Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Tầm nhìn Hồ Chí Minh

QĐND – 37 năm trước, trong đội hình Sư đoàn 7 tiến về giải phóng Sài Gòn, dẫu cuộc chiến đấu vẫn đang diễn ra hết sức ác liệt, nhưng trong lòng tôi vẫn ngân nga câu thơ chúc Tết của Bác Hồ mùa Xuân Kỷ Dậu 1969: Vì Độc lập, vì Tự do / Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào / Tiến lên, chiến sĩ, đồng bào!/ Bắc Nam sum họp, Xuân nào vui hơn…

Sau này suy ngẫm kỹ, mới thấy đại thắng mùa Xuân năm 1975 bắt nguồn từ tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Dưới sự lãnh đạo của Người, chúng ta đã xác định từ rất sớm đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là: Đánh lùi từng bước, đánh đổ từng bộ phận, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn. Tư tưởng đó đã được Bác Hồ thể hiện rất cụ thể trong bài thơ chúc Tết trên đây. Đó là tầm nhìn minh triết của Bác Hồ khi đánh giá kẻ thù, so sánh lực lượng để vạch ra các mục tiêu chiến lược và từng bước sách lược trong chiến tranh cách mạng.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trước đây, Bác Hồ luôn khẳng định phải “đánh quỵ bọn thực dân”, hoặc “Khối liên hiệp Pháp sẽ tan tành”. Báo cáo trước Quốc hội khóa I, ngày 1-12-1953, Bác Hồ kêu gọi đồng bào cả nước “hăng hái vươn mình dậy đánh tan ách nô lệ của phong kiến và thực dân”. Trong Lời kêu gọi nhân dịp kỷ niệm 7 năm toàn quốc kháng chiến, Bác viết: “Bởi vì thực dân Pháp cứ tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược, cho nên quân dân Việt Nam quyết đánh mạnh hơn nữa, quyết kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng”.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chúng ta đã có hậu phương lớn miền Bắc, có phe XHCN và nhân dân thế giới ủng hộ. Nhưng đế quốc Mỹ là một cường quốc quân sự và kinh tế hàng đầu thế giới, nên chúng ta phải dùng “ba mũi giáp công”, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị và ngoại giao để “đánh lùi từng bước, đánh đổ từng bộ phận” quân địch. Và chúng ta đã lần lượt đánh thắng “kế hoạch bình định”, “chiến tranh cục bộ” và chiến tranh phá hoại của Mỹ đối với miền Bắc. Khi Hiệp định Paris được ký kết là chúng ta đã cơ bản “đánh cho Mỹ cút”, nhưng vẫn phải tiếp tục “đánh cho ngụy nhào”!

Lịch sử còn ghi đậm những ngày hào hùng đại thắng mùa Xuân 1975 với cảnh tháo chạy hỗn loạn, hoảng hốt của Ngụy quân. Trên các ngả đường tháo chạy, ngổn ngang bừa bộn các loại vũ khí, quân trang, quân dụng của đủ các sắc lính vứt bỏ lại. Hình ảnh “ngụy nhào” đó đã được Bác Hồ tiên tri trong từ 6 năm trước. Tìm hiểu tầm nhìn sáng suốt của Bác Hồ trong chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc, ta càng thấy sự minh triết vĩ đại của Người. Đó chính là tầm cao của tư tưởng Hồ Chí Minh!

Nhà thơ Ngô Minh
qdnd.vn

Chủ nghĩa thực dân bị lên án (28-10-1924)

KINH NGHIỆM Ở CHÂU PHI XÍCH ĐẠO THUỘC PHÁP

Chế độ thực dân Pháp đã “thu được”… nhiều thất bại. Không phải chỉ có chúng tôi mới nhận thấy như thế. Nhân một cuộc thất bại đặc biệt thảm hại, tờ Le Temps, ngày 24 tháng 9 đã viết:

“Thật vậy, ai cũng biết rằng tình hình châu Phi xích đạo của chúng ta không phải là đúng như chúng ta đã hy vọng chút nào cả, khi mà… lá cờ của nước Pháp phấp phới trên những vùng rộng bao la mà chúng ta đã chiếm đoạt được chứ không phải là thu phục được cho nước Cộng hoà. Không phóng đại và cũng không cường điệu gì cả, ta có thể nói rằng… châu Phi xích đạo hiện nay đang ở vào tình trạng thật sự là tụt lùi. Việc khai thác miền đó thật là thô sơ, công cụ ở đó hình như không có gì cả. Hiện nay ngân sách thiếu hụt của miền đó chỉ thǎng bằng được là nhờ chính phủ trợ cấp. Cuối cùng – điều nghiêm trọng hơn – là dân cư miền đó mòn mỏi đi và chết dần, yếu tố dân số mà sự duy trì, sự cải thiện và tǎng lên là cơ sở cho mọi sự nghiệp, đang đi đến chỗ tiêu diệt”. (Do chúng tôi gạch dưới).

Và sau đó, tờ báo còn viết:

“Hơn nữa, chúng ta còn phạm nhiều sai lầm; nói dài dòng về những sai lầm này cũng vô ích, bây giờ không phải lúc ngồi hối tiếc một cách vô bổ về quá khứ, phải chuẩn bị cho một tương lai tốt đẹp hơn. Hành động của chúng ta ở châu Phi xích đạo đã bị tê liệt hay chệch hướng ngay từ đầu, vì những sai lầm về nguyên tắc… đến nay cũng vẫn còn tác hại một cách ghê gớm; ngoài ra, hoạt động của chúng ta còn mang hậu quả tai hại của những sai lầm về phương pháp cần phải gấp rút sửa chữa”.

Những sai lầm và khuyết điểm mà tờ Le Tempsthan phiền về những hậu quả tai hại mà không nêu ra những sự việc, là những sai lầm và những khuyết điểm nào? Đó là việc tước đoạt những người bản xứ, đó là việc bắt phu khuân vác, là chế độ lao dịch, đó là thuế khoá nặng nề, là việc tuyển mộ công chức và binh lính, là việc bắt con tin, là những sự tàn ác đối với nhân dân, đó là tất cả cái chế độ cướp bóc, giết chóc đáng ghê tởm đã làm cho thuộc địa này đi đến tình trạng thê thảm hiện nay.

Cách đây hơn 20 nǎm, ông Ôguyxtơ Sơvaliê, sau khi mô tả sự dã man của chế độ thực dân, tiên đoán như sau:

“Nếu người ta cứ tiếp tục làm như thế mãi, nếu người ta không ngừng việc đốt phá các làng mạc thì chẳng bao lâu… hai bờ sông Cônggô cũng như những vùng Ubanghi và Xanga sẽ hoàn toàn không cònmột bóng người… Nếu chính sách ấy cứ tiếp tục như thế mãi thì sau đây nửa thế kỷ, tất những giống người cần cù đó sẽ tiêu diệt hết … (Morel)”.

Những cuộc tranh cãi trong nghị viện nǎm 1906 đã để lộ ra rằng một tờ thông tri của một công ty khai khẩn đồn điền đã viết: “Không được quên rằng các nhân viên của chúng ta phải đóng vai trò như là những tên kẻ cướp”. Và một viên toàn quyền đã viết cho các công chức dưới quyền y như sau: “Tôi không giấu các ông rằng, khi đề nghị thǎng thưởng, tôi đặc biệt cǎn cứ vào số thuế thu được của người bản xứ, điều mà các ông phải luôn luôn chú ý”.

Những dòng sau đây trích trong một quyển sổ chứng tỏ rằng những lệnh đó đã được chấp hành từng ly từng tý:

“Hành quân cànquét làng Côlôvô.

Càn quét dân Phǎng vùng thượng Cunô: đốt làng, phá vườn trại.

Càn qnét dân Bêcami: lại đốt làng, phá huỷ 3.000cây chuối (thức ǎn dự trữ duy nhất).

Càn quét làng Cuya: đốt làng, phá trụivườn trại.

Càn quét Ancoong: ném bom xuống làng, rồi phá trụi vườn trại.

Càn quét dân Examphami: phá sạch làng mạc.

Vùng Bôma đốt phá và giết người.

Hợp pháp hoá việc cướp bóc, tiêu diệt có hệ thống dân cư, phá trụi một cách có tổ chức những làng mạc, phương pháp là như thế đó.

Mười sáu nǎm sau, những hành động bỉ ổi như thế lại được người ta nêu ra trước nghị viện Pháp.

Tháng 12 nǎm 1921, nghị sĩ da đen Boanớp đã nói trong một bài diễn vǎn cảm động như sau:

“Dân số bị lụi đi vì bệnh tật, và nhất là vì chế độ mà họ phải chịu đựng từ khi bị chiếm đóng… Chế độ bắt phu khuân vác, sự bóc lột nặng nề của các công ty khai khẩn đồn điền đã giết những người bản xứ…”.

Ngày 22 tháng 10 nǎm 1921, quyền Bộ trưởng thuộc địa đã ra một sắc lệnh quy định rằng một công nhân bản xứ đã được trả công để làm một công việc nào đó mà không làm tròn thì có thể bị bắt giam và truy tố về tội lừa đảo.

Ông Anbe Xarô – Bộ trưởng Bộ thuộc địa – đã phải thú nhận rằng dân cư khốn khổ của thuộc địa đã sắp diệt vong. Ông đã ra sức gán cho tình trạng dân cư bị diệt vong dần đi đó, là do thiếu vệ sinh, và ông viết:

“Việc sǎn sóc vụng vềvà bẩn thỉu đối với phụ nữ khi sinh nở… làm cho họ không sinh đẻ nữa; còntrẻ con lúc sơ sinh không được chǎm nom chu đáo nên đã chết nhiều… Trong số dân cư bản xứ đã bị bệnh ngủ làm cho chết mòn dần đi, thì bệnh cúm lại còn sát hại thêm hàng vạn người nữa”.

Để sửa chữa tình trạng đó, người ta đã làm được những gì? Người ta đã xây dựng được một nhà thương độc nhất, với 79 giường ở Bradavin, thủ đô của thuộc địa! Thế mà với các dân cư đang đi đến chỗ diệt vong đó, trong chiến tranh, người ta lại còn tìm được cách lấy đi 18.000 người – tất nhiên là những người lành mạnh nhất và vạm vỡ nhất – để làm mồi cho đại bác, 313.000 phrǎng tiền cưỡng bức lạc quyên để cứu giúp các miền bị tàn phá ở Pháp, 7.323.000 phrǎng tiền công trái cưỡng bức, 53.000 tấn hàng hoá, đấy là chưa kể không biết bao nhiêu là ngày đi phu để chuyên chở những đồ đã trưng thu.

Đó là những “sai lầm về nguyên tắc” đã biến thuộc địa trước kia thịnh vượng và dân cư đông đúc thành bãi sa mạc. Tuy những tài liệu này là những tài liệu chính thức, nhưng chúng tôi không tin rằng nó đã làm cho những bạn đọc dễ tính của Le Temps thấy rõ được sự thật.

Chú thích

Châu Phi xích đạo thuộc Pháp (Bradavin, Librơvin, Bǎngghi, Pho Lǎngnuy) rộng bằng bốn lần nước Phápvà chạy dài từ cửa sông Cônggô đến xứ Tơripôli. Dân số (theo điều tra nǎm 1921) là 2.850.868 người, trong số đó có 1.932 người Âu. Ngót hai nghìn kẻ bóc lột để bòn rút một nước gần 3 triệu người da đen và có nhiều của cải thiên nhiên. Sản xuất chủ yếu: cao su, gỗ, ngà voi, dầu thốt nốt, nhân thốt nốt, dừa, cà phê. Nǎm 1921, chỉ riêng xuất khẩu cao su không thôi cũng được gần 14 triệu phrǎng. Để trao đổi lại số của cải ấy, cũng nǎm đó, nước Pháp đã nhập khẩu sang thuộc địa đó 1.698.787 phrǎng lương thực, 1.732.336 phrǎng rượu vang và rượu mạnh, 1.394.500 phrǎng vải vóc, 826.000 phrǎng vật liệu và thiết bị. Độc giả hãy thử so sánh những của cải mà nước người da đen dân số đang thưa dần đi đó đã xuất khẩu, với nhữmg cái mà nước đó ngược lạiđã nhận được: rượu thì hai lần nhiều hơn thiết bị, còn kể về số lượng buôn bán thì rượu vang và rượu mạnh chiếm hàng đầu! Dân số bị làm mồi cho công cuộc khai hoá – nhất là bằng rượu mạnh– đang bị diệt vong. Ngược lại cao su và gỗ xuất khẩu thì cứ làm giàu cho một vài người kinh doanh ở chính quốc; nhưng để bù vào chỗ hụt trong ngân sách của cái chính phủ thuộc địa vừa siêng nǎng vừa tội lỗi ấy, nhân dân Pháp hằng nǎm đã phải nai lưng ra đóng thuế. Nǎm 1923, Chính phủ Pháp phải phụ cấp 8 triệu phrǎng cho châu Phi xích đạo thuộc Pháp, ngoài ra lại còn phải lấy ở quỹ dự trữ ra 2.905.866 phrǎng để phụ cấp thêm.

Trong cái thuộc địa rộng bao la gần 3 triệu dân đó, chỉ có ngót 8.000 trẻ em được học ở trường thế tục hay trường của Nhà chung.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 73, ngày 28-l0-1924.
cpv.org.vn

Cuộc họp lúc nửa đêm

QĐND – Phiên họp ấy diễn ra lúc tám giờ sáng và kết thúc lúc một giờ đêm.

Chuyện xảy ra năm 1946, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa I. Trong bối cảnh vận mệnh nước nhà như ngàn cân treo sợi tóc, thù trong giặc ngoài tìm mọi cách phá hoại chính quyền non trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời đã trực tiếp trả lời chất vấn của Quốc hội. Với 88 câu hỏi nhận được chỉ trong một ngày, ngoài nhiều câu được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp trả lời, các bộ trưởng khác cũng đã thẳng thắn đối thoại, trả lời chất vấn. ông Trương Đình Tri (Bộ trưởng Bộ Y tế và Xã hội) trả lời về việc vì sao không kiểm soát được giá và chất lượng thuốc? Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Ca Văn Thỉnh trả lời về chính sách văn hóa và vấn đề thiếu sách giáo khoa. Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến trả lời về ngân sách, thuế khóa, lương công chức… Chính phủ đã không né tránh bất kỳ vấn đề nào dù cuộc họp rất muộn.

Ảnh minh họa/ Internet

Chuyện về cuộc họp lúc nửa đêm cho thấy chính quyền của dân, do dân, vì dân do Bác Hồ sáng lập và rèn luyện ngay từ ngày đầu rất coi trọng đối thoại với nhân dân, tháo gỡ các vướng mắc. Dân chủ, theo Hồ Chí Minh không chỉ là giúp người dân được quyền nói mà quan trọng hơn là chính quyền phải biết nghe, biết làm một cách hiệu quả để giúp dân. Truyền thống ấy đã được phát huy và dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng được hoàn thiện hơn cùng với sự nghiệp đổi mới. Gần đây, việc Thủ tướng Chính phủ vừa chính thức giao cho Đài Truyền hình Việt Nam, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ và một số đài truyền hình thực hiện chương trình “Dân hỏi – Bộ trưởng trả lời” thường kỳ hằng tuần đã được dư luận xã hội rất đồng tình. Đó cũng là một cách làm thiết thực để phát huy truyền thống dân chủ với những cách làm rất “sắc nét” đã được thực hiện từ năm 1946.

Ngày nay, đất nước đã hòa bình, độc lập thực sự, không còn rơi vào cảnh nguy nan phải có những cuộc họp Quốc hội lúc nửa đêm nhưng thực tiễn vẫn còn rất nhiều câu hỏi “nóng” mà người dân mong muốn gửi đến Đảng, Quốc hội, Chính phủ, vẫn còn rất nhiều “những việc cần làm ngay”. Gần đây, một số địa phương trong cả nước, nổi bật là TP Hồ Chí Minh cũng đã triển khai các chương trình “Nói và làm” trên sóng phát thanh và truyền hình thành phố để lãnh đạo thành phố và các sở, ngành đối thoại với dân, mang lại nhiều tác dụng thiết thực. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng từng là người đứng đầu Chính phủ đầu tiên tham gia giao lưu trực tuyến qua internet với nhân dân năm 2007, góp phần giúp giao lưu trực tuyến trở nên không còn xa lạ với lãnh đạo nhiều bộ, ngành mấy năm qua. Hy vọng rằng, với việc mỗi tối chủ nhật hằng tuần có một bộ trưởng lên truyền hình trả lời câu hỏi của người dân, bộ máy Chính phủ sẽ tiếp tục có những chuyển động mới, góp phần xây dựng Chính phủ thật sự là một Chính phủ “biết làm việc”, biết dựa vào dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng tuyên thệ trước quốc dân, đồng bào.

Nguyễn Văn Minh
qdnd.vn

Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người

(ĐCSVN) – Ngày 13/9/2012, trả lời câu hỏi của phóng viên trước việc ngày 11/9/2012, Hạ viện Mỹ đã thông qua Dự luật Nhân quyền Việt Nam 2012 H.R.1410 và Nghị quyết H.Res.484 “kêu gọi Chính phủ Việt Nam tôn trọng nhân quyền”, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị nói:

Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị

Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong việc bảo đảm quyền con người trong tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, được cộng đồng quốc tế ghi nhận.Quyền con người được phát huy và sự tham gia tích cực của người dân vào mọi mặt đời sống kinh tế xã hội của đất nước là nhân tố quan trọng của thành công của công cuộc đổi mới ở Việt Nam.

Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ đã có những tiến triển tích cực trong thời gian qua. Hai nước thường xuyên trao đổi về các vấn đề cùng quan tâm, trong đó có vấn đề quyền con người, trên tinh thần thẳng thắn, xây dựng và tôn trọng lẫn nhau. Đây là cách tốt nhất để tăng hiểu biết lẫn nhau, thu hẹp khác biệt, góp phần thúc đẩy quan hệ hai nước tiếp tục phát triển vì lợi ích của cả hai nước.

Dự luật H.R.1410 và Nghị quyết H.Res.484 đã dựa trên những thông tin sai lệch, thiếu khách quan về tình hình thực thi quyền con người tại Việt Nam. Việc thông qua dự luật và nghị quyết nói trên là sai trái, không phù hợp với xu hướng phát triển của quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ”.

Các từ khóa theo tin: Mạnh Hùng
cpv.org.vn

Bản anh hùng ca ở thế kỷ thứ nhất – Kỳ 2

Mấy vấn đề về cuộc kháng chiến năm 43 do Hai Bà Trưng lãnh đạo

QĐND – Hai Bà Trưng chỉ có một thời gian ngắn để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến này. Sách “Đại Nam quốc sử diễn ca”, qua và bằng ngôn ngữ thi ca, nói gọn một câu “Ba năm gánh vác sơn hà”, để chỉ thời gian làm chủ và lo toan việc nước của Hai Bà, trước khi tiến hành cuộc kháng chiến năm 43. Nhưng trên thực tế, trong ba năm ấy, năm 40 đã là thời gian khởi nghĩa; năm 41 và 42 là thời gian xây dựng đời sống tự chủ tự do, bằng biện pháp duy nhất được sử cũ ghi chép là: Xá thuế 2 năm cho dân. Cũng trên thực tế thì, theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”: Ngay từ năm 41, vua Hán Kiến Vũ đã “hạ lệnh sắp sẵn xe thuyền, sửa sang cầu đường, thông các núi khe, chứa thóc lương, cho Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, Phù Lạc hầu Lưu Long làm phó, sang xâm lược rồi”.

Tái hiện hình ảnh Hai Bà Trưng tại Lễ hội làng Hạ Lôi, xã Mê Linh, huyện Mê Linh, Hà Nội. Ảnh: Tuấn Tú

Lực lượng tái xâm lược của Nhà Hán này – khoảng 2 vạn quân, (để đánh vào một đất nước chưa đầy 1 triệu tổng dân số – là nước ta, lúc bấy giờ), huy động từ các quận thuộc miền Hoa Nam: Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Thương Ngô, cùng với khoảng 2 nghìn thuyền lớn nhỏ – sang đến năm 42, sau khi tập kết ở Hợp Phố (nam Quảng Đông) đã chia hai đường thủy bộ song song ven biển Bái Tử Long – Hạ Long mà vào cõi, theo lối cửa sông Bạch Đằng, đến Lục Đầu Giang, tiến đánh phong trào Hai Bà Trưng.

Cuộc kháng chiến do Hai Bà lãnh đạo, bùng nổ vào năm 43, với ba loạt trận đánh lớn, do hai nữ vương trực tiếp chỉ huy ở: Tây Vu, Lãng Bạc, Kim Khê; và loạt trận cuối cùng do các thủ lĩnh địa phương của phong trào điều hành ở: Cửu Chân.

+ Tây Vu: Đây là tên một miền đất và bộ lạc lớn, từ thời Hùng Vương – An Dương Vương mà trung tâm, chính là Cổ Loa. (Vào năm 1982, đã đào tìm được ở dưới lòng đất, giữa thành Cổ Loa (Đông Anh – Hà Nội), một chiếc trống đồng thuộc nhóm cổ và đẹp nhất, có khắc chữ, trong đó, đọc được 2 chữ “Tây Vu”. Tòa thành Cổ Loa kỳ vĩ này, vào năm 179 trước Công nguyên – cùng với vũ khí “nỏ thần” – đã giúp An Dương Vương đánh bại (những trận đầu) cuộc xâm lược của Triệu Đà từ Phiên Ngung (Quảng Châu) tới, thì nay – đầu năm 43 – chính là cái đích đầu tiên tiến đánh của quân Hán Mã Viện, trên đường chúng từ Lục Đầu Giang nhằm vào, hướng tới “kinh đô” Mê Linh của Hai Bà. Và, một lần nữa – vào đầu năm 43 – thành Cổ Loa lại giúp Hai Bà Trưng làm nên loạt trận đánh phòng ngự ở Tây Vu thành công thắng giặc, mở màn cuộc kháng chiến oanh liệt.

Không đánh hạ được Cổ Loa, Mã Viện phải cho quân lui về Lãng Bạc.

+ Lãng Bạc: Đây là địa danh Hán ngữ, diễn Nôm văn vẻ một chút, thì thành “Bến Sóng”. Vùng đất và nước này, ở về phía đông Tây Vu. Vì thế, không thể coi Lãng Bạc là Hồ Tây (thuộc quận Tây Hồ – Hà Nội ngày nay) – vốn ở mạn tây của Tây Vu – như một số thuyết xưa đã nói. (Vả chăng, về thời gian đầu Công nguyên, chưa có Hồ Tây. Vốn chính là một khúc uốn của sông Cái (sông Hồng), vùng hồ này chỉ được thành lập, khi bị dòng sông Mẹ “bỏ quên” (ở lại tại chỗ) lúc đổi dòng, vào khoảng các thế kỷ 9-10). Do đó, vùng đất và nước trũng ở giữa huyện Tiên Du (Bắc Ninh) bây giờ, mới đúng là Lãng Bạc thời Hai Bà Trưng.

Mã Viện đã từ Tây Vu (Cổ Loa) lui quân về, đóng ở đây. Bấy giờ là mùa hè năm 43. Khổ vì tiến thoái lưỡng nan và vì thời tiết nóng nực, Mã Viện đã phải thốt lên lời than thở được sách “Hậu Hán thư” ghi lại rằng cũng giống như chính con diều hâu lúc ấy đang bay trên đầu, gặp khí nóng bốc lên ngùn ngụt từ vùng đất lầy lội, đã phải sã cánh mà rơi xuống!

Nhưng chính Hai Bà lại đem lực lượng dân binh mới được tập hợp, đến đánh công kiên cấp tập vào đạo quân viễn chinh nhà nghề của Mã Viện, ở đấy, và vào lúc ấy.

Không mong đợi gì hơn, viên tướng lão luyện của nhà Hán – được tháo cởi bế tắc, phát huy hết sở trường – đã đánh một trận kinh hoàng ở Lãng Bạc, tiêu diệt phần lớn lực lượng của Hai Bà.

Tổn thất nặng nề sau trận Lãng Bạc, Hai Bà Trưng phải rút về cố thủ ở Kim Khê.

+ Kim Khê: Đây là địa danh dịch từ tên Nôm sang Hán ngữ của vùng “Suối Vàng”. Dòng suối này, chảy ra từ ngọn Viên Nam – bộ phận phía Nam của núi Tản Viên (Ba Vì), nay ở giữa các huyện Lương Sơn (Hòa Bình) và Thạch Thất – Quốc Oai (Hà Nội). Cho đến gần đây, nhiều người vẫn tìm đến nơi này, đãi vàng sa khoáng.

Đọc (phát âm) theo tiếng Bắc Kinh, “Kim Khê” trở thành “Chin Xi”. Cũng thành “Chim Xi”, là những từ “Cấm Khê”, “Cẩm Khê”. Vì thế, trong nhiều sách vở, thay vì “Kim Khê”, nhiều tác giả đã viết: “Cấm Khê”, “Cẩm Khê”. Chẳng hạn: “Cấm Khê đến lúc hiểm nghèo/ Chị em thất thế phải liều với sông”. Đó là cách nói về chung cuộc của Hai Bà Trưng, ở sách “Đại Nam quốc sử diễn ca”.

Nhưng trên thực địa, không có thực thể nào, mang tên “Cấm Khê” hoặc “Cẩm Khê” mà lại phù hợp với sự “thất thế” của Hai Bà Trưng vào mùa hè năm 43 cả. Chỉ có “Suối Vàng” – Kim Khê. Và, ở đây, cũng không hề có việc “phải liều với sông” (tự trầm) nào của Hai Bà. Thực tế lịch sử không theo tâm thức (tâm lý) cổ truyền của nhân dân, dân tộc: Muốn Hai Bà phải được chết một cách mát mẻ trong dòng sông quê hương – đã diễn ra thật ác nghiệt: Hung tướng Mã Viện đã dẫn đại binh đuổi theo Hai Bà đến tận nơi cố thủ Kim Khê (Suối Vàng). Và đã giết các nữ vương nước Việt ở đấy. Thậm chí theo sách “Hậu Hán thư” – còn chặt đầu những nữ anh hùng lãnh đạo cuộc kháng chiến năm 43, mang về bêu ở kinh đô Lạc Dương của triều Hán.

Cuộc kháng chiến năm 43 của Hai Bà Trưng – bộ phận tổ thành, và ở giai đoạn cuối của cả phong trào đấu tranh dân tộc vô cùng oanh liệt ở thời gian đầu Công nguyên – đến đây đã bị dìm gần hết vào biển máu. Thủ lĩnh Đô Dương ở địa phương Cửu Chân (Thanh Hóa) – với vị thế tàn dư của phong trào – còn đánh những trận cuối cùng vào mùa đông năm 43 nữa. Và Mã Viện cũng còn ở lại đất Việt một năm nữa – sau mùa đông kéo quân vào Cửu Chân tận diệt cuộc kháng chiến của thủ lĩnh Đô Dương để tiếp tục thi thố những thủ đoạn chiến tranh, đô hộ và đồng hóa – cực kỳ thâm độc và bạo tàn nữa.

Nhưng, dù thế nào thì bản anh hùng ca của những năm đầu Công nguyên đấu tranh anh hùng do Hai Bà Trưng lãnh đạo vẫn bất tuyệt mà vang vọng đất trời. Đây là biểu hiện đầu tiên và là minh chứng đặc biệt của tinh thần và truyền thống dân tộc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là người phát biểu đích xác nhất: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Và, còn nguyên vẹn cả những bài học và kinh nghiệm lịch sử – đắt giá, quý giá – để lại mãi mãi cho đời sau. Nói về thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng Tháng Tám và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đây là ý kiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (trả lời phỏng vấn của nhà sử học, nhà báo Alan Ruscio): “Cái đó, ở chúng tôi, có gốc rễ từ những sự kiện xưa, vào đầu Công nguyên”.

GS Lê Văn Lan
qdnd.vn

Nội tình quân đội trong “Mùa hè đỏ lửa”

QĐND – Sự kiện và Nhân chứng xin điểm một số báo Mỹ ra giữa năm 1972 về nội tình quân đội Mỹ-Thiệu, khi cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của Quân Giải phóng đang diễn ra quyết liệt trên toàn miền.

Quân Mỹ muốn rời “chiếc tàu đắm”

Báo Life ra ngày 28-4-1972 đăng bài “Bút ký từ địa ngục” (The North Vietnamese Offensive: April 1972 Report from the Inferno). Trái với những lời bàn về “những chiến thắng chưa được điều nghiên” của thống tướng A-bram (Abrams[1]), ký giả Giôn-xa-anh (John Saar) đã chỉ ra rằng tới lúc đó quân Mỹ đã không còn muốn chiến đấu bảo vệ lợi ích của “đồng minh Nam Việt Nam”. Tờ Life tường thuật:

… Trong sự yên ả của sở chỉ huy trang bị điều hòa nhiệt độ của viên cố vấn trưởng Mỹ, cuộc chiến tranh như ở đâu đó, xa vời… Trên giá là các sách cần đọc về chiến tranh du kích. Trên cửa là bài thơ của tác giả – cố vấn Mỹ này.

“Lòng tôi đâu muốn chạy con tàu này
Một khi tôi không thể kéo hồi còi về ga
… Đành mặc cho con tàu này trật đường
Và đành nhìn những ai bị rơi xuống địa ngục

Viên đại tá Mỹ không còn e ngại điều gì… Ngay trong cuộc tiến công chiến lược của Quân Giải phóng, các ký giả phương Tây đã học được cách cảnh giác với một khối lượng lớn chưa từng có những tin giả vờ lạc quan đang trôi nổi khắp nơi… Tại một căn cứ hỏa lực gọi là Bát-xtôn (Bastogne) ở tây nam Huế, một tiểu đoàn quân đội Sài Gòn đang không còn hơi sức cầm súng, không thể sơ tán được thương binh và lính tử trận, đang thiếu lương thực, nước, và đạn…

Những chiếc xe tải chở lính một đại đội thuộc Lữ đoàn 196 của Mỹ đang nổ máy lao đi… Những người lính Mỹ khác giải thích rằng vừa xảy ra một cự tuyệt nhất thời của một đại đội Mỹ khi được lệnh đi ra chiến trường. Những người lính Mỹ tỏ ra có lý và đúng mực, nên sau hai giờ được thuyết phục, họ đồng ý ra trận. Nhưng lính Mỹ chỉ chấp nhận các hành động chiến đấu để tự bảo vệ mình, cũng như bảo vệ những người Mỹ khác mà thôi…

Trung tá Phạm Văn Đính – chỉ huy, Trung tá Vĩnh Phong-chỉ huy phó dẫn binh sĩ Trung đoàn 56 đầu hàng cách mạng. Nguồn: Báo chí Phương Tây

Lính Sài Gòn chiến đấu cho… quan

Tờ Bưu điện Oa-sinh-tơn (The Washington Post) đầu tháng 7-1972 đăng phóng sự của Pi-tơ Brét-xtrớp (Peter Braestrup) Lính Sài Gòn phục vụ quan, không phụng sự dân tộc (Viet Soldier Serve Officer, not Nation)”. Ký giả này viết:

Trạc 20 tuổi, người gầy nhom, Nguyễn Văn Lớn đang dưỡng thương cho vết thương ở cổ, sau trận 11-5-1972, khi quân đội Sài Gòn lâm vào trận chiến tưởng như không có hồi kết để mở đường Quốc lộ 13 vào giải vây An Lộc, nằm cách Sài Gòn 60 dặm.

Đối với Lớn, cũng như với nhiều thanh niên nông thôn Việt Nam, các khái niệm như “quốc gia”, “Cộng sản”, và “chính phủ” khá trừu tượng, xa lạ… Là người theo đạo Cao Đài trên danh nghĩa, Lớn học đến lớp 4 ở trường rồi nghỉ phụ với mẹ bán hàng ngoài chợ tại một làng nhỏ thuộc thánh địa Tây Ninh. Chị gái của Lớn lấy một trung sĩ quân đội Sài Gòn, còn em gái hiện đang bán hàng hoa tại một căn cứ không quân ở Sài Gòn.

Năm 1970, Lớn được đưa tới trung tâm huấn luyện Quang Trung (đầu ra: 39 nghìn người/năm), nơi anh ta trải qua 10 tuần huấn luyện. Sau đó Lớn nhập vào một tiểu đoàn quân số 500 lính của Sư đoàn 25, gần Trảng Bàng nằm ở phía tây bắc Sài Gòn.

Năm 1970 và 1971 không quá nghiệt ngã đối với đơn vị của Lớn. Vì cuộc xâm lược của Mỹ – Thiệu sang Cam-pu-chia đã đẩy đa số các tiểu đoàn chính quy ra khỏi địa bàn tác chiến.

“Chỉ huy tiểu đoàn chúng tôi tỏ ra dễ dãi với lính, nhưng ông ta không gan dạ”, Lớn nói thêm, “chúng tôi chưa phải dự những trận đánh”.

Từ khi cuộc tiến công 30-3-1972 tại miền Đông Nam Bộ bắt đầu, hiện tượng đào ngũ tiếp diễn. Theo các nguồn chính thức, số lượng đào ngũ vượt lên con số 12 nghìn lính/tháng – tỷ lệ đào ngũ của năm 1971, và cảnh sát càng hăng hái ruồng bố lính đào ngũ.

Cuối năm 1971, Lớn được chuyển sang Trung đoàn 31 thuộc Sư đoàn 31, đơn vị đang tiến hành tác chiến ác liệt hơn tại các kênh rạch trong rừng U Minh, vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Nhận xét này của Lớn khớp với một quan điểm phổ biến trong các cuộc nói chuyện của các sĩ quan Nam Việt Nam với cố vấn Mỹ, trong đó họ bình luận về khả năng chiến đấu của quân đội Nam Việt Nam như sau: binh lính quá dựa dẫm vào cá nhân người chỉ huy, chiến đấu không có được lý tưởng.

Thực vậy, một lính Sài Gòn khác, có học, thuộc Sư đoàn 3, được điều ra Quảng Trị vào tháng 5-1972 và hiện nay đang xây dựng lại, nói: “Trong quân đội Nam Việt Nam, người lính không phụng sự tổ quốc hay phục vụ quân đội. Anh ta làm việc cho một cá nhân cụ thể. Nếu cá nhân cầm đầu này ăn cắp gạo, bạc đãi lính, đơn vị sẽ thuộc loại kém”.

“Trong quân đội Sài Gòn”, một cố vấn Mỹ kỳ cựu nói “mỗi lính đều tìm kiếm sự được cai quản, sự khâm phục. Thứ văn hóa này áp đặt một gánh nặng khủng khiếp ngay cả lên những chỉ huy tiểu đoàn chính cống. Anh ta phải quyết định mọi việc. Nếu anh ta bị thương hoặc tử trận, cả tiểu đoàn gồm 500 người sẽ tan ra từng mảnh”.

Thực trạng này gây tổn thất trầm trọng cho quân Sài Gòn trong cuộc tiến công Xuân 1972 của cách mạng. Chẳng hạn, tiểu đoàn thiết giáp 20, được trang bị mới tới 56 xe tăng M48, ban đầu được báo cáo là tác chiến thuận lợi tại thành Quảng Trị tháng 4-1972, cho đến khi viên chỉ huy tiểu đoàn bị thương. Sau đó, tiểu đoàn này tan rã thành từng mảnh.

Quan Sài Gòn phụng sự… Tổng thống

Bằng phóng sự dài “Quan và lính Sài Gòn: Tháng 7-1972”, ký giả Pi-tơ Brét-xtrớp đưa ra một tổng quan về chính quyền Sài Gòn: Khá tạp nham, ngập ngụa trong tham nhũng, và trong mâu thuẫn giữa việc cất nhắc những tay chân trung thành nhưng kém tài của Thiệu với việc phải dùng những nhân vật chống đối Thiệu ở các mức độ, nhưng được lòng chủ Mỹ, do có vẻ “chiến đấu cho tự do” hơn.

Tác giả chỉ ra xu thế quân phiệt, quân sự hóa bộ máy chính quyền Sài Gòn. Pi-tơ Brét-xtrớp viết:

“Với mối đe dọa bởi chiến tranh du kích tồn tại khắp nơi, 44 vị tỉnh trưởng, 220 quận trưởng và 6 thị trưởng tại các thành phố lớn của hệ thống tập quyền theo kiểu Pháp ở miền Nam Việt Nam đã từ lâu là nhà binh. Họ vừa có trách nhiệm lãnh đạo quân địa phương và dân vệ, vừa điều hành bộ máy quan liêu dân sự”.

Pi-tơ Brét-xtrớp cho hay từ Tết Mậu Thân, tư lệnh Mỹ A-Bram đã nhiều lần nhắc nhở Thiệu rằng ba đơn vị “tậm tịt” (lackluster) đóng quanh Sài Gòn là Sư đoàn 5, 18, và 25 phải được chỉ huy bằng các sĩ quan cứng cỏi, có khả năng, chứ không chỉ là những kẻ trung thành. Thiệu cứ lần lữa, vì các đơn vị yếu kém này có thể trở thành một đòn đảo chính cốt tử tại “Thủ đô” Sài Gòn.

Tuy nhiên, dưới sức tấn công dồn dập của Quân Giải phóng đầu năm 1972, vẫn theo Pi-tơ Brét-xtrớp, Thiệu đã thải hai trong số 4 tư lệnh vùng chiến thuật, thay 3 trong số 13 tư lệnh sư đoàn, hoán đổi hơn chục trong số 44 ghế tỉnh trưởng…

Pi-tơ Brét-xtrớp điểm danh các tướng dưới tướng Thiệu. Thủ hạ trung thành nhất phải kể Hoàng Xuân Lãm. Năm 1967, khi các tướng khác còn do dự, Lãm từng ném lon đòi về vườn để bày tỏ sự trung thành với Thiệu, buộc các tướng kia phải chọn Thiệu thay cho Kỳ. Cố vấn Mỹ gọi Lãm là “vị lãnh chúa hay vắng mặt”, chê hắn là chỉ ăn chơi, đánh nhau tồi… Lãm, cùng các tướng khác, vừa chịu sốc mạnh bởi cuộc tiến công chiến lược của Quân Giải phóng, bắt đầu từ tháng 4-1972. Nguyễn Văn Toàn, thủ hạ của Lãm, một tay chỉ huy tròn vai nhưng là “vua buôn lậu quế” cùng với vợ Lãm… Chuẩn tướng Lý Tòng Bá kết hợp sự hăng máu đánh “Việt Cộng” với đời sống quá xa hoa so với đồng lương. Đô đốc Chung Tấn Cang từng “dính án” biển thủ, trục lợi được Thiệu tin dùng làm Trưởng ban chống tham nhũng, rồi tư lệnh Đặc khu Thủ đô, để dẹp nguy cơ đảo chính. Một tay hòm chìa khóa của Thiệu là Đặng Văn Quang, được Pi-tơ Brét-xtrớp xem là sự pha trộn giữa “Ét-ga Hu-vơ (Edgar Hoover-giám đốc FBI, vì Quang phụ trách an ninh quân đội), Các-min Đờ-Sa-pi-rô (Carmine DeSapio-chính khách Mỹ, can tội biển thủ và bày đặt âm mưu thủ đoạn) và Rô-bớc Mắc Na-ma-ra (Robert McNamara – trung thành với các tổng thống)…”.

“Trong sạch” có Đại tá Nguyễn Văn Chúc, Trung tướng Ngô Quang Trưởng. Nguyễn Văn Chúc ra mặt chống tham nhũng, bị Thiệu xếp vào nhóm “phá quấy”. Tướng Cao Văn Viên tuy lờ phờ, nhưng Thiệu đánh giá là “có chuyên môn”, và được cái trung thành với tổng thống.

Người lái con tàu đắm

Pi-tơ Brét-xtrớp kết luận bài viết: “Nhưng Thiệu đang gặp vấn đề.

Ngay cả khi ông ta muốn, ông ta không thể đột nhiên tháo bỏ hệ thống chính trị mà một phần ông ta được thừa hưởng, một phần khác do ông ta tạo dựng. Không có một cấu trúc quyền lực nào khác hiện diện hoặc có thể nhanh chóng được tạo ra, để có thể thay thế hệ thống ngành dọc về quân sự hiện hành cũng như bộ máy hành chính dân sự đang chỉ đạo nó.

Hơn nữa, mọi đánh giá đều cho thấy Thiệu có thể lại tiếp tục xoay xở một cách tệ hại về mặt quân sự bằng những phương án lỗi thời”.

Lê Đỗ Huy (dịch)
qdnd.vn

[1] Sách Một cách làm chiến tranh tốt hơn: Các chiến thắng chưa được điều nghiên và kết thúc bi kịch trong những năm cuối cùng của Mỹ ở Việt Nam (A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America’s Last Years in Vietnam), NXB Houghton Mifflin Harcourt; June 3, 1999.

Văn học Việt Nam ở Trung Quốc

QĐND – Trước và trong Hội nghị quốc tế Giới thiệu văn học Việt Nam từ ngày mồng 5 đến ngày 10-1-2010 tại Quảng Ninh và Hà Nội, là một đại biểu chính thức của hội nghị, tôi cứ băn khoăn mãi xung quanh câu hỏi: Tại sao nhiều nhà văn Việt Nam và Trung Quốc, khi nói chuyện với nhau hoặc phát biểu trong hội thảo, đều cho rằng sách văn học Việt Nam được dịch và xuất bản ở Trung Quốc quá ít ỏi: Ngoài “Nhật ký trong tù” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Truyện Kiều” của Đại thi hào Nguyễn Du hình như chỉ có “Những lá thư từ tuyến đầu Tổ quốc” (nhiều tác giả), “Ông cố vấn-Hồ sơ một điệp viên” (của Hữu Mai) mà thôi?

Thực tế, văn học Việt Nam đã được giới thiệu trang trọng trong bộ sách công cụ tra cứu đồ sộ của Trung Quốc – Bộ sách “Trung Quốc đại bách khoa toàn thư”, do Quốc vụ viện (Chính phủ Trung ương) nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa chỉ đạo, Nhà xuất bản Trung Quốc đại bách khoa toàn thư xuất bản. Bộ toàn thư tổng cộng có 80 quyển, mỗi quyển khoảng 12-15 triệu chữ Hán, dày trung bình 700 trang khổ 19x26cm (tương đương 2.100 trang dịch ra tiếng Việt).

Trong bộ sách này, Bộ môn Văn học chia làm 3 quyển (2 quyển văn học Trung Quốc, 1 quyển văn học nước ngoài).

Riêng phần “Văn học Việt Nam” trong quyển “Văn học nước ngoài” do bà Triệu Ngọc Lan, (Giáo sư giảng dạy Bộ môn tiếng Việt, Hệ Ngôn ngữ phương Đông, Học viện Ngoại ngữ, Trường Đại học Bắc Kinh) biên soạn, được chia làm ba phần lớn: Văn học trước Cách mạng dân tộc dân chủ, Văn học thời kỳ Cách mạng dân tộc dân chủ, Văn học sau Cách mạng Tháng Tám.

Bên cạnh nội dung “Văn học Việt Nam”, sách báo Trung Quốc còn giới thiệu thân thế và sự nghiệp của những nhà văn, nhà thơ, những cây đa cây đề trên văn đàn Việt Nam, từ cổ chí kim, bằng song ngữ (Hán-Việt hoặc Hán-Anh) như: Nguyễn Trãi, Lê Tư Thành (Vua Lê Thánh Tôn), Đặng Trần Côn, Lê Quý Đôn, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu, Tú Xương, Hồ Biểu Chánh, Tản Đà, Ngô Tất Tố, Tú Mỡ, Đặng Thai Mai, Nguyễn Công Hoan, Thế Lữ, Nhất Linh, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Huy Tưởng, Lưu Trọng Lư, Đồ Phồn, Nam Cao, Xuân Diệu, Nguyên Hồng, Huy Cận, Tố Hữu, Tô Hoài v.v..

Đặc biệt, tại các trường đại học, học viện ở Trung Quốc có nhiều luận văn thạc sĩ, tiến sĩ của các nghiên cứu sinh viết về “Truyện Kiều” của Đại thi hào Nguyễn Du, Thơ Hồ Xuân Hương, về những tác phẩm “Chinh phụ ngâm”, “Cung oán ngâm khúc”, v.v..

Nhân dịp kỷ niệm Quốc khánh Trung Quốc lần thứ 60 (1949-2009), Tổng công ty Sách Trung Quốc đã tiến hành thống kê những sách văn học nước ngoài đã được dịch sang Trung văn và xuất bản ở Trung Quốc trong 60 năm qua, tính đến ngày 20-5-2006.

Tôi đã tìm được 150 đầu sách của Việt Nam đã được dịch và ấn hành tại đất nước đông dân nhất thế giới, hiện có hơn 300 nhà xuất bản Trung ương và địa phương này.

Phải chăng vì những nguyên nhân lịch sử, xã hội, văn hóa và thị hiếu khác nhau, mà nhiều người Trung Quốc cũng không nắm bắt được những thông tin trên?

Ngay đến những đại biểu Trung Quốc có mặt tham dự Hội nghị quốc tế Giới thiệu văn học nước ngoài như: Giáo sư-dịch giả Chúc Ngưỡng Tu, gần nửa thế kỷ giảng dạy và nghiên cứu văn học Việt Nam, người đã dịch tiểu thuyết “Ông cố vấn…” của nhà văn Hữu Mai sang Hán ngữ, đã tham gia biên soạn bộ giáo trình đồ sộ “Tiểu thuyết hiện đại Việt Nam” gồm 3 tập; giảng viên Hoàng Hoa Hiến, giảng dạy tiếng Việt ở Trường Đại học Sư phạm Quảng Tây cũng nhớ không nhiều những đầu sách Việt Nam được dịch và xuất bản ở Trung Quốc.

Chỉ có nữ sĩ Điền Tiểu Hoa, chuyên viên nghiên cứu của Sở Nghiên cứu Văn học nước ngoài thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc là có trong tay bản thống kê sách Việt Nam đã dịch và xuất bản ở Trung Quốc, giống như tư liệu của tôi thu thập được qua trang web của Tổng công ty Sách Trung Quốc.

Thực ra, số đầu sách văn học Việt Nam được dịch và xuất bản ở Trung Quốc không chỉ là con số 150. Bởi vì, nhiều bộ sách gồm nhiều tập như: “Tiểu thuyết hiện đại Việt Nam” (gồm 3 quyển), “Ông cố vấn” của Hữu Mai (gồm 2 quyển), “Sao đổi ngôi” của Chu Văn (gồm 3 quyển) v.v.. họ cũng chỉ tính là một đầu sách.

Trong số hơn 150 đầu sách Việt Nam được dịch và xuất bản ở Trung Quốc, tôi thấy đều là những tác phẩm nổi tiếng và được bạn đọc Việt Nam ưa thích, từ xưa đến nay như: “Truyện Kiều” (Nguyễn Du) nghe nói có hơn mười bản dịch, “Thơ Hồ Xuân Hương”, “Nhật ký trong tù” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Những năm tháng không thể nào quên” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, “Kan Lịch” của Hồ Phương, “Họ sống và chiến đấu như thế” của Nguyễn Khải, “Người mẹ cầm súng” của Nguyễn Thi, “Xung kích”, “Vỡ bờ” của Nguyễn Đình Thi, “Vùng mỏ” của Võ Huy Tâm, “Tuổi thơ dữ dội” của Phùng Quán (Bạn dịch là Thiếu niên du kích anh hùng), “Đất nước đứng lên” của Nguyên Ngọc , “Bài ca chim chơ-rao” của Thu Bồn ,“Quán rượu người câm” (tập truyện ngắn, trong đó có truyện ngắn cùng tên của Nguyễn Sáng), “Tranh tối tranh sáng” của Nguyễn Công Hoan, “Mẫn và tôi” của Phan Tứ, “Thanh Hải” (tập thơ của Thanh Hải), “Ánh sáng và phù sa” của Chế Lan Viên, “Đêm Tháp mười” (Tập truyện, trong đó có truyện cùng tên của Lê Văn Thảo), “Sống như anh” Phan Thị Quyên kể Trần Đình Vân ghi, Tập truyện ngắn “Cái hom giỏ” của Vũ Thị Thường, Kịch bản văn học “Nghêu sò ốc hến” của Hoàng Châu Ký, Tập lý luận phê bình “Bảo vệ nguyên tắc tính đảng của văn học” của Hồng Chương, v.v..

Từ trái sang phải: Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam; Dịch giả Trung Quốc Chúc Ngưỡng Tu (Người dịch “Ông cố vấn” của Hữu Mai và “Lá cờ thêu sáu chữ vàng” của Nguyễn Huy Tưởng, sang Trung văn) và Dịch giả Vũ Phong Tạo, tại Triển lãm sách trong Hội nghị quốc tế giới thiệu văn học Việt Nam, từ ngày 5 đến ngày 10-1-2010, Hà Nội. Ảnh: Vũ Phong

Nhiều nhà văn có nhiều tác phẩm được dịch và xuất bản ở Trung Quốc, như nhà thơ Tố Hữu có “Người con gái Việt Nam”, “Gió lộng”, “Quê hương tôi”, “Việt Bắc” “Chào Trung Quốc”, “Ba mươi năm đời ta có Đảng”, “Tiếng hát đôi bờ”, “Miền Nam chiến đấu”, “Tố Hữu thi tập”, v.v..

Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng có 5 tác phẩm là “Truyện anh Lục”, “Ký sự Cao Lạng”, “Bốn năm sau”, “Tìm mẹ”, “Thằng Quấy”.

Nhà văn Nguyễn Văn Bổng có hai tác phẩm “Con trâu”, “Rừng U minh”.

Nhà văn Nguyễn Đình Thi có bốn đầu sách: Tập thơ “Chiến sĩ”, tiểu thuyết “Vỡ bờ”, “Xung kích”, “Mặt trận trên cao”.

Đó là chưa kể đến 57 tác phẩm được giới thiệu trong bộ giáo trình đại học ở Trung Quốc “Tiểu thuyết hiện đại Việt Nam” gồm 3 tập.

Phạm trù tiểu thuyết của bạn, gia tộc tiểu thuyết gồm bốn thành viên: Truyện dài (trường thiên tiểu thuyết), Truyện vừa (trung thiên tiểu thuyết), Truyện ngắn (đoản thiên tiểu thuyết) và Truyện mi-ni – Truyện cực ngắn (vi hình tiểu thuyết, tiểu tiểu thuyết).

Tập 1 Văn học Việt Nam từ 1930 đến năm 1945, giới thiệu những tác giả và tác phẩm: “Nửa chừng xuân” (Khái Hưng), “Đoạn Tuyệt” (Nhất Linh); “Kép Tư Bền”, “Tinh thần thể thao” (Nguyễn Công Hoan), “Cô Thoa” (Thế Lữ); “Giông tố” (trích), “Cái ghen của đàn ông” (Vũ Trọng Phụng); “Lầm than” (trích của Lan Khai), “Nhà mẹ Lê” (Thạch Lam), “Một người mẹ Trung Quốc” (Nguyên Hồng), “Chữ người tử tù” (Nguyễn Tuân); “Tắt đèn” (trích), “Nợ đời” (Ngô Tất Tố); “Chí Phèo” (Nam Cao), “Sống nhờ” (trích của Mạnh Phú Tư), “Sau hàng rào tre” của Trần Tiêu v.v..

Tập 2 Văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975, giới thiệu những tác giả và tác phẩm: “Một lần đến Thủ đô” (Trần Đăng), “Vợ nhặt” (Kim Lân), “Đôi mắt” (Nam Cao), “Xung kích” (trích của Nguyễn Đình Thi), “Con trâu” (trích của Nguyễn Văn Bổng), “Vợ chồng A Phủ” (trích của Tô Hoài), “Gặp gỡ” (Bùi Hiển), “Đất nước đứng lên” (trích của Nguyên Ngọc, bạn dịch là Tổ quốc đứng lên, rõ ràng không hay bằng nguyên tác); “Anh nuôi đại đội” (Lê Khánh), “Bốn năm sau” (trích của Nguyễn Huy Tưởng), “Đi bước nữa” (trích của Nguyễn Thế Phương, bạn dịch là Cải giá, rõ ràng không hay bằng nguyên tác), “Cỏ non” (Hồ Phương), “Một tấm áo mới” (Ngô Ngọc Bội), “Chiến sĩ và em bé” (Hải Hồ), “Mùa lạc” (trích của Nguyễn Khải, bạn dịch là Mùa thu hoạch lạc, rõ ràng không hay và cô đọng bằng nguyên tác); “Những bông hồng” (Nguyễn Thị Cẩm Thạnh), “Màn kịch của cô giáo” (Giang Nam), v.v..

Tập 3 Văn học Việt Nam từ năm 1975 đến cuối thế kỷ 20, giới thiệu những tác giả và tác phẩm: “Khoảng cách còn lại” (trích của Nguyễn Mạnh Tuấn), “Thời gian” (Cao Duy Thảo), “Sao đổi ngôi” (trích của Chu Văn), “Mùa lá rụng trong vườn” (trích của Ma Văn Kháng), “Thời xa vắng” (trích của Lê Lựu), “Tướng về hưu” (Nguyễn Huy Thiệp), “Hai em bé sắp ra đi” (Tô Hoài), “Những ngày cuối năm” (Nguyễn Khải), “Bước qua lời nguyền” (Tạ Duy Anh), “Một chiều xa thành phố” (Lê Minh Khuê), “Lời hứa của thời gian” (Nguyễn Quang Thiều), “Gió vẫn thổi qua cánh đồng bên sông” (Võ Thị Xuân Hà), v.v..

Trong Đêm thơ quốc tế Hạ Long, tổ chức tại Tuần Châu, tối 8-1-2010, nằm trong lịch trình của Hội nghị quốc tế Giới thiệu văn học Việt Nam, theo chương trình đã được nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Trưởng ban Tổ chức Hội nghị thông qua, thì bộ ba dịch giả Vũ Phong Tạo (Việt Nam), Giáo sư-dịch giả Chúc Ngưỡng Tu, nữ sĩ Điền Tiểu Hoa – Nhà nghiên cứu văn học nước ngoài (Trung Quốc) đăng đàn đọc thơ song ngữ Hán – Việt ba thi phẩm Việt Nam đã được dịch sang Trung văn và được bạn đọc Trung Quốc ưa thích: “Trăng” của nhà thơ Xuân Diệu, “Tiếng thu” và “Mưa… mưa mãi” của nhà thơ Lưu Trọng Lư.

Bộ ba chúng tôi muốn gửi một thông điệp nhỏ đến các nhà văn, dịch giả rằng: Các nhà văn, nhà thơ tiền bối của chúng ta không hề phải quảng bá rùm beng, mà tác phẩm của họ vẫn vượt qua không gian và thời gian, vượt qua biên giới quốc gia, dân tộc đến với nhân loại. Câu thành ngữ “hữu xạ tự nhiên hương” luôn luôn là một chân lý. Các bạn cứ viết hay đi, chúng tôi sẽ sẵn sàng tìm đến và chuyển ngữ, làm cho tác phẩm của các bạn bay cao, bay xa, vang xa hơn nữa trong thế giới văn chương không hề có biên giới này!

Vũ Phong Tạo
qdnd.vn

Nhà Việt Nam học

QĐND – Ngày 1-7-2010, tại Phòng Công nghiệp-Thương mại Tatarxtan đã khai mạc Phân hội của Hội Hữu nghị Liên bang Nga-Việt Nam ở nước Cộng hòa tự trị này. Ông Rinat Ibraghimốp đã được cử giữ chức Chủ tịch. Đây là người đã từ lâu gắn bó mật thiết với nước ta, từng làm nghĩa vụ quốc tế ở Cam-pu-chia và Việt Nam.

1. Khi tiếp xúc với con người thông thạo tiếng Việt và tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ, biết cả tiếng Trung Quốc và tiếng Pháp này, ít người tin rằng ông ta sinh ra từ làng quê Mamasi, huyện Cumô của nước Cộng hòa Tatarxtan trong Liên bang Nga.

Ông thường bộc bạch cởi mở với bạn bè: “Tôi xuất thân từ một gia đình nông trang viên. Bố cũng như ông nội tôi là người rất ham hiểu biết: Thích đọc sách báo, văn thơ. Năm 1972, sau khi tốt nghiệp phổ thông, tôi vào học Trường Thông tin liên lạc-Kỹ thuật điện ở thành phố Cazan, thủ phủ của nước Cộng hòa chúng tôi. Đầu năm 1980, tôi làm hiệu thính viên chính cho các đội bay của Nhà máy Hàng không Ke-me-rô-vô, học nâng cao chuyên môn ở tuyến hàng không quốc tế Sê-rêmen-che-vô-2. Năm 1984, tôi được cử tới Cam-pu-chia với cương vị hoa tiêu-điện báo viên của tổ hợp ngoại thương “Xuất khẩu hàng không” của Liên bang. Tại đây, tôi bắt đầu tìm hiểu, làm quen với người Việt Nam-những cán bộ, chiến sĩ Quân tình nguyện đã sang giúp nhân dân Cam-pu-chia lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt – Iêng-xa-ri đem lại cuộc sống tự do cho người dân nước này. Tôi bắt đầu học tiếng Việt, điều rất cần thiết để thực thi nhiệm vụ quốc tế của mình…”.

Tại Phnôm Pênh, Rinat cùng các cán bộ và chiến sĩ Xô-viết và Quân tình nguyện Việt Nam làm nhiệm vụ bảo vệ sân bay, mạch máu giao thông và trụ sở các đoàn ngoại giao trong những năm Cam-pu-chia vừa thoát khỏi chế độ diệt chủng của Khơ-me Đỏ. Tại đây, Rinat kết thân với các bạn Việt Nam, cùng làm việc và tích cực học tiếng Việt, tìm hiểu phong tục tập quán cũng như nền văn hóa của hai đất nước Việt Nam, Cam-pu-chia. Chẳng bao lâu anh đã làm phiên dịch tiếng Việt cho đoàn công tác của Liên Xô tại đây.

Ông Rinat Ibraghimốp thời học tập ở TP Hồ Chí Minh. Ảnh do nhân vật cung cấp.

Do Rinat là một đảng viên trẻ, lại nhanh chóng học được tiếng Cam-pu-chia nên Đảng ủy Đại sứ quán Liên Xô ở nước này đã cử anh trực tiếp làm việc với thanh niên Cam-pu-chia, giải thích tuyên truyền cho họ về con đường đi tới tương lai tươi sáng của đất nước này. Về sau, ông kể lại với mọi người: “Những người tôi tuyên truyền đa phần là nông dân nghèo mù chữ. Chúng tôi làm việc nhiều, đi nhiều miền quê, gặp gỡ nhiều dân nghèo, giải thích rõ cho họ thông hiểu phải làm gì, làm thế nào để vượt qua nghèo đói, xây dựng cuộc sống mới, bảo vệ đất nước. Tôi mau chóng thấy quý yêu hai dân tộc, hai đất nước Việt Nam và Cam-pu-chia. Và tôi đã đi sâu tìm hiểu về họ. Nhưng một người làm hoa tiêu – điện đài hàng không như tôi thì làm thế nào để thực hiện được ý nguyện của mình? Thật may mắn cho tôi. Những người bạn mới – một số sinh viên đại học, những nhà Phương Đông học tương lai của đất nước Xô-viết thực tập tại đây và Việt Nam đã mách bảo cho tôi. Và đây cũng là khởi đầu bước ngoặt của đời tôi…”.

Được các bạn mách bảo, năm 1986, Rinat Ibraghimốp đã xin được chuyển ngành để học tập ở Khoa Phương Đông học theo nguyện vọng thiết tha của anh. Rinat đã bay về thành phố Ke-me-rô-vô, nơi vợ và hai con trai đang đợi mình. Ở đây, anh được biết chỉ có hai trường là Đại học Tổng hợp Mát-xcơ-va và Lê-nin-grat (nay là Xanh Pê-téc-bua) mới có Khoa Phương Đông học. Nhưng ở trường đại học thứ nhất chỉ nhận học viên có đăng ký hộ khẩu ở Thủ đô nên Rinat đã tới Lê-nin-grat, nơi có Khoa Phương Đông học mạnh nhất nước. Thật may mắn: Anh đã thi được vào khoa này với số điểm xuất sắc, đăng ký học 4 ngoại ngữ: Trung, Việt, Anh và Pháp, còn tiếng Khơ-me thì học thêm. Nguyện vọng thiết tha và ý chí quyết tâm đã giúp Rinat đạt kết quả xuất sắc, tốt nghiệp với tấm “bằng đỏ”.

2. Năm 1989, Rinat Ibraghimốp tới TP Hồ Chí Minh thực tập tại Trường Đại học Tổng hợp. Về sau, ông tâm sự cởi mở: “Đó là những năm tháng tuyệt vời nhất của đời tôi. Chỉ có lúc đó tôi mới thực hiểu sâu sắc rằng thật đáng buồn cho những ai khi muốn tìm hiểu về một đất nước mà không biết tiếng nước đó. Không phải vô cớ mà các thầy giáo thường khuyên chúng tôi: “Cần phải đi khắp thành phố, luôn luôn tiếp xúc với dân chúng”. Ở Hà Nội, tôi có rất nhiều bạn bè tốt, người Việt cũng như các nhà Việt Nam học tương lai từ Học viện Quan hệ quốc tế Mát-xcơ-va và Viện Các nước châu Á và châu Phi. Trong số đó có Ghê-na-đi Bez-đet-cô, hiện là Tổng lãnh sự Nga ở TP Hồ Chí Minh. Người Việt Nam đối xử rất tốt với mọi công dân Xô-viết sống và làm việc ở đây. Đó là điều ghi sâu mãi trong lòng tôi…”.

Tại TP Hồ Chí Minh cũng như về sau làm việc ở Hà Nội, Rinat Ibraghimốp mau chóng trở thành “người nhà” dù chỉ có 2 năm đi tập sự và “ba cùng” với dân chúng nơi đây. Ông nhớ lại những kỷ niệm “đầy ắp trong lòng”: “Những hôm rỗi việc, tôi thường cùng các bạn Việt Nam đi uống bia hơi. Quán bình dân nhưng lịch sự hơn ở chúng ta nhiều bởi những cái bắt tay và nụ cười chân tình. Bia ngon tuyệt, còn người phục vụ thì lịch sự, vui vẻ…”.

Năm 1990, sau khi kết thúc khóa thực tập, Rinat Ibraghimốp đã được Trường Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh nhận làm nghiên cứu sinh. Ông vui sướng cầm giấy mời của trường đến Phòng Quan hệ quốc tế Trường Đại học Tổng hợp Lê-nin-grát “Thật là một hạnh phúc bất ngờ – Rinat Ibraghimốp nhớ lại – Lúc đó một vị chưa ai biết tên tuổi, nhưng trẻ trung đầy năng động và thông minh, làm việc ở Ủy ban nhân dân thành phố, đã quyết định cho tôi đi. Ông còn nói rằng, đó là một dịp may hiếm có cho tôi, hãy chớp lấy thời cơ. Người đó là Vla-đi-mia Pu-tin. Về sau, khi đã thành một nguyên thủ quốc gia, ông đã cử tôi sang làm việc với Việt Nam”.

Trong thời gian nghiên cứu, Rinat Ibraghimốp coi TP Hồ Chí Minh và Hà Nội như quê hương thứ hai của mình. Ông nghiên cứu quan hệ kinh tế Việt Nam – Cam-pu-chia. Do trước đây đã cố gắng đi sâu tìm hiểu về hai đất nước và hai dân tộc này nên ông nhanh chóng đạt được kết quả tốt trong một thời gian ngắn. Thế nhưng, từ sau ngày Liên Xô tan rã, ông cùng 35 nghiên cứu sinh và sinh viên các ngành khác như bị “treo lơ lửng” nơi đất khách quê người vì không xác định được ai sẽ cấp học bổng cho họ. Do vậy, Đại sứ quán Nga tại Hà Nội, rồi cả Tổng lãnh sự quán ở TP Hồ Chí Minh là những nơi họ thường xuyên lui tới để “chạy bữa”. Họ muốn “làm thêm” để kiếm sống, nhưng chẳng có việc gì thích hợp. Tuy nhiên, “máu” nghiên cứu Phương Đông vẫn nóng hổi trong tâm can Rinat. Ông tiếp tục thực hiện chủ định của mình và đã đạt được một số kết quả tốt đẹp.

3. Vào những tháng đầu khi Liên Xô tan rã, Inghiza Ibraghimốp – người anh cả của ông đã gọi điện tới Hà Nội cho ông. Sau khi giải thích sự biến đổi của đất nước, ông này đã khuyên ông mau chóng trở về đất nước. Từ lúc này, Liên bang Nga chuyển dần sang nền kinh tế thị trường. Trở về Tổ quốc, nhà Phương Đông học vừa “ra lò” này được bố trí vào làm việc ở Phòng Quan hệ thương mại với nước ngoài của Nhà máy Chế tạo máy nén khí ở Cazan. Ông được giao nhiệm vụ tìm kiếm đối tác nước ngoài làm ăn – tiêu thụ sản phẩm của nhà máy, chủ yếu là Việt Nam và Trung Quốc. Nửa năm sau, ông được cử làm người đại diện của nhà máy ở Trung Quốc.

Một ngày đầu thu năm 1992, Rinat Ibraghimốp đã chất đầy ắp lên các xe tải những sản phẩm của các xí nghiệp nước Cộng hòa tự trị này đưa tới Trung Quốc, Việt Nam và Mông Cổ để quảng cáo các loại hàng công nghiệp của nước mình. Chuyến đi vượt hàng nghìn ki-lô-mét đầy vất vả này đã thành công tốt đẹp.

Sự nỗ lực, năng động và nhiệt tình với công việc cùng với kiến thức Phương Đông học của mình, ông đã giúp Tatarxan trở thành chủ thể đầu tiên của Liên bang Nga có quan hệ kinh tế đối ngoại rất hiệu quả với các quốc gia châu Á – Thái Bình Dương ngay từ những năm đầu chuyển qua nền kinh tế thị trường. Đặc biệt, Tatarxan là nước đầu tiên lập ban đại diện của mình ở Việt Nam.

Ông Rinat Ibraghimốp hiện nay. Ảnh: Hữu Dy

Một thời gian dài kể từ năm 2000, Ibraghimốp làm người đại diện quan hệ thương mại của Tatarxan ở Việt Nam. Từ đó, quan hệ thương mại giữa hai bên ngày càng phát triển tốt đẹp. Hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hóa năm sau luôn luôn hiệu quả và cao hơn năm trước. Máy bay lên thẳng, ô tô tải hiệu Kamaz, tàu thủy của nhà máy đóng tàu Zêlênôđôn và sản phẩm của nhiều xí nghiệp khác được người Việt Nam ưa chuộng. Đáp lại, nhiều sản phẩm hàng hóa của “xứ nhiệt đới mới lạ” được người dân nước này yêu thích mua dùng.

Tại thủ đô Kazan của Tatarxan, có một cộng đồng người dân Việt sinh sống, làm ăn khá ổn định. Ibraghimốp thổ lộ: “Tôi đã đề nghị họ thành lập một “khu dân tộc – văn hóa tự trị”. Kết quả là họ được đăng ký thành lập tổ chức “Hội Đoàn kết Việt Nam”, tôi được họ bầu làm Phó chủ tịch hội kiêm Giám đốc điều hành, vì tôi đã là “người Việt” mà! Sự hoạt động của Hội thật đa dạng: Ngoài việc củng cố mối quan hệ giữa hai nước và tổ chức các chuyến thăm Việt Nam của lãnh đạo nước Cộng hòa, Hội bảo vệ và phát triển các truyền thống, ngôn ngữ và di sản văn hóa của những người Việt sinh sống và lập nghiệp trên đất nước chúng tôi”.

Rinat Ibraghimốp quả là một nhà Phương Đông học – Việt Nam học đích thực “trong việc làm”.

Nguyễn Hữu Dy
qdnd.vn

Lợi dụng vấn đề tự do ngôn luận để can thiệp

Đối tượng Vi Đức Hồi. Ảnh: Internet

QĐND – Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 26-1-2011, TAND tỉnh Lạng Sơn đã tuyên án 8 năm tù giam và 5 năm quản chế tại địa phương sau khi mãn hạn tù đối với Vi Đức Hồi vì tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, theo Điều 88 Bộ luật Hình sự. Sau phiên tòa, Vi Đức Hồi đã có đơn kháng án. Trong phiên phúc thẩm hôm 26-4, căn cứ vào thái độ thành khẩn và hợp tác trong quá trình làm việc… Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã giảm án cho Vi Đức Hồi xuống còn 5 năm tù giam và 3 năm quản chế tại địa phương sau khi mãn hạn tù.

Thực tế là vậy nhưng khi đưa tin về phiên tòa, Đài RFI dẫn nguồn vu vơ rằng: “Theo những nhà bảo vệ nhân quyền, tội danh “tuyên truyền chống Nhà nước” thường được Việt Nam sử dụng để hình sự hóa quyền tự do ngôn luận… Trả lời AFP về kết quả phiên tòa, ông Phil Robertson, Phó giám đốc đặc trách châu Á của tổ chức Human Rights Watch, cho rằng: Đây vẫn là một bản án nặng nề đối với một người “đã không làm gì khác ngoài việc bày tỏ những ý kiến đối lập với Chính phủ Việt Nam”. Trước đó Human Rights Watch còn kêu gọi trả tự do cho Vi Đức Hồi.

Cần khẳng định rõ rằng, ở Việt Nam không có chuyện sử dụng tội danh “tuyên truyền chống Nhà nước” để hình sự hóa quyền tự do ngôn luận. Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân. Điều này đã được quy định rõ trong Hiến pháp, pháp luật, trong đó có Điều 88 Bộ luật Hình sự. Những thành tựu của Việt Nam trong thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí đã được phần lớn các quốc gia, các tổ chức quốc tế và nhân dân trên thế giới ghi nhận và đánh giá cao.

Hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận để tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam của Vi Đức Hồi là rất rõ ràng. Nhận xét của ông Phil Robertson là không có cơ sở. Nhà nước Việt Nam sẵn sàng làm tất cả để bảo vệ quyền tự do ngôn luận của công dân. Nhưng cũng như mọi quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam phải quản lý, kiểm soát việc thực hiện quyền ấy theo đúng quy định của pháp luật và xử lý nghiêm minh nếu ai đó cố tình lợi dụng quyền tự do ngôn luận để thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật. Nhà nước Việt Nam kiên quyết lên án, phản đối bất kỳ thế lực nào sử dụng vấn đề tự do ngôn luận làm cái cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Kim Ngọc
qdnd.vn

“Con đường sống” của Lê-nin-grát

67 năm chiến thắng phát xít Đức (9-5-1945/9-5-2012)

QĐND – Trong cuộc Chiến tranh ái quốc vĩ đại chống phát xít Đức xâm lược của nhân dân Liên Xô, vào mùa đông những năm 1941-1943, trên hồ La -đô-ga phía bắc thành phố Lê -nin-grát (nay là Xanh Pê -téc-bua), một con đường đóng băng đã được tạo dựng để chuyên chở vũ khí, đạn dược và lương thực – thực phẩm cung cấp cho quân và dân thành phố khi đang bị quân thù bao vây suốt 900 ngày đêm. Với mật danh Đường số 101, nó đã được ghi vào lịch sử chống giặc ngoại xâm của đất nước Xô viết là “Con đường sống” của ba triệu người Lê -nin-grát.

1. Về mọi mặt, Lê-nin-grát là thành phố lớn thứ hai của quốc gia Xô viết. Vì vậy, khi vạch kế hoạch tấn công Liên Xô, phát xít Đức đã đề ra mục tiêu xâm chiếm “cái nôi của Cách mạng Tháng Mười Nga” trong thời gian gần nhất và nhanh nhất. Để thực hiện mục đích đó, Bộ Tổng chỉ huy Đức đã đưa vào chiến dịch này “Cụm quân Bắc” gồm 23 sư đoàn bộ binh tinh nhuệ, 6 sư đoàn xe tăng – cơ giới và tập đoàn Không quân số 1 (760 máy bay chiến đấu các loại). Lại thêm một lực lượng lớn quân đội Phần Lan và Na Uy cùng phối hợp với phát -xít Đức tấn công vào thành phố này phía Bắc và Tây Bắc. Tình thế nơi đây vô cùng nguy nan và khó khăn, khốc liệt.

Các nữ chiến sĩ Lê -nin-grát túc trực điều chỉnh luồng đường. Tấm biển ghi: Mặt trận Lê -nin-grát – con đường băng dài 30km.

Để bảo vệ thành phố trọng yếu này, Bộ Tổng tư lệnh tối cao Xô viết đã dùng một lực lượng lớn không -hải-lục quân phía bắc cho chiến dịch phòng thủ đặc biệt đó. Về lực lượng, quân phát xít cả người và vũ khí đều hơn hẳn quân đội Liên Xô: Gấp 2, 4 lần về quân sở; 4 lần về vũ khí; 5, 8 lần về pháo lớn và súng cối; 1, 2 lần về xe tăng; 9, 8 lần về máy bay chiến đấu… Cùng lúc đỏ, các lực lượng vũ trang Xô viết còn phải căng ra ở các mặt trận trọng yếu khác như mặt trận phía tây, mặt trận tây -nam, mặt trận Xta -lin-grát…

Toàn thể cư dân Lê -nin-grát, từ phụ nữ, trẻ em, người già đến công nhân viên chức nhà nước đều dũng cảm kiên cường chịu đựng mọi gian khổ, đói rét dưới mưa bom bão đạn của quân thù. Tất cả đều tích cực tham gia giữ vững thành phố với sức lực và khả năng của mình. Các đội dân quân, cứu thương, tải đạn thường xuyên sát cánh cùng bộ đội chủ lực. Những trận chiến đấu ở vùng ngoại ô diễn ra cực kỳ khốc liệt, giành giật nhau từng tấc đất, ngôi nhà, đường phố… Thấy không thể chiếm ngay được thành phố như kế hoạch đã vạch ra, quân Đức chuyển sang bao vây, siết chặt gọng kìm từ các phía.

Trong tình thế bị bao vậy chặt mọi phía, vũ khí, lương thực bị cạn kiệt, quân và dân thành phố mang tên Lê -nin đã dũng cảm, kiên cường đánh trả quyết liệt, rồi dần dần từ phòng thủ chuyển sang chủ động phản công. Từ ngày 12-1-1943, các cánh quân của Phương diện quân Lê -nin-grát, Phương diện quân Vôn -khốp cùng Hạm đội Ban -tích và Giang đoàn hồ La -àö-ga bắt đầu phản công để giải vây thành phố. Cuối tháng 1-1944, thành phố hoàn toàn được giải phóng sau 900 ngày đêm bị quân phát -xít bao vây phong tỏa.

Trong chiến công hào hùng này có sự đóng góp lớn của “Con đường sống” được xây dựng từ băng qua ba mùa đông trên hồ La -đô-ga.

2. Về “Con đường sống” này, nhà sử học Nga – Xô viết Mi -rô-zốp đã viết: “Trên thực tế, việc di chuyển quân đội và vận chuyển hàng hóa, lương thực, quân trang quân dụng trên các con đường đóng băng trên mặt hồ không có gì là đặc biệt. Trong cuộc chiến tranh với Phần Lan (1939-1940), để tiếp tế cho sư đoàn bộ binh 168 bị địch bao vây tại vùng Pit -ki-a-ran, một con đường vận tải bằng ô tô theo con đường đóng băng trên mặt hồ La -àö-ga đã được tạo lập nên. Rồi tiếp theo, trong năm đầu cuộc Chiến tranh vệ quốc, để đánh bật quân Đức khỏi đảo Gốt -lan trên biển Ban -tích, đoàn quân xe tăng và pháo binh Xô viết cũng đã dịch chuyển trên băng vào mùa đông lạnh giá. Nhưng trước và sau đó, chưa bao giờ sự sống của hơn ba triệu con người của Lê -nin-grát lại phụ thuộc vào độ dày của lớp băng và điều kiện thời tiết trên một con đường 40km đi qua hồ La -àö-ga này.

Nhiều kho lương thực – thực phẩm của Lê -nin-grát đã bị quân phát – xít đốt cháy tháng 9-1941, số còn lại thì quá ít. Thậm chí “khẩu phần ăn đói kém” vào giữa tháng 12-1941 cũng cần tới 500 tấn bột mì mỗi ngày cho toàn thành phố. Có lúc mỗi “suất ăn” chỉ là 50 gram bánh mì trong ngày. Trong khoảng tháng 9 tới tháng 11-1941, lương thực cung cấp cho nhân dân nơi đây đã giảm xuống 5 lần. Sau lần hạ thấp thứ tư thì bắt đầu xảy ra nạn chết vì đói. Khi hồ La -àö-ga chưa đóng băng hoàn toàn (vào năm 1941 thì phải tới ngày 25 tháng 11), lương thực cung cấp cho nơi đây bằng tàu thủy. Các tàu thuyền đi theo các luồng lạch được phá tan băng; còn các xe ngựa kéo bằng xe trượt tuyết cũng góp sức chuyên chở trên mặt băng. Rồi khi băng đóng cứng nhờ trời quá rét (sâu vào mùa đông) thì các đoàn ô tô tải hoạt động mạnh. Nhưng chỉ loại xe vận tải nhẹ, vì còn phải “dè chừng” độ cứng của mặt băng…”.

Từ ngày 24-4-1942, đường huyết mạch trên băng này tạm cắt (vì băng tan) cho tới mùa đông sau. Trong thời gian ngắn này, 361 nghìn tấn lương thực đã được cung cấp cho thành phố. Cho tới khi quân phát – xít bị đánh bật khỏi thành phố anh hùng này (tháng 1-1944), 1, 5 triệu tấn lương thực đã cung cấp tận nơi cho 3 triệu dân ở đây bằng “Con đường sống” này. Lại còn sơ tán được nửa triệu người dân ra khỏi thành phố (đa phần là trẻ em và người già yếu). Trong lúc đó, đường hàng không là phương pháp phù hợp nhất cung cấp nhu yếu phẩm cho nơi bị bao vây chặt thì chỉ được 3, 6 nghìn tấn, ít hơn 100 lần! Không có “Con đường sống” trên hồ La -àö-ga thì chắc chắn người dân ở “cái nôi” của cách mạng đã không thể vượt qua được nạn chết đói do bị quân thù bao vây chặt qua gần 3 năm khốc liệt.

3. Khi nghiên cứu xây dựng con đường băng này, nhiều nhà khí tượng học và kỹ thuật giao thông của thành phố Lê -nin-grát lúc đó đã cho rằng không thể làm được bởi nhiều lý do. Nhiều người dân bản địa còn nhớ lại như in nhiều tai nạn đã xảy ra đối với những người đánh xe ngựa trượt băng qua hồ trong mùa đông băng giá đã bị mất tích. Mà ở đây thì cần phải cho rất nhiều ô tô ngày đêm chuyên chở nhu yếu phẩm tiếp tế cho quân dân đang kịch chiến trong hoàn cảnh gian khó, khốc liệt. Ngay tại vị trí khởi đầu của con đường này, từ phía bờ đông của hồ, một khẩu hiệu được căng lên nhắc nhở các chiến sĩ lái xe: “Đồng chí lái xe, hãy nhớ rằng mỗi bao bột mì đen là một khẩu phần ăn cho hàng nghìn người Lê -nin-grát đang bị đói!”. Tuy nhiên, cuối cùng, với quyết tâm cao, người ta đã vượt qua.

Nhiều cán bộ, chiến sĩ, người dân tham gia “Con đường sống” này về sau đã viết hồi ký, ghi lại thời buổi gian nan khốc liệt ấy. Chiến sĩ lái xe Va -xi-li Xê -đi-úc trong lúc lái chiếc xe vận tải nhẹ “GAZ” bị một trận bão tuyết vùi lấp dưới một đống tuyết lớn. Xe anh được mọi người kéo lên khỏi tuyết. Một ông già đánh chiếc xe tuyết hai ngựa kéo đã đánh thức anh trong đêm tối. Anh ghi lại: “Khi nhìn thấy tôi, ông già bỗng trố mắt ngạc nhiên.

– ôi, vẫn còn sống ư? – ông nói với vẻ kinh ngạc – Cậu một mình trong ca -bin ư?

– Một mình thôi, tôi trả lời.

– Thật may cho cậu đấy, chàng trai ạ!

Rồi ông hất đầu về phía thùng xe sau hai con ngựa. Tại đó, dưới tấm vải bố là mấy thi thể cứng đơ…”

Những chuyện như thế thường diễn ra trên con đường băng giá này vào những năm 1941-1943, nơi hơn 20 nghìn người ngày đêm tất bật khẩn trương làm việc.

Người chịu trách nhiệm tổ chức vận chuyển trên con đường này là Chỉ huy trưởng tuyến hậu phương của Phương diện quân Lê -nin-grát – Trung tướng La -gu-nốp. Còn người trực tiếp điều khiển đoàn ô tô vận tải là người phó của ông, Thiếu tướng Si -lốp. Dọc tuyến đường này được bố trí nhiều trạm bảo dưỡng kỹ thuật xe, máy, chủ yếu cho các xe vận tải nhẹ vài tấn, các trạm sưởi ấm và cung ứng vật chất, các trạm điều khiển giao thông. Bảo vệ vùng trời cho “con đường sống” này là các khẩu đội pháo cao xạ tầm cao, tầm trung, các đại đội súng máy Macxim… Tất cả có tới 20 đơn vị như vậy.

Con đường đóng băng đi qua hồ La -đô-ga tới thành phố Lê -nin-grát vào các mùa đông năm 1941-1943 nổi tiếng trong lịch sử cuộc Chiến tranh ái quốc vĩ đại của nhân dân Liên Xô, nhưng không phải là duy nhất. Còn có một số con đường băng giá nữa ở vùng giá rét này được quân đội Xô viết tạo lập để đánh trả quân thù, giải vây cho Lê -nin-grát. Tuy nhiên, trong lịch sử chiến tranh, tuyến đường có mật danh “Đường số 101” vẫn sâu đậm mãi trong lòng người dân Xô viết.

Nguyễn Hữu Dy
qdnd.vn

Một bộ máy, hai tên gọi

Quân ủy Trung ương Trung Quốc

QĐND – Tạp chí “Quân sự sử lâm”của Viện Bảo tàng Quân sự Trung Quốc có bài viết về “Tiến trình diễn biến của Quân ủy Trung ương”, nội dung tóm tắt như sau: Quân ủy Trung ương là tên gọi tắt Hội đồng quân sự Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Hội đồng quân sự Trung ương nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, thực chất đó là “Cơ quan chỉ huy quân sự và quyết sách quân sự cao nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc”, là Bộ thống soái tối cao lãnh đạo LLVT nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

Sự ra đời và những năm tháng chiến tranh

Năm 1931, Trung ương cục Khu xô viết của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) thành lập tại Thụy Kim, tỉnh Giang Tây, bên dưới có thành lập Hội đồng quân sự cách mạng Trung ương. Các nhà lãnh đạo chủ yếu của Khu xô viết Trung ương là Hạng Anh, Mao Trạch Đông, Chu Đức lần lượt làm Chủ tịch. Tháng 11 cùng năm, Chính phủ Trung ương lâm thời nước Cộng hòa xô viết Trung Hoa thành lập, Chu Đức nhậm chức Chủ tịch Hội đồng quân sự cách mạng Trung ương; Bành Đức Hoài, Vương Gia Tường nhậm chức Phó chủ tịch; 15 người, bao gồm Mao Trạch Đông, Chu ân Lai, Diệp Kiếm Anh… làm ủy viên. Quân ủy cách mạng Trung ương trong lịch sử Hồng quân bắt đầu từ đó.

Ảnh 11 thành viên Quân ủy Trung ương Trung Quốc hiện nay

Tháng 5-1933, Chính phủ Trung ương lâm thời quyết định: Bổ sung Tần Bang Hiến (Bác Cổ), Hạng Anh làm ủy viên Quân ủy cách mạng Trung ương. Trong thời gian Chu Đức chỉ huy tác chiến tại tiền phương, Hạng Anh đảm nhiệm Quyền chủ tịch. Trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của nước Cộng hòa xô viết Trung Hoa, Chu Đức lại được bầu làm Chủ tịch Quân ủy cách mạng Trung ương; Chu ân Lai, Vương Gia Tường được bầu làm Phó chủ tịch.

Sau Hội nghị Tuân Nghĩa năm 1935, Mao Trạch Đông, Chu ân Lai, Vương Gia Tường tổ chức Tổ quân sự ba người, trở thành Cơ quan quyết sách quân sự tối cao trong cuộc Vạn lý trường chinh, mà thành viên của Quân ủy cách mạng Trung ương không thay đổi. Tháng 6, Hồng quân Trung ương hội sư với Phương diện quân 4 Hồng quân tại Mạo Công, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc triệu tập “Hội nghị Lưỡng Hà Khẩu” nổi tiếng. Hội nghị quyết định Trương Quốc Đào đảm nhiệm Tổng chính ủy Hồng quân, Phó chủ tịch Quân ủy cách mạng Trung ương. Tháng 9, Quân ủy cách mạng Trung ương thực hành chế độ Đoàn chủ tịch 7 người do Mao Trạch Đông đứng đầu.

Sau khi Hồng quân cải tổ biên chế thành Bát Lộ quân, nhằm bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với quân đội trong tình hình mới kháng Nhật, ngày 22-8-1937, Trung ương ĐCSTQ quyết định thành lập Hội đồng quân sự cách mạng Trung ương của Đảng, Mao Trạch Đông làm Chủ tịch; Chu Đức, Chu ân Lai làm Phó chủ tịch; Bành Đức Hoài, Nhiệm Bật Thời, Hạ Long, Lâm Bưu, Lưu Bá Thừa, Trương Hạo, Diệp Kiếm Anh, Từ Hướng Tiền là ủy viên. Như vậy, Quân ủy Trung ương trở thành bộ máy lãnh đạo chỉ huy quân sự thuộc Trung ương ĐCSTQ.

Thời kỳ đầu thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Ngày 1-10-1949, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời. Cùng ngày, Hội đồng quân sự cách mạng nhân dân của Chính phủ nhân dân Trung ương cũng tuyên bố thành lập, Mao Trạch Đông làm Chủ tịch. Ngày 19-10, Chính phủ nhân dân Trung ương bổ nhiệm Chu ân Lai, Chu Đức, Lưu Thiếu Kỳ, Bành Đức Hoài, Trình Tiềm làm Phó chủ tịch Hội đồng quân sự cách mạng nhân dân; 22 người gồm Hạ Long, Trần Nghị, Từ Hướng Tiền, Lâm Bưu… là ủy viên. Chu ân Lai chủ trì công tác hàng ngày.

Ngày 26-9-1959, Bộ Chính trị Trung ương ĐCSTQ quyết định Quân ủy Trung ương do Mao Trạch Đông làm Chủ tịch; Lâm Bưu. Hạ Long, Nhiếp Vinh Trăn làm Phó chủ tịch; Lâm Bưu chủ trì công tác hàng ngày của Quân ủy.

Mùa hè năm 1965, Quân ủy Trung ương bãi bỏ chế độ quân hàm.

Ngày 8-1-1966, 4 vị nguyên soái Trần Nghị, Lưu Bá Thừa, Từ Hướng Tiền, Diệp Kiếm Anh được bầu bổ sung làm Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương.

Trong thời gian “Cách mạng văn hóa”

Do sự phá hoại nghiêm trọng của Lâm Bưu, Giang Thanh, công tác hàng ngày của Quân ủy Trung ương bị hạn chế, Hội đồng Quốc phòng trên thực tế cũng bị đình chỉ công tác hàng ngày.

Tháng 8-1967, Quân ủy Trung ương quyết định Tổ thường trực Quân ủy gồm Ngô Pháp Hiến, Diệp Quần, Khưu Hội Tác, Trương Tú Xuyên; Tháng 9, giao quyền Tổng Tham mưu trưởng Dương Thành Vũ làm Tổ trưởng.

Tháng 3-1968, Hoàng Vĩnh Thắng, Tư lệnh quân khu Quảng Châu được điều về làm Tổng tham mưu trưởng kiêm Tổ trưởng thường trực Quân ủy.

“Một bộ máy hai tên gọi”

Tháng 7-1977, tại Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương lần thứ ba khóa 10 ĐCSTQ, Hoa Quốc Phong được bầu là Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương, Chủ tịch Quân ủy Trung ương; Đặng Tiểu Bình được khôi phục các chức vụ lãnh đạo, trong đó bao gồm Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương kiêm Tổng tham mưu trưởng.

Từ ngày 12 đến 18-8-1977, Đại hội 11 ĐCSTQ họp, Hoa Quốc Phong được bầu làm Chủ tịch Quân ủy Trung ương; Diệp Kiếm Anh, Đặng Tiểu Bình, Lưu Bá Thừa, Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh Trăn làm Phó chủ tịch.

Tháng 6-1981, tại Hội nghị Trung ương lần thứ sáu khoá 11 ĐCSTQ, Hoa Quốc Phong từ chức Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương và Chủ tịch Quân ủy Trung ương; Hồ Diệu Bang và Đặng Tiểu Bình lần lượt được bầu làm Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương và Chủ tịch Quân ủy Trung ương.

Ngày 4-12-1981, bộ Hiến pháp thứ tư trong lịch sử nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời tại Hội nghị lần thứ 5 của Quốc hội Trung Quốc khóa 5. Bộ Hiến pháp quy định: Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thiết lập Hội đồng quân sự Trung ương thống lĩnh lực lượng vũ trang toàn quốc, gồm Chủ tịch, Phó chủ tịch, một số ủy viên; Thực hành chế độ Chủ tịch phụ trách.

Ngày 18-6-1983, tại Hội nghị Trung ương lần thứ nhất khóa 6 ĐCSTQ, Đặng Tiểu Bình được bầu làm Chủ tịch Hội đồng quân sự Trung ương nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Ngày 20-6, theo đề nghị của Đặng Tiểu Bình: Diệp Kiếm Anh, Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh Trăn, Dương Thượng Côn làm Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương.

Đây là lần thứ ba trong lịch sử, Quân ủy Trung ương trở thành cơ quan chức năng chung của Ban Chấp hành Trung ương ĐCSTQ và Chính quyền quốc gia. Thiết lập Quân ủy quốc gia là một cải cách trọng đại của ĐCSTQ đối với thể chế quốc gia và thể chế quân đội. Trong điều kiện lịch sử mới, Quân ủy Trung ương và Quân ủy quốc gia trên thực tế là “một bộ máy, hai danh xưng” (lưỡng cá bài tử, nhất thao nhân mã).

Ngày 1-11-1987, Đại hội 13 ĐCSTQ thông qua Dự án sửa đổi một số điều của Điều lệ Đảng, trong đó quy định “Thành viên của Hội đồng quân sự Trung ương do Ban Chấp hành Trung ương quyết định”, điều quy định này liên tục kéo dài đến Điều lệ Đảng mới thông qua tại Đại hội 16.

Ngày 2-11-1987, Đặng Tiểu Bình lại được bầu làm Chủ tịch Quân ủy Trung ương, Triệu Tử Dương làm Phó chủ tịch thứ nhất, Dương Thượng Côn làm Phó chủ tịch thường trực.

Ngày 8-4-1988, tại Hội nghị lần thứ nhất Quốc hội Trung Quốc khóa 7, Đặng Tiểu Bình được bầu làm Chủ tịch Hội đồng quân sự Trung ương nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Ngày 9-4, Triệu Tử Dương, Dương Thượng Côn được bầu làm Phó chủ tịch.

Từ ngày 6 đến ngày 9-11-1989, tại Hội nghị Trung ương lần thứ năm, khóa 13 ĐCSTQ, Đặng Tiểu Bình từ chức Chủ tịch Quân ủy Trung ương, Giang Trạch Dân lên thay; Dương Thượng Côn được bầu Phó chủ tịch thứ nhất, Lưu Hoa Thanh làm Phó chủ tịch Quân ủy.

Từ ngày 12 đến ngày 18-10-1992, Đại hội 14 của Đảng Cộng sản Trung Quốc bầu Giang Trạch Dân làm Chủ tịch Quân ủy Trung ương ĐCSTQ; Lưu Hoa Thanh, Trương Chấn được bầu làm Phó chủ tịch Quân.

Ngày 28-3-1993, Giang Trạch Dân được bầu làm Chủ tịch Hội đồng quân sự Trung ương nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, đồng thời đề nghị Lưu Hoa Thanh, Trương Chấn làm Phó chủ tịch.

Từ ngày 19 đến 22-9-1999, Hội nghị Trung ương lần thứ tư khóa 15 ĐCSTQ bầu bổ sung Hồ Cẩm Đào làm Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương.

Quân ủy Trung ương Trung Quốc hiện nay gồm 12 thành viên: Chủ tịch Hồ Cẩm Đào; 3 Phó chủ tịch: Tập Cận Bình, Quách Bá Hùng, Từ Tài Hậu; 8 ủy viên: Lương Quang Liệt, Trần Bỉnh Đức, Lý Kế Nại, Liêu Tịch Long, Thường Vạn Toàn, Đoan Chí Viễn, Ngô Thắng Lợi, Hứa Kỳ Lượng.

Cấp bậc của các thành viên Quân ủy Trung ương Trung Quốc

Chủ tịch Quân ủy Trung ương thông thường do Tổng bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc kiêm Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đảm nhiệm, không mang quân hàm.

Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương, cấp bậc Thượng tướng, quân hàm cao nhất Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc hiện nay. Vị trí lãnh đạo và quyền lực tương đương ủy viên thường vụ Bộ Chính trị, Phó chủ tịch nước, Phó chủ tịch Quốc hội, Phó thủ tướng.

Ủy viên Quân ủy Trung ương, cấp bậc Thượng tướng, quân hàm cao nhất trong Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc hiện nay, vị trí và quyền lực tương đương ủy viên Quốc vụ viện; cao hơn Thủ trưởng 4 cơ quan Bộ tổng (Tham mưu, Chính trị, Hậu cần, Trang bị) của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc; cao hơn Tư lệnh Đại quân khu. Cho nên, ủy viên Quân ủy Trung ương tuy không phải là một chức danh, một bậc thang lãnh đạo trong hệ thống Đảng, Chính quyền, Quân đội ở Trung Quốc, nhưng có vị trí và thực quyền.

Vũ Phong Tạo
qdnd.vn

Bác Hồ ở ATK

Văn học và sự kiện

QĐND – Có một đoạn phim tài liệu về Bác Hồ ở Việt Bắc làm xúc động lòng người: Sau khi tắm suối xong, cùng đồng chí công vụ, Bác mặc quần đùi, cởi trần, còn áo may ô và khăn mặt thì phơi lên đầu mút cây sào, giống như thiếu nhi nông thôn rước cờ lá chuối, vừa đi về nhà vừa tranh thủ phơi khăn áo! Cảm động vì thấy Bác vô cùng giản dị và sinh hoạt của Bác ở chiến khu hồi đó thật thiếu thốn; hơn nữa, tính Bác lạc quan, hóm hỉnh, tìm niềm vui từ những chuyện nhỏ hàng ngày. Dòng suối mà Bác tắm đó có tên là Khuôn Tát, thuộc bản Nà Lọm, xã Phú Đình, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.

Chúng ta biết rằng, trước cách mạng Tháng Tám, Bác và Trung ương ở Tân Trào, Tuyên Quang, và từ đó về giành chính quyền ở Hà Nội. Mùa xuân năm 1947, sau khi rút khỏi Thủ đô, Bác và Trung ương trở lại Tân Trào, nhưng chỉ một thời gian ngắn thì sang Định Hóa, Thái Nguyên. Mặc dù Tân Trào và Định Hóa thuộc hai tỉnh, nhưng khá gần nhau, chỉ cách một đèo De và núi Hồng, hai địa danh khá quen thuộc trong bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu. Sở dĩ Bác và Trung ương chọn nơi đây vì “địa lợi, nhân hòa” như Bác từng tổng kết:

“Trên có núi, dưới có sông
Có đất ta trồng, có bãi ta chơi
Tiện đường sang Bộ Tổng
Thuận lối tới Trung ương
Nhà thoáng, ráo, kín mái
Gần dân không gần đường”.

Bác Hồ đi công tác ở chiến khu Việt Bắc. Ảnh tư liệu.

Ngày đó, dân ở bản Nà Lọm chỉ có chín gia đình của người Tày và người Dao. Dân thưa, địa hình heo hút, xa trục đường giao thông, ít người qua lại nên dễ giữ được bí mật. Hơn nữa nếu có bị lộ thì cũng nhanh chóng rút qua đèo De, vào núi Hồng, sang Tuyên Quang, nhưng thực tế chuyện đó đã không xảy ra, mà Trung ương và Bác đã ở đây cho đến ngày về tiếp quản Thủ đô Hà Nội.

Hiện nay, ở khu này có hai mái nhà đã trở thành di tích lịch sử cấp quốc gia: Đó là lán Tỉn Keo và ngôi nhà Bác ở những năm đó. Lán Tỉn Keo là nơi hội họp của cơ quan đầu não của ta, trong đó có nhiều cuộc thật quan trọng như ngày 6-12-1953, Bác đã chủ trì cuộc họp của Bộ Chính trị, quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Có một chi tiết ở lán này làm khách tham quan cảm động là hai cây bông bụt Bác trồng cạnh lán với mục đích làm vợi bớt nỗi nhớ quê nhà, vì ở Kim Liên quê Bác, bông bụt là cây rất quen thuộc, từ cổng vào tận nhà. Lán Tỉn Keo là lán đất, còn nơi ở của Bác trên đồi Nà Đình là nhà sàn nhỏ, nằm dưới rừng cây cổ thụ, đặc biệt có những cây phách rất cao, lá nhỏ, rụng lá cuối hè đầu thu mà trong bài thơ Việt Bắc có nhắc tới: “Ve kêu rừng phách đổ vàng…”. Cạnh lán, có một đoạn hầm ngầm dài mấy chục thước, không chỉ đề phòng làm nơi ẩn nấp khi bị máy bay bắn phá, mà còn là đường rút lui bí mật nếu gặp những cuộc càn của giặc. Ở đoạn phim tài liệu đã nhắc trên kia, khi Bác và người công vụ từ suối Khuôn Tát đi lên là để về lán này đấy. Lán này là nơi ở, đồng thời là nơi Bác làm việc hàng ngày, kể cả tiếp khách đến thăm. Hồi đó vì bí mật, khách nói chung cũng chỉ có nội bộ mà thôi. Ngày 15-1-1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đến chào Bác trước khi lên đường đi Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ở lán này, Bác đã căn dặn Đại tướng nhiều điều, trong đó có ý nghĩa của bốn chữ “tướng quân tại ngoại” và đặc biệt Bác nhấn mạnh hai chữ “chắc thắng”.

Thời gian đã trôi qua gần hai phần ba thế kỷ, những người từng biết Bác ở Nà Lọm không còn mấy, ngoài bà cụ Ma Thị Tôm. Ngày Bác ở Nà Lọm, cụ Tôm còn ở tuổi thiếu nhi, ngày đi lấy củi, chăn trâu đôi khi gặp Bác, nhưng cũng không chú ý nhiều, vì “ông ké” này cũng mặc áo chàm như người trong bản. Có khác là thấy Ké tập võ dưới bóng đa cùng những người khác. Riêng có điều cụ Tôm không quên được, đó là tiếng ho từ nơi Ké ở vọng vào đêm vắng trong những đợt gió mùa đông bắc…

Đã mấy năm nay, trên đỉnh đèo De được dựng lên khu tưởng niệm Bác Hồ. Hàng ngày có nhiều đoàn khách khắp nước đến thăm, thắp hương cắm vào lư hương lớn trong công trình xây dựng hiện đại này mà lòng lại nhớ về một dòng suối trong, hai ngôi lán nhỏ, một cây đa cổ thụ dáng dấp cây đa ở Tân Trào, tán tỏa ôm ấp một khoảng đất rộng… từng gắn bó mật thiết với Bác ở chiến khu Việt Bắc.

Về thăm ATK, nghe lời giới thiệu cùng những mẩu chuyện kể, lòng người dâng trào cảm xúc và thương Bác. Thơ văn không chỉ là công cụ hữu hiệu ghi lại cảm xúc mà còn có thể làm sống lại một phần sự kiện lịch sử. Tôi hy vọng điều đó khi sáng tác bài thơ này.

ÔNG KÉ BẢN NÀ LỌM

Bản Nà Lọm có chín mái sàn
Người Tày, người Dao nói riêng thứ tiếng
Dòng Khuôn Tát chín nhà cùng uống.

Một mùa đông, Nà Lọm thêm mái sàn
Nhỏ hơn chín mái sàn đã có
Trong nhà chỉ một mình ông Ké.

Gặp người Tày, Ké nói tiếng Tày
Gặp người Dao, Ké nói tiếng Dao
Dáng gầy, mắt hiền, vầng trán cao.

Ké xắn quần, cuốc đất tăng gia
Vui tắm suối, tập võ dưới bóng đa
Buồn, lặng ngồi bên cây bông bụt.

Ké thức khuya, mặc đêm đông giá rét
Trong gió mùa nghe khúng khắng tiếng ho
Người Tày, người Dao bản Nà Lọm cùng lo.

Quê Ké phương nào, không ai biết
Con cháu Ké đâu, chẳng ai hay
Người gặp Ké hàng ngày thường thưa Bác.

Bảy năm chiến khu, là Ông Ké Nà Lọm
Chỉ biết thật tên khi đất nước hòa bình
Ngày tiễn về Thủ đô, trẻ già cùng khóc
Vẫy xe gọi hoài Bác Hồ Chí Minh!

Vương Trọng
qdnd.vn