Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Chế độ quân hàm của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc

QĐND – Trước khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đã hai lần dự định thực hành chế độ quân hàm. Nhưng do hoàn cảnh, hai lần dự định ấy đều không thể thực hiện.

Sau khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, nhằm tăng cường xây dựng quân đội Trung Quốc chính quy hóa, hiện đại hóa, mùa đông năm 1952, quân đội Trung Quốc đã bắt tay nghiên cứu chế độ quân hàm.

Ngày 26-11-1952, trong báo cáo với Chủ tịch Mao Trạch Đông và Quân ủy Trung ương, Cục Cán bộ Tổng bộ Chính trị đã sơ bộ đệ trình kế hoạch và những vấn đề chuẩn bị thực hành chế độ quân hàm.

Lễ tấn phong quân hàm Nguyên soái nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, năm 1955. Chủ tịch Mao Trạch Đông trao quân hàm cho Nguyên soái Chu Đức.

Năm 1955, quân đội Trung Quốc chính thức thực hiện chế độ quân hàm.

Xây dựng cấp bậc của chế độ quân hàm lần này được dựa trên cơ sở của hệ thống cấp bậc quân hàm truyền thống của Trung Quốc, đồng thời có tham khảo theo chế độ quân hàm của các nước Liên Xô, Triều Tiên.

Chế độ quân hàm đặt 4 cấp 14 bậc, tức Đại nguyên soái nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Nguyên soái nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Đại nguyên soái thực tế không thụ phong); Đại tướng, Thượng tướng, Trung tướng, Thiếu tướng; Đại tá, Thượng tá, Trung tá, Thiếu tá; Đại úy, Thượng úy, Trung úy, Thiếu úy.

Ngày 27-9-1955, Hội nghị lần thứ 22 Quốc hội Trung Quốc đã thông qua Nghị quyết thụ phong quân hàm Nguyên soái nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

Cùng ngày, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã thụ phong quân hàm Nguyên soái nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cho 10 vị: Chu Đức, Bành Đức Hoài, Lâm Bưu, Lưu Bá Thừa, Hạ Long, Trần Nghị, La Vĩnh Hằng, Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh Trăn, Diệp Kiếm Anh.

Thủ tướng Quốc vụ viện Chu ân Lai đọc mệnh lệnh và thụ phong quân hàm Đại tướng nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cho 10 người: Túc Dụ, Hoàng Khắc Thành, Đàm Chính, Tiêu Kinh Quang, Vương Thụ Thanh, Trần Canh, La Thụy Khanh, Hứa Quang Đạt, Từ Hải Đông, Trương Vân Dật; Thụ phong quân hàm Thượng tướng cho 55 người; Thụ phong quân hàm Trung tướng cho 175 người; Thụ phong quân hàm Thiếu tướng cho 801 người (trong đó có đồng chí Hồng Thủy -Nguyễn Sơn, người Việt Nam, người nước ngoài duy nhất được phong hàm cấp tướng của Trung Quốc).

Về sau, trong thời gian từ năm 1956 đến năm 1964, lại tiếp tục tấn phong một loạt tướng quân. Đến năm 1965, tổng cộng đã thụ phong quân hàm cấp tướng cho 1.614 người.

Ngày 22-5-1965, Hội nghị Thường vụ lần thứ 9 Quốc hội Trung Quốc khóa 3 đã thông qua “Quyết định về thủ tiêu chế độ quân hàm Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc”, bắt đầu thi hành từ ngày 1-6-1965.

Tháng 3-1980, Chủ tịch Quân ủy Trung ương Đặng Tiểu Bình đề xuất cần thực hiện lại chế độ quân hàm.

“Luật Binh dịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” do Hội nghị Thường vụ lần thứ 2 Quốc hội Trung Quốc khóa 6 họp ngày 31-5-1984 thông qua, đã quy định: “Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc thực hành chế độ quân hàm”.

Tháng 6-1985, Quân ủy Trung ương triệu tập Hội nghị mở rộng, kiên quyết đề xuất cắt đứt thể chế quân hàm đã thực hành từ năm 1965 về trước, “thực hành chế độ quân hàm mới”.

Ngày 1- 7-1988, Hội nghị Thường vụ lần thứ 2 Quốc hội Trung Quốc khóa 7 đã thông qua “Điều lệ Quân hàm Sĩ quan Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc”.

Chế độ quân hàm của hạ sĩ quan, chiến sĩ đồng thời được lập. Chế độ quân hàm mới công bố không lập cấp Nguyên soái, Đại tướng và Đại úy, coi cấp Thượng tướng là quân hàm cao nhất.

Quân hàm sĩ quan thiết lập 3 cấp 11 bậc, tức là Cấp tướng gồm Thượng tướng cấp 1, Thượng tướng, Trung tướng, Thiếu tướng; Cấp tá gồm Đại tá, Thượng tá, Trung tá, Thiếu tá; Cấp úy gồm Thượng úy, Trung úy, Thiếu úy.

Sĩ quan hải quân, không quân quân hàm thêm từ “Hải quân”, “Không quân”.

Sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, trong quân hàm thêm từ “Chuyên môn kỹ thuật”.

Lãnh đạo Quân ủy Trung ương Đặng Tiểu Bình, Dương Thượng Côn chủ động đề xuất bản thân mình không nhận quân hàm, vì thế, bậc Thượng tướng cấp 1 bỏ trống.

Ngày 12-5-1994, Hội nghị Thường vụ lần thứ 7 Quốc hội Trung Quốc khóa 8 thông qua Quyết định về sửa đổi “Điều lệ Quân hàm Sĩ quan Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc”.

Điều lệ Quân hàm sau khi sửa đổi thiết lập 3 cấp 10 bậc, tức Thượng tướng, Trung tướng, Thiếu tướng; Đại tá, Thượng tá, Trung tá, Thiếu tá; Thượng úy, Trung úy, Thiếu úy.

Ngày 10-9-1995, ủy ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc khóa 8 thông qua “Luật Sĩ quan dự bị nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”, quy định quân hàm sĩ quan dự bị thiết lập 3 cấp 8 bậc, tức Thiếu tướng; Đại tá, Thượng tá, Trung tá, Thiếu tá; Thượng úy, Trung úy, Thiếu úy.

“Luật Binh dịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” công bố tháng 12-1998 quy định: Thời gian làm nghĩa vụ quân sự là 2 năm, và không kéo dài thời hạn làm nghĩa vụ nữa. Theo luật này, từ năm 1999 về sau, bỏ quân hàm Hạ sĩ quan và Quân nhân chuyên nghiệp.

Lễ Tấn phong quân hàm Thượng tướng cho 6 sĩ quan cao cấp QGPNDTQ, ngày 23-7-2011. Ảnh tư liệu

Quân hàm biên chế của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, về cơ bản thực hành chế độ một chức vụ biên chế hai bậc quân hàm, “Điều lệnh quân hàm sĩ quan…” sửa đổi do ủy ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc thông qua năm 1994, quy định: Các chức vụ Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương, ủy viên thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng bộ Chính trị biên chế quân hàm là Thượng tướng. Không thụ phong quân hàm Thượng tướng cho Chủ tịch Quân ủy Trung ương.

Biên chế quân hàm cho các chức vụ khác như sau:

Chức Trưởng Đại quân khu: Trung tướng, Thượng tướng;

Chức Phó Đại quân khu: Thiếu tướng, Trung tướng;

Chức Trưởng Quân khu: Thiếu tướng, Trung tướng;

Chức Trưởng Sư đoàn: Đại tá, Thiếu tướng;

Chức Phó Sư đoàn (chức Trưởng Lữ đoàn): Thượng tá, Đại tá;

Chức Trưởng Trung đoàn (Chức Phó Lữ đoàn): Trung tá, Thượng tá;

Chức Phó Trung đoàn: Thiếu tá, Trung tá;

Chức Trưởng Tiểu đoàn: Thượng úy, Thiếu tá;

Chức Phó Tiểu đoàn: Thượng úy, Thiếu tá;

Chức Trưởng Đại đội: Trung úy, Thượng úy;

Chức Phó Đại đội: Trung úy, Thượng úy;

Chức Trung đội: Thiếu úy, Trung úy.

Ngày 23-7-2011, Quân ủy Trung ương nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã tổ chức Lễ tấn phong quân hàm Thượng tướng cho 6 sĩ quan cao cấp là Tôn Kiến Quốc, Hầu Thụ Sâm, Phó tổng tham mưu trưởng; Giả Bình An, Phó chủ nhiệm Tổng bộ Chính trị; Lưu Hiểu Giang, Chính ủy Hải quân; Trương Hựu Hiệp, Tư lệnh Quân khu Thẩm Dương; Lý Trường Tài, Chính ủy Quân khu Lan Châu.

Tính đến ngày 23-7-2011, Quân Giải phóng nhân dân và Bộ đội cảnh sát vũ trang của Trung Quốc đã có 191 sĩ quan cao cấp được phong quân hàm Thượng tướng, quân hàm cao nhất ở Trung Quốc hiện nay.

Vũ Phong Tạo
qdnd.vn

Khám phá trại tù binh Mỹ đầu tiên

QĐND – LTS: Năm 1965, NXB International Publishers New York xuất bản cuốn “Cuộc chiến tranh du kích: tường thuật từ bên trong” của ký giả lão thành Uyn -phrết Bớc -sét (Wilfred Burchett). Độc giả phương Tây rất ấn tượng về chương nói về các tù binh Mỹ thăm vùng giải phóng miền Nam cuối năm 1963.

Chân dung tù binh Mỹ

… Bốn tù binh Mỹ tôi gặp một trong những trại giam lính Mỹ đầu tiên được thiết lập ở Đông Nam á đều là thượng sĩ, và bị bắt tại “Trại huấn luyện lực lượng đặc biệt” Hiệp Hòa đêm 23-11-1963, khi du kích đánh chiếm trại này, phá hủy toàn bộ đồ quân dụng và thu số lượng vũ khí đủ để trang bị cho một tiểu đoàn tăng cường của Quân giải phóng…

Bọn đánh thuê và người yêu nước (Patriots & Mercenaries).

K.Râu -ra-bách (Kenneth Roraback), một cựu binh chiến tranh Triều Tiên, đã phục vụ được 15 năm trong quân đội Mỹ, là người duy nhất còn thức vào lúc trận đánh nổ ra lúc nửa đêm, khi anh ta đang viết thư cho vợ. “Chuyện gì đã xảy ra?”, tôi hỏi. Râu -ra-bách cho hay, đó là một trận đánh đêm được lập kế hoạch chu đáo, tiến hành tốt, chỉ xảy ra trong 15 phút đồng hồ…

“Anh có kịp cầm vũ khí”, tôi hỏi Râu -ra-bách.

“Không còn thời gian”

“Có tổ chức đề kháng không”

Ba tù binh Mỹ còn lại là Cô -ma-chô, một người bang Tếch -dát da ngăm; Mác Clu -rơ, một chuyên gia phá hoại người Mỹ gốc Phi, và Xmít, một quân y sĩ và phụ trách điện đài, đều có nhận định giống như Râu -ra-bách. “Một cuộc tấn công đêm hoàn hảo”, Xmít nói: “Mở đầu là tập kích bằng súng cối… Mọi thứ bùng cháy chỉ trong vài phút, vì trong các boong -ke có thuốc nổ. Sau vài phút, Việt Cộng xuất hiện, họ trói tay tôi rồi đưa lên khỏi hầm”.

Cả bốn tù binh Mỹ này sau khi bị bắt đã trải qua một cuộc di chuyển nhiều tháng trời, chủ yếu là đi bộ, tuy có lúc trên xuồng ba lá, cứ đi dích dắc như vậy cho đến an toàn khu.

Tôi hỏi Râu -ra-bách, các cuộc không kích có cản trở các cuộc hành trình của họ không. “Máy bay Mỹ đã đánh phá không lâu sau cuộc tiến công vào trại huấn luyện Hiệp Hòa xảy ra… Nhờ trời, tôi đã vô sự. Khoảng hai hôm sau, máy bay B26 xuất hiện trên đầu và thực hiện 12 trận ném bom… Nhờ trời, tôi lại bình an vô sự”. Suy nghĩ của tôi chợt trở về với câu chuyện trước đó với ba chiến sĩ đã tiến công rạp Capitol (khách sạn Kinh Đô, cũng gọi là Capital), Sài Gòn: “muôn ngàn người Việt chúng tôi sẵn sàng hy sinh bất kỳ lúc nào, nhưng chúng tôi phải đổi mạng 5, 10 tên xâm lược Mỹ cho mỗi mạng người Việt chúng tôi”.

Chí nhân và cường bạo

Mỗi tù binh Mỹ cam đoan với tôi, rằng họ được đối xử tốt, và từng người trong họ đều nhấn mạnh sự ngạc nhiên về việc này. “Những người áp giải tôi đều cư xử chu đáo kể từ khi tôi bị bắt”, Râu-ra-bách kể. “Tôi đã lo mình sẽ bị bắn ngay, và tôi nghĩ rằng điều này đã thể hiện trên mặt tôi. Khi điều này không xảy ra trong những ngày đầu, tôi nghĩ họ đưa chúng tôi đi xa hơn, rồi sẽ xử bắn”.

“Tại sao anh lại nghĩ mình sẽ bị bắn?”, tôi hỏi. Râu -ra-bách lúng túng một chút, “Tôi nghĩ điều đó là bình thường”, anh ta nói, sau khi yên lặng, “Du kích không có điều kiện để đối xử với tù binh. Nhưng khi họ nhận thấy tôi sợ, họ đã làm mọi thứ để làm tôi nguôi nỗi sợ”.

“Làm sao các anh có thể giao thiệp được với du kích? “. “Không nói được. Nhưng họ vỗ nhẹ vào lưng tôi, xua tay một cách hữu nghị trước mắt tôi, đập khẽ vào tay tôi và luôn làm các cử chỉ để hiểu rằng: Đừng lo lắng”.

Phổ biến chính sách đối với tù hàng binh của MTDTGP cho đại diện Mỹ đi nhận tù binh Mỹ được phóng thích tại bến Tà Xiêm, Tây Ninh (1-1-1969). Ảnh tư liệu

Người ta có thể đoán ra ngay vì sao Râu -ra-bách và các tù binh Mỹ kia lại lo lắng. Đó là vì họ biết bất kỳ du kích nào nếu bị quân đội Mỹ bắt, sẽ nhất định bị tra tấn ngay lập tức. Và lực lượng đặc biệt mà mấy người Mỹ này tham gia vào là một trong những đội quân tàn bạo, hung hãn nhất. Người ta chỉ cần nhìn vào những tấm ảnh in trên bìa, trên trang nhất của các báo chí Mỹ chụp “tù binh Việt Cộng”, là hiểu ngay vì sao Râu -ra-bách và đồng bọn lại lo lắng. Trên bìa tờ Thời báo Niu Y -oóc ra ngày 24-5-1964 chẳng hạn, có ảnh một người Việt mình trần, nằm trên mặt đất, tay bị buộc lên trên đầu bởi một sợi cáp, nối với một chiếc xe tăng Mỹ. ảnh được chú thích vắn tắt là “Việt Cộng” này được kéo bởi chiếc tăng, kể cả qua sông, để buộc người tù binh này “mở miệng”.

Mác Clu -rơ bị thương trong đợt tiến công bởi mảnh đạn cối. “Tôi được sơ cứu ngày hôm sau và các mảnh cối được lấy ra bốn ngày sau đó”, anh ta kể. “Họ đối xử tốt với chúng tôi. Không có điều gì thô bạo. Tôi không bao giờ nghĩ sẽ được đối xử như thế. Điều này thực sự gây sửng sốt”.

“Họ cư xử thật tử tế”, Xmít nói, “nhất là các du kích làm sao có điều kiện trông coi tù binh Mỹ. Họ đã cố làm tốt nhất trong điều kiện hiện có”.

Ca-ma-chô nhận định: ‘Họ đối xử tốt. Nhưng thật khó cho họ khi phải cung cấp cho chúng tôi những thức ăn của Mỹ”. Tôi thật ngạc nhiên nhận thấy những người lính Mỹ này còn tin chắc rằng, người phương Tây không thể sống bằng cơm gạo thay cho bánh mỳ như lương thực chính. Thực phẩm là vấn đề lớn trong trông coi bốn tù binh này.

Chính sách của Mặt trận Dân tộc Giải phóng là giữ các quân nhân Mỹ bị bắt một vài tháng để giải thích cho họ về cuộc đấu tranh của Việt Nam, sau đó thả họ. Tôi nhận thấy, trại giam nhỏ này có vẻ đang sắp xếp để lo liệu cuộc sống cho nhiều tù binh Mỹ hơn, và việc đàm phán (với phía Mỹ) để thả họ trong tương lai chắc sẽ trở thành vấn đề. Quân phục của tù binh được thu giữ, và họ được may đo hai bộ bà ba. Họ được cấp xà phòng và thuốc đánh răng… Họ ở trong các căn nhà lá, có hầm tránh máy bay, và hàng rào tre vây quanh. Các tù binh Mỹ ngủ trên giường tre truyền thống của Việt Nam. Những người phụ trách trại cho hay, “dù có mong muốn đến mức nào, cũng không thể làm được xưởng bánh mỳ trong rừng”, và họ cố gắng thay đổi thực đơn để đáp ứng cái dạ dày Mỹ.

Họ ngạc nhiên khi nhìn thấy tôi lần đầu bước ra từ trong rừng, cứ như là tôi vừa từ sao Hỏa xuống. Vì họ đã sống tách ra khỏi thế giới bên ngoài vài tháng, tôi hỏi họ có câu hỏi gì không, và ngạc nhiên thấy sự quan tâm của họ quả là hạn chế.

Ca-ma-chô hỏi tôi: “ông có tình cờ biết được ai vừa giành chức vô địch quyền Anh hạng nặng thế giới không?”. May mà tôi có nghe đài nên trả lời được câu này. Một nụ cười thật mãn nguyện hiện trên khuôn mặt anh ta…

Tôi hỏi Râu -ra-bách nghĩ gì về cuộc chiến tranh, một khi anh ta đã có vài tháng để suy tư về nó. Sau khi giải thích rằng, là một quân nhân, anh ta không có quyền để thảo luận các vấn đề chính trị, Râu-ra-bách nói: “Đây thật là một bí ẩn. Tôi không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Ai phải, ai trái, ai thắng, ai thua, tức là nhìn toàn cục, tôi chẳng có khái niệm gì”. Các tù binh khác cũng trả lời tương tự. Họ “không có khái niệm” về cuộc chiến tranh này, hoặc vì sao họ lại ở đây. Họ chỉ quan tâm thuần túy đến vai trò “cố vấn” của mình.

Khi tôi hỏi Râu -ra-bách, anh ta duy trì khả năng tư duy thế nào, vì các tù binh không có gì để làm, ngoài giữ cho nơi ăn chốn ở – một căn nhà lá – cho sạch sẽ. Râu -ra-bách trả lời: “Tôi nghĩ về tất cả những gì mình làm khi về nhà. Tôi tưởng tượng là sẽ làm một cái bếp nướng thịt barbecue; sẽ làm những cái giá trong nhà bếp; làm 6 cái mô hình máy bay cho bọn trẻ và ba chiếc đài. Đấy là cách duy nhất tôi duy trì khả năng tư duy”.

Câu hỏi đặt ra là tại sao có những kẻ chẳng hề quan tâm đến lý tưởng tranh đấu, chẳng cần nhận thức vì sao xảy ra cuộc chiến, những người sẵn lòng lao vào những phận sự dữ dằn, khó chịu? Xin hãy nhìn vào đồng lương của họ. Lương cơ bản của Râu -ra-bách là 353USD hằng tháng (năm 1963, khoảng 2000USD hôm nay – ND), khi sang Nam Việt Nam công tác sẽ đạt tới 858USD thu nhập hằng tháng.

Ba “cố vấn” Mỹ còn lại nhận thêm từ 450 đến 500USD tiền phụ cấp (khi sang Việt Nam), điều làm cho họ trở thành những lính đánh thuê có mức thu nhập cao nhất từ trước đến nay, xét theo quân hàm của những quân nhân Mỹ này. Các đối thủ của họ – cán binh của Mặt trận Giải phóng, từ chiến sĩ đến chỉ huy đơn vị, nhận phụ cấp 40 đồng một tháng, bằng 1USD theo tỷ giá chính thức, và chỉ khoảng 40 xen theo giá chợ đen, cũng là thực giá theo thị trường. Nhưng sự khác biệt giữa những người yêu nước và lính đánh thuê trên gợi nhớ câu chuyện con chó săn giải thích cho chủ, vì sao nó không bắt được con mồi nhỏ, sau một cuộc rượt đuổi khủng khiếp: “Con mồi chạy vì cuộc sống của nó, còn tôi (chó săn) chạy chỉ vì bữa trưa thôi”. Người Việt chiến đấu vì sự tồn vong giống nòi, còn lính đánh thuê Mỹ thì vì bữa ăn, đây cũng là lời giải cho sự khác biệt về thắng lợi và thất bại trong loại hình xung đột đang xảy ra ở miền Nam Việt Nam…

W.BớC -SéT

Lê Đỗ Huy (lược dịch)
qdnd.vn

Cột cờ Hà Nội 200 tuổi

QĐND – Năm 1802 Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy hiệu là Gia Long, lập vương triều Nguyễn, định đô tại Huế. Cũng bắt đầu từ đó, Gia Long hoạch định xây dựng Kinh thành Huế và các đô thị theo kiểu thành Vô-băng của Pháp.

Ở Việt Nam, kiểu thành này xuất hiện đầu tiên ở Gia Định năm 1790, tiếp đó ở Huế, Thăng Long, Sơn Tây, Nam Định, Bắc Ninh, Thanh Hóa, Vinh, Đồng Hới, Quảng Trị v.v.. Trong cấu trúc thành Vô-băng ở nước ta thường có một điểm nhấn kiến trúc quan trọng là Kỳ đài (Cột cờ). Kỳ đài Huế được xây dựng năm 1807 với chiều cao tổng thể là 54,96m, Kỳ đài Nam Định được xây dựng trong 31 năm, từ 1812 đến 1843 cao 23,84m, Kỳ đài Sơn Tây được xây dựng năm 1822… Kỳ đài Thăng Long (lúc này mang nghĩa mới là Hưng Thịnh, năm 1831, dưới thời Minh Mạng mới đổi ra Hà Nội) được xây dựng cùng với thành Vô-băng năm 1805 trên vị trí Hoàng thành xưa. Trong Đại Nam nhất thống chí có đoạn viết về Hoàng thành Hà Nội như sau: “Các cửa thành đều bắc cầu đá qua hào. Mặt trước chính giữa xây Kỳ đài. Bốn phía trên mặt thành xây 24 pháo đài”. Kỳ đài Thăng Long là điểm nhấn kiến trúc nằm trên trục Bắc-Nam, do kiến trúc sư Đặng Công Chất đốc công xây dựng theo thiết kế đã được Gia Long phê từ năm 1805 đến năm 1812 mới hoàn thành.

Cột cờ Hà Nội. Ảnh: TRUNG NGUYÊN

Kỳ đài Thăng Long (từ đây xin gọi là Cột cờ Hà Nội) gồm 3 tầng đế và một thân cột. Các tầng đế hình chóp cụt, nhỏ dần, chồng lên nhau, xung quanh ốp gạch. Tầng 1, mỗi chiều dài 42,5m, cao 3,1m, có 2 cầu thang gạch dẫn lên. Tầng 2, mỗi chiều 27m, cao 3,7m, có 4 cửa. Cửa hướng Đông, trên có đắp hai chữ “Nghênh húc” (đón ánh nắng ban mai); cửa Tây với hai chữ “Hồi quang” (ánh nắng phản chiếu); cửa Nam với hai chữ “Hướng minh” (hướng về ánh sáng); cửa Bắc không đắp chữ. Tầng 3, mỗi chiều 12,8m, cao 5,1m. Trên tầng 3 là thân cột cờ hình trụ 8 cạnh thon dần lên trên. Trong thân trụ cột cờ có cầu thang xoắn ốc với 54 bậc lên tận đỉnh. Để có ánh sáng và thông thoáng, mỗi mặt trên thân cột cờ người ta tạo ra 4-5 hình hoa thị được xếp so le trên mỗi mặt (tổng cộng có 36 hình). Ở vị trí cao nhất, mỗi mặt có một ô hình dẻ quạt. Đỉnh cột cờ được cấu tạo thành một lầu hình bát giác, cao 3,3m, có 8 cửa tương ứng với 8 mặt. Giữa lầu là một trụ tròn, đường kính 0,4m, cao tới đỉnh lầu, là chỗ để cắm cán cờ (8m). Toàn bộ cột cờ cao 33,4m, nếu kể cả trụ treo cờ thì cao 41,4m.

Trong dân gian truyền tụng:
Kỳ đài năm thước vút trời cao
Thông đạt trong tâm có đường vào
Trong sáng muôn nơi dồn cả lại
Trung tâm thiên hạ đẹp biết bao!

Các Cột cờ ở các địa phương không thể vượt độ cao của Cột cờ kinh đô Huế. Dẫu vậy, Gia Long tạo điểm nhấn kiến trúc Cột cờ trong thành-pháo đài trên các tỉnh thành, đặc biệt khu vực Bắc thành (từ Hà-Nam-Ninh trở lên biên giới Việt-Trung) muốn khẳng định uy quyền của mình trên vùng đất dân chúng còn nặng tình với nhà Lê.

Trong những năm 1894-1897, người Pháp đã tiến hành phá hầu hết thành Hà Nội để xây dựng Thủ phủ Đông Dương theo kiến trúc phương Tây. Một vài công trình kiến trúc Hà Nội đã thoát khỏi sự ứng xử thô bạo của người Pháp, trong đó có cửa Bắc, Đoan Môn và Cột cờ. Một bức ảnh xưa nhất do Louis Sadoul chụp năm 1890 còn lại cho ta thấy khu vực vườn hoa tượng đài Lê-nin dưới chân Cột cờ còn là hồ Voi (nơi tắm cho voi) và quân Pháp đang xây dựng doanh trại và Cột cờ Hà Nội được dùng làm đài quan sát.

Cột cờ Hà Nội nằm trên đại lộ Puy-gi-ni-ê, nhưng dân gian thường gọi là đường Cột Cờ. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ta đã chính thức hóa tên gọi thân quen này. Vì thế, nhà thơ Xuân Diệu có câu thơ nhắn nhủ với những người bạn xa gần của mình rằng:

Nhà tôi hai bốn Cột Cờ,
Ai thân thì ghé, ai sơ thì đừng

Cột cờ Hà Nội sừng sững, hiên ngang, kiêu hãnh vươn lên trời xanh, chứng kiến bao kỳ tích của đất nước, của thủ đô Hà Nội kiêu sa. Sau cuộc chiến đấu cầm chân địch suốt 60 ngày đêm cho cuộc rút lui chiến lược của Chính phủ kháng chiến Hồ Chí Minh lên Việt Bắc, Trung đoàn Thủ Đô tạm biệt Hà Nội, ra đi “đầu không ngoảnh lại” và hẹn ngày tái ngộ trên mảnh đất hùng thiêng này.

Ngày 10-10-1954, đoàn quân chiến thắng theo năm cửa ô, trong rừng cờ hoa của người Hà Nội, vào tiếp quản Thủ đô. Chiều hôm đó, cả Hà Nội đổ về khu vực Cột cờ chứng kiến giây phút lịch sử: Lễ thượng cờ Tổ quốc trên đỉnh Cột cờ Hà Nội.

Đúng 15 giờ, sau hồi còi dài từ Nhà hát Lớn thành phố, đoàn quân nhạc cử Quốc thiều theo sự điều khiển của nhạc trưởng Đinh Ngọc Liên, lá cờ Tổ quốc từ từ kéo lên theo nhịp quân hành. Lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên đỉnh Cột cờ Hà Nội. Từ đó trở đi, lá cờ Tổ quốc vẫn hiên ngang tung bay giữa trời đất, trong bão tố mưa sa và cả trong lửa đạn quân thù.

Ngày 7-5-1964, nhân kỷ niệm 10 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, vào lúc 17 giờ 30 phút, thành phố Hà Nội tổ chức trọng thể lễ gắn biển, đổi tên đường Cột Cờ thành đường Điện Biên Phủ. Từ năm 1986, trong bầu không khí đổi mới, được sự chỉ đạo của cấp trên, lá cờ Tổ quốc cỡ 24m2 luôn tung bay trên Cột cờ (trước đó chỉ treo vào dịp lễ, Tết). Trông giữ lá cờ thiêng liêng này là cán bộ, chiến sĩ Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Lá cờ do Xưởng thêu may cờ 67 Hàng Trống sản xuất. Cờ được may bằng loại vải phi bóng sản xuất trong nước. Để chống chọi với gió mạnh trên cao, các đường may phải cần đến 3 lần chỉ, góc cờ được chần hình quả trám. Vì lá cờ có khổ quá lớn nên thợ may khi may xong phần nền đỏ, phải trải ra nền nhà rộng để khoét hình sao trước khi may. Cứ khoảng 2-3 tuần thay một lá cờ. Mỗi năm thay khoảng 20 lá cờ.

Theo cán bộ, chiến sĩ Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam kể lại: Có lần Tổng thống Vê-nê-xu-ê-la, ông Hu-gô Cha-vết đến Hà Nội, khi đi ngang qua Cột cờ đã yêu cầu cho dừng xe và vào thăm. Cán bộ bảo vệ đã hướng dẫn Tổng thống trèo lên đến tận đỉnh Cột cờ để ngắm cảnh thành phố Hà Nội thời mở cửa.

Với sự quan tâm gìn giữ như một báu vật quốc gia, Cột cờ Hà Nội sẽ mãi còn hiên ngang đứng đó để chứng kiến những đổi thay lớn lao của mảnh đất hùng thiêng này, chứng minh cho một chân lý bất di bất dịch: Còn di tích, còn ký ức, còn dân tộc.

PGS.TS Phạm Xanh
qdnd.vn

10 đại văn hào thế giới

QĐND – Theo báo Trung Quốc “Kho Tư liệu”, 10 văn hào nổi tiếng nhất thế giới là: Hô-me (Homer), Đan-tê (Dante), Gớt (Goethe), Bai-rơn (Byron), Sếch-xpia (Shakespeare), Vích-to Huy-gô (Victor Hugo), Ra-bin-đra-nát Ta -go (Rabindranatha Tagore), Lép Tôn -xtôi (Lev Tolstoy), Goóc-ky (Gorky), Lỗ Tấn.

1. Hô -me (Khoảng thế kỷ 8-9 TCN) là nhà thơ khiếm thị Hy Lạp cổ đại, người biên soạn hiệu đính hai bộ sử thi nổi tiếng “I-li-át” (Iliad) và “ô-đít-xây” (Odyssey).

Tác phẩm sử thi của ông là di sản chủ yếu của người Hy Lạp từ thời đại dã man tiến lên thời đại văn minh.

2. A-li-gai-li Đan -tê (Aligaili Dante) (1265-1321) là nhà thơ I -ta-li-a, sinh trưởng trong một gia đình quý tộc sa sút. Tác phẩm tiêu biểu “Thần khúc” của ông đã phản ánh một cách sâu rộng đời sống xã hội và đấu tranh xã hội của nước I -ta-li-a vào cuối thời kỳ trung cổ, hiển thị sự manh nha tư tưởng nhân văn chủ nghĩa, song lại mang đậm sắc thái tôn giáo. Tác phẩm của ông có ảnh hưởng rất lớn đối với văn học châu âu sau thế kỷ 14.

3. Giôn Vôn -gang Phôn Gớt (John Wolfgang Von Goethe) (1749-1832) là kịch tác gia, nhà thơ, nhà tư tưởng quan trọng nhất nước Đức và châu âu từ giữa thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19.

Ngoài các lĩnh vực thi ca, kịch, tiểu thuyết, Gớt còn giành được thành tựu trác việt về các phương diện lý luận văn nghệ, triết học, sử học, thiết kế tạo hình v.v..

Tác phẩm tiêu biểu của ông có “Sự phiền toái của thiếu niên Véc -nơ (Werther)”, “Phao-xtơ” (Faust) và “Prô-mi-tớt-xơ” (Prometheus).

4. Bai-rơn (1788-1824) là nhà thơ Anh quốc.

ông sinh ngày 22-1-1788 trong một gia đình quý tộc sa sút ở Luân Đôn. ông bị thọt một chân bẩm sinh nên rất nhạy cảm với nền chuyên chế áp bức đương thời.

Khi lên 10 tuổi, tước vị và sản nghiệp gia truyền của gia tộc Bai -rơn (Tu viện Vin -ni-út (Vilnius) và những dinh thự khác) thuộc về ông. ông trở thành Huân tước Bai -rơn VI.

Sau khi tốt nghiệp trường công Ha -râu (Harrow), ông học văn học và lịch sử tại trường Đại học Căm -brít-giơ (Cambridge). ông là một học sinh không chăm học, rất ít nghe giảng bài, ngược lại đọc rất nhiều tác phẩm nổi tiếng về văn học, triết học và lịch sử của châu âu và của nước Anh, đồng thời cũng tham gia các hoạt động xạ kích, cờ bạc, uống rượu, săn bắn, bơi lội, đấm bốc v.v..

Tháng 3-1809, là một quý tộc nối dõi, ông vào Viện Quý tộc, tham gia nghị viện và nhiều lần phát biểu ý kiến. Những phát ngôn ấy đều biểu thị rõ ràng lập trường tiến bộ theo chủ nghĩa tự do của Bai -rơn. ông đã ra sức sáng tác nhằm ủng hộ tư tưởng dân chủ của các cuộc cánh mạng nhân dân, suốt đời đấu tranh vì lý tưởng dân chủ, tự do, giải phóng dân tộc. Tác phẩm của ông có ý nghĩa tiến bộ lịch sử và giá trị nghệ thuật quan trọng.

Tác phẩm chủ yếu của ông có “Dị giáo đồ” (Infidels) và “Ha-rôn du ký” (Harrold’s Travels), v.v…

5. Uy-li-am Sếch -xpia (1564-1616), kịch tác gia, nhà thơ vĩ đại của nước Anh thời kỳ phục hưng.

ông sinh ra trong một gia đình thương nhân, từ nhỏ đã say mê sân khấu.

Tác phẩm của ông rất nhiều, hiện còn để lại 37 bộ kịch bản, 2 bộ tác phẩm thơ dài, 154 bài thơ 14 dòng. Tác phẩm tiêu biểu có: Bốn bộ bi kịch lớn “Ham-lét” (Hamlet), “ô -ten-lô” (Othello), “Mác -bét” (Macbeth), “Vua Lia” (Vua Lear); Hài kịch “Nhà buôn thành Vơ -ni-dơ (Venice)”; Chính kịch “Rô-mê-ô và Giu -li-ét”.

Những tác phẩm này đã biểu hiện chủ nghĩa nhân văn tư sản châu âu đầy đủ nhất với trình độ nghệ thuật cao nhất, là đỉnh cao của văn học thời kỳ phục hưng châu âu.

Mác đã ca tụng ông là “Thiên tài sân khấu vĩ đại nhất của nhân loại”.

6. Vích -to Huy-gô (1802-1885), nhà tiểu thuyết, nhà thơ nổi tiếng vĩ đại của nước Pháp thế kỷ 19.

ông sinh ra trong một gia đình sĩ quan quân đội. Khối lượng tác phẩm của ông rất khổng lồ, gồm thi ca, tiểu thuyết, kịch bản và lý luận văn học.

Tác phẩm tiêu biểu có “Nhà thờ Đức Bà Pa -ri” (Notre Dame de Paris), “Những người khốn khổ” (Les Miserables).

Bằng thủ pháp tinh tế, bề rộng cuộc sống và nội dung phong phú, những tác phẩm của ông đã bóc trần và tố cáo mạnh mẽ tội ác của chế độ chuyên chế và giáo hội phản động, đồng cảm với những số phận bi thảm của dân nghèo tận đáy xã hội, phản ánh sâu sắc những sự kiện trọng đại và hiện thực xã hội trong đời sống nước Pháp thế kỷ 19. Tác phẩm của ông đã có ảnh hưởng to lớn đối với các nhà văn thế hệ sau.

7. Ra-bin-đra-nát Ta -go (1861-1941), nhà thơ, nhà tiểu thuyết, kịch tác gia, nhà tản văn, nhà hoạt động xã hội ấn Độ.

ông sinh ra trong một gia đình địa chủ. ông sáng tác hơn 50 tập thơ, 12 bộ tiểu thuyết, hơn 100 truyện ngắn, hơn 20 kịch bản sân khấu.

Tác phẩm tiêu biểu có “Gitanjali”, “Chim bay” (Bird series), “Trăng non”.

Ngoài ra, Ta-go còn công bố nhiều tác phẩm về văn học, triết học, chính trị, du ký, giới thiệu sách, v.v..

Ta-go còn có sở trường về sáng tác ca khúc và hội họa. Nhạc phẩm “ý chí của nhân dân” năm 1950 được lựa chọn là Quốc ca ấn Độ.

Sáng tác của Ta -go chiếm địa vị quan trọng trong lịch sử văn học ấn Độ.

Năm 1913, ông được trao Giải thưởng Nô -ben văn học.

8. Lép Tôn -xtôi (1828-1910), nhà văn vĩ đại nhất nước Nga thế kỷ 19.

ông xuất thân trong một gia đình quý tộc, năm 1840 vào Trường Đại học Kazan, chịu ảnh hưởng tư tưởng khai sáng của Rút -xô (Rousseau), Mông-tét xki -ơ (Montesquieu) v.v..

Từ năm 1851 đến năm 1854, ông làm nghĩa vụ quân sự trong quân đội Cô -ca-dơ (Caucasus) và bắt đầu sáng tác. Từ năm 1854 đến năm 1855, ông tham gia chiến tranh Cơ -ri-mê (Crimean). Cuộc sống quân đội trong mấy năm không chỉ khiến cho ông thấy được sự thối nát của xã hội thượng lưu, mà còn tạo cơ sở vững chắc cho ông sau này miêu tả như thật mọi cảnh tượng chiến tranh trong tác phẩm đồ sộ “Chiến tranh và Hòa bình”.

Tháng 11-1855, ông đến Xanh Pê -téc-bua và gia nhập giới văn học.

Tác phẩm thành danh của ông là “Thời niên thiếu” (1857), phê phán cuộc sống của quý tộc đương thời. Tiểu thuyết “Sáng sớm của một địa chủ” (1856) đứng trên lập trường quý tộc tự do chủ nghĩa đề xuất việc cải cách từ trên xuống dưới.

Sáng tác thập niên 80 của ông có: Kịch bản “Thế lực đen tối” (1886), “Thành quả giáo dục” (1891); Các truyện vừa “Cái chết của I -van In-lích-sơ (Ivan Illich’s)” (1886), “Khúc giao hưởng Cơ -lây (Clay)” (1891), “Hát-xê Mu -rát” (Haase Murat) (1886-1904); Truyện ngắn “Sau vũ hội” (1903). Đặc biệt là tiểu thuyết “Phục sinh” sáng tác 1889-1899 là sự tổng kết về khám phá lâu dài của ông về tư tưởng, nghệ thuật, cũng là một bộ tác phẩm phê phán xã hội nước Nga sâu sắc nhất, toàn diện nhất, mạnh mẽ nhất, trở thành một trong những trước tác bất hủ của văn học thế giới.

Những năm cuối đời, Tôn-xtôi cố gắng sống một cuộc sống bình dân chất phác giản dị. Tháng 10-1910, ông bỏ gia đình ra đi, ngày 7-11-1910 ông ốm chết tại một ga xe lửa nhỏ, hưởng thọ 82 tuổi.

9. Mắc -xim Goóc -ky (1868-1936), nhà văn vô sản vĩ đại, người đặt nền móng cho văn học cách mạng xã hội chủ nghĩa của Liên Xô.

Tác phẩm tiêu biểu của ông có tiểu thuyết tự truyện “Thời thơ ấu” (1855), “Người mẹ”.

Tác phẩm “Người mẹ” của ông đã phản ánh sâu sắc phong trào cách mạng vô sản nước Nga, xây dựng thành công một loạt hình tượng của những người chiến sĩ tiên phong của giai cấp vô sản; là tác phẩm bất hủ đầu tiên của văn học thế giới miêu tả cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản

Lê-nin đánh giá cao “Người mẹ”, nói tác phẩm là “một bộ sách vô cùng kịp thời. Tác phẩm của Goóc -ky là tài sản chung của giai cấp vô sản toàn thế giới, đã đem lại ích lợi khổng lồ cho phong trào công nhân thế giới”.

10. Lỗ Tấn (1881-1936), tên khai sinh là Chu Thụ Nhân, người Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang; Là nhà văn, nhà tư tưởng, nhà cách mạng vĩ đại, một trong những người đặt nền móng cho văn học hiện đại Trung Quốc.

Xuất thân trong một gia đình phong kiến sa sút, ông đã từng học tại Nhật Bản.

Năm 1909 trở về nước, ông làm giáo viên ở Hàng Châu và nhiều nơi khác. Sau Cách mạng Tân Hợi, ông lần lượt nhậm chức trong Bộ Giáo dục tại Nam Kinh, Bắc Kinh, đồng thời giảng dạy tại Trường Đại học Bắc Kinh.

Tháng 5-1918, công bố tác phẩm “Nhật ký người điên”, kịch liệt phê phán đả kích chế độ phong kiến, đặt nền móng cho phong trào văn học mới.

Từ năm 1918 đến năm 1926, ông liên tục sáng tác những truyện ngắn nổi tiếng “Gào thét”, “Bàng hoàng”, v.v..

Từ năm 1927 đến năm 1935, ông đã sáng tác rất nhiều tác phẩm tạp văn, với chủ nhĩa Mác làm tư tưởng chỉ đạo.

Ngày 19-10-1936, Lỗ Tấn ốm nặng rồi từ trần tại Thượng Hải.

ông thường xuyên mặc một bộ áo dài kiểu Trung Quốc rất chất phác giản dị, mái tóc dựng đứng như chiếc bàn chải, bộ râu rậm hình chữ “nhất” kiểu chữ lệ.

Đại văn hào Lỗ Tấn cũng được nhân dân Trung Quốc tôn vinh là “hồn dân tộc”!

Vũ Phong Tạo
qdnd.vn

Chuyện về biệt hiệu “Bầy quỷ đêm”

QĐND – Trong cuộc Chiến tranh cứu nước vĩ đại của nhân dân Liên Xô chống phát xít Đức xâm lược (1941-1945), hàng triệu phụ nữ đã đóng góp nhiều công sức rất to lớn. Không những thay mặt đàn ông làm mọi việc ở hậu phương, họ còn trực tiếp tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Đặc biệt có 3 trung đoàn không quân nữ mà những chiến công của họ không kém giới mày râu. ở đây, xin kể về 1 trong 3 trung đoàn không quân đặc biệt đó: Trung đoàn không quân nữ Ta -man số 46 được mang danh hiệu “Cận vệ”, còn quân thù thì gọi với nỗi khiếp sợ là “ Bầy quỷ đêm”. Và họ rất tự hào về cái tên đó.

Bảo vệ Tổ quốc – nhiệm vụ thiêng liêng

Ngay từ những ngày đầu, khi quân phát xít Đức bội ước tấn công đất nước Xô viết, hàng chục vạn phụ nữ đã nhanh chóng tình nguyện gia nhập các đơn vị quân đội, các đơn vị dân quân tự vệ và các đội du kích trong vùng tạm chiếm. Hưởng ứng lệnh Tổng động viên của ủy ban Quốc phòng Nhà nước đáp ứng lời kêu gọi của Đoàn thanh niên Cộng sản, từ những ngày đầu cuộc chiến đã có hơn 550 nghìn chiến binh thuộc “phái đẹp” đại diện của tất cả các dân tộc trong Liên bang Xô viết vác súng ra trận. Hơn 300 nghìn cô gái khỏe mạnh được sung vào các các đơn vị Quân chủng Phòng không -Không quân, 25 nghìn người đẹp chiến đấu trong các đơn vị Hải quân, hàng chục vạn nữ thanh niên làm thông tin liên lạc, y tế, cứu thương trên các mặt trận. Trong các tổ chức của Đoàn thanh niên Cộng sản đã đào tạo được 222 nghìn chị em “vừa sản xuất vừa chiến đấu” để tiếp sức cho các chiến trường nóng bỏng.

Chỉ huy trung đoàn không quân cận vệ nữ Ta -man số 46 – E.Đ. Béc -xan-xkai-a.

Đặc biệt, nữ giới Xô viết đã tổ chức một đơn vị của riêng mình. Ví như Lữ đoàn bộ binh độc lập tình nguyện nữ số 1, Trung đoàn bộ binh độc lập nữ số 1… Riêng Quân chủng Không quân có 3 trung đoàn độc lập toàn nữ từ chỉ huy cho tới chiến sĩ bảo dưỡng máy. Đó là Trung đoàn Không quân ném bom 125 do Thiếu tá, anh hùng Liên Xô M.M. Ra -xcô-va (1912-1943) chỉ huy; Trung đoàn cận vệ không quân hoạt động tầm xa do Đại tá, anh hùng Liên Xô V.X. Gri -dô-đu-bô-va chỉ huy, Trung đoàn cận vệ không quân số 46 do Trung tá E.Đ. Béc -xan-xkai-a chỉ huy. Các đơn vị này lập được nhiều thành tích xuất sắc trong phối hợp và hỗ trợ các đơn vị chính quy trên các mặt trận nóng bỏng, chiến đấu trực diện với quân thù cũng như quấy phá, tiêu diệt sinh lực nơi hậu cứ của chúng. Họ đã được ghi vào sử sách của nước nhà và được toàn dân Liên Xô ghi nhớ công lao, là niềm tự hào của phái đẹp Xô viết thời bảo vệ Tổ quốc trước sự xâm lăng của quân phát -xít Hít -le.

“Bầy quỷ đêm” – cái tên tự hào

Đó là cái tên mà quân phát xít với nỗi sợ hãi và khâm phục đặt cho Trung đoàn cận vệ nữ không quân Ta -man số 46. Đây có lẽ là một đơn vị không quân duy nhất của phái đẹp trên trần gian này đi đánh quân thù vào ban đêm. Với tinh thần háo hức quyết chiến để bảo vệ Tổ quốc, họ sử dụng tất cả các loại máy bay được giao. Tuy nhiên, họ dùng nhiều cách và cảm thấy “hợp vị” với loại máy bay Po “ra lò” năm 1940: Nhỏ gọn, nhẹ, thậm chí có nhiều bộ phận làm bằng gỗ.

Với vận tốc bay nhỏ (120-140km/giờ), bay thấp, dễ lái, ít ồn…, họ khá dễ dàng tìm được mục tiêu địch. Rất nhiều vị trí đóng quân, kho súng đạn, kho xăng, dầu, sân bãi chứa xe pháo, các bến phà, sở chỉ huy địch… từng được “ăn” … bom của các người đẹp quả cảm này. Ngoài nhiệm vụ ném bom ban đêm, quấy rối các căn cứ địch, chị em của Trung đoàn Ta -man còn chuyên chở vũ khí, đạn dược, thuốc men, thực phẩm, thư báo… cho các đơn vị du kích ở những nơi không thể vận chuyển bằng đường bộ. Ví như họ đã tiếp tế cho các ngư dân làng En -tin-gơ (Entinger) từng chịu khốn khổ, cơ cực do bị quân Đức bao vây nhiều ngày không có lương thực, thực phẩm. Họ đã từng chở quân đổ bộ lên một vùng đất nhỏ ở bán đảo Crưm trong tình thế bị quân Đức phong tỏa bao vây ngặt nghèo. Rồi có lần đêm tối như mực và rét buốt cắt da thịt, họ đã tìm ra được cái sân trường, hạ độ cao xuống gần 30m để thả xuống rất chính xác các thùng lương thực, đạn dược và thuốc men cho một đội du kích trong vòng vây bốn bề của quân thù.

Vào mùa đông giá lạnh, đêm rất dài, Trung đoàn đã thực hiện từ 8 đến 10, có khi 12 đến 15 trận ném bom vào trận địa và cơ sở hậu cần của quân phát -xít. Trong 24 nghìn lượt đánh đêm, Trung đoàn phi công nữ nổi tiếng này đã ném hơn 3000 tấn bom xuống đầu quân thù. Có nhiều trường hợp ngộ nghĩnh, khó tin nhưng là sự thật: Những quả bom termit nhỏ được các chiến sĩ phái đẹp này đặt lên đùi rồi dùng tay đẩy chúng rơi xuống mục tiêu! Loại máy bay Po -2 này bay chậm, chỉ một phi công và một chiến sĩ ném bom. Không phải bom tạ hay bom tấn nhưng nó có hiệu quả lớn là rơi xuống mục tiêu chính xác và thao tác thì thật “thủ công”, khá đơn giản. Do vậy, “bầy quỷ đêm” này làm kẻ thù lo lắng và sợ hãi hằng đêm, thường bị mất ăn, mất ngủ ngay căn cứ của chúng. Để ngăn chặn và đáp trả sự tấn công của “bầy quỷ đêm”, chúng đã điều từ Mặt trận phía Tây hai chiếc máy bay tiêm kích bay đêm Mét -séc-mít “Meccershmitt -110” săn lùng máy bay của trung đoàn này. Vào đêm 1-8-1943, bọn “săn đêm” của phát -xít Đức trong vòng vài tiếng đồng hồ đã chủ động săn tìm và quần nhau với một đội bay của các người đẹp Xô viết. Cuối cùng, nhờ sự vượt trội về kỹ thuật, chúng đã bắn cháy 4 chiếc máy bay ném bom của trung đoàn và 8 nữ phi công anh dũng hy sinh. Đây là một bài học đắt giá cho các phi công nữ nhưng càng làm tăng ý chí và tinh thần chiến đấu của toàn trung đoàn…

Hai điều kiêng kỵ: Chất cồn và đàn ông

Có một chuyện vui đã được kể lại vào những ngày lửa bỏng đó: Trong Trung đoàn phái đẹp này chỉ có độc nhất một vị “mày râu” – chàng kỹ thuật viên vô tuyến. Trong một lần phát quân phục định kỳ, chàng nhận được một bộ đồ lót dành cho… phụ nữ. Thế là, vị “mày râu cô độc” này đã viết đơn yêu cầu ban chỉ huy xin được chuyển đi bất cứ đâu, miễn là không phải tới các đơn vị như “bầy quỷ đêm” này.

Mặc dù là một đơn vị chiến đấu toàn con gái nhưng chỉ sau 2-3 tháng do hiệu quả chiến đấu tốt, họ đã được đặt ngang hàng với các đơn vị giới mày râu. Rồi chỉ sau nửa năm chiến đấu, trung đoàn này là đơn vị đầu tiên trong sư đoàn được nhận danh hiệu “Cận vệ”. Trong suốt cuộc chiến, Trung đoàn phi công Ta -man số 46 này có 32 cô gái hy sinh trong các trận đánh. Các chiến sĩ hy sinh trong các vùng địch chiếm được nhân dân bí mật chôn cất và ghi lên bia mộ: “Tại đây nữ phi công vô danh yên nghỉ”. Trung đoàn có 25 kiều nữ được phong danh hiệu “Anh hùng Liên Xô”, rất nhiều người được thưởng huân, huy chương, cùng các phần thưởng cao quý của Nhà nước Xô viết.

Vị chỉ huy Trung đoàn từ đầu đến cuối là Trung tá ép -àö-ki-a Đa -vư-àö-vna Béc -xan-xkai-a. Trước đó, chị là một phi công giỏi, có bề dày kinh nghiệm từng làm việc trong ngành hàng không dân dụng Xô viết 10 năm. Không kém các vị giới mày râu, Trung đoàn trưởng Béc -xan-xkai-a là một vị chỉ huy cương nghị, dũng cảm, quyết đoán và tài giỏi, nhưng lại là một nhân cách rất nữ tính. Chị luôn là người đầu tiên xông vào những nơi nào phức tạp, khó khăn trong các trận đánh với quân thù. Nhờ vậy mà toàn bộ trung đoàn không ai ngần ngại, chùn bước vào những giờ phút gay go khốc liệt nhất. Béc -xan-xkai-a là chiến sĩ nữ duy nhất trong cuộc chiến được tặng thưởng Huân chương mang tên vị Đại Nguyên soái lừng danh Nga A.V. Xu -vô-rốp.

Với tinh thần toàn tâm, toàn ý dồn hết sức lực chiến đấu bảo vệ Tổ quốc Xô viết, cả trung đoàn không một ai nghĩ tới chuyện riêng tư. Không chỉ những cô gái trẻ mà ngay cả những người chị lớn tuổi trong trung đoàn cũng không sợ “quá lứa nhỡ thì”. Có người lúc đó (thường là các vị chỉ huy còn trai trẻ) đặt vấn đề “làm bạn” thì các kiều nữ cảm ơn và “dịu dàng”… từ chối. “ôi, các bạn, Tổ quốc đang lâm nguy, chúng tôi chưa ai dám nghĩ gì tới điều đó. Chúng tôi đang muốn “biệt lập” để hoàn thành tốt nhiệm vụ, còn “chuyện ấy” thì để sau ngày chiến thắng…”.

Triệu Hải
qdnd.vn

Điểm quyết chiến chiến lược

Buôn Ma Thuột

QĐND – LTS: Chiến thắng Buôn Ma Thuột (tháng 3-1975), trận mở màn, then chốt của chiến dịch Tây Nguyên trong mắt các học giả phương Tây một lần nữa khẳng định quan điểm kinh điển rằng “ai làm chủ Tây Nguyên sẽ làm chủ Đông Dương”.

Giải phóng Buôn Ma Thuột ngày 11-3-1975.

Chuẩn bị chiến trường hoàn hảo

Trong sách Đường mòn Hồ Chí Minh – con đường dẫn tới tự do (History of the Ho Chi Minh Trail: The Road to Freedom), tác giả Vớc-gi-ni-a Mo-rít-xơ (Virginia L.Morris) nêu bật quá trình chuẩn bị trận đánh do Bộ đội Trường Sơn tiến hành:

“Cuối năm 1974, khi phe cộng sản bắt đầu lập kế hoạch cho trận đánh Buôn Ma Thuột, họ vẫn trù tính là sẽ phải tranh đấu hai năm liền nữa cho tới toàn thắng. Để bảo đảm mọi mặt về hậu cần, tướng Đinh Đức Thiện soạn thảo hai phương án. Phương án thứ nhất, rất tỉ mỉ, cho phép giành thắng lợi sau trận đánh dài ngày, còn kế hoạch thứ hai mang tính thời cơ và dùng khi xuất hiện khả năng chính quyền Sài Gòn lung lay, sắp đổ. Khi kế hoạch tác chiến của chiến dịch Tây Nguyên đã ở giai đoạn hoàn thành, Binh đoàn Trường Sơn được lệnh vận chuyển đến địa điểm tập kết nửa triệu tấn hàng hóa và vũ khí, dành cho mùa khô năm 1974-1975.

Chỉ tiêu này được đưa ra để kiểm nghiệm khả năng vận chuyển “thần tốc” tại điểm cực đại, vì 5000 xe vận tải sẽ được huy động tham gia vào mạng lưới đường của Đoàn 559 (Bộ đội Trường Sơn), vào cùng một giờ xuất hành, làm cho vấn đề ùn tắc trở thành nguy cơ nghiêm trọng. Ở tuyến Đông Trường Sơn, đã mở đường từ huyện Ngọc Hồi (Kon Tum) đến Bù Gia Mập, còn tuyến đường ống dẫn dầu đã được nối dài thêm, từ Plây Khốc về phía nam. Các cứ điểm của quân đội Sài Gòn dọc theo biên giới với Cam-pu-chia cũng bị vây đánh, bảo đảm cho tuyến đường vận tải từ Đắc Min đi Lộc Ninh luôn thông suốt.

Vào ngày 15-12-1974, khi Binh đoàn Trường Sơn được lệnh xây dựng các kho tích hàng cho trận Buôn Ma Thuột và suốt hai tháng tiếp theo, nhiều chỉnh sửa trong kế hoạch bảo đảm đã được thực hiện. Sở chỉ huy (SCH) của Sư đoàn công binh 470 trở thành SCH của Binh đoàn Trường Sơn. Một số đơn vị của Bộ đội Trường Sơn cũng chuyển tới Sa Thầy, các đơn vị khác cũng chuyển tới đóng quân ở Bù Đốp và Lộc Ninh. Tuyến đường ống dẫn dầu được nối dài thêm tới Đắc Đam, bởi Trung đoàn đường ống 537. Trung đoàn 575 mở thêm 60km của gói đường, lấy tên là Đường 48, 50, và 50B. Tới đầu tháng 3-1975, Binh đoàn Trường Sơn đã thông đường chỉ còn cách Buôn Ma Thuột có 20km…

Trong giai đoạn chuẩn bị, yêu cầu tối hậu là phải bảo đảm bí mật tuyệt đối cho trận đánh Buôn Ma Thuột sắp tới. Buôn Ma Thuột là vị trí xung yếu, án ngữ cả miền Trung của Việt Nam, phía đông của đồng bằng sông Mê Kông, Trung và Hạ Lào, lẫn miền Bắc Cam-pu-chia…

Với quyết tâm cao, vào ngày 9-3, Trung đoàn 575 công binh đã thông đường 50B và hai đường nhánh mang tên 50C, cho phép chuyển quân thẳng tới Buôn Ma Thuột. Sư đoàn BB 968 được vận chuyển tới tác chiến tại đông nam Plây-cu, tạo nên mũi nghi binh. Các lực lượng trực thuộc Binh đoàn Trường Sơn trực tiếp tham gia trận Buôn Ma Thuột còn có Sư đoàn phòng không 377 và hai Trung đoàn phòng không 232 và 546…”.

Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 Quân đội Sài Gòn (ngoài cùng bên phải) tiếp Nguyễn Văn Thiệu tại Plei-cu trước khi trận Buôn Ma Thuột nổ ra. Ảnh tư liệu

Cài thế trận

Trong bài Tổng tiến công Xuân 1975: Trận pháp đánh đòn kết thúc chiến tranh(1) có một không hai trong lịch sử (North Vietnam’s Final Offensive: strategic endgame nonpareil) đăng trên tập san Pa-ra-mi-tơ (Parameter) của Mỹ, số Mùa Đông 1999-2000, Mớc-lơ Prai-bơ-nao (Merle L.Pribenow), cựu chuyên viên về Đông Dương của CIA, viết:

“Buôn Ma Thuột là thủ phủ của người thiểu số Tây Nguyên, có dân số chừng một vạn. Ở đây có sở chỉ huy và hậu cứ của Sư đoàn 23 Quân đội Sài Gòn, trong đó có tổng kho Mai Hắc Đế với một số lượng đạn pháo lớn. Thị xã này là một đầu mối với hai “mặt tiền” trên hai quốc lộ giao nhau, đó là đường 14 chạy từ Kon Tum xuống phía Nam về giáp mạn Bắc Sài Gòn, cắt với đường 21 chạy sang phía đông về thành phố lớn Nha Trang miền duyên hải. Nếu Quân đội nhân dân (QĐND) lấy được Buôn Ma Thuột, nhanh chóng kéo lên đánh chiếm Plây-cu, cắt Việt Nam làm đôi. Quân đội Sài Gòn không thể để mất một vị trí chiến lược như vậy và buộc phải phản kích để chiếm lại… Quân phòng thủ Buôn Ma Thuột lại chỉ gồm một trung đoàn tăng cường (Trung đoàn 53), một tiểu đoàn thiết giáp và một tiểu đoàn pháo cùng một số đơn vị địa phương đảm nhiệm, nên một cuộc tiến công áp đảo và bất ngờ sẽ làm thị xã này nhanh chóng rơi vào tay đối phương. QĐND sẽ tổ chức ngay trận địa đón lõng và tiêu diệt viện quân của Sài Gòn ngơ ngác vừa tới, còn trơ trọi giữa đồng không mông quạnh…

Chiến dịch Tây Nguyên của QĐND khá táo bạo và đầy sáng tạo, tựa như một ánh xạ của binh pháp Lít-đeo Han-lơ (B.H. Liddell Hall) về mưu lược. Đòn đánh của QĐND không nhằm vào chỗ mạnh nhất của đối phương mà trái lại, vào một cứ điểm có vai trò chiến lược nhưng yếu về phòng thủ, đồng thời kẻ địch không thể để mất. Kế hoạch hội tụ mọi yếu tố của phép dùng binh: Tập trung binh lực, thần tốc, bất ngờ và nghi binh. Về tổng quan, chiếm được Buôn Ma Thuột, QĐND tất đoạt được quyền lựa chọn rộng rãi để thực hiện đòn đánh tiếp sau. Còn Quân đội Sài Gòn vốn dĩ đã bị kéo căng, dàn mỏng, lại phải ra sức phán đoán trận tới sẽ diễn ra ở đâu. Kịch tính của chiến cuộc này là ở chỗ sẽ đặt Sài Gòn vào thế trận mà nhà quân sự Lít-đeo Han-lơ rất hài lòng gọi là “thế tiến thoái lưỡng nan”…

Một số cuốn sách về trận Buôn Ma Thuột xuất bản ở phương Tây.

Vào cuối tháng 2-1975, các sư đoàn chủ công (gồm các Sư đoàn 10, 320 và 316) của QĐND đã chiếm lĩnh trận địa tiến công. Ngày 1-3, Sư đoàn 968 ở Lào về đánh một số đồn bốt nhỏ phía Tây Plei-cu để tiếp tục thu hút sự chú ý của đối phương vào hướng này. Ngày 4-3, QĐND “phát bóng trước”(2), bằng chỉ một đòn đánh của Trung đoàn 95 A, họ quét sạch một loạt cứ điểm nhỏ của quân Sài Gòn canh giữ trục đường 14 trên đoạn đèo Mang Giang, cắt đứt đường tiếp tế cho Cao nguyên Trung phần (Tây Nguyên-ND). Ở phía đông Quốc lộ 19, Sư đoàn 3 Quân giải phóng miền Nam tiến công cắt đứt con đường huyết mạch này, đánh quỵ luôn Sư đoàn 22 của Sài Gòn. Ngày hôm sau Trung đoàn 25 QĐND cắt nốt Quốc lộ 21, con đường ven biển còn lại, nối Buôn Ma Thuột với Nha Trang… Mồng 8-3, Sư đoàn 320 tràn ngập một huyện lỵ bắc Buôn Ma Thuột, cắt đứt đoạn đường 14 nối với Plei-cu. Đến lúc này, khi Buôn Ma Thuột đã bị cô lập hoàn toàn, chính quyền Sài Gòn vẫn chưa có phán đoán gì ngoài nguy cơ Tây Nguyên sẽ bị cạn kiệt lương thảo. Nhằm đánh lạc hướng, không để cho Sài Gòn tăng quân cho Tây Nguyên, một ngọn trào tấn công của quân cộng sản đã dâng lên: Ngày 5-3 đặc công và du kích đánh vào vùng xuôi ở Quảng Trị-Thừa Thiên; còn vào ngày 8-3 Sư đoàn 324 đánh mạnh vào tuyến phòng thủ quân Sài Gòn ở tây nam thành Huế. Cùng ngày 8, một loạt công kích đã diễn ra ở khu vực Sài Gòn và Đồng bằng sông Cửu Long, mà đỉnh điểm là đánh chiếm một huyện lỵ ở Tây Bắc Sài Gòn. Rõ ràng phe cộng sản sắp đánh lớn đến nơi rồi, nhưng trên toàn Miền đâu là mặt trận chính? Đáp án của Thiệu và các tướng, tá là mối đe dọa sẽ đến với đô thành Sài Gòn. Kế hoạch nghi binh của QĐND quả là vô cùng hoàn hảo…”.

Tạo thế “chẻ tre”

Trong sách Việt Nam chiến sử 1946-1975 (Vietnam at war The History 1946-1975), của tướng Phi-líp Đê-vít-xơn (Phillip Davidson), tác giả nhấn mạnh các yếu tố thiên – địa – nhân trong việc Buôn Ma Thuột trở thành “quyết chiến điểm”.

“Như thường lệ, cuộc tiến công vào Buôn Ma Thuột của QĐND có “sự hỗ trợ” từ chính lãnh đạo của Quân đội Sài Gòn. Sách lược cứng nhắc của Thiệu là chốt giữ mọi nơi đã trói quân họ vào số phận bi đát của cách phòng ngự phân tán, dàn trải, vào đúng lúc đội quân này thiếu năng lực không vận, dẫn tới việc Sài Gòn không thể cơ động được quân dự bị chiến lược, một lực lượng thực ra cũng không còn tồn tại, tới các khu vực bị đe dọa tiến công. Viên tư lệnh Quân đoàn 2, tướng Phạm Văn Phú còn “đóng góp” thêm phần mình vào việc “giúp” chỉ huy của đối phương. Bất chấp những đánh giá của tình báo Quân đoàn, của J-2 (Nha Kỹ thuật, cơ quan tình báo của quân đội Sài Gòn), Phú vẫn chắc mẩm đến phút cuối là Plei-cu hoặc Kon Tum mới là mục tiêu chính của quân Bắc Việt ở Tây Nguyên. Tới tận 1-3-1975, Phú mới không vận Trung đoàn 23 về Buôn Ma Thuột…”.

Tướng Đê-vít-xơn cũng không tiếc lời ca ngợi hệ thống bảo đảm hậu cần của QĐND cho chiến cuộc Xuân 1975, lần đầu tiên trong suốt cuộc chiến tranh, đã đạt trình độ hiện đại, ưu đẳng, cực kỳ chu đáo. Ở cuối sách, trả lời câu hỏi vì sao Việt Nam cộng hòa sụp đổ nhanh chóng, tướng Đê-vít-xơn viết:

“Chính cuộc tiến công Buôn Ma Thuột đã đẩy nhanh Thiệu vào việc chấp nhận kế hoạch khốc hại, là “xén bớt” lãnh thổ (bỏ các khu vực không còn năng lực chốt giữ để thích ứng với cắt giảm của viện trợ Mỹ-ND) và cuộc truy kích của quân cộng sản tại các vùng chiến thuật I và II đã hủy hoại tinh binh của quân đội Sài Gòn… Miền Bắc đã giành được những chiến công như thế là nhờ không chỉ đưa vào trận một lực lượng áp đảo về số lượng, mà còn nhờ đạt được độ thăng hoa cả về chỉ huy, huấn luyện lẫn tinh thần chiến đấu…”.

Lê Đỗ Huy
qdnd.vn

(1) Chữ trong nguyên văn là nước cờ chiếu hết (endgame)
(2) Thuật ngữ bóng đá, bóng ném (kick-off) dùng chỉ trận mở màn chiến dịch.

Nguyễn Công Trứ: Vị quan làm lợi cho nước, cho dân

QĐND – Nhìn lên bản đồ Việt Nam, huyện Tiền Hải (Thái Bình) và huyện Kim Sơn (Ninh Bình), mặc dù về mặt hành chính thuộc hai tỉnh (đến thời Nguyễn Công Trứ chưa có địa danh Thái Bình, mà thuộc hai tỉnh Nam Định và Ninh Bình), nhưng về địa lý lại nằm trong vùng hạ lưu châu thổ sông Hồng, một vùng đất màu mỡ được hình thành bởi phù sa bồi tụ của sông Hồng và sông Trà Lý.

Đến cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, vùng đất bãi bồi ven biển mênh mông hàng nghìn mẫu này hầu như chưa được khai phá bao nhiêu, chỉ mới xuất hiện một số làng tự phát, nhà cửa lèo tèo như Đại Hoàng, Lạc Thành… bên tả ngạn sông Hồng, vẫn trong tình trạng “thủy thăng kiến thủy, thủy giáng kiến thổ”, nghĩa là khi thủy triều lên chỉ mênh mông thấy nước, khi thủy triều xuống thì thấy đất. Vùng đất mọc đầy sú vẹt, lau sậy, cỏ lác này là nơi lui tới của đám hải tặc và trong những năm 1826-1827 là căn cứ của cuộc khởi nghĩa nông dân Phan Bá Vành. Trong những năm làm quan ở Bắc thành, Nguyễn Công Trứ đã để ý đến vùng đất này, đặc biệt khi ông làm tham tán quân vụ trong đạo quân của Phạm Văn Lý đánh dẹp cuộc khởi nghĩa Phan Bá Vành, ông đã đến tận nơi và bằng mắt mình chứng kiến vùng đất và con người nơi đây. Ông suy tư về mối liên hệ giữa vùng đất bãi bồi chưa được khai phá và những toán hải tặc và đặc biệt những người nông dân nghèo khổ tham gia cuộc khởi nghĩa của Phan Bá Vành. Trước đó, được Minh Mệnh khích lệ “sau này có việc gì khẩn yếu, cho được làm tờ nói thực, niêm phong tâu thẳng”(1), nên trong một lần về Kinh, Nguyễn Công Trứ đã mạnh dạn dâng sớ tâu ba việc lớn, trong đó có việc thứ ba liên quan trực tiếp đến việc khai hoang lấn biển. Đại Nam Thực lục có ghi:

Nguyễn Công Trứ (1778-1858). Ảnh tư liệu.

“Vỡ ruộng hoang cho dân nghèo. Đời làm ăn xưa chia ruộng định của, dân có nghiệp thường ở yên, nơi làng mạc không có gian tà. Ngày nay, những dân nghèo túng, ăn dưng chơi không, khi cùng thì họp nhau trộm cướp, cái lệ không ngăn cấm được. Trước thần đến Nam Định thấy ruộng vỡ hoang ở các huyện Giao Thủy, Chân Định mênh mông bát ngát. Ngoài ra, còn không biết mấy trăm nghìn mẫu, hỏi ra thì dân địa phương muốn khai khẩn, nhưng phí tổn nhiều, không đủ sức làm. Nếu cấp cho tiền công thì có thể nhóm họp dân nghèo mà khai khẩn, nhà nước phí tổn không mấy mà mối lợi tự nhiên sẽ đến vô cùng. Vả lại bãi Tiền Châu ở huyện Chân Định hoang rậm, trộm cướp thường tụ họp ở đấy làm sào huyệt, nay khai phá ra, không những có thể cho dân nghèo làm ăn, lại còn dứt được đảng ác…”(2).

Vua Minh Mệnh chuyển sớ cho đình thần bàn bạc và hết thảy đều cho là “Điều khai khẩn ruộng hoang thì thực được ý nghĩa chăm nghề nông làm gốc”(3) nên Minh Mệnh quyết định phong chức mới cho Tả Thị lang Hình bộ Nguyễn Công Trứ là Dinh điền sứ để thực thi công việc quan trọng đó. Trong cuộc yết kiến Vua lần đó, Nguyễn Công Trứ mạnh dạn bộc bạch những suy nghĩ của mình về việc thu nhận những thân phận nông dân khốn khổ đã từng đi theo Phan Bá Vành vào công cuộc khai hoang lấn biển. Nghe xong, Minh Mệnh hạ lệnh cấp cho Nguyễn Công Trứ “một viên Tư vụ, 10 người bát cửu phẩm và một vị nhập lưu thư lại đi theo để sai phái”(4).

Hành trang buổi ban đầu khai hoang lấn biển của ông chỉ có vậy.

Sau khi nhậm chức Dinh điền sứ, Nguyễn Công Trứ nhanh chóng trở lại vùng đất bãi bồi thuộc hai huyện Chân Định và Giao Thủy tức khắc triển khai công việc. Với tư cách người tổ chức và chỉ đạo công cuộc khai hoang lấn biển, vấn đề ông quan tâm trước tiên là thu hút lực lượng vào công việc. Như trong Sớ khai hoang trình vua Minh Mệnh đã nói ở trên, có 4 đối tượng mà ông muốn thu hút vào dự án mở đất của mình:

– Những người địa phương giàu có, những người đồng hương với ông (Nghệ-Tĩnh), những thầy đồ có uy tín. Số người này đóng vai trò tập hợp và tổ chức các đơn vị khai hoang như lý, ấp, trại, giáp;

– Nông dân vùng châu thổ sông Hồng không có ruộng đất;

– Dân du đãng;

– Những người đã tham gia khởi nghĩa của Phan Bá Vành.

Những người tham gia khai hoang thuộc 4 nhóm đó được phân ra thành nhiều hạng, tùy vào công việc và thời gian tham gia. Những người đầu tiên đứng ra tập hợp và tổ chức lực lượng khai hoang được gọi là chiêu mộ hay nguyên mộ. Họ là những người có uy tín, giàu có như chủ đất, thầy đồ, con cháu các danh gia vọng tộc ở những vùng quê lân cận hoặc đồng hương Nghệ Tĩnh. Sau nguyên mộ là thứ mộ, những người góp phần hoàn chỉnh các đơn vị khai hoang. Cuối cùng, lực lượng đông đảo nhất, đến sau gọi là tân mộ hay tòng mộ. Việc phân những người khai hoang thành ba cấp độ như vậy liên quan mật thiết tới quyền lợi ăn chia ruộng đất và địa vị xã hội mà họ được hưởng khi công việc hoàn tất.

Trong công cuộc khai hoang lấn biển lập huyện Tiền Hải (1828) và Kim Sơn (1829), Nguyễn Công Trứ nổi lên như một người có đầu óc tổ chức tuyệt vời.

Trên cơ sở những thông tin thu nhận được qua các cuộc khảo sát điền dã về thế đất và đặc điểm địa lý từng vùng, Nguyễn Công Trứ đã vạch quy hoạch cư trú không giống nhau cho mỗi vùng. Tiền Hải có sông Long Hầu chảy theo hướng Bắc-Nam, chia thành hai vùng khác nhau căn bản: vùng đất phía tây sát vùng đất cũ ít nhiều đã được khai phá, còn vùng phía đông là đất bãi bồi chưa được khai phá nên ông quy hoạch thành hai kiểu làng: Làng xa biển và làng sát biển. Làng xa biển, Nguyễn Công Trứ thường chọn nguyên mộ là người sở tại, lực lượng khai hoang chủ yếu là “dân làng cựu” tách ra, đã có kinh nghiệm thâm canh ruộng đất. Kiểu làng sát biển, phần lớn nằm ở phía đông sông Long Hầu, lực lượng khai hoang phần lớn tập hợp nhiều nơi tới. Còn ở Kim Sơn chỉ có một kiểu làng giống nhau theo hướng Tây-Đông (chiều dài), phía tây giáp với huyện Yên Khánh, chạy ra tới biển. Các làng ở Kim Sơn đều có biển, nên khả năng mở rộng làng còn rất lớn.

Ở Tiền Hải cũng như Kim Sơn, Nguyễn Công Trứ rất chú ý tới việc kết hợp hài hòa giữa hệ thống thủy lợi và giao thông vận tải trong khi quy hoạch các đơn vị dân cư. Chẳng hạn như các làng sát biển ở Tiền Hải, do đất nhiễm mặn nặng nên việc đắp đê, đào sông, xây dựng hệ thống thủy nông có ý nghĩa quyết định đối với sự thành bại của công cuộc khai hoang lấn biển. Nguyễn Công Trứ tiến hành cho đắp đê sông Lân, tiếp đó là đê sông Long Hầu, sông Trà Lý. Ranh giới của các làng là những con sông đào mà dân địa phương gọi là “sông chái” hay “sông dọc”. Những sông đào này rộng 4-5m, sâu 3m, thuyền lớn có thể đi lại dễ dàng. Trên đất Kim Sơn, do gặp khó khăn trong việc lợi dụng địa hình, Nguyễn Công Trứ cho đào một con sông từ đầu huyện đến cuối huyện, nối sông Côn với sông Đáy, gọi là sông Ân, dài 13.500m, rộng 12m, sâu 4m, bờ tây con sông này là đê Hồng Ân, dài 435 trượng, mặt rộng 3 thước, đáy rộng 7 thước, cao 3 thước. Lợi dụng chế độ thủy triều ổn định của vùng này, Nguyễn Công Trứ cho quy hoạch một mạng lưới thủy nông tự tiêu-tưới. Hệ thống sông dào, kênh mương chằng chịt ở Tiền Hải, Kim Sơn đóng vai trò thau chua rửa mặn, tưới tiêu, đồng thời đảm nhiệm chức năng giao thông vận tải nông thôn rất hữu hiệu và điều hòa khí hậu tiểu vùng trong vùng đất nắng gió, mặn mòi buổi ban đầu này.

Trong công cuộc khai hoang lấn biển do Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ chủ trương và tổ chức thực hiện quyết liệt trong hai năm đã lập nên hai huyện Tiền Hải và Kim Sơn. Huyện Tiền Hải khi thành lập có 7 tổng, gồm 47 ấp, lý, trại, giáp với 2.300 suất đinh và hơn 18.970 mẫu. Còn huyện Kim Sơn khi mới thành lập có 16.400 mẫu, chia cấp cho 1.260 suất đinh, tổ chức thành 7 tổng với 63 làng, ấp, trại, giáp. Thành tựu khai hoang lấn biển không chỉ góp phần làm tăng diện tích đất canh tác của đất nước, mà còn góp phần không nhỏ vào việc ổn định tình hình chính trị nông thôn vùng châu thổ sông Hồng vốn đầy biến động và không mấy bình yên lúc mới thành lập vương triều Nguyễn. Công lao đó trước hết thuộc về Nguyễn Công Trứ và những người đi theo tiếng gọi đổi đời của ông. Công lao đó không chỉ được triều đình Huế ghi nhận, mà còn được tạc vào lòng dân bằng việc dân đưa ông vào thờ như thành hoàng làng trong các làng thuộc hai huyện khi Nguyễn Công Trứ còn sống. Và mới đây, trong dịp Tết Nhâm Thìn, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm và làm việc ở Ninh Bình, ông đã về thắp hương đền thờ Nguyễn Công Trứ ở Kim Sơn, như một lần nữa ghi nhận công ơn đối với người có công mở nước.

——

Các trích dẫn trên đều lấy trong Đại Nam Thực lục, tập 2, Nxb Giáo Dục, các trang 579, 710-720 và 721.
qdnd.vn

Bản anh hùng ca ở thế kỷ thứ nhất – Kỳ 1

QĐND – “Bản anh hùng ca ngắn ngủi”- đó là lời Giáo sư Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn, chủ biên bộ quốc sử chính thức của thời kỳ kháng chiến chống Mỹ “Lịch sử Việt Nam” nói về phong trào đấu tranh do Hai Bà Trưng lãnh đạo, diễn ra từ mùa xuân năm Canh Tý 40 đến mùa đông năm Quý Mão 43.

Đúng là “ngắn ngủi”, vì cộng thêm cả năm Kỷ Hợi 39 với những diễn biến của lịch sử trực tiếp dẫn đến sự bùng nổ của phong trào vào mùa xuân năm Canh Tý 40 và cộng thêm cả năm Giáp Thìn 44 là thời gian hung tướng Mã Viện sau khi dìm phong trào đấu tranh của Hai Bà Trưng vào biển máu còn nán lại nước Việt để xử lý các vấn đề hậu chiến, thì tất cả cũng chỉ có 6 năm.

Nhưng đây rõ ràng là những năm tháng đầy ắp các sự kiện trọng đại, những ý nghĩa lớn lao, những bài học quý giá, mà sự hiểu biết và lưu truyền thì lại có nhiều mờ tỏ hoặc bất cập.

Cho nên dưới đây chúng ta sẽ bàn bạc mấy điều-chủ yếu là về phương diện quân sự học-nhân dịp ngày 8-3 mà hằng năm vẫn thường được kết hợp kỷ niệm luôn “Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng”.

Chính thuật ngữ “Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng” này đang được sử dụng chính thức trong nhiều dịp lễ nghi, nhiều văn bản, thậm chí sách giáo khoa… là điều cần được “chính danh” đầu tiên.

Bởi vì phong trào đấu tranh do Hai Bà Trưng lãnh đạo, không chỉ là một “Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng”! Lịch sử phong trào này cho dù 4 hoặc 6 năm thì cũng đã diễn ra, với cấu trúc và theo trình tự:

1. Khởi nghĩa – mùa xuân năm 40; 2. Xây dựng quốc gia độc lập năm 41 và 42; 3. Kháng chiến năm 43. Vì thế, gọi cả phong trào đấu tranh do Hai Bà Trưng lãnh đạo, bằng thuật ngữ “Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng” là đã-về mặt quân sự học-“bỏ qua” mất một thành phần hữu cơ trong cấu trúc và một công trình lớn lao trong sự nghiệp của phong trào đấu tranh do Hai Bà lãnh đạo. Tức thị, cho dù có thể là muốn “nói gọn”, “gọi tắt”, thì cũng là gọi thiếu và do đó: Gọi sai sự thực và giá trị lịch sử của phong trào.

Vì thế, tiếp theo việc xác định tên gọi ta sẽ bàn trước mấy điều về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, với vị thế lịch sử là bước khởi đầu (bùng nổ) của phong trào. Sau đó vì những năm tháng xây dựng quốc gia độc lập của Hai Bà, không nhiều vấn đề quân sự học, nên ta sẽ bàn tiếp ngay mấy điều về cuộc kháng chiến do Hai Bà lãnh đạo, với vị thế là sự kết thúc vẻ vang, oanh liệt của phong trào.

Mấy vấn đề về cuộc khởi nghĩa mùa xuân năm 40 do Hai Bà Trưng lãnh đạo

Sử liệu xuất hiện gần nhất với thời gian khởi nghĩa các sách: “Hậu Hán thư”, “Thủy Kinh chú” (thế kỷ 5, 6) của Trung Quốc nói niên đại bùng nổ cuộc khởi nghĩa là: Giữa mùa xuân năm Canh Tý (40 sau Công nguyên). Vì thế, các bộ chính sử của ta như “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” (xuất hiện muộn hơn vào các thế kỷ 15, 19)-mới chép niên đại đó, cụ thể là: Tháng hai (âm lịch) năm 40. Và xuất phát từ “sự kiện Mê Linh-Chu Diên”.

Lễ rước tượng voi chiến từ đình làng Hạ Lôi tới Đền thờ Hai Bà Trưng (Mê Linh, Hà Nội). Ãnh: Tuấn Tú.

+ Mê Linh: Còn được chép vào sử cũ bằng những ký tự na ná: “My Linh”, “Ma Linh”… Rõ ràng đó là những từ phiên âm Hán-Việt của một từ ngữ Việt Cổ, phát âm gần như “M’ling” và ngữ nghĩa thì có thể là tên một loài chim thiêng, “vật tổ” của cộng đồng cư dân và đất đai xa xưa ở giữa hai triền núi Ba Vì và Tam Đảo-trung tâm “Văn Lang” của đất nước từ thời Hùng Vương.

Còn Chu Diên là từ dịch nghĩa Hán-Việt của “diều hâu đỏ” trong tiếng (chữ) Nôm, là địa danh của miền đất dọc sông Hồng (sông Cái) và sông Đáy (sông Hát), kề cận mạn nam Mê Linh (ở Hạ Mỗ, thuộc huyện Đan Phượng “phượng hoàng đỏ”, gần nghĩa với “diều hâu đỏ”)-quê hương Thái úy Tô Hiến Thành, trên bờ sông Đáy (nay ở Tây Bắc trung tâm Hà Nội)-có “thành cổ Ô Diên”, cũng mang ngữ nghĩa là “diều hâu” (diên) nhưng là “đen” (ô) như vậy).

Hai Bà Trưng là dòng dõi của lạc tướng (người đứng đầu một “bộ” hoặc “bộ lạc” ở thời Hùng Vương) Mê Linh. Thi Sách là con trai lạc tướng Chu Diên. Cuộc hôn nhân Trưng Trắc-Thi Sách, theo hình thức phong tục mà khoa dân tộc học gọi là “hôn nhân vọng môn cư” (vợ chồng lấy nhau, nhưng vẫn người nào ở lại tại nhà người nấy một thời gian). Tàn dư từ thời “mẫu hệ” chuyển sang thời “phụ hệ”, cho đến đầu thế kỷ 20 vẫn thấy còn trong phong tục hôn nhân ở nhiều làng trung du và Đồng bằng Bắc Bộ, trong đó có Đình Bảng-Bắc Ninh. Thực chất chính là một cuộc liên minh thế lực giữa hai miền đất và người ở trung tâm đồng bằng châu thổ sông Hồng-“Cái nôi của dân tộc Việt”, để tạo ra nguồn lực trọng yếu và chủ yếu của cuộc khởi nghĩa. Thái thú Tô Định của nhà Hán đô hộ nhận ra nguy cơ từ cuộc liên minh đó, nhưng vì chưa dám động đến “đất chủ” Mê Linh nên đã giết Thi Sách để bẻ gãy “vây cánh” của liên minh. Do đó, tạo “cớ” cho cái “nguyên” của sự bùng nổ cuộc khởi nghĩa mà 4 “Lời thề sông Hát” của Hai Bà Trưng (xin xem lại Sự kiện và Nhân chứng số 1-2012) đã nói rõ ở lễ xuất quân tại Hát Môn.

+ Hát Môn: Là “Cửa (sông) Hát” (tức sông Đáy), chỗ dòng sông này giao nước với sông Hồng, nay thuộc huyện Phúc Thọ, Hà Nội. Đây chính là điểm tiếp giáp giữa hai miền Mê Linh và Chu Diên xưa. Chọn nơi này làm chỗ tập kết lực lượng và cử hành lễ ra quân đánh giặc-như các sử liệu cũ đều thống nhất nói, là chọn đúng địa bàn biểu tượng (tượng trưng) cho sự liên kết Mê Linh-Chu Diên. Đấy là nói về mặt chính trị. Còn về mặt quân sự thì chỗ ngã ba của hai dòng sông huyết mạch này chính là một đầu mối chiến lược rất thuận cho mọi hướng đi-về, dồn quân và ra quân. Đặc biệt, nếu nhằm vào đầu não giặc ở Liên Lâu mà tiến công thì Hát Môn là căn cứ xuất phát lý tưởng nhất của quân ta.

+ Liên Lâu: Còn được ghi vào sử cũ bằng những ký tự: “Ly Lâu”, “Luy Lâu”… Đây là những từ phiên âm Hán-Việt, của một tiếng Việt cổ đa âm tiết, mà về sau được “đơn âm tiết hóa”, thì thành (nói gọn) là: “Dâu”. Với ngữ nghĩa có thể là: Tên của một miền đất đai và cộng đồng cư dân, từ thời Hùng Vương, đã lấy cây dâu (nuôi tằm) làm nghề nghiệp và biểu tượng. Hiện vẫn đang còn các thực thể và tên gọi: Chùa Dâu, sông Dâu… ở miền này (Thuận Thành, Bắc Ninh). Nhà Hán xâm lược đã lấy nơi đây làm đầu não cai trị, không chỉ là của một “quận” trung tâm tên là Giao Chỉ, với chức Thái thú đứng đầu, mà còn là của cả một “châu”-Giao Châu, gồm nhiều “quận” hợp thành: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (trên đất Việt Nam bây giờ) và Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố (ở Hoa Nam ngày nay), có quan thứ sử cai trị, đóng dinh, xây thành lũy (chính là tòa thành Liên Lâu, vẫn đang còn rõ dấu vết trên thực địa).

Đánh thẳng vào đầu não của giặc và nhanh chóng chiếm thành, đuổi tướng, khiến cho “các thái thú, thứ sử chỉ còn biết lo việc giữ lấy mạng sống”, như lời sử cũ chép là cách đánh biểu hiện khí thế ngất trời của cuộc khởi nghĩa. Đồng thời, đấy cũng là chủ lực thúc đẩy nên hiện tượng kỳ vĩ: “các quận Nam Hải, Hợp Phố… đều hưởng ứng, lấy được đến 65 thành ở Lĩnh Nam” như lời sách “Đại Việt sử ký toàn thư” đã chép.

+ 65 thành ở Lĩnh Nam: Lĩnh Nam là miền đất ở phía nam núi Ngũ Lĩnh. Ngũ Lĩnh là cửa ngõ ra vào miền Hoa Nam (Quảng Đông, Quảng Tây). Thế kỷ 3 trước Công nguyên, nhà Tần đưa 50 vạn quân đi “bình định Bách Việt”, đã đánh qua Ngũ Lĩnh. Thế kỷ 11, danh tướng Lý Thường Kiệt, trong chiến dịch triệt phá các căn cứ chuẩn bị xâm lược nước Việt của nhà Tống ở châu Khâm, châu Liêm và đặc biệt là châu Ung (miền Nam các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây bây giờ) đã đưa quân lên Ngũ Lĩnh, chẹn đánh các đạo quân cứu viện của nhà Tống. Khoảng trước sau Công nguyên, khi nhà Hán lập ra Giao Châu để đô hộ, thì đó chính là miền Lĩnh Nam.

Cuộc khởi nghĩa giữa mùa xuân năm 40 do Hai Bà Trưng lãnh đạo, có sự hưởng ứng nổi dậy của các quận Nam Hải, Hợp Phố… (bây giờ là miền Nam Quảng Đông, Quảng Tây), lấy (chiếm) được đến 65 thành ở Lĩnh Nam, có nghĩa là đã thắng lợi ở cả trên miền đất phía bắc Giao Châu (phía bắc biên giới Việt-Trung bây giờ). Nhưng 65 thành là những thành nào? Vì hiểu “thành” là “huyện thành” tức: Mỗi “huyện” có một “thành” nên đã có sự thống kê: Quận Nam Hải có 7 huyện nên có 7 thành, Thương Ngô: 11, Uất Lâm: 11, Hợp Phố: 5, Giao Chỉ: 12, Cửu Chân: 5, Nhật Nam: 5, tổng cộng: 56 thành. Do đấy, đã có chủ trương: Con số 65 thành, là do sử cũ viết lộn con số 56 này. Nhưng lại cũng đã có sự hiểu khác về “thành”. Đó chỉ là một vùng (miền) đất! Do vậy, 65 thành ở Lĩnh Nam là 65 đơn vị đất đai ở Quảng Đông, Quảng Tây và miền Bắc, miền Trung Việt Nam ngày nay.

Điều này phản ánh tính rộng khắp (toàn dân) của cuộc khởi nghĩa mùa xuân năm 40 do Hai Bà Trưng lãnh đạo. Trong loạt bài trả lời phỏng vấn của nhà báo, nhà sử học Alain Ruscio về cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 45, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có phần giải thích cặn kẽ tính chất toàn dân của cuộc Tổng khởi nghĩa này. Và nói rõ: Đây là công trình có truyền thống từ hàng nghìn năm trước của dân tộc Việt Nam. Chính là truyền thống từ cuộc khởi nghĩa mùa xuân năm 40.

(Còn tiếp)

Kỳ sau: Mấy vấn đề về cuộc kháng chiến năm 43 do Hai Bà Trưng lãnh đạo

GS Lê Văn Lan
qdnd.vn

Bản anh hùng ca ở thế kỷ thứ nhất – Kỳ 2

Chuyên án H86 một bài học cảnh giác

QĐND – Ông Nguyễn Trung Tín năm nay 88 tuổi sống ở thành phố Quy Nhơn, nguyên Bí thư tỉnh ủy Bình Định thời chống Mỹ (từ 1967). Sau ngày nước nhà thống nhất, ông là Bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng, rồi về lại quê hương Bình Định làm Bí thư Tỉnh ủy thêm một thời gian nữa; là Ủy viên Trung ương Đảng khóa 6. Bài viết dưới đây dựa trên tư liệu do ông kể lại và đã được công bố một phần trong hai tập hồi ký ngót 1000 trang “Ở lại với dòng sông” (NXB Văn học, Hà Nội, năm 2008). Chuyên án H86 diễn ra cách đây gần 30 năm, song bài học về tinh thần cảnh giác, liên tục tấn công địch trong cuộc chiến đấu thầm lặng làm trong sạch nội bộ còn mang nhiều ý nghĩa thời sự cho hôm nay.

Từ năm 1983 tôi về Lâm Đồng đảm trách Bí thư tỉnh ủy, kiêm trưởng ban Ban 04 (gọi tắt theo Chỉ thị 04/CT-TW ngày 2-2-1977 của Ban Bí thư về phát triển toàn diện kinh tế-xã hội, gắn với vấn đề Phun-rô ở các tỉnh Tây Nguyên). Lúc đó qua thực tế các cơ sở, tôi biết Phun-rô đã bị ta đánh liên tục, tan rã, ra hằng ngày càng nhiều. Nhưng tại sao quân báo tỉnh lại báo cáo “quân Phun-rô mở nhiều trận đánh, lực lượng chúng còn mạnh?”. Có lần quân báo đưa tin: Địch về điểm X, đến nơi chúng đã mất tăm. Cũng có lần ta đang hành quân bị địch phục kích gây thương vong. Đối với những tin thất thiệt, có người biện hộ là nghề tình báo, trăm tin đúng cũng có một tin sai chứ! Song thâm tâm tôi vẫn nghi có vấn đề nội bộ mà không tiện nói ra. Trong một lần giao ban giữa ba ngành, đại diện quân báo, Đại úy Nguyễn Văn Hai báo cáo là hiện có khoảng một trăm tên Phun-rô đã về Đức Trọng, trong khi đại diện công an nói là chưa nắm được gì. Anh đại úy quân báo to khỏe đẹp trai này, trong lý lịch thì ghi tham gia cách mạng từ khi còn rất trẻ, được kết nạp Đảng trong thời chống Mỹ, hiện luôn tỏ ra năng nổ, có biệt danh “Át chủ bài đánh Phun-rô”. Nhân thân như vậy thoạt nghe không tin cậy sao được. Thế rồi có một lá thư nặc danh gửi tới tôi, tố cáo “Ông Hai trước làm trưởng ban Diệt trừ sốt rét của ngụy; từng là Chủ tịch hội đồng Đà Lạt; là tay chân đắc lực cho tỉnh trưởng Tuyên Đức Nguyễn Hợp Đoàn… mà sao bây giờ làm đến đại úy quân đội ta?”. Bức thư chữ viết to, rõ ràng bằng mực tím trên trang giấy học trò. Xâu chuỗi lại sự kiện, rõ ràng những báo cáo gần đây của Hai là không chính xác, kết hợp với thư tố cáo kia, dẫu là nặc danh cũng cần phải xác minh ngay.

Cuối năm 1988, Chuyên án H86 đã kết thúc thắng lợi, tình hình xã hội của Lâm Đồng ổn định. Nhân chuyến công tác, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến thăm nhà riêng của Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Trung Tín (người ngồi đối diện với Thủ tướng) ở thành phố Quy Nhơn. Ảnh tư liệu

Đầu năm 1984, chúng tôi họp với đại diện Quân khu 5, có Đại tá Long Ba, Phó chủ nhiệm Cục Chính trị quân khu dự, những điều nghi vấn về Hai đã được đưa ra với các tài liệu có liên quan. Giở nhiều nguồn hồ sơ lý lịch thì phát hiện có nhiều mâu thuẫn, mờ ám trong các bản kê khai. Chẳng hạn, ghi quê Sông Bé, nhưng Bến Tre mới thực là quê gốc. Phòng Bảo vệ quân khu về Bến Tre xác minh, anh ta rời địa phương từ khi mười bốn, mười lăm tuổi, biệt tích không về quê suốt hai chục năm; tên gọi lúc bé của anh ta theo tiếng Tây là “Paul”. Một điều nữa: Người mà Hai khai trong lý lịch, cấp ủy giới thiệu vào Đảng, thực chất là một tên ác ôn bị cách mạng xử tử hình vắng mặt, phải trốn về Sài Gòn từ năm 1963 và hắn không có quan hệ gì với Hai. Một tài liệu khác cho thấy hắn là con nuôi của Thiếu tướng ngụy Trần Tử Oai, phụ trách Trung tâm huấn luyện Quang Trung, sau làm Tổng quản trị Nha Diệt trừ sốt rét của ngụy. Trong tàng thư của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) còn phát hiện từ tháng 1-1966 Hai làm mật báo viên cho cảnh sát đặc biệt tỉnh Tuyên Đức. Vậy là những tố cáo trong thư nặc danh có cơ sở. Trong quá trình xác minh lý lịch của Hai còn phát hiện thêm một cái tên khác có liên quan cũng có thời gian phục vụ trong quân đội đó là Phan Thành Lợi. Lợi sinh năm 1927, là cán bộ kháng chiến, sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 được giao ở lại hoạt động bí mật, cuối năm đó bị địch bắt tù 3 năm ở Côn Đảo, rồi khám Chí Hòa. Điều đáng nói là khi anh ta bị bắt, các đầu mối trong cơ sở đều bị địch phát hiện, bắt hoặc giết. Sau khi được tha, anh ta tham gia Quân giải phóng, rồi vào mạng lưới điệp báo A22 của Quân khu 6. Vậy là Lợi có tới 8 năm không sinh hoạt Đảng, đột nhiên nối lại sinh hoạt khi về A22. Anh này trong thời gian hoạt động trong A22 đã làm giấy giới thiệu giả, tạo lý lịch tốt cho Hai để được vào Đảng. Việc đưa thêm Lợi vào diện “hiềm nghi” cũng có nghĩa là có thêm một đầu mối dễ cho công tác điều tra. Sau Tết Bính Dần (1986), đoàn cán bộ của Cục bảo vệ an ninh quân đội vào, thông báo ý kiến của lãnh đạo Tổng cục Chính trị: Đây là vụ án lớn, cần khẩn trương làm rõ ngay, phải phá án bằng cách bắt bí mật đối tượng. Ban chuyên án H86 ra đời do Quân khu 5 chủ trì, dưới sự chỉ đạo nghiệp vụ của Bộ Nội vụ và Cục Bảo vệ. Đã có thêm nhiều chứng cứ xác định được tội danh của Hai là hoạt động gián điệp, của Lợi là đầu hàng, phản bội làm tay sai cho giặc. Cũng có ý kiến: Cần có thời gian để điều tra thêm, củng cố chứng cứ cho chắc, song tôi cùng anh Huỳnh Minh Nhựt, Phó bí thư tỉnh ủy thì cho rằng, đã đến lúc khẩn trương bắt chúng để đề phòng hậu họa. Anh Long Ba đảm nhận trực tiếp bắt tên Hai. Cuộc họp của ban chuyên án hôm ấy căng thẳng và kéo dài đến 2 giờ, khi tan họp, phố phường Đà Lạt im ắng, ngủ ngon trong làn sương lạnh đầu xuân, vậy mà về đến nhà tôi vẫn thao thức không ngủ được, liệu phương án bí mật bắt tên gián điệp đó có thông đồng bén giọt?

Phương án bắt Hai khá chu đáo, tỉ mỉ: Dựng lên cuộc hội nghị bàn về chống Phun-rô các tỉnh Tây Nguyên tại TP Hồ Chí Minh, thành phần dự ngoài chỉ huy quân sự các tỉnh còn có cán bộ bảo vệ và quân báo. Đoàn Lâm Đồng về họp trên một chiếc xe Von-ga đen, Hai được xếp ngồi giữa anh Kha, Thiếu tướng, chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh và anh Loan, Trưởng ban an ninh, trước đó đã tung tin, Hai đi dự họp hội nghị cấp cao lần này sau đó được Quân khu đưa ra Đà Nẵng báo cáo điển hình chiến sĩ thi đua với thành tích chống Phun-rô. Điều này hẳn làm hắn vững dạ, dẫu bị ngồi kẹp giữa hai “thủ trưởng” trên suốt hành trình. Đến nơi, anh Long Ba thông báo, đồng chí Phó tư lệnh Quân khu 5 mời gặp riêng chỉ huy trưởng bộ chỉ huy quân sự tỉnh và trưởng ban an ninh. Khi hai người vừa ra khỏi nhà thì các chiến sĩ an ninh ập vào đọc quyết định bắt Hai. Lập tức hai tay Hai bị tra vào còng số 8, người y mềm nhũn, khụy xuống. Khám trong người y có khẩu súng ngắn K59, đạn đã lên nòng. Súng không bao, dắt vào thắt lưng, rõ ràng con cáo già này đã chột dạ, nếu không bắt bí mật, bất ngờ ắt hắn sẽ hành động trước. Về sau khai thác, được biết: Bà mẹ một công an viên trong chuyên án vô tình tiết lộ vài công việc của người con với hắn khi gặp ngoài chợ, nên hắn đã linh cảm được phần nào mối nguy hiểm bị lộ thân phận, luôn giắt súng trong người. Cùng thời điểm bắt Hai, tên Lợi đang là phó bí thư chi bộ một phường ở Đà Lạt, cũng bị công an giam lỏng, khai thác tại một địa điểm khác.

Nguyễn Văn Hai vào nhà giam Chí Hòa. Suốt mấy tháng trời đấu tranh, lúc đầu hắn cúi đầu nhận tội, sau lại phản cung, khi ta đưa ra những bằng chứng hắn đành nhận tội, nhưng chỉ nhận tội thuộc phạm vi hình sự chứ không phải chính trị, chống phá cách mạng. Vụ án được mở rộng ra nhiều đối tượng khác, trên nhiều địa bàn các tỉnh phía Nam tập trung vào thời gian 20 năm của cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cùng hàng chục năm sau ngày giải phóng. Cuộc đấu tranh đó diễn ra gay go phức tạp hơn nhiều so với dự kiến khi phá án. Trong bản cung khai cuối năm 1986, Hai đã thú nhận: “Tôi dấn thân vào con đường phản cách mạng từ khi được Thiếu tướng Trần Tử Oai, phụ trách Trung tâm huấn luyện Quang Trung tin dùng, nâng đỡ, đào tạo tình báo, do CIA đài thọ, chi phối…”. Đáng lẽ vụ án kết thúc trong năm 1987, song với bản chất lật lọng, ngoan cố, hai tên Hai và Lợi lại đồng loạt phản cung. Chỉ đến khi có thêm sự việc của hai chỉ huy Phun-rô đã ra đầu thú là Konso Linit và Hà Siêng, có chứng cớ hiển nhiên về hoạt động tình báo của Hai, hắn mới chịu nhận tội. Ngày đó anh Long Ba đã cùng ba cán bộ Phòng Bảo vệ Quân khu bí mật luồn rừng suốt hai ngày đêm đến được hang đá trú ẩn của Linit ở giáp giới tỉnh Đắc Lắc, mang về những vật chứng quý giá, trong đó có lá thư viết tay của Hai vạch kế hoạch cho Phun-rô chống phá, cùng việc y chủ mưu trong việc giết một đồng bọn để bịt đầu mối. Tháng 5-1988, chúng tôi nhận được chỉ thị của Ban Bí thư, chuyên án H86 tiếp tục chuyển sang giai đoạn hai. Chuyên án mới do đồng chí Bùi Thiện Ngộ, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ (sau này là Bộ trưởng) làm trưởng ban, Thiếu tướng Nguyễn Như Kính, Cục trưởng Cục bảo vệ an ninh quân đội làm phó trưởng ban, tôi làm ủy viên.

Nhìn lại, những năm tiến hành Chuyên án H86, đã diễn ra khá phức tạp, nhưng cuối cùng đã hoàn toàn thắng lợi, chặn đứng được âm mưu hoạt động của Phun-rô trên địa bàn Lâm Đồng. Hai, Lợi và một số tên khác tuy chưa giữ những chức vụ lớn, song nếu không phát hiện kịp thời, chúng sẽ còn luồn sâu, leo cao thì càng nguy hiểm. Đây thực sự là bài học quý báu trong thời hậu chiến để rà soát lại công tác cán bộ, làm trong sạch nội bộ, tỉnh táo đề phòng những hoạt động chống phá của kẻ địch từ bên trong.

Phạm Quang Đẩu
qdnd.vn

Trận đánh ngoạn mục trên bãi đá Mung Bua

QĐND – Thứ Ba, 20/03/2012, 17:43 (GMT+7)

QĐND – Một giờ sáng “mật lệnh” được ban ra. Những mái đầu xanh có, bạc có của Phòng phòng chống tội phạm (PCTP) ma túy, Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh Điện Biên và Đội 1, Đoàn 1, Cục PCTP ma túy chụm lại vào bản đồ tác chiến. Kế hoạch phá án mang bí số 016L để bóc gỡ đường dây ma túy từ Pa Hốc qua địa bàn đồn Tây Trang về thị trấn Mường Ẳng nhanh chóng được thông qua. Rất nhanh, gần 20 cán bộ, chiến sĩ lên xe trong đêm tối, tiến thẳng về bãi đá Mung Bua…

Lộ diện một đường dây ma túy xuyên quốc gia

Trời tối như bưng. Chiếc U-oát oằn mình, rồ ga lao đi trong đêm tối. Ngồi trên xe, Đại tá Lê Quang Đán, Trưởng phòng PCTP ma túy tỉnh Điện Biên (Phó ban chuyên án) tranh thủ trao đổi thông tin với chúng tôi: Điện Biên là một trong những tỉnh các đối tượng trong đường dây ma túy xuyên quốc gia lợi dụng vận chuyển ma túy từ Lào vào Việt Nam tiêu thụ. Từ nhiều năm nay, BĐBP tỉnh Điện Biên đã xác lập nhiều chuyên án lớn, bắt nhiều đối tượng mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, hoạt động mua bán, vận chuyển ma túy qua biên giới ngày càng diễn biến phức tạp, với nhiều thủ đoạn tinh vi. Nhiều đường dây, đối tượng cầm đầu ở sâu trong nội địa, dân cư trú tại khu vực biên giới chỉ là những tay cửu vạn trung thành. Vì vậy, chủ trương của lãnh đạo, chỉ huy đơn vị là bên cạnh việc “vươn ra” ngoại biên, lực lượng PCTP ma túy phải “với” vào nội địa. Chuyên án 016L là “hiện thực” hóa chủ trương đó. Nhiệm vụ của chuyên án là triệt phá đường dây vận chuyển ma túy từ Pa Hốc qua địa bàn đồn Tây Trang vào thị trấn Mường Ẳng đi các tỉnh nội địa.

Bộ đội Biên phòng tỉnh Điện Biên trên đường tuần tra, mật phục. Ảnh chụp lại

Tháng 6-2009, trinh sát nắm được thông tin hoạt động mua bán, vận chuyển ma túy của một số đối tượng từ Pa Hốc, qua địa bàn Đồn Biên phòng Tây Trang về Mường Ẳng. Trong đó, nổi lên 3 đối tượng: Lường Văn Huyên, trú tại Khối 11, thị trấn Mường Ẳng; Lường Văn Tài, trú tại bản Ca Hâu, xã Na Ư, huyện Điện Biên và Tòng Văn Thơi, trú tại thị trấn Chiềng Sinh, huyện Tuần Giáo. Sau gần một tháng điều tra, xác minh, manh mối của một đường dây mua bán, vận chuyển ma túy từ bản Pa Hốc, tỉnh Phông Xa Lỳ (Lào) qua địa bàn đồn cửa khẩu Tây Trang về tập kết tại thị trấn Mường Ẳng bán cho các đối tượng ở một số tỉnh nội địa đã được hé lộ. Đường dây này gồm 7 đối tượng, trong đó có 2 đối tượng là người dân tộc Mông Lào (trú tại bản Pa Hốc, huyện Mường Mày), một đối tượng trú tại xã Na Ư, huyện Điện Biên, 2 đối tượng trú tại thị trấn Mường Ẳng và một đối tượng trú tại thị trấn Chiềng Sinh, huyện Tuần Giáo. Cầm đầu đường dây này là 2 tên: Lường Văn Tài và Lường Văn Huyên. Thủ đoạn của các đối tượng hết sức tinh vi: Chân tay của Huyên, Tài thường vượt biên sang Pa Hốc mua hàng; cũng có khi móc nối, liên lạc trước với số đối tượng người Lào để nhận hàng tại khu vực biên giới, mang về Mường Ẳng cất giấu và móc nối bán cho các đối tượng ở dưới xuôi. Địa điểm giao nhận hàng cũng được các đối tượng chọn rất kỹ lưỡng, thường là khu vực hang đá, bãi đá tại các đoạn đường đèo dốc quanh co rất tiện cho việc “đón khách”, canh gác bảo vệ, dễ tháo chạy khi bị vây bắt.

Ngày 20-6-2009, Bộ chỉ huy BĐBP tỉnh Điện Biên đã họp, nhận định tình hình và báo cáo Cục PCTP ma túy chỉ đạo lực lượng PCTP ma túy của tỉnh và của Cục xác lập chuyên án 016L đấu tranh nhằm triệt xóa đường dây này.

Hai “ông chủ” và chuyện chơi gỗ lũa

Ngày 26-6, Ban chuyên án quyết định cử Thượng úy L.X.T, trợ lý Phòng PCTP ma túy tỉnh Điện Biên, Trung úy N.N.K, trinh sát viên Đội 1, Đoàn 1, Cục PCTP ma túy đảm nhận nhiệm vụ trinh sát nội tuyến (đóng vai là 2 ông chủ có tên là Tùng, Tuấn từ Hà Nội lên “ăn hàng”). Mục đích là làm rõ vai trò, vị trí của các đối tượng trong đường dây và khả năng cung cấp “hàng” của chúng.

Cuối tháng đó, thông qua đặc tình (T7) của ta, Tùng, Tuấn được Tài “mời” sang Pa Hốc chén chú, chén anh. Vừa bước chân vào quán rượu, Tùng ngắm nghía gốc gỗ lũa chỏng chơ bên chiếc bàn ăn và trầm trồ:

– Hình dáng tự nhiên, toàn thân đồng nhất. Các mắt hốc trơn tròn mà không bóng thế này thì đúng là gốc tự nhiên rồi.

Tuấn xen vào:

– Anh có vẻ thông thạo cái món này gớm nhỉ?

– À, thì trước đây mình cũng đã phất lên nhờ cái món này đấy. Khúc gỗ do người gọt đẽo và khúc gỗ do thiên nhiên bào mòn khác nhau hẳn. Có khúc được gọt với các đường nét trơn tròn, hốc mắt tự nhiên nhìn là thấy ngay. Nhưng mà có thể nhầm. Đấy là các gốc cây thường do con người tạo ra. Các khúc cây đó nhìn qua thì cũng thấy hình thù kỳ dị, nhưng nhìn kỹ thì sẽ thấy còn nguyên dấu vết cành que, rễ, vỏ, thân. Thân thường bóng, không đồng nhất và ruột lại xốp và rỗng. Các gốc này thường là gốc chết của sú, vẹt, đước ở vùng đất ngập mặn, tuy có giống lũa về sự hình thành nhưng quá trình xảy ra nhanh trong vài năm và gỗ đó không bền và giá trị thẩm mỹ không cao.

Nghe thấy Tùng phán hay quá, Tài cũng tham gia:

– Thế tại sao nó lại không bị mục ruỗng hay mối mọt hả anh?

Được thể Tùng tiếp tục trổ tài:

– Có thể là do tập trung Xen-lu-lô quá dày đặc, hoặc do nhựa cây lúc còn sống tiết ra khiến mối mọt, nước và thời gian cũng chịu thua.

Tài đang ngơ ngác thì Tùng phán tiếp:

– Chơi lũa cũng như chơi đá. Lũa mang dấu ấn của tự nhiên nhưng thể hiện tính biểu cảm cô đọng và thẩm mỹ, đặc biệt là trên lũa còn thể hiện sự trải nghiệm của thời gian do lũa được hình thành qua nhiều năm. Chơi lũa bình thường thì lũa có thể mô phỏng các hình thù có thật như con thú, núi đá, hang hốc… nhưng chơi đến đỉnh cao thì lại thể hiện những khái niệm, triết lý trừu tượng, thần thái. Nếu chú mày muốn kiếm chút ít lúc “chờ mối hàng trắng” thì sai đệ sưu tầm cho anh ít gỗ lũa cũng được nhưng nhớ là phải thử đấy nhé.

– Thử thế nào hả anh? Tài sốt sắng.

– Gỗ lũa ít mùn, không phai trong nước càng bị lũa nhiều thì thịt gỗ đanh, phần bị bào mòn có thể tạo nên những khoảng rỗng và phần còn lại thịt gỗ có đặc tính là chắc, đanh và nặng, chỉ cần ngâm trong nước vài ngày sẽ tự chìm. Chứ không như ở dưới xuôi, bọn thương lái thường xử lý bằng cách luộc đến 3 ngày, để cho ngấm nước đồng đều, rồi lại sấy khô, rồi lại luộc để lũa chìm nhằm đánh lừa mấy thằng mới vào nghề.

Đến đây thì Tài đã thực sự bị “ngã gục” bởi sự từng trải của ông chủ tên Tùng. Tài nghĩ bụng “Đúng là dân Hà Nội!”. Sau vài ba ly “sơn cước tửu”, Tài đã thổ lộ muốn “làm ăn” với Tùng, Tuấn. Cá đã cắn câu, Ban chuyên án tiếp tục chỉ đạo Tùng, Tuấn đi vào đường dây. Sau gần một tháng “hẹn hò”, Tùng, Tuấn và T7 đã làm rõ được đường dây và thiết kế một cuộc trao đổi “hàng” theo ý đồ của ta.

Cất vó

Mọi công tác chuẩn bị để “cất vó” đã hoàn tất. Ban chuyên án ra lệnh cho các mũi lên đường đến “điểm hẹn”. Sau 3 giờ hành quân, đến 4 giờ, toàn bộ lực lượng chuẩn bị cho trận đánh đã có mặt tại địa điểm tập kết. Trời mưa như trút nước.

Mũi 1 (tổ đánh bắt chính) gồm 13 người do đồng chí L.B.L, Phó đồn trưởng 429, tổ trưởng lập tức bơi qua sông, tiến sát khu vực bãi đá để mai phục. Dòng Mung Bua sau những trận nước lũ cuối mùa cuồn cuộn như muốn đẩy bay những trinh sát biên phòng đang ngâm mình trong dòng nước xoáy. Hơn chục con người chia làm 2 cánh quân mò mẫm trườn trong bóng tối để áp sát mục tiêu.

Mũi 2 (tổ trinh sát ngoại tuyến) gồm 4 người do Thượng úy N.V.C, trợ lý Phòng PCTP ma túy, tổ trưởng nhanh chóng bố trí đội hình thuận lợi để theo dõi mọi hoạt động của đối tượng. Mũi này có nhiệm vụ sau khi lực lượng đánh bắt chính bắt giữ được đối tượng cùng tang vật thì lập tức triển khai lực lượng vây bắt đối tượng còn lại.

Đúng 7 giờ, Lường Văn Huyên, Lường Văn Tài liên lạc bằng điện thoại cho Tùng, Tuấn với nội dung đã kiểm tra kỹ địa điểm giao nhận tiền hàng và yêu cầu Tùng, Tuấn mang tiền lên để trao đổi. Tùng, Tuấn nói đang đổi tiền do vậy cứ xem kỹ địa điểm giao hàng đi. Đến 9 giờ, Tài lại điện cho Tùng, Tuấn thông báo đang có một bánh, khẩn trương lên khu vực Khối 11, thị trấn Mường Ẳng nhận hàng. Khi đến địa điểm hẹn, Huyên ra đón Tùng, Tuấn và yêu cầu Tùng ở lại cùng Huyên còn Tuấn tiếp tục đi lên khoảng 1km nữa để xem hàng. Nhưng Tùng lấy lý do địa điểm xem hàng gần chỗ công an thị trấn Mường Ẳng sợ bị bắt, do vậy đi lên khu bãi đá Mung Bua. Đến 16 giờ 30 phút đối tượng đã mang hàng ra cho Tùng, Tuấn xem. Giờ “G” đã điểm, 6 trinh sát trong trang phục “bố bản” từ dưới sông lên bãi đá. Nhanh như chớp, một cú đá quét làm Huyên ngã lăn ra bãi đá với một bánh hê-rô-in vẫn còn trong túi áo. Tài, Thơi bỏ chạy như bị trúng tên. Chúng nhảy xuống dòng Mung Bua đang chảy xiết hòng thoát thân nhưng “lưới trời” đã mắc sẵn, 2 đối tượng nằm gọn trong gọng kìm của trinh sát biên phòng. Chưa hết bàng hoàng thì chiếc còng số 8 đã giơ sẵn chờ chúng. Đó là lúc 16 gờ 55 phút ngày 3-8-2009.

Chuyên án 016L kết thúc thành công, không tốn một viên đạn. Đường dây mua bán ma túy từ Pa Hốc (Lào) qua địa bàn Tây Trang về thị trấn Mường Ẳng đã bị triệt phá…

Phạm Long
qdnd.vn

Huỳnh Thúc Kháng với Viện Dân biểu Trung Kỳ

QĐND – Sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, thực dân Pháp, bắt đầu từ Toàn quyền Đông Dương An-be Xa-rô (nhiệm kỳ hai), cho thực thi chính sách Pháp – Việt đề huề, Pháp-Nam hợp tác để tạo môi trường thuận lợi hút vốn khai thác Việt Nam. Các phương tiện thông tin đại chúng hết lời ca ngợi, quảng bá và cổ vũ cho chính sách này. Sinh hoạt chính trị và văn hóa trên đất nước, đặc biệt ở Trung Kỳ mà trước hết tại Huế có những thay đổi lớn. Ngoài hai cơ quan quyền lực có từ trước là Khâm sứ và Nam triều, thực dân Pháp cho lập thêm một cơ quan mới gọi là Viện Dân biểu Trung Kỳ như một thứ trang trí cho chủ nghĩa Pháp – Việt đề huề của họ.

Dù không hy vọng nhiều vào cơ quan dân biểu này của thực dân Pháp, nhưng những người đã từng trăn trở với vận mệnh đất nước coi đó như là một diễn đàn công khai có thể bảo vệ lợi ích của nhân dân, chí ít, cũng vạch trần sự lừa bịp của chúng trước dư luận. Cụ Huỳnh Thúc Kháng, một chính trị phạm bị giam tại Nhà tù Côn Đảo, được trả tự do năm 1921, ra ứng cử tại đơn vị bầu cử Tam Kỳ, Thăng Bình, Tiên Phước của tỉnh Quảng Nam, được cử tri quý mến, nên trúng cử với số phiếu rất cao (640/700 phiếu). Trong Diễn văn đọc tại buổi tiệc trà ở Tam Kỳ ngày 10-7-1926 sau khi trúng cử vào Viện Dân biểu Trung Kỳ, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã bày tỏ: “Năm 1920, đặt ra cuộc tư vấn, năm ngoái tuyên bố hiệp ước mới, năm nay lại đổi tư vấn ra làm nhân dân đại biểu, mới mẻ thay giữa đất Trung Kỳ mà nay có bốn chữ nhân dân đại biểu xuất hiện, nay chưa nói nội dung thế nào, chưa nói hiệu quả thế nào, mà chỉ trông thấy bốn chữ danh nghĩa đường đường quang minh chính đại, thì đã sinh lòng tin cậy” (viết đậm trong nguyên văn – PX). Ở một chỗ khác trong diễn văn đó, cụ Huỳnh xác định trách nhiệm của mình trước cử tri và nhân dân Trung Kỳ: “Cái gánh nặng anh em giao cho tôi đã chất nặng lên vai tôi rồi, chưa biết có theo được như lòng tôi không? Nhà nước có chừa cho tôi chỗ cụ cựa, đặng khỏi mất cái lòng tín nhiệm của anh em không? Tôi chưa dám nói trước…”. Rồi cụ cảnh báo: “Họa may cái chính thể này nêu một bài thuốc hay, bắt đầu chữa bệnh cho nòi giống mình, đừng để thành ra bánh vẽ, mà làm cho nhà nước bảo hộ mang tiếng”.

Chính phủ Lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa. Cụ Huỳnh Thúc Kháng (mặc áo đen, đeo kính) đứng cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh tư liệu.

Tháng 7-1926, cụ Huỳnh Thúc Kháng được bầu làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ. Ngày 7-8 năm đó, Viện Dân biểu Trung Kỳ họp phiên đầu tiên. Trong bầu không khí chính trị buổi ban đầu đó, cụ Huỳnh và những nghị viên cùng chí hướng tạo thành một phái chủ đạo, sau thành phái đối lập, đã nêu ra những kiến nghị sửa đổi Chương trình và Thể lệ của viện, về sửa luật và thông dụng chữ quốc ngữ, về thuế muối, thuế rượu và tinh giảm gạch võ. Nhưng cũng từ phiên họp đầu tiên đó, cụ Huỳnh đã sớm nhận ra trò “bánh vẽ phỉnh trẻ con” của viện. Sau hơn một năm thành lập, Viện Dân biểu chỉ là một cái tên suông, không có nhà cho Ban Trị sự đặt Văn phòng làm việc. Những sự kiện trên được phản ánh trên báo chí xuất bản ở trong nước, sau đó gửi sang Pháp. Những tờ báo đó đến được Mát-xcơ-va, Nguyễn Ái Quốc đọc và bình luận trong một bài viết có tựa đề “Sự thống trị của đế quốc Pháp ở Đông Dương”, đăng trên tập san Inprekorr của Quốc tế Cộng sản, trong đó có một đoạn như sau:

“Tất cả những “vị dân biểu” này chỉ có tiếng nói tư vấn thôi. Các vị dân biểu Trung Kỳ thì mỗi năm họp một lần và lúc nào họp là do Khâm sứ quyết định. Thậm chí họ không có lấy một phòng họp hay một phòng để làm việc. Mỗi một kỳ họp đều do một viên công chức người Pháp chủ tọa…”.

Rồi đi tới nhận định: “Viện “ Đuma” An Nam (không phải do đầu phiếu phổ thông, mà chỉ do những kỳ mục, địa chủ và thương gia bầu ra) không thể xoa dịu được người An Nam, mà còn đưa lại cho họ cơ hội để tỏ rõ tinh thần phản kháng của mình”(1).

Theo Thể lệ, nhiệm kỳ của Viện Dân biểu Trung Kỳ là 3 năm, mỗi năm họp một phiên thường kỳ và cũng có thể có những phiên bất thường do Khâm sứ và Viện trưởng triệu tập. Phiên họp đầu tiên năm 1926 đã xuất hiện những bất đồng. Đến phiên họp thường niên năm 1927, Viện Dân biểu Trung Kỳ đứng đầu là Viện trưởng Huỳnh Thúc Kháng tiếp tục gửi thỉnh cầu lên Tòa Khâm nhắc lại những yêu cầu trong kỳ họp trước chưa được giải quyết và đề đạt những yêu cầu mới. Tất cả đều bị bác bởi những suy nghĩ thiển cận, thô bạo mang tính thực dân rằng, Nghị viện chưa chịu hợp tác với chính phủ và rằng, người Việt Nam chưa đủ trình độ tham dự vào các hội đồng… Những mâu thuẫn đó tích tụ lại theo năm tháng và bùng nổ tại phiên họp thường niên năm 1928, kỳ họp cuối cùng của nhiệm kỳ đầu. Báo Tiếng Dân đã dự phần vào sự bùng nổ đó. Chúng ta đều biết, Tiếng Dân ra số đầu vào ngày 10-8-1927, đúng vào dịp Viện Dân biểu Trung Kỳ họp phiên thường niên thứ hai và ngay lập tức định hướng dư luận trong sinh hoạt chính trị của nhân dân Huế và Trung Kỳ bằng những tin, bài phản ánh cuộc đấu tranh vì nền dân chủ đang diễn ra ngày một mạnh mẽ trong Viện Dân biểu.

Thời gian trôi dần về kỳ họp thường niên cuối cùng năm 1928 của nhiệm kỳ I. Nhân đó, Tiếng Dân đăng một loạt bài dạo đầu trước công luận, trong đó có ba bài đáng lưu ý: Cùng các ông đại biểu, ký tên: Trung ngôn – Một người dân Trung Kỳ, số ra ngày 15-8-1928; Gửi cho mấy ông đại biểu, thơ của Tha Sơn Thạch, bút danh của Đào Duy Anh, số ra ngày 18-8-1928 và Mấy lời ngỏ cùng chánh phủ bảo hộ, ký tên: Một bọn dân Trung Kỳ, số ra ngày 29-9-1928.

Trong bài thơ của mình, Tha Sơn Thạch đã gửi gắm:

Sân khấu đã ra tranh một ghế/ Vai tuồng cũng phải hát đôi câu/ Cơ quan hợp tác chừng ta thế! Chánh thể văn minh thực ra đâu? Biết chăng tấm lòng dân ước mỏi/ Đã qua năm trước ngóng năm sau”.

Hoặc trong bài đăng trên Tiếng Dân số 117, ngày 29-9-1928, trước khi khai mạc Hội nghị thường niên năm 1928 mấy ngày, tác giả đã bộc lộ sự phản ứng: “Đã bị thất vọng kỳ bầu cử 1926 thì không lẽ cứ nhắm mắt bịt tai để hy vọng cho cuộc bầu cử 1929 nữa. Nằm im không đành lòng mà bước tới thời đã hết nhiệt huyết, cái thảm tình chúng tôi thật nhiều nỗi bối rối. Đứng địa vị quốc dân trong thời hợp tác, không phải chỉ theo chánh phủ mà tán tụng, mà cũng nên xem chánh phủ như người bạn để thở ngắn than dài”.

Sóng gió bắt đầu nổi lên từ việc Khâm sứ Trung Kỳ tự ý thay đổi ba lần ngày họp và càng mạnh lên trong ngày khai mạc 1-10-1928, Khâm sứ thay đổi trình tự phát biểu. Nếu như các kỳ họp trước, Khâm sứ đọc diễn văn khai mạc như chỉ đạo cho hội nghị bàn thảo, thì lần này, Khâm sứ quyết định Viện trưởng Huỳnh Thúc Kháng đọc diễn văn trước, rồi mới đến Khâm sứ như là sự phủ định diễn văn của Viện trưởng.

Trong Diễn văn, cụ Huỳnh bày tỏ một tâm trạng: “Chúng tôi đã từng nghe những câu trong dân gian phê bình Viện chúng tôi: “Tên là nhân dân đại biểu mà thật là một quan trường mới”(in đậm trong nguyên văn – PX). Chúng tôi ở vào địa vị dở dang bỡ ngỡ này, đối với chính phủ đã không làm được gì và đối với nhân dân cũng không thể cầm hai chữ đại biểu suông mà đáp lại cái lòng mong mỏi của họ, đêm nằm tự nghĩ cứ thẹn lại buồn…”(2).

Tiếp đó, Quyền Khâm sứ Giabui đăng đàn công kích Huỳnh Thúc Kháng thuộc “đám người không toại chí”, “nóng nảy” và thái độ Viện “cũng tiêm nhiễm cái ảnh hưởng ấy nên chỉ đối với chính phủ Nam triều hay là chính phủ bảo hộ, Viện này ra mặt phản kháng, khi nào cũng công kích, khi nào cũng hoài nghi cái ý tưởng hay của bảo hộ cho đến nỗi quên hẳn cái phạm vi chức vụ theo thể lệ đã đặt cái Viện này ra…”(3).

Mâu thuẫn đối kháng không thể điều hòa ấy cuối cùng đã dẫn tới đỉnh điểm: Chiều ngày 2-10-1928, Huỳnh Thúc Kháng đưa đơn từ chức nghị viện và nghị trưởng và 8 giờ sáng ngày hôm sau, cụ Lê Văn Huân, Hoàng Đức Trạch, Lương Quý Di cũng đưa đơn từ chức nghị viện.

Sự đối kháng dẫn tới sự tẩy chay và bất hợp tác của phái đối lập trong Viện Dân biểu Trung Kỳ đã chứng minh cho tính chất “vật trang trí” hay “cái bánh vẽ” của nó mà cụ Huỳnh đã mường tượng từ khi có chủ trương lập viện của thực dân Pháp. Dẫu vậy, điều thú vị là, qua Báo Tiếng Dân, cuộc đấu tranh của phái đối lập trong Viện Dân biểu Trung Kỳ được nhân dân Huế, Trung Kỳ và cả nước biết tới và dành nhiều thiện cảm và lòng quý mến cho cụ Viện trưởng Huỳnh Thúc Kháng, người đứng mũi chịu sào. Điều đó, ta có thể đi tới một kết luận không gượng ép rằng, chính cụ Huỳnh Thúc Kháng là người khởi động tiến trình dân chủ hóa ở xứ bảo hộ gián tiếp Trung Kỳ và góp một phần lớn vào tiến trình lịch sử tư tưởng nước ta. Và cũng từ chính cụ Huỳnh khơi mào “văn hóa từ chức” và tiếp đó, một người đồng hương của cụ, ông Phan Thanh, tiếp nối ở Hà Nội, Bắc Kỳ khi cảm thấy không thể làm được những việc theo kỳ vọng và lòng tin cậy của nhân dân. Ở một nước thuộc địa như chúng ta không thể có kiểu “hợp tác giữa con trâu và người đi cày” như nhà yêu nước vĩ đại Nguyễn An Ninh đã từng thốt lên.

(1). Hồ Chí Minh Toàn tập. Xuất bản lần thứ ba, tập 2. Nxb Chính trị Quốc gia-sự thật, Hà Nội, 2011.

(2). Tiếng Dân, số 119, ngày 6-10-1928.

(3). Tiếng Dân, số 120, ngày 10-10-1928.

PGS.TS Phạm Xanh
qdnd.vn

Một trung đoàn “đáng sợ”

QĐND – Năm 1954, trong một tài liệu của địch mà ta thu thập được, chỉ huy Pháp ở Đông Dương đã thú nhận: “Trung đoàn 66 là một trung đoàn đáng sợ”. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Trung đoàn 66 – Trung đoàn chủ lực Ký Con tiếp tục có nhiều trận đánh chấn động và là đơn vị vào Dinh Độc Lập, bắt sống nội các Dương Văn Minh trong ngày 30-4-1975 lịch sử…

“Đơn vị đánh nhiều, diệt gọn”

Theo Thượng tá, Trung đoàn trưởng Hoàng Mạnh Hùng thì sức mạnh của Trung đoàn 66 khiến kẻ thù phải khiếp sợ được thể hiện cô đọng từ truyền thống “Đoàn kết, kiên cường, trung dũng, đánh thắng” của đơn vị. Ngay trong ngày thành lập (20-3-1947), Trung đoàn 66 đã lập công lớn trong trận tiến công địch ở Hà Đông giữa ban ngày, phá tan âm mưu tuyên truyền về “Kết quả công cuộc bình định của quân đội Pháp”. Tiếp đó, trung đoàn đã có cuộc hành quân thần tốc, nhổ hàng loạt vị trí quan trọng và làm nòng cốt cho thắng lợi của Chiến dịch Đường 12 vào dịp Tết năm 1948. Chỉ vào lá cờ truyền thống mang dòng chữ “Trung đoàn chủ lực Ký Con” do Bộ tư lệnh Liên khu 3 trao tặng, Thượng tá Hoàng Mạnh Hùng cho biết: “Đơn vị chính thức mang tên “Trung đoàn Ký Con” và nhận lá cờ truyền thống này từ sau những chiến thắng giòn giã trong Chiến dịch Lê Lợi vào cuối năm 1949. Đặc biệt là trận công đồn Đồng Bến. Đây là cứ điểm kiên cố của địch, nằm trên Đường số 7, cách Hòa Bình hơn 20km. Sau 3 tháng làm công tác chuẩn bị, rạng sáng ngày 26-11, Tiểu đoàn Lê Lợi của trung đoàn đã nổ súng tiến công đồn Đồng Bến. Chỉ sau hơn một giờ, trận đánh kết thúc thắng lợi, toàn bộ sĩ quan và binh lính địch bị ta diệt gọn. Đây là lần đầu tiên, bộ đội ta tiêu diệt gọn đại đội địch trong căn cứ có công sự, lô cốt vững chắc”.

Tên tuổi của Trung đoàn 66 trong cuộc kháng chiến chống Pháp còn được biết đến qua các trận đánh của Chiến dịch Trần Hưng Đạo, nhất là hoạt động ở khu vực phía nam Phủ Lý, đánh vào hệ thống phòng ngự của địch trên tuyến đê ven sông Đáy, san phẳng căn cứ Hồi Trung (Kim Bảng). Kết thúc chiến dịch, trung đoàn được Bộ tư lệnh Đại đoàn 304 đánh giá là: “Đơn vị đánh nhiều, diệt gọn”. Khi Chiến dịch Hòa Bình nổ ra, Trung đoàn 66 đã tiến hành trận phục kích cầu Dụ – Hang Đá nổi tiếng. Trong thời gian chưa đầy 20 phút, đơn vị đã phá hủy 34 xe địch, diệt phần lớn địch trên xe, bắt sống nhiều sĩ quan Pháp và lính Âu Phi…

Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ (ngoài cùng bên phải) cùng cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66 và các lực lượng liên quan dẫn ông Dương Văn Minh từ Dinh Độc Lập đến Đài Phát thanh Sài Gòn. Ảnh tư liệu

“Dấu ấn 66” và cái “duyên” trong ngày lịch sử

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Trung đoàn Ký Con tiếp tục là nỗi khiếp sợ cho đối phương bằng các trận đánh lớn trong nhiều chiến dịch. Theo ông Nguyễn Mạnh Hùng, cựu chiến binh của đơn vị thì “dấu ấn 66” được thể hiện ngay trong Chiến dịch Plây-me, trung đoàn đã phối hợp với các đơn vị bạn đánh bại lực lượng tinh nhuệ nhất của đế quốc Mỹ khi chúng vừa đặt chân lên miền Nam Việt Nam – đó là Sư đoàn kỵ binh bay số 1. Tiếp đó, do yêu cầu nhiệm vụ, từ một Trung đoàn 66 đã phát triển thành các trung đoàn 66A, 66B, 66C… Dấu chân của “lính 66” đã in trên các chiến trường từ Bắc vào Nam và làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào, Cam-pu-chia. “Tôi nhớ nhất là trận đánh Động Cô Tiên. Khi đó Đại đội 10, Tiểu đoàn 9 chúng tôi nằm trong đội hình của Trung đoàn 66 được giao tổ chức tập kích tiêu diệt địch ở cao điểm này. Trước ngày nổ súng, tôi bị sốt cao nhưng vẫn kiên quyết xin đi. Khi vào chiếm lĩnh trận địa, anh Khôi, Tiểu đoàn trưởng đưa cho tôi và anh Nhân, đại đội trưởng 2 cái đồng hồ Pôn-zôt. Anh Nhân giao nhiệm vụ cho tôi: “Cậu chờ tôi ở vị trí tập kết, tôi và cậu Hợp (chiến sĩ liên lạc) sẽ lên trước. Khi nào Hợp quay lại, cậu dẫn đơn vị vào chỗ tôi ở sát hàng rào để mở cửa, đánh chiếm đầu cầu”. Nằm chờ ở dưới, mệt quá tôi ngủ thiếp đi. Khoảng hơn 1 tiếng sau, tôi giật mình tỉnh dậy, nhìn đồng hồ đã quá 11 giờ. Không biết thông tin về anh Nhân và Hợp thế nào. Tôi báo cáo chính trị viên và “liều” dẫn đại đội lên. May sao không bị lạc và vào đúng vị trí đại đội trưởng đang chờ. Trận đó, đơn vị thắng giòn giã, nhanh gọn và được anh em tặng cho danh hiệu “Cơn lốc Động Cô Tiên”. Chỉ có điều, đại đội trưởng Nhân đã mãi mãi không trở về…” – cựu chiến binh Nguyễn Mạnh Hùng ngậm ngùi nhớ lại kỷ niệm.

Trong vòng tay của đồng đội cũ, Trung tướng Phạm Xuân Thệ, nguyên Trung đoàn phó Trung đoàn 66 trong những ngày tháng 4-1975 lịch sử tâm sự rằng, việc ông và Trung đoàn 66 có mặt và bắt nội các chính quyền Sài Gòn ngày đó là may mắn và là cái “duyên” của lịch sử. “Để có được cơ hội vào dinh làm nhiệm vụ, biết bao đồng đội của chúng tôi đã mất đi mạng sống, có nhiều người hy sinh ngay trước giờ toàn thắng. Họ mới xứng đáng được nhắc đến và vinh danh nhiều nhất. Lá cờ truyền thống của Trung đoàn 66 – Trung đoàn Ký Con anh hùng cũng được tô thắm từ những con người như thế…”- ông Thệ khẳng định.

Sài Tiến
qdnd.vn