Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Binh chủng Thông tin liên lạc báo công dâng Bác

Nhân dịp kỷ niêm 65 năm Ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, sáng ngày 11/6/2013, 67 đại biểu điển hình của Binh chủng Thông tin liên lạc đã vinh dự về bên Bác, báo cáo với Bác kết quả học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người trong 2 năm vừa qua.

thong-tin
Không khí báo công trang nghiêm trên Quảng trường Ba Đình

Binh chủng Thông tin liên lạc vinh dự tự hào là Binh chủng được thành lập đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, là Binh chủng 2 lần được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang.

Trải qua gần 70 năm xây dựng và trưởng thành, Binh chủng luôn nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Quân đội và sự quan tâm, tình cảm của Bác. Binh chủng luôn khắc ghi lời Bác dạy: “Việc liên lạc là một việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mệnh…”.

Trước lúc đi xa Bác vẫn căn dặn: “Đã cố găng cần luôn cố gắng hơn nữa. Phải không ngừng nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng; ra sức học tập thêm nghiệp vụ kỹ thuật, bảo đảm công tác thông tin liên lạc kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn, ngày càng tiến bộ, lập nhiều thành tích mới…”. Tình cảm và lời dạy bảo ân cần của Bác luôn là nguồn cổ vũ động viên lớn lao và trở thành tài sản vô giá đối với lớp lớp cán bộ, chiến sỹ Binh chủng Thông tin.

Thấm nhuần lời dạy của Bác, dù bất cứ trong hoàn cảnh nào, thế hệ cán bộ, chiến sỹ Thông tin đều phấn đấu quên mình cho sự nghiệp cách mạng, bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt trong mọi tình huống, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Cùng với toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, cán bộ, chiến sỹ Binh chủng Thông tin rất phấn khởi tự hào tiếp tục thi đua học tập phấn đấu làm theo tấm gương đạo đức của Bác với quyết tâm “Đưa việc học tập và làm theo lời Bác thành nội dung thường xuyên, hành động tự giác của các tổ chức và mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng…” để công việc thực sự đi vào chiều sâu.

Bằng những việc làm cụ thể và thiết thực, toàn Binh chủng đã có những bước tiến vững chắc trong xây dựng vững mạnh về chính trị, dân chủ được mở rộng, sự đoàn kết thống nhất được coi trọng, bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn yên tâm công tác gắn bó với Binh chủng, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Trong 2 năm qua, toàn Binh chủng đã nỗ lực đẩy mạnh thực hiện “Chiến lược phát triển hệ thống thông tin quân sự giai đoạn 2011-2012”, đẩy mạnh xây dựng “Binh chủng học tập”, phát huy hiệu quả “Đơn vị – Binh chủng điện tử”, phong trào thi đua “Ngành hậu cần quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy”, “Chiến sỹ quân y làm theo lời Bác”… . Việc “Làm theo” cũng được đẩy mạnh với nhiều mô hình sáng tạo như các mô hình “Câu lạc bộ tiếng Anh” của Trường Sỹ quan Thông tin, “Câu lạc bộ Báo vụ” của Lữ đoàn 205, “Hũ gạo tiết kiệm” của Lữ đoàn 596… Các mô hình đã và đang nhân rộng, mang lại hiệu quả thiết thực tác động tích cực đến việc xây dựng tổ chức, xây dựng con người, góp phần bảo đảm thông tin liên lạc kịp thời thông suốt vững chắc trong mọi tình huống.

Với tất cả tấm lòng hướng về Bác kính yêu, mọi cán bộ chiến sỹ tự soi mình vào tấm gương đạo đức sáng ngời của Bác để: Tự gột rửa, tự phê bình và phê bình nghiêm túc, chân thành thẳng thắn gắn với đẩy mạnh phong trào thi đua quyết thắng tạo được phong trào “Làm theo” tự giác ở mọi lúc mọi nơi. Những tấm gương tiêu biểu đang học tập và làm việc theo Bác xuất hiện ngày càng nhiều trên mọi lĩnh vực công tác mà đại diện tiêu biểu là 67 đại biểu của các tập thể và cá nhân điển hình vinh dự về báo công dâng Bác – đó là những bông hoa tươi thắm trong vườn hoa thành tích của Binh chủng Thông tin liên lạc.

Trước yêu cầu mới của nhiệm vụ cách mạng, tiếp bước thế hệ của cha anh đi trước, cán bộ, chiến sỹ Binh chủng đã hứa với Bác tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác, tích cực phấn đấu xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” góp phần xây dựng Binh chủng Thông tin liên lạc cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại./.

Vân Phương

Theo bqllang.gov.vn
Vkyno (st)

Đoàn cán bộ Ủy ban Kiểm tra Đảng, Bộ Quốc phòng Lào vào Lăng viếng Bác

Trong chuyến thăm và làm việc với Uỷ ban Kiểm tra Quân uỷ Trung ương, sáng ngày 13/6/2013, Đoàn cán bộ Uỷ ban Kiểm tra Đảng, Bộ Quốc phòng Lào do đồng chí Thiếu tướng Sụ-băn Hun-nạ-chăm-pa, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Lào, Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Đảng, Bộ Quốc phòng Lào làm Trưởng đoàn đã đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tham quan Khu Di tích Phủ Chủ tịch.

Lao
Đại tá Phạm Văn Lập, Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng
giới thiệu với Đoàn về nhiệm vụ giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trước khi vào Lăng viếng Bác, Đoàn đã được đồng chí Đại tá Phạm Văn Lập, Bí thư Đảng uỷ Đoàn 969, Chính uỷ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đón và giới thiệu về nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Các thành viên trong Đoàn đều vui mừng, phấn khởi khi được biết trong suốt gần 44 năm qua, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn phát huy truyền thống: “Trung hiếu vẹn toàn, đoàn kết hiệp đồng, tự lực tự cường, chủ động sáng tạo” hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, thi hài Bác luôn được giữ gìn ở trạng thái tốt nhất; nhiệm vụ đón tiếp tuyên truyền được quan tâm thực hiện với tinh thần tận tình, chu đáo. Mỗi ngày có hàng vạn lượt đồng bào trong nước và khách nước ngoài đến viếng Bác và tham quan khu vực Lăng.

Lao 1Đoàn cán bộ Uỷ ban Kiểm tra Đảng, Bộ Quốc phòng Lào chụp ảnh lưu niệm bên Lăng Bác

Trân trọng tình cảm của các bạn Lào đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tá Phạm Văn Lập đã trao tặng Huy hiệu Bác Hồ cho các đồng chí cùng đi, đây là phần thưởng cao quý mà sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh dành tặng cho các cá nhân có nhiều thành tích.

Cảm động trước sự đón tiếp tận tình, chu đáo của đơn vị, đồng chí Thiếu tướng Sụ-băn Hun-nạ-chăm-pa, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Lào, Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Đảng, Bộ Quốc phòng Lào xúc động cho biết, lần sang thăm Việt Nam lần này vô cùng ý nghĩa, được hiểu thêm về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người đã đặt nền móng cho tinh thần đoàn kết hữu nghị giữa hai nước Việt Nam và Lào mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững.

Lã Hồng Hảo

Theo bqllang.gov.vn
Vkyno (st)

Bông hoa đẹp trong vườn hoa của Bác

Hướng tới kỷ niệm 65 năm Ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948 – 11/6/2013), hưởng ứng Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Công an nhân dân vì nước quên thân, vì dân phục vụ”, thiết thực kỷ niệm 123 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2013), cán bộ chiến sỹ Trung đoàn 375 đã không ngừng nỗ lực phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Trong quá trình “sống, chiến đấu, theo gương Bác Hồ vĩ đại” đã xuất hiện nhiều tấm gương người tốt việc tốt đáng biểu dương. Gần đây nhất là tấm gương đồng chí Thượng úy Nguyễn Đình Kiên, sinh năm 1980, chiến sỹ Trung đội 10, Đại đội 3, Trung đoàn 375 đã dũng cảm quên mình truy bắt tội phạm.

ảnh nguyễn đình kiênĐồng chí Thượng úy Nguyễn Đình Kiên

Ngày 01/6/2013, trong khi thực hiện nhiệm vụ tuần tra đảm bảo an ninh trật tự khu vực và hỗ trợ bảo vệ mục tiêu tuyến đường Ngọc Hà – Lê Hồng Phong, đồng chí Thượng úy Nguyễn Đình Kiên đã phát hiện ra 02 đối tượng giật tài sản của một người phụ nữ. Với tinh thần dũng cảm, ý thức trách nhiệm sẵn sàng quên mình của người chiến sỹ Công an nhân dân, đồng chí Nguyễn Đình Kiên đã quyết truy đuổi, tấn công và vận động quần chúng nhân dân cùng tham gia đuổi bắt đối tượng.

Sau khi quyết liệt truy đuổi, đồng chí đã bắt được đối tượng Phạm Quốc Đạt, sinh năm 1991, trú quán tại số 14, ngõ 2 Tô Hoàng, Hai Bà Trưng (Hà Nội). Phạm Quốc Đạt là đối tượng có 02 tiền án. Quần chúng nhân dân bắt được đối tượng thứ hai là Đỗ Trung Kiên sinh năm 1985, trú quán tại số 3, Bạch Mai, Hai Bà Trưng (Hà Nội). Đối tượng này có 01 tiền án, 01 tiền sự. Đồng chí đã cùng người dân xung quanh dẫn giải 02 đối tượng cùng tang vật bàn giao cho Công an phường Đội Cấn kịp thời giải quyết.

Hành động cao đẹp của đồng chí Thượng úy Nguyễn Đình Kiên càng làm sáng lên hình ảnh người chiến sỹ công an dũng cảm quên mình bảo vệ cuộc sống yên vui, hạnh phúc của nhân dân, đã góp phần tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của Lực lượng Cảnh vệ trong lòng quần chúng nhân dân. Đồng chí xứng đáng là bông hoa đẹp trong vườn hoa của Bác và là tấm gương sáng để toàn thể cán bộ chiến sỹ noi theo.

Hương Lan

Theo bqllang.gov.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 1 (Năm 1927)

Đầu năm

Cuốn Đường cách mệnh32, tập hợp các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các khoá huấn luyện chính trị của Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Quảng Châu, được Bộ Tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức xuất bản tại Quảng Châu (Trung Quốc).

Sách khổ 13 x 18 cm, in giấy nến, kiểu chữ viết thường.

Nội dung cuốn sách phân chia theo từng vấn đề và số trang cũng được đánh theo từng vấn đề, không đánh liền cho cả cuốn sách. Có 15 vấn đề sau đây:

1.         Tư cách một người cách mệnh.

2.         Vì sao phải viết sách này?

3.         Cách mệnh.

4.         Lịch sử cách mệnh Mỹ.

5.         Cách mệnh Pháp.

6.         Lịch sử cách mệnh Nga.

7.         Quốc tế.

8.         Phụ nữ quốc tế.

9.         Công nhân quốc tế.

10.        Cộng sản Thanh niên quốc tế.

11.        Quốc tế giúp đỡ.

12.        Quốc tế cứu tế đỏ.

13.        Cách tổ chức công hội.

14.        Tổ chức dân cày.

15.        Hợp tác xã.

Các vấn đề trên được trình bày ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu.

Cuốn sách này nằm trong loạt sách do Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên xuất bản ở Quảng Châu nhằm giới thiệu về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

            –  Đường cách mệnh, in năm 1927. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.257 – 318.

Tháng 1, ngày 31

Nguyễn Ái Quốc viết bài thứ sáu về Các sự biến ở Trung Quốc của đặc phái viên của chúng tôi, chủ yếu giới thiệu Tuyên bố của Chính phủ Quốc dân về thái độ và ý đồ ngoại giao của mình. Theo Nguyễn Ái Quốc, đó là một bản tuyên bố rõ ràng và cương quyết, làm cho người ta không còn nghi ngờ gì về chính sách đối ngoại của Chính phủ Quốc dân.

Sau khi giới thiệu những nội dung cơ bản trong bản Tuyên bố, Nguyễn Ái Quốc khẳng định:

“1) Các cường quốc phải thay đổi chính sách ở Trung Quốc theo thực tế và những đòi hỏi hiện tại; 2) Chính phủ Quốc dân do những người Trung Quốc dân tộc chủ nghĩa ủng hộ sẽ đấu tranh giành lại độc lập hoàn toàn về chính trị và lãnh thổ của Trung Quốc; 3) Chính phủ Quốc dân quyết định xem xét với tinh thần công bằng tình hình của kiều dân nước ngoài, sẵn sàng thương lượng với các cường quốc nước ngoài, những cường quốc này không có nguy hiểm nào trong việc thương lượng và thoả thuận với Chính phủ Quốc dân mà quyền lực của nó dựa trên một lực lượng không khoan nhượng và vô địch: đó là chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc”.

Nguyễn Ái Quốc còn tiên đoán tuyên bố này của Chính phủ Quốc dân sẽ trở thành đối tượng của nhiều cuộc tranh cãi trong các giới ngoại giao nước ngoài và chắc chắn sẽ có hiệu quả tức thì đối với chính sách của các cường quốc nước ngoài ở Trung Quốc.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.480 – 484.

Tháng 2, ngày 14

Nguyễn Ái Quốc viết bài thứ bảy về Các sự biến ở Trung Quốc của đặc phái viên của chúng tôi, thông báo về diễn biến tình hình ở Hán Khẩu, ở Dương Tử, ở miền Bắc, đặc biệt là về thái độ của các cường quốc nước ngoài.

Thông tin những ý kiến trái ngược nhau về giải pháp ngoại giao của Anh đối với tình hình Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc vạch rõ đó chỉ là những kế hoãn binh, “những lý do khéo léo nhất để che đậy mục đích thực sự của chính sách hăm dọa của Anh”, mặt khác cũng chứng tỏ sự lúng túng của Anh và của các nước đế quốc khác trước tuyên bố của Chính phủ Quốc dân.

Nguyễn Ái Quốc còn đưa ra một nhận định: “Ở Trung Quốc, cũng như ở châu Âu, chính sách đối ngoại của Anh hình như bị chi phối bởi nỗi lo sợ thấy chủ nghĩa bônsêvích lan rộng trên lãnh thổ của mình, hay ở những nước tự trị và thuộc địa, trong những thần dân của Anh. Các nhà chính khách Anh không ngần ngại tuyên bố rằng đường lối xôviết ở Trung Quốc còn có mục đích làm áp lực đối với chính sách của Anh ở châu Âu, nhằm làm cho chính sách của Anh mềm đi và bớt cứng rắn theo quan điểm xôviết”.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.485 – 489.

Tháng 2, ngày 20

Nguyễn Ái Quốc viết bài Khổng Tử nhân việc Chính phủ Trung Hoa dân quốc ban hành quyết định: từ nay về sau, xóa bỏ những nghi lễ tưởng niệm Khổng Tử, những khoản dự chi cho những cuộc nghi lễ ấy cũng như những đền thờ ông sẽ được sử dụng làm các trường học công.

Sau khi ca tụng đạo đức, học vấn, kiến thức của Khổng Tử đã khiến những người cùng thời và hậu thế phải khâm phục, bằng quan điểm lịch sử, tác giả đã phân tích mặt tích cực cũng như tiêu cực trong học thuyết của Khổng Tử.

Cuối cùng, tác giả viết:

“Với việc xóa bỏ những lễ nghi tưởng niệm Khổng Tử, Chính phủ Trung Quốc đã làm mất đi một thể chế cũ và trái với tinh thần dân chủ. Còn những người An Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình, về mặt tinh thần bằng đọc các tác phẩm của Khổng Tử, và về mặt cách mạng thì cần đọc các tác phẩm của Lênin”.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 452-454.

Tháng 2

Nguyễn Ái Quốc chủ trương ra tờ báo Lính cách mệnh nhằm tuyên truyền giác ngộ binh lính người Việt Nam. Báo Lính cách mệnh số 1 được ra vào tháng 2-1927 tại Quảng Châu (Trung Quốc). Tờ báo khổ 13 x 19cm, in rônêô. Nguyễn Ái Quốc là cây bút chính. Ngoài ra, còn có Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lê Duy Điếm, là những biên tập viên của tờ báo này.

            –  Báo Lính cách mệnh. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            –  Nguyễn Thành: Báo chí cách mạng Việt Nam (1925 – 1945), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1984, tr.43.

Tháng 4, sau ngày 12

Mặc dù ở Quảng Châu đã nổ ra cuộc đảo chính của Tưởng Giới Thạch và những cuộc đàn áp khủng bố các lực lượng cách mạng diễn ra khắp thành phố, Nguyễn Ái Quốc vẫn tiếp tục ở lại Quảng Châu để bí mật liên lạc với các đồng chí Trung Quốc và duy trì công việc của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.

            –  T.Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, tr.32-33.

Tháng 5, đầu tháng 1)

Vào một đêm khuya, Nguyễn Ái Quốc được Trương Vân Lĩnh, một người Việt Nam tốt nghiệp Trường quân sự Hoàng Phố đang làm việc ở Sở Công an của chính quyền Tưởng Giới Thạch, đến báo tin: “Chúng sắp bắt anh đấy! Tính thế nào, anh phải tính nhanh đi!”. Nguyễn Ái Quốc liền bí mật đi Hương Cảng.

Đến Hồng Kông, Người bị Sở mật thám Anh xét hỏi. Chúng buộc Người rời Hồng Kông trong 24 giờ.

Nguyễn Ái Quốc đi Thượng Hải. Tại đây bọn Quốc dân Đảng cũng đang khủng bố gắt gao. Người phải vào ở khách sạn thật sang, ăn mặc thật đẹp để che mắt mật thám. Sau đó đáp tàu từ Thượng Hải đi Vlađivôxtốc (Liên Xô) 2).

        –  T.Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, tr.33.

        –  Bút tích bức thư Nguyễn Ái Quốc gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, tháng 6-1927. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 6, ngày 25

Từ Mátxcơva, với tư cách là đại biểu Việt Nam trong Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã gửi thư cho Chi bộ Cộng sản Trường đại học Phương Đông, thông báo quyết định của Ban Phương Đông, Ban Bí thư latinh của Quốc tế Cộng sản và đại diện Đảng Cộng sản Pháp ở Ban Chấp hành về việc thành lập một nhóm cộng sản Việt Nam gồm 5 người: Phon Shon, Le Man, Jiao, Min Khan, Le Quy 3) – do Le Quy làm Bí thư và yêu cầu chi bộ nhà trường cử cán bộ phụ trách việc giáo dục cộng sản cho nhóm “để họ học cách làm việc” và “để đào tạo các đồng chí đó theo sinh hoạt của Đảng”.

            –  Bút tích bức thư ngày 25-6-1927. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 240.

Tháng 6

Tại Mátxcơva, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản báo cáo những kết quả chính đã làm trong thời gian công tác ở Quảng Châu, tình hình sau cuộc đảo chính của Tưởng Giới Thạch (tháng 4-1927), những ý kiến của Đôriô (Doriot) 4) và Vôitinxki về công tác của Nguyễn Ái Quốc khi họ gặp nhau ở Vlađivôxtốc…

Thư cho biết, trong thời gian từ năm 1924 đến năm 1927, “mặc dù thiếu thời gian và tiền, nhờ sự giúp đỡ của các đồng chí người Nga và An Nam, chúng tôi đã có thể: 1) Đưa 75 thanh niên An Nam đến học ở Trường tuyên truyền do chúng tôi tổ chức ở Quảng Châu; 2) Xuất bản 3 tờ báo nhỏ; 3) Phái những người tuyên truyền vừa mới được đào tạo về Xiêm, Trung Kỳ, Bắc Kỳ và Nam Kỳ; 4) Thành lập một liên đoàn cách mạng do một ủy ban gồm 5 ủy viên ở tại Quảng Châu lãnh đạo, liên đoàn đã bắt rễ khắp nơi trong tất cả các xứ Đông Dương đó”.

Sau khi cuộc đảo chính nổ ra, “3 trong số 5 ủy viên của Uỷ ban Đông Dương chúng tôi bị bắt giữ, tôi suýt bị bắt… trụ sở của chúng tôi bị cảnh sát đến khám xét và giám sát. Khi đó, tôi chỉ còn cách là phải chọn gấp giữa hai con đường hoặc là để bị bắt hay tiếp tục qua Mátxcơva về công tác ở Xiêm”.

Trong thư, Nguyễn Ái Quốc cũng nêu quan điểm của mình giữa việc về công tác ở Xiêm theo ý kiến của Đôriô hay về công tác ở Thượng Hải (Trung Quốc) theo ý kiến của Vôitinxki, và trình bày một yêu cầu về kinh phí cho chuyến đi từ Liên Xô về Đông Dương qua Xiêm và “thời gian cư trú ở thuộc địa này khoảng chừng 2 năm”.

Cuối thư, Nguyễn Ái Quốc viết: “Trong khi chờ đợi quyết định của các đồng chí, xin các đồng chí vui lòng: 1) Đưa tôi vào bệnh viện; 2) Khi tôi ra viện cho phép tôi được học vài kinh nghiệm cần thiết cho công tác của tôi; 3) Và cho tôi lên đường càng sớm càng tốt”.

            – Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.241-244.

Tháng 7

Nguyễn Ái Quốc vì lý do sức khỏe được Quốc tế Cộng sản bố trí đi điều trị tại bệnh viện.

            –  Thư của Nguyễn Ái Quốc gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, ngày 12-4-1928. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 8, đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc đi nghỉ tại nhà an dưỡng mang tên Lênin ở Éppatôria vùng Crưm bên bờ biển Hắc Hải.

            –  Bưu thiếp của Nguyễn Ái Quốc gửi Ph. Biu. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 8, trước ngày 8

Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho Phrăngxoa Biu (Francois Billoux) làm việc tại Quốc tế Cộng sản.

Bức thư viết trên bưu ảnh, nội dung như sau:

“Đồng chí thân mến,

Nhờ đồng chí nói với nữ đồng chí thay chị Mácgô rằng, nếu tôi có thư từ gì xin gửi theo địa chỉ dưới đây:

Ái Quốc

Krưm – Éppatôria

Nhà an dưỡng Lênin.

Xin chào tất cả”.

            –  Bưu ảnh của Nguyễn Ái Quốc gửi Ph. Biu. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            –  Ph. Biu: Bác Hồ của chúng tôi. In trong tập Bác Hồ ở Pháp, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1970, tr.43-44.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.245.

Tháng 9, ngày 28

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc, ký bút danh Wang, nhan đề Những tội ác kinh khủng của chủ nghĩa đế quốc Pháp ở Đông Dương, đăng trên Tập san Inprekorr bản tiếng Pháp, số 99, và các bản tiếng Đức và tiếng Anh.

Tác giả tố cáo việc đế quốc Pháp “mộ phu” người Đông Dương sang khai thác các thuộc địa khác của Pháp và vạch trần âm mưu bẩn thỉu, thủ đoạn tàn bạo để vét dân bản xứ đem bán làm nô lệ, từ việc lợi dụng tình trạng khốn khổ của họ do đói kém, do nợ lãi, do những gánh nặng của “công cuộc khai hóa”, đến cả việc tổ chức bắt cóc người.

Bài báo dành một phần mô tả thảm cảnh của những người dân bản xứ được “tuyển mộ” này: họ được chất đống trong hầm tàu; luôn luôn bị đày đọa; dày vò vì đói và khát; ốm đau thì bị quăng xuống biển để tránh “truyền nhiễm”; phụ nữ tuy được mang theo con nhỏ, nhưng lên tàu rồi thì đứa trẻ bị vứt xuống nước để “giảm bớt những miệng ăn không cần thiết”; trên tàu, những tên lính tay súng lăm lăm canh gác họ và khi sống sót được tới đảo, họ bị nhốt trong các chuồng để chờ các ông chủ đến mua bán như những con vật.

            –  Bút tích bài báo. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 246-248.

Tháng 10, ngày 3

Nguyễn Ái Quốc viết thư cho đồng chí K.Vacne, một thư ký của Ban thư ký Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, đề nghị cho ba người mới bị ốm 5) và một người ốm chưa khỏi hẳn đi bệnh viện.

            –  Hồ sơ của Trung tâm lưu trữ và nghiên cứu các tư liệu lịch sử hiện đại Nga, phông 531.1.52.

            –  Theo A.A.Xôkôlốp: Quốc tế Cộng sản và Việt Nam, bản tiếng Nga, Nxb. Mátxcơva, 1998, tr.33.

Tháng 10, ngày 15

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc, ký bút danh N.K., nhan đề Sự thống trị của đế quốc Pháp ở Đông Dương, đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp, số 104.

Bài báo tố cáo âm mưu của đế quốc Pháp trong việc gây ra cuộc xung đột “Hoa – Việt”vạch trần tính chất bịp bợm, mị dân của cái gọi là Viện “Đuma” An Nam do chúng nặn ra và kết tội chính chủ nghĩa đế quốc Pháp là nguyên nhân của mọi tai họa mà người dân xứ Đông Dương đang phải gánh chịu.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.249-254.

Tháng 11

Nguyễn Ái Quốc được Quốc tế Cộng sản cử đi Pháp công tác.

            –  Thư của Nguyễn Ái Quốc gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản ngày 12-4-1928. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 12, đầu tháng

Nhận sự phân công của Quốc tế Cộng sản, từ Pháp, Nguyễn Ái Quốc đi dự cuộc họp Đại hội đồng của Liên đoàn chống đế quốc33 (Grand conseil général de La ligue anti impérialistes) từ ngày 9 đến ngày 12-12-1927 tại Brúcxen 6) (Bruxelles) – Thủ đô nước Bỉ.

Cuộc họp có khoảng 50 người tham dự, mở rộng cho các thành viên ngoài hội đồng. Nội dung chính: quyết định thành lập các phân bộ của Liên đoàn ở các nước, bàn về chống chiến tranh thế giới mới, thông qua nghị quyết về Trung Quốc, Ấn Độ, Nicaragoa, Inđônêxia, Đông Dương, Iran; về mối quan hệ của Liên đoàn với Quốc tế II trong vấn đề thuộc địa.

Tại cuộc họp, Nguyễn Ái Quốc đã gặp gỡ và làm quen với Môtilan Nêru (thân sinh cố Thủ tướng J. Nêru), Xucácnô, Katayama Xen, Tống Khánh Linh. Trong thời gian dự họp, Người ở tại một khách sạn phố Rêgin và đã tranh thủ viết một tài liệu về cuộc đấu tranh của nhân dân Cônggô, thuộc địa của Bỉ, nơi Người đã từng đến sống và lao động những ngày tìm đường cứu nước.

            –  Thư của Nguyễn Ái Quốc gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, ngày 12-4-1928. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            –  T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, tr.33.   

            –  Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1980, tr.209.

Tháng 12, ngày 16

Từ Béclin, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân. Toàn văn bức thư như sau:

“Kính gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân.

Các đồng chí thân mến,

Trong 2 hoặc 3 tuần lễ tôi sẽ trở về đất nước tôi. Chuyến đi của tôi tốn chừng 500 đôla Mỹ. Vì tôi không có tiền, nên tôi mong các đồng chí giúp tôi.

Xin vui lòng trả lời tôi ở địa chỉ như sau: Ông Lai, ở nhà ông Écxten, 21 phố Halesơ, Béclin 7)Trong thư trả lời, hãy viết đơn giản “có” hoặc “không”. Nếu là có, hãy gửi tiền đến Uỷ ban Trung ương của Đảng Đức, cho “Liwang”.

Có hay không có tiền, tôi yêu cầu các đồng chí gửi cho tôi một chương trình tổ chức thực hành để tôi có thể làm việc một cách có ích.

Trong khi chờ đợi sự trả lời mà tôi hy vọng có được tức thời, xin gửi các đồng chí thân mến nhận lời chào cách mạng của tôi.

Béclin, ngày 16-12-1927

N. Ái Quốc”

            –  Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.255.

Cuối năm

Nguyễn Ái Quốc viết Công tác quân sự của Đảng trong nông dân34, nêu lên tầm quan trọng của nông dân trong tiến trình cách mạng và đảng của giai cấp vô sản phải hết sức quan tâm tới công tác chính trị và tổ chức (cả về công tác quân sự) trong nông dân.

Thời gian hoạt động ở Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc đã chứng kiến cuộc chiến tranh Bắc phạt do Tôn Trung Sơn phát động nhằm mở rộng thành quả cách mạng ra phạm vi cả nước. Đây là một cuộc chiến tranh chống đế quốc phong kiến của nhân dân Trung Quốc, thực chất là do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo nhưng bề ngoài do Chính phủ Quốc dân tiến hành. Cuộc chiến tranh Bắc phạt được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng nhân dân, đặc biệt là nông dân, nên liên tiếp giành được những thắng lợi về quân sự, lực lượng cách mạng nhanh chóng phát triển, khống chế được quá nửa lãnh thổ Trung Quốc. Song cuối cùng, cuộc Bắc phạt đã thất bại.

Theo dõi chặt chẽ diễn biến của cuộc chiến tranh, suy nghĩ về những sự biến đó, tổng kết những bài học kinh nghiệm, Nguyễn Ái Quốc rút ra kết luận: “Chính sách kém cỏi về vấn đề nông dân của Đảng Cộng sản là một trong những nguyên nhân quyết định làm cho cuộc cách mạng Trung Quốc cuối năm 1927 thất bại”.

Từ thực tiễn của cách mạng Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc cho rằng:

“Đảng của giai cấp vô sản, trước hết ở tất cả các nước nông nghiệp và nửa nông nghiệp, phải quan tâm tới công tác chính trị và tổ chức (cả về công tác quân sự) trong nông dân. Công tác này không được phó thác cho sự may rủi, hay tiến hành gặp chăng hay chớ, một kiểu giống nhau trên khắp cả nước”. Những vấn đề về tổ chức các lực lượng vũ trang trong nông dân, vấn đề xây dựng căn cứ địa, những nguyên tắc trong việc tổ chức du kích và lãnh đạo chiến tranh du kích đã bước đầu được Nguyễn Ái Quốc phân tích và giải quyết về mặt lý luận. Trên cơ sở đó, kết hợp với những bài học của cách mạng thế giới, Nguyễn Ái Quốc rút ra kết luận: “Cuộc cách mạng vô sản không thể thắng lợi ở các nước nông nghiệp và nửa nông nghiệp nếu như giai cấp vô sản cách mạng không được quần chúng nông dân ủng hộ tích cực. Đó là một sự thực hiển nhiên đối với cả hai cuộc cách mạng – cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng vô sản”. Do vậy mà công tác tuyên truyền, tổ chức của đảng với nông dân có tầm quan trọng đặc biệt. “Cách mạng chỉ có thể thắng lợi nếu như những làn sóng cách mạng lay động được quần chúng nông dân dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản”.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 413 – 433.

————————–

1) Theo William Duiker là ngày 5-5-1927.

2) Trong một lá thư gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc ghi tháng 6 tới Mátxcơva.

3) Tức Nguyễn Thế Rục, Ngô Đức Trì, Bùi Công Trừng, Bùi Lâm và Trần Phú (B.T).

4) J. Doriot – đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, cán bộ của Quốc tế Cộng sản (B.T).

5) Theo A. A. Xôkôlốp một trong ba người mới bị ốm là Nguyễn Thế Vinh (em ruột Nguyễn Thế Rục) bí danh là Tăng Hy Hiền.

6) T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện đã nhắc lại một kỷ niệm trong chuyến đi Brúcxen như sau:

“Đến ga xe hỏa thì Bác (tức Nguyễn Ái Quốc khi đó – B.T) gặp đồng chí Xen Câtdâm – người sáng lập Đảng Cộng sản Nhật. Vì tuổi già, đồng chí được đoàn thể cấp vé hạng nhất. Khi thấy Bác đi hạng ba, đồng chí cũng quyết định đi hạng ba, mặc dù Bác khẩn khoản mời đồng chí đi hạng nhất cho khoẻ khoắn”.

7) Nguyên văn: M. Lai, chez M., Ecckstein, 21 Halle-chastransse, Berlin (B.T).

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Chủ tịch Hồ Chí Minh với nước Nga

Cách đây 90 năm, ngày 30/6/1923, Nguyễn Ái Quốc lần đầu tiên đặt chân đến nước Nga, trực tiếp nghiên cứu lý luận và thực tiễn chủ nghĩa xã hội hiện thực theo hình mẫu nước Nga Xô-viết và “Chính Người đã đặt nền tảng cho mối quan hệ lịch sử đặc biệt giữa hai dân tộc Việt – Nga” – Đó là khẳng định của các đại biểu tại buổi Hội thảo khoa học “Chủ tịch Hồ Chí Minh với nước Nga” được tổ chức ngày 04/6/2013 tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

hoi-thao-kh-b
Hội thảo khoa học “Chủ tịch Hồ Chí Minh với nước Nga”

Theo Tiến sĩ Evgeny Kobelev, Trưởng ban Việt Nam, Viện Các vấn đề Viễn Đông – Viện Hàn lâm Khoa học Liên bang Nga, Phó Chủ tịch thứ nhất Hội Hữu nghị Nga – Việt kể lại: Năm 1975, tôi bắt đầu viết sách về Hồ Chí Minh, khi đó tôi làm ở Vụ Quốc tế của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô nên được phép tiếp cận các tài liệu về Việt Nam trong số tài liệu lưu trữ của Quốc tế cộng sản. Và một trong những tài liệu đầu tiên tôi nhìn thấy là “Giấy chứng nhận đi đường” do Đại diện của nước Nga Xô-viết ở Đức cấp cho “Nhà nhiếp ảnh Trần Vang, sinh ra ở Đông Dương”. Nhà nhiếp ảnh Trần Vang đi trên tàu thủy “Hamburg” của Đức vào Petrograd (tức S.Peterburg hiện nay) ngày 30-06-1923. Tấm ảnh của Hồ Chí Minh thời trẻ dán trên tấm giấy chứng nhận và dấu của đồn biên phòng cảng Petrograd ghi rõ ngày nhập cảnh của vị hành khách nước ngoài này là minh chứng cho điều đó.

Nguyễn Ái Quốc bỏ qua các học thuyết và hình mẫu cách mạng khác để đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, với bài học Cách mạng Tháng Mười và nước Nga vô sản, bởi Người đã đặt trọn niềm tin ngay từ khi đọc Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lê-nin: “Luận cương của Lê-nin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. Từ đó, lập trường của Người đứng hẳn về chủ nghĩa Mác-Lênin: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, kách mệnh nhất là chủ nghĩa Mác-Lênin”. Và Người còn khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(1).

Trong những năm 1923-1924, Nguyễn Ái Quốc theo học tại Đại học Phương Đông ở Mát-xcơ-va; từ tháng 4/1924 làm việc tại Ban Phương Đông, Quốc tế Cộng sản; tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản thanh niên lần thứ IV (tháng 6/1924) và Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản (tháng 7/1924). Trên đất nước Cách mạng tháng Mười Nga, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực hoạt động tuyên truyền chính trị dưới nhiều hình thức, tham gia nói chuyện tại các cuộc mít tinh, biểu tình, tham dự các đại hội, hội nghị quan trọng của Quốc tế Cộng sản. Nguyễn Ái Quốc cũng đã dành nhiều thời gian tìm hiểu về chính quyền cách mạng Xô-viết, về đời sống giai cấp công nhân, nhân dân lao động. Người đã tìm thấy ở nước Nga những kinh nghiệm quý báu để giành độc lập tự do cho dân tộc và trở thành người bạn thân thiết của nhân dân Nga.

Nhà thơ nổi tiếng Nga Osip Mandelstam sau khi gặp Nguyễn Ái Quốc từ năm 1923 đã viết: “Trọn vẹn hình ảnh Nguyễn Ái Quốc toát lên sự lịch thiệp, sự tinh tế bẩm sinh… toát lên hơi thở văn hóa, không phải hơi thở văn hóa Châu Âu, có lẽ là hơi thở văn hóa tương lai”(2). Năm 1926, Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho Trung ương Đội Thiếu niên tiền phong Liên Xô đề nghị đưa tám thiếu niên Việt Nam sang đây học tập để trở thành những chiến sĩ cộng sản Lênin-nit.

Trong những năm Chiến tranh thế giới lần thứ 2, Nguyễn Ái Quốc luôn đặt niềm tin vào thắng lợi của phe Đồng minh chống phát xít. Tháng 5/1941, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tám tại Pắc Bó, Cao Bằng dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và quyền Tổng Bí thư Trường Chinh đã nhận định: “Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó cách mạng nhiều nước thành công…” .

Đến ngày 13/8/1945, Nhật đầu hàng Đồng minh, thời cơ cách mạng đã chín muồi, Nguyễn Ái Quốc đã nêu quyết tâm: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được tự do độc lập!”, phát động Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám thành công.

Trong Lễ Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập”.

hoi-thao-kh-a
Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương, Trưởng ban Ban Quản lý Lăng kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng
Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu tại Hội thảo

Những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1945- 1954, sau tuyên bố của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc lập quan hệ ngoại giao với các nước trên thế giới, Liên Xô là một trong những nước đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào ngày 30/01/1950. Sau Liên Xô, hàng loạt các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Sự kiện vô cùng quan trọng này đã tạo điều kiện để nước Việt Nam nhận được sự giúp đỡ to lớn về tinh thần và vật chất từ bầu bạn quốc tế, góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước ác liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt niềm tin vào Liên Xô, “Thành trì của phe xã hội chủ nghĩa”. Tháng 10/1957, trong bài “Liên Xô vĩ đại”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Không có lực lượng gì ngăn trở được mặt trời mọc. Không có lực lượng gì ngăn trở được lịch sử loài người tiến lên. Cũng không có lực lượng gì ngăn trở được chủ nghĩa xã hội phát triển”(3).

Sau khi Liên Xô phóng thành công tàu vũ trụ có người lái, Người coi đó là thành tựu vĩ đại của phe xã hội chủ nghĩa. Năm 1961, Anh hùng vũ trụ Liên Xô Ghecman Titov được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời sang Việt Nam. Người trực tiếp đưa nhà du hành vũ trụ Ghecman Titov lên thăm Khu căn cứ K9, tại Đá Chông, Ba Vì, Sơn Tây (nay là Ba Vì, Hà Nội) và sau đó đi tham quan vịnh Hạ Long.

Thể hiện tình cảm của nhân dân ta, Người nói: “Bác nghĩ đồng chí Ghecman Titov không thể ở Việt Nam với chúng ta mãi được. Chúng ta sẽ giữ đồng chí ấy theo cách khác. Chúng ta tặng đồng chí hòn đảo này… Từ nay hòn đảo này mang tên Titov”. Từ đó trên vịnh Hạ Long của Việt Nam có một hòn đảo mang tên Titov. Tình cảm chân thành của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã nhận được sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa của Nhà nước và nhân dân Liên Xô trong sự nghiệp giải phóng đất nước và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Ghi nhận công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình vun đắp tình hữu nghị Việt Nam – Liên Xô, Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô đã có ý định trao tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh Huân chương Lênin – Huân chương cao quý nhất của Liên Xô, nhưng Người đã khéo léo từ chối. Sau này, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời (2/9/1969), Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô đã giúp Việt Nam giữ gìn lâu dài thi hài Bác và xây dựng Công trình Lăng của Người.

Theo Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương, Trưởng ban Ban Quản lý Lăng, kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh cho biết: Ngay từ năm 1967, Liên Xô đã giúp đỡ đào tạo chuyên ngành giữ gìn thi hài cho 3 bác sỹ của Việt Nam. Trong những ngày Bác lâm bệnh nặng, Bạn đã cử 5 chuyên gia y tế sang để chuẩn bị giữ gìn thi hài khi Người đi xa. Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương nhấn mạnh: “Gần nửa thế kỷ trôi qua, nhiều thế hệ chuyên gia y tế, kỹ thuật của Liên Xô và Liên bang Nga đã dành nhiều tình cảm tốt đẹp, dành nhiều thời gian, công sức để nghiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ, truyền thụ kinh nghiệm, cũng như trực tiếp tham gia nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng Công trình Lăng của Người”.

Ngày nay, quan hệ giữa Việt Nam và Liên bang Nga ngày càng phát triển, trở thành đối tác chiến lược toàn diện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, đối ngoại, văn hóa khoa học, góp phần thúc đẩy sự phát triển của mỗi nước. Song chúng ta mãi biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người đặt nền móng và vun đắp cho tình hữu nghị Việt Nam – Liên Xô trước đây, Liên bang Nga ngày nay.

Đúng như ngài Andrei Grigorievich Kovtun, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên bang Nga tại Việt Nam đã phát biểu: Ở Việt Nam có câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn”; “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Nga cũng có câu thành ngữ có ‎ nghĩa gần giống như thế:“Gieo gì gặt nấy”. Khi được hưởng thành quả hợp tác nhiều mặt Nga – Việt Nam, chúng ta tự hào nhớ lại rằng: Người đứng ở ngọn nguồn hợp tác, người cách đây nhiều năm trồng cây hữu nghị Việt – Nga chính là Hồ Chí Minh. Tôi tin tưởng rằng, ngày nay, chúng ta trân trọng giữ gìn di sản quí‎ báu đó, phát huy những truyền thống tốt đẹp đã được tích lũy bao năm qua, để thừa kế lại cho con cháu chúng ta một cây hữu nghị lớn mạnh, sâu rễ bền gốc, xứng đáng với tên tuổi lẫy lừng Hồ Chí Minh./.

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, xuất bản lần thứ hai, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.9,  tr. 314; (2) Sách “Người Nga nói về Hồ Chí Minh”, Hà Nội, 2010, tr.16; (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, xuất bản lần thứ hai, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.8,  tr. 556-557.

Hữu Mạnh, Ngọc Hà

Giữ nguyên tên nước như Hiến pháp hiện hành là hoàn toàn phù hợp

Lực lượng CAND góp ý vào “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992”:

Việc giữ nguyên tên nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ tránh những xáo trộn không cần thiết trong công tác quản lý hành chính Nhà nước và tránh lãng phí lớn do phải thay đổi quốc huy, con dấu, quốc hiệu trên hệ thống tiền tệ, các văn bản, giấy tờ hành chính…

Sau một thời gian tổ chức lấy ý kiến sâu rộng trong toàn lực lượng Công an nhân dân về việc góp ý kiến vào “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992” gửi Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, đến nay Bộ Công an đã bổ sung thêm những đóng góp tâm huyết vào Dự thảo để khi Hiến pháp được Quốc hội thông qua sẽ thực sự phù hợp với tình hình xây dựng và phát triển đất nước trong tình hình hiện nay. Trao đổi với phóng viên Báo CAND về vấn đề này, Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Vi Dân, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Công an cho biết:

Quá trình tập hợp các ý kiến đóng góp của toàn thể cán bộ, chiến sĩ, lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong lực lượng Công an và các nhà khoa học trong lực lượng Công an vào “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992”, Bộ Công an cho thấy, tất cả các ý kiến đóng góp đều thể hiện quan điểm, giữ nguyên tên nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được quy định tại Điều 1 của dự thảo.

Tên nước là thiêng liêng, liên quan đến chế độ chính trị, kinh tế, xã hội, định hướng cách mạng, phương hướng phát triển của đất nước, dân tộc, liên quan đến bản chất, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước, tư tưởng, tâm lý của nhân dân và sự nhìn nhận, đánh giá của cộng đồng quốc tế… Vừa qua, có một số ý kiến đặt vấn đề đổi tên nước trong thời điểm hiện nay là không phù hợp, bởi lẽ:

Thứ nhất, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là tên gọi đã được Quốc hội khóa VI quyết định vào ngày 2/7/1976 sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, cả nước thống nhất, non sông thu về một mối, cùng đi lên chủ nghĩa xã hội và tên nước được sử dụng ổn định cho đến nay. Tên nước đã gắn với giai đoạn hòa bình, độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là tên gọi khẳng định rõ con đường, mục tiêu mà chúng ta đang đi và hướng đến là phấn đấu thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Tên gọi Việt Nam dân chủ cộng hòa phù hợp với các giai đoạn của cách mạng trước năm 1975 ở nước ta, đó là thời kỳ đất nước thực hiện cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Thể chế Việt Nam dân chủ cộng hòa vận động trong thời kỳ cách mạng giải phóng dân tộc, kháng chiến kiến quốc, tạo dựng những nền tảng ban đầu để đi lên chủ nghĩa xã hội. Thể chế đó đã được lịch sử kiểm nghiệm, làm tròn nhiệm vụ lịch sử của nó và được tiếp tục phát triển theo logic bởi thể chế mới là chủ nghĩa xã hội.

Thứ hai, tên gọi Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phù hợp với nền chính trị hiện tại và mục tiêu định hướng phát triển của đất nước ta trong thời gian tới. Sự kiên trì con đường phát triển chủ nghĩa xã hội là quan điểm trước sau như một của Bác Hồ và Đảng ta. Trong điều kiện đổi mới hiện nay, Đảng đã xác định con đường của cả tiến trình đổi mới là kiên định mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng. Thể chế xã hội chủ nghĩa Việt Nam có một quá trình lịch sử đến nay gần 40 năm, đổi mới gần 30 năm, phản ánh rất rõ mục tiêu, lý tưởng của toàn Đảng, toàn dân, thể hiện rõ con đường và sự nghiệp của chúng ta là tiến lên chủ nghĩa xã hội. Thể chế đó cũng khẳng định chúng ta tiến lên chủ nghĩa xã hội. Thể chế đó cũng khẳng định chúng ta đang trong quá trình vận động cách mạng xã hội chủ nghĩa để xây dựng chủ nghĩa xã hội sau khi hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc.

Thứ ba, việc giữ nguyên tên nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ tiếp tục khẳng định mục tiêu, định hướng xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta và bảo đảm ổn định cho hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, giữ gìn niềm tin của cán bộ, công chức và nhân dân vào chế độ, vào Đảng và Nhà nước, tránh những tác động bất lợi, thậm chí có thể bị xuyên tạc là ta đang xa rời mục tiêu, con đường lên chủ nghĩa xã hội và có thể gây phức tạp về chính trị, an ninh, trật tự.

Thứ tư, việc giữ nguyên tên nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ tránh những xáo trộn không cần thiết trong công tác quản lý hành chính Nhà nước và tránh lãng phí lớn do phải thay đổi quốc huy, con dấu, quốc hiệu trên hệ thống tiền tệ, các văn bản, giấy tờ hành chính…

Từ những căn cứ và phân tích trên, quan điểm của Bộ Công an là giữ nguyên tên gọi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992

Nguyễn Hưng (ghi)

Theo cand.com.vn
Vkyno (st)

Quán triệt sáu điều Bác Hồ dạy về tư cách người Công an cách mạng trong xây dựng mối quan hệ mật thiết giữa lực lượng Công an với nhân dân

GS.TS Nguyễn Văn Ngọc, Giám Đốc Học Viện An Ninh Nhân Dân
Trong mối quan hệ với nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn: “Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép”. Theo Người, “Làm công an không phải làm “quan cách mạng”. Làm công an là để giữ trật tự, an ninh cho nhân dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân. Tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh là sự kết tinh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong công cuộc đổi mới đất nước nói chung và đối với việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Công an cách mạng nói riêng. Việc tổ chức học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, quán triệt tư tưởng của Người về tư cách người Công an cách mạng vào công tác, chiến đấu và xây dựng lực lượng là một trong những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng đối với các cấp ủy Đảng, đơn vị trong toàn lực lượng Công an nhân dân (CAND).

Trong thư gửi đồng chí Giám đốc Công an Khu XII ngày 11/3/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu 6 điều dạy về “Tư cách người Công an cách mệnh”. Sáu điều dạy của Bác đã trở thành di sản tinh thần vô cùng quý báu của lực lượng CAND, là cẩm nang, chuẩn mực đạo đức, tư cách, là mục tiêu rèn luyện, phấn đấu, công tác của mỗi cán bộ, chiến sĩ (CBCS) CAND.

Trong mối quan hệ với nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn: “Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép”. Theo Người, “Làm công an không phải làm “quan cách mạng”. Làm công an là để giữ trật tự, an ninh cho nhân dân”. Công an “là một bộ phận của cả bộ máy Nhà nước nhân dân dân chủ chuyên chính tiến lên chủ nghĩa xã hội, công an phải bảo vệ dân chủ nhân dân và thực hiện chuyên chính với những kẻ chống lại dân chủ nhân dân”. Người còn luôn nhắc nhở công an “Phải gần gũi nhân dân, dựa vào lực lượng của nhân dân, xa rời nhân dân thì dù tài tình mấy cũng không làm gì được”. Và Người khẳng định: “Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn. Dân ta rất tốt. Gặp trường hợp nguy hiểm, nếu công an khéo léo thì được dân giúp ngay. Khéo ở đây không phải là cái lối khéo bề ngoài, mà khéo có nghĩa là phải thực sự trung thành, tôn kính, thương yêu dân”. Để đạt được điều đó, công an “phải toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân”, “phải đi đường lối quần chúng”, “phải làm sao cho dân yêu mến, phải nhớ rằng dân là chủ, dân như nước mình như cá, lực lượng bao nhiêu là ở dân hết. Phải làm cho dân mến, khi sắp tới dân mong, khi đi dân tiếc, chớ vác mặt quan cách mạng cho dân ghét, dân khinh, dân không ủng hộ”. Công an phải gần dân, kính trọng và lễ phép với nhân dân.

Thấm nhuần lời dạy của Người, lực lượng CAND đã không ngừng nỗ lực phấn đấu, trưởng thành và hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình, tuyệt đối trung thành với Ðảng, với Tổ quốc, phục vụ nhân dân, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng Huy hiệu của Người cho những cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 600 CANDVT đạt nhiều thành tích trong công tác bảo vệ.

Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, sự nghiệp cách mạng nước ta đang đứng trước những thời cơ và vận hội lớn, đồng thời cũng phải đối mặt với những khó khăn, thách thức không nhỏ. Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay, do tác động của mặt trái kinh tế thị trường “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau”, trong đó, lực lượng CAND cũng không ngoại lệ. Trong lực lượng CAND vẫn có hiện tượng quan liêu, hách dịch, sách nhiễu người dân, thường được phản ánh ở một số lĩnh vực mà CBCS công an thường xuyên tiếp xúc với người dân, dễ xảy ra tiêu cực… Những tiêu cực đó đã và đang làm giảm lòng tin, gây nhiều bức xúc trong nhân dân, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng và mối quan hệ giữa lực lượng công an với quần chúng nhân dân.

Do đó, việc nghiên cứu, quán triệt 6 điều Bác Hồ dạy để làm sâu sắc hơn, xây dựng mối quan hệ mật thiết, gắn bó giữa lực lượng CAND với quần chúng nhân dân là một yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên. Để làm tốt nhiệm vụ này, thời gian tới, lực lượng CAND cần chú ý thực hiện một số nội dung sau:

Một là, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục đạo đức cách mạng, chú ý hướng vào mục tiêu giáo dục ý thức vì nhân dân phục vụ cho CBCS.

Xác định giáo dục, nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng cho CBCS là nhiệm vụ hàng đầu trong công tác xây dựng lực lượng CAND thời kỳ đổi mới. Mục đích, yêu cầu của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng tập trung vào việc bồi dưỡng, tăng cường bản lĩnh chính trị, xây dựng lòng tin vào thắng lợi của công cuộc đổi mới, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng và lợi ích của nhân dân, tận hiếu với nhân dân. Do vậy, nội dung giáo dục cần tập trung vào việc bồi dưỡng lý tưởng cộng sản, trau dồi đạo đức cách mạng cho CBCS CAND. Trong đó cần thường xuyên chú ý xây dựng, bồi dưỡng và củng cố phương châm, lẽ sống đúng đắn cho mỗi CBCS; xây dựng ý thức phục vụ nhân dân, giữ gìn mối quan hệ đoàn kết, gắn bó chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản, cuộc sống bình yên của nhân dân.

Giáo dục chính trị, tư tưởng trong CAND cần phát động và tổ chức thực hiện tốt các phong trào cách mạng. Đặc biệt là triển khai sâu rộng Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh – CAND vì nước quên thân, vì dân phục vụ” gắn với phong trào “CAND học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy”, Cuộc vận động “CAND chấp hành nghiêm điều lệnh; xây dựng nếp sống văn hóa vì nhân dân phục vụ”, các phong trào thi đua “Vì An ninh Tổ quốc”, xây dựng lực lượng CAND cách mạng, trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại. Trong chỉ đạo, cần từng bước đưa phong trào đi vào chiều sâu, chuyển trọng tâm chỉ đạo từ học tập, quán triệt, nâng cao nhận thức sang thực hiện, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Hai là, mỗi CBCS CAND cần phải xây dựng, rèn luyện tác phong quần chúng, dân chủ.

Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới phong cách làm việc của lực lượng CAND, trước hết là tác phong quần chúng. Bác luôn nhắc nhở công an phải làm sao cho dân yêu mến, muốn vậy, CBCS công an phải “vào sâu trong quần chúng”, phải cùng ăn, cùng ở, cùng làm với nhân dân, chịu khó giúp dân trong mọi việc; đồng thời qua đó biết được dân đang suy nghĩ gì, cần cái gì, lo cái gì, muốn cái gì…, trên cơ sở đó mới “tìm mọi cách” để “thực hành những công việc nên làm, những công việc do Chính phủ và đoàn thể đã giao cho”. Làm được như thế thì mới được dân tin, dân phục, dân yêu, dân ủng hộ, dân giúp đỡ, “đi dân nhớ, ở dân thương”.

Theo Hồ Chí Minh, tác phong quần chúng là phải thực hiện “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm” bám sát thực tiễn. Bác đòi hỏi CAND phải kết hợp “óc nghĩ” với “mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”, nghĩa là phải thâm nhập thực tế, chịu khó quan sát, nghe ngóng để biết tình hình.

Tác phong quần chúng còn biểu hiện ở việc “gương mẫu trong lời nói, việc làm, thái độ sao cho người ta thấy rõ mình” là người công an cách mạng. Người chỉ rõ: “Công an nhân dân phải là kiểu mẫu, phải là con người chuyên trách thi hành chính sách, phương châm của Đảng và Chính phủ cho tốt”. Bên cạnh đó, cần xây dựng phong cách ứng xử có văn hóa của người CBCS công an, chấp hành nghiêm điều lệnh CAND, nâng cao ý thức phục vụ nhân dân, trách nhiệm trong công tác.

Ba là, xây dựng cơ chế phát huy vai trò tích cực và quyền làm chủ của quần chúng trên lĩnh vực ANTT.

Kính trọng, lễ phép đối với nhân dân không chỉ dừng lại ở lòng tôn trọng, gần gũi, bảo vệ, chăm lo sự bình yên của nhân dân mà cần xây dựng cơ chế phát huy vai trò tích cực, quyền làm chủ của nhân dân trên lĩnh vực ANTT. Để đạt được điều đó, cần phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm; đề cao vai trò giám sát, góp ý của nhân dân trong xây dựng lực lượng CAND; đồng thời tạo các điều kiện để khuyến khích nhân dân tham gia góp ý kiến, phê bình, xây dựng lực lượng CAND; xây dựng các cơ chế trong công tác để tiếp nhận, xử lý những thông tin phản ánh sự giám sát của nhân dân.

Phát huy vai trò giám sát của nhân dân là một kênh thông tin quan trọng, là con đường để nhân dân tham gia quản lý nhà nước, phòng, chống quan liêu, tham nhũng. Sự giám sát đó cần được thực hiện dưới nhiều hình thức… Các ý kiến thể hiện sự giám sát của nhân dân cần phải được cơ quan, CBCS công an tiếp nhận, trân trọng và giải quyết kịp thời, thỏa đáng, tiếp thu ý kiến phê bình của nhân dân để khắc phục, sửa chữa những khuyết điểm, thiếu sót; khen thưởng, động viên kịp thời.

Bốn là, kiên quyết phê phán, đấu tranh với các biểu hiện quan liêu, hách dịch, sách nhiễu người dân của CBCS, xử lý nghiêm khắc các trường hợp vi phạm.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Làm công an không phải làm “quan cách mạng”, “phải khiêm tốn, nghiêm chỉnh”, “chớ tự kiêu, tự mãn”. Bảo vệ ANTT là một lĩnh vực đặc thù, nên lực lượng CAND được Nhà nước trao cho một số quyền uy riêng biệt. Nếu CBCS công an không thấm nhuần đạo đức cách mạng, không rèn luyện quan điểm, tác phong quần chúng thì rất dễ xảy ra hiện tượng hách dịch, quan cách, sách nhiễu người dân, tham nhũng, tiêu cực… Bác căn dặn, CAND trong thực hiện nhiệm vụ “Phải triệt để sửa đổi tác phong mệnh lệnh, quan liêu, hống hách; phải gây quan hệ thật tốt giữa công an và nhân dân”.

Để phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh với hiện tượng quan liêu, hách dịch, sách nhiễu nhân dân, phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kỷ luật; tăng cường thực hiện nghiêm điều lệnh; đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng nhanh, gọn để phục vụ nhân dân được tốt hơn, đồng thời cũng góp phần hạn chế, loại trừ các hiện tượng tiêu cực của CBCS trong khi làm nhiệm vụ.

Học tập, quán triệt 6 điều Bác Hồ dạy CAND, xây dựng mối liên hệ mật thiết giữa lực lượng công an với quần chúng nhân dân là một yêu cầu quan trọng cần phải được nhận thức đúng đắn và thực hiện thường xuyên, nghiêm túc, góp phần xây dựng lực lượng “Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, được nhân dân tin yêu”

N.V.N.

cand.com.vn
Vkyno (st)

Chỗ này thừa, nơi kia lại quá thiếu

Thành lập các đội trật tự đô thị tại TP HCM:

Sau thời gian dài tính toán, trong ngày 11 và 17/5 vừa qua, TP Hồ Chí Minh đã liên tiếp có các quyết định tổ chức, sắp xếp lại lực lượng thanh tra xây dựng. Theo đó, Sở Xây dựng sẽ thành lập thêm 24 đội thanh tra địa bàn trên cơ sở các đội thanh tra xây dựng ở cấp quận, huyện hiện nay.

Trong tổng số gần 3.000 thanh tra, cộng tác viên thanh tra xây dựng các cấp trước đây, hiện Sở Xây dựng đã chọn được khoảng 860 cán bộ, nhân viên thanh tra đủ điều kiện để tuyển về các đội thanh tra phụ trách địa bàn quận, huyện. So với biên chế được duyệt là 1.060 thì hiện thanh tra xây dựng chỉ còn thiếu khoảng 200 người.

Ngoài phương án sắp xếp trên, lực lượng thanh tra và cộng tác viên thanh tra xây dựng còn lại gần 1.900 người cũng được chính quyền thành phố cho phép các quận, huyện được thành lập thêm các đội trật tự đô thị trực thuộc phòng quản lý đô thị. Lực lượng trật tự đô thị được xác định sẽ chỉ tập trung kiểm tra, xử lý các lĩnh vực như trật tự lòng lề đường, vệ sinh môi trường, thi hành các quyết định hành chính của UBND quận, huyện và những nhiệm vụ khác do quận, huyện giao. Tuy nhiên, để bố trí việc làm cho tất cả số lượng thanh tra, cộng tác viên xây dựng còn dôi dư, phương án được đưa ra là bình quân mỗi đội quản lý trật tự đô thị quận, huyện sẽ có 24 công chức và 54 cộng tác viên.

Với cách sắp xếp này, thực tế quỹ lương ngân sách thành phố trả cho lực lượng thanh tra xây dựng và trật tự đô thị không tăng thêm nhiều do trước đây cũng đã phải trả. Song khi có thêm đến 76 con người tập trung về 1 phòng chức năng của quận huyện, ngoài việc lo bố trí trụ sở làm việc, nhiệm vụ của lực lượng trật tự đô thị cũng vẫn như cũ. Bởi việc xử phạt trật tự lòng lề đường đã được giao cho lực lượng Công an, dân phòng cấp phường, xã và lực lượng Cảnh sát giao thông – trật tự cấp quận huyện. Với việc kiểm tra, xử phạt vi phạm về môi trường, ngoài thanh tra chuyên ngành tài nguyên – môi trường, các quận huyện còn có lực lượng Cảnh sát môi trường đảm trách.

Vì vậy, trong khi các lực lượng chuyên trách của cấp quận, huyện e ngại chuyện có thêm các đội trật tự đô thị quận, huyện tham gia, việc kiểm tra xử phạt sẽ chồng chéo; thì nhiều người dân cũng tỏ ra lo lắng việc lực lượng trật tự đô thị sẽ lại ra đường xử phạt như thanh tra xây dựng trước đây do chỉ khác ở màu áo.

Nghịch lý ở chỗ, trong khi các phòng quản lý đô thị vốn đã ổn về định biên lại được tăng thêm quá nhiều người như vậy. Nhưng ở các phòng chuyên trách khác của các quận, huyện, chẳng hạn như Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội lại quá thiếu người. Bộ phận kiểm tra, giám sát thực hiện các chế độ về lao động, tiền lương… cho cả chục ngàn doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trên địa bàn đông dân như quận Tân Bình, Gò Vấp, Bình Tân, Thủ Đức… chỉ có vài ba cán bộ chuyên viên đảm trách dẫn đến tình trạng quá tải kéo dài nhiều năm qua

Đ.Thắng

Theo cand.com.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 1 (Năm 1926)

Tháng 1, ngày 6

Nhân Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Quốc dân Đảng Trung Quốc họp tại Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc đã gửi một bức thư 1) đến đại hội. Bức thư ký tên Lý Thuỵ, toàn văn như sau:

“Kính gửi Đoàn Chủ tịch Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Quốc dân Đảng Trung Quốc.

Xin thưa, tệ nhân 2) là một người An Nam mất nước phải lưu vong bôn ba đến chốn này. May thay gặp lúc quý hội họp đại hội, tuyên bố viện trợ cho công cuộc giải phóng các dân tộc bị áp bức trên thế giới, không nén nổi sự vui mừng. Song “muốn bốc thuốc, trước hết phải biết bệnh”. Cho nên, tệ nhân yêu cầu quý hội cho phép đến hội nghị để bộc bạch tình cảnh đau khổ của đất nước kém cỏi chúng tôi, mong những người muốn giúp chúng tôi tiện nghiên cứu để tìm phương châm. Nước tôi sẽ may mắn biết bao! Cách mạng sẽ may mắn biết bao! Trước khi ngừng lời, xin kính chúc:

Cách mạng Trung Quốc muôn năm!

Quốc dân Đảng Trung Quốc muôn năm! 3).

Lý Thụy

Ngày 6 tháng 1 Trung Hoa dân quốc năm thứ 15

Địa chỉ liên lạc: Sứ quán Bôrôđin, ngài Trương Xuân Mộc 4) chuyển”.

– Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh và Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1987, tr.35 (bản tiếng Trung Quốc).  

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.210-211.

Tháng 1, ngày 13

Từ Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân, cho biết Người đã nhiều lần viết thư cho các đồng chí trong Đoàn Chủ tịch đề nghị gửi cho các tài liệu về nông dân viết bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh để phục vụ tập san Nông dân sắp xuất bản, nhưng cho đến nay vẫn không nhận được gì cả. Bức thư có đoạn viết:

“Tôi sẽ rất cảm ơn các đồng chí nếu gửi cho tôi nhật báo của Quốc tế Nông dân từ số 1 cho tới số hiện nay bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh, để tôi có thể dịch sang tiếng Trung Quốc dùng cho việc tuyên truyền của chúng tôi”.

Cuối thư ký tên: Nilốpxki (N.A.Q)

– Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.212.

Tháng 1, ngày 14

Nguyễn Ái Quốc với bí danh Vương Đạt Nhân được Đoàn Chủ tịch Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Quốc dân Đảng Trung Quốc mời đến dự và phát biểu ý kiến tại phiên họp thứ 9 của đại hội.

Chủ tịch phiên họp là Uông Tinh Vệ – Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền của Trung ương Quốc dân Đảng Trung Quốc, đã mời Nguyễn Ái Quốc lên phát biểu và mời Lý Phú Xuân làm phiên dịch (vì Người phát biểu bằng tiếng Pháp).

Sau lời chào mừng và cảm ơn sự hoan nghênh của đại hội, Nguyễn Ái Quốc đã đưa ra rất nhiều sự thật để tố cáo tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam trong hơn 60 năm qua, đối với Hoa kiều ở Việt Nam. Chúng đàn áp dã man cách mạng Việt Nam và cũng sợ cả cách mạng Trung Quốc nên đã tìm mọi cách công kích phá hoại Chính phủ cách mạng Quảng Châu.

Cuối cùng, Nguyễn Ái Quốc kêu gọi: “Tất cả các dân tộc bị áp bức đều cùng chịu sự áp bức của chủ nghĩa đế quốc, chúng ta cần phải cùng nhau liên hiệp lại, đánh đổ đế quốc Pháp, đánh đổ chủ nghĩa đế quốc trên thế giới… Không phân biệt nước nào, dân tộc nào, tất cả hãy đứng lên chống kẻ thù chung của chúng ta”.

Bài phát biểu của Nguyễn Ái Quốc đã được đại hội hoan nghênh nhiệt liệt.

– Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh và Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1987, tr. 35-37 (bản tiếng Trung Quốc).

Tháng 1, ngày 17

Nguyễn Ái Quốc viết bài Báo chí bình dân để trả lời những lời phàn nàn nhiều lần rằng “các bài báo của ta quá thiếu trau chuốt để có thể gây ảnh hưởng đến tâm trí dân chúng”.

Bài viết có đoạn:

“Chúng tôi xin báo với các độc giả của mình rằng chúng tôi bất chấp (xem thường) việc sử dụng những từ mỹ miều, văn phong lịch lãm, câu chữ đong đưa, nhịp câu đăng đối song hành, những sự tô vẽ văn chương mà các nhà nho ham chuộng. Nhưng ngược lại chúng tôi gắng sức, vì lợi ích của tất cả mọi người, dùng một văn phong sáng sủa, chính xác và dễ hiểu.

Vì mục đích của chúng tôi là: 1. Đánh trả sự tàn bạo của người Pháp; 2. Khích lệ dân tộc An Nam kết liên lại; 3. Làm cho họ thấy được nguyên nhân những đau khổ, đói nghèo của họ và chỉ ra cho họ làm cách nào để tránh được những điều đó, nên bản báo chúng tôi làm tròn nhiệm vụ là hồi kẻng báo động mà người ta gióng lên khi có đám cháy để báo cho người đang trong ngôi nhà cháy, giục giã họ chạy thoát thân để khỏi bị chôn vùi hoặc bị thiêu cháy, và gọi những người xung quanh đến ứng cứu.

Tiếng đàn cầm chắc chắn hay hơn tiếng kẻng; nhưng trước mối hoạ đang đe doạ chúng ta, tốt nhất là đánh kẻng còn hơn gẩy đàn”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 446-447.  

Tháng 1, ngày 21

Nhân kỷ niệm ngày mất của Lênin, Nguyễn Ái Quốc viết bài nhan đề Lênin và phương Đông, đăng trên báo Gudok, Cơ quan ngôn luận của ngành giao thông vận tải Liên Xô, xuất bản ở Mátxcơva.

Bài báo phê phán các lãnh tụ Quốc tế thứ II đã không đồng tình với cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân các nước thuộc địa. Họ luôn luôn nhất trí với chính sách đế quốc mà bọn tư bản thực hiện ở các thuộc địa. Ngược lại, “Lênin là người đầu tiên đã đặt cơ sở cho một thời đại mới, thật sự cách mạng trong các nước thuộc địa”.

Một lần nữa, Nguyễn Ái Quốc khẳng định những đóng góp lớn lao của Lênin đối với phong trào giải phóng dân tộc, và kết luận:

“Đối với tất cả các dân tộc bị áp bức và bị nô dịch, Lênin đã thể hiện một bước ngoặt trong lịch sử cuộc đời đau khổ và bị mất quyền của họ, là tượng trưng cho một tương lai mới, xán lạn”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 218-220.

Tháng 2, ngày 3

Từ Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân, báo tin đã gửi số đầu tiên của tờ Nông dân Trung Quốc do Quốc dân Đảng xuất bản, tờ Litao và những báo cáo về phong trào nông dân đăng trên Quảng Châu báo.

Người nhắc lại đề nghị gửi cho các tài liệu tuyên truyền bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh, nhất là nhật báo của Quốc tế Nông dân từ số đầu tiên để “tôi có thể dịch cho báo chí Trung Quốc chúng tôi”, và lưu ý “tôi đã viết cho các đồng chí nhiều lần về vấn đề này. Nhưng cho tới nay, tôi không nhận được gì cả”.

Cuối thư, ký tên: Nguyễn A.Q.

– Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.221.

Tháng 3, ngày 8

Từ Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân. Toàn văn bức thư như sau:

Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân.

Các đồng chí thân mến,

Tôi muốn biết tại sao tất cả những thư mà tôi đã gửi đến các đồng chí đều không được trả lời, và nhất là những yêu cầu của tôi về báo cáo và tài liệu khác dùng cho tuyên truyền.

Tất cả những thư mà các đồng chí giao cho tôi để gửi đi Giava, Manila, Ấn Độ và những nơi khác đã được gửi đi. Chỉ có một thư quay trả lại tôi, vì không có người nhận, đó là thư gửi Ban biên tập Petir, Langiơ, Átgét – Xumatơra 5).

Tôi gửi đến các đồng chí những bài cắt ở báo có liên quan đến phong trào nông dân (tháng 2 và tháng 3), và một số báo nông dân của Quốc dân Đảng.

Tôi vẫn hy vọng các đồng chí vui lòng gửi cho tôi tài liệu để tuyên truyền. Xin gửi các đồng chí lời chào anh em.

Quảng Châu, ngày 8-3-1926.

Nilốpxki (N.A.Q)

– Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.222.

Tháng 4, ngày 4

Ký bút danh Mộng Liên, Nguyễn Ái Quốc viết bài Về sự bất công gửi báo Thanh niên đăng trên mục Dành cho phụ nữ.

Tác giả đã dẫn lời của Khổng Tử, Mạnh Tử, cách ví von của người Trung Quốc và câu nói cửa miệng của người Việt Nam về thân phận của người phụ nữ đã bị hạ thấp tột bậc và không được hưởng chút quyền gì trong xã hội và trong gia đình. Và đặt ra một câu hỏi lớn:

“Hỡi chị em! Vì sao chị em lại phải chịu sự áp bức bất công này?”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 448.

Tháng 5, sau ngày 14

Nguyễn Ái Quốc nhận được thư của Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân do Phó Tổng thư ký Đômban, Trưởng ban Phương Đông Vônhêxienxki và Thư ký tổ chức Oóclốp, thay mặt ký tên.

Thư báo cho biết đã nhận được các thư của Nguyễn Ái Quốc đề ngày 13-1-1926, 3-2-1926, và 8-3-1926 với hai số báo Nông dân và những bài cắt của Quảng Châu báo nói về tình cảnh nông thôn Quảng Đông. Đoàn Chủ tịch muốn biết tình hình phong trào nông dân Sơn Đông sau khi gia nhập Quốc tế Nông dân và yêu cầu Nguyễn Ái Quốc gửi cho một thông báo chi tiết về tình hình các tỉnh Quảng Tây, Quý Châu và về kế hoạch tổ chức nông dân.

Thư còn yêu cầu Nguyễn Ái Quốc gửi cho Đoàn Chủ tịch “vào chuyến thư sắp tới” Cương lĩnh của Quốc dân Đảng về vấn đề nông dân, những nghị quyết, những biên bản của Đại hội II Quốc dân Đảng về công tác nông thôn.

– Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 6, ngày 3

Nguyễn Ái Quốc gửi báo cáo cho Quốc tế Cộng sản (Báo cáo của Đông Dương) về những công việc đã làm cho Đông Dương từ khi Người đến Quảng Châu, như tổ chức được một tổ bí mật, một Hội liên hiệp nông dân của những người Việt Nam sống ở Xiêm, một tổ thiếu nhi, một tổ phụ nữ cách mạng, một trường huấn luyện chính trị, xuất bản tờ báo Thanh niên…

Báo cáo cũng nhắc đến Hội liên hiệp các thuộc địa ở Pari, về hai tờ báo Le Paria (viết bằng tiếng Pháp) và Việt Nam hồn (viết bằng tiếng Việt), và nhờ tổ chức liên lạc giúp với Nguyễn Thế Truyền gửi các báo đó cho Nguyễn Ái Quốc. Ngoài ra, còn nhờ nhắc hiệu sách của Đảng gửi cho Người các báo L’Humanité, La Vie Ouvrière và Tập san Inprekorr bằng tiếng Anh và tiếng Pháp.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 223-224.  

Tháng 7, ngày 22

Từ Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc viết thư Gửi Uỷ ban Trung ương thiếu nhi (tức Uỷ ban Trung ương Đội Thiếu niên Tiền phong trực thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin – Liên Xô) về việc đề nghị cho gửi “một nhóm thiếu nhi Việt Nam” sang học ở Mátxcơva.

Cùng ngày, Nguyễn Ái Quốc còn viết thư Gửi đại diện Đoàn Thanh niên Cộng sản Pháp tại Quốc tế Thanh niên Cộng sản, nói là “đã viết thư cho Uỷ ban Trung ương Thiếu nhi Mátxcơva” và “đề nghị đồng chí ủng hộ yêu cầu của tôi và tiến hành mọi hoạt động cần thiết để người ta trả lời tôi được mau chóng và thuận lợi” về nội dung trên.

– Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.225-227.

Tháng 8, ngày 14

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Phong trào cách mạng ở Đông Dương, đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp, số 91.

Tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến những hành động yêu nước “lần đầu tiên người ta thấy ở Đông Dương”, như phong trào phản đối việc bắt bớ và xử án cụ Phan Bội Châu đã buộc tên Toàn quyền Varen phải ân xá cho nhà lão thành cách mạng này, như cuộc biểu dương lực lượng của quần chúng yêu nước chống bọn thực dân phản động dưới danh nghĩa một cuộc đón rước Bùi Quang Chiêu – một người thuộc phái Quốc gia mới ở Pháp về, như phong trào để tang nhà chí sĩ Phan Châu Trinh diễn ra sôi nổi trong khắp cả nước bất chấp sự đe doạ và đàn áp của chính quyền thuộc địa.

Các tổ chức chính trị cũng lần lượt ra đời. Bắc Kỳ có Phục Việt, kêu gọi “Người Việt Nam không thể đội trời chung với người Pháp!… Hỡi dân tộc Việt Nam! Hãy mau mau thức tỉnh…”. Nam Kỳ có Đảng Lập hiến của một nhóm trí thức Tây học chủ trương “Pháp – Việt đề huề”, có tổ chức Thanh niên An Nam hoạt động tích cực, hướng tới việc thành lập đảng…

Cuối cùng, bài viết có đoạn: “Tình hình chính trị ở Đông Dương có thể tóm tắt trong lời than vãn sau đây của một tờ báo tiếng Pháp ở Bắc Kỳ: “Vụ biến động này… đã làm cho nước ta xưa nay yên ổn biết bao, đã trở thành trung tâm của những cuộc biến động và hỗn loạn”.

– Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp, số 91, ngày 14-8-1926.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 228-233.

Tháng 9, ngày 18

Nguyễn Ái Quốc viết bài Người cách mạng mẫu mực, nêu 12 điều đòi hỏi ở một người cách mạng, bao quát các mặt về lý tưởng, về tinh thần hy sinh, về phẩm chất đạo đức, về phương pháp công tác.

Đoạn mở đầu và cũng là lời kết luận, tác giả viết:

“Sự nghiệp cách mạng rộng lớn và khó thực hiện; nó không thể do một người hay một nhà làm mà tốt được. Cách mạng của các nòi giống có mục đích là giải phóng các dân tộc yếu, sau tiến lên làm cách mạng thế giới, sẽ giải phóng toàn nhân loại khỏi ách đế quốc chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa”. Để hoàn thành vẻ vang vai trò này, người cách mạng kiểu mẫu phải có đầy đủ và thực hiện tốt những điều đó.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 449-450.

Tháng 9

Tại Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc lúc bấy giờ lấy tên là Vương đã giao nhiệm vụ cho Nguyễn Lương Bằng, một trong số anh em trong Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên vừa học xong lớp huấn luyện chính trị, về nước tổ chức đường dây giao thông Hải Phòng – Hương Cảng để đưa thanh niên trong nước ra ngoài và chuyển tài liệu, sách báo từ nước ngoài về nước.

Sau này, nhớ lại Những lần gặp Bác, đồng chí Nguyễn Lương Bằng kể về sự kiện trên như sau:

“Hôm đó đồng chí Vương căn dặn nhiều điều… khi về nước, thì tìm gặp những bạn cũ ở quê nhà hay ở thành phố vẫn có tình thân với mình. Trong bất cứ câu chuyện gì, cũng gợi đến cảnh Pháp áp bức bóc lột. Nếu bà con tỏ ý đồng tình, thì hỏi: ta cứ để cho nó áp chế mãi sao? Bà con sẽ hỏi: sức đâu mà chẳng chịu? Nói: sức mạnh là ở đoàn kết, đoàn kết thì có sức mạnh lấy súng của giặc làm vũ khí của mình. Dần dần đưa bà con vào các phường họ, các hội ái hữu, tương tế. Người tích cực thì tổ chức vào Hội trước. Cứ thế mà mở rộng phong trào”.

“Đồng chí Vương dặn dò tôi cặn kẽ, tỉ mỉ nhất là về vấn đề giữ bí mật. Trước khi chia tay, đồng chí Vương lại bảo tôi phải chú ý một điểm: Mình ở nước ngoài về, thường là có mật thám theo. Cho nên mới về nước, không nên đi lung tung ngay, chưa nên vào nhà ai vội. Không những thế, nếu cần còn phải đóng vai người chơi bời để mật thám không chú ý”.

– Nguyễn Lương Bằng: Những lần gặp Bác. In trong Bác Hồ. Hồi ký của nhiều tác giả, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1975, tr. 36.

Tháng 10, ngày 24

Bài Nhân đức của Pháp của Nguyễn Ái Quốc đăng trên báo Thanh niên, số 66, viết về vụ nhà cầm quyền Pháp trong mùa nước lũ đã sai lính phá đê sông Hồng ở phía bên kia để giữ an toàn cho thành Hà Nội “vì có nhiều Tây ở”, mặc dầu chúng biết khi đê lở nước ào vào, người lính kia không phòng bị trước chắc chắn sẽ chết trôi và dân chúng bên đó chắc chắn sẽ bị nhấn chìm. Quả nhiên, người lính phá đê rồi thì chết đuối ngay. Và 20.000 dân ta bất thình lình bị nước ùa vào làm cho chết trôi hết.

Bài viết có đoạn:

“Thương ôi! Dân ta bị Tây nó giết mòn, giết mỏi. Giết cách này không chết hết, thì nó giết cách khác. Nó lấy rượu và a phiến làm cho dân ta chết nhiều. Nó bắt đi đào sông, đào đường bị nước độc mà chết. Nó bắt đi lính đi làm nô lệ bên các xứ đen 6) mà chết. Nay nó lại nhận chìm cả xứ!

Đồng bào ơi! Mau mau dậy cứu lấy nòi!

Kẻo mà Nam Việt đi đời nhà ma!”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 451.

Tháng 11, ngày 13

Từ Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc với tư cách “đặc phái viên” của báo, viết bài đầu tiên trong loạt bài Các sự biến ở Trung Quốc của đặc phái viên của chúng tôi gửi về cho báo L’Annam, một tờ báo xuất bản bằng tiếng Pháp ở Nam Kỳ do ông Phan Văn Trường làm chủ nhiệm.

Bài viết thông báo về những thắng lợi đầu tiên của Quân cách mạng Quốc dân 7) trong cuộc Bắc phạt do Tôn Trung Sơn phát động nhằm mở rộng thành quả cách mạng trong phạm vi cả nước, về những lục đục phe phái trong nội bộ chính quyền Bắc Kinh, về thái độ của các cường quốc nước ngoài với Quảng Châu.

Nói về nhiệt tình của dân chúng đối với Chính phủ Quốc dân, Nguyễn Ái Quốc nhận xét: “Sự nồng nhiệt của nhân dân chứng tỏ người Trung Quốc biết ơn dường nào vị lãnh tụ vĩ đại quá cố đã khơi dậy nơi họ ý chí tự giải phóng khỏi ách áp bức về ngoại giao mà bây giờ không gì có thể biện hộ được”.

Về quan hệ giữa các cường quốc với Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc nhận định: Họ “không phải là chính thức thừa nhận Chính phủ Quốc dân ở Quảng Châu mà là thực hiện một kế hoạch nhằm làm suy yếu Trung Quốc và đặt nước này dưới sự thống trị hoàn toàn của ngoại bang (…). Mưu mô này nhất định đã được Chính phủ Quốc dân nhận thấy, và những biện pháp thoả đáng đã được áp dụng để ngăn chặn việc thực thi này.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 458-461.

Tháng 11, ngày 20

Nguyễn Ái Quốc viết bài thứ hai về Các sự biến ở Trung Quốc của đặc phái viên của chúng tôi. Ngoài việc thông báo phía Chính phủ Quốc dân “sự kiện nổi bật trong tuần qua là việc cải tổ cuối cùng hệ thống cai trị ở cấp tỉnh tại tỉnh Quảng Đông”, bài viết tập trung nói về những khó khăn bế tắc của chính quyền Bắc Kinh, đặc biệt là tình hình tài chính đã không đủ để chi tiêu cho quân sự, về những chia rẽ sâu sắc và phân hoá giữa các tướng lĩnh quân phiệt.

Nhận xét về diễn biến của chiến tranh, Nguyễn Ái Quốc viết: “Thái độ của dân chúng các tỉnh rõ ràng là thuận lợi cho Chính phủ Quốc dân… Thái độ đúng đắn của dân chúng quốc gia, lòng yêu nước và sự trong sạch của các thủ lĩnh dân sự và quân sự, sự đoàn kết giữa họ, lòng mong muốn thành thật và rõ ràng của họ là vì lợi ích chung, tất cả những cái đó làm cho dư luận dân chúng ủng hộ Chính phủ Quốc dân… Họ không bỏ lỡ cơ hội nào để chứng tỏ cảm tình của mình đối với Quân giải phóng” 8).

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 462-465.

Tháng 11, ngày 28

Bài viết Người An Nam ở Xiêm 9) của Nguyễn Ái Quốc đăng trên báo Thanh niên, số 71.

Tác giả đã điều tra và cho biết về số lượng, về tín ngưỡng, về nghề nghiệp, về thân phận của 3 vạn dân Việt đã “lưu ly thất sở, tan cửa tan nhà, phải bỏ quê cha đất tổ, dạt ra đất khách quê người” kể từ ngày thực dân Pháp xâm chiếm nước ta.

Nhận xét chung về người An Nam ở Xiêm khi đó, Nguyễn Ái Quốc phải thốt lên: “Tình cảnh người mình như vậy đều là lưu lạc quê người, cứ kể bình thường thì người An Nam ở Xiêm trông thấy nhau nên thương yêu nhau, giúp nhau là phải, nào ngờ vẫn giữ lấy thói dã man nào lương giáo giết nhau, lợi hại tranh nhau, lừa đảo nhau, chém giết nhau đến nỗi đem nhau đi kiện cáo cho Xiêm, Lào sỉ nhục. Vì một tính không biết đoàn thể, đã đến nỗi bỏ nước mà đi, lại còn vẫn không giác ngộ thế thì sao còn trách người Xiêm nó khinh, nó chửi. Nói ra thật đau lòng”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 455-456.

Tháng 12, ngày 10

Trong bài thứ ba viết về Các sự biến ở Trung Quốc của đặc phái viên của chúng tôi, về tình hình ngoại giao, Nguyễn Ái Quốc cho biết các cường quốc nước ngoài vẫn “tiếp tục quan hệ với một chính phủ mà quyền hạn không vượt quá các tường thành của Bắc Kinh, một chính phủ chỉ có cái tên, mà lý do duy nhất tồn tại là sự công nhận ngoại giao của các cường quốc”. Tuy nhiên, lập trường nào của họ đã có sự thay đổi, họ “có thể ký với Chính phủ Quốc dân một thứ tạm ước, chẳng hạn thừa nhận nó bình đẳng với Chính phủ Bắc Kinh”.

Nguyễn Ái Quốc còn cho biết, theo dư luận của báo chí, trước sức tiến công của Quân Quốc dân, nhiều nơi như ở Hán Khẩu và Thượng Hải đã lấy cớ “cứu tính mạng và của cải người nước ngoài bị đe doạ” để yêu cầu các cường quốc can thiệp.

Mặc dù vậy, Nguyễn Ái Quốc vẫn nhận định: “Cho đến nay, các sự kiện đã diễn ra theo kế hoạch Chính phủ định ra và kế hoạch ấy được thực hiện dễ dàng là do dân chúng nông thôn tận tình, do có sự đồng lòng giữa những nhà chức trách dân sự và quân sự, do lòng mong muốn chung góp phần cải tổ lại nước Trung Hoa. Cho đến nay, chưa bao giờ dân chúng Trung Quốc lại nêu một tấm gương về sự đoàn kết dân tộc, về chính trị, tốt đẹp đến như thế…”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 466-469.

Tháng 12, ngày 12

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc, nhan đề Bà Trưng Trắc, ký bút danh H.T., đăng trên báo Thanh niên, số 73.

Sau khi thuật lại cuộc khởi nghĩa của hai bà Trưng Trắc, Trưng Nhị, tác giả bình luận: “Can đảm thay! Phận thuyền quyên vì nước quên mình! Tuy chỉ trong 3-4 năm nhưng cũng đủ làm cho bọn tu mi quân giặc mất vía”. Và kêu gọi:

“Như buổi ấy là buổi phong kiến mà đàn bà, con gái còn biết K. m 10). Huống chi bây giờ hai chữ “nữ quyền” đã rầm rầm khắp thế giới, chị em ta lại gặp cảnh nước suy vi, nỡ lòng nào ngồi yên được! Chị em ơi! Mau mau đoàn kết lại!”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 457.

Tháng 12, ngày 24

Nguyễn Ái Quốc viết bài thứ tư về Các sự biến ở Trung Quốc của đặc phái viên của chúng tôi. Ngoài việc phản ánh một số nét về tình hình ở Bắc Kinh, Thiên Tân và Quảng Đông, bài viết tập trung nói về chính sách ngoại giao của Anh ở Trung Quốc.

Theo tác giả, nước Anh đang thi hành chính sách ngoại giao hai mặt ở Trung Quốc. Một mặt, trong khi tiếp tục duy trì quan hệ với Bắc Kinh, Anh đã cử đại diện tiếp xúc và hội đàm với Chính phủ Quốc dân nhằm mục đích lôi kéo Trung Hoa Dân quốc tham gia vào sự phòng thủ và duy trì những hiệp ước bất bình đẳng cần phải được xoá bỏ. Mặt khác, tăng cường lực lượng hải quân ở các cửa biển, hòng gây áp lực với Chính phủ Quốc dân.

Vì vậy, Nguyễn Ái Quốc nhận xét, “dư luận nhân dân tố cáo kịch liệt mưu toan ngoại giao nhằm cung cấp cho kẻ thù của Chính phủ Quốc dân những phương tiện để có tiền của chống lại Chính phủ ấy”, “báo chí của phái dân tộc chủ nghĩa không che giấu sự bất bình lớn của mình, và đã có những lời bình luận không có lợi cho nước Anh”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 470-474.

Tháng 12, ngày 31

Chính phủ Quốc dân sau một năm là nội dung chính bài viết thứ năm Các sự biến ở Trung Quốc của đặc phái viên của chúng tôi của Nguyễn Ái Quốc.

Tác giả điểm lại cách nhìn nhận của các nước Viễn Đông, của giới ngoại giao nước ngoài về Chính phủ Quốc dân một năm trước đây, họ cho rằng chính phủ đó chỉ là “một nhúm gây rối làm tay sai cho Quốc tế III, nếu không phải là cho nước Nga Xôviết”, rằng “Tất cả các cuộc biểu tình của thợ thuyền ở miền Nam cũng như ở miền Bắc và miền Trung, của Trung Quốc được tổ chức dường như là do những người bônsêvích lãnh đạo”, rằng “Những người dân tộc chủ nghĩa đòi hỏi huỷ bỏ những hiệp ước giữa Trung Quốc với nước ngoài không có lợi cho quyền lợi của dân tộc Trung Hoa, đều là những nhân viên “đỏ” tay sai của Mátxcơva”, v.v..

Nhận định về tình hình của Chính phủ Quốc dân sau một năm, tác giả viết: “Dư luận nước ngoài, tuy còn chống đối những người dân tộc chủ nghĩa, bây giờ không còn cố chấp như đầu năm trước”, “các giới chính trị của phần lớn các nước cũng xem xét những khả năng ấy”, “các cường quốc nước ngoài công nhận Chính phủ”, “Chính đảng mạnh, Quốc dân Đảng, chính đảng duy nhất có một tổ chức cho phép tiếp xúc thường xuyên với các giai cấp khác nhau trong nhân dân Trung Quốc, được thừa nhận như là người đại diện của những khát vọng dân tộc Trung Hoa, và Chính phủ Quốc dân, chính phủ duy nhất xứng đáng với cái tên ấy tồn tại ở Trung Quốc, được xem như là chính quyền duy nhất có thể nói chuyện được”.

Nguyễn Ái Quốc cũng nêu một trong những lý do khiến dư luận nước ngoài đã có sự đánh giá khác về Chính phủ Quốc dân chỉ sau một năm:

“Dư luận nước ngoài nhận thấy rằng Quốc dân Đảng thực sự mong muốn lợi ích cho Trung Quốc và Chính phủ Quốc dân thành thực mong muốn đạt điều đó.

Người nước ngoài nhận thấy rằng sau một năm thành lập Chính phủ Quốc dân ở Quảng Châu và ở các tỉnh, sự kiểm soát của những người dân tộc chủ nghĩa lan ra dần dần, những biện pháp về chính trị và hành chính thực sự nhằm mục đích thiết lập ở Trung Quốc một chính phủ của dân, do dân và vì dân, theo ba nguyên tắc lớn của người sáng lập Quốc dân Đảng”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 475-479.

Trong năm

Từ năm 1923 đến năm 1926, căn cứ vào những sự kiện có thật, bằng lời văn châm biếm sâu sắc mang tính chiến đấu mạnh mẽ, Nguyễn Ái Quốc viết một loạt bài bằng tiếng Pháp, bóc trần bộ mặt tàn bạo của thực dân Pháp ở Đông Dương trên mọi lĩnh vực: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội. Các bài viết cũng đồng thời phản ánh phong trào đấu tranh cách mạng ở Đông Dương và vạch ra con đường đúng đắn cho cách mạng Đông Dương là gắn chặt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc với cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp vô sản.

Năm 1962, các bài viết nói trên được tập hợp thành cuốn sách lấy tên là Đây “công lý” của thực dân Pháp ở Đông Dương!, do Nhà xuất bản Sự thật xuất bản lần đầu tiên bằng tiếng Việt, nội dung cuốn sách gồm các vấn đề:

– Nước Việt Nam dưới con mắt người Pháp.

– Tâm địa thực dân.

– Đông Dương khổ nhục.

– Đời sống kinh tế.

– Độc quyền ăn cướp.

– Chế độ nhượng quyền và những kẻ được nhượng quyền.

– Những thảm hoạ của nền văn minh Pháp.

– Các quan cai trị.

– Ăn bám và hỗn độn.

– Những tội ác của chủ nghĩa quân phiệt.

– Tạp dịch hay là khổ sai.

– Công chính.

– Thuế khoá.

– Giáo hội.

– Chính sách ngu dân.

– Chế độ báo chí.

– Công lý.

– Phong trào cách mạng ở Đông Dương.

– Cuộc kháng Pháp.

– Hồ Chí Minh: Đây “công lý” của thực dân Pháp ở Đông Dương, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1962. 

————– 

1) Bức thư do Tưởng Vĩnh Kính công bố trong cuốn Hồ Chí Minh ở Trung Quốc, Đài Bắc Truyện ký xuất bản xã, 1972. Bản gốc lưu tại Quảng Châu (B.T).

2) Tệ nhân có nghĩa là tôi, một lối nói khiêm nhường. Do bức thư viết theo lối văn cổ nên chúng tôi giữ nguyên từ ngữ Nguyễn Ái Quốc dùng (B.T).

3) Quốc dân Đảng Trung Quốc ở thời kỳ này theo đuổi những mục đích rất tiến bộ do Tôn Trung Sơn đề xướng, nên Nguyễn Ái Quốc nêu khẩu hiệu trên (B.T).

4) Một bí danh của Trương Thái Lôi (B.T).

5) Ở nguyên bản là: Redactie Petir, Langxa, Atjeh – Sumatra (B.T).

6) Châu Phi (B.T).

7) Tháng 7-1925, Chính phủ cách mạng Quảng Châu đổi tên là Chính phủ Quốc dân. Lực lượng vũ trang cách mạng trước đây gọi là Quân cách mạng

 Quốc dân (hay còn gọi là Quân Quốc dân) (B.T) 

8) Chỉ quân cách mạng Quốc dân (B.T).

9) Từ năm 1938 đổi tên là Thái Lan (B.T).

10) Cách mạng (B.T).

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 1 (Năm 1925)

Đầu năm

Nguyễn Ái Quốc mở lớp huấn luyện chính trị, tổ chức tại nhà số 13 và 13/1 đường Văn Minh, nay là số 248 và 250 đường Văn Minh (Quảng Châu, Trung Quốc). Phần lớn học viên là những thanh niên Việt Nam yêu nước, xuất thân từ học sinh, trí thức, cũng có một vài người là tú tài nho học.

Chương trình học rất phong phú, có thể chia làm ba loại vấn đề: cách mạng thế giới, cách mạng Việt Nam và phương pháp vận động cách mạng. Các bài giảng về cách mạng thế giới, đã so sánh cách mạng Nga với các cuộc cách mạng tư sản Anh, Pháp. Về cách mạng Việt Nam, các bài giảng đã phân tích sự áp bức bóc lột của đế quốc Pháp đối với nhân dân Việt Nam, chỉ ra lực lượng đấu tranh chủ yếu để đánh đổ đế quốc thực dân và phong kiến là công nông. Có nhiều đoạn phê phán các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc hồi đầu thế kỷ do các sĩ phu yêu nước lãnh đạo. Về phương pháp vận động cách mạng, có các bài về tuyên truyền, tổ chức, vận động các giới đồng bào như công nông, trí thức, phụ lão, phụ nữ…

Nguyễn Ái Quốc trực tiếp lãnh đạo và là giảng viên chính của các khoá học. Người lấy tên là Vương. Các giảng viên ngoài “đồng chí Vương” và Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn,… còn có một số cán bộ trong đoàn cố vấn của Liên Xô lúc đó công tác ở Trung Quốc và một số cán bộ của Đảng Cộng sản Trung Quốc như Bành Bái (giảng về công tác nông vận),… Sau mỗi lần giảng, học viên chia tổ thảo luận. Mỗi người nhắc lại điều mình hiểu, các đồng chí khác bổ sung, cho đến lúc nắm vững toàn bài mới thôi.

Lớp học còn ra một tờ “bích báo” đăng bài của học viên. Có khi còn tổ chức diễn các vở “kịch cương”, sinh hoạt văn nghệ hoặc tham quan Trường quân sự Hoàng Phố, thăm mộ 72 liệt sĩ ở đồi Hoàng Hoa Cương, những người đã hy sinh trong các cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) ở Trung Quốc.

            – Nhiều tác giả: Bác Hồ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1960, tr. 95.

Tháng 1, ngày 5

Nguyễn Ái Quốc gửi cho một cán bộ trong Quốc tế Cộng sản 1) bức thư sau đây:

Đồng chí thân mến,

Quốc dân Đảng Đông Dương vừa được thành lập vào ngày 3 tháng này với 3 đảng viên lúc bắt đầu.

Một người sẽ được phái đi Trung Kỳ và Lào. Một người khác (chưa phải là đảng viên) sẽ được phái đến Bắc Kỳ để lấy 5 người đi Quảng Châu học cách làm công tác tổ chức.

Tôi nghĩ có thể tìm nam thanh niên để gửi đi học ở Trường đại học Mátxcơva. Xin đồng chí vui lòng cho biết có thể cho tôi gửi bao nhiêu sinh viên.

Đồng thời, tôi xin đồng chí chỉ thị cho các đồng chí Nga ở đây cũng nhận trách nhiệm về các công việc của Đông Dương bởi vì có một mình, tôi không thể làm quá nhiều việc được.

Quảng Châu ngày 5-1-1925

Chào cộng sản

N.A.Q.

            – Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.18.

Tháng 1, sau ngày 5

Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi một đồng chí 2) làm việc tại Quốc tế Cộng sản. Mở đầu, bức thư đặt vấn đề “nếu đồng chí đồng ý cho tôi gửingay một hoặc hai sinh viên thì điều đó sẽ cho phép tôi tuyên truyền tốt, và nói rằng cách mạng Nga đang và sẽ có thể làm gì cho dân chúng thuộc địa”.

Nguyễn Ái Quốc trách rằng: “đồng chí ngần ngại cho tôi vay tiền” để: có được một cơ sở trong nước, có người sẵn sàng làm tuyên truyền viên, thực hiện việc tuyên truyền đến nơi đến chốn và bắt đầu ngay công tác tổ chức và làm những công tác khác nữa…

Người viết: “Không có tiền, tất cả những điều đó đều không thể làm được. Vì thế tôi muốn đề nghị đồng chí cấp cho một quỹ nào đó”. Người nêu rõ hiện đang mắc nợ trên 350 đôla cho công tác đầu tiên, nên phải làm việc ít ra là 5 tháng để trả nợ. “Ở điều kiện đó, tôi sẽ không có thời giờ, không có tiền để làm công tác khác”.

Cuối thư viết: “Tôi rất hy vọng đồng chí sẽ ủng hộ yêu cầu của tôi”.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 16-17.

Tháng 1, ngày 10

Từ Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản nhắc lại những vấn đề đã nêu trong thư gửi ngày 5-1-1925 về Quốc dân Đảng Đông Dương và hỏi có thể nhận bao nhiêu sinh viên An Nam vào Trường đại học Cộng sản ở Mátxcơva.

            – Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 19-20.

Tháng 1, trước ngày 21

Nhân kỷ niệm một năm ngày V.I.Lênin qua đời, Nguyễn Ái Quốc đã viết bài Lênin và các dân tộc thuộc địa, đăng trên Tạp chí Đỏ (Liên Xô) số 2 năm 1925.

Bài viết nêu bật những cống hiến lớn lao của Lênin đối với sự nghiệp cách mạng của các dân tộc thuộc địa.

Kết luận bài báo, tác giả viết: “Trong lịch sử cuộc đời khổ đau và bị mất quyền của các dân tộc thuộc địa, Lênin là người sáng tạo ra cuộc đời mới, là ngọn hải đăng chỉ dẫn con đường đi tới giải phóng cho toàn thể nhân loại bị áp bức”.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 136-137.

Tháng 2, trước ngày 14

Lý Thuỵ (Nguyễn Ái Quốc) gửi liên tiếp hai lá thư cho Cụ Phan Bội Châu, lúc này đang ở Hàng Châu. Trong thư “có nói tường tận chuyện ông Hy Mã Phan Châu Trinh”.

Bức thư do Lâm Đức Thụ và Hồ Tùng Mậu chuyển tới.

Trong thư của Cụ Phan Bội Châu đề ngày 14-2-1925 (tức 21-1 năm Ất Sửu), gửi trả lời Lý Thuỵ, Cụ viết:

“Nhận được liên tiếp hai lá thư của cháu, Bác cảm thấy vừa buồn vừa mừng. Buồn là buồn cho thân Bác mà mừng là mừng cho đất nước ta”.

Bức thư còn viết: “Tuy thư dựa trực tiếp trên chuyện thật, nhưng ngụ ý sâu sắc, mà lối lập luận lại dựa trên những ý tưởng lớn, nhân đó mới biết là học vấn, tri thức của cháu nay đã tăng cường quá nhiều, quả thật không phải như hai mươi năm về trước”.

“Việc gây dựng lại giang sơn, ngoài cháu có ai để nhờ uỷ thác gánh vác trách nhiệm thay mình. Có được niềm an ủi lớn lao như thế, làm sao Bác không cảm thấy vui mừng được?”.

Bức thư còn có đoạn:

“Bác đang định tìm một dịp tốt về Quảng Đông một chuyến 3) để đàm luận với cháu, không biết cháu còn ở lại Quảng Đông lâu mau, hoặc giả trong tương lai có định đi chỗ khác không? Trong lòng Bác có nhiều chuyện muốn hỏi ý kiến cháu nhưng không gặp mặt thì làm sao có thể bàn cho hết ý được? Làm sao được? Nếu không coi già yếu là đồ bỏ thì cháu viết thư nhiều cho Bác, Bác thành thật yêu cầu cháu đấy”.

            – Bút tích bức thư chữ Hán của Cụ Phan Bội Châu đăng trên Tạp chí Xưa và Nay, số 38, tháng 4-1997, tr.6.

Tháng 2, ngày 19

Từ Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Gioócgiơ Maran – đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, cán bộ của Quốc tế Cộng sản – cho biết đã mấy tháng nay Người hoàn toàn không biết gì về tình hình trong Đảng Cộng sản Pháp và châu Âu vì không nhận được tài liệu và báo chí của Đảng.

Thư cũng cho biết: “Ở đây, có nhiều công tác phải làm, mà công tác thì rất thú vị, ở trong Đảng Trung Quốc cũng như ở trong đảng mới của An Nam mà chúng tôi đang xây dựng”.

Nguyễn Ái Quốc còn gửi kèm theo thư bản sao bức thư Người gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản. Trong thư gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản, sau khi báo cáo một vài nét mới về tình hình Đông Dương (Đảng Lập hiến, cuộc đấu tranh giữa những người Pháp bảo thủ và dân chủ ở Đông Dương, thủ đoạn của chính quyền thuộc địa đối với người cách mạng bị trục xuất) và những công việc đã làm được, Nguyễn Ái Quốc nêu “những việc chúng tôi phải làm trong năm nay”:

1. Thiết lập một cơ sở hoạt động tại Quảng Châu.

2. Thiết lập những cơ sở giao thông ở Quảng Tây; ở phía cực Nam Quảng Đông; ở Băng Cốc, Tích Kho, Lạc Phách (Thái Lan).

3. Cử người về ở trong nước để thu thập và chuyển tin tức.

4. Phái một hoặc nhiều đồng chí làm việc trên các tàu thuỷ đi lại giữa Trung Quốc và Đông Dương.

5. Gửi sinh viên An Nam sang học Trường đại học Cộng sản ở Mátxcơva.

Và yêu cầu Quốc tế Cộng sản giúp đỡ về mặt tài chính, điện báo cho biết số học viên An Nam có thể nhận đào tạo và gửi ngay các tài liệu tuyên truyền.

            – Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 140-142.

Tháng 2

Nguyễn Ái Quốc viết Dự thảo Điều lệ Đảng 4). Bản dự thảo gồm 14 điều:

1. Tên gọi (chưa xác định cụ thể).

2. Mục đích (tôn chỉ): Ghi rõ tổ chức này “hoạt động giác ngộ anh em và giành chính quyền; hoạt động vì hạnh phúc của giai cấp vô sản – người lao động và thợ thủ công”.

3. Đảng viên: Quy định những đối tượng có thể được kết nạp vào Đảng.

4. Nghĩa vụ của đảng viên.

5. Không được kết nạp Đảng: Quy định những người không được vào Đảng.

6. Tổ chức hành chính: Quy định hệ thống tổ chức của Đảng.

7. Số lượng đảng viên của mỗi chi bộ.

8. Mỗi đảng viên không được cùng lúc sinh hoạt tại hai chi bộ.

9. Người lãnh đạo chi bộ.

10. Tổ chức kinh tế.

11. Chế độ báo cáo của chi bộ.

12. Thống nhất tổ chức kinh tế và hành chính trong mỗi chi bộ.

13. Vấn đề chi tiêu của Đảng và đóng đảng phí.

14. Tuyên thệ: Cách tổ chức kết nạp và nội dung lời tuyên thệ.

             – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 434-435.

Tháng 2 và tháng 3

Truyện ngắn Con rùa của Nguyễn Ái Quốc, đăng trên báo Le Paria, số 32.

Qua câu chuyện viên xã trưởng nọ dâng lên quan sứ một con rùa để làm quà đấm mõm cho y, tác giả vạch trần tâm địa ty tiện nhỏ nhen của bọn quan lại thực dân ở thuộc địa.

            – Nguyễn Ái Quốc: Những bài đăng trên báo Le Paria, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 114-116.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 143-144.  

Khoảng tháng 2, tháng 3

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Những vấn đề châu Á, đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp,
số 19.

Tác giả nêu một số nhận xét về tình hình nội chiến ở Trung Quốc, việc chuẩn bị về quân sự của Anh – Mỹ ở Thái Bình Dương, mưu toan của đế quốc Nhật Bản đối với vấn đề châu Á và nhận định chung rằng:

“Những sự biến ở Trung Quốc ngày càng đáng cho ta chú ý đến nhiều hơn, nếu ta coi đó là những sự biến gắn liền với toàn cục, tức tình hình chung ở châu Á.

Cuộc nội chiến nhen lên ở Trung Quốc thực ra chỉ là một cuộc đọ gươm giữa các đế quốc Pháp – Nhật và Anh – Mỹ”.

            – Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp, số 19, năm 1925.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 148-151.

Tháng 3, ngày 21

Nguyễn Ái Quốc viết bài Nông dân Trung Quốc  5)  phân tích 7 nguyên nhân dẫn tới sự khốn cùng của nông dân Trung Quốc:

1. Dân quá đông, ruộng đất thiếu.

2. Phương tiện canh tác thô sơ.

3. Công nghiệp chậm phát triển.

4. Chủ nghĩa quân phiệt.

5. Sự xâm chiếm của chủ nghĩa tư bản nước ngoài.

6. Thiên tai.

7. Lòng tham của địa chủ.

Tác giả cho biết, trước tình cảnh đó nông dân Trung Quốc bắt đầu đi vào tổ chức nhờ sự thúc đẩy của công nhân công nghiệp có tổ chức và sự khích lệ của Chính phủ miền Nam. Đứng trước phong trào cách mạng này, giai cấp địa chủ Trung Quốc đã dùng những biện pháp phát xít để chống lại, hòng dập tắt phong trào. 

            – Bút tích bài viết. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 152-153.

Tháng 4, ngày 8

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Lối cai trị của người Anh, đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp, số 33 6).

Tác giả nêu những nhận xét về chính sách xâm lược mới của chủ nghĩa đế quốc Anh ở Trung Quốc, Ấn Độ và Xuđăng (Soudan) sau khi Đảng Bảo thủ trở lại nắm chính quyền.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 154-155.

Tháng 4, ngày 9

Nguyễn Ái Quốc, với bút danh L.T, viết thư trả lời ông H (Thượng Huyền), góp ý kiến nhận xét về tập Cách mệnh của ông theo yêu cầu của tác giả.

Nhận xét về tình hình tác phẩm, sau khi cho rằng tác giả đã dùng nhiều điển tích, lối hành văn cầu kỳ, lạm dụng từ ngữ Trung Quốc, v.v., Nguyễn Ái Quốc đã nêu lên một số quan điểm của mình về cách viết, rằng: “Dùng điển tích là tốt, nhưng nếu lạm dụng sẽ làm cho độc giả khó chịu. Bởi vì tính chất cao xa, thâm thuý của các điển tích thường cũng hay bao hàm những ý nghĩa mơ hồ có thể làm cho người ta hiểu lầm”, rằng: “Một tác phẩm văn chương không cứ dài mới hay. Khi nào tác phẩm ấy chỉ diễn đạt vừa đủ những điều đáng nói, khi nó trình bày sao cho mọi người ai cũng hiểu được, và khi đọc xong độc giả phải suy ngẫm, thì tác phẩm ấy mới xem như là một tác phẩm hay và biên soạn tốt”, rằng “Một lối hành văn giản dị, chính xác hơn hẳn cái lối hành văn rườm rà, hoa mỹ”, rằng “Nếu tác phẩm của ông lại định dùng để tuyên truyền thì đó phải là một tác phẩm ai đọc cũng hiểu được. Một tác phẩm hành văn hay mà khó hiểu thì chẳng có ích gì”…

Về nội dung tác phẩm, Nguyễn Ái Quốc đã nhận xét có tính chất phê phán quan điểm của ông H về cách mạng, về việc ông lên án những hành động của Chính phủ Pháp, về nguyên nhân “cách mệnh của chúng ta” không thành công, về chủ trương “một cuộc cách mệnh hoà bình”. Tóm lại, viết về cách mệnh, “Ông không nói 1) Phải làm gì trước cách mệnh, 2) Phải làm gì trong cách mệnh, 3) và phải làm gì sau cách mệnh.

Ông chưa bàn đến lực lượng mà người Pháp có thể sử dụng (ở nước ta) và cũng chưa bàn đến lực lượng của ta.

Ông đã nhầm lẫn tẩy chay với cách mệnh và ngược lại”.

Cuối thư, Nguyễn Ái Quốc viết:

“Tôi đã nói thẳng những ý kiến của tôi về bài viết của ông; và cũng nhân cơ hội này, nêu lên một số vấn đề để thảo luận; mong rằng có thể rút ra từ đó một cái gì để mở rộng thêm kiến thức của tôi. Xin thành thực và nhiệt liệt hoan nghênh tài cao trí lớn của ông. Bất cứ một người lao động nào, dù thông minh đến đâu, đôi lúc cũng có thể sai lầm. Chỉ có những kẻ ngồi không mới không sai lầm mà thôi. Nhưng làm việc mà có sai lầm còn hơn là sợ sai lầm mà khoanh tay ngồi không!”.

            – Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 156-165.  

Tháng 5, ngày 1

Cùng với những người cộng sản Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc tham gia tổ chức Đại hội lần thứ nhất của nông dân tỉnh Quảng Đông. Tham dự Đại hội có 117 đại biểu, thay mặt cho trên 20 vạn nông dân Quảng Đông, nhằm thành lập Hội Nông dân tỉnh để thống nhất sự lãnh đạo về công tác và đấu tranh.

            – Viện Hồ Chí Minh: Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Châu (1924 – 1927), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr. 128.

Tháng 5, ngày 2

Từ Quảng Châu, với bí danh HOWANG T.S, Nguyễn Ái Quốc viết báo cáo gửi Quốc tế Công hội đỏ về ngày làm việc đầu tiên của Đại hội lần thứ nhất của nông dân tỉnh Quảng Đông và Đại hội lần thứ hai của công nhân toàn Trung Quốc, cả hai đại hội cùng họp chung. Nguyễn Ái Quốc cho biết, “do đã nhất trí với nhau và nhằm thực hiện một mặt trận thống nhất giữa những người bị bóc lột ở các thành phố với những người bị bóc lột ở nông thôn, những người lãnh đạo đã triệu tập đồng thời vào một lúc hai đại hội họp ở cùng một địa điểm.

Báo cáo mô tả chi tiết quang cảnh hội trường đại hội, lễ khai mạc và lễ kết thúc ngày làm việc đầu tiên. Đồng thời, chuyển tới Quốc tế Công hội đỏ bức điện văn của đại hội sau cuộc lễ.

            – Bút tích (tiếng Pháp). Tài liệu lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 166-169.

Tháng 5, đầu tháng

Cùng với những người cộng sản Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc tham gia tổ chức Hội nghị đại biểu đầu tiên của 20 vạn nông dân có tổ chức của tỉnh Quảng Đông và Hội nghị đại biểu lần thứ hai của công nhân Trung Quốc nhằm mục đích thành lập một mặt trận thống nhất giữa những người bị bóc lột ở thành thị và nông thôn.

            – Báo cáo của Nguyễn Ái Quốc gửi Quốc tế Cộng sản. Bản chụp lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

Sau tháng 5 7)

Nguyễn Ái Quốc viết Báo cáo gửi Quốc tế Nông dân về Nghị quyết của Đảng bộ Quốc dân Đảng Quảng Đông về vấn đề nông dân.

Bản báo cáo cho biết Nghị quyết của Đảng bộ Quốc dân Đảng Quảng Đông đã chỉ rõ rằng: “Cuộc cách mạng dân tộc không thể hoàn thành nếu không có sự ủng hộ của quần chúng” và “ở Trung Quốc 85% quần chúng là nông dân”. Do đó Quốc dân Đảng từ khi cải tổ 8) “đã chú ý đến mức tối đa vấn đề nông dân”.

Bản báo cáo chỉ rõ nông dân tỉnh Quảng Đông đang hăng hái lập các hội nông dân và nông dân ở nhiều nơi đã nổi dậy tiến công bọn phản loạn.

Nhưng chính những nông dân anh dũng đó lại là những người đau khổ nhất, bị áp bức bóc lột nhiều nhất. “Không có tháng nào mà không có một vài hội nông dân bị triệt phá hoặc một vài chiến sĩ bị sát hại”. Thủ phạm những vụ sát hại đó là bọn hương dũng. Ngoài ra “bọn cho vay tiền nặng lãi là những kẻ không thương xót gì nông dân cả”…

Từ đó bản nghị quyết đã nêu lên những vấn đề sau:

– Xoá bỏ sự độc quyền ruộng đất và các thứ thuế nặng.

– Cấm cho vay nặng lãi, cấm thu hồi ruộng đất.

– Thiết lập ngân hàng và các hợp tác xã nông dân.

– Rút ngắn ngày lao động, tăng lương và đối xử bình đẳng với người làm thuê.

– Xoá bỏ các hội hương dũng, hương vệ…

– Cấp ruộng cho những nông dân không có ruộng.

– Về giáo dục, tổ chức lớp học buổi tối cho người lớn và trường không thu học phí cho trẻ em.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 176-181.

Tháng 6, ngày 21

Tuần báo Thanh niên29, cơ quan trung ương của Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra số đầu tiên.

            – Tài liệu của Cục Lưu trữ Trung ương Đảng.

Tháng 6

Nguyễn Ái Quốc sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.

Mục đích của hội là: “Hy sinh tính mệnh, quyền lợi, tư tưởng để làm cuộc cách mệnh dân tộc (đập tan bọn Pháp và giành lại được độc lập cho xứ sở) rồi sau làm cách mệnh thế giới (lật đổ chủ nghĩa đế quốc và thực hiện chủ nghĩa cộng sản)”.

Điều lệ của hội đề cập đến Chương trình hoạt động như kết nạp hội viên; tổ chức các đoàn thể như Công hội, Nông hội, Hội học sinh, Hội phụ nữ…, thành lập Chính phủ nhân dân; áp dụng những nguyên tắc “tân kinh tế chính sách”, đoàn kết với những giai cấp vô sản của tất cả các nước và thành lập xã hội cộng sản.

Điều lệ còn quy định cụ thể các vấn đề điều kiện vào hội, lề lối tổ chức, cơ cấu các cấp trung ương, xứ uỷ, tỉnh uỷ, huyện uỷ, chi bộ, vấn đề tiến hành hội nghị thường kỳ của các cấp và hội nghị toàn quốc. Các vấn đề kỷ luật, nhiệm vụ hội viên… cũng được bản Điều lệ quy định rõ ràng.

Trụ sở của Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đặt tại Quảng Châu (Trung Quốc).

            – Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Văn kiện Đảng, các tổ chức tiền thân của Đảng, Hà Nội, 1997, tr. 82-152.

Tháng 7, ngày 9

Sau một thời gian chuẩn bị, Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức do Nguyễn Ái Quốc cùng với một số đồng chí Trung Quốc chủ trương tổ chức được chính thức thành lập. Đây là một đoàn thể có tính chất quốc tế bao gồm người Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Triều Tiên, Inđônêxia, Miến Điện, v.v..

Đại hội thành lập 9) đã thông qua tôn chỉ của hội là “liên lạc với các dân tộc đó, cùng làm cách mạng nhằm đánh đổ đế quốc”.

Tuyên ngôn của Hội khẳng định: “Con đường thoát duy nhất để xoá bỏ sự áp bức chỉ có thể là liên hiệp các dân tộc nhỏ yếu bị áp bức và giai cấp vô sản toàn thế giới, áp dụng những phương pháp cách mạng để lật đổ về căn bản chủ nghĩa tư bản đế quốc cực kỳ hung ác”.

Hội trưởng là Liêu Trọng Khải (Trung Quốc).

Nguyễn Ái Quốc mang tên Lý Thuỵ là một trong những người lãnh đạo của hội, được bầu làm Bí thư kiêm phụ trách công việc tài chính của hội, đồng thời cũng là người trực tiếp phụ trách chi bộ Việt Nam của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức.

            – T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, tr. 27.

            – Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh và Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1987, tr. 30-31 (bản tiếng Trung Quốc).       

Tháng 7, ngày 13

Nguyễn Ái Quốc đến Uỷ ban bãi công Cảng Tỉnh 10) đề nghị được tham gia vào đội diễn thuyết với danh nghĩa là hội viên Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức.

Từ ngày 19-6, công nhân Cảng Tỉnh đã tổ chức cuộc bãi công lớn để ủng hộ phong trào “30-5”30.

Ngày 9-7, Uỷ ban bãi công Cảng Tỉnh quyết định tổ chức đội diễn thuyết để ngày đêm đi tuyên truyền cổ vũ công nhân kiên trì đấu tranh.

Ngày 10-7, tờ Công nhân chi lộ đặc hiệu đăng thông cáo về quyết định trên của Uỷ ban bãi công.

Biết được tin này, Nguyễn Ái Quốc đã đến ghi tên vào đội diễn thuyết. Trong danh sách ghi tên là Lý Thuỵ. Nguyễn Ái Quốc còn đăng ký đề mục của bài diễn thuyết Quan hệ giữa công nhân Trung Quốc với các dân tộc bị áp bức và sự cần thiết phải liên hiệp lại đánh đổ đế quốc.

Ủy ban bãi công đã hoan nghênh, chấp nhận yêu cầu của Nguyễn Ái Quốc và giới thiệu Người đi báo cáo ở một số cơ sở.

Về việc này, báo Công nhân chi lộ đặc hiệu, số 20, ra ngày 14-7-1925 đã đưa tin Một người Việt Nam gia nhập đội diễn thuyết và để giữ bí mật cho Nguyễn Ái Quốc, tờ báo dùng tên gọi Lý Mỗ (chữ Mỗ như cách gọi ông X. của Việt Nam).

            – Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh và Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1987, tr. 32-33 (bản tiếng Trung Quốc).

Tháng 7, ngày 19

Tuyên ngôn của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức do Nguyễn Ái Quốc tham gia khởi thảo, đăng trên báo Thanh niên, số 5.

Sau khi tố cáo bọn đế quốc thực dân đang tăng cường áp bức bóc lột, đầu độc và tìm cách tận diệt nòi giống các dân tộc nhược tiểu, nhất là các dân tộc ở châu Á, biến đất nước của họ thành thuộc địa và nửa thuộc địa, Tuyên ngôn kêu gọi “cần phải đoàn kết các dân tộc bị áp bức và toàn thể công nhân trên thế giới lại để làm cách mạng”.

Lời kêu gọi có đoạn:

“Hỡi hết thảy những người bị áp bức, anh em! Nếu bọn đế quốc áp bức chúng ta và đối xử với chúng ta như loài vật, đó là vì chúng ta không đoàn kết! Nếu chúng ta đoàn kết, chúng ta sẽ trở nên đáng gờm… Chúng ta nên sớm kết đoàn lại! Hãy hợp lực để đòi quyền lợi và tự do của chúng ta! Hãy hợp lực để cứu lấy nòi giống chúng ta.

Hỡi các bạn thợ thuyền! Tất cả các bạn đều biết rằng những kẻ áp bức chúng tôi và những kẻ ngược đãi các bạn chỉ là một… Nếu các bạn muốn thoát khỏi nanh vuốt của những kẻ đang hành hạ các bạn thì các bạn hãy kết đoàn với chúng tôi! Chúng tôi cần sự giúp đỡ của các bạn. Chúng ta cùng có chung lợi ích, nên khi đấu tranh cho chúng tôi là các bạn cũng chiến đấu cho các bạn. Khi giúp đỡ chúng tôi các bạn cũng tự cứu mình.

Các bạn thân yêu! Đoàn kết của chúng ta sẽ làm nên sức mạnh. Nó đủ để đánh tan bọn đế quốc. Muốn vượt qua vòng nô lệ, chúng ta chỉ có thể cậy vào sức của mình mà thôi. Toàn thể các dân tộc bị áp bức, toàn thể thợ thuyền trên trái đất đang bị cướp công, hãy đoàn kết với chúng tôi làm cuộc cách mạng tối thượng”.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 437-439.

Tháng 7, ngày 31

Nguyễn Ái Quốc được Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân quyết định phân công phụ trách công tác vận động nông dân ở Trung Quốc và ở thuộc địa Đông Dương, Miến Điện, Xiêm, Đài Loan và quần đảo Philíppin. Nhiệm vụ trước mắt của Nguyễn Ái Quốc là liên hệ với các thuộc địa đó, tiếp xúc với các tổ chức nông dân địa phương nếu đã có, tổ chức những liên đoàn nông dân hoặc hạt nhân nông dân ở những nơi chưa có các tổ chức nông dân, chuẩn bị để những tổ chức này chính thức tham gia Quốc tế Nông dân.

            – Thư của Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân gửi Nguyễn Ái Quốc, ngày 13-8-1925. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 8, ngày 23

Nguyễn Ái Quốc viết bài văn vần, nhan đề Hãy yêu thương nhau và cùng nhau đoàn kết, kêu gọi mọi giới đồng bào kết đoàn vì sự nghiệp chung.

“Kẻ không đoàn kết cũng như chim lạc đàn

Chóng hoặc chày rồi sẽ trúng tên

Vì đơn độc sẽ làm mồi cho hiểm hoạ

Từ kết đoàn hạnh phúc sẽ sinh sôi.

Hãy liên kết như thể thân mình

Ngũ quan cùng với tay chân dính liền

Tách rời nhau thời không thể sống

Chỉ cùng với nhau sức lực mới sinh sôi.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 440-441.

Tháng 8

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Chủ nghĩa đế quốc Pháp ở Viễn Đông – Varen và Đông Dương, đăng trên báo Le Paria, số 35.

Tác giả đã phân tích những mâu thuẫn trong nội bộ Đảng Xã hội Pháp trước nguy cơ chia rẽ, tình hình nghiêm trọng ở Đông Dương và quanh Đông Dương, vạch trần những tính toán của Panhlơvê (Painlevé) trong quyết định đưa Varen (Varenne) sang làm Toàn quyền Đông Dương.

            – Nguyễn Ái Quốc: Những bài đăng trên báo Le Paria, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 119-122.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.145-147.

Tháng 9, ngày 27

Nguyễn Ái Quốc viết thư Trả lời bạn nữ sinh viên X của chúng ta, phản đối sự ngộ nhận của người sinh viên này coi các vua quan, thư lại, thông ngôn là những người phản cách mạng. Theo tác giả, “một ông vua có thể suy nghĩ và biết cảm thông với những bất hạnh chưa từng thấy đang giáng xuống dân tộc của ông; vì vậy ông ta thà làm một người dân bình thường còn hơn là trị vì một dân tộc nô lệ”. Những người cách mạng “là người dạy cho các vị vua chúa bài học đó và chỉ ra cho họ thấy rằng họ làm cách mạng thì có lợi hơn là sống dưới ách ngoại bang”. Với quan lại, thư ký và thông ngôn, họ “bị chìm đắm trong bóng tối ngu dốt từ nhỏ, họ không bao giờ có thể tự trau dồi kinh điển hay tri giác được những tiến bộ của nhân loại qua việc đọc báo chí… Họ giống như những con gà què chỉ ăn quẩn cối xay… đành bằng lòng với thứ thức ăn mà kẻ khác đem cho họ”. Vậy nhiệm vụ của chúng ta là “phải hướng họ theo lý luận cách mạng”.

Với những người cần lao và thợ thuyền cũng vậy. Nếu chúng ta làm cho công nông hiểu được, rằng tất cả những gì họ kiếm được bằng mồ hôi đều chui vào túi người Pháp, rằng nếu cách mạng thành công thì thuế má sẽ giảm nhẹ rất nhiều và được dùng vào những việc có ích cho họ, rằng thắng lợi của cách mạng sẽ mở ra một thời kỳ dân chủ trong đó quyền tự do và quyền tự quyết sẽ thuộc về họ, thì chắc chắn “hết thảy họ đều giúp chúng ta làm cách mạng”.

Cuối thư, Nguyễn Ái Quốc còn nói về số phận của người phụ nữ Việt Nam. “Đàn bà con gái cũng nằm trong nhân dân. Nếu cả dân tộc được tự do, đương nhiên họ cũng được tự do. Ngược lại nếu dân tộc còn trong cảnh nô lệ thì họ và con cái họ cũng sẽ sống trong cảnh nô lệ đó thôi… Điều đó chứng tỏ rằng vì quyền lợi của đàn bà con gái An Nam mà chúng ta làm cách mạng”.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.442-443.

Tháng 9 và tháng 10

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu, đăng trên báo Le Paria, số 36-37.

Thông qua một câu chuyện tưởng tượng, tác giả dựng lại “một cuộc chạm trán”, “một cuộc đối mặt”, “một tấn kịch” giữa Toàn quyền Đông Dương Varen, “con người đã phản bội giai cấp vô sản Pháp,… kẻ đã ruồng bỏ quá khứ, ruồng bỏ lòng tin, ruồng bỏ giai cấp mình”, với Phan Bội Châu, “bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập…” của nhân dân Việt Nam.

            – Nguyễn Ái Quốc: Những bài đăng trên báo Le Paria, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 123-128.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 170-175.

Tháng 10, ngày 14

Nguyễn Ái Quốc nhận được thư của Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân viết ngày 13-8-1925 do Đômban – Phó Tổng thư ký Quốc tế Nông dân, Gôrốp – Thư ký tổ chức và Vônhêxienxki – Trưởng ban Phương Đông và thuộc địa, cùng ký tên.

Thư nhấn mạnh đến yêu cầu mở rộng và tăng cường hơn nữa công tác vận động nông dân Trung Quốc. Qua cuộc trao đổi với Đoàn đại biểu Quốc dân Đảng ở Mátxcơva, được biết đảng này sẵn sàng phối hợp hành động với Quốc tế Nông dân trong một chương trình đối với nông dân, do đó Đoàn Chủ tịch đề nghị Nguyễn Ái Quốc với tư cách là đại diện của Quốc tế Nông dân, chính thức liên hệ với Ban Chấp hành Trung ương Quốc dân Đảng để bàn việc thực hiện. Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân cũng yêu cầu Nguyễn Ái Quốc phải hết sức cố gắng phát triển Ban Nông dân Quảng Châu của Quốc dân Đảng và thành lập các Ban Nông dân của Quốc dân Đảng tại khắp các địa phương, đồng thời làm cho các Ban Nông dân đó gia nhập Quốc tế Nông dân.

            – Thư của Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân gửi Nguyễn Ái Quốc ngày 13-8-1925. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Thư Nguyễn Ái Quốc gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân, ngày 17-10-1925. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 10, ngày 16

Nguyễn Ái Quốc, ký tên Nilốpxki, viết báo cáo gửi Quốc tế Nông dân về Phong trào nông dân tỉnh Quảng Đông.

Báo cáo nêu bật sự phát triển của phong trào nông dân tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) về các mặt tổ chức, hoạt động và đấu tranh, đặc biệt là ở bốn huyện Hải Phong, Quảng Ninh, Hoa Yên và Vệ Hoa.

Nguyễn Ái Quốc cho biết, đông đảo nông dân Quảng Đông đã được tập hợp trong các hội nông dân. Tới thời điểm hiện tại, các hội nông dân đã được thành lập ở 32 huyện. Hưởng ứng lời kêu gọi của hội, nông dân đã tổ chức lực lượng tự vệ của mình, xuống đường tuần hành đòi giảm tô giảm tức, tiến hành nhiều cuộc biểu tình bày tỏ tình đoàn kết với anh em công nhân bãi công… Tỷ lệ thanh niên và phụ nữ tham gia Hội Nông dân chiếm khá cao, và “sẽ là một điều rất lý thú nếu thiết lập được sự trao đổi tin tức giữa thanh niên nông dân với Ban Thanh niên của Quốc tế Nông dân”.

            – Tài liệu tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 182-187.

Tháng 10, ngày 17

Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân, báo tin đã nhận được sáu thư của tháng 8 và năm thư của tháng 9 do Đoàn Chủ tịch gửi tới; hứa sẽ thực hiện một số những nội dung công việc đã được nêu trong thư ngày 18-8-1925 của Đoàn Chủ tịch 11) và lưu ý tổ chức gửi cho các tài liệu bằng tiếng Pháp hoặc tiếng Anh chứ không phải bằng tiếng Đức “vì chúng tôi không hiểu”.

Gửi kèm theo thư là một báo cáo về công tác nông dân ở tỉnh Quảng Đông.

Cuối thư ký tên: Nilốpxki.

            – Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.203-204.

Tháng 11, ngày 5

Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân nêu những nhận xét về tình cảm, nguyện vọng, trình độ văn hoá, tâm lý, thái độ chính trị của nông dân Trung Quốc qua những báo cáo và nghị quyết của Đảng bộ Quốc dân Đảng Quảng Đông.

Thư cũng cho biết Nguyễn Ái Quốc chưa chính thức liên lạc được với Ban Chấp hành Trung ương Quốc dân Đảng như chỉ thị của Đoàn Chủ tịch.

Cuối thư ký tên: Nilốpxki (NAQ.)

            – Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.205-206.

Tháng 12, ngày 3

Từ Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân thông báo rằng đã tham khảo ý kiến Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc về vấn đề Người trực tiếp liên hệ với Ban Chấp hành Trung ương Quốc dân Đảng với tư cách đại diện chính thức của Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân, nhưng theo ý kiến của các đồng chí Trung Quốc, việc ấy không cần thiết, vì vẫn có thể thu thập được mọi thông tin về vấn đề nông dân qua các đồng chí của chúng ta.

Thư còn báo cho biết: bắt đầu từ tháng này, Quốc dân Đảng sẽ phát hành một bán nguyệt san về nông dân. Số đầu tiên sắp ra mắt trong vài ngày tới. Và nhắc Đoàn Chủ tịch gửi cho tài liệu về phong trào nông dân quốc tế để dịch và in trong tạp chí của Quốc dân Đảng.

Cuối thư ký tên: Nilốpxki (NAQ.)

            – Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.207.

Trong năm

Khi phụ trách tổ chức, lãnh đạo lớp huấn luyện ở Quảng Châu, ngoài những giờ lên lớp, Nguyễn Ái Quốc còn đến dự những buổi thảo luận, những buổi diễn đàn của học viên, qua đó nắm những vấn đề học viên chưa hiểu, hoặc hiểu chưa thấu đáo để có kế hoạch bổ sung. Nhằm tạo cho những buổi sinh hoạt và học tập thêm sinh động, vui tươi, thắm tình quốc tế vô sản, Người đã dịch và phổ biến bài Quốc tế ca theo thể thơ lục bát:

Điệp khúc:

Trận này là trận cuối cùng

Ầm ầm đoàn lực, đùng đùng đảng cơ,

Lanhtécnaxiônalơ

Ấy là nhân đạo, ấy là tự do. 

Đoạn I

Hỡi ai nô lệ trên đời,

Hỡi ai cực khổ đồng thời đứng lên!

Bất bình này chịu sao yên,

Phá cho tan nát một phen cho rồi!

Bao nhiêu áp bức trên đời,

Sạch sành sanh phá cho rồi mới tha!

Cuộc đời này đã đổi ra,

Xưa kia con ở nay là chủ ông! 

Đoạn II

Công nông ta có đảng to,

Có nhờ ta mới có kho có tài.

Trời sinh đất để cho người,

Những đồ lười biếng thì mời đi đi,

Những đồ ăn xổi ở thì,

Mình làm chúng hưởng lẽ gì xưa nay.

Nếu đem diệt sạch lũ này,

Mặt trời vẫn cứ ngày ngày xuân dung!

Đoạn III

Việc ta ta phải gắng lo,

Chẳng nhờ trời phật chẳng nhờ thần linh.

Công nông mình cứu lấy mình,

Sửa sang thế đạo kinh dinh nhân quyền.

Muốn cho đánh đổ cường quyền,

Tự do bình đẳng vẹn tuyền cả hai.

Thụt lò ta phải ra tay,

Sắt kia đang nóng đập ngay mà dùng!

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr. 490-491.

Trong năm

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc, cũng với nhan đề Lênin và các dân tộc thuộc địa, đăng trên báo Bakinxki Rabôtri (Liên Xô), số 16.

Bài báo nêu rõ: mặc dù Lênin đã mất, nhưng còn có Đảng Cộng sản và Quốc tế Cộng sản tiếp tục sự nghiệp của Người. Nhân dân các dân tộc bị áp bức hiểu rằng, sự nghiệp của Lênin không bao giờ mất, và họ vẫn hy vọng được giải phóng vì vẫn còn Đảng của Lênin. Họ đặt hy vọng vào đảng này, cũng như trước đây đã đặt hy vọng vào Lênin.

Kết luận, bài báo nhắc lại điều mà tác giả đã khẳng định trong bài Lênin và các dân tộc thuộc địa, đăng trên báo Pravđa, ngày 27-1-1924.

“Khi còn sống, Lênin là người thầy, người cha của nhân dân bị áp bức. Sau khi mất, người là ngôi sao sáng chỉ đường tiến tới sự nghiệp giải phóng vĩ đại của nhân dân bị áp bức.

Lênin sống mãi trong lòng mọi người dân nô lệ ở các nước thuộc địa!”.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.208-209.

Trong năm

Nguyễn Ái Quốc viết bài Văn minh tư bản chủ nghĩa và phụ nữ ở các thuộc địa, nói về số phận thảm thương của phụ nữ và trẻ em người bản xứ phải đi làm thuê trong các hầm mỏ của các ông chủ thực dân.

Lấy việc bóc lột trong các hầm mỏ ở Ấn Độ thuộc Anh, tác giả muốn để mọi người “thấy thứ nhân đạo và văn minh của bọn con buôn của đế quốc Anh”. Trong số 252 hầm mỏ ở Ấn Độ được khai thác (tính đến năm 1921), thực dân Anh đã dùng tới 42.000 phụ nữ và 1.171 trẻ em.

Bài viết có đoạn: “Thật là một sự nhục nhã cho thế kỷ XX khi phải thấy những phụ nữ bước run run, đầu đội thúng than nặng, mà vẫn phải bước vì đói; và những trẻ em từ 12 đến 13 tuổi bò trong những đường hầm chật hẹp vừa đi bằng bốn chân, vừa dùng răng kéo một thúng đầy!”.

Trong năm, Người còn viết câu chuyện ngụ ngôn Loài vật tranh nhau công trạng.

Nhân vật trong truyện là Rồng, Tôm, Cừu, Bò, Cua, Rắn, Voi, Lươn, Chuột, Gà trống, Cá chép, Ếch. Ngoài con Rồng mày râu óng ánh, mào và vảy rực rỡ lên tiếng trước tiên và nói rằng: “Ta là thuỷ tổ của giống nòi An Nam từng chứng kiến sinh ra biết bao vị anh hùng lừng lẫy”, những con vật còn lại đều phát biểu thương hại cho người An Nam, những kẻ nô lệ tội nghiệp mà số phận không được bằng mình. Cuối cùng đến lượt Ếch, Ếch nói:

“- Hỡi anh em, suy đi tính lại, nếu thực sự chúng ta thương xót người An Nam thì hãy cùng nhau đi cứu họ. Loài Ếch hèn mọn chúng tôi nhờ có kêu ca mà làm trời phải mủi lòng, và lẽ nào vô cớ trời lại bỏ ngoài tai lời cầu khẩn mà để loài Ếch vĩnh viễn bị tận diệt? Nếu họ đồng tâm và đồng sức, nếu họ liên kết trong ngoài, thì người Pháp sẽ mất tinh thần, kinh hãi và phải trả lại cho họ những quyền tự do của họ.

Ôi, những người An Nam, các anh phải luôn nhớ rằng đoàn kết làm nên sức mạnh!”.

            – Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 134-135, 444-445.  

Cuối năm

Tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp nhan đề Le procès de la colonisation française (Bản án chế độ thực dân Pháp)31được xuất bản tại Pari, do Thư quán Lao động (Librairie du Travail) ấn hành.

Nội dung cuốn sách dựa trên cơ sở các bài viết của Người trong thời gian từ 1921 – 1924, chia thành 12 chương:

Cuốn sách in năm 1925 tại Pháp mở đầu có Lời giới thiệu của Nguyễn Thế Truyền, tiếp đó là 12 chương:

Chương I. Thuế máu

Chương II. Việc đầu độc người bản xứ

Chương III. Các quan thống đốc

Chương IV. Các quan cai trị

Chương V. Những nhà khai hoá

Chương VI. Tệ tham nhũng trong bộ máy cai trị

Chương VII. Bóc lột người bản xứ

Chương VIII. Công lý

Chương IX. Chính sách ngu dân

Chương X. Chủ nghĩa giáo hội

Chương XI. Nỗi khổ nhục của người phụ nữ bản xứ

Chương XII. Nô lệ thức tỉnh.

Cuốn sách đã thu thập những tài liệu người thực việc thực xảy ra ở các thuộc địa của Pháp nhằm vạch trần tội ác của chủ nghĩa thực dân đối với người dân thuộc địa.

Cuốn sách còn giới thiệu Lời kêu gọi của Quốc tế Nông dân gửi nông dân lao động các thuộc địa, giới thiệu Tuyên ngôn của Hội liên hiệp thuộc địa, trong đó có đoạn viết:

“Anh em phải làm thế nào để được giải phóng?

Vận dụng công thức của Các Mác, chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em.

Hội liên hiệp thuộc địa thành lập chính là để giúp đỡ anh em trong công cuộc ấy!”.

Cuối sách là phần Phụ lục: Gửi thanh niên Việt Nam. Bức thư đã cảnh tỉnh thanh niên Việt Nam đang an phận làm nô lệ. Bức thư nêu gương thanh niên một số nước đang đấu tranh cho nền độc lập ngày mai của họ.

Kết luận, bức thư viết: “Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh”.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 21-133.

——————- 

1) Cho tới nay, chưa xác minh được tên của người nhận thư (B.T).

2) Cho đến nay chưa rõ tên người nhận. Căn cứ nội dung, dự đoán thư gửi cho một đồng chí đại diện Đảng Cộng sản Pháp tại Quốc tế Cộng sản (B.T).

3) Qua bức thư, chúng ta biết, cho đến ngày 14-2-1925, Cụ Phan Bội Châu chưa gặp Lý Thuỵ, chỉ mới trao đổi qua thư từ (B.T).

4) Đây là Dự thảo điều lệ của tổ chức Thanh niên trong tương lai, in tháng 2-1925 và được bí mật đưa về Đông Dương. Tài liệu bị mật thám Đông Dương bắt được (Theo chú thích của Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.434) (B.T).

5) Bài viết này, bút tích ghi nhận đã được sao chép chuyển cho toà soạn một tờ báo. Cho đến nay chưa xác định được tên tờ báo đó(B.T).

6) Bài viết này còn được đăng trên báo Le Paria, số 33 (tháng 4 và tháng 5-1925) dưới nhan đề Rule Britannia (Lối cai trị của người Anh)(B.T) 

7) Trong Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 2 không ghi ngày tháng, nhưng đối chiếu với các sự kiện lịch sử thì báo cáo này được viết sau tháng 5-1925 (B.T).

8) Tức từ năm 1924 (B.T).

9) Về Đại hội thành lập hội được đăng trên báo Công nhân chi lộ đặc hiệu, do Uỷ ban bãi công Cảng Tỉnh xuất bản, số 18, ra ngày 12-7-1925.

10) Cảng Tỉnh: địa danh chỉ Hồng Kông và Quảng Châu (B.T).

11) Ngày 18-8-1925, Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân đã gửi cho đồng chí Nilốpxki (bí danh của Nguyễn Ái Quốc) một bức thư báo tin đã gửi 5.000 rúp theo tên đồng chí Bôrôđin để dùng vào các việc: xuất bản các tài liệu về nông dân, cử người đi vận động và tổ chức những Hội Nông dân ở các tỉnh Trung Quốc, gửi về Mátxcơva một đồng chí Trung Quốc tin cậy am hiểu vấn đề nông dân và có thể làm việc ở Quốc tế Nông dân, cung cấp đều đặn cho Quốc tế Nông dân những tài liệu, tin tức và những chỉ dẫn về phong trào nông dân và tình hình ruộng đất ở Trung Quốc.

Bức thư có đoạn viết: “Chúng tôi trông đợi đồng chí sẽ gửi đều đặn và vào bất cứ lúc nào, những báo cáo tổng kết từng hai tháng một về phong trào nông dân và về công tác đảng trong việc tổ chức giai cấp nông dân. Ngoài ra, chúng tôi đề nghị đồng chí viết cho một tập sách nhỏ phù hợp và chi tiết về tình hình giai cấp nông dân Trung Quốc hoặc là giao việc thảo tập sách này cho một đồng chí Trung Quốc am hiểu về vấn đề nông dân”.

Bức thư do Phó Tổng thư ký Quốc tế Nông dân Đômban, Trưởng ban Phương Đông và các thuộc địa Vônhêxienxki, thay mặt thư ký của cách mạng Bôsêkiêvích, cùng ký tên.

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 1 (Năm 1924)

NĂM 1924

Tháng 1, ngày 1

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Phong trào công nhân ở Thổ Nhĩ Kỳ, đăng trên báo L’Humanité.

Bài báo nêu lên kết quả của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ22 là đã giành lại được nền độc lập, đã dựng lên một nước cộng hoà thống nhất và mạnh mẽ, nhưng giai cấp tư sản nước này đã đoạt lấy mọi thành quả.

“Giai cấp vô sản Thổ Nhĩ Kỳ, người đã đóng góp rất nhiều vào cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc thì từ bây giờ đã thấy bắt buộc phải tiến hành một cuộc đấu tranh khác: cuộc đấu tranh giai cấp”.

Trong cuộc đấu tranh này, như tác giả bài báo viết, “Giai cấp vô sản Thổ Nhĩ Kỳ đã tiến được một bước đầu tiên. Nhất định họ sẽ còn tiến nữa”.

            – Báo L’ Humanité, ngày 1-1-1924.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.224 – 226.

Tháng 1, ngày 4

Bài Tình cảnh nông dân Trung Quốc, ký tên Nguyễn Ái Quốc, đăng trên báo La Vie Ouvrière, trình bày những kiến giải của tác giả về kết cấu giai cấp ở nông thôn Trung Quốc, hình thức bóc lột ruộng đất, tác động phân hoá do sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản nước ngoài, đặc biệt là nỗi khổ cực của bộ phận nông dân nghèo chiếm tỷ lệ lớn nhất trong nông dân Trung Quốc.

Kết luận bài báo, Nguyễn Ái Quốc nêu trách nhiệm của những người cộng sản Trung Quốc:

“Muốn xoá bỏ tất cả những điều đó, các đồng chí Trung Quốc của chúng ta phải tiến hành mạnh mẽ một cuộc vận động khẩn trương để giáo dục quần chúng, làm cho quần chúng thấy thật rõ sức mạnh của mình, quyền lợi của mình, và có đủ khả năng thực hiện được khẩu hiệu Tất cả ruộng đất về tay nông dân.

            – Báo La Vie Ourvière, ngày 4-1-1924.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.230 – 232.

Tháng 1, sau ngày 21

Tin Vlađimia Ilích Lênin từ trần làm cho những người cộng sản và nhân dân lao động toàn thế giới tiếc thương vô hạn.

Điều mong ước của Nguyễn Ái Quốc muốn gặp Lênin không thực hiện được. Sau này, có lần Người đã kể lại sự kiện đau buồn đó:

“Vào một ngày tháng 1-1924, chúng tôi đang ăn bữa sáng tại quán cơm ở tầng dưới khách sạn 1) thì được tin Lênin mất. Không ai muốn tin điều đó, nhưng khi ngoảnh lại, chúng tôi thấy lá cờ của Xôviết Mátxcơva đã bỏ rủ. Một sự xúc động lớn xâm chiếm tâm hồn chúng tôi, bữa ăn bị bỏ dở, vì không ai thấy đói nữa: Lênin đã mất. Thế là tôi chưa được gặp Lênin và đó là một điều ân hận lớn trong đời tôi. Khi tôi đến nước Nga, Người đã ốm nặng và đang chữa bệnh ở Goócki, cho nên không đến thăm được”.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.12, tr.474.

Tháng 1, ngày 23

Nguyễn Ái Quốc cùng một số học sinh Trường đại học Phương Đông tham dự lễ tang Lênin do Đảng Cộng sản Liên Xô tổ chức.

            – Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh và Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1987, tr.11 (bản tiếng Trung Quốc).

Tháng 1, ngày 25

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Phong trào công nhân ở Viễn Đông, đăng trên báo La Vie Ouvrière.

Bài báo đề cập đến cuộc đấu tranh của công nhân Ôxaca, một trong những trung tâm công nghiệp lớn của Nhật. Trong cuộc đấu tranh đó, giai cấp công nhân Nhật đã có thái độ ủng hộ tích cực, tuyên bố sẽ đình công hưởng ứng và sẽ dùng mọi cách giúp đỡ các đồng chí của họ đang đấu tranh.

Cuộc đấu tranh của công nhân Nhật đã thu được những kết quả bước đầu và thực sự khiến bọn chủ hoảng sợ. Chúng buộc phải đối phó bằng nhiều thủ đoạn. Song tất cả những âm mưu đó đều không mang lại kết quả.

Tình hình đó, như tác giả bài báo nhận xét, chứng tỏ những nét mới trong phong trào công nhân ở Viễn Đông.

            – Báo La Vie Ourvière, ngày 25-1-1924.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.233 – 235.

Tháng 1, ngày 27

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Lênin và các dân tộc thuộc địa, đăng trên báo Pravđa của Liên Xô.

Với tình cảm chân thành và niềm xúc động mạnh mẽ, Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ ý nghĩa vĩ đại của đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn của Lênin đối với vấn đề dân tộc thuộc địa. Thể hiện sâu sắc tình cảm của nhân dân bị áp bức ở phương Đông và ở các thuộc địa đối với Lênin, bài báo có đoạn viết:

“… Từ những người nông dân An Nam đến người dân săn bắn trong các rừng Đahômây, cũng đã thầm nghe nói rằng ở một góc trời xa xăm có một dân tộc đã đánh đuổi được bọn chủ bóc lột họ và hiện đang tự quản lý lấy đất nước mình mà không cần tới bọn chủ và bọn toàn quyền. Họ cũng đã nghe nói rằng nước đó gọi là nước Nga, rằng có những người dũng cảm, mà người dũng cảm nhất là Lênin…”.

“Họ còn được biết rằng người lãnh tụ vĩ đại này sau khi giải phóng nhân dân mình, còn muốn giải phóng các dân tộc khác nữa. Người đã kêu gọi các dân tộc da trắng giúp đỡ các dân tộc da vàng và da đen thoát khỏi ách áp bức của bọn rumi 2), của tất cả bọn rumi: toàn quyền, công sứ, v.v.. Và để thực hiện mục đích ấy, Người đã vạch ra một cương lĩnh cụ thể”.

“Khi còn sống, Người là người cha, thầy học, đồng chí và cố vấn của chúng ta. Ngày nay, Người là ngôi sao sáng chỉ đường cho chúng ta đi tới cách mạng xã hội”.

“Lênin bất diệt sẽ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”.

            – Báo Pravđa, ngày 27-1-1924.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.236 – 237.

Tháng 1

Hai bài viết của Nguyễn Ái Quốc đăng trên báo Le Paria, số 22.

Bài thứ nhất: Ông Anbe Xarô và Bản tuyên ngôn nhân quyền, ký tên N.

Bài viết vạch trần luận điệu xảo trá trong diễn văn của Anbe Xarô đọc tại Trường Thuộc địa khi nói đến “nhân quyền”. “Nhà ảo thuật tu từ học” ấy trơ trẽn tuyệt vời, lại dám nói đến văn bản thiêng liêng nhất, cao quý nhất của Đại cách mạng Pháp. Theo tác giả, đây “không còn là một sự giả nhân giả nghĩa nữa. Đây là một tội “đại bất kính””.

Bài thứ hai: Châu Phi phải được tự trị, dưới ghi: Nguyễn Ái Quốc dịch từ The Manchester guardian.

Bài viết giới thiệu về Đại hội III Ban Chấp hành Liên Phi họp ở Luân Đôn (London) và ở Lixbon (Lisbone).

Sau khi nêu rõ những yêu sách chính đáng, cấp bách và không thể nhượng bộ được của nhân dân châu Phi, bài báo kết luận:

“Sau hết, chúng tôi yêu cầu toàn nhân loại hãy coi người da đen như những con người. Chúng tôi cho rằng không có con đường nào khác để tiến tới hoà bình và tiến bộ. Còn gì ngược đời cho bằng trong thế giới ngày nay, vị quốc trưởng một nước lớn châu Phi đang mù quáng ra sức thiết lập hoà bình và hoà hợp ở châu Âu, lại chà đạp không thương xót dưới gót giày mình hàng triệu người da đen ở lục địa Phi châu!”.

            – Báo Le Paria, số 22, tháng 1-1924.

            – Nguyễn Ái Quốc: Những bài đăng trên báo Le Paria, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.84 – 89.

Tháng 2, ngày 5

Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho một cán bộ của Quốc tế Cộng sản 3). Toàn văn bức thư như sau:

“Đồng chí thân mến,

Tôi quê quán ở Đông Dương và là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp. Chính với tư cách đó mà tôi mạo muội cảm ơn đồng chí về sự chú ý của đồng chí đến vấn đề thuộc địa tại Đại hội Liông23.

Mặt khác, tôi sẽ sung sướng vì được thảo luận với đồng chí về vấn đề thuộc địa nếu đồng chí vui lòng cho gặp.

Do mũi và các ngón tay bị lạnh trong khi tang lễ đồng chí Lênin, tôi không thể đi làm việc ở Quốc tế Cộng sản, vậy nên tôi sẽ rất cảm ơn, nếu đồng chí vui lòng trực tiếp viết thư cho tôi đến địa chỉ sau:

Khách sạn Luých, số 176.

Đồng chí thân mến, xin gửi đồng chí lời chào cộng sản anh em.

5-2-1924

Nguyễn Ái Quốc

            – Thư viết tay, tiếng Pháp. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.241.

Tháng 3, trước ngày 15

Nguyễn Ái Quốc trả lời phỏng vấn của Giôvanni Giécmanéttô, phóng viên báo L’Unità, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Italia.

Trả lời câu hỏi: “Tại sao anh lại sang châu Âu?”, Nguyễn Ái Quốc đáp:

“Trước đây tôi có đọc một số tờ báo phát hành sang nước tôi, một vài tờ báo có tính chống đối ở An Nam, có những người lính lê dương do Poanhcarê (Poincaré) gửi sang để cải huấn. Những người lính lê dương này đọc đủ thứ. Họ là những kẻ chống đối về bản chất. Họ cho tôi đọc các báo Pháp. Vì thế tôi nảy ra ý muốn sang xem “mẫu quốc” ra sao và tôi đã tới Pari. Khi Trường đại học Phương Đông ở Mátxcơva mở, tôi bèn xin học”.

Khi trả lời câu hỏi của nhà báo “Khi học xong, anh dự định làm gì?”, Nguyễn Ái Quốc nói:

“Dĩ nhiên là tôi sẽ trở về Tổ quốc tôi để đấu tranh cho sự nghiệp của chúng tôi. Ở bên chúng tôi có nhiều việc phải làm lắm…

Chúng tôi đã đau khổ nhiều và chúng tôi còn phải đau khổ nữa. Những người “khai hoá” các nước chúng tôi không để chúng tôi tự do. Nhưng chúng tôi tiếp tục đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười đã vạch ra, chúng tôi sẽ vận dụng vào thực tiễn những bài học đã học được… Chúng tôi hiểu rõ là chúng tôi có trách nhiệm rất nặng nề, và tương lai của các dân tộc tuỳ thuộc vào sự tuyên truyền và tinh thần hy sinh của chúng tôi”.

            – Báo L’Unità, ngày 15-3-1924.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.480 – 483.

Tháng 3, ngày 15

Từ Mátxcơva, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Chủ tịch Quốc tế Cộng sản Dinôviép nhắc lại đề nghị xin được gặp để thảo luận về vấn đề thuộc địa của Pháp.

Toàn văn bức thư như sau:

“Mátxcơva, ngày 15 tháng 3 năm 1924

Kính gửi đồng chí Dinôviép, Chủ tịch Quốc tế thứ III.

Đồng chí thân mến,

Đã hơn một tháng nay, tôi xin đồng chí vui lòng tiếp để tôi có thể thảo luận với đồng chí về tình cảnh những thuộc địa của Pháp. Cho tới nay, tôi vẫn chưa được trả lời. Hôm nay, tôi xin mạn phép nhắc lại sự thỉnh cầu đó, và xin đồng chí nhận lời chào cộng sản anh em.

Nguyễn Ái Quốc

Phân bộ Pháp, số 33

Quốc tế Cộng sản”.

            – Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.242.

Tháng 3, ngày 19

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Đông Dương và Thái Bình Dương 4), với các phụ đề: Lò lửa của cuộc chiến tranh thế giới sắp tới – Nước Pháp muốn khai thác các thuộc địa – Các thuộc địa Pháp sống lay lắt như thế nào – Người An Nam bị bóc lột nặng nề thêm, đăng trên Tập san Inprekorr24, bản tiếng Pháp, số 18.

Tác giả khẳng định vấn đề Đông Dương và Thái Bình Dương có liên quan chặt chẽ đến giai cấp công nhân châu Âu, và đó là “vấn đề mà tất cả mọi người vô sản nói chung đều phải quan tâm đến”.

Phân tích chính sách nham hiểm phản động của đế quốc Pháp ở Đông Dương và Thái Bình Dương, cùng những hậu quả nghiêm trọng của nó, nhất là sau cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất với dự án khai thác các thuộc địa của chúng, bài báo nêu nhận xét:

“Ngày nay, chủ nghĩa đế quốc đã tiến tới một trình độ hoàn bị gần như là khoa học. Nó dùng những người vô sản da trắng để chinh phục những người vô sản các thuộc địa. Sau đó nó lại tung những người vô sản ở một thuộc địa này đi đánh những người vô sản ở một thuộc địa khác. Sau hết, nó dựa vào những người vô sản ở các thuộc địa để thống trị những người vô sản da trắng…”. Do đó, “Những hành động đế quốc chủ nghĩa ấy không những chỉ nguy cho riêng vận mệnh của giai cấp vô sản Đông Dương và Thái Bình Dương, nó còn nguy cho cả vận mệnh của giai cấp vô sản quốc tế nữa”.

Nhận rõ bản chất của chủ nghĩa đế quốc, Nguyễn Ái Quốc đã dự đoán: “Thái Bình Dương và các nước thuộc địa xung quanh Thái Bình Dương, tương lai có thể trở thành một lò lửa của chiến tranh thế giới mới mà giai cấp vô sản sẽ phải nai lưng ra gánh” và “Những cuộc chiến tranh khác sẽ có thể nổ ra vì vấn đề Thái Bình Dương, nếu giai cấp vô sản không cảnh giác”.

            – Tập san Inprekorr  (bản tiếng Pháp) số 18 ra ngày 19-3-1924.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.243 – 247.

Tháng 3

Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho Pêtơrốp, Chủ tịch Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản. Bức thư viết:

“Các đồng chí thân mến,

Tôi đã nhận được bức tối hậu thư của Sở quản lý nhà giục phải trả 40 rúp 35 côpếch về chỗ ở của tôi, không có thì tôi sẽ bị đưa ra toà.

Tôi phải cho đồng chí biết rằng:

1. Trong những tháng, tháng mười hai, tháng giêng và tháng hai tôi thuê phòng số 176, ở đây bao giờ cũng có 4 và 5 người thuê. Ban ngày thì tiếng ồn liên tục ngăn trở tôi làm việc. Ban đêm tôi bị rệp ăn thịt, không cho tôi nghỉ ngơi.

Vì vậy tôi không muốn trả 5 rúp về tiền thuê nhà để tỏ sự phản đối.

2. Từ tháng ba, tôi nhận một phòng nhỏ, rất nhỏ. Sở quản lý nhà buộc tôi gánh 13 rúp 74 cho tháng ba và 11 rúp 61 cho những tháng sau”.

Người đã so sánh diện tích, trang bị nội thất và giá cả với các phòng khác thì “giá mà người ta buộc cho tôi là hoàn toàn đáng công phẫn”.

Bức thư viết tiếp: “Vì vậy tôi xin đồng chí vui lòng làm một cuộc điều tra. Và sau cuộc điều tra đó, với mọi quyết định của mọi toà án, tôi tuân theo tinh thần của đồng chí về công bằng và bình đẳng”.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.248.

Tháng 4, ngày 2

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Chủ nghĩa đế quốc Pháp dám làm những gì?, đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp, số 20.

Qua việc nhà cầm quyền thực dân Pháp trục xuất những người yêu nước Ấn Độ, và câu chuyện về cái chết thê thảm của hơn một nghìn người dân Tripôli (Tripolie) gồm ông già, bà lão, đàn ông, đàn bà, trẻ em muốn nhưng không được phép vào lánh nạn ở Tuynidi, một xứ thuộc địa của Pháp, bài báo vạch trần tội ác ghê tởm của đế quốc Pháp trong việc đồng loã với đế quốc Anh, đế quốc Ý tiêu diệt những người yêu nước bản xứ. Bài viết rút ra kết luận: “Chủ nghĩa đế quốc Pháp quả là không hề ngần ngại nhúng tay vào những tội ác bỉ ổi nhất”.

            – Tập san Inprekorr (bản tiếng Pháp), số 20, ra ngày 2-4-1924.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.249 – 250.

Tháng 4, ngày 11

Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản. Bức thư ký tên Nguyễn.

Nguyễn Ái Quốc đã nhận xét: “Những thuộc địa của Pháp nói chung và xứ Đông Dương nói riêng ít được biết đến trong giới vô sản và cộng sản. Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Pháp rất ít được thông tin về những gì xảy ra tại những thuộc địa đó”. Cho nên “nếu chúng ta muốn hoạt động một cách có ích về vấn đề thuộc địa thì nhất thiết phải bắt liên lạc với các thuộc địa đó”.

Trong thư, Nguyễn Ái Quốc cho rằng chuyến về Việt Nam qua Trung Quốc của mình “sẽ là một chuyến đi điều tra và nghiên cứu”, và dự định sẽ làm những việc:

– Thiết lập những quan hệ Đông Dương và Quốc tế Cộng sản.

– Thông báo cho Quốc tế Cộng sản về tình hình chính trị, kinh tế và xã hội của thuộc địa này.

– Bắt liên lạc với các tổ chức chính trị ở xứ đó.

– Cố gắng tổ chức một cơ sở thông tin và tuyên truyền.

Để hoàn thành nhiệm vụ này, Nguyễn Ái Quốc viết trong thư: “Trước hết tôi phải đi Trung Quốc. Tiếp đó hướng sự hoạt động theo những khả năng sẽ xuất hiện”. Người còn dự trù một khoản kinh phí hằng tháng cần thiết cho sự ăn ở và công tác, và “hy vọng rằng những điều trên sẽ có thể dùng làm cơ sở để các đồng chí thảo luận về việc cử tôi đi Viễn Đông”.

Trong thư Nguyễn Ái Quốc cũng tỏ ý không hài lòng về trường hợp của mình. Lúc tới Mátxcơva tháng 7-1923, nhiệm vụ của Nguyễn Ái Quốc đã được quyết định: sau ba tháng lưu lại ở đây, Nguyễn Ái Quốc sẽ đi Trung Quốc để tìm cách liên lạc với Đông Dương. Vậy mà, “bây giờ đã là tháng thứ chín tôi lưu lại và là tháng thứ sáu tôi chờ đợi”, và “việc lên đường của tôi vẫn chưa được quyết định”.

            – Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.251 – 252.

Tháng 4, ngày 14

Nguyễn Ái Quốc có quyết định của Ban phương Đông Quốc tế Cộng sản do đồng chí Pêtơrốp ký nhận vào làm cán bộ ngoài biên chế của ban với mức lương tháng là 6 trécnôvéc (tương đương 60 rúp).

            – Bản chụp quyết định lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 30

Nguyễn Ái Quốc nhận được thư mời tham dự lễ kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động tổ chức tại Quảng trường Đỏ, Mátxcơva. Toàn văn bức thư như sau:

Quốc tế Cộng sản

Ban Chấp hành

Vô sản tất cả các nước Đoàn kết lại

Mátxcơva, ngày 30 tháng 4 năm 1924

Kính gửi: Đồng chí Nguyễn Ái Quốc

Theo đề nghị của Thành uỷ Mátxcơva Đảng Cộng sản Nga, Ban Bí thư Quốc tế Cộng sản mời đồng chí ngày mai, 1 tháng 5, từ 12 giờ đến 2 giờ chiều có mặt tại Hồng trường để nói chuyện với những người biểu tình.

Tổng Bí thư Ban Chấp hành

Quốc tế Cộng sản

V. Côlarốp

Kèm theo thư mời là thẻ đi lại do Bộ Tư lệnh bộ đội bảo vệ Thủ đô Mátxcơva ký.

GIẤY PHÉP ĐƯỢC ĐI LẠI KHẮP NƠI

“Thẻ đi lại công tác, cấp cho đồng chí Nguyễn Ái Quốc, được quyền đi lại trên Quảng trường Đỏ trong ngày biểu dương lực lượng 1 tháng 5”.

            – Thư mời của Quốc tế Cộng sản và Giấy phép được đi lại. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 14

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc, nhan đề Sự phá sản của chế độ thực dân Pháp 5), đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp, số 26.

Sau khi nhắc lại việc Anbe Xarô – Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp, một người “luôn luôn tự cho mình là một cường quốc thực dân số một biết cách thực dân”, bị đuổi ra khỏi chính phủ, tác giả viết: “Việc cách chức này một lần nữa lại chứng tỏ cho chúng ta thấy rằng chế độ thực dân Pháp đã phá sản”.

Bằng những số liệu cụ thể về nhập khẩu, xuất khẩu, tác giả khẳng định:

“Chế độ thực dân Pháp chỉ làm lợi cho một bọn đầu cơ, cho những tên chính khách bất lương và vô tài ở chính quốc, cho bọn buôn rượu và thuốc phiện, cho lũ con buôn vô liêm sỉ và bọn lý tài xấu xa”.

            – Tập san Inprekorr (tiếng Pháp), số 26, ngày 14-5-1924.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.259 – 262.

Tháng 5, ngày 16

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Cách mạng Nga và các dân tộc thuộc địa, đăng trên báo La Vie Ouvrière.

Mở đầu bài báo viết:

“Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản; con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt sẽ lại mọc ra”.

Bài viết nêu rõ cách mạng Nga “không vừa lòng với việc đọc những bài diễn văn rỗng tuếch và viết ra những quyết định “nhân đạo” đối với các dân tộc bị áp bức, mà cách mạng Nga dạy cho họ đấu tranh, giúp đỡ họ bằng tinh thần và vật chất như Lênin đã tuyên bố trong luận cương của Người về vấn đề thuộc địa”.

Sự giúp đỡ nước Nga đã thực hiện qua một trong những việc quan trọng là thành lập Trường đại học Phương Đông, nơi “sinh viên ăn, ở và mặc không phải mất tiền. Mỗi tháng mỗi sinh viên còn được lĩnh 5 đồng rúp vàng để tiêu vặt”…

“Người ta có thể nói không ngoa rằng “Trường đại học Phương Đông ôm ấp dưới mái trường mình tất cả tương lai của các dân tộc thuộc địa”.

Bài viết nêu rõ những việc mà Trường đại học Phương Đông đã làm được là:

– Giáo dục cho học viên nguyên lý đấu tranh giai cấp.

– Làm cho giai cấp vô sản các nước thuộc địa tiếp xúc mật thiết với giai cấp vô sản phương Tây.

– Làm cho các dân tộc thuộc địa hiểu biết nhau và đoàn kết với nhau.

– Nêu một tấm gương cho giai cấp vô sản những nước “chính quốc” có thể và cần phải làm vì những người anh em mà họ đang bị áp bức.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.298 – 302.

Tháng 5, ngày 20

Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho Pêtơrốp, Tổng Thư ký Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản. Bức thư viết bằng tiếng Pháp, gồm ba nội dung chính:

1. Nêu nguyên nhân đầu tiên đã dẫn tới sự suy yếu của các dân tộc phương Đông, đó là sự đơn độc. “Họ hoàn toàn không biết đến những việc xảy ra ở các nước láng giềng gần gũi nhất của họ, do đó họ thiếu sự tin cậy lẫn nhau, sự phối hợp hành động và sự cổ vũ lẫn nhau“. Người đề nghị hãy phổ biến cho họ kinh nghiệm tổ chức đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và kinh nghiệm đoàn kết giai cấp chống ách bóc lột của chủ nghĩa tư bản ở các nước Ấn Độ, Nhật Bản, Ai Cập.

2. Cử cán bộ nước này sang nước khác hoạt động để tăng cường việc hợp tác trao đổi kinh nghiệm đấu tranh và đoàn kết giữa các dân tộc.

3. Đề nghị triệu tập một Tiểu ban Phương Đông họp bàn việc thành lập một “nhóm châu Á” ở Trường đại học Phương Đông.

            – Bức thư gửi đồng chí Pêtơrốp. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr. 263 – 264.

Tháng 5

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc, nhan đề Đoàn kết giai cấp, đăng trên báo Le Paria, số 25.

Bài viết kể lại vụ xử án anh công nhân da đen Hôxê Lêanđrô đa Xinva ở Braxin. Anh tham gia bãi công, bị cảnh sát bắt, đánh đập tàn nhẫn, rồi bị đưa ra toà, bị kết án 30 năm tù khổ sai.

Được tin đó, lập tức “anh em công nhân cách mạng lập ngay một Uỷ ban bảo vệ” và “một chiến dịch vận động đấu tranh ủng hộ Hôxê được tiến hành mạnh mẽ suốt ba năm”. Dư luận công chúng công phẫn, buộc nhà chức trách phải xử lại… và cuối cùng toà xử trắng án.

Tác giả kể:

“Bản tuyên án được hoan nghênh bằng những tiếng vỗ tay vang như sấm. Và Hôxê, anh chiến sĩ bãi công da đen ngả mình trong cánh tay các đồng chí và các người bảo vệ anh, những đại biểu của công nhân da trắng”.

Và kết luận:

“Vậy là, dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”.

Trong tháng, bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Phụ nữ phương Đông, đăng trên Tạp chí Nga Rabốtnhitxa (Nữ công nhân).

Tác giả đã giới thiệu sự chuyển mình của phụ nữ các nước phương Đông: phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ tham gia bảo vệ đất nước chống sự xâm lược của chủ nghĩa đế quốc phương Tây; phụ nữ Ấn Độ vùng lên chống lại sự đô hộ của Anh; phụ nữ Triều Tiên đã và đang đấu tranh vì độc lập của Tổ quốc; phụ nữ Nhật Bản đã buộc Chính phủ phải huỷ bỏ đạo luật cấm phụ nữ tham gia đời sống chính trị, v.v..

Về kinh tế, tác giả viết “những “bông hồng” của phương Đông bắt đầu tỏ cho chủ nghĩa tư bản thấy ở họ có những chiếc gai nhọn. Những cuộc bãi công của nữ công nhân ở các nhà máy và xưởng dệt lụa không còn là hiện tượng hiếm nữa”.

Về tổ chức, “trong các tổ chức công đoàn Nhật Bản, phụ nữ chiếm một tỷ lệ đáng kể. Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc mới thành lập được 3 năm đã có trong hàng ngũ của mình hơn 150 nữ công nhân và nữ sinh viên”.

“Từ khi đồng chí Lênin mất, các tổ chức chính trị, văn hoá và các tổ chức khác của học sinh các nước phương Đông tổ chức nhiều cuộc mít tinh và hội họp”.

Tác giả giới thiệu toàn văn Lời kêu gọi của một nữ sinh viên đăng trên báo Phụ nữ ở Thượng Hải (Trung Quốc) và kết luận:

“Lời kêu gọi trên đây nói lên rằng đã có một bước ngoặt lớn ở các nước phương Đông từ khi ngọn cờ đỏ in hình búa liềm tung bay trên nước Nga Sa hoàng”.

            – Nguyễn Ái Quốc: Những bài đăng trên báo Le Paria, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.93 – 98.

            – Tạp chí Rabốtnhitxa, tiếng Nga, số 9, tháng 5-1924.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.265- 268.

Tháng 6, ngày 13

Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho đồng chí Pêtơrốp, Tổng Thư ký Ban Phương Đông đề nghị cấp thẻ dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản.

            – Bài của Thế Tập, Tạp chí Cộng sản, số 6-1984.

Tháng 6, ngày 15

Nguyễn Ái Quốc dự Đại hội lần thứ IV của Quốc tế Cộng sản Thanh niên25 họp ở Mátxcơva.

Cùng ngày, Nguyễn Ái Quốc cùng với các đại biểu về dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản tham dự cuộc gặp mặt giữa nhân dân Mátxcơva với các đại biểu, tổ chức tại Đồi Lênin, Mátxcơva. Nguyễn Ái Quốc đã gặp và nói chuyện với một thiếu niên Nga tên là V. Mácximốp 6).

            – Thẻ dự Đại hội. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Lời kể của Nguyễn Tiến Thông.

            – Báo Quan hệ quốc tế, số 20 (175), tháng 5-1996.

Tháng 6, ngày 17

Nguyễn Ái Quốc dự Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản26 với tư cách là đại biểu tư vấn.

Đại hội họp tại cung Anđrâyépxki trong Điện Kremli (Mátxcơva) với sự tham gia của 504 đại biểu của 49 Đảng Cộng sản và Đảng Công nhân thay mặt cho 1.319.000 đảng viên cộng sản trên toàn thế giới và 10 tổ chức quốc tế.

Phiên khai mạc đại hội tổ chức vào buổi tối.

Tại phiên họp này, trước khi V. Côlarốp đọc Nghị quyết và lời kêu gọi nhân dịp đại hội, Nguyễn Ái Quốc nêu câu hỏi: “Tôi muốn biết đại hội có gửi lời kêu gọi đặc biệt đến các nước thuộc địa không?”. Sau khi nghe V.Côlarốp giải thích rằng: Trong chương trình của đại hội đã có nêu vấn đề thuộc địa, vấn đề các nước phương Đông, các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, tất cả các đại biểu đều có thể phát biểu thêm về vấn đề trên. Nguyễn Ái Quốc đề nghị: “Trước khi biểu quyết thông qua lời kêu gọi, tôi đề nghị bổ sung thêm mấy chữ: “Gửi các dân tộc các nước thuộc địa””.

Đề nghị trên của Nguyễn Ái Quốc đã được đại hội chấp nhận.

Cùng ngày, bài viết của Nguyễn Ái Quốc, nhan đề Những cái tốt đẹp của nền văn minh Pháp, đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp, số 32.

Mở đầu tác giả trích lời ông Pôn Tápponniê phát biểu tại Hạ nghị viện Pháp về vấn đề đại diện của dân bản xứ các thuộc địa tại Quốc hội: “Nước Pháp vốn hào hiệp và đức khoan nhân của nước Pháp được biểu hiện trong mọi trường hợp. Không có gì có thể sánh tầy nền văn minh Pháp”.

Tác giả đã kể ra những “đức tính bất hủ của nước Pháp – ngoài cái đức tính rất cương quyết khai hoá dân bản xứ bằng đại bác và lưỡi lê”.

Đó là bắt dân phải lễ phép với người Âu và sẵn sàng ra lệnh bắt những người dân nào “vì mải làm” mà “đã dám không chào ngài”.

Đó là buộc người dân phải “rộng lượng” trong các cuộc lạc quyên để mừng sinh nhật các quan lớn, hoặc để tiếp đón một phái viên của nền cộng hoà.

Đó là đòi hỏi “các thuộc địa phải đưa tất cả sức lực của mình, tất cả khả năng của mình, tất cả ý chí của mình, tất cả tài nguyên của mình” để tỏ “lòng hào hiệp” của mình góp phần phục hưng kinh tế của nước mẹ.

Đó là “bình đẳng” nhưng “Trong lúc người bản xứ bị tù đày vì những duyên cớ vu vơ, thì bọn thực dân và bọn quan cai trị phạm tội giết người, hối lộ, mua bán chức tước, ăn cắp, vẫn nhẹ bước thang mây”.

Đó là “tự do” giả tạo và “nhân đạo” giả dối…

            – Bản chụp thẻ đại biểu dự Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản.

            – Biên bản tốc ký Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản (bản tiếng Nga). Phần I, M, L, 1925, tr.32. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 32, ngày 17-6-1924.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.269- 272.

Tháng 6, ngày 23

Nguyễn Ái Quốc phát biểu ý kiến tại phiên họp thứ 8 Đại hội lần V Quốc tế Cộng sản, sau bài nói của Branle (Brandler).

Người nói: “Tôi đến đây để không ngừng lưu ý Quốc tế Cộng sản đến một sự thật là: thuộc địa vẫn đang tồn tại, và vạch ra để Quốc tế Cộng sản thấy rằng: cách mạng, ngoài vấn đề tương lai của các thuộc địa còn có cả nguy cơ của các thuộc địa. Song, tôi thấy rằng hình như các đồng chí chưa hoàn toàn thấm nhuần tư tưởng rằng vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa. Vì vậy, tôi sẽ tận dụng mọi cơ hội có được, gợi ra những vấn đề và nếu cần tôi sẽ thức tỉnh các đồng chí về vấn đề thuộc địa”.

Những ý kiến phát biểu tiếp theo của Nguyễn Ái Quốc tập trung làm nổi bật luận điểm không thể đánh chết rắn đằng đuôi, muốn đánh bại chủ nghĩa tư bản thì phải bắt đầu bằng việc tước đoạt các thuộc địa của chúng, vì “hiện nay nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa hơn là ở chính quốc. Các thuộc địa cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy; các thuộc địa cung cấp binh lính cho quân đội của chủ nghĩa đế quốc. Các thuộc địa trở thành nền tảng của lực lượng phản cách mạng”.

Cuối cùng, Người kết luận: “Bàn về khả năng và các biện pháp thực hiện cách mạng, đề ra kế hoạch của cuộc chiến đấu sắp tới, các đồng chí Anh và Pháp cũng như các đồng chí ở các đảng khác hoàn toàn bỏ qua luận điểm cực kỳ quan trọng có tính chiến lược này. Chính vì thế, tôi hết sức kêu gọi các đồng chí: Hãy chú ý!”.

            – Biên bản tốc ký Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản (bản tiếng Nga). Phần I, M, L, 1925, tr.218 – 220. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.273-275.

Tháng 7, ngày 1

Nguyễn Ái Quốc dự phiên họp thứ 22 Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản.

Người phát biểu tham luận sau Xenliê (Sellier), Rốtxi (Rossi), Man (Mann) và Brao (Brown).

Sau khi nêu bật tầm quan trọng của vấn đề thuộc địa, Người đã phê bình Đảng Pháp, Đảng Anh, Đảng Hà Lan, Đảng Bỉ và các Đảng Cộng sản ở các nước có thuộc địa chưa thi hành một chính sách thật tích cực trong vấn đề thuộc địa, trong khi giai cấp tư sản các nước đó đã làm tất cả để kìm giữ các dân tộc bị chúng nô dịch trong vòng
áp bức.

Tiếp đó, Người nhấn mạnh đến vai trò của báo chí và kiến nghị năm biện pháp cụ thể để Đảng Cộng sản Pháp thực sự đóng góp vào sự nghiệp cao cả này.

Cuối cùng, Người kết luận:

“Thưa các đồng chí, vì chúng ta tự coi mình là học trò của Lênin, cho nên chúng ta cần phải tập trung tất cả sức lực và nghị lực để thực hiện trên thực tế những lời di huấn quý báu của Lênin đối với chúng ta về vấn đề thuộc địa cũng như các vấn đề khác”.

            – Biên bản tốc ký Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản (bản tiếng Nga). Phần I, 1925. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.276- 282.

Tháng 7, ngày 3

Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản họp phiên thứ 25. Nguyễn Ái Quốc phát biểu ý kiến sau Đugla (Douglas) và Xmêran (Sméran).

Bằng những số liệu cụ thể, Người tố cáo thực dân Pháp cướp đoạt ruộng đất của nông dân ở Đông Dương và ở các thuộc địa khác như Angiêri, Marốc, một số nước miền Tây châu Phi và miền xích đạo châu Phi thuộc Pháp. Những người dân thuộc địa đang chết dần chết mòn vì đói rét, bệnh tật, nơi ở tồi tàn, vì những cuộc hành binh càn quét.

Kết luận, Người nói: “Trong tất cả các thuộc địa của Pháp, nạn nghèo đói đều tăng, sự phẫn uất ngày càng lên cao. Sự nổi dậy của nông dân bản xứ đã chín muồi. Trong nhiều nước thuộc địa, họ đã vài lần nổi dậy, nhưng lần nào cũng bị dìm trong máu. Nếu hiện nay nông dân vẫn còn ở trong tình trạng tiêu cực, thì nguyên nhân là vì họ còn thiếu tổ chức, thiếu người lãnh đạo. Quốc tế Cộng sản cần phải giúp đỡ họ tổ chức lại, cần phải cung cấp cán bộ lãnh đạo cho họ và chỉ cho họ con đường đi tới cách mạng và giải phóng”.

            – Biên bản tốc ký Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản (bản tiếng Nga). Phần I, 1925. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.283- 289.

Tháng 7, ngày 4

Lời phát biểu của Nguyễn Ái Quốc tại phiên họp thứ 8, Đại hội V Quốc tế Cộng sản được đăng trên Tập san Inprekorr, số 41, ngày 4-7-1924, có đoạn như sau:

“Ở đây tôi xin phát biểu để các đoàn đại biểu các thuộc địa lưu ý. Vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới tuỳ thuộc phần lớn vào các thuộc địa. Đây là nơi cung cấp lương thực và binh lính cho các nước đế quốc chủ nghĩa. Nếu chúng ta muốn đánh bại các nước đế quốc, chúng ta phải bắt đầu bằng việc tước thuộc địa của chúng đi”.

            – Tập san Inprekorr, số 41, ngày 4-7-1924.

            – Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 7, ngày 6

Nguyễn Ái Quốc tham gia Đoàn Chủ tịch cuộc mít tinh vì hoà bình được tổ chức tại Mátxcơva. Trên lễ đài, Người đứng cạnh các đồng chí K.E. Vôrôsilốp, Kalinin, Dinôviép, Phơrunde.

            – Ảnh chụp Đoàn Chủ tịch cuộc mít tinh.

Tháng 7, ngày 14 và ngày 15

Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội lần thứ nhất tổ chức Quốc tế cứu trợ các chiến sĩ cách mạng (còn gọi là Quốc tế Cứu tế Đỏ)27 họp từ ngày 14 đến ngày 15-7-1924 tại Mátxcơva.

            – Tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 7, ngày 21

Nguyễn Ái Quốc được mời tham dự Đại hội lần thứ III Quốc tế Công hội Đỏ28 họp từ ngày 7-7 đến ngày 22-7-1924 tại Mátxcơva với tư cách là đại biểu Đông Dương.

Trong phiên họp thứ 15, ngày 21-7, Nguyễn Ái Quốc đã đọc tham luận về sản xuất công nghiệp ở Đông Dương, và tình hình công nhân tại một số xí nghiệp lớn.

Tố cáo chế độ bóc lột thuộc địa nặng nề và sự áp bức tàn bạo của thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc nói: “Với sự giúp đỡ hào hiệp của chủ nghĩa đế quốc Pháp, ở Đông Dương thật ra là đã phục hồi chế độ nô lệ”.

Người cho biết “Giai cấp công nhân Việt Nam chưa có một tổ chức công nhân nào cả” và đề nghị Quốc tế Công hội Đỏ, các tổ chức công nhân các nước, trước hết là công nhân cách mạng Pháp cần phải tích cực giúp đỡ phong trào công nhân Đông Dương trong cuộc đấu tranh chống đế quốc. Người tin rằng với sự giúp đỡ của các tổ chức cách mạng gần gũi với Quốc tế Công hội Đỏ, giai cấp công nhân Việt Nam nhất định đập tan ách áp bức của đế quốc châu Âu 7).

            – Đại hội lần thứ III Quốc tế Công hội Đỏ – Báo cáo (bản tốc ký), Mátxcơva, 1924 (bản tiếng Nga), tr.297 – 299 (theo Nguyễn Quốc Hùng, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 2-1989).

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.290 – 293.

Tháng 7

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc: Lênin và các dân tộc phương Đông, đăng trên báo Le Paria, số 27.

Nói về vai trò của Lênin đối với các dân tộc phương Đông, tác giả viết: “Không phải chỉ thiên tài của Người, mà chính là tính coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao tới các dân tộc châu Á và đã khiến cho trái tim của họ hướng về Người, không gì ngăn cản nổi”… “Lênin là hiện thân của tình anh em bốn bể”.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.295- 297.

Tháng 8

Bài Tình hình những người lao động ở Đông Dương của Nguyễn Ái Quốc, ký bút danh Un Annamite (Một người An Nam), đăng trên báo Le Paria, số 28.

Nội dung bài báo là bản tham luận của tác giả đọc tại Đại hội lần thứ III Quốc tế Công hội đỏ ngày 21-7-1924 đã được tác giả sửa chữa và bổ sung thêm một số câu.

            – Báo Le Paria, số 28, tháng 8-1924.

Tháng 9, ngày 11

Nguyễn Ái Quốc viết thư cho Vôitinxki 8) phàn nàn về chuyến đi Trung Quốc của mình cứ bị trì hoãn mãi “vì lý do này hay lý do khác,… hết tuần này sang tuần khác, hết tháng này sang tháng khác”.

Bức thư cho biết, sau Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc được Ban Phương Đông thông báo rằng: Ban sẽ giới thiệu Nguyễn Ái Quốc với Quốc dân Đảng Trung Quốc để làm việc ở đấy, vì ngoài chi phí đi đường Ban không thể giúp gì về tài chính; rằng Nguyễn Ái Quốc sẽ ở đó với tư cách cá nhân chứ không phải với tư cách là cán bộ của Quốc tế Cộng sản; rằng Nguyễn Ái Quốc sẽ không có những quan hệ với Đảng Cộng sản Pháp ở Trung Quốc.

Tất cả những điều kiện đó, đối với Nguyễn Ái Quốc là rất “tế nhị” nhưng Nguyễn Ái Quốc đã chấp nhận tất “để có thể đi được”, và chỉ yêu cầu cấp cho mình một giấy uỷ nhiệm và gửi cho Quốc dân Đảng Trung Quốc một bức thư yêu cầu giúp đỡ trong công việc. Nhưng nội chiến ở Trung Quốc đã nổ ra, Quốc dân Đảng không trả lời thư của Ban Phương Đông, thế là chuyến đi của Nguyễn Ái Quốc “một lần nữa lại phải hoãn lại vô thời hạn”.

Cuối cùng bức thư viết:

“Như vậy, trước là vì Đảng tôi 9) không trả lời. Nay là vì những người Trung Quốc đánh nhau. Vậy ngày mai sẽ là vì chuyện gì khác nữa. Nhưng tất cả những khó khăn sẽ không còn nếu như vấn đề tài chính không đặt ra. Để vấn đề  không đặt ra khi tôi hoạt động ở bên ấy, tôi chỉ yêu cầu các đồng chí cung cấp cho tôi những gì mà các đồng chí đang cung cấp để tôi chờ đợi, trong thời gian tôi không làm  gì ở đây cả”.

Xin gửi lời chào cộng sản

Nguyễn Ái Quốc

            – Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.303 – 304.

Tháng 9, ngày 15

Nguyễn Ái Quốc gặp hoạ sĩ Thuỵ Điển Êrích Giôhanxơn (Erich Johanson) trong dịp có cuộc triển lãm nghệ thuật tạo hình Đức tổ chức tại Mátxcơva. Trong buổi gặp gỡ, hoạ sĩ đã ký họa chân dung Người và Người đã ghi bằng chữ Hán phía dưới bức hoạ: “Nguyễn Ái Quốc – Ngày 15-9-1924”.

Hình ảnh của Nguyễn Ái Quốc đã để lại những ấn tượng sâu sắc cho họa sĩ. Hơn bốn mươi năm sau, nhớ lại, hoạ sĩ đã viết: “Cử chỉ văn hoá và thân mật của Người gây một ấn tượng là Người có uy tín. Người có thể trở thành lãnh tụ không phải bằng một cái gì bề ngoài mà bằng học thức, bằng trí tuệ của Người”.

            – Bản gốc bức họa của Êrích Giôhanxơn. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Báo Buổi chiều (Thuỵ Điển), ngày 26-12-1967. Bản dịch đăng trên báo Nhân dân, ngày 16-5-1980.

Tháng 9, ngày 19

Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Tơranh (Treint), đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, Uỷ viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, công tác trong Ban Thuộc địa, đề nghị trình bày giúp trước Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản về trường hợp của mình. Bức thư viết:

“Mátxcơva, ngày 19-9-1924

Đồng chí Tơranh thân mến,

Ban Phương Đông đã báo tin cho tôi rằng: Ban sẽ chi tiền đi đường cho tôi tới Quảng Châu, nhưng khi đến đó thì tôi phải tự xoay sở tìm lấy công việc.

Hẳn là làm việc để kiếm sống không phải là điều khó, thậm chí ngay cả ở một đất nước mà tôi chỉ biết viết chứ không biết nói thứ tiếng ở đó. Tuy nhiên, trong trường hợp của tôi, điều đó cũng có những cái bất tiện:

1. Tôi phải sống gần như bất hợp pháp ở Quảng Châu, nơi nhung nhúc những mật thám Pháp.

2. Nếu tôi nhận làm một công việc nào đó, toàn bộ thời giờ của tôi sẽ bị choán hết. Mà tôi thì phải được hoàn toàn tự do để làm việc theo ý muốn, tức là nghiên cứu hoàn cảnh, xem xét quần chúng và tổ chức cái gì đó.

Bởi vì Đảng chúng tôi và Ban Phương Đông không thể giúp tôi về tài chính, nên tôi đề nghị đồng chí trình bày trường hợp của tôi trước Ban Chấp hành và xin cho quyết định.

Xin gửi đồng chí lời chào cộng sản anh em.

Nguyễn Ái Quốc” 10)

            – Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.305.

Tháng 9, ngày 24

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Các nước đế quốc chủ nghĩa và Trung Quốc, đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp, số 67.

Tác giả đã “tóm tắt lịch trình những cuộc can thiệp của nước ngoài trong quá khứ để tìm ra nguyên nhân thực tế, lý do chính của sự can thiệp hiện tại” đối với Trung Quốc, để đi đến một nhận định: “Chúng ta thấy rằng, dưới nhiều lý do khác nhau và bằng nhiều thủ đoạn khác nhau, các nước tư bản chủ nghĩa can thiệp vào Trung Quốc trước sau cũng vẫn chỉ nhằm đi tới một kết quả là bắt nhượng đất và lấy tiền bồi thường”.

Tác giả đã phân tích âm mưu biến Trung Quốc thành thuộc địa. “Mặc dầu Trung Quốc rất suy nhược, mặc dầu nội bộ Trung Quốc bị chia rẽ, nhưng dẫu sao con số 11.139.000 km2 của nó cũng vẫn là một miếng mồi quá to mà cái mõm của chủ nghĩa đế quốc thực dân không thể nuốt trôi ngay một cái được. Và không thể trong một ngày mà đẩy một cách tàn bạo 489.500.000 người Trung Quốc vào xiềng xích của chế độ nô lệ thuộc địa. Cho nên người ta cắt vụn Trung Quốc ra: cách này chậm hơn nhưng khôn hơn”.

Tác giả còn vạch rõ âm mưu của chủ nghĩa đế quốc muốn lật đổ Tôn Dật Tiên, nhưng “Tôn Dật Tiên, “người cha của cách mạng Trung Quốc”, người đứng đầu chính phủ Quảng Châu, thì luôn luôn trung thành với những nguyên lý của mình, ngay cả trong những lúc khó khăn nhất”.

Tác giả dự báo: “Một nước Trung Hoa thống nhất, tự do và hùng mạnh sẽ là màn giáo đầu của một nước Triều Tiên độc lập và một nước Ấn Độ giải phóng”, điều mà đế quốc Anh và đế quốc Nhật lo lắng, nguy cơ đó nay còn xa nhưng cũng đã là một nguy cơ thực tế.

            – Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 67, ngày 24-9-1924.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.315- 320.

Tháng 9, ngày 25

Nguyễn Ái Quốc được Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản ra quyết định về chuyến đi Quảng Châu (Trung Quốc) theo đề nghị của Người.

Quyết định ghi rõ: “Đồng chí Nguyễn Ái Quốc cần đi Quảng Châu. Chi phí do Ban Phương Đông chịu”.

            – Biên bản số 9 cuộc họp của Văn phòng Ban Thư ký Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản ngày 25-9-1924. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 9

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Giáo dục quốc dân, đăng trên báo Le Paria, số 29, gồm hai phần. Dưới tiêu đề “Cái dã man” bônsêvích, tác giả giới thiệu chương trình giáo dục của chính nhân dân.

Để so sánh với “Cái dã man” bônsêvích, trong phần hai với tiêu đề là “Nền văn minh” Pháp, tác giả đưa ra một bản thống kê về số dân và số các trường học ở các thuộc địa của Pháp, để tố cáo chính sách ngu dân của bọn thực dân Pháp đang áp dụng ở các thuộc địa của chúng.

Cuối cùng, bài báo viết: “May mắn thay, tuy chúng ta thiếu trường học, nhưng nước Pháp đã ban cho chúng ta rất nhiều nhà thổ, tiệm hút thuốc phiện và ty rượu”.

            – Báo Le Paria, số 29, tháng 9-1924.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.313- 314.

Tháng 10, ngày 9

Bài báo của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Hành hình kiểu Linsơ, đăng trên Nhật báo Dieweltribune, số ra ngày 9-10-1924 và trên Tập sanInprekorr, bản tiếng Pháp, số 59.

Theo tác giả: tục hành hình kiểu Linsơ (Lynch) là tàn ác nhất, ghê tởm nhất, gây bao nhiêu thống khổ ghê gớm về tinh thần và vật chất đối với người da đen châu Mỹ, tiếng rằng đã được giải phóng 65 năm nay. Lối hành hình này đã trở thành phổ biến và kéo dài ở khắp các bang của nước Mỹ.

Sau khi kể lại cụ thể và chi tiết cảnh nạn nhân bị hành hình như thế nào, bài báo cho biết: trong vòng 30 năm (1889 – 1919) đã có 2.600 người da đen, trong đó có 51 phụ nữ bị hành hình một cách khủng khiếp như vậy. Cũng trong 30 năm ấy, 708 người da trắng, trong đó có 11 phụ nữ đã bị hành hình theo kiểu trên vì họ tổ chức bãi công hoặc vì đồng tình với cuộc đấu tranh của người da đen. Vậy mà, “những thủ phạm chính không bao giờ bị làm rầy rà, chỉ đơn giản là vì họ luôn luôn được bọn chính khách, bọn tài chính, bọn cầm quyền và nhất là báo chí phản động kích thích, khuyến khích, xúi bẩy, rồi lại bao che”.

Kết luận bài báo, tác giả viết: “Hành hình kiểu Linsơ thật đáng chiếm một vị trí vinh dự trong bộ sưu tập toàn bộ những tội ác của nền “văn minh” Mỹ”.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.306 – 312.

Tháng 10, ngày 17

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Thống chế Liôtây và Bản Tuyên ngôn nhân quyền, đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp, số 71.

Bài báo thuật lại bằng giọng văn châm biếm việc Thống chế Liôtây (Lyautey) – viên toàn quyền Marốc, đã cấm ngặt không cho niêm yết ở xứ này Bản Tuyên ngôn nhân quyền, vì theo ông ta “Trong lúc này và trong nhiều năm về sau nữa, đối với dân bản xứ, nước Pháp có một nhiệm vụ trước nhất phải làm tròn là: dạy cho họ biết giữ bổn phận của mình…”.

Theo tác giả, “Trong cuộc chiến tranh vì “công lý” – không phải công lý cho Con người và cho Công dân, mà công lý cho bọn Diều hâu và Cá mập…” thì người Marốc đã làm tròn “bổn phận” của họ, bổn phận người nô lệ rồi. Nhưng “để xứng đáng với quyền Con người và quyền Công dân, họ còn phải làm bổn phận của họ là những Con người và những Công dân nữa, nghĩa là phải tổ chức nhau lại và đấu tranh để giành lấy các quyền đó, như người Pháp từng làm hồi 1789 và như giai cấp vô sản cách mạng ngày nay đang làm”.

            – Tập san Inprekorr, số 71, ngày 17-10-1924.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.328- 330.

Tháng 10, ngày 28

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Chủ nghĩa thực dân bị lên án, đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp, số 73.

Tác giả trích đăng và bình luận một số đoạn báo, diễn văn, v.v. của chính bọn quan lại thực dân Pháp đã viết về tình trạng xã hội và dân số các nước ở châu Phi xích đạo thuộc Pháp đang suy thoái và có thể bị tiêu diệt do chính sách thống trị tàn bạo, sự áp bức bóc lột dã man của bọn thực dân Pháp gây ra, qua đó lên án mạnh mẽ chủ nghĩa thực dân mà bọn đế quốc Pháp đã thực hiện ở đây.

            – Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 73, ngày 28-10-1924.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.331-335.

Tháng 11, ngày 11

Nguyễn Ái Quốc tới Quảng Châu (Trung Quốc).

            – Bút tích các bức thư ngày 12-11-1924. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 11, ngày 12

Từ Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc gửi ba bức thư về Mátxcơva:

– Thư gửi một đồng chí ở Quốc tế Cộng sản.

– Thư gửi đồng chí Đômban (Dombal), Tổng thư ký Quốc tế Nông dân.

– Thư gửi Ban biên tập Tạp chí Rabốtnhitxa.

Các bức thư đều ghi địa chỉ mới của Người:

“Ô. Lu, Hãng thông tấn Rôxta, Quảng Châu, Trung Quốc”.

Toàn văn ba bức thư trên như sau:

1- Thư gửi một đồng chí trong Quốc tế Cộng sản:

“Quảng Châu, ngày 12-11-1924

Đồng chí thân mến,

Chỉ có một dòng chữ để báo cho đồng chí biết rằng tôi đã đến đây hôm qua, và đang ở nhà đồng chí Bôrôđin với 2 hoặc 3 đồng chí Trung Quốc. Tôi chưa gặp ai cả.

Mọi người ở đây đều bận về việc bác sĩ Tôn lên phương Bắc.

Tôi sẽ viết thư cho đồng chí sớm.

Xin gửi lời chào anh em của tôi đến đồng chí và tất cả các đồng chí chúng ta ở Quốc tế Cộng sản.

Nguyễn Ái Quốc”.

Địa chỉ: Ô. Lu, Hãng Thông tấn Rôxta, Quảng Châu, Trung Quốc.

2- Thư gửi đồng chí Đômban:

Quảng Châu, ngày 12-11-1924

Gửi đồng chí Đômban, Tổng thư ký Quốc tế Nông dân,

Đồng chí thân mến,

Chuyến đi của tôi từ Mátxcơva được quyết định hơi đột ngột, và tôi không thể báo trước cho đồng chí điều đó. Tôi xin đồng chí thứ lỗi và chuyển sự tạ lỗi của tôi đến các đồng chí chúng ta ở Hội đồng.

Ở đây, chúng ta có một phong trào nông dân rất đáng chú ý: dưới sự bảo trợ của Quốc dân Đảng và sự lãnh đạo của những người cộng sản, những nông dân nghèo đã tự tổ chức lại. Về phía các địa chủ, họ cũng có tổ chức nhưng tất nhiên với mục đích khác. Đây là một cơ hội tuyệt diệu cho việc tuyên truyền của chúng ta. Vậy tôi đề nghị đồng chí vui lòng gửi cho tôi tất cả mọi tài liệu mà đồng chí có thể có như các báo, các tuyên ngôn, v.v.. Tôi sẽ đảm nhiệm thu xếp với các đồng chí chúng ta ở đây để phổ biến chúng.

Về việc liên quan tới vị trí của tôi là Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân thì đồng chí cứ làm nếu như đồng chí xét là tốt hoặc là đề nghị thay thế tôi, ở trường hợp này đồng chí nói là tôi ốm, chứ đừng nói là tôi vắng mặt, bởi vì tôi sống bất hợp pháp ở đây. Hoặc là nếu đồng chí thấy có ích thì cứ giữ lại cái danh nghĩa dân thuộc địa Nguyễn Ái Quốc trang trí cho những tuyên ngôn và những lời kêu gọi của Hội đồng.

Xin gửi đồng chí và tất cả các đồng chí của chúng ta lời chào cộng sản.

Nguyễn Ái Quốc”

Địa chỉ gửi tài liệu: Ô. Lu, Hãng thông tấn Rôxta, Quảng Châu, Trung Quốc.

3- Thư gửi Ban biên tập Tạp chí Rabốtnhitxa:

“Quảng Châu, ngày 12-11-1924

Các nữ đồng chí thân mến,

Khi tôi còn ở Quốc tế Cộng sản, tôi phấn khởi được đôi lần cộng tác với tờ báo của các đồng chí. Nay tôi muốn tiếp tục sự cộng tác ấy. Nhưng vì ở đây tôi hoạt động bất hợp pháp, cho nên tôi gửi bài cho các đồng chí dưới hình thức “Những bức thư từ Trung Quốc” và ký tên một phụ nữ. Tôi nghĩ rằng làm như vậy những bài viết có tính chất độc đáo hơn và phong phú hơn đối với độc giả, đồng thời cũng bảo đảm giấu được tên thật của tôi.

Xin các đồng chí gửi đều đặn cho tôi không chỉ riêng báo của các đồng chí, mà cả những sách báo Nga mà phụ nữ và thiếu nhi có thể ưa thích, bởi vì ở đây còn phải làm nhiều việc vận động phụ nữ và thiếu nhi, nhưng các đồng chí của chúng ta ở đây lại chưa có đủ tài liệu huấn luyện và tuyên truyền. Về phần tôi, tôi hứa sẽ cung cấp cho các đồng chí tin tức về phong trào phụ nữ ở phương Đông nói chung và ở Trung Quốc nói riêng.

Nếu cần phải trả tiền đặt mua các thứ báo mà các đồng chí sẽ gửi cho tôi, xin các đồng chí cứ giữ lại tiền thù lao các bài báo tôi viết để trả.

Xin các đồng chí nhận lời chào cộng sản của tôi.

Nguyễn Ái Quốc”

Địa chỉ để nhận báo: Ô.Lu, Hãng thông tấn Rôxta, Quảng Châu, Trung Quốc.

Kèm theo bức thư này, Nguyễn Ái Quốc gửi Tạp chí Rabốtnhitxa một bài báo nhan đề Thư từ Trung Quốcsố 1 ký tên Loo Shing Yan – nữ đảng viên Quốc dân Đảng, viết về thân phận của phụ nữ Trung Quốc dưới ách áp bức của đế quốc và bọn quân phiệt Trung Quốc, những dấu hiệu ban đầu của phong trào đấu tranh của phụ nữ Trung Quốc do ảnh hưởng của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga.

Người nêu lên tình cảnh nước Trung Hoa đang bị kìm kẹp tàn nhẫn trong hai gọng kìm: đế quốc nước ngoài và bọn quân phiệt Trung Quốc. “Sự áp bức đè nặng lên chúng tôi, nhưng chúng tôi bị áp bức nặng nề hơn gấp nghìn lần đàn ông…”.

Tiếp đó, Người viết:

“Tiếng vang của cách mạng Nga làm cho chúng tôi dường như thoát khỏi cơn ác mộng đau đớn”.

Cách mạng Nga đã làm cho những người phụ nữ Trung Quốc hiểu rằng phụ nữ cũng phải có quyền sống và làm việc và để giành được quyền đó “chúng tôi cũng phải đấu tranh như những đàn ông và cùng với đàn ông chống lại những kẻ bóc lột chúng tôi”.

Người nhắc đến nữ đồng chí Bôrôđin đã góp phần giúp đỡ hướng dẫn phụ nữ Trung Quốc hiểu thêm cách mạng Nga.

Nguyễn Ái Quốc kết luận: “Người ta chưa bao giờ thấy phấn khởi nhiều như thế trong phụ nữ chúng tôi. Đó thật sự đã là cuộc cách mạng nhỏ!”.

– Bút tích ba bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 5-7.

Tháng 12, ngày 18

Từ Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc viết báo cáo gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản báo tin đã đến Quảng Châu vào giữa tháng 12 và những công việc bước đầu đã làm được.

Báo cáo đề nghị Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản giúp đỡ thêm về tài chính, chỉ thị cho các đại diện ở Quảng Châu phải chăm lo đến Đông Dương, quan tâm vấn đề tuyên truyền trong phụ nữ và thiếu nhi.

Cuối cùng, Người lưu ý các đồng chí: “Trong lúc này, tôi là một người Trung Quốc chứ không phải là một người An Nam, và tên tôi là Lý Thuỵ chứ không phải là Nguyễn Ái Quốc”.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.8-9.

Tháng 12, ngày 19

Nguyễn Ái Quốc gửi Quốc tế Cộng sản báo cáo về Tình hình Đông Dương tháng 11 và tháng 12-1924.

Báo cáo gồm hai phần: Tình hình kinh tế và Tình hình chính trị.

Phần Tình hình kinh tế, Người thông báo về việc phê chuẩn ngân sách của toàn Đông Dương, trong đó một phần năm là do tiền lời bán thuốc phiện; về tình hình dân chết đói ở nhiều nơi (trừ Nam Kỳ) do nạn lụt và bão tàn phá; tình hình nhà băng công nghiệp Trung Hoa bị phá sản, các chủ nợ người Pháp và người Việt Nam đang liên kết với nhau để đòi nợ; về dự định của nhà cầm quyền Đông Dương cho thương nghiệp Nhật Bản được hưởng thuế quan tối thiểu.

Phần Tình hình chính trị, Người thông báo về việc Chính phủ thuộc địa hết sức ngăn cản thanh niên An Nam sang học ở Pháp, do sợ bị tuyên truyền cộng sản. Các báo ở An Nam nói về việc thành lập một Uỷ ban ở Pari để nghiên cứu khả năng bán Đông Dương cho một nước khác; chính quyền thuộc địa đang quảng cáo cho một Hội đồng tư vấn của Chính phủ gồm 27 người Pháp và 17 người An Nam.

Nguyễn Ái Quốc còn báo cáo tỷ mỷ về Đảng Lập hiến ở An Nam, chương trình hành động của đảng đó, thái độ trở mặt của chúng đối với triều đình An Nam, công kích chủ nghĩa cộng sản, hô hào sự hợp tác với Pháp.

Cuối bản báo cáo, Người viết: “Hai trăm học sinh trẻ tuổi của tỉnh ở Nam Kỳ đã biểu tình trước đồn cảnh sát đòi thả hai người bạn của họ bị bắt giữ. Đồng thời, họ doạ bãi khoá nếu bạn của họ không được thả ngay. Họ đã thắng lợi. Đấy là lần đầu tiên, ở Đông Dương xảy ra một việc như vậy. Đó là một dấu hiệu của thời đại”.

            – Bản chụp báo cáo. Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.10-14.

Tháng 12, ngày 22

Từ Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho một cán bộ phụ trách Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, thông báo “đã tìm thấy ở đây một vài người Đông Dương mà với họ, tôi hy vọng làm được việc gì đó” và đề nghị “chỉ thị cho những đồng chí người Nga ở đây cũng nhận trách nhiệm về các công việc của Đông Dương, bởi vì một mình tôi không thể làm nhiều được”. Thư còn cho biết Nguyễn Ái Quốc đã gặp một đồng chí người Malaca, nhưng mới được một lần vì có thể người đó đã về nước.

            – Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.15.

Trong năm

Nguyễn Ái Quốc cùng với một nhóm sinh viên Trung Quốc học tại Trường đại học Phương Đông biên soạn cuốn Trung Quốc và thanh niên Trung Quốc

Cuốn sách viết bằng tiếng Pháp do Nguyễn Ái Quốc làm chủ biên, in khổ 13 x 19 cm, dày 55 trang với 13 đề mục, nội dung giới thiệu khái quát về địa lý, lịch sử, tình hình kinh tế – xã hội Trung Quốc sau khi bị chủ nghĩa tư bản xâm nhập, phong trào đấu tranh cách mạng của các tầng lớp nhân dân Trung Quốc và thanh niên Trung Quốc 11).

            – Trung Quốc và thanh niên Trung Quốc (bản tiếng Nga), Nxb. Nôvaia, Mátxcơva, 1925. Bản sao cuốn sách lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Trong năm

Bốn bài viết của Nguyễn Ái Quốc được đăng trên các báo và tạp chí:

1. Bài viết Công cuộc khai hoá giết người, đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp, số 69.

Bằng những số liệu, những sự việc cụ thể, bài báo tố cáo tội ác dã man của bọn thực dân da trắng đối với các dân tộc da đen trong việc buôn bán nô lệ và tàn sát hàng loạt người.

Sau khi nêu những tội ác cụ thể của giáo hội, của bọn vua chúa, của bọn buôn lậu, của những tên thực dân và số phận bi thảm của những người nô lệ, tác giả viết: “Lịch sử việc người Âu xâm chiếm châu Phi – cũng như bất cứ lịch sử xâm chiếm thuộc địa nào – thì từ đầu đến cuối đều được viết bằng máu những người bản xứ”.

2. Bài Đảng Ku klux klan, đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp, số 74.

Bài báo nêu tóm tắt quá trình phát sinh, phát triển của Đảng Ku klux klan (Đảng 3K) và những hành động man rợ của đảng này gây ra cho nhân dân Mỹ, nhất là đối với người da đen kể từ khi tổ chức này được bọn chủ nô ở miền Nam nước Mỹ lợi dụng và giúp đỡ; đồng thời nêu lên những nguyên nhân làm cho đảng này sẽ nhanh chóng bị tiêu diệt.

3. Bài Nông dân Bắc Phi, đăng trên Tạp chí Quốc tế Nông dân, bản tiếng Nga, số 3 và 4.

Bài báo viết về quá trình phá sản của những người nông dân Bắc Phi và tình cảnh cơ cực của họ dưới ách thống trị của thực dân Pháp.

Theo tác giả, sau khi đã bị chinh phục và bị tàn phá bằng bạo lực, dân các thuộc địa Bắc Phi tiếp tục bị phá sản bởi “luật pháp” của chính phủ bảo hộ, bởi hành động của bọn địa chủ và của những nhóm người bản xứ đã trở thành chỗ dựa của chế độ thuộc địa. Kết quả là, những người nông dân thuộc địa đó “bị đuổi khỏi những đồng ruộng được tưới nước trù phú, sống chen chúc ở những đồng bằng chật chội và những vùng rừng núi xơ xác… trong cảnh khốn cùng ghê gớm”. Họ trở thành nô lệ, đang bị kiệt sức vì những tệ nạn xã hội, vì nạn khổ sai liên miên, vì những nạn đói thường xuyên đe dọa.

Cuối cùng, bài báo viết: “Người Bắc Phi sẽ biến khỏi mặt đất, nếu giai cấp vô sản giác ngộ không đến cứu họ khỏi nền “văn minh” quái vật”.

4. Bài 51.000 người An Nam bị đế quốc Pháp động viên đi làm bia đỡ đạn tố cáo thực dân Pháp trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã đẩy 51.000 người Đông Dương ra mặt trận và 49.000 người vào các nhà máy sản xuất thiết bị quân sự. “Người Pháp không chỉ đẩy người An Nam ra trận. Họ còn tước đoạt hết thảy những gì có thể tước đoạt được dưới hình thức thuế”. Nước Pháp nhiều lần hứa sẽ đem lại quyền tự do và quyền tự quyết cho các dân tộc bị áp bức, nhưng nguy cơ chiến tranh vừa qua khỏi thì các chủ nhà băng người Pháp lại bắt đầu nặn thêm nhiều hình thức thuế. Bài viết kết luận: “Chiến dịch chống chiến tranh do Quốc tế Cộng sản phát động, đang vang dội khắp các thuộc địa”.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.294, 253-258, 321-327, 336-342.

Trong năm

Tại Mátxcơva, Nguyễn Ái  Quốc gặp Manabenđra Nat Rôi, nhà hoạt động yêu nước nổi tiếng của  Ấn Độ 13).

            – Theo S.R. Mohandas: Hồ Chí Minh, nhà yêu nước, bản tiếng Anh, Bombay, Ấn Độ, 1950, tr.2-3.

            – A.A. Xôkôlốp: Quốc tế Cộng sản và Việt Nam, bản tiếng Nga, Mátxcơva, 1998, tr.30.

Trong năm

Nguyễn Ái Quốc hoàn thành bản thảo tác phẩm Đông Dương (1923 – 1924), gồm  các phần sau:

– Những tội ác của chủ nghĩa quân phiệt.

– Những thảm hoạ của nền văn minh.

– Đời sống kinh tế Đông Dương.

– Tâm địa thực dân.

– Các quan cai trị.

– Ăn bám và hỗn độn.

– Tập đoàn kẻ cướp.

– Sự nhượng quyền và những kẻ được nhượng quyền.

– Công chính.

– Tạp dịch hay là khổ sai.

– Chính sách ngu dân.

– Báo chí.

– Thuế khoá.

– Cuộc kháng chiến.

– Giáo hội.

– Công lý.

– Nước An Nam dưới con mắt người Pháp.

Với cách viết rất mới mẻ, giọng văn châm biếm sâu sắc pha chút dí dỏm hài hước song đầy tính chiến đấu, dẫn chứng bằng những sự việc có thật, những số liệu cụ thể trên báo chí, bằng những lời thú nhận từ quan toàn quyền, thống đốc, công sứ đến những viên chức thực dân bình thường và của cả các nghị sĩ chính quốc, tác phẩm là một bản tố cáo đanh thép tội ác và tâm địa của thực dân Pháp, những thủ đoạn ghê tởm mà chúng tiến hành ở xứ Đông Dương và thảm hoạ mà dân bản xứ đang phải chịu đựng.

            – Bản thảo tiếng Pháp. Tài liệu lưu tại Kho Lưu trữ Quốc tế Cộng sản. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.343 – 429.

Trong năm

Tại Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc gặp Đalin, một cán bộ của Quốc tế Cộng sản 13).

            – C.A. Đalin: Hồi ký Trung Quốc 1924 – 1927, Mátxcơva, 1982, tr.104.

Trong năm

Tại Mátxcơva, Nguyễn Ái Quốc viết Báo cáo Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ.

Mở đầu, Người viết: “Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây”.

Người đã phân tích những nét riêng của các giai cấp như “đại địa chủ thì chỉ là những tên lùn tịt bên cạnh những người trùng tên với họ ở châu Âu và châu Mỹ”, “Không có tỉ phú người An Nam”, “nếu nông dân gần như chẳng có gì thì địa chủ cũng không có vốn liếng gì lớn; nếu nông dân chỉ sống bằng cái tối thiểu cần thiết thì đời sống của địa chủ cũng chẳng có gì là xa hoa; nếu thợ thuyền không biết mình bị bóc lột bao nhiêu thì chủ lại không hề biết công cụ để bóc lột của họ là máy móc; người thì chẳng có công đoàn, kẻ thì chẳng có tơrớt. Người thì nhẫn nhục chịu số phận của mình, kẻ thì vừa phải trong sự tham lam của mình”.

Người nhận định rằng xã hội Ấn Độ – China 14) hay Ấn Độ, Trung Quốc đều không giống xã hội phương Tây về cấu trúc kinh tế.

Bản báo cáo viết: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”.

Người nhận định: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”, “Giờ đây người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ”. Báo cáo nêu lên một số kiến nghị như bằng con đường hợp pháp lập các lãnh sự quán Nga ở một số nơi như Sài Gòn, Hà Nội, Vân Nam để nó trở thành trung tâm tuyên truyền; một số việc Đảng Cộng sản Pháp phải làm, ở Nga phải làm.

Cuối báo cáo, Người nêu lên những điều kiện để cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương thắng lợi.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.464 – 469.

—————— 

1) Khách sạn Luých ở số 10 phố Tvécxkaia, nay là Khách sạn Xentơranaia ở phố Tver, Mátxcơva, Nga (B.T).

2) Tiếng Arập, nghĩa là người nước ngoài, kẻ đi nô dịch (B.T).

3) Căn cứ vào bức thư ngày 15-3-1924 của Nguyễn Ái Quốc gửi đồng chí Dinôviép, khi đó là Chủ tịch Quốc tế Cộng sản, nhắc lại nội dung bức thư trên.

Chúng tôi phỏng đoán bức thư này cũng gửi cho Dinôviép (B.T).

4) Trên báo Le Paria, số 24, tháng 4-1924, cũng có một bài của Nguyễn Ái Quốc cùng nhan đề Đông Dương và Thái Bình Dương với phụ đềNgười An

 Nam bị bóc lột nặng nề thêm. So sánh hai bài viết, bài đăng trên báo Le Paria chỉ là một phần của bài đăng trên Tập san Inprekorr, số 18 năm 1924,

tr.193.

5) Bài viết trên đây còn được đăng trên báo Le Paria, số 25 (tháng 5-1924) (B.T).

6) Năm 1933, khi Nguyễn Ái Quốc học ở Trường quốc tế Lênin, Mácximốp có gặp lại Nguyễn tại quảng trường Arơbát và ở phố Vôrốpxki.

Năm 1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Mácximốp, có đoạn: “Tôi rất tiếc không thể gặp riêng đồng chí được. Tôi gửi đến đồng chí và gia đình lời chúc sức khoẻ và hạnh phúc”.

7) Tới dự Đại hội Quốc tế Công hội Đỏ lần này, Nguyễn Ái Quốc đã dự thảo một Nghị quyết về Đông Dương và Tổng Công hội thống nhất để kiến nghị đưa vào Nghị quyết của Đại hội. Toàn văn như sau:

Nghị quyết

Đông Dương và Tổng Công hội thống nhất.

Đại hội lần thứ III của Quốc tế Công hội Đỏ nhận thấy:

Rằng Đông Dương là thuộc địa lớn nhất trong các thuộc địa của Pháp, có thể giữ một vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa tư bản.

Rằng giai cấp vô sản Đông Dương, dưới chế độ bản xứ không có khả năng tự tổ chức được.

Vậy nên Tổng Công hội thống nhất phải là người chỉ đạo nó và cung cấp cho nó những nhà tổ chức người Pháp để huấn luyện quần chúng bị áp bức Đông Dương trong cuộc chiến đấu chung để giải phóng.

Nhiệm vụ trước mắt của Tổng Công hội là:

1 – Tổ chức những người Đông Dương hiện làm việc ở Pháp.

2 – Tiến hành một chiến dịch mạnh mẽ vì quyền công đoàn của người bản xứ song song với chiến dịch cho công chức.

3 – Cử những đại biểu thường trực (ít ra là hai) sang Đông Dương với sứ mệnh là tuyên truyền trong dân bản xứ và tổ chức họ.

Đại hội lần thứ III khẳng định rằng: do chiến thuật của chủ nghĩa đế quốc Pháp bòn rút những lực lượng tinh nhuệ ở các thuộc địa để tự củng cố và tự bảo vệ chống lại cuộc tiến công cách mạng của những người bị bóc lột ở chính quốc, cho nên cách mạng của giai cấp vô sản Pháp không thể thắng lợi nếu không hợp tác chặt chẽ với những người bị bóc lột ở các thuộc địa nói chung và ở Đông Dương nói riêng; Đại hội kêu gọi Tổng Công hội thống nhất thi hành ngay quyết định này.

8) G.N. Vôitinxki (1893 – 1953): Năm 1920 là Thư ký Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, Phó tiểu ban Viễn Đông, những năm 20, là đại diện của Quốc tế Cộng sản ở Trung Quốc.

9) Đảng tôi: Đảng Cộng sản Pháp (B.T).

10) Ngày 22-9-1924, đại diện Đảng Cộng sản Pháp đã gửi thư cho Ban Bí thư Quốc tế Cộng sản về vấn đề này. Bức thư có đoạn viết: “Rõ ràng là đồng chí Nguyễn cần phải tạo ra được các quan hệ với dân bản xứ. Nếu trong những điều kiện quá khó khăn, thì đồng chí ấy không thể hoàn

 toàn yên tâm vào công việc đó được. Vậy tôi yêu cầu Ban Bí thư giục Ban Phương Đông cân nhắc lại vấn đề này và có quyết định hợp với sự mong muốn của Đảng Cộng sản Pháp và với những điều cần thiết của việc tuyên truyền thuộc địa”.

(Bản chụp bức thư lưu tại Viện Hồ Chí Minh).

11) Cuốn sách đã được Petrova Sur dịch ra tiếng Nga và được Nhà xuất bản Nôvaia, Mátxcơva xuất bản năm 1925. Ngoài bìa in một bức tranh tả một

 người lao động Trung Quốc cởi trần đang gò lưng kéo một chiếc xe tay trên ngồi chễm chệ một ông chủ nước ngoài, phía sau là hình ảnh cung điện nguy nga. Xét về bút pháp, có thể đoán bức minh họa đó do chính Nguyễn Ái Quốc thể hiện (B.T).

12) M.N. Rôi kể lại: “Nguyễn Ái Quốc đến Mátxcơva với tư cách là sinh viên mới vào học Trường đại học Cộng sản của những người lao động phương Đông. Bấy giờ tôi đang là Chính uỷ của nhà trường, nơi đào tạo những nhà lãnh đạo cộng sản tương lai cho châu Á”.

13) Trong hồi ký của mình, Đalin kể: “Đồng chí ấy tự giới thiệu với tôi là K.A. Xtayennôvích. Đó là một đồng chí Việt Nam, lúc bấy giờ gọi là Đông Dương thuộc Pháp. Đồng chí ấy nói tiếng Pháp, biết tiếng Trung Hoa, am hiểu đời sống chính trị của Hoa Nam”.

12) Tức Đông Dương (B.T).

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 1 (Năm 1923)

NĂM 1923

Tháng 1, đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc gửi báo cáo cho Ban biên tập báo Le Paria về tình hình tài chính của báo.

Người đã thống kê các nguồn thu từ ngày 1-4-1922 đến ngày 31-12-1922 bao gồm tiền quyên góp của các thành viên trong Ban biên tập, tiền ủng hộ báo, tiền bán báo dài hạn và bán lẻ, tổng cộng được 1.171 phrăng. Trong khi đó mọi khoản đã phải chi tới 2.845,40 phrăng.

Người đề nghị các đồng chí đã hứa quyên góp phải giữ đúng lời hứa. Ngoài ra cần tăng số trang, dành một trang “đăng quảng cáo để tờ báo có thể sống được”, “Xtêphani hứa rằng từ số 13 sẽ không yêu cầu các đồng chí đóng góp nữa”.

Cuối báo cáo Người kêu gọi:

“Hãy dũng cảm, có nghị lực và bắt tay vào việc”.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr. 178 – 180.

Tháng 1, đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc đã viết truyền đơn cổ động, hô hào mọi người mua báo Le Paria. Sau khi nêu rõ mục đích của tờ báo, truyền đơn viết:

“Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hoà bình, hạnh phúc, nói tóm lại là nền cộng hoà thế giới chân chính, xoá bỏ những biên giới tư bản chủ nghĩa cho đến nay chỉ là những vách tường dài ngăn cản những người lao động trên thế giới hiểu nhau và yêu thương nhau”.

Truyền đơn kêu gọi “Tất cả mọi người hãy đứng lên quanh lá cờ đỏ để chinh phục thế giới” và kết thúc bằng khẩu hiệu: “Lao động tất cả các nước, đoàn kết lại!”.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 1, tr. 461.

Đầu năm

Nguyễn Ái Quốc viết bài cổ động cho báo Việt Nam hồn mà Người có ý định xuất bản và lưu hành trong những người Việt Nam sinh sống ở Pháp.

Bài cổ động được viết theo kiểu văn vần, toàn văn
như sau:

“Ở trong thế giới, ống nói, tàu bay. Việc lạ tin hay, ngày ngày thường có. Nào ai muốn rõ, phải có nhật trình. Mình ở gia đình, mắt soi vạn lý. Á, Âu, Úc, Mỹ, rút lại một tờ. Con trẻ đàn bà, ai ai cũng biết.

Một người nước Việt, khách địa làm ăn. Chẳng đọc Hán văn, không xem Pháp tự. Việc đời hay dở, lành dữ mặc ai. Tuy có mắt tai, cũng không nghe thấy. Phận mình đã vậy, phận nước thế nào. Anh chị đồng bào, có hay chăng nhẽ! Cũng vì nghĩ thế, tôi muốn làm ra, một báo tiếng ta, cho đồng bào đọc. Chẳng nói khó nhọc, dám kể công trình. Mong mỏi người mình, mở mày mở mặt.

Báo này sẽ đặt, tên Việt Nam hồn. Mỗi tháng hai lần, một lần trăm bản 1). Xin anh em bạn, ai có muốn coi, cắt gửi cho tôi, cái toa mãi chỉ2).

            Mấy lời chung thuỷ, như bất tận ngôn

            Chúc Việt Nam hồn

            Vạn tuế, vạn vạn tuế.

Cắt gửi toa này cho ông Nguyễn Ái Quốc, nhà số 3 phố Mácsê đê Patơriácsơ, Pari, Quận 5.

Tên tôi là …

Ở số nhà …

Tỉnh …

Gửi lại 12 quan để mua báo Việt Nam hồn 6 tháng.

            –  Bài cổ động báo Việt Nam hồn. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 1, ngày 3

Nguyễn Ái Quốc nhận thư của Chi bộ Cộng sản số 12 vùng Xen mời họp tại Nhà Công đoàn, số 33 đường La Grănggiơ Ô Benlơ. Trong buổi họp, Mácxen Casanh và Môngmútxô đã phát biểu ý kiến.

         –  Báo cáo của mật thám ngày 23-1-1923.

            –  Thu Trang: Nguyễn Ái Quốc ở Pari (1917 – 1923), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.306.

Tháng 1, ngày 8

Nguyễn Ái Quốc đến gặp Phan Văn Trường tại một quán rượu trong ngõ Côngpoanh từ 16 giờ đến 17 giờ.

Nguyễn Ái Quốc đã lên án Chính phủ Poăngcarê chiếm cứ vùng Rua (Rhur), một việc làm mà “nhân dân vô sản trên thế giới không cho phép”.

Nguyễn còn nói thêm là cách thức phản động và đe doạ của Chủ tịch Hội đồng Pháp chỉ đem lại kết quả là gây phản ứng trong quần chúng thợ thuyền và có thể gây ra những hậu quả tai hại bất ngờ.

            –  Báo cáo của mật thám ngày 23-1-1923.

            –  Thu Trang: Nguyễn Ái Quốc ở Pari (1917 – 1923), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.306.

Tháng 1, ngày 9

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Vực thẳm thuộc địa, đăng trên báo L’Humanité.

Bằng những số liệu cụ thể, tác giả tố cáo tội ác của thực dân Pháp ở các nước thuộc địa đã phung phí những số tiền lớn mà người dân thuộc địa “đã phải đổ mồ hôi, nước mắt mới kiếm ra được” đem chi cho “hết những điên rồ này đến những sự điên rồ khác” của chúng, như vậy việc cho Khải Định sang du ngoạn bên Pháp, cho cuộc triển lãm thuộc địa ở Mácxây, cho việc đi lại của các “quan toàn quyền”, v.v.. Mà tất cả những khoản tiền lớn đó, bọn chúng đều “gõ vào dân bản xứ”.

         –  Báo L’Humanité, ngày 9-1-1923.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 1, tr. 130 – 132.

Tháng 1, ngày 12

Sau cuộc họp của Hội liên hiệp thuộc địa tại trụ sở báo Le Paria (số 3 phố Mácsê đê Patơriácsơ), Nguyễn Ái Quốc giữ Nguyễn Văn Ái và Trần Tiến Nam ở lại để bàn việc tổ chức Tết Nguyên đán Quý Hợi. Người giao nhiệm vụ chuẩn bị Tết cho hai người, với điều kiện là chi phí mỗi suất không quá 10 phrăng.

         –  Báo Quân đội nhân dân, ngày 25-1-1990.

Tháng 1, ngày 15

Hai bài viết của Nguyễn Ái Quốc: Những người bản xứ được ưa chuộng và Thư ngỏ gửi ông Lêông Ácsimbô (Léon Archimbaud)  3), đăng trên báo Le Paria, số 10.

Trong bài Những người bản xứ được ưa chuộng, tác giả giễu cợt:

Những người dân bản xứ nếu còn sống sót sau Đại chiến thế giới thứ nhất, đều “có thể tự hào rằng vì công lý và nền dân chủ của chủng tộc cao đẳng, họ không những đã hiến đời mình, xương máu mình, mà còn hiến cả niềm  tin của mình nữa”, thì bây giờ đây họ lại đang “hoặc là được thích ứng hoặc là được thích thú” cho những thị hiếu của các “cô nàng da trắng” hay “các bà đầm xinh đẹp” và “các cửa hàng thời trang lớn ở Pari… sẽ tung ra những kiểu vải thuộc địa và kiểu quần áo thuộc địa”, với đủ thứ tên như Thị Ba, v.v..

Bài báo nhại theo câu mở đầu bài Quốc ca Pháp: (“Hỡi những người con của Tổ quốc! Ngày vinh quang đã tới rồi!”) để kết thúc bài viết bằng lời kêu gọi mỉa mai: “Hỡi những người con của thuộc địa! Ngày vinh quang đã tới rồi”.

Trong Thư ngỏ gửi ông Lêông Ácsimbô, tác giả đã vạch trần và lên án những hành vi bất công, những chuyện xấu xa bỉ ổi, những việc làm khinh rẻ coi thường dân thuộc địa của bọn thực dân Pháp; và chất vấn Lêông Ácsimbô về những điều đã biện bạch cho những tội ác ấy khi ông ta đọc diễn văn tại Hạ nghị viện và khi viết bài đăng trên báo Le Rappel 4).

            –  Báo Le Paria, ngày 15-1-1923.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 1, tr. 133 – 138.

Tháng 1, ngày 18

Nguyễn Ái Quốc dự kỳ họp hằng tháng của tổ chức Hội liên hiệp thuộc địa. Dự họp có Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Văn Ái, Trần Tiến Nam, Toàn Hải (con trai của Nguyễn Văn Vĩnh). Ngoài ra còn có 10 người da đen, 2 người da trắng và 2 phụ nữ.

         –  Báo cáo của mật thám Đờ Vilie (De Villier).

            –  Lê Thị Kinh: Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Nxb. Đà Nẵng, 2003, t. II, tr.312.

Tháng 1, ngày 19

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Sự liêm khiết thực dân, đăng trên báo La Vie Ouvriève.

Tác giả trích dẫn những tin tức đăng trên tờ Journal Officiel 5) chung quanh vụ ngành bưu điện Pháp đã gian lận, biển thủ những ngân phiếu của nhiều lính châu Phi gửi cho gia đình trong thời kỳ chiến tranh, để minh chứng cho sự “liêm khiết” thực dân.

Mượn lời của bản tin và cũng là câu hỏi của tác giả bài viết “ở trong một ngành nào đó, đôi khi có thể có một vài viên chức gian tham, song rất ít khi lại có cả một ngành suốt từ trên xuống dưới nhiễm phải bệnh ăn cắp đến như vậy; điều kỳ lạ hơn nữa là tại sao tất cả bọn ăn cắp ấy lại có thể hoành hành được trong khi mấy năm ròng mà vẫn được bình yên vô sự”.

             –  Báo La Vie Ouvrière, ngày 19-1-1923.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr. 139 – 140.

Tháng 2, ngày 1

Ba bài viết của Nguyễn Ái Quốc: Bộ sưu tập động vật, ký tên Nguyễn Ái Quốc; Y như nước mẹ, với bút danh N.A.Q.  Lòng ngay thẳng của Chính phủ thuộc địa, với bút danh N., cùng đăng trên báo Le Paria, số 11.

Bài báo bàn về Bộ sưu tập động vật nhân việc mấy “ông bà” người Pháp thành lập cái tổ chức “Hội bảo trợ các loài vật” mặc dù theo tác giả “hiện nay còn có biết bao nhiêu là con người cùng khổ đang đòi hỏi được người ta săn sóc đến họ một chút mà cũng chẳng được”.

Tác giả đã nêu lên một số con vật tượng trưng cho một số nước đế quốc và một số hạng người trong chính giới, qua đó vạch trần và phê phán tính chất phản động, tham nhũng, cướp bóc của bọn tư bản thực dân đế quốc, đồng thời nêu lên nỗi khổ của người dân thuộc địa đang rất cần được cứu trợ.

N.A.Q. trong bài Y như nước mẹ cho biết: Trên thế giới chỉ có thành phố Tuynlơ (Tulle) ở tây nam Thủ đô nước Pháp là nơi nổi tiếng vì những bức thư nặc danh. Vậy mà ở cái xứ thuộc địa Nam Kỳ này cũng lại xảy ra câu chuyện thư nặc danh y như ở nước Pháp: Một viên “hương cả” bị bắt giam oan uổng không phải vì đã lạm dụng thư nặc danh (như trường hợp ở Pháp), mà vì bị thư nặc danh tố cáo ông ta giết chết gia nhân của mình. Sự thật là gia nhân này chết vì bị bọn cướp bắn, và thân quyến của người bị nạn đã làm đơn minh oan cho ông “hương cả”, nhưng ông ta vẫn bị tống giam và hiện “vẫn còn nằm trong bóng tối để chờ ánh sáng của công lý”.

Để “chứng minh” cho lòng ngay thẳng của Chính phủ thuộc địa, trong bài Lòng ngay thẳng của Chính phủ thuộc địa, tác giả đã dẫn chứng: “Trong thời chiến tranh vinh quang, để có được những “tình nguyện quân”, người ta đã hứa trời hứa biển với dân bản xứ. Chiến tranh hết, những lời hứa trang trọng ấy cũng được trang trọng quên đi”. Cũng như trong vụ công trái vừa qua, dân bản xứ đã hưởng ứng “một cách tự nguyện với một tấm lòng sốt sắng và phấn khởi” vì “ngoài những biện pháp thúc ép, người ta còn hứa với những người mua, phẩm hàm, hoàn tiền dễ dàng, và hàng lô cái khác nữa”. Đến bây giờ, khi lòng trung thành của đám dân bản xứ đã được chứng tỏ, họ mới được vào xiếc, “phiếu” trở thành “phiệu” cả.

Bài viết kết thúc bằng lời tái bút: “Phủ Toàn quyền Đông Dương sắp được phép phát hành đợt hai công trái 90.000.000 phrăng. Khéo đấy, anh em ơi!”.

            –  Báo Le Paria, ngày 1-2-1923.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.141 – 148.

Tháng 2, ngày 2

Nguyễn Ái Quốc nhận được tờ báo La Vague  Le Libertaire.

Người đến số 6 phố Vila đê Gôbơlanh thăm Phan Văn Trường và nói chuyện hàng giờ liền với ông.

            –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 3

Nguyễn Ái Quốc nhận được thư của Bí thư Chi bộ Đảng Cộng sản Pháp Quận 17 mời tham gia biểu tình nhân ngày mất của Luidơ Misen6), sẽ tổ chức tại nghĩa địa Rơvaloa (Revalloir).

            –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 5

Ba bài viết của Nguyễn Ái Quốc: Chế độ thực dân; Từ vụ bê bối này đến vụ bê bối khác; Nạn thiếu trường học, đăng trên báo L’Humanité.

Trong bài Chế độ thực dân, tác giả vạch rõ việc báo chí và các diễn giả tư sản cùng lên tiếng phản đối sự khắc nghiệt mà người bản xứ phải chịu đựng, phản đối sự vô sỉ của bộ máy cai trị thuộc địa, phản đối tình trạng thiếu hẳn một chính sách thuộc địa. Theo tác giả, việc làm đó chính là vì quyền lợi của họ, vì nghĩ đến việc tăng cường hệ thống thuộc địa để khai thác lợi nhuận cao hơn, vì sợ những người bị bóc lột nổi dậy mà phải có những biện pháp xoa dịu để ngừa trước những hậu quả xấu do những thủ đoạn tàn nhẫn quá hung bạo. Tóm lại, vấn đề vẫn chỉ là buộc các thuộc địa phải làm nhiều hơn vì lợi nhuận tối đa của các công ty tư bản, chứ không phải là từ bỏ chủ nghĩa thực dân.

Lập trường của những người cộng sản về vấn đề này, tác giả viết: “Những người cộng sản đòi hỏi chấm dứt bóc lột thuộc địa, một bộ phận của bóc lột tư bản nói chung”. “Những người cộng sản đấu tranh cho sự giải phóng dân tộc và kinh tế của các thuộc địa, chứ không phải cho những biện pháp tạo điều kiện dễ dàng cho sự cướp bóc”. “Đối với những người cộng sản, vấn đề không phải là cải thiện hệ thống thuộc địa mà phải bãi bỏ nó”.

Trong bài Từ vụ bê bối này đến vụ bê bối khác cho biết: Khi chiếc ghế bị cáo mà viên quan cai trị “thanh liêm” Lanô vừa rời khỏi chưa kịp nguội thì đã có tin về vụ Buđinô, một “nhà khai hoá” điển hình, một quan cai trị chuyên ăn hối lộ mà việc làm của hắn “giống như một cuốn tiểu thuyết thực sự, trong đó, viên cựu công sứ đã bộc lộ trí tưởng tượng của mình với một sự vô sỉ không thể tưởng tượng nổi”. Tiếp đó là vụ Têa, giám đốc một hãng lớn của Pháp ở Hải Phòng đã câu kết với Giám đốc Sở đoan Xcala, ngoặc với chính quyền để bán thuốc phiện…

Tác giả mỉa mai: “Nếu tên đao phủ Đáclơ, Công sứ tỉnh Thái Nguyên, được cử làm Uỷ viên Hội đồng thành phố Sài Gòn, còn ông Bôđoanh, người đang được quan toà Oaren nóng lòng mong đợi, đã trở thành Quyền Toàn quyền Đông Dương, thì các ông Têa và Buđinô ít ra cũng nên được gắn bội tinh mới phải”.

Bài Nạn thiếu trường học đề cập đến tình trạng “Mỗi năm, cứ đến ngày khai trường, các bậc cha mẹ dù có đi gõ cửa khắp nơi, cầu xin mọi sự giúp đỡ, thậm chí xin nộp gấp đôi tiền ăn học mà họ vẫn không gửi được con cái đến trường. Và những đứa trẻ này, có đến hàng nghìn, bị đày vào cảnh ngu dốt chỉ vì không có đủ trường sở”.

Theo tác giả bài báo, nguyên nhân của tình hình trên không hẳn vì ngân sách không đủ cho Chính phủ xây thêm trường mới, mà vì “Trong số 12 triệu đồng của ngân sách Nam Kỳ, thì 10 triệu đồng đã tìm được cách lọt vào túi các công chức”.

Mặt khác, cũng theo tác giả, “sợ rằng thanh niên An Nam bị tiêm nhiễm chủ nghĩa bônsêvích, Chính phủ thuộc địa làm mọi cách có thể làm để ngăn cản họ sang học ở chính quốc”.

Kết luận, bài báo viết: “Làm cho u mê để thống trị”, đó là phương pháp mà nhà cầm quyền ở các thuộc địa của chúng ta ưa dùng nhất”.

            –  Báo L’Humanité, ngày 5-2-1923.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 1, tr.149 – 155.

Tháng 2, ngày 9

Lúc 15 giờ, Nguyễn Ái Quốc rời nhà đến toà soạn Le Journal du Peuple ở phố Đờ Grănggiơ Batơliê (De Grange Battelir). Sau đó đến toà soạn báo L’Humanité ở số 142 phố Môngmáctơrơ, nói chuyện khá lâu với Uylixơ Lơrisơ, rồi trở về phố Vila đê Gôbơlanh.

            –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 16

Nguyễn Ái Quốc dự buổi nói chuyện của Phan Văn Trường tại trụ sở Hội liên hiệp thuộc địa, số nhà 16 đường Xêveranh, về đề tài Lịch sử Việt Nam, có 15 người Việt Nam dự.

Ông đã ca ngợi nhiệt tâm và sự anh dũng của các vị lãnh đạo tiền bối, họ sẵn sàng chọn cái chết hơn là chấp nhận ách thống trị của người ngoại quốc. Ông cũng nhắc đến sự giúp đỡ của nước khác để người Việt Nam giữ gìn nền tự chủ.

Cuối cuộc họp, Nguyễn Ái Quốc đã giải thích về bổn phận của mỗi người dân thuộc địa là cần ủng hộ và tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản. Nguyễn Ái Quốc còn đề nghị mọi người tuyên truyền, giới thiệu, truyền bá tờ báo Le Paria cho nhiều người đọc.

            –  Thu Trang: Nguyễn Ái Quốc ở Pari (1917 – 1923), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 308 – 309.

Tháng 2, ngày 17

Nguyễn Ái Quốc cùng kiều bào ở Pháp đón Tết Nguyên đán Quý Hợi tại hiệu ăn Luynivécxitê, phố Pie Quiri (Pierre Curie). Buổi tiệc được tổ chức vừa để mừng Xuân mới, vừa để công bố sự hoạt động trở lại của Hội ái hữu 7).

            –  Báo Quân đội nhân dân, ngày 25-1-1990.

Tháng 2, ngày 19

Truyện ngắn của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Vi hành, đăng trên báo L’Humanité.

Tác giả đã tạo ra trong thiên truyện một tình huống nhầm lẫn rất độc đáo, rất hài hước để dựng lên hình ảnh hết sức mỉa mai và lố bịch về “đấng hoàng thượng Khải Định” trong chuyến “vi hành” sang Pháp, dưới con mắt của những người dân Pari đang háo hức những trò giải trí mới lạ.

            –  Báo L’Humanité, ngày 19-2-1923.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.156 – 160.

Tháng 2, ngày 21

Nguyễn Ái Quốc ăn tối cùng với Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền tại số 6 phố Vila đê Gôbơlanh.

20 giờ 45, cả ba người cùng đi đến trụ sở của Hội liên hiệp thuộc địa.

            –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 24

Từ 20 giờ 30, Nguyễn Ái Quốc họp Chi bộ Đảng Cộng sản Pháp Quận 17 tại số 100 phố Cácđinê.

            –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 27

Nguyễn Ái Quốc họp Chi bộ Đảng Cộng sản Pháp Quận 17 tại số 52 Balanhi.

         –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Viện hàn lâm thuộc địa, đăng trên báo Le Paria số 12 (tháng 3-1923) và đăng tiếp trên số 14 (tháng 5-1923).

Với lối chơi chữ hóm hỉnh và những mẩu đối thoại đầy tính châm biếm, tác giả mỉa mai cái gọi là “Viện hàn lâm khoa học thuộc địa” của Pháp mới được thành lập và những thành viên của nó gồm toàn những người “lương thiện”, “liêm khiết”, “yêu nước” mà theo tác giả “đúng là những người đại diện vừa cho quyền lợi thật sự của cử tri ở Quốc hội Pháp, vừa cho quyền lợi và nền văn hóa Pháp ở thuộc địa”.

            –  Báo Le Paria, số 12 (tháng 3-1923) và số 14 (tháng 5-1923).

            –  Nguyễn Ái Quốc: Những bài đăng trên báo Le Paria, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.58 – 64.

Tháng 3, ngày 3

Từ 18 giờ đến 20 giờ, Nguyễn Ái Quốc thăm Phan Văn Trường tại số 6 phố Vila đê Gôbơlanh. Sau đó, đi họp chi bộ ở số 33 phố La Grănggiơ Ô Benlơ.

         –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 3, ngày 9

Nguyễn Ái Quốc dự cuộc họp của Uỷ ban hành động chống chiến tranh và chủ nghĩa đế quốc của Quận 17 tổ chức tại nhà Công đoàn ở phố Lơgiăngđrơ.

Dự cuộc họp này còn có một số đoàn viên của Liên hiệp Công đoàn quận Xen như Phrômăngtanh (Fromentin), Xarốt (Sarotte), Phrađanh…

         –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 3, ngày 14

Nguyễn Ái Quốc chuyển chỗ ở từ số 9 ngõ Côngpoanh đến số 3 phố Mácsê đê Patơriácsơ, trụ sở của Hội liên hiệp thuộc địa và báo Le Paria.

Đồ đạc mang theo chỉ có một chiếc giường xếp.

            –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 3, ngày 16

Nguyễn Ái Quốc nhận được giấy mời họp Chi bộ Quận 17 Đảng Cộng sản Pháp và dự mít tinh ở nhà máy Rênô Vétsphaliêng (Rhéno Westphalien) vào thứ bảy 17-3.

Các diễn giả trong cuộc mít tinh có Bis (Bish), Đuyđiliơ (Dudilieux), P.Vayăng Cutuyariê, Lui Xeliê (Louis Sellier).

Cùng ngày, bài viết của Nguyễn Ái Quốc, nhan đề Những người làm công tổ chức lại, chống bóc lột của chủ nghĩa tư bản, đăng trên báoLa Vie Ouvrière, giới thiệu về bước phát triển mạnh mẽ của giai cấp công nhân Trung Quốc.

Tác giả nhận định: “Mặc dầu nền công nghiệp lớn và cơ khí lớn chưa được phát triển hoàn toàn ở Trung Quốc, những tập tục gia trưởng chưa mất hẳn, công nhân Trung Quốc bị hai tầng áp bức của tư bản nước ngoài và của bọn quân phiệt bản xứ, đã bắt đầu hoạt động mạnh. Có khoảng một triệu người lao động đã chịu ảnh hưởng (trực tiếp hoặc gián tiếp) của sự tuyên truyền nghiệp đoàn và cách mạng”.

Phong trào đấu tranh của công nhân Trung Quốc đã rất sôi nổi. Liên hiệp hải viên công hội Hồng Công với 30.000 hội viên đã phát động một cuộc đình công bốn tháng, được quần chúng ngoài công hội nhiệt liệt hưởng ứng, kết quả công nhân được tăng lương từ 20 đến 40%. Liên hiệp hội viên công hội Thượng Hải có 15.000 hội viên, tuyên bố đình công ba tuần, kết quả công nhân Thượng Hải được tăng lương 20%. Nhiều cuộc đấu tranh đã nổ ra trong ngành công nghiệp bông sợi đòi cải thiện điều kiện làm việc. Một cuộc đình công của thợ dệt Nam Kinh đã ngăn cản được việc độc quyền tơ sợi của thành phố rơi vào tay một tập đoàn kinh doanh Nhật. Nghiệp đoàn những người làm thuê cho chủ xe kéo nước ngoài đã đình công, đấu tranh bằng hình thức tổ chức một đoàn “ăn xin” đi diễu hành trong tô giới Pháp, để phản đối việc giảm lương theo “sáng kiến” của các chủ người Pháp, v.v.. Ngoài ra, công nhân Trung Quốc còn xuất bản những tờ báo riêng để nói lên tiếng nói của mình.

Tác giả kết luận: “Mặc dầu bọn tư bản nước ngoài và tư bản bản xứ cố hết sức dập tắt hoặc ngăn cản mọi phong trào giải phóng, nhưng những người công nhân Trung Quốc được sự giúp đỡ mạnh mẽ của những người trí thức tận tụy, đã tổ chức lại một cách nhanh chóng và hành động tốt đẹp”.

            –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            –  Báo La Vie Ouvrière, ngày 16-3-1923.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.167 – 168.

Tháng 3, ngày 18

Bài Cuộc bạo động ở Đahômây của Nguyễn Ái Quốc đăng trên báo L’Humanité.

Bài báo viết về cuộc bãi công phản đối nhà cầm quyền thuộc địa của những công nhân bản xứ làm việc trên các công trường xây dựng ở Poóctô Nôvô (Porto Novo), Thủ đô xứ Đahômây (Dahomey).

Nhận xét về sự kiện trên, tác giả viết:

“Trong các thuộc địa, công nhân đã bắt đầu hiểu thế nào là đấu tranh giai cấp. Cần phải làm thế nào để cho công nhân da đen và da vàng cũng hiểu rằng: kẻ thù duy nhất của họ nằm ngay trong bản thân cái chế độ này, chế độ đang dẫn đến một chế độ nô lệ tinh vi hơn, nặng nề hơn, và vô nhân đạo hơn chế độ trước đây. Và chỉ với sự giúp đỡ của những người anh em bị áp bức của mình ở các nước châu Âu họ mới sẽ có thể tự giải phóng được mình”.

            –  Báo L’Humanité, ngày 18-3-1923.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.169 – 170.

Tháng 3, ngày 24

Nguyễn Ái Quốc nhận được giấy mời họp các nhóm tuyên truyền của phố Batinhon (Batignolles) và Êpinét (Epinettes) thuộc Chi bộ Quận 17, sẽ họp vào buổi tối tại số nhà 100 phố Cácđinê.

         –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 3, ngày 30

Nguyễn Ái Quốc, Xarốt, Rexprét và Uylixơ Lơrisơ dự cuộc họp của Ban Nghiên cứu thuộc địa tại số 120 phố Laphayét, bàn về việc tuyên truyền chủ nghĩa xã hội tại các nước thuộc địa và vấn đề in tài liệu cho nhóm cách mạng ở Đahômây.

Cùng ngày, bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Khởi nghĩa ở Đahômây, đăng trên báo La Vie Ouvrière.

Dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, nhân dân Đahômây “phải chịu cái kiếp lầm than của người dân bản xứ, cái chế độ đã hạ con người xuống hàng con vật và làm điếm nhục cho cái gọi là thế giới văn minh. Dân bản xứ, không nhịn nhục được nữa, vùng lên. Thế là cuộc đàn áp đẫm máu được tiến hành”. Tình cảnh đó và chính sách khủng bố đẫm máu đó chẳng riêng gì đối với Đahômây mà ở cả Đông Dương và các thuộc địa khác của Pháp từng chịu chung số phận. Đủ thấy công cuộc khai hoá đó là “đẹp đẽ và dịu dàng” biết chừng nào.

Tác giả kết luận: “Đấy, đức nhân từ của công cuộc khai hoá như thế đấy”.

             –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            –  Báo La Vie Ouvrière, ngày 30-3-1923.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr. 172 – 173.

Tháng 4, đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc đăng quảng cáo nghề làm ảnh của mình trên báo La Vie Ouvrière. Nội dung như sau:

“Xin giới thiệu với độc giả và bè bạn:

Mọi loại ảnh cũ, hoặc trích trong báo chí, v.v. đều có thể chụp lại, làm thành như ảnh mới, ảnh kỹ thuật.

Giá từ 20 phrăng, do Nguyễn Ái Quốc số 3 đường Mácsê đê Patơriácsơ”.

         –  Thu Trang: Nguyễn Ái Quốc ở Pari (1917 – 1923), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 315.

Tháng 4, ngày 2

Nguyễn Ái Quốc họp với Phan Văn Trường, Nguyễn Văn Ái, Nguyễn Văn Hai, ông Lê Đức Long và ba người Việt Nam khác do ông Ái mời đến tại số 6 Vila đê Gôbơlanh để bàn vấn đề thành lập một hội, lấy tên là Hội Thân ái.

Cuộc họp đặt vấn đề cần nhanh chóng lập Hội Thân ái và trao đổi ý kiến về vấn đề chọn người làm chủ tịch.

Hội Thân ái được thành lập xong vào cuối tháng
4-1923, Chủ tịch hội là Trần Tiến Nam, Phó Chủ tịch là Lê Đức Long.

            –  Mật báo ngày 4-4-1923 của Đơ Viliê.

            –  Thu Trang: Nguyễn Ái Quốc ở Pari (1917 – 1923), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.310.

Tháng 4, ngày 4

Nguyễn Ái Quốc, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Văn Ái đã họp tại trụ sở Hội liên hiệp thuộc địa, số 3 đường Mácsê đê Patơriácsơ.

Nguyễn Ái Quốc đã trình bày về tình hình tài chính của tờ báo Le Paria bị hụt mất 1.500 phrăng, trong đó một phần là phải trả cho nhà in.

Nguyễn Ái Quốc nêu ý kiến rằng tờ báo phải sống bằng bất cứ giá nào, vì nếu tờ báo bị chết trong lúc này sẽ làm thiệt hại lớn đến công việc tuyên truyền, mà lúc này hơn lúc nào hết đang cần để nhân dân vô sản thế giới chống bọn đi bóc lột.

Nguyễn Ái Quốc còn đề nghị tổ chức một buổi quảng cáo cho tờ báo.

             –  Mật báo của Đơ Viliê.

              –  Thu Trang: Nguyễn Ái Quốc ở Pari (1917 – 1923), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.313.

Tháng 4, ngày 13

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Chủ nghĩa quân phiệt thực dân, đăng trên báo La Vie Ouvrière.

Bài báo nêu những dẫn chứng cụ thể về thủ đoạn bắt lính cực kỳ dã man ở thuộc địa, để khẳng định: “Sự tàn ác của bọn bắt lính ở các thuộc địa tinh vi tới mức thậm chí người Pháp ở chính quốc cũng không thể hình dung được một cái gì giống như thế”. Và, đó “là một trong những nguyên nhân thúc đẩy” những người dân bản xứ đứng lên bạo động, chống lại chủ nghĩa quân phiệt thực dân.

             –  Báo La Vie Ouvrière, ngày 13-4-1923.

              –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.174 – 175.

Tháng 4, ngày 16

Nguyễn Ái Quốc nhận được giấy mời dự Đại hội thường kỳ lần thứ 7 Hội những người bạn phương Đông của Pháp, sẽ họp vào 14 giờ 30 ngày 22-4-1923 tại Bảo tàng Ghimê (Guimet).

             –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 27

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Những kẻ tham tàn đăng trên báo La vie Ouvrière, chỉ trích ông Anbe Xarô vì ông Xarô nói rằng: “Chúng ta là những thực dân tốt và người bản xứ rất bằng lòng, rất bằng lòng chúng ta”.

Sau khi dẫn ra những cuộc khởi nghĩa ở Đông Dương, ở Angiêri và ở châu Úc, Nguyễn Ái Quốc đã công bố những con số mà Chính phủ Pháp đã phải chi phí cho các quân nhân của họ ở thuộc địa:

“183.859.000 phrăng để nuôi 1.617 sĩ quan, 12.277 lính châu Âu, 49.999 lính người bản xứ”.

            –  Báo La Vie Ouvrière, ngày 27-4-1923.

Tháng 4

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc, ký tên N., nhan đề Tinh hoa của xứ Đông Dương, đăng trên báo Le Paria, số 13.

Tác giả kể lại chuyện: Trong đám tang Toàn quyền Lông, một ông tiến sĩ luật học kiêm tiến sĩ khoa chính trị học và kinh tế học nọ, tòng sự tại Tòa biện lý Sài Gòn và một ông kỹ sư kia là Chủ tịch Hội những người Đông Dương đã thành tâm than khóc và tán dương địa vị, công lao, đức độ của Lông bằng những lời lẽ rất chi là mỹ miều.

Bài báo mỉa mai: “Từ sự việc trên, tôi đi đến kết luận rằng: Nếu quả thực tất cả những người An Nam đều cũng luồn cúi sát đất như hai đứa con này của guồng máy cai trị thì quả thực là dân này xứng đáng với cái số phận được cho”.

            –  Báo Le Paria, số 13, tháng 4-1923.

                –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr. 176 – 177.

Tháng 5, ngày 2

Nguyễn Ái Quốc nhận đơn xin gia nhập Hội liên hiệp thuộc địa của một người tên là Valêriuýt Tômát Ăngtoan (Valérius Thomas Antoine) làm việc ở Khách sạn Brơtanhơ (Bretagne) Quận 14, Pari.

            –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 10

Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho cô Buđông (Boudhon) báo tin đã làm xong ảnh của cô. Anh tỏ ý muốn làm gấp đôi số ảnh và gửi lại một nửa “để kỷ niệm tình bạn của chúng ta”.

Anh gửi kèm theo lá thư hai tấm ảnh của Buđông và tờ Le Paria số 14.

Bức thư này bị trả lại vì “không có người nhận”.

            –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 15

Nguyễn Ái Quốc dự đám tang Bêrađanh (Béradin). Anh đã chết sau khi bị thương trong cuộc biểu tình ngày 1-5 tại phố La Grănggiơ Ô Belơ.

Tất cả các đảng viên cộng sản đều dự đám tang này.

            –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 23

Nguyễn Ái Quốc họp Chi bộ 5 quận Xen tại số nhà 11 phố Graxiơ (Gracieux).

            –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 28

Nguyễn Ái Quốc dự cuộc mít tinh kỷ niệm Công xã Pari tổ chức tại nghĩa trang Perơ Lasedơ, và đã phát truyền đơn cho những người trong Câu lạc bộ Phôbua.

            –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc, ký tên N., nhan đề Các vị thống trị của chúng ta, đăng trên báo Le Paria, số 14.

Nhân vụ Mácxian Méclanh (Martial Merlin), nguyên Toàn quyền Tây Phi thuộc Pháp sắp được cử sang làm Toàn quyền Đông Dương để “cai trị đất nước mà Ngài không biết gì về nó cả”, tác giả bài báo đã vạch trần tâm địa của “các vị thống trị của chúng ta”, nhất là tâm địa của Anbe Xarô trong việc bổ nhiệm viên “tân thái thú” này.

            –  Báo Le Paria, số 14, tháng 5-1923.

                –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.181 – 183.

Tháng 6, ngày 6

Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho cô Buđông (Boudon). Bức thư bỏ ở thùng thư số 3 phố Mácsê đê Patơriácsơ, đã bị mật thám sao chép lại, nội dung như sau:

“Đồng chí thân mến,

Tôi đã đợi đến 16 giờ. Tôi buộc phải đi đến 19 giờ. Mong đồng chí hẹn cho biết ngày đồng chí quay lại đây. Muộn nhất là thứ bảy.

Mong đồng chí thứ lỗi. Gửi đồng chí lời chào trân trọng.

Nguyễn Ái Quốc”.

            –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 6, khoảng ngày 8

Nguyễn Ái Quốc báo cho một vài người bạn rằng anh sẽ cùng một số hội viên Câu lạc bộ Phôbua đi du lịch chừng tám ngày ở vùng Xavoa (Savoie) phía nam nước Pháp.

Anh còn nói chuyện với bà gác cổng nhà số 6 phố Vila đê Gôbơlanh rằng anh muốn đi Thụy Sĩ, nhưng không muốn hạ mình đi xin hộ chiếu và nếu có xin thì chắc cũng sẽ bị nhà đương cục từ chối.

            –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 6, sau ngày 11

Nguyễn Ái Quốc nhận được thư của cô Buđông, đề ngày 11-6-1923, gửi từ địa chỉ số 29 phố Đuy Tămplơ (Du Temple) báo tin đã nhận được thư của anh, đề nghị anh giữ lại những bức ảnh đã in. Cuối thư, cô viết:

“Nếu ông thấy cần thiết tặng ảnh cho tôi thì ngày mai mời ông đến tiệm ăn” 7).

            –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 6, trước ngày 13

Nguyễn Ái Quốc viết thư từ biệt gửi các bạn cùng hoạt động trước khi bí mật rời Pari.

Sau những dòng mở đầu:

“Các bạn thân mến,

“Bao lâu nay chúng ta làm việc với nhau.

Mặc dầu chúng ta là những người khác giống, khác nước, khác tôn giáo, chúng ta đã thân yêu nhau như
anh em.

“Chúng ta cùng chịu chung một nỗi đau khổ: sự bạo ngược của chế độ thực dân. Chúng ta đấu tranh vì một lý tưởng chung: giải phóng đồng bào chúng ta và giành độc lập cho Tổ quốc chúng ta”.

Nguyễn Ái Quốc nêu lên câu hỏi: “Chúng ta phải làm gì?” và trả lời: “Chúng ta không thể đặt vấn đề ấy một cách máy móc. Điều đó tuỳ hoàn cảnh của mỗi dân tộc chúng ta”.

Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập”.

Nói lên tình cảm với các đồng chí của mình, Nguyễn Ái Quốc viết:

“Tôi từ giã các bạn. Tôi xa các bạn, nhưng lòng tôi luôn luôn gần các bạn”.

Cuối thư, Nguyễn Ái Quốc đã dành những lời thắm thiết nhất cho hai cháu nhỏ: “Chú sẽ luôn luôn nhớ đến các cháu. Các cháu luôn luôn vẫn là cô bé Alítxơ và cậu bé Pôn thân yêu của chú…”.

“Các cháu nhỏ thân yêu của chú, chú hôn các cháu rất kêu. Các cháu hôn mẹ hộ chú”.

            –  Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, 1975, tr.53-54.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.191 – 193.

Tháng 6, ngày 13

Buổi tối, Nguyễn Ái Quốc bí mật rời Pari đi Liên Xô, đất nước mà Người mơ ước được đặt chân tới.

Để đi được trót lọt trong hoàn cảnh bị mật thám Pháp thường xuyên theo dõi, Nguyễn Ái Quốc đã mất một thời gian khá dài để chuẩn bị cho cuộc ra đi này. Người đã làm việc và sinh hoạt thật nền nếp: buổi sáng đi làm, buổi chiều đến thư viện, tối dự mít tinh, khuya về nhà ngủ, để mật thám Pháp quen với “quy luật hoạt động” của Nguyễn Ái Quốc.

Người cũng nắm vững “quy luật hoạt động” của chúng: chúng chỉ theo Người từ nhà trọ đến chỗ làm việc, đến chỗ đọc sách, đến nơi hội họp. Sau đó, tin chắc rằng Nguyễn Ái Quốc chẳng đi đâu mất, chúng ra về.

Tối ngày 13-6, Nguyễn Ái Quốc ung dung lên xe buýt đi tham gia một cuộc mít tinh ở ngoại ô Pari. Độ nửa giờ sau, Người lặng lẽ đi quanh về ga xe lửa. Một đồng chí tin cẩn đã chờ sẵn ở đó, trao cho Người một vé xe lửa hạng nhất (khách loại sang thường ít bị mật thám nghi ngờ) và một vali con.

Sau này, nhắc lại cuộc ra đi ấy, Bác Hồ nói: “Bác cố trấn tĩnh, nhưng đến khi xe lửa qua khỏi biên giới Pháp – Đức, trong ngực mới hết phập phồng”.

“Chắc chắn là bọn mật thám phụ trách gác Bác sẽ được quan thượng thư thuộc địa “thưởng” cho một mẻ nên thân! Mà chính quan thượng thư cũng tức mình đến “ung thư phát bối”” 8).

            –  T.Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, tr.18.

            –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 6, ngày 16

Trên đất Đức, Nguyễn Ái Quốc được Cơ quan đặc mệnh toàn quyền Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết Liên bang Nga tại Béclin cấp cho giấy đi đường. Nguyên văn bằng tiếng Pháp, nội dung dịch như sau:

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết Liên bang Nga

Giấy đi đường số 1829

Người mang giấy: CHEN VANG

Sinh ngày: 15 tháng 2 năm 1895 tại Đông Dương.

Nghề nghiệp: thợ ảnh.

Đi đến: nước Nga.

Giấy này chỉ có giá trị trong khi đi đường.

Béclin, ngày 16 tháng 6 năm 1923

Đại diện đặc mệnh toàn quyền

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết Liên bang Nga tại Đức.

Đã ký:

Xtêphan Brátman Brađốpxki.

            –  Giấy đi đường số 1829. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 6, ngày 18

Nguyễn Ái Quốc, dưới bí danh Chen Vang, được Sở cảnh sát Béclin cấp giấy phép tạm trú và đi lại trên lãnh thổ Đức. Toàn văn giấy phép như sau:

GIẤY PHÉP SỐ 5316 THÁNG 6-1923

CÓ GIÁ TRỊ CHO MỘT CHUYẾN ĐI TỪ BÉCLIN QUA CÁC ĐỒN BIÊN PHÒNG

Tên: CHEN VANG

Đi đâu: ra nước ngoài

Mục đích: về nhà

Thời hạn: không thời hạn

Giấy này có giá trị từ ngày 18-6-1923 đến ngày 22-6-1923

Béclin, ngày 18-6-1923

Chánh cảnh sát

(Đã ký và đóng dấu)

SƠNÂYĐƠ

Phía cuối giấy phép có thêm dòng chữ mực đỏ:

“Tôi xác nhận đã chữa con số 22-6 thành 27-6. Sơnâyđơ” 9).

            –  Giấy phép số 5316. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 6, ngày 25

Nguyễn Ái Quốc dưới bí danh Chen Vang nhận giấy thị thực nhập cảnh số 361370.

Nguyên văn như sau:

THỊ THỰC NHẬP CẢNH SỐ 361370

Ông: CHEN VANG

Đến: Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết Liên bang Nga.

Qua trạm biên phòng: Thương cảng Pêtơrôgrát.

Mục đích chuyến đi: Công tác chuyên môn.

Thời gian ở Nga: 1 tháng

Béclin, ngày 25-6-1923

Ký thay

Đại diện đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết Liên bang Nga tại Đức (ký không rõ tên – B.T).

         –  Giấy thị thực nhập cảnh số 361370. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 6, sau ngày 25, trước ngày 30

Nhờ sự giúp đỡ của cơ quan đại diện Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết Liên bang Nga tại Béclin, Nguyễn Ái Quốc lên tàu Các Lípnếch (Karl Liebnek) của Liên Xô khởi hành từ cảng Hămbuốc (Hambourg) đi Pêtơrôgrát.

             –  Tàu Các Lípnếch và thuyền trưởng Antônốp. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

             –  Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.56.

Tháng 6, ngày 30

Nguyễn Ái Quốc đến cảng Pêtơrôgrát. Lần đầu tiên Người đặt chân lên mảnh đất của Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết.

Người đã xuất trình hộ chiếu mang tên Chen Vang để bộ đội biên phòng đóng dấu thị thực nhập cảnh.

            –  Hộ chiếu của Chen Vang có dấu thị thực nhập cảnh. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            –  Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, tr.56.

Tháng 6

Ba bài viết của Nguyễn Ái Quốc, đăng trên báo Le Paria, số 15.

Bài thứ nhất: Không phải chuyện đùa.

Nhân một “kiến nghị khôi hài” của các ông nghị thỉnh cầu Chính phủ Pháp cho tất cả các trường học các cấp phải dạy rằng “nước Pháp là một nước 100 triệu dân. Không hơn không kém một người”, bài báo bàn về những hậu quả sẽ như thế nào nếu quả thực kiến nghị ấy được chấp nhận đối với các quan chức trong Bộ Thuộc địa, các vị thống soái và những nhà chính trị, v.v.. Còn đối với nhân dân bản xứ, theo tác giả, chắc họ “cũng hết sức hoan nghênh nó” vì “Một khi chúng tôi là người Pháp, lập tức chúng tôi sẽ gửi một đoàn khai hoá đến khắp nước Pháp… chúng tôi sẽ làm lại ở đây tất cả những gì mà những kẻ nguyên là bề trên của chúng tôi đã làm trên đất nước chúng tôi, cho chúng tôi hoá ra là người Pháp”…

Bài thứ hai: Diễn đàn Đông Dương, tố cáo ông Bôđoanh (Baudoin) giả mạo giấy tờ, ông Đáclơ ăn hối lộ, ông Têa (Théard) tham nhũng, ông Buđinô (Boudineau) nhét túi số tiền lời của một chợ phiên, đòi đút lót khi cấp một giấy phép hay một loại giấy tờ gì đó… nhưng rốt cục, họ vẫn giữ chức quyền không ai làm rầy rà gì họ cả.

Tác giả kết luận:

“Bao giờ người ta cũng vì uy tín chủng tộc, mà xá tội cho lũ “vô lại khả ố”. Bao giờ người ta cũng nhân danh nhân dân Pháp mà bắt công lý làm đĩ bợm.

Văn minh là như thế đó!”.

Bài thứ ba: Trò Méclanh, ký bút danh N., vạch trần một trò hề mà Méclanh đã làm trước khi sang nhậm chức ở Đông Dương.

Bữa đó, “quan lớn” Mácxian Méclanh ra lệnh cho nhóm thanh niên Annammít được trợ cấp, đi theo Ngài đến Vườn Người chết ở Nôgiăng (Nojent) trên sông Mácnơ (Marne) để đọc một bài diễn văn do “quan lớn” cho dàn ý.

Tác giả mỉa mai: “Cố nhiên, bài diễn văn xào nấu trong các thứ nước cốt của quan lớn như vậy, thì hương vị của lòng trung thành và lòng ái mộ bất diệt đối với nước Pháp phải xông lên đến ngạt mũi…

Nếu người chết nói được, như bọn đồng cốt bảo thế, thì những hồn ma An Nam ở Nôgiăng sẽ lên tiếng: “Cảm ơn, ông Toàn quyền! Nhưng xin làm ơn… cút đi cho!”.

         –  Nguyễn Ái Quốc: Những bài đăng trên báo Le Paria, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.71, 74 – 75.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.184-190.

Tháng 7, đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc đến Mátxcơva sau một thời gian rất ngắn lưu lại Pêtơrôgrát.

         –  Thư gửi đồng chí Vôitinxki, ngày 11-9-1924. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            –  Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.57 – 58.

Tháng 7

Từ Mátxcơva, Nguyễn Ái Quốc viết thư cho Trung ương Đảng Cộng sản Pháp nhấn mạnh sự cần thiết phải thực hiện những Nghị quyết của Đại hội lần thứ II của Quốc tế về vấn đề thuộc địa, vì theo nhận xét của Người: “cho đến nay, những Nghị quyết ấy chỉ được dùng để tô điểm mặt giấy! Phân bộ Pháp, Phân bộ Anh và những phân bộ các nước thực dân khác đã làm gì cho các thuộc địa của chủ nghĩa tư bản nước họ? Những phân bộ ấy đã có một chính sách thuộc địa và một cương lĩnh rõ rệt về thuộc địa, chính xác và liên tục chưa? Những chiến sĩ của các bộ phận ấy có hiểu thuộc địa là gì và tầm quan trọng của thuộc địa là như thế nào không? Người ta có thể trả lời là không”.

Người phê bình báo L’Humanité đã bỏ mục Diễn đàn của các thuộc địa, và báo chí của đảng thì đưa tin rất chậm chạp về tình hình các nước thuộc địa.

Cuối thư, Người nêu cụ thể tám yêu cầu đối với Đảng Cộng sản Pháp.

Trong tháng, bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Tệ độc đoán ở Đông Dương – Người được bảo hộ và người đi bảo hộ, đăng trên báo Le Paria, số 16.

Tác giả thuật lại việc một “ông cẩm” (cảnh sát) ở Đà Lạt (Trung Kỳ) cậy quyền thế, bắt một nhà buôn gỗ phải nộp gỗ ván cho hắn. Nhà buôn này không nghe, đòi phải trả tiền. Viên cẩm bèn sai lính đến bắt nhà buôn. Nhà buôn sợ quá, mặc dù đang ốm cũng phải chạy trốn sang tỉnh khác. Một thầy thuốc người Âu thấy thế can thiệp, liền bị đuổi đi, bị đày lên Kon Tum, một nơi nước độc mà người Âu rất sợ. “Viên thầy thuốc đó đang đền cái đại tội thân người bản xứ của ông”. Còn nhà buôn người Việt Nam kia thì “bị ghi tên vào sổ những người bị tình nghi, liệt vào hạng “ghét Tây”, vào số những kẻ còn cần theo dõi”.

            –  Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng.

            –  Nguyễn Ái Quốc: Những bài đăng trên báo Le Paria, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.76-77.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.194 – 199.

Tháng 8

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Ách áp bức không từ một chủng tộc nào, đăng trên báo Le Paria, số 17.

Sau khi thuật lại đám tang của phái viên Xôviết bị bọn phát xít ám sát ở Lôdannơ (Lausanne – Thụy Sĩ) và đám tang một công nhân người Tuynidi bị cảnh sát giết ở Pari, bài báo nêu nhận xét:

“Tất cả những liệt sĩ của giai cấp công nhân, người ở Lôdannơ cũng như ở Pari, những người ở Havrơ cũng như những người ở Máctiních, đều là những nạn nhân của một kẻ giết người: chủ nghĩa tư bản quốc tế. Và hương hồn của những người bị hy sinh này luôn tìm thấy nguồn an ủi cao cả nhất ở lòng tin vào sự nghiệp giải phóng những anh em của họ bị áp bức – không phân biệt chủng tộc hay xứ sở”.

Bài báo kết luận:

“Sau những bài học đau đớn này, những người bị áp bức ở tất cả các nước hẳn phải hiểu đâu là những người anh em thật sự và đâu là kẻ thù của họ”.

         –  Nguyễn Ái Quốc: Những bài đăng trên báo Le Paria, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.78 – 79.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.200.

Tháng 9, ngày 7

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Đội quân chống cách mạng, đăng trên báo La Vie Ouvrière, số 226.

Bằng những số liệu cụ thể, bài báo vạch trần âm mưu của đế quốc Pháp là muốn “dựa vào thuộc địa để chống lại tất cả mọi phong trào giải phóng mà giai cấp công nhân Pháp định mưu đồ”. Âm mưu đó nguy hiểm ở chỗ do bị bọn sĩ quan người Pháp thúc đẩy, những người lính bản xứ, vì sự hiểu biết có hạn, có thể ngoan ngoãn và mù quáng làm những điều mà những người giác ngộ hơn sẽ từ chối. Vì thế, giai cấp công nhân Pháp có nhiệm vụ là phải hành động, phải kết tình anh em với lính bản xứ, phải làm cho binh lính bản xứ hiểu rằng “cả công nhân ở chính quốc lẫn binh lính ở thuộc địa, đều cùng bị chung một bọn chủ áp bức và bóc lột, do đó, họ đều là anh em cùng một giai cấp và khi tới lúc phải chiến đấu, thì cả hai bên đều phải cùng đánh bọn chủ chung của mình, chứ anh em không nên đánh lẫn nhau”.

             –  Báo La Vie Ouvrière, số 226, ngày 7-9-1923.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr. 201 – 202.

Tháng 9, ngày 21

Nguyễn Ái Quốc viết Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản, nêu tóm tắt tình hình Đông Dương về các mặt chính trị, kinh tế, xã hội; về chương trình hoạt động và sự hợp tác quốc tế.

Nhận định về công tác tuyên truyền và tổ chức trong công nhân và nông dân, báo cáo viết: “Tuyên truyền tốt trong nông dân và tổ chức tốt trong công nhân, nếu chúng ta làm tới được điều đó thì tương lai thuộc về chúng ta”.

Báo cáo về chương trình hoạt động, Nguyễn Ái Quốc dự kiến sẽ cho xuất bản một tờ báo nhỏ tiếng Việt; tập hợp những phần tử dân tộc cách mạng; cố gắng đưa những thanh niên người bản xứ đi Mátxcơva; xây dựng đường dây liên tục Mátxcơva – Đông Dương – Pari.

Về hợp tác quốc tế, ngoài những điều đã nêu trong thư gửi Quốc tế Cộng sản nhờ Ban phương Đông chuyển, Nguyễn Ái Quốc nhắc lại việc “Tổng công hội thống nhất, đã hứa làm hết sức mình để 2 hoặc 3 đồng chí người Pháp có thể sang Đông Dương để tổ chức công nhân”. Đồng thời đề nghị “Thanh niên cộng sản Pháp phải lợi dụng chủ nghĩa quân phiệt để đưa những thành viên chắc chắn nhất đăng lính vào đội quân thuộc địa để dắt dẫn sự tuyên truyền trong những người bản xứ”. Cũng theo Nguyễn Ái Quốc, “sự giúp đỡ của Thanh niên Cộng sản Trung Quốc là tuyệt đối cần thiết cho sự hoạt động ở Đông Dương”.

Người hy vọng: “Một cuộc thảo luận giữa những đại biểu của Đảng, của Tổng công hội thống nhất, của Thanh niên và của Ban phương Đông có thể ló ra nhiều ánh sáng khác”.

         –  Bút tích báo cáo. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

             –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr. 203 – 205.

Tháng 9, ngày 28

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Không phải chủ nghĩa quân phiệt đâu, nhưng, đăng trên báo L’Humanité.

Với những số liệu cụ thể, tác giả nêu rõ đạo quân chiếm đóng ở thuộc địa của Pháp ngày càng tăng, do đó ngân sách quân sự lớn gấp rất nhiều lần ngân sách giáo dục và y tế, v.v. để vạch trần, phê phán và chế nhạo luận điệu tuyên truyền bịp bợm của tên cáo già thực dân Clêmăngxô nói rằng “nước Pháp không phải là một nước quân phiệt, cũng không phải là một nước đế quốc chủ nghĩa”.

         –  Báo L’Humanité, ngày 28-9-1923.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr. 206 – 207.

Tháng 10, ngày 3

Nguyễn Ái Quốc gặp Tưởng Giới Thạch và Trương Thái Lôi tại Mátxcơva 10).

            –  Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh và Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1987, tr.10 (bản tiếng Trung Quốc).

Tháng 10, ngày 10

Nguyễn Ái Quốc dự Hội nghị lần thứ nhất Quốc tế Nông dân20 khai mạc tại Cung Anđrâyépxki trong Điện Kremli (Mátxcơva) với tư cách đại biểu chính thức của nông dân Đông Dương. Đại hội có 158 đại biểu, trong đó 122 là chính thức, gồm các lãnh tụ các Đảng Nông dân, các liên minh nông dân, đại biểu nông dân trong các nghị viện và chính phủ, tổng biên tập báo Nông dân.

Trong phiên họp đầu tiên này, sau lời chào của Calinin và phát biểu của Ganvan (Mêhicô) và Rưdơlô (Tiệp Khắc), Nguyễn Ái Quốc được Đoàn Chủ tịch mời phát biểu ý kiến. Từ diễn đàn, Người đã tố cáo tội ác của thực dân Pháp đối với các thuộc địa, nêu lên nỗi khổ cực của người nông dân và kêu gọi:

“Thưa các đồng chí, khi các đồng chí được tổ chức lại, các đồng chí cần phải nêu gương cho chúng tôi, giúp đỡ chúng tôi, dang rộng cánh tay anh em đón chúng tôi để chúng tôi cũng có thể bước vào gia đình vô sản quốc tế”.

            –  Biên bản tóm tắt Hội nghị lần thứ nhất Quốc tế Nông dân, Nxb. Nông thôn mới, Mátxcơva, 1924, tr.15 (bản tiếng Nga).

            –  Tạp chí Cộng sản (Việt Nam), số tháng 5-1986, tr. 41 – 45.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.208.

Tháng 10, ngày 13

Buổi chiều, Nguyễn Ái Quốc phát biểu lần thứ hai tại phiên họp thứ 7 của Hội nghị Quốc tế Nông dân.

Sau khi so sánh tình cảnh của người nông dân Nga với người nông dân Việt Nam nói riêng và người nông dân Đông Dương nói chung, vạch trần những thủ đoạn thực dân như dùng thuốc phiện, nhà thờ, rượu cồn, sưu cao thuế nặng, trắng trợn cướp đoạt ruộng đất, cho vay nặng lãi, chính sách ngu dân… để biến người nông dân thành nô lệ hai bàn tay trắng…, Nguyễn Ái Quốc kết luận: “Quốc tế của các đồng chí chỉ trở thành một quốc tế thật sự khi mà không những nông dân phương Tây, mà cả nông dân ở phương Đông, nhất là nông dân ở các thuộc địa là những người bị bóc lột và bị áp bức nhiều hơn các đồng chí, đều tham gia Quốc tế của các đồng chí”.

            –  Biên bản tóm tắt Hội nghị lần thứ nhất Quốc tế Nông dân, Nxb. Nông thôn mới, Mátxcơva, 1924, tr. 142 – 143 (bản tiếng Nga).

            –  Tạp chí Cộng sản (Việt Nam), số tháng 5-1986, tr.44.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, 1995, t.1, tr.209 -212.

Tháng 10, ngày 16

Nguyễn Ái Quốc được Hội nghị Quốc tế Nông dân bầu vào Hội đồng Quốc tế Nông dân, trở thành một trong số 52 uỷ viên của Hội đồng.

            –  Biên bản tóm tắt Hội nghị lần thứ nhất Quốc tế Nông dân, Nxb. Nông thôn mới, Mátxcơva, 1924, tr.142 – 143 (bản tiếng Nga).

            –  Tạp chí Cộng sản (Việt Nam), số tháng 5-1986, tr.44.

Tháng 10, ngày 17

Nguyễn Ái Quốc dự kỳ họp đầu tiên của Hội đồng Quốc tế Nông dân và được bầu vào Đoàn Chủ tịch của Hội đồng gồm 11 uỷ viên 11).

         –  Tạp chí Cộng sản (Việt Nam), số tháng 6-1986.

Tháng 11, ngày 29

Ba bài viết của Nguyễn Ái Quốc dưới các nhan đề Chính sách thực dân Anh; Phong trào công nhân; Nhật Bản, đăng trên báo La Vie Ouvrière.

Theo tác giả bài Chính sách thực dân Anh thì ngày nay chủ nghĩa tư bản Anh đã không thoả mãn với những đặc quyền đặc lợi mà họ giành được trước đây ở Trung Quốc nữa. “Họ muốn làm hơn thế nữa kia: họ muốn chiếm cả Trung Quốc làm thuộc địa”. Và họ đang tiến hành giai đoạn đầu tiên của chính sách thực dân đó. Bài báo đồng thời nêu rõ nhân dân Trung Quốc, không phân biệt chính kiến, đều chống lại cái chính sách thực dân trá hình này và mong rằng “Trước sự đe doạ của chủ nghĩa tư bản Anh, những người con của Trung Quốc sẽ biết đoàn kết với nhau để phản kháng thắng lợi”.

Bài Phong trào công nhân, nêu chín điểm chính trong các yêu sách của giai cấp vô sản có tổ chức của Trung Quốc và nhận định về phong trào công nhân Trung Quốc như sau:

“Chỉ sau khi Chiến tranh thế giới kết thúc, giai cấp vô sản Trung Quốc mới bắt đầu được tổ chức một cách chặt chẽ, song họ đã thu được một số thắng lợi to lớn trong các cuộc đình công. Mặc dù bị bọn quân phiệt đàn áp và bọn thống trị ngoại lai cản trở, các tổ chức của họ vẫn phát triển bình thường và có thể nói là nhanh nữa. Hiện nay những người thuỷ thủ, công nhân luyện kim, công nhân đường sắt là những lực lượng thật sự mà bọn tư bản buộc phải coi trọng”.

Bài Nhật Bản, viết về sự phát triển nhanh chóng của các tổ chức công nhân công nghiệp và công nhân nông nghiệp ở Nhật Bản, đồng thời cho biết bên cạnh phong trào vô sản đó, các phong trào có tính chất cách mạng cũng lan rộng, tiêu biểu đó là phong trào Eta – một phong trào của những người trong đẳng cấp thấp hèn nhất ở đế quốc Mặt trời mọc, do ảnh hưởng của những người vô sản đã giác ngộ, họ đã thức tỉnh và biết tổ chức nhau lại để đấu tranh, từ một “phong trào lúc đầu với tư cách là cuộc đấu tranh của lớp người riêng lẻ thì hiện nay đã trở thành cuộc đấu tranh giai cấp”.

        –  Báo La Vie Ourvière, ngày 9-11-1923.

           –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.213 – 221.

Tháng 12, ngày 4

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Tình hình ở Trung Quốc, đăng trên báo L’Humanité.

Sau khi nêu những nguyên nhân đã dẫn đến tình hình tồi tệ ở Trung Quốc lúc bấy giờ, tác giả viết: “rất may mắn là tiếng vang của cách mạng Nga hình như đã thức tỉnh thế hệ mới của Trung Quốc. Lực lượng trẻ mới ra đời có đầy nhiệt tình và sức sống. Điều này thể hiện đặc biệt rõ rệt nhất là Hội sinh viên cách mạng”.

Bài báo cũng giới thiệu hoạt động của tổ chức đó, đặc biệt là những nội dung cơ bản trong Cương lĩnh chính trị được thông qua tại Đại hội IV toàn Trung Quốc của Liên đoàn.

         –  Báo L’Humanité, ngày 4-12-1923.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr. 222 – 223.

Tháng 12, ngày 11

Nguyễn Ái Quốc chuyển đến ở tại Khách sạn Luých, phòng 176, tạm thời thuộc biên chế Ban phương Đông Quốc tế Cộng sản với khoản tiền phụ cấp hằng tháng từ 50 đến 60 rúp.

        –  Bản chụp Giấy chứng nhận do Trưởng Ban phương Đông ký. Tài liệu lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 12, trước ngày 23

Nguyễn Ái Quốc gặp nhà thơ Xôviết Ôxíp Manđenxtam khi đang hoạt động ở Liên Xô.

Thuật lại cuộc gặp gỡ đó, nhà thơ đã viết một bài báo nhan đề Thăm một chiến sĩ Quốc tế Cộng sản – Nguyễn Ái Quốc, đăng trên Tạp chíOgoniok số 39, ghi lại những lời của Nguyễn Ái Quốc nói về nhân dân Việt Nam dưới ách thống trị của đế quốc Pháp. Khi nêu lên tinh thần đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống chính sách thực dân của Pháp, Nguyễn Ái Quốc nói:

“Thật thú vị là chính quyền Pháp đã dạy cho những người nông dân chúng tôi biết những từ “bônsêvích” và “Lênin”. Chúng lùng bắt những người cộng sản trong dân chúng, trong khi chẳng có người cộng sản nào, hoàn toàn không có ngay cả trong ý niệm; và như vậy chính chúng đã tuyên truyền cho chủ nghĩa bônsơvích và Lênin”.

Nhà thơ cũng nói lên cảm tưởng của mình về Nguyễn Ái Quốc và dân tộc Việt Nam như sau:

“Từ Nguyễn Ái Quốc đã toả ra một thứ văn hoá, không phải văn hoá Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hoá tương lai”.

“Dân An Nam là một dân tộc giản dị và lịch thiệp. Qua phong thái thanh cao, trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta như nghe thấy ngày mai như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới”.

            –  Ôxíp Manđenxtam: Thăm một chiến sĩ Quốc tế Cộng sản – Nguyễn Ái Quốc, Báo Ogoniok, số 39, ngày 23-12-1923. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.476 – 479.

Tháng 12

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Tình cảnh nông dân An Nam đăng trên báo Le Paria, số 21.

Mở đầu, bài báo viết: “Người An Nam nói chung, phải è cổ ra mà chịu những công ơn bảo hộ của nước Pháp. Người nông dân An Nam nói riêng, lại càng phải è cổ ra mà chịu sự bảo hộ ấy một cách thảm hại hơn: là người An Nam, họ bị áp bức; là người nông dân, họ bị người ta ăn cắp, cướp bóc, tước đoạt, làm phá sản”.

Tác giả vạch trần những thủ đoạn đê tiện của bọn thống trị để bóc lột nông dân, như phân loại ruộng đất để đánh thuế, tăng diện tích ruộng đất bằng cách thay đổi đơn vị đo đạc, cướp đoạt ruộng đất của làng này để cấp cho làng khác, lấy cớ khai khẩn thuộc địa để miễn thuế cho các chủ đồn điền, v.v..

Tác giả viết: “Phác qua như thế, chúng ta thấy rằng dưới chiêu bài dân chủ, đế quốc Pháp đã đem vào An Nam tất cả cái chế độ trung cổ đáng nguyền rủa…”.

            –  Nguyễn Ái Quốc: Những bài đăng trên báo Le Paria, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.83.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, t.1,  tr. 227-229.

Khoảng cuối năm

Nguyễn Ái Quốc vào học Trường đại học Cộng sản của những người lao động phương Đông21 (gọi tắt là Trường Đại học Phương Đông)12) tại Mátxcơva.

Người đến Liên Xô để tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản, nhưng vì V.I.Lênin đang ốm nặng, đại hội phải hoãn họp, nên đã tranh thủ vào học lớp ngắn hạn của trường.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr. 480-483.

            – T.Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Sự thật 

—————————

1) Nếu không đủ 100 người xem thì không thể làm được (chú thích của tác giả trong nguyên bản – B.T).

2) Toa mãi chỉ: phiếu đặt mua báo (B.T).

3) Lêông Ácsimbô – nghị sĩ quận Đrôme (Drôme), Uỷ viên Hội đồng thuộc địa tối cao, báo cáo viên về ngân sách thuộc địa (B.T).

4) Tờ báo do nhà đại văn hào Víchto Huygô sáng lập và xuất bản ở Pari từ năm 1869 (B.T).1) Journal Officiel (tên đầy đủ là Journal Officel de la République Française – Công báo của nước Cộng hoà Pháp), xuất bản từ tháng 9-1870 (B.T).

5) Luidơ Misen (1830 – 1905) – nhà hoạt động cách mạng Pháp, nhiều lần bị bắt, từng bị trục xuất khỏi Pháp vì những hoạt động tuyên truyền cách mạng.

6) Hội ái hữu do hai ông Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường tổ chức hơn 10 năm trước đó, đến năm 1914 hai ông bị bắt và hội cũng tan rã theo (B.T).

7) Sau bức thư viết ngày 10-5-1923 bị trả lại, Nguyễn Ái Quốc đã viết cho cô Buđông một bức thư khác. Thư này đã đến tay cô nên có thư phúc đáp trên.

8) Mật thám Đêdirê được giao nhiệm vụ theo dõi Nguyễn Ái Quốc đến ngày 15-6 báo cáo: “Nguyễn Ái Quốc đi đâu mất từ hôm 13, không mang theo hành lý gì cả”.

9) Trong những ngày cuối tháng 6-1923, công nhân cảng Hămbuốc (Hambourg) bãi công làm cho cảng tê liệt. Do đó Nguyễn Ái Quốc không lên đường như dự định được, phải xin gia hạn tạm trú.

10) Trong thời kỳ Quốc – Cộng hợp tác lần thứ nhất, vào tháng 8-1923, Quốc dân Đảng Trung Quốc cử một đoàn mang tên Đoàn đại biểu của bác sĩ Tôn Trung Sơn, do Tưởng Giới Thạch làm trưởng đoàn có Trương Thái Lôi cùng đi, sang Mátxcơva để nghiên cứu về chính trị, quân sự và đảng vụ, đồng thời bàn vấn đề Liên Xô viện trợ cho cách mạng Trung Quốc. Tác giả Hoàng Tranh đã trích dẫn bài của Mao Tư Thành trên tập san Nam Kinh, xuất bản năm 1937 nhan đề Ngài Tưởng Giới Thạch trước năm Dân quốc thứ 15 nói rõ: Ngày 3-10, Tưởng Giới Thạch “hội ngộ An Nam chí sĩ Nguyễn Ái Quốc” tại Mátxcơva.

11)  Đoàn Chủ tịch Hội đồng Quốc tế Nông dân gồm 11 người:

1. Xmiếcnốp (Nga Xôviết)

2. Đômban (Ba Lan)

3. Buốcghi (Đức)

4. Vadây (Pháp)

5. Rítlơ (Tiệp)

6. Gôrốp (Bungari)

7. Ghêrô (các nước Xcanđinavơ)

8. Cơrin (Mỹ)

9. Ganvan (Mêhicô)

10. K. Hayasi (Nhật Bản)

11. Nguyễn Ái Quốc (Đông Dương).

12) Trường Đại học Cộng sản của những người lao động phương Đông được thành lập ngày 21-4-1921 (theo Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin). Nhiệm vụ của trường là đào tạo cán bộ cách mạng cho các nước thuộc địa và phụ thuộc. Phần  lớn học viên là những người của các nước Cộng hoà Trung Á và Ngoại Cápcadơ. Sau đó, các nhà cách mạng các nước chủ yếu là từ châu Á, đến học ở trường này ngày một tăng.

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)