cầu, nội dung công việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy ý nghĩa lịch sử – văn hoá của Khu di tích. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ, phải phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng trong đơn vị, giữa đơn vị với địa phương và các cơ quan, đơn vị có liên quan.

Tổ chức phân công, giao nhiệm vụ cụ thể, hợp lý cho các ban, đội, các lực lượng trong Đoàn tham gia thực hiện công tác giữ gìn, bảo quản hiện vật và công tác đón tiếp tuyên truyền. Thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn, triển khai thực hiện các nội dung công việc. Quan tâm bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, công nhân viên chiến sĩ; chăm lo chính sách hậu phương quân đội, ổn định nơi ăn, ở của các đồng chí gắn bó lâu dài với đơn vị.

Trong từng bộ phận, nhất là bộ phận trực tiếp đón tiếp, tuyên truyền phải xác định rõ đây là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, lâu dài, đòi hỏi sự công phu, tỷ mỷ, thận trọng, chu đáo trong sưu tầm, xác minh làm rõ các sự kiện quan trọng, trong giữ gìn, bảo quản các hiện vật quý giá và tận tình, chu đáo trong công tác đón tiếp, tuyên truyền. Mỗi cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ trực tiếp làm công tác bảo quản, giữ gìn hiện vật di tích phải luôn yên tâm với nhiệm vụ, yêu nghề, say mê tìm hiểu, học tập nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn.

Định kỳ, hàng năm tổ chức sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm công tác bảo quản, giữ gìn các hiện vật và đón tiếp, tuyên truyền tại Khu di tích. Kịp thời biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ. Gắn kết quả công tác bảo quản hiện vật, đón tiếp, tuyên truyền với việc đánh giá hoàn thành nhiệm vụ hàng năm của cán bộ, đảng viên, công nhân viên, chiến sĩ.

Đồng thời với quá trình giáo dục về tình cảm, trách nhiệm của mỗi bộ phận, mỗi cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ với công việc, cần đấu tranh chống các tư tưởng lệch lạc, đơn giản, chủ quan, cho rằng: Nhiệm vụ bảo tồn, tôn tạo Khu di tích là nhiệm vụ của những nhà chuyên môn khoa học, đơn vị không có chức năng, nhiệm vụ trong công việc này; hay tư tưởng đơn giản, chủ quan trong công tác đón tiếp, tuyên truyền…

– Nghiên cứu đề xuất báo cáo kiện toàn tổ chức lực lượng tại Khu di tích hợp lý.

Đoàn 285 là đơn vị cơ sở thuộc Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, có nhiệm vụ bảo đảm tuyệt đối an toàn Khu di tích; tổ chức tăng gia sản xuất tập trung của đơn vị; trồng, chăm sóc, phòng chống cháy rừng và đón tiếp tuyên truyền phục vụ nhân dân đến tưởng niệm Bác Hồ và tham quan Khu di tích.

Để bảo đảm hoàn thành toàn diện các nhiệm vụ, Đoàn 285 được tổ chức biên chế và phân công nhiệm vụ như hiện nay là phù hợp, cân đối. Tuy nhiên, do yêu cầu công tác bảo tồn, tôn tạo các hiện vật và mở rộng công tác đón tiếp, tuyên truyền. Cần điều chỉnh, tăng cường lực lượng và bố trí nơi ăn, ở cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.

– Thường xuyên bồi dưỡng nâng cao phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Những cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ làm công tác bảo tồn, tôn tạo, giữ gìn các hiện vật và tổ chức đón tiếp, tuyên truyền có vai trò rất quan trọng, trực tiếp tuyên truyền giới thiệu các sự kiện, hiện vật nhằm phát huy ý nghĩa của Khu di tích.

Thời gian qua, cán bộ, nhân viên, chiến sĩ của Đoàn 285 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ giữ gìn, bảo quản các hiện vật. Tổ chức tốt công tác đón tiếp, tuyên truyền, giới thiệu để nhân dân hiểu rõ ý nghĩa chính trị, lịch sử – văn hoá của Khu di tích Đá Chông. Song, thời gian tới phát triển thêm nhiệm vụ bảo tồn, tôn tạo Khu di tích và yêu cầu nhiệm vụ công tác đón tiếp, tuyên truyền ngày càng cao; một số cán bộ có kinh nghiệm chuyển công tác, hoặc nghỉ hưu. Chính vì vậy đơn vị cần quan tâm bồi dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống và trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

+ Nội dung bồi dưỡng phải toàn diện, nhưng tập trung bồi dưỡng nghiệp vụ công tác bảo quản, giữ gìn hiện vật và công tác đón tiếp, tuyên truyền.

Công tác bảo quản, giữ gìn các hiện vật yêu cầu rất cụ thể, tỷ mỷ. Do vậy cần bồi dưỡng cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ nắm vững những kiến thức về quản lý, giữ gìn, lưu giữ các hiện vật, bảo đảm: Hiện vật phải được quản lý đầy đủ chặt chẽ, khoa học, giữ gìn nguyên vẹn, lâu dài, tránh xuống cấp, đổ vỡ, sai lệch…; phương pháp bảo quản, lau chùi, kiểm kê, điểm nghiệm các hiện vật và cách thức trưng bày, tuyên truyền, giới thiệu các hiện vật truyền thống.

Cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ trực tiếp làm công tác đón tiếp, tuyên truyền đòi hỏi phải có bản lĩnh vững vàng, kiến thức toàn diện và phương pháp, nghệ thuật tuyên truyền hấp dẫn, cuốn hút người nghe, muốn vậy phải tập trung bồi dưỡng các nội dung sau:

Tổ chức nghiên cứu, học tập về thân thế, cuộc đời, sự nghiệp cách mạng, tư tưởng và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mọi người phải nhận thức sâu sắc rằng: Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. Đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương trọn đời phấn đấu, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người và nhân loại; luôn có ý chí và nghị lực tinh thần to lớn, vượt qua mọi thử thách, khó khăn để đạt mục đích cách mạng; tuyệt đối tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân, kính trọng nhân dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân; nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu, hết mực vì con người; là tấm gương cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đời riêng trong sáng, nếp sống giản dị và đức khiêm tốn phi thường. Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là nhà chính trị kiệt xuất, nhà văn hoá lớn và là nhà quân sự thiên tài.

Tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ nhận thức sâu sắc về sự nghiệp giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác, nhất là những năm chiến tranh chống Mỹ vô cùng ác liệt, khó khăn, gian khổ, nhưng cán bộ, chiến sĩ Đoàn 69 đã kề vai, sát cánh với chuyên gia y tế Liên Xô để vượt qua. Đây là nhiệm vụ thiêng liêng, thể hiện truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, tôn vinh và biết ơn công lao trời biển của Hồ Chủ tịch đối với nước với dân. Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giữ gìn lâu dài an toàn thi hài Bác, để các thế hệ người Việt Nam và bạn bè quốc tế đến viếng Người, thể hiện quyết tâm mãi mãi đi theo con đường độc lập dân tộc, gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Người đã lựa chọn. Thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh mà Người đã hằng mong đợi.

Bồi dưỡng kiến thức toàn diện về truyền thống lịch sử, văn hoá của dân tộc, của quân đội, trực tiếp là truyền thống của địa phương. Khu vực Sơn Tây, Ba Vì, Hà Tây là nơi “Địa linh nhân kiệt” (Đất thiêng sinh người tài), người làm công tác đón tiếp tuyên truyền cần tìm hiểu sâu lịch sử truyền thống dân tộc; truyền thống quân đội, truyền thống của địa phương. Hiểu rõ quá trình hình thành, phát triển Khu di tích Đá Chông. Sưu tầm những tư liệu, tài liệu của địa phương, trong nhân dân truyền miệng về Khu di tích này. Nắm vững các lực lượng quân đội, địa phương đã tham gia xây dựng, bảo vệ Khu di tích. Hiểu được vị trí chiến lược về quân sự, thuận lợi về giao thông đường không, đường thủy, đường bộ của Khu di tích. Nắm vững mối liên hệ mật thiết giữa di tích Đá Chông với các khu di tích, các khu du lịch trong khu vực… và phong tục, tập quán văn hóa của địa phương.

Học tập nghiệp vụ lễ tân, đón tiếp khách văn minh, lịch sử, tận tình chu đáo, để lại ấn tượng sâu sắc cho nhân dân mỗi khi đến tham quan, tưởng niệm và tổ chức các hoạt động tại Khu di tích. Hiện nay, đội ngũ cán bộ, nhân viên, chiến sĩ của Đoàn 285 cũng như bộ phận trực tiếp làm công tác đón tiếp tuyên truyền phần lớn còn trẻ, chưa được đào tạo cơ bản, kinh nghiệm còn hạn chế. Do vậy để công tác đón tiếp tuyên truyền mang lại hiệu quả thiết thực cần tập trung bồi dưỡng về nghiệp vụ lễ tân.

Mỗi người dân thuộc mọi lứa tuổi, mọi thành phần, mọi địa phương đến với Khu di tích đều xuất phát từ tình cảm kính yêu Bác Hồ, muốn tìm hiểu, học tập cuộc đời thanh tao, giản dị của Bác. Do vậy người làm công tác đón tiếp, tuyên truyền phải thật sự gần gũi, tôn trọng, kính trọng khách, phải tạo mọi điều kiện thuận lợi cho nhân dân thực sự có những phút giây thoải mái, linh thiêng khi đến với Khu di tích của Người.

Bồi dưỡng, giáo dục về tinh thần cảnh giác cách mạng, nhận rõ âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, kịp thời phát hiện và làm thất bại mọi ý đồ đen tối của các thế lực thù địch đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh; làm tốt công tác bảo đảm tuyệt đối an toàn cho nhân dân khi đến tham quan, tưởng niệm tại Khu di tích. Chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch không từ thủ đoạn nào hòng vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng, bôi nhọ hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân, chia rẽ Đảng với dân, chia rẽ quân đội với nhân dân… Trong tình hình đó, người làm công tác đón tiếp, tuyên truyền cũng phải hết sức cảnh giác, phát hiện và ngăn chặn kịp thời.

Trước tình hình tiêu cực hiện nay và các tệ nạn xã hội xảy ra ở mọi địa điểm. Những khu di tích, nơi du lịch tập trung đông người là mảnh đất màu mỡ cho bọn trộm cắp cờ bạc, hành nghề mê tín dị đoan hòng lừa bịp khách. Do vậy, đơn vị và những người làm công tác đón tiếp, tuyên truyền phải nắm vững an ninh địa bàn, cảnh giác phát hiện các thủ đoạn lừa bịp khách đến tham quan; chủ động phối hợp với các lực lượng bảo đảm an ninh ở địa phương để xử lý các trường hợp vi phạm.

+ Phương pháp bồi dưỡng là kết hợp chặt chẽ giữa đơn vị tổ chức và từng cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ tự giác nghiên cứu, học tập, tích luỹ kinh nghiệm trong quá trình công tác.

Đơn vị phải có kế hoạch tổ chức bồi dưỡng chặt chẽ, khoa học. Thực hiện phương châm: Lấy bồi dưỡng tại đơn vị là chính, thông qua thực tiễn, thông qua công việc hàng ngày để tự bồi dưỡng lẫn nhau, cấp trên bồi dưỡng cấp dưới, cán bộ bồi dưỡng nhân viên, chiến sĩ; động viên những người đi trước truyền thụ kinh nghiệm để dìu dắt các thế hệ tiếp theo. Tổ chức mời các chuyên gia, các nhà nghiên cứu về bảo tàng, di tích, các báo cáo viên về tư tưởng Hồ Chí Minh đến giúp đỡ, nói chuyện với cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ. Tổ chức tham quan, học tập các di tích lịch sử, văn hoá trong khu vực. Lựa chọn cán bộ, nhân viên, chiến sĩ có phẩm chất, có triển vọng đi đào tạo chuyên ngành, hoặc bổ túc tại các trường về công tác bảo tồn, tôn tạo các hiện vật và đón tiếp, tuyên truyền. Hàng năm tổ chức hội thi về công tác bảo tồn, tôn tạo và đón tiếp, tuyên truyền để động viên khích lệ kịp thời.

Khuyến khích, động viên mỗi cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ tích cực, chủ động tự học tập, rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức, lối sống, nâng cao trình độ nghiệp vụ công tác bảo tồn, tôn tạo, giữ gìn các hiện vật cũng như công tác đón tiếp, tuyên truyền tại Khu di tích. Tích cực giúp đỡ, ủng hộ, tạo điều kiện về thời gian, bố trí lực lượng hợp lý để mọi người có điều kiện được học tập. Quan tâm động viên khen thưởng những bộ phận, cá nhân có kết quả học tập tốt. Đồng thời kiểm tra, nhắc nhở, phê bình những trường hợp bảo thủ, chậm tiến, lười học tập, rèn luyện.

– Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ nhiệm vụ bảo tồn, tôn tạo các hiện vật và tổ chức đón tiếp, tuyên truyền tại Khu di tích

Nhiệm vụ bảo tồn, tôn tạo, sưu tầm các hiện vật gốc tại Khu di tích qua nửa thế kỷ rất công phu, tỷ mỷ, trong điều kiện môi trường gặp nhiều khó khăn, phức tạp và công tác đón tiếp, tuyên truyền phải thường xuyên cải tiến, đổi mới nên cần có sự quan đầu tư về cơ sở vật chất và ứng dụng khoa học kỹ thuật trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Trước hết, đơn vị cần quan tâm đầu tư về cơ sở hạ tầng phục vụ đón tiếp nhân dân. Hiện nay hệ thống đường giao thông, đường đi lại trong Khu di tích, khu nhà chờ, bãi đỗ xe, nơi nhân dân nghỉ khi mưa nắng đã tương đối đầy đủ. Tuy nhiên cần quan tâm đầu tư về các trang thiết bị: Bản đồ, sơ đồ; biển báo chỉ dẫn đường đi để mọi người đi tham quan được thuận lợi.

Để phục vụ quá trình giới thiệu các hiện vật, cần gắn các biển tên đồ vật, cây trồng cho thống nhất. Những đồ vật mới bổ sung, hoặc mới tu sửa, tôn tạo như: Bàn thờ Bác, cầu thang sắt, thềm lên hiên ngôi nhà 2 tầng, máy điều hoà ở phòng Bác nghỉ… cần chú thích rõ thời gian, nguồn gốc để dễ phân biệt với hiện vật gốc.

Do yêu cầu công tác giữ gìn, bảo quản các hiện vật, nên đầu tư các phương tiện, hoá chất nhằm bảo quản, giữ gìn các hiện vật làm bằng vật liệu: gỗ, sắt, thủy tinh, sứ, vải, len dạ… chống xuống cấp.

Vườn cây Bác trồng, các vị khách quốc tế (Bà Đặng Dĩnh Siêu, Anh hùng vũ trụ G.M Ti-tốp trồng) và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã trồng cần đầu tư chăm sóc để phát triển xanh tốt.

Đồng thời, từng bước nghiên cứu, đầu tư về các trang thiết bị, ứng dụng công nghệ hiện đại phục vụ công tác tuyên truyền. Ở những nơi chủ yếu như: Bãi đỗ xe, nhà chờ có hệ thống loa để hướng dẫn khách tham quan và cùng với các khu vực nhà 2 tầng, nhà kính bố trí hệ thống camera quan sát các hoạt động của nhân dân, vừa phục vụ công tác đón tiếp, tuyên truyền, vừa đảm bảo an ninh khu vực.

2. Tiếp tục sưu tầm, bổ sung, hoàn thiện hồ sơ khoa học về Khu di tích để có cơ sở bảo tồn, tôn tạo và tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền, giáo dục

Khu di tích Đá Chông là nơi đã diễn ra nhiều sự kiện lịch sử, có ý nghĩa quan trọng đối với dân tộc, quốc tế và sự nghiệp giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác. Do vậy phải lập hồ sơ khoa học để phục vụ công tác nghiên cứu, sưu tầm, tìm hiểu cũng như bảo quản Khu di tích lâu dài.

– Trước hết phải sưu tầm, tập hợp các tài liệu có liên quan tới di tích

Đây là việc làm lâu dài, thường xuyên, song giai đoạn đầu cần sưu tầm tất cả các tài liệu gắn với quá trình hình thành và phát triển của Khu di tích qua các thời kỳ trước năm 1945, từ năm 1945-1957, từ năm 1957-1969, từ năm 1969-1975 và từ năm 1975-2007. Mỗi thời kỳ phải làm rõ được tập thể, cá nhân, cơ quan, đơn vị quản lý; những sự kiện nổi bật diễn ra trong từng thời kỳ và ý nghĩa lịch sử, văn hoá; mối quan hệ với địa phương như thế nào?

Những tư liệu, tài liệu về các thời kỳ của Khu di tích hiện nay lưu giữ chủ yếu ở Bảo tàng Hồ Chí Minh và một số cơ quan lưu trữ của Trung ương, Hà Tây và quân đội. Giai đoạn sau 1975 đã có một số phương tiện thông tin đại chúng: Thông tấn xã Việt Nam, Báo Quân đội, Báo Tiền phong, Đài Truyền hình Hà Nội, Hà Tây… đưa tin, bài về các hoạt động tại Khu di tích. Những tư liệu, tài liệu này cần được sưu tầm, tập hợp, thống kê khoa học, giữ gìn cẩn thận để phục vụ công tác nghiên cứu, tra cứu cũng như tiếp tục sưu tầm bổ sung sau này.

Tên của khu di tích cũng cần được thống nhất, bởi vì qua các thời kỳ tên gọi của khu di tích có sự khác nhau. Thời kỳ Pháp thuộc (trước năm 1945) là đồn điền Satupô; trong kháng chiến chống Pháp (1946-1954) là khu căn cứ kháng chiến “Ba Vì” của tỉnh Sơn Tây; thời gian xây dựng (1959-1960) được mang mật danh công trường V; thời kỳ Bác và Trung ương làm việc ở đây (1960-1969) được gọi là “Khu căn cứ K9”; từ những năm giữ gìn thi hài Bác (1969) đến nay mang mật danh K84. Do vậy, cần thống nhất tên đầy đủ là “Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông, Ba Vì, Hà Tây”; có thể gọi tắt là “Khu di tích Đá Chông”.

Trong lý lịch di tích cần xác định rõ điểm phân bố của Khu di tích, xác định rõ những lần Bác Hồ đến Đá Chông và những sự kiện diễn ra tại đây.

Ngoài ra cần làm rõ nội dung lịch sử, loại di tích, khảo tả di tích, các hiện vật trong di tích, giá trị lịch sử, tình trạng bảo quản, phương án bảo vệ, sử dụng di tích.

– Chụp ảnh các hiện vật, nhân chứng và ghi chép lời kể của nhân chứng từng thời kỳ

Do yêu cầu công tác bảo đảm bí mật nên việc ghi chép, lưu giữ các tài liệu liên quan đến các sự kiện, hiện vật tại Khu di tích rất hạn chế. Hiện nay, những hồi ức, kỷ niệm của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ trực tiếp gắn bó với Khu di tích có ý nghĩa, giá trị thực tiễn. Do vậy phải thống kê, lập danh sách các nhân chứng qua 2 thời kỳ Bác Hồ, Trung ương làm việc tại Đá Chông (1957-1969) và thời kỳ giữ gìn thi hài Bác trong những năm chiến tranh (1969-1975) để tiến hành chụp ảnh nhân chứng; ghi lời kể của nhân chứng và xin chữ ký, dấu xác nhận của chính quyền địa phương hoặc thủ trưởng cơ quan, đơn vị.

Kết hợp với ghi chép lời kể nhân chứng cần tiến hành ghi âm giọng nói nhân chứng để sau này so sánh chứng thực nội dung kể chuyện của nhân chứng. Do thời gian lâu, tuổi tác, trí nhớ, sức khỏe của nhân chứng bị giảm sút… nên đơn vị phải tổ chức tọa đàm, hội thảo để giám định lời kể của nhân chứng, tạo sự thống nhất về mỗi sự kiện, hiện vật tại Khu di tích Đá Chông.
Những nội dung cần Hội thảo thống nhất một số sự kiện, hiện vật gắn với các thời kỳ. Cụ thể thời kỳ 1957-1969 cần làm rõ: thời điểm đầu tiên Bác Hồ đến với Đá Chông và sau đó Bác đến mấy lần, thời gian, nội dung từng lần và có những ai đi cùng với Bác; xác định rõ các hiện vật ngôi nhà 2 tầng, nhà kính, nhà bếp; các hiện vật như bàn ghế, giường tủ… nguồn gốc, xuất xứ, lý lịch những hiện vật đó.

Thời kỳ 1969-1975 Hội thảo các nhân chứng làm rõ về quá trình xây dựng các công trình phục vụ nhiệm vụ y tế, bảo vệ, thời gian từng lần đón đưa, đón thi hài Bác, thời gian thi hài Bác ở đó diễn ra những sự kiện quan trọng nào, các đồng chí Trung ương Đảng, Trung ương Cục miền Nam lên viếng Bác mấy lần, có những ai…

– Vẽ ghi di tích theo đúng hiện trạng và lập bản đồ khoanh vùng bảo vệ di tích

Những hiện vật của Khu di tích Đá Chông cơ bản được giữ gìn rất tốt. Song một số hiện vật: Nhà 2 tầng nơi Bác họp, tiếp khách và nghỉ ngơi; nhà kính nơi giữ gìn thi hài Bác trong những năm chiến tranh; nhà phục vụ đều không giữ được bản thiết kế ban đầu, theo thực tế đã quét vôi, ve lại các ngôi nhà và tu sửa một số nội dung. Do vậy cần tiến hành vẽ ghi những hiện vật chủ yếu như: Tổng thể Khu di tích, ngôi nhà sàn, nhà kính, nhà bếp bảo đảm đúng thực tế, tỷ mỷ, khoa học, theo yêu cầu của vẽ ghi di tích. Đó là những tài liệu, các bản vẽ để làm tài liệu căn cứ sau này tu sửa, phục chế khi có tình huống xảy ra. Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng có các lực lượng kiến trúc, xây dựng, nếu phát huy được thì sẽ rất thuận lợi trong quá trình tu sửa, bảo quản, sửa chữa sau này.

Theo quy định của Pháp lệnh bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh của Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 14/LCT/HĐNN7 ban hành ngày 4 tháng 4 năm 1984; Nghị định 288/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ngày 31 tháng 12 năm 1985 và Thông tư hướng dẫn thi hành của Bộ Văn hóa – Thông tin số 206/VHTT ngày 22 tháng 7 năm 1986 thì mỗi di tích lịch sử – văn hóa nên có từ 2 đến 3 khu vực bảo vệ: Khu vực I là khu vực bất khả xâm phạm, giữ nguyên yếu tố gốc; Khu vực II là khu vực bao quanh trực tiếp và Khu vực III là khung cảnh thiên nhiên của di tích.

Như vậy, đề nghị đơn vị báo cáo với Bộ Quốc phòng và trao đổi với huyện Ba Vì, với tỉnh Hà Tây về lập biên bản khoanh vùng bảo vệ di tích Đá Chông. Với hiện trạng toàn bộ khu vực Đá Chông đơn vị đang quản lý, nên phân chia thành 3 khu vực, bao gồm: Khu vực I (Di tích Đá Chông) có phạm vi không gian như sau: Bắc đến đường lên, đầu nhà kính số 2, Nam là ngoài vị trí thắp hương tại 3 hòn Đá Chông, Đông là đến đường dạo ven hồ Khu B, Tây là theo đường dạo mới làm quanh di tích, có 3 công trình trọng tâm: Nhà 2 tầng Bác Hồ ở, nhà kính giữ gìn thi hài Bác và nhà phục vụ số 1.

Khu vực II: Là diện tích xung quanh Khu di tích, có phạm vi không gian như sau: Bắc đến hết sân bay, sân quần vợt, phía Nam giáp hàng rào bảo vệ dọc sông Đà, phía Tây…, phía Đông giáp khu vực tăng gia tập trung của đơn vị; trọng tâm của khu vực này có các công trình: Nhà 2 tầng trước đây các đồng chí Trung ương nghỉ; sân bay trực thăng; công trình huấn luyện, phòng chống cháy rừng.

Khu vực III: Là toàn bộ diện tích còn lại 234ha do đơn vị đang quản lý.

– Lập sổ thống kê hiện vật và kiểm kê các hiện vật có trong di tích

+ Giữ nguyên các yếu tố gốc là yêu cầu đầu tiên trong công tác bảo tồn, tôn tạo di tích. Từ thực trạng hiện nay, các nhân chứng sẽ có cơ sở để suy nghĩ, hồi tưởng lại những thay đổi so với thời gian trước, đề xuất giải pháp bảo tồn, phục chế các hiện vật gốc. Do vậy đơn vị cần quan tâm xây dựng kế hoạch bảo quản, tôn tạo Khu di tích. Trong kế hoạch cần xác định rõ những hiện vật nào cần giữ nguyên, hiện vật nào cần tôn tạo, hiện vật nào cần phục chế để có giải pháp tổng thể.

Giữ nguyên toàn bộ môi trường, cảnh quan vốn có của Khu di tích như: sân, vườn, cây trồng, hàng rào.

Giữ lại toàn bộ đồ dùng hiện có trong từng căn phòng, từng ngôi nhà của Khu di tích. Giữ nguyên vị trí của từng đồ dùng có trong các phòng, các nhà
di tích.

Tiến hành quay phim, chụp ảnh toàn cảnh, từng hiện vật trong từng ngôi nhà, từng căn buồng, nhằm lưu giữ các hiện vật, bố trí các hiện vật, khi tu sửa ngôi nhà, hoặc bàn giao các thế hệ, người trông coi có tài liệu để làm căn cứ.

Đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện, công nghệ để giữ nguyên hiện trạng các hiện vật. Hiện nay những hiện vật tại Khu di tích rất đa dạng: Gỗ, sắt, sứ, hiện vật đơn chiếc, đa chiếc, máy móc, phương tiện vận tải… cần đầu tư công nghệ bảo quản đồ gỗ, chống mối mọt, sơn chống gỉ, điều hòa bảo đảm không khí, môi trường vệ sinh xung quanh…

Lập sổ thống kê hiện vật và ghi số kiểm kê tạm thời các hiện vật đang lưu giữ tại Khu di tích theo số liệu kiểm kê thường xuyên.

Tổ chức ghi chép chặt chẽ, khoa học, chính xác, đúng các nội dung về hiện vật theo quy định; tiến hành lập phiếu ghi chép hiện vật theo mẫu của Bộ Văn hoá – Thông tin.

Đơn vị phối hợp mời chuyên gia về: khảo cổ, di tích, bảo tàng tổ chức kiểm tra, đánh giá thực trạng các hiện vật tại Khu di tích.

Có kế hoạch sưu tầm nguồn gốc, xuất xứ các hiện vật có giá trị tại Khu di tích như: Nhà 2 tầng, nhà kính, bàn ghế, giường tủ Bác Hồ dùng và tiếp khách.

Ghi sổ kiểm kê bước đầu theo mẫu.

Ghi ký hiệu kiểm kê cho hiện vật.

Trên cơ sở thống kê, phân loại, mời chuyên gia về hiện vật xác định, thẩm định thực trạng hiện vật thành các nhóm để quản lý:

+ Hiện vật nguyên gốc, đủ số lượng, bảo đảm chất lượng;

+ Hiện vật đã tu sửa, hoặc hư hỏng, xuống cấp để có kế hoạch tôn tạo, phục chế theo bản gốc;

+ Hiện vật còn thiếu tiến hành sưu tầm, bổ sung đầy đủ.

Theo thống kê, hiện nay đơn vị đang quản lý 176 hiện vật. Đề nghị nghiên cứu lập hồ sơ khoa học 100 hiện vật. Tập trung vào các khu vực như:

+ Hiện vật gắn với thời kỳ Bác Hồ và Trung ương làm việc tại đây: Nhà 2 tầng, đồ dùng trong ngôi nhà, hầm trú ẩn, hòn non bộ, đường “Rèn luyện sức khoẻ”;

+ Cây trồng trong vườn: Đặc biệt là những cây quý được Bác và các vị khách trồng từ trước; cây vải trước ngôi nhà 2 tầng Bác đã nghỉ trưa dưới gốc cây; nơi 3 mỏm Đá Chông Bác đã nghỉ và ăn cơm trưa.

+ Hiện vật sau này phục vụ nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác: Những chiếc xe làm nhiệm vụ di chuyển thi hài Bác, phòng để thi hài Bác tại Đá Chông; hòm kính và các dụng cụ y tế phục vụ nhiệm vụ này.

– Tổ chức bố trí, trưng bày các hiện vật bảo đảm khoa học, thuận lợi cho công tác đón tiếp, tuyên truyền.

Hiện vật hiện nay ở Khu di tích chủ yếu được giữ nguyên như hiện trạng ban đầu, đều là những hiện vật gốc, có giá trị thực tiễn rất lớn trong công tác nghiên cứu, tìm hiểu. Có các hiện vật gắn liền với lúc Bác sống, lúc giữ gìn thi hài Bác và sau này các tổ chức, cá nhân trao tặng. Cần tiến hành những công việc sau:

+ Bố trí sắp xếp hiện vật ở: Nhà 2 tầng gồm những hiện vật sinh thời Bác Hồ đã sử dụng: Giường tủ, bàn ghế… Những cây trồng giữ nguyên vị trí như ban đầu.

Công việc bố trí sắp xếp các hiện vật tại nhà bếp cần phối hợp với Bảo tàng Hồ Chí Minh để bảo đảm tính khoa học, thẩm mỹ, dễ bảo quản, giới thiệu tuyên truyền.

Những hiện vật, cây trồng sau này bổ sung, tôn tạo, trồng mới ghi biển chú thích nói rõ xuất xứ để khách tham quan dễ nhìn, dễ thấy.

+ Trưng bày những hiện vật mà trước đây đã dùng phục vụ Bác nghỉ, tiếp khách, các tập thể, cá nhân trao tặng Bác; những hiện vật phục vụ quá trình giữ gìn thi hài Bác: 3 chiếc xe ô tô, các dụng cụ y tế; hoặc những hiện vật các tập thể, cá nhân trao tặng đơn vị phục vụ nhiệm vụ giữ gìn Khu di tích tổ chức trưng bày tại ngôi nhà phục vụ số 1 để khách tham quan, theo dõi được thuận lợi.

– Tiến hành bảo quản thường xuyên các hiện vật.

Hiện vật, cây trồng tại Khu di tích rất đa dạng, đơn vị cần phân loại các dạng hiện vật để có chế độ bảo quản thường xuyên hợp lý.

+ Đối với toàn bộ Khu di tích, hàng ngày đều phải tiến hành quét dọn trong nhà, cầu thang, ngoài sân, đường dạo cho sạch sẽ. Hàng tuần tiến hành tổng vệ sinh toàn bộ khu vực.

+ Những hiện vật trong khu vực nhà 2 tầng, nhà trưng bày, nhà xe, nhà kính hàng tuần lau chùi, vệ sinh sạch sẽ.

Việc bảo quản các hiện vật nên giao cho người chuyên trách. Nhân viên bảo quản cũng cần được trang bị kiến thức bảo quản cần thiết để có thể sử dụng đúng phương tiện (từng chổi, giẻ lau, bàn chải cứng hay mềm…) hoặc hoá chất, đơn giản phục vụ cho việc bảo quản hàng ngày.

+ Những hiện vật thuộc thiết bị kỹ thuật, ô tô có chế độ vận hành định kỳ và bảo dưỡng hợp lý.

+ Cây trồng trong vườn có chế độ chăm sóc: tưới nước, bón phân, diệt trừ sâu bọ thường xuyên.

+ Hàng năm, tổ chức kiểm tra, đánh giá công tác bảo quản, tôn tạo hiện vật và hiệu quả công tác đón tiếp, tuyên truyền tại Khu di tích.

Ghi nhật ký di tích hằng ngày để tiện theo dõi hoạt động, tổng hợp số lượng đoàn, số lượng khách và những nội dung công việc quan trọng. Phân công cán bộ (nhân viên) ghi nhật ký hàng ngày. Ghi tóm tắt công việc diễn ra trong ngày tại di tích. Ghi cụ thể các đoàn, thuộc cơ quan, đơn vị, địa phương nào, số lượng người, phương tiện đến, nội dung, chương trình hoạt động tại Khu di tích. Những Đoàn lãnh đạo Đảng, Nhà nước cần ghi cụ thể, chi tiết tên người đứng đầu, tổng số người trong đoàn, nội dung hoạt động, thời gian đoàn ở lại Khu di tích và cán bộ của đơn vị đón dẫn đoàn.

Chú ý ghi chi tiết những công việc đột xuất xảy ra, hoặc việc di chuyển hiện vật hay tu sửa, thay thế vật liệu xây dựng trong ngôi nhà di tích. Nhật ký đóng thành quyển, ngoài bìa ghi tên di tích và thời gian bắt đầu ghi đến kết thúc.

– Nghiên cứu, đề xuất giải pháp tôn tạo cảnh quan, môi trường Khu di tích và các khu vực xung quanh, vừa bảo đảm nguyên trạng vừa có bước phát triển

Trên cơ sở quy hoạch tổng thể toàn bộ khu vực Đá Chông của đơn vị, để có giải pháp tu sửa, tôn tạo các khu vực cho phù hợp.

+ Quy hoạch Khu vực I (Khu di tích), với yêu cầu mọi yếu tố gốc còn lại trong di tích phải được bảo vệ nguyên trạng như hiện nay. Nghiêm cấm mọi sự di chuyển địa điểm thay đổi, bổ sung. Đề nghị trưng bày các hiện vật tại nhà phục vụ số 1. Trong khu vực này nên bố trí thêm ghế đá để phục vụ khách vừa tham quan, vừa nghỉ ngơi được thuận tiện; đồng thời quy hoạch các khu vực trồng, chăm sóc cây do lãnh đạo Đảng, Nhà nước trồng, tạo cảnh quan môi trường đẹp.

+ Quy hoạch Khu vực II, là khu vực điều chỉnh xây dựng để bảo vệ không làm ảnh hưởng đến giá trị, vẻ đẹp của di tích. Trong Khu vực II xây dựng các công trình phục vụ huấn luyện, rèn luyện bộ đội và phòng chống cháy rừng. Yêu cầu các công trình phải đảm bảo phù hợp với không gian tổng thể, nhằm mục đích tôn tạo khu vực di tích.

+ Quy hoạch Khu vực III, các khu vực khác trong phạm vi đơn vị quản lý cần xây dựng, bố trí hệ thống giao thông, điện, điện thoại tạo điều kiện thuận lợi cho khách tham quan. Đồng thời quy hoạch xây dựng các khu đồi cây, vườn cây, khu tăng gia sản xuất, chăn nuôi, hồ cá phù hợp để tôn vẻ đẹp và đảm bảo môi trường cho Khu di tích.

+ Hàng năm, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương tổ chức phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác”, tạo nên phong trào trồng cây, chăm sóc cây và bảo vệ rừng tại Khu di tích.

3. Thường xuyên cải tiến, đối mới công tác đón tiếp, tuyên truyền nhằm phát huy tác dụng Khu di tích.

– Xây dựng quy chế đón tiếp khách, quy định bảo vệ Khu di tích, làm cơ sở cho việc triển khai thực hiện chặt chẽ, thống nhất.

Hiện nay, quy định tổ chức đón tiếp các đoàn đến tưởng niệm Bác và tham quan Khu di tích đã quy định rõ: Các đoàn muốn đến Khu di tích phải đăng ký trước. Trong đó, cơ quan Văn phòng tiếp nhận, đăng ký các đoàn của địa phương, các bộ, ban, ngành; Đoàn 285 tiếp nhận các đoàn của huyện Ba Vì, thị xã Sơn Tây và lãnh đạo tỉnh Hà Tây giới thiệu. Trường hợp có đoàn do không nắm vững quy định mà đã đến Khu di tích thì Chỉ huy Đoàn 285 nắm cụ thể và giải quyết. Về cơ bản, quy trình tiếp nhận các đoàn đã từng bước đi vào nền nếp.

Tuy nhiên, để tạo điều kiện thuận lợi cho công việc đăng ký của các đoàn, đề nghị tuyên truyền, phổ biến rộng rãi nội dung quy chế, quy định trong đơn vị, nhân dân địa phương để triển khai thực hiện.

Trong quy chế cần quy định cụ thể thời gian, phạm vi, đối tượng được đến tham quan Khu di tích. Quy định nội dung tưởng niệm Bác, sinh hoạt chính trị, trồng cây, đóng góp giúp đỡ vật chất, tinh thần cho Khu di tích.

Riêng với quy chế bảo vệ khu vực xây dựng chưa đầy đủ, cần bổ sung, hoàn chỉnh để triển khai thực hiện thống nhất. Trong quy định bảo vệ khu vực cần quy định rõ chế độ khen thưởng, xử phạt các trường hợp vi phạm công tác bảo đảm an toàn cho Khu di tích.

+ Phối hợp các lực lượng, các phương tiện tuyên truyền rộng rãi quy chế, quy định, trước mắt là đối với các đoàn đến tham quan tại Khu di tích.

Làm tốt công tác giáo dục nhân dân địa phương thấy rõ trách nhiệm bảo vệ tuyệt đối an toàn Khu di tích là trách nhiệm của địa phương, là góp phần bảo đảm trật tự an ninh xã hội của địa phương.

Phối hợp với các lực lượng trong, ngoài đơn vị, cấp ủy, chính quyền địa phương và nhân dân tuyên truyền về quy chế bảo vệ, tham quan Khu di tích. Có kế hoạch thông qua các tổ chức Đảng, đoàn thể, trường học ở địa phương để phối hợp tuyên truyền, phổ biến rộng rãi các quy định bảo vệ Khu di tích.

– Tổ chức đón tiếp chặt chẽ, khoa học các đoàn đến thăm Khu di tích

+ Tổ chức đón tiếp

Khu di tích Đá Chông cách Hà Nội khoảng 70km, đường giao thông đi lại chưa thật thuận lợi. Do vậy cần phối hợp với địa phương tổ chức các biển báo giới thiệu cho khách đến Khu di tích được thuận lợi. Phối hợp các lực lượng của địa phương bảo đảm an ninh, an toàn, thuận lợi cho các đoàn đến tham quan Khu di tích.

Phối hợp các lực lượng: Cơ quan Văn phòng, huyện Ba Vì và thị xã Sơn Tây, tổ chức tiếp nhận, trả lời đề nghị của các đoàn đến tham quan Khu di tích.

Phân công lực lượng đón tiếp, phục vụ các đoàn đến tham quan Khu di tích tận tình, chu đáo.

+ Do yêu cầu nhiệm vụ và phạm vi phục vụ, hiện nay các đoàn lên tham quan và tổ chức các hoạt động tại Khu di tích rất đa dạng. Để thuận lợi cho công tác đón tiếp, tuyên truyền, đề nghị: Các đoàn lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các bộ, ban, ngành của Trung ương, lãnh đạo các địa phương do Thủ trưởng Bộ Tư lệnh dẫn và giới thiệu. Một số đoàn thuộc các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Bộ Quốc phòng, được Thủ trưởng Bộ Tư lệnh ủy quyền do thủ trưởng các cơ quan dẫn. Các đoàn còn lại do Thủ trưởng Đoàn 285 mà thường xuyên, trực tiếp là cán bộ, nhân viên làm nhiệm vụ hướng dẫn viên và giới thiệu.

– Chủ động nghiên cứu, xây dựng nội dung tuyên truyền phù hợp về Khu di tích

Khu di tích Đá Chông mới đi vào hoạt động, hiện nay có nhiều lực lượng tham gia tuyên truyền, giới thiệu cho các đoàn: Thủ trưởng Bộ Tư lệnh; cán bộ, nhân viên, chiến sĩ của Đoàn 285 và một số cán bộ của các cơ quan trong Bộ Tư lệnh. Do vậy cần biên soạn nội dung đề cương giới thiệu để bảo đảm tính chính xác, chân thực, thống nhất, đầy đủ, toàn diện.

Đề cương tuyên truyền, giới thiệu nên kết hợp giữa ngôn ngữ nói với bản đồ, sa bàn và các hiện vật thực tế trong Khu di tích.

Đề cương tuyên truyền nên bố cục theo quy trình các đoàn đến tưởng niệm Bác, tham quan toàn bộ Khu di tích. Nội dung tuyên truyền nên khái quát toàn bộ quá trình hình thành, phát triển của Khu di tích qua các thời kỳ. Khẳng định rõ vị trí chiến lược của Khu di tích mà Bác Hồ và Trung ương đã chọn làm căn cứ; giới thiệu được cơ bản những lần Bác Hồ lên làm việc, tiếp khách tại Khu di tích và thời gian giữ gìn thi hài Bác trong những năm chiến tranh tại đây; giới thiệu làm nổi bật những sự kiện, hiện vật gắn liền với Bác Hồ khi Người còn sống và giữ gìn thi hài sau khi Người qua đời.

Ngoài đề cương tuyên truyền chung, nên mở rộng các nội dung: Như sưu tầm những chuyện kể về sự quan tâm của Bác Hồ và những lần Bác lên thăm Khu di tích; những tình cảm của nhân dân địa phương tham gia xây dựng, bảo vệ, giữ gìn Khu di tích; những câu chuyện vượt khó khăn vất vả của cán bộ, chiến sĩ Đoàn 69 trong những năm tháng chiến tranh; tình cảm của chuyên gia Liên Xô với Việt Nam, với Bác Hồ và với cán bộ, nhân viên y tế Việt Nam.

Tại Khu di tích sẽ diễn ra rất nhiều hoạt động. Do vậy cần xây dựng thêm những nội dung tuyên truyền chuyên đề cho các hoạt động: tham quan; lễ báo công, phát động thi đua; trồng cây lưu niệm.

Xây dựng nội dung tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng: Lão thành cách mạng, bộ đội, nhân dân, các cháu học sinh…

Đơn vị đầu tư xây dựng phim tài liệu, ấn phẩm văn hoá giới thiệu, tuyên truyền về các hoạt động của Khu di tích cho khách đến tham quan.

Thông qua trang tin điện tử trên hệ thống Internet của Ban Quản lý Lăng, tổ chức tuyên truyền, giới thiệu cho nhân dân cả nước về ý nghĩa lịch sử – văn hoá của Khu di tích; hướng dẫn các đoàn đến các địa điểm đăng ký tham quan và tổ chức các hoạt động tại Khu di tích Đá Chông. Đồng thời bố trí lực lượng, phương tiện trả lời, giải đáp những ý kiến muốn tìm hiểu về Khu di tích Đá Chông.

– Tích cực cải tiến, đổi mới các nội dung, hình thức đón tiếp, tuyên truyền sinh động, phong phú, phát huy ý nghĩa chính trị, văn hoá tại Khu di tích

Tổ chức đón tiếp, tuyên truyền giới thiệu cho nhân dân nhận thức sâu sắc ý nghĩa chính trị, lịch sử, văn hoá là mục đích, là kết quả của cả quá trình bảo tồn, tôn tạo Khu di tích Đá Chông. Để thực hiện được mục tiêu này đơn vị phải tích cực cải tiến, đổi mới hình thức, phương pháp tuyên truyền sinh động, tạo sự hấp dẫn, cuốn hút nhân dân đến tham quan Khu di tích.

Trước hết, phải cải tiến, đổi mới hình thức tuyên truyền. Kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền bằng thuyết minh như hiện nay là chủ yếu với tuyên truyền bằng trực quan sinh động. Thông qua những hiện vật, cây trồng, cảnh quan, môi trường của Khu di tích, cán bộ, nhân viên đón tiếp, tuyên truyền giới thiệu cụ thể về ý nghĩa lịch sử, tầm quan trọng chiến lược của Khu di tích mà Bác Hồ đã chọn, tái hiện lại những công việc, sinh hoạt của Bác Hồ, các đồng chí Trung ương Đảng; giới thiệu cho mọi người thấy sự khó khăn, vất vả của cán bộ, chiến sĩ Đoàn 69 cùng chuyên gia y tế Liên Xô trong thực hiện nhiệm vụ giữ gìn tuyệt đối an toàn thi hài Bác ở nơi này.

Tại khu đón tiếp ban đầu (bãi đỗ xe), nên có hệ thống bản đồ, sơ đồ giới thiệu khái quát về toàn cảnh cũng như quá trình hình thành, phát triển của Khu di tích. Ở đây và dọc đường dạo quanh hồ Khu B nên bố trí có hệ thống: pa nô, khẩu hiệu, tranh ảnh giới thiệu về nhiệm vụ, cảnh quan, môi trường của Khu di tích. Trong khu vực nhà 2 tầng nên có bảng ảnh phản ánh những hoạt động sinh hoạt chính trị, văn hoá của các đoàn tại Khu di tích.

Đồng thời phải nắm vững nhu cầu, nguyện vọng của các đoàn đến với Khu di tích để lựa chọn nội dung, hình thức tuyên truyền cho phù hợp.

+ Đối với các đoàn nhân dân đến tưởng niệm Bác và tham quan Khu di tích, tổ chức hướng dẫn, tuyên truyền, giới thiệu theo quy trình. Từ bãi đỗ xe, quanh đường dạo hồ Khu B, lên nhà 2 tầng, dâng hương tưởng niệm Bác, tham quan ngôi nhà, vườn cây, hòn non bộ, khu vực 3 hòn Đá Chông – theo đường dạo đến nơi 3 chiếc xe – nhà trưng bày, nhà kính nơi giữ gìn thi hài Bác – xuống đường dạo quanh hồ, về khu vực ban đầu. Thời gian khoảng 1 giờ đến 1 giờ 30 phút. Riêng đoàn có các cụ già, thương binh, người khuyết tật ưu tiên cho xe của khách đưa, đón tại vọng gác số 2.

Đối với các đoàn là khách của Bộ Tư lệnh tổ chức đón tiếp tại phòng khách thuộc nhà kính số 2 để giới thiệu khái quát về toàn cảnh của Khu di tích và nhiệm vụ đơn vị. Sau đó lên dâng hương, tưởng niệm Bác và thực hiện quy trình tham quan bình thường.

+ Đối với các đoàn đến sinh hoạt chính trị: Tổ chức lễ báo công, trao phần thưởng, kết nạp Đảng, kết nạp Đoàn, kết nạp Đội… phải hiệp đồng trước về nội dung, thời gian tiến hành, số người tham dự. Đơn vị giúp đỡ về âm thanh, chụp ảnh lưu niệm, hướng dẫn về nghi lễ bảo đảm trang trọng và tổ chức tại sân sỏi cuội, trước ngôi nhà 2 tầng. Sau đó dâng hương tưởng niệm Bác và tiến hành quy trình tham quan bình thường.

+ Đối với các đoàn có nhu cầu tham quan chuyên đề; tổ chức giới thiệu thêm về khu vực đặt tổng đài điện thoại; sân bay trực thăng, công trình huấn luyện, phòng chống cháy rừng tại Khu di tích.

+ Đối với các tập thể, cá nhân có nguyện vọng đến trồng cây, đóng góp hiện vật phục vụ công việc sưu tầm hiện vật, bảo quản, giữ gìn và tôn tạo Khu di tích, chỉ huy đơn vị bố trí thời gian đón tiếp, tiếp nhận trang trọng, chu đáo.

Quá trình tổ chức đón tiếp, tuyên truyền, cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ phải luôn lắng nghe, giải thích, đáp ứng nguyện vọng của khách nhằm tìm hiểu các sự kiện, hiện vật, cây trồng tại Khu di tích. Đồng thời phải thực sự cầu thị, vui vẻ tiếp thu sự đóng góp xây dựng của mọi người để cải tiến, đổi mới nội dung, hình thức nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đón tiếp, tuyên truyền tại Khu di tích.

4. Phối hợp với các cấp, các ngành, các lực lượng và địa phương trong công tác bảo tồn, tôn tạo, tuyên truyền, quảng bá và phát huy tác dụng Khu di tích

– Thường xuyên bám sát sự chỉ đạo của các cơ quan Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Bộ Quốc phòng về mọi mặt hoạt động của Khu di tích

Trên cơ sở kế hoạch dài hạn và ngắn hạn, hàng năm, đơn vị chủ động đề nghị các cơ quan Trung ương và Quân đội quan tâm đầu tư xây dựng các công trình phục vụ các nhiệm vụ tại Khu di tích.

Mọi công việc tôn tạo, đón tiếp, tuyên truyền, của Khu di tích Đá Chông phải xin ý kiến chỉ đạo, hướng dẫn của các cơ quan Trung ương và Bộ Quốc phòng.

Quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ, những vấn đề mới phát sinh liên quan đến yêu cầu nhiệm vụ chính trị cần kịp thời báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của trên để triển khai thống nhất.

– Phối hợp với cấp ủy, chính quyền, nhân dân địa phương và các cơ quan, đơn vị ở địa bàn trong bảo vệ an ninh phục vụ công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng Khu di tích

Cấp ủy, chính quyền và nhân dân trong khu vực luôn xác định việc phối hợp với Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng, với Đoàn 285 trong công tác giữ gìn, bảo vệ tuyệt đối an toàn Khu di tích Đá Chông là tình cảm, là trách nhiệm của địa phương. Do vậy, trên cơ sở Quy chế về phối hợp bảo vệ Khu di tích và Quy định phòng chống cháy rừng đã được ký kết giữa Huyện ủy, ủy ban nhân dân huyện Ba Vì với Thường vụ, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng, cần tổ chức sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả để có cơ sở bổ sung hoàn thiện cho phù hợp với thực tiễn. Đồng thời nghiên cứu, đề xuất việc xây dựng một số quy định, phương án phối hợp bảo vệ an ninh địa bàn… Có quy định về biểu dương, khen thưởng tập thể cá nhân thực hiện tốt và xử lý kỷ luật những trường hợp vi phạm.

Để nâng cao nhận thức, trách nhiệm về công tác bảo vệ, giữ gìn Khu di tích, cần tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền, giáo dục trong các tầng lớp nhân dân. Thông qua hệ thống tổ chức đảng, chính quyền thôn, xã, huyện, các tổ chức Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, thông qua các trường học đối với các cháu thanh thiếu niên. Đặc biệt là các xã liền kề (Minh Quang, Ba Trại, Thuần Mỹ của huyện Ba Vì, Hà Tây và xã Đồng Luận của huyện Thanh Thủy, Phú Thọ) và các cơ quan, đơn vị đứng chân trong địa bàn.

Trong quá trình triển khai thực hiện các quy chế, quy định về phối hợp, phải coi trọng việc tổ chức xây dựng lực lượng (đơn vị, địa phương và các cơ quan, trường học trong địa bàn), phương án phối hợp, hiệp đồng xử lý các trường hợp vi phạm quy định bảo vệ Khu di tích và vi phạm quy định bảo đảm an ninh – xã hội trong địa bàn, phòng chống cháy rừng. Duy trì nền nếp chế độ giao ban, thông tin, thông báo tình hình khu vực giữa đơn vị, địa phương và các cơ quan trong địa bàn.

Nhân dân đến tưởng niệm Bác và tham quan Khu di tích còn có nhu cầu tìm hiểu phong tục, tập quán, nét văn hoá của địa phương. Do vậy, cần vận động nhân dân và các cơ quan, đơn vị trong địa bàn chủ động tham gia làm tốt công tác tuyên truyền cho nhân dân đến với Khu di tích. Động viên nhân dân địa phương tham gia công tác tuyên truyền từ việc tiếp nhận, giải thích, liên hệ các đoàn đến với Khu di tích. Xây dựng thái độ văn minh, lịch sự phục vụ khách đến với Khu di tích cũng như khách đến với quê hương Ba Vì, Hà Tây giàu truyền thống văn hoá, hiếu khách.

Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Lâm sinh, Lâm trường, Công an, Kiểm lâm trong địa bàn để tích cực bảo vệ, chăm sóc rừng cây, tôn vẻ đẹp và môi trường trong lành cho Khu di tích.

– Phối hợp với các cơ quan, đơn vị, các lực lượng và các cá nhân liên quan trong công tác bảo tồn, tôn tạo, tuyên truyền, quảng bá và phát huy tác dụng Khu di tích

Khu di tích Đá Chông đang trong quá trình hoàn thiện, đơn vị chưa có nhiều kinh nghiệm, do vậy cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị chuyên ngành của Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hà Tây để triển khai các nội dung: Xây dựng Hồ sơ khoa học sưu tầm, làm rõ nguồn gốc, xuất xứ các sự kiện, hiện vật, tổ chức trưng bày hiện vật… làm phong phú các hoạt động đón tiếp, tuyên truyền tại Khu di tích.

Để thực hiện tốt nội dung này, cần chủ động liên hệ, trao đổi, gặp gỡ, đề nghị các nhân chứng kể lại, chép lại những hồi ức, kỷ niệm của bản thân, của đơn vị mình đã phục vụ Bác Hồ, phục vụ Trung ương Đảng trong giai đoạn 1957-1969 và tham gia nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác trong những năm chiến tranh từ năm 1969 đến năm 1975.

Định kỳ tổ chức gặp mặt cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ trực tiếp gắn bó với Khu di tích để ôn lại truyền thống, cung cấp thêm tư liệu và trao đổi các biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bảo tồn, tôn tạo, đón tiếp, tuyên truyền tại Khu di tích.

Với vị trí quan trọng và ý nghĩa đặc biệt của Khu di tích, sẽ có nhiều tập thể, cá nhân có nguyện vọng đóng góp vật chất, tinh thần (trao tặng hiện vật, tặng giống cây quý, góp ý kiến…) phục vụ công việc bảo tồn, tôn tạo các hiện vật tại Khu di tích, cũng như các hoạt động giáo dục, tuyên truyền, phát huy tác dụng Khu di tích. Do vậy, đơn vị cần có kế hoạch tổ chức tiếp nhận sự đóng góp thật trang trọng, ý nghĩa.

Thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thông tấn, báo chí ở Trung ương và địa phương trong việc tuyên truyền, quảng bá về Khu di tích và các hoạt động diễn ra tại Khu di tích.

Tổ chức tuyên truyền sâu rộng cho cán bộ và nhân dân cả nước, trọng tâm là các cơ quan, đơn vị, trường học trong địa bàn nắm vững những quy định đến tham quan và tổ chức các hoạt động tại Khu di tích. Thông tin đầy đủ, kịp thời, cụ thể những nội dung được làm và những nội dung không được làm tại Khu di tích. Có biện pháp ngăn chặn kịp thời việc lợi dụng tổ chức tham quan để tiến hành các hoạt động mê tín, dị đoan trong Khu di tích. Quá trình tuyên truyền, thông tin rộng rãi, thuận lợi, tránh phiền hà cho nhân dân trong việc liên hệ và tổ chức tham quan Khu di tích.

bqllang.gov.vn

Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông – Phần kết luận

Kết luận

oOo

1. Khu di tích lịch sử Đá Chông đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn làm căn cứ của Người và Trung ương. Trong những năm 1957-1969, Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã nhiều lần lên thăm, làm việc họp bàn, quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nước và tiếp khách quý. Sau này Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã chọn làm nơi giữ gìn thi hài Bác trong những năm chiến tranh. Cán bộ, chiến sĩ Đoàn 69 (đơn vị tiền thân của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh) đã kề vai, sát cánh cùng với chuyên gia y tế Liên Xô vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thiêng liêng, tạo tiền đề cơ bản cho sự nghiệp giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

2. Trong những năm qua, được sự giúp đỡ của các ngành, các cấp ở Trung ương và quân đội; các cơ quan, đơn vị chuyên ngành; trực tiếp là Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương, đơn vị đã giữ gìn, bảo vệ tuyệt đối an toàn Khu di tích, từng bước mở rộng đón tiếp, tuyên truyền, phục vụ chu đáo các đoàn khách trong nước đến tưởng niệm Bác và tham quan Khu di tích; đầu tư xây dựng các công trình phục vụ các nhiệm vụ của đơn vị và góp phần bảo vệ, tôn tạo cảnh quan, môi trường Khu di tích.

Trên cơ sở đánh giá khách quan, khoa học, có thể khẳng định: Khu di tích Đá Chông có giá trị lịch sử, văn hoá đặc biệt; góp phần tuyên truyền, giáo dục, nghiên cứu, tìm hiểu về tư tưởng, cuộc đời, thân thế, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh; tìm hiểu về sự nghiệp giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác.

3. Từ đánh giá thực trạng công tác giữ gìn, bảo quản hiện vật và hoạt động đón tiếp, tuyên truyền tại Khu di tích; để dự báo được triển vọng của Khu di tích trong những năm sắp tới. Đồng thời cũng đề ra những yêu cầu và giải pháp nhằm bảo tồn, tôn tạo, phát huy tác dụng Khu di tích. Những giải pháp được đề xuất trong là những nội dung cơ bản, mang tính định hướng cho lãnh đạo, chỉ huy trong việc quản lý, tổ chức các hoạt động của đơn vị và Khu di tích.

4. Hoạt động của Khu di tích phải gắn liền với yêu cầu nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Di tích lịch sử phải được bảo vệ, giữ gìn nguyên hiện trạng ban đầu. Những khu vực lân cận được sử dụng phục vụ yêu cầu nhiệm vụ chính trị của đơn vị phải được bố trí hài hòa, tuyệt đối không được phá vỡ cảnh quan, môi trường Khu di tích.

5. Cuốn sách ra đời được sự giúp đỡ tận tình của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ qua các thời kỳ đã có vinh dự được làm nhiệm vụ tại Khu di tích Đá Chông và đặc biệt là bộ phận lưu trữ hồ sơ, tài liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh; Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hà Tây. Sự cung cấp tư liệu, hồ sơ của các tập thể, cá nhân là cơ sở khách quan, khoa học để công trình “Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông” hoàn chỉnh và xuất bản.

Tuy vậy, trong tình hình thực tiễn, với những khó khăn khách quan, chủ quan, cuốn sách chưa đáp ứng được đầy đủ những vấn đề đặt ra của lãnh đạo, chỉ huy và nguyện vọng của cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ trong đơn vị. Hy vọng ở những công trình nghiên cứu sau này sẽ có đầy đủ những tư liệu, số liệu về Khu di tích lịch sử đặc biệt – K9 – K84 – Đá Chông.

bqllang.gov.vn

Giới thiệu sách “Bên Lăng Bác Hồ”

Nhân dịp kỷ niệm 32 năm Ngày truyền thống của Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (29/8/1975 – 29/8/2007), Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh phối hợp với Nhà Xuất bản Quân đội xuất bản cuốn sách “Bên Lăng Bác Hồ”.

Trải qua 38 năm thực hiện nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác và 32 năm xây dựng, trưởng thành, lớp lớp cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn “Trung hiếu vẹn toàn, đoàn kết hiệp đồng, tự lực tự cường, chủ động sáng tạo” hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác, những nét đặc trưng của Người lúc sinh thời được giữ gìn nguyên vẹn.

Để giúp bạn đọc hiểu thêm về sự nghiệp giữ gìn lâu dài thi hài Bác và xây dựng Lăng của Người, chúng tôi lần lượt giới thiệu các bài viết trong cuốn sách “Bên Lăng Bác Hồ” của cán bộ, chuyên gia Nga, phóng viên, nhạc sĩ; thể hiện tình cảm thiêng liêng, lòng biết ơn sâu sắc của Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, những người trực tiếp được làm nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác và công trình Lăng của Người kính dâng lên Đảng, Bác Hồ muôn vàn kính yêu, là món quà tinh thần gửi tới đồng bào, đồng chí cả nước.

Cuốn sách gồm lời nói đầu, 24 bài viết và 4 bài hát.

Ban Biên tập

bqllang.gov.vn

Lời nói đầu
Thay cho lời cám ơn
Một ngày và mãi mãi
Về công việc giữ gìn Thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Việt Nam
Ngày đầu giữ gìn thi hài Bác ở “75A”
Nơi Bác Hồ yên nghỉ trong những năm tháng chiến tranh
Tổ Kỹ thuật trên Công trình K9
Kỷ niệm của những người phục vụ Bác ở Đá chông
Đi Liên Xô tham gia thiết kế Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
Đón những chuyến hàng đặc biệt
Kỷ niệm về Trường “C 100”
Màu áo của Bác
Những thông số nóng … lạnh
Đêm cuối thu
Xứng đáng là “người cán bộ của cán bộ”
Xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong những năm 1981-1989
Người dẫn đầu cuộc hành quân rèn luyện
Nhớ về ban “quản lý xây dựng công trình cơ bản”
Bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác giữa ta và Bạn
Một quyết nghị của ý chí độc lập tự chủ
Nắm vững thời cơ, vững vàng đi lên trong khó khăn
Kỷ niệm về một chuyến đi công tác
Những giây phút thiêng liêng bên Người
Một lần giao lưu trực tuyến
Tháng năm mãi mãi bên Người

120thAnniversary

Quan điểm của Bác Hồ về tìm kiếm và trọng dụng nhân tài khoa học

Một trong những cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh là các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đề cao vai trò của nhân tài, tích cực tìm kiếm và trọng dụng nhân tài là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

Lịch sử chứng tỏ ông cha sớm định hình một tư tưởng có ý nghĩa chiến lược: Hiền tài là nguyên khí quốc gia và rất đề cao vai trò của nhân tài trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Năm 1484 và năm 1487, Thân Nhân Trung thừa lệnh nhà vua thảo bài văn bia, trong đó nêu rõ quan điểm cơ bản của nhà nước về hiền tài: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước càng mạnh và càng lớn lao, nguyên khí suy thì thế nước yếu và càng xuống thấp. Bởi vậy các bậc vua tài giỏi đời xưa chẳng có đời nào lại không chăm lo nuôi dưỡng và đào tạo nhân tài bồi đắp nguyên khí”[1].

Những thế kỷ sau đó truyền thống trên được tiếp tục giữ gìn và phát triển. Người anh hùng áo vải, cờ đào Nguyễn Huệ, thế kỷ XVIII cũng có “chiếu cầu hiền”. Ông viết: “Trẫm thường mong mỏi, lắng nghe và liên tục hỏi những người tài cao, học rộng sao chưa thấy đến? Phải chăng trẫm kém tài, ít đức chẳng đáng phò tá hay sao? Trẫm luôn lo lắng và nghĩ rằng cái nhà to sức một cây cột làm sao chống nổi, sự nghiệp dân an quốc thái sức một người sao có thể đảm đương”[2]. Đặc biệt những lời Nguyễn Huệ nói với La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp rất đáng để đời sau suy nghĩ: “Quả đức sinh ra ở chốn binh đao, sự học hỏi chỉ ở sự nghe trông, nên trong đạo trị dân đã có nhiều điều thô lậu, phiền nhiễu, đó là cái tội bởi Quả đức chưa biết cầu hiền. Mong Phu tử nghĩ đến dân sinh, gắng sức giúp đời, cứu nước, để Quả đức có thầy mà thờ, cho đời này có người mà cậy, khỏi phụ ý trời sinh ra người tài giỏi cho dân. Quả đức xin nghe theo lời dạy bảo”.

Dân nhân văn hoá Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển truyền thống trên đây của cha ông lên một tầm cao mới. Điều này thể hiện đặc biệt rõ từ khi Người sáng lập Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà, 1945.

Lịch sử cho thấy đến ngày 1-3-1428 bóng dáng cuối cùng của quân xâm lược nhà Minh bị quét khỏi nước ta. Hơn một năm sau, 1429 Lê Lợi mới lệnh cho quan các nơi phải tiến cử người tài đức. Hồ Chí Minh đề xuất chủ trương tìm kiếm nhân tài sớm hơn rất nhiều. Hơn hai tháng sau Tuyên ngôn độc lập, ngày 14-11-1925, Hồ Chí Minh viết bài “Nhân tài và kiến quốc”. Tư tưởng nổi bật của bài viết là “kiến quốc cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài ngày càng phát triển, càng thêm nhiều”. Điều đặc biệt là một năm sau đó, 11-1946, Hồ Chí Minh lại viết “Tìm người tài đức”. Trong bài viết này, Hồ Chí Minh khẳng định trong số 20 triệu người Việt Nam “chắc không thiếu người có tài, có đức” nhưng vì Chính phủ “nghe không đến, thấy không khắp” nên những người tài đức chưa xuất hiện. Trên tư cách là người đứng đầu Chính phủ, Hồ Chí Minh khẳng định: “Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận”[3]. Để sửa chữa khuyết điểm, tỏ rõ quyết tâm của chính quyền cách mạng trọng dụng nhân tài, Hồ Chí Minh chỉ thị cho các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức và phải báo cáo đầy đủ, rõ ràng lên chính phủ tên, tuổi, nghề nghiệp, tài năng, chỗ ở, nguyện vọng của người đó.

Có thể coi những văn kiện nêu trên là “chiếu cầu hiền, tài” đầu tiên của chính quyền cách mạng. Theo Hồ Chí Minh, việc sử dụng con người, nhất là những người tài không chỉ là khoa học mà còn là nghệ thuật – nghệ thuật của người lãnh đạo. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Lãnh đạo khéo, tài nhỏ có thể hoá tài to. Lãnh đạo không khéo, tài to cũng hoá ra tài nhỏ”[4].

Phát hiện nhân tài đã khó nhưng việc khó hơn là làm thế nào để đức tài của họ được phát huy cao nhất trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chính sự quan tâm sâu sắc và trọng dụng nhân tài của Hồ Chí Minh là động lực mạnh mẽ thôi thúc nhân tài cống hiến hết minh.

Một trong những minh chứng tiêu biểu cho vấn đề này là sự quan tâm sâu sắc, có thể nói đến mức tỷ mỉ của Hồ Chí Minh đối với Tôn Thất Tùng. Ngay sau Cách mạng tháng Tám Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Tôn Thất Tùng. Bước ngoặt căn bản trong cuộc đời Tôn Thất Tùng xảy ra khi tổ chức bố trí ông “đến chữa bệnh cho một lão đồng chí”, người gầy xanh xao nhưng “có đôi mắt sáng”. Sau này, trong hồi ký của mình, Giáo sư Tôn Thất Tùng viết: “Từ cuộc gặp đầu tiên đó, tâm hồn tôi đã chuyển biến theo cách mạng Việt Nam, theo ánh sáng của đôi mắt Bác Hồ”. Hồ Chí Minh rất quan tâm tới cuộc sống của các chuyên gia, nhân tài. Đầu năm 1946, khi biết Tôn Thất Tùng mới sinh con trai, Hồ Chí Minh đề nghị với Tôn Thất Tùng: Chú để tôi đặt tên cho cháu. Người nói: Tên chú có bộ mộc nên đặt tên cho cháu là Bách. Điều kỳ lạ là đến năm 1968, Hồ Chí Minh vẫn hỏi thăm Tôn Thất Tùng về Tôn Thất Bách mà hơn 20 năm trước Người đã đặt tên.

Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới việc tạo điều kiện trang cấp thiết bị hiện đại cho các nhân tài hoạt động khoa học. Một lần Tôn Thất Tùng trực tiếp gặp Hồ Chí Minh đề đạt nguyện vọng cần vài trăm nghìn Phrăng Pháp để mua tài liệu và thiết bị mới. Hồ Chí Minh hỏi sao không nhờ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa anh em giúp đỡ. Sau khi được biết những thiết bị đó các nước xã hội chủ nghĩa chưa có, Hồ Chí Minh nói: Nước ta còn nghèo nhưng việc cứu sống con người là quan trọng, không thể dè xẻn. Sau đó, Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho các cơ quan chức năng đáp ứng yêu cầu của chuyên gia hàng đầu ngành y tế Việt Nam[5]. Chính sự quan tâm, chăm sóc đó của Hồ Chí Minh là nhân tố quan trọng nhất để không chỉ nhân dân Việt Nam mà cả thế giới biết đến Giáo sư Tôn Thất Tùng. Sự quan tâm đó quả thực có tác dụng lâu dài, sâu sắc. Bởi vì, không chỉ có Giáo sư, Viện sĩ Tôn Thất Tùng mà cả người con trai của ông, Phó Giáo sư, Viện sĩ, Nhà giáo nhân dân Tôn Thất Bách đã trọn đời đi theo “ánh sáng của đôi mắt Bác Hồ”. Nỗi tiếc thương vô hạn của đồng bào, đồng chí, đồng nghiệp và người bệnh trước sự ra đi của hai cha con ông đã nói lên điều đó.

Trong việc tìm kiếm và trọng dụng nhân tài phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Hồ Chí Minh không chỉ chú ý đến nhân tài ở trong nước mà còn rất quan tâm tìm kiếm những cán bộ khoa học kỹ thuật là người Việt Nam định cư ở nước ngoài mời gọi, khuyến khích họ mang đức, mang tài phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Từ những năm 40. 50 thế kỷ XX những nhân tài Việt kiều sống tại Pháp, nơi cuộc sống vật chất và điều kiện cho hoạt động nghiên cứu khoa học thuận lợi hơn Việt Nam rất nhiều nhưng khâm phục đức độ, tài năng của Hồ Chí Minh và theo tiếng gọi của Tổ quốc nhiều người đã từ bỏ Pari hoa lệ phồn vinh theo Hồ Chí Minh lội suối, trèo đèo lên Việt Bắc mà không đòi hỏi một sự đãi ngộ đặc biệt nào cho riêng mình. Nhiều người trong số đó sau này đảm nhận những cương vị chủ chốt về các lĩnh vực khoa học kỹ thuật của đất nước và được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về những đóng góp khoa học cho đất nước ngay từ đợt đầu tiên.

Trước hết đó là Trần Đại Nghĩa tên thật là Phạm Quang Lễ. Khi Hồ Chí Minh sang Pháp năm 1946, ông đã là kỹ sư với mức lương hàng tháng quy ra vàng có thể tính bằng cây nhưng ông đã từ bỏ tất cả tình nguyện theo Hồ Chí Minh về nước. Ông là kỹ sư quân giới đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, mặc dù đất nước còn rất nhiều khó khăn nhưng với tình yêu quê hương, đất nước và tài năng của mình ông là người có công đầu trong việc nghiên cứu, thiết kế và tổ chức sản xuất thành công nhiều loại vũ khí như lựu đạn, mìn đặc biệt là súng BaZôka, SKZ, những vũ khí này là nỗi kinh hoàng đối với thực dân Pháp trong kháng chiến. Trần Đại Nghĩa được tặng danh hiệu anh hùng lao động 1952, Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Liên xô 1966, Viện trưởng Viện khoa học Việt Nam 1975 – 1983, giải thưởng Hồ Chí Minh 1996.

Có thể kể thêm một trí thức lơn mà cũng trở về từ Pháp tình nguyện theo kháng chiến, theo Hồ Chí Minh và cũng có những cống hiến xuất sắc đối với cách mạng. Đó là giáo sư Hồ Đắc Di. Năm 1918, tròn 18 tuổi Hồ Đắc Di sang Pháp học tại trường Đại học y khoa Pari. Tác động mạnh mẽ nhất đối với người sinh viên y khoa ngay từ năm đàu tiên ở Pháp năm 1919, nhân danh những người Việt Nam yêu nước ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đến Hội nghị Véc-xây đưa yêu sách 8 điểm của nhân dân An Nam, trong đó yêu sách thứ 6 là “Tự do học tập, thành lập trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ”[6]. Kể từ đó anh sinh viên Hồ Đắc Di cố gắng tìm đọc những tác phẩm, bài viết của Hồ Chí Minh đăng trên báo Người cùng khổ và hết lòng cổ vũ cho báo này. Một buổi sáng chủ nhật, tại câu lạc bộ của sinh viên Việt Nam ở số nhà 15 phố Xonmơra, phố Latinh Pari, Hồ Đắc Di nhận thấy ba thanh niên Việt Nam đang chụm đầu trao đổi với nhau. Trong số này Hồ Đắc Di chỉ biết người có chòm râu đen là Phan Châu Trinh – Người bạn đi cùng giải thích cho Hồ Đắc Di biết thêm: Người béo béo là luật sư Phan Văn Trường, còn người thanh niên trẻ tuổi, nước da hơi xanh, đôi mắt rực sáng, mảnh khảnh, gày gò chính là Nguyễn ái Quốc. Ba tiếng Nguyễn ái Quốc thực sự gây xúc động mạnh mẽ đối với Hồ Đắc Di, anh ngưỡng mộ và tình nguyện theo Nguyễn ái Quốc từ đấy mặc dù lúc đó người thanh niên này chưa có những ý niệm đầy đủ rõ ràng về cách mạng, về chủ nghĩa xã hội.

Sau khi tôi nghiệp Hồ Đắc Di về nước. Qua tìm hiểu ông biết thêm Việt minh do Nguyễn ái Quốc sáng lập, Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 do Nguyễn ái Quốc viết. Đặc biệt khi ông biết người thanh niên mảnh khảnh, gày gò hay lui tới câu lạc bộ sinh viên Việt Nam tại Pari năm nào thì ngày 2-9-1945 lại xuất hiện trên trên quảng trường Ba Đình đọc Tuyên ngôn độc lập. Sự kiện đó giúp Hồ Đắc Di khẳng định chính nghĩa là đây, độc lập tự do, hạnh phúc là đây. Trong lĩnh vực y khoa Hồ Đắc Di là người sáng lập ngành ngoại khoa Việt Nam. Ông là giáo sư hiệu trưởng Trường đại học Y dược Hà Nội, Chủ tịch tổng hội Y học Việt Nam. Ông được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về y học năm 1996.

Trong số những trí thức lớn từ Pháp trở về nước phục vụ cách mạng có thể kể thêm Phan Huy Thông. Ông là người nhận 2 bằng tiến sĩ ở Pháp, tiến sĩ luật học, tiến sĩ văn chương. Khi Hồ Chí Minh sang Pháp năm 1946, ông là thư ký riêng của Người. Về nước ông không chỉ hoạt động trong lĩnh vực khoa học mà còn tham gia nhiều hoạt động chính trị xã hội như Phó Chủ tịch Uỷ ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam, Chủ tịch Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam, đại biểu quốc hội khoá II và III. ông là Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học cộng hòa dân chủ Đức, được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học xã hội năm 2000.

Trình bày vắn tắt một vài nhân vật và sự kiện liên quan đến việc Hồ Chí Minh tìm kiếm và trọng dụng nhân tài trong những nghành khoa học từ những người Việt Nam học tập và thành đạt ở nước ngoài, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng dưới thời Hồ Chí Minh số người thành danh ở nước ngoài không nhiều nhưng Người vẫn tìm mọi cách để tranh thủ sự đóng góp của họ đối với đất nước. Ngày nay chúng ta có hơn 3 triệu người Việt Nam định cư ở hàng chục nước trên thế giới trong đó nhiều người sinh sống và làm việc ở những nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Cộng hoà Liên bang Đức. Trong số họ có nhiều người thành đạt về khoa học, một số khác có vốn và kinh nghiệm của các nước tiên tiến. Vấn đề đặt ra cho Đảng và Nhà nước hiện nay là trên cơ sở quan điểm Hồ Chí Minh, chúng ta cần có chủ trương, giải pháp thông thoáng để thu hút ngày càng nhiều nhân tài người Việt định cư ở nước ngoài phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới.

Càng cuối đời Hồ Chí Minh càng lo lắng đến công việc tìm kiếm và sử dụng nhân tài. Hồ Chí Minh viết trong Di chúc: Đảng và Nhà nước cần lựa chọn những người ưu tú nhất trong bộ đội, thanh niên xung phong đào tạo họ thành những cán bộ, công nhân kỹ thuật giỏi, những người vừa “hồng” vừa “chuyên” đó là “đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta”[7]. “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là công việc rất quan trọng rất cần thiết”.

Trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với thời đại khoa học công nghệ, kinh tế tri thức trong sự nghiệp đổi mới Đảng và Nhà nước Việt Nam khẳng định giáo dục và đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, Đảng và Chính phủ đã đề ra chủ trương, biện pháp đề đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nhân tài. Trên một số lĩnh vực đã xuất hiện những nhân tài. Sự nghiệp đổi mới đang đòi hỏi ngày càng có nhiều nhân tài hơn nữa. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện mới, Văn kiện Đại hội X viết: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao. Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài”[8]. Việc thu hút trọng dụng nhân tài là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, Văn kiện Đại hội X nhấn mạnh: “Có chính sách thu hút các nhà khoa học công nghệ giỏi trong cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài”.

Hiện nay, hơn lúc nào hết đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta cần phải trung thành, vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, quan điểm của Người về tìm kiếm, trọng dụng nhân tài nói riêng./.

PGS.TS Nguyễn Khánh Bật
Ditichhochiminhphuchutich.gov.vn
Tâm Trang (st)

____________________

Chú thích:
[1] Kỷ niệm 500 năm ngày mất Thân Nhân Trung: Hiền tài là nguyên khí quốc gia, Trung tâm UNéCO thông tin tư liệu lịch sử văn hoá Việt Nam và Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, 1999, tr.10.
[2] Trần Thế Linh: Gương sáng người xưa, Nxb Thanh niên, H, 2003, tr.15.
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H 1995, tập 4, tr. 452.
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 5, tr. 280.
[5] Bộ Y tế – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác bảo vệ sức khoẻ, Nxb CTQG, H, 1997, tr. 215.
[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 1, tr 435.
[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 12, tr. 504.
[8] Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr. 96.

bqllang.gov.vn

Cựu phóng viên chiến tranh TASS viết về 3 lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bác Hồ tiếp lãnh đạo Đoàn TNCS Lênin tại Việt Nam (tháng 12/1964).

“Chúng tôi đã nghe những hồi tưởng của Bác Hồ, chăm chú nhìn khuôn mặt bộc trực của Người. Xuyên qua cặp mắt kính lão, đôi mắt tinh anh, cho dù đã có phần mệt mỏi, của Người đang nhìn chúng tôi. Người ngồi đó đầu đội mũ lưỡi trai, cổ quàng khăn ấm (trời hôm ấy rất lạnh)”.

Sergei Afonin là cựu phóng viên chiến tranh của Thông tấn xã Liên Xô (TASS) tại Việt Nam. Ông đã công bố cuốn sách “Những năm tháng nóng bỏng” nói về những trải nghiệm của mình cùng với nhân dân Việt Nam trong những năm chiến tranh chống Mỹ.

Hiện nay cựu phóng viên chiến tranh của TASS đang sống cùng với vợ và đứa con trai út trong một căn hộ nhỏ ở ngoại ô phía Nam Moskva. Trong căn hộ của họ không có những đồ vật đắt tiền, nhưng nó lại rất giàu những vật kỷ niệm được đưa từ Việt Nam về: Hội họa sơn mài, những bức tranh đại chúng từ làng Đông Hồ, những hộp khảm xà cừ, những búp bê, những tấm bưu thiếp… Vợ ông, Ludmila Afonina không nói bằng tiếng Việt, nhưng cũng yêu Việt Nam với tình yêu nồng nhiệt như chồng bà. Những năm tháng tuổi trẻ hạnh phúc của họ đã diễn ra ở Hà Nội. Dưới đây là lời kể của ông về ba lần được gặp Bác Hồ.

***

Tôi vô cùng may mắn và hạnh phúc đã ba lần được gặp và được nói chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Kỷ niệm về niềm hạnh phúc này tôi sẽ giữ mãi cho đến trọn đời.

Cuộc gặp gỡ đầu tiên

Đó là vào năm 1961, tôi đến thực tập tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Tôi là sinh viên làm luận văn tốt nghiệp và là người phiên dịch ngoài biên chế trong Đại sứ quán Liên Xô và cơ quan đại diện thương mại. Thỉnh thoảng Chủ tịch Hồ Chí Minh đi trên chiếc xe hơi “Chiến thắng” đến cơ quan đại diện thương mại của Liên Xô để xem những bộ phim Xôviết mới trong phòng chiếu phim đầy đủ tiện nghi. Vì Bác Hồ thông thạo tiếng Nga nên ở đó không cần phiên dịch.

Vào một trong những buổi chiều như thế, khi ở cửa ra của phòng chiếu phim, Bác Hồ đã trông thấy tôi, trong chốc lát Người dừng lại và hỏi tôi bằng tiếng Nga:

– Cháu nói được tiếng Việt không?

Quả thật, tôi đã đứng ngây người ra, chính vì đấy là lần đầu tiên tôi được trông thấy con người huyền thoại ấy gần đến như thế. Tôi vô cùng hồi hộp và xúc động, và sau giây lát im lặng, tôi đã trả lời:

– Dạ, cháu nói không được nhiều lắm ạ…

– Vậy cháu có thích ở đây không?

– Cháu rất thích, cháu yêu Việt Nam.

Hồ Chủ tịch mỉm cười và khi chia tay, Người đã nói bằng tiếng Việt:

– Này cháu, cháu cần phải học thật tốt tiếng Việt đấy nhé. Chúc cháu nhiều thành công…

Cuộc gặp gỡ thứ hai

Vào tháng 12/1964, trong thành phần của Đoàn đại biểu thanh niên Xôviết, tôi đã đến thăm Việt Nam. Dẫn đầu đoàn đại biểu là Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Lênin Iuri Torxuev, tôi là chuyên viên Ban quốc tế của Ban chấp hành Trung ương Đoàn. Trước ngày cuối cùng của cuộc đi thăm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp chúng tôi. Người đã nồng nhiệt ôm hôn các vị khách, mời khách uống trà. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất khỏe mạnh và tràn đầy nghị lực. Người hơi gầy, đôi mắt hiền từ tinh anh, chòm râu bạc, giọng nói dịu dàng, bộ quần áo giản dị, đôi dép xăng-đan…

Chủ tịch hỏi chúng tôi đã có những ấn tượng gì về cuộc đi thăm. Tôi đã dịch những lời phát biểu trả lời của đồng chí Trưởng đoàn đại biểu ra tiếng Việt, đương nhiên tôi nhớ đến lời khuyên của Hồ Chủ tịch đã dành cho tôi ba năm trước trong lần gặp đầu tiên. Sau đó Bác Hồ đã kể cho chúng tôi nghe về những năm tháng Người đã sống ở Liên Xô. Người đã hết sức khâm phục nghị lực và chí hướng vươn tới mục tiêu, mà nhờ đó nhân dân Xôviết đã dốc lòng xây dựng một xã hội mới trong những năm hai mươi và ba mươi. Về tình hình ở Việt Nam, nơi những tên xâm lược Mỹ đã gây chiến tranh ở miền Nam và bắt đầu ném bom miền Bắc, Chủ tịch đã nói ngắn gọn: “Một khi chúng đã xâm phạm đến đất nước chúng tôi, nhân dân chúng tôi nhất định sẽ đánh đuổi được kẻ thù“. Trong đó Người nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của tình đoàn kết quốc tế với sự nghiệp chính nghĩa của Việt Nam. Trong thời kỳ đó, trong phong trào Cộng sản quốc tế đã có những sự bất đồng nghiêm trọng, và Hồ Chí Minh đã không đề cập đến chủ đề ấy. Đơn giản Người chỉ nhấn mạnh niềm tin của mình vào quê hương của Cách mạng tháng Mười.

Cuộc gặp gỡ thứ ba

Vào tháng 2/1969, Đoàn đại biểu thanh niên Xô-viết do đồng chí Bí Thư thứ nhất Ủy ban Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin Evghenie Chiajenikov dẫn đầu đã sang thăm nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Khi đó, với cương vị là phóng viên thường trú của Thông tấn xã Liên Xô (TASS) và của Báo “Sự thật Đoàn Thanh niên Cômxômôn”, và đã làm việc ở Hà Nội được mấy năm, tôi được đưa vào thành phần của đoàn đại biểu này.

Chúng tôi đã đi thăm những khu vực khác nhau của miền Bắc Việt Nam, đã gặp gỡ với thanh niên trong các nhà máy, ở các vùng nông thôn, trong các trường học, trên các trận địa trực chiến và chúng tôi đã cảm nhận được hoàn toàn ý chí hướng tới chiến thắng không gì lay chuyển được của nhân dân Việt Nam, bất chấp những tội ác khủng khiếp nhất của giới quân phiệt Mỹ. Nhân dân Việt Nam anh hùng tuân theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập và tự do“, đã giáng trả bọn xâm lược những đòn chí mạng và đã làm tất cả vì giải phóng miền Nam và thống nhất Tổ quốc.

Ngày đáng nhớ 25/2/1969 ấy sẽ không bao giờ quên được. Đoàn đại biểu của chúng tôi đã có vinh dự gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Cuộc trò chuyện thân tình đã diễn ra trong ngôi nhà nhỏ một tầng, được xây dựng trong những năm chiến tranh trong khuôn viên Phủ Chủ tịch. Chủ và khách trao nhau những vòng tay ôm, những nụ hôn bè bạn, những cái bắt tay nồng ấm. Khi mọi người đã ngồi vào bàn, Bác Hồ lấy ra chiếc bót thuốc lá và mời hút thuốc lá. Tôi không biết vì sao nữa – chúng tôi đã từ chối, và rồi sau đó mới hiểu ra rằng, đương nhiên là như vậy, cần phải đón nhận từ tay Người những điếu thuốc lá này như là món quà tinh thần. Bác Hồ đã không châm thuốc hút và bắt đầu cuộc trò chuyện:

– Chúng tôi rất rất vui mừng chào đón các bạn đã đến Việt Nam. Chắc các bạn đã thấy rõ là người dân chúng tôi có một tình yêu chân thành và nồng ấm như thế nào đối với nhân dân Xô-viết. Khi có đất nước các bạn cùng với chúng tôi, chúng tôi tin tưởng vào tương lai hạnh phúc của mình. Hồ Chí Minh đã nói rất mặn nồng về Liên Xô, Người đã nhớ lại những sự kiện khác nhau trong cuộc sống ở Moskva.

– Hồi ấy, là thời kỳ khó khăn của những năm hai mươi và ba mươi, cũng giống như bây giờ ở đất nước chúng tôi – Người nhấn mạnh.

– Nhưng hồi ấy, Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói thêm, các bạn chỉ có một mình, còn bây giờ nhân dân chúng tôi không đơn độc…

– Sau đó những người Xô-viết đã sống tốt hơn – Hồ Chủ tịch nói tiếp – Có một lần tôi đã hỏi một cô gái (Hồ Chí Minh nói bằng tiếng

Nga: Hỏi cô Phifa), tại sao cô ấy mặc chiếc áo choàng lụa sáng tươi, tô điểm đôi mắt và đi giày cao gót. Cô ấy đã tự hào trả lời ngay: “Chính vì tôi chịu khó làm việc và đây là do tôi làm ra”. Sau đó ở Moskva đã xuất hiện tàu điện ngầm, có thêm nhiều xe hơi…
Chúng tôi đã nghe những hồi tưởng của Bác Hồ, chăm chú nhìn khuôn mặt bộc trực của Người. Xuyên qua cặp mắt kính lão, đôi mắt tinh anh, cho dù đã có phần mệt mỏi, của Người đang nhìn chúng tôi. Người ngồi đó đầu đội mũ lưỡi trai, cổ quàng khăn ấm (trời hôm ấy rất lạnh).

Nữ du kích trẻ Nguyễn Thị Kim Lai đã áp giải viên phi công Mỹ William Robinson

Hồ Chí Minh châm thuốc hút rồi bắt đầu kể về việc năm 1925 Người đã làm việc ở Quốc tế Cộng sản như thế nào, đã thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội và mấy năm sau thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam…

Vâng, tầm vóc của con người Hồ Chí Minh, tôi thiết nghĩ, hãy còn chưa được thấy rõ đến tận cùng. Phía sau Người là một cuộc đời đầy những thử thách cam go của Nhà cách mạng, của Người yêu nước và của Người chiến sĩ quốc tế vĩ đại. Người đã bị những tên thực dân Pháp kết án tử hình, đã trải qua suốt hàng chục nhà tù ở Hongkong và Trung Quốc. Từ năm 1941 Người còn tiên đoán rằng Liên Xô sẽ đánh tan nước Đức phát xít vào năm 1945, và rằng cũng vào năm đó Việt Nam sẽ giành được độc lập. Điều tiên đoán đó đã xảy ra đúng như thế. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn dắt cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong các cuộc chiến tranh Vệ quốc chống lại những tên thực dân Pháp và những tên xâm lược Mỹ. Hồ Chí Minh đã cho chúng tôi xem một số bức ảnh ghi lại những cuộc gặp gỡ của Người với thanh niên miền Bắc Việt Nam, và với các chiến sĩ lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam.

– Thanh niên chúng tôi – Người nhấn mạnh, thật anh hùng, đó là lực lượng xung kích của chúng tôi.

Trên một trong những bức ảnh là hình một cô gái Việt Nam mảnh dẻ đang áp giải tên phi công Mỹ to béo.

– Rất nhiều người đến đất nước chúng tôi và họ rất ngạc nhiên, tại sao một đất nước nhỏ và kém phát triển như thế, lại đương đầu thành công cuộc xâm lược của Hoa Kỳ, Hồ Chí Minh nói – Nhưng khi đưa bức ảnh này ra, mọi chuyện đã trở nên rõ ràng. (Về sau chúng tôi được biết rằng bức ảnh nổi tiếng này do phóng viên Phan Thoan chụp ngày 20/9/1965 tại tỉnh Hà Tĩnh. Nữ du kích trẻ Nguyễn Thị Kim Lai đã áp giải viên phi công Mỹ William Robinson).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết thúc buổi gặp mặt bằng những lời biết ơn Lênin và Cách mạng tháng Mười:

– Tất cả những thắng lợi của chúng tôi đều gắn liền với tên tuổi của Lênin, tất cả chúng tôi đều biết ơn quê hương của Cách mạng tháng Mười.

(Theo Nhat-Nam.ru)
Phương Thúy (st)

bqllang.gov.vn

Học và hành theo tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá cầm quyền

Hồ Chủ tịch thăm nông dân xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đang thu hoạch vụ lúa đầu tiên sau cải cách ruộng đất (1954)

Nói văn hóa cầm quyền là nói tới cái đẹp, cái giá trị của Đảng cầm quyền, của Chính phủ và cá nhân nhà lãnh đạo, quản lý. Văn hóa cầm quyền là nguồn lực nội sinh vô tận, to lớn của Đảng và hệ thống chính trị, chìa khóa sự phát triển của Đảng, Nhà nước, thấm sâu và tạo dấu ấn khai sáng trong quá trình phát triển của Đảng, Nhà nước.

Hồ Chí Minh nói “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Trong Di chúc, Người lại viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng”… Đó là tư tưởng, tinh thần Hồ Chí Minh về văn hóa cầm quyền. Văn hóa cầm quyền bàn tới ở đây là nói tới văn hóa lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền. Đương nhiên, khi nói tới đảng cầm quyền thì không thể không nói tới chính quyền nhà nước mà trực tiếp là Chính phủ, cơ quan hành pháp với ý nghĩa “kéo dài” sự lãnh đạo của Đảng. Theo tinh thần của Lê-nin, khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền thì văn hóa của đảng phải tương đối khác so với khi Đảng chưa cầm quyền. Văn hóa cầm quyền là biến lý luận thành thực tiễn, thông qua tổ chức, xây dựng, thể hiện mối quan hệ giữa Đảng với các thành tố trong hệ thống chính trị; đạo đức của đảng cầm quyền; văn hóa ứng xử của Đảng, Chính phủ với nhân dân và văn hóa dùng người.

1. Văn hóa cầm quyền – nguồn lực nội sinh vô tận, chìa khóa sự phát triển của Đảng

Nói văn hóa cầm quyền là nói tới cái đẹp, cái giá trị của Đảng cầm quyền, của Chính phủ và cá nhân nhà lãnh đạo, quản lý. Văn hóa cầm quyền là nguồn lực nội sinh vô tận, to lớn của Đảng và hệ thống chính trị, chìa khóa sự phát triển của Đảng, nhà nước, thấm sâu và tạo dấu ấn khai sáng trong quá trình phát triển của Đảng, nhà nước. Hồ Chí Minh nói “Văn hóa không thể đứng ngoài mà đứng trong kinh tế và chính trị”, điều đó có nghĩa là tổ chức chính trị, hoạt động chính trị, đảng chính trị và cá nhân nhà chính trị phải thấm nhuần văn hóa. Năng lực chính trị thực chất và cốt tủy là năng lực văn hóa.

Văn hóa cầm quyền thuộc dòng văn hóa chính trị. Trong những năm gần đây, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, trong khi khẳng định sự phát triển của xã hội dựa trên thế của “kiềng ba chân”: Gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt và phát triển văn hóa – nền tảng tinh thần của xã hội”, Đảng ta “đặc biệt coi trọng nâng cao văn hóa lãnh đạo, quản lý”(1), “Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền”(2). Nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng, năng lực quản lý của nhà nước thực chất sâu xa và cốt tủy là nâng cao văn hóa cầm quyền của Đảng và văn hóa quản lý của nhà nước; đồng thời nâng cao văn hóa lãnh đạo, quản lý của từng cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.

Trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta kiên trì mục tiêu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Muốn thực hiện được mục tiêu đó, trước hết Đảng phải đề ra được một cương lĩnh cách mạng xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, phù hợp với xu thế vận động của thời đại. Điểm chung của thực tiễn Việt Nam từ xưa đến nay là văn hóa, lịch sử, con người Việt Nam. Đó là một thực tiễn hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước với sự đắp bồi nhiều giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam. Những giá trị đó là nguồn lực vô tận để nhân dân Việt Nam thực hiện khát vọng ngàn đời của mình là độc lập dân tộc và sống đời hạnh phúc. Việt Nam ngày nay đang trong quá trình hội nhập vào thế giới toàn cầu hóa với bao điều mới mẻ của cách mạng khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức, kinh tế thị trường, biến đổi môi trường… Việt Nam phải phát triển bền vững trong quỹ đạo và xu thế của thế giới là hòa bình, hợp tác, dân chủ và đa dạng văn hóa. Xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, sải bước cùng thời đại là một tiêu chí của văn hóa cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thước đo văn hóa cầm quyền của Đảng là lòng dân. Đảng cầm quyền nhưng dân là chủ. Đảng cầm quyền để dân làm chủ. Đảng cầm quyền nhưng dân là gốc. Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân; trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Bài học quý giá Hồ Chí Minh để lại cho Đảng ta ngày nay là: “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”(3).

Trong đường lối lãnh đạo và cương lĩnh của Đảng, tức là về mặt lý thuyết, Đảng đã khẳng định rõ ràng, dứt khoát tất cả mọi hoạt động của Đảng là vì hạnh phúc của nhân dân. Nhưng cái khó nhất, cũng là văn hóa cao nhất của Đảng cầm quyền lại không phải nằm ở lý luận mà phải nằm ở thực tiễn. Hành động để đem lại hiệu quả thật sự cho dân chúng từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đến “tương, cà, mắm, muối” và lấy hiệu quả đó làm thước đo mới là điều khó nhất của một đảng cầm quyền. Bác thường dạy: “Nói thì dễ, làm thì khó”. Cái khó trong khi làm không phải là khó khăn, vất vả, mệt nhọc mà cái chính là không vượt qua được chính mình để thực hiện quan điểm quần chúng. Ví dụ: “Miệng thì nói dân chủ nhưng làm việc thì họ theo lối “quan” chủ. Miệng thì nói “phụng sự quần chúng”, nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của quần chúng”(4). “Làm theo lối “quan” chủ” tức là lãnh đạo thiếu văn hóa, lãnh đạo bằng quyền lực, “làm việc theo cách quan liêu. Cái gì cũng dùng mệnh lệnh. Ép dân chúng làm”(5). Làm như vậy thì dân oán. Mà “dân oán, dù tạm thời may có chút thành công, nhưng về mặt chính trị, là thất bại”(6) (người trích nhấn mạnh). Chính trị thất bại tức là không được lòng dân. Mà cái nguy hiểm nhất là mất lòng dân. Bởi vì, mất tiền và của cải thì còn làm lại được, còn đã mất lòng tin, đặc biệt là mất lòng tin của dân là mất tất cả. Nâng cao văn hóa cầm quyền là Đảng phải có sự lựa chọn sáng suốt, có tầm nhìn, trí tuệ và bản lĩnh văn hóa giữa việc lấy cái căn bản quy tụ của lòng dân và lợi ích lâu dài thay vì lợi ích và thành tích trước mắt mang mầm bệnh. Văn hóa cầm quyền là phải “sao cho được lòng dân”(7).

2. Đảng phải tôn trọng chính quyền, hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật

Nói đến Đảng cầm quyền là phải nói tới quản lý của nhà nước. Trong văn hóa cầm quyền thì văn hóa lãnh đạo và văn hóa quản lý thâm nhập vào nhau. Giá trị, uy tín, quyền uy tạo sức mạnh của đảng cầm quyền không chỉ trong khuôn phép của Đảng mà được cân, đong, đo, đếm bằng văn hóa quản lý. Nói cách khác, văn hóa quản lý là một thước đo của văn hóa lãnh đạo của đảng cầm quyền, trong đó “Chính phủ là công bộc của dân” như Hồ Chí Minh dạy là tiêu chí hàng đầu.

Trên cơ sở nhận thức nhà nước là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng, văn hóa của đảng cầm quyền là Đảng phải tôn trọng chính quyền, tôn trọng nhà nước. Đảng cầm quyền nhưng không thể và không được đứng trên nhà nước, đứng trên và đứng ngoài pháp luật. Xã hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng là một xã hội có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Đây là một nhận thức rất quan trọng trong cấu trúc quyền lực của hệ thống chính trị đương đại. Với nhà nước đó thì Quốc hội là cơ quan có quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết. Nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu Quốc hội nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân. “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”(8). “Bãi miễn các đại biểu” là tinh thần của “văn hóa từ chức” theo cách nói ngày nay. Nghĩa là, các vị đại diện khi được dân bầu – tức là dân ủy thác quyền lực – thì phải làm hết trách nhiệm “như một người lính vâng lệnh quốc dân ra trước mặt trận”; khi dân không còn tín nhiệm nữa thì phải vui vẻ từ chức theo lời dạy của Bác Hồ “khi nào đồng bào cho tôi lui thì tôi rất vui lòng lui”. Đảng cầm quyền, mọi tổ chức và cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật và tuân thủ hiến pháp và pháp luật mà không có một ngoại lệ nào. Tất cả họ phải hành xử theo đúng hiến pháp và pháp luật.

Khi Đảng trở thành đảng cầm quyền, việc giải quyết mối quan hệ giữa Đảng với nhà nước là giá trị văn hóa hàng đầu, vì Đảng phải hoàn thành sứ mệnh “hai vai”. Là người lãnh đạo nhà nước, Đảng phải xứng danh lãnh đạo với một chiều sâu trí tuệ, một bề dày đạo đức, sự vững chắc về bản lĩnh chính trị và phương thức lãnh đạo trọng dân, tin dân, gần dân, hiểu dân, học dân, hỏi dân, theo đúng đường lối quần chúng. Là một thành tố của hệ thống chính trị, Đảng phải hành xử phù hợp với hiến pháp và luật pháp, không được lạm quyền, coi khinh dư luận.

3. Đảng, Chính phủ phải luôn luôn tự phê bình và hoan nghênh nhân dân phê bình mình

Đảng luôn luôn tự phê bình, hoan nghênh nhân dân và đảng viên phê bình mình. Đảng phải nâng cao dân trí, bồi dưỡng ý thức làm chủ, nâng cao tính tích cực công dân, tự do ngôn luận, khuyến khích nhân dân tham gia vào các công việc của nhà nước, khắc phục mọi thứ dân chủ hình thức.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”(9). Phải khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến. Nếu cán bộ không nói năng, không đề ý kiến, không phê bình, thậm chí lại tâng bốc mình, thế là một hiện tượng rất xấu. Thế là mất hết dân chủ trong Đảng. Thế là nội bộ của Đảng âm u, cán bộ trở nên những cái máy, trong lòng uất ức, không dám nói ra, do uất ức mà hóa ra oán ghét, chán nản. “Nếu đào tạo một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo “đập đi, hò đứng”, không dám phụ trách. Như thế là một việc thất bại cho Đảng”(10).

Văn hóa truyền thống, phía sau cái mạnh trọng tình, bộc lộ cái hạn chế duy tình, thiếu văn hóa tranh luận, mà thực chất là giấu giếm khuyết điểm và thích khen, không thích chê, trở thành bệnh thành tích. “Nếu ai nói chúng ta không dân chủ, thì chúng ta khó chịu. Nhưng nếu chúng ta tự xét cho kỹ, thì thật có như thế”(11). Nâng cao văn hóa của đảng cầm quyền là thể hiện một đảng văn minh như cách nói của Bác Hồ. Ngược lại, “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sữa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.

Trên nền tư duy “Chính phủ là công bộc, đầy tớ của dân”, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng “khi dân dùng đày tớ làm việc cho mình, thì phải giúp đỡ Chính phủ. Nếu chính phủ sai thì phải phê bình, phê bình nhưng không phải là chửi… Xin đồng bào hãy phê bình, giúp đỡ giám sát công việc Chính phủ”(12).

Khuyết điểm, sai lầm là xấu, là phản văn hóa, nhưng nếu nhận ra khuyết điểm, sai lầm và tìm mọi cách khắc phục, sửa chữa sai lầm, khuyết điểm thì đó là một hành vi mang giá trị văn hóa. Nhân dân chính là người mang lại giá trị văn hóa lãnh đạo, văn hóa quản lý cho Đảng và Chính phủ. Nhận thức rõ điều đó, Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở “Chính phủ mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm tròn nhiệm vụ của mình là người đầy tớ tận tụy của nhân dân”.

Tư duy Hồ Chí Minh là Đảng và Chính phủ phải luôn luôn tạo điều kiện để nhân dân phê bình mình. Bởi vì, dân chúng thông minh, sáng tạo “biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”.
“Dám nói” theo quan điểm Hồ Chí Minh là một giá trị văn hóa đỉnh cao. Chỉ có một đảng cách mạng chân chính, đạo đức, văn minh thì mới đủ trí tuệ, bản lĩnh tạo điều kiện cho dân dám nói. Và chỉ khi nào dân chúng và cán bộ đảng viên dám nói, dám phê bình, kiểm soát hoạt động của Đảng và Chính phủ thì Đảng và Chính phủ mới làm việc tốt hơn và cán bộ, viên chức các cơ quan chính phủ mới thật sự là công bộc của dân. Vì vậy, “cần phải có biện pháp khác, biện pháp nghiêm ngặt hơn, để trừng trị loại cán bộ tha hóa, biến chất. Phải gây nên một đạo đức để ngăn ngừa, gây nên một phong trào quần chúng gớm ghét, bao vây lũ giặc ấy. Biện pháp ấy là gây nên một cuộc vận động trong công nông chống tiêu cực, làm cho những kẻ “chạy” không sống còn được”(13).

4. Văn hóa cầm quyền – văn hóa dùng người

Văn hóa của đảng cầm quyền, văn hóa lãnh đạo đạo, quản lý có một nội dung căn cốt là văn hóa dùng người. Con người sáng tạo ra văn hóa và cũng là sản phẩm của văn hóa. Cán bộ là gốc của mọi công việc. Mọi việc thành hay bại đều liên quan tới cán bộ tốt hay kém.

Một trong những phương thức lãnh đạo của đảng cầm quyền là thông qua cán bộ và công tác cán bộ. Hiện nay chúng ta đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong công tác cán bộ, đó là nạn chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy dự án, chạy bằng cấp, chạy tuổi, chạy huân huy chương… Lại có một dạng thách thức khác, đó là năng lực, bản lĩnh, đạo đức, phương pháp công tác của cán bộ không tương xứng với vị trí, chức vụ quản lý, lãnh đạo. Một thực tế đáng buồn đang diễn ra ở những mức độ khác nhau ở tất cả các loại cán bộ, các ngành, các cấp, các địa phương là có một loại cán bộ không chịu rèn đức, luyện tài mà chỉ rèn “công nghệ” xu nịnh, luồn cúi, a dua, “đi nhẹ, nói khẽ, hay cười và chạy…”, “thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi”, theo gió bẻ buồm, không có khí khái. Còn một bộ phận thuộc loại cán bộ được Đảng, nhà nước giao cho trọng trách làm công tác cán bộ lại thích người chạy và kẻ khéo nịnh hót mình, ghét người chính trực. Nhưng nguy hiểm nhất là những cái đó đang dần dần có xu hướng trở thành “giá trị” trong cơ cấu quyền lực của hệ thống chính trị, của xã hội và được một bộ phận xã hội đồng tình, chưa bị sức mạnh văn hóa, đạo đức của xã hội, của nhân dân đánh bại. Những ai chỉ chăm chú rèn đức, luyện tài, phát biểu trung thực thẳng thắn, vì sự thật thà đoàn kết và phát triển của đơn vị mà lại thiếu những “tố chất chạy”, lại thường bị coi là những người “xa lạ”, không thức thời. Nói tóm lại, một nguy cơ lớn là sự đảo lộn giá trị. Một đơn vị mà đa số cán bộ thuộc loại kém và trung bình, mang tư tưởng “dĩ hòa vi quý, chín bỏ làm mười”, còn thiểu số là tích cực, trung thực, thẳng thắn, thật sự tu dưỡng hồng, chuyên thì nguyên tắc “thiểu số phục tùng đa số” sẽ không mang lại kết quả tích cực như mong muốn.

Trước tình trạng đó, một đảng độc quyền lãnh đạo, nếu không có trí tuệ, tầm nhìn và bản lĩnh văn hóa trong việc dùng người thì nhất định thất bại. Đảng phải tìm thấy giá trị trong các mối quan hệ giữa người già và người trẻ; người trong Đảng và người ngoài Đảng; người có bằng cấp và không có bằng cấp, doanh nhân và trí thức, nhà lãnh đạo, quản lý và nhà khoa học… Trí tuệ văn hóa thể hiện bản lĩnh văn hóa của đảng cầm quyền là phải thấy thanh niên là người chủ tương lai của đất nước, thế hệ mới chắc chắn sẽ vượt thế hệ cũ (và có như thế thì đất nước và dân tộc mới có phúc). Có nhiều người không có bằng cấp nhưng có tài, có đức, cần phát hiện, trọng dụng và có chế độ đãi ngộ xứng đáng. Không phải đã lãnh đạo, quản lý là giỏi. Một người lãnh đạo, quản lý mất đi có người thay thế được ngay, còn một nhà khoa học, thật sự khoa học (đầu ngành hay chuyên ngành) mất đi, rất khó tìm người thay thế (thậm chí không có được người thay thế). Trong Đảng cũng có những người kém, người xấu. Hồ Chí Minh dạy: “Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra. Vì vậy, tuy nói chung, thì đảng viên phần nhiều là những phần tử tốt, nhưng vẫn có một số chưa bỏ hết những thói xấu tự tư tự lợi, kiêu ngạo, xa hoa… Trong Đảng ta chưa hoàn toàn tránh khỏi một vài kẻ vu vơ, những việc không chính đáng”(14). Vì vậy, văn hóa của đảng cầm quyền là đủ khả năng phân định có chất lượng khoa học và cách mạng một cách rõ ràng thật – giả, vàng – thau, tốt – xấu, đúng – sai… Đảng không chọn được những người có đức, có tài, quyết tâm, suốt đời, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân thì đó là thất bại cho Đảng, cũng là thất bại cho cách mạng.

5. Phải thật sự thấm nhuần văn hóa đạo đức

Trong điều kiện cầm quyền, cùng với việc Đảng xây dựng đường lối khoa học, đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng. Nếu học và hành theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không tốt thì đó là nguy cơ lớn của Đảng. Cuộc vận động xây dựng Đảng về đạo đức trong những năm qua chưa đạt yêu cầu đặt ra. “Có những tổ chức đảng tê liệt, mất sức chiến đấu… Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng; vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội”, “chạy bằng cấp”. Thoái hóa biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi…, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Đó là một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ(15). Như vậy là rất rõ ràng. Nếu Đảng cầm quyền thiếu văn hóa đạo đức thì Đảng sẽ mất lòng tin của dân, sẽ cô độc. Mà “cô độc thì nhất định thất bại”(16).

…Mấu chốt là ở chỗ, “Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy” như Hồ Chí Minh đã dạy. Văn hóa chính trị mà cốt lõi là văn hóa cầm quyền sẽ thật sự đem lại cho Đảng những tố chất trong sạch, vững mạnh. “Đảng vững” theo tư tưởng Hồ Chí Minh là Đảng đạo đức, văn minh. Tăng cường xây dựng văn hóa cầm quyền, văn hóa lãnh đạo – quản lý là xây dựng năng lực, trí tuệ, đạo đức, bản lĩnh, phương pháp, phong cách của Đảng, Chính phủ, của đảng viên, cán bộ, nhất là người đứng đầu.

Người Trung Quốc quan niệm cầm quyền là sự nghiệp, ý nghĩa của sự nghiệp là cống hiến. Cầm quyền là khoa học, giá trị của khoa học là ở cầu sự chân thực. Cầm quyền là nghệ thuật, sức sống của nghệ thuật là ở sáng tạo. Cầm quyền là thách thức, mấu chốt của ứng đối là ở bản thân. Nếu nói rằng, địa vị cầm quyền của Đảng không phải sinh ra đã có thì chúng ta cũng có thể nói rằng, địa vị cầm quyền của Đảng luôn đi cùng với sự cống hiến và hy sinh. Nếu nói rằng, địa vị cầm quyền của Đảng không phải có rồi sẽ tồn tại mãi mãi, thì cũng có thể khẳng định rằng, chỉ cần Đảng một lòng vì công thì Đảng có thể đứng vững lâu dài; chỉ cần Đảng một lòng vì dân thì Đảng có thể cầm quyền tốt đẹp; chỉ cần Đảng kiên trì tôn chỉ và tính chất của mình, không ngừng tăng cường xây dựng mình, thì Đảng có thể vĩnh viễn đứng ở vị trí chiến thắng (17)./.

(1), (15) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr.213, 263-264.
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Sđd, tr.279.
(3), (5), (6), (8), (10), (11), (12), (14), (16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, t.5, tr.293, 293,293, 61, 281, 243, 60-61, 238.
(4), (13) Sđd, t.6, tr.292, 501
(7) Sđd, t.4, tr.47.
(9)Sđd, t.12, tr.223.
(17) Xem Tôn Chí Cương: Suy nghĩ về tăng cường xây dựng năng lực cầm quyền của Đảng, trong Những vấn đề chính trị- xã hội, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, số 13, 2006, tr.1-13.

Theo tuyengiao.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Nét văn hoá độc đáo trong cách học và cách viết của Hồ Chủ tịch

Xét cho cùng, lịch sử loài người cũng như lịch sử mỗi dân tộc không có gì khác hơn là quá trình con người tự nhận thức để làm chủ bản thân, nhận thức về xã hội để làm chủ xã hội, nhận thức về thiên nhiên để làm chủ thiên nhiên. Nói đến vấn đề nhận thức là nói đến văn hoá, nói đến sự phát triển của trí tuệ và năng lực, tư duy, nói đến quá trình sáng tạo và sự phát triển không ngừng của khoa học, kỹ thuật, của văn minh công nghiệp.

Khái niệm văn hoá và văn minh có mối quan hệ khăng khít với nhau nhưng vẫn là hai vấn đề có nội hàm khác nhau. Khái niệm văn minh rộng hơn, bao quát hơn khái niệm văn hoá; văn minh là kết quả của quá trình phát triển còn văn hoá gắn với phát triển, là động lực của phát triển. Nói về văn hoá, Hồ Chí Minh đã định nghĩa rằng: “Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Cụ thể hơn “xã hội thế nào, thì văn hoá thế ấy”. Người chỉ rõ: “Thực dân Pháp đã phá hoại tất cả các phong tục tập quán và nền văn minh của dân tộc bị xâm chiếm…Muốn biến một dân tộc thành nô lệ thì phải làm cho dân tộc đó càng ít văn hoá chừng nào càng tốt chừng ấy, phải ban cho dân tộc đó một nền văn hoá theo chiều nằm chứ không phải theo chiều đứng, như lời của viên toàn quyền Merlin đã từng nói.”

Đấu tranh bằng mọi hình thức và bằng mọi con đường để mang lại nền độc lập, tự do và ánh sáng văn hoá cho nhân dân, trước hết là tư tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người được xem là lý tưởng cao nhất của mục tiêu văn hoá trong con người vĩ đại Hồ Chí Minh. Cho nên, không phải ngẫu nhiên, từ những năm 1920 đến khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành nhiều hoạt động văn hoá, lúc thì viết báo, khi thì viết sách, lúc viết truyện ký, viết kịch, làm thơ, vẽ ký hoạ vừa công khai, vừa bí mật hoặc bán công khai để tuyên truyền cho lý tưởng cách mạng, đồng thời tổ chức tập hợp quần chúng cách mạng, giáo dục cán bộ, đảng viên tạo nên lực lượng cách mạng hùng hậu cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Đồng thời, cũng từ đó hình thành nền văn hoá Mácxít trong con người Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ thiên tài của cách mạng Việt Nam mà còn là nhà thơ, nhà văn, nhà báo, nhà ngôn ngữ học, người thầy vĩ đại …

Lúc thiếu thời, cậu bé Thành rất thích 2 câu thơ:

Mỗi bữa không quên ghi sử sách
Lập thân hèn nhất ấy văn chương.

Năm 1905, sau khoảng 10 năm học chữ Hán, Nguyễn Tất Thành chuyển sang học tiếng Pháp, nhưng chỉ mới kịp học đến lớp cao đẳng tiểu học. Năm 1907, từ trường Đông Ba, Nguyễn Tất Thành được chuyển sang trường Quốc học Huế và được nhận vào lớp trung đẳng, hay còn gọi là lớp nhì của bậc tiểu học. Tiếng Pháp là ngôn ngữ chính dạy trong trường. Nguyễn Tất Thành miệt mài học tập, tập viết, tập dịch, tập phát âm tiếng Pháp, mà vẫn không quên trau dồi chữ Hán, trong đầu luôn có suy nghĩ: “muốn đánh Pháp thì phải hiểu Pháp, muốn hiểu Pháp thì phải học chữ Pháp”.

Học xong lớp nhất niên khoá 107-108, Nguyễn Tất Thành đã đạt điểm xuất sắc đã vượt qua năm thứ nhất vào thẳng năm thứ hai trường Quốc học. Năm 1911 Thầy Thành dạy chữ Pháp và chữ quốc ngữ cho lớp ba và lớp tư tại trường Dục Thanh ở Phan Thiết.

Bản Yêu sách của Nguyễn Ái Quốc được ông Phan văn Trường dịch ra tiếng Pháp nhưng ông không viết tất cả những điều mà Nguyễn Ái Quốc muốn nói, đến đây Nguyễn Ái Quốc đã nhận ra nhược điểm của mình là chưa viết được tiếng Pháp. Nguyễn Ái Quốc quyết định đến gặp chủ nhiệm báo Dân chúng là Giăng Lông-ghê – cháu ngoại của Các-Mác đồng thời là Nghị sỹ Quốc hội. Ông ta khuyến khích Nguyễn Ái Quốc học nghề làm báo và bày cách học viết báo cho Nguyễn Ái Quốc.

Ông Nguyễn nói thật mình còn kém tiếng Pháp, Người chủ bút nói: “Điều đó không ngại, có thế nào anh viết thế ấy. Tôi sẽ chữa bài của anh trước khi đưa in. Anh không cần viết dài; năm sáu dòng cũng được”. Ông Nguyễn bắt đầu viết rất khó khăn. Tin tức về Việt nam, ông Nguyễn không thiếu, cái ông thiếu nhất là văn Pháp. Ông Nguyễn viết làm hai bản, gửi cho toà báo một bản, giữ lại một bản. Ông hết sức vui sướng khi thấy bài viết đầu tiên của mình được đăng lên báo. Ông đọc lại bài báo đã in, so sánh và sửa chữa những chỗ viết sai. Ông kiên nhẫn làm theo cách ấy. Khi thấy đã viết bớt sai, ông chủ bút bảo ông Nguyễn: “ Bây giờ anh viết dài hơn một tí, viết độ bảy tám dòng”. Ông Nguyễn viết bảy, tám dòng.

Dần dần, ông Nguyễn có thể viết cả một cột báo và có khi dài hơn. Lúc bấy giờ, người chủ bút trở thành bạn thân của ông Nguyễn, khẽ bảo: “Bây giờ anh viết ngắn lại, viết từng này hoặc từng này dòng. Không viết dài hơn”.
Ông Nguyễn thấy rằng, phải rút ngắn cũng không như trước kia phải kéo dài, nhưng hết sức cố gắng. Và ông thành công. Ông bắt đầu vào làng báo từ đó.

Ngày mồng 2 tháng 8 năm 1919 là một ngày đáng nghi nhớ. Bởi lẽ hôm đó, báo Nhân đạo đăng bài viết đầu tiên của nhà báo Nguyễn Ái Quốc có nhan đề Vấn đề Bản xứ.Tiếp theo là các bài “Đông Dương và Triều Tiên” hay “Thư gửi Ông U-tơ-rây”.

Với kinh nghiệm như vậy, sau này Bác được học ở trường Lê-nin, trường Đảng cao cấp cho các lãnh tụ nước ngoài và học ở Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa. Bác có thể đọc báo Đảng bằng tiếng Trung Quốc, tiếng Anh, tiếng Pháp, dịch các bài hay để bồi dưỡng tinh thần quốc tế cho nhóm học sinh Việt Nam. Bác còn chú ý dạy cho anh em cách viết: qua việc duyệt các bài báo hoặc những tài liệu do anh em dịch ra tiếng Việt, Bác luôn luôn chú ý làm cho anh em viết một cách giản đơn, dễ hiểu, không dùng nhiều danh từ và nếu dùng thì dùng cho đúng. Nếu Bác thấy lủng củng, khó hiểu tức thì Bác gạch đi, bảo viết lại hay dịch lại.

Năm 1927-1928 Bác ở Xiêm và lấy tên là Thầu Chín. Bác đặt chương trình hàng ngày của mình: Buổi sáng lao động mấy giờ, học tiếng Xiêm mấy chục chữ, dịch mấy trang sách; buổi tối, huấn luyện chính trị hoặc nói chuyện với mọi người. Thầu Chín tham gia gánh gạch xây dựng nhà trường. Vì chưa quen gánh nặng nên buổi đầu, ông đặt chương trình gánh mỗi đầu mười viên, sau tăng dần lên 15 viên và mỗi sáng gánh hai chục gánh. Cứ mỗi lần gánh đến chỗ xếp gạch, ông lại lấy phấn đánh dấu, theo thứ tự nét chữ “chính” là ông nghỉ; ông cũng không bao giờ gánh hơn mà cũng không gánh kém. Thầu Chín cũng cổ động mọi người học chữ Xiêm; số người cùng học được mười người. Khi đặt chương trình, Thầu Chín đề ra cách học: trong thời gian đầu mỗi ngày học mười chữ, về sau tăng dần lên. Mọi người chê ít, đòi học nhiều hơn. Thầu Chín chủ trương học mười chữ thôi. Mọi người cho rằng nhất định mình học được. Chưa đầy ba tháng, Thầu Chín đã xem được báo chữ Xiêm.

Thầu Chín đã xem sách và dịch sách như thế nào? Trước khi định đọc hay dịch một cuốn sách, ông đếm số chương và số trang, rồi đặt chương trình mỗi ngày dịch hay đọc mấy tờ. Ông không bao giờ chịu sai chương trình (hồi ấy Thầu Chín dịch cuốn Nhân loại tiến hoá sử và cuốn cộng sản A,B,C). Nếu gặp việc đột xuất, như có kiều bào đến nói chuyện thì Ông cũng kiếm thời gian khác bù vào cho đúng kế hoặch. Chính vì sự kiên trì mà sau này về Pắc Bó Người đã dịch thành công cuốn lịch sử Đảng bằng tiếng Nga.

Ngày 5/6/1911 Nguyễn Tất Thành rời Cảng Nhà Rồng sang phương Tây trên một chiếc tàu viễn dương Pháp thì ngày 8/2/1941, Nguyễn Ái Quốc bước qua biên giới Việt- Trung, khép 30 năm bôn ba đi tìm con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến bến bờ vinh quang.

10 năm học chữ Hán với cha và các nhà nho yêu nước đã trang bị cho Nguyễn Tất Thành một vốn chữ Hán không nhỏ để sau này Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có thể sáng tác 133 bài thơ chữ Hán trong ngục tù của bọn Tưởng. Nhà thơ Cu-ba Phê lích Pi ta Rôđơrighết đã mượn câu của W.Uýtman để nói về Nhật Ký trong tù: “Ai mở cuốn sách này sẽ gặp một con người” và ông nói thêm: “Một con người, nhưng đây là một con người đã qua một sự chắt lọc trong sáng nhất, đã được nâng lên làm cho nó có tầm vóc lớn”.

Mở đầu tập Ngục trung nhật ký Người viết: “Ngâm thơ ta vốn không ham…” đúng với suy nghĩ của cậu Thành thời trẻ “Lập thân tối hạ thị văn chương”, nhưng trên con đường 30 năm bôn ba hoạt động cách mạng, Người nhận ra rằng văn chương là một lợi khí sắc bén và đã nắm lấy nó, trau dồi để sử dụng thành thục nhằm phục vụ cách mạng. Từ vở kịch con Rồng Tre, truyện Vi Hành, Bản án Chế độ Thực dân Pháp, các bài báo bằng tiếng Pháp, Chính Cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng cho đến Bản Tuyên ngôn Độc lập, các bài thơ Chúc tết và Di chúc bất hủ đều thống nhất một quan điểm: viết văn, viết thơ là một hành động cách mạng. Trước khi viết, Người cân nhắc xem: “viết cho ai – đối tượng; viết để làm gì – mục đích; viết cái gì – nội dung; viết như thế nào? – thể loại.

Trên con đường hoạt động cách mạng, Bác đã đi rất nhiều nước, viết rất nhiều tác phẩm, học và nói được rất nhiều thứ tiếng tất cả cũng chỉ nhằm một mục đích cuối cùng là phục vụ cách mạng, làm cho nước nhà được độc lập, tự do, nhân dân ai cũng có cơm ăn áo mặc, được học hành…Bác viết cả chính luận, chính trị, kịch, thơ ca hò vè, nhưng ít khi trích dẫn. Ngôn ngữ sử dụng mộc mạc, giản dị, dễ hiểu mà có sức cổ vũ lan toả, lôi cuốn, động viên lớn, mang đậm phong cách Hồ Chí Minh. Chẳng hạn nói về Đảng, Bác nhấn mạnh: Đảng không phải là một tổ chức để làm quan, phát tài… Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Còn đối với quần chúng nhân dân để nói về sự đoàn kết Bác viết Bài ca sợi chỉ, bài thơ Hòn đá, động viên nhân dân vào hợp tác xã nông nghiệp, Lê nin dùng hình ảnh: “Người nông dân như củ khoai tây…” còn Bác lại viết: “Bà con hãy vào hợp tác xã đi, nó có rất nhiều lợi ích giống như hai người đi tắm kỳ lưng cho nhau”.

Tại Hội nghị văn hoá toàn quốc lần thứ nhất họp tại Hà Nội tháng 11 năm 1946, Hồ Chí Minh đã đọc diễn văn khai mạc nêu bật nhiệm vụ của nền văn hoá mới và vai trò động lực của văn hoá đối với cách mạng. Người nói: “Văn hoá phải làm thế nào cho quốc dân có tinh thần vì nước quên mình, vì lợi ích chung mà quên lợi ích riêng. Với xã hội, văn hoá phải làm thế nào cho mỗi người dân Việt Nam từ già đến trẻ, cả đàn ông và đàn bà ai cũng hiểu cái nhiệm vụ của mình và biết hưởng hạnh phúc của mình nên được hưởng.

Đặc biệt khi nói với giới văn nghệ sĩ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ quan điểm của mình một cách rõ ràng về mối quan hệ giữa văn hoá và chính trị, văn hoá với kinh tế…Người nói: “Văn hoá và nghệ thuật cũng như nhiều hoạt động khác, không thể đứng ngoài mà phải đứng trong kinh tế và chính trị”. Từ đó quan điểm đó, Người đề ra khẩu hiệu: “Kháng chiến hoá văn hoá, văn hoá hoá kháng chiến. Văn hoá cũng là một mặt trận, người nghệ sỹ cũng đồng thời là người chiến sĩ trên mặt trận đó”.

Ngày nay, văn hoá trở thành động lực và mục tiêu của sự phát triển không phải là chân lý độc quyền ở nước ta, cho riêng xã hội ta. Đó là những vấn đề chung mang tính toàn cầu, cho nên không phải ngẫu nhiên UNESCO lại đứng ra phát động Thập kỷ thế giới văn hoá giữa lúc thế giới đang bùng nổ thông tin, bùng nổ văn hoá và sự phát triển mạnh mẽ khoa học kỹ thuật và công nghệ, hứa hẹn một giai đoạn phát triển mới, một nền văn minh mới của xã hội loài người.

Thiết nghĩ, Đảng ta đã phát động và đang triển khai thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” thì những “nét văn hoá độc đáo trongcách học, cách viết” của Bác đáng để mỗi người chúng ta suy nghĩ, vận dụng thực hiện trong cuộc sống hàng ngày, góp phần xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, ấm no, hạnh phúc. Phương pháp học và cách viết của Bác sẽ mãi mãi vẫn còn nguyên giá trị cho các thế hệ mai sau.

Bùi Công Uẩn

Người mẹ Làng Sen

Bà Hoàng Thị Loan (1868 - 1901), thân mẫu Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tôi tin rằng đã là người Việt Nam, ai cũng có mong muốn được một lần về thăm quê Bác Hồ – nơi vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc đã từng sống ngày còn ấu thơ. Về Làng Sen, thăm nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sinh ra, lớn lên và lên núi Động Tranh, đến mộ bà Hoàng Thị Loan để thắp nén nhang tưởng nhớ bày tỏ tấm lòng thành kính biết ơn đối với thân mẫu của Bác – người mẹ anh hùng đã sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành một địa chỉ thiêng liêng trong lòng mỗi người dân Việt Nam.

Hoàng Thị Loan (1901) là con gái của cụ Hoàng Xuân Đường. Bà sinh ra trong một gia đình nho học truyền thống lâu đời, nếp sống hàng ngày của các thành viên trong gia đình mang nhiều phẩm chất văn hóa cao đẹp của quê hương Nam Đàn xứ sở Hồng Lam.

Khi bước vào độ tuổi trăng tròn đẹp nhất của người con gái, Bà Hoàng Thị Loan được mọi người biết đến là một cô gái nết na, thuỳ mị, luôn vui vẻ, hoà nhã, dung nhan tươi đẹp, duyên dáng, ngày thì chăm việc đồng áng, tối về nhà lại miệt mài canh cửi. Con người Bà đã hội tụ đủ bốn đức tính của người phụ nữ truyền thống: công, dung, ngôn, hạnh.

Vào thời kỳ này, người phụ nữ vẫn còn bị ràng buộc nặng nề bởi các lễ giáo phong kiến, đặc biệt là trong hôn nhân. Việc kết hôn phải môn đăng hộ đối: “trao tơ phải lứa, gieo cầu đáng nơi”. Được sự động viên, ủng hộ của gia đình, Bà Hoàng Thị Loan đã mạnh dạn vượt lên những quan niệm cổ hủ của xã hội để đem lòng yêu thương và kết duyên cùng cậu Nguyễn Sinh Sắc, người mồ côi cả cha lẫn mẹ và được gia đình mình đưa về nuôi cho ăn học trong nhà đã mấy năm nay. Ngày cưới của Nguyễn Sinh Sắc và Hoàng Thị Loan được tổ chức vào mùa sen nở năm Quý Mùi (1883).

Ông bà Hoàng Xuân Đường dựng ngôi nhà lá ba gian đầu góc vườn phía tây nhà mình cho đôi vợ chồng mới cưới có chỗ ở riêng. Từ đó, cậu học trò Nguyễn Sinh Sắc được học tập trong tình yêu và sự giúp đỡ hết lòng của người vợ trẻ. Tình yêu, sự đảm đang, tháo vát việc nhà và sự hy sinh thầm lặng cho gia đình của Bà Hoàng Thị Loan là nguồn động viên lớn lao, là cơ sở vững chắc trên con đường cử nghiệp của ông. Những tháng ngày vất vả, gian nan trên con đường cử nghiệp của ông Nguyễn Sinh Sắc đều có dấu ấn của người vợ hiền thảo, đảm đang. Bà đã sát cánh bên ông, kiên trì động viên chồng dùi mài kinh sử để đi tới thành công trong cuộc đời thi cử của mình.

Ngôi nhà tranh ba gian ghi đậm dấu ấn những tháng ngày vất vả nhưng đầm ấm, hạnh phúc của gia đình bà. Ngày ngày, “Chồng miệt mài kinh sử, thiếp canh cửi đưa thoi”. Để chồng yên tâm học hành, bà Loan không quản ngại khó khăn, vất vả, một nắng hai sương lao động ngoài đồng ruộng, đến bữa về lo cơm nước cho chồng, cho con, tối đến ngồi trên khung cửi, vừa dệt vải, vừa đưa võng ru con ngủ, nhiều đêm thức tới khuya để động viên chồng ôn luyện văn chương, đỡ phần hiu quạnh. Bà không những chỉ tạo ra cơ sở vật chất đơn thuần, mà bà còn là người nối chí, tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho chồng.

Khung cửi dệt vải của bà Hoàng Thị Loan trong ngôi nhà của Bác ở làng Hoàng Trù

Năm 1895, ông Sắc đủ tiêu chuẩn vào làm giám sinh trong Quốc Tử Giám để tu luyện văn chương, chờ kỳ thi Hội tới. Với mong muốn chồng tiếp tục học hành, đậu đạt cao hơn, bà đã gửi con gái đầu lòng mới 11 tuổi ở lại với mẹ già, rồi đưa hai con trai là Nguyễn Sinh Khiêm (7 tuổi) và Nguyễn Sinh Cung (5 tuổi), gồng gánh theo chồng vào Huế để nuôi chồng, nuôi con, tạo điều kiện vật chất và tình cảm để chồng yên tâm học tập ở trường Quốc Tử Giám. Tình yêu, trách nhiệm với gia đình đã giúp Bà vượt qua những khó khăn bỡ ngỡ khi lần đầu tiên đặt chân lên nơi đất khách quê người, tiếp thêm sức mạnh cho Bà làm tròn vai trò của người vợ, người mẹ.

Hình ảnh người vợ chân đi dép mo cau, vai quẩy đôi gánh, một bên là con nhỏ, một bên là cả gia tài mang theo, vượt qua bao suối, bao đèo giữa những cơn mưa rào, giữa những ngày nắng gắt trên đường vào kinh đô Huế không bao giờ phai mờ trong tâm trí của ông Nguyễn Sinh Sắc. Nếu ảnh hưởng của ông Nguyễn Sinh Sắc đối với các con là nền bác học với một nhân cách yêu nước thương nòi mang đậm tính nhân văn, thì ảnh hưởng từ người mẹ là nền văn hóa dân gian mang đậm truyền thống dân tộc và những phẩm chất của tầng lớp lao động bình dân in đậm trong tình mẫu tử. Bà đã nêu một tấm gương trong sáng về nhân cách đạo đức cho con cái học tập. Ở đâu Bà cũng thể hiện một lối sống vui vẻ, vô tư, có nghĩa, có tình được mọi người hết sức yêu mến và quý trọng. Với tấm lòng nhân hậu và mẫn cảm của người mẹ, bà đã vun trồng, uốn nắn, dạy dỗ con cái bài học đầu tiên về cách sống, về đạo lý làm người. Vì vậy, ngay từ thuở ấu thơ, các con của Bà đã biết nói những điều hay, làm những việc tốt, biết kính trọng người trên, biết sống chan hòa với bạn bè, giàu lòng vị tha, nhân ái, biết nhường nhịn mọi người. Là một người có biết ít nhiều chữ thánh hiền, bà Hoàng Thị Loan đã dành rất nhiều tâm sức để truyền thụ cho con những hiểu biết ban đầu về thế giới tự nhiên và xã hội. Tất cả những câu hỏi ngây thơ, ngộ nghĩnh của con đều được bà tìm cách trả lởi rõ ràng, cặn kẽ, dễ hiểu. Là một người mẹ cần cù, chăm chỉ, bà đã dạy cho con biết yêu lao động, biết làm những công việc phù hợp với sức lực và lứa tuổi của mình một cách mê say, chịu khó và sáng tạo, tự lập trong cuộc sống. Nhờ vậy, đến năm 1901, sau khi bà mất, Nguyễn Sinh Cung từ Huế trở về Hoàng Trù, mặc dù tuổi nhỏ, đã đỡ đần nhiều việc cho bà ngoại.

Những lời ru, tiếng hát ngọt ngào, chan chứa tình cảm và giá trị nhân văn sâu sắc của mẹ đã góp phần tạo nên tâm hồn rộng mở, tấm lòng nhân ái mênh mông của Bác Hồ. Bà Hoàng Thị Loan đã truyền lại vốn hiểu biết văn học dân gian phong phú của mình cho con qua lời ru ấm cúng, mượt mà nên tuổi thơ của các con đã hấp thụ được những tấm gương nghĩa liệt yêu nước, thương nòi, lời ca tiếng hát đã nhen nhóm vào lòng con tình yêu quê hương, đất nước sâu nặng phần nào hình thành ý chí quyết tâm làm nghiệp lớn vì nước vì dân trong tâm hồn cậu bé Cung. Để rồi khi lớn lên, cậu quyết tâm bôn ba khắp năm châu bốn bể, ra đi tìm đường cứu nước chỉ với một trí tuệ lớn,một tâm hồn trong sáng, cháy bỏng tình yêu quê hương, đất nước và hai bàn tay trắng:

“Ru con, con ngủ đi nào,
Cù lao dưỡng dục biết bao cho cùng.
Làm trai quyết chí anh hùng,
Ra tay xây dựng vẫy vùng nước non”.

Tiếng ru à ơi của mẹ đã đưa cậu bé Cung vào giấc ngủ say nồng bằng những lời chói ngời đạo lý:

“Con ơi, mẹ dặn câu này,
Chăm lo đèn sách cho tày áo cơm.
Làm người đói sạch rách thơm,
Công danh phủi nhẹ, nước non phải đền”.

Trong sinh hoạt hàng ngày, Bà sống rất giản dị, tiết kiệm, sẵn sàng giúp đỡ mọi người. Bà tập cho con làm những điều tốt và thực tế đã trở thành nếp sống quen thuộc hàng ngày của các con. Nếp sống giản dị thanh tao đó của Bà đã được phản ánh rõ ràng trong cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Khi cậu bé Nguyễn Sinh Cung mới 10 tuổi, bà Loan bị ốm phải nằm trên giường bệnh vì lao động quá sức, đời sống lại ngặt nghèo, thiếu thốn, sức khỏe suy giảm sau khi sinh người con trai út. Bà qua đời vào ngày 10 tháng 2 năm 1901 (tức ngày 22 tháng Chạp năm Canh Tý) khi tuổi đời chỉ mới 33 mùa xuân. Một đời tần tảo vất vả nuôi chồng, nuôi con nhưng khi bà từ giã cõi đời ra đi thì chồng và hai con lớn của Bà đều ở xa không hay biết. 33 năm tuy ngắn ngủi nhưng bà đã sống một cuộc đời đầy ý nghĩa và hạnh phúc bên gia đình, đóng góp quan trọng vào những thành công của chồng, của con.

Thi hài của Bà được mai táng ở núi Tam Tầng bên dòng sông Hương tại Huế. Năm 1922, hài cốt của Bà được cô Thanh – con gái của bà đưa về mai táng tại vườn nhà mình ở Làng Sen – Kim Liên. Năm 1942, cậu cả Nguyễn Sinh Khiêm cải táng thi hài của Bà tại ngọn núi Động Tranh Thấp trong dãy Đại Huệ. Năm 1984, để bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc đối với người đã có công sinh thành và dưỡng dục Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ Tĩnh (cũ) và lực lượng vũ trang Quân khu 4 thay mặt cho đồng bào và chiến sỹ cả nước đã xây dựng khu mộ của Bà đàng hoàng, khang trang và đẹp đẽ trên núi Động Tranh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Từ chân núi Động Tranh, lối lên phần mộ Bà nằm ở bên trái phần mộ có 269 bậc (con số 69 là năm Bác Hồ mất – 1969), lối xuống bên phải phần mộ có 242 bậc (con số 42 là năm cậu Khiêm; đưa hài cốt mẹ về đây – 1942). Trước phần mộ xuống sân bia 33 bậc, con số 33 là tuổi đời của Bà. Phía trên mộ là dàn hoa cách điệu hình khung cửi – công cụ lao động đã gắn bó với suốt cả cuộc đời Bà. Hai cụm cây hoa Giấy che mát phần mộ Bà được lấy giống từ Huế – nơi bà mất và khu lăng mộ của ông Nguyễn Sinh Sắc ở Đồng Tháp. Trên nền sân thượng hình bán nguyệt trước mộ, có dựng tấm bia lớn tạc tiểu sử và công lao của Bà Hoàng Thị Loan bằng đá đen.

Từ ngày khánh thành (16/5/1985) đến nay đã có hàng triệu lượt người về đây thành kính thắp nén hương thơm tỏ lòng chân thành, ngưỡng mộ và biết ơn Bà Hoàng Thị Loan, người mẹ của một vĩ nhân, mẹ của Chủ tịch Hồ Chí Minh – người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa Việt Nam, vị lãnh tụ vĩ đại của đất nước ta.

Tình thương và nỗi nhớ sâu đậm về mẹ kính yêu vẫn luôn thường trực trong trái tim Hồ Chủ tịch. Khi đang bôn ba ở nước ngoài, giữa đêm khuya nghe tiếng một bà mẹ Việt kiều ru con, Người lại thổn thức không ngủ được vì nhớ những làn điệu dân ca, những lời ru gần gũi, thân quen thuở nhỏ của mẹ:

“Xa nhà chốc mấy mươi niên
Đêm qua nghe tiếng mẹ hiền ru con”.

Cụ Nguyễn Sinh Vinh – người đã gắn bó, giữ gìn mái nhà tranh của Bác Hồ ở quê nội của Người kể lại sự kiện phục dựng ngôi nhà Bác: “Lúc phục dựng ngôi nhà, chúng tôi làm bàn thờ Bà Hoàng Thị Loan bằng gỗ sơn son thiếp vàng và có làm thêm cổng vào nhà cho thêm khang trang”. Lần thứ nhất Bác về thăm quê vào ngày 16/6/1957, bước vào nhà thấy bàn thờ mẹ mình, Bác xúc động nói: “Xưa nhà Bác nghèo, bàn thờ chỉ làm bằng tre, trên trải chiếu mộc, đơn giản thôi”. Sau này, mọi người đã phục dựng lại đúng như hiện trạng nhà cũ ban đầu. Sau hàng chục năm xa quê, ngày trở lại, Người vẫn không quên lối đi nhỏ vào nhà ngày xưa, không quên chiếc rương gỗ nhỏ – của hồi môn ít ỏi của mẹ, khung cửi của mẹ, chiếc phản gỗ và mấy pho sách của cha…

“Quê hương nghĩa trọng tình cao
Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình”.

Một lần trên đường đi thăm hợp tác xã trồng cây giỏi ở huyện Quảng Oai (Hà Tây), nhìn thấy đoàn các em bé gái cổ quàng khăn đỏ, em mặc áo hoa xen em mặc áo trắng, tay cắp sách vừa ở trong trường ra, líu ríu như chim sổ lồng, Bác ngậm ngùi: “Lúc này Bác rất nhớ mẹ của Bác. Mẹ Bác rất thông minh, lại là con gái ông đồ nho. Thế mà mẹ Bác lại không được đến lớp, đến trường đâu các chú ạ. Cũng như phụ nữ ngày xưa, từ nhỏ mẹ Bác đã phải lo việc nhà.”

Từ khi chào đời, Bác đã được nhận nguồn sống từ dòng sữa mẹ, trong lời ru, câu ca, điệu hò và chập chững những bước đi đầu tiên được mẹ ân cần dìu dắt. Lớn lên lại chứng kiến nỗi vất vả, tảo tần lao động để lo toan nguồn sống gia đình do tay mẹ vun đắp. Do đó, Bác Hồ đã ảnh hưởng từ người mẹ nền văn hoá dân gian mang đậm bản sắc dân tộc. Bác thấu hiểu những khó khăn, vất vả của mẹ, của người phụ nữ trong xã hội lúc bấy giờ. Chính vì vậy, trong hành trình tìm đường cứu nước, Bác Hồ là người đề xướng và tiến hành cuộc cách mạng về giải phóng phụ nữ, đưa thân phận người phụ nữ Việt Nam từ cảnh lầm than, khổ cực, bị khinh miệt và đối xử thậm tệ trở thành người công dân có đầy đủ quyền lợi, nghĩa vụ, vai trò xã hội ngang hàng với nam giới. Người quan niệm rằng: “Phụ nữ chiếm một nửa tổng số dân, để xây đựng chủ nghĩa xã hội thì phải thật sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp Đoàn đại biểu phụ nữ các dân tộc tỉnh Hà Giang về Hà Nội ngày 25/11/1965

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói về Bà Hoàng Thị Loan với những tình cảm chân thành, sâu sắc: “Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Cụ – người đã có công sinh thành và nuôi dưỡng Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đã mang lại vinh quang cho đất nước Việt Nam, người mà mọi người Việt Nam từ thế hệ này đến thế hệ khác sẽ mãi mãi ghi ơn !

Không biết các bạn đã từng nghe bài hát “Người mẹ Làng Sen” chưa, còn với tôi, tôi đã nghe bài hát này không biết bao nhiêu lần. Mỗi khi giai điệu của bài hát được ngân lên, trái tim tôi lại thổn thức và bồi hồi xúc động. Xin được bày tỏ sự kính trọng và tấm lòng biết ơn sâu sắc đối với Bà Hoàng Thị Loan – người phụ nữ Việt Nam tiêu biểu nhất, người mẹ vĩ đại đã sinh ra cho đời của những người con anh hùng, sinh ra cho đất nước ta Người anh hùng giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh.

Mẹ làng sen, mẹ làng sen, Người mẹ Việt Nam đã cho đời người con quang vinh…
Mẹ làng sen, mẹ làng sen, Người mẹ Việt Nam đã cho đời người anh hùng Hồ Chí ………Minh.

Thu Hiền

bqllang.gov.vn

Nguồn lực con người – từ tư tưởng Hồ Chí Minh đến quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

(TCTG) – Trong sự nghiệp cách mạng từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã nhiều lần khẳng định: Con người là vốn quý nhất, chăm lo cho hạnh phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta. Trên thực tế, Đảng ta đã luôn luôn cố gắng thực hiện mục tiêu đó. Sự nghiệp chăm lo cho hạnh phúc con người tuy chưa có nhiều thành công như mong muốn, song phần nào đã đáp ứng nguyện vọng của nhân dân.

Trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học – công nghệ phát triển như vũ bão, toàn cầu hoá trở thành xu thế tất yếu, kinh tế tri thức trở thành một đặc trưng của nền kinh tế thế giới thì vai trò động lực, vị trí trung tâm của con người trong quá trình phát triển đã thực sự được khẳng định. Con người và phát huy nhân tố con người thu hút sự quan tâm, chú ý, được thảo luận rộng rãi trên các diễn đàn trong nước và quốc tế. Trong tiến trình phát triển, cả lý luận và thực tiễn đều chứng minh: nhân tố con người đóng vai trò quyết định xu hướng vận động của thế giới đương đại. Luôn theo sát sự biến động của thời cuộc, đánh giá đúng đắn vị trí, vai trò của nhân tố con người, Nghị quyết Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: “Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh và bền vững đất nước”(1); nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển”(2). Con người thực sự là nguồn lực của mọi nguồn lực, tài nguyên của mọi tài nguyên, là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.

Xây dựng và chăm lo cho con người ở nước ta trong những năm qua đã giành được những thắng lợi to lớn bước đầu, góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu ấy, sự tác động của cơ chế thị trường đang bộc lộ nhiều bất cập có liên quan đến phát huy nhân tố con người, ảnh hưởng đến sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Làm thế nào xây dựng nguồn lực con người trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay là vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng đòi hỏi phải được nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống, nhằm tìm kiếm những giải pháp kịp thời, phù hợp với yêu cầu của cuộc sống.

Kế thừa tinh hoa tư tưởng văn hoá dân tộc và nhân loại, tiếp thu, vận dụng, phát triển một cách sáng tạo học thuyết Mác – Lê-nin, Hồ Chí Minh đã nâng tư tưởng về con người lên một tầm cao mới, hình thành nên chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh. Tuy không có một tác phẩm nào bàn riêng về con người, nhưng tư tưởng về con người lại được hiểu thật đa dạng, phong phú, trở thành một tư tưởng xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Vấn đề con người luôn luôn được nhắc đến như một mục tiêu thiêng liêng, cao cả nhất của sự nghiệp cách mạng mà Người theo đuổi. Nó trở thành mục tiêu, lý tưởng, được toả sáng trong từng suy nghĩ, cử chỉ, hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ hệ thống tư tưởng của Người, chúng ta thấy toát lên nội dung quan niệm về con người như sau:

Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, con người là tổng hòa của các quan hệ xã hội từ hẹp đến rộng. Người từng khẳng định: “Chữ Người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người”(3). Hồ Chí Minh không bao giờ xem xét con người một cách trừu tượng mà luôn xuất phát từ hoàn cảnh con người hiện thực cụ thể trong các quan hệ xã hội với nhiều bình diện, nhiều chiều khác nhau. Đặc biệt ở Hồ Chí Minh, bên cạnh những khái niệm phổ quát như giai cấp công nhân, giai cấp vô sản, nhân dân lao động, chúng ta đã thấy xuất hiện thêm các khái niệm mới: “Người nô lệ mất nước”, “Người cùng khổ”. Theo nhận xét của nhiều nhà nghiên cứu, đấy là những khái niệm xuất hiện đầy ấn tượng và là một cách tiếp cận riêng của Hồ Chí Minh trong quan niệm về con người. Có thể khẳng định: cách tiếp cận cơ bản nhất của Hồ Chí Minh vẫn là đặt con người trong mối quan hệ với cộng đồng dân tộc. Bởi vì, hơn bất cứ ai, Hồ Chí Minh luôn luôn ở trong lòng nhân dân, mang cùng một truyền thống anh hùng, gắn bó với con người, với nhân dân từ trong khối óc, khát vọng và con tim, trọn vẹn suốt cuộc đời.

Con người là một chỉnh thể thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội. Vì vậy, Hồ Chí Minh luôn quan niệm con người, trong cấu trúc nhân cách, là một hệ thống bao gồm tổng hoà nhiều yếu tố hợp thành như: Thể xác và tâm hồn, thể lực và trí tuệ, cái sinh vật và cái xã hội… Con người ai cũng có chỗ hay chỗ dở, ai cũng có tính tốt tính xấu, có thiện có ác. Vấn đề là làm sao cho phần xấu mất dần đi, phần tốt nảy nở như hoa mùa xuân; con người ta sinh ra, ai cũng lớn lên, già đi rồi chết; người ta ai cũng muốn sung sướng, mạnh khoẻ… Cách quan niệm như thế cho phép Hồ Chí Minh đạt tới cái nhìn toàn diện về con người; là cơ sở để Người hiểu, cảm thông, lo lắng cho con người. Đây là tư tưởng chủ đạo, bao trùm và xuyên suốt, vừa có ý nghĩa như tiền đề xuất phát đồng thời lại là mục đích trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhân tố con người là vốn quý nhất, là động lực vĩ đại, nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam; dân là vốn quý nhất, có dân là có tất cả, nên phải bắt đầu từ nhân tố con người, vì con người, cho con người và trở về với con người.

1. Con người – nhân tố quý nhất, động lực quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Nhân tố con người là vốn quý nhất, quyết định thắng lợi được Hồ Chí Minh đề cập ở ba cấp độ là: Nhân dân nói chung; công nhân, nông dân, trí thức, bộ đội, cán bộ; mỗi một con người cụ thể – tức là nhân dân lao động (trừ bọn Việt gian, phản động). Hồ Chí Minh nói: “Nhân nghĩa là nhân dân. Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”; “cán bộ là gốc của công việc”; “muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”; “chúng ta phải biết quý trọng con người, nhất là công nhân, vì công nhân là vốn quý nhất của xã hội”…

Tư tưởng “Dân vi bản”, “Dân vi quý” đã được bàn nhiều trong lịch sử mà tiêu biểu nhất là trong Nho giáo. Nhưng đến Hồ Chí Minh, tư tưởng “Dân vi bản”, “Dân vi quý” đã thể hiện một sắc thái mới, với tư thế mới. Nói đến “Dân” trong tư tưởng Hồ Chí Minh là nói đến toàn thể nhân dân, nói đến dân chủ. Điều này được thể hiện rõ nét trong tác phẩm “Dân vận” (15-10-1949), Người viết:

“Nước ta là nước dân chủ.
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã tới chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên.

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(4).

Như vậy, Hồ Chí Minh luôn luôn đặt nhân dân vào địa vị cao nhất, địa vị làm chủ trong những vấn đề quan trọng nhất của cách mạng và xã hội: Lợi ích, quyền hạn, công việc, trách nhiệm, chính quyền, đoàn thể (tức là Đảng), quyền hành và lực lượng đều nhằm vào mục tiêu: vì dân, của dân, do dân, ở nơi dân. Nó xác định vai trò dân chủ: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Dân vừa là chủ nhưng dân vừa thực hiện công việc làm chủ, vừa là chủ thể, vừa là khách thể, vừa là lực lượng, động lực vừa là mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh, đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, xây dựng đời sống mới, tiến lên xã hội chủ nghĩa đều phải bắt đầu từ vốn con người, từ việc phát huy nhân tố con người. Nếu khinh dân, xem khinh việc sử dụng và phát huy nhân tố con người sẽ là một sai lầm rất to, rất có hại, có quan hệ mật thiết đến thành hay bại của sự nghiệp cách mạng.

Vai trò con người chính là vai trò của quần chúng nhân dân, người sáng tạo chân chính ra lịch sử chứ không phải “vài ba cá nhân anh hùng nào”, thể hiện qua các hoạt động thực tiễn cơ bản nhất: Lao động sản xuất, đấu tranh chính trị – xã hội và sáng tạo các giá trị văn hóa – tinh thần.
Hồ Chí Minh nói: “Vì chúng ta quên một lẽ rất đơn giản dễ hiểu: tức là vô luận việc gì, đều do người làm ra, từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả”. “Tất cả của cải vật chất trong xã hội đều do công nhân và nông dân làm ra. Nhờ sức lao động của công nhân và nông dân, xã hội mới sống còn phát triển”; quần chúng còn là người sáng tác nữa (các giá trị văn hóa – tinh thần). Hồ Chí Minh giải thích cơ sở khoa học cho vai trò đó xuất phát từ chỗ: “Lực lượng dân chúng nhiều vô cùng… dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”(5).

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người đóng vai trò là động lực to lớn, quyết định đối với mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng “dân là vốn quý nhất, có dân là có tất cả” cho thấy trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân tố con người là nguồn lực quan trọng nhất, nguồn lực của mọi nguồn lực. Vai trò ấy được Người kế thừa từ tư tưởng: “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân” để rồi khái quát ở tầm chân ly:á “Dễ mười lần không dân cũng chịu; khó trăm lần dân liệu cũng xong”(6).

Trong quá trình giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa động lực và mục tiêu, Hồ Chí Minh chú ý đến mức độ mục tiêu đạt được trong điều kiện, cụ thể của từng giai đoạn cách mạng. Mà mục tiêu tổng quát là: giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Mục tiêu đó biểu hiện thành các mục tiêu cụ thể:

Giai đoạn trước khi giành được chính quyền thì mục tiêu cao nhất là độc lập dân tộc. Người nói: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy”. Sau khi giành được chính quyền, thì mục tiêu: Ăn, mặc, ở, học hành lại được ưu tiên hơn. Ngày 10-1-1946, tại cuộc họp của Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, Hồ Chí Minh yêu cầu chúng ta phải thực hiện ngay: “Làm cho dân có ăn. Làm cho dân có mặc. Làm cho dân có chỗ ở. Làm cho dân có học hành”.

Sau năm 1954, miền Bắc đi vào khôi phục nền kinh tế, hoàn thành cải cách ruộng đất, tiến hành tốt việc sửa sai, từng bước phát triển kinh tế tập thể. Giai đoạn này, Hồ Chí Minh nhấn mạnh vào việc phải “nâng cao dần mức sống của nhân dân… đồng thời giảm nhẹ sự đóng góp của nông dân”. Bước sang năm 1958, kết thúc thời kỳ khôi phục kinh tế, mở đầu thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa (1958-1960), Hồ Chí Minh nói nhiều về chủ nghĩa xã hội những mục tiêu cơ bản nhằm giải phóng con người. Trong bối cảnh tập trung mọi nhân tài, vật lực cho phát triển kinh tế và tiến hành đấu tranh vũ trang giải phóng miền Nam, Hồ Chí Minh vẫn luôn quan tâm đến con người. Tại Hội nghị của Bộ Chính trị, ngày 30-7-1962, Hồ Chí Minh đặt vấn đề: Ta phải tính cách nào, nếu cần có thể giảm bớt một phần xây dựng, để giải quyết vấn đề ăn và mặc của quần chúng được tốt hơn nữa, đừng để cho tình hình đời sống căng thẳng quá. Vấn đề con người là hết sức quan trọng. Nhà máy cũng cần có thêm, có sớm, nhưng cần hơn là con người, là sự phấn khởi của quần chúng. Làm tất cả là do con người… Làm cho quần chúng hiểu chủ nghĩa xã hội đúng hơn.
Vào thời điểm đó, cách đặt vấn đề như vậy cho thấy chiều sâu mục tiêu con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn quyết liệt, thì mục tiêu “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” lại ở bậc cao của thang giá trị dân tộc. Mục tiêu con người gắn chặt với chủ quyền dân tộc. Tại kỳ họp Quốc hội khóa III, ngày 10-4-1965, Hồ Chí Minh kêu gọi: Lúc này, chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước. Ngay trong thời điểm lịch sử vô cùng khó khăn đó, phát biểu tại phiên bế mạc Hội nghị lần thứ 12, khóa III Ban Chấp hành TW Đảng, tháng 12-1965, Hồ Chí Minh lưu ý: “Chúng ta phải hết sức chăm lo đến đời sống của nhân dân, nhất là đời sống của các cháu, của các gia đình thương binh, liệt sỹ, đời sống của nhân dân ở các vùng bị bắn phá nhiều… những gia đình thu nhập thấp, đông con”.

Nếu tờ báo Người cùng khổ, số 1, nêu mục tiêu là giải phóng con người thì sau này bản Di chúc của Người cũng nêu công việc đầu tiên là đối với con người. Điều đó cho thấy cái “bất biến” trong tư tưởng Hồ Chí Minh là tất cả vì con người để ứng với cái “vạn biến” của lịch sử đặt ra. Hồ Chí Minh nói: “Tất cả những người lao động trên thế giới đều có một mục đích chung là thoát khỏi áp bức, bóc lột, được sống sung sướng tự do, tức là thực hiện chế độ cộng sản. Nhưng để đi đến mục đích ấy, mỗi nước phải tùy theo điều kiện thiết thực của mình mà tiến dần”.

Mục tiêu giải phóng con người về mặt chính trị-xã hội cũng được Hồ Chí Minh chú ý, nhấn mạnh. Giá trị và chiều sâu tư tưởng Hồ Chí Minh chính là ở chỗ đã nhìn nhận và đánh giá vai trò của văn hóa-đạo đức-truyền thống trong tiến trình thực hiện mục tiêu phát triển con người.
Xét ở một khía cạnh nào đó, văn hóa-đạo đức-truyền thống là những yếu tố cấu thành đời sống tinh thần, tâm linh con người. Con người không chỉ tồn tại bằng đời sống vật chất, mà còn tồn tại cả trong đời sống tinh thần. Con người không chỉ chịu sự chi phối của các quy luật vật chất khách quan, mà còn chịu sự chi phối của các quy luật tình cảm, các chương trình kế thừa về văn hóa – đạo đức – truyền thống. Giải phóng con người về mặt chính trị-xã hội là điều kiện tiên quyết, nhưng mới chỉ là điều kiện cần, chưa phải là điều kiện đủ. Con người tồn tại hài hòa trong môi trường đã được nhân tạo hóa dưới dạng: đạo đức, pháp luật, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo… gọi chung là văn hóa-đạo đức-truyền thống. Bản chất của nó được thể hiện trong các giá trị vật chất, tinh thần, tập trung nhất ở nhân cách và lối sống con người.

Lý tưởng mà suốt đời Hồ Chí Minh theo đuổi là mưu cầu độc lập cho dân tộc, người dân ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Một xã hội mới theo Hồ Chí Minh quan niệm là một xã hội trong đó con người được tự do, bình đẳng, hạnh phúc. Con người có sự phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ, có những quan hệ với tự nhiên, xã hội… trong sự biểu hiện cao nhất về văn hóa-đạo đức-truyền thống. Do đó, Hồ Chí Minh quan niệm chủ nghĩa xã hội là một xã hội lý tưởng, không chỉ ở thể chế chính trị dân chủ, cơ cấu kinh tế, kỹ thuật hiện đại, mà còn là một cơ cấu có giá trị văn hóa-đạo đức nhân bản. Sự phát triển kinh tế nếu không chú ý đến văn hóa-đạo đức thì không đạt tới sự phát triển bền vững. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, việc nhấn mạnh:

Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết phải có những con người xã hội chủ nghĩa, muốn có những con người xã hội chủ nghĩa phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, tức là con người có thể được phát triển sớm hơn so với sự phát triển kinh tế-xã hội. Xây dựng con người không chỉ bồi dưỡng về chính trị, văn hóa, chuyên môn kỹ thuật mà đặc biệt là đạo đức. Sự tiến bộ xã hội, sự tiến bộ của con người có thể dựa vào tiêu chí tiến bộ về văn hóa-đạo đức, coi như trình độ người trong phát triển. Ưu tiên văn hóa-đạo đức trong phát triển xã hội “là sự phát triển rút ngắn”, nhằm đạt tới mục tiêu con người, trong đó “phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”. Con đường phát triển rút ngắn, theo Hồ Chí Minh, không chỉ là “cơ cấu lại” hệ thống các chuẩn mực văn hóa-đạo đức khách quan, mà ở chỗ, nó hướng vào sự tự nhận thức, tự đánh giá, tự hoàn thiện về lối sống, nhân cách của mỗi người. Hồ Chí Minh nhấn mạnh sự tu dưỡng đạo đức cá nhân, cải tạo cái cá nhân để từ đó cải tạo xã hội đồng thời với quá trình cải tạo xã hội để tạo điều kiện cho cải tạo cá nhân.

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh luôn có sự nhất quán coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của cách mạng Việt Nam theo tinh thần cách mạng và khoa học. Vấn đề con người gắn liền với cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa; mục tiêu giải phóng con người gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội. Hồ Chí Minh kết luận “phải đem hết sức dân, tài dân, của dân làm lợi cho dân”; phải “dựa vào: lực lượng của dân, tinh thần của dân, để gây hạnh phúc cho dân” và “Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân và do nhân dân tự xây dựng lấy”.

2. Con người là trung tâm của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, phát huy nhân tố con người, phát triển nguồn nhân lực chính là đầu tư cho con người thông qua các hoạt động giáo dục, đào tạo, dạy nghề, chăm sóc sức khoẻ, tạo việc làm, an sinh xã hội… Đầu tư cho con người chính là nhằm phát triển thể lực, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tay nghề; tính năng động và sức sáng tạo của con người; phát huy bản sắc nền văn hoá, truyền thống lịch sử dân tộc để hun đúc thành bản lĩnh, ý chí của con người trong lao động. Đó chính là nguồn nội lực, là yếu tố nội sinh, nếu được phát huy và sử dụng có hiệu quả sẽ là động lực, nguồn sức mạnh để phục vụ cho chính con người và xã hội.

Với tinh thần “phát huy nhân tố con người”, “làm cho sản xuất bung ra”, “giải phóng mọi năng lực sản xuất” trong nhân dân… được khởi xướng từ Đại hội VI của Đảng (12-1986), đất nước đã từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội. Nước ta từ thiếu đói đã tiến đến hoàn thành mục tiêu “ăn no, mặc ấm” và vươn tới những mục tiêu cao hơn.

Lại một lần nữa, thực tế cho chúng ta thấy, khi nào chúng ta biết tôn trọng, yêu thương, tin tưởng, dựa vào nhân dân, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước phù hợp với lòng người, quan tâm tới quyền lợi của nhân dân, tạo ra động lực cho người lao động… thì lúc đó chúng ta phát huy được nhân tố con người, khai thác và huy động được năng lực, khả năng của mỗi cá nhân và toàn dân tộc vào tiến trình cách mạng.

Bên cạnh những mặt tích cực thì mặt trái của cơ chế thị trường đã làm cho không ít cá nhân, tập thể, doanh nghiệp bị chìm đắm vào những lợi ích cá nhân, vì đồng tiền, vì lợi ích mà đi ngược lại quyền lợi của nhân dân, của quốc gia dân tộc.

Trong sự hỗn độn giữa thiện và ác, giữa đúng và sai, giữa tích cực và hạn chế, ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh như mặt trời soi sáng cho con đường chúng ta đi. Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nguồn lực con người nói riêng vẫn nguyên giá trị. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng, những lời dạy về phát huy sức mạnh của phẩm chất và năng lực, những chỉ dẫn về cách dùng người, sử dụng cán bộ, những giải pháp để phát huy được nhân tố con người thực sự xứng tầm “là cái cẩm nang thần kỳ”, “bàn chỉ nam” cho sự nghiệp cách mạng nước ta hiện nay.

Mục tiêu xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất-kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh giữ vững, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đó trước hết là cuộc cách mạng của con người, vì con người và do con người. Bởi, khi chúng ta nói về những ưu việt của chủ nghĩa xã hội thì những ưu việt đó không do ai đưa đến. Đó phải là kết quả những nỗ lực vượt bậc và bền bỉ của toàn dân ta với những con người phát triển cả về trí lực, cả về khả năng lao động và tính tích cực chính trị-xã hội và đạo đức, tình cảm trong sáng.

Trong sự nghiệp cách mạng từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã nhiều lần khẳng định: Con người là vốn quý nhất, chăm lo cho hạnh phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta. Trên thực tế, Đảng ta đã luôn luôn cố gắng thực hiện mục tiêu đó. Sự nghiệp chăm lo cho hạnh phúc con người tuy chưa có nhiều thành công như mong muốn, song phần nào đã đáp ứng nguyện vọng của nhân dân. Phương châm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm; việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh” đã được Đảng ta đặt lên vị trí hàng đầu và coi đó là nhiệm vụ trung tâm. Lời dạy của Bác – “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” và “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” – đã trở thành tư tưởng xuyên suốt toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng ta với tư cách là Đảng cầm quyền.

Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay, Đảng ta tiếp tục khẳng định: lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững; nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011-2015, Đảng ta xác định mục tiêu: tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển; tạo chuyển biến mạnh về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố con người. Và trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (1-2011), Đảng ta đặt mục tiêu: Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi; đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn hóa đầu đàn, đội ngũ doanh nhân và lao động lành nghề”(7)./.

PGS, TS. PHẠM NGỌC ANH
Theo tuyengiao.vn
Thu Hiền (st)

————–

(1), (2), (7) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H, 2011, tr.41, 76, 216-217.
(3), (4), (5), (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.5, tr.644, 698, 295, 293.

bqllang.gov.vn

Hồ Chủ tịch qua lời kể của nữ văn công xứ Nghệ

Hồ Chủ tịch phát kẹo cho đoàn văn công Nghệ An cuối năm 1961 sau khi xem biểu diễn. Ảnh tư liệu của bà Nguyễn Thị Lệ Vinh: Tường Vi

“Đúng 7h tối, có tiếng còi ôtô, “Bác đến”, một thành viên kêu lạc cả giọng. Cả đoàn như nín thở sau cánh gà nhìn dồn vào cửa hội trường. Thật bất ngờ”, bà cụ Vinh, nữ văn công Nghệ An năm xưa nhớ lại.

Trong hai lần Hồ Chủ tịch về thăm quê (năm 1957 và 1961), có một người phụ nữ đã hát dân ca Nghệ Tĩnh cho Người nghe. Sau đó cô được ra tận Phủ Chủ tịch để cất lên những lời ca ngọt ngào xứ Nghệ. Gần 48 năm qua kể từ lần cuối được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà Nguyễn Thị Lệ Vinh nguyên là cán bộ nhà văn hóa Trung tâm thành phố Huế, ngày nay vẫn nhớ như in những kỷ niệm về Bác.

Bà Vinh quê ở Thanh Hóa, trước kia làm trong đoàn văn công Nghệ An, cho biết, trong những ngày tháng công tác đã qua, bà rất vinh dự được gặp Hồ Chủ tịch 3 lần, mà 2 lần lại đúng vào lúc Người về thăm quê ở Nghệ An. Bà xúc động: “Đó là những giờ phút hạnh phúc nhất của đời tôi, để lại trong tâm hồn tôi những ấn tượng không thể phai nhòa đối với vị cha già dân tộc.”

Người phụ nữ 79 tuổi nhớ lại, cuối hè năm 1957, tin Hồ Chủ tịch về thăm quê lần đầu tiên sau bao nhiêu năm bôn ba tìm đường cứu nước đã tạo nên niềm vui to lớn trong lòng nhân dân xứ Nghệ. Mọi người tập trung tại sân vận động thành Vinh để chào đón và nghe cụ Hồ nói chuyện. Giữa cái nắng gay gắt của mùa hè, cả biển người im phăng phắc, tất cả đang hướng về phía Người, lắng nghe lời dạy: “Cán bộ phải chí công vô tư, phải đặt lợi ích của nhân dân, của tập thể lên trên lợi ích cá nhân, phải đoàn kết, gương mẫu…” .“Đang nói, Người bỗng xin phép cởi áo ngoài cho mát. Tất cả mọi người đều rộ lên cưòi thoải mái. Thật tự nhiên cởi mở, thân mật như cha nói với con”, bà cụ trầm ngâm nhớ lại.

Ngày hôm sau, Hồ Chủ tịch về thăm quê ở Kim Liên. Khi trở về thành Vinh, Người đi xe mui trần, nhân dân lại được dịp chiêm ngưỡng vị lãnh tụ cách mạng. “May mắn làm sao, lúc đó tôi đang bế cháu nhỏ đứng gần xe Người. Cụ mặc quần áo kaki giản dị, mái tóc trắng bạc, nước da hồng hào, đứng thẳng dậy giơ tay chào đồng bào, mắt sáng long lanh và hiền từ. Mọi người nhìn Người hoan hô không ngớt.”, bà Vinh kể lại.

Cuối năm 1961, Hồ Chủ tịch lại về thăm quê lần thứ hai. Hôm ấy, đoàn văn công Nghệ An đang luyện tập thì nhận được chỉ thị của tỉnh ủy: Văn công sẽ biểu diễn phục vụ vị lãnh đạo và Người muốn nghe dân ca Nghệ Tĩnh. Cả đoàn đều reo mừng, sung sướng. Lúc bấy giờ đoàn văn công Nghệ An chỉ chủ yếu hát chèo, hát mới, diễn kịch nói chứ không có tiết mục dân ca. Diễn viên hầu hết đều là lớp trẻ mới lên nên chưa ai biết hát dân ca. Bà Vinh nói: “Ơn lãnh tụ đối với mỗi người như trời biển, vậy mà chúng tôi những người làm công tác văn nghệ lại không đáp ứng được một nhu cầu nhỏ của Người. Thật là một điều thiếu sót.”

Dòng suy tư ấy đưa bà Vinh về lại những năm tháng chống Pháp phải sơ tán lên Nam Đàn, cạnh bờ sông Lam. Nơi đó, man mác những chuyến đò dọc ngang mang đầy tiếng hát âm vang của hàng chục cô gái kéo sợi và tiếng hát đò đưa, ví dặm, ví phường vải, ru con ấy… Vậy là cô gái văn công khi ấy đánh bạo xung phong hát dân ca Nghệ cho Hồ Chí Minh nghe.

Bà kể lại: “Tôi thử hát nhẩm cho đoàn nghe, một đồng chí lớn tuổi trong đoàn bảo tôi hát đúng và nghe cũng được. Tôi sung sướng quá”. Trong lúc đó Ty văn hóa cũng mời được một “cây” hát dân ca. “Một chị ở Nam Hồng, Nam Đàn được mời về. Nhưng được biết cái vinh dự lớn quá, sợ mình không tự chủ được nên chị nhận giúp tôi luyện giọng”, bà Vinh kể tiếp.

Đến ngày diễn, lúc đó đã 4h chiều, bà Vinh đang bận rộn với một bài thơ lục bát khá dài. Tâm trạng bà lúc này rất khó tả: “Tôi hồi hộp lắm, học và tập đến quên ăn, quên ngủ, nhưng vẩn chưa dám tin ở mình”. 6h30 tối xe đưa đoàn văn công đến hội trường công an vũ trang tỉnh để chuẩn bị hóa, phục trang.

Đúng 7h tối, có tiếng còi ôtô. “Bác đến”, một thành viên trong đoàn kêu lạc cả giọng. Cả đoàn như nín thở sau cánh gà nhìn dồn vào cửa hội trường. Thật bất ngờ. Phút chốc cụ Hồ đã đến ngay bên cạnh cả đoàn văn công, nhẹ nhàng như một ông tiên có phép. Thì ra Người đã vào từ cửa sau. Cả đoàn văn công đứng sững như tượng. Rất thoải mái Hồ Chí Minh giơ tay chào, thăm hỏi sức khỏe từng người và dặn hóa trang cho đẹp, diễn cho tốt… Hành động của Người làm những lo lắng, hồi hộp của cả đoàn lắng xuống.

Cụ Hồ chụp ảnh với đoàn văn công Nghệ An tại Phủ Chủ tịch năm 1962. Ảnh tư liệu của bà Nguyễn Thị Lệ Vinh:Tường Vi

Trong toàn bộ buổi diễn có thể nói tiết mục dân ca được xem là then chốt, được xếp vào giữa chương trình để có thời gian chuẩn bị. “Bước ra sân khấu, tôi cố lấy lại bình tĩnh, tự chủ hơn, tôi nhìn Bác, lại nhìn khán giả, tự nhiên cảm thấy một luồng động viên to lớn. Tôi bắt đầu hát, dường như tôi đã “mê” đi trong sự nhập vai, đồng thời cần phải “tỉnh” trong ý thức trách nhiệm nghệ thuật. Cái phần “tỉnh” của tôi đang đưa mắt nhận ra Người đang nhìn tôi chăm chú, còn phần “mê” đưa tôi sống cùng tâm tình của cô gái đưa tiễn người yêu”, người nữ văn công năm xưa nói và bắt đầu hát nhè nhẹ lời ca năm nào: “Ra về răng được mà về, bức thư chưa gửi lời thề chưa trao…”.

Tiết mục hát ví phường vải của cô làm Hồ Chí Minh xúc động. Người rút khăn tay chấm nước mắt khi nghe tiếng hát khơi gợi thời xa xưa của mình, sau đó nói với ông Nguyễn Sĩ Quế, Thường vụ tỉnh ủy Nghệ An bấy giờ: “Nên khen cháu gái hát dân ca, vì ngày xưa người ta chỉ hát ví ở sân nhà, ngoài đồng, trên sông. Nay cháu đã mạnh dạn đưa lên sân khấu mà lại hát có tình có ý, nghe hay, có sáng tạo”.

“Sau này Ty văn hóa Nghệ An đã gửi thư khen ngợi tôi có cố gắng hát dân ca phục vụ Người về thăm quê hương”, Bà Vinh với giọng tự hào kể lại. Hôm ấy, sau khi buổi diễn kết thúc, cả đoàn văn công sung sướng ra sân khấu chào Hồ Chủ tịch. Người nhanh nhẹn bước lên sát sân khấu, giơ cao một chiếc lẵng mây, tươi cười: “Các cháu diễn tốt Bác thưởng kẹo, có thích ăn kẹo không?” cả đoàn đồng thanh: “Thưa Bác có ạ”. Người nhìn khắp lượt xem chưa phát kẹo cho ai. Nhà thơ Xuân Tiến, cán bộ Ty văn hóa đưa hai tay ra thưa: “Cháu xin Bác”. Đầy vẻ hóm hỉnh, vị cha già dân tộc thu lại lẵng kẹo và nói: “Chú có phải diễn viên đâu mà cho chú”. Mọi người bật cười vui vẻ.

Người nữ văn công năm xưa Nguyễn Thị Lệ Vinh với những bức ảnh chụp với Bác Hồ. Ảnh: Tường Vi

Chưa đầy một năm sau, mùa hè 1962, đoàn văn công Nghệ An ra Hà Nội tập huấn để dự hội toàn miền Bắc. Tại đây bà Vinh lại có cơ hội gặp được Hồ Chí Minh lần nữa. Lúc ấy toàn miền Bắc đang có phong trào tiết kiệm gạo ủng hộ miền Nam, mỗi bữa chỉ có 2 lạng gạo, thêm phần luyện tập căng thẳng, thời tiết thì nắng nóng. Vậy mà khi biết đoàn được biểu diễn phục vụ Hồ Chủ tịch với vở chèo “Cô gái sông Lam” thì tất cả mọi người như được uống thuốc tiên vậy. Không ai kêu ca, không thiết nhọc nhằn, mệt mỏi gì nữa. Tất cả đều hăng say luyện tập trông chờ ngày gặp Người. Khoảng 5 ngày sau, xe đoàn văn công Nghệ An đến Phủ Chủ tịch. Đây là lần đầu mọi người đến đây, mọi thứ đều hết sức mới lạ. Khi các văn công vào hóa trang, lại một lần nữa vị lãnh tụ làm mọi người bất ngờ. “Người đến sớm hơn thường lệ, vào thăm chúng tôi trước giờ diễn, vui vẻ hỏi quê quán từng người. Không khí căng thẳng ban đầu đã bị hóa giải bởi những lời hỏi han, những câu đùa thân mật của cụ”, bà Vinh kể.

Người nữ văn công nhớ: Với anh Nghĩa, quê ở Nghi Lộc, Người nhại lại bằng tiếng địa phương: “Nghi Lộc à? Con méo! Con méo!” (con mèo). Đến anh Thái Quang Ngoạn, trưởng đoàn quê ở Thừa Thiên – Huế, Người giả bộ lắc đầu: “Rứa là không phải Nghệ An bầy choa”. Mọi người cười rộ lên. Bà Vinh nói: “Cụ quay sang hỏi tôi. Tôi trả lời: “ Cháu ở Vinh ạ”. Người nhìn tôi gật đầu, nhớ ra cô gái hát dân ca ngày nào. Lúc đó tôi đang bế cháu nhỏ, Cụ âu yếm hỏi đùa: “Cháu này cũng đi biểu diễn à?”. Rồi Người dặn dò chúng tôi diễn cho hay, Cụ sẽ ngồi xem đến hết”.

Sau buổi diễn, Người thưởng một huy hiệu Hồ Chí Minh cho ông Nguyễn Trung Phong, Trưởng phòng văn nghệ Ty Văn hóa là tác giả kịch bản. Cả đoàn lặng đi vì xúc động. Người chụp chung với đoàn văn công một bức ảnh làm kỷ niệm.

Sau đó Hồ Chủ tịch dặn các cán bộ phụ trách mời ăn bánh uống nước. Các đồng chí phụ trách chân tình trò chuyện: “Các cậu là sướng nhất. Trước tới nay, nhiều đoàn vào phục vụ, nhưng vì tuổi cao ít khi Bác xem quá một tiếng, thế mà hôm nay Người xem hơn 2 tiếng đồng hồ”. Chỉ từng ấy thôi đã khiến bao trái tim trong đoàn thổn thức, nhiều dòng nước mắt sung sướng và biết ơn dâng trào.

“Người đã giúp cho chúng tôi nhận thức đúng hơn về giá trị quan trọng của dân ca nói riêng và giá trị lớn lao của văn nghệ nói chung”, bà Vinh đúc kết./.

Theo vnexpress
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tháng năm mãi mãi bên Người

Năm 1975, sau chiến thắng 30-4, công trình xây dựng Lăng Bác Hồ đã hoàn thành thực sự là một sự kiện lớn làm nức lòng quân dân cả nước. Giờ đây, chúng ta đã biết công việc bảo vệ thi hài Bác trong những năm chiến tranh khốc liệt từ ngày Bác mất đến ngày đón Bác về Lăng. Trong 6 năm (1969-1975) đằng đẵng lo âu ấy, thi hài Bác đã 5 lần phải di chuyển để tránh địch hoạ, thiên tai. Mỗi lần di chuyển thi hài Bác trọn vẹn an toàn là một chiến công lớn của những cán bộ, chiến sĩ Đoàn 69 – Đơn vị tiền thân của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Họ đã được Đảng và nhân dân tin yêu giao cho gìn giữ tài sản tinh thần vô giá của dân tộc. Nhưng đây là công việc đặc biệt, tuyệt mật. Vì thế trong muôn nỗi lo toan của quân và dân ta ngày ấy có một nỗi lo canh cánh mà không ai dám hỏi, dám nói ra rằng: Bác đang ở đâu, thi hài của Người liệu có được bảo vệ chu toàn cho đến ngày đất nước toàn thắng?.

Năm 1972, Sư đoàn 308 chúng tôi đang chiến đấu tại Quảng Trị. Đến cuối năm đế quốc Mỹ vẫn trì hoãn ký hiệp định Pa-ri nhằm leo thang chiến tranh bằng không quân ra miền Bắc. Tin Mỹ dùng máy bay B52 ném bom xuống Thủ đô Hà Nội làm cho chúng tôi hết sức lo lắng, bồn chồn. Sau buổi nắm tình hình tư tưởng bộ đội của sư đoàn hôm ấy, chúng tôi đã ghi nhận nhiều tâm tư của cán bộ, chiến sĩ ở các đơn vị, trong đó rất nhiều người băn khoăn về việc bảo vệ thi hài Bác trong trận quyết chiến cuối cùng này. Tháng 5 năm 1975 vào Sài Gòn vừa được giải phóng, tôi đến Đại học xá Minh Mạng gặp gỡ nói chuyện với các em sinh viên, nhiều em sinh viên băn khoăn hỏi tôi: “ Thi hài Bác Hồ có được giữ gìn tốt không anh? Bao giờ thì công trình Lăng Bác khánh thành?”. Tôi ngạc nhiên hỏi lại: “Việc này các em mới biết hay đã biết từ trước ngày giải phóng Sài Gòn?”.

Một nữ sinh viên nhanh nhẹn trả lời: “Bọn em biết từ lâu rồi. Chúng em thường xuyên nghe trộm đài Hà Nội. Chúng em mong đến ngày Lăng Bác hoàn thành để được ra Hà Nội gặp Bác”. Tôi càng hiểu thêm tình cảm sâu nặng của thanh niên, học sinh miền Nam đối với Bác Hồ kính yêu.

Cuối cùng thì ngày cả nước mong đợi cũng đã đến. Ngày 29 tháng 8 năm 1975, công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh khánh thành, Thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến có thêm một công trình văn hoá lớn nằm liền kề biểu tượng của Việt Nam, của Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội: Chùa Một Cột độc đáo được xây dựng từ thời Lý vào lúc đạo Phật hưng thịnh nhất. Trước cửa Lăng Bác Hồ xuất hiện một cảnh tượng chưa bao giờ người dân Việt Nam được chứng kiến trên đất nước ta- Những kíp tiêu binh lễ phục trang nghiêm, đẹp cả trong tư thế đứng nghiêm và trong từng bước đi, nhịp quay khi đổi gác. Hai chiến sĩ Nông Văn Thành và Nguyễn Văn Ri được vinh dự đứng tiêu binh trước Lăng Bác trong ngày khánh thành. Họ đứng nghiêm, mắt nhìn thẳng, tay nắm chắc thân súng, không một cử động nhỏ. Trước mắt các anh là những dòng người bước đi nhẹ nhàng như một dòng chảy bất tận vào Lăng.

Đã nhiều lần tôi được vào Lăng viếng Bác hoặc có việc đi qua khu vực Lăng Bác. Dù được gặp Bác hay chỉ đi ngang qua Lăng cứ bắt gặp thảm cỏ Ba Đình xanh mát mắt, trong tim tôi lại nhớ đến bài thơ phổ nhạc của Viễn Phương:

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên Lăng
Thấy một mặt trời trong Lăng rất đỏ
Từng dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”.

Đã có hàng trăm tác phẩm thi ca viết về Người, bài ca nào cũng bắt nguồn từ xúc cảm sâu xa của các nghệ sĩ đã may mắn được gặp Bác hoặc chưa có dịp để có được niềm hạnh phúc lớn ấy. Nhưng đến nơi yên nghỉ của Người, như một phản xạ tự nhiên, tôi cứ nhớ ngay những câu thơ trên, vì hình tượng thơ của Viễn Phương luôn diễn ra hàng ngày trước mắt tôi: những dòng người với sắc áo muôn màu chuyển động, uốn quanh, như một tràng hoa, như một đoá hoa đang bừng nở. Từ ngày đầu tiên đến hôm nay vẫn thế.

Ngay sau ngày Bác Hồ qua đời, mặc dù trong lúc đất nước còn đắm chìm trong mịt mù khói lửa chiến tranh, nhưng việc xây dựng Lăng Bác đã trở thành nguyện vọng thiết tha của toàn dân, toàn quân ta. Đồng bào và chiến sĩ cả nước đều mong muốn có một nơi an nghỉ cuối cùng của Bác để thể hiện phần nào công lao và sự nghiệp vĩ đại của Người, để thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau có điều kiện tới viếng Bác và nguyện đi tiếp con đường mà Đảng và Bác Hồ đã chọn. Tổ quốc ta lúc đó còn bị chia cắt làm hai miền. Miền Nam đi trước về sau, lúc sinh thời Người nhớ thương da diết. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, có một ước ao lớn nhất chưa thực hiện được là trở lại Sài Gòn, gặp lại miền Nam yêu dấu. Miền Nam luôn luôn ở trong trái tim của Bác và Bác cũng luôn có trong trái tim mỗi người dân miền Nam. Năm 1966, khi tiếp một nhà báo Cuba, Bác đã đặt một bàn tay lên ngực mình nói rằng: “Nhân dân miền Nam, mỗi nhà, mỗi người có một nỗi đau riêng, đem cộng lại tất cả những nỗi đau đó lại là nỗi đau của tôi”. Trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, Bác nhiều lần đề nghị Bộ Chính trị bố trí cho Bác vào thăm hỏi, động viên quân dân ta ngay tại chiến trường miền Nam. Nhưng nhận thấy sức khoẻ của Bác không đảm bảo, nên Bộ Chính trị đã tìm mọi cách trì hoãn chuyến đi ấy. Vào mùa xuân năm 1968, đồng chí Lê Đức Thọ trước khi vào miền Nam công tác đã đến chào Bác. Bác lại tha thiết đề nghị Bộ Chính trị được đi thăm miền Nam. Đồng chí Lê Đức Thọ lại phải khéo léo từ chối nói rằng: Bác chỉ có thể đi đường hàng không qua Phnôm Pênh. Như vậy phải làm hộ chiếu và người ta dễ dàng nhận ra Bác vì Bác có râu. Bác bảo: “Thì cạo râu đi”. Đồng chí Lê Đức Thọ thưa: “Bác cạo râu đi thì đồng bào miền Nam không còn nhận ra Bác nữa”. Nghe vậy, Bác ngồi yên rất buồn. Lúc chia tay, Bác đã ôm lấy đồng chí Lê Đức Thọ và Người không kìm được nước mắt. Hành trình tìm đường cứu nước của Bác Hồ bắt đầu từ ngày 5 tháng 6 năm 1911 trên con tàu buôn mang tên “Đô Đốc La-tut-sơ Tơ-rê-vi-lơ” rời bến Nhà Rồng. Người đã đi khắp các châu lục Á, Âu, Phi, Mỹ La tinh làm nên sự nghiệp lớn “chấn động địa cầu” – là người khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới. Có ai ngờ lần tạm xa ấy cũng là lần Bác vĩnh biệt Sài Gòn, vĩnh biệt miền Nam yêu thương.

Quyết định của Bộ Chính trị giữ gìn nguyên vẹn và lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây Lăng lúc đó thực sự là nguồn cổ vũ lớn đối với đồng bào miền Nam, đối với quân dân cả nước, biến đau thương thành sức mạnh, quyết “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”, giành toàn thắng để sớm được về Lăng gặp Bác. Những gì diễn ra bên Lăng Bác Hồ trong những năm qua đã chứng minh quyết định giữ gìn nguyên vẹn lâu dài thi hài Bác và xây dựng Lăng là đúng ý Đảng, hợp lòng dân, phù hợp với truyền thống đạo lý nhân nghĩa, uống nước nhớ nguồn của dân tộc Việt Nam. Tính đến hết tháng 12 năm 2006 đã có 32.750.170 lượt người vào Lăng viếng Bác, trong đó khách nước ngoài có 3.573.309 người thuộc 132 nước và 68 tổ chức quốc tế. Công cuộc đổi mới đất nước đạt được những thành tựu quan trọng, điều kiện đi lại của nhân dân thuận tiện, giao lưu quốc tế phát triển đã làm cho lượng khách trong nước và nước ngoài đến Lăng thăm viếng Bác mấy năm gần đây tăng lên không ngừng. Vào những ngày này, trung bình có từ 50 đến 70 đoàn khách quốc tế cùng hàng ngàn đồng bào ta, đủ các lứa tuổi từ khắp mọi miền đất nước ngày ngày lặng lẽ, thành kính xếp hàng dài vào Lăng viếng Bác. Thủ đô Hà Nội có cả ngàn năm lịch sử, nhiều danh lam thắng cảnh. Nhưng không có danh thắng nào lại có được sức hấp dẫn như khu vực Lăng Bác. Nhiều cụ già ở các miền quê xa chưa một lần đặt chân đến Thủ đô đã nói với con cháu: “Ước gì ra Hà Nội để được vào Lăng viếng Bác”. Với khách nước ngoài thì nhiều người chung một ý kiến: Chưa đến Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh thì coi như chưa đến Hà Nội. Ngay cả những ngày Lăng không mở cửa trong tuần theo thường lệ (thứ hai và thứ sáu) bà con ta, các cháu thiếu nhi, du khách nước ngoài cũng vẫn đi lại tấp nập trên những con đường trong khu vực Lăng Bác để hít thở không khí trong lành, ngắm cảnh quan, ghi hình chụp ảnh lưu niệm.

Những cuốn sổ vàng mà Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu giữ xếp thành một chồng cao ngất đã lưu lại những cảm nghĩ chân thành sâu lắng của đồng bào, đồng chí, của nhân dân các dân tộc ở khắp mọi miền đất nước, của bè bạn trên khắp các lục địa với đủ các ngôn ngữ gốc Sla-vơ, La tinh, tượng hình, Phạn…

Đoàn đại biểu quận 1, thành phố Hồ Chí Minh viết: “Vô cùng xúc động được vào Lăng viếng Bác, Bác mãi mãi sống trong trái tim đồng bào Nam Bộ, lời ấy đời đời giữ mãi trong lòng của nhân dân thành phố Hồ Chí Minh … Nhớ thương Bác vô cùng. Nguyện học tập và sống theo gương Bác”.

Đoàn đại biểu Ê-ti-ô-pi-a viết: “Đến thăm Lăng Bác Hồ, chúng tôi có một ấn tượng sâu sắc: Bác Hồ không chỉ là nhà cách mạng vĩ đại của nhân dân Việt Nam, mà Người còn là niềm hy vọng của các dân tộc châu Phi cũng như những dân tộc khác đang đấu tranh quét sạch chủ nghĩa đế quốc ra khỏi Tổ quốc mình…”.

Đoàn đại biểu phụ nữ Mỹ viết: “Chúng tôi yêu mến đất nước Việt Nam vì ở Việt Nam có Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc đời của Người là một biểu tượng hoà bình đầy đủ nhất… Chúng tôi coi lãnh tụ Hồ Chí Minh như lãnh tụ của nhân dân tiến bộ Mỹ”.

Bà A-sa-la-li, Chủ tịch Liên đoàn phụ nữ Ấn Độ viết: “Tôi xin nghiêng mình tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh, một người châu Á vĩ đại, một con người thật sự vĩ đại, người tiên phong của tất cả các dân tộc bị áp bức. Lời nói bất hủ của Người về tự do là món quà quý giá nhất mà loài người phải giữ lấy…”.

Những dòng cảm tưởng của hàng triệu người đã đến Lăng viếng Bác tập hợp lại có thể in thành nhiều pho sách. Nhưng đấy mới chỉ là một phần nhỏ bé so với tình cảm bao la nồng thắm đối với Bác bất kể thời gian và những biến động của lịch sử.

Có lần, tôi được gặp đoàn các Bà mẹ Anh hùng từ vùng đất Mũi Cà Mau vào Lăng viếng Bác. Các mẹ đều đã ở tuổi trên dưới 70, lại đi bằng ô tô. Tuổi trung niên như tôi, nghĩ đến một chuyến đi xuyên Việt bằng ô tô đã thấy ngại, thế mà các mẹ lại không thích ngồi máy bay. Tôi hỏi nguyên do, thì một mẹ giải thích: “Đi ô tô để tham quan đất nước, để việc hành hương về thăm Bác có thêm nhiều ý nghĩa”.

Người cao tuổi nhất trong đoàn là mẹ Nguyễn Thị Thanh, đã 73 tuổi. Cả ba người con trai của mẹ đều đã hy sinh trong cuộc chiến đấu giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Những mất mát quá lớn lao đã làm cho mẹ già hơn nhiều so với tuổi tác. Mẹ cao gầy, gương mặt hốc hác, tóc sương, da mồi. Mới chỉ thoáng nghe câu hỏi của tôi: “Cảm xúc của mẹ như thế nào khi vào Lăng viếng Bác”, ánh mắt già nua của mẹ bỗng mờ đi, nước mắt từ từ lăn trên đôi gò má nhăn nheo đen sạm. Một lát sau mẹ mới thốt lên được mấy lời: “Buồn lắm, cảm động lắm… ước chi những ngày này Bác còn sống để chứng kiến cảnh nước nhà thống nhất, để Bác vào thăm bà con miền Nam, bà con đất Mũi”. Mẹ Thanh chỉ nói được có vậy. Những câu hỏi tiếp theo của tôi chỉ được mẹ trả lời bằng hai hàng nước mắt của một người mẹ đã khô héo vì khổ đau, tưởng như không bao giờ còn có thể khóc được nữa. Nhìn mẹ Thanh khóc, sống mũi tôi bỗng thấy cay cay dẫu trước đó tôi đã được nghe các anh, chị trong Ban Đón tiếp kể lại nhiều mẩu chuyện về tình cảm của đồng bào miền Nam với Bác.

Đúng như đàn con hiếu thảo khi cha mất đã không có mặt chịu tang, các đoàn miền Nam ra thăm Bác những ngày đầu Lăng Bác mới mở cửa đón khách có nhiều chuyện thật cảm động. Mới bước vào phòng tiếp đón nhiều người đã khóc sụt sùi. Đến khi vào Lăng mong được một lần trông thấy Bác thì mắt nhoè lệ, xúc động cứ dâng trào không thể kìm nén cho đến tận lúc rời Lăng. Thế là từ miền Nam xa xôi ra Hà Nội gặp Bác, đứng bên Bác mà không nhìn rõ được gương mặt cha già.

Chị cán bộ Sở Lao động- Thương binh và Xã hội tỉnh Cà Mau, có nhiệm vụ dẫn đoàn các mẹ đi viếng Bác tâm sự với tôi: Nhận nhiệm vụ này em vừa vui vừa lo. Vui vì đây là lần đầu tiên em được ra Thủ đô, được vào Lăng viếng Bác. Lo vì các mẹ tuổi đã cao, đường đất lại xa xôi thế có chuyện gì xảy ra ở giữa đường nơi đèo cao, đồng vắng thì thật rầy to. Nhưng may quá trừ một sự cố ở thành phố Hồ Chí Minh, còn lại càng đến gần Hà Nội, các mẹ lại càng khoẻ ra. Chính em có lúc cũng rất mệt lại được các mẹ xúm vào động viên: “Cố ăn cho nhiều để khi ra đến Hà Nội khoẻ mạnh, má con chúng mình vô Lăng viếng Bác ngay”. Trong lúc nói chuyện với tôi ánh mắt chị trưởng đoàn long lanh vui và còn ẩn chứa một điều kỳ lạ gì đó mà chị chưa hiểu hết đã làm cho các mẹ anh hùng của Cà Mau đến được Hà Nội bình an, mạnh khoẻ.

Những người dân từ khắp mọi miền đến đây mỗi người đều có hoàn cảnh riêng, trăm người trăm số phận, mỗi người có cách thể hiện riêng nhưng có một nét chung là tất cả đều mang trong lòng tình cảm đối với Bác rất sâu xa, thánh thiện mà dân dã. Xin dẫn ra một vài thí dụ: Bà Nguyễn Thị Lan ở thành phố Hải Phòng từ nhiều năm nay năm nào bà cũng đến viếng Bác ba lần vào dịp: Tết âm lịch, ngày sinh Bác 19-5, ngày Quốc khánh cũng là ngày Bác mất 2-9. Bà đã trở thành người thân của tập thể cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ bảo vệ, đón tiếp đồng bào trong nước và khách quốc tế vào Lăng viếng Bác. Con cháu, dòng họ của bà Lan cũng thường xuyên vào viếng Bác. Có lần đoàn con, cháu, họ hàng của bà Lan vào viếng Bác đông tới 50 người, ngồi chật cả một phòng khách lớn. Bà Lan là người có tính cách khác lạ. Có lần bà nói: “Tôi không có thì giờ để đến các chùa chiền. Đi chùa là để lễ thánh cầu phúc. Bác Hồ anh minh là bậc thánh từ lúc còn sống, không chỉ dân ta, mà khắp bàn dân thiên hạ đều biết, nên tôi thấy chỉ đến viếng, đến lễ Bác là đủ phúc đức cho con cháu rồi. Đấy là ý nghĩ của riêng tôi. Tôi nghĩ thế nào cứ nói ra đúng như thế”.

Cụ Đỗ Viết Ân ở Thái Bình cũng là một lữ khách để lại cho cán bộ, chiến sĩ bảo vệ Lăng nhiều ấn tượng đặc biệt. Không chỉ ở khu vực Lăng, ở nhà khách 37 Hùng Vương, mà ở chùa Quán Sứ, nhiều người cũng biết cụ, giúp đỡ, phục vụ cụ rất tận tình. Cụ Ân đã hơn trăm tuổi nên được Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Bình dành cho chế độ ưu đãi đặc biệt. Cụ Ân có thẻ đi tàu xe không mất tiền. Lên Hà Nội viếng Bác khi thì cụ vào ăn nghỉ tại nhà khách 37 Hùng Vương (tất nhiên cũng không mất tiền), lúc thì ra “ăn mày” cửa phật ở chùa Quán Sứ. Dù nghỉ ngơi ở chỗ nào từ năm 1990 trở về trước cứ sáng ngày 3 tháng 9 là cụ có mặt ở Ban Đón tiếp để vào Lăng viếng Bác. Đã thành lệ từ chiều mồng 2, mấy anh chị em trong Ban Đón tiếp đã nhắc nhở nhau: “Nhớ sáng ngày mai đón cụ Ân vào Lăng viếng Bác”.

Cùng với năm tháng, những dòng người ngày nối ngày lặng lẽ vào Lăng viếng Bác để soi vào tấm gương trong sáng của Bác, để nâng cao lòng tin, xoá những ưu tư, xác nhận những chân giá trị cuộc sống trước bão tố cuộc đời, để yêu cái Người đã từng yêu, để được bồi đắp thêm sinh lực đi tiếp con đường Người đã đi suốt cả cuộc đời. Cùng với hoạt động lớn đó, Lăng Bác còn là nơi diễn ra nhiều sinh hoạt chính trị phong phú. Nhiều đơn vị tân binh trước ngày lên đường, lễ kết nạp đoàn viên, đảng viên, nhiều đoàn đại biểu của nhiều cơ quan, xí nghiệp, những tài năng trẻ dâng lên Bác kính yêu những thành tích trong lao động, học tập, công tác đã sôi nổi diễn ra thường xuyên bên Lăng Người. Ngọn lửa thiêng từ nơi đây được chuyển đi thắp sáng tinh thần thượng võ ở các đại hội thể thao toàn quốc, ở các địa phương. Nhiều đôi trai gái khi làm lễ thành hôn cũng đến trước Lăng bày tỏ lòng tưởng nhớ và biết ơn Người. Trong những đôi trai gái đến đây dâng hoa lên Người trong ngày lễ thành hôn, có một chú rể mà cán bộ, chiến sĩ bảo vệ Lăng hay nhắc đến đó là Thượng uý Phạm Minh Thanh thuộc Đoàn M25 Bộ đội Hải quân. Anh Thanh là một người lính thường xuyên gắn bó với những hòn đảo xa xôi nhất của Tổ quốc. Từ Trường Sa, Thanh được nghỉ ít ngày để tổ chức lễ cưới. Ngày giờ tiến hành hôn lễ đã được đôi bên gia đình hai họ quyết định. Nhưng vào ngày đó, Lăng Bác lại không mở cửa đón khách theo quy định thường lệ. Cô dâu, chú rể và cả hai gia đình coi dâng hoa tưởng niệm Bác là một việc làm có ý nghĩa lớn và hệ trọng phải thực hiện bằng được và ngày cưới của họ đã lùi lại rất tự nguyện.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, là người bạn lớn của nhân dân thế giới. Hoà cùng hàng ngàn, hàng vạn người dân Việt Nam ngày ngày vào Lăng viếng Bác luôn có những đoàn khách nước ngoài đến Việt Nam, đến với Bác từ khắp các quốc gia. Các đồng chí trong Ban Đón tiếp tại Lăng là người thường xuyên tiếp xúc với khách quốc tế, đã kể cho tôi nghe nhiều mẩu chuyện thể hiện tấm lòng của bè bạn bốn phương từ các nguyên thủ quốc gia đến những khách du lịch dành cho Bác Hồ kính yêu của chúng ta.

Cách đây mấy năm, có một đoàn rất đông cựu chiến binh Pháp vào Lăng viếng Bác. Hôm ấy là ngày lễ, nên đồng bào ta và khách nước ngoài đến viếng Bác lên đến hơn 30 ngàn người. Dưới nắng hè gay gắt phải chờ đợi hàng tiếng đồng hồ, một vài người trong đoàn tỏ vẻ bực bội khó chịu. Nhưng trong đoàn cựu chiến binh Pháp nhiều người lại biểu lộ thái độ rất trầm tĩnh kiên nhẫn. Nghe cán bộ ta giải thích, xin lỗi vì sự chậm trễ, có vị cựu chiến binh vội vàng xua tay nói:

– Các ông không có lỗi, không có lỗi. Đứng đây chờ đợi phải chịu nắng nóng, cái nắng Việt Nam đáng sợ thật, nhưng tôi lại có thêm được một thu hoạch bằng trực giác của mình. Nhìn dòng người Việt Nam vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi mới thật hiểu sự ngưỡng mộ của dân tộc ông đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh cao tới mức nào.

Tổng thống Cộng hoà Áo Thô-mát Kle-xtin vào Lăng viếng Bác, nhìn thấy nhân dân ta đủ các lứa tuổi trẻ già, gái trai đến viếng lãnh tụ vĩ đại của mình, ông rất xúc động. Tổng thống đã đề nghị đồng chí phụ trách Lăng được ra bắt tay những người dân Việt Nam tình cờ gặp gỡ bên Lăng Bác. Dòng lưu bút nào có thể ghi lại được tình cảm của vị nguyên thủ quốc gia này với Chủ tịch Hồ Chí Minh chính xác và đầy đủ hơn thế.

Những người khách từ hơn một trăm quốc gia đến viếng Bác không phải do sự hiếu kỳ hay cử chỉ xã giao. Những người khách phương xa đến đây trước đó đều ít nhiều đã biết đến Bác, đã hiểu tiểu sử và sự nghiệp của Người. Sự hiểu biết về Người có mức độ khác nhau, nhưng tất cả những người đã qua đây đều biểu lộ sự kính trọng sâu sắc đối với Bác bằng thái độ, cử chỉ, lời nói và những dòng cảm tưởng với nhiều cách diễn đạt khác nhau. Có lời nói, ý tứ của những người nước ngoài quốc tịch khác nhau, thời điểm vào Lăng viếng Bác của họ cách nhau đến 2 năm nhưng lại giống nhau. Đó là trường hợp một nhà báo Đức và một cán bộ phụ nữ của Ba Lan. Hai vị khách này không dùng từ viếng mà dùng từ thăm. Họ lập luận: viếng là đến với những người đã chết, thăm là đến với người còn sống, Chủ tịch Hồ Chí Minh là bậc vĩ nhân đáng xếp vào hàng bất tử của nhân loại. Đồng chí hướng dẫn viên của ta nói thêm: Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời, ngày làm việc của Người rất căng thẳng. Khi tuổi đã cao, sức khoẻ giảm sút, giữa hai cuộc tiếp khách Người thường để nguyên quần áo nằm nghỉ mươi phút. Tư thế của Người, trang phục của Người hiện ở trong Lăng là phỏng theo những giây lát nghỉ ngơi của Người. Đối với chúng tôi, Người sống mãi, Người đang nằm nghỉ chốc lát. Nghe vậy, vị khách Đức và vị khách Ba Lan ở hai thời điểm khác nhau đều bật lên một câu nói giống nhau: “Các ông rất thông minh, rất xứng đáng là con cháu Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Để có được lời khen ngợi của nhân dân và bầu bạn quốc tế, kể từ khi Bác đi xa, từ ngày Lăng Bác mở cửa đón khách, cán bộ, chiến sĩ bảo vệ Lăng, những người có hạnh phúc lớn suốt tháng năm luôn được gần gũi bên Người đã coi nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác, bảo vệ Lăng, đón tiếp đồng bào đến viếng Bác là một nhiệm vụ vinh quang mà Đảng, Nhà nước và nhân dân tin cậy giao cho. Họ đã đem hết sức mình với tinh thần tự nguyện cao nhất, tổ chức thực hiện nghiêm cách chuẩn xác, công phu tỉ mỉ công việc giữ gìn thi hài Bác. Coi đó là tài sản tinh thần dân tộc vô giá của hôm nay và của muôn đời con cháu.

Bút ký của Đại tá Nguyễn Việt Sơn – Báo Quân đội nhân dân

bqllang.gov.vn