Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Nhật ký Điện Biên Phủ

QĐND – Đoạn Nhật ký sau đây của Bi-gia, sĩ quan dù (Pháp) ở Điện Biên Phủ được trích trong cuốn sách “Cuộc chiến tranh Đông Dương của tôi”, NXB Pháp Hachetle, 1994. Đầu bài do chúng tôi đặt. Bi-gia sau này là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Pháp, từng tháp tùng Tổng thống Mít-tơ-răng thăm Việt Nam năm 1994.

… Ngày 19-11-1953: Brát-sơ – sĩ quan và tôi được gọi đến Sở chỉ huy lục quân Bắc Việt. Tướng Bô Đê phụ tá của Na-va lệnh cho chúng tôi nhảy dù xuống Điện Biên Phủ. “Chẳng có vấn đề gì. Nếu vấp phải sự phản công mạnh mẽ thì rút sang Lào”.

7 giờ sáng trong ngày, tôi và các sĩ quan: Lê-pa-giơ Tráp, Ma-gi-clat, Oai-đơ, Buốc Goa, Ale… đã có mặt ở sân bay Cát Bi. 8 giờ 30 phút, lệnh xuất phát. 9 giờ máy bay Đa-cô-ta cất cánh. Gió mạnh. Một số người đang bị ốm. Sau 300 ki-lô-mét bay, 10 giờ chúng tôi đã nhảy xuống Điện Biên. Tôi nghe tiếng rít của đạn bắn bên tai. Quân Việt đã có mặt? Các đại đội dù đã không tập trung được đúng như quy định. Với 800 quân, tôi có cảm tưởng như đã mất một nửa…

13 giờ 30 phút, chúng tôi bắt đầu một cuộc tấn công với sự yểm trợ của máy bay, cối 81mm. Cuộc chiến đấu diễn ra trong 2 giờ. Quân Việt đã phải lùi ra xa…

Sầm Sơn – Thanh Hóa, tháng 9-1954. Trao trả tù binh Pháp. Tù binh Pháp mặc quân phục Quân đội nhân dân Việt Nam, mang khẩu hiệu “Tình hữu nghị giữa các dân tộc muôn năm”.

… Sáng ngày 5-1-1954: Một cuộc thăm dò sang phía Tây. Quân Việt bắn dữ dội. 20 người của chúng ta bị loại ra vòng chiến đấu. Vấn đề đã rõ: Quân Việt đã ở phía Bắc, phía Nam, đang bao vây quân Pháp. Đông và Tây cũng bị chiếm rồi. Thăm dò phía nào cũng đụng độ với quân Việt. Tôi liên tục gọi đến tướng không quân Phrăng Ki: “Tướng quân có thể yểm trợ, tăng cường không quân cho chúng tôi?”. Câu trả lời là: “Chưa phải lúc. Hãy đứng vững!”.

Cuối tháng 2-1954: Trong 2 tháng tướng Giáp tăng cường lực lượng xung quanh lòng chảo Điện Biên Phủ. Ông ấy biết rằng quân Pháp không thể thoát ra khỏi nơi đây. Quân Việt đã ở quá gần. Bộ Tham mưu Pháp lại không hiểu điều này và đã bị cài vào bẫy mà tướng Giáp đã bày ra.

Tôi được tướng Cô-nhi giao nhiệm vụ trở về Hà Nội, gặp Trung tá Bru-nê ở sân bay Cát Bi, Hải Phòng, đảm bảo việc tiếp tế cho Điện Biên Phủ. “Điện Biên Phủ không giữ được nếu không có không quân tiếp tế. 140.000 người trong khu vực này, tương đương 5 sư đoàn, chỉ có thể trông chờ vào không quân. Chắc chắn là quân Việt sẽ phá hủy số lớn máy bay trên mặt đất.

… Đêm 12, 13-3: Tôi được tin quân Việt đã mở màn cuộc tấn công. Các tướng lĩnh Pháp hy vọng sẽ đập tan quân Việt của tướng Giáp trong lòng chảo này. “Thật là sai lầm”…

Trung tá Bi-gia (người đầu tiên từ trái sang), trong thời gian ở trại tù binh tháng 9-1954.

… Ngày 15-3: Cô-nhi nói với tôi: “Tình hình trở nên xấu rồi. Hai cứ điểm Ga-bri-en và Bê-a-trít (Him Lam) đã mất. Hai tiểu đoàn bị tiêu diệt, pháo binh ta bị vô hiệu hóa. Ngày mai, anh lại nhảy xuống Điện Biên?

16-3: Tôi đã có mặt ở Điện Biên Phủ. Mây đen trên trời, pháo binh Việt bắn dữ dội… Tôi gặp Trung tá La-lăng, đầu đội mũ sắt, trong sở chỉ huy. Đêm 13 chỉ huy Bê-a-trít (Him Lam) đã chết trong hầm vì đạn pháo. Chẳng ai tin là quân Việt lại có trọng pháo. Nếu quân Việt tấn công, cứ điểm sẽ không giữ được.

25-3: Đã 9 ngày tôi ở đây. Đờ Cát-xtơ-ri gọi tôi đến Sở chỉ huy: “Bi-gia này, Hà Nội yêu cầu bảo đảm phía tây cho quân nhảy dù. Cậu có toàn quyền làm sao cho pháo phòng không của quân Việt im đi”…

6 giờ sáng ngày 26-3: Tập trung cao độ pháo binh Pháp bắn vào các cứ điểm quân Việt. Tiểu đoàn dù 6 và 8 lao vào cuộc chiến. Đến 15 giờ phía Pháp mất 20 người, trong đó có 2 sĩ quan, 70 bị thương, 2 xe tăng bị phá hủy.

Ngày 30-3: Cuộc chiến đấu để chiếm đóng 5 đồi còn lại bắt đầu. Cuối ngày, 3 ngọn đồi đã mất. 8 giờ sáng 31-3, mất 2 đồi nữa. Ê-li-an 2 (đồi A1-NV) còn trụ được”. 15 giờ trong ngày, Hà Nội điện “Không có quân tiếp viện”. Bọn “xà lù”(1) chúng nó muốn để chúng tôi gục ngã.

20 giờ ngày 5-4: Quán triệt tiếp tục tấn công. 4 tiểu đoàn Việt bắn dữ dội vào 100 lính lê dương. Trong số 12 nghìn người ở Điện Biên Phủ, có lẽ chỉ còn không đủ 3000 người tiếp tục chiến đấu. Số còn lại, bị chết, bị thương. Rất nhiều lính bỏ trốn, chui trong hầm hào chờ đêm xuống đi cướp dù thả thức ăn. Những “con chuột” của sông Nậm Rốm!

Bi-gia bên cột ki-lô-mét “Đ. Biên 0km” – tháng 6-1994.

Ngày 10-4: Đến ngày này tôi vẫn còn hy vọng đứng được thêm 1 ngày, 1 ngày nữa. Họ không thể để chúng tôi ngã quỵ. Người Mỹ sẽ đến. Họ sẽ ném bom xuống quân Việt…

15-4: Đờ Cát-xtơ-ri được thăng cấp tướng. Lăng-le, La-lăng đại tá, tôi trung tá… Hà Nội biết chúng tôi không thể thoát nên trấn an chúng tôi. Lăng-le nhiều giờ đã kêu nài cấp trên: “Gửi thêm quân cho chúng tôi. Đừng để chúng tôi chết”. Mỗi đêm, cũng có được vài người lính. Họ còn chưa đến 20 tuổi, là quân tình nguyện. Chúng tôi như một cây nến mà người ta để cho cháy tàn lụi. Điện Biên Phủ chỉ có 12 nghìn quân sĩ, toàn Đông Dương có số quân gấp 20 lần. Vấn đề là ở chỗ, trên chiến trường Điện Biên Phủ đều có mặt tất cả những đơn vị thiện chiến… Nếu chúng tôi sụp đổ, sẽ là một thảm họa.

25-4: Chúng tôi thiếu thốn mọi thứ, và trước hết không có quân số bổ sung, tại một số cứ điểm chẳng còn gì. Người ta phải cân nhắc khi ném một quả lựu đạn. Và phải đếm xem còn bao nhiêu đạn. Chúng tôi chỉ còn một nhúm người…

Ngày 7-5, ngày cuối cùng: 57 ngày chống cự ròng rã. Một ảo giác kỳ lạ! Chẳng còn gì sót lại, chỉ còn vài con ma. Bệnh viện đầy ắp thương binh, người chết. Không còn một cứ điểm nào tồn tại. Tôi như người bị bóng đè. Trước đó, chúng tôi cũng dự định một cuộc tháo chạy. Hai đội hình, một lính dù, một lê dương. Nhưng các sĩ quan đều nói là không làm được, binh sĩ không còn sức để đi bộ dù là vài ki-lô-mét.

12 giờ trưa ngày 7-5: Đờ Cát-xtơ-ri báo cho chúng tôi biết Hà Nội ra lệnh ngừng bắn. Chúng tôi không có cờ trắng. 17 giờ, Lăng-le đốt chiếc bê-rê đỏ của mình, đội lên đầu một cái mũ chết người ngự trị trên chiến hào… 18 giờ, quân Việt kia kìa, hàng nghìn, hàng nghìn ngập trong các chiến hào. Quân Việt đưa chúng tôi ra ngoài sở chỉ huy. Một lá cờ đỏ sao vàng được cắm trên hầm chỉ huy của Đờ Cát-xtơ-ri. Họ đã thắng. Chúng ta đã thua. Tôi không bao giờ tin rằng điều ấy sẽ xảy ra. Người ta đã bỏ rơi chúng tôi. Hàng nghìn tù binh, tiểu đoàn dù của tôi với 800 người nay chỉ còn không đủ 40. Số còn lại đã chết, mất tích. Họ đã chiến đấu chẳng vì điều gì cả.

18-6-1954: Tất cả tù binh Pháp được tập hợp trên bờ một con suối. Tướng Đờ Cát-xtơ-ri dẫn đầu, rồi đến các sĩ quan, binh lính “diễu hành” để một người quay phim Xô viết lia máy. Chúng tôi ra đi 12.000 người, còn lại 4000…

Cuối tháng 7-1954: Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết. Hết chiến tranh. Một hôm, trại trưởng tù binh mời chúng tôi lên trao đổi về các cuộc chiến đấu.

Cuối tháng 8: Chúng tôi rời trại giam.

Ngày 4-9-1954: Được trả tự do. Phía Việt tổ chức một “tiệc liên hoan”, có cơm, rượu, thịt nướng… Chúng tôi-một số sĩ quan được xe đưa về Hà Nội. Vài ngày sau, chúng tôi vào Sài Gòn rồi trở về Pháp. Phải giở sang một trang sử mới. Ngày 25-9, tôi đã xuống sân bay Oóc-li (Pa-ri).

Võ Nguyên Giáp là một vị tướng vĩ đại. Ông còn là một nhà tư tưởng. Sức mạnh của một quân đội trước hết là do tinh thần chiến đấu và do lý tưởng chứ không phải là trang bị kỹ thuật, vũ khí. Đó là những điều mà các nhà chính trị, các vị tướng Pháp không hiểu được. Binh lính Pháp chiến đấu đã bị bỏ rơi.

Ngày 28-6-1994: tôi đã trở lại Điện Biên Phủ, chụp ảnh tại cột km 80, Quốc lộ 279 với biển số ghi Đ. Biên 0km. Tôi đã gặp tướng Trần Văn Quang, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Tôi đã đến đài kỷ niệm “Để tưởng nhớ những người đã hy sinh cho nước Pháp” do cựu lính lê dương Rolf Rodel cùng các bạn chiến đấu dựng lên ở Điện Biên Phủ… Những quân nhân Pháp ở Điện Biên Phủ trở về Pháp mà không có được một ai đón chào (còn ở trên mảnh đất Việt Nam này lại có một đài kỷ niệm tưởng nhớ họ).

—

(1) Câu chửi của người Pháp: Xà-lù (salaud)

Thủy Trường (Lược dịch từ nguyên văn tiếng Pháp)
qdnd.vn

Chuyện đời người con nuôi của Xta-Lin

QĐND – Ác-chi-om Xéc-gê-ép là con trai độc nhất của nhà cách mạng Phê-đô Xéc-gê-ép. Năm 1921, Phê-đô hy sinh khi thực thi nhiệm vụ, cậu con trai Ác-chi-om đang trong bụng mẹ về sau được gia đình Xta-lin đưa về nuôi dưỡng. Lớn lên, Ác-chi-om cùng người con trai thứ hai của Xta-lin là Va-xi-li vào học trường quân sự. Suốt đời ông giấu kín việc mình là con nuôi Xta-lin. Ông cho rằng nhờ đó mà ông được sống yên ổn cho tới ngày nghỉ hưu với hàm Trung tướng.

Tìm hiểu về câu chuyện “kín tiếng” này, tờ “Tin nhanh” của Liên bang Nga đã được vị Trung tướng 87 tuổi trả lời nhiều chi tiết thú vị.

Không bao giờ “lộ diện” là con nuôi của vị lãnh tụ tối cao

Trong ngôi nhà vườn nhỏ nhưng thoáng đãng, ông già vẻ mặt phúc hậu, hiền từ nhưng còn phong độ ở tuổi 87 giới thiệu với khách:

– Đây là nơi trước đây một cán bộ ngành đường sắt lập trang trại chăn nuôi. Mẹ tôi đã mua lại với giá 5 nghìn rúp cách nay khá lâu. Tôi cảm thấy nơi đây thật tuyệt vời, tránh được sự ồn ào, náo nhiệt nơi phố phường,…

– Thưa ông, vì sao cho tới nay hầu như không ai biết gì về ông là con nuôi của lãnh tụ Xta-lin?

– Thật đơn giản thôi, vì tôi chưa bao giờ kể với ai rằng tôi là con nuôi Xta-lin, rằng tôi được gia đình Xta-lin nuôi dưỡng nên người. Mẹ tôi thì đặc biệt im lặng về điều đó. Do đó mà ngay cả đội trưởng đội bảo vệ Xta-lin là Vla-xích cũng cho rằng mẹ tôi đã chết từ lâu.

– Nhưng dù sao thì sự thật đã xảy ra: Một cậu bé được gần gũi Xta-lin, sống trong gia đình họ, được kết bạn với con trai lãnh tụ, được họ nuôi dưỡng… Vậy mà chẳng ai chú ý tới điều đó sao?

– Vì chỉ đơn giản cậu đó là Ác-chi-om, con trai nhà cách mạng nổi tiếng Phê-đô Xéc-gê-ép thôi.

Rồi Ác-chi-om Xéc-gê-ép kể lại việc mình trở thành con nuôi lãnh tụ như thế nào:

– Xta-lin và bố tôi là bạn chiến đấu thân nhau từ năm 1906, khi còn hoạt động bí mật. Cả hai đều cùng mấy lần bị tù đày, đều là đại biểu của các đại hội đảng trước cách mạng. Từ năm 1917 họ luôn sát cánh làm việc cùng nhau cho tới ngày bố tôi bị một tai nạn bất ngờ khi thực thi nhiệm vụ. Khi họ cùng đi dự Đại hội 10 của Đảng, rồi đi trấn áp cuộc nổi loạn ở Cron-xtát (tháng 3-1921), bố tôi đã đề nghị với Xta-lin rằng, nếu bố tôi có mệnh hệ gì thì nhờ ông chăm gia đình tôi, lúc ấy tôi còn trong bụng mẹ. Vào lúc đó, con trai thứ hai của Xta-lin – Va-xi-li ra đời. Vậy là từ 5 tháng tuổi tôi được gia đình Xta-lin nuôi dưỡng. Tôi sống cùng một phòng với Va-xi-li cho tới năm 16 tuổi.

– Thật khó hiểu, bởi chính ông không chỉ là một thành viên của gia đình vị đứng đầu Đảng và Nhà nước một thời, mà còn là một vị tướng quân đội Xô viết nữa. Đó có phải là cái kim trong đụn cỏ khô đâu?

– Tôi đã suốt đời phục vụ quân đội mà không cần “ô dù” để thăng cấp, thăng chức. Tôi đóng quân ở xa Mát-xcơ-va. Vào năm 1937, 1938 tôi vào học trường quân sự, đi lính rồi vào trường Sĩ quan pháo binh Lê-nin-grát số 2. Sau khi tốt nghiệp (năm 1940) tôi được chỉ huy một trung đội. Khi chiến tranh xảy ra, tôi được chỉ huy một trung đội pháo từ ngày 28-6-1941. Cuộc chiến ác liệt, không cân sức. Chúng tôi bị quân Đức đông gấp bội bắn phá, ném bom hủy diệt. Sau khi xe pháo của chúng tôi bị đánh tan, tôi được chỉ huy một đại đội bộ binh. Đơn vị chúng tôi bị quân thù bao vây chặt và tiến công liên tục. Chúng tôi thoát được trận đó và tập hợp số còn lại để lập một đội du kích. Chúng tôi số nhiều bị chết, tôi và vài đồng chí bị quân Đức bắt trong tình thế không còn đường thoát. Bị chúng đưa vào trại tập trung, rồi bị đưa vào nhà tù Orsa. Tôi mấy lần bí mật tìm cách thoát thân thì may quá – một lần chạy thoát được. Nếu như lúc đó có ai đó biết rõ lý lịch của tôi thì tôi làm sao thoát được! Trở về sau nhiều đêm ngày nhịn đói khát, mò mẫm tìm đường, tôi xin nhập vào các đơn vị mới để tiếp tục chiến đấu. Hết trận này tới trận khác, tôi luôn ở trên các mặt trận nóng bỏng. Và ơn trời, tôi vẫn được sống sót cho tới hết đời binh nghiệp.

Về các nhân vật lớn qua ký ức Ác-chi-om

– Là con nuôi Xta-lin, lại được nhiều năm sống trong gia đình lãnh tụ, ông thấy Xta-lin thế nào? Hình thức của Xta-lin như thế nào?

– Xta-lin không bao giờ tô điểm gì, sống rất tự nhiên. Ông có khuôn mặt bình dị, hiền hậu, không có tì vết gì. Chỉ có một ít sẹo nhỏ nhưng không rõ nét. Nét mặt ông sống động, thông minh nhưng giản dị. Có một phụ nữ từng bị hại trong những năm “trấn áp phản cách mạng” là Ki-ra Páp-lốp-na khi được hỏi về Xta-lin cũng đã trả lời: “Nói thật ra, ông ta là một người khả ái”.

– Thế Xta-lin nuôi dạy ông như thế nào?

– Bố nuôi tôi là một người cha ân cần, dịu dàng và mẫu mực. Ông không cho phép đứa trẻ tự coi mình là người không biết suy nghĩ. Ông thường nói chuyện với Va-xi-li, với con gái út Xvét-lan-na và với tôi về những vấn đề nghiêm túc một cách rõ ràng và dễ hiểu. Thi thoảng, ông thường đưa chúng tôi ra làm gương cho nhau trong sinh hoạt, trong đối xử.

Ác-chi-om Xéc-gê-ép (ngoài cùng, bên phải) cùng đồng đội chuẩn bị trận đánh. Ảnh tư liệu.

Trong các món quà Xta-lin kỷ niệm cho tôi có hai cuốn truyện hay. Ông viết đề tặng tôi trong cuốn “Rô-bin-sơn Cru-sô” của Đa-ni-en Đơ-phô: “Tặng Tô-míc thân yêu của tôi, chúc con lớn lên và thành người Bôn-sê-vích giác ngộ, kiên định và dũng cảm”.

Ông gọi tôi là Tô-míc để kỷ niệm cha tôi thời hoạt động cách mạng ở nước ngoài theo cách gọi của người bản địa lúc đó.

Do quá bận rộn với công việc nhà nước nên ông ít khi có dịp chơi cùng con cái. Ông chỉ có dịp trò chuyện với chúng tôi khi có chút rỗi rãi, hay khi đi làm về mà chúng tôi chưa đi ngủ.

– Thế ông thấy Bê-ri-a thế nào?

– Tôi có ấn tượng không thích. Mỗi khi có ông Ne-xtô Lô-cô-ba, bạn chiến đấu của Xta-lin tới nhà Xta-lin thì không khí thật ấm áp; còn khi Bê-ri-a tới thì thật nặng nề khó chịu. Tuy nhiên Bê-ri-a là một nhân vật to tát, có vai vế; tất cả năng lượng nguyên tử là ở ông ta. Không phải vô cớ mà nhà bác học I-go Cu-tra-tốp, trưởng nhóm nghiên cứu nguyên tử đã mạnh mẽ khuyên chính phủ để cho Bê-ri-a thay Mô-lô-tốp đứng đầu dự án nguyên tử…

Về người bạn, người anh em Va-xi-li

– Ông sống ở gia đình Xta-lin như thế nào?

– Từ 1923–1927 tôi và Va-xi-li cùng được nuôi dạy ở nhà trẻ. Ngoài chúng tôi – những đứa con mà cha mẹ không có thì giờ và điều kiện nuôi dưỡng vì quá bận rộn công việc quốc gia, còn một số khác là mồ côi cha mẹ, không nhà cửa nương thân. Tất cả là 50 người, gọi vui là “Nhà trẻ 50”. Các bà bảo mẫu chăm sóc và dạy dỗ tận tình, chu đáo, không phân biệt đó là con Xta-lin hay trẻ vô gia cư, trẻ mồ côi. Về sau tất cả bọn tôi đều được học trường phổ thông, rồi vào trường thiếu sinh quân, trường quân sự. Khi chiến tranh nổ ra, tất cả chúng tôi đều lập tức ra mặt trận.

– Khi nào thì ông và Va-xi-li gặp nhau lần cuối?

– Chúng tôi vẫn còn được gặp nhau khi Va-xi-li bị bắt và vào nằm điều trị ở quân y viện. Cuối năm 1953, rất nhiều bạn bè (cả bạn cùng chơi thể thao) đều thăm anh. Anh vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ của mình, khá bận rộn với sự nghiệp thể thao. Sau đó anh bị dẫn tới trại cải tạo Vla-đi-mia-xki, rồi bị đi đày. Anh mất ở thành phố Ca-dan năm 1961. Tôi biết tin buồn này khá muộn, do mẹ tôi gọi điện báo cho tôi. Những năm cuối này Va-xi-li sống thật cô đơn…

Tham gia chiến tranh cứu nước, Va-xi-li được thưởng 4 huân chương. Các bạn cùng lứa, cùng hoàn cảnh với nhau thì được thưởng nhiều hơn. Ở đây có nhiều điểm thiếu công bằng. Một lần, đội bay ném bom của Đức ồ ạt tấn công sâu vào hậu phương của ta. Khi phát hiện thấy chúng, Va-xi-li lập tức phóng máy bay lên chặn đánh cản phá giặc, mặc dù máy bay của anh chưa kịp trang bị đầy đủ vũ khí. Bộ chỉ huy ở mặt đất chứng kiến hành động mưu trí và dũng cảm đó đã ghi danh để phong anh hùng. Tuy nhiên, khi đã biết đó là con trai Xta-lin thì họ hạ xuống một bậc: Chỉ thưởng Huân chương Cờ đỏ…

Về Va-xi-li đã có nhiều bài viết không đúng sự thật, thậm chí còn vu khống. Ngày nay người ta vẫn còn cố tình bóp méo hình ảnh của anh. Nếu ở anh vẫn còn có gì đó khiếm khuyết là do bản tính anh còn nông nổi, không biết tự kiềm chế…

– Xin hỏi thật tình: Xta-lin với anh như một người cha thật sự chứ?

– Vâng, tôi rất tự hào với hai người cha của mình. Tôi tự hào vì cả hai đều đã hiến trọn đời mình cho đất nước. Tự hào vì cả hai đều được an táng ở bức tường điện Crem-li. Những ngày sinh và ngày mất của họ tôi đều mang những bó hoa tươi thắm đến dâng trước mộ họ.

Nguyễn Hữu Dy
qdnd.vn

Tập Trọng Huân mở đường cho cải cách mở cửa ở Quảng Đông, Trung Quốc

QĐND – Ông Tập Trọng Huân (15-10-1913/24-5-2002), cố Phó thủ tướng nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là phụ thân của nhà lãnh đạo Tập Cận Bình, Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Phó chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương, Hiệu trưởng Trường Đảng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Đầu mùa xuân năm 1979, Tập Trọng Huân và Dương Thượng Côn nhận được thông tri của Trung ương, yêu cầu tham dự Hội nghị công tác Trung ương.

Khi ấy, Tập Trọng Huân là Bí thư thứ nhất Tỉnh ủy Quảng Đông; Dương Thượng Côn (5-7-1907/14-9-1998) là Chính ủy thứ nhất, Bí thư thứ nhất Đảng ủy Quân khu Quảng Đông.

Tập Trọng Huân cảm thấy bị áp lực chưa từng có. Ông vừa đến được một năm, còn chưa am hiểu tình hình Quảng Đông, song tình thế thúc ép con người, không chỉ sự chuyển biến lớn sau Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương lần thứ ba khóa 11 có ý nghĩa vạch thời đại khiến cho tinh thần ông phấn chấn. Hơn nữa tiếng kêu gọi cấp thiết yêu cầu đổi mới của cấp trên và cấp dưới trong toàn tỉnh Quảng Đông, càng khiến ông cảm thấy thời cơ lớn bội phần không thể để mất.

Tập Trọng Huân (1913-2002). Ảnh do Vũ Phong Tạo cung cấp.

Ngày 8-4-1979, lần phát biểu thứ nhất tại Tổ Trung Nam ở Hội nghị công tác Trung ương, Tập Trọng Huân đã chính thức đề xuất quan điểm và thỉnh cầu của Quảng Đông với Trung ương. Ông thay mặt tỉnh ủy nhiệt liệt yêu cầu Trung ương cho Quảng Đông được hưởng chính sách đặc thù trong cải cách mở cửa, xin Trung ương trao quyền hoặc nới quyền, để Quảng Đông đi trước một bước, phóng tay làm, tại khu vực lân cận Hồng Công và vùng ven biển, khoanh ra một số khu vực chuyên môn đối ngoại hợp tác trao đổi và thu hút vốn bên ngoài đầu tư, lợi dụng ưu thế gần với Hồng Công, Ma Cao, giao lưu quốc tế sôi động thuận tiện nhanh chóng, để phát triển nhanh hơn trong “bốn hiện đại hóa”.

Khi báo cáo với Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Tập Trọng Huân phân tích ưu thế phát triển đặc biệt độc đáo của Quảng Đông, mạnh dạn đề xuất ý kiến của mình: “Quyền lực hiện tại của Trung ương quá ư tập trung mà tại địa phương cảm thấy rất khó làm. Không có quyền, làm việc rất khó”.

Chủ trì hội nghị, Hoa Quốc Phong hỏi: “Đồng chí Trọng Huân, rốt cuộc Quảng Đông các anh muốn đòi quyền gì nào?”. Không khí hội nghị bèn căng thẳng lên.

Đến nước này, Tập Trọng Huân nói thẳng: “Tôi thay mặt tỉnh ủy, thỉnh cầu Trung ương cho phép tại Thâm Quyến, Chu Hải giáp ranh với Hồng Công, Ma Cao và thành phố Sán Đầu, khoanh ra một khu vực, xây dựng khu hợp tác mậu dịch”.

Cuối cùng, ông quyết định nói dứt khoát: “Nếu như Quảng Đông là một quốc gia độc lập, có thể chỉ mấy năm sẽ làm xong xuôi, nhưng với thể chế hiện tại, thì không dễ dàng làm được”.

Lời lẽ “kiểu vượt rào” thẳng thắn không biết sợ của ông, khiến cho một số người mà đầu óc khi ấy vẫn chưa chuyển biến, nghe thấy mà phát hoảng.

Tập Trọng Huân té nước theo mưa, tiếp tục nói: “Quảng Đông hy vọng Trung ương cho thể chế và chính sách mới, như vậy Quảng Đông mấy năm sẽ có thể làm được. Quảng Đông là một tỉnh lớn, nhưng quyền cơ động địa phương của tỉnh hiện tại quá nhỏ, quốc gia và các ngành Trung ương thống nhất quản lý chết cứng, không lợi cho kinh tế quốc dân phát triển. Chúng tôi hy vọng, Trung ương trao cho một chút quyền, để Quảng Đông đi trước một bước, phóng tay làm tới. Thực hiện như vậy, có lợi cho địa phương, cũng có lợi cho Trung ương đấy”.

Tập Trọng Huân biết, tuy Đặng Tiểu Bình chưa chủ trì hội nghị, song mọi người đều nhận định ông ấy là bộ óc chủ yếu, là bộ xương sống của cải cách mở cửa, nên ông bèn ra hiệu với Nguyên soái Diệp Kiếm Anh muốn trưng cầu ý kiến Đặng Tiểu Bình nhân lúc hội nghị giải lao.

Đặng Tiểu Bình lặng lẽ nghe, liên tục hút thuốc, thỉnh thoảng lại nói xen một câu: “Cải cách mở cửa ở Trung Quốc, đầu tiên phải làm từ khu vực ven biển đông nam. Cải cách mở cửa của vùng ven biển đông nam, phải bắt đầu từ Quảng Đông, Phúc Kiến; Cải cách mở cửa ở Quảng Đông cũng phải nắm chắc một đột phá khẩu, làm công trường thí nghiệm, phóng mạnh tay làm, vạn nhất thất bại, cũng không quan trọng, một địa phương nhỏ như vậy quan hệ không lớn”.

Trong lần nói chuyện ấy, Đặng Tiểu Bình còn nói với Tập Trọng Huân một số câu có ý mở đường: “Biên khu Thiểm Cam Ninh ngày xưa cũng gọi là đặc khu mà, anh chẳng phải là Quyền bí thư của Đặc khu ủy Thiểm Cam Ninh đó sao? Tại Quảng Đông các anh khoanh ra một địa phương, cũng xây dựng một đặc khu! Có thể không?”.

Tiếp theo, Đặng Tiểu Bình nói: “Trung ương không có tiền, các anh tự làm lấy, mở ra một con đường máu mà đi!”.

Từ tháng 1 đến tháng 5-1979, nạn vượt biển trốn ra bên ngoài phát sinh tại tỉnh Quảng Đông theo thống kê chính thức của chính quyền lên đến 119.000 người, vượt qua con số phát sinh trong toàn năm 1962 cao nhất trong lịch sử.

Sau khi nhận được báo cáo, Tập Trọng Huân khẩn trương đến Thâm Quyến, khi ấy cao trào lớn vượt biên đã lắng xuống, song vẫn gặp một số người trốn sang Hồng Công.

Tập Trọng Huân lập tức triệu tập bí thư một số Công xã tọa đàm. Bí thư Công xã nói giữ không nổi, bởi vì tuyến bờ biển dài, đời sống của nhân dân giữa Hồng Công và nội địa quá ư chênh lệch. Một ngày lao động của một nông dân phía Bảo An trên tuyến biên cảnh Thâm Quyến chỉ có khoảng 7 hào, mà thu nhập một ngày lao động của một nông dân Hồng Công là 60 – 70 đô-la Hồng Công, chênh lệch đôi bên đến gấp 100 lần!

Gia đình Tập Trọng Huân (ảnh chụp ngày 15-10-2000).

Ông đi quan sát tuyến biên phòng và cảm thấy: Lập nước đã 30 năm rồi, thực hiện bế quan tỏa cảng, cộng với sự ảnh hưởng của cách mạng văn hóa, kinh tế ngày càng trì trệ, đời sống quần chúng khó khăn, lại không sửa đổi chủ trương chính sách, cải thiện đời sống nhân dân, vượt biên chạy trốn là không thể ngăn chặn.

Tập Trọng Huân nhận định: Đề phòng nạn trốn chạy vượt biên chỉ là một biện pháp điều trị phần ngọn, điều trị tận gốc vẫn phải dựa vào phát triển sản xuất. Sản xuất phát triển, đời sống nhân dân cải thiện, quần chúng nhìn thấy tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, biên cảnh sẽ ổn định, người ta mới không còn chạy trốn ra ngoài.

Đối mặt với tình thế nghiêm trọng, Tập Trọng Huân đầu tiên đề ra nhiệm vụ “Trốn chạy ra ngoài” cho huyện ủy, ông chỉ rõ: “Thâm Quyến là vùng tiền duyên của mặt trận chống người trốn ra ngoài, các anh nhất định phải đồng tâm hiệp lực, tăng cường phòng tuyến hơn nữa, đề phòng nhiều người trốn ra ngoài. Trốn ra ngoài tổn thương quốc thể, ảnh hưởng quốc tế không tốt, hơn nữa trực tiếp ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp”.

Sóng gió trốn ra ngoài cuối cùng đã được chặn đứng. Thông qua chiến dịch này, Tập Trọng Huân càng thêm kiên định quyết tâm đẩy nhanh tốc độ xây dựng đặc khu, phát triển toàn diện lực lượng sản xuất của Quảng Đông, cải thiện đời sống nhân dân, đây mới là chính sách điều trị tận gốc.

Ông lại tổ chức thêm một chuyến đặc biệt đến thăm Thâm Quyến, tìm hiểu thấy cán bộ địa phương vẫn còn lo ngại “đất bay theo” những người dân đã vượt biên sang canh tác ở phía Hồng Công. Ông bèn nói với cán bộ huyện Bảo An và thị trấn Sán Đầu về vấn đề cho các nhà tư bản Hồng Công vào đầu tư thiết bị khai thác cát xuất khẩu, thu nhập chia đôi; Vấn đề thu hút vốn bên ngoài làm công nghiệp gia công; Vấn đề khôi phục mậu dịch nhỏ vùng biên… “Tiến hành làm sẽ có lợi cho phát triển sản xuất, gia tăng thu nhập của quần chúng, bảo đảm dân sinh, tại sao lại không dám làm chứ?”.

Ông ủng hộ và khuyến khích các đồng chí Bảo An: “Chỉ cần có thể phát triển sản xuất là làm, không nên trước tiên xem họ theo chủ nghĩa gì. Họ là chủ nghĩa tư bản, song có phương pháp tốt là chúng ta phải học tập”.

Nhằm đẩy nhanh tốc độ sáng lập đặc khu, Tập Trọng Huân đã “mở ra một con đường máu”, lao tâm khổ tứ, bạc trắng cả đầu, tạo dựng uy tín rất cao tại Quảng Đông và trong cả nước.

Một năm sau, ông lại tiến vào bộ máy lãnh đạo Trung ương, trở thành một trong những nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước Trung Quốc.

Vũ Phong Tạo trích dịch (Theo sách “Vận mệnh quốc gia – Nam Phương ký sự”, của Lã Lôi và Triệu Hồng, NXB Văn học nhân dân Trung Quốc ấn hành).
qdnd.vn

Vì sao “chiến tranh cục bộ” thất bại?

QĐND – Năm 2004, Nxb Penguin phát hành cuốn: “Những nhà ái quốc: Cuộc chiến tranh Việt Nam được hồi tưởng từ mọi phía” (Patriots: The Vietnam War Remembered from All Sides). Tác giả Grít-chi-an Áp-py (Christian Appy) đã mất nhiều năm đi lại giữa Mỹ và Việt Nam, để phỏng vấn hàng trăm nhân chứng từ các phía, viết nên cuốn sách lịch sử truyền khẩu (oral history) này.

Ký ức đầu tiên được tác giả Áp-py chọn đăng trong sách là của Trung tướng Mỹ hồi hưu, Béc-na Trây-nơ (Bernard Trainor). Viên tướng này nghỉ hưu đầu những năm 1980 để trở thành phóng viên chiến tranh cho tờ Nữu Ước thời báo (The New York Times), rồi giảng dạy tại Viện Ken-nơ-đi (Kenedy) trực thuộc chính phủ Mỹ (Kennedy School of Government). Tướng Trây-nơ thường xuất hiện trên truyền hình như một nhà phân tích quân sự, nhưng có lẽ ông ta nổi tiếng hơn do từng phục vụ ở Việt Nam hai tua, đều vào giai đoạn cuối, của cả hai loại hình Chiến tranh đặc biệt và Chiến tranh cục bộ.

Năm 1965, khi số lượng binh sĩ Mỹ ở Nam Việt Nam tăng từ 23 nghìn lên gần 200 nghìn người, Trây-nơ được giao chỉ đạo chương trình tối mật gồm các cuộc tiến công bằng biệt kích Sài Gòn lên các vùng duyên hải thuộc miền Bắc Việt Nam. Năm 1970, Trây-nơ quay lại Việt Nam đảm nhiệm một vai trò chiến tranh quy ước hơn, là Tiểu đoàn trưởng Lính thủy đánh bộ (LTĐB) Mỹ.

Từ “tốc chiến”

Hồi ức của Trây-nơ trong sách được đặt tên là “Hóa ra Thị trưởng Đà Nẵng là người của Việt cộng”.

Trây-nơ cho hay trước khi sang tham chiến ở Triều Tiên đầu những năm 1950, ông đã “nghiên cứu” về cách đánh của Pháp ở Đông Dương. Tới đầu Chiến tranh đặc biệt của Mỹ, ông ta làm các đặc vụ như phát triển các chiến thuật do thám chuyên dùng cho vùng Đông Nam Á. Trây-nơ kể:

“Vào năm 1965 tôi được chỉ định sang Nam Việt Nam với chức danh cố vấn thuộc nhóm Nghiên cứu và quan sát. Đây là mật danh của một chiến dịch ngầm khởi động bởi CIA. Chúng tôi hoạt động tại căn cứ bí mật ở núi Khỉ, gần Đà Nẵng. Chúng tôi dùng các tàu phóng ngư lôi do Bắc Âu sản xuất, trang bị động cơ Rôn-xơ Roi-xơ (Rolls Royce) công suất lớn để xâm nhập bờ biển phía Bắc. Thuyền trưởng và thủy thủ đoàn đều là người Việt. Họ thường xuyên bị phát hiện, do miền Bắc kiểm soát ven biển khá chặt chẽ.

Bìa cuốn sách “Những nhà ái quốc: Cuộc chiến tranh Việt Nam được hồi tưởng từ mọi phía”.

Nhưng người Mỹ không được chính thức giao nhiệm vụ tháp tùng các toán biệt kích – tôi không muốn nói rằng thỉnh thoảng quy tắc này đã không bị vi phạm – bởi vì biệt kích Sài Gòn nếu hoạt động không có cố vấn Mỹ kèm sẽ bị thiếu một bàn tay sắt, đẩy họ vào thế phải hung hãn hơn”.

Trây-nơ kể rằng có lần được lệnh tấn công một mục tiêu được cho là trại an dưỡng của “cán binh Việt cộng”, có chỉ huy biệt kích Sài Gòn đã nói đó là một bệnh viện của dân thường. Tuy nhiên cố vấn Mỹ vẫn phái một toán biệt kích tới đó, bắn giết nhiều người, nhưng hóa ra là dân. Theo Trây-nơ, sự kiện này đã làm cho người Mỹ bị mất tín nhiệm ghê gớm đối với các biệt kích Sài Gòn. “Sau đó, nhiều toán chúng tôi cử ra Bắc đã không bao giờ lên bờ, viện cớ lặt vặt… Các biệt kích đã mất tin tưởng vào chúng ta”, Trây-nơ khẳng định.

“Bất chấp những đổ bể như trên, tôi cho rằng các chiến dịch của chúng tôi vẫn khá có kết quả. Về căn bản đây là một chiến dịch tâm lý chiến thôi, và có vẻ chúng tôi đã gây được nhiều rối loạn cho đối phương hơn là phía Mỹ tự đánh giá”. Trây-nơ rời Việt Nam năm 1966, mãn nguyện vì đã đóng góp vào “cuộc thánh chiến linh thiêng chống cộng sản vô thần và tạo cho mầm dân chủ ở miền Nam một cơ hội bén rễ”.

… đến “mã hồi”

Trây-nơ viết tiếp: “Khi tôi trở lại làm nhiệm kỳ thứ hai, năm 1970, tôi mất tất cả mọi thứ ấy (cuộc thánh chiến chống cộng, “mầm” dân chủ kiểu Mỹ. ND) bởi vì sau ngần ấy năm can thiệp, chúng ta nhận thấy rằng “nền dân chủ đang chớm nở” của Nam Việt Nam ngập trong đồi bại và tham nhũng. Tôi cũng đã nhận thấy rằng đối phương của chúng ta, ngoài chuyện là cộng sản, còn chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc (nationalistic) và tư tưởng chống thuộc địa.

Giữa hai nhiệm kỳ (1966 – 1970), tôi dạy trường Cao đẳng Chỉ huy tham mưu. Ở đó anh có thể nhận thấy sự ngán ngẩm và buồn rầu của các sĩ quan Mỹ ở Việt Nam về chiến lược tìm diệt của Oét-mo-len (Westmoreland). Mỹ tìm diệt quân Bắc Việt Nam, nhưng cũng hủy diệt dân thường và chính quân Mỹ cũng bị tiêu diệt.

Các CCB Mỹ từ Việt Nam về dẫn đầu một đoàn tuần hành chống chiến tranh (Oa-sinh-tơn, 1967). Ảnh: ABOUT.COM.

Từ năm 1970 tôi chỉ huy tiểu đoàn 1/5 LTĐB Mỹ. Chúng tôi thực hiện các chiến dịch phản ứng linh hoạt tại đồi 34 gần Đà Nẵng. Chúng tôi lĩnh một cơ số phi vụ trực thăng vận/ngày và dựa trên các báo cáo tình báo, đến lùng sục các khu vực được biết là có, hoặc nghi là có quân đối phương. Tư tưởng chỉ đạo của tôi là nếu không có chạm súng, đơn vị tôi sẽ rút nhanh ra và bay về căn cứ qua một trong nhiều bãi đáp trực thăng không ấn định trước. Tôi không muốn quân của mình bị phục kích trong bụi rậm, mắc vào các cạm bẫy, bãi mìn.

Tôi muốn hoàn thành nhiệm vụ một cách chuyên nghiệp, với thương vong ít nhất. Cơ-lác Giớt-giơ (Clark Judge), chỉ huy Trung đoàn 5 Lính thủy đánh bộ Mỹ bảo tôi: “Anh biết đấy, chúng ta sang đây không phải để tham chiến, chúng ta sang đây để hành quân thôi”.

Nếu anh tham chiến, anh cần phải làm mọi chuyện để thắng cuộc chiến tranh ấy. Còn ngụ ý “hành quân” của Giớt-giơ là liên tưởng chuyện quân đội thực dân Anh thế kỷ 19 từng ngược mãi lên phía tây bắc của Ấn Độ (1), trong khi cố xoay xở trong thế trận không thể thắng. Theo hướng tư duy này, lính Mỹ chúng tôi chỉ cố nhùng nhằng kéo dài thời gian cho tới khi bị ép phải rút khỏi Việt Nam.

Cuộc thẩm vấn dở dang

Chỉ huy cấp trên không ưa cách đánh đấm của Trây-nơ, cho rằng “không đủ độ hung hãn” (wasn’t being aggressive enough). Sư đoàn trưởng, Tướng Uýt-đếch-cơ (Widdecke), gọi Trây-nơ về hậu cứ, thẩm vấn “Hãy giải thích rõ anh đang làm cái gì?”. Tướng Trây-nơ kể tiếp:

“Rõ ràng là nếu cấp trên không ưa câu trả lời của tôi, tôi sẽ bị đưa về hậu phương và không bao giờ có thể lên tướng. Mọi người sẽ lý giải: “Trây-nơ ngại giao tranh với đối phương. Anh ta vào trận một tý, rồi bỏ chạy”. Đường binh nghiệp của tôi thế là hết.

May quá, đang thẩm vấn thì một vô tuyến điện viên đến, báo cáo: “Trung tá Trây-nơ, đơn vị của ông chạm địch”… Tôi trở lại với đơn vị và tình hình bỗng biến chuyển thành một kết quả đặc biệt, hoàn toàn xóa bỏ mọi nguy cơ làm tôi bị mất chức”.

Lính sư đoàn I Lính thủy đánh bộ Mỹ trong một trận đánh ở rìa phía nam khu phi quân sự, 1966. Ảnh: Larry Burrows.

Trong cuộc hành quân “tìm diệt” đó, sử dụng các trực thăng chiến đấu Cobra, máy bay A4 thả bom 250 pound (hơn 1 tạ) và bom na-pan, quân của Trây-nơ bỗng phát hiện được một hang dùng làm căn cứ của đối phương và bắt được một danh sách “Việt cộng nằm vùng” giấu trong một cái bình quân dụng cũ của quân Mỹ. Qua đó, Mỹ phát hiện được viên thị trưởng Đà Nẵng là “tay trong” của Mặt trận giải phóng (2). Theo Trây-nơ, “đây là phát hiện về tình báo lớn nhất ở vùng chiến thuật I trong suốt cuộc chiến tranh”…

Lý giải cuộc chiến trên nền… lịch sử Mỹ

Nay nhìn lại, tướng Trây-nơ so sánh cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam với cuộc đấu tranh giành độc lập của Mỹ:

“Nhiều người nói rằng chúng ta phải ném bom để đưa miền Bắc về lại thời kỳ đồ đá. Ở mức độ nhất định, chúng ta đã đạt được hiệu quả này, nhưng họ vẫn tiếp tục chiến đấu. Có ném bom nữa cũng không ăn thua gì. Tôi thấy cuộc kháng chiến của Việt Nam có nét tương đồng với cuộc cách mạng của Mỹ. Cũng như các nhà cách mạng Mỹ thời đó, người Việt quyết chiến đến cùng. Những người dân Mỹ hồi đó đã đi tới một quyết định rằng độc lập là thiết yếu. Họ đặt cược tính mạng và của cải của mình vào sự nghiệp giành độc lập. Nhờ ơn trời, họ đã không buông xuôi, không chịu chấp nhận sự bóc lột và thân phận nhục nhã dưới ách đô hộ của Anh.

Trây-nơ tiếp tục so sánh cuộc kháng chiến của Việt Nam với cả cuộc nội chiến ở Mỹ.

“Hy vọng ban đầu của chúng tôi là thu phục trái tim khối óc của người dân, nhưng hy vọng này đã bị tan tành bởi thất bại của chính quyền Sài Gòn trong việc giành tín nhiệm của dân và chiến lược tìm – diệt của Oét-mo-len. Về cơ bản đây là chiến lược tiêu hao sinh lực, vì thế liên tưởng lại dẫn chúng ta về với cuộc nội chiến của Mỹ. Khi đó tướng Iu-lít-xơ Gran-tơ (Ulysses Grant) đã tìm được chìa khóa giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh chống miền Nam bằng cách dùng tiềm lực to lớn về nhân lực và công nghiệp để đè bẹp quân đội Liên minh (của miền Nam nước Mỹ lúc đó). Chỉ việc chất đống quân lực và vũ khí, rồi bóp vụn quân địch. Đây cũng là cách mà Oét-mo-len xúc tiến ở Việt Nam. Một cách làm võ biền. Có thể nói, Quân Giải phóng đã xoay triết lý chiến tranh tiêu hao chống lại chính Oét-mo-len. Chiến lược của người Việt là nhằm làm sao xói mòn lực của quân Mỹ, cho tới khi công luận Mỹ xoay chuyển, chống lại cuộc chiến tranh. Chiến lược này đã thành công…”.

————-

(1) Điển cố “cuộc chơi lớn” (Great Game) nói về sự kình địch của hai đế quốc Nga Anh ở khu vực Trung Á giáp Ẫn Độ (khi đó còn gồm cả đất Pa-ki-xtan hôm nay).

(2) Trên thực tế, các thị trưởng Đà Nẵng là Đại tá Lê Chí Cường (thị trưởng Đà Nẵng từ 1966 đến 1969), Nguyễn Văn Thiện (Đại tá, thị trưởng Đà Nẵng thăng Chuẩn tướng tử trận năm 1970, Đại tá Nguyễn Ngọc Khôi (thị trưởng Đà Nẵng đến 1972), đều trung thành với chế độ Mỹ – Thiệu. Ở đây chắc Trây-nơ nói đến Trần Ngọc Châu, dân biểu Sài Gòn, chuyên gia về bình định của Mỹ – Thiệu, bị bắt bỏ tù năm 1970 do “liên hệ với Việt Cộng”… Trần Ngọc Châu làm thị trưởng Đà Nẵng thời kỳ 1965, khi Trây-nơ làm cố vấn cho biệt kích quân đội Sài Gòn đóng ở gần Đà Nẵng. Trên thực tế, Châu trước và sau khi bị bắt đều trung thành với lợi ích của Mỹ.

Grít-chi-an Áp-py

Lê Đỗ Huy (lược dịch)
qdnd.vn

Chí nhân thay cường bạo

Trong mắt người nước ngoài

QĐND – LTS: Báo chí và nhiều nguồn thông tin khác của Mỹ chỉ rõ tính tổ chức chặt chẽ và tình người của Quân đội nhân dân Việt Nam trong chăm sóc, chữa trị thương binh, bệnh binh, chính sách đối với thương binh, tử sĩ, kể cả đối với tù binh của đối phương…

Từ đầu cuộc chiến tranh tổng lực của Mỹ giữa thập kỷ 60 thế kỷ 20, tác giả Ku-nô Knô-bơn (Kuno Knoebl) trong cuốn “Việt Cộng: Bộ mặt của cuộc kháng chiến ở Việt Nam” (Victor Charlie: The face of war in Viet Nam, Nxb Frederick A.Praeger, 1967), cảnh báo: “Kẻ thù của cách mạng miền Nam (quân đội Mỹ) điều hành một bộ máy chiến tranh hiện đại, yểm trợ đường không với trực thăng, máy bay ném bom, yểm hộ pháo binh và tiếp tế vô cùng dồi dào. Một lính Mỹ bị thương có được mọi cơ may để tới một quân y viện nhanh chóng và có một cơ hội lớn hơn so với thương binh Quân Giải phóng để có thể sống sót, dù bị thương nặng đến mức nào. Đối với chiến sĩ Quân Giải phóng, cùng lắm cơ hội sống chỉ đến khi được đưa về căn cứ gần nhất trong rừng, hoặc làng nào gần nhất có người dân theo cách mạng, thông thường đều nằm cách mặt trận nhiều cây số. Nhiều thương binh bị chết do không được cấp cứu đúng lúc. Các cơ hội để cho cán binh Quân Giải phóng bị vây thoát chết là gần như không có”.

Ku-nô Knô-bơn nhấn mạnh rằng, trong khi các đơn vị của quân đội Mỹ có thể sửa sai nhiều lần, bất chấp thương vong, các lực lượng Giải phóng “thua xa” đối phương về vũ khí, trang bị, quân số, nên đã chọn cách đánh hiệu quả, tiết kiệm sinh lực, trang bị, “góp gió thành bão”. Tác giả viết: “Họ (Mặt trận giải phóng) bù chỗ yếu bằng chiến lược và bằng lập kế hoạch vô cùng tỉ mỉ… Họ thỉnh thoảng mắc sai lầm, nhưng không bao giờ lặp lại hai lần…

Trang 225 thuật lại một cuộc trao đổi của Ku-nô Knô-bơn với một đại diện của Mặt trận Giải phóng. Câu hỏi vì sao Quân Giải phóng hiếm khi để lại thương binh, xác tử sĩ tại chiến trường, có một câu trả lời là: Cần cố mang theo “xác đồng chí của mình và chôn cất họ càng gần quê cha đất tổ của họ càng tốt”, theo ước nguyện của các chiến sĩ trước khi vào trận đánh.

Một mặt trận tranh đấu mất còn

Trong sách “Bộ đội Việt Nam – một thiên chính sử” (Inside the VC and the NVA the real story of North Armed Forces, Nxb Ballantine Books, 1993), chương 8, các tác giả Mai-cơn Li Lan-ninh (Michael Lee Lanning) và Đan Crác (Dan Cragg) viết khá tỉ mỉ về hệ thống quân y của Quân Giải phóng.

“Cung cấp về y tế là vô cùng gay go đối với các đơn vị Quân Giải phóng, thường hoạt động trong rừng, thường xuyên phải vận động chiến, hành quân xa vất vả. Bộ đội thường bị Quân đội Mỹ và Quân đội Sài Gòn tấn công trên bộ và từ trên không, tồn tại với một suất ăn tối thiểu, dễ bị các bệnh truyền nhiễm nhiệt đới tại các vùng địa hình khác nhau thuộc Đông Nam Á. Hiện chưa có số liệu về sự thiếu thốn thuốc men ở miền Bắc, nhưng yêu cầu phục vụ chiến đấu và phòng, chống tật bệnh trong điều kiện chiến trường miền Nam đã đặt đội ngũ y, bác sĩ Quân Giải phóng vào tình thế vô cùng khó khăn cho thực hiện chức trách của mình.

Ngoài sự hết lòng vì thương binh, bệnh binh, các giải pháp được áp dụng là tận dụng tất cả các nguồn cung cấp thuốc men từ viện trợ các nước “phe cách mạng” (các nước XHCN), giúp đỡ nhân đạo từ một số nước thứ ba (thường ở bán đảo Scandinavia), mua tại các thị trường tạm bị chiếm ở Nam Việt Nam, mua ở Lào và Cam-pu-chia. Cơ sở vật chất tại chỗ được tận dụng theo phương châm Đông-Tây y kết hợp”.

Chăm sóc thương binh trong Quân y viện dã chiến, năm 1969. Ảnh: Lưu trữ Đông Dương, Hoa Kỳ.

Tài liệu Hậu cần cộng sản tại chiến trường miền Nam (của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Sài Gòn in năm 1970), nêu các nguồn cung cấp thuốc vào miền Nam cho Mặt trận Giải phóng, như những mục tiêu cần ngăn chặn, kiềm tỏa. Quân đội Sài Gòn cũng theo sát các xưởng dược của Trung ương Cục, Chiến khu Dương Minh Châu, Khu ủy các Khu, các trường đào tạo dược sĩ, dược tá của Miền và các nguồn “xâm nhập” của chuyên gia y dược vào miền Nam. Tài liệu này khái toán chi phí mua thuốc của Mặt trận năm 1966 lên tới 200 triệu đồng tiền Việt Nam Cộng hòa, tương đương với 2,5 triệu USD.

Quân Mỹ – Sài Gòn thường chú trọng tìm các bệnh xá, trạm xá quân dân y, các kho – xưởng, cơ sở bào chế thuốc để đánh vào. Theo các sách được dịch sang Anh ngữ, như cuốn Nhật ký của liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm về một trạm xá bị quân Mỹ – Sài Gòn tìm diệt như một mục tiêu quan trọng bậc nhất. Một tác phẩm khác được những người đọc phương Tây chấm 5 sao là bút ký “Tây Nguyên ngày ấy” của cố GS, bác sĩ Lê Cao Đài, đã làm rung động tâm tưởng độc giả trên từng trang sách, trên từng số phận của thương binh, bệnh binh và những người chăm sóc họ trong quân y viện trong rừng. Các trạm xá, bệnh xá, quân y viện… đều cố gắng tồn tại, trụ bám bằng mọi giá, để làm “điểm chờ” cho hy vọng bảo tồn sinh mạng của đồng đội bị thương.

Thầy thuốc như mẹ hiền

Mai-cơn Li Lan-ninh và Đan Crác viết tiếp: “Một yếu tố cực kỳ quan trọng để đảm bảo tinh thần chiến đấu trong bất kỳ quân đội nào là chất lượng điều trị… Nhiều người Mỹ trong chiến tranh Việt Nam coi hệ thống y tế của “Việt Cộng” là cực kỳ nguyên thủy. Điều này không đúng. Một bác sĩ Mỹ viết năm 1966, “xu hướng hạ thấp quy mô và hiệu quả của hoạt động y tế của “Việt Cộng” là cần tránh… Nếu toàn bộ sự thật được công bố, tất cả chúng ta sửng sốt vì chất lượng y tế mà họ cung cấp được cho bệnh binh và thương binh của mình”.

Một quân y sĩ Quân Giải phóng cho biết cương lĩnh của nghề mình: “Lương y như từ mẫu. Có nghĩa là các chiến sĩ ở xa cha mẹ họ, nên quân y sĩ phải thay mặt cha mẹ của chiến sĩ. Người quân y sĩ có nhiệm vụ làm giảm nỗi đau khi chiến sĩ đau ốm, phải an ủi chiến sĩ khi họ không vui, phải cư xử như bạn tâm tình của chiến sĩ”.

Buồng mổ trong mùa nước nổi tại quân y viện dã chiến Nam Bộ. Sách: “Chân trần chí thép: Những ký ức từ bên kia chiến tuyến” (Bare Feet, Iron Will ~ Stories from the Other Side of Vietnam’s Battlefields), tác giả James G.Zumwalt, Nxb Forits Publishing, 2010.

Sơ cứu được thực hiện nhờ các thứ thuốc trong túi thuốc cá nhân, có thể gồm cả các thuốc kháng sinh, vi-ta-min, các vị thuốc đông y. Khi việc cứu chữa tại chỗ không giải quyết được, thương binh, bệnh binh được chuyển tới các quân y viện. Các quân y viện như thế thường được triển khai một cách có cân nhắc, chẳng hạn, thuộc một Binh trạm trên đường Trường Sơn, tại một vùng đất biên giới Cam-pu-chia”.

Các tác giả tiếp tục mô tả một bệnh viện dã chiến có 3 phòng mổ nằm dưới mặt đất, có khá nhiều thuốc men, nằm trên diện tích khoảng 0,4ha. Dưới bệnh viện là hệ thống địa đạo. Địa đạo khá rộng, sâu tới 2m, dài hơn 20m, rộng khoảng 15m, có thể mắc võng…

Một bệnh viện dã chiến tuyến trên có thể được xây trên mặt đất, có ba khoa, trên chu vi một chiều 200m, chiều kia 100m, chứa được 70-80 giường mỗi khoa. Viện có máy X quang, khoảng 4 bác sĩ và nhiều quân y sĩ, y tá, có thể giải phẫu và điều trị nhiều bệnh và thương tật.

Nhưng việc sơ tán thương binh khỏi chiến trường là rất khó khăn. Có trường hợp thương binh nặng phải chuyển lên tuyến trên bằng thuyền mất đôi ba ngày đường. Nhưng điều kiện điều trị là tốt. Một thương binh kể: “Thức ăn ở quân y viện có dinh dưỡng cao. Hàng ngày, bệnh nhân nhận được khẩu phần có cả sữa, chanh, thịt lợn, gà, bò… Bác sĩ phẫu thuật chính được thương binh, bệnh binh yêu mến vì ông luôn coi cưa cắt là phương án cuối cùng, luôn cố cứu, không để thương binh bị tàn phế”.

Sách cũng mô tả một quân y sĩ Quân Giải phóng là giàu lòng nhân ái và gương mẫu, so với chuẩn mực của bất kỳ bên nào.

Chí nhân thay cường bạo

Theo hồ sơ lưu trữ “Khó khăn, bất cập trong thực hiện chính sách và thực tiễn của Việt Cộng” (Contradictions between offial policy and VC, năm 1967) của tình báo Mỹ, Quân Giải phóng phải đảm bảo chữa trị, đối xử tốt với tù binh đã bị thương của phe Mỹ.

Nhiều tác giả phương Tây, như W.Bớc-sét (Wilfred Burchett) đã viết, bất kỳ cán bộ, chiến sĩ cách mạng nào, dù bị thương, đau ốm, “nếu bị quân đội Mỹ bắt, sẽ nhất định bị tra tấn ngay lập tức”. Từ 1965, sách “Việt Cộng: Bộ mặt của cuộc kháng chiến ở Việt Nam” đã tả cảnh một chiến sĩ Quân Giải phóng bị thương, bị bắt và bị tra tấn dã man. Phía Mỹ cho rằng, người lính này khẳng định chỉ chiến đấu vì lòng yêu nước. Nhưng tác giả Ku-nô Knô-bơn đã nhận thấy khuôn mặt của người lính Quân Giải phóng đã bừng sáng khi tên anh hùng giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh được nhắc đến. Từ chối cung khai “tổ chức biên chế của Việt Cộng”, người thương binh đã hy sinh tại trận vì cực hình tàn khốc của kẻ thù.

Lê Đỗ Huy
qdnd.vn

Hồng y Spen -man và cuộc “Thánh chiến” ở Việt Nam

QĐND – LTS: Việc tham chiến trực tiếp của Mỹ đã đẩy chiến tranh Việt Nam vào thời ác liệt nhất. Trong khi Tòa thánh Vatican đã chuyển sang tìm kiếm giải pháp hòa bình cho cuộc chiến thì một hồng y giáo chủ ở Hoa Kỳ vẫn kích động chiến tranh. Đó là Phran -xít Spen -man (Francis Spen-man), “cha đẻ” của nền “đệ nhứt cộng hòa”, theo nhiều tác giả Mỹ. Còn phong trào chống chiến tranh ở phương Tây thậm chí còn gọi cuộc chiến phi nghĩa này của Mỹ là “cuộc chiến tranh của Spen -man”.

Chiến tranh Việt Nam bắt đầu từ đâu?

Hồng y Phran -xít Spen -man (1889-1967) là một chủ đề không mệt mỏi của văn học không hư cấu Hoa Kỳ, nhưng những gì người đọc nhớ được đều là sách bình phẩm, thường khá chua chát, về quãng đời hoạt động của ngài. Đó là các sách như Lễ cầu hồn nước Mỹ: Chúa trời, cha tôi, và cuộc chiến giữa chúng tôi (An American Requiem, God, My Father, and the War that Came Between Us, NXB Mariner Books, 1997), được giải thưởng văn học cao nhất của Mỹ, Vì sao chúng ta đến Việt Nam? Câu chuyện gây sốc về vai trò của Giáo Hội Thiên Chúa trong khởi động cuộc chiến tranh ở Việt Nam (Vietnam Why did we go?: The Shocking Story in the Catholic “Church’s” Role in Starting the Vietnam war; NXB Avro Manhattan), và nhất là cuốn Vị Giáo hoàng của Huê Kỳ: Cuộc đời và thời thế của giáo chủ áo đỏ Spen -man (The American pope: The Life and Times of Francis Cardinal Spen-man, NXB The New York Times Book Co., Inc., 1984) của Giôn Cu -nây (John Cooney). Tác giả Cu -nây đã sử dụng tư liệu từ chính nhật ký của Spen -man, những hồ sơ về Spen -man đã giải mật của FBI, và phỏng vấn nhân chứng để viết cuốn tiểu sử Spen -man được đánh giá rộng rãi là rất có giá trị về lịch sử.

Sách Biến thế giới thành cõi an lạc cho đạo đức giả, dùng hình vẽ Hồng y Spen -man làm bìa minh họa.

Trong cuốn Biến thế giới thành cõi an lạc cho đạo đức giả (Making the World Safe for Hypocrisy, NXB Swallow Press, 1972) tác giả ét -uốt So -ren (Edward Sorel) dùng họa phẩm nổi tiếng Trải qua Giáo hoàng Đề cao vũ khí (Pass the Lord and Praise the Ammunition) của ông, vẽ hình đức Hồng y Spen -man, làm bìa sách. Bức họa này cũng được chú thích dưới là “Cuộc chiến tranh của Spen -man năm 1965” (Spelly’s War in Vietnam 1965), ngụ ý cuộc đổ quân Mỹ vào miền Nam đầu chiến tranh cục bộ [1].

Các bài báo đáng chú ý nói về sự “dính líu” của ngài với chiến tranh Việt Nam thì ta khó có thể điểm hết trong khuôn khổ một bài báo. Ai đó sẽ cãi rằng đó là vì Spen -man đã là vị Tổng tuyên úy của quân đội Mỹ từ trước Thế chiến II, và ngược lại, sẽ có người nhấn mạnh, rằng sinh thời, Ngài còn cổ vũ vài cuộc “binh đao” khác: Như các cuộc xâm lược Cu -ba (Vịnh Con lợn, năm 1961 thời Ken -nơ-di), hay Cộng hòa Dominica (1965-1966 thời Giôn -xơn)

Tuy nhiên, đức Hồng y Spen -man hẳn là giáo chủ đầu tiên “bị” con chiên tới biểu tình trước giáo đường “đại bản doanh” lẫn dinh thự riêng. Nguyên do là chiến tranh ở Việt Nam, một cuộc chiến lần đầu tiên được đặt tên là “cuộc chiến tranh của Spen -man”.

Giêm-xơ Ke -rôn (James Caroll), tác giả cuốn Lễ cầu hồn nước Mỹ…, sinh ra trong gia đình quen biết riêng với Hồng y Spen -man cũng khẳng định: “Chiến tranh ở Việt Nam do chính Spen -man khởi động (The Vietnam War began as Spen-man’s).

Các tác giả nghiên cứu về Hồng y Spen -man nghĩ rằng, ngài đã có ảnh hưởng lớn lao để Tổng thống Ai -xen-hao (Eisenhower) công bố thuyết Domino: “Đang tiềm tàng một chuỗi các sự kiện nối nhau, éông Dương mất, sẽ đến lượt Miến Điện, Thái Lan, các nước vùng bán đảo (ý nói Ma -lai-xi-a, Xin-ga-po), rồi In -àö-nê-xi-a”.

Trong sách “Vị Giáo Hoàng của Huê Kỳ: Cuộc đời và thời thế của giáo chủ áo đỏ Spen -man”, tác giả dành hàng chục trang nói về chủ đề Spen -man và Việt Nam, khẳng định, nếu Spen -man không tìm kiếm những “chí sĩ” như Ngô Đình Diệm để tài trợ, người ta không thể dựng lên cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

Sách “Dòng Jesuit và sự bội phản của giáo hội La Mã” (The Jesuits: The Society of Jesus and the Betrayal of the Roman Catholic Church, NXB Linden, Simon & Schuster, 1987), của tác giả Ma -la-chi Mar-tin, người đã rời bỏ áo lễ thày tu sau nhiều chức vụ quan trọng ở Giáo hội chỉ ra Spen -man (và Tòa thánh Vatican) đã dẫn đường người Mỹ đưa Ngô Đình Diệm lên, và dấn vào “đoạn trường” ở Việt Nam.

“Con nuôi” đại giáo chủ

Từ điển wikipedia cho hay Spen -man học cùng với Ngô Đình Thục ở Trường truyền giáo Roma trước những năm 30 [2]. Họ gặp lại nhau ở Sài Gòn ngay trước ngưỡng cửa thập kỷ 50 [3], khi Spen-man đã hào hùng với ảnh hưởng cả trong lẫn ngoài quân lực Mỹ. Sử liệu tiếng Việt cho rằng Tổng giám mục Sài Gòn người Pháp Giăng Cát -xen (Jean Cassaigne) đã mời Tổng giám mục Vĩnh Long Ngô Đình Thục lên dự buổi tiếp đón Spen -man tại Sài Gòn, 25-5-1948 trong một tái ngộ mang tính định mệnh. Đây hẳn là một cú huých quyết định để Ngô Đình Thục quyết mang ông em Ngô Đình Diệm, đã hàng chục năm rời khỏi chính trường, sang Hoa Kỳ và Rô -ma, tiếng là để dự năm thánh 1950. Cuộc tráng men “lực lượng thứ ba” (vừa chống cộng, vừa chống Pháp) ở Vatican và nhất là ở Hoa Kỳ sẽ dẫn tới sự tái xuất của chính khách lưu vong Ngô Đình Diệm ở Sài Gòn vào đúng lúc ông chủ Pháp vừa ngã ngựa ở thung lũng Điện Biên.

Nhiều nghiên cứu trong ngoài nước nhất trí cho rằng, ông Ngô Đình Diệm có ít nhất hai vị “cha nuôi” người Hoa Kỳ quyền oai tối thượng: Hồng y Spen -man, và… trùm CIA A -len Đa -lớt (Allen Dulles).

Một biên niên của “Đệ nhứt Cộng hòa”

Các tác giả nghiên cứu về mối quan hệ “cha – con” của Đức Hồng y giỏi việc binh đao, và ngài chí sĩ họ Ngô sắp xếp một niên biểu khái lược như sau:

Năm 1951 Diệm sang Mỹ gặp Spen -man. Vị Hồng y lần lượt giới thiệu viên cựu quan triều Nguyễn, Ngô Đình Diệm với thẩm phán tối cao pháp viện Uy -li-am Đâu -glát (William O. Douglas); thượng nghị sĩ Mai -cơn Man -xphiu (Michael Mansfield); Ken-nơ-đi (Kennedy) tổng thống tương lai và phụ thân của ông này; rồi sếp CIA A -len Đa -lớt [4] … Theo Vị Giáo Hoàng của Huê Kỳ …, tr. 242, Spen-man xúc tiến cẩn thận việc sắp xếp chiến dịch nặn ra chế độ Diệm.

Giữa tháng 6-1954, theo hồi ký của Bảo Đại, phía Mỹ ép cựu vương này phong thủ tướng cho Diệm tại Pa -ri. Diệm được Mỹ đưa về Sài Gòn một tháng trước khi Hiệp định Geneva được ký kết.

Năm 1955 nhóm CIA của “phù thủy” ét -uất Len -xđên (Edward Landsdale) phù phép trong “trưng cầu dân ý” phế truất Bảo Đại, tôn phò Ngô Đình Diệm. Diệm lên ngôi “quốc trưởng” với tỷ lệ 92,2%, con số cao hơn cả tổng số cử tri đi bầu (!), theo Stan-lây Kác -nâu (Stanley Karnow) trong Việt Nam, một thiên sử (Vietnam A History, NXB Viking, 1983 trang 239).

Cùng kỳ, theo J. Dunn-gan và A. No -fi, trong Những bí mật nhỏ bẩn thỉu của cuộc chiến tranh Việt Nam, (Dirty Little Secrets of the Vietnam war, NXB Thomas Dunne Books, 1999, tr. 257), Tổng thống Mỹ Eisenhower gửi công hàm chính thức Ngô Đình Diệm cho biết từ đây Mỹ, chứ không còn là Pháp, sẽ viện trợ trực tiếp cho chính quyền Sài Gòn. Từ đó, hàng năm Mỹ viện trợ khoảng 500 triệu đô -la cho chính quyền Diệm.

Các sử liệu cho hay, ngoài viện trợ của chính quyền Mỹ qua quỹ Dịch vụ cứu nạn của Nhà thờ Ki -tô giáo (Catholic Relief Services), đích thân Hồng y Spen -man thăm Sài Gòn, tài trợ thêm cho quỹ này 100 nghìn USD để giúp tái định cư người di cư. …

Tới 1963, Ngô Đình Diệm “thất sủng” chưa từng có. Tháng 11-1963, Spen-man đã làm ngơ (có nguồn nói bật đèn xanh) cho vụ diệt “con nuôi” Ngô Đình Diệm.

Cuốn Truyền thống nhân đạo trong kỷ nguyên Việt Nam (The human tradition in the Vietnam era, NXB Scholarly Resources, 2000) của Đê -vít An -àú-xơn (David L. Anderson), viết tại trang 3: “Uyn-xơn Mít -xcam-bơ khám phá đời sống của Spen -man và vai trò của ông ta như một phát ngôn viên của tâm lý chống cộng trong văn hóa chiến tranh lạnh ở Mỹ. Mít -xcam-bơ cũng khảo sát quan hệ của Spen -man với Ngô Đình Diệm, Tổng thống miền Nam, cũng là một kẻ sùng đạo dòng La Mã. Ngay cả sau khi Diệm chết năm 1963, Spen-man tiếp tục vai “Cha tuyên úy trưởng cho chiến tranh Việt Nam” (unofficially – không được chính thức tấn phong). Ngay cả sau khi Diệm chết, vị Hồng y này vẫn sắt đá bảo vệ “sự chính nghĩa” của cuộc can thiệp vào Việt Nam của Mỹ, bất chấp tâm lý chống chiến tranh lan rộng.

Lê Đỗ Huy
qdnd.vn

[1] http://granddesignexposed.com/who/rules.html
[2] http://en.wikipedia.org/wiki/Ngo_Dinh_Thuc
[3] http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%AAr%C3%B4_M%C3%A1ctin%C3%B4_Ng%C3%B4_%C4%90%C3%ACnh_Th%E1%BB%A5c
[4] Vì sao chúng ta đến Việt Nam, chương 7, Những nhân vật đứng đằng sau cuộc chiến tranh Việt Nam. http://www.reformation.org/chapter7.html

Chủ quyền của Việt Nam trên các vùng quần đảo giữa biển đông dưới thời Tây Sơn

QĐND – Thành tựu to lớn bậc nhất của phong trào Tây Sơn là đã phá bỏ được ranh giới chia cắt Đàng Trong, Đàng Ngoài, bước đầu và đặt cơ sở nền tảng cho sự nghiệp thống nhất đất nước trên phạm vi rộng lớn tương đương với nước Việt Nam ngày nay, trong đó có đường bờ biển chạy dài từ vịnh Bắc Bộ đến vịnh Thái Lan với hàng nghìn hòn đảo ven bờ cùng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Giống như các chúa Nguyễn trước đây, nhà Tây Sơn vẫn tiếp tục tổ chức các đội Hoàng Sa và Bắc Hải với chức năng chủ yếu là bảo vệ và khai thác các vùng quần đảo giữa Biển Đông.

Ngày nay chúng ta biết về các đội Hoàng Sa, Bắc Hải chủ yếu thông qua sách Phủ Biên tạp lục của nhà bác học Lê Quý Đôn. Lê Quý Đôn viết Phủ Biên tạp lục vừa bằng nguồn tư liệu lưu trữ của chúa Nguyễn, vừa bằng nguồn tư liệu mắt thấy, tai nghe. Lúc này cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đã bùng nổ được 5 năm đang phát triển rất mạnh mà quân Trịnh sau gần 2 năm tiến vào Nam đang gặp nhiều khó khăn, Nguyễn Nhạc chủ động hòa hoãn với quân Trịnh để tập trung lực lượng đánh đổ chế độ chúa Nguyễn. Quân Trịnh đã chấp thuận yêu cầu này và rút về Phú Xuân, nên toàn bộ khu vực từ Quảng Nam trở vào Nam lại thuộc quyền kiểm soát của quân Tây Sơn. Vì thế rất nhiều nội dung hoạt động của các đội Hoàng Sa, Bắc Hải được Lê Quý Đôn phản ánh chính là những câu chuyện mà mắt thấy, tai nghe trong khuôn khổ hoạt động của Vương triều Tây Sơn, khi ông làm Hiệp trấn tham tán quân cơ ở Thuận Hóa năm 1776.

Thuyền buồm của đội Hoàng Sa vào thế kỷ 17-18. Ảnh: Kỷ yếu Hoàng Sa.

Tương tự như Lê Quý Đôn, Nguyễn Huy Quýnh là người làng Trường Lưu, xã Lai Thạch, huyện La Sơn (nay là xã Song Lộc, huyện Lộc Hà, Hà Tĩnh), đỗ Tiến sĩ năm 1772, làm quan nhà Trịnh và năm 1775 cũng được điều vào Thuận Hóa đánh chúa Nguyễn. Từ năm 1783 cho đến năm 1785, ông được thăng chức Đốc thị Thuận Quảng và bị chết trận tại đây vào năm 1785. Trong khoảng thời gian hơn 10 năm ở Thuận Quảng, ông đã tập hợp các nguồn tư liệu và hoàn thành cuốn Quảng Thuận đạo sử tập. Sách có bản đồ Cù Lao Ré và phần chú nói rõ trên hòn đảo này có đội Hoàng Sa Nhị được tổ chức riêng “hàng năm thường cử 8 thuyền ra biển nhặt của quý về nộp tại Phú Xuân”. Những hình ảnh thực tế của các đội Hoàng Sa, Bắc Hải mà Lê Quý Đôn, Nguyễn Huy Quýnh phản ánh cũng chính là hình ảnh của các lực lượng khai thác và bảo vệ Biển Đông trong thời Tây Sơn và của Vương triều Tây Sơn.

Phong trào Tây Sơn sau khi bùng nổ đã phát triển rất nhanh và đến cuối năm 1773 đã kiểm soát được một vùng rộng lớn từ Quảng Nam cho đến tận Bình Thuận. Như thế là toàn bộ các vùng quê hương của hai đội Hoàng Sa, Bắc Hải, từ rất sớm, đã nằm trong khu vực kiểm soát của quân Tây Sơn. Nguồn tư liệu thư tịch đương đại khai thác được ở Cù Lao Ré (huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) là minh chứng sinh động cho thực tế này.

Vào ngày 15 tháng Giêng năm Cảnh Hưng thứ 36 (1775), Cai hợp phường Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn), xã An Vĩnh về kho Nội thuộc Hà Bạc, huyện Bình Sơn phủ Quảng Ngãi là Hà Liễu làm đơn trình bày: “Nguyên xã chúng tôi xưa đã có hai đội Hoàng Sa và Quế Hương. Vào năm Tân Mùi (1631), Đốc chiến là Võ Hệ đã đệ đơn tâu xin, được cho lập hai đội nữa là đội Đại Mạo Hải Ba và Quế Hương Hàm với nhân số 30 người. Hàng năm thường nạp thuế bằng 10 (thạch) đồi mồi, hải ba, 5 lượng quế hương. Đến năm Quý Mão (1723), vâng lệnh truyền rằng: Dân trong thuộc Hà Bạc ai có bằng son, đơn son thì nạp thuế biệt nạp và mang theo sổ sách. Thế là dân số phải bổ sung, dân binh cũng bắt đầu. Đến đó quân nhân xã chúng tôi còn 23 người, phải bổ sung người và chi tiền đi đường như trước, nên cai đội mới đốc suất được công việc từ đó đến nay. Bây giờ (năm 1775), chúng tôi lập hai đội Hoàng Sa và Quế Hương như cũ gồm dân ngoại tịch, được bao nhiêu xin làm sổ sách dâng nạp, vượt thuyền ra các đảo, cù lao ngoài biển tìm nhặt các vật hạng đồng, thiếc, hải ba, đồi mồi được bao nhiêu xin dâng nạp. Nếu như có tờ truyền báo xảy chinh chiến, chúng tôi xin vững lòng ứng chiến với kẻ xâm phạm. Xong việc rồi chúng tôi lại xin tờ sai ra tìm nhặt báu vật cùng thuế quan đem phụng nạp. Xin dốc lòng làm theo sở nguyện chẳng dám kêu ca. Chúng tôi cúi đầu mong ơn”. Tờ đơn này đã được chính quyền Tây Sơn (Thái Đức – Nguyễn Nhạc) xem xét, chuẩn cho và hiện vẫn còn lưu giữ tại nhà thờ họ Võ, phường An Vĩnh (nay là thôn Tây, xã Lý Vĩnh, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi). Đây là tài liệu chính thức và xác thực xác nhận đội Hoàng Sa đã xuất hiện từ đầu thế kỷ XVII, hoạt động liên tục trong các thế kỷ XVII, XVIII, thể hiện rõ vai trò, chức năng khai thác và bảo vệ chủ quyền dưới danh nghĩa chính thức thực thi các nhiệm vụ được Vương triều Tây Sơn (Thái Đức) giao phó và quản lý.

Thuyền buồm của đội Hoàng Sa vào thế kỷ 17-18. Ảnh Tư liệu.

Cũng tại nhà thờ họ Võ, đến nay vẫn còn giữ được bản Chỉ thị ngày 14-2 năm thứ 9 niên hiệu Thái Đức (1786) của Thái phó Tổng lý Quản bình dân chư vụ Thượng tướng công “Sai Hội Đức hầu, Cai đội Hoàng Sa luôn xem xét, đốc suất trong đội cắm biển hiệu thủy quân, cưỡi 4 chiếc thuyền câu vượt biển thẳng đến Hoàng Sa cùng các xứ cù lao ngoài biển, tìm nhặt đồ vàng, bạc, đồng và các thứ đại bác, tiểu bác, đồi mồi, vỏ hải ba, cá quý… đều chở về kinh, tập trung nộp theo lệ”. Ngoài ra còn có bản Ngự phê lời tâu của xã An Vĩnh về việc dâng nộp các loại đồi mồi, hải ba, quế hương và xin miễn sưu dịch đã được thánh chỉ ban thưởng vàng và phê “Chuẩn cho”. Văn bản chép rõ: “Niên hiệu Thái Đức năm đầu đến năm thứ 15 (1778-1792)” và “niên hiệu Cảnh Thịnh năm đầu đến năm thứ 9 (1793-1801)”. Tờ đơn của phường An Vĩnh trên đảo Cù Lao Ré xin được tách ra khỏi xã An Vĩnh trong đất liền đề ngày 11-2 năm Gia Long thứ 3 (1804) cho biết, dưới thời Tây Sơn cũng như thời các chúa Nguyễn trước đó, việc tổ chức các đội Hoàng Sa Đại Mạo là công việc chung của cả phường An Vĩnh lẫn xã An Vĩnh. Đến đây, phường An Vĩnh mới được chính thức tách ra khỏi xã An Vĩnh trong đất liền, được miễn các nghĩa vụ đắp đê hay đền bù phần sưu thuế thiếu hụt do dân xã An Vĩnh phiêu tán không đảm đương hết, được phép tuyển lập các đội khai thác và bảo vệ các vùng biển đảo không phụ thuộc vào xã An Vĩnh nữa.

J. Barrow là phái viên thuộc của phái bộ của Bá tước Macartney viếng thăm xứ Đàng Trong kể lại trong cuốn Một chuyến du hành tới xứ Đàng Trong, vào những năm 1792-1793: “Các tàu thuyền xứ Đàng Trong dùng vào việc buôn bán ven biển, chài lưới, thu lượm hải sản và tổ yến trong nhóm quần đảo gọi là Paracels (Hoàng Sa), thuộc nhiều kiểu dáng khác nhau…”. Nguồn thông tin này xác nhận những mối liên quan mật thiết và chủ quyền quần đảo Hoàng Sa là thuộc về chính quyền Đàng Trong (lúc đó là chính quyền Quang Toản), cũng như sự có mặt thường xuyên của tàu thuyền Tây Sơn tại vùng quần đảo này.

Những tư liệu trên đã góp phần xác định hoạt động thực thi chủ quyền trên các quần đảo giữa Biển Đông dưới thời Tây Sơn thật phong phú, liên tục, không chỉ dừng lại ở các chủ trương của nhà nước, mà trong thực tế đã được chính quyền và nhân dân địa phương thực hiện một cách đầy đủ, nghiêm chỉnh.

Chiến thắng triều Tây Sơn, nhà Nguyễn vẫn tiếp tục chính sách tiến ra biển, khẳng định và giữ vững chủ quyền của Việt Nam trên khu vực các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các triều Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị… đã thực thi chủ quyền của mình bằng nhiều hình thức và biện pháp như vãng thám, kiểm tra, kiểm soát, khai thác các hóa vật và hải sản, tổ chức thu thuế và cứu hộ tàu bị nạn, khảo sát, đo vẽ bản đồ, dựng miếu thờ, lập bia chủ quyền, dựng bài gỗ lưu dấu để ghi nhớ, trồng cây để cho người qua lại dễ nhận biết… Tất cả các hoạt động này đều đặt dưới sự chỉ đạo thống nhất và chặt chẽ của nhà nước. Những đóng góp đỉnh cao và đặc biệt quan trọng của Vương triều Nguyễn vào lịch sử chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông chính là sự tiếp nối và nâng cao chính sách của Vương triều Tây Sơn cũng như của Chúa Nguyễn trước đó.

GS.TS Nguyễn Quang Ngọc – Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển
qdnd.vn

Tập đoàn kẻ cướp

Để hút đến giọt máu cuối cùng của đất nước khốn khổ chúng tôi, nghề ǎn cướp thực dân như con bạch tuộc, đang xiết chặt bằng nhiều cái vòi hút độc quyền không biết chán: độc quyền muối, độc quyền rượu, độc quyền thuốc phiện, v.v..

Ông Combane, một nhà thám hiểm Pháp viết: Nói về các món độc quyền, người ta có thể hình dung Đông Dương như một con nai béo đẹp bị trói chặt tàn nhẫn và đang hấp hối dưới những cái mỏ quắm của bầy diều hâu rỉa móc mãi không biết chán.

Trong số những người có cổ phần ở công ty độc quyền rượu, có nhiều nhân vật cao cấp nhất ở Đông Dương; tất cả các ngành cai trị đều có những ngài tai to mặt lớn ở trong công ty. Phần đông các quan lớn này, hơn những kẻ khác, đều rất có lợi cho công ty không ai chối cãi được.

Để giải quyết những vụ lôi thôi với những kẻ phải đóng thuế, công ty có ở ngành tư pháp:

2 Chưởng lý
1 Biện lý
1 Lục sự

Để đàn áp những cuộc phiến loạn có thể xảy ra chống lại chế độ độc quyền, công ty có ở ngành quân sự

1 Thiếu tướng
1 Trung tá
2 Quân y sĩ cao cấp
1 Thiếu tá
2 Đại uý

Được sự ân cần dễ dãi của ngành hành chính là điều bảo đảm nhất cho kết quả của việc kinh doanh nên công ty có:

1 Công sứ
1 Chủ sự tài chính
1 Tổng giám đốc ngân khố
1 Thanh tra bưu chính
1 Chủ sự trước bạ
1 Quan cai trị
2 Giáo sư

và cuối cùng là ngài dân biểu và nghị viên hội đồng thuộc địa. Những nhà máy rượu được Nhà nước cho phép ở Bắc Kỳ chỉ nấu rượu độ cao (80 độ) rồi pha thêm nước lã vào để rút xuống độ hợp pháp là 40 độ.

Trước đây, một khi cần dùng, người bản xứ chỉ quen mua một ít rượu thôi; họ mang chai thế nào đi đựng cũng được. Nhưng nay người ta đặt ra chai có đóng dấu số. Rượu chỉ bán trong chai được Nhà nước công nhận nửa lít hay một lít mà thôi. Người An Nam quen dùng rượu từ 20 đến 22 độ; ngày nay người ta bắt họ uống thứ rượu nặng từ 40 đến 42 độ. Chưa hết. Người bản xứ cũng chú ý đến hương vị của rượu nữa; cái đó cũng chính đáng thôi. Họ quen dùng một thứ rượu có hương vị thơm dịu do nguyên liệu cất rượu tốt, đặc biệt là bằng thứ gạo tốt hạng nhất. Bây giờ, người ta làm thế nào? Người ta đã thay thế những nguyên liệu ấy bằng thứ gạo xấu nhất, bán trên thị trường rẻ tiền nhất. Thứ rượu mà hiện nay người ta tống vào họng người An Nam đã được nấu bằng những nguyên liệu như thế đấy.

Ông Đềbô, người chiếm độc quyền, có ra một bản thông tư bắt tất cả nhân viên phải pha thêm nước vào rượu đem ra bán, cứ một trǎm lít rượu thì pha thêm tám lít nước lã.

ở Đông Dương, mỗi ngày bán được 500.000 lít rượu, như thế tính ra có 4.000 lít nước lã; 4.000 lít nước lã, mà mỗi lít ba hào, thế là 1.200 đồng một ngày, 36.000 đồng một tháng. Thế là chỉ bán nước lã không thôi, mỗi nǎm công ty độc quyền đã thu một món lời nhỏ là 432.000 đồng, nghĩa là l.080.000 phrǎng.

Dân Đông Dương chẳng ưa dùng thứ rượu ấy chút nào. Nhưng người ta làm đủ cách để tống vào họng họ.

Người ta cưỡng bức người An Nam phải chịu chế độ ấy. Chính phủ phải luôn luôn chi tiêu những khoản cấp bách, phải trả những món kinh phí cứ tǎng lên mãi của phủ toàn quyền, những khoản vay nợ lớn, những công trình dân dụng hay quân sự ở khắp nơi mà chẳng bao giờ hoàn thành cả, phải cần thiết xoay xở những món tiền, nếu không phải để cho những công vụ thật sự – thì ít ra cũng là để đài thọ hàng bầy công chức từ Pari tống sang. Cho nên Chính phủ phải tìm đủ mọi cách thúc đẩy các công chức, nhân viên, từ quan công sứ đến người nhân viên hạng bét, bắt dân tiêu thụ thêm rượu.

Đây là một câu chuyện đầy ý nghĩa về một viên chức làm thủ hiến tỉnh Sơn Tây (Bắc Kỳ).

Dân số tỉnh này có độ 200.000 người. Nhưng khi cần tǎng mức tiêu thụ rượu lên, dân số tỉnh này đột ngột tǎng lên nhanh chóng: người ta cho nó lên ngay 230.000 người. Nhưng vì số 230.000 dân đó uống còn ít rượu quá, nên quan lớn công sứ Sơn Tây còn phải xoay xở, đẩy số rượu tiêu thụ cả nǎm lên đến 560.000 lít.

Lập tức Ngài được thǎng chức; Ngài được khen thưởng nữa.

Ông Đờ C. khẳng định rằng một viên công sứ khác đã đưa ông xem một bức thư của cấp trên, trong đó nói: “Số rượu tiêu thụ ở phủ X. tính bình quân theo số đã định cho dân, đã tụt xuống kém mức Z rồi. Ông có nghĩ rằng cần phải làm gương cho các nơi khác hay không?”.

Viên công sứ bị khiển trách như thế liền họp hào lý lại, giải thích cho họ nghe là sở dĩ họ tiêu thụ ít rượu thế là vì họ có nấu rượu lậu. Để được yên thân, các làng liền mua ngay đủ số rượu của Nhà nước mà các phòng giấy đã quy định cho họ tính theo dân số.

Tuy không phải bằng cách hợp pháp, nhưng thực tế người ta đã quy định cho mỗi người dân bản xứ hằng nǎm phải tiêu thụ bao nhiêu rượu, và khi người ta đã nói MỗI NGƯờI DÂN BảN Xứ, thì chớ có tưởng rằng người ta chỉ tính những người lớn mà thôi, mà người ta tính TOàN Bộ DÂN Số, từ người già, đàn bà, trẻ em, đến cả những đứa còn đang bú mẹ; người ta buộc họ hàng thân thuộc uống thay cho những người này, mà uống thay chẳng những một lít mà đến hai ba lít kia.
Dân một làng thuộc Bắc Kỳ, vì bị đe doạ, buộc phải uống rượu, đã đến kêu với quan của họ: “Chúng tôi biết làm thế nào? Chúng tôi không có tiền để ǎn cho đủ no nữa là…”. Quan của họ đáp: “Chúng mày thường ǎn mỗi ngày ba bữa; chúng mày chỉ bớt đi một bữa, hay nếu cần thì bớt đi một bữa rưỡi, là có thể mua rượu của Nhà nước được chứ gì”.

Đấy, ông Ph.đơ Prétsǎngsê nói chuyện trước nghị viện như vậy đấy.

Người ta có một kho hình phạt đầy đủ ghê gớm để giáng xuống đầu những người dân bản xứ cứng đầu cứng cổ. Có những khoản phạt tiền từ 200 đến 3.000 đồng. Có những án phạt tù lên tới ba nǎm. Lại còn có điều luật mới mẻ này nữa định rằng mỗi lần bị tuyên án phạt tiền, thì người bị phạt lại phải chịu một khoản bồi thường cho công ty rượu bằng số tiền phạt!

Không phải là quan toàn quyền không biết rằng người An Nam chẳng bao giờ đóng nổi những món tiền to đến thế. Nhưng ngài vẫn muốn cứ làm tiền cho kỳ được, nên con người khôn ngoan khéo léo ấy đã dự kiến rằng làng xã có thể phải liên đới chịu trách nhiệm với người can phạm (điều 4).

Bạn có thể bảo: Muốn kết án cả làng xã, thì dù sao cũng phải xác định rằng làng xã ấy có đồng lõa đã chứ.

Không đâu. Với điều 4 thì chẳng cần phải là như thế. Làng nào không kiếm cách ngǎn giữ cho người ta khỏi phạm pháp, thì khi Nhà nước bắt được, làng ấy phải chịu trách nhiệm về khoản tiền phạt của kẻ phạm tội.

Thật là quỷ quái hiểm độc, vì chỉ cần những tay sai của bọn chủ trưng thuế, – chúng nó được thuê tiền để phát giác ra cho được thật nhiều vụ phạm pháp, – khai ra là làng đó chẳng làm gì để ngǎn ngừa các vụ ấy, thế là đủ để buộc tội cho cả làng rồi.

Tiết 3 trong điều luật đã quy định cách thức lập biên bản về những vụ phạm pháp mà bọn tay sai của chủ trưng thuế có quyền làm.

Nhưng khoản này có trở ngại. Vì những tên tay sai ấy dốt nát thường làm biên bản không hợp lệ. Người ta khắc phục khó khǎn ấy bằng cách cho viên chức nhà đoan ở tỉnh lỵ làm biên bản, cǎn cứ trên báo cáo của bọn tay sai của chủ trưng thuế. Bọn này bắt được một vụ phạm pháp cách xa tỉnh lỵ 15 hay 50 kilômét, chúng làm báo cáo. Một nhân viên nhà đoan, ở Hà Nội chẳng hạn, mắt không được chứng kiến sự việc xảy ra, lập biên bản làm cơ sở cho việc xử án. Thật khó mà tưởng tượng được rằng lại có sự vi phạm tất cả hình luật của nước Pháp, truy tố người ta dựa trên biên bản của một nhân viên mắt không được chứng kiến sự việc và chẳng có chút trách nhiệm gì, chẳng có một bảo đảm gì về mặt pháp lý cho bị cáo.

Khi bị xét thấy là phạm pháp, người An Nam bị bắt và giải về Hà Nội hay Hải Phòng, những thành phố cách xa biên giới Trung Quốc từ 200 đến 250 kilômét, để xét xử ở đó, nghĩa là để bị kết án.

Không có tổ chức gì để người bị cáo có thể tự bào chữa cho mình cả.

Báo chí Bắc Kỳ thường thuật lại tình cảnh những người khốn khổ ấy – có lúc đến trǎm người, – bị điệu đi lên toà án Hà Nội hay Hải Phòng vì phạm tội buôn lậu (thường mới chỉ bị tình nghi buôn lậu). Có một tờ báo viết: “Chúng tôi lấy làm ngạc nhiên – mà kể cũng đáng ngạc nhiên thật khi thấy cảnh binh giải về Hà Nội hay Hải Phòng, từng đoàn dài ông già, đàn bà có mang, trẻ con, cứ hai người một trói vào với nhau, để trả lời về tội vi phạm thuế thương chính”.
Nhưng thế cũng chưa thấm vào đâu so với các tỉnh, nhất là các tỉnh Trung Kỳ, ở đây viên công sứ kết án và bỏ tù hàng loạt, già có, trẻ có.

Và một đoạn khác nói: “Người An Nam thừa hiểu rằng người Pháp là những kẻ mạnh hơn, nhưng không phải là những kẻ công bằng, đạo đức hơn”.

Cũng tờ báo ấy, trong một số khác, nói một cách cảm động và buồn rầu về những người bà con thân thuộc khổ não, lật đật theo sau đám tù như sau:

“Ông già, đàn bà, trẻ con, tất cả đám người ấy đều bẩn thỉu, rách rưới, mặt hốc hác, mắt đỏ ngầu vì đang lên cơn sốt, trẻ con bị lôi theo vì bước không kịp. Tất cả những con người đã kiệt sức ấy, mang theo đủ mọi thứ, nào nón, nào quần áo rách, cơm nắm, thức ǎn đủ thứ, để lén lút đưa cho người bị cáo là cha, là chồng, là người nuôi sống gia đình, hầu hết là chủ gia đình”.
Đau xót hơn nữa là thấy các vụ ấy đều bị xử bất công và kết án một cách tàn nhẫn.

Ông Combane, mà tôi đã nói đến ở trên, bảo rằng: Những người nông dân bị tình nghi không kể là oan hay đúng đã nấu rượu lậu hay buôn rượu lậu có lẽ phải thèm cái số phận những người Nga bị cảnh binh Nga hoàng lùng bắt vì bị cho là những người đi khủng bố. Ông còn nói tiếp:

Bị xúc phạm về tín ngưỡng và quyền lợi, bị ép phải uống một thứ rượu khốn nạn làm bằng tấm gạo mục, nếu không cả làng bị khủng bố…, còn đợi gì nữa mà người ta không nổi dậy chống lại.

Dù có diễn tả thế nào đi nữa vẫn chưa nói hết được sự thật một nhà vǎn ở thuộc địa, bây giờ đã lạc hậu, đã phải kêu lên như thế. Chưa có bao giờ ở một thời đại nào, ở một nước nào, người ta lại vi phạm mọi quyền làm người một cách độc ác trơ tráo đến thế.

Về vấn đề này, ông Mítximi, nghị sĩ và cựu bộ trưởng, đã viết: Công chức và nhân viên nhà đoan, khi đuổi theo người buôn lậu, có quyền đi qua cả đất đai nhà tư của người ta. Một biên bản, bắt đầu lập lúc còn ban ngày, vẫn có thể tiếp tục làm ban đêm ở ngay nhà người bị cáo, nghĩa là bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, ngày cũng như đêm, nhà đoan muốn làm khổ người An Nam cũng được cả.
Không phải chỉ có những cuộc khám nhà thường xuyên mà còn có những cuộc khám xét thân thể người bản xứ ở bất kỳ chỗ nào, bất kỳ là nam hay nữ nữa. Nhân những cuộc khám xét thân thể, người ta đã lạm dụng ghê gớm biết chừng nào! Nhân viên nhà đoan vào nhà người bản xứ, thấy có đàn bà và con gái, bắt họ lột hết quần áo trước mặt chúng, và khi họ đã trần truồng như nhộng thì chúng giở trò tinh nghịch đến nỗi đem cả con dấu nhà đoan đóng lên người họ!.

Ông Đờ C. kể chuyện rằng ông đã được gặp ở miền Bắc Trung Kỳ một viên quản đoan say sưa như điên cuồng với việc đàn áp những người An Nam lậu thuế. Hắn nói về các cuộc hành trình xông xáo ở các làng mạc với vẻ thích thú vô cùng mọi rợ; nghĩ đến lúc đi bao vây các túp lều tranh khi còn mờ sáng, hắn lấy làm khoái trá. Tất cả lý lẽ của hắn chỉ còn là cái dùi cui mà hắn vung lên. Những nhân viên như thế chắc hẳn phải làm cho đời sống của nhân dân được ấm êm lắm đấy, nhất là lúc chúng vào nhà họ sục sạo, đảo lộn ngược xuôi mọi thứ lên, lục soát cả đến bàn thờ tổ tiên.

Ở Pháp, người ta chỉ dùng những biện pháp thật chính đáng và thật ôn hoà đối với những vụ gian lậu, và dân có quyền nấu rượu nếu chỉ dùng những nguyên liệu do mình sản xuất lấy, ấy thế mà cũng có nhiều vụ phản đối dữ dội xảy ra. ở bên Pháp nếu cũng áp dụng một chính sách giống như ở Đông Dương thì nhất định không tránh khỏi đổ máu. Dân tộc An Nam phải là nhẫn nhục và điềm tĩnh quá đáng mới không nổi loạn.

ở khắp các nước vǎn minh, người ta cấm dùng thuốc phiện, thế mà ở Đông Dương, nhà nước lại nấu, chuyên chở và bán thuốc phiện.

Những người thành thạo trong việc nấu thuốc phiện sống, trong việc chế biến nhiều lần, quả quyết rằng công ty trưng thầu thuốc phiện đã dùng nước lã thay cho rượu cồn tinh khiết, rằng người ta cứ để nguyên trong thuốc phiện các chất độc đáng lẽ phải lọc ra, rằng người ta rắc cả vào thuốc phiện một thứ bụi kim loại đặc biệt làm cho nó nặng cân lên.

Bài xích thuốc phiện về phương diện vệ sinh, nhưng người Pháp lại hết sức làm cho việc hút thuốc ấy lan tràn ra khắp nơi để công quỹ được thǎng bằng. Trong lúc bão lụt tàn phá Đông Dương, giữa lúc đói kém, Nhà nước chỉ có một mục đích: bán mạnh thêm thuốc phiện và rượu. Người ta đánh giá các quan cai trị không phải bằng tài cai trị khôn khéo, mà bằng việc bòn rút người bản xứ… Đó là tất cả công ơn của nền vǎn minh giả nhân giả nghĩa, nó đã đẩy người bản xứ vào mọi thứ bê tha có lợi cho nó, mà người đời ai cũng phỉ nhổ.

Để kết luận, tôi thấy cần phải trích dẫn bản thông tư của ông Anbe Xarô, khi ông làm toàn quyền Đông Dương, gửi cho tất cả các viên công sứ như sau:

“Kính gửi ông công sứ,

“Tôi trân trọng yêu cầu ông hết sức giúp đỡ Nha thương chính đặt thêm đại lý thuốc phiện và rượu, theo chỉ thị của ông tổng giám đốc Nha thương chính Đông Dương.

“Để công việc tiến hành có kết quả, tôi xin gửi ông một bản danh sách những đại lý cần đặt trong các xã đã kê tên; tới nay phần đông các xã này vẫn hoàn toàn chưa có rượu và thuốc phiện.

“Thông qua các quan và các xã trưởng Cao Miên, ông có thể dùng ảnh hưởng lớn của ông để làm cho một số tiểu thương người bản xứ thấy rằng buôn thêm rượu và thuốc phiện là rất có lợi.

“Về phần chúng tôi thì những viên chức lưu động trong lúc đi kinh lý cũng tìm cách đặt đại lý, trừ khi nếu ông công sứ muốn họ chờ ông vận động các quan chức địa phương trước đã, thì họ phải chờ. Trong trường hợp ấy, tôi xin ông vui lòng báo cáo cho tôi biết.

“Chúng ta chỉ có thể đạt được kết quả mỹ mãn, nếu chúng ta đồng lòng phối hợp chặt chẽ và liên tục, vì lợi ích tối đa của công khố.

Ký tên: Anbe Xarô
Toàn quyền Đông Dương

Nên chú ý rằng lúc đó, trong 1.000 làng đã có 1.500 đại lý rượu và thuốc phiện, mà trường học thì vẻn vẹn có 10 cái; mỗi nǎm, người ta đầu độc dân bản xứ, cả đàn bà lẫn trẻ con, bằng 23 tới 24 triệu lít rượu và hơn 100.000 kilôgam thuốc phiện! Bán những thứ thuốc độc ấy mỗi nǎm lời gần 130 triệu phrǎng.

Cũng trong thời kỳ ấy, người ta chỉ tiêu cho ngành y tế không đầy 400.000 phrǎng và chỉ có 1 triệu phrǎng cho ngành giáo dục, nghĩa là cho công việc xã hội một phần trǎm số thu nhập của việc đầu độc, thế không phải là một chế độ kỳ diệu lắm sao!

Muối là vật phẩm tối cần cho dân chài lưới, thế mà dân An Nam đã phải đặc biệt xót xa vì muối!

Lúc đầu thuế muối chỉ có 5 xu, rồi đến 3 hào, lên dần đến 5 hào, đến 1 đồng, rồi đến 1 đồng sáu. Trong vòng không đầy bảy nǎm, thuế muối đã tǎng lên gấp mười lần. Bây giờ họ bắt người làm muối An Nam phải cung cấp muối cho Nhà nước theo giá 17 xu một tạ. Nhà nước bán lại cho những người tiêu thụ bản xứ 1 đồng 7.

Kết quả cho An Nam là nghề đánh cá bị phá sản. Cho đến nay ở nhiều nơi, dân đánh cá và dân làm muối hợp tác với nhau thành phường, nhờ đó họ làm nước mắm không cần phải vốn. Nhà nước độc quyền giải tán những phường ấy chẳng chút bồi thường. Mặt khác, giá muối tǎng lên quá quắt làm cho người đánh cá không sẵn vốn không thể mua trữ được đủ số muối cần thiết cho một chuyến đi cá. Vì thế, phần lớn những người làm cá đã phải bỏ nghề.

Nghề làm muối trước kia là một công nghiệp phát đạt nhất ở Đông Dương; người ta đã cố tình làm cho nó suy đồi, chỉ để lại số ruộng muối cần thiết cho việc ǎn uống. Việc xuất cảng muối bị đình chỉ hẳn. Suốt trong thời kỳ chiến tranh, nước Nhật xin mua muối chẳng được.

Tệ hơn nữa, vì người ta không thể tính được số ruộng muối cần thiết cho việc ǎn uống, thành ra hằng nǎm nhà đoan lại phải mua muối của Trung Quốc. Trước kia, An Nam xuất cảng muối (l00.000 tấn trong nǎm 1896), bây giờ lại phải nhập cảng để tiêu dùng.

Xưa kia, ở vùng đồng bằng Bắc Kỳ, không có nǎm nào là hoàn toàn mất mùa. Khi nước lụt tràn ngập đồng ruộng, thì cá theo nước vào nhiều; người bản xứ lại làm mùa cá. Bây giờ thì không thể được, vì không có muối. Mặt khác, dân chúng trước thì ǎn quen một thứ muối thôi, bây giờ thì bất cứ thứ nào, họ cũng phải nhận vậy. Các bạn thử tưởng tượng xem người quen ǎn muối nhỏ trắng bây giờ phải ǎn muối đen khó chịu như thế nào. Hơn nữa muối chuyên chở từ Nam Kỳ ra Bắc Kỳ phải chịu tiền vận tải khá đắt, nhà đoan liền tǎng giá muối bán cho công chúng. Người ǎn phải trả đắt hơn từ 20 đến 25% cho một thứ muối mình chẳng ưa chút nào.

Kho muối rất ít mà lại ở cách quãng rất xa nhau, nên người bản xứ ở các làng phải nhờ người Hoa chuyên chở về cho và những người này lại lợi dụng tự tiện tǎng giá muối lên, nhiều ít tuỳ chỗ xa gần.

Khi đặt ra thuế muối, người ta quyết định tư nhân không được tích trữ quá 15 kilôgam. Để kiểm soát, nhân viên nhà đoan phải khám xét, mà họ khám xét tuỳ theo sở thích của họ. Chỉ cần có kẻ tố cáo là họ khám xét đảo lộn cả nhà người ta lên.

Dân chúng khiếp sợ nhân viên nhà đoan đến nỗi khi vừa được tin các ngài tới, họ liền bỏ cửa bỏ nhà ra đi, mặc cho các ngài muốn làm gì thì làm. Thấy đàn bà con gái ở nhà, các ngài liền xử sự theo thói của kẻ chiến thắng trên đất nước chiến bại. (Đại tá Bécna).

Chính sách độc quyền muối nhắc người ta hồi tưởng đến một chính sách bị nguyền rủa nhất của chế độ cũ ở nước Pháp: thuế muối. Nhưng cái thuế muối ở Đông Dương này không phải như thuế muối đóng góp cho quốc gia ở Pháp, mà là một thứ thuế muối do những con người không biết cả tiếng nói nước mình bắt mình phải đóng góp cho một ông chủ người ngoại quốc.

Một bầy ǎn cướp đã làm cho cả một dân tộc đói khát khốn cùng, đã làm cho cả một công nghệ quốc gia bị phá sản như thế đấy.

cpv.org.vn

Cải cách… tiền thưởng?

QĐND – Cuối năm 2011, tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương xảy ra vụ bắt cóc trẻ sơ sinh khiến dư luận bàng hoàng. Ngành chức năng lập chuyên án đặc biệt, huy động lực lượng khá lớn… ráo riết truy tìm mấy ngày đêm. Cuối cùng, nhờ tin báo và sự hướng dẫn trực tiếp của một tài xế tắc -xi, thủ phạm đã bị bắt tại một địa bàn khá xa Hà Nội. Người tài xế đã được lãnh đạo Ban chuyên án biểu dương và thưởng “nóng” hai trăm năm mươi ngàn đồng (250.000 VND), theo đúng quy định của ngành (!)

Trung tuần tháng 6-2012 vừa qua, nhóm 5 thầy trò một trường THPT ở Sóc Trăng đoạt hai giải thưởng cuộc thi cấp quốc gia về sáng kiến kỹ thuật bảo vệ môi trường. Đó là hai đề tài “Lọc nước bằng than vỏ gòn” và “Xử lý nước thải bằng hệ thống lọc đa năng” có giá trị thực tiễn rất lớn ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long. 5 thầy trò đã phải vay mượn 16 triệu đồng để ra Hà Nội nhận giải, vì theo quy định họ phải tự túc tiền tàu xe, ăn nghỉ… Và trị giá của hai giải thưởng họ nhận được tổng cộng là… 5 triệu đồng (!)

Ai cũng thấy giá trị của những khoản tiền thưởng trên đây là quá thấp so với thời giá hiện nay và so với giá trị nhiều mặt mà những việc làm, những sáng kiến trên đây mang lại. Nhưng cũng không thể trách ai, vì đấy là quy định chung, không thể “vượt rào, phá ngưỡng”.

Lại có người so sánh những món tiền thưởng trên đây với hàng chục, hàng trăm triệu đồng tiền thưởng các cuộc thi người đẹp, thi thời trang và những trò “vui chơi có thưởng” đang được quảng bá rầm rộ trên các phương tiện truyền thông. So như thế cũng không ổn, vì một bên là tiền thưởng “chính thống”, giải thưởng “quốc doanh”; còn một bên là tiền thưởng do các doanh nghiệp, doanh nhân, tổ chức… đóng góp theo phương thức xã hội hóa.

Tuy nhiên từ sự so sánh trên đây, cho thấy việc khen thưởng trong phong trào thi đua yêu nước ở một số cấp, ngành, lĩnh vực… cũng cần được xã hội hóa để huy động được nguồn kinh phí dồi dào nhằm khen thưởng kịp thời và xứng đáng những tấm gương người tốt, việc tốt, những điển hình tiên tiến có những thành tích nổi bật, những đóng góp xuất sắc… Chẳng hạn, những “Quỹ khen thưởng phòng, chống tội phạm”; “Quỹ khen thưởng sáng kiến cải tiến kỹ thuật” v.v… là rất cần thiết.

Mặt khác, các ngành chức năng cần nghiên cứu cải tiến chế độ tiền thưởng hiện nay theo kịp với thời giá và mặt bằng kinh tế -xã hội nói chung; đừng kéo dài tình trạng chênh lệch quá lớn giữa nhiều giá trị giải thưởng “chính thống” với giá trị các giải thưởng xã hội hóa. Hiện tượng này cùng với sự bất hợp lý của chế độ tiền lương Nhà nước hiện nay, chính là một trong những nguyên nhân của nhiều vấn nạn tiêu cực, kìm hãm phong trào thi đua yêu nước -một động lực quan trọng thúc đẩy xã hội phát triển!

Tuyên Hóa
qdnd.vn

Chưa thể “thả nổi”!

QĐND – Hơn 90% khán giả đến rạp xem phim hiện nay là thanh niên và thiếu niên, trong đó chủ yếu là đối tượng học sinh -sinh viên (HS-SV). Đó là kết quả khảo sát được đưa ra trong một hội thảo khoa học về điện ảnh gần đây. Tuy nhiên, trong khoảng một thập niên gần đây, rất hiếm có những bộ phim về đề tài nhà trường dành cho lứa tuổi HS -SV, hay còn gọi là “phim học đường”. Các em đến rạp chủ yếu để xem “phim người lớn”, phim giải trí, phim nước ngoài… Đó là một thực tế rất đáng phải suy nghĩ.

Nói chính xác thì thời gian qua cũng có một số bộ “phim học đường” đã được trình chiếu, nhưng đó toàn là phim của các hãng tư nhân và số lượng cũng vô cùng ít ỏi. Điều đáng nói hơn là vì phim tư nhân nên họ chỉ tung ra vào các dịp Tết, dịp hè tại các thành phố lớn để có doanh thu cao. Nội dung phim cũng nặng về giải trí và vì vậy hiệu quả nghệ thuật rất hạn chế. Thực tế là hầu hết các bộ phim này đều có đời sống nghệ thuật rất ngắn ngủi.

Rõ ràng thời gian qua, ngành điện ảnh nước ta đã để trống một đối tượng khán giả đông đảo là HS -SV. Đây cũng là đối tượng cần được chăm lo giáo dục, bồi dưỡng những phẩm chất cao đẹp của con người mới XHCN để đảm đương trọng trách của thế hệ chủ nhân tương lai đất nước. Điện ảnh, với những lợi thế đặc trung của bộ môn nghệ thuật thứ bảy, có tác dụng rất lớn trong công tác giáo dục, bồi dưỡng ấy.

Nhìn sang các lĩnh vực nghệ thuật khác cũng có tình trạng tương tự. Ngày nay, việc phân biệt các sản phẩm “nghệ thuật Nhà nước” và “nghệ thuật tư nhân” là hết sức khiên cưỡng và lạc hậu. Tuy nhiên, bên cạnh chức năng giải trí, văn học -nghệ thuật còn có chức năng nhận thức và thẩm mỹ. Chính vì vậy, Đảng ta đã xác định “văn nghệ là vũ khí tư tưởng sắc bén”. Trong bối cảnh kinh tế -xã hội hiện nay, việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong xu thế hội nhập; việc giáo dục, định hướng những mục tiêu, lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ trong cơ chế thị trường… chắc chắn chưa thể “thả nổi” cho các tổ chức kinh doanh văn hóa, cho các “sân chơi” nghệ thuật nặng tính thương mại. Các ngành chức năng Nhà nước và các tổ chức chính trị -xã hội cần phải quan tâm đầu tư thích đáng hơn nữa cho văn học -nghệ thuật để vũ khí tư tưởng ấy phát huy hiệu quả thiết thực.

Mai Nam Thắng
qdnd.vn

Thông cảm với… sự yếu kém?

QĐND – Nhiều năm nay, xe bus Hà Nội và một số thành phố khác bị gọi là “hung thần” bởi chất lượng phục vụ kém; nổi cộm là phương tiện cũ nát và tình trạng bỏ bến, chậm chuyến, phóng nhanh, vượt ẩu, dùng còi hơi tùy tiện, thiếu tôn trọng hành khách…

Những hiện tượng trên đây có một phần nguyên nhân khách quan, như: Thiếu vốn đầu tư, đường sá chật hẹp, mạng lưới giao thông đô thị chưa đồng bộ, lượng khách quá tải, ý thức giao thông một bộ phận nhân dân còn kém v.v… Vì vậy, nhiều lần lãnh đạo Tổng công ty vận tải Hà Nội (Transerco) đã trần tình mong dư luận “thông cảm”.

Dư luận sẵn sàng cảm thông, chia sẻ những khó khăn, yếu kém khách quan trên đây. Nhưng có những hành vi, hiện tượng của xe bus, như: Vi phạm luật giao thông, thiếu tôn trọng -thậm chí đánh đập, nhục mạ hành khách -thì thật khó lòng thông cảm. Tuần trước, lại thêm vụ nhân viên xe bus đánh đập một hành khách đang trên đường đến bệnh viện để chạy thận, chỉ vì người này không đi từ cuối xe lên đầu xe để mua vé theo yêu cầu của nhân viên…

Phải chăng những hình thức kỷ luật từ trước tới nay của Transerco đối với các hành vi trên đây chưa đủ mức để răn đe những cá nhân vô ý thức, thiếu đạo đức và văn hóa? Phải chăng công tác tuyên truyền giáo dục của ban lãnh đạo và các đoàn thể ở đây chưa đủ độ để làm chuyển biến nhận thức và hành vi của một bộ phận cán bộ, nhân viên? Phải chăng công tác nhân sự ở đây đang “có vấn đề”, để lọt vào đơn vị những thành phần yếu kém cả năng lực và phẩm chất?

Tình hình nghiêm trọng đến mức đích thân ông Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã nhiều lần trực tiếp làm việc với Transerco để tìm cách khắc phục. Trong cuộc làm việc gần đây nhất vào cuối tháng 4-2012 vừa qua, ông Chủ tịch yêu cầu Transerco “phải nỗ lực quyết tâm làm thay đổi và cải thiện hình ảnh của xe bus, để xe bus thực sự làm nòng cốt, chủ lực trong vận tải hành khách công cộng của Thủ đô”.

Tất nhiên, chất lượng dịch vụ xe bus được cấu thành bởi nhiều yếu tố, vì vậy phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp mới có thể cải thiện được tình hình hiện nay. Nhưng yếu tố quyết định vẫn là chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên của ngành xe bus. Chỉ khi tất cả đội ngũ này đều đồng lòng, đồng sức “nỗ lực, quyết tâm” thì mới mong dư luận chia sẻ, cảm thông với những khó khăn, bất cập hiện nay của xe bus!

Tuyên Hóa
qdnd.vn

Rãnh nước và tình anh em

QĐND – Cách đây ít lâu, Báo Quân đội nhân dân có bài viết kể rằng: Trong một lần đi kiểm tra thi công đường tuần tra biên giới tại tỉnh Sơn La giáp nước bạn Lào, Đại tướng Phùng Quang Thanh, ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã rất chú ý tìm hiểu và biểu dương một công trình “độc đáo”. Đó là những rãnh nước nhỏ, xây sát nền đường trên đỉnh đèo, một bên là đất nước bạn Lào, một bên là đất Việt Nam. Đường làm xong, mỗi khi mưa to, nước mưa theo dốc, chảy về bên đất bạn, có thể làm xói lở đất phía bên nước bạn. Dù phía bạn chưa đề nghị, nhưng bộ đội Việt Nam đã chủ động xây các rãnh nước, lát xi măng để khi có mưa, nước không làm xói lở đất bạn.

Những rãnh nước nhỏ bé nhưng lại là biểu hiện của một tình cảm lớn, một phẩm chất cao đẹp, một biểu hiện sáng ngời của sự kế tiếp truyền thống quan hệ hữu nghị anh em “tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long” như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn và vun đắp. Nó còn là biểu hiện của lòng tự trọng và cũng là biểu hiện của sự tôn trọng, một phương châm ứng xử, một nét văn hóa Việt Nam: Chúng ta muốn là bạn của mọi dân tộc trên Trái Đất này và hơn thế, chúng ta luôn chủ động là người bạn tốt!

Không chỉ dừng lại ở những rãnh ngăn nước mà trên thực tế giải quyết vấn đề biên giới khi thi công đường tuần tra biên giới, những người lãnh đạo cao cấp của Nhà nước và quân đội ta như Đại tướng Phùng Quang Thanh, Thượng tướng Phan Trung Kiên, Thượng tướng Nguyễn Khắc Nghiên, Trung tướng Phạm Hồng Lợi, Trung tướng Nguyễn Trung Thu… đều rất mẫu mực trong xử lý các vướng mắc. Họ đều đã vào sinh ra tử trong chiến tranh, luôn trân trọng, giữ gìn, bảo vệ quyền làm chủ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc song cũng luôn nghiêm cẩn, tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của nước bạn. Đã có những đoạn đường còn vướng mắc, phải tạm dừng chờ các cấp có thẩm quyền của hai quốc gia giải quyết và cũng có đoạn đường được phía ta chủ động “chỉnh sửa” đường biên theo đúng đàm phán giữa hai nước.

Một nhà báo phương Tây mới đây đã đưa ra một câu nói mang tính hài hước nhưng rất thời sự: “Hai nước nhỏ tranh luận, bất đồng biến mất. Nước lớn và nước nhỏ tranh luận, nước nhỏ biến mất. Các nước lớn tranh luận, vai trò các tổ chức quốc tế…biến mất”. Rõ ràng là những năm gần đây, trên thế giới, việc xử lý vấn đề biên giới, lãnh thổ ở nhiều nơi từng xảy ra những vướng mắc, tranh chấp, xung đột và xử lý chúng không dễ dàng. Nhưng bên cạnh những cách nghĩ, cách hành xử cực đoan thì thế giới này vẫn còn rất nhiều điều tốt đẹp. Và câu chuyện cái rãnh nước tuy nhỏ nhưng là một hình ảnh đẹp mang tầm quốc tế hiện nay!

Nguyễn Văn Minh
qdnd.vn