Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Tri ân, không bao giờ là đủ !

QĐND – Theo thống kê chưa đầy đủ, cả nước ta có khoảng 1, 13 triệu liệt sĩ. Và có lọ, chẳng nơi đâu trên thế gian có những bà mẹ phải chịu nhiều nỗi đau mất người thân trong chiến tranh như ở Việt Nam. Mẹ Thứ, người đã trở thành biểu tượng của người mẹ Việt Nam anh hùng, phải chịu nỗi đau mất 13 người thân. Những bà mẹ Việt Nam khác, cũng có rất nhiều người chồng chất nỗi đau.

Trong số những nỗi đau, thì nỗi đau nhất là không còn đau được nữa. Đó là khi quá nhiều nỗi đau đổ ập tới, khiến lòng chai sạn, khiến mẹ không còn nổi nước mắt để khóc chồng, khóc con. Và, những nỗi đau ấy, đến hôm nay, vẫn chưa thôi day dứt!

Người có tâm, người biết sống hợp với đạo lý, là người biết hàm ơn. Các anh hùng liệt sĩ, những người đã chiến đấu, hy sinh để giành lại nền độc lập, chính là những người có ơn lớn đối với quốc gia, dân tộc. Vì thế, thể hiện lòng biết ơn với họ, mà cụ thể là góp phần xoa dịu những nỗi đau mà những người thân của họ vẫn đang gánh vác, không chỉ là vấn đề trách nhiệm xã hội với mỗi người hôm nay. Đó còn là trách nhiệm, là lương tâm!
Cách đây hơn 20 năm, phong trào xây dựng nhà tình nghĩa cho gia đình các thân nhân liệt sĩ đã được cả nước hưởng ứng. Hàng vạn ngôi nhà đã và vẫn tiếp tục được xây. Thế nhưng, vẫn chưa đủ. Vẫn còn những gia đình liệt sĩ chưa có được một mái ấm khang trang. Lại có những ngôi nhà tình nghĩa trải qua mưa nắng và thời gian, nay đã rất cần nâng cấp.

Ngày 27-7-1947 được lấy làm Ngày Thương binh -Liệt sĩ, tức là công tác chăm lo cho người có công với cách mạng đã được toàn Đảng, toàn dân chăm lo từ 65 năm qua. Tuy nhiên, đến nay, dù đã rất cố gắng nhưng sự chăm lo ấy vẫn mới chỉ bảo đảm được phần nào cuộc sống của các đối tượng chính sách. Những khoản tiền trợ cấp, phụ cấp, trong thời buổi khó khăn này vẫn chưa giúp người có công thực sự được yên tâm.

Tri ân các anh hùng liệt sĩ, những người đã để lại một phần thân thể mình trên chiến trường vì nền độc lập -tự do của dân tộc, không phải là việc từ thiện. Đó là một việc nghĩa, thể hiện đạo lý truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của nhân dân ta. Những đồng tiền, những việc làm thể hiện sự biết ơn đã phần nào xoa dịu những nỗi đau. Thế nhưng, không gì có thể so với sự mất mát người thân, sự hy sinh xương máu. Bởi thế, việc tri ân không bao giờ là đủ!

Huy Đăng
qdnd.vn

Mái che từ lòng dân

QĐND – Tỉnh Điện Biên vừa long trọng tổ chức Lễ khánh thành Công trình Mái che hiện vật ngoài trời Khu di tích lịch sử Điện Biên Phủ. Đây là công trình được xây dựng nhằm gìn giữ, bảo quản lâu dài các hiện vật trong chiến tranh chống thực dân Pháp. Công trình được thiết kế và xây dựng gồm 12 mái che tại 9 địa điểm thuộc 2 phường Mường Thanh và Thanh Trường (thành phố Điện Biên Phủ) để bảo quản các hiện vật gồm 7 khẩu pháo, 4 chiếc xe tăng và mảnh xác máy bay của quân đội viễn chinh Pháp bị ta thu giữ, phá hủy.

58 năm sau ngày 7-5-1954, ý nghĩa của chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, một chiến thắng mang ý nghĩa quyết định sự thất bại của quân đội viễn chinh Pháp tại Việt Nam, vẫn còn nguyên đó. Thế nhưng, những di sản, những chứng tích của chiến thắng ấy, vì sự tàn phá của thời gian, đã mai một đi nhiều.

Ảnh minh họa/ Internet

Hiện trạng ấy, không chỉ xảy ra tại Điện Biên Phủ. Nhiều di sản văn hóa quân sự thời đại Hồ Chí Minh trên khắp cả nước “chưa được bảo tồn hiệu quả, phát huy tác dụng. Nhiều di tích lịch sử quân sự dù đã được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia, vẫn bị xuống cấp nhanh chóng do thời gian bào mòn và do con người xâm hại nghiêm trọng. Không những thế, nhiều di sản quân sự tuy đã được quan tâm phục hồi, tôn tạo, tốn kém nhiều tiền bạc và công sức của nhân dân nhưng vẫn có nhiều “dấu vết” thô vụng, không phản ánh chân thực và không ngang tầm lịch sử” (trích từ loạt bài phóng sự điều tra “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa quân sự thời đại Hồ Chí Minh” trên Báo Quân đội nhân dân từ ngày 20 đến 24-11-2011).

Bảo tồn các di sản văn hóa quân sự là việc làm cấp bách. Bởi lẽ, những di sản ấy không chỉ mang ý nghĩa là những vật thể thuần túy. Nó minh chứng truyền thống chiến đấu và chiến thắng, minh chứng truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt. Và để truyền thống ấy tiếp tục “sống”, tiếp tục phát huy ý nghĩa trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay, cần phải có thái độ tích cực hơn đối với những di sản văn hóa quân sự.

Trước mắt, để bảo vệ những di sản văn hóa quân sự, cần đến “bàn tay” của các cơ quan chức năng, cần có những mái che vật chất để che mưa, che nắng. Nhưng từng ấy chưa đủ! Thời chiến, lòng dân chính là “mái che” cho bộ đội trước quân thù. Chiến tranh đi qua, những mái che bảo vệ những chứng tích hào hùng của lịch sử dân tộc chỉ thực sự vững bền khi nó đi được vào lòng dân, để lòng dân trở thành những “mái che” vĩnh cửu.

Diệu Mai
qdnd.vn

Hai mùa thu và một việc hệ trọng

QĐND – Mùa thu 67 năm trước, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ ra đời trong tình thế cách mạng “ngàn cân treo sợi tóc”, có bao việc phải lo, phải làm nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm làm trong sạch đội ngũ cán bộ. Ngày 27-9-1945, tới dự Đại hội đại biểu Thanh niên Hà Nội, Bác thẳng thắn: “Các anh em nếu đến đây để nghe một bài diễn văn bóng bẩy, hoa mỹ thì các anh em sẽ thất vọng. Tôi sẽ không khen ngợi anh em mà chủ yếu vạch ra những khuyết điểm của anh em”. Khi ông Hoàng Tùng, Bí thư Thành ủy Hà Nội hỏi Bác: “Thưa Cụ, giặc Tàu, giặc Pháp lăm le cướp nước ta, Cụ sợ giặc nào hơn…? “. Bác đã trả lời: “Bác sợ nhất các chú…”

Mùa thu này, những tín hiệu từ việc Đảng ta triển khai Nghị quyết Trung ương 4 về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” như gợi nhắc câu chuyện Bác Hồ năm ấy. Có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử Đảng ta, việc chỉnh đốn Đảng được làm quyết liệt, sâu sắc, kỹ càng như hiện nay. Chỉ riêng việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình 4 đồng chí lãnh đạo chủ chốt gồm Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội đã diễn ra 5 ngày, mọi ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư đều đóng góp ý kiến. Các vụ việc nổi cộm liên quan đến Vinashin, Vinalines… và những thiếu sót, khuyết điểm trong công tác cán bộ hay một số dư luận bức xúc liên quan đến cá nhân, gia đình, vợ con… một số cán bộ cao cấp cũng được làm rõ, giao cho UBKT Trung ương thẩm tra, xác minh. Bộ Chính trị cũng đã kiến nghị việc thành lập Ban Nội chính Trung ương, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và ban hành “Hướng dẫn thực hiện việc chất vấn tại các kỳ họp Ban Chấp hành Trung ương”; sửa đổi ngay cách đi công tác ở cơ sở theo hướng thiết thực, cụ thể, tránh hình thức, rườm rà… Dư luận cả nước rất đồng tình, tin tưởng và hy vọng tinh thần chỉnh đốn Đảng nghiêm túc từ Bộ Chính trị, Ban Bí thư sẽ tạo một luồng gió mới cho việc triển khai Nghị quyết Trung ương 4 ở các cấp bộ Đảng.

Hơn 700 năm trước, trong khí thế ngút trời sau 3 lần đại thắng giặc Nguyên – Mông, cha ông ta từng đưa ra triết lý phải vun trồng “Đức” như một cái gốc của sự trường tồn: “Giặc tan muôn thuở thanh bình / Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao”. Hai mùa thu, một việc hệ trọng cùng được triển khai cho thấy dòng chảy biện chứng trong tư duy cách mạng của Đảng ta, cũng là sự tiếp nối tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp nối truyền thống dân tộc. Càng trong nguy nan, thử thách, càng phải “xốc lại đội hình” vì “Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”.

Nguyễn Văn Minh
qdnd.vn

Thêm một tấm gương về “đạo làm quan”

QĐND – Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh vừa trao giải thưởng “Vì sự nghiệp phát triển văn hóa – giáo dục” lần thứ V – 2012 cho ông Nguyễn Sự, Bí thư thành ủy Hội An, tỉnh Quảng Nam. Đây là một giải thưởng uy tín ở nước ta, nhằm tôn vinh các công trình văn hóa đặc sắc, tổ chức đào tạo và phổ biến các giá trị văn hóa Việt Nam và thế giới. ông Nguyễn Sự không phải là một chuyên gia văn hóa và không có các công trình nghiên cứu khoa học, nhưng việc trao giải thưởng trên đây nhận được sự đồng thuận cao của dư luận và giới chuyên môn, bởi “tác phẩm” của ông là bộ mặt phố cổ Hội An trong thời hội nhập và phát triển.

Đồng chí Nguyễn Sự, Bí thư thành ủy Hội An

Như mọi di sản lịch sử và văn hóa, phố cổ Hội An từng đứng trước nguy cơ bị tàn phá và biến dạng do thời gian, chiến tranh và những mặt trái của cơ chế thị trường thời toàn cầu hóa. ông Nguyễn Sự là một người con của Hội An, một cán bộ quản lý và lãnh đạo trưởng thành từ một người lính và cán bộ cơ sở, gần 20 năm nay ông dồn tâm huyết và công sức cho Hội An trên con đường phát triển, hội nhập sâu rộng nhưng vẫn giữ được bản sắc của một di sản văn hóa độc đáo; để Hội An được UNESCO công nhận là di sản văn hóa của nhân loại, được Nhà nước ta phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới.

Người Hội An nói rằng, ông Nguyễn Sự không có cái kiểu “không quản được thì cấm”. ông ở nhà cấp 4, gặp gỡ trò chuyện thoải mái với nhân dân, cùng họ bàn cách làm thế nào vừa đảm bảo mưu sinh vừa góp phần làm đẹp cho thành phố. Chính ông đã truyền cảm hứng cho họ trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của phố cổ.

Người ta cũng nói rằng, ông vừa là người góp phần kiến tạo, vừa là linh hồn của những thay đổi rất thành công và đặc sắc của Hội An. ông là người có “đạo làm quan”, biết điều hành công việc bằng sự am hiểu văn hóa và lẽ đời. Như lời nhận xét của nhà văn Nguyên Ngọc: ông là người lãnh đạo, quản lý một cách văn hóa.

Trong diễn văn đáp từ tại lễ nhận giải thưởng, ông Nguyễn Sự phát biểu: Tôi chỉ là người thực hành, hằng ngày làm những việc cụ thể, cố gắng cho đúng và có ích… Cơn khát đất, khát tiền nóng rực có thể hút kiệt môi trường sống, san bằng mọi di sản cha ông và nốc cạn hạnh phúc của nhiều thế hệ mai sau. Chúng tôi đã phải dằn ước muốn tăng trưởng GDP để Hội An không đổ vỡ. Chúng tôi đã phải chống chọi với “tư duy nhiệm kỳ” để cùng nhân dân, vốn “vạn đại” và “phi nhiệm kỳ”, nghĩ và làm chuyện lâu dài…

Những điều ông Nguyễn Sự nói và những điều người ta bàn về ông Nguyễn Sự nêu trên không phải là mới. Đất nước ta từ xưa đến nay cũng có nhiều tấm gương như vậy. Nhưng trong không khí toàn Đảng, toàn dân đang sôi nổi thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 4 “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, câu chuyện về “đạo làm quan” của ông Nguyễn Sự trên đây thật thiết thực và ý nghĩa!

Mai Nam Thắng
qdnd.vn

Chính sách ngu dân

Người An Nam rất hiếu học. Trong các tầng lớp xã hội, người sĩ phu chiếm địa vị hàng đầu. Có con học giỏi là một vinh hạnh cho cha mẹ. Cho nên, dù có nghèo đói đến đâu, cha mẹ cũng cố tìm cách cho con cái được học hành. “Nửa bụng chữ bằng một hũ vàng” là một câu tục ngữ biểu hiện nhiệt tình ham muốn có học thức của dân tộc An Nam. ở làng xã nào cũng có trường công và trường tư. Chữ nho rất khó học thế mà hầu hết người An Nam đều biết “ký tên bằng chữ Hán”. Nạn mù chữ hầu như không còn.

Người Pháp đến đã làm đổi thay tất cả. Đời sống càng ngày càng khó khǎn. Thuế má nặng nề, phu dịch thường xuyên. Các gia đình khá giả nay bị sa sút không còn có thể nuôi thầy đồ dạy học cho con cái mình và con cái những người láng giềng như xưa nữa. Những kẻ nghèo đói thì bị bần cùng, nên họ phải chống đói đã rồi mới có thể nghĩ đến chuyện học hành.

Càng nghèo khổ thì số người thất học càng nhiều. Mặt khác, thực dân Pháp lại cố tâm huỷ bỏ Hán học mà chúng thấy là nguy hiểm cho sự thống trị của chúng, vì chúng biết rằng Hán học có thể đưa vào An Nam những tư tưởng tiến bộ phương Tây thông qua Trung Quốc và Nhật Bản. Người ta có thể tưởng rằng bỏ Hán học đi để đẩy lùi ảnh hưởng nước ngoài, người Pháp sẽ thay thế vào đó bằng nền giáo dục của họ. Không phải thế đâu. Thâm ý của họ chỉ là đẩy người An Nam vào vòng ngu tối. Tôi xin nêu ra sau đây một vài bằng chứng của người Pháp.

Đại tá Bécna viết: Về phương diện tinh thần, người Pháp không tổ chức một nền giáo dục mới thay thế cho nền giáo dục An Nam mà họ đã bỏ đi. Họ chỉ xây dựng được một ít trường học để đào tạo ra những con vẹt, những người vong bản thiếu đạo đức và thiếu cả kiến thức phổ thông.

Trong một bản báo cáo về tình hình Đông Dương, tướng Penơcanh cũng viết: Trong 50 nǎm chiếm đóng ở Nam Kỳ và 25 nǎm chiếm đóng ở Bắc Kỳ, những trường học Pháp không đào tạo lấy được một người An Nam thật sự có học thức.

Ông Mácxơ, vǎn sĩ thuộc địa, đã viết câu sau đây lột tả được đúng tư tưởng đang thống trị trong đầu óc của các nhà cai trị của chúng ta: Chúng ta chỉ cần dạy tiếng Pháp cho người An Nam, dạy cho họ biết đọc, biết tính toán chút ít thôi; biết hơn nữa chỉ là thừa vô ích.

Nhưng ngay cả nền giáo dục sơ đẳng ấy cũng chỉ được phổ cập một cách quá bủn xỉn và nhỏ giọt. Trường học rõ ràng là còn thiếu nhiều, giáo viên thì chưa đủ tư cách để giảng dạy. Cao Miên có 2.000.000 dân mà chỉ có 60 trường học. ở Trung Kỳ chỉ có 118 trường cho 6.000.000 dân. Trường học lập ra không phải để giáo dục cho thanh niên An Nam một nền học vấn tốt đẹp và chân thực, mở mang trí tuệ và phát triển tư tưởng cho họ, mà trái lại càng làm cho họ đần độn thêm. Ngoài mục đích giáo dục để đào tạo tuỳ phái, thông ngôn và viên chức nhỏ đủ số cần thiết phục vụ cho bọn xâm lược – người ta đã gieo rắc một nền giáo dục đồi bại, xảo trá và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát nữa, vì một nền giáo dục như vậy chỉ làm hư hỏng mất tính nết của người đi học, chỉ dạy cho họ một lòng “trung thực” giả dối, chỉ dạy cho họ biết sùng bái những kẻ mạnh hơn mình, dạy cho thanh niên yêu một Tổ quốc không phải là Tổ quốc của mình và đang áp bức mình. Nền giáo dục ấy dạy cho thanh thiếu niên khinh rẻ nguồn gốc dòng giống mình. Nó làm cho thanh thiếu niên trở nên ngu ngốc. Điều gì có thể rèn luyện được cho học sinh biết suy nghĩ, biết phân tích thì người ta không dạy ở nhà trường. Vấn đề nào có liên quan đến chính trị, xã hội và có thể làm cho người ta tỉnh ngộ đều bị bóp méo và xuyên tạc đi. Có học lịch sử nước Pháp đi nữa, thì người ta không hề đả động đến chương nói về cách mạng. Người ta cấm học sinh đọc tác phẩm của Huygô, Rútxô và Môngtexkiơ. Nói tóm lại, trường học thật là tương xứng với chế độ đã khai sinh ra nó.

Cách đây vài nǎm, người ta ban cho chúng tôi một trường đại học. Một trường đại học thế nào? Theo những bài diễn vǎn chính thức và những lời tuyên truyền ầm ỹ xung quanh trường này thì trường đại học của chúng tôi có thể so sánh được với các trường đại học to nhất Âu châu kia đấy. Thực ra, thì hằng nǎm trường đại học chỉ sản xuất được hai ba ông cử nhân hạng tồi. Ông bố đỡ đầu cho cái trường “Xóocbon Annammít” ấy, hiện giờ là thống đốc Nam Kỳ, trong một lúc thành thật hiếm thấy xưa nay ở ngài, ngài đã thú nhận rằng chính ngài đã “hằng chǎm lo đến sự tiến bộ của cả dân tộc An Nam; mở trường y khoa và trường đại học là cốt để sau này (lời thú nhận vào tháng 3 nǎm 1924) người An Nam có thể thay thế người Pháp trong các chức vụ thứ yếu ở các công sở”.

Bên cạnh trường đại học đáng quý ấy, lập ra cốt để loè nước ngoài, để đưa ra khoe khoang trong các bài diễn vǎn và để lấy cớ ngǎn cấm người An Nam xuất dương du học, chúng tôi còn có một trường y khoa, một trường luật, một trường công chính, ba hoặc bốn trường chuyên nghiệp nữa, cho cả 20.000.000 dân.

Nhưng kết quả thu được ở các trường ấy thì như thế nào? Một tờ báo Pháp xuất bản ở Đông Dương đã trả lời câu hỏi đó như thế này: Số thanh niên An Nam có trình độ kỹ thuật chuyên nghiệp cao còn rất ít, rất ít người dân bảo hộ có thể đảm đương được xứng đáng chức vụ của một kỹ sư công chính, của một bác sĩ y khoa hay của một thanh tra hoả xa, chẳng hạn.

Cho nên bị chính sách ngu dân triệt để kiềm chế như vậy, người An Nam muốn học lên chỉ còn có 2 cách: đi du học ở nước ngoài hay ở Pháp. Nhưng nếu có một người An Nam nào có ý định đi du học nước ngoài thì sẽ bị coi như một người nổi loạn, một người chống Pháp, có tội lớn; người ta hãm hại người đó và cả gia đình họ. Anbe Xarô, nguyên toàn quyền Đông Dương, nay là Bộ trưởng thuộc địa đã nói rõ chính sách bao vây tinh thần ấy bằng những lời lẽ sau đây: “Để cho lớp thượng lưu trí thức được đào tạo ở nước ngoài thoát khỏi vòng kiềm toả của chúng ta, chịu ảnh hưởng vǎn hoá và chính trị của nước khác, thì thật là một điều nguy hiểm vô cùng. Những người trí thức đó trở về nước đã đưa hết tài nǎng của họ để tuyên truyền vận động chống lại chúng ta là những người bảo hộ đã ngǎn cấm không cho họ học tập”.

Còn sang du học ở Pháp lại là một chuyện khác hẳn. 1) Sinh hoạt ở Pháp đắt đỏ hơn ở Trung Quốc và ở Nhật Bản, nên du học sinh phải rất giàu mới có đủ tiền đến học ở một trường chính quốc. 2) Ngoài ra, người đó phải được bảo đảm về tinh thần nghĩa là cha mẹ anh ta phải có thái độ phục tùng Chính phủ; phải có bảo đảm về vật chất tức là phải đút lót thật nhiều cho các quan cai trị. 3) Du học sinh phải làm đủ các thể thức quái gở, vô ích và nhục nhã; những thể thức này thường làm cho người xin đi học phải nản chí, vả lại Chính phủ cũng chỉ muốn như thế thôi. 4) Khi đã sang Pháp, người du học sinh phải chịu sự giám sát, theo dõi và dò la của Chính phủ Pháp.

Chính phủ Pháp cố đưa du học sinh An Nam vào học ở những trường phản động nhất. Những sách vở báo chí mà anh ta đọc, những hoạt động, giao thiệp hằng ngày của anh đều bị kiểm soát, theo dõi. Người ta giao anh cho những tên ba que thực dân già đã về hưu trông nom. Chính phủ Pháp dựng lên một bức tường ngǎn cách hẳn du học sinh với những luồng tư tưởng chính trị và xã hội ở chính quốc. Để nắm chặt lấy anh ta, người ta dùng tiền thuế của người An Nam tổ chức ra những hội quán và câu lạc bộ cho du học sinh; ở đấy muốn làm gì thì làm, trừ việc học tập. Nếu anh sinh viên tỏ vẻ tự lập thì người ta sẽ bắt ép cha mẹ phải gọi anh ta về. Nếu anh ta không nghe, thì người ta cứ việc cắt lương của anh.

Học xong và nếu đã tốt nghiệp – dù tốt nghiệp bác sĩ y khoa, luật sư hay kỹ sư bách khoa – người An Nam muốn có việc làm ở trong nước thì phải nhập quốc tịch Pháp; mà muốn được vào làng Tây thì phải luồn lọt xin xỏ thật là nhục nhã và hèn hạ.

Muốn mở trường tư thì phải xin phép Chính phủ trước. Bất cứ lúc nào Chính phủ cũng có quyền kiểm soát hoặc bắt các trường phải đóng cửa.

Sau những cuộc biểu tình nǎm 1907 (58) mà tôi đã có dịp nói đến, Chính phủ cho lính tập về phá phách các trường học và bắt bớ giáo viên. Các ông giáo bị bắt, bị ngược đãi hành hạ, tay trói giật cánh khuỷu và bị dẫn từng xâu lên tỉnh lỵ; đầu trần, chân không, nhịn đói, nhịn khát, họ bị đánh đập như trâu ngựa, rồi bị kết án khổ sai. Còn trường học thì bọn sĩ quan Pháp dùng làm chuồng ngựa.

Mới đây, ở một tỉnh Nam Kỳ người ta thuyên chuyển cả một loạt giáo viên, lấy lý do là các nhà giáo đã quyết định xin ra hội mà trước kia họ bị bắt buộc phải gia nhập. Tên công sứ chủ tỉnh làm thủ quỹ hội này đã bắt giáo viên phải đóng thêm 40 phrǎng để bù vào tiền quỹ bị hụt. Các giáo viên bị thuyên chuyển đi cũng vì một lý do khác là tên phó sứ đã chửi mắng, làm nhục họ và doạ đánh vào mõm họ (nguyên vǎn).

Để làm rõ nét thêm cái chế độ tốt đẹp ấy, tôi cần phải nói thêm rằng: Chính phủ đã biếu bà quả phụ của một viên cựu thống đốc một món tiền là 1 triệu phrǎng, và trợ cấp 800.000 phrǎng cho 66 buổi kịch giải trí cho khoảng 3 hay 4 nghìn người Âu ở Sài Gòn; nhưng Chính phủ lại thu hồi khoản trợ cấp chỉ có 2.000 đồng cho một tổ chức giáo dục bình dân vì ông hội trưởng của tổ chức này là một người làng Tây có chân trong Hội đồng thuộc địa, đã viết những bài báo phản đối việc cho trưng thầu hải cảng Sài Gòn.

cpv.org.vn

—————————

58. Những cuộc biểu tình năm 1907: Phong trào cải cách bằng con đường hoà bình diễn ra sôi nổi khắp 3 kỳ trong năm 1907. Trung tâm của phong trào là các đô thị, nhất là Hà Nội. Những người cầm đầu phong trào này đều là các sĩ phu tiến bộ. Nội dung của phong trào chủ yếu là mở trường học, truyền bá tư tưởng mới, cổ động bỏ hủ tục và lồng vào đó là tư tưởng yêu nước, chống Pháp.

Tiêu biểu cho phong trào là Đông kinh nghĩa thục (từ tháng 3 đến tháng 11-1907) đứng đầu là Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Đào Nguyên Phổ.

Phong trào đã diễn ra sôi nổi ở khắp nơi. Thông qua các cuộc diễn thuyết, bình văn thơ, các sĩ phu tuyên truyền những tư tưởng mới, đề cao tinh thần dân tộc, kích động và phát triển mạnh mẽ lòng yêu nước của nhân dân ta. Tr.402.

Giáo hội

Nếu có dân tộc nào phải nhớ ơn Chúa và các giáo sĩ, thì chính đó là dân tộc An Nam! Vì Chúa và các giáo sĩ mà dân tộc này đã sa vào tình cảnh nô lệ như ngày nay. Bước đầu, khi giúp Gia Long chiếm lấy ngôi vua, Pinhô đờ Bêhen đã làm hết cách dọn đường cho thực dân cướp nước. Cho nên để đổi lấy một ít súng ống, y đã bắt Gia Long nhượng cho Pháp những thương cảng và quân cảng sau này trở thành những cǎn cứ xâm lược của Pháp.

Chính những tên giáo sĩ đã vẽ bản đồ An Nam cho đội quân xâm lược. Chính bọn họ đã đưa tin cho gián điệp, dẫn đường cho đội quân viễn chinh và tố giác những người yêu nước. Trong thời chinh chiến ở Bắc Kỳ, nhiều tên giám mục cha cố giả danh đi làm việc thiện, đã len lỏi trong dân chúng An Nam do thám phong trào, đánh cắp kế hoạch phòng thủ thành phố và chuyển cho người Pháp. Biết rõ những vùng giàu có nhưng lại phản đối truyền đạo, đôi khi giáo hội cố ý đưa cha cố về chịu bị ức hiếp để lấy cớ can thiệp và cướp bóc nhân dân.

ở đâu có cuộc nổi dậy, có khởi nghĩa thì nơi đó cha cố biến thành mật thám, nhà thờ Chúa biến thành nơi tra khảo. Trong những buổi xưng tội, bọn cha cố chất vấn người dân quê, doạ nạt họ hoặc hứa hẹn khôn khéo với họ để lấy tin tức về phong trào và các lãnh tụ. Lễ xưng tội xong, các cha chúng ta bèn chạy đi tố cáo với nhà chức trách Pháp.

Về mặt kinh tế cũng như về mặt tinh thần, giáo hội đều tỏ ra rất xứng đáng với Chúa. Lấy danh nghĩa làm việc thiện, người ta tập trung trẻ mồ côi về Nhà chung, thí cho một bát cơm rồi bắt các em làm việc như tù khổ sai. Có những cha cố đã bán những em gái mồ côi do họ trông nom, cho những tên thích đùi non để lấy tiền tiêu. Có cha cố tuyển mộ những người thất nghiệp, đem đi khai hoang và hứa chia lợi cho họ; nhưng khi ruộng đất đã có thu hoạch thì bọn cha cố lại thẳng tay đuổi họ đi.

Để bóc lột người bản xứ, giáo hội đã dùng nhiều mánh khóe mà những thủ đoạn chính như sau:

Trong các cuộc xung đột An – Pháp, người An Nam đi lánh nạn phải tản cư sang các tỉnh lân cận. Khi họ trở về làng thì đất đai của họ đã bị chiếm đoạt. Nhân cơ hội loạn lạc, vắng chủ, Nhà chung đã cướp cả vǎn tự lẫn ruộng đất của họ.

Những nǎm mất mùa, Nhà chung cho nông dân vay tiền nhưng bắt họ phải đưa ruộng đất bảo đảm. Vì lấy lãi cắt cổ nên đến kỳ hạn người nông dân không trả được nợ, thế là tất cả ruộng nương đều rơi vào tay Nhà chung.

Những tên quan cai trị, thống đốc, toàn quyền cũng ít liêm khiết lắm. Chỉ cần nắm được ít giấy tờ bí mật về đời tư và có thể chạm đến thanh danh của họ, thì Nhà chung bèn dùng để làm tiền và đòi hỏi tất cả những điều họ muốn. Vì vậy mà một viên toàn quyền đã phải nhượng lại cho Nhà chung đến 7.000 hécta đất màu mỡ của dân bản xứ. Dân mất quyền sở hữu, bị đuổi đi và buộc phải đi ǎn xin.

Nhà chung còn mở những công ty có những số vốn khổng lồ để khai thác sinh lợi những đồn điền do Chính phủ thuộc địa cho không họ và do “con chiên” cày cấy không công cho họ. Những đồn điền của toà thánh có lúc dùng tới sáu bảy nghìn nô lệ bản xứ. Riêng ở Đông Dương, giáo hội đã chiếm mất 1 phần 5 ruộng đất, và ở Cao Miên đến 1 phần 3.

Đại tá Bécna viết: “Những điều mà người thực dân phải dựa vào Nhà nước mới làm được thì người giáo sĩ vẫn làm được cả, bất chấp Nhà nước. Bên cạnh lãnh địa của người chủ đồn điền, xuất hiện lãnh địa của Nhà chung. Rồi đây không còn rẻo đất nào cho người An Nam cư trú, trồng trọt và sinh sống nữa, nếu họ không cam chịu sống kiếp nông nô”.

cpv.org.vn

Nước An Nam dưới con mắt người Pháp

Nói về nền công lý Pháp ở Angiêri, một nghị sĩ Pháp đã viết một cách châm biếm rằng: “Pháp luật, công lý với người bản xứ ư? Thôi đi! Chỉ có ba toong, súng lục, súng trường, đó mới là những thứ xứng đáng với lũ sâu bọ ấy!”.

Một người Pháp khác, cũng kêu lên như thế này: “ở Đông Dương cũng đúng như vậy đấy, ở đây “công lý” nằm trong tay những tên quan lại thiếu trách nhiệm, hoặc khi chúng ta phải thực hành công lý, thì bằng súng!”. Một người Pháp khác viết: “Nếu viên chủ sự viện kiểm sát xét kỹ theo đúng tinh thần pháp lý thì trong số hai nghìn đến hai nghìn rưởi biên bản lập hằng nǎm ở Bắc Kỳ, không có biên bản nào là có giá trị đối với Pari cả”.

Ở Đông Dương có hai thứ công lý. Một thứ cho người Pháp, một thứ cho người bản xứ. Người Pháp thì được xử như ở Pháp. Người An Nam thì không có hội đồng bồi thẩm, cũng không có luật sư người An Nam. Thường người ta xử án và tuyên án theo giấy tờ, vắng mặt người bị cáo. Nếu có vụ kiện cáo giữa người An Nam với người Pháp thì lúc nào người Pháp cũng có lý cả, mặc dù tên này ǎn cướp hay giết người. Sau đây là vài ví dụ:

Quan cai trị Bôđoanh – bị một viên chức Pháp tố cáo làm giả mạo giấy tờ – được phong chức quyền toàn quyền và được thưởng bắc đẩu bội tinh.

Quan cai trị Đáclơ – bị tố cáo ǎn hối lộ; vì sự nhũng lạm tàn bạo của ông ta mà xảy ra cuộc khởi nghĩa ở một tỉnh làm cho nhiều người Pháp và An Nam chết – lại được cử làm uỷ viên hội đồng thành phố.

Quan cai trị Buđinô – can tội tham ô, thụt tiền công quỹ và nhũng lạm – lại được tha bổng.

Kỹ sư Têa – giám đốc một hãng lớn, bị tố cáo tham ô – cũng được vô sự.

Một tên quan cai trị ở Quảng Châu Loan bị tố cáo là đã dùng nhục hình giết chết hơn hai mươi người bản xứ, lại được tha bổng.

Một tên quản ngục Côn Lôn, bị tố cáo là đã giết một cách thản nhiên một lúc hơn 40 phạm nhân, được trắng án và khen thưởng.

Ông Puốcxinhông thấy một người An Nam dám nhìn vào nhà một người Âu vài giây, đã hùng hổ nhảy ra đánh người An Nam ấy và kết liễu đời anh bằng một phát súng lục bắn vào đầu.

Một nhân viên hoả xa dùng roi mây đánh một người lý trưởng Bắc Kỳ.

Ông Bếch đấm vỡ sọ người lái xe cho ông ta.

Ông thầu khoán Brét đã trói tay một người An Nam cho chó cắn rồi dùng chân đá người ấy đến chết.

Ông Đépphi, chủ sự thuế quan, đá một cái ghê gớm vào mạng mỡ người đày tớ làm anh này chết tươi.

Ông Hǎngri, thợ máy ở Hải Phòng, nghe có tiếng ồn ào ở ngoài phố; cửa nhà ông vừa mở thì một người đàn bà An Nam chạy xộc vào, đằng sau là một người đàn ông đang đuổi theo. Hǎngri vớ lấy khẩu súng và bắn một phát. Người đàn ông ngã vật xuống chết ngay; đó là một người Âu. Hỏi đến thì Hǎngri trả lời: “Tôi tưởng nó là người bản xứ”.

Một người Pháp đem ngựa của hắn buộc vào một cái chuồng trong đó có nhốt con ngựa cái của một người dân bản xứ. Con ngựa đực lồng lên, làm cho người Pháp tức điên lên. Hắn liền đánh người bản xứ hộc máu mồm, máu mũi. Rồi hắn còn trói người ấy lại đem treo lên cầu thang.
Một giáo sĩ (vâng, một môn đồ nhân từ của Chúa) nghi cho một học sinh trường dòng người bản xứ lấy cắp của mình một nghìn đồng, bèn trói anh lại, treo lên xà nhà mà đánh. Người học sinh đáng thương ấy chết ngất đi. Họ hạ anh xuống. Khi anh hồi tỉnh người ta lại treo anh lên tra khảo. Anh ấy đã chết.

Vân vân, v.v..

Bản kê này còn có thể kéo dài không cùng.

Tất cả những tên giết người ấy đều được trắng án. Vì uy tín của người Pháp nên phải như thế đấy!

Phải nhất thiết kết án những người dân bản xứ vô tội cũng như tha bổng những người Pháp có tội.

Khi một người An Nam bị buộc tội là chống Pháp thì người ấy bị đem xử trước một toà án gọi là toà án đặc biệt. Toà án gồm mấy tên quan binh và quan cai trị đều là người Pháp cả. Toà án xử kín và có thể tuyên án tử hình. Không được chống án.

Nǎm 1908, một âm mưu ở Bắc Kỳ bị khám phá. Trong số người bị kết án, có cả đàn bà, trẻ con và cả một thanh niên mà ai cũng biết là ngớ ngẩn.
Đôi khi họ tuyên án vắng mặt người bị cáo, những án khổ sai có khi cả những án tử hình nữa; bị cáo không hề được bào chữa.

Những người bản xứ bị buộc tội về chính trị nặng hay nhẹ, nói chung đều bị bắt, kết án và đem đi đày – chung thân hay 10 nǎm tuỳ đấy. Không cần điều tra xét xử gì cả.
Sau đây là một bản trích lục án để giúp các bạn hình dung được thế nào là công lý đối với những người dân bản xứ.

Trích lục án:

Xét rằng: Những tên A, B, C, D và F đều là những nhà vǎn thân An Nam nổi tiếng, họ biết ai là kẻ phiến loạn chống Pháp nhưng họ lại cho rằng không cần phải theo dõi người ấy (không thấy nói tên kẻ phiến loạn, cũng không nói phải theo dõi người đó đến đâu?).

Xét rằng: Khi đã thấy người đó về nhà, C bèn đi mời B và A về họp bàn (bàn việc gì?).

Xét rằng: C và B và D còn tổ chức cả những hội buôn, những hội diễn thuyết và hội mặc Âu phục, cắt tóc ngắn (khủng khiếp chưa!).

Xét rằng: Tất cả những việc đó, họ đã cùng làm với nhau một lần.

Xét rằng: Trong những bài thơ của họ, có một câu có thể dịch là: “Chịu cảnh ô nhục, chịu thân cá chậu chim lồng”. (Sai. Câu thơ trào phúng chế giễu những cuộc thi cử phải dịch như sau: Nếu các ông còn đeo đuổi mãi những cuộc thi cử lỗi thời ấy, thì trong khoảng trǎm nǎm nữa các ông sẽ được nghe người ta chửi vào mặt. Khi nào thì các ông sẽ thoát khỏi cảnh cá chậu chim lồng ấy?).
Xét rằng: D đã cho phép học trò của anh ta hội họp (!) và những học trò ấy đã đọc câu phương ngôn: “Người trong một nước phải thương nhau cùng” (tội nặng chưa!).

Lại xét rằng: Trong các buổi diễn thuyết họ đã nói đến vấn đề mở mang trí tuệ, họ đã bàn đến những nhu cầu đời sống vǎn minh, đến việc giảm bớt những hội hè đình đám vô ích, đến lợi ích học hành, họ lại còn khêu gợi cho người nghe ý thức về chủ quyền của nhân dân và trình bày điều đó như là một nguyên lý cơ bản (của cái gì?) và gây cho mọi người ý nghĩ khinh bỉ (khinh bỉ ai?).
Xét rằng: Nếu không trừng phạt nghiêm khắc những hoạt động ấy theo đúng pháp luật, thì nhân dân không khỏi bị lôi cuốn theo những gương xấu như vậy.

Chiếu chỉ, xử tên A, B và C tử hình án treo cổ, xử đánh D và F 100 trượng (chỉ có thế thôi à!) và đày chúng biệt xứ đi xa 1.500 kilômét khỏi nước An Nam (chúng ta cần chú ý là những bị cáo không được phép tự bào chữa và họ hoàn toàn không hề biết gì cả về những lời buộc tội lẫn bản án).

Như vậy chỉ vì họ là những nhà vǎn thân danh tiếng, họ đã lập hội và diễn thuyết, họ đã ǎn mặc Âu phục và cắt tóc ngắn, họ đã công kích những việc phù phiếm, hô hào đồng bào của họ thương yêu nhau, và họ đã nói đến dân quyền mà những người An Nam ấy đã bị xử tử hình và bị đày đi biệt xứ.

Công lý nước Pháp ở Đông Dương là như thế đấy!

cpv.org.vn

Thư gửi Tổng thống Mỹ (18-6-1919)

Pari, ngày 18-6-1919

Kính gửi Ngài Tổng thống Cộng hoà Hợp chủng quốc,

Đại biểu ở Hội nghị Hoà bình.

Thưa Ngài,

Nhân dịp chiến thắng của Đồng minh, chúng tôi xin mạn phép gửi đến Ngài, kèm theo đây bản ghi các yêu sách của nhân dân An Nam.

Tin tưởng ở độ lượng cao cả của Ngài, chúng tôi mong Ngài ủng hộ trước những người có thẩm quyền.

Xin Ngài vui lòng nhận sự biểu thị lòng kính trọng sâu sắc của chúng tôi.

Thay mặt nhóm những người yêu nước An Nam
NGUYỄN ÁI QUỐC
56, phố Mơxiơ Lơ Pranhxơ, Pari

————————-

Thư đánh máy, tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Việt Nam yêu cầu ca

“Rằng nay gặp hội Giao hoà,
Muôn dân hèn yếu gần xa vui tình.
Cậy rằng các nước Đồng minh,
Đem gương công lý giết hình dã man.
Mấy phen công bố rõ ràng,
Dân nào rồi cũng được trang bình quyền.
Việt Nam xưa cũng oai thiêng,
Mà nay đứng dưới thuộc quyền Lang Sa.
Lòng thành tỏ nỗi sút sa,
Giám xin đại quốc soi qua chút nào.
Một xin tha kẻ đồng bào,
Vì chưng chính trị mắc vào tù giam.
Hai xin phép luật sửa sang,
Người Tây người Việt hai phương cùng đồng.
Những toà đặc biệt bất công,
Giám xin bỏ dứt rộng dung dân lành.
Ba xin rộng phép học hành,
Mở mang kỹ nghệ, lập thành công thương.
Bốn xin được phép hội hàng,
Nǎm xin nghĩ ngợi nói bàn tự do.
Sáu xin được phép lịch du,
Bốn phương mặc sức, nǎm châu mặc tình
Bảy xin hiến pháp ban hành,
Trǎm đều phải có thần linh pháp quyền
Tám xin được cử nghị viên,
Qua Tây thay mặt giữ quyền thổ dân.
Tám điều cạn tỏ xa gần,
Chứng nhờ vạn quốc công dân xét tình.
Riêng nhờ dân Pháp công bình,
Đem lòng đoái lại của mình trong tay.
Pháp dân nức tiếng xưa nay,
Đồng bào, bác ái sánh tầy không ai!
Nỡ nào ngảnh mặt ngơ tai,
Để cho mấy ức triệu người bơ vơ.
Dân Nam một dạ ước mơ,
Lâu nay từng núp bóng cờ tự do.
Rộng xin dân Pháp xét cho,
Trong phò tiếng nước, sau phò lẽ công.
Dịch mấy chữ quốc âm bày tỏ.
Để đồng bào lớn nhỏ được hay.
Hoà bình may gặp hội này,
Tôn sùng công lý, đoạ đày dã man.
Nay gặp hội khải hoàn hỉ hả,
Tiếng vui mừng khắp cả đồng – dân.
Tây vui chắc đã mười phần,
Lẽ nào Nam lại chịu thân tôi đòi.
Hẵng mở mắt mà soi cho rõ.
Nào Ai Lan, ấn Độ, Cao Ly,
Xưa, hèn phải bước suy vi,
Nay, gần độc lập cũng vì dân khôn
Hai mươi triệu quốc hồn Nam Việt
Thế cuộc này phải biết mà lo.
Đồng bào, bình đẳng, tự do,
Xét mình rồi lại đem so mấy người.
Ngổn ngang lời vắn ý dài,
Anh em đã thấu lòng này cho chưa.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Tài liệu viết tay, tiếng Việt,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Báo cáo – dự thảo(20-11-1921)

Pari, ngày 20-11-1921

Tiểu ban Đông Dương thuộc Pháp trong Ban nghiên cứu thuộc địa (60) của Đảng Cộng sản được giao trách nhiệm phát biểu ý kiến về hoạt động cần tiến hành ở Viễn Đông nhằm tạo ra và phát triển một phong trào cộng sản cách mạng, xin trình bày:

1. Tiểu ban bác bỏ mọi kiến nghị về kinh tế hoặc chính trị nhằm cải thiện, cải cách hoặc đạt một tiến bộ nào đó, điều này, trong chế độ tư bản, chỉ phục vụ chính quyền hiện nay và giúp vào sự củng cố nó.

2. Nhận thấy rằng các giai cấp thống trị coi các thuộc địa Pháp không chỉ là một kho vô tận nguyên liệu, người bản xứ thuần tuý là những con vật kéo nặng sản xuất ra những thứ đó, mà bọn kẻ thù giai cấp của chúng ta còn coi những nước hải ngoại đó là nguồn cung cấp những đội quân phản cách mạng.

Do đó, công tác tuyên truyền cách mạng và chống quân phiệt cần được tiến hành dưới sự lãnh đạo và đôn đốc của Đảng, trong tất cả các thuộc địa của Pháp và xứ gọi là bảo hộ.

Công tác tuyên truyền này thực hiện:

a) Bằng các báo chí xuất bản ở Pháp.

b) Bằng diễn đàn của các Đại hội của chúng ta và khi cần, bằng diễn đàn của nghị viện.

c) Bằng các hội nghị.

d) Bằng mọi phương thức thích hợp với đối tượng, với trình độ giáo dục và vǎn minh của quần chúng bản xứ ở các thuộc địa.

Bản trình bày sơ lược trên đây chỉ là một thông báo bước đầu. Ban nghiên cứu thuộc địa của phân bộ Pháp của Quốc tế Cộng sản cho rằng việc nghiên cứu các vấn đề thuộc địa từ nay về sau phải là bộ phận không tách rời các đề cương đưa lên Quốc tế Cộng sản, vì cách mạng cộng sản chủ nghĩa không chỉ có mục đích ở châu Âu mà còn ở toàn thế giới. Vì vậy, không được để một nơi nào trên thế giới, do cẩu thả hoặc không am hiểu vấn đề, lọt ra ngoài những hoạt động có ích cho mục đích cách mạng cộng sản chủ nghĩa.

In trong sách: Hồ Chí Minh,
Những bài viết 1914 – 1969,
do Alain Ruscio biên soạn, Pari, 1990, tr.40 – 41.

cpv.org.vn

Vùng lên đáp lời sông núi

QĐND – Ngày 19-12-1946, khi Hồ Chủ tịch ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, họ là những người trẻ tuổi, nhiệt huyết đã đứng lên đáp lời sông núi, tham gia vào các hoạt động cách mạng ở địa phương. Giờ đây, khi đã ở tuổi “xưa nay hiếm”, những nhân chứng sống ấy đã nhớ lại không khí sục sôi kháng chiến của các tầng lớp nhân dân vào ngày này, 65 năm trước…

* Đại tá Nguyễn Trọng Hàm, Trưởng ban liên lạc Chiến sĩ quyết tử Liên khu I, Trung đoàn Thủ Đô:

Tôi là người sinh ra, lớn lên ở phố Hàng Thiếc (Hà Nội) và tham gia chống Nhật, Pháp từ những ngày tiền khởi nghĩa. Thời điểm Bác Hồ phát động Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, tôi đang là Đại đội trưởng Đại đội Tự vệ phố Hàng Thiếc và trực tiếp chiến đấu cùng quân dân Thủ đô trong 60 ngày đêm quyết tử. Ngày ấy, Đại đội Tự vệ phố Hàng Thiếc gồm hơn 120 chiến sĩ đã cùng nhân dân tổ chức đào giao thông hào, rải chướng ngại vật, đục thông từ nhà nọ sang nhà kia tạo thành “trận đồ bát quái” để cản bước và đánh trả quân Pháp.

Thật cảm phục ý chí chiến đấu của người dân Hà Nội khi có nhiều tài sản, vật dụng trong gia đình như bàn, ghế, tủ, giường và cả bàn thờ đã được họ vứt xuống đường để ngăn bước quân thù. Với những vũ khí thô sơ như: súng trường, súng ngắn, mã tấu, giáo mác… nhiều công nhân, thợ thủ công từ nơi khác tới làm thuê trong các lò thủ công cũng đã tự nguyện đứng vào hàng ngũ chiến đấu cùng các hộ gia đình. Trong những trận đánh quyết tử ấy, chúng tôi đã phá hủy 2 xe tăng, diệt 20 tên địch, trận địa phố Hàng Thiếc cùng các tuyến phố: Bát Đàn, Hàng Bồ, Thuốc Bắc đã được giữ vững cho đến đêm 17-2-1947, khi chúng tôi nhận lệnh rút quân khỏi Thủ đô để bảo toàn lực lượng.

* Đại tá Kim Sơn (tức Nguyễn Hữu Văn), nguyên Đội viên Đội tuyên truyền Thiếu sinh quân Chiến khu I-Liên khu 10:

Khi tiếng súng Toàn quốc kháng chiến nổ ra, tôi mới 16 tuổi và là đội viên Đội Tuyên truyền Thiếu sinh quân Chiến khu I. Đội gồm 20 người, ngoài một số người lớn tuổi, còn lại đều trong độ tuổi thiếu niên từng tham gia làm liên lạc và tiếp tế cho cán bộ cách mạng hoạt động trong thời kỳ tiền khởi nghĩa… Tôi còn nhớ khi Đội chuyển sang đóng quân ở Việt Trì, chúng tôi đã có các cuộc diễu hành trên đường phố, hô vang các khẩu hiệu động viên, cổ vũ cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta.

Chúng tôi còn thâm nhập vào các gia đình thăm hỏi, nói chuyện, tổ chức mít tinh, diễn thuyết ở các phiên chợ, kẻ khẩu hiệu, vẽ chân dung Hồ Chủ tịch, vẽ tranh cổ động cỡ lớn trên các bức tường và biểu diễn văn nghệ… Trong lần hành quân lên Mường Khương, Lào Cai, chúng tôi đã đụng phải lực lượng phỉ do “lãnh chúa” Hoàng La Ú cầm đầu. Khi nhận được tin báo “có một đơn vị bộ đội Việt Minh đang tiến lên”, Hoàng La Ú đã bí mật điều hàng trăm quân xuống phục kích ở một đoạn đường hiểm trở, song khi nhìn thấy đội quân Việt Minh này phần lớn còn nhỏ tuổi, lại có rất nhiều kèn, trống, vừa đi vừa hò hát, không có vẻ gì là “hành quân chiến đấu”… nên họ đã không nổ súng. Qua nhiều cuộc đấu trí, thử thách căng thẳng, bằng thái độ khéo léo và hành động cụ thể, chúng tôi đã thuyết phục được Hoàng La Ú đoàn kết, hợp tác để cùng đánh Pháp và xây dựng chế độ mới.

* Trung tướng Nguyễn Ân, nguyên Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân I (nay là Đại học Trần Quốc Tuấn):

Trước khi Hồ Chủ tịch ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến một ngày, Liên khu I chỉ thị cho tỉnh Bắc Giang và huyện Yên Thế tổ chức ngay một Đội quyết tử quân. Huyện Yên Thế đã lấy Đội tự vệ chiến đấu ở xã Bố Hạ gồm 60 đồng chí do tôi phụ trách làm nhiệm vụ này. Đội đã tập trung lên Cao Thượng – nơi cơ quan Liên khu I đóng quân và chiều 19-12-1946 chúng tôi đã xuống thị xã Bắc Giang phối hợp cùng Tiểu đoàn 517 – Trung đoàn 36 tiến công vào khu vực sân vận động của tỉnh.

Đêm hôm sau, Đội quyết tử đã đột nhập vào dãy nhà câu lạc bộ của sân vận động do quân Pháp chiếm đóng. Đúng 0 giờ 21-12-1946, chúng tôi nổ súng tiến công địch. Trận đánh diễn ra đến rạng sáng thì ta chiếm được một số căn nhà và dồn quân địch về khu đông nam. Địch phản kích liên tục và cuộc chiến đấu giằng co đến hết ngày 21-12. Ngay đêm hôm ấy, chúng tôi bàn giao khu vực phía tây bắc cho Tiểu đoàn 517 rồi rút xuống phía nam cầu Bắc Giang và tổ chức phòng ngự ở phố Đò, chặn quân địch từ Bắc Ninh lên tiếp viện cho đồng bọn.

* Trung tướng Tiêu Văn Mẫn, nguyên Phó Tư lệnh về chính trị Quân khu 5:

Thời điểm phát Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến 65 năm trước, tôi đang làm liên lạc cho xã đội Hành Minh (huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi). Vốn là những thiếu niên ở độ tuổi 12-13 từng phải đi ở cho phú nông nên chúng tôi đã sớm được giác ngộ cách mạng và tham gia vào các hoạt động như: làm liên lạc, chuyển thư tín, công văn, giấy tờ cho Việt Minh…

Hồi đó, nhà tôi chỉ có hai anh em, tôi là lao động chính trong gia đình, nhưng khí thế sục sôi của quần chúng nhân dân đã “cuốn” những cậu bé đang ở tuổi chăn trâu cắt cỏ vào tham gia phục vụ cách mạng. Không chỉ nhà tôi mà rất đông con em ở độ tuổi thiếu niên trong các gia đình cũng nhiệt tình tham gia xuống đường, giương cao biểu ngữ và hô to những khẩu hiệu: “Đả đảo thực dân Pháp”, “Quyết hy sinh tới giọt máu cuối cùng”… Đáp Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, sau những tháng ngày hoạt động cách mạng ở quê hương Hành Minh, một ngày đầu năm 1951, tôi đã rủ người bạn cùng xóm tên là Nguyễn Văn Sĩ cùng ba thanh niên trong xã cuốc bộ cả ngày lẫn đêm từ Nghĩa Hành tới Đức Phổ để xin nhập ngũ vào Trung đoàn 40. Kể từ đây, cuộc đời cách mạng của tôi đã chuyển sang bước ngoặt mới và sau đó là quãng thời gian hơn 40 năm quân ngũ…

* Họa sĩ Phan Minh Thiên, phường An Bình, Biên Hòa, Đồng Nai:

Ngày Toàn quốc kháng chiến, tôi còn là một thiếu niên và vẫn nhớ cách nhà khoảng 5km có hai đồn lính Pháp ở các huyện: Hương Sơn và Đức Thọ (Hà Tĩnh). Chừng khoảng một tháng sau Ngày Toàn quốc kháng chiến, đàn ông, trai tráng trong xã tôi đã chuẩn bị cho cuộc tiến công đánh đồn địch, cướp kho thóc ở Nầm, thuộc huyện Hương Sơn. Mọi công việc được cha tôi và người làng triển khai hết sức khẩn trương, bí mật.

Một hôm, khoảng 2 giờ sáng, tôi tỉnh giấc thì thấy cha xách một cây mác và một cái câu liêm đi ra khỏi nhà. Tôi mặc vội áo rồi chạy theo cha, cha đưa cho tôi vác cây câu liêm. Mọi người tập trung ở xóm Hầu rồi kéo nhau theo con đường men theo chân núi Mồng Gà đi lên Nầm, được một quãng thì nhập vào đoàn người đã túc trực sẵn ở xóm Pheo, bí mật “hành quân” hướng đồn Pháp thẳng tiến. Cuộc “hùng binh” này do ông Sua (dân làng ngày đó gọi là cố Sua) chỉ huy. Đoàn quân nông dân kéo đến gần đồn địch thì bị giặc Pháp dùng súng bắn xối xả làm một số người trong đoàn bị trúng đạn. Đêm hôm sau, Pháp cho một nhóm lính cưỡi ngựa chạy thẳng xuống xóm Hầu tìm đến nhà cố Sua châm lửa đốt. Bà con vừa chạy đến dập lửa, vừa hét: “Pháp đốt nhà cố Sua! Bà con ơi!” rồi tổ chức vây bắt khiến bọn giặc phải phi ngựa chạy trốn. Từ đó, ngọn lửa thiêu rụi nhà cố Sua đã thổi bùng ý chí chống giặc Pháp của người dân quê tôi.

* Má Nguyễn Thị Mười (Mười Riều), thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu:

Năm 1945, khi “ông xã” tôi tham gia cách mạng, tôi đã đòi tham gia cùng. Chồng tôi không chịu nên tôi làm bộ giận, bảo: “Đừng tưởng tôi đàn bà con gái mà coi thường nghen, để tôi đi đánh Pháp cho ông coi”. Vậy là ổng chịu để tôi tham gia làm giao liên, xây dựng cơ sở cho Việt Minh.

Má Mười Riều (thứ hai từ trái sang) tại Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày mở Đường Hồ Chí Minh trên biển tổ chức tại TP Hồ Chí Minh.

Cuối năm 1946, khi Bác Hồ ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, chồng tôi được giao làm Xã đội trưởng xã Bình Châu, huyện Xuyên Mộc, một thời gian sau thì kiêm thêm chức Bí thư chi bộ xã. Do bị Pháp đánh hơi, lùng sục nên Việt Minh ở Bà Rịa phải rút vào hoạt động bí mật, xây dựng căn cứ sâu trong rừng. Trong vai người đi buôn, tôi thường xuyên qua lại các căn cứ, vừa làm giao liên, vừa vận động bà con góp gạo nuôi bộ đội. Có giai đoạn mất mùa, tôi cùng nhiều người khác phải vào rừng đào củ mài lấy cái ăn và làm nguồn lương thực cho Việt Minh. Khi danh tính của chồng tôi bị lộ, Pháp truy lùng ông rất dữ. Ở nhà, tôi vừa nuôi con, vừa lo việc xây dựng cơ sở, lo hậu cần tiếp tế cho đơn vị của chồng rồi đào hầm trong nhà giấu vũ khí cho Việt Minh. Giờ tôi đã 92 tuổi rồi, nhưng những ngày đầu tham gia kháng chiến thì vẫn còn nhớ rõ vì đó là giai đoạn quyết định cuộc đời và gia đình tôi sau này.

Minh Tuệ – Tùng Sơn -Trung Nguyên (thực hiện)
qdnd.vn

Tình bạn giữa Bác Hồ và người bạn Pháp – Raymond Aubrac

Với nhân dân Việt Nam, ông Aubrac được biết đến qua mối quan hệ thân thiết với Chủ tịch Hồ Chí Minh và những đóng góp của ông với hòa bình của Việt Nam

ban BH a1Ông Raymond Aubrac

Ông Aubrac sinh ngày 31/7/1914 trong một gia đình người Do Thái tại Vesoul, Pháp. Ông có tên thật là Raymond Samuel.

Ông Aubrac là người đồng sáng lập phong trào “Giải phóng miền Nam” của Pháp và là một trong những lãnh đạo cuối cùng của phong trào Kháng chiến thống nhất, đã sát cánh bên nhà đấu tranh nổi tiếng Jean Moulin.

Với nhân dân Việt Nam, ông Aubrac được biết đến qua mối quan hệ thân thiết với Chủ tịch Hồ Chí Minh và những đóng góp của ông với hòa bình của Việt Nam, trong các cuộc chiến tranh bảo vệ độc lập và thống nhất đất nước của Việt Nam.

Tình bạn lớn giữa nhà cách mạng Pháp và Hồ Chủ tịch.

Năm 1946, sau cuộc đàm phán với Pháp không kết quả, nhận lời mời của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sang thăm Pháp với danh nghĩa Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủcộng hoà từ giữa tháng 6 đến giữa tháng 9 năm 1946.

ban BH a2Bác Hồ và gia đình ông Raymond Aubrac những ngày ở Pháp

Thời gian Bác thăm Pháp lâu, vì ở Pháp lúc đó có cuộc bầu cử Quốc hội và phải thay đổi Chính phủ. Cũng trong khoảng thời gian này ở Pháp có Hội nghị Phông-ten-nơ-blô giữa Pháp và Việt Nam. Đoàn Việt Nam do Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó cũng ở Pa-ri, nhưng không tham gia Đoàn Việt Nam ở Hội nghị. Sau khi Hội nghị Phông-ten-nơ-blô kết thúc, Đoàn đại biểu Việt Nam về nước, còn Bác ở lại để cùng với Marius Moutet, Bộ trưởng Bộ Hải ngoại, đại diện Chính phủ Pháp ký bản Tạm ước với hy vọng cứu vãn hoà bình. Ngày 19-9-1946, Bác lên tàu ở cảng Tu-lu, trở về nước.

Ngày 27-7-1946, Việt kiều ở Pháp đã tổ chức một cuộc chiêu đãi tại Vườn Hồng Bagatelle ở Pa-ri để chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông Raymond Aubrac có mặt trong buổi chiêu đãi. Sau đó, ông mời Bác về ở nhà mình, ở ngoại ô Pa-ri.

Bác đến ở nhà ông Raymond Aubrac 6 tuần, từ đầu tháng 8 đến giữa tháng 9 năm 1946. Nhà ở Soissy-sous-Monmorency, phía Bắc Pa-ri đi khoảng 20 phút xe hơi. Nhà được xây dựng từ thế kỷ 18, để làm nhà nghỉ cho một gia đình quý tộc.

ban BH a3Hồ Chủ tịch, bà Lucia Aubrac và người con gái Elisabeth Aubrac
của gia đình ông Aubrac đã nhận Bác làm cha đỡ đầu.

Xung quanh nhà có vườn rộng, cách đường cái một bức tường có hàng cây dẻ và một vài cây anh đào. Trong vườn có mấy cụm hoa lớn, còn lại là thảm cỏ. Nhà có ba tầng với một tầng hầm và một tầng sát mái. Lúc đó gia đình ông Aubrac có hai vợ chồng, hai con nhỏ, bà mẹ vợ và một người giúp việc.

Trong thời gian ở cùng gia đình, lúc đầu bà Aubrac và mẹ bà nấu cho Bác ăn. Nhưng sau này thấy bận và Bác có nhiều khách, nên anh em đã cử ông Ty, một Việt kiều yêu nước đến nấu ăn cho Bác. Ông Ty có một cửa hàng ăn ở khu sinh viên Quartier la-ting, nhưng ông đã đóng cửa, đến phục vụ Bác.

Mỗi buổi sáng người nhà ông Aubrac mang đến cho Bác sách báo tiếng Pháp và báo chí tiếng Anh, Đức, Nga… Bác thường đọc báo ngay trên thảm cỏ.

Hàng ngày Bác cũng tiếp khách ở ngoài vườn. Chính phủ Pháp dành cho Bác một tầng trong một ngôi nhà lớn ở gần Khải hoàn môn, nhưng Bác thường không vào Paris tiếp khách, mà mời về nhà ông Aubrac…

Đoàn đại biểu của ta tại Hội nghị Fontainebleau ngày nào cũng đến làm việc với Bác. Ở đây Bác tiếp và chiêu đãi nhiều nhân vật thuộc các khuynh hướng chính trị khác nhau, các nhà văn, nhà báo…

Ông Aubrac kể lại rằng cuối tháng 7, nhân ngày sinh của ông, Bác đã tặng ông một bức tranh của họa sĩ Vũ Cao Đàm, một trí thức Việt kiều yêu nước.

Bức tranh tả một bà mẹ mới sinh con, đang vươn cánh tay dài với những ngón tay mảnh dẻ vuốt đầu cháu bé. Ít lâu sau, bà Aubrac sinh cháu Elisabeth. Bác đã đến Nhà Hộ sinh Port – Royal ở Paris thăm, tặng hoa và nhận là người đỡ đầu. Từ đó trở đi, năm nào đến ngày sinh của cháu Babette, Bác cũng đều gửi quà mừng.

ban BH a4Ông Aubrac gặp gỡ Đại tướng Võ Nguyên Giáp
trong chuyến thăm Việt Nam năm 2007

Ông bà Aubrac tuy không phải là đảng viên cộng sản nhưng là những người tiến bộ, yêu nước, tích cực tham gia cuộc kháng chiến của nhân dân Pháp chống phát xít.

Ông bà chịu ảnh hưởng của những người cộng sản, thời đó gọi là những người “bạn đồng hành” của những đảng viên cộng sản, là những người luôn đứng về phái công lý.

Hai ông bà là những chiến sĩ kiên cường trong kháng chiến chống phát xít Đức, bí mật tham gia kháng chiến ở Li-ông. Ông góp phần thành lập Bộ Tham mưu quân đội bí mật.

Bố mẹ ông Aubrac cũng bị phát xít Đức giết chết. Ông bị phát xít Đức bắt, ngày 15-6-1943 được lực lượng kháng chiến cứu thoát. Ngày 21-6-1943, ông bị Gét-xta-po bắt và đưa đi xử bắn. Bà Lucie đã tổ chức một cuộc tập kích giải thoát cho chồng. Bị lộ, hai vợ chồng theo Tướng Đờ-gôn sang Anh.

Ông Aubrac kể khi ông làm đại diện Chính phủ Pháp tại Mác-xây năm 1944-1945, ở đó có rất nhiều lính thợ Việt Nam được Chính phủ Pháp tuyển mộ sang Pháp từ năm 1939 để thay thế cho thanh niên Pháp nhập ngũ.

Phát hiện ra tại các trại này anh em bị bọn côn đồ đàn áp, ông đã giải tán Ban Chỉ huy, thay bằng những người tốt và cho anh em tự bầu ra một Ban Tư vấn bên cạnh Ban Chỉ huy. Từ đó anh em biết ơn ông và năm nào đến dịp lễ, Tết đều mời ông dự.

Ông cho rằng cũng vì vậy mà ông được mời dự cuộc chiêu đãi ở Bagatelle và được giới thiệu với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sau chiến tranh, ông trở thành anh hùng kháng chiến, được cử làm đại diện Chính phủ Pháp tại Mác-xây, rồi về làm việc ở Bộ Xây dựng. Ông là kỹ sư công chính. Còn bà Aubrac được cử làm đại biểu Hội đồng Tư vấn, một nhân chứng lịch sử đấu tranh giải phóng. Sau đó, bà làm giáo viên của Trường Trung học Enghien.

Hai ông bà đều có quan hệ gắn bó với Bác Hồ và Việt Nam trong nhiều thập kỷ. Ông thường nói ngày được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh 27-7-1946 đã đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời ông, cho tận đến bây giờ, một giai đoạn gắn bó với đất nước Việt Nam.

Sau năm 1946, ông Aubrac đã gặp Bác hai lần. Một lần vào năm 1955, ở Bắc Kinh, khi Bác đang thăm Trung Quốc. Bác đã mời ông ăn sáng và mời sang Hà Nội, gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng, để giúp giải quyết vấn đề buôn bán giữa Việt Nam và Pháp. Ông đi xe lửa từ Bắc Kinh đến Lạng Sơn, sau đó đi xe Jeep đến Hà Nội. Ông ở Việt Nam khoảng nửa tháng, đi thăm Hà Nội và vịnh Hạ Long.

Lần thứ hai, năm 1967, ông cùng Viện trưởng Viện Pasteur Herbrt Marcovitch sang để trao đổi về tình hình Việt Nam. Bác cùng Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp ông tại Nhà sàn, Hà Nội. Sau 12 năm xa cách, ông được gặp Bác. Đây cũng là lần cuối cùng.

Ông viết cuốn sách “Où s’ attarde la mémoire” (Những gì để nhớ), xuất bản năm 1946, trong đó kể lại những kỷ niệm gắn bó với cuộc đời của ông. Bác Hồ và Việt Nam đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng vợ chồng Raymond Aubrac. Ông bà đã trở thành những người bạn thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam.

Ngày 14-3-2007, bà Aubrac qua đời, tại Pa-ri, thọ 95 tuổi. Lễ Truy điệu bà được tổ chức trọng thể tại Cung Invalides với sự có mặt của Tổng thống Pháp Jacques Chirac. Đài Truyền hình Pháp đã dành hai buổi chiếu cuốn phim về đời hoạt động của bà. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã gửi điện chia buồn.

Theo giaoduc.net
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn