Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Người thức trắng đêm vẽ tranh Bác Hồ

Ong Phan Thanh Tinh va buc anh Bac HoÔng Phan Thanh Tịnh và tác phẩm
“Bác Hồ bên cửa biển Nhật Lệ chiều 16-6-1957”

Chúng tôi tìm đến nhà ông Phan Thanh Tịnh ở Tiểu khu 5, phường Đồng Phú, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Ấn tượng đầu tiên đập vào mắt chúng tôi đó là căn phòng khách treo trang trọng những bức tranh khổ lớn vẽ Bác Hồ. Đối với ông Tịnh, mỗi bức tranh là những kỉ niệm mà ông không thể nào quên. Năm nay đã bước sang tuổi 72 nhưng ông vẫn còn khoẻ mạnh và minh mẫn. Tiếp chuyện chúng tôi, ông say sưa kể về những kỉ niệm trong những lần vẽ ảnh chân dung Bác Hồ.

Những năm 50 của thế kỉ XX, khi đang còn là cậu học sinh phổ thông Trường Đào Duy Từ, Phan Thanh Tịnh đã bộc lộ khả năng hội hoạ của mình khi được tham dự cuộc thi vẽ tranh liên hoan của thiếu nhi hai miền Nam – Bắc tại Cửa Tùng (Quảng Trị). Đến nay, dù đã trải qua nhiều vị trí và lĩnh vực công tác khác nhau nhưng ông vẫn miệt mài theo đuổi niềm đam mê hội hoạ. Và trong suốt chặng đường sáng tạo đó, ông đã dành phần lớn thời gian và tâm huyết cho những bức tranh vẽ về đề tài Bác Hồ. Ông kể: Ông được vinh dự trông thấy Bác Hồ vào ngày 16-6-1957, khi Người về thăm và nói chuyện tại lễ đài sân vận động Đồng Hới với hơn 3 vạn cán bộ, chiến sĩ và đồng bào Quảng Bình. Những hình ảnh, cử chỉ và giọng nói ấm áp, trìu mến của Người trong ngày hôm ấy mãi mãi đọng lại trong kí ức của ông. Nên sau đó, ý tưởng vẽ hình Bác luôn nung nấu trong trái tim ông. Bức tranh đầu tiên ông vẽ Bác vào năm 1967 với hình Bác to hơn người thật, được treo trang trọng tại Đại hội Quyết thắng của tỉnh tổ chức tại chiến khu Ba Rền.

Và tác phẩm đặc biệt thứ hai vẽ về Bác chính là bức chân dung được ông vẽ trong đêm 3-9-1969. Ông nhớ lại, đó là buổi chiều ngày 3-9-1969, khi ông đang bị ốm thì nhận được giấy triệu tập của đồng chí Trương Hoa – Chủ tịch thị xã Đồng Hới: “Bác Hồ kính yêu của chúng ta đang ốm nặng, nhỡ ra tình huống không qua khỏi, cậu (Phan Thanh Tịnh) phải nhanh chóng vẽ chân dung Bác để kịp hôm sau Đảng bộ và nhân dân tỉnh làm lễ truy điệu”. Khi được giao nhiệm vụ vẽ chân dung Người, tâm trạng ông rối bời bởi vừa lo tình hình sức khoẻ của Bác, vừa lo vì trọng trách được giao. Nhưng vì công việc quan trọng và khẩn cấp, ông bắt tay ngay vào công việc, ông chuẩn bị một tờ giấy rôki cỡ rộng, màu và bút vẽ.

Lúc đó, do ốm nên đầu óc ông cứ như bốc lửa, loay hoay mãi với những mảng màu, đường nét. Ông thật sự lúng túng thấy tay và mắt mình không làm chủ được nữa. Liền sau đó, khi nhận tin Bác Hồ không còn nữa, với niềm đau thương và kính yêu vô hạn đối với Bác, ông nhập hồn vào bức vẽ. “Tôi phải nén những giọt nước mắt để hoàn thành bức chân dung Bác cho kịp buổi Lễ Truy điệu ngày hôm sau. Đến gần 5 giờ sáng ngày 4-9-1969, tôi đặt bút xuống và báo cáo bức chân dung Bác Hồ đã hoàn thành, tất cả mọi người ngắm nhìn và oà lên khóc”… Kể đến đây, ông không kìm được cảm xúc, lấy khăn lau dòng nước mắt đang chảy dài trên gò má.

Cùng với bức tranh vẽ Bác ngày ấy, sau này ông Tịnh vẫn miệt mài vẽ tranh Bác Hồ. Trong đó phải kể đến những bức tranh ông vẽ chân dung Bác cùng Hôxê Macti – nhà tư tưởng, nhà văn hoá vĩ đại của Cu Ba – cùng lãnh tụ Phiđen Castro đã được tặng cho Đại sứ quán Cu Ba. Bức tranh vẽ Bác đứng cạnh Các Mác – Lênin được tặng cho Tỉnh uỷ Bình – Trị – Thiên. Hiện tại, trong căn phòng khách của ông treo đầy hình ảnh Bác. Trong đó, bức tranh “Bác Hồ bên cửa biển Nhật Lệ chiều 16-6-1957” được ông vẽ vào năm 1992, đã gây ấn tượng đối với nhiều người.

Cùng với niềm đam mê vẽ tranh về Bác, ông còn vẽ tranh cổ động, sáng tác thơ ca, hò vè và sưu tầm hàng ngàn câu tục ngữ, ngạn ngữ trong nước và thế giới… Nhiều bức tranh về đề tài chiến tranh cách mạng của ông hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Bình, đó là các tranh “Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Đồng Hới năm 1945”, “Lập chiến luỹ trên đường phố Đồng Hới” và “Lê Thành Đồng trên điểm cao 26”…

Theo Báo Đại đoàn kết
Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Khu vườn Phủ Chủ tịch – nơi giáo dục sâu sắc ý thức bảo vệ môi sinh, môi trường

coi bac xua

Vào thăm nơi ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, ấn tượng đầu tiên đối với khách tham quan đó là màu xanh của vườn cây nơi đây. Khu vườn mang lại cho du khách một cảm giác thư thái, trong lành ngay giữa lòng Thủ đô Hà Nội ngột ngạt. Và càng thú vị hơn khi du khách được tìm hiểu một số câu chuyện về các loài cây trong khu vườn gắn với những kỷ niệm về Bác. Chuyện về mỗi loài cây mang tình cảm ấm áp của Bác, có ý nghĩa giáo dục sâu xa về cuộc đời, về con người.

Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch nằm trong khuôn viên vốn là một phần của vườn Bách thảo cũ. Cuối thế kỷ thứ 19, sau khi xâm lược ba nước Đông Dương, thực dân Pháp đã chiếm khu đất này để quy hoạch về Phủ Toàn quyền Đông Dương. Mãi đến cuối năm 1954 sau khi Hà Nội được giải phóng, quân ta về tiếp quản Thủ đô thì khu vực này mới trở thành trung tâm chính trị của Đảng và Nhà nước ta. Trải qua nhiều biến cố, thăng trầm của lịch sử dân tộc, nhiều công trình kiến trúc đã bạc màu vì thời gian, tuy nhiên khu vực này vẫn giữ được vườn cây xanh tươi, phong phú về chủng loại. Theo nhận định của một số nhà khoa học thì nơi này giống như một bảo tàng sống về các loại cây trong đó có nhiều giống cây quý đến từ nhiều nước trên thế giới, nhiều cây cổ thụ có tuổi thọ hàng trăm năm.

Toàn bộ vườn cây có 1271 cá thể, thuộc 161 loài cây, 54 họ thực vật, 78 cây có nguồn gốc trong nước, 68 cây có nguồn gốc nước ngoài và một số cây còn chưa rõ nguồn gốc; nhiều loài cây ăn quả, nhiều loài cây bóng mát, nhiều loại hoa và cây cảnh. Khu vườn này càng phong phú hơn kể từ khi Bác Hồ về ở và làm việc tại khu vực này, Bác đã cho trồng nhiều loại cây mới, cải tạo ao nuôi cá, đường đi, lối lại và làm cho cảnh quan môi trường ở khu vực này thêm sạch và đẹp. Nhiều cây trồng ở khu vực này không chỉ có giá trị về mặt kinh tế mà còn mang lại ý nghĩa lịch sử văn hóa, gắn với quê hương đất nước, gắn với tình đồng chí, bè bạn quốc tế bởi vì trong khu vườn này có những cây do Bác tự tay trồng và chăm sóc, có cây Bác đặt tên, có cây Người mang từ nước ngoài về, có cây đồng bào trong nước gửi tặng… mỗi cây đều chứa đựng những kỷ niệm sâu sắc về Người.

Trên con đường đi từ Phủ Chủ tịch đến nhà 54, khách tham quan có thể chiêm ngưỡng cây đa có thế đứng độc đáo với ba thân cây phụ được tạo thành từ các nhánh rễ buông  từ trên cành xuống tỏa ra ba hướng, Bác đã dạy cho các đồng chí phục vụ cách đưa rễ đa từ trên cao xuống đất để chống đỡ cho cây trong những ngày mưa bão. Qua quá trình đưa được rễ đa xuống đất mất nhiều thời gian và công sức này, Bác muốn gửi bức thông điệp đến mọi người rằng: Con người hoàn toàn có thể chinh phục được tự nhiên, nếu có tính quyết tâm và lòng kiên trì. Để ghi nhớ lời Bác dạy, các đồng chí phục vụ đã đặt tên cho cây là: Cây đa kiên trì.

Bên cạnh ngôi nhà số 54, Bác cho trồng cây xanh bốn mùa với đặc tính rất ít khi rụng lá vào mùa đông. Loài cây này được Bác mang về từ Trung Quốc sau chuyến thăm hữu nghị của Người vào năm 1957 để trồng thử với mong muốn nếu cây thích ứng tốt với khí hậu Việt Nam sẽ cho trồng rộng rãi trên khắp các đường phố để đỡ phần nào cực nhọc cho những người lao công quét đường.

Quanh ao cá của Bác Hồ nhấp nhô những rễ cây dâm bụt mọc, loài cây Bác đã đặt tên sau một so sánh khá thú vị giữa hình dáng của rễ cây với những bức tượng của ông Bụt ở trong chùa. Khi Bác biết các đồng chí phục vụ có ý định chặt bỏ một cây bụt mọc đã bị mối xông quá nửa thân, Bác đã khuyên không nên chặt bỏ rồi sau đó Bác đã trực tiếp hướng dẫn các đồng chí phục vụ cách cứu chữa cho cây. Theo Bác: Chặt một cây thì rất dễ nhưng trồng thêm một cây mới để phát triển được như cũ thì mất rất nhiều thời gian. Sau này, khi đi nói chuyện tại một Hội nghị Cán bộ quản lý ở thị xã Sơn Tây, Bác đã kể lại câu chuyện cứu chữa cây bụt mọc để nhắc nhở về việc quản lý, giáo dục cán bộ. Bác dạy rằng, việc giúp đỡ một cán bộ phạm khuyết điểm cũng giống như cứu chữa một cây bị hư, không phải cứ thấy cán bộ phạm lỗi là đưa ra kỷ luật, bài trừ mà phải tạo điều kiện giúp đỡ họ để họ khắc phục khuyết điểm và trở thành người có ích. Qua câu chuyện về cây, Bác đã dạy cho chúng ta một bài học sâu sắc về cách ứng xử đầy vị tha, nhân hậu đối với con người. Tình yêu thương và lòng bao dung nhân ái chính là cách tốt nhất để cảm hóa được con người lầm lỗi, giúp họ trở thành người tốt. Đối với cây cỏ, thiên nhiên cũng vậy, chỉ có tình yêu thương, lòng quý trọng mới biến thiên nhiên thành những người bạn thực sự trong cuộc sống của chúng ta.

Bờ ao trước nhà sàn Bác cho trồng hai cây y lan với dáng đứng vươn thẳng lên bầu trời rồi Người đặt tên cho cây là cây vũ trụ để chúc mừng thành tựu của nhân dân Liên Xô sau khi được biết bạn vừa phóng thành công hai con tàu vũ trụ Phương Đông 5 và Phương Đông 6. Vào mỗi độ hè sang, khu vườn của Bác càng được tô điểm với những sắc màu rực rỡ của hoa phượng, hoa liễu đỏ, hoa bằng lăng tím, hoa phong lan đủ màu sắc quanh ao cá.

Thăm khu vực nhà sàn, khách tham quan sẽ được chiêm ngưỡng một khung cảnh vừa giản dị, vừa nên thơ với hàng rào dâm bụt gợi nhớ hình ảnh ngôi nhà ở Làng Sen quê hương Bác, vườn hoa trước nhà với các loài hoa mang nhiều hương thơm thường được trồng ở các vùng quê như hoa mộc, hoa sói, hoa nhài, hoa dạ hương. Mảnh vườn nhỏ phía sau nhà với những luống cam, bưởi mang đến cho ta một cảm giác bình yên và thật sự gần gũi như hình ảnh quê hương trong tâm khảm của mỗi con người. Ở góc cầu thang nhà sàn là cây vú sữa của đồng bào miền Nam mà Bác đã cho chuyển từ ngôi nhà số 54 về trồng tại đây sau khi nhà sàn được hoàn thành. Hằng ngày dù bận trăm công ngàn việc Bác vẫn dành thời gian để chăm sóc, tưới tắm cho cây như gửi gắm vào trong đó tất cả tình cảm Bác dành cho đồng bào miền Nam.

Trước khi ngôi nhà sàn được đưa vào xây dựng, Bác đề nghị hạn chế tối đa việc chặt cây nhằm duy trì đến mức tốt nhất vườn cây đã có sẵn từ trước. Chính vì vậy mà nhiều cây cổ thụ quý hiếm vẫn được gìn giữ và chăm sóc cho đến tận ngày hôm nay như: Những cây cơm nguội, cây đa, cây xoài, cây ngân hoa, cây hoàng lan,… Bác rất thích làm việc giữa khung cảnh thiên nhiên. Những nơi làm việc yêu thích của Người là dưới giàn hoa Phủ Chủ tịch và ngôi nhà sàn giản dị ở giữa vườn hoa xanh mát. Nơi đây giữa thiên nhiên hoa lá, dường như Bác cảm thấy minh mẫn và thư thái hơn để đưa ra nhiều suy nghĩ, nhiều quyết sách đúng đắn, phù hợp với tình hình đất nước. Đây còn là nơi Bác dành để tiếp đón các đoàn khách đặc biệt của mình. Bác thích trò chuyện, tiếp khách tại đây bởi không bị giới hạn bởi không gian và các nghi thức ngoại giao, con người dễ gần gũi với nhau hơn. Được Bác tiếp đón tại giàn hoa Phủ Chủ tịch hay ở tầng một nhà sàn là một kỷ niệm khó quên đối với những vị khách của Bác.

Những năm tháng cuối cùng của cuộc đời, nỗi nhớ miền Nam da diết trong lòng Bác. Không có dịp vào thăm miền Nam, Bác dành hết tình cảm của mình vào việc chăm sóc những cây dừa miền Nam trước ngôi nhà sàn hay cây vú sữa mà đồng bào miền Nam đã tặng Bác. Trước lúc đi xa Bác còn căn dặn đồng chí Vũ Kỳ tìm thêm các giống xoài miền Nam trồng xen kẽ giữa những cây xoài cổ thụ trên con đường xoài để cây có thời gian kịp phát triển thay thế những cây đã già cỗi.

Tham quan khu vườn Phủ Chủ tịch, tìm hiểu một số câu chuyện về những loài cây trong vườn Bác, chúng ta càng cảm nhận sâu sắc về tình cảm ấm áp của Bác không chỉ đối với con người mà còn lan tỏa sang cỏ cây hoa lá. Có thể nói, cây cỏ quanh nhà Bác không còn vô tri, vô giác mà như được thổi hồn vào nhờ tình yêu thương và bàn tay chăm sóc của Bác. Mỗi cây đều được Bác nâng niu, trân trọng và xem như những người bạn tri ân trong cuộc sống của mình. Mỗi buổi chiều sau giờ làm việc, khi những người phục vụ trở về với gia đình riêng của mình, Bác chỉ có thiên nhiên làm bầu bạn. Cỏ cây hoa lá rì rào quanh ngôi nhà xua đi sự tĩnh mịch, vắng vẻ, như tiếp thêm cảm hứng cho tâm hồn dễ rung cảm của Bác, giúp Người viết nên những áng thơ dạt dào tình yêu đất nước, quê hương.

Nơi Bác Hồ ở tràn ngập màu xanh của thiên nhiên, hoa lá, rộn tiếng chim ca. Cảnh sắc thật nên thơ trong sự hài hòa cân bằng sinh thái. Con người và thiên nhiên nơi đây tạo nên sự hoàn chỉnh, dung hòa trong mối quan hệ cộng sinh tự nhiên. Việc nước bộn bề với bao căng thẳng, lo toan nhưng mỗi khi trở về nơi này, Bác được hưởng những phút giây thư giãn, được tiếp thêm nguồn sinh lực mới để tiếp tục cống hiến cho Tổ quốc, cho nhân dân.

Được sống giữa môi trường thiên nhiên trong lành, Bác có thêm nhiều ý tưởng sáng tạo mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Cuối năm 1959, cũng từ nơi này, ngày Tết trồng cây đã được Bác phát động với mục tiêu “Trong mười năm, đất nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu sẽ điều hòa hơn, cây gỗ sẽ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta”. Lời kêu gọi của Bác được sự hưởng ứng rộng rãi của các địa phương trong cả nước. Cũng từ sau Tết trồng cây đầu tiên, phong trào đã trở thành một nếp sống đẹp, một truyền thống gắn bó không thể thiếu trong mỗi người dân Việt Nam khi xuân về.

Không chỉ kêu gọi nhân dân tích cực tham gia trồng cây, Bác luôn trực tiếp tham gia, cổ động cho phong trào phát triển. Mỗi năm cứ khi Tết đến, xuân về Bác đều tự mình trồng cây trong Phủ Chủ tịch để làm gương. Bác thường xuyên tổ chức những chuyến công tác đến các địa phương để thăm hỏi, động viên, cùng trồng cây với nhân dân. Bác còn tặng cả huy hiệu của Người cho những gương người tốt, việc tốt, điển hình trong hoạt động trồng cây bảo vệ môi sinh, môi trường.

Nhờ có sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của Bác, phong trào đã được phát triển mạnh mẽ cả về quy mô lẫn chiều sâu. Hàng ngàn héc ta rừng đã được phủ xanh, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao đời sống kinh tế và duy trì sự ổn định, bền vững cho môi trường sống của nhân dân ta. Mỗi người tham gia trồng thêm một vài cây xanh, đất nước ta có thêm hàng triệu cây xanh góp phần  làm cho môi trường sống càng thêm trong lành, thêm đẹp và thêm ý nghĩa.

Có thể nói ngày nay nhân loại đang đối diện với rất nhiều vấn đề bức xúc về môi trường. Sự phát triển kinh tế càng nhanh thì kéo theo nhiều hệ lụy lên môi trường sống của chúng ta. Môi trường sống ở các đô thị đang bị ô nhiễm, ngột ngạt vì khói bụi và chất thải đe dọa sức khỏe và chất lượng sống của con người. Nhiều khu công nghiệp với hàng ngàn nhà máy đang xả chất thải sản xuất trực tiếp ra môi trường, gây ô nhiễm nguồn nước, đất đai và không khí. Nạn chặt phá rừng, buôn bán gỗ lậu, khai thác tài nguyên, khoáng sản diễn ra ngày càng tinh vi trên khắp các cánh rừng gây ra nhiều hậu qủa nặng nề như làm gia tăng nhiệt độ trái đất kéo theo lũ lụt, sạt lở đất… Rõ ràng nạn ô nhiễm môi trường do con người gây ra lại quay trở lại ảnh hưởng trực tiếp lên đời sống của con người. Giải quyết ô nhiễm môi trường ngày nay đã trở thành một vấn đề không chỉ của riêng một quốc gia, một dân tộc nào mà trở thành một vấn đề nóng bỏng của toàn cầu. Các quốc gia trên thế giới đều xem đây là một vấn đề ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển của mình. Trong số rất nhiều các giải pháp được đưa ra thì giải pháp trồng cây, gây rừng vẫn được xem là giải pháp hữu hiệu và thiết thực nhất. Song hành với các phương án phát triển kinh tế thân thiện với môi trường thì việc trồng cây, gây rừng và các biện pháp ngăn chặn chặt phá rừng cũng được nhiều quốc gia chú trọng đầu tư.

Nhìn nhận lại phong trào Tết trồng cây mà Bác đã phát động từ nhiều năm qua, chúng ta mới thấy hết được một tư tưởng vô cùng tiến bộ, một tầm nhìn xa trông rộng của Bác Hồ về việc bảo vệ môi sinh môi trường thể hiện qua một hành động trồng cây rất đơn giản và hiệu quả mà Người đã sớm nhận thức được trong hoàn cảnh đất nước còn nhiều bộn bề với nhiều khó khăn của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Tham quan khu vườn của Bác tại Khu Di tích Phủ Chủ tich, chúng ta vẫn như cảm thấy hơi ấm tình thương của Bác còn hiện hữu nơi này. Giữa màu xanh cây lá, ta vẫn thấy hình bóng Bác nhân từ như ông Tiên trong câu chuyện cổ tích đang chăm chút, tưới tắm cho từng gốc cây, ngọn cỏ. Giữa lòng thủ đô Hà Nội náo nhiệt, ngột ngạt, vườn cây nơi đây cho ta cảm giác bình yên, thư thái, gợi mở những suy nghĩ về ý nghĩa của cuộc sống. Màu xanh nơi đây chính là cội nguồn cuộc sống và cũng chính là một tương lai bền vững mà con người đang tích cực hướng tới. Vườn cây Khu Di tích Phủ Chủ tịch sẽ mãi là một bức thông điệp với các thế hệ hôm nay và mai sau: “Hãy giữ lấy màu xanh, đây chính là cuộc sống tương lai”.

Theo Lê Thị Thanh Loan
Phòng TT – GD
Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Kim Yến
(st)

bqllang.gov.vn

Thủ tướng Vương quốc Đan Mạch đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Vương quốc Đan Mạch, Bà Helle Thorning Schmidt sang thăm chính thức Việt Nam từ ngày 7 đến ngày 8 tháng 11 năm 2012.

Đan Mạch và Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm 1971. Ở Bắc Âu nhưng Đan Mạch là nơi có phong trào nhân dân ủng hộ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Quan hệ hai nước thời gian qua ngày càng phát triển tốt đẹp. Hai bên thường xuyên trao đổi Đoàn cấp cao. Bà Helle Thorning Schmidt là Thủ tướng Đan Mạch đầu tiên tới thăm Việt Nam, khẳng định mối quan hệ song phương giữa Đan Mạch và Việt Nam ngày càng được củng cố vững chắc.

thu tuong dan machThủ tướng Helle Thorning Schmidt
cùng các đại biểu trong Đoàn vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong chuyến thăm Việt Nam lần này của Thủ tướng Helle Thorning Schmidt, hai bên sẽ trao đổi các biện pháp tăng cường hợp tác song phương trong các lĩnh vực chính trị – ngoại giao, kinh tế – thương mại – đầu tư, giáo dục đào tạo và văn hóa; tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Đan Mạch tìm hiểu thị trường Việt Nam; thúc đẩy các dự án hợp tác đầu tư, kinh doanh với Việt Nam, nhất là trong các lĩnh vực mà Đan Mạch có thế mạnh như: Cảng biển, vận tải biển, công nghệ xanh, năng lượng tái tạo, công nghiệp ximăng…

Với tình cảm hữu nghị và thân thiết, sáng 8/11/2012, Thủ tướng Helle Thorning Schmidt cùng các đại biểu trong Đoàn đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Việt Nam tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (phần 6)

“Muốn xây dựng một xã hội mới và tốt đẹp, thì cần phải tiêu diệt những thói hư, tật xấu của xã hội cũ còn sót lại. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải bồi dưỡng con người xã hội chủ nghĩa. Con người xã hội chủ nghĩa là con người có đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng”.

“Bài nói tại Hội nghị phổ biến Nghị quyết của Bộ Chính trị về cuộc vận động “Nâng cao tinh thần trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu”, 27-7-1963,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr. 110.

“Vì sao Cao Bằng, Lạng Sơn chỉ còn có được khoảng 50% số hộ vào hợp tác xã? Có phải vì đồng bào nông dân không thích Hợp tác xã không? – Không phải. Thế thì vì ai?

Các chú phải trả lời: Là vì tôi. Mỗi người phải nhận lấy phần trách nhiệm của mình, mà không nên nói lãnh đạo chung chung. Trung ương cũng lãnh đạo, Tỉnh ủy cũng lãnh đạo”.

“Bài nói tại Hội nghị truyên giáo miền núi”, 31-8-1963,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr. 131.

“Một điều rất quan trọng nữa là các đồng chí Bộ trưởng, Thứ trưởng và cán bộ lãnh đạo phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải gìn giữ tác phong gian khổ phấn đấu, phải không ngừng nâng cao chí khí cách mạng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Có như thế mới xứng đáng với đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng chống đế quốc Mỹ và tay sai của chúng để giải phóng miền Nam và hoà bình thống nhất nước nhà.

Nhân dân ta rất tốt. Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”.

“Nói chuyện tại phiên họp Hội đồng Chính phủ cuối năm 1963”, 26-12-1963,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr.186.

“Cán bộ phải gương mẫu, chí công vô tư, cần, kiệm, liêm, chính, hết lòng vì dân, thực hành dân chủ, làm trọn công việc, tham gia lao động, luôn luôn rèn luyện lập trường, tư tưởng và đạo đức cách mạng, đi sâu vào nghiệp vụ, kỹ thuật”.

“Thư gửi Đại hội Hợp tác xã và đội sản xuất nông nghiệp tiên tiến vùng đồng bằng miền Bắc”, 13-1-1964,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr.197.

“Hết lòng hết sức phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân. Đặt lợi ích của Đảng và lợi ích của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân.

… Luôn luôn thắt chặt quan hệ với quần chúng, học tập quần chúng, tìm hiểu, lắng nghe nguyện vọng và ý kiến của quần chúng để phản ánh cho Đảng và kịp thời giải quyết một cách thích đáng. Ra sức tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin và đường lối, chính sách của Đảng trong quần chúng, tổ chức quần chúng thực hiện các chủ trương, chính sách và nghị quyết của Đảng; phát triển ảnh hưởng của Đảng trong quần chúng.

… Gương mẫu trong lao động sản xuất, trong công tác, trong việc chấp hành chính sách của Đảng và Chính phủ, trong việc bảo vệ tài sản của Nhà nước và của tập thể; thực hành tiết kiệm, tích cực đấu tranh chống lãng phí, tham ô.

… Thực hành tự phê và phê bình; kiên quyết đấu tranh với mọi tư tưởng và hành động ở trong Đảng và ngoài Đảng có hại đến lợi ích chung của Đảng, của cách mạng”.

“Mừng Đảng ta 34 tuổi”, 3-2-1964,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr.203.

“Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc, rất là quan trọng. Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng. Đạo đức cách mạng là triệt để trung thành với cách mạng, một lòng một dạ phục vụ nhân dân”.

“Bài nói chuyện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội”, 21-10-1964.
Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr.329.

“Biết bao đảng viên cộng sản là anh hùng, chiến sĩ trên mặt trận sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và trong các ngành hoạt động khác. Họ không đòi danh đòi lợi. Họ một lòng một dạ phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân. Họ là những đảng viên bình thường nhưng phẩm chất cách mạng của họ thật là cao quý. Đảng ta rất tự hào có những người con xứng đáng ấy của giai cấp và của dân tộc”.

“Bài nói tại Hội nghị chỉnh huấn do Trung ương triệu tập”, 22-1-1965,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr.373.

“Các chú vẫn thường nói: Nhân dân ta rất anh hùng, ra ngõ gặp anh hùng. Điều đó rất đúng. Có thể nói trong mỗi nhà đều có anh hùng, như thế ra ngõ mới gặp anh hùng chứ! Nhìn lại lịch sử mấy nghìn năm của ông cha ta, ta cũng thấy điều đó. Cứ mỗi lần có những thử thách lớn thì nhân dân ta lại tỏ rõ khí phách, nêu cao phẩm chất tốt đẹp của mình”.

“Ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách “Người tốt, việc tốt””, tháng 6 năm 1968,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.547.

“Từng giọt nước nhỏ thấm vào lòng đất, chảy về một hướng mới thành suối, thành sông. Biết bao nhiêu giọt nước nhỏ hợp lại mới thành biển cả. Một pho tượng hay một lâu đài cũng phải có cái nền rất vững chắc mới đứng vững được. Nhưng người ta dễ nhìn thấy pho tượng và lâu đài mà không chú ý đến cái nền. Như thế là chỉ thấy cái ngọn mà quên mất cái gốc!”.

“Ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách “Người tốt, việc tốt””, tháng 6 năm 1968,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.549.

“Chúng ta đánh giặc và xây dựng xã hội mới bằng những việc làm muôn hình muôn vẻ của hàng chục triệu con người như thế, chứ không phải chỉ bằng một vài việc làm nổi bật và vang dội của một số cá nhân anh hùng”.

“Ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách “Người tốt, việc tốt””, tháng 6 năm 1968,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.550-551.

“Người cộng sản chúng ta không được phút nào quên lý tưởng cao cả của mình là: Suốt đời làm cách mạng phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, làm cho chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản thắng lợi hoàn toàn trên Tổ quốc ta và trên thế giới. Một ngày nào mà miền Nam ta chưa được giải phóng, Tổ quốc ta chưa được thống nhất, nhân dân ta chưa được sung sướng, yên vui thì tất cả chúng ta vẫn phải đem hết tinh thần và nghị lực mà phấn đấu, hy sinh cho sự nghiệp cách mạng hoàn toàn thắng lợi”.

“Bài nói ở lớp huấn luyện đảng viên mới”, 14-5-1966,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.93.

“Các cán bộ và chiến sĩ Công an nhân dân phải ra sức trau dồi:

+ Đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, liên hệ chặt chẽ với quần chúng, một lòng một dạ phục vụ nhân dân.

+ Tác phong phải thật khách quan, thiết thực, phải tăng cường công tác điều tra nghiên cứu tổng kết và trao đổi kinh nghiệm giữa các ngành công an”.

“Bài nói tại Đại hội thi đua lực lượng Công an nhân dân”, 12-10-1966,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.145-146.

“… đảng viên gương mẫu trong mọi công việc, liên hệ chặt chẽ với quần chúng, nội bộ thực sự đoàn kết; chấp hành tốt đường lối, chính sách của Đảng, lãnh đạo tốt sản xuất và chiến đấu; một lòng một dạ phục vụ nhân dân, thiết thực chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; đối với Đảng thì cũng cố tốt và phát triển tốt”.

“Bài nói tại Hội nghị tổng kết ba năm xây dựng chi bộ và đảng bộ cơ sở “bốn tốt””, tháng 4 năm 1966,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.77.

“1- Trung với nước, hiếu với dân, vì sự nghiệp chống Mỹ, vì chủ nghĩa xã hội, luôn luôn nêu cao tinh thần hy sinh chiến đấu, lao động quên mình.

2- Chấp hành triệt để đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, hăng hái thi đua yêu nước, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống.

3- Quyết tâm đi sâu vào khoa học- kỹ thuật và nghiệp vụ, phát huy tinh thần sáng tạo, dám nghĩ dám làm, ra sức học tập và vận dụng tốt sáng kiến và kinh nghiệm tiên tiến, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả chiến đấu.

4- Nêu cao ý thức tập thể và làm chủ tập thể, ý thức tổ chức và kỹ luật, đoàn kết đồng chí, đoàn kết nhân dân, đi đường lối quần chúng.

5- Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, khiêm tốn giản dị, gương mẫu về mọi mặt”.

“Nội dung chủ nghĩa anh hùng cách mạng của chúng ta”, tháng 4 năm 1966,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.90. 

“… đã là đảng viên thì phải cố thành một đảng viên “bốn tốt”, tức là phải hết lòng phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, làm đúng chính sách của Đảng, nếu không thì vào làm gì? Đảng không bắt buộc ai vào Đảng cả. Vào thì có nhiệm vụ, có trách nhiệm của đảng viên, nếu sợ không phục vụ được nhân dân, phục vụ được cách mạng thì đừng vào hay là khoan hãy vào.

Đảng không phải chỉ cần con số cho nhiều, tuy nhiều là tốt, nhưng phải có cái chất của người đảng viên.

Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: Mình vào Đảng để làm đày tớ cho nhân dân, Bác nhấn mạnh: Làm đày tớ nhân dân chứ không phải là “quan” nhân dân.

Lãnh đạo là làm đày tớ nhân dân và phải làm cho tốt”.

“Bài nói với cán bộ tỉnh Hà Tây”, 10-02-1967,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.22”

(Theo Tài liệu tham khảo “Hồ Chí Minh về suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tuỵ, trung thành của nhân dân, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị” – Ban Tuyên giáo Trung ương).

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 1)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 2)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 3)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (phần 4)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (phần 5)

Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và con đường phát triển của thế giới đương đại

(ĐCSVN) – Cách đây 95 năm, quần chúng lao động nước Nga, dưới sự lãnh đạo của chính Đảng tiền phong do Lênin vĩ đại đứng đầu, đã làm nên một sự kiện làm rung chuyển toàn thế giới: Cách mạng Tháng Mười Nga.

Lênin với Cách mạng Tháng Mười Nga (Ảnh tư liệu)

Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thành công, đánh đổ chế độ quân chủ chuyên chế, đập tan mọi phương án chính trị tiêu cực của các lực lượng tư sản, khai sinh ra chế độ xã hội chủ nghĩa đầu tiên trong lịch sử loài người. Giương cao lá cờ búa liềm thắm hồng sắc màu cách mạng, giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn Nga thực sự nắm quyền làm chủ, xây dựng chính quyền Xô viết, biến chủ nghĩa xã hội từ mơ ước và lý luận thành hiện thực sinh động ở Nga và sau đó trên toàn Liên bang chiếm 1/6 diện tích địa cầu.

95 năm đã trôi qua, thế giới có biết bao đổi thay, đảo lộn; đã xuất hiện rất nhiều sự đánh giá khác nhau về sự nghiệp của những người cộng sản. Tuy nhiên, chính thực tiễn lịch sử thế giới trong gần một thế kỷ qua, với những sự thật không thể thêm bớt, đã khẳng định vai trò và ý nghĩa hết sức to lớn của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga: Là cột mốc mở đầu thời đại ngày nay.

Bắt đầu từ Tháng Mười Nga năm 1917, đã chấm dứt thời đại độc tôn của chủ nghĩa tư bản trong nền kinh tế – chính trị thế giới, mở ra kỷ nguyên mới của phát triển và tiến bộ xã hội. Từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản bộc lộ rõ rệt nhất những hạn chế không thể vượt qua. Nền văn minh vật chất sung mãn do chủ nghĩa tư bản tạo ra đã được xây dựng bằng nước mắt và máu của quần chúng lao động khắp toàn cầu; sự phồn vinh của quốc gia, dân tộc, giai cấp, tầng lớp người này phải được đánh đổi bằng sự bần cùng hoá của nhiều quốc gia, dân tộc, giai cấp, tầng lớp khác; sự hưng thịnh của một nhúm siêu cường phải được đánh đổi bằng hàng loạt cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc, biến hàng trăm quốc gia Á, Phi, Mỹ La tinh thành hệ thống thuộc địa đáng hổ thẹn của chủ nghĩa thực dân…

Hạn chế lịch sử của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn độc quyền đế quốc cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đặt nhân loại trước một thách thức chung là tìm con đường giải phóng khỏi chế độ bóc lột, áp bức, bất công để thực hiện mục tiêu phát triển. Ở vào điểm giao thời giữa hai thế kỷ, đã xuất hiện nhiều ý tưởng, mô hình, phương án thay thế chế độ tư bản chủ nghĩa, trong đó có tư tưởng Hô-xê Mác-ti (Cuba, 1853-1895) chủ trương chống đế quốc, xây dựng một chế độ xã hội của tất cả và cho mọi dân nghèo trên thế gian; tư tưởng tam dân của Tôn Trung Sơn (Trung Quốc, 1866-1925); tư tưởng dân chủ – xã hội cách mạng châu Âu; tư tưởng yêu nước và giải phóng dân tộc của đông đảo quốc gia Á, Phi, Mỹ La tinh… Như kết tinh của mọi tư tưởng giải phóng và phát triển tiến bộ của thời đại, Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 nổ ra, đáp ứng đầy đủ nhất những yêu cầu bức bách của lịch sử là xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, mở ra chân trời mới cho mục tiêu phát triển và tiến bộ xã hội.

Từ chiếc nôi nước Nga và Liên Xô, cách mạng vô sản và chế độ xã hội chủ nghĩa đã được tiến hành thắng lợi ở nhiều không gian địa chính trị trọng yếu; chủ nghĩa xã hội trở thành một hệ thống thế giới, đối trọng hữu hiệu trên nhiều lĩnh vực với hệ thống tư bản chủ nghĩa. Dưới ánh sáng của ngọn hải đăng Tháng Mười Nga, quần chúng lao động và các lực lượng cách mạng khác đã xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở 15 quốc gia thuộc châu Âu, châu Á và cả ở châu Mỹ; cộng với nhiều quốc gia định hướng xã hội chủ nghĩa ở Á, Phi và Mỹ La tinh. Liên tục trong nhiều thập kỷ, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã khôi phục đất nước sau chiến tranh, triển khai các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và đã đạt hàng loạt thành tựu vĩ đại: vượt chủ nghĩa tư bản về tốc độ tăng trưởng kinh tế; công nghiệp hóa mạnh mẽ, xây dựng được một nền công nghiệp với một số mũi nhọn thế giới; nông nghiệp được quan tâm hiện đại hóa; giáo dục, khoa học, kỹ thuật và văn hóa có bước tiến vượt bậc, đạt đỉnh cao thế giới trên không ít tiêu chí, trở thành tấm gương về ưu việt xã hội mà chính chủ nghĩa tư bản phải tiếp thu để điều chỉnh, thích nghi trong bối cảnh thời đại mới; quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc, Liên Xô đạt thế cân bằng chiến lược với Mỹ vào giữa thập kỷ 70… Cho dù không tránh được một số hạn chế, sai lầm, cách mạng xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa xã hội đã thực sự là lực lượng mở ra và thực thi mục tiêu giải phóng và phát triển cho nhân loại trong những thập kỷ sôi sục đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc và đấu tranh xã hội. Hiểu theo nghĩa đó, rõ ràng chủ nghĩa xã hội đóng vai trò là một trong những nhân tố quyết định xu hướng vận động của thế giới trong thế kỷ XX.

Cách mạng Tháng Mười Nga đã mở ra và tạo động lực mạnh mẽ cho phong trào giải phóng dân tộc trong thời đại mới, thời đại của chủ nghĩa đế quốc bị tấn công và cách mạng vô sản bùng nổ. Theo con đường được ngọn lửa Tháng Mười Nga thắp sáng, các dân tộc trên thế giới đã vùng lên giải phóng khỏi các chế độ quân chủ, phát xít, thực dân, đế quốc; xác lập nền cộng hòa với chủ quyền đối nội, đối ngoại không thể bác bỏ; xây dựng chế độ xã hội mới do người lao động làm chủ. Chỉ tính từ sau chiến tranh thế giới II, liên tiếp xuất hiện những cột mốc và làn sóng giải phóng dân tộc: 1945, 1954 và 1975 của Việt Nam, 1949 của Trung Quốc, 1959 của Cuba, thập kỷ 60 của châu Phi, thập kỷ 70 của Mỹ La tinh, thập kỷ 80 của các thuộc địa cuối cùng được giải phóng. Dưới sức công phá của dòng thác cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới do Cách mạng Tháng Mười Nga mở ra, hệ thống thuộc địa do chủ nghĩa thực dân đế quốc thiết lập trong suốt 5 thế kỷ (từ 1492) đã hoàn toàn sụp đổ trong vòng chưa đầy 5 thập kỷ. Lịch sử thế giới hiện đại không thể không khắc ghi công lao và ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Mười Nga!

Động lực và cảm hứng từ Cách mạng Tháng Mười Nga tiếp tục tạo nên xu hướng phê phán, phủ định và thay thế chủ nghĩa tư bản bằng một chế độ xã hội tiến bộ hơn trong bối cảnh thế giới hiện nay. Ngay cả trong điều kiện chủ nghĩa xã hội bị khủng hoảng, xu hướng chống chủ nghĩa tư bản cũng không suy giảm. Sự hằn học, chống phá quyết liệt hiện nay của các thế lực thù địch đối với Cách mạng tháng Mười và chủ nghĩa xã hội chính là vì cuộc cách mạng vĩ đại ấy tiếp tục tác động mạnh mẽ đến triển vọng của lịch sử loài người trong thế kỷ XXI, thế kỷ của đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản ở tầm cao mới.

Thế kỷ XXI đặt ra nội dung và yêu cầu mới cho mục tiêu phát triển. Đó là sự phát triển trong hoà bình và tự do; phát triển hài hoà giữa vật chất và tinh thần; phát triển trong công bằng và dân chủ; phát triển bền vững và nhân văn; sự phát triển của mỗi người, mỗi nhóm xã hội, mỗi giai cấp, tập đoàn, mỗi quốc gia, dân tộc phải là điều kiện tích cực cho sự phát triển của những người khác và toàn bộ loài người. Khuôn khổ này của sự phát triển không thể tương dung với giới hạn chật hẹp của hình thái kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa, cái hình thái chỉ có thể tồn tại và vận động được nhờ giá trị thặng dư thông qua bóc lột lao động, nhờ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng lớn, nhờ đầu cơ tài chính và chiến tranh,v.v… Bởi vậy, mục tiêu phát triển hiện đại tự nó đặt ra yêu cầu tiếp tục giải phóng, giải phóng triệt để hơn khỏi con đường và chế độ tư bản chủ nghĩa trong mọi biến thái khác nhau của chúng.

Chủ nghĩa tư bản, dưới hình thức hiện đại nhất của nó là chủ nghĩa tự do mới, đã bị phê phán quyết liệt ngay từ bên trong và ở quy mô toàn cầu. Cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản và khuynh hướng xây dựng một xã hội khác thay thế, bắt đầu từ Cách mạng Tháng Mười Nga cách đây 95 năm, đang và tiếp tục diễn ra một cách không thể phủ nhận trong thời đại ngày nay.

Lô gích của sự phê phán và phủ định chủ nghĩa tư bản được xác lập bởi chính các xu thế phát triển khách quan của thế giới đương đại, trong đó bao gồm cả sự phát triển của bản thân chủ nghĩa tư bản. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã sản xuất ra hàng loạt tư liệu sản xuất, điển hình là mạng in-tơ-nét, không thể tương dung với chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa; đồng thời, đã đẩy trình độ xã hội hoá các tư liệu sản xuất chủ yếu lên nấc thang của quốc tế hoá, toàn cầu hoá, ngày càng không thể chứa đựng nổi trong khuôn khổ hạn hẹp của các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Bên cạnh đó, xu thế toàn cầu hoá tự nó đặt ra đòi hỏi về sự dân chủ, công bằng, bình đẳng giữa các chủ thể đồng hành, về nguyên tắc không thể chấp nhận sự bất bình đẳng mà quá trình toàn cầu hoá tự do tư bản chủ nghĩa gây ra hiện nay.

Kiên định theo con đường và phát huy bài học sáng tạo của Cách mạng Tháng Mười Nga, chủ nghĩa xã hội chứng minh sức sống và tính ưu việt của mình thông qua quá trình cải cách, đổi mới và phát triển. Từ cuối thế kỷ XX đến nay, các nước xã hội chủ nghĩa và các lực lượng cộng sản thế giới tích cực đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức và cải cách chính sách phát triển trên mọi lĩnh vực. Những nguyên lý và các giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lênin được nhận thức đúng đắn hơn; những kinh nghiệm thành công và những hạn chế, vấp váp của chủ nghĩa xã hội được xác định một cách chân thực hơn; những xu thế vận động của thế giới hiện đại được lĩnh hội kịp thời, khách quan hơn. Nhờ vậy, các quốc gia xã hội chủ nghĩa không những thoát khỏi khủng hoảng, mà còn đạt nhiều bước tiến lớn. Trung Quốc liên tục dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng kinh tế suốt hơn 30 năm qua, hiện đứng thứ 2 về GDP trên thế giới. Việt Nam đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, ra khỏi tình trạng kém phát triển, đang trở thành người bạn và đối tác tin cậy của các nước. Cuba kiên định và sáng tạo trong vòng tay ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ của bè bạn khắp năm châu. Phong trào cộng sản quốc tế đã phục hồi và phát triển với gần 80 đảng, trên 90 triệu đảng viên, trong đó có một số đảng chấp chính, hoặc chiếm đa số trong quốc hội, hoặc có vị trí quan trọng trong đời sống đất nước.

Trên không gian Mỹ La tinh rộng lớn, danh từ chủ nghĩa xã hội đang trở thành động lực tập hợp lực lượng và ấp ủ niềm hy vọng lớn lao nhất, không phải là tia hy vọng mỏng manh, trừu tượng, mà là niềm tin công khai của đông đảo nhân dân đang cống hiến sức lực và trí tuệ cho công cuộc xây dựng xã hội mới. Tổng thống Vênêduêla Hugo Chavez nhất quán với tính chất xã hội chủ nghĩa của cuộc cách mạng Bô-li-va ở Vênêduêla, đưa đất nước đi lên “chủ nghĩa xã hội của thế kỷ XXI”. Tổng thống Bôlivia Evo Morales nhiều lần tuyên bố “chủ nghĩa xã hội là niềm hy vọng của Mỹ La tinh”, khẳng định mình là người “chống chủ nghĩa đế quốc từ trong xương tuỷ”. Tổng thống Êcuađo R. Correa giành thắng lợi trong vòng 2 bầu cử Tổng thống năm 2006 nhờ tuyên bố sẽ sửa đổi Hiến pháp theo hướng xây dựng “chủ nghĩa xã hội của thế kỷ XXI”. Trong Lễ nhậm chức đầu năm 2007, Tổng thống Nicaragoa Daniel Ortega tuyên bố “hiến dâng cả cuộc đời cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở đất nước mình”…

Với tính chất là sản phẩm của Cách mạng Tháng Mười Nga, chủ nghĩa xã hội hiện nay vẫn là một lực lượng chính trị, quân sự, kinh tế, tinh thần không thế lực nào có thể bỏ qua trong những tính toán chiến lược toàn cầu. Chính vì chân lý sáng tỏ này, mà nhiều trí tuệ lớn như Jacques Derrida, Noam Chomsky, Joseph Stiglizt, Dinoviev…, giống như Albert Enstein, Paul Satre, Bertral Roussel… trước kia, đều biểu thị sự đồng tình không che dấu với chủ nghĩa cộng sản, công khai đánh giá Mác là nhà tư tưởng của thế kỷ XXI và Cách mạng Tháng Mười Nga là sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới hiện đại./.

PGS.TS Nguyễn Viết Thảo
cpv.org.vn

Thủ tướng Liên bang Nga đặt vong hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Liên bang NgaDmitry Antolyevich Medvedev thăm chính thức Việt Nam ngày 7/11/2012. Tháng 10/2010, ông Medvedev từng có chuyến thăm chính thức Việt Nam trong vai trò Tổng thống Liên bang Nga. Cũng trong chuyến đi này, Ngài Thủ tướng cũng tham dự Hội nghị thượng đỉnh Nga – ASEAN tại Hà Nội.

Thu tuong nga.liet syThủ tướng D. Medvedev cùng các đại biểu trong Đoàn đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Việt Nam

Chuyến thăm chính thức lần này của Thủ tướng Dmitry Antolyevich Medvedev diễn ra trong bối cảnh quan hệ hai nước có những bước phát triển mới. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tới thăm chính thức Nga hồi tháng 7 và hội đàm với Tổng thống Nga Vladmir Putin cũng như Thủ tướng D. Medvedev. Trong chuyến thăm của Chủ tịch nước, hai bên nhất trí nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện. Đây là sự kiện chính trị quan trọng, thể hiện tính phát triển liên tục của mối quan hệ song phương, khẳng định quyết tâm của lãnh đạo và nhân dân hai nước trong việc phát huy hiệu quả mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Liên bang Nga. Trong chuyến thăm của Thủ tướng Medvedev, Việt Nam – Nga sẽ cùng thảo luận các biện pháp nhằm tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh vực và trao đổi những vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm.

Thu tuong nga.langThủ tướng D. Medvedev cùng các đại biểu trong Đoàn vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhân dịp này, sáng 7/11/2012, Thủ tướng D. Medvedev cùng các đại biểu trong Đoàn đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Việt Nam tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ Bắc Sơn, Hà Nội. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Thủ tướng Liên bang Nga D.A.Medvedev Kính viếng” và đặt hoa tưởng niệm và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, người bạn và là người đồng chí thân thiết của nhân dân Liên xô trước đây và Liên bang Nga ngày nay. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Thủ tướng Liên bang Nga D.A.Medvedev Kính viếng.”

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (phần 5)

63

“Chủ nghĩa xã hội là cái gì? Là mọi người được ăn no mặc ấm, sung sướng, tự do. Nhưng nếu muốn tách riêng một mình mà ngồi ăn no mặc ấm, người khác mặc kệ, thế là không tốt. Mình muốn ăn no mặc ấm, cũng cần làm sao cho tất cả mọi người được ăn no mặc ấm, như thế mới đúng. Muốn như vậy, phải ra sức công tác, ra sức lao động sản xuất.

Tiền đồ của mỗi người nằm trong tiền đồ chung của dân tộc”.

“Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ Đảng ngành giáo dục”, tháng 6-1957,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.8, tr.396.

…Đảng viên và cán bộ ta nói chung là trung thành, tận tụy, hăng hái. Nhưng một số đảng viên và cán bộ còn có bệnh công thần, suy tị, ỷ lại, tiêu cực không gương mẫu, đầy rẫy chủ nghĩa cá nhân.

Từ nay về sau, tất cả các đảng viên, cán bộ và chi bộ phải thường thường ôn lại, tự liên hệ và giữ đúng những tiêu chuẩn của người đảng viên:

1. Suốt đời kiên quyết phấn đấu cho chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

2. Rèn luyện tư tưởng vô sản, sửa chữa những tư tưởng sai lầm. Kiên quyết đứng hẳn trên lập trường giai cấp công nhân, không đứng chân trong chân ngoài.

3. Đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết. Biết đem lợi riêng, lợi ích của cá nhân phục tùng lợi ích chung của cách mạng.

4. Tuyệt đối chấp hành nghị quyết và kỷ luật của Đảng.

5. Liên hệ chặt chẽ với quần chúng.

6. Luôn luôn cố gắng học tập, thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình đồng chí mình.

Phải giữ đúng những tiêu chuẩn đó mới xứng đáng là người đảng viên”.

Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ Kiến An”, 18-1-1960,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 33-34.

Phải thấu suốt chính sách của Đảng và Chính phủ. Phải đi đúng đường lối quần chúng.

Phải thật sự gần gũi nhân dân, lắng nghe ý kiến và nguyện vọng của nhân dân, học hỏi kinh nghiệm của nhân dân.

Phải biến quyết tâm của Đảng và Chính phủ thành quyết tâm của quần chúng.

Phải thiết thực quan tâm đến đời sống của nhân dân.

Phải cần, kiệm, liêm, chính. Phải gương mẫu. Phải có tinh thần trách nhiệm cao độ.

Phải chống quan liêu, mệnh lệnh, hình thức. Chống tham ô lãng phí.

Phải làm đúng những điều đó mới xứng là người đày tớ trung thành của nhân dân, người cán bộ tốt của Đảng và Chính phủ”.

Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ Kiến An”, 18-1-1960.
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 36.

“Những người được cử vào Quốc hội khóa II sẽ luôn luôn cố gắng để xứng đáng là những người đày tớ trung thành của đồng bào, những đại biểu cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội”.

Lời phát biểu tại Đại hội nhân dân Thủ đô
chào mừng các vị ứng cử đại biểu Quốc hội tại Hà Nội ra mắt cử tri”, 14-4-1960,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 132.

“Đảng viên và cán bộ ta đều tốt, trung thành và hăng hái công tác, hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nhưng có một số ít đảng viên và cán bộ còn tư tưởng tiêu cực, suy tị, ỷ lại, ngại khó, ngại khổ, không gương mẫu. Đó là chủ nghĩa cá nhân, những đồng chí ấy phải quyết tâm sửa chữa”.

Bài nói tại Đại hội sản xuất tỉnh Hà Đông”, 7-6-1960,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 143-144.

“Quốc hội khóa I của ta là Quốc hội kháng chiến. Quốc hội khóa II này là Quốc hội xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà. Vì vậy, để xứng đáng là người đày tớ trung thành của nhân dân, nhiệm vụ của mỗi vị đại biểu là phải:

– Thực hành cần kiệm liêm chính, chí công vô tư,

– Một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội,

– Làm gương mẫu trong việc thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham ô.

Nói tóm lại, phải lấy việc làm thực tế mà hướng dẫn nhân dân ta xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

“Quốc hội ta vĩ đại thật”, 10-7-1960,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 172.

“Để xứng đáng với vinh dự to lớn là người đày tớ tuyệt đối trung thành của nhân dân, các đại biểu Quốc hội và cán bộ chính quyền cần phải:

Thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư.

Gương mẫu về mọi mặt: Đoàn kết, công tác, học tập, lao động.

Luôn giữ vững tác phong khiêm tốn, chất phác, và hòa mình với quần chúng thành một khối”.

“Nói chuyện tại buổi lễ bế mạc Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa II”, 15-7-1960,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 175.

“Tất cả đại biểu Quốc hội hứa với đồng bào là được cử vào Quốc hội để làm đại biểu Quốc hội, không phải là để làm quan, không phải là để ngồi trên ăn trốc, mà làm người đày tớ tuyệt đối trung thành của đồng bào”.

“Nói chuyện với đồng bào Thủ đô nhân dịp mừng Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa II thắng lợi”, 15-7-1960,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 177.

“Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào. Thành công của Đảng ta là ở nơi Đảng ta đã tổ chức và phát huy lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân, đã lãnh đạo nhân dân phấn đấu dưới lá cờ tất thắng của chủ nghĩa Mác – Lênin”.

“Diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng của Đảng Lao động Việt Nam”, 5-9-1960, Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 197.

“Chế độ ta là chế độ dân chủ. Tức là nhân dân làm chủ. Tức là cán bộ và nhân viên từ cấp trên đến cấp dưới đều là đầy tớ của nhân dân, đều phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân”.

“Một lòng một dạ phục vụ nhân dân”, 18-1-1960,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 251.

“Cán bộ và đảng viên càng phải nâng cao tinh thần phụ trách trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Phải yêu kính nhân dân. Phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh ra oai. Phải nắm vững quan điểm giai cấp, đi đúng đường lối của quần chúng, thành tâm học hỏi quần chúng, kiên quyết dựa vào quần chúng, giáo dục và phát động quần chúng tiến hành mọi chủ trương, chính sách của Đảng và của Nhà nước. Phải thật thà ngay thẳng; không được giấu dốt, giấu khuyết điểm, sai lầm. Phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo; phải thực sự cầu thị, không được chủ quan. Phải luôn luôn chăm lo đến đời sống của quần chúng. Phải “chí công vô tư” và có tinh thần “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Đó là đạo đức của người cộng sản”.

“Xây dựng những con người của chủ nghĩa xã hội”, tháng 3-1961,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 311.

“Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào – đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân. Tất cả cán bộ đều phải một lòng một dạ phục vụ  nhân dân; đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân; đều phải theo đúng chính sách của Đảng và đi đúng đường lối của quần chúng.

Do đó mà lãnh đạo phải dân chủ, thiết thực, cụ thể và toàn diện. Phải tránh cách lãnh đạo đại khái, phiến diện, chung chung. Cán bộ phải tuyệt đối tránh bệnh quan liêu mệnh lệnh, phải hết sức chống bệnh hình thức, chống lãng phí tham ô.

Trong mọi công việc, đảng viên và đoàn viên thanh niên phải làm gương mẫu để lôi cuốn nhân dân cùng tiến bộ”.

“Bài nói chuyện với đồng bào dân tộc tỉnh Tuyên Quang”, tháng 3-1961, Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 323.

“Đảng ta là Đảng lãnh đạo cách mạng. Ngoài lợi ích của nhân dân Đảng ta không có lợi ích nào khác. Vì vậy, cán bộ và đảng viên phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phải là người đày tớ hết sức trung thành của nhân dân”.

“Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Bắc Giang”, tháng 3 năm 1961,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 337.

“… bảo vệ Bác nên các chú không muốn để đồng bào đến gần, cho nên đã xô đẩy đồng bào. Thái độ thế là không tốt. Đồng bào và các cháu nhi đồng muốn đến gần Bác. Nhưng các chú thì lại không muốn. Nó có mâu thuẫn, nhưng phải làm thế nào? Mình là dân chủ, Bác cũng như các chú, đều nói là phục vụ nhân dân. Cho nên phải khéo tổ chức, nếu không khéo tổ chức thì xô đẩy cũng không được; cho nên, phải làm thế nào để vừa bảo vệ được Bác, vừa không xô đẩy đồng bào.

Tóm lại, các chú muốn bảo vệ tốt phải có kỹ thuật, phải giữ được bí mật và phải có thái độ tốt với đồng bào”.

“Bài nói chuyện với Hội nghị Tổng kết công tác cảnh vệ”,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 516-517.

“Nhân dân ta rất cần cù, thông minh và khéo léo. Trong sản xuất và sinh hoạt, họ có rất nhiều kinh nghiệm quý báu cán bộ ta cần tham gia tổng kết những kinh nghiệm quý báu ấy. Việc này các cô, các chú làm được còn ít, cần phải làm tốt hơn nữa. Cán bộ ta lại phải học tập những đức tính cần cù, giản dị và thiết thực của công nhân, nông dân để trau dồi thêm tư tưởng và tác phong của mình”.

“Bài nói tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Hội phổ biến khoa học, kỹ thuật Việt Nam”, 18-5-1963, Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr. 79.

“… cán bộ từ Trung ương đến xã đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân.

Cán bộ, đảng viên, đoàn viên cần phải xung phong gương mẫu trong mọi công việc, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Đồng bào cần phải luôn luôn giúp đỡ và phê bình cán bộ để họ làm trọn nhiệm vụ”.

“Bài nói với nhân dân và cán bộ tỉnh Nam Định”, 22-5-1963.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, tr. 91.

(Theo Tài liệu tham khảo “Hồ Chí Minh về suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tuỵ, trung thành của nhân dân, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị” – Ban Tuyên giáo Trung ương).

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn


>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 1)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 2)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 3)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (phần 4)

Cựu thanh niên xung phong lập nhà thờ Bác Hồ

Trên quê hương đất lúa Thái Bình, có một người cựu thanh niên xung phong, bằng niềm kính yêu tuyệt đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã thầm lặng lập bàn thờ Bác suốt 40 năm qua. Bà là Đỗ Thị Mến, ở thôn Lục Bắc, xã Thái Xuyên, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

Cưu TNXP 1Bà Mến trước cổng vào nhà sàn 19 tháng 5.

7 lần mang thai, 7 lần mất con

Chiến tranh đã lùi xa mấy chục năm, nhưng những vết thương mà nó để lại thì vẫn còn dai dẳng. Gặp bà Mến, chúng tôi cảm nhận được nỗi đau của thời hậu chiến.

Là con út trong một gia đình nghèo khó, tuổi thơ bà Mến phải chứng kiến cảnh hai người anh trai chết đói năm 1945. Một người anh trai khác tham gia du kích rồi nhập ngũ lên đường chống Pháp và hi sinh khi tuổi đời còn rất trẻ. Gia đình chỉ còn hai chị em gái. Người chị Đỗ Thị Mượt của bà từng nổi tiếng vì góp phần làm ra chiếc xe cút kít giúp người nông dân Thái Bình giải phóng đôi vai trong việc vận chuyển thóc lúa, hàng hóa. Vì thành tích này, năm 1962, bà Mượt đã vinh dự được nhận Huy hiệu Chiến sĩ thi đua của Bác Hồ.

Năm 1966, đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, bà Mến hăng hái tham gia Thanh niên xung phong. Năm 1967, bà được kết nạp vào Đảng. Sau đó bà về quê gánh vác nhiều việc làng, xã như làm Bí thư Chi bộ, cán bộ Văn phòng Đảng ủy xã, Hiệu trưởng Trường Mẫu giáo…

Chồng bà là ông Nguyễn Quang Dòng, nhập ngũ năm 1957, làm nhiệm vụ tuyển quân và huấn luyện quân ở chiến trường Quảng Trị, sau đó chuyển vào chiến trường Tây Nam. Năm 1972, trong một lần về phép, được sự giới thiệu của hai bên gia đình, ông làm đám cưới với bà Mến.

Lấy nhau được 2 ngày, ông Dòng trở lại làm nhiệm vụ ở khắp các chiến trường miền Nam, sang cả Lào và Campuchia. Năm 1984, với quân hàm Đại úy, ông về hưu, làm cán bộ nông nghiệp rồi cán bộ Mặt trận Tổ quốc xã.

Sau hơn chục năm xa cách kẻ Bắc người Nam, ngày sum họp tưởng rằng sẽ là những ngày hạnh phúc nhất nhưng lại là lúc bà Mến phải gánh chịu những nỗi đau tột cùng của chiến tranh để lại. Chất độc da cam trong người ông Dòng đã khiến những đứa con của bà Mến không thể thành hình hài. Bảy lần bà mang thai thì cả bảy lần những đứa con không thể chào đời.

Nỗi đau chưa dừng lại ở đó, chất độc da cam bắt đầu hành hạ chồng bà. Ông bị sốt rét liên miên, rụng hết tóc, rồi bị những cơn đau quật ngã, không gượng dậy được. Năm 1999, ông Dòng qua đời sau cơn đau khủng khiếp. “Những phút giây ông ấy quằn quại với những cơn đau cuối cùng là những phút giây đến hết đời tôi cũng không thể nào quên” – bà Mến nghẹn ngào.

Nỗi đau của chiến tranh tưởng chừng đã đánh gục người cựu thanh niên xung phong ấy. Liền 2 năm sau đó bà luôn sống trong điên dại và mộng du. Nhưng rồi bà đã tự mình gượng đứng dậy, để sống và để hằng ngày hương khói, chăm nom bàn thờ Bác Hồ.

Cưu TNXP 2Bà Đỗ Thị Mến đang thắp hương trên bàn thờ Bác.

Cưu TNXP 3Ngôi nhà sàn 19 tháng 5 do bà Mến cùng các nhà
hảo tâm và bà con xóm làng chung tay xây dựng.

Nhà sàn 19 tháng 5

Năm 1972, khi mới cưới nhau, vẫn còn phải ở trong ngôi nhà tranh vách đất nhưng bà Mến và chồng đã dành nơi trang trọng nhất trong nhà để lập một bàn thờ Bác Hồ. Bà nói: “Trong lòng chúng tôi, Bác vẫn còn sống mãi. Tôi thờ Bác là thờ những ân tình của Bác dành cho đất nước, cho đồng bào”.

Từ đó đến nay, suốt 40 năm, hàng ngày bà Mến vẫn cần mẫn lau dọn và thắp hương cho Bác. Cảm động trước tấm lòng thành kính của bà đối với Bác, bà con chòm xóm thường qua lại nhà bà Mến thăm nom và dâng hương lên bàn thờ Bác. Căn nhà nghèo khó của bà Mến trở thành nhà thờ Bác Hồ của xóm làng.

Mấy năm gần đây, từ những nỗi đau chiến tranh mà bà đã trải qua và lòng tri ân những người đã ngã xuống vì sự nghiệp chống xâm lược của Tổ quốc, bà Mến đã lập thêm hai bàn thờ nữa bên cạnh bàn thờ Bác Hồ. Bàn thờ thứ nhất thờ hương hồn các anh hùng, liệt sĩ, những người đã hy sinh tuổi xuân và xương máu cho dân tộc và các danh nhân, danh tướng của đất nước. Bàn thờ thứ hai thờ Tiên Tổ 1064 dòng họ ở Việt Nam. Tuy nhà rất nghèo nhưng các bàn thờ trong nhà bà lúc nào cũng được quét dọn tươm tất và nhang khói đủ đầy.

Năm 2009, được sự giúp đỡ của bà Trần Thị Hiền – Giám đốc Xí nghiệp in II, Viện Khoa học – Công nghệ và các nhà hảo tâm cũng như bà con xóm làng, bà Mến đã dành 500m2 đất khu nhà ở của mình để xây khu nhà sàn thờ Bác Hồ. Ngôi nhà được thiết kế theo kiểu dáng ngôi nhà sàn trong Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch. Phía trước chính giữa ngôi nhà là ảnh Bác được treo trang trọng. Hai bên là cờ Đảng và cờ Tổ quốc. Phía dưới là khẩu hiệu: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Bà Mến và bà con trong làng đặt tên đó là “Nhà sàn 19 tháng 5”. Bây giờ, ngôi nhà sàn ấy không chỉ là nơi để bà con xóm làng dâng hương lên Bác mà còn là nơi lui tới của nhiều Đoàn tham quan trong và ngoài nước. Điều mà bà Mến trăn trở nhất lúc này là: “Công ơn trời biển của Bác trải khắp đất nước. Bác sẽ còn sống mãi với đồng bào, với dân tộc. Tôi chỉ mong mỗi địa phương đều có một căn nhà sàn nhỏ để làm nơi cho bà con dân làng tới thắp hương dâng Bác”.

Cưu TNXP 4Bà Mến cùng chiếc xe đạp Thống Nhất đã theo
bà đi khắp nơi sưu tầm những tư liệu về Bác Hồ.

CƯu TNXP 5Mâm hạt giống bà Mến gom nhặt ở mọi miền quê về dưới bàn thờ Bác.

Chiếc xe đạp và những việc không tên

Quanh câu chuyện về ngôi nhà sàn 19 tháng 5, người dân xã Thái Xuyên đến nay vẫn còn kể cho nhau nghe chuyện về chiếc xe đạp Thống Nhất của bà Mến với tất cả sự khâm phục.

Năm 1985, mặc dù nhà rất nghèo nhưng bà Mến đã tiết kiệm chi tiêu, rau cháo qua ngày để dành tiền mua một chiếc xe đạp Thống Nhất. Ngày đó chiếc xe đạp là tài sản rất quý. Mọi người không hiểu trong lúc đói kém như vậy vợ chồng bà mua xe đạp để làm gì. Chỉ đến sau này, bà con xóm làng mới hiểu được việc làm cao cả của bà.

Chiếc xe đạp ấy đã cùng bà Mến rong ruổi khắp nơi để bà sưu tầm những tư liệu, tranh ảnh, sách báo, phim truyện… liên quan đến cuộc đời hoạt động và làm việc của Bác Hồ.

Năm 1985, bà đạp xe vào tận Nghệ An để thắp hương cho Bác và xin bà con quê nội Bác ở Kim Liên, Nam Đàn một ít hạt lúa mang về làm kỷ niệm. Cũng từ đó, đi đâu bà cũng xin một ít hạt giống mang về. Những hạt giống ấy, bà bày trên một kệ gỗ đơn sơ, đặt dưới bàn thờ Bác. Trên đó, bà còn đề mấy câu thơ:

“Nơi đây phúc lộc nhờ Người

Cấy lúa, lúa tốt để đời ấm no”

“Những hạt giống ấy cũng như con cháu Người ở khắp mọi miền Tổ quốc về đây hội tụ, tỏ lòng tri ân với Bác” – bà Mến giải thích thêm.

Nhờ chiếc xe đạp Thống Nhất, mà đến nay, bà Mến đã sưu tầm được cuốn album hàng nghìn bức ảnh quý lúc Bác còn sống với những khoảnh khắc bình dị đời thường của Người. Trong đó, có bức ảnh chị gái bà – bà Mượt được Bác gắn Huy hiệu Chiến sỹ thi đua. Ngoài ra, một tủ sách hàng trăm cuốn về chân dung, con người và cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ tịch cũng được bà Mến sưu tầm và đặt ở vị trí trang trọng.

Với bà, chiếc xe đạp như một người bạn tri kỷ: “Chiếc xe đạp ấy là người bạn đồng hành cùng tôi trên mọi nẻo đường. Từ ngày ông nhà tôi mất thì đó là người thân duy nhất bên tôi, cùng tôi đi làm những việc không tên”.

Những việc mà bà Mến gọi là không tên ấy là cả tấm lòng thành kính của người nông dân quê lúa dâng lên Bác khiến bất cứ ai biết đến cũng không khỏi xúc động, nghẹn ngào. Câu chuyện về bà Mến và ngôi nhà sàn 19 tháng 5 thêm một lần nữa khẳng định chân lý: Bác Hồ sống mãi với non sông, đất nước Việt Nam ta.

Vũ Viết Tuân
Theo http://giadinh.net.vn

bqllang.gov.vn

Bác Hồ nghe thơ “Đêm nay Bác không ngủ”

Ông Vũ Kỳ, thư ký và là người có nhiều thời gian gần gũi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kể lại với nhà thơ Minh Huệ (1927 – 2003) – tác giả bài thơ “Đêm nay Bác không ngủ” mẩu chuyện thú vị sau đây:

Bài thơ “Đêm nay Bác không ngủ” vừa ra đời (năm 1951) đã được phổ biến rộng rãi qua báo đài. Các tầng lớp nhân dân, cán bộ, chiến sĩ yêu thích đến thuộc lòng và truyền tụng bài thơ như một câu chuyện kháng chiến thấm thía và có thật.

Hôm ấy, trong Phủ Chủ tịch, vào khoảng 7h tối, Thư ký lên nhà sàn xin gặp Bác. Theo thói quen, ông Vũ Kỳ thận trọng bỏ đôi guốc mộc lại, bước nhẹ lên thang gác để khỏi làm ảnh hưởng đến Người. Khi ông bước đến cửa cũng là lúc chiếc đài bán dẫn trên bàn làm việc của Bác phát đi bài thơ  “Đêm nay Bác không ngủ”. Ông Vũ Kỳ đứng lặng, muốn theo dõi thái độ, cử chỉ của Bác lúc này ra sao? Là một người khiêm tốn, tế nhị nên rất hiếm khi Bác Hồ nhận xét cụ thể những tác phẩm viết về mình…Nhưng, biết đâu lần này sẽ có điều gì khác lạ chăng?

Bác chăm chú nghe, thỉnh thoảng lại nở một nụ cười. Có cảm giác, Người đang cảm thông, thấu hiểu và chia sẻ với hiện thực kháng chiến vô cùng ác liệt, sống động phản ánh một phần qua bài thơ mà Bác cũng là một nhân vật văn học? Cũng có thể Bác đang cảm thông, thấu hiểu và chia sẻ phần nào với tấm lòng thành kính và ý tưởng nghệ thuật của một nhà thơ đi theo kháng chiến…

Lời ngâm thơ vừa dứt, làm như không hay biết gì, ông Vũ Kỳ gõ cửa xin Bác cho vào gặp. Lúc ấy, chỉ thấy nét mặt Người vui vui… còn tuyệt nhiên Bác không nói lời nào về bài thơ “Đêm nay Bác không ngủ” vừa được ngâm trên đài phát thanh.

Nhà thơ Minh Huệ còn được ông Vũ Kỳ “tiết lộ” thêm chi tiết này: Một lần khác sau đó, khi chiếc đài bán dẫn trên bàn làm việc vừa giới thiệu tên bài thơ “Đêm nay Bác không ngủ”, Bác Hồ liền vặn cho tiếng đài thật nhỏ lại. Người tỏ ý không muốn nghe nhiều lần một tác phẩm ca ngợi mình, cho dù tác phẩm ấy chân thật đi nữa? Còn với nhà thơ Minh Huệ – qua câu chuyện ông Vũ Kỳ kể thì chỉ với nụ cười và nét mặt vui vui của Bác khi nghe bài thơ, cũng đủ là phần thưởng vô giá cho đời cầm bút của ông – một nhà thơ trọn đời theo cách mạng!

Nguyễn Văn Hùng
Theo http://vnca.cand.com.vn

bqllang.gov.vn

Bài phát biểu của đồng chí Phan Đình Trạc, UVTW Đảng, Bí thư Tỉnh ủy tại Lễ tiếp nhận đá quý của Nghệ An vào khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

PHÁT BIỂU

Của đồng chí Phan Đình Trạc, UVTW Đảng, Bí thư Tỉnh ủy
tại Lễ tiếp nhận đá quý của Nghệ An
vào khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
(Hà Nội, ngày 04/11/2012)

—–

– Kính thưa: Anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh!

– Kính thưa: Đồng chí Nguyễn Sinh Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam!

– Kính thưa các đồng chí!

Chủ tịch Hồ Chí Minh là của cả dân tộc và nhân loại. Tuy vậy, Người vẫn luôn dành cho quê hương những tình cảm đặc biệt. Trong sâu thẳm của trái tim Người, quê hương luôn luôn là “nghĩa nặng, tình sâu”.

Với lòng thành kính và biết ơn vô hạn đối với Bác Hồ kính yêu, cùng với nhân dân cả nước, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An vinh dự được chọn cung tiến linh vật đá, đặt ở khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Với vinh dự ấy, Đoàn khảo sát của tỉnh với sự phối hợp của Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khảo sát nhiều nơi, nhiều chủng loại đá có nguồn gốc khác nhau. Người tìm đá, nhưng có lẽ đá như tự tìm người. Sau một thời gian khảo sát, ngày 19/4/2011 Đoàn khảo sát gặp được loại đá như mong muốn, tại núi PuCooc, bản Cô, xã Châu Thành, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.

Đó là loại đá do thiên nhiên tôi luyện, tích tụ hàng triệu triệu năm trong lòng đất, có độ cứng và độ bền cao, tỷ trọng nặng, trường tồn mãi mãi với thời gian; không bị ăn mòn bởi nước, a xít, không bị ô xi hóa; có màu xanh lam, đỏ và phớt tím, có khả năng thấu quang và chiết quang, chứa nhiều khoáng vật quý. Có thể gọi loại đá này là “Đại Lam Ngọc”.

Trải qua hàng triệu triệu năm hình thành, tích lũy khá nhiều năng lượng vũ trụ, vì vậy trong phong thủy, “Đại Lam Ngọc” có thể được xem là “thần dược thạch mỹ”, kỳ bí hiếm có, đem lại sinh khí tốt, thiện tâm, tăng cường sinh lực, may mắn cho con người.

Sau nhiều tháng nghiên cứu, chế tác, hôm nay, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An vinh dự được kính dâng 3 khối đá quý đó để trang trí và nâng cao linh khí nơi Người yên nghỉ, góp phần cùng với các sản phẩm đặc sắc của các vùng miền trong cả nước quầy tụ bên Lăng, giữ yên giấc ngủ của Người, làm cho công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn hội tụ linh khí tốt lành.

Thay mặt Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An, tôi chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; Hội đá cảnh, gỗ lũa và tranh tượng dân gian thành phố Hà Nội; sự nỗ lực cố gắng, tâm huyết và trách nhiệm của các nghệ nhân; cán bộ, công nhân viên Công ty Cổ phần đá và khoáng sản Phủ Quỳ, và các cơ quan, đơn vị liên quan đã góp phần hoàn thành công trình đầy ý nghĩa này.

Xin hứa với Bác, với các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà sẽ tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng của quê hương, quyết tâm phấn đấu xây dựng tỉnh nhà trở thành một trong những tỉnh khá của miền Bắc, như mong muốn của Bác Hồ kính yêu.

Kính chúc các đồng chí sức khỏe, hạnh phúc.

Xin trân trọng cảm ơn!

bqllang.gov.vn

Lễ tiếp nhận đá quý của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An phục vụ trang trí khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sáng ngày 4/11/2012, tại Quảng trường Ba Đình, đã diễn ra lễ tiếp nhận ba khối đá quý do Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An cung tiến phục vụ trang trí khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tới dự buổi lễ có các đồng chí: Nguyễn Sinh Hùng – Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội; đồng chí Nguyễn Bắc Son – Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông; Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương – Trưởng ban Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; các đồng chí nguyên là lãnh đạo Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; các đồng chí chỉ huy các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và chỉ huy các Phòng, Đoàn, các Ban trực thuộc; các đồng chí đại diện cho Hội Đá quý, đơn vị tài trợ và chế tác đá quý. Về phía tỉnh Nghệ An có các đồng chí: Phan Đình Trạc – Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy; đồng chí Trần Hồng Châu – Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh; cùng các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy, đại diện một số sở, ban, ngành cấp tỉnh và Khu Di tích Kim Liên, Nam Đàn.

Nghe an trao tang da.bao congĐồng chí Phan Đình Trạc – Bí thư Tỉnh ủy phát biểu tại buổi lễ

Tại buổi lễ, đồng chí Phan Đình Trạc – Bí thư Tỉnh ủy xúc động phát biểu: “Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho quê hương xứ Nghệ những tình cảm đặc biệt. Trong sâu thẳm trái tim Người, quê hương luôn là “Nghĩa nặng tình sâu”. Với lòng thành kính và biết ơn vô hạn đối với Bác Hồ kính yêu, đoàn khảo sát của tỉnh với sự phối hợp của Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành khảo sát nhiều nơi, nhiều chủng loại đá có nguồn gốc khác nhau. Đến ngày 19/4/2011, đoàn khảo sát tìm được loại đá quý như mong muốn tại núi Pu-Cooc ở bản Cô, xã Châu Thành, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.

Sau khi nghiên cứu, chế tác, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Nghệ An đã đưa 3 khối đá quý Corindon nặng 50 tấn trang trí tại khu vực Lăng Bác. Đá Corindon có tên khoa học là Nazơdac, có thể gọi “Đại Lam Ngọc” là loại đá được thiên nhiên tạo thành qua hàng triệu triệu năm, tích tụ trong lòng đất, có độ cứng và độ bền cao. Loại đá này trường tồn mãi mãi với thời gian, không bị ăn mòn bởi nước, axít, không bị ô xi hóa, không chứa nguyên tố phóng xạ, có màu lam ngọc đỏ (chứa saphia) và màu phớt tím (chứa ruby), có khả năng thấu quang và chiết quang, chứa nhiều khoáng vật quý. Trải qua hàng triệu triệu năm hình thành tích lũy nhiều năng lượng trong vũ trụ, vì vậy, trong phong thủy “Đại Lam Ngọc” có thể được xem là “thần dược thạch mỹ”, đem lại sinh khí tốt, thiện tâm, tăng cường sinh lực, mang lại may mắn cho con người. Do vậy mà Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An rất vinh dự được cung tiến những khối đá quý này, góp phần xây dựng, tôn tạo cảnh quan, kiến trúc, nâng cao linh khí, nơi Người yên nghỉ cùng với các sản phẩm đặc sắc của các vùng miền trong cả nước.

Cũng nhân dịp này, đồng chí Nguyễn Sinh Hùng đã gắn tặng Huy hiệu Bác Hồ cho các đồng chí đại biểu tỉnh Nghệ An. Thay mặt Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Nghệ An, đồng chí Phan Đình Trạc tặng lại bức ảnh Bác Hồ bằng đá quý cho Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng.

Nghe an trao tang da.huy hieuĐồng chí Nguyễn Sinh Hùng  gắn tặng Huy hiệu Bác Hồ
cho các đồng chí đại biểu tỉnh Nghệ An

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là Công trình mang ý nghĩa chính trị, văn hóa sâu sắc, nơi hội tụ tình cảm, niềm tin của nhân dân cả nước và bầu bạn quốc tế đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong  suốt quá trình xây dựng và từ ngày khánh thành đến nay, Công trình Lăng luôn nhận được sự giúp đỡ to lớn, toàn diện của Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô trước đây – Liên bang Nga ngày nay và sự đóng góp sức người, sức của của đồng bào, chiến sỹ cả nước, trong đó có đồng bào, chiến sỹ tỉnh Nghệ An gửi tặng nhiều cây hoa, cây cảnh quý và những tác phẩm nghệ thuật độc đáo, đặc sắc của quê hương kính dâng lên Bác, thể hiện tư tưởng “Cả nước luôn bên Người ”.

Thay mặt cán bộ, công nhân viên chiến sỹ Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương cảm ơn sự quan tâm của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An đã trao tặng và đóng góp kinh phí để chế tác những khối đá quý nhằm phục vụ việc tôn tạo Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng thời cán bộ, công nhân viên và chiến sỹ Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận thức sâu sắc,  niềm vinh dự, tự hào và hoàn thành xuất xắc nhiệm vụ: Giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát huy ý nghĩa chính trị – văn hóa của Công trình Lăng trong giai đoạn mới.

Nghe an trao tang da.dat hoaĐoàn đại biểu đặt hoa và vào Lăng viếng Bác

Kết thúc buổi lễ, Đoàn đại biểu đặt hoa và vào Lăng viếng Bác./.

Hải Yến
bqllang.gov.vn

Không thể chụp mũ “tự do ngôn luận”

Việc mượn cớ các tổ chức xưng danh nhân quyền hay bất kỳ danh xưng nào khác để viết thư kêu gọi hay thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào nhằm gây sức ép lên cơ quan tiến hành tố tụng của một quốc gia trong xét xử vụ án là hoàn toàn phi lý.

Ít ngày nữa, TAND TP Hồ Chí Minh sẽ mở phiên tòa sơ thẩm xét xử ba bị cáo phạm tội “tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” theo khoản 2, Điều 88, BLHS. Ba bị cáo bị đưa ra xét xử gồm: Nguyễn Văn Hải (60 tuổi, còn gọi là Hoàng Hải, Hải Điếu Cày), Tạ Phong Tần (44 tuổi, quê Bạc Liêu) và Phan Thanh Hải (43 tuổi, ngụ quận Thủ Đức – TP Hồ Chí Minh).

Việc xét xử các bị cáo phạm một tội được quy định trong BLHS là công việc bình thường của tòa án. Thế nhưng, trong mấy ngày qua, một số cá nhân, tổ chức nước ngoài đã nhân sự việc này vu cáo chính quyền “vi phạm nhân quyền” mà chiêu bài vẫn chỉ xoay quanh cái gọi là “tự do dân chủ, tự do báo chí”, từ đó có các hành động như viết bài xuyên tạc sự thật trên mạng internet, viết thư gửi các cơ quan quốc tế và tại Việt Nam để gây sức ép.

Hôm 31/7, ba tổ chức của cái gọi là Ủy ban Bảo vệ quyền làm người Việt Nam (Vietnam Committee on Human Rights), Liên Đoàn Quốc tế nhân quyền (FIDH, International Federation for Human Rights) và Tổ chức quan sát nhằm bảo vệ người đấu tranh cho nhân quyền (The Observatory for the Protection of Human Rights Defenders) viết thư chung gửi đến một số đại sứ về phiên tòa xử ba bị cáo với lời lẽ thiếu thiện chí, can thiệp vô lý vào công việc nội bộ của các cơ quan tiến hành tố tụng Việt Nam khi trắng trợn đòi “rút bỏ mọi cáo trạng” đối với ba bị cáo và “tức khắc trả tự do vô điều kiện”.

Xét xử là công việc của tòa án và tòa chỉ quyết định trên cơ sở pháp luật. Không có bất cứ cá nhân, tổ chức nào khác ngoài HĐXX của tòa án được giao trực tiếp xét xử vụ án có quyền can thiệp đến bản án. Đó là nguyên tắc không chỉ đối với luật pháp Việt Nam mà các quốc gia trên thế giới cũng đều tuân thủ nguyên tắc này khi giao quyền độc lập xét xử cho tòa án. Việc mượn cớ các tổ chức xưng danh nhân quyền hay bất kỳ danh xưng nào khác để viết thư kêu gọi hay thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào nhằm gây sức ép lên cơ quan tiến hành tố tụng của một quốc gia trong xét xử vụ án là hoàn toàn phi lý. Vì vậy, thay cho việc tác động như trên, những thế lực vốn lâu nay mượn áo dân chủ, nhân quyền, chụp mũ “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí” cần phải nhận thức và tuân thủ những nguyên tắc sơ đẳng nhất.

Thực tế, việc các bị cáo bị tòa án đưa ra xét xử lần này đã có các hành vi phạm vào Điều 88 – BLHS, các hành vi này thể hiện rõ trong cáo trạng của VKS. Chỉ trong thời gian từ tháng 9/2007 đến tháng 10/2010, đã có 421 bài đăng trên CLB nhà báo tự do, trong đó có 94 bài do thành viên câu lạc bộ viết và 327 bài lấy lại từ các blog, trang web của các tổ chức hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam.

Trong số này, 26 bài được giám định, kết luận: “hầu hết những bài viết đều chứa nội dung, giá trị của sự phê phán trong tinh thần không phải để xây dựng, hoặc cao hơn là lên án, kết án nhằm hướng tới sự cổ động, kích động công luận tham gia đấu tranh thay đổi sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, thay đổi chế độ chính trị, Nhà nước hiện tại nhằm xây dựng một chế độ khác, nhà nước khác… Xác lập và công bố hệ thống quan điểm về thông tin báo chí, ngôn luận của một nhóm nhà báo mệnh danh tự do cố thể hiện mình như là thế lực mới đang được hình thành và từng bước trưởng thành trong lòng Chế độ Cộng sản ở Việt Nam hiện tại nhằm mục đích xây dựng, tập hợp lực lượng chính trị chống đối phục vụ cho âm mưu diễn biến, lật đổ trước mắt và lâu dài”.

Việc viết bài trên các blog, mạng xã hội… với nội dung xuyên tạc, vu cáo, chống chính quyền nhân dân là vi phạm các quy định hiện hành của luật pháp Việt Nam. Ngay tại nước Mỹ, nơi được cho là “thiên đường tự do ngôn luận”, thì luật pháp các bang ở Mỹ cũng quy định rất rõ vấn đề này và không ít cá nhân vi phạm đã bị bắt, xử lý.

Chẳng hạn, ông James Buss, giáo viên Trường Trung học Milwaukee, bị bắt vì đã vào blog của các nhà chính trị bang Wisconsin với lời bình mang biệt danh “Người quan sát” (Observer) cho rằng, giáo viên Mỹ được trả lương cao nhưng lười biếng và khen vụ một thiếu niên xả súng ở Trường Trung học Columbine làm 12 học sinh và một giáo viên thiệt mạng hồi tháng 4/1999. Cảnh sát cho rằng, hành động của Buss có tính kích động bạo lực trong trường học, tương đương việc nói “có bom trên máy bay”, đồng thời hạ thấp nhân phẩm giáo viên

Đăng Trường
cand.com.vn


26 năm tù cho 3 đối tượng tạo dựng blog “Câu lạc bộ Nhà báo tự do”