Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Chuyện Bác Hồ với cha con Thủ lĩnh Vương Chí Sình(Phần 3) Thủ lĩnh Vương về Hà Nội – Hoàng Việt Hưng mắc kẹt

Theo đúng kế hoạch, khi xe ông Vương từ từ chậm lại trước cây số 17, một ông cụt tay cao lớn chặn xe hỏi lớn: ”Có phải xe của bác Vương không?”. Tài Hồ bảo đúng. Ông cụt tay đứng nghiêm chào: ”Tôi, Chu Phóng, Đại Đội trưởng Việt Minh nhận lệnh đón bác”.

Ông cụt tay đưa ông Vương vào một ngôi nhà dân gần đường. Đó là nhà một người Tày cơ sở cách mạng của ta. Khi ông Vương bước vào đã thấy ông Mai Trung Lâm ở đó. Ông Lâm đứng dậy chào hỏi, bắt tay rồi đưa ông Vương đến bàn nước. Sau khi hỏi sơ qua về sức khoẻ, ông Lâm hỏi: ”Bác có mang bàn đèn đi không?”. Ông Vương bảo có. ”Vậy thì bác lấy ra đi. Tôi tiêm thuốc cho bác hút”- ông Lâm vui vẻ nói. Tại đây, ông Vương chuyển sang xe của Việt Minh đi tiếp đến thị xã Tuyên Quang. Xe dừng, ông Lâm đưa ông Vương vào một ngôi nhà ven đường. Ông Trữ – Chủ tịch tỉnh Phú Thọ đã trực sẵn ở đó. Ông Lâm giới thiệu ông Trữ với ông Vương và bàn giao cho ông Trữ đưa ông Vương đi tiếp. Ông Trữ mang theo bảo vệ, sau khi thuốc nước xong xuôi, chia tay ông Lâm, ông đưa ông Vương qua Phú Thọ theo ngả đường về bến phà Trung Hà, Sơn Tây để về Hà Nội. Từ đây là khu vực an toàn không có trở ngại nào nữa. Về đến Hà Nội, ông Vương được ông Bùi Công Trừng – lãnh đạo Ban Tuyên huấn Trung ương đón tiếp, lo chỗ ăn nghỉ.

Quay lại sự việc Hoàng Quốc Chính phục kích nhằm vào ông Vương. Do biết được kế hoạch của Chính, Việt Minh đã nghi binh đánh lừa được Chính, đưa ông Vương đến cây số 17 an toàn. Chính rất điên tiết, liền nghĩ ra kế hiểm. Hắn cho quân bắn tin đến tai cụ Vương Chính Đức rằng Vương Chí Thành đã bị Việt minh giết chết. Nghe được tin này, cụ Vương bán tín bán nghi. Để ăn chắc cụ Vương giữ ông Hoàng Việt Hưng (do Việt Minh cử ở lại làm tham mưu, cố vấn cho cụ) quản thúc không cho đi đâu. Hoàng Việt Hưng giải thích rằng đó là âm mưu của Quốc dân đảng nói xấu, nhằm chia rẽ người Mèo với Việt Minh. Rồi ông cam đoan: ”Nếu Việt Minh giết ông Thành thì các ông cứ lột xác tôi”. Ông đề nghị cụ Đức cho người về Hà Nội để kiểm tra, xác minh cụ thể. ”Nếu thực sự ông Thành đã chết, tôi xin chết ngay trước mặt cụ”.

a1. vuameo  p.3Vua Mèo Vương Chính Đức trên Cao nguyên Đá Đồng Văn.

 Vấn đề đặt ra là làm thế nào về được Hà Nội và ai sẽ đi, bằng cách nào để tránh con mắt nhòm ngó của Chính? Ông Hoàng Việt Hưng giới thiệu với cụ Đức một người là điệp báo viên của tướng Tưởng chỉ huy Quân đoàn 52 đang tìm ngựa để về Hà Nội. Ông Hưng gợi ý cho hắn mượn ngựa, cử giám mã cưỡi ngựa đi cùng để chăm sóc ngựa. Bằng cách đó sẽ xuống được Hà Nội thực thi nhiệm vụ tìm gặp ông Thành. Ông Vàng Giống Sử chăn ngựa của cụ Vương được cử đi. Về Hà Nội, ông Sử đã gặp được ông Thành ở 12 Hàng Ngang – là hiệu bánh khảo nổi tiếng Hồng Thái – nơi ông Thành đang nghỉ. Ông bà Hồng Thái là bạn hàng thân thiết với ông Thành. Vợ ông thường cất bánh ở đây đưa lên cửa hàng tạp hoá của gia đình ông ở Phó Cáo để bán lẻ.

Gia đình ông bà Hồng Thái mở tiệc chia tay để ông Vương sang ở và làm việc với Chính phủ. Xong việc, ông Sử vội quay về báo tin cho cụ Vương đang sốt ruột chờ đợi ở nhà. Trước khi rời Hà Nội, Bác Hồ giao cho ông Sử 2 thùng trà ướp sen (đặc sản của đất Thăng Long) nói là quà của Chủ tịch biếu cụ Vương để ăn Tết Nguyên đán. Đồng thời kèm theo bức thư báo con trai cụ đã về Hà Nội bình yên cùng lời chúc Tết của Bác. Tới khi ông Sử về đến dinh thự gia đình cụ Vương ở Sà Phìn ông Hưng mới được giải oan.

Về Hà Nội chưa lâu, ông Vương biết tin Hoàng Quốc Chính và bè lũ quốc dân đảng đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Vậy Việt Minh lấy lực lượng ở đâu và diệt Chính thế nào trong khi quân của hắn còn khá mạnh?

Để trả lời câu hỏi này cần diễn giải một chút. Số là, trong lực lượng của Quốc dân đảng ở vùng biên giới có 2 lực lượng theo 2 phái. Một phái ”tạp pí lù” không đựợc tổ chức chặt chẽ, không được huấn luyện, thiếu kinh nghiệm chiến đấu, trung thành ôm chân Chính để cướp bóc kiếm lợi lộc. Phái kia do Ba Viên cầm đầu là lực lượng lính khố đỏ từ bên kia biên giới mới về nước. Đội quân này có kỷ luật, chính quy, trang bị vũ khí đầy đủ và có năng lực chiến đấu. Được biết cụ Vương mạnh như thế mà đã ngả theo Việt Minh, thấy thái độ Ba Viên cũng quyết tâm theo Việt Minh về với Cụ Hồ, Mai Trung Lâm gợi ý: ”Ông về với Cách mạng là có lý và thức thời, góp công, góp sức giúp Hồ Chủ tịch cứu nước, cứu dân rất đáng được hoan nghênh, nhưng chẳng nhẽ về tay không hay sao?”.

Sau một hai đêm thức trắng suy nghĩ, Ba Viên cho gọi 2 quan một tên là Hải và Mai đến bàn việc. Phương án, kế hoạch binh biến, tác chiến được lên chi tiết thận trọng. Ba Viên cử Mai và Hải đến gặp Hoàng Quốc Chính bàn bạc phối hợp lực lượng đánh Việt Minh.

Được một lực lượng chính quy tham chiến còn gì mừng hơn. Chính khai chi tiết về lực lượng, dẫn Mai và Hải đi xem việc bố phòng, các địa điểm đóng quân và các hoạt động, canh gác của quân Chính. Cùng với dụng ý khoe lực lượng, Hải và Mai báo cáo đầy đủ với Ba Viên, đồng thời cùng nhau bàn kế hoạch diệt thật gọn quân Chính. Có thêm lực lượng, Chính đã mắc mưu Ba Viên nên chủ quan không cảnh giác. Chỉ một hai hôm sau, nhằm vào yếu tố bất ngờ, Ba Viên đã khởi sự, đưa quân đánh úp quân Chính. Đúng như kế hoạch, bè lũ Quốc dân đảng do Chính cầm đầu bị diệt gọn. Chỉ còn người duy nhất là Trịnh Đình Phách, người Tày ở Cao Bằng chạy thoát.

a2. Vua meo p.3Gia đình Thủ lĩnh Vương.

 Xung quanh chuyện thủ lĩnh Vương ở Hà Nội và cuộc hội kiến với Hồ Chủ tịch

Theo lệnh của Bác Hồ, ông Bùi Công Trừng đưa ông Vương đến biệt thự 51 – Trần Hưng Đạo. Biệt thự này là nơi ở của Cựu hoàng Bảo Đại khi ông này được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mời làm Cố vấn, cũng là nơi ông sống với bà Bùi Mộng Điệp – người đẹp Bắc Ninh – bà là thứ phi cuối cùng của các triều đại phong kiến Việt Nam. (Số nhà đó từ 10-1957 là trụ sở Báo Văn nghệ, hiện nay là trụ sở của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học – nghệ thuật Việt Nam).

Sau khi xem xét nội thất trong nhà, ông Vương đi vòng quanh nhà một lượt rồi không đồng ý ở đây. Ông cho rằng phố này vắng vẻ, ra vào dễ lộ mặt và không an toàn trong lúc ở Thủ đô còn rất phức tạp. Ông Trừng lại xin ý kiến của Bác, xếp ông Vương ở Phủ Chủ tịch cho ông yên tâm. Ông Vương từ chối và nói: ”Các ông không phải bận tâm sắp xếp nơi ăn nghỉ cho tôi, tôi tự lo được. Tôi về số nhà 12 Hàng Ngang – hiệu bánh khảo Hồng Thái là chỗ thân quen cho được tự do”. Rồi ông sốt ruột hỏi khi nào thì được gặp Cụ Hồ. Ông Trừng bảo: ”Bác đi đường sá xa xôi vất vả, cứ nghỉ vài ngày cho lại sức. Cụ Hồ lúc này bận nhiều công việc lắm.Tôi sẽ xin ý kiến Cụ rồi bố trí để bác được gặp vào thời gian sớm nhất”.

Vài hôm sau ông Vương bị ốm. Ông không phải đi bệnh viện mà Việt Minh cử bác sỹ đến thăm bệnh cho ông tại nơi ông đang ở. Bác sỹ vừa bắt mạch vừa dùng ống nghe, chẩn đoán bệnh rồi chào ông ra về. Một hai tiếng đồng hồ sau có một người mang đơn và thuốc đến cho ông. Anh ta tự giới thiệu tên là Lý Quang Hoa người của Việt Minh. Sau này ông Vương mới biết anh ta chính là Hoàng Văn Hoan (người đã làm tới chức Phó Chủ tịch Quốc hội phản bội chạy sang Trung Quốc sau này).

Trước khi nói về chuyện ông Vương hội kiến với Bác Hồ cần nhắc tới một nhân chứng trong cuộc gặp là ông Vương Quỳnh Sơn. Bà vợ cả của cụ Vương Chính Đức sinh cho ông 2 người con trai: Vương Chí Tình và Vương Chí Thành. Ông Vương Chí Tình có một con trai là Vương Đình Quý. Ông Quý chỉ có một con trai là Vương Quỳnh Sơn. Ông Sơn gọi ông Thành là ông chú. Thời gian này ông Sơn mới 18-19 tuổi. Việc ông có mặt ở Hà Nội là do Việt minh giới thiệu ông vào học Trường Quân sự (sau khi được cụ Vương Chính Đức đồng ý). Đó là trường Lục quân võ bị Trần Quốc Tuấn đóng ở phi trường (sân bay) Tông gần thị xã Sơn Tây.

Cùng học khoá I còn có 3 thanh niên Mèo nữa là ông Vương Quỳnh Anh – người anh cùng dòng họ với ông Sơn – cũng do Việt minh giới thiệu. Hai thanh niên Mèo khác là Dưong Mí Tường và Dương Mí Phụng do Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt cách) giới thiệu. Việt cách không phá phách phản động như Việt quốc (Quốc dân đảng). Việt cách có thiện cảm và có xu hướng ngả theo cách mạng. Nhưng học đến giữa chừng thì Tường và Phụng đào ngũ chạy về theo quân Tàu Tưởng. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho ông Võ Nguyên Giáp, ông Giáp giao cho ông Trần Tử Bình là lãnh đạo của nhà trường dẫn anh em ông Vương Quỳnh Sơn vào trường. Ông Bình bố trí ông Sơn vào học lớp C.

Khi đã có lịch gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Thành có ý nguyện cho gặp cháu ông là Vương Quỳnh Sơn. Lúc ông Thành đến Phủ Chủ tịch, đã thấy Bác Hồ ở đó. Bác đi xuống bậc thềm đến tận nơi tươi cười bắt tay ông Thành, chào hỏi thân tình, rồi dẫn lên phòng khánh tiết Phủ Chủ tịch. Khi đã an toạ, Bác hỏi thăm sức khoẻ cụ Vương Chính Đức, gia đình ông Thành, quá trình ông đi đường, việc ăn ở trong những ngày qua có được chu đáo… Rồi trao đổi tình hình và việc giới thiệu ông làm đại biểu Quốc hội khoá I (6/01/1946).

Trước đó, trong Tuần lễ vàng 4/9/1945, ủng hộ lời kêu gọi của Chính phủ, ông Vương Chí Sình đã đóng góp 22.000 đồng bạc trắng và 9 cân vàng. Nên nhớ rằng khi giành được chính quyền ngân khố quốc gia chỉ có 1,2 triệu đồng tiền giấy rách nát. Chỉ trong một tuần lễ nhân dân đã đóng góp cho chính phủ 20 triệu đồng và 370kg vàng.

Theo ông Vương Quỳnh Sơn, bản tính ông Sình trung thực, đã hứa là làm, nhưng ông kiệm lời, ít nói. Phong cách tiếp khách của Bác Hồ thì lại luôn thân tình, gần gũi, sao cho người đối thoại cảm thấy không có sự phân biệt cao thấp, kẻ trên người dưới. Nhưng ông Thành vẫn có sự e ngại, rụt rè. Ông luôn miệng gọi Bác Hồ là Cụ. Có lẽ Bác Hồ thấy việc xưng hô như thế bất tiện và không được thoải mái, tự nhiên.Vì vậy đột ngột Bác hỏi: ”Ông tuổi gì?”. Vương Chí Sình nói: ”Thưa Cụ, tôi tuổi hợi”. Ngẫm ngợi đôi phút Bác nói: ”Vậy là ông hơn tuổi. Tôi phải gọi ông là quan bác”. Bởi theo tiểu sử Hồ Chí Minh, Bác sinh năm canh dần 1890, như vậy kém ông Sình 3 tuổi. Rồi Bác nói thêm: ”Từ giờ trở đi đừng gọi tôi là Cụ nữa. Chúng ta là anh em”. Câu chuyện đơn giản chỉ có vậy. Sau này ông Sình còn kể lại nhiều lần với con cháu ông.

Cũng trong cuộc gặp gỡ này, Bác dặn dò, giao nhiệm vụ cho Vương Quỳnh Sơn làm công tác thanh vận. Sau khi tốt nghiệp trường Sỹ quan lục quân, Vương Quỳnh Anh được điều về Bộ Quốc phòng làm phái viên. Vương Quỳnh Sơn trở về Đồng Văn vận động thanh niên Mèo tham gia cách mạng, rồi thành lập lực lượng vũ trang.

Đầu năm 1948, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập tiểu đoàn chính quy mang phiên hiệu D350 (còn gọi là tiểu đoàn Mèo – vì đại đa số là người Mèo) trên cơ sở lực lượng vũ trang của ông Sơn, và quyết định bổ nhiệm Vương Quỳnh Sơn làm Tiểu đoàn Trưởng. Tiểu đoàn D350 trực thuộc Quân khu 10, do tướng Bằng Giang làm Tư lệnh quân khu. Trong buổi ra mắt có sự tham dự của ông Tô Quang Đẩu chủ tịch khu 10, ông Trần Đức Trung chủ tịch Hà Giang, Giám đốc Sở Công an… Được Bộ Quốc phòng uỷ quyền, trong buổi ra mắt tiểu đoàn, ông Trần Đức Trung – Chủ tịch tỉnh Hà Giang đã trao thanh kiếm cho Tiểu đoàn Trưởng Vương Quỳnh Sơn để thực thi nhiệm vụ.

(Còn nữa)

Đinh Đức Cần
Theo dantri.com.vn
Kim Yến (st)

Trường Sa – Tổ quốc nơi đầu sóng Kỳ 1: Tổ quốc nhìn từ biển

“… Đối với nhiều người thường nói là ra thăm Trường Sa, còn riêng em dù chưa một lần được đặt chân tới Trường Sa, nhưng trong trái tim em Trường Sa là quê hương thứ hai của mình, Tổ quốc của chúng ta trên biển. Mà đã là quê hương thì phải là trở về…”.

Trở về Trường Sa

Từ quân cảng Cát Lái (TP Hồ Chí Minh), tôi lên tàu HQ 571 để ra thăm Trường Sa. Tàu HQ 571 là tàu khách mới được đưa vào sử dụng, làm nhiệm vụ đưa đón cán bộ, chiến sĩ và các đoàn công tác ra thăm và làm nhiệm vụ ở Trường Sa. Tất cả trang thiết bị trên tàu HQ 571 vẫn còn mới tinh, sạch sẽ, hiện đại. Anh bạn cùng phòng tôi tên Trần Văn Phúc thốt lên: Nói không ngoa tý nào, HQ 571 giống như một tàu du lịch cao cấp từ phòng ở đến giường ngủ, phòng tắm. Tôi háo hức đi khắp HQ 571 để khám phá vẻ hiện đại của con tàu.

Khi vừa đặt chân lên boong tàu, thấy một thanh niên trạc 30 tuổi đang mải miết ghi chép vào cuốn sổ tay. Tôi lại gần bắt chuyện. Tên anh là Trần Anh Tuấn, phóng viên Thông tấn xã Việt Nam. Trong cuốn sổ tay, Tuấn ghi: …7h30 xuống tàu, nhận phòng, sắp xếp đồ đạc xong xuôi. Chỉ còn ít phút nữa thôi, tàu sẽ nhổ neo rời bến, bỗng dưng mình cảm thấy bồi hồi, háo hức được trở về Trường Sa… Tôi thắc mắc hỏi Tuấn:

– Em ghi là trở về Trường Sa, vậy em ra Trường Sa mấy lần rồi?

Tuấn giải thích ngay: “Đối với nhiều người thường nói là ra thăm Trường Sa, còn riêng em dù chưa một lần được đặt chân tới Trường Sa, nhưng trong trái tim em Trường Sa là quê hương, Tổ quốc của chúng ta trên biển. Mà đã là quê hương thì phải là trở về, tìm về quê phải không anh?”.

Cách giải thích của Tuấn khiến tôi thoáng chút ngạc nhiên, nhưng trong lòng lại vô cùng xúc động. Một đứa con xa xứ trở về thăm lại mảnh đất thiêng mà biết bao thế hệ cha ông ta đã đổ máu xương để gìn giữ, khẳng định chủ quyền. Trường Sa, quê hương Tuấn, quê hương của tôi và là quê hương tất cả những người mang trong mình dòng máu Lạc Hồng.

Trò chuyện với Tuấn, tôi chợt nhớ đến những câu thơ trong bài “Tổ quốc nhìn từ biển” của tác giả Nguyễn Việt Chiến mà tôi rất thích: …Thương đất nước trên ba ngàn hòn đảo/Suốt ngàn năm bóng giặc vẫn chập chờn/Máu đã đổ ở Trường Sa ngày ấy/Bạn tôi nằm dưới sóng mặn vùi thân/Nếu Tổ quốc neo mình đầu sóng cả/Những chàng trai ra đảo đã quên mình/Một sắc chỉ về Hoàng Sa thuở trước (*)/Còn truyền đời con cháu mãi đinh ninh/Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát/Máu xương kia dằng dặc suốt ngàn đời/Hồn dân tộc ngàn năm không chịu khuất/Dáng con tàu vẫn hướng mãi ra khơi.

to-quoc-nhin-tu-bien-aKhoảng xanh trên đảo chìm

Trong chuyến đi Trường Sa và nhà giàn DK1 lần này, Đoàn chúng tôi tổ chức hai buổi Lễ tưởng niệm những cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh để bảo vệ chủ quyền biển đảo và thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc: Một buổi ở Trường Sa, một buổi ở bãi Tư Chính (nơi có nhà dàn DK1-14). Cả hai buổi Lễ tưởng niệm đều được tổ chức rất trang trọng, thành kính, chu đáo, đem đến cho tôi và các thành viên trong Đoàn những cảm xúc không bao giờ quên. Tất cả các thành viên trong Đoàn ai nấy đều xúc động, nhiều người không cầm được nước mắt.

Buổi lễ tưởng niệm tại bãi Tư Chính, khi những nén hương thơm vừa được thắp lên, con tàu HQ 571 bỗng dưng nghiêng lắc, khiến tất cả mọi người phải vịn vào nhau để khỏi ngã. Lạ thật! Biển đang êm đềm, cớ sao con tàu lại đột nhiên chao đảo. Chỉ vài chục giây sau, con tàu thôi không còn nghiêng lắc nữa.

Sau buổi lễ, có người trong Đoàn bảo: Anh linh các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trên biển, đảo đã về chứng kiến lòng thành kính, tưởng nhớ của Đoàn công tác và cả những người con đất Việt đang sống hôm nay. Vâng! Tổ quốc Việt Nam sẽ mãi mãi không bao giờ quên sự hy sinh của các anh. Tôi không khóc mà sao nước mắt cứ trào ra.

Chúng tôi cùng nhau thả vòng hoa và lễ vật xuống biển với mong muốn các cán bộ, chiến sĩ Hải quân năm xưa đang yên nghỉ trong lòng biển quê hương luôn theo sát thế hệ hôm nay và mai sau, mãi giữ vững biển đảo thân yêu của Tổ quốc…

Hai bố con, hai vợ chồng cùng ra đảo

Anh Nguyễn Văn Thanh, quê ở huyện Tiên Lãng, Hải Phòng, một doanh nhân hiện đang sinh sống tại thành phố Lép-dích, Cộng hòa Liên bang Đức (đoàn Đảng bộ ngoài nước) hồ hởi khoe: “Năm trước, con gái tôi về nước và được đi thăm Trường Sa, cháu thích lắm. Cháu kể nhiều chuyện về Trường Sa, về cuộc sống của cán bộ, chiến sĩ, nhân dân trên các đảo. Sau chuyến đi, con gái tôi đã hiểu hơn về Trường Sa, về Tổ quốc Việt Nam. Nghe con gái kể chuyện, gia đình rất xúc động. Tôi ao ước một ngày được tới thăm Trường Sa. Năm nay, khi nhận được thông tin từ Đảng bộ ngoài nước về chuyến thăm Trường Sa và nhà dàn DK1, tôi vội sắp xếp công việc để trở về nước”.

Tới thăm Trường Sa và nhà giàn DK1 lần này, tận mắt chứng kiến cuộc sống của cán bộ, chiến sĩ và người dân trên các đảo và nhà giàn, tôi vô cùng khâm phục. Mặc dù, cuộc sống của họ còn thiếu thốn, vất vả, khó khăn nhưng rất hiếu khách. Điều khiến tôi thực sự bất ngờ là mình ra thăm để động viên anh em nhưng không ngờ anh em lại động viên lại mình.

Khi được trò chuyện với cán bộ, chiến sĩ, người dân trên đảo, tôi cảm nhận họ luôn vượt lên mọi khó khăn, gian khổ. Trong họ luôn tràn đầy ý chí quyết tâm bảo vệ vùng biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Họ chẳng hề nói về những khó khăn, vất vả ở nơi đảo xa hay những đòi hỏi cho bản thân mình mà chỉ muốn nhắn nhủ đất liền rằng hãy tin tưởng ở họ: Đất liền là điểm tựa để họ chắc tay súng bảo vệ vùng biển đảo của Tổ quốc.

to-quoc-nhin-tu-bien-bNhững công dân nhí của huyện đảo Trường Sa. Ảnh: Nguyễn Trung

Anh Thanh tâm sự với chúng tôi, mặc dù ra nước ngoài sinh sống được 25 năm nhưng bao giờ anh cũng tự nhủ mình là người Việt Nam. Anh luôn nghĩ rằng đã là người Việt Nam, dù ở bất cứ nơi đâu đều phải có trách nhiệm đóng góp tham gia bảo vệ chủ quyền vùng biển đảo mà cha ông để lại. Món quà 2000 ơ-rô do anh và một số người Việt Nam đang sinh sống tại Đức đóng góp gửi tặng quân dân trên đảo là tình cảm của những người con xa xứ đối với Trường Sa thân yêu. Anh Thanh luôn mong muốn những người Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài ngày càng có nhiều hành động cụ thể, thiết thực hơn nữa để hướng về Trường Sa, góp phần cùng quân và dân cả nước xây dựng và bảo vệ vững chắc quần đảo Trường Sa. Anh Thanh quả quyết: “Tôi ước mong được trở lại Trường Sa nhiều lần nữa”.

Trong chuyến đi công tác tại Trường Sa lần này, điều làm tôi bất ngờ nữa chính  là việc hai vợ chồng cùng ra đảo trên một chuyến tàu. Đó là vợ chồng anh Võ Thành Nhân (ca sĩ) và chị Phan Thị Quỳnh (diễn viên múa) thuộc Đoàn nghệ thuật tỉnh Quảng Bình. Trò chuyện với tôi, anh Nhân bảo: Được đi Trường Sa là niềm mơ ước bao lâu nay của vợ chồng tôi. Bây giờ mơ ước ấy mới thành hiện thực. Được đến Trường Sa biểu diễn là một dấu ấn nghề nghiệp của đời mình. Trước khi đi, hai vợ chồng tôi luyện tập nhiều tiết mục để biểu diễn phục vụ cán bộ, chiến sĩ ở Trường Sa. Chúng tôi muốn mang hơi ấm của đất liền, của người Quảng Bình đến với anh em chiến sĩ ngoài đảo xa. Chúng tôi thấy cuộc sống của người lính đảo dù vẫn rất vất vả nhưng thấy đoàn công tác tới, họ rất nhiệt tình. Đến mỗi đảo mình lại có cảm giác khó tả. Đêm biểu diễn ở đảo Sơn Ca, tôi hát bài “Lính đảo đợi mưa” sáng tác nhạc của nghệ sĩ Quỳnh Hợp, thơ Trần Đăng Khoa. Các chiến sĩ hái tặng anh em nghệ sĩ chúng tôi hoa bàng quả vuông-loài hoa chỉ nở về đêm. Món quà nhỏ, giản dị nhưng chúng tôi vô cùng xúc động, bởi đấy là những tình cảm chân thành của người lính đảo. Chúng tôi muốn biểu diễn đến tận sáng, nhưng vì quy định của đảo, nên không thể thực hiện được. Đây là buổi biểu diễn đáng nhớ của cuộc đời tôi. Sau chuyến đi này, chúng tôi sẽ xây dựng nhiều tiết mục mang ý tưởng về biển đảo, ca ngợi những người chiến sĩ đang ngày đêm canh giữ, bảo vệ vùng biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc để khán giả, người dân ở đất liền thêm hiểu và luôn hướng đến Trường Sa…

(Còn nữa)

Ghi chép của Nguyễn Kiểm
Thanh Huyền (st)

Hiến định vai trò lãnh đạo của Đảng trong Hiến pháp là thể hiện ý chí của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam

Góp ý kiến vào “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992”

Thượng Tướng, Viện Sĩ, TS KHQS Nguyễn Huy Hiệu Nguyên Ủy Viên BCH TW Đảng, Nguyên Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng
Hiến pháp là văn kiện chính trị pháp lý cao nhất của một nhà nước. Khác với các nước tư bản chủ nghĩa, Hiến pháp của nước ta thể hiện được mối quan hệ giữa ba đại diện là nhân dân, Đảng Cộng sản cầm quyền và Nhà nước pháp quyền.

Với mưu đồ xuyên tạc Điều 4 của bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, một số phần tử phản động lập luận rằng, Hiến pháp các năm 1946 và 1959 không có điều nào quy định Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, nhưng Đảng “vẫn lãnh đạo nhân dân đánh thắng thực dân đế quốc xâm lược và hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thì cũng không nhất thiết phải xác nhận lại vai trò lãnh đạo của Đảng như trong Hiến pháp hiện tại”(!). Lập luận này là lập lờ, thiếu toàn diện, không có quan điểm lịch sử cụ thể. Sở dĩ Hiến pháp năm 1946 không có quy định vai trò lãnh đạo của Đảng, vì trước đó ngày 11/11/1945, thời điểm lịch sử do tình thế đặc biệt của cách mạng, Đảng ta đã ra tuyên bố tự giải tán, nhưng sự thật là rút vào hoạt động bí mật, giữ vững vai trò lãnh đạo.

Trên cơ sở Điều 4 Hiến pháp năm 1992, Điều 4 của bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 xác định: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy Chủ nghĩa Mác – Lê-nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; “Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”; “Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Việc quy định Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội không chỉ là tư tưởng xuyên suốt, nhất quán để khẳng định vị trí, vai trò độc tôn lãnh đạo của Đảng, mà còn là một nguyên tắc bất di bất dịch của cách mạng Việt Nam, phù hợp với thể chế chính trị – xã hội mà Việt Nam đã lựa chọn. Bởi vậy, Điều 4 Hiến pháp năm 1980 xác định “Các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp”, thì Điều 4 Hiến pháp năm 1992 đã bổ sung: “Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Tiếp tục tinh thần đó, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 còn quy định thêm về việc tuân thủ, thi hành Hiến pháp và pháp luật đối với mọi đảng viên.

Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội không chỉ bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức và kiểm tra; mà phần cốt yếu là thông qua đội ngũ tiền phong của mình là những cán bộ, đảng viên tiêu biểu về bản lĩnh, trí tuệ, phẩm chất và năng lực. Vì vậy, Điều 4 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 khẳng định “Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” nhằm bảo đảm cho Đảng giữ vững bản chất, mục tiêu, lý tưởng của mình, đồng thời là giải pháp quan trọng hàng đầu để phòng, chống, ngăn ngừa mọi nguy cơ thoái hóa, biến chất có thể xảy ra trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền ở nước ta. Mặt khác, việc xác định trách nhiệm của các đảng viên trong việc tự giác, gương mẫu thực hiện, chấp hành Hiến pháp và pháp luật cũng không ngoài mục đích làm cho “đội ngũ tiên phong của Đảng” phải thường xuyên nêu cao ý thức, thái độ, trách nhiệm cả về tư tưởng, hành động trong cuộc sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, làm gương cho nhân dân noi theo.

Muốn hiểu được bản chất của một đảng cầm quyền, phải nhận thức rõ mục đích hoạt động của đảng đó mang lại lợi ích cho ai. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”. Vì vậy, Điều 4 của bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã bổ sung: “Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”. Để sửa chữa những khuyết điểm của mình, nhiều lần Đảng đã tiến hành tự chỉnh đốn, mà gần đây nhất là đợt kiểm điểm tự phê bình và phê bình của các cấp ủy, tổ chức Đảng trong toàn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” bước đầu mang lại nhiều hiệu quả tích cực, được nhân dân đồng tình, ủng hộ.

Đối với nhân dân Việt Nam, nói đến Đảng là nói đến tình cảm thiêng liêng, là thể hiện niềm tin và tình yêu son sắt của nhân dân dành cho Đảng. Có một sự thật mà hầu như mọi người Việt Nam ai cũng biết đó là: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Như vậy, khác với những quan điểm tư sản, sự khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được quy định trong bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 chính là thể chế hóa vai trò lãnh đạo của Đảng, khẳng định Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là sự thể hiện ý chí, lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân, mang bản chất giai cấp công nhân. Ý chí, lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích cơ bản của nhân dân lao động và cả dân tộc, đó là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Việc hiến định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thành quy định trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 chính là thể hiện ý chí của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam

N.H.H.

Nguồn: cand.com.vn
Vkyno (st)

Chế định bảo vệ Tổ quốc cần kế thừa và bổ sung phù hợp với yêu cầu

Bảo vệ Tổ quốc là một trong những chế định quan trọng trong những bản Hiến pháp từ trước tới nay.

Trong Hiến pháp năm 1992, Bảo vệ Tổ quốc được quy định trong Chương IV gồm 5 điều, quy định về nguyên tắc, nhiệm vụ cơ bản trong lĩnh vực bảo vệ Tổ quốc, quyền hạn và trách nhiệm cụ thể của Nhà nước, của lực lượng vũ trang, của các cơ quan, tổ chức, công dân nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trao đổi với phóng viên Báo CAND về vấn đề này, Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Vi Dân, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Công an cho biết:

Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 quy định về bảo vệ Tổ quốc tại Chương IV (từ Điều 69 đến Điều 73).

Qua nghiên cứu, về cơ bản, chế định bảo vệ Tổ quốc đã tiếp tục kế thừa những quy định của Hiến pháp 1992 và các bản Hiến pháp trước đây còn phù hợp như quy định về tính chất và nguyên tắc chỉ đạo công cuộc bảo vệ Tổ quốc; thể chế hóa tư duy đổi mới của Đảng về quốc phòng, an ninh trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng xác định nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị.

Làm rõ hơn nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; tiếp tục khẳng định mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực đang có nhiều thay đổi và diễn biến phức tạp, khó lường; âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch, phản động nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vẫn không thay đổi; tình hình tội phạm, trật tự, an toàn xã hội còn diễn biến phức tạp, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: “Mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”.

Theo đó, cần thiết sửa đổi các điều, khoản trong chế định bảo vệ Tổ quốc như sau:

Về Điều 69, đề nghị bổ sung cụm từ “trật tự, an toàn xã hội” vào sau cụm từ “giữ vững an ninh quốc gia” ở khổ đầu điều này và chỉnh sửa như sau: “Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội là sự nghiệp của toàn dân”.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trên thực tế đã, đang là sự nghiệp của toàn dân. Nhận thức đầy đủ vấn đề này từ trước tới nay, Đảng ta luôn quan tâm, chỉ đạo nhiệm vụ bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong nhiều nghị quyết, chỉ thị, đặt yêu cầu bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong mối quan hệ chặt chẽ với bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia.

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng tiếp tục xác định: “Tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt”.

Nếu Hiến pháp không ghi nhận bảo đảm trật tự, an toàn xã hội là sự nghiệp của toàn dân là chưa cụ thể hóa và quán triệt đầy đủ quan điểm của Đảng về bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong tình hình hiện nay, không phù hợp với những đòi hỏi thực tiễn đặt ra cho công tác này dưới phương diện cơ sở pháp lý.

Về Điều 70, việc bổ sung quy định lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Đảng là phù hợp và cần thiết vì:

Lực lượng vũ trang ở đâu và bao giờ cũng là công cụ bạo lực của một giai cấp, một nhà nước nhất định, mang bản chất của giai cấp và nhà nước tổ chức ra nó; nhằm phục vụ cho mục đích chính trị của giai cấp, của nhà nước tổ chức, nuôi dưỡng và sử dụng lực lượng vũ trang, không có và không bao giờ có lực lượng vũ trang “trung lập về chính trị”, “đứng ngoài chính trị”, “phi giai cấp”.

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt là nguyên tắc cơ bản, được xác định nhất quán từ Đại hội lần thứ nhất của Đảng đến nay. Qua các thời kỳ cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định quyền lãnh đạo lực lượng vũ trang thuộc về một đảng duy nhất – Đảng Cộng sản Việt Nam, không thể phân chia quyền lãnh đạo này cho bất cứ một giai cấp, một đảng phái nào khác.

Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam sáng lập, tổ chức, xây dựng, giáo dục, rèn luyện. Sự trưởng thành, lớn mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam gắn liền với sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện, tổ chức, xây dựng của Bác Hồ và Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cách mạng Việt Nam đã chứng minh rằng, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam luôn trung thành bảo vệ Tổ quốc, Đảng, Nhà nước và nhân dân. Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam không chỉ là công cụ bạo lực, lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, Nhà nước, mà còn là công cụ bạo lực tổ chức vũ trang của nhân dân, chiến đấu vì độc lập, tự do của đất nước.

Thực tiễn trên thế giới cho thấy, ở những nước có nhiều đảng phái chính trị, thực hiện cái gọi là “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, đang phải đối mặt với tình trạng mâu thuẫn, xung đột, bất ổn chính trị – xã hội gia tăng, thậm chí tạo nên sự hỗn loạn trong xã hội. Luận điểm “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang thực chất là muốn tách lực lượng vũ trang ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng để lực lượng vũ trang dần dần biến chất về chính trị, xa rời chính trị của giai cấp công nhân.

Về Điều 73 đề nghị bổ sung thuật ngữ “Công an” sau cụm từ “hậu phương Quân đội”, thay thuật ngữ “an ninh” bằng thuật ngữ “Công an” sau cụm từ “nhân viên quốc phòng”. Nghiên cứu thấy giải trình của Ủy ban dự thảo về việc không tiếp thu các góp ý nêu trên vào Điều 73 là chưa thuyết phục.

Thực tiễn đấu tranh cách mạng của lực lượng Công an nhân dân từ khi được thành lập đến nay cho thấy ở mọi thời kỳ cách mạng, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội luôn là cuộc đấu tranh đầy hy sinh, gian khổ. Ngay trong thời bình, vẫn có những chiến sĩ Công an hy sinh.

Tuy nhiên, cần xác định bất cứ người chiến sĩ Công an nhân dân nào cũng sẵn sàng đối diện với hy sinh, mất mát vì cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân.

Vì vậy, cần khẳng định rằng sau trận tuyến bảo vệ an ninh, trật tự, đấu tranh phòng, chống tội phạm, hậu phương Công an đã và đang tồn tại, đóng góp rất quan trọng vào thành công của Công an nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự.

Tuy nhiên, do chưa được ghi nhận trong Hiến pháp nên có ý kiến cho rằng đây là vấn đề mới cũng là dễ hiểu. Như vậy, việc bổ sung vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp là rất cần thiết, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho phép quan tâm một cách đầy đủ tới cán bộ, chiến sĩ Công an đang trực tiếp chiến đấu bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội

Nguyễn Hưng (ghi)

Nguồn: cand.com.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – nguồn cảm hứng cho toàn thể dân tộc Việt Nam

Uyn-phơ-ret Bơ-xet (1911-1983) – nhà báo Ô-xtrây-li-a nổi tiếng và là người bạn thân thiết của nhân dân Việt Nam, ông đã tới nhiều điểm nóng trên thế giới. Tháng 3-1954, tại chiến khu Việt Bắc, lần đầu tiên ông được tiếp kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh; từ đó, ấn tượng sâu sắc sau nhiều lần gặp gỡ Người đã thôi thúc ông viết tiểu luận Ho Chi Minh an appreciation (tạm dịch: Giá trị Hồ Chí Minh) và năm 1972 đã được Quỹ Wilfred Burchett và Báo The Guardian xuất bản thành sách. Nhân kỷ niệm 123 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Báo Nhân Dân xin giới thiệu với bạn đọc một trích đoạn từ tiểu luận này (đầu đề là của tòa soạn).

“… Thực tế là người nông dân Việt Nam rất đỗi nhỏ bé, thậm chí mù chữ, nhưng nếu xét về văn hóa và đạo đức thì họ lại tỏ ra ưu việt hơn so với đối thủ của họ là người Mỹ. Hồ Chí Minh thấu hiểu truyền thống và lịch sử của đất nước mình không chỉ qua chiều dài mấy ngàn năm, mà theo đúng nghĩa đen là ông đã hấp thụ nó qua nguồn sữa mẹ. Ngay từ những năm đầu đời, bao quanh ông là di sản lịch sử của tổ tiên, thấm sâu vào tâm hồn ông tự lúc nào. Ðó có thể là điệu hát ru, là câu chuyện cổ tích hoặc những cảnh trí trên sân khấu của một gánh hát lưu động diễn lại lịch sử hai ngàn năm chống giặc ngoại xâm đậm chất anh hùng. Ðó cũng có thể là sự tò mò về nguồn gốc của vị thành hoàng làng – thường là một anh hùng trong truyền thuyết. Ðó còn là những câu chuyện mà người trong gia đình thường kể cho nhau nghe về chiến công dũng cảm của tổ tiên trong bảo vệ Tổ quốc, về những đau khổ bất công dưới sự áp bức của nước ngoài và lời kêu gọi đòi trả thù. Tri thức về hai nghìn năm đấu tranh chống kẻ xâm lược đã in sâu trong dòng máu của những người nông dân nhỏ bé, chân lấm tay bùn. Chỉ riêng điều này đã là nguồn lực vô tận cho lòng dũng cảm, sức chịu đựng, niềm tin vào tương lai và coi thường những kẻ cố gắng phá hoại những giá trị hiện tại, điều mà các chuyên gia “cố vấn” (“cố vấn” Hoa Kỳ tại miền Nam Việt Nam ở thời điểm tác giả viết bài – ND) không thể hiểu được. Hồ Chí Minh là hình ảnh thu nhỏ của tất cả những điều này. Dường như có một cái gì đó của mỗi người Việt Nam trong Hồ Chí Minh, cũng như có một cái gì đó của Hồ Chí Minh trong đại đa số những người Việt Nam hôm nay. Dấu ấn của ông đối với dân tộc Việt Nam mới mạnh mẽ làm sao!

Cuộc gặp gỡ đầu tiên đáng nhớ của tôi với Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn ra vào đầu tháng 3-1954. Người ta thông báo rằng một Hội nghị sẽ được tổ chức tại Giơ-ne-vơ để thảo luận về việc chuyển đổi thỏa thuận ngừng bắn Triều Tiên thành một giải pháp hòa bình lâu dài. Ðúng lúc đó, một ý tưởng muộn màng dường như xuất hiện đồng thời, câu hỏi về ngừng bắn ở Ðông Dương dấy lên. Tôi biết khá rõ về vấn đề Triều Tiên, nhưng lại chẳng biết gì về chiến tranh Ðông Dương. Trước khi đến Giơ-ne-vơ, tôi quyết định đến Việt Nam để tìm hiểu về tình hình thực tế. (Trong hai năm rưỡi trước đó tôi đã ở Kaesong-Panmunjom tường thuật các cuộc đàm phán ngừng bắn của Triều Tiên và các vấn đề liên quan, tôi không được thông tin đầy đủ về những gì đang diễn ra trong thế giới bên ngoài). Thông qua Ðại sứ quán Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại Bắc Kinh, tôi có thị thực và cùng với nhà báo người I-ta-li-a là Phran-cô Ca-la-man-drây của L’Unita, chúng tôi bắt đầu chuyến đi bằng tàu hỏa kéo dài năm ngày đến biên giới Trung Quốc – Việt Nam. Từ đó, chúng tôi đi tiếp bằng xe tải vào ban đêm và bằng ngựa vào ban ngày, tới một Sở Chỉ huy trong rừng rậm của Việt Minh.

Trong chuyến hành trình của tôi đến Việt Bắc, Đài Phát thanh phát rất nhiều tin tức về một địa danh gọi là Ðiện Biên Phủ. Các bản tin phát thanh phương Tây cho biết, người Pháp đã xây dựng một căn cứ lớn ở đó và đã bắt đầu các hoạt động tiến công “để quét sạch Việt Minh” khỏi toàn bộ vùng Tây Bắc Việt Nam và bao vây họ trong một chiến dịch gọng kìm lớn kéo dài từ Ðiện Biên Phủ đến đồng bằng sông Hồng. Và đây là nơi mà chiếc mũ đi vào câu chuyện. Vì chiếc mũ đó là của Chủ tịch Hồ Chí Minh, và người ngồi cạnh chiếc mũ chính là vị Chủ tịch.

Sự quan tâm tỉ mỉ đến từng chi tiết mà tôi thấy sau đó chính là đặc trưng của vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam. Ngay sau khi chúng tôi đến, ông đã cho gặp ngay để bảo đảm chúng tôi còn sống sót sau cuộc hành trình gian nan và vẫn có sức khỏe tốt. Thật khó tin, chỉ sau mấy giờ đồng hồ từ khi đặt chân đến đây, chúng tôi đã được ngồi đối diện với nhà lãnh đạo cách mạng huyền thoại. Nhưng ông ấy ở đó, với khuôn mặt nhân hậu không thể nhầm lẫn được, đôi mắt sâu mầu nâu lấp lánh, chòm râu thưa, đó đúng là khuôn mặt mà chúng tôi đã biết qua các tấm ảnh và chân dung trong các năm qua. Ông đột nhiên bước ra khỏi bóng tối của rừng già mà không báo trước, trên vai vắt một chiếc áo khoác, bước đi nhanh nhẹn với một cây gậy tre dài, chiếc mũ nhô cao trên vầng trán rộng. Ông làm cho chúng tôi thấy hoàn toàn thoải mái khi trao đổi bằng tiếng Pháp và tiếng Anh trôi chảy, ông còn giới thiệu đôi lời bằng tiếng I-ta-li-a với người đồng nghiệp của tôi.

Chúng tôi hỏi Hồ Chủ tịch tại sao Đài Phát thanh lại đưa tin về Ðiện Biên Phủ ầm ĩ như thế, ở đó thật sự đang xảy ra điều gì? “Ðây là Ðiện Biên Phủ”, ông nói và lật ngửa chiếc mũ của mình trên mặt bàn. “Ðây là những rặng núi”, ông lướt những ngón tay thon dài, khỏe khoắn theo rìa chiếc mũ. “Và đó là nơi chúng tôi đang có mặt. Còn dưới này”, ông dằn mạnh nắm tay xuống đáy mũ, “là thung lũng Ðiện Biên Phủ. Người Pháp đang ở đó. Họ sẽ không thể ra khỏi đó. Việc này có thể mất nhiều thời gian, nhưng họ sẽ không thể ra khỏi đó”, ông nhắc lại “đó là trận chiến Ðiện Biên Phủ trong một chiếc mũ”. Sau này chúng tôi được biết hôm trước, ngày 13-3-1954, Tướng Giáp đã tung ra cú đánh đầu tiên ở Ðiện Biên Phủ và trong bốn ngày đã thâu tóm được ba vị trí trọng yếu bảo vệ các con đường vào cứ điểm Ðiện Biên Phủ từ phía bắc.

Ấn tượng đầu tiên của tôi như tôi đã viết trong cùng một cuốn sách, là tất cả đều vô cùng thân mật, ấm cúng, giản dị. Hồ Chí Minh có khả năng làm cho người khác cảm thấy thoải mái ngay từ giây phút đầu tiên và trả lời những câu hỏi phức tạp nhất chỉ bằng một vài từ và cử chỉ rõ ràng. Trong những cuộc gặp gỡ sau đó với nhân cách vĩ đại này, sự cởi mở, giản dị và diễn đạt rõ ràng của ông đi kèm với trí thông minh đặc biệt và khả năng nắm bắt đầy đủ đối tượng đã tạo nên ấn tượng sâu sắc. Bất cứ ai tiếp xúc với Hồ Chí Minh đều có chung nhận xét về những đặc điểm này, và trên hết là cảm giác như đang được “ở nhà” với ông ùa đến tức thì…

Khả năng làm đơn giản các tình huống phức tạp bằng hình ảnh dễ hiểu, sinh động như dùng cái mũ để minh họa là điển hình trong phong cách giản dị của ông. Mười một năm sau, tôi hỏi ông nghĩ gì về khả năng người Mỹ xâm lược miền Bắc. Ðó là giai đoạn mà Mỹ tiếp tục xây dựng lực lượng ở miền Nam, báo chí đã nói về kế hoạch mở rộng xâm lược ra miền Bắc. “Tất nhiên chúng tôi cân nhắc rất kỹ điều này”, ông trả lời, “nhưng nó làm tôi nhớ tới một con cáo bị mắc một chân trong bẫy. Nó bắt đầu giãy giụa tìm cách thoát ra, nhưng đáng thương thay, cái chân còn lại mắc nốt vào một cái bẫy khác. Ðó là những gì sẽ xảy ra nếu người Mỹ xâm lược miền Bắc”.

Ngược lại với các “thầy tu” cao siêu của khoa học chính trị Mỹ, những người ngày càng thích thú diễn đạt các ý tưởng bằng thứ ngôn ngữ máy móc vô nhân đạo và công thức kiểu toán học thay vì hình ảnh con người, thích trầm trọng hóa vấn đề bằng ngôn ngữ mà quảng đại công chúng cảm thấy vô cùng khó hiểu; thì khoa học chính trị đầy sức thuyết phục của Hồ Chí Minh được thể hiện trong ngôn ngữ đơn giản và sinh động, những hình ảnh mộc mạc mà người nông dân hoặc công nhân bình thường nhất cũng có thể hiểu được. Khi chuẩn bị các bài báo hoặc các văn bản tuyên cáo, thậm chí cả những văn bản chính sách quan trọng, Hồ Chí Minh thường cho nông dân đọc thử, điều chỉnh từ ngữ cho đến khi chắc chắn rằng toàn bộ văn bản là dễ hiểu đối với quảng đại quần chúng. (Hen-ri Kit-xinh-gơ, Cố vấn của Tổng thống Ni-xơn hẳn sẽ thấy ngôn ngữ của mình được cải thiện nếu ông làm điều tương tự!). Người ta thậm chí có thể nghi ngờ các nhà khoa học chính trị, những người đã bán tài năng của mình cho giới quyền uy, phát minh ra công thức ngôn ngữ chỉ dễ hiểu đối với nhóm những người thuê mướn họ trong khi những người dân thường chắc chắn không thể hiểu nổi. Giống như ngôn ngữ của nhà thờ thời trung cổ, nó phải được cách ly khỏi công chúng. Còn Hồ Chí Minh lại khai mở niềm tin từ quần chúng. Trong suốt sự nghiệp của mình, ông luôn luôn khẳng định quần chúng, chứ không phải các nhà lãnh đạo, mới là người làm nên lịch sử. Do đó ngôn ngữ của ông, phong cách làm việc và phong cách sống của ông luôn hướng tới làm sao giữ mối liên hệ gần gũi nhất với quần chúng để biết khát vọng sâu xa của quần chúng và đề ra chính sách phù hợp.

… Một vấn đề mà Tổng thống Ni-xơn và những người tiền nhiệm của ông ta không nhận thấy nhưng chắc chắn nhân dân Việt Nam thì khác, đó là Hồ Chí Minh thuộc về toàn thể dân tộc Việt Nam. Không có ranh giới tùy tiện nào dọc theo vĩ tuyến 17 có thể chia ly người dân miền Nam với Hồ Chí Minh vì Thủ đô của họ ở phía bắc của ranh giới. Hồ Chí Minh là nhà lãnh đạo được chấp nhận và là nguồn cảm hứng cho toàn thể dân tộc Việt Nam, ngoại trừ số ít người lần lượt phục vụ các quan thầy Nhật Bản, Pháp và Mỹ. Phong cách làm việc và chiến đấu của ông là phong cách dành cho người Việt Nam ở miền Nam cũng như ở miền Bắc…”.

Anh Khôi (Biên dịch)
Theo Báo Nhân Dân
Kim Yến (st)

Chú bé “lạ” trong bức ảnh chụp với Bác Hồ

Bức ảnh Bác Hồ cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cố Tổng Bí thư Trường Chinh với các chiến sĩ Điện Biên trong sinh nhật Bác 19/5/1954 do nhà quay phim Vladimia Isurin chụp đã được đăng trên báo nhiều lần, nhưng rất ít người để ý về một “chú bé lạ”, đứng nép bên Bác Hồ.

Chú bé ấy bây giờ tuổi đã ngoài 60, là Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam và là tác giả cuốn tiểu thuyết đầu tiên về đường ống xăng dầu, bộ đội Trường Sơn vừa được xuất bản…

Thiếu Tướng Hồ Sĩ Hậu, tác giả tiểu thuyết “Dòng sông mang lửa”

Thiếu tướng Hồ Sỹ Hậu kể: “Ngày Chiến thắng Điện Biên Phủ tôi mới lên 8 tuổi, theo cha lên Chiến khu Việt Bắc, trong Cơ quan Văn phòng Trung ương Đảng.

Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, Đoàn làm phim của nhà quay phim  nổi tiếng người Nga Roman Cácmen từ mặt trận về Cơ quan Văn phòng Trung ương Đảng để quay phim về Bác Hồ. Bọn trẻ chúng tôi được may quần áo mới và quàng khăn đỏ mỗi khi ra trước ống kính.

Tôi thì được các cô may cho một bộ quần áo kaki màu tím than mà trước đó tôi chưa bao giờ dám mơ. Chúng tôi được đi mừng sinh nhật Bác Hồ, sau đó thì được mặc quần áo mới để đón các Chiến sĩ ưu tú từ Điện Biên Phủ về báo công mừng sinh nhật Bác.

Hôm đó, khi các bạn tản đi chơi chỗ khác hết rồi, tôi vẫn la cà quanh khu vực Bác Hồ tiếp khách. Trong cơ quan, thỉnh thoảng Bác cho trẻ con lên nhà sàn chơi. Tôi cũng có lần được Bác bế lên ngồi lòng. Qua cửa sổ nhà sàn, tôi thấy dòng suối, nương ngô xanh mướt, thấp thoáng bóng áo chàm có chút gì đó như sương khói.

Phong cảnh của một buổi chiều Việt Bắc cứ đọng lại mãi trong trí nhớ của tôi. Thấy Bác Hồ và các chú, các bác lãnh đạo nói chuyện rất vui vẻ với các chiến sĩ nên tôi đứng cạnh một gốc cây gần đó xem một cách tò mò và thích thú. Bác ân cần hỏi chuyện gia đình từng chiến sĩ rồi gắn Huy hiệu “Chiến sĩ Điện Biên Phủ” cho từng người.”.

Nhớ lại câu chuyện được chụp ảnh với Bác Hồ, Thiếu tướng Hồ Sỹ Hậu vẫn còn bồi hồi xúc động. Trong ký ức non nớt của một cậu bé 8 tuổi, hình ảnh Bác tỏa ra một vẻ đẹp diệu kỳ. Bác nghiêm khắc khi chú bé sà vào lòng Bác lúc Bác đang làm việc. Nhưng đến khi xong việc rồi, Bác lại gọi chú bé vào hỏi han, âu yếm, không một chút khó tính.

“Thấy tôi thập thò ở gốc cây hóng chuyện, Bác gọi: “Cháu vào đây với Bác”. Rồi Bác lách tay qua mấy anh bộ đội để dắt tôi vào. Hai tay Bác ôm lên vai tôi, như cách của một người ông hiền từ yêu chiều cháu nhỏ. Tôi đứng nép vào Bác, nghe Bác và các bác lãnh đạo nói chuyện với bộ đội. Tôi không thể ngờ toàn bộ những kỷ niệm trên đều được quay vào những thước phim tư liệu của nhà làm phim Cácmen.

Và ngạc nhiên hơn nữa là thấy mình trong bức ảnh Bác Hồ và các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước và 6 chiến sĩ Điện Biên. Những bức ảnh này được chụp bởi nhà nhiếp ảnh người Nga Isurin – người đi cùng Đoàn làm phim với đạo diễn Cácmen”.

Sau này một vài bài báo viết về bức ảnh lại cho rằng chú bé đứng cạnh Bác Hồ là TS Đặng Việt Bích, con trai cố Tổng Bí thư Trường Chinh. Về chi tiết này, khi trò chuyện với phóng viên, “chú bé” trong ảnh, nay là Thiếu tướng Hồ Sỹ Hậu hóm hỉnh: “Tội nghiệp Đặng Việt Bích, cậu ấy trắng trẻo, thư sinh, đẹp trai nữa, lại bị nhầm với thằng bé “nhà quê một cục” như tôi”.

Anh hùng LLVTND Lê Mã Lương, Giám đốc Bảo tàng Quân đội đã “đính chính” lại với mọi người đến xem bảo tàng mỗi khi có ai hỏi về chú bé trong bức ảnh, rằng đó là Hồ Sỹ Hậu, con trai một đồng chí nguyên là Ủy viên Trung ương Đảng….

Chu be la trong buc anh chup 2Bác Hồ trò chuyện với 6 chiến sĩ Điện Biên Phủ
(chú bé trong bức ảnh nay là Thiếu tướng Hồ Sĩ Hậu)

Chú bé 8 tuổi đứng nép vào Bác Hồ, và ngồi cạnh bác Trường Chinh trong những bức ảnh lịch sử của hơn nửa thế kỷ về trước, nay đã là một Thiếu tướng quân đội, một nhà văn. Theo truyền thống gia đình, lớn lên, “chú bé” vào bộ đội, là một kỹ sư thiết kế, thi công tuyến đường ống xăng dầu Trường Sơn huyền thoại.

Những năm tháng được sống cùng cha ở Chiến khu Việt Bắc, lại được gần gũi Bác Hồ và các bác, các chú lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước đã thôi thúc trong lòng “chú bé” một mong muốn, là phải phấn đấu để có cơ hội gặp lại Bác với tư cách là “một người Anh hùng hay một Chiến sĩ thi đua”.

Tham gia vào cuộc chiến tranh khốc liệt, đóng góp công sức, trí tuệ cho đường ống xăng dầu Trường Sơn, Thiếu tướng Hồ Sỹ Hậu là một nhân chứng sống của lịch sử. Những tư liệu khổng lồ, chân thực về con đường “huyền thoại trong huyền thoại”, là đường ống xăng dầu Trường Sơn đã được ông kể lại trong tiểu thuyết “Dòng sông mang lửa’.

Cuốn tiểu thuyết đầu tiên của một Thiếu tướng quân đội đã làm ngỡ ngàng bạn đọc, cả về tính chân thực và chất lãng mạn hòa quyện. Cả tuổi trẻ của mình, Hồ Sỹ Hậu đã cống hiến cho cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Ông là người đã sống qua mất mát, qua lửa đạn, đối mặt với cái chết nhiều lần, và “nắm giữ” nhiều ký ức sống động về chiến tranh.

Dù việc viết văn đối với ông không phải để nổi tiếng, hay để trở thành một nhà văn, nhưng chỉ bằng cuốn tiểu thuyết đầu tay, viết với mong muốn để tri ân đồng đội này, Thiếu tướng Hồ Sỹ Hậu đã có những đóng góp nhất định cho nền văn học.

“Dòng sông mang lửa” là cuốn sách đầu tiên viết về bộ đội xăng dầu. Tác giả đã cung cấp cho bạn đọc những trang tư liệu sống động về quá trình xây dựng đường ống xăng dầu Trường Sơn, con đường quan trọng được ví như mạch máu của quân đội, nhưng có đặc điểm là sau khi hoàn thành nhiệm vụ thì mọi dấu vết của nó đều được xóa đi, không giống như đường mòn Hồ Chí Minh còn tồn tại đến hôm nay.

Không có cuốn sách của Hồ Sỹ Hậu, không có những trang viết chân thực của một vị tướng đã “nếm mật nằm gai” trên những cung đường để vận chuyển xăng dầu vào chiến trường, phục vụ cho quân đội, thì rất ít người trong chúng ta hôm nay hiểu được thấu đáo những đóng góp quan trọng và to lớn của những người lính xăng dầu cho chiến thắng cuối cùng của dân tộc.

Trong suốt những năm đeo ba lô, cầm súng đi chiến đấu dưới trời bom đạn, người lính Hồ Sỹ Hậu, “chú bé lạ” trong bức ảnh nổi tiếng của các nhà làm phim tài liệu người Nga mà chúng ta vừa nhắc, đã luôn nhớ về hình ảnh vị Cha già dân tộc như một nguồn cổ vũ, động viên lớn lao để hoàn thành nhiệm vụ của mình.

Thiếu tướng Hồ Sỹ Hậu kể lại: “Bác Hồ từ trần ngày 2/9/1969, khi tôi đang là Trợ lý kỹ thuật đi tiền trạm cho cơ quan tiền phương Trung đoàn đường ống. Vì không có báo đài để biết thông tin, nên đến ngày 5/9 tôi mới biết tin Người đã ra đi. Nhớ đến kỷ niệm năm xưa được chụp ảnh chung với Bác, và lời tự hứa sẽ gặp lại Bác khi mình đã làm được nhiều việc có ích cho Tổ quốc, tôi hiểu rằng mình đã không còn cơ hội để gặp Người.

Đêm ấy ở Trường Sơn tôi đã khóc rất nhiều và hiểu đến tận cùng niềm vinh dự lớn lao về một đoạn đời tuổi thơ tôi được gần gũi Bác. Không có mấy bạn thiếu nhi bằng tuổi tôi ngày đó có được may mắn và vinh dự ấy. Sáng ngày 6/9/1969 và hàng tháng trời sau đó, từng đợt B52 và mọi loại bom đạn của địch càn đi quét lại trên tuyến ống dẫn dầu của bộ đội đường ống Trường Sơn chúng tôi.

Rất nhiều đồng đội của tôi đã hy sinh, nằm lại trên những cánh rừng. Họ đã biến thành đất đai, cây cỏ. Với sự sáng tạo, lòng dũng cảm, gan dạ, bền chí của những người lính xăng dầu, chúng tôi đã góp phần mình cho ngày đại thắng của dân tộc. Ngày trở về, đứng trước bàn thờ của Bác, tôi đã khấn: “Thưa Bác, cháu nguyện sẽ sống và cống hiến xứng đáng với những kỷ niệm tuổi thơ đã được ở gần Bác và được Bác dạy dỗ, thương yêu”.

Thiếu tướng, nhà văn Hồ Sỹ Hậu hiện đã nghỉ hưu. Ông có nhiều dự định trong những ngày tháng này, mà dự định lớn nhất là viết về bè bạn, những người lính đã cùng ông chia ngọt sẻ bùi trong một phần đời rất quan trọng, là phần đời chiến trận…

Theo Công an Nhân dân
Huyền Trang (st)

Thi đua theo lời Bác Hồ dạy

Sinh thời, Bác Hồ đặc biệt quan tâm đến vấn đề thi đua yêu nước. Bản thân Người đã có hơn 200 bài nói, bài viết đề cập đến vấn đề thi đua ái quốc và khen thưởng. Đặc biệt, ngày 11/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra “Lời kêu gọi thi đua ái quốc”, chính thức phát động Cuộc vận động thi đua ái quốc.

Nền tảng tư tưởng vững chắc

Trong Lời kêu gọi Thi đua ái quốc, Bác nêu ra rất chi tiết, đầy đủ từ mục đích, cách làm, bổn phận của người dân, khẩu hiệu,… đến kết quả to lớn cũng như lâu dài mà Thi đua ái quốc đem lại, rồi khẳng định: “Nói tóm lại, ai cũng thi đua, ai cũng tham gia kháng chiến và kiến quốc. Phong trào sôi nổi. Thi đua ái quốc sẽ ăn sâu, lan rộng khắp mọi mặt và mọi tầng lớp nhân dân, và sẽ giúp ta dẹp tan mọi nỗi khó khăn và mọi âm mưu của địch để đi đến thắng lợi cuối cùng. Với tinh thần quật cường và lực lượng vô tận của dân tộc ta, với lòng yêu nước và chí kiên quyết của nhân dân và quân đội ta, chúng ta có thể thắng lợi, chúng ta nhất định thắng lợi”.

Vận dụng sáng tạo những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về thi đua, thi đua xã hội chủ nghĩa vào hoàn cảnh nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng quan niệm về thi đua lên tầm tư tưởng, đường lối chính trị. Người coi tổ chức thi đua yêu nước là cách tốt nhất để khơi dậy lòng yêu nước tiềm tàng trong mỗi người dân Việt Nam, biến nó thành sức mạnh, thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội cũng như trong bảo vệ Tổ quốc.

Bác nêu rõ: Công việc hàng ngày chính là nền tảng thi đua, mọi việc đều thi đua. Thi đua là hoạt động tất yếu nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mỗi con người. Người người phải thi đua, ngành ngành phải thi đua. Ai làm việc gì, nghề gì cũng thi đua làm cho nhanh, cho tốt, cho nhiều.

– Quân đội thi đua giết giặc lập công,
– Công nhân thi đua tăng gia sản xuất,
– Nông dân thi đua sản xuất lương thực,
– Trí thức thi đua sáng tác, phát minh,
– Cán bộ thi đua cần kiệm liêm chính,
– Toàn dân thi đua tích cực tham gia kháng chiến.

Bác khẳng định: Đảng phải lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước. “Thi đua phải có sự lãnh đạo đúng”. Cần có sự lãnh đạo thống nhất, có sự phối hợp giữa Đảng, chính quyền với các đoàn thể nhân dân, bảo đảm các mặt hoạt động thi đua ăn khớp với nhau, nhằm vào mục đích chung, vào mục tiêu thi đua nhằm hoàn thành tốt những nhiệm vụ chính trị do Đảng, Nhà nước đề ra.

Người cũng chỉ ra sự cần thiết phải kết hợp chặt chẽ thi đua với khen thưởng. Thi đua là cơ sở của việc khen thưởng. Khen thưởng đúng người, đúng việc, kịp thời lại có tác dụng động viên, giáo dục, nêu gương và thúc đẩy phong trào thi đua phát triển liên tục. Người nói: thi đua là gieo trồng, khen thưởng là thu hoạch. Người rất quan tâm đến việc biểu dương và phát huy sức mạnh của những tấm gương “Người tốt, việc tốt” bằng cách kịp thời khen thưởng, động viên khuyến khích bằng vật chất hoặc tinh thần nhằm phát triển cái tốt để lấn át cái xấu, nhằm xây dựng con người mới, làm cho xã hội ngày một tiến bộ.

thi-dua-tt-aChủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi xướng và đặt nền tảng vững chắc cho phong trào thi đua
yêu nước. Ảnh Internet

Trong thời kỳ chống thực dân Pháp có những phong trào thi đua yêu nước với các tên gọi và khẩu hiệu nổi tiếng như: Yêu nước thì phải thi đua. Thi đua là yêu nước; Hũ gạo kháng chiến, Bình dân học vụ…

Trong thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có các phong trào thi đua điển hình như: “Sóng Duyên Hải” trong công nghiệp, “Gió Đại phong” trong nông nghiệp, “Cờ ba nhất” trong Quân đội,  Thanh niên “3 sẵn sàng”, Phụ nữ “3 đảm đang”; “Hai tốt” trong trường học…

Khoảng thời gian từ 1948-1969, thi đua yêu nước đã huy động được cao độ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, đoàn kết một lòng, phát huy ý chí tự lực, tự cường, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, vượt qua mọi hy sinh, gian khổ, giành được những thắng lợi vẻ vang. Thắng lợi này có được phần lớn là nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo tài tình, đúng đắn của Đảng và Bác Hồ kính yêu. Chỉ trong vòng 21 năm này, Đảng ta đã có 32 văn kiện về phong trào thi đua yêu nước.

Tuy nhiên, từ sau khi nước nhà thống nhất vào năm 1975, đặc biệt là sau thời kỳ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, công tác thi đua, khen thưởng bị buông lỏng và hoạt động mang tính tự phát. Về công tác khen thưởng vẫn được duy trì, nhưng chủ yếu tập trung vào khen thưởng thành tích kháng chiến. Năm 1987, Ban Thi đua khen thưởng Trung ương (vốn được thành lập theo ý kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào năm 1963 nhằm giúp Trung ương Đảng và Chính phủ tăng cường lãnh đạo công tác thi đua) bị giải thể. Thống kê trong 41 năm (1969 – 2010), Đảng ta chỉ có 17 văn kiện về phong trào thi đua yêu nước. Thời kỳ này, thi đua chưa thực sự là động lực thúc đẩy, động viên, cổ vũ các tầng lớp nhân dân hăng hái lao động sản xuất, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Trước yêu cầu mới của thời kỳ xây dựng đất nước, ngày 3/6/1998, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị về đổi mới công tác thi đua – khen thưởng trong giai đoạn mới, tiếp tục thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh coi “Thi đua khen thưởng là động lực phát triển và là biện pháp quan trọng để xây dựng con người mới, thi đua yêu nước phải được tiến hành thường xuyên, liên tục hàng ngày”(2). Sau đó, Hội đồng Thi đua khen thưởng Trung ương được lập lại do Thủ tướng Chính phủ là Chủ tịch.

Năm 2004, Ban Thi đua khen thưởng Trung ương được thành lập. Đến năm 2003, Quốc hội ban hành Luật thi đua, khen thưởng (Luật này được sửa đổi, bổ sung năm 2005).

Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng.

Ngày 30/8/2010, Ban Bí thư ra Kết luận về việc tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến. Mới đây, Đại hội lần thứ XI của Đảng ta cũng nhấn mạnh: “Tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại…”.

Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện tốt lời kêu gọi của Bác Hồ, phong trào thi đua yêu nước đã có nhiều chuyển biến tích cực. Nhiều phong trào thi đua yêu nước đã được dấy lên và đem lại hiệu quả rất thiết thực, góp phần phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội ngày càng cao như: phong trào thi đua “Xứng danh bộ đội Cụ Hồ”; thi đua thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy công an nhân dân; “Phong trào dạy tốt, học tốt”; “Phong trào lương y như từ mẫu”; hai phong trào thanh niên: “Thanh niên lập nghiệp” và “Tuổi trẻ giữ nước” của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh … Thi đua khen thưởng được các cấp, các ngành, các địa phương xem là một nhiệm vụ quan trọng.

Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta xác định phải gắn phong trào thi đua yêu nước với cuộc vận động toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta tiếp tục “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở việc thi kể chuyện về Người, mà các câu chuyện đó cần được vận dụng vào cuộc sống của mỗi người.

Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng Khoa học, Công nghệ và Môi trường thực hiện theo lời Bác Hồ dạy

Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Thi đua là yêu nuớc, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất” và “càng khó khăn thì phải càng thi đua”, những năm qua, cán bộ, viên chức Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng Khoa học, Công nghệ và Môi trường (Trung tâm) luôn quyết tâm phấn đấu, ra sức thi đua và đạt nhiều thành tích đáng tự hào, góp phần thúc đẩy sự phát triển của đơn vị.

Tuy mới thành lập còn nhiều khó khăn nhưng được sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp sâu sát của các cấp ủy,  phong trào thi đua trong Trung tâm đã diễn ra sôi nổi, hào hứng, góp phần cổ vũ, động viên các cán bộ, viên chức hoàn thành tốt nhiệm vụ, xây dựng khối đoàn kết vững mạnh, thúc đẩy sự phát triển của Trung tâm.

thi-dua-tt-bLãnh đạo Trung tâm tặng Giấy khen cho các điển hình tiên tiến
trong phong trào thi đua 5 năm (2006 – 2010)

Trong hoạt động, lãnh đạo cơ quan thường xuyên quan tâm nhắc nhở, giáo dục, bồi dưỡng lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, trung thành với Đảng, với nhiệm vụ chính trị đặc biệt của đơn vị; nắm bắt tâm tư tình cảm của mỗi cán bộ, viên chức; lồng ghép thi đua vào công tác chuyên môn, lấy phong trào thi đua làm động lực thúc đẩy công tác chuyên môn, nhưng đồng thời cũng lấy kết quả công tác chuyên môn làm tiêu chí đánh giá thi đua. Phong trào thi đua được triển khai thực hiện mạnh mẽ, nhờ đó hiệu quả hoạt động của Trung tâm ngày càng được nâng cao. Các cán bộ, viên chức luôn xem lời dạy của Bác là kim chỉ nam cho hành động, tích cực tham gia thi đua, góp phần thúc đẩy sự phát triển các phong trào thi đua, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao.

Nhờ triển khai có hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến về thi đua khen thưởng, cán bộ, viên chức Trung tâm đã có những chuyển biến tích cực về tư tưởng, nhận thức và hành động, cùng đoàn kết phát huy tinh thần yêu nước, tình yêu, trách nhiệm với công việc, với cuộc sống, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Hàng năm, Hội đồng thi đua – khen thưởng đã bám sát các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của đơn vị, xây dựng các kế hoạch, nội dung và biện pháp thích hợp nhằm đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước trong cán bộ, viên chức; kịp thời ban hành nhiều văn bản hướng dẫn, tổ chức phát động, đăng ký giao ước thi đua, nhất là phát động các đợt thi đua cao điểm lập thành tích xuất sắc chào mừng các ngày lễ lớn trong năm.

Với đặc thù phần lớn là các cán bộ, viên chức trẻ, yêu cầu công việc trong đơn vị sự nghiệp ngày càng cao nên cùng với việc ra sức thi đua trong công việc, cán bộ, viên chức cũng đã tích cực thi đua trong học tập nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ theo lời dạy của Bác: cán bộ, đảng viên phải không ngừng học tập nâng cao trình độ, “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, “giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân dân”(3). Riêng trong năm 2012, toàn đơn vị có 13 lượt cán bộ, viên chức trên tổng số 18 người tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng cao học, đại học, chuyên viên, chuyên viên chính, kỹ sư chính, cao cấp lý luận chính trị – hành chính, tin học, ngoại ngữ. Đây là nỗ lực lớn của lãnh đạo đơn vị, của bản thân các cán bộ, viên chức trong công tác đào tạo, bồi dưỡng.

thi-dua-tt-cthi-dua-tt-dViên chức Trung tâm không ngừng thi đua trong học tập nâng cao trình độ, làm chủ được công nghệ mới

Đơn vị tích cực tham gia các phong trào thi đua do Ban Quản lý Lăng phát động như văn nghệ, thể thao, thi viết bài tìm hiểu về các sự kiện lịch sử đất nước… Các tổ chức quần chúng cũng đang phát huy tốt vai trò động viên, tổ chức các phong trào thi đua như “5 nhất, 3 không” của tổ chức công đoàn; “Phụ nữ tích cực lao động, học tập, sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”, “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch” của phụ nữ…

Cán bộ, viên chức tích cực viết bài trên Trang tin điện tử Ban Quản lý Lăng. Qua các phong trào thi đua yêu nước, cán bộ, viên chức trên tất cả các lĩnh vực công tác đã hoàn thành tốt công việc với tinh thần làm việc tận tụy, có trách nhiệm cao. Có nhiều tấm gương tập thể, cá nhân điển hình tiêu biểu trong thực hiện phong trào thi đua yêu nước đã được biểu dương, khen thưởng như Tổng kết phong trào thi đua yêu nước 5 năm (2005 – 2010) của Ban Quản lý Lăng, Trung tâm có 01 tập thể và 01 cá nhân điển hình tiên tiến được tặng Bằng khen. Tập thể Trung tâm cũng đã vinh dự được Ban Quản lý Lăng trao tặng Bằng khen (năm 2010) và Danh hiệu Tập thể lao động tiên tiến xuất sắc (năm 2011, 2012).

Tổ chức Đảng, đoàn thể của cơ quan luôn giữ vững danh hiệu trong sạch vững mạnh và vững mạnh tiêu biểu trong nhiều năm liền. Thành tích đạt được trong các phong trào thi đua yêu nước như bó hoa tươi thắm dâng lên vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc.

Nhờ các phong trào thi đua, cán bộ, viên chức đã làm việc có chương trình, kế hoạch, với tinh thần trách nhiệm cao, tận tụy, đoàn kết, chủ động, sáng tạo và cố gắng hơn trong công tác, đặc biệt là trong hoạt động nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học, tiến bộ kỹ thuật công nghệ và môi trường phục vụ cho nhiệm vụ chính trị của Ban Quản lý Lăng; phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng, các đối tác thực hiện tốt công tác nghiên cứu khoa học với công tác ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, Chi bộ trong sạch vững mạnh.

Đồng thời, qua việc chú trọng phát huy vai trò của các phong trào thi đua, gắn kết chặt chẽ thi đua với khen thưởng để kịp thời động viên, khuyến khích hoàn thành nhiệm vụ chính trị của đơn vị, Trung tâm đã xây dựng được khối đoàn kết nội bộ thống nhất, làm nền tảng cho sự phát triển lớn mạnh của đơn vị.

thi-dua-tt-eLãnh đạo Ban Quản lý Lăng chúc mừng những thành tích Trung tâm
 đã đạt được nhân dịp kỷ niệm 8 năm ngày thành lập đơn vị (15/3/2005-15/3/2013)

Các cuộc vận động, các phong trào thi đua của Trung tâm luôn gắn với việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; xây dựng và bồi dưỡng những người cán bộ, viên chức – “công bộc của dân” vừa hồng vừa chuyên trong thời kỳ mới, phát triển toàn diện về ý thức độc lập tự chủ, bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần trách nhiệm, kỷ luật cao, có tri thức, có sức khỏe; phấn đấu bền bỉ, năng động, sáng tạo, vượt qua những khó khăn, thử thách hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp sức xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Phong trào thi đua đã thật sự trở thành động lực, đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển vững mạnh của Trung tâm.

Bài học kinh nghiệm từ các phong trào thi đua cho thấy, phong trào thi đua chỉ thực sự có hiệu quả khi có sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của cấp ủy đảng, sự phối hợp chặt chẽ của chính quyền với các tổ chức đoàn thể, đúng như Bác đã nói: “Thi đua phải có sự lãnh đạo đúng”(4). Công tác kiểm tra, đánh giá phong trào thi đua phải được tiến hành thường xuyên. Phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động tới từng cán bộ, viên chức để tạo khí thế thi đua sôi nổi, phát huy sức mạnh cá nhân và sức mạnh tập thể. Và yếu tố không kém phần quan trọng đó là xét khen thưởng phải thật sự khách quan, công bằng, đúng người, đúng việc.

Kỷ niệm 65 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc – Ngày truyền thống Thi đua yêu nước (11/6/1948-11/6/2013), toàn thể cán bộ, viên chức Trung tâm ra sức thi đua, quyết tâm hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, xây dựng Chi bộ trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, đóng góp vào thành công của sự nghiệp giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa của Công trình Lăng trong giai đoạn mới.

Thu Hiền

————–

(1). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.557-558.
(2). Đảng, Bác Hồ với thi đua yêu nước và công tác thi đua khen thưởng, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, tr226.
(3). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 7, tr.407.
(4). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 6, tr.208.

Nguồn: bqllang.gov.vn
Vkyno (st)

Chuyện Bác Hồ với cha con Thủ lĩnh Vương Chí Sình(Phần 2) Vương Chính Đức về với Cách mạng

Vùng đất người Mèo do Vương Chính Đức cầm đầu vừa đánh dư đảng quân Cờ đen, vừa đánh quân Pháp buộc chúng không thể vào được đất Đồng Văn.

Mãi tới năm 1900, Pháp huy động một lực lượng lớn phối hợp với địa phương quân khố xanh Tày, Thái từ Bảo Lạc Cao Bằng đánh sang. Trận chiến gây tổn thất nặng nề cho cả hai bên. Vương Chính Đức bị vỡ trận buộc phải rút lui để quân Pháp chiếm cứ Đồng Văn.

Rút vào rừng sâu, ông củng cố lực lượng, liên tiếp quấy rối và đánh cho quân Pháp thất bại nặng nề. Những năm đầu thế kỷ XX, người Mèo ở Đồng Văn và Nam Vân Nam – Trung Quốc khởi nghĩa vũ trang rầm rộ – tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa từ 1909-1913. Sau gần 4 năm không thu phục được vùng đất dữ, quân Pháp bị hao binh tổn tướng. Trong khi quân của Vương Chính Đức thắng lợi giòn giã, buộc Pháp phải hoà đàm.

Hiệp ước Pháp – Mèo do tướng Jenera Pecneucin và Vương Chính Đức ký tháng 10/1913 có các điều kiện lợi thế cho người Mèo. Trước hết Pháp phải triệt thoái toàn bộ quân ra khỏi Đồng Văn – kể cả địa phương quân do Pháp chỉ huy, trả lại cho người Mèo cai quản theo chế độ tự trị bên cạnh một đại lý Pháp và một khung hành chính đại diện cho Nam triều mang ý nghĩa tượng trưng.

a1. vua meo p.2Khu nhà Vương được bao bọc giữa những dãy núi của Cao nguyên Đá Đồng Văn.

 Năm 1905, khi thuốc phiện trở thành hàng hoá và là nguồn thu lớn của Pháp (có tài liệu nói nguồn lãi từ thuốc phiện chiếm gần 1/3 tổng thu của Pháp ở Đông Dương) nên Anh quốc cũng muốn tranh giành mối lợi này. Nhưng trong khi Anh đang mải thôn tính Miến Điện thì Tỉnh trưởng Vân Nam vốn có quan hệ từ trước với Pháp đã liên kết với toàn quyền Đông Dương lập Công ty Á phiện Việt Điền để chia nguồn lợi này.

Giá thuốc phiện bấy giờ là 1 đồng bạc trắng/1 lạng cân tiểu ly = 37,5 g. Toàn quyền Đông Dương giao cho Sở Đoan chính Đông Dương làm đại diện thu mua, đồng thời đưa bàn đèn dạy dân cách hút thuốc phiện. Riêng Đồng Văn sản lượng thuốc phiện lúc cao nhất lên tới 20 tấn/năm. Chính nhờ thuốc phiện mà Vương giàu lên nhanh chóng, củng cố quyền lực, mua sắm vũ khí, nuôi được binh sỹ. Thắng lợi của Vương trước quân Pháp đã làm át bóng thổ ty người mèo là Dương Tụ Nghĩa đang sở hữu đất Mèo Vạc – vốn trước đó rất mạnh có mưu đồ thâu tóm quyền lực muốn cai quản cả vùng cao nguyên đá. Do thế lực về cả kinh tế và quân sự của Vương ngày một tăng nên quân Pháp nhượng bộ và hy sinh quyền lợi thả lỏng vùng đất Vương quản lý.

Tiếp đến, một sự kiện đáng nhớ là người Mèo toàn Đông Dương còn có cuộc nổi dậy đánh Pháp từ năm 1918-1921. Trước tình hình không thể kiểm soát được vùng Mèo, và nguy cơ mất nguồn thu lớn từ thuốc phiện, ông Vương được Pháp phong chức Chánh quan Mèo, và được đưa vào làm thành viên của công ty Việt Điền. Song do việc phân phối quyền lợi từ nguồn thu thuốc phiện có nhiều man trá, do chính sách nô dịch, o ép vô lý nên người mèo Đồng Văn có xu hướng ly khai và chuẩn bị vũ trang chống Pháp.

Thông qua bọn mật thám, Việt gian, Pháp nắm được tình hình. Năm 1936 thống sứ Bắc Kỳ tổ chức đấu xảo ở thị xã Hà Giang, mời cha con Vương Chính Đức và thủ lĩnh các dòng họ Mèo đến dự. Chúng lừa bắt được tất cả đưa về nhốt tại Nhà tù Hoả Lò. Đây là lần thứ 2 thủ lĩnh mèo Đồng Văn bị Pháp bắt. Để lấy lòng Vương Chính Đức, Pháp cho ông và con trai Vương Chí Thành tại ngoại ở Hà Nội. Pháp muốn nắm Vương Chính Đức để thu phục đất Đồng Văn phục vụ âm mưu chia để trị.

Sau sự kiện Nhật hất cẳng Pháp (9/3/1945) đến trước Cách mạng Tháng Tám tình hình hết sức khẩn trương. Các lực lượng thân Pháp, Nhật, Tưởng, Việt Nam Quốc dân đảng (còn gọi là Việt quốc), Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (còn gọi là Việt cách) hoạt động ráo riết. Quân Tưởng Giới Thạch dồn người Mèo các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây áp sát biên giới Việt Nam. Để lấy lòng người Mèo, Đờ mông Ba Gia Trưởng Phòng nhì mật thám Đông Dương nấp dưới danh nghĩa chủ sân Quần ngựa Hà Nội thực hiện âm mưu, Đờ mông Ba gia ”thầy dùi” cho chính quyền Pháp cách chức một số quan Nam triều nhằm lôi kéo Vương Chính Đức hợp tác chống Tưởng và Nhật.

Sau đảo chính vài ngày, quân Nhật đánh lên các tỉnh miền núi phía Bắc và đổ bộ vào đất Đồng Văn. Quân Pháp đã không thông tin cho người Mèo biết. Chúng lặng lẽ rút sang bên kia biên giới. Chính quyền tay sai do Hoàng Phủ Toại (người Tày ở Nước Hai, Cao Bằng) đứng đầu cũng chuồn theo chân bọn buôn lậu thuốc phiện. Thành ra người Mèo vừa phải phòng ngự, ngăn không cho quân Tưởng tràn vào, vừa phải nổ súng chống quân Nhật vừa tới. Trong thế mắc kẹt, Vương Chính Đức hết sức lúng túng. Khi đó cũng là lúc Cách mạng Việt Nam có chuyển biến mạnh mẽ chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa. Hồ Chủ tịch kêu gọi toàn dân ”ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm”, nhất tề nổi dậy cướp chính quyền về tay nhân dân.

Thấy được vai trò của Vương Chính Đức và lực lượng vũ trang Mèo, Bác cử đại diện của Việt minh là ông Hoàng Việt Hưng, ông Sơn Tùng và ông Thất Tinh đi từ Cao Bằng qua Đường Thượng – Bắc Mê vào Đồng Văn để gặp thủ lĩnh họ Vương bàn việc Việt Minh giúp người Mèo chống Pháp, Nhật và Tưởng. Họ đưa ra 8 điều lệnh của Việt minh bàn với ông Đức. Sau khi suy nghĩ ông Đức đã nhận ra những điều đó đúng với mục đích chiến đấu của người Mèo, đồng thời mở ra lối thoát cho cuộc chiến đấu của lực lượng vũ trang Mèo. Việt minh còn cử ông Việt Hưng ở lại làm tham mưu cho ông Đức. Sau cuộc gặp gỡ này, ông Vương thở dài nhẹ nhõm, ngửa mặt lên trời mà rằng: ”Người Mèo ta xưa nay khắc đánh kẻ thù không có ai giúp đỡ. Nay có Việt minh, có Cụ Hồ giúp, ta còn mong gì hơn nữa…” Rồi ông nói với thuộc hạ: ”Việt Nam ta giờ đã có vua là Cụ Hồ, ta phải theo Cụ”. Cũng từ đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tên cho toàn bộ cao nguyên núi đá gồm 4 huyện: Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ, Yên Minh là Châu Thường Kiệt do ông Vương Chính Đức đứng đầu. Cũng từ đây cuộc chiến đấu của người Mèo hoà vào cuộc kháng chiến của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

 Kế hoạch đưa Vua Mèo về Hà Nội

Cách mạng Tháng Tám thành công. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Cộng hoà công nông đầu tiên ở Đông Nam Châu Á. Lúc này, tình hình đất nước cực kỳ cam go. Thù trong, giặc ngoài đe doạ nền độc lập của Nhà nước công nông non trẻ. Hồ Chủ tịch thành lập Chính phủ lâm thời, tập hợp mọi lực lượng yêu nước có thể tranh thủ, hợp tác. Trong nhiều thành phần, tầng lớp xã hội, Bác rất quan tâm tới đồng bào dân tộc thiểu số miền núi. Một trong những nhân vật ấy là cụ Vương Chính Đức – người thủ lĩnh Mèo nổi tiếng với những chiến tích đánh quân Pháp, Nhật, Tưởng giữ vững vùng đất Đồng Văn mấy chục năm qua.

Với lòng trân trọng, Bác viết thư cho Việt minh mang lên Đồng Văn mời cụ Vương về Hà Nội để bàn việc nước. Lúc này cụ Vương đã tuổi cao (81 tuổi) sức yếu không thể đi được nên ủy quyền cho con trai là Vương Chí Thành đi thay để đến tiếp kiến Cụ Hồ.

a2. vuameo p.2Hiện nay, các hậu duệ và con cháu họ Vương
đều sinh sống xung quanh khu vực nhà Vương.

Vương Chí Thành là con trai thứ 2 của cụ Vương với bà cả – có tên Mèo là Vàng Seo Lử (Vang T´sia Lưv). Viết theo chữ và nghĩa Hán là Vương Chí Thành. Âm hán đọc Thành là Sình, vì thế ông có 2 tên mà các tài liệu lúc thì viết là Sình, lúc viết là Thành đều được, không sai.

Thời kỳ này rất hỗn quân, hỗn quan, nào Nhật, Tưởng, Pháp. Các đảng phái lợi dụng nấp dưới các thế lực thù địch với cách mạng mọc lên như nấm sau mưa. Việt quốc là đám hung hăng nhất.

Ở Hà Giang có Hoàng Quốc Chính lợi dụng tình hình, theo gót quân Tưởng vào giải giáp quân Nhật. Chính là uỷ viên của Quốc dân đảng, đóng trụ sở tại thị xã Hà Giang. Quân của Chính cũng là một thứ ”tạp pí lù” nhưng lúc này vẫn còn mạnh không thể coi thường. Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho ông Vương, Việt minh cử ông Mai Trung Lâm lên Hà Giang nhằm 2 mục đích: 1. Phân hoá các lực lượng đối lập, ta chủ trương tập trung vào kẻ thù chính (sau này ông Lâm là Đại tá Chỉ huy trưởng Công an vũ trang khu Tây Bắc, sau nữa là Chỉ huy trưởng Công an vũ trang Hà Giang – nay là bộ đội biên phòng) đến đàm thoại với Hoàng Quốc Chính; 2. Thực hiện kế hoạch đưa ông Vương về Hà Nội an toàn.

Là lần đầu tiên tiếp xúc với Việt minh, nên Chính chuẩn bị thật ”chu đáo”. Hắn tổ chức tiệc tại thị xã Hà Giang, cho mời quan quân, tướng lĩnh của quân Tưởng Giới Thạch đến dự. Sự bày binh bố trận cho hoành tráng là để thị uy cán bộ Việt minh. Lúc này, ông Vương Chí Thành từ Đồng Văn đi Hà Nội đang dừng chân nghỉ ở nhà riêng tại thị xã phía bên kia cầu. Từ lâu đã nghe tiếng ông Vương nhân dịp may này hắn mời ông cùng dự tiệc nhằm vào 2 mục đích: Phô trương lực lượng uy hiếp ông Lâm và lấy lòng, lôi kéo ông Vương, ngăn cản không cho ông Vương về Hà Nội và âm mưu giết cho được ông Vương. Hắn nói dối có lực lượng tới mấy trung đoàn, rồi nói với ông Vương: ”Hiện nay Việt minh đang bắn giết khắp nơi, bác đừng đi vội. Để khi nào tôi dẹp yên bọn đó thì tôi với bác cùng về Hà Nội”. Nhưng thực chất hắn đã nảy ra ý định và có kế hoạch cho người phục kích giết chết ông Vương rồi vu cho Việt minh.

Trong bữa tiệc, hắn giới thiệu ông Lâm với ông Vương, có ý phô trương là quân mình rất mạnh nên Việt minh phải lên đàm phán. Động thái này không che mắt được ông Vương. Nhân lúc tan tiệc quân quan còn say sưa, ông Vương giả ra bàn nước phía xa – nơi ông Lâm đang ngồi. Ông hỏi nhỏ và nhanh: ”Ông có đúng là người của Việt minh không?”. Ông Lâm nói đúng và hỏi nhanh: ”Bác đang ở đâu? Tôi có thể gặp bác vào lúc nào?”. Ông Vương bảo: ”Nhà tôi ở ngay bên kia cầu. Cái nhà to cửa thẳng vào đầu cầu. Ông đến lúc nào cũng được”.

Sớm tinh mơ hôm sau, ông Lâm thức dậy vươn vai khởi động vài cái trước khi tập thể dục, rồi chạy thẳng sang bên kia cầu cách đó không xa, bà Vương ra mở cửa. Ông chạy vào phòng ông Vương khi ông Vương vẫn còn nằm chưa dậy. Ông bàn nhanh kế hoạch: ”Tốt nhất là bác xin được giấy giới thiệu của Tướng quân Tưởng Chỉ huy Quân đoàn 52 đang đóng tại Hà Giang, nói là về Hà Nội để bàn bạc và giúp Tướng Lư Hán. Có giấy đó, Chính không dám ngăn, không dám đụng tới bác. Bằng không, việc về Hà Nội bác đừng đi ngựa, vì rất nguy hiểm. Bọn Chính đang cố ngăn không cho bác xuống Hà Nội, nếu bác cứ cố đi nó sẽ phục kích giết chết bác. Chúng tôi đã lường trước tình huống này. Biết được đoạn nào bọn nó tăng cường lực lượng và đang phục kích. Chúng tôi đã có phương án bảo vệ bác. Bác lấy xe của thằng Kỳ mà đi”. (Kỳ là con một nhà giàu ở Hà Nội lên buôn bán ở Hà Giang – thân gia đình Ông Vương – đang bị mắc kẹt vì chiến sự giữa Việt minh và Quốc dân đảng chưa về được Hà Nội).

Ông Vương bảo: ”Nhưng tài của nó sợ không dám đi”. Ông Lâm nói: ”Bác cho gọi thằng tài Hồ dân nghiện thuốc phiện ở thị xã đến. Nó đang đói thuốc vì chiến sự bọn buôn lậu thuốc phiện không đến bán được. Bác cho nó hút thật đã, rồi biếu nó kha khá là nó đi ngay. Bác đi xe nó lái chỉ cần vượt ra ngoại vi thị xã đến cây số 17 – đường Hà Giang – Hà Nội sẽ có người đưa bác về Hà Nội”. Cảm thấy chưa thật yên tâm, ông Lâm dặn: ”Cứ làm đúng như thế ông bác nhé”. Nói xong, ông tức tốc chạy qua cầu trở về thị xã. Theo cách đó, ông Vương Chí Thành đã thoát ra khỏi thị xã Hà Giang bằng xe của Kỳ do tài Hồ lái…

(Còn nữa)

Đinh Đức Cần
Theo dantri.com.vn
Kim Yến (st)

Suy ngẫm từ lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trước hết nói về Đảng”

Lời của Bác - Lời của non sôngBốn mươi bốn năm trước đây, trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta một bản Di chúc lịch sử. Đó là những lời căn dặn cuối cùng và cũng là tình cảm thiêng liêng, niềm tin vô bờ bến của Người đối với tiền đồ và tương lai tươi sáng của dân tộc Việt Nam. Đặc biệt, Người đã để lại những lời di huấn quý báu đối với Đảng ta, mong muốn Đảng luôn được củng cố, ngày càng trưởng thành, trong sạch vững mạnh, xứng đáng là một Đảng vừa đạo đức, vừa văn minh.

Xây dựng Đảng luôn phải là công tác “trước hết”, hàng đầu

Trong phần mở đầu bản Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Trước hết nói về Đảng, nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”(*). Thực tiễn suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi và phong phú của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho Đảng và chăm lo hoàn thiện các công việc lãnh đạo của Đảng ta đối với xã hội trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào.

Ngay từ năm 1927, trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”, Người đã đặt ra câu hỏi: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì?”, và Người đưa ra lời giải đáp đó là: “Trước hết phải có đảng cách mệnh… Đảng có vững cách mệnh mới thành công cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy” (1). Người khẳng định: Đảng phải lấy chủ nghĩa Lê-nin làm cốt, bởi vì đó là “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất”. Được chủ nghĩa Mác – Lê-nin soi sáng, Người đã dày công xây dựng, giáo dục, rèn luyện Đảng ta với tâm nguyện cao cả là Đảng phải “trở thành hình thức tổ chức cao nhất của quần chúng lao động, hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc” (2). Tại Hội nghị cán bộ của Đảng ta ngày 18-1-1949, sau khi nêu lên một số vấn đề cần làm ngay trên các lĩnh vực quân sự, kinh tế, chấn chỉnh bộ máy chính quyền các cấp và chỉnh đốn các đoàn thể quần chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập một vấn đề có tính quyết định của công tác xây dựng Đảng: “Muốn làm được những việc trên, trước hết phải chỉnh đốn nội bộ Đảng. Phải nêu ra những việc chính, nắm lấy nó mà làm. Đảng ví như cái máy phát điện, các công việc trên ví như những ngọn đèn, máy mạnh thì đèn sáng” (3).

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là một nhiệm vụ hết sức cần kíp, là vấn đề “Trước hết” đối với việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Theo tư tưởng của Người, phải coi trọng trước hết đến công tác xây dựng Đảng, bởi đó là công tác tạo ra “máy phát điện” trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng ta. Vì vậy, vào thời điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bản Di chúc, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam đang ở trong giai đoạn rất gay go, quyết liệt; song Người vẫn luôn giữ vững niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng do Đảng ta lãnh đạo. Trong Di chúc, Người căn dặn toàn Đảng ta những công việc phải làm khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giành được thắng lợi hoàn toàn, giang sơn thu về một mối, Tổ quốc thống nhất, thì một trong những nhiệm vụ trọng yếu của Đảng phải tiến hành là đổi mới và chỉnh đốn Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Công việc trên đây là rất to lớn, nặng nề và phức tạp, mà cũng là rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt hơn”. Người còn nhấn mạnh: “Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được việc như vậy, thì dù công việc lớn mấy, khó khăn đến mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”(4).

Trong bản Di chúc, Người đề cập vấn đề “Trước hết nói về Đảng” để nói đến vấn đề tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng ta. Người căn dặn: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(*). Người nêu tới bốn lần cụm từ “Đoàn kết”. Trước khi viết đoạn kết bản Di chúc bất hủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã di huấn: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(*).

Như vậy, ở đâu và trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn trăn trở, quan tâm đến nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam là Đảng Cộng sản Việt Nam. Người nêu vấn đề “Trước hết nói về Đảng” và đặt lên hàng đầu cho nhiệm vụ “chỉnh đốn lại Đảng”; điều đó không có nghĩa là Đảng ta đã phạm phải những sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng nào, mà ở chỗ tình hình mới, điều kiện mới của cách mạng đòi hỏi Đảng phải không ngừng nâng cao chất lượng, năng lực lãnh đạo, trình độ trí tuệ của Đảng lên tầm cao mới, để Đảng đủ sức đảm đương vai trò lãnh đạo cách mạng trong giai đoạn mới.

Thực hiện di huấn của Người trong giai đoạn cách mạng hiện nay

Nhìn lại hơn bốn mươi năm toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã lãnh đạo đất nước vượt qua những chặng đường đầy sóng gió; phải đương đầu với sự đan xen khốc liệt giữa vận hội và thách thức, giữa thời cơ và nguy cơ để lập nên nhiều kỳ tích trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao, quốc phòng, an ninh,… được nhân dân trong và ngoài nước, cùng đông đảo bạn bè trên khắp thế giới yêu mến, tin cậy, cảm phục.

Tuy nhiên, trong những năm qua, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, còn có những lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn trong bản Di chúc về vấn đề xây dựng Đảng, đến nay chưa được thực hiện thường xuyên và trọn vẹn, thậm chí còn gây bức xúc trong dư luận xã hội. Nổi lên đó là “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp,…”; việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” chưa thực sự đi vào chiều sâu, ở một số nơi còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao, làm theo chưa đạt yêu cầu”; “Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp, huân chương chưa được khắc phục”; “Tình trạng thiếu trách nhiệm, cơ hội, suy thoái đạo đức, lối sống vẫn diễn ra khá phổ biến trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Kỷ luật, kỷ cương ở nhiều tổ chức đảng không nghiêm. Sự đoàn kết, nhất trí ở không ít cấp ủy chưa tốt”(5). Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã chỉ rõ: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…”(6). Những hiện tượng đó nếu không được ngăn chặn, đẩy lùi sẽ làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, gây tổn hại nghiêm trọng đến công tác xây dựng Đảng, đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước.

Một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên là có một số tổ chức cơ sở đảng vẫn xảy ra vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, buông lỏng kỷ luật vì những động cơ cá nhân, thực hiện tự phê bình và phê bình một cách hình thức, đại khái, “dĩ hòa vi quý”; chưa chú trọng chăm lo đầy đủ việc giáo dục, rèn luyện, kiểm tra và xử lý nghiêm minh, kịp thời đối với những đảng viên, cán bộ có biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, như tham nhũng, hối lộ, quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, xa rời quần chúng, sách nhiễu nhân dân, cục bộ địa phương, cơ hội, gây bè, kéo cánh, mang nặng chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng, né tránh, bằng mặt không bằng lòng, phát ngôn tùy tiện, nói không đi đôi với làm, tranh công đổ lỗi…; một bộ phận đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, làm tổn hại đến thanh danh và uy tín của Đảng, của dân tộc.

Những tình trạng trên đã gây nên bức xúc trong dư luận xã hội, trước hết làm xói mòn lòng tin của quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Hệ lụy dẫn đến là vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng bị giảm sút; các nghị quyết, quyết định của cấp ủy đưa ra thường không được thực hiện nghiêm túc và triệt để; không phát huy được sức mạnh của quần chúng nhân dân cả về vật chất, tinh thần và trí tuệ để phục vụ cho nhiệm vụ chung của tập thể, của đất nước. Những biểu hiện tiêu cực đó tạo ra kẽ hở cho các phần tử cơ hội, cho các thế lực thù địch lợi dụng để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta, hòng thực hiện âm mưu chiến lược “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ chống phá cách mạng nước ta.

Vì vậy, mỗi dịp đọc lại bản Di chúc bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từng đảng viên, cán bộ hơn lúc nào hết cần phải ra sức học tập, suy ngẫm và hành động theo những lời căn dặn của Người: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”(7). Phải tập trung xây dựng Đảng nhằm làm cho Đảng thật trong sạch, vững mạnh, đoàn kết, thống nhất, có đạo đức, có trí tuệ, có năng lực. Có thể xem đó là những mục tiêu trực tiếp và trước hết của công tác xây dựng Đảng ở thời kỳ mới. Nhưng xây dựng Đảng còn nhằm mục tiêu xa hơn, có tính chất quyết định hơn, tức là làm cho Đảng “phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(*), một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong Di chúc.

Đọc lại bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta càng thấm nhuần sâu sắc tư tưởng và lời chỉ huấn quý báu của Người: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn” (8). Cho nên, mỗi đảng viên, cán bộ phải luôn luôn suy ngẫm và nỗ lực hành động để góp phần “giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(*). Phải thực hiện tốt những lời căn dặn và có thể coi là những biện pháp lớn để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh mà Người đã nêu trong Di chúc: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”(*). Đọc lại bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh sau bốn mươi bốn năm, chúng ta càng hiểu rõ hơn ý nghĩa sâu sắc và tầm vóc lớn lao của việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; đồng thời, càng bồi đắp thêm nghị lực và quyết tâm để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng Đảng.

Suy ngẫm về những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi tổ chức đảng và từng đảng viên cần ra sức hành động để góp phần xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch vững mạnh; trước hết cần nỗ lực thực hiện tốt các giải pháp cơ bản, đồng bộ như Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã xác định, trong đó tập trung vào một số nội dung sau:

Thứ nhất, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, quán triệt sâu sắc đến mọi cán bộ, đảng viên về ý nghĩa, tầm chiến lược của Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI.

Hơn một năm qua, trong toàn Đảng ta đã tổ chức quán triệt, học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI một cách kịp thời, nghiêm túc từ Trung ương đến cơ sở. Đây không chỉ là một đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn của Đảng mà còn có ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt như một đợt “chỉnh huấn”, “chỉnh Đảng” mà Đảng ta đã tiến hành vào các năm 1952, 1961 và 1965. Sau mỗi lần “chỉnh huấn”, “chỉnh Đảng” như vậy, Đảng ta đã khắc phục được những yếu kém, khuyết điểm nổi cộm, uy tín và vị thế của Đảng được nâng cao, đủ sức lãnh đạo sự nghiệp cách mạng giành được thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tuy nhiên, đến nay vẫn còn có những cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cao chưa nhận thức được đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI. Việc tiến hành kiểm điểm tự phê bình và phê bình có những tổ chức đảng còn xuê xoa, nể nang, không vạch rõ những dấu hiệu của sự suy thoái… Vì vậy, để Nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống như mong muốn của toàn Đảng, toàn dân, chúng ta phải đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, quán triệt cho cán bộ, đảng viên về ý nghĩa, tầm chiến lược của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI; nêu rõ những thuận lợi, khó khăn, tính chất gay go, quyết liệt, phức tạp trong cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có một bộ phận không nhỏ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cao, để mọi người, mọi tổ chức cùng đồng thuận, đồng tâm kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi những mối hiểm họa cho Đảng, cho đất nước, cho chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, tăng cường mối liên hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân  trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Trong hoạt động lãnh đạo và công tác xây dựng Đảng, một trong những nguyên lý quan trọng là Đảng phải thường xuyên củng cố, tăng cường mối liên hệ mật thiết với nhân dân. Đảng phải luôn dựa vào nhân dân, bởi vì sức mạnh của Đảng nằm trong mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Cho nên, việc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên nếu không dựa chắc vào nhân dân, không được nhân dân đồng tình, ủng hộ sẽ không đem lại kết quả như mong muốn.

Thực tiễn cho thấy, cộng đồng dân cư hiểu khá rõ về đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp và gia đình họ sinh sống ở địa phương. Vì vậy, cấp ủy, tổ chức đảng ở mỗi cấp phải thường xuyên giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân địa phương nơi có cán bộ, đảng viên của cơ quan, đơn vị mình cư trú; đồng thời làm tốt công tác tuyên truyền, định hướng cho nhân dân hiểu rõ những quan điểm, chủ trương, phương châm, nguyên tắc của Đảng trong cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; qua đó tạo sự thống nhất, đồng thuận, phát huy sức mạnh nhân dân vào thực hiện quyết tâm chính trị của Đảng trong thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI.

Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, luật pháp nhằm  ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Hệ thống cơ chế, chính sách của Đảng và luật pháp của Nhà nước là hành lang pháp lý để mỗi cấp ủy, chính quyền, mỗi cán bộ, đảng viên phải nghiêm chỉnh chấp hành. Những hạn chế, bất cập trong cơ chế, chính sách, luật pháp hiện thời sẽ tạo ra các kẽ hở, “khoảng trống pháp lý”, dễ bị một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất lợi dụng để trục lợi cá nhân, tạo “lợi ích nhóm”…
Hiện nay, hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách của Nhà nước và của các bộ, ngành, địa phương có nhiều nội dung không còn phù hợp, trong khi tình hình thực tiễn đã có nhiều thay đổi so với trước, đã đặt ra không ít vấn đề mới phải giải quyết. Việc chậm đổi mới, bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, luật pháp là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực, tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, để ngăn chặn hữu hiệu những căn bệnh của chủ nghĩa cá nhân, đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc rà soát, nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, luật pháp, tạo cơ sở pháp lý cho cấp ủy, chính quyền các cấp lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành các cơ quan, đơn vị mình chấp hành nghiêm đường lối, cương lĩnh, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; tạo ra môi trường lành mạnh để mỗi cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu và trưởng thành; xây dựng Đảng ta, Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Thứ tư, kiên quyết xử lý nghiêm minh các trường hợp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Một trong những vấn đề “trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách” hiện nay đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là phải tập trung giải quyết dứt điểm, nghiêm túc những vụ việc tiêu cực, tham nhũng nổi cộm; kiên quyết đấu tranh, xử lý các tổ chức đảng vi phạm kỷ luật, những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, không để “con sâu làm rầu nồi canh”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI chỉ rõ: “Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và nhân dân đối với Đảng”(9). Đó là thể hiện bản lĩnh chính trị của một Đảng cách mạng chân chính, có tinh thần trách nhiệm cao trước nhân dân và dân tộc.

Việc kiên quyết xử lý dứt điểm, nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật theo Điều lệ Đảng và kiến nghị chính quyền xử lý nghiêm theo những quy định của pháp luật, cho dù họ giữ cương vị lãnh đạo, quản lý ở cấp nào, chẳng những làm trong sạch đội ngũ của Đảng mà còn tạo hiệu ứng tích cực đến đời sống chính trị, tinh thần trong toàn xã hội; đồng thời bảo vệ Đảng trước sự tấn công phá hoại của các thế lực thù địch. Vì vậy, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng khi phát hiện có dấu hiệu suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống phải khẩn trương kết luận rõ ràng, kiên quyết xử lý nghiêm minh, triệt để các trường hợp sai phạm tùy theo mức độ; khắc phục tình trạng bao che khuyết điểm, nể nang, né tránh, cục bộ, phe nhóm, đùn đẩy trách nhiệm, xử lý “nội bộ”… Đặc biệt, các cơ quan chức năng của Đảng, Nhà nước cần nhanh chóng đưa những vụ việc tiêu cực, thất thoát, tham nhũng lớn ra xét xử công khai, dứt điểm, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, lấy lại lòng tin của quần chúng nhân dân, trả lại sự trong sạch của các tổ chức đảng, chính quyền và của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, bên cạnh những thuận lợi, thời cơ và vận hội mới, thì đất nước chúng ta cũng đang phải đứng trước những nguy cơ và thách thức mới. Để tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, trước hết toàn Đảng ta cần phải tiếp tục đẩy mạnh học tập và thực hiện đầy đủ những lời căn dặn đầy tâm huyết của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu trong bản Di chúc: “Trước hết nói về Đảng”; và biểu hiện “Trước hết” đó phải bằng nhận thức, bằng hành động cách mạng cụ thể của mỗi tổ chức đảng, mỗi đảng viên trong nỗ lực xây dựng và chỉnh đốn Đảng./.

—————————-

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 2, tr. 189
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t. 7, tr. 207
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t. 5, tr. 551-552
4. Di cảo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 10-5-1969, Lưu trữ tại Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh
5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 173-175
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật,  Hà Nội, 2012, tr. 22
7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t. 4, tr. 56-57
8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t. 3, tr. 217
9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, sđd, tr. 26

(*) Các đoạn trích dẫn trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, công bố ngày 10-5-1969

Đại tá, ThS. Nguyễn Đức Thắng
Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự – Bộ Quốc phòng

Tâm Trang (st)

Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền

Sinh thời, Bác Hồ có nói: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Người luôn luôn yêu cầu cán bộ, đảng viên phải gương mẫu trong mọi việc. Không có lĩnh vực nào mà tác dụng nêu gương lại quan trọng bằng lĩnh vực đạo đức. Trong gia đình, đó là tấm gương của cha, mẹ đối với con cái, của anh, chị đối với các em; trong xóm làng, khu phố, đó là tấm gương của các bậc cao niên, các cựu chiến binh, các thế hệ đi trước đối với thế hệ trẻ; trong cơ quan Đảng và Nhà nước, đó là tấm gương của các đồng chí phụ trách, các đồng chí lãnh đạo đối với nhân viên; trong đơn vị quân đội, đó là tấm gương của các cấp chỉ huy, các chính ủy, chính trị viên đối với binh sĩ, của cấp trên đối với cấp dưới; trong toàn xã hội, đó là tấm gương của những “người tốt việc tốt”, đối với mọi đối tượng, mọi tầng lớp nhân dân. Trong cuốn sách “Tư tưởng Bác Hồ soi sáng sự nghiệp đổi mới của chúng ta”,  Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Bác Hồ thường nhắc đến một phương pháp giáo dục quan trọng là sức mạnh của sự nêu gương. Bác luôn luôn nêu gương trước cho mọi người noi theo”.

Bua com gian di cua con Nguoi vi daiBữa cơm giản dị của con người vĩ đại, bữa cơm của Bác ở Chiến khu Việt Bắc

Là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm sâu sắc công tác xây dựng Đảng. Người thường xuyên chỉ đạo, nhắc nhở việc xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng: Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém; người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng, phải kết hợp chặt chẽ phẩm chất và năng lực, hồng và chuyên, đức và tài, trong đó đức là gốc.

Một trong những mối quan tâm hàng đầu của Đảng là việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đức, có tài; có đạo đức trước, có tài năng sau. Đạo đức của người cán bộ, đảng viên thể hiện ở phẩm chất, tư cách: Suốt đời phấn đấu, hy sinh cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng; tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng; đặt quyền lợi của Đảng, của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết; thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; có đời tư trong sáng; là tấm gương sáng trong cuộc sống để nhân dân tin và noi theo.

Cán bộ, đảng viên có chức vụ càng cao, càng phải sống thanh bạch, giản dị và nêu gương tốt trước hết. Bác Hồ là một trong những nhà tư tưởng, lãnh tụ cách mạng quan tâm nhiều đến vấn đề đạo đức và có nhiều cống hiến về tư tưởng đạo đức cách mạng. Bản thân Người là một tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng. Học tập gương đạo đức Hồ Chí Minh là học cho được cái gốc, tức là học cho được cái tâm và tấm lòng của mình  trước nỗi khổ của con người, của đồng loại, của nhân dân, nhất là những người khổ, người nghèo, người bất hạnh; biết đồng cảm, sẻ chia những nỗi đau của từng cảnh đời trong cuộc sống.

Bác Hồ thường nói: Người cách mạng là người rất giàu tình cảm, và vì giàu tình cảm nên mới đi làm cách mạng. Người có lòng thương yêu mênh mông xúc động đến tâm can của mọi người. Học gương đạo đức Bác Hồ là phải học từ cái tâm, từ những xúc động đến rưng nước mắt của Bác trước nỗi khổ của con người, là vận dụng bài học đó để suy nghĩ và thực hiện trong đời sống hàng ngày.

Thực hiện học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cần phải tiếp tục đề cao phương pháp nêu gương, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên ở các cấp, các ngành, các đảng bộ, chi bộ. Cụ thể là nói đi đôi với làm, nói được thì phải làm được; cán bộ cấp trên gương mẫu, có tinh thần trách nhiệm cao trước cán bộ cấp dưới; kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện quan liêu, mệnh lệnh, xa rời thực tế, xa rời cơ sở, xa rời quần chúng; kiên quyết phê phán những cán bộ, đảng viên không dám nói, không dám hành động, hoặc “nói nhiều làm ít”, “nói mà không làm”, “nói một đường làm một nẻo”, thậm chí chỉ thụ động, ngồi chờ, ỷ lại, sợ trách nhiệm. Những biểu hiện đó hoàn toàn trái với tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, làm cho phương pháp “nêu gương” mất ý nghĩa, tác dụng trong giáo dục đạo đức, lối sống ngay trong nội bộ tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể xã hội…

Phương pháp “nêu gương” đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên ở bất kỳ vị trí công tác nào cũng phải nêu cao tính chiến đấu tự phê bình và phê bình. Bởi vì, quần chúng nhân dân luôn chú ý tới lời nói và việc làm của cán bộ, đảng viên để xem có nên noi theo hay không noi theo. Và cũng qua đó, họ biết rất rõ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên ở cơ sở, có những ưu điểm, nhược điểm gì, và đã sửa chữa nhược điểm, phát huy ưu điểm đến đâu. Cán bộ, đảng viên càng giữ vị trí cao, vị trí quan trọng, nhất là người đứng đầu, càng phải hết sức nêu gương tự phê bình và phê bình về phẩm chất đạo đức, lối sống ở mọi lúc, mọi nơi./.

Theo ubmttq.hochiminhcity.gov.vn
Tâm Trang (st)

Ký ức về Bác Hồ trên những chuyến chuyên cơ

Cuộc đời lính gắn bó với những người cựu binh này ngót gần nửa thế kỷ. Đôi phần ký ức đã lãng quên theo thời gian, nhưng những ký ức về năm tháng được gắn bó với Bác trên những chuyến chuyên cơ mãi không bao giờ phai mờ.

Người kể chuyện Bác Hồ

Với Đại tá Trần Văn Bích, mỗi dịp trò chuyện với những thanh niên thôn Vạn Phúc Đông (xã Trường Sơn, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh), những ký ức về những năm tháng sống trong quân ngũ và phục vụ đất nước như sống lại. 15 năm công tác tại Trung đoàn bay 919, có đến 9 năm ông vinh dự được gắn bó bên Bác Hồ trên những chuyến chuyên cơ phục vụ lãnh tụ. Ở thôn này, ai cũng biết đến ông với cái tên gần gũi “Người kể chuyện Bác Hồ”.

ky-uc-bach-ho-aBàn thờ Bác được đặt vị trí trang nghiêm trong nhà Đại tá Trần Văn Bích

Năm 1945, người chiến sĩ trẻ Trần Văn Bích tròn 20 tuổi, theo đoàn quân tiến về Hà Nội tiếp quản Thủ đô. Đến tháng 2/1956, ông được tuyển chọn sang tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc học lái máy bay. Tháng 4/1958, ông tốt nghiệp lớp máy bay ném bom TU2, ở Trường số 2, Quân giải phóng Trung Quốc. Vào thời điểm đó, tình hình trong nước có một số biến động, ông Bích phải chuyển sang học lớp máy bay vận tải AN2. Sau khi hoàn thành khóa học tháng 2/1960, ông về nước tham gia vào Đoàn bay 919, thuộc Quân chủng Phòng không Không quân. Người bạn gắn bó với ông trong năm tháng cống hiến ở  Đoàn bay 919 chính là Thiếu tướng Nguyễn Đình Khoa, nguyên Phó Tổng Giám đốc Công ty bay dịch vụ.

Nhớ về  người đồng đội, Thiếu tướng Nguyễn Đình Khoa xúc động: “Đại tá Trần Văn Bích là linh hồn, anh cả của đội bay. Tính anh phóng khoáng, thẳng thắn và rất vui vẻ. Nhưng trong công việc anh rất nghiêm túc, nhiệt tình. Nhiều thế hệ lính phi công đã trưởng thành dưới bàn tay huấn luyện của người anh cả này”.

15 năm công tác tại Đoàn bay 919, phi công Trần Ngọc Bích có rất nhiều chuyến bay chuyên chở Bác Hồ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ Lào, tham gia vận chuyển vũ khí, lương thực tiếp viện cho chiến trường. Những lần được gặp Bác đều để lại ấn tượng sâu sắc với người lính không quân ấy. Ký ức về những ngày được cùng ăn, cùng trò chuyện, được chứng kiến nếp sống giản dị, gần gũi của Bác Hồ mãi khắc sâu trong tâm trí ông. Học tập và noi gương Bác, Đại tá Trần Văn Bích luôn giữ vững phẩm chất kiên trung, cao đẹp của một người lính. Dù là lính trực thăng của Đoàn bay 919, hay sau này là Trung đoàn trưởng Trung đoàn trực thăng 916 rồi Chánh Thanh tra Quân chủng, Hiệu phó Trường Sĩ quan chỉ huy không quân, Cục phó Cục Quân huấn… ông Bích đều hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, tự nhắc nhở mình và nhắc đồng đội sống xứng đáng với Bác, xứng đáng với tên gọi người lính Cụ Hồ.

ky-uc-bach-ho-bĐại tá Trần Văn Bích (người thứ hai hàng đầu, từ trái sang) chụp ảnh với đồng đội cũ
trong một dịp gặp mặt

Nghỉ hưu năm 1990, ông Bích lại về sống bên dòng sông La hiền hòa, gắn bó với công tác tuyên truyền, vận động thực hiện học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ở địa phương. Ở vùng quê này, ông trở thành người lưu giữ và truyền khẩu nhiều nhất những câu chuyện về Bác Hồ. Ông Chu Lương Tâm, Phó Chủ tịch xã Trường Sơn cho biết: “Nhiều năm qua, bác Bích là người cựu chiến binh có nhiều đóng góp cho thôn xóm. Đặc biệt, trong các dịp Tết thiếu nhi, Trung thu, bác vừa là người quyên góp nhiều đồng thời vận động mọi người cùng tham gia”.

Dạy con cháu, ông Bích luôn đề cao truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, ơn Đảng, ơn Bác… 4 người con đều noi gương ông, sắp đặt trang trọng ảnh Bác Hồ ở một gian bàn thờ, thắp hương vào mỗi dịp rằm, lễ, Tết. Hiện nay, người cháu nội của ông cũng đang tiếp bước ông làm phi công cho Hãng Hàng không Vietnam Airline. Nhiều thế hệ học sinh tiểu học, trung học cơ sở ở xã Trường Sơn từng được trò chuyện với Đại tá Trần Văn Bích trong giờ học ngoại khóa vẫn nhớ đến ông, người say mê kể chuyện Bác Hồ.

Nhớ cái ôm nhắc nhở của Bác

Rời làng Vạn Phúc Đông, chúng tôi tìm đến ngôi nhà của một người lính cũng đã có nhiều năm vinh dự được tham gia trên những chuyến bay với Bác, tên ông là Nguyễn Đăng Thường. Có một điều thú vị người lính già này cho chúng tôi biết, Đại tá Trần Văn Bích chính là người anh, người thầy đã dìu dắt ông trong những ngày làm lính phi công.

ky-uc-bach-ho-cThượng tá Nguyễn Đăng Thường bên những kỷ vật cũ

Những năm tháng rèn luyện trong quân ngũ khiến ông vẫn còn rất phong độ ở độ tuổi ngoài 80. Mái tóc trắng như cước, màu da đỏ au, và ấn tượng trong chúng tôi về ông chính là cách nói chuyện đậm chất người lính Cụ Hồ.

Cuộc đời lính gắn bó với ông hơn 30 năm nhưng với ông những năm tháng được tham gia lái máy bay cho Bác Hồ là những kỷ niệm thiêng liêng và rất đỗi khó quên. Từng câu nói, cử chỉ của người mãi in sâu trong trí nhớ của người cựu binh năm xưa.

ky-uc-bach-ho-dVợ chồng Thượng tá Nguyễn Đăng Thường

Ông kể: “Chuyến bay đầu tiên cũng là chuyến bay tôi nhớ nhất. Tôi không tham gia lái chính chỉ ngồi ở ghế phụ lái. Hôm đó và khoảng ngày 24 rạng ngày 25/12/1967. Đây là thời điểm Noel, Mỹ tuyên bố ngừng ném bom. Chúng tôi được nhiệm vụ chở Người sang Trung Quốc, nhưng do thời tiết xấu phải hạ cánh ở sân bay Nội Bài. Vừa xem xét để nắm tình hình của địch, đồng thời các đồng chí tranh thủ kiểm tra lại máy móc thiết bị. Lúc này, Bác cũng bước ra ngoài và ngồi xuống bên cạnh tôi nói chuyện với tất cả mọi người rất vui vẻ. Bác hỏi thăm, rồi dặn dò mọi người giữ gìn sức khỏe. Khi chuẩn bị có lệnh cất cánh, Bác bỗng quay sang ôm ngang người tôi thật chặt, giọng xúc động: “Phi công ta cũng không to cao bằng phi công của các nước khác, không biết các cháu ăn có đủ no không?”. Lúc này, một đồng chí trong Đoàn đứng dậy khẳng khái: “Thưa bác, tuy phi công chúng ta ăn chưa no, vóc người không to nhưng gan thì to lắm ạ. Dám đánh cả giặc Mỹ”. Bác đứng dậy, nhìn chúng tôi trìu mến, Người nói “Bác rất tin””.

Sau chuyến bay này, ông Thường còn tham gia trong Tổ lái máy bay cho Bác thêm ba lần nữa.

Phượng Vũ – Văn Dũng
Theo http://dantri.com.vn

Thu Hiền (st)

Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác thông tin tuyên truyền

Hoạt động trong lĩnh vực thông tin – truyền thông, chúng ta luôn luôn học tập và làm theo Bác về công tác tuyên truyền và thấm nhuần những chỉ dẫn của Người để từ điều kiện thực tế, lựa chọn cách thức tuyên truyền cho phù hợp, nhằm đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn cuộc sống.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tuyên truyền lớn của Đảng ta, là tấm gương mẫu mực về công tác tuyên truyền. Người định nghĩa và xác định rõ mục đích của tuyên truyền: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại”.  Trong công tác tuyên truyền phải mang tính đại chúng, tính nghệ thuật, diễn đạt ngắn gọn nhưng sâu sắc, giản dị, dễ hiểu, sử dụng linh hoạt sáng tạo các thành ngữ, dân ca…trong hoạt động thực tiễn. Trong hoạt động tuyên truyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện phương châm kết hợp giữa lời nói và hành động, lý luận gắn liền với thực tiễn. Người chủ trương nói ít, làm nhiều; chỉ nói khi thật cần thiết, nói đúng để làm đúng.Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện nhuần nhuyễn sự kết hợp giữa lời nói và hành động, làm chủ lý luận, thực tiễn hóa lý luận và lý luận hoá thực tiễn.

chu-tich-hcm-thong-tina
Trong sự nghiệp hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú ý đến công tác
thông tin – tuyên truyền

 Từ những hành động tuyên truyền của Người đã tạo sức cuốn hút, cảm hoá mọi người. Theo Hồ Chí Minh: “Người tuyên truyền bao giờ cũng phải tự hỏi viết cho ai xem, nói cho ai nghe. Nếu không vậy, thì cũng như cố ý không muốn cho người ta nghe, không muốn cho người ta xem.” Người còn chỉ ra rằng: “Tuyên truyền không cần phải nói tràng giang đại hải. Mà nói ngắn gọn, nói những vấn đề thiết thực, chắc chắn làm được, để cho mọi người hiểu rõ và quyết tâm làm bằng được”. Nói đến lực lượng làm công tác tuyên truyền, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tất cả cán bộ, đảng viên, hễ những người tiếp xúc với dân chúng đều là người tuyên truyền của Đảng. Vì vậy, ai cũng phải học nói, nhất là học nói cho quần chúng hiểu”, hơn lúc nào hết người làm công tác tuyên truyền “Phải có lòng tự tin, tin vào mình, tin Đảng, tin giai cấp, tin nhân dân mình”,

Đối với công tác tuyên truyền trên mặt trận báo chí, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện rất rõ quan điểm tư tưởng của mình. Đó là cách viết. Vì ai mà viết? Mục đích viết làm gì? Viết cho ai? Viết cái gì? Cách viết thế nào? Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “mình viết ra cốt là để giáo dục, cổ động; nếu người xem mà không nhớ được, không hiểu được, là viết không đúng, nhằm không đúng mục đích. Mà muốn cho người xem hiểu được, nhớ được, làm được, thì phải viết cho đúng trình độ của người xem, viết rõ ràng, gọn gàng, chớ dùng nhiều chữ. Viết phải gọn gàng, vắn tắt, nhưng phải có đầu có đuôi, viết phải thiết thực, chớ ham dùng chữ”. Bác còn căn dặn “để làm trọn nhiệm vụ tuyên truyền, tổ chức, hướng dẫn, thì các báo chí ta cần phải gần gũi quần chúng hơn nữa, đi sâu vào công việc thực tế hơn nữa, cách làm việc của báo chí phải cải thiện hơn nữa”. Bác xác định rõ mục đích của báo chí: “Báo chí phải phục vụ ai? Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội…Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu”…

Từ đó, góp phần nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, tạo sự thống nhất trong ý chí và hành động, tạo sự đồng thuận và quyết tâm trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội./.

Đức Lâm
Theo http://daklak.gov.vn

Phương Thúy (st)