Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Những người con của danh nhân Lương Khải Siêu

QĐND – Lương Khải Siêu (1873-1929) là một trong 20 nhân vật nổi tiếng trong Tủ sách “Danh nhân Tân Hợi” vừa được xuất bản ở Trung Quốc, nhân kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tân Hợi (1911-2011).

Nhân dịp này, từ nguồn tư liệu của Báo điện tử Tân Hoa xã (www.xinhuanet.com) và Từ điển điện tử Bách Độ (www.baidu.com), chúng tôi chọn dịch và giới thiệu một số người con của nhà tư tưởng, nhà văn, học giả Lương Khải Siêu, một trong những lãnh tụ của Phong trào Duy Tân trong lịch sử cận đại Trung Quốc.

Danh nhân Lương Khải Siêu có 9 người con trai, con gái, thứ tự là: Lương Tư Thuận, Lương Tư Thành, Lương Tư Vĩnh, Lương Tư Trung, Lương Tư Trang, Lương Tư Đạt, Lương Tư Ý, Lương Tư Ninh, Lương Tư Lễ. Trong đó, Tư Thuận, Tư Thành, Tư Trang là do bà Lý Huệ Tiên (1868-1923), vợ đầu của Lương Khải Siêu sinh ra; Tư Vĩnh, Tư Trung, Tư Đạt, Tư Ý, Tư Ninh, Tư Lễ là do bà Vương Quế Toàn (1885-1924), vợ hai của Lương Khải Siêu sinh ra.

Lương Khải Siêu và các con: Tư Thuận, Tư Thành, Tư Vĩnh (năm 1905). Ảnh: Quảng Châu Nhật báo

Trưởng nam Lương Tư Thành (1901-1972): Nhà kiến trúc học, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc.

Năm 1915, Lương Tư Thành vào học tập tại Trường Thanh Hoa, năm 1923 cùng Lâm Huy Nhân sang Mỹ lưu học, sau đó tốt nghiệp Khoa Kiến trúc, Trường Đại học Pen-xin-va-ni-a (Pennsylvania), giành được học vị Thạc sĩ. Sau khi về nước năm 1928, ông tới Đại học Đông Bắc sáng lập Khoa Kiến trúc đầu tiên ở miền Bắc Trung Quốc. Ông là người đầu tiên vận dụng phương pháp khoa học hiện đại tiến hành phân tích, nghiên cứu kiến trúc Trung Quốc, mở ra con đường nghiên cứu lịch sử kiến trúc Trung Quốc. Sau khi cuộc chiến tranh chống Nhật nổ ra, ông biên soạn bộ “Lịch sử kiến trúc Trung Quốc” đầu tiên của Trung Quốc, đồng thời dùng Anh văn viết một cuốn sách “Trung Quốc kiến trúc sử đồ lục” phổ thông dễ hiểu, phục vụ độc giả ngoại quốc, làm cho kiến trúc Trung Quốc tỏa sáng trên trường quốc tế.

Năm 1945, sau khi kháng chiến thắng lợi, ông sáng lập Khoa Kiến trúc, Trường Đại học Thanh Hoa. Sau giải phóng, ông dấn thân vào công cuộc xây dựng đất nước Trung Quốc mới, lãnh đạo và tham gia công tác thiết kế đồ án Quốc huy và Bia kỷ niệm Anh hùng nhân dân, chỉ đạo chỉnh sửa Hoài Nhân Đường (Hội trường lớn trong Trung Nam Hải, Bắc Kinh).

Là người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy kiến trúc cổ đại, Lương Tư Thành là một trong những người đặt nền móng cho sự nghiệp giáo dục kiến trúc Trung Quốc về các phương diện lý luận kiến trúc, tư tưởng giáo dục kiến trúc, lý luận quy hoạch thành phố. Năm 1947, ông được tiến cử là đại biểu Trung Quốc trong Đoàn Cố vấn thiết kế tòa nhà Trụ sở Liên hợp quốc. Cùng năm, Trường Đại học Prin-xtơn (Princeton-Mỹ) đã trao học vị Tiến sĩ danh dự cho ông vì những cống hiến quan trọng của ông về học thuật kiến trúc Trung Quốc. Ông được bầu làm Viện sĩ, Ủy viên Ban Khoa học kỹ thuật đợt đầu tiên của Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc. Ông là Đại biểu Quốc hội Trung Quốc khóa 1, khóa 2, Ủy viên Thường vụ Quốc hội Trung Quốc khóa 3, Ủy viên thường vụ Mặt trận dân tộc Trung Quốc khóa 2, Ủy viên Mặt trận dân tộc Trung Quốc khóa 3.

Thứ nam Lương Tư Vĩnh (1904-1954): Nhà khảo cổ học, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc.

Lương Tư Vĩnh sinh ra tại Ma Cao, nhưng tuổi thơ của anh sống tại Nhật Bản. Năm 1923, Lương Tư Vĩnh từ Trường Đại học Thanh Hoa sang Mỹ lưu học và tốt nghiệp Lớp dự bị đại học, rồi sang Mỹ học chuyên ngành khảo cổ học và nhân loại học, nghiên cứu khảo cổ Đông Á, tại Viện Nghiên cứu Trường Đại học Ha-vớt (Harvard), đã từng tham gia khai quật Di chỉ cổ đại người Anh-điêng (Indians). Trong thời gian này, ông đã từng có một dịp trở về nước làm trợ giáo tại Sở Nghiên cứu quốc học Trường Đại học Thanh Hoa. Mùa hè năm 1930, sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Ha-vớt (Mỹ), Lương Tư Vĩnh trở về nước tham gia công tác tại Tổ Khảo cổ Sở Nghiên cứu Ngôn ngữ Lịch sử Viện Nghiên cứu Trung ương (trước đây).

Lương Tư Vĩnh suốt đời dốc sức cho sự nghiệp khảo cổ, là một trong những người khai thác khảo cổ học cận đại và giáo dục khảo cổ học cận đại Trung Quốc, là một học giả Trung Quốc đầu tiên được huấn luyện chính thức khảo cổ học cận đại của phương Tây, có tác phẩm truyền đời “Lương Tư Vĩnh khảo cổ luận văn tập”. Ông được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc đợt đầu tiên; Tháng 8 năm 1950 được bổ nhiệm làm Phó giám đốc Sở Nghiên cứu khảo cổ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc.

Ngày 2-4-1954, ông Lương Tư Vĩnh ốm đau lâu ngày vẫn kiên trì làm việc, bệnh tim phát tác, qua đời tại Bắc Kinh, hưởng dương 50 tuổi.

Con trai thứ 3 Lương Tư Trung (1907-1932): Thượng tá pháo binh

Lương Tư Trung từ Nhật Bản về nước không lâu lại sang Mỹ, lần lượt học tập tại Học viện Lục quân Vớc-gi-ni-a (Virginia) và Trường Quân sự Oét-poi (West Point).

Đầu thập niên 30 thế kỷ 20, tốt nghiệp về nước, tham gia Quân Cách mạng quốc dân. Sau khi nhập ngũ, do được học bài bản tại nước ngoài và có tài nên ông nhanh chóng được thăng cấp Thượng tá pháo binh Lộ quân 17, Quân cách mạng quốc dân. Trong cuộc chiến dịch Tùng Hộ năm 1932, Lương Tư Trung chiến đấu và chỉ huy khá xuất sắc.

Đáng tiếc là sau đó không lâu, Lương Tư Trung mới 25 tuổi vì mắc bệnh viêm phúc mạc, uống nhầm thuốc, chạy chữa chậm nên đã qua đời.

Con trai thứ tư Lương Tư Đạt, sinh năm 1912: Nhà kinh tế học nổi tiếng.

Năm 1935, Lương Tư Đạt tốt nghiệp Khoa Kinh tế, Trường Đại học Nam Khai, ngay sau đó thi đỗ Nghiên cứu sinh Thạc sĩ của trường này và năm 1937 giành được học vị Thạc sĩ.

Ông hoạt động nghiên cứu kinh tế lâu ngày, trong thời gian kháng chiến đã từng nhậm chức tại Sở quản lý Ngân hàng Trung ương Trung Quốc và Chi nhánh Trường Sa Ngân hàng Trung Quốc. Năm 1949, ông được điều động đến Cục doanh nghiệp nước ngoài đầu tư của Quốc Vụ viện (sau này đổi tên là Cục Quản lý hành chính công thương Trung ương) làm Chánh văn phòng, sau đó được bổ nhiệm làm Trưởng phòng Thống kê Sở Điều tra nghiên cứu kiêm nhiệm công tác biên tập tư liệu nội bộ.

Ông đã từng tham gia công tác biên soạn “Lịch sử kinh tế cận đại Trung Quốc” của Sở Kinh tế Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc và năm 1965 chủ biên bộ sách “Tư liệu thống kê công nghiệp bột mì trong cơ chế Trung Quốc cũ”.

Lương Tư Đạt nghỉ hưu năm 1972, thường trú tại Bắc Kinh.

Con trai thứ năm Lương Tư Lễ, sinh năm 1924: Chuyên gia điều khiển hệ thống tên lửa, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc.

Lương Tư Lễ sinh ra tại Bắc Kinh. Năm 1941, theo chị ba Lương Tư Ý sang Mỹ lưu học, chủ yếu học chuyên ngành Vô tuyến điện, Khoa Công trình điện cơ, Trường Đại học Pơ-điu (Purdue), sau lại học thêm Điều khiển tự động. Trong thời gian học tại Trường Đại học Pơ-điu, ông chỉ dùng thời gian hai năm hoàn thành chương trình 3 năm và năm 1945 đã giành được học vị Tiến sĩ của trường này.

Tiếp theo, ông lại giành được học vị Thạc sĩ (năm 1947) và học vị Tiến sĩ (năm 1949) của Trường Đại học Xin-xi-na-ti (Cincinnati).

Ngày 1-10-1949, sau khi về nước Lương Tư Lễ được bố trí làm công tác kỹ thuật tại Sở Nghiên cứu kỹ thuật điện tín Bộ Bưu điện và Sở Nghiên cứu khoa học điện tử Bộ Thông tin quân sự, đồng thời tham gia công tác khởi thảo “Quy hoạch viễn cảnh khoa học 12 năm” do Quốc Vụ viện tổ chức. Ông phụ trách khởi thảo “Nguyên tắc lâu dài nghiên cứu chế tạo tên lửa vận tải Trung Quốc”.

Năm 1956, ông được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Phòng Nghiên cứu hệ thống tên lửa đạn đạo Viện Nghiên cứu 5, Bộ Quốc phòng. Từ đó về sau, ông lần lượt lãnh đạo và tham gia nghiên cứu chế tạo thí nghiệm hệ thống điều khiển nhiều loại tên lửa đạn đạo và tên lửa vận tải. Ông là một trong những người phụ trách hệ thống điều khiển quả tên lửa đất đối đất đầu tiên thực nghiệm thành công năm 1964 do Trung Quốc tự thiết kế chế tạo và sau đó lãnh đạo nghiên cứu cải tiến chế tạo ra hệ thống điều khiển hoàn toàn quán tính mang đặc sắc Trung Quốc. Ông đã tham gia thí nghiệm vũ khí hạt nhân, tiến hành trên lãnh thổ Trung Quốc ngày 27-10-1966, gây chấn động thế giới. Dưới sự chủ trì của ông, Trung Quốc lần đầu tiên đưa đường điện tập thành dùng vào máy tính trên tên lửa, đồng thời dùng nó tiến hành trắc nghiệm tự động hóa hoàn toàn tên lửa. Ông còn tham gia cuộc thí nghiệm chuyến bay của tên lửa viễn trình phóng ra Thái Bình Dương năm 1980.

Năm 1985, Lương Tư Lễ được trao “Giải thưởng hạng đặc biệt Tiến bộ khoa học kỹ thuật quốc gia”. Năm 1987, ông được bầu làm Viện sĩ Viện Khoa học hàng không vũ trụ Quốc tế; Năm 1993 được bầu là Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc và Ủy viên Thường vụ Ủy ban Dân tộc toàn quốc khóa 8; Năm 1994 được bầu làm Phó chủ tịch Hội Liên hiệp Hàng không vũ trụ quốc tế; Tháng 9-1997, ông vinh dự được trao “Giải thưởng cống hiến Khoa giáo hưng quốc cho các giáo sư lão thành Trung Quốc”.

Vũ Phong Tạo trích dịch

(Theo http://www.xinhuanet.com và http://www.baidu.com)
qdnd.vn

Hồ Chí Minh và Hiến pháp 1946

QĐND – Thế là đã 65 năm Quốc hội khóa I thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước ta, ngày 9-11-1946. Thời gian là vị quan tòa nghiêm khắc và công minh nhất thẩm định sự đúng sai của những tư tưởng, những quyết sách và nhất là hướng đi. Nhìn lại một chặng đường lịch sử gần hai phần ba thế kỷ, càng hiểu ra sự minh triết của Hồ Chí Minh, tác giả của Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, cha đẻ của Hiến pháp 1946 đặt nền móng cho Nhà nước pháp quyền đích thực của quốc gia ấy.

Ngay trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 3-9-1945, Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ”! Trong bộn bề những việc cấp bách hằng ngày với thù trong giặc ngoài, Hồ Chí Minh vẫn trực tiếp chỉ đạo việc soạn thảo Hiến pháp và cho ra đời bản Hiến pháp 1946 mà cho đến nay, giới nghiên cứu về luật pháp đánh giá là bản Hiến pháp mẫu mực nhất: Một hiến pháp dân chủ.

Là người bôn ba khắp năm châu bốn biển, thông hiểu nền văn hóa Tây phương từ một sự hiểu biết sâu sắc triết lý phương Đông và truyền thống văn hóa nước mình, Hồ Chí Minh có điều kiện trải nghiệm để nhìn ra những điều mà người khác có thể không nhìn thấy. Hơn ai hết, Hồ Chí Minh hiểu rõ dân tộc mình, nhân dân mình cần cái gì nhất. Điều đó quy định nội dung của Tuyên ngôn Độc lập 2-9-1945 và Hiến pháp 1946 – lời tuyên bố đĩnh đạc của nhân dân Việt Nam trước thế giới, khẳng định ý chí và khát vọng của dân tộc mình.

Dân chủ nằm ngay trong tên nước và mục tiêu hướng tới, tức cũng là hướng đi, được ghi rõ ngay dưới tên nước: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc. Nước có độc lập thì dân mới có tự do để làm ăn sinh sống, tự do suy nghĩ và hành động để mưu cầu hạnh phúc. Dân chủ là điều kiện tiên quyết để có tự do và có tự do mới thực sự có hạnh phúc!

Bác Hồ bỏ lá phiếu bầu cử tại Hà Nội năm 1960. Ảnh tư liệu.

Thế nhưng, “dân chủ không thể được áp đặt bởi sự màu nhiệm những cơ chế của chính nó, dân chủ cần những người mang nó, sống động trong con người họ, và làm cho nó tồn tại sống động đối với tất cả mọi người”(1), ý tưởng ấy có sức gợi mở cho những tìm tòi về phương thức thực hành dân chủ mà Hồ Chí Minh tìm cách thực hiện. Hiến pháp 1946 là một minh chứng cho điều đó.

Thực ra Hồ Chí Minh hiểu rằng: “trong nhiều xã hội ngoài châu Âu, thông điệp đấu tranh giai cấp nghe xuôi tai hơn thông điệp dân chủ; sự phê phán nhân quyền dễ trót lọt hơn ý tưởng về dân quyền. Và như vậy là vì những lý do lịch sử: Ý tưởng về nhân quyền do bọn thực dân mang tới cho họ, áp đặt bằng nòng súng. Nhân quyền thuộc về kẻ chiến thắng, đương nhiên, trước mắt kẻ thua trận, đó là thứ ngụy trang cho sự thống trị thực dân”(2). Tuy nhiên, trong Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã dẫn ra tư tưởng về nhân quyền, bởi vì “ý tưởng xây dựng xã hội trên nền tảng quyền con người… là một ý tưởng phổ quát, đáp ứng một hy vọng toàn cầu”(3).

Cần nhớ rằng, trong “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” gửi đến Hội nghị Véc-xây năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã đòi “thay đổi chế độ sắc luật bằng chế độ luật…”. Trong “Việt Nam yêu cầu ca” cũng đã có câu: “Bảy xin hiến pháp ban hành/ Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”(4) [phải chăng đây là từ nguyên ngữ “l’esprit des lois” của Montesquieu?].

Trước đó, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra: “nếu có một đảng độc lập tồn tại thì đảng này không phải đi ăn xin một vài quyền tự do mà thiếu nó thì con người là một tên nô lệ khốn khổ”… “Rất ôn hòa cả về nội dung lẫn hình thức, các nguyện vọng của chúng tôi nhằm vào những cải cách chủ yếu cho việc giải phóng chúng tôi, và nhằm vào những quyền tự do mà nếu không có chúng thì con người ngày nay chỉ là một kẻ nô lệ khốn nạn”(5).

Dẫn ra những điều trên để hiểu rằng, hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà Hồ Chí Minh đã mở đầu Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra Nhà nước dân chủ cộng hòa của mình bằng những câu tiêu biểu nhất về quyền con người, về khát vọng cháy bỏng của con người trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp: “Hỡi đồng bào cả nước! Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Từ “quyền con người”, quyền đương nhiên không phải do ai ban phát cả, Hồ Chí Minh dẫn đến quyền của dân tộc với nội dung như đã dẫn ra ở trên.

Những ý tưởng tiêu biểu ấy được thể hiện một cách thật giản dị, dễ hiểu trong Hiến pháp 1946 với 70 điều. Nội dung tập trung về xác lập quyền của công dân và quyền của nhà nước, quyền giữa các cơ quan nhà nước với nhau, ở đó nổi bật lên hai vấn đề cơ bản nhất: Ngăn cấm sự lạm quyền của quyền lực nhà nước và đảm bảo quyền tự do dân chủ của công dân.

Để làm được điều đó, nội dung của Hiến pháp 1946 làm nổi bật lên nguyên tắc cơ bản: Đặt pháp quyền ở trên nhà nước và quyền phúc quyết Hiến pháp thuộc về nhân dân. Nhà nước pháp quyền ấy phải được tổ chức theo nguyên tắc “tam quyền phân lập” để kiểm tra nhau. Cơ quan Nhà nước và công chức chỉ làm được những điều luật pháp cho phép còn dân thì được phép làm tất cả những điều gì mà luật pháp không cấm. Những yếu tố pháp quyền nổi lên trên nguyên tắc quyền lực và tổ chức quyền lực là điều mà những Hiến pháp sau này không làm rõ được, thậm chí bỏ quên! Công việc của nhà nước và các cơ quan công quyền phải công khai và minh bạch trước dân, dân có quyền tham gia vào việc hoạch định pháp luật, giám sát và kiểm soát…

Trong nội dung của Hiến pháp 1946, nét nổi bật là việc kiểm soát quyền lực nhà nước chứa đựng tinh thần khoan dung của truyền thống Việt Nam. Ngay tại Điều 1 đã nổi rõ lên tinh thần ấy. “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả các quyền bính trong nước là của toàn dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Những điểm khác như Hội đồng nhân dân cũng được xác định như một cơ quan “tự quản” của nhân dân địa phương, quyết định các vấn đề của địa phương, do nhân dân địa phương bầu chọn và chịu trách nhiệm trước họ. Ở đây đã thấp thoáng bóng dáng những đường nét tư duy về cái mà ngày nay ta gọi là “xã hội dân sự”. Định chế luật sư cũng đã được đề ra. Thậm chí, trong bối cảnh của một nhà nước mới thành lập, đang phải đối phó với thù trong giặc ngoài mà đã chững chạc khẳng định: “Những người ngoại quốc tranh đấu cho dân chủ và tự do mà phải trốn tránh thì được trú ngụ trên đất Việt Nam” trong Điều 16 của Hiến pháp 1946! Càng nghĩ càng thấm thía về tầm nhìn Hồ Chí Minh.

Và rồi, ở một đất nước mà nhà nước mang nặng “truyền thống” quan liêu, Hồ Chí Minh đã đòi hỏi xây dựng một “nhà nước đày tớ của dân”, điều mà nhiều nhà tư tưởng lớn của loài người đã từng ấp ủ, nhưng vấn đề là Hồ Chí Minh đã sớm đưa ngay ý tưởng đó vào việc tổ chức nhà nước và cố gắng thực hiện. Hồ Chí Minh đã nghiêm khắc cảnh báo ngay từ ngày chính quyền còn trong trứng nước: “các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân… Dân chủ thì Chính phủ phải là đày tớ. Làm việc ngày nay không phải để thăng quan phát tài. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”.

Có thể nói, cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nước được thể hiện trong Hiến pháp 1946 đã đặt nền móng cho một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, trong đó các quyền tự do, bình đẳng về chính trị và xã hội của người công dân được công nhận và được bảo đảm bằng luật pháp. Hiến pháp năm 1946 thể hiện rất tập trung tư duy của Hồ Chí Minh về Nhà nước. Vì vậy, việc sửa đổi Hiến pháp sắp tới chỉ có ý nghĩa khi trung thực và nghiêm cẩn quán triệt điều ấy. Cũng có nghĩa là phải dám chỉ ra những bất cập của các bản Hiến pháp ra đời sau Hiến pháp 1946 và nguyên nhân cơ bản về những bất cập đó. Có như vậy thì việc sửa đổi Hiến pháp 1992 mới có ý nghĩa thiết thực, khỏi lãng phí sức người, sức của khi mà cuộc sống của dân đang còn quá nhiều khó khăn. Mọi sự khoa trương hình thức đều đi ngược với tư tưởng Hồ Chí Minh và sẽ đánh mất niềm tin của dân.

(1) Đại bách khoa toàn thư Pháp

(2, 3) Francois Furet. “Số phận một ý tưởng”. Người đưa tin UNESCO. Hà Nội, 1989, số 6, tr.5

(4, 5) Hồ Chí Minh Toàn tập. Tập 1. NXBCTQG Hà Nội 1995, tr.5 và tr.10

GS Tương Lai
qdnd.vn

Giá – lương – tiền câu chuyện không chỉ của một thời…

Tiến sĩ Trần Xuân Giá, nguyên Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư:

QĐND – Cách đây hơn 1/4 thế kỷ, việc thực hiện cuộc điều chỉnh về giá – lương – tiền đã đẩy nền kinh tế Việt Nam đứng trước vòng xoáy của sự hỗn loạn. Tuy nhiên, “dĩ cùng tắc biến”, sự thất bại đó đã đưa Đảng ta đến một sự lựa chọn: “Đổi mới hay là chết” với những quyết định lịch sử tại Đại hội toàn quốc lần thứ VI năm 1986. Phóng viên Báo Quân đội nhân dân có cuộc trò chuyện với Tiến sĩ (TS) Trần Xuân Giá, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, người đã trực tiếp chứng kiến và tham gia các cuộc điều chỉnh này với vai trò là Phó chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước thời kỳ đó…

Phóng viên (PV): Nhiều người vẫn nghĩ rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam có quyết định chuyển sang nền kinh tế thị trường bắt đầu từ Đại hội VI. Thế nhưng, qua ý đồ của các cuộc điều chỉnh về giá – lương – tiền, rõ ràng, tư duy quản lý kinh tế của Đảng đã có sự thay đổi từ trước năm 1986?

TS Trần Xuân Giá: Tôi có thể khẳng định thế này: Tư duy của Đảng ta về việc chuyển sang nền kinh tế thị trường có từ sớm, trước năm 1986 và nhất quán. Thực tiễn sôi động đã cho thấy mô hình cũ không còn phù hợp và đang cản trở quá trình đi lên của đất nước. Những năm 1979, 1980, đồng chí Tổng bí thư Lê Duẩn đã có nhiều cuộc làm việc, trao đổi, tranh luận thẳng thắn về vấn đề này với các nhà khoa học, nghiên cứu, tổ tư vấn… Ngay từ khi đó, ông đã nhìn thấy những bất ổn của mô hình và lường trước những khó khăn sẽ tới. Được dự một số buổi làm việc của Tổng bí thư, tôi thấy ông thường xoay quanh hai câu hỏi: “Làm gì để đối phó với cuộc khủng hoảng tới?” và “Bắt đầu từ đâu?”. Có thể nói, đó là một tầm nhìn rất mới và sớm khi đó. Năm 1980, ông ký ban hành Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị, tháng 6-1985, Hội nghị Trung ương 8 (khóa V) tiếp tục ra nghị quyết về điều chỉnh giá – lương – tiền, với mục tiêu từng bước xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp trong giá và lương, xây dựng và hoàn chỉnh cơ chế quản lý mới…

TS Trần Xuân Giá. Ảnh: Thanh Tuấn.

2 thị trường và kế hoạch 3 phần

PV: Thưa TS Trần Xuân Giá, hai cuộc điều chỉnh ở vào thời kỳ “tiền đổi mới” ấy có gì khác nhau không?

TS Trần Xuân Giá: Thực hiện các nghị quyết nói trên của Đảng, chúng ta đã tiến hành 2 cuộc điều chỉnh về giá – lương – tiền. Lần 1 vào năm 1980 – 1981 và lần 2 vào năm 1985. Hai cuộc điều chỉnh này gần như giống nhau về mục tiêu, nguyên tắc và cách làm. Chỉ khác là năm 1985 có phạm vi rộng hơn, quy mô lớn hơn, có đổi tiền, còn trước đó thì không.

PV: Có thể hình dung như thế nào về bối cảnh dẫn đến các cuộc điều chỉnh về giá – lương – tiền khi đó, thưa ông?

TS Trần Xuân Giá: Trước năm 1980, thị trường miền Bắc chỉ có chủ thể duy nhất đó là nhà nước. Nhà nước mua, nhà nước bán; lãi nhà nước thu, lỗ nhà nước bù. Do đó, giá cả không có ý nghĩa gì. Còn tiền lương thì một phần được trả bằng hiện vật, thông qua các mặt hàng thiết yếu (ban đầu có 45, sau còn 9, rồi 3 mặt hàng). Ở miền Nam, bên cạnh giá nhà nước thì thị trường tự do vẫn tiếp tục hoạt động mặc dù đã bị co hẹp nhiều khi chúng ta tiến hành cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa sau ngày thống nhất đất nước.

Bước sang năm 1980 ở ngoài nước có một sự kiện tác động rất mạnh đến nền kinh tế nước ta. Đó là khối SEV (Hội đồng tương trợ kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa) thay đổi nguyên tắc tính giá các mặt hàng mà chúng ta nhập khẩu. Nghĩa là từ việc chúng ta nhập khẩu với giá rất thấp nay phải chuyển sang giá mua bán thông thường trên thị trường với giá nhập khẩu cao hơn trước rất nhiều. Việc thay đổi này làm chúng ta mất khoảng 1 tỷ rúp chuyển nhượng mỗi năm (tương đương khoảng 1,6 đến 1,7 tỷ USD). Từ chỗ làm không đủ ăn, ngân sách thu không đủ chi, một phần phải vay cho tiêu dùng trong điều kiện giá nhập khẩu tăng lên tiếp tục là một sức ép cho một nền kinh tế vốn đang rất ốm yếu…

Lúc này trong nước đã xuất hiện hai loại thị trường với tên gọi: Thị trường có tổ chức và thị trường không có tổ chức. Trong hệ thống quản lý nhà nước cũng xuất hiện một yếu tố rất mới, đó là có thêm kế hoạch 2 (kế hoạch liên doanh liên kết) và kế hoạch 3 (kế hoạch làm ăn kiểu thị trường). Trước chỉ có kế hoạch 1 phần, nhà nước giao toàn bộ chỉ tiêu đầu vào cho sản xuất, đồng thời quyết định đầu ra của sản phẩm (bán cho ai, bán khi nào và bán theo giá nào). Trên thị trường hình thành 3 loại giá: Giá cứng của nhà nước, giá do nhà nước định một phần và giá do doanh nghiệp tự định theo nguyên tắc thỏa thuận (giá thỏa thuận). Ban đầu, 3 loại giá này chênh nhau không nhiều nhưng càng ngày chênh càng lớn, dẫn đến nhiều biểu hiện tiêu cực, khó kiểm soát như tuồn vật tư ra ngoài, vào trong rất phức tạp…

PV: Phương án của cuộc điều chỉnh giá – lương – tiền đã được đưa ra như thế nào?

TS Trần Xuân Giá: Việc điều chỉnh được thực hiện theo nguyên tắc: Trừ một số mặt hàng rất quan trọng, còn lại tính đủ chi phí hợp lý vào sản xuất; thực hiện cơ chế một giá trong toàn bộ hệ thống giá cả; đảm bảo tiền lương thực tế và xác lập quyền tự chủ về tài chính của các ngành và các cơ sở y tế. Phương án điều chỉnh được đưa ra là:

Về giá, để tiện cho tính toán, lấy giá thóc làm chuẩn, các mức giá của hàng hóa khác được quy ra theo giá thóc. Năm 1985, giá thóc được các chuyên gia tính toán trên thực tế bình quân là 25 đồng/kg (trước đổi tiền 14-9-1985). Các địa phương khác nhau thì mức giá thóc quy đổi này có thể cao hơn hoặc thấp hơn. Nhà nước ban hành mức giá mới của một số vật tư như xăng, dầu, xi măng, sắt…

Về lương, thực hiện nâng giá đến đâu thì tăng lương theo đó (bù giá vào lương theo cách nói lúc bấy giờ).

Về tiền, để đáp ứng giá mới, lương mới thì phải in thêm tiền, bảo đảm tổng tiền lưu thông trong cuộc điều chỉnh năm 1985 là 120 tỷ đồng. Nhưng vì không tự in được tiền và để in ít tiền mà vẫn có sức mua lớn, Chính phủ chủ trương đổi tiền. Một đồng mới sẽ đổi lấy 10 đồng hiện hành. Như thế, 12 tỷ đồng in mới và đem đổi sẽ tương đương 120 tỷ đồng hiện hành.

Như vậy, với việc điều chỉnh này trên thị trường đã hình thành mặt bằng giá mới, lương mới và tiền mới.

“Vỡ trận”, do đâu?

PV: Mong muốn của các nhà cải cách khi đó là khi nâng giá lên theo giá thị trường thì có thể cố định và quản lý theo cơ chế một giá đó nhưng cuối cùng đã thất bại. Giá cả tăng vọt, lạm phát phi mã. Tiền lương không còn ý nghĩa…

TS Trần Xuân Giá sinh năm 1939 tại Thừa Thiên – Huế. Năm 1980 khi đang là Chủ nhiệm Khoa Vật giá, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, ông được điều về làm Phó chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước. Ông đã qua các cương vị: Chủ nhiệm Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng, Ủy viên Trung ương Đảng (khóa VIII), Đại biểu Quốc hội (khóa X), Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (1996 – 2002), nguyên Trưởng ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ. Hiện nay, TS Trần Xuân Giá là Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Á Châu (ACB).

TS Trần Xuân Giá: Ban đầu kế hoạch tăng lương là 20% nhưng các bộ và tỉnh cho rằng mức đó là quá ít. Chính phủ chấp nhận tăng lương 100%. Trong khi đó, mức giá mới được Chính phủ quyết định đã rút xuống còn khoảng 70% so với kế hoạch ban đầu. Kết quả là chi ngân sách cho tiền lương tăng vọt nhưng thu ngân sách lại không tăng bao nhiêu do giá vật tư không tăng bằng mức như dự kiến. Để cứu ngân sách, tiền được phát hành hơn rất nhiều so với kế hoạch làm cho vật giá tăng mạnh (riêng với nông sản, năm 1986 tăng 2000% so với năm 1976) và lạm phát bùng nổ (đỉnh điểm năm 1986 lên đến 774%), làm kiệt quệ kinh tế. Tiền phát hành nhiều mà vẫn không đủ. Lương công nhân không có. Vật tư, hàng hóa khan hiếm. Chỉ số giá bán lẻ của thị trường xã hội năm 1986 tăng 587,2% so với năm 1985. Để điều chỉnh tình trạng suy thoái với những biện pháp giảm lượng hàng buôn qua ngả chợ đen đã dẫn đến việc “ngăn sông cấm chợ” và lùng bắt hàng “lậu”. Nhưng những biện pháp hành chính đó càng làm lệch lạc hệ thống giá cả…

PV: Nói như nhà nghiên cứu lịch sử kinh tế Đặng Phong thì cuộc điều chỉnh giá – lương – tiền đã bị “vỡ trận”. Theo ông, đâu là nguyên nhân chính của thất bại này?

TS Trần Xuân Giá: Chúng ta đề ra chủ trương thực hiện các cuộc điều chỉnh về giá – lương – tiền, đặc biệt là cuộc tổng điều chỉnh năm 1985 trong tình hình kinh tế đang biến động mạnh, song lại thiếu biện pháp đồng bộ và các giải pháp cụ thể, tiến hành thiếu chuẩn bị chu đáo, không phù hợp với tình hình thực tế nên khi triển khai nghị quyết vào cuộc sống đã phạm sai lầm nghiêm trọng. Mà nguyên nhân mấu chốt ở đây chính là chắp vá giữa tư tưởng cải cách với mô hình, cơ chế quản lý cũ đã lạc hậu… Nhưng thất bại này đã giúp Đảng ta có thêm những căn cứ, cơ sở quan trọng để đưa ra quyết định lịch sử tại Đại hội VI.

PV: Sau hơn 1/4 thế kỷ, câu chuyện giá – lương – tiền vẫn là đề tài nóng bỏng hôm nay. Tất nhiên bối cảnh và tình hình đất nước cũng như quốc tế đã khác trước nhiều.

TS Trần Xuân Giá: Tôi nghĩ cuộc điều chỉnh giá – lương – tiền không chỉ là câu chuyện của một thời mà nó vẫn thời sự trong giai đoạn hiện nay. Đặc biệt là những kinh nghiệm, bài học, có thể nói là “xương máu” trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của chúng ta nói chung, cũng như gần đây Đảng chủ trương tái cơ cấu nền kinh tế, xây dựng mô hình tăng trưởng mới nói riêng, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI và Hội nghị Trung ương 3 (khóa XI) vừa qua.

PV: Xin cảm ơn ông!

Trần Hoàng Tiến thực hiện
qdnd.vn

Vài hình ảnh kháng chiến chống Pháp do phía Pháp chụp

Bi-gia là đại úy quân đội Pháp, có mặt tại Việt Nam từ 1945, trải qua các trận chiến đấu ở Tây Bắc, ở Đồng Bằng rồi Điện Biên Phủ 1954; Bị bắt làm tù binh sau chiến thắng Điện Biên Phủ với quân hàm đại tá. Trở về Pháp làm việc trong quân đội Pháp, thăng cấp tướng, Bộ trưởng Quốc phòng. Hai vợ chồng Bi-gia, tháng 6-1994 đã trở lại thăm chiến trường Điện Biên Phủ.

Tháng 9-1945, quân Nhật giao nộp vũ khí cho quân đội Anh tại Sài Gòn.

Tháng 10-1945, quân Pháp tấn công Kim Long Tự (chùa Rồng Vàng, Mỹ Tho).

Tháng 3-1946, lính gác Pháp-Việt-Quốc dân Đảng tại Hải Phòng.

Ngày 8-3-1946, quân Pháp vào Hải Phòng.

Tháng 3-1946, lính gác Pháp-Việt-Tàu Tưởng tại Hải Phòng.

Lính Pháp chuẩn bị vượt qua một cây cầu vừa bị xe tăng của Bán Lữ đoàn số 2 phá hủy.

Lính Pháp chuẩn bị vượt qua một cây cầu vừa bị xe tăng của Bán Lữ đoàn số 2 phá hủy.

Một toán quân Tàu Tưởng trên Đường số 4 (ngày 18-12-1949).

Năm 1950, quân Pháp tấn công Thái Nguyên.

Dẫn giải tù binh Pháp, ngày 18-6-1954.

Từ sách ảnh “Cuộc chiến tranh Đông Dương của tôi” – Tác giả: Bi-gia, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Pháp.
qdnd.vn

Cuộc đời bình dân của con cháu Tôn Trung Sơn

QĐND – Báo điện tử Trung Quốc bbs.cri.cn, ngày 2-6-2009, đăng tải bài Con cháu Tôn Trung Sơn bước ra khỏi vòng hào quang vĩ nhân, lánh xa chính trị ồn ào, hòa mình vào cuộc sống bình dân đã đăng trên báo Trung Quốc Vĩ nhân tiền bối quốc tế (Quốc tế tiên khu đạo báo).

Tôn Trung Sơn (12-11-1866 / 12-3-1925).

Chúng tôi giới thiệu bài báo trên để bạn đọc tham khảo, hiểu biết thêm về gia tộc vĩ nhân Tôn Trung Sơn (1866-1925), một nhà cách mạng dân chủ vĩ đại, chẳng những được tôn vinh là “Người cha của đất nước” (quốc phụ) Trung Hoa, mà còn có ảnh hưởng lớn lao trên thế giới.

Tôn Huệ Phấn ra sức tuyên truyền tư tưởng Tôn Trung Sơn

Trong ánh hoàng hôn buông xuống phía tây, Tôn Huệ Phấn ngồi trên chiếc xe lăn cót két kêu nhè nhẹ, trong lòng ôm một tập văn của ông nội. 115 năm trước, ông nội của bà – Tôn Trung Sơn tiên sinh cũng ở tại đây sáng lập ra Hưng Trung Hội, với tôn chỉ “Đánh đuổi ngoại bang, khôi phục Trung Hoa”, sau đó ảnh hưởng lớn đến vận mệnh của Trung Quốc.

“Ngày nay, sự an nguy tồn vong của Trung Quốc, hoàn toàn là do quốc dân Trung Quốc chúng ta ngủ hay là thức”. Tôn Huệ Phấn gần tuổi thất tuần lắng nghe hết lần này đến lần khác băng ghi âm tiếng nói của ông nội năm xưa đang hùng hồn diễn giảng. Nước mắt đầm đìa trên đôi gò má của bà.

Tôn Huệ Phấn.

Nhân dịp kỷ niệm 80 năm từ trần của Tôn Trung Sơn (1925-2005), con cháu của ông tại khắp nơi trên thế giới kỷ niệm Tôn Trung Sơn bằng mọi phương thức. Là một Đại tổng thống lâm thời của Trung Hoa Dân Quốc, gia đình của Tôn Trung Sơn khi ấy thuộc về “Gia tộc số 1 Dân Quốc” (Dân Quốc đệ nhất gia). Thế mà, cuộc đời của con cháu ông thực ra không chói sáng như Tôn Trung Sơn tiên sinh, mà là bi hoan ly hợp, tràn đầy sắc thái huyền thoại.

Xa lánh chính trị ồn ào, hòa mình vào cuộc sống bình dân

Tôn Trung Sơn tiên sinh suốt đời trải qua ba lần hôn nhân, để lại người con trai độc nhất Tôn Khoa và hai người con gái Tôn Diên, Tôn Uyển, tất cả đều do bà Lư Mộ Trinh, người vợ thứ nhất sinh ra. Trưởng nữ Tôn Diên chết sớm, và không có con trai nối dõi. Con gái út Tôn Uyển lần lượt sinh ra 4 người con trai con gái. So sánh, cây đời của chi tộc trưởng nam Tôn Khoa là cành lá xum xuê nhất, tổng cộng sinh ra hai con trai, bốn con gái.

Con cháu của Tôn Trung Sơn thực ra không nổi trội trên vũ đài chính trị. Trong thế hệ thứ hai, chỉ có trưởng nam Tôn Khoa (1891-1973) dưới vòng hào quang của phụ thân đã từng đảm nhiệm những chức vụ trọng yếu trong Chính phủ Dân quốc: Phó chủ tịch Chính phủ Trung ương Quốc dân đảng; Người duy nhất trong lịch sử Trung Hoa Dân Quốc đã từng đảm nhiệm chức vụ Viện trưởng của 3 Viện (Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp), công nhiên đối kháng với Tưởng Giới Thạch. Cuối đời tại Đài Loan, ông vẫn đảm nhiệm các chức vụ “Tư vấn chính trị Phủ Tổng thống”, “Viện trưởng Viện Khảo thí”.

Hai người con trai của Tôn Khoa: Tôn Trị Bình đã từng ra làm Ủy viên Hội đồng Thi đua của Quốc dân đảng và Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Truyền hình Đài Loan; Tôn Trị Cường thì chỉ đảm nhiệm Thư ký “Cục Tín thác Trung ương” và Cố vấn Viện Bảo tàng Cố Cung (Đài Bắc). Đến thế hệ thứ tư, con trai của Tôn Trị Bình là Tôn Quốc Hùng, năm 2005 đã từng được mời ra làm “Cố vấn Quốc sách” cho người đứng đầu Đài Loan Trần Thủy Biển.

Đại đa số con cháu của Tôn Trung Sơn đều sống cuộc đời bình dân tại nước ngoài. Lâm Luân, cháu dâu của Tôn Trung Sơn đã từng giới thiệu rằng: “Tuy là con cháu của vĩ nhân, song chúng tôi không nghĩ đến chuyện đòi đặc quyền đặc lợi, thường ngày đều sống rất bình lặng. Tất cả bà con hàng xóm láng giềng ở nước ngoài cũng đều biết chúng tôi là con cháu của Tôn Trung Sơn, song mọi người sống một cuộc sống bình thường, nên đi làm thì đi làm, nên sinh hoạt thì đi sinh hoạt”.

Đoàn đại biểu thân tộc của nhà cách mạng vĩ đại Tôn Trung Sơn về thăm thành phố Trung Sơn nhân kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tân Hợi (1911-2011).

Bà Tôn Huệ Phấn, cháu gái của Tôn Trung Sơn thì rất không thích được gọi danh hiệu là “Cháu gái Tôn Trung Sơn”. Mấy năm trước, khi bà theo người nhà về Nam Kinh bái yết Lăng Tôn Trung Sơn, trông thấy du khách đứng chờ đón chào ở dưới chân núi, Tôn Huệ Phấn bèn nói: “Tôi không cần những đặc quyền như vậy!”.

Bà còn nói rằng: “Tôi chính là tôi. Tôi là con cháu của ai, thực ra không quan trọng lắm, điều quan trọng chính là bản thân tôi có năng lực gì”.

Sau đấy, Tôn Huệ Phấn ra làm Lãnh sự Thương vụ của Đại sứ quán Mỹ tại Trung Quốc. Bằng tài ngoại giao xuất sắc của mình, bà đã chứng minh: Mình không cần sống dưới vòng hào quang “con cháu danh gia vọng tộc”, cũng có thể sống một cuộc đời tươi đẹp.

“Tôn Trung Sơn không phải của một cá nhân tôi”

Tôn Trung Sơn suốt đời lưu ly ghềnh thác, con cháu của ông thì sống tản mát ở trong và ngoài nước, trong đó đại đa số định cư tại Mỹ. Thời gian thấm thoắt thoi đưa, con cháu của Tôn Trung Sơn ngày nay cũng ngẫu nhiên trở về Tổ quốc bái yết ông, có người còn quyên góp ủng hộ sự nghiệp giáo dục của Tổ quốc.

“Tôi không được tai nghe trực tiếp lời dạy bảo của ông nội, song tôi vô cùng kính yêu ngưỡng mộ ông tôi”. Bà Tôn Huệ Phấn nói như vậy khi trả lời phỏng vấn qua điện thoại vượt đại dương của báo “Vĩ nhân tiền bối quốc tế”.

Bà Tôn Huệ Phấn hiện nay đảm nhiệm Chủ tịch Quỹ Giáo dục Hòa bình Tôn Trung Sơn, Hội trưởng Hội Từ thiện Phụ nữ Trung Quốc tại Ha-oai (Hawaii).

Bà Tôn Huệ Phấn bị bệnh phong thấp nặng, phải ngồi trên xe lăn, nhưng vẫn không từ gian khổ đi theo vết chân ngày xưa của Tôn Trung Sơn tới khắp nơi trên thế giới như: Đại lục Trung Quốc, Đài Loan, Đông Nam Á và Âu Mỹ, v.v.. diễn giảng trên một nghìn cuộc, tích cực tuyên truyền phát huy tư tưởng của ông nội Tôn Trung Sơn. Hiện tại, bà Tôn Huệ Phấn truyền giao nhiệm vụ nặng nề tuyên truyền tư tưởng Tôn Trung Sơn cho con trai của bà là Vương Tổ Diệu, hy vọng tư tưởng Tôn Trung Sơn có thể truyền thừa mãi mãi.

Bà Tôn Huệ Phấn nói: “Suốt cuộc đời này của tôi, điều tôi cảm thấy hạnh phúc sung sướng nhất là có một người ông nội như thế. Nhưng, ông không phải là của một cá nhân tôi, mà ông thuộc về nhân dân toàn Trung Quốc. Tôi hy vọng tinh thần của ông nội có thể khích lệ những người trẻ tuổi ngày nay, không được buông lơi bất cứ mục tiêu nào”.

Vũ Phong Tạo
qdnd.vn

Vì sao tướng Mỹ Brinh “tự sát”

QĐND – Năm 1952, khi phe diều hâu ở Oa-sinh-tơn đang đẩy mạnh cuộc can thiệp quân sự vào Việt Nam, các báo Mỹ đột ngột đưa tin Trưởng phái bộ quân sự Mỹ ở Sài Gòn, tướng Brinh “tự sát” trong một tình huống không rõ ràng. Tướng Brinh có phải là nạn nhân của một âm mưu “diệt khẩu”, hay thậm chí là quân nhân Mỹ “phản chiến” đầu tiên, như dư luận đồn đoán? Năm 2012, tròn 60 năm sau sự kiện trên, liệu Nhà Trắng có giải mật nguyên nhân cái chết này?

Khi “Việt cộng” tiến công cư xá Brink đúng đêm Nô-en 1964, truyền thông phương Tây mới chợt nhớ về cái chết kỳ quặc của một tướng Mỹ xảy ra vào trước đó một giáp – thời kỳ Oa-sinh-tơn nhúng tay vào Đông Dương, để cấp cứu “ông bạn” Pháp đang “chìm tàu” ở đây. Đó là tướng Phrăng-xít Brinh (Francis Brink) (1893–1952).

Tướng Phrăng-xít Brinh (1893 – 1952). Nguồn: http://www.generals.dk

Trái với một truyền thống rùm beng về quân sử, các trang tư liệu, lưu trữ của Hoa Kỳ về một người hùng trận mạc như tướng Brinh có vẻ sơ sài. Chỉ thấy nói ông ta tốt nghiệp trường quân sự có tiếng Coóc-neo (Cornell), từng nổi danh trong các cuộc chiến thuộc nửa đầu thế kỷ XX của Mỹ. Brinh đã từng giảng về chiến thuật quân sự ở Đại học quốc gia Lu-i-di-a-na (Louisiana) 1928-1934, nơi ông cũng làm huấn luyện viên quyền anh.

Cuối thế chiến II, Brinh được vinh thăng chuẩn tướng trên cương vị Trưởng phòng Tác chiến của Bộ chỉ huy chiến trường Đông Nam Á. Nơi đây đã xảy ra các chiến dịch của quân Mỹ tại Miến Điện (Burma, nay là Mi-an-ma) với các xung đột chống quân Nhật ở Thái Lan và Ma-lai-xi-a.

Chọn mặt gửi vàng

Nhân những cơn lốc chiến tranh lạnh, Oa-sinh-tơn ra mặt bênh vực quyền lợi thực dân của Pháp ở Đông Dương, những quan tâm nửa vời về độc lập cho các dân tộc thuộc địa ở đây của Tổng thống Ru-giơ-ven ở Cai-rô và Tê-hê-ran (1943) đã chìm vào sương mờ quá khứ. Viện trợ Mỹ cho Pháp bắt đầu bằng 10 triệu đô-la năm 1950 và vọt lên trên 1 tỷ đô-la năm 1954, chiếm tới 78% chiến phí của Pháp ở Đông Dương.

Hiện thực hóa một ý đồ của kế hoạch Rơ-ve (Revers) (1949) là ngụy tạo “chủ quyền” cho các chính quyền bù nhìn, tại Sài Gòn ngày 23-9-1950, đã rùm beng lễ ký các Hiệp định quân sự giữa Mỹ với Pháp và các “chính phủ thuộc khối Liên hiệp Pháp” ở Đông Dương. Theo quân sử Mỹ, từ đây đã thiết lập được nền móng cho viện trợ quân sự và kinh tế của Mỹ đổ vào Đông Dương. Cơ chế hành chính của nó là Phái bộ hiệp trợ và cố vấn quân sự Mỹ (viết tắt là MAAG). MAAG do tướng Brinh cầm đầu từ 10-10-1950, với chức trách là quản trị chương trình viện trợ Mỹ cho Đông Dương, và bảo đảm hậu cần cho “quân đội thuộc Khối liên hiệp Pháp”. Huấn luyện cho “quân đội Việt Nam” (ngụy) vẫn do Pháp thực hiện.[1]

Nửa chừng xuân…

Học giả hôm nay không được ưu ái về tư liệu lưu trữ về vụ tướng Brinh “tự tử” xảy ra vào sáng 24-6-1952 ngay tại Lầu Năm Góc. Tin này hầu như được đưa một lần với nội dung gần như nhau cùng ngày 25-6-1952, trên hầu hết các báo địa phương, không mấy tên tuổi.

Cụ thể, báo Ban Ngày (The Day) ra 25-6-1952 tiết lộ rằng, bạn bè của tướng Brinh nói nguyên nhân là do ông ta “đã vô cùng thất vọng với tình hình ở Đông Dương, nhưng lại không biết làm gì (để cải thiện)” (“…Brink had been badly depressed but that the Indochina situation had nothing to do with it”); rằng khẩu súng ngắn Brinh dùng tự sát “cỡ nhỏ”, nên nhà đương cục cho rằng ông ta vẫn đủ sức chịu đựng để tự thực hiện tới ba phát bắn, đến khi chết hẳn[2]. Báo Trạng sư vùng Victoria (Victoria Advocate), bang Tếch-xát (Texas), nói thêm Tổng tham mưu trưởng quân đội Mỹ, tướng Lao-tơn Côn-lin (Lawton Colins) gần như là chứng nhân của vụ này vì phòng làm việc của Brinh nằm cùng tầng với phòng của Côn-lin. Ca ngợi Brinh là một quân nhân tận tụy, tướng Côn-lin dường như cho rằng viên thủ trưởng MAAG tuẫn tiết vì đã “kiệt sức khi cáng đáng đặc nhiệm này”[3].

Tướng Brinh vừa mới từ Sài Gòn về Oa-sinh-tơn dự một hội nghị quân sự liên quan đến tình hình quân sự phía Đông (gồm cả chiến trường Đông Dương). Các báo cho hay, nhân viên điều tra các vụ đột tử (coroner) của khu vực, ông Ma-grút-đơ Mác Đô-nan (A.Magruder McDonald) nói rằng, có thể tướng Brinh tự sát thật, nhưng ông chưa đưa ra kết luận chính thức cho đến khi kết thúc điều tra.

Những phát súng trong sương mù

Việc tìm kiếm các kết luận pháp lý chính thức về cái chết của tướng Brinh bằng truy cập qua lưu trữ truyền thông Mỹ không có kết quả. Một trang điện tử điều tra về các vụ việc tiêu cực trong quân đội Mỹ[4] cũng khẳng định, rằng gần 6 thập kỷ đã qua, nhưng “vụ tướng Brinh” vẫn thuộc khái niệm sương mù chiến tranh.

Sách “Nhận thức chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam: Truyền thuyết, bóng tối, người hùng”, Nxb Christopher Pub House (1998).

Militarycoruption.com đưa ra một loạt những câu hỏi nhưng tờ báo điện tử chuyên về các vụ bê bối trong quân đội Mỹ này chưa hề được câu trả lời. Thứ nhất, tới nay không có nguồn nào nói rõ có dấu ngón tay của tướng Brinh trên cò khẩu súng được xem là đã được ông ta dùng để tự sát hay không? Thứ hai, “chẳng ai dám to giọng hỏi xem tại sao một quân nhân làm đến cấp tướng lại cố bắn được tới ba phát đạn súng lục cỡ nhỏ vào ngực mình”, trong khi ai cũng biết chỉ cần một viên đạn súng Colt tự động 45 bắn vào hàm dưới đem lại hiệu quả cao hơn, Militarycoruption.com chia sẻ sự thắc mắc đó.

Cuối cùng, không có một hồ sơ nào về cái chết của tướng Brinh được lưu tại quê nhà ông. Văn phòng Các vụ đột tử cho hay, toàn bộ giấy tờ của vụ này đã được chuyển về Bộ Quốc phòng. Để rồi năm 1973 (năm Nhà Trắng buộc phải ký Hiệp định Pa-ri), toàn bộ các hồ sơ bệnh sử và cả biên bản điều tra vụ chết bất thường theo luật định (coroner) đã bị hủy hoại trong một hỏa hoạn tại Trung tâm Lưu trữ quân sự tại Xanh Lu-i (St. Louis), bang Mi-du-ri (Missouri), theo sách “Nhận thức chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam: Truyền thuyết, Góc khuất, và người hùng” (Vietnam Military Lore: Legends, Shadows & Heroes) của tác giả Rây Bao-dơ (Ray Bows).

Tướng Brinh đã không hề để lại thư tuyệt mệnh. Ngay trước khi xảy ra vụ tự sát, viên tướng này còn gọi điện cho Lây-la-ni (Leilani) con gái mình, báo ông sắp tới thăm gia đình cô. Phu nhân tướng Brinh lúc đó vẫn ở Sài Gòn. Lây-la-ni nói chưa bao giờ thấy cha mình đeo súng phòng thân hay vũ khí cá nhân. Bà cũng cho biết, ban đầu gia đình đã được quân đội Mỹ cho hay tướng Brinh “đã tự bắn xuyên qua miệng”, rằng quân đội Mỹ sau đó đã không thể đưa ra một tường thuật mạch lạc vụ việc này. Các thành viên khác của gia đình cũng cho biết đã cố tìm hiểu nguyên nhân cái chết đầy bí hiểm (mystery) của tướng Brinh, nhưng vô vọng. Cháu của viên tướng này nói với tác giả Rây Bao-dơ rằng trong lễ tang “Ở Oa-sinh-tơn, không ai muốn nói gì về chuyện này (vì sao tướng Brinh tự sát)”.

60 năm mồ yên mả lặng?

Nay nhìn lại, tờ báo điện tử Militarycoruption.com cho rằng tướng Brinh chẳng có cớ gì đến nước phải tự vẫn. Cho dù ai đó loan trên truyền thông thời 1952, rằng viên tướng này chán đời do bệnh tật, nên đã tự bắn 3 viên đạn vào người ngay trên bàn làm việc. “Vụ này kết luận rồi, hãy tiến về phía trước” người ta khuyên. Tờ Militarycoruption.com không hiểu vì sao viên tướng này lại giấu vợ con chuyện mình bị “trọng bệnh”, và nếu ai bị bệnh như tiểu đường, xơ cứng động mạch cũng tự sát thì thế giới này đã đầy xác chết…

Con một người bạn của tướng Brinh kể lại: “Trong lần cuối cùng từ Đông Dương về tới thăm cha tôi, Phrăng-xít Brinh bảo cha tôi rằng tình hình Việt Nam rất đáng lo ngại, và quan điểm của ông ta không được ưa chuộng… Ông ta cảm thấy cuộc sống của mình có thể bị đe dọa, do biết quá nhiều”.

Rây Bao-dơ viết: “Tướng Brinh là một quân nhân đúng nghĩa, ông ta hiểu rõ sự khác biệt giữa các quân lệnh hợp luật và không hợp luật… chắc là ông ta đã khăng khăng đưa các vụ việc, như buôn lậu thuốc phiện (dùng máy bay quân sự) và vũ khí Mỹ (mà người Pháp làm ở Đông Dương) ra Quốc hội Mỹ và Nhà Trắng”. “Bảo vệ” Pháp lúc đó đồng nghĩa với thực hiện học thuyết Truman – “chống sự xâm lược trực tiếp và gián tiếp của cộng sản”.

Brinh chết, tướng Tô-mát Tráp-neo (Thomas Trapnell) sang nhậm chức đứng đầu MAAG, cổ động cho quan điểm tăng cường sự có mặt của Mỹ ở Đông Dương. Tiếp sau là những gì, thì cả thế giới đều biết.

Militarycoruption.com nói rõ hơn, cho rằng nếu tướng Brinh kịp tiết lộ những điều ông biết ra công luận Mỹ, “hẳn là cuộc thảm sát dài hạn dành cho nước Mỹ ở Việt Nam đã được ngăn chặn”.

Ai đó sẽ bảo rằng vẫn chỉ là những giả thuyết mà thôi. Nhưng công luận Mỹ vẫn tự hỏi[5] vì sao lại có những nỗ lực bất thường đến thế để gia cố những bức tường yên lặng đáng sợ bao quanh nấm mồ của tướng Brinh trong suốt sáu thập kỷ?

Lê Đỗ Huy (tổng hợp)
qdnd.vn

[1] http://www.history.army.mil/books/Vietnam/Comm-Control/ch01.htm

[2]http://news.google.com/newspapers?nid=1915&dat=19520625&id=gewgAAAAIBAJ&sjid=PHIFAAAAIBAJ&pg=5135,3936073

[3]http://news.google.com/newspapers?nid=861&dat=19520625&id=NSocAAAAIBAJ&sjid=yVoEAAAAIBAJ&pg=6678,6459970

[4]http://www.militarycorruption.com/brink.htm

[5]http://www.militarycorruption.com/brink.htm

Các nước đế quốc chủ nghĩa và Trung Quốc (24-9-1924) ‘1’

Những sự biến ở Trung Quốc có hai mặt: sự xung đột giữa các tướng lĩnh Trung Quốc và sự can thiệp của các cường quốc bên ngoài. Chính mặt sau này làm cho chúng ta quan tâm hơn cả, vì nó quyết định cuộc chiến tranh nồi da nấu thịt có thể đưa lại những hậu quả nghiêm trọng nhất.

Hãy thử tóm tắt lịch trình những cuộc can thiệp của nước ngoài trong quá khứ để tìm ra nguyên nhân thực tế, lý do chính của sự can thiệp hiện tại.

Một số ngày tháng

1635, vua Anh gửi thư yêu cầu cho phép buôn bán ở Trung Quốc.

1830, đại sứ Anh yêu cầu cho phép nhập khẩu thuốc phiện vào Trung Quốc. Yêu cầu bị Trung Quốc bác bỏ.

1836, người Anh nhập khẩu 20.280 hòm thuốc phiện lậu vào Trung Quốc.

1839, nước Anh tuyên chiến với Trung Quốc để bắt buộc nước này phải nhận thuốc phiện.

1841, Hương Cảng bị chiếm đoạt, Trung Quốc phải bồi thường 21.000.000 đồng đôla chiến phí, trong đó 6.000.000 đồng là đền vào giá trị số thuốc phiện bị phá huỷ.

1856, nước Anh gây ra một cuộc chiến tranh mới để buộc Trung Quốc phải hợp pháp hoá việc bán thuốc phiện và mở cửa biển cho nước ngoài vào buôn bán.

1860, quân đội Anh – Pháp chiếm Bắc Kinh. Nhượng bộ: Anh – Pháp được chiếm đóng đảo Víchtôria. Bồi thường: 800 triệu lượng (1) cho Pháp và 10 triệu bảng cho Anh.

1874, Nhật Bản tấn công Trung Quốc. Nhượng bộ: bãi bỏ chủ quyền của Trung Quốc ở Đài Loan, và đảo này thành thuộc địa của Nhật. Bồi thường: 50 triệu lượng.

1876, chiến tranh với Nga. Nhượng bộ: lãnh thổ bị chiếm đóng. Bồi thường: 900 triệu rúp.

1878, lại xung đột với Anh. Nhượng bộ: thừa nhận trị ngoại pháp quyền. Bồi thường: 20 triệu lượng.

1885, Pháp tấn công. Nhượng bộ: bãi bỏ chủ quyền Trung Quốc ở An Nam , nước này bị Pháp chiếm làm thuộc địa.

1895, Nhật tấn công. Nhượng bộ: Trung Quốc hết chủ quyền ở Triều Tiên. Nước này bị Nhật chiếm làm thuộc địa. Bồi thường: 20 triệu lượng.

1895, Nga, Pháp và Đức cùng tấn công. Nhượng bộ: thừa nhận quyền xây dựng đường sắt. Bồi thường: 3 tỷ lượng.

1897, Đức xâm lược. Kiều Châu bị chiếm đóng, phải thừa nhận quyền khai thác hầm mỏ.

1897, Nga xâm lược. Cửa Lữ Thuận bị chiếm.

1897, Anh xâm lược. Hải Xâm Uy bị chiếm đóng.

1898, Pháp xâm lược. Thừa nhận quyền thiết lập đường điện tín ở Hoa Nam.

1900, Can thiệp vũ trang của Anh, Nga, Đức, Pháp, Mỹ, ý, áo và Nhật (Cuộc khởi nghĩa của Nghĩa hoà đoàn (52) ). Quân

đội nước ngoài đóng ở Bắc Kinh và ở các cửa biển quan trọng. Bồi thường: 450 triệu lượng.

Từ khi nổ ra cuộc chiến tranh thế giới, bọn đế quốc chủ nghĩa thay thế việc ǎn cướp công khai và vũ trang bằng việc ǎn cướp che đậy và ngoại giao. Chúng thông qua những cuộc hội nghị, lặng lẽ cướp bóc Trung Quốc đang ở trong tình trạng chia rẽ và bị bó tay trước bọn chúng.

1919, Hiệp ước Vécxây chuyển giao tất cả những tô giới của Đức ở Trung Quốc cho Nhật, mặc dầu chính Trung Quốc cũng là một nước đồng minh.

1922, Hội nghị Oasinhtơn thông qua việc các nước Anh, Pháp, Mỹ và Nhật nắm lấy các khoản thu nhập ở Trung Quốc và nắm các độc quyền về rượu, muối, v.v..

1923, Thông điệp của các đại sứ đòi cho Pháp, Anh, Mỹ, Nhật, và Bỉ quyền quản lý các đường sắt Trung Quốc. Tháng 9 nǎm 1924, hạm đội của các cường quốc nói trên thao diễn trước Quảng Châu.

TìNH HìNH TRUNG QUốC

Chúng ta đã thấy rằng, dưới nhiều lý do khác nhau và bằng nhiều thủ đoạn khác nhau, các nước tư bản chủ nghĩa can thiệp vào Trung Quốc trước sau cũng vẫn chỉ nhằm đi tới một kết quả là bắt nhượng đất và lấy tiền bồi thường.

Bây giờ hãy nhìn qua tình hình kinh tế và tài chính của cái nước lớn ấy, nước có một nền vǎn minh lâu đời và hiện đang là đối tượng dòm ngó của bọn chúng.

Từ nǎm 1895, Trung Quốc đã ký kết 16 hiệp ước vay mượn, mà tổng số lên đến:

902.000.000 phrǎng,

61.500.000 bảng Anh,

64.368.000 đôla,

115.000.000 yên,

1.763.000 cuaron Hà Lan.

Thuế quan, thuế chợ, tiền thu về đường sắt, lợi tức về công nghiệp, thuế rượu và thuế thuốc lá, tiền thu về bưu điện và ngân khố quốc gia, thuế muối, v.v. đều phải đem ra bảo đảm cho cái khoản vay mượn ấy.

Nhìn vào bản đồ Trung Quốc, ta thấy rằng hầu hết các hải cảng quan trọng, hầu hết các vị trí chiến lược, hầu hết các trung tâm sản xuất hiện đại đều bị nước ngoài chiếm đóng. Song bản đồ vẫn chưa nói được hết. Bản đồ vẫn chưa chỉ rõ được ảnh hưởng của tư bản nước ngoài lan rộng tới đâu, cũng chưa chỉ rõ được tầm đại bác của bọn đánh thuê của nước ngoài có thể bắn tới tận đâu.

Việc biến Trung Quốc Thành thuộc địa

Mặc dầu Trung Quốc rất suy nhược, mặc dầu nội bộ Trung Quốc bị chia rẽ, nhưng dẫu sao con số 11.139.000 km (2) của nó cũng vẫn là một miếng mồi quá to mà cái mõm của chủ nghĩa đế quốc thực dân không thể nuốt trôi ngay một cái được. Và không thể trong một ngày mà đẩy một cách tàn bạo 489.500.000 người Trung Quốc vào xiềng xích của chế độ nô lệ thuộc địa. Cho nên người ta cắt vụn Trung Quốc ra: cách này chậm hơn nhưng khôn hơn.

Một nguyên nhân khác làm chậm việc biến Trung Quốc thành một thuộc địa có tính chất quốc tế là sự tranh giành giữa các nước đế quốc chủ nghĩa.

Nước Pháp đã chiếm được Đông Dương, muốn xâm lược miền Nam Trung Quốc. Việc xây dựng tốn kém con đường sắt Bắc Kỳ – Vân Nam phủ là một bằng chứng về điều đó.

Nước Anh hiện chiếm được Hương Cảng, ít nhất lúc này cũng tạm vui lòng với lối nô dịch kinh tế, nó đã kiểm soát được hầu hết tất cả các nguồn sản xuất; vậy thì ích gì mà phải lúng túng về việc đóng quân trên một lãnh thổ vô cùng rộng lớn nữa? Nhưng không đời nào Anh lại chịu để cho Pháp trở thành một cường quốc thực dân thật sự ở châu á. Và bởi vì ấn Độ đã thức tỉnh đang bắt đầu gạt bỏ ách áp bức kinh tế của nước Anh, cho nên bọn hám lợi nước Anh phải tìm cách vớt bù lại ở Trung Quốc. Nước Nhật quá đông dân vẫn lǎm le chiếm lấy vài tỉnh của Trung Quốc, nhưng khi nào Mỹ lại chịu để như thế, vì nó sẽ là một mối nguy cho Mỹ. Đối với Mỹ, Trung Quốc là một thị trường và có thể là một đồng minh trong một cuộc xung đột với Nhật Bản.

Ý nghĩa của một cuộc can thiệp hiện nay

Trong một cuộc can thiệp hiện nay, bọn đế quốc nhằm hai mục đích. Trước hết, giành thêm những nhượng bộ mới, sau nữa – và tôi cho rằng đây là điều chủ yếu – lật đổ Tôn Dật Tiên. Chúng ta biết rằng các chính phủ lên thay nhau ở Bắc Kinh luôn luôn vẫn thực hiện có một chính sách là: bên trong thì chính sách hủ bại, bên ngoài thì khuất phục trước bọn đế quốc chủ nghĩa nước ngoài.

Trái lại, Tôn Dật Tiên, “người cha của cách mạng Trung Quốc”, người đứng đầu chính phủ Quảng Châu, thì luôn luôn trung thành với những nguyên lý của mình, ngay cả trong những lúc khó khǎn nhất. Cương lĩnh của đảng ông – Quốc dân đảng – là một cương lĩnh cải cách. Cương lĩnh đó gồm những điều khoản chống đế quốc và chống quân phiệt một cách rõ rệt. Đảng đó lớn tiếng tuyên bố đoàn kết với các dân tộc bị áp bức ở các nước thuộc địa và với giai cấp vô sản quốc tế. Đảng đó đồng tình với Cách mạng Nga: Thật là một tội lỗi không thể tha thứ được! Chủ nghĩa đế quốc Pháp, kẻ áp bức nhân dân Đông Dương, đang lo ngại về ông bạn láng giềng khó chịu ấy, vì những tư tưởng phá hoại của ông láng giềng cũng có thể xuyên qua biên giới và thâm nhập vào những người nô lệ An Nam của họ. Trung Quốc có biên giới chung với ấn Độ và Triều Tiên. Một nước Trung Hoa thống nhất, tự do và hùng mạnh sẽ là màn giáo đầu của một nước Triều Tiên độc lập và một nước ấn Độ giải phóng. Đế quốc Anh và đế quốc Nhật không thể không lo ngại về điều đó. Nguy cơ tuy còn xa, nhưng suy theo tính chất rộng lớn ấy, thì cũng đã là một mối nguy cơ thực tế rồi.

Chính vì thế mà ngày nay người ta đang tìm cách thanh toán Tôn Dật Tiên và đảng của ông, cũng như trước đây người ta đã tìm cách bóp chết nước Nga cách mạng vậy.

Những khả năng của một cuộc can thiệp vũ trang

Các cường quốc đế quốc chủ nghĩa theo nhau gửi tối hậu thư. Người ta huy động các hạm đội trên mặt biển Trung Quốc. Người ta tập trung tàu chiến vào cửa bể Thượng Hải và cửa sông Dương Tử. Có lẽ sẽ có một cuộc can thiệp trực tiếp chǎng? Điều đó không chắc chắn lắm. Trong cái âm mưu mới chống lại nhân dân Trung Quốc này, Anh nắm vai trò lãnh đạo. Mácđônan sẽ không dám liều lĩnh tiến hành một cuộc can thiệp ra mặt. Ông ta đành chỉ sẽ ra sức giúp cho những kẻ thù của Tôn Dật Tiên, và cái sách lược cổ truyền của chính sách nước Anh lại được tiếp tục thực hiện chờ đợi tình trạng đục nước béo cò.

Những hậu quả của việc can thiệp

Chủ nghĩa tư bản quốc tế đang điên cuồng tích luỹ. Kế hoạch của các nhà chuyên môn đang tổ chức việc nô dịch công nhân nước Đức. Ngoại giao đầy tính chất can thiệp – ngoại giao của các tuần dương hạm, như Tôn Dật Tiên nói – đang chuẩn bị nô dịch những người lao động da vàng. Việc nô dịch hoàn toàn giai cấp vô sản Đức chắc chắn sẽ dẫn tới việc nô dịch giai cấp vô sản châu Mỹ và châu Âu. Kế hoạch Đaoxơ (53) là một sự tấn công trực tiếp vào giai cấp công nhân. Việc biến Trung Quốc thành thuộc địa sẽ khiến cho chủ nghĩa tư bản kiếm được nhân công hết sức rẻ mạt, sẽ hạ thấp tiền lương ở châu Âu và châu Mỹ, sẽ củng cố thế lực tư bản. Việc can thiệp vào Trung Quốc là một cuộc tấn công trực tiếp vào giai cấp công nhân.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 67, ngày 24-9-1924.
cpv.org.vn

——————————

1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : “Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ”. Nguyễn ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên. Tr. 1.

2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp. Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đăng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước

53) Kế hoạch Đaoxơ: Kế hoạch bắt nước Đức bồi thường chiến tranh cho các nước Đồng minh thắng trận trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Kế hoạch này do Đaoxơ, giám đốc một ngân hàng lớn của Mỹ, lãnh đạo việc soạn thảo và được thông qua tại Hội nghị đại biểu các nước thắng trận họp ở Luân Đôn năm 1924. Mục đích chủ yếu của kế hoạch này là dọn đường cho tư bản nước ngoài, trước hết là Mỹ, đầu tư vào nước Đức, đẩy mạnh việc khôi phục tiềm lực công nghiệp quân sự của chủ nghĩa đế quốc Đức nhằm hướng nước Đức vào con đường chiến tranh chống Liên Xô, đồng thời tăng cường chính sách bóc lột, áp bức và đàn áp phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân nước Đức.

Dự luật đi ngược lại lợi ích của Việt Nam – Hoa Kỳ

QĐND – Dựa trên thể chế “Tam quyền phân lập”, nhánh Lập pháp – Hạ viện và Thượng viện Hoa Kỳ thường ra các đạo luật nhằm hạn chế quyền của nhánh Hành pháp. “Dự luật nhân quyền Việt Nam 2012, H.R. 1410”, được Hạ viện thông qua chiều 11-9-2012, nhằm đưa ra hạn chế đối với chính phủ Hoa Kỳ dựa trên những quy định về nhân quyền trong quan hệ với Việt Nam.

Dự luật này không cho phép Chính phủ Mỹ được viện trợ trên các lĩnh vực khác – “không có mục đích nhân đạo” cho Việt Nam, “nếu Tổng thống Mỹ không xác nhận được với Quốc hội Mỹ rằng Việt Nam đã cải thiện đáng kể trong lĩnh vực nhân quyền…”. Đồng thời Dự luật còn đòi hỏi “Việt Nam phải đưa ra được những tiến bộ vượt bậc trong việc cải thiện luật pháp để ngăn chặn việc hình sự hóa các hoạt động dân chủ”. Mặt khác Ngoại trưởng Mỹ sẽ phải định kỳ báo cáo lên Hạ viện về “tiến trình cải thiện nhân quyền ở Việt Nam” v.v và v.v…

Theo Hiến pháp Hoa Kỳ, Dự luật này phải trải qua các thủ tục cơ bản sau: Sau khi “Dự luật” được Hạ viện thông qua, Văn kiện này còn phải được được đệ trình lên Thượng viện. Nếu được Thượng viện thông qua thì bước tiếp theo phải được Tổng thống phê chuẩn Dự luật mới có hiệu lực pháp lý.

Còn nhớ ngày 8-2-2012, Tiểu ban về châu Phi, Y tế toàn cầu và Nhân quyền của Hạ viện Mỹ đã thông qua cái gọi là “Dự luật Nhân quyền Việt Nam năm 2012” (The Vietnam Human Rights Act of 2012) do ông Crít Xmít (Chris Smith), nghị sĩ Đảng Cộng hòa, tiểu bang Niu Giơ-xi, Chủ tịch tiểu Ban bảo trợ. Trước đó vào ngày 25-1-2012, ông Crít Xmít đã có buổi điều trần về Dự luật này. Tại buổi điều trần, “nhân chứng” Vũ Phương Anh, được giới thiệu là “nạn nhân” buôn người, với chứng cứ là Phương Anh “bị (Chính phủ Việt Nam) đưa đến một công xưởng ở Gioóc-đa-ni – nơi mà theo bà ta nói, phải làm việc cả ngày lẫn đêm với tiền công ít ỏi”(!).

Trong buổi điều trần, ông Crít Xmít còn nói “Chính quyền Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục vi phạm tệ hại nhân quyền. Lời khai mà người ta nghe được đã xác nhận rằng, việc truy bức tôn giáo, chính trị và sắc tộc tiếp diễn và trong nhiều trường hợp còn tăng nhiều thêm, và rằng nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam tiếp tục đón nhận những kẻ chuyên buôn người lao động cưỡng bức và mại dâm cưỡng bức”. Rồi ông ta răn đe: “Cần phải cho thấy, Hoa Kỳ gửi một thông điệp minh bạch tới chế độ Việt Nam rằng, họ phải ngừng vi phạm nhân quyền của các công dân của họ”(!).

Trên đây là nội dung, cái cớ, chỗ dựa của cái gọi là “Dự luật nhân quyền 2012, số hiệu H.R.1410″ mà Hạ viện Hoa Kỳ mới thông qua. Có thể nói đây là một quyết định thiếu sáng suốt, hơn nữa còn đi ngược lại lợi ích của Việt Nam – Hoa Kỳ.

Trước hết, Dự luật này đã đi ngược lại nguyên tắc tôn trọng quyền dân tộc tự quyết trong quan hệ quốc tế đương đại. Điều này đã được Hiến chương Liên hợp quốc ghi nhận. Hơn nữa tại Điều I của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (năm 1966), đã quy định rõ: “Các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị…” của mình. Việc xây dựng và thực thi Hiến pháp, pháp luật như thế nào là quyền của mỗi quốc gia – dân tộc, mà không có bất cứ quốc gia nào, một lực lượng chính trị nào có quyền áp đặt, kể cả Liên hợp quốc.

Nhân đây phải nói thêm rằng, ở Việt Nam hoàn toàn không có tội danh về tôn giáo cũng như tội danh về bất đồng chính kiến, chỉ có các tội danh về lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng, tội danh về lợi dụng quyền tự do ngôn luận, báo chí để chống lại Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Nói cách khác ở Việt Nam không có ai bị tù vì lý do theo tôn giáo này hay tôn giáo khác, hoặc vì thực hiện các quyền tự do ngôn luận, báo chí không trái với các quy định của pháp luật.

Trở lại với Dự luật nói trên, chỉ căn cứ vào lời khai “mà người ta nghe được” để khẳng định rằng ở Việt Nam đã xảy ra tình trạng “truy bức tôn giáo”, “chính trị và sắc tộc” thậm chí là còn là thủ phạm của việc “buôn người lao động cưỡng bức và mại dâm cưỡng bức”… để đánh giá về tình hình nhân quyền của một quốc gia… là một nhận xét hồ đồ, là những định kiến lỗi thời của một cá nhân nào đó. Thế nhưng, đáng tiếc với sự dẫn dắt của ông Crít Xmít, Hạ viện Hoa Kỳ dường như đã xác nhận những điều trên.

Thứ hai, trong quan hệ giữa Việt Nam – Hoa Kỳ, Dự luật này đang đi ngược lại lợi ích của cả hai quốc gia. Như các phương tiện truyền thông đã đăng tải, ngày 10-11-2011, tại Hội nghị cấp cao Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) lần thứ 19, tổ chức tại Ha-oai (Mỹ), Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Trương Tấn Sang đã có cuộc trao đổi với Ngoại trưởng Mỹ H. Clin-tơn (H. Clinton). Tại cuộc trao đổi trên, bà Ngoại trưởng nói rằng: “Mỹ tiếp tục coi trọng và mong muốn thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác nhiều mặt với Việt Nam, trong đó có việc nâng tầm quan hệ, hướng tới đối tác chiến lược”. Chủ tịch Trương Tấn Sang cũng khẳng định “Việt Nam luôn coi trọng quan hệ với Mỹ như một đối tác hàng đầu có ý nghĩa chiến lược”.

Gần đây, Oa-sinh-tơn triển khai mạnh mẽ chiến lược châu Á – Thái Bình Dương. Điều đó có nghĩa việc tìm kiếm, phát triển các quan hệ thân thiện với các quốc gia trong khu vực, trong đó có Việt Nam, đồng thời giảm thiểu những mâu thuẫn, khác biệt giữa Hoa Kỳ với các quốc gia trong khu vực về chính trị nói chung, về nhân quyền nói riêng là lợi ích của các bên và của chính Hoa Kỳ. Dự luật nhân quyền 2012, H.R.1410 đang đi ngược lại những yêu cầu đó.

Như vậy, có thể nói “Dự luật Nhân quyền Việt Nam năm 2012- H.R. 1410” đã không vì lợi ích của hai quốc gia, không đóng góp gì cho sự phát triển quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, trái lại đó là vật cản trở, phá hoại sự phát triển quan hệ giữa hai quốc gia, hơn nữa nó đi ngược lại những nỗ lực của Hoa Kỳ trong xây dựng lòng tin với các nước tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Phương Nhi
qdnd.vn

Cuộc tiến công lúc giao thừa

Huế 1968

QĐND – Năm 2004, NXB Schiffer Publishing phát hành cuốn Cửa vào Hoàng cung: Cuộc giải vây Huế Tết 1968 (Palace Gate: Under Siege in Hue City: TET January 1968)[1] của Trung tá phi công hồi hưu Ri-sớc Brao (Richard Brown). Người lái máy bay trinh sát Mỹ này đã chứng kiến những khoảnh khắc hệ trọng, khởi đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, tạo nên bước ngoặt cho cuộc kháng chiến chống Mỹ tại địa bàn quan trọng thứ hai trên toàn miền Nam: Thành phố Huế.

Tiệc và pháo hoa ngày Tết

Các dịp Lễ tạ ơn, Thiên chúa giáng sinh và Tết Dương lịch ở Huế không có gì khác so với những ngày thường, chỉ có thực đơn nhà ăn sĩ quan là thay đổi. Vào kỳ Giáng sinh 1967, có thấy nói ngừng bắn, nhưng chúng tôi vẫn phải bay tất cả các phi vụ như ngày thường.

Bìa cuốn sách “Cửa vào Hoàng cung: Cuộc giải vây Huế Tết 1968”.

Tiệc tùng ngày Tết đều là các đại tiệc. Tôi đi dự hai trong số đó, trong đó có một đại tiệc do tướng Ngô Quang Trưởng làm chủ tiệc. Một ban nhạc dân tộc Việt mặc áo thụng đỏ và vàng công diễn cạnh một biệt thự của Pháp bên bờ sông Hương, gửi những giai điệu qua tất cả các cửa sổ nào mở. Hầu hết các nhạc công đều đã cao tuổi, khoảng từ 60 đến 70. Nhiều người trong họ để râu dài đến gần thắt lưng. Có lẽ họ đã từng chơi nhạc cho vua nhà Nguyễn.

Một đơn vị VNCH tăng cường cho sư đoàn BB 1 của quân đội Sài Gòn mời tất cả bộ phận giám sát không kích tại tiền duyên của không lực Mỹ tới dự tiệc Tết của họ. Mỗi chúng tôi cũng đóng tiền túi vào hỗ trợ chi phí cho bữa tiệc. Một trong các nghi thức là giết một con bò và xẻ thịt nó thành miếng cho món nướng. Một số thùng phuy loại 55 galon (200 lít) được xẻ dọc làm đôi. Nửa số thùng phuy bổ đôi này được đem đựng hỗn hợp sền sệt của gia vị và các đồ mắm xốt cay nóng để tạo thêm nhiệt từ chính chúng. Một nửa số thùng bổ đôi còn lại đựng than củi đốt cho hồng lên, trên đậy sẵn các vỉ lớn bằng sắt. Cách ăn là dùng một xiên tre nhúng một miếng thịt vào thùng đựng gia vị, tẩm nó cho đến khi thấm đẫm hương liệu, rồi kẹp vào vỉ nướng trên lửa. Khi miếng thịt đã chín, chúng tôi cần đến một quyết tâm cao để ăn hết nó. Bản năng tự đề kháng của cái bụng trước thách thức của món ăn nóng hừng hực này buộc ta phải nốc tất cả những chất lỏng nào trong tầm tay mình. Ấy vậy mà cuối tiệc tôi quay lại bãi nướng (barbecue) để tìm chút thịt nướng được mệnh danh là “cái chết đen”, nhưng chẳng còn một miếng nào. Một vài “con ma” (ý nói lính Mỹ, lính Sài Gòn) liều mạng đang cố thọc tay vào chỗ gia vị còn nóng, tìm một vài miếng thịt tuột khỏi xiên khi ngâm tẩm gia vị. Chỉ uống có dăm ngụm rượu, nhưng tôi cũng thấy ngà ngà say.

Sáng hôm sau, một nhân viên FAC xòe cho tôi cẳng tay cháy trụi hết lông. Không lẽ chúng tôi nhét ngần ấy thức ăn vào bụng. Không lẽ chúng tôi ăn hết một con bò?

Nửa đêm 29 Tết, tựa như mọi cỡ súng ở Nam Việt Nam đều tuôn hết đạn lên trời. Đạn súng máy, đạn vạch đường, pháo sáng, mọi hỏa khí nào có thể tạo tiếng nổ, hoặc soi sáng, đều phát hỏa. Ở Trung Quốc người ta đốt pháo để đuổi tà ma. Còn ở Việt Nam, tà ma bị súng bắn rụng.

Hàng triệu đô-la Mỹ bị bắn lên trời, và gần như mỗi xu đều đến từ người đóng thuế suốt đời tận tâm ở Hoa Kỳ. Nhưng những loạt tiếng nổ mà tôi sẽ được biết sau 24 giờ nữa sẽ chẳng ồn hơn bao nhiêu.

Trước giờ G

Sau khi giải quyết một số trục trặc kỹ thuật, tôi cất cánh theo kế hoạch, lên hướng thung lũng A Sầu vào rạng sáng 30 Tết. Điều kiện khí tượng như sau: Trời u ám, có mây mù. Quan sát không được tốt, do đó tôi hạ độ cao xuống, hướng về một điểm phía trên ngọn núi đầu tiên trên hướng này, tính toán sao cho không dễ bị trúng đạn từ mặt đất.

Một phần của phi vụ trinh sát là phát hiện bất cứ biểu hiện khác lạ nào, bất cứ thay đổi nào của địa hình. Trong thời gian 9 tháng ở đất nước này, tôi chưa hề nhìn thấy một bóng người nào trên mạng đường mòn trải từ mảnh đất dốc thoai thoải từ góc phía nam Huế tới ngọn núi đầu tiên, rồi từ đó tới rừng. Tôi nghĩ những con đường mòn này là do những người thiểu số sống ở đây thành đường. Một khi hàng tháng nay không có ai qua lại, cỏ đã mọc um tùm trên đường mòn.

Tôi không nhìn thấy ai trên đường mòn, nhưng những đám cỏ từng mọc bời bời trên đó cũng biến mất. Những đường mòn trở nên sậm màu và rộng ra; hoàn toàn không còn vết tích của màu xanh. Có nghĩa là đã có nhiều người đi trên con đường này hồi đêm.

Quân Mỹ phản kích tại Huế.

Tôi vẫn bay về hướng ngọn núi, nhưng linh cảm sẽ không có cách nào thật an toàn để bay vượt được tới A Sầu vào sáng hôm đó.

Hơn nữa, những con đường mòn thật đáng chú ý. Tôi vòng lại rồi bay về góc tây của thành Huế.

Tôi hạ cánh rồi đánh xe tới sở chỉ huy sư đoàn BB 1 của quân đội Sài Gòn. Không có ai ngoài một sĩ quan trực nhật không nói được tiếng Anh và vài người thư ký. Đại tá cố vấn A-đam (Adams) có vẻ không mấy quan tâm tới những gì tôi quan sát được. Tôi trình một báo cáo tình báo qua các kênh của không lực Mỹ rồi quay về trại. Đa số các cố vấn Mỹ xem nhẹ báo cáo này, vì các chỉ huy VNCH mà họ cố vấn cho sẽ không làm việc ngày Tết.

Tôi muốn quân lực VNCH báo động nhưng không thể tìm được ai có đủ thẩm quyền. Chiều tối hôm đó tôi lại cất cánh để quan sát những gì xảy ra tại địa bàn phía tây Huế. Trời rất mù, tầm nhìn giảm xuống tới chỉ khoảng 1 dặm (1,6km), trần mây hạ thấp xuống khoảng 500 feet (150m), quá thấp so với thiết bị trinh sát trên máy bay của tôi. Tôi đưa máy bay vào bãi đỗ, rồi đi về phía nhà ăn…

Thời khắc số không

Các pháo thủ của Quân Giải phóng bắn thật chính xác. Quả đạn pháo 122mm đầu tiên rơi trúng nóc sở chỉ huy của viên tỉnh trưởng Thừa Thiên. Phòng ngủ của tôi ở tầng 2 ngôi nhà, chỉ cách sở chỉ huy trên có một con phố hẹp, nên tiếng nổ ghê gớm này bảo với tôi rằng đêm giao thừa âm lịch này sẽ trở thành một thời khắc vô cùng đặc biệt…

Tôi choàng dậy, tìm đường lần về Sở chỉ huy bay (SCH). Một quả rốc-két rơi trúng hàng rào dây thép gai chạy dọc theo con đường giáp dãy nhà ngủ của sĩ quan Mỹ gần nơi tôi ở. May thay, cánh cửa nhà che chắn tôi khỏi trái này. Các mảnh đạn và mảnh dây thép gai từ các phía cày lên các bờ tường và đồ đạc, nhưng chỉ có vài miếng đâm vào má, cánh tay tôi. Đáng kể có một mảnh cứa mạnh vào tay trái.

Một số xe cộ đỗ dọc theo hàng rào bắt lửa, tạo ánh sáng cho tôi bật chiếc máy thu âm cá nhân, rồi băng vết thương trên tay trái và tìm thấy một chiếc áo bay. Tôi khoác khẩu M-16 của tay phi công cùng phòng vào người (khẩu của tôi bị phá hủy ở Khe Sanh) rồi tìm cách lần ra Sở chỉ huy bay. Không ai biết quả rốc-két tiếp theo rơi ở đâu, nên chuyến đi này giống như trò chơi cò quay kiểu Nga (roullette – một quả cầu nhỏ chạy vòng vòng trên bàn sòng bạc có hình nón quay tít, không ai biết khi bàn quay dừng lại quả cầu sẽ rơi vào vị trí nào trên bàn).

Tôi vừa vào đến SCH thì có ai đó, mặt đầy máu, bước vào, gào lên rằng quân Mỹ trong tòa nhà cao cấp (VIP house) đang khốn đốn, cần hỗ trợ. Tôi lao tới đó.

Một quả B-40 bắn trúng vào một máy điều hòa nhiệt độ lắp trong tường, mảnh đạn bắn tung khắp trong phòng. Một số sĩ quan Mỹ bị thương. Một quả khác bắn trúng tháp canh, làm một người Mỹ khác bị thương rất nặng. Có vẻ như quân tấn công định đột nhập vào trại Mỹ theo hướng này. Đại tá Ki-lơ (Keeler) đã đoán đúng.

Trời tối đen như mực, mây đen và sương mù dày đặc. Quân đối phương ào ạt tới. Chúng tôi bắn dữ dội về góc phố đó đến mức tôi nghĩ khó ai có thể sống sót. Chúng tôi phải ghìm đối phương xuống để có thể sơ tán thương binh Mỹ từ tháp canh ra. Cùng lúc, có tiếng ai hỏi đèn pin. Tôi tìm cách đi ra chiếc xe jeep của mình, đỗ gần SCH. Không có cách gì tiếp cận. Chiếc jeep đỗ gần hàng rào, không xa những chiếc xe đang cháy. Sẽ là tự sát nếu cứ cố ra xe, vì lửa cháy chiếu rõ toàn cảnh. Nó đã bị thủng lốp, và bị phá hỏng một số chỗ. Quay trở vào SCH, tôi nghe tiếng chuông điện thoại. Tôi thật ngạc nhiên vì Quân Giải phóng chưa phá hỏng đường dây. Tôi gọi cho trung tâm hỗ trợ trực tiếp đường không ở Đà Nẵng, giải thích rằng chúng tôi cần một máy bay chiếu đèn pha từ trên không. Người ở đầu dây kia khá lịch sự, nhưng không tin vào tình hình chiến sự ở Huế mà tôi mô tả, nhưng cũng hứa sẽ cho máy bay chiếu đèn pha. Chẳng có chiếc nào đến. Nhưng cuối cùng trời cũng hửng sáng.

Không thể có được điều kiện khí tượng nào thuận lợi hơn cho tấn công Huế mà Quân Giải phóng đã có được trong dịp Tết này. Trừ một số khoảng thời gian ngắn vào các buổi tối, khí tượng 4 ngày liền (năm sớm âm lịch), trời luôn bao phủ bởi trần mây thấp với mây mù hoặc sương mù, không có khả năng sử dụng đại bác cỡ nhỏ của máy bay chiến đấu Spu-ky (Spooky) (AC-47). Nhưng chúng tôi được chiếu đèn từ máy bay rất tốt kể từ đêm thứ hai của cuộc tiến công Tết trở đi (từ đêm 1 âm lịch, hoặc ngày 1-2 dương lịch)…

Lính thủy đánh bộ Mỹ đã tới và với một giá khủng khiếp về thương vong, từng bước chiếm lại khu vực phía nam sông Hương. Một bãi đáp được thiết lập ở công viên nhỏ nằm giữa Dinh tỉnh trưởng và bờ nam sông Hương. Ở bên bờ Bắc tình hình cũng không mấy sáng sủa nên tôi đáp trực thăng Hu-uây (Huey) sang phía SCH sư đoàn 1 quân Sài Gòn để xem không quân Mỹ có thể trợ chiến tốt hơn cho tướng Ngô Quang Trưởng và các đơn vị của ông ta…

Lê Đỗ Huy (dịch)
qdnd.vn

[1]http://www.amazon.com/Palace-Gate-Under-Siege- January/dp/0887407455

Nhà tù Tân Hiệp và cuộc giải thoát táo bạo

Đây là cuộc vượt ngục lớn chưa từng có trong lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta. Giữa những hàng rào dày đặc dây thép gai và họng súng của quân thù, những chiến sĩ Cộng sản tay không đã mưu trí, dũng cảm đứng lên giải thoát 462 tù chính trị trở về với cách mạng, với nhân dân.

“Trung tâm huấn chính” trá hình

Tháng 7-1955, đế quốc Mỹ thay chân Pháp lập ra chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm ở miền Nam, ngoan cố cự tuyệt Tổng tuyển cử, thẳng tay khủng bố, đàn áp phong trào cách mạng miền Nam. Chúng lập ra nhiều nhà tù tại tỉnh Biên Hòa, trong đó có nhà tù Tân Hiệp. Đến tháng 12-1956, chính quyền Ngô Đình Diệm đã bắt giam lại nhà lao Tân Hiệp 1.872 tù nhân, có 79 nữ, số đông là Đảng viên Cộng sản…

Nhà tù Tân Hiệp là một trong 6 nhà tù lớn nhất của Mỹ-ngụy ở miền Nam (Côn Đảo, Phú Quốc, Chí Hòa, Thủ Đức, Phú Lợi và Tân Hiệp). Nhà tù được xây dựng trên địa bàn ấp Tân Hiệp, xã Bình Trước, quận Đức Tu, tỉnh Biên Hòa, nay là phường Tân Tiến thuộc thành phố Biên Hòa.

Toàn bộ khu vực nhà tù nằm trên một khu đất cát hình chữ nhật, địa hình ẩm thấp, có tổng diện tích là 36.000m2. Phía đông nhà tù giáp cụm dân cư Tân Hiệp, phía tây giáp rạch Đồng Tràm, phía nam giáp đường xe lửa Bắc-Nam, phía bắc giáp Quốc lộ 1 (đối diện với Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa).

Đài tưởng niệm cuộc nổi dậy phá nhà lao Tân Hiệp (Biên Hòa). Ảnh: Nguyễn Thành

Nơi đây vào những năm đầu của thế kỷ 20 còn là một vùng đất hoang hóa, rừng đồi lúp xúp, dân cư thưa thớt. Đến khi phát xít Nhật đảo chính thực dân Pháp để độc chiếm Đông Dương ngày 9-3-1945, chúng bắt đầu tiến hành xây dựng một đồn nhỏ do một tiểu đội lính Nhật chốt đóng để bảo vệ chiếc cầu bắc qua rạch Đồng Tràm trên Quốc lộ 1, con đường huyết mạch đi vào Biên Hòa và thành phố Sài Gòn.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai và đến tháng 10-1945 chúng tái chiếm lại thị xã Biên Hòa. Trên cơ sở đồn binh nhỏ của Nhật, Pháp củng cố lại, mở rộng thêm và đưa một trung đội lính lê dương đến trấn giữ với nhiệm vụ bảo vệ tuyến đường Quốc lộ 1 và cơ sở nhà thương điên Biên Hòa.

Cũng trên tuyến đường Quốc lộ 1, ở khu vực Hố Nai (cách Tân Hiệp khoảng 2km về phía Đông), từ đầu năm 1946 giặc Pháp cũng thiết lập một trại đóng quân của một đơn vị thiết giáp và một trại giam để giam giữ những cán bộ, chiến sĩ và du kích của ta bị chúng bắt được trong các cuộc hành quân càn quét.

Quy mô chiến tranh ngày càng phát triển, trại giam Hố Nai không đủ sức chứa hết tù nhân, Pháp mở rộng đồn binh Tân Hiệp và biến nó thành trại giam “Tù binh chiến tranh” của tỉnh Biên Hòa. Trại tù này tồn tại cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp tháng 7-1954.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, cùng với việc ráo riết xây dựng bộ máy thống trị từ Trung ương tới địa phương, chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm tiến hành khủng bố, bắt bớ, giam cầm số cán bộ chiến sĩ kháng chiến cũ, đồng bào yêu nước và các phe nhóm chính trị, quân sự không ăn cánh với chúng như: Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo.

Một công cụ không thể thiếu được đối với bộ máy phát xít Mỹ-Diệm là hệ thống nhà tù-trại giam. Vì vậy giữa năm 1955, nhà tù Tân Hiệp được chúng cải tạo, mở rộng thành một nhà tù lớn ở miền Nam.

Để che đậy bộ mặt phản động, tránh sự phản ứng tố cáo của Ủy ban kiểm soát và giám sát quốc tế và dư luận tiến bộ trong và ngoài nước, Mỹ-Diệm cải tên nhà tù Tân Hiệp thành cái tên mị dân là “Trung tâm huấn chính Biên Hòa”. Nhưng thực chất đây là địa ngục trần gian. Theo nhiều nhân chứng kể lại, hằng ngày những tên cai ngục dùng nhiều thủ đoạn thâm độc và dã man để tra tấn về thể xác và tinh thần tù chính trị, nhưng không thể khuất phục được ý chí chiến đấu kiên cường của những chiến sĩ cách mạng.

Cuộc vượt ngục dũng cảm

Ngày 2-12-1956, những người tù chính trị ở nhà tù Tân Hiệp đã nổi dậy vượt ngục trở về với cách mạng, với nhân dân.

Trước đó, các Đảng viên Cộng sản đã bí mật liên lạc nhau hình thành các tổ chức Đảng, thành lập Đảng ủy của nhà lao có 5 đồng chí do Nguyễn Trọng Tâm làm Bí thư. Đảng ủy lãnh đạo cuộc vượt ngục, bầu Chỉ huy trưởng là đồng chí Cội, Huyện đội phó Củ Chi, lập 4 đội xung kích gồm những cán bộ, đảng viên khỏe mạnh làm nòng cốt, phân công cụ thể đánh chiếm các mục tiêu.

Thời điểm nổ ra cuộc vượt ngục, nhà tù Tân Hiệp đã được củng cố, xây dựng hoàn chỉnh. Toàn khu vực được bao kín bằng hai lớp kẽm gai và một hệ thống 9 tháp canh lớn, mỗi tháp canh có 3 tên lính gác. Các tháp canh số 1, 3, 5, 7 được trang bị súng trung liên. Cổng trại giam bằng thép dày, rộng 4m, cao 2,4m. Cạnh cổng là đồn canh lớn và kho súng. Nơi đây thường xuyên có một tổ lính bảo an canh gác suốt ngày đêm.

Lúc 17 giờ 45 phút ngày 2-12-1956, cuộc nổi phá nhà tù Tân Hiệp bắt đầu. Sau khi tiếng kẻng của tên lính gác báo cho tù vào trại cũng là hiệu lệnh, 4 đội xung kích với khoảng 120 đồng chí đồng loạt xung phong đánh chiếm các mục tiêu. Khoảng 70 người nhằm kho súng phía trước trại ào tới. Tất cả đều tay không, xông vào đánh giáp lá cà với một trung đội địch, thu 50 khẩu súng, rồi bắn kiềm chế lô cốt số 1 và số 2 để cho các chiến sĩ tù chính trị thoát ra ngoài. Số người chạy ra ngoài cổng như làn sóng lớn, xô đổ cả cổng sắt vốn được làm rất chắc chắn. Sục sôi tiếng hô xung phong, tiếng bước chân rầm rập vượt qua cổng sắt, rồi băng qua Quốc lộ 1, vượt rạch Đồng Tràm tỏa về các hướng tìm cơ sở cách mạng và chiến khu.

Trong những phút đầu, lực lượng xung kích của ta hoàn toàn làm chủ tình hình. Bị tấn công bất ngờ, địch trong nhà tù vô cùng hoảng hốt, chỉ lo bảo toàn tính mạng nên chưa có hành động chống trả. Theo chủ trương của Đảng ủy, ta không giết một tên lính nào nhằm hạn chế sự trả thù của chúng với những người còn lại. Hơn 15 phút sau, bọn địch trong nhà tù mới hoàn hồn, vội vã nổ súng truy đuổi. Súng trung liên ở các lô cốt bắn xối xả ra cổng nhà tù và hướng các tù nhân chính trị đang chạy. Dười làn đạn dày đặc của kẻ thù, nhiều đồng chí trúng đạn bị thương và hy sinh nằm rải rác trước cổng trại, ven bờ suối. Đồng chí Phan Văn Rô là chiến sĩ xung kích dũng cảm đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng; Nhà thơ, nhà báo, người Đảng viên Cộng sản Dương Tử Giang bị thương nặng, cố lết được đến bên bờ suối thì hy sinh, trên tay còn ôm chặt chiếc đàn ghi-ta, người bạn thân thiết và là vũ khí chiến đấu của anh suốt những năm tháng bị giam cầm trong ngục tù.

Trong cuộc vượt ngục này địch đã bắn chết 22 đồng chí và bắn bị thương 6 đồng chí khác. Chúng ta thu được 53 súng, có 2 trung liên, đã giải thoát 462 tù nhân chính trị. Số cán bộ này sau đó về làm nòng cốt xây dựng Đảng ở các tỉnh thành, xây dựng lực lượng vũ trang ở miền Đông Nam Bộ, lập các Đại đội 250, 59, 80… và xây dựng một tiểu đoàn quân chủ lực của tỉnh Long An. Trong số đó, có người sau này trở thành Anh hùng LLVT nhân dân như bí thư Đảng ủy nhà tù Nguyễn Trọng Tâm, có người trở thành cán bộ lãnh đạo như ông Nguyễn Văn Thông, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Biên Hòa.

Cuộc vượt ngục Tân Hiệp là cuộc giải thoát kỳ diệu của những người tù Cộng sản kiên trung bất khuất, mưu trí, sáng tạo, anh dũng tuyệt vời để trở về với đồng đội và nhân dân tiếp tục hoạt động cách mạng cho đến ngày Toàn thắng.

Tháng 10-2009, UBND tỉnh Đồng Nai đã phê duyệt diện tích xây dựng gần 5.200m2, kinh phí hơn 5 tỷ đồng để trùng tu tôn tạo nhà lao Tân Hiệp tại phường Tân Tiến, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, để giáo dục truyền thống vẻ vang cho thế hệ hôm nay và thế hệ trẻ mai sau.

Huỳnh Văn Tám
qdnd.vn

Mỏ neo trong “Tết Mậu Thân”

Bình luận viên W.Cron-kai-tơ:

QĐND – Được đánh giá là chiếc mỏ neo của truyền thông Mỹ, W.Cron-kai-tơ (1916-2009) đã làm việc suốt hai thập kỷ (1962-1981) trên buổi phát tin tối của kênh CBS. Ở thời hoàng kim (1960-1970) của kênh truyền hình này, ông được xem là “người đáng tin cậy nhất nước Mỹ”. Sinh thời, ông đã tường thuật nhiều sự kiện lớn nhất trong thế kỷ 20 của nước Mỹ như Thế chiến II, tòa án Nu-rem-béc (Nuremberg) xử tội phạm phát xít, cuộc chiến tranh Việt Nam, các chương trình chinh phục vũ trụ của Mỹ, vụ ám sát Tổng thống Giôn Ken-nơ-đi (John Kennedy)…

Thả chệch neo tại “Vịnh Bắc Bộ”

Ngày 12-8-2004, nhân kỷ niệm 40 năm sự kiện Vịnh Bắc Bộ, W.Cron-kai-tơ (Walter Cronkite) có bài bình luận trên Đài Phát thanh quốc gia Hoa Kỳ NPR nhan đề Cuộc tiến công của những con ma trên Vịnh Bắc Bộ: Sai sót tình báo góp phần dẫn đến quyết định đánh Việt Cộng (Gulf of Tonkin’s Phantom Attack: Faulty Intelligence Played Role in Decision to Engage Viet Cong). Qua bài này, Cron-kai-tơ muốn tự bào chữa cho truyền thông Mỹ và bản thân ông vào năm 1964 đã bị “nhử” vào dàn đồng ca về “vụ Vịnh Bắc Bộ” của chính quyền Giôn-xơn (Johnson), chỉ vì “đã quá tin vào các báo cáo chính thức”.

Những diễn biến tiếp theo của cuộc chiến tranh cục bộ ở Việt Nam hẳn đã làm con người có lương tri Cron-kai-tơ tìm kiếm cơ hội “phản pháo”, hoàn trả cho mô hình “súng và bơ” bộ mặt thật của nó. Sang Nam Việt Nam về sau khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân nổ ra, Cron-kai-tơ đã đăng đàn phát biểu trên CBS News ngày 27-2-1968, khi cao điểm đợt 1 các “làn sóng tiến công của Việt Cộng” dâng tràn trên các kênh truyền thông Mỹ.

Tết 1968: Lời nói đọi máu

Phong trào chống chiến tranh ở Mỹ hôm nay vẫn nhớ những lời bình luận quả cảm của Cron-kai-tơ trong đêm 27-2-1968. Sau khi ông kết bài bình luận bằng câu: “Đây là Cron-kai-tơ. Chúc ngủ ngon”, thì lương tri Mỹ bắt đầu những đêm mất ngủ, sẽ kéo dài suốt 7 năm sau.

Bình luận của Cron-kai-tơ có tựa đề gây chấn động: “Chúng ta đang ngập vào vũng lầy không lối thoát”. Ông bắt đầu như sau:

“Hôm nay, trở lại với không gian quen thuộc quanh Niu Y-oóc, chúng tôi muốn tóm tắt những gì đã tai nghe mắt thấy ở Việt Nam, trong một phân tích có tính suy đoán, riêng biệt, tự cảm nhận. Ai thắng, ai thua trong cuộc tiến công đại quy mô các thành phố? Tôi không biết. Việt Cộng đã không thắng được nhờ một đòn nốc ao, nhưng chúng ta cũng vậy. Lịch sử sẽ phán xét và sẽ rút ra bài học…”.

Một câu trong bình luận, được dẫn rất nhiều trong sách báo phương Tây:

“Chúng ta đã quá thường xuyên phải thất vọng bởi sự lạc quan của các nhà lãnh đạo nước Mỹ, ở cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ, đến mức khó có thể tiếp tục tin vào những an ủi giữa cơn bĩ cực mà họ vẫn tìm thấy trong những đám mây đen tối nhất”.

W.Cron-kai-tơ trầm ngâm giữa đường phố Hà Nội, đầu năm 1973.

Tổng thống Giôn-xơn than thở sau buổi phát hình ngày 29-2-1968 của Cron-kai-tơ: “Mất Cron-kai-tơ, có nghĩa là tôi mất tầng lớp trung gian ủng hộ chính quyền. Ba tuần sau, Giôn-xơn lên truyền hình tuyên bố sẽ không tìm cách tái cử tổng thống một nhiệm kỳ nữa và quyết tìm giải pháp cho chiến tranh qua đàm phán với đối phương.

1968: Năm bạo lực và chia rẽ ở Mỹ

Sau những phát súng của Tết Mậu Thân “như nổ trên đường phố Hoa Kỳ” và tuyên bố “làm thế giới sửng sốt” của Tổng thống Giôn-xơn (31-3) là cuộc ám sát Lu-thơ Kinh (Luther King), lãnh tụ phong trào đòi bình quyền của người da đen (4-4), dẫn đến loạt bạo động trên khắp nước Mỹ, cuộc ám sát ứng cử viên hòa bình Đảng Dân chủ Rô-bớt Ken-nơ-đi (Robert Kennedy) (5-5)… Trong thời gian Hội nghị Đảng Dân chủ đề cử ứng cử viên tổng thống cuối tháng 8-1968, Đảng này chia tách thành hai phái: Ủng hộ và phản đối chiến tranh. Từ 26 đến 29-8 những người biểu tình ủng hộ ứng viên hòa bình Mắc Ca-thi (McCarthy) tuần hành một cách ôn hòa trên các đường phố chính của Chi-ca-gô (Chicago), nơi diễn ra hội nghị Đảng Dân chủ. Nhưng ở cao điểm, chiều 27-8, nhiều người biểu tình “chiếm” ngọn đồi trong Công viên Lớn (Grand Park), phất cờ của Mặt trận giải phóng và “Bắc Việt Nam”. Thống đốc Chi-ca-gô thuộc phe chủ chiến trong Đảng Dân chủ, điều cảnh sát và 6000 vệ binh quốc gia tới đàn áp cuộc biểu tình. Toàn nước Mỹ xem tường thuật trực tiếp cuộc động loạn này, chia sẻ với bình luận của Cron-kai-tơ trên kênh CBS, sự căm phẫn với chính sách thẳng tay đàn áp của nhà cầm quyền…

Sinh viên Mỹ giương cờ Việt Nam dân chủ cộng hòa và cờ Mặt trận dân tộc giải phóng tại Công viên Lớn, Chi-ca-gô, tháng 8-1968. Ảnh tư liệu

Hàng trăm người biểu tình và hơn 100 cảnh sát bị thương. Trong số 700 người bị bắt có những người đấu tranh vì hòa bình nổi tiếng và là khách thường xuyên của Hà Nội như: Đê-vít Đen-linh-gơ (David Dellinger), Tôm Hay-đơn (Tom Hayden)…

Truyền thông Mỹ cũng nhắc nhở rằng, chính lúc này Ních-xơn đã lợi dụng sự chia rẽ của nước Mỹ và cả trong Đảng Dân chủ đối lập, đưa ra những chiêu bài chính trị để “đánh lộn sòng”, theo đuổi đường lối chiến tranh trong gần hai nhiệm kỳ nữa.

Thuật ngữ quân sự mới

Cuối bình luận trên kênh CBS đêm 27-2-1968, Cron-kai-tơ kêu gọi Nhà Trắng hãy đàm phán với Hà Nội và “Việt Cộng” hơn là đánh ra miền Bắc, hay dùng vũ khí hạt nhân, hay đưa thêm 100.000, 200.000 hay 300.000 quân Mỹ nữa sang Việt Nam. Ông đưa ra một khái niệm mới cho nền chính trị của chiến tranh và can thiệp quân sự: “Hiện đã rõ ràng hơn bao giờ hết là sự trải nghiệm bằng máu của Mỹ ở Việt Nam đang mắc kẹt trong tình thế không lối thoát”.

Trước Tết Mậu Thân, người Mỹ chỉ nhìn nhận hoạt động chiến tranh trong hai khái niệm thắng – thua, biểu thị bằng con số: Đếm được nhiều xác “địch” hơn, kiểm soát được nhiều lãnh thổ hơn. Từ sau 27-2-1968, trong từ điển quân sự Mỹ xuất hiện một từ mới: Stalemate, có nghĩa là thế bí, là tiến thoái lưỡng nan, bó tay, lạc nước… Còn một thuật ngữ nữa hình thành trong thời kỳ cuối 1967 – đầu 1968 là “Việt Nam-cuộc chiến trên truyền hình”.

Tháng 6-2011, đã xuất bản cuốn Không có chiến thắng rõ ràng: Đo đếm hiệu lực và tiến bộ của quân đội Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Tác giả G.Đát-đi (G.Daddis) đã dùng thuật ngữ của Cron-kai-tơ, đặt tên cho Chương 6 của sách là Năm của cuộc tiến công Tết: Thắng lợi, Thất bại, hay Bế tắc? Theo G.Đát-đi, Mỹ thất bại ở Việt Nam vì thứ nhất, các nhà chiến lược chỉ chú trọng thu thập dữ liệu mà không tập trung vào phân tích dữ liệu, đồng thời, quân đội Mỹ sản xuất tới 14.000 pound (gần 7 tấn) báo cáo trong một ngày, một số lượng quá lớn để có thể phân tích hiệu quả; thứ hai, do quân Mỹ đã đo lường sai các chỉ tiêu thắng lợi và do nhầm lẫn về… thuật ngữ, chẳng hạn, khái niệm tiến triển (progress) và hiệu quả (effectiveness) là khác nhau.

Quên mình dẫn dắt nhận thức

Một phóng sự truyền hình của Cron-kai-tơ trên kênh CBS được nhiều người Mỹ ghi nhớ là “Danh dự, nghĩa vụ và một cuộc chiến tranh được gọi là Việt Nam”, được ông thực hiện ở Hà Nội năm 1985 về bài học chiến tranh Việt Nam đối với nước Mỹ. Tờ Thời báo Niu Y-oóc có nhận xét rằng, các bức ảnh về “người đáng tin cậy nhất nước Mỹ” ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh 10 năm sau khi chiến tranh kết thúc cho thấy ông thật trầm tư mặc tưởng.

Thời báo Niu Y-oóc nhận thấy, các bài về chiến tranh Việt Nam của CBS, thường do Cron-kai-tơ không hẳn nói về chiến tranh, mà nói đến cảm nhận về nó, rằng các phóng sự Việt Nam của ông thường “nghiêm trang”, thậm chí nhuốm màu “tang tóc”. Và tờ báo cũng nhắc lại rằng, Cron-kai-tơ nhiều lần nói nước Mỹ đã thua, rằng Việt Nam là “thất bại quân sự duy nhất của nước Mỹ”. Bài viết này được xuất bản năm 1985, nhận xét rằng, Cron-kai-tơ luôn mong người Mỹ nuôi hy vọng rằng sẽ không còn một (chiến tranh) Việt Nam nữa, rằng ông muốn Chính phủ Mỹ phải hỏi ý kiến dân trước khi đưa lính Mỹ dấn vào các cuộc viễn chinh.

Nhưng vẫn còn những phái “diều hâu” tới nay vẫn chưa vỡ lẽ tại sao quân đông tướng mạnh mà chính quyền Giôn-xơn phải đề xuất thương lượng để cầu hòa. Vẫn còn những khẳng định Mỹ “thắng về quân sự”, cụ thể về “đếm xác”, về số chiến dịch được tiến hành, số đạn pháo được bắn, số trận phục kích được thực hiện… Vì thế, từ đầu thiên niên kỷ mới, đã xuất hiện những cuộc chiến của Mỹ ở Áp-ga-ni-xtan và I-rắc. Chúng nhanh chóng trở nên không có lời giải và truyền thông Mỹ đã phải “chế” thêm những thuật ngữ mới, như VietIstan, hay AfganisNam, IraqiNam… đồng nghĩa với từ sa lầy, bó tay mà Cron-kai-tơ đã đưa ra từ thời Tết Mậu Thân.

Lê Thành
qdnd.vn

Về bức tranh khắc “Pháp Lan Tây dừ Lưu Nghĩa đại chiến hình đồ” (Cuộc đại chiến giữa quân Pháp và quân của Lưu Vĩnh Phúc)

QĐND – Tạp chí “Những tư liệu lớn có minh họa về Đông Dương của lịch sử một thế kỷ 1843-1944” do Nhà sách Pa -ri xuất bản tháng 10-1995, trang 68-69 có đăng bài viết vào ngày 29-2-1884 kèm một bức tranh quân Pháp đánh thành Sơn Tây (Việt Nam) và một tranh khắc Trung Quốc có nhan đề “Pháp Lan Tây dừ Lưu Nghĩa đại chiến hình đồ” (chiến hình đồ sao bạch bằng vẽ lại, khắc lại) … không đề tác gió, ngày tháng, năm sáng tác.

Bức tranh khắc “Pháp Lan Tây dừ Lưu Nghĩa (Lưu Vĩnh Phúc) đại chiến hình đồ”.

Theo sách “Những tư liệu lớn có minh họa…”, đây là tranh được tờ “Thời báo” (Pháp) có xuất xứ từ Trung Quốc công bố, được phổ biến trong nhiều thành phố ở Trung Quốc khi Sơn Tây thất thủ. Tranh miêu tả quân Pháp với các chiến hạm “đông vô kể” và được sự giúp đỡ của bộ binh, kỵ binh Nhật Bản tấn công Sơn Tây, bấy giờ do Lưu Vĩnh Phúc, Tướng quân Cờ Đen canh giữ, đã đánh lui quân Pháp… Tờ “Thời báo” bình luận có thể đây là “một khoa trương” của quân Cờ Đen chăng?

Lịch sử chiếm đóng Bắc Kỳ qua tài liệu Pháp cho biết: “Ngày 17-12-1883 cờ ba sắc xanh, trắng, đỏ của Pháp đã bay trên thành Sơn Tây sau 3 ngày ác chiến với quân Cờ Đen. Phía Pháp có 320 người bị loại khỏi vòng chiến đấu gồm 80 người chết, 240 người bị thương”. Bài báo không đề cập gì tới sự tham gia của quân Nhật giúp quân Pháp đánh quân Cờ Đen.

Chiến dịch Bắc Kỳ, quân Pháp chiếm Sơn Tây. (tranh vẽ)

Nhưng trên bức tranh, qua các chú thích chữ Trung Quốc (và cả chú thích tiếng Pháp), người đọc có thể nhận biết trên bản vẽ:

Số 3: Quân Cờ Đen của Lưu Nghĩa

Số 6: Quân Cờ Đen

Số 8: Trung quân của quân Cờ Đen

Số 13-14: Quân Cờ Đen

Số 15: Quân Nhật

Số 16: Quân Nhật

Số 19: Kỵ binh Nhật

Số 20: Lính pháo binh Pháp

Số 21: Tàu chiến, thuyền chiến Pháp…

Qua bức tranh này, bên cạnh những sự kiện khác có một thông tin cần kiểm chứng:

– Quân Pháp có thuê quân Nhật đánh thành Sơn Tây không? Nếu có, chỉ có bộ binh hay cả kỵ binh, bao nhiêu người?

Xin bạn đọc và các nhà nghiên cứu cho ý kiến bổ sung.

Thủy Trường
qdnd.vn