Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Một số mốc quan trọng tiến tới Hiệp định Paris

(VOV) – Từ  1968, các bên đã ngồi vào thương lượng nhưng mãi đến 27/1/1973, Hiệp định Paris mới được ký.

Năm 1968

Ngày 31/3/1968

Tổng thống Mỹ Johnson tuyên bố đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra; không ra tranh cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ 2 và cử người đàm phán với đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Paris.

Ngày 3 tháng 4

Chính phủ Việt Nam DCCH tuyên bố sẵn sàng cử đại diện tiếp xúc với đại diện Mỹ để xác định điều kiện có thể bắt đầu nói chuyện tay đôi.

Ngày 13 tháng 5

Hai đoàn đàm phán của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và của Mỹ họp phiên đầu tiên tại “Trung tâm Hội nghị Quốc tế” tại Paris (Hội trường Kléber).

Toàn cảnh cuộc ký kết Hiệp định tại Paris. Ảnh tư liệu

Ngày 3 tháng 6

Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam Lê Đức Thọ, Cố vấn đặc biệt của Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Paris, đến Paris.

Ngày 8 tháng 9

Trong cuộc gặp riêng đầu tiên của Lê Đức Thọ, Xuân Thủy và Harriman, trưởng đoàn Mỹ tỏ ra nôn nóng muốn sớm đi vào bàn các vấn đề thực chất.

Ngày 21 tháng 10

Trưởng đoàn Xuân Thủy thông báo chấp nhận cuộc hội nghị bốn bên giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa.

Ngày 31 tháng 10

Tổng thống Mỹ Johnson tuyên bố chấm dứt ném bom bắn phá chống miền Bắc Việt Nam bắt đầu từ ngày 1 tháng 11 năm 1968 bất chấp phản đối của Tổng thống Thiệu.

Ngày 27 tháng 11

Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu chấp nhận cử đại diện đi họp Hội nghị Bốn bên ở Paris.

Ngày 7 tháng 12

Phái đoàn Việt Nam Cộng hòa do Nguyễn Cao Kỳ làm cố vấn, Phạm Đăng Lâm làm trưởng đoàn rời Sài Gòn đến Paris.

Ngày 10 tháng 12

Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam cử Đoàn đi dự Hội nghị Paris do Trần Bửu Kiếm làm Trưởng đoàn và Nguyễn Thị Bình làm Phó đoàn.

Năm 1969

Ngày 25 tháng 1

Hội nghị Bốn bên ở Paris về Việt Nam khai mạc phiên họp toàn thể lần thứ nhất tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế ở Paris.

Ngày 8 tháng 5

Đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đưa ra giải pháp toàn bộ Mười điểm cho việc giải quyết vấn đề miền Nam Việt Nam, trong đó nêu “vấn đề các lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam sẽ do các bên Việt Nam giải quyết”.

Ngày 6 tháng 6

Thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.

Ngày 10 tháng 6

Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam quyết định chuyển Đoàn Đại biểu Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam tại Hội nghị Paris về Việt Nam thành Đoàn Đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do bà Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam làm Trưởng đoàn.

Ngày 4 tháng 8

Thông quan trung gian Jean Sainteny, nguyên Tổng đại diện Pháp tại Hà Nội, Cố vấn An ninh Quốc gia Hoa Kỳ H. Kissinger bí mật gặp Xuân Thủy lần đầu ở Paris để bàn về Việt Nam. Cùng dự với Bộ trưởng Xuân Thủy có Tổng đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pháp Mai Văn Độ.

Năm 1970

Ngày 21 tháng 2

Cuộc gặp riêng đầu tiên tại Paris giữa Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thủy với Cố vấn H. Kissinger. Từ đó bắt đầu các cuộc gặp riêng giữa Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Cố vấn Kissinger.

Ngày 14 tháng 9

Đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đưa ra lập trường “Tám điểm” về giải pháp cho vấn đề Việt Nam.

Ngày 17 tháng 9

Tại phiên họp toàn thể lần thứ 80 Hội nghị Paris về Việt Nam, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình đưa ra đề nghị “Tám điểm – nói rõ thêm” về một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam, bao gồm việc rút quân Mỹ và thả tù binh cùng một thời hạn và thành lập Chính phủ liên hiệp lâm thời ở miền Nam Việt Nam.

Ngày 18 tháng 10

Tổng thống R. Nixon đưa ra đề nghị Năm điểm trong đó không đòi quân miền Bắc rút khỏi miền Nam Việt Nam.

Ngày 10 tháng 12

Trong phiên họp toàn thể lần thứ 94 Hội nghị Paris về Việt Nam, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình đưa ra Tuyên bố Ba điểm của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam về ngừng bắn, đòi quân Mỹ rút khỏi Việt Nam vào ngày 31 tháng 7 năm 1971.

Ngày 11 tháng 12

Nixon đề nghị “trao đổi 8.200 tù binh Bắc Việt Nam lấy khoảng 800 tù binh Mỹ và đồng minh”.

Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Xuân Thủy, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình đón Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nguyễn Duy Trinh đến Paris để ký hiệp định hòa bình, sân bay Bourget ngày 25 tháng Giêng 1973. Ảnh tư liệu

Năm 1971

Ngày 31 tháng 5

Tại cuộc họp riêng với Bộ trưởng Xuân Thủy ở Paris, Cố vấn Kissinger đưa ra đề nghị “cuối cùng” Bảy điểm tách vấn đề quân sự và vấn đề chính trị, mặc dù trước đây Mỹ nhận sẽ bàn cả hai.

Ngày 26 tháng 6

Trong cuộc gặp riêng Lê Đức Thọ – Kissinger, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra đề nghị Chín điểm, tập trung đòi Mỹ thay Nguyễn Văn Thiệu.

Ngày 1 tháng 7

Tại phiên họp thứ 119 của Hội nghị Bốn bên, Đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời đưa ra đề nghị Bảy điểm về thời hạn rút quân Mỹ và thả tù binh, thành lập ở Sài Gòn một chính quyền không có Thiệu.

Ngày 16 tháng 8

Tại cuộc gặp riêng với phía Việt Nam ở Paris, Kissinger đưa ra Tám điểm, về cơ bản vẫn giữ lập trường cũ: Không muốn giải quyết toàn bộ vấn đề mà chỉ muốn giải quyết vấn đề quân sự, lấy được tù binh về Mỹ.

Đồng chí Lê Đức Thọ, đại diện Chính phủ VNDCCH ký Thông báo chung với Hoa Kỳ về thực thi Hiệp định Paris ngày 13/6/1973 – Ảnh: Phòng lưu trữ Bộ Ngoại giao

Năm 1972

Ngày 25 tháng 01

Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam công bố chính sách Mười điểm đối với binh sĩ và nhân viên chính quyền Sài Gòn.

Tổng thống Nixon đơn phương công bố “Kế hoạch hòa bình Tám điểm” (do Kissinger đưa ra ngày 16 tháng 8 năm 1971) và nội dung các cuộc gặp riêng Mỹ – Việt.

Ngày 31 tháng 01

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công bố Giải pháp Chín điểm, đồng thời vạch rõ Nhà Trắng đã vi phạm thỏa thuận hai bên không công bố nội dung các cuộc gặp riêng theo đề nghị của chính Kissinger.

Ngày 2 tháng 2

Tại Hội nghị Bốn bên, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình đưa ra “Hai vấn đề then chốt” trong lập trường Bảy điểm ngày 1 tháng 7 năm 1971 của Chính phủ Cách mạng lâm thời.

Ngày 6 tháng 4

Tổng thống Nixon hạ lệnh ném bom trở lại miền Bắc Việt Nam.

Ngày 13 tháng 7

Mỹ chấp nhận họp lại Hội nghị toàn thể Bốn bên ở Paris.

Ngày 19 tháng 7

Thương lượng bí mật Lê Đức Thọ – Kissinger đi vào thực chất.

Ngày 1 tháng 8

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra Mười điểm, Mỹ đưa ra Mười hai điểm, đồng ý bàn cả quân sự và chính trị.

Ngày 14 tháng 8

Mỹ đưa ra đề nghị mới Mười điểm, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trao cho Mỹ văn kiện khẳng định lại một số nguyên tắc: Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, mọi sự dính líu về quân sự ở Việt Nam, mọi sự can thiệp của Mỹ vào công việc nội bộ của miền Nam; tôn trọng quyền tự quyết và quyền độc lập thực sự của Việt Nam; phải thừa nhận thực tế ở miền Nam có hai chính quyền, hai lực lượng vũ trang và ba lực lượng chính trị, cần lập một chính phủ hòa hợp dân tộc ba thành phần.

Ngày 8 tháng 10

Trong cuộc gặp riêng, Lê Đức Thọ trao cho H. Kissinger bản Dự thảo Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Ngày 11 tháng 10

Trong cuộc gặp riêng giữa Lê Đức Thọ, Xuân Thủy với Kissinger kéo dài cả ngày 11 đến 2 giờ sáng ngày 12 tháng 10, hai bên đã thảo luận về dự thảo hiệp định và lịch trình như sau: 18 tháng 10 chấm dứt ném bom và thả mìn ở miền Bắc, 19 tháng 10 ký tắt Hiệp định tại Hà Nội, 26 tháng 10 ký chính thức tại Paris và 27 tháng 10 ngừng bắn ở Nam Việt Nam.

Ngày 13 tháng 10

Mỹ thông báo cho đoàn Việt Nam rằng Tổng thống Nixon đã chấp nhận bản dự thảo hai bên đã bàn.

Ngày 20 tháng 10

Trong công hàm gửi cho Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Tổng thống Mỹ nói rõ “Văn bản Hiệp định xem như đã hoàn thành” và đưa ra thời gian biểu: ngừng bắn từ 28 tháng 10 và ký Hiệp định tại Paris ngày 31 tháng 10 năm 1972.

Ngày 21 tháng 10

Thủ tướng Phạm Văn Đồng trả lời Tổng thống Nixon rằng, sẵn sàng ký hiệp định, đồng ý thời gian biểu của Nixon nêu.

Từ ngày 18 đến 30 tháng 12

Máy bay B-52 của Mỹ ném bom rải thảm Hà Nội, Hải Phòng và nhiều nơi ở miền Bắc Việt Nam, mở đầu “cuộc hành quân Lineblecker II” kéo dài 12 ngày đêm, đồng thời Mỹ gửi công hàm cho Việt Nam yêu cầu họp lại. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không trả lời. Việt Nam đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược này, lập nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” gây thiệt hại nặng nề cho lực lượng không quân chiến lược Mỹ.

Ngày 22 tháng 12

Mỹ lại gửi công hàm yêu cầu họp lại với điều kiện Mỹ sẽ chấm dứt ném bom trên vĩ tuyến 20.

Ngày 26 tháng 12

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đòi trở lại tình hình trước ngày 18 tháng 12 thì hai bên sẽ họp lại. Mỹ chấp nhận.

Ngày 30 tháng 12

Mỹ chấm dứt ném bom trên vĩ tuyến 20 và đề nghị nối lại đàm phán ở Paris.

Năm 1973

Ngày 8 tháng 1

Họp lại, Kissinger đòi trở lại thỏa thuận ngày 23 tháng 11 năm 1972 và xét lại điều 1 về các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam nhưng bị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bác bỏ. Mỹ phải bỏ thái độ “thương lượng trên thế mạnh”.

Ngày 13 tháng 1

Hai bên hoàn thành văn bản Hiệp định. Đây là cuộc gặp riêng cuối cùng.

Ngày 23 tháng 1

Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Cố vấn Henry Kissinger ký tắt Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Ngày 27 tháng 1

Bộ trưởng Ngoại giao Bốn bên dự Hội nghị Paris là Nguyễn Duy Trinh đại diện cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nguyễn Thị Bình, đại diện cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, W. Rogers đại diện cho Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và Trần Văn Lắm, đại diện cho Việt Nam Cộng hòa đã chính thức ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam cùng Bốn nghị định thư liên quan.

Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình (giữa) ký Hiệp định Paris năm 1973

Ngày 28 tháng 1

Ngừng bắn trên toàn miền Nam Việt Nam. Hiệp định Paris chính thức được thi hành.

Ngày 2 tháng 3

Đại diện 12 Chính phủ tham gia Hội nghị quốc tế về Việt Nam tại Paris, với sự có mặt của Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc, ký Định ước Quốc tế về Việt Nam.

Ngày 19 tháng 3

Hội nghị Hiệp thương Hai bên miền Nam Việt Nam họp phiên đầu tiên tại La Celle Saint Cloud (Paris).

Ngày 28 tháng 3

Phiên họp cuối cùng Ban Liên hợp quân sự Bốn bên (hoạt động trong 60 ngày kể từ khi ký Hiệp định tới khi rút quân Mỹ và quân đồng minh).

Ngày 29 tháng 3

Người lính Mỹ cuối cùng rút khỏi Việt Nam./.

Ngọc Thành/VOV online (th)
vov.vn

40 năm Hiệp định Paris – tri ân bạn bè quốc tế

(VOV) – Hơn 30 đại biểu đến từ 14 quốc gia, đại diện các tổ chức quốc tế sẽ tham dự các hoạt động kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris.

Chiều 17/1, tại Hà Nội, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam đã có cuộc gặp gỡ báo chí để thông tin về các hoạt động 40 năm ngày ký Hiệp định Paris (27/1/1973 – 27/1/2013).

Buổi gặp gỡ báo chí thông tin về hoạt động kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris

Bà Nguyễn Thị Hoàng Vân, Tổng Thư ký Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, thành viên Ban Chỉ đạo quốc gia, thành viên Ban Tổ chức sự kiện của Liên hiệp cho biết, nhiều hoạt động sẽ diễn ra từ 24-28/1/2013 với sự tham dự của bạn bè quốc tế đến từ nhiều quốc gia, đại diện các tổ chức quốc tế.

Với những chương trình diễn ra trang trọng và một chuỗi các hoạt động liên quan, Việt Nam muốn bày tỏ sự tri ân đối với những tổ chức, cá nhân trực tiếp và gián tiếp ủng hộ Việt Nam; đồng thời gửi đến bạn bè quốc tế thông điệp về tình đoàn kết.

Theo đó, ngày 25/1, tại Hà Nội sẽ diễn ra lễ kỷ niệm cấp Nhà nước với sự có mặt của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các thành viên đoàn đàm phán và bạn bè quốc tế.

Ngoài ra, các chương trình như Giao lưu “Hiệp định Paris và tấm lòng bè bạn”, Hội thảo bàn tròn “Gặp gỡ các nhân chứng lịch sử”, trồng cây tại Công viên Hòa Bình (Hà Nội), Thăm Bảo tàng chứng tích chiến tranh và nạn nhân chất độc da cam, các triển lãm về Hiệp định Paris cũng sẽ lần lượt diễn ra.

Cũng tại buổi gặp gỡ báo chí, ông Phạm Văn Chương, thành viên đoàn đàm phán tại Paris, nguyên Phó Trưởng ban Đối ngoại Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Việt Nam đoàn kết và hợp tác Á-Phi-Mỹ Latinh, Phó Chủ tịch Quỹ Hòa bình và Phát triển Việt Nam cũng đã cung cấp nhiều thông tin liên quan đến cuộc đàm phán cách đây 40 năm./.

Ngọc Thành/VOV online
vietnamplus.vn

Hiệp định Paris 1973: 40 năm nhìn lại

(VOV) – Là sự kiện lịch sử chứa đựng nhiều nội dung về nghệ thuật quân sự, nghệ thuật đàm phán

“Hiệp định hòa bình Paris năm 1973 đã trở thành biểu tượng của tinh thần không có gì quý hơn độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam; là thắng lợi chung của các nước anh em, bè bạn của nhân dân Việt Nam, của phong trào giải phóng dân tộc, của nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên toàn thế giới”- đó là nhận định của các đại biểu tham dự hội thảo khoa học “Hiệp định Paris 1973: 40 năm nhìn lại” do trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (KHXH&NV) tổ chức tại Hà Nội, hôm nay (17/1).

Toàn cảnh lễ ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam, 27.1.1973 (Ảnh tư liệu)

Phát biểu khai mạc hội thảo, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Khánh – Hiệu trưởng trường Đại học KHXH&NV nhấn mạnh: Hiệp định Paris năm 1973 không chỉ là kết quả của cuộc đấu trí trên bàn đàm phán kéo dài gần 5 năm (1968-1973) mà còn là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài, bền bỉ của nhân dân Việt Nam trên khắp chiến trường mà đỉnh cao là chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” vào cuối tháng 12/1972.

Hội thảo khoa học “Hiệp định Paris 1973 – 40 năm nhìn lại” không chỉ đánh giá những thành công của Hội nghị Paris mà còn mong muốn đưa ra những ý kiến, tham luận  của các đại biểu để rút ra bài học kinh nghiệm trong thực tế hoạt động ngoại giao ngày nay: Đúng 40 năm trước, tại thủ đô Paris, Việt Nam đã tiến hành đấu tranh ngoại giao với phương châm vừa đánh vừa đàm, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Và bằng nhiều phương pháp: lúc cứng rắn, khi mềm dẻo, vừa kiên quyết về nguyên tắc, vừa linh hoạt sáng tạo về phương pháp đàm phán. Hy vọng rằng từ các tham luận, các ý kiến đưa ra tại hội thảo, chúng ta sẽ giải quyết được những kinh nghiệm và bài học thiết thực, hữu ích trong việc giải quyết các mâu thuẫn, xung đột và chiến tranh cục bộ dựa trên hoạt động ngoại giao và đàm phán trong bối cảnh khu vực quốc tế ngày càng trở nên phức tạp như hiện nay.

Hội thảo đã thu hút gần 15 bản tham luận, tập trung làm rõ quá trình dẫn đến hội nghị Paris; Những tác động của kết quả Hội nghị Paris đến mối quan hệ giữa Việt Nam với quốc tế; Chính sách ngoại giao chính trị và ngoại giao nhân dân của Việt Nam được phát huy mạnh mẽ: không chỉ vừa đánh, vừa đàm mà còn tranh thủ được sự ủng hộ của quốc tế.

Bà Tôn Nữ Thị Ninh – nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban đối ngoại của Quốc hội nhận định: Việt Nam đã học được thêm một bài học đó là “tập hợp lực lượng”. Ngày nay khi Việt Nam đã hoàn tất quá trình hội nhập quốc tế, gia nhập vào các tổ chức quốc tế lớn thì thế và lực của Việt Nam đã khác và tình hình thế giới cũng đã khác. Tôi nghĩ rằng chúng ta nên nghiệm bài học về tập hợp lực lượng, trong đó chúng ta phải thống nhất một điểm: lợi ích quốc gia dân tộc là trên hết.

Các đại biểu tham dự hội thảo còn khẳng định tầm vóc của Hiệp định Paris năm 1973, trong đó nhiều quan điểm nhấn mạnh: Hiệp định Paris năm 1973 không chỉ là một sự kiện có ý nghĩa đối với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam mà còn là sự kiện lịch sử chứa đựng nhiều nội dung về nghệ thuật quân sự, nghệ thuật đàm phán và các vấn đề quan hệ quốc tế khác./.

Mỹ Trà- Phương Thúy/VOV- Trung tâm tin
vov.vn

Lợi ích dân tộc giúp Việt Nam chiến thắng tại đàm phán Paris

(VOV) -Lấy lợi ích dân tộc làm hàng đầu đã giúp Việt Nam chiến thắng trong cuộc đàm phán Paris cũng Mỹ…

Cách đây 40 năm, ngày 27/1/1973 tại Paris, “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam” đã được ký kết. Hiệp định đã buộc Mỹ phải thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, đồng thời rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam.

Văn kiện pháp lý quốc tế này là kết quả của cuộc đấu tranh ngoại giao cam go nhất, lâu dài nhất, trong lịch sử nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Việc Mỹ phải ký Hiệp định Paris là một thắng lợi to lớn, tạo ra cục diện có lợi cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam.

Nhân kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris, Phóng viên Đài TNVN đã phỏng vấn nhà ngoại giao Phạm Ngạc – Nguyên Vụ trưởng Vụ Tổ chức Quốc tế Bộ Ngoại giao, từng là thành viên của phái đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa về vấn đề này.

P.V: Thưa ông, cuộc đàm phán Paris là một cuộc đấu trí giữa một bên là cường quốc và bên kia là một đất nước nhỏ bé, lạc hậu; giữa một nền ngoại giao lâu năm dày dạn và một nền ngoại giao non trẻ và thiếu kỹ năng đàm phán quốc tế. Tuy vậy, trên thực tế thì tại cuộc đàm phán này thì lập trường chính nghĩa và nghệ thuật đàm phán của ta luôn chủ động áp đảo đối phương và kết quả là Mỹ đã phải ký Hiệp định Paris trong thế thua.

Là người tham dự hầu hết quá trình đàm phán Paris, cả cuộc đàm phán công khai và đàm phán kín, xin ông cho biết rõ hơn chúng ta đã làm gì, có bí quyết gì khiến đối phương từ mạnh chuyển sang yếu, từ coi thường chuyển sang kính nể đoàn đàm phán của chúng ta như vậy?

Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại lễ ký kết Hiệp định Paris

Nhà ngoại giao Phạm Ngạc: Đây là lần đầu tiên Việt Nam trực tiếp đối đầu với Đế quốc Mỹ – một siêu cường quốc hạt nhân và có thế lực quân sự hùng mạnh đã làm mưa làm gió trên thế giới, chưa bao giờ thua trong cuộc chiến tranh nào. Trong khi đó ở phía Việt Nam sức mạnh quân sự của ta chỉ là toàn dân kháng chiến. Sức mạnh chính mà Hồ Chủ tịch đã đặt rất rõ đó là vì độc lập tự do, chiến lược là đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào và Bắc – Nam sum họp một nhà.

Khẩu hiệu đó là bí quyết cho đường lối ngoại giao của Hồ Chí Minh là độc lập – tự do – hạnh phúc và ý trí đó đã tạo lên sức mạnh toàn dân. Do đó, sức mạnh vũ khí quân tự của ta tuy không bằng Đế quốc Mỹ nhưng với tinh thần đó đã chiến thắng quân sự và Mỹ từ can thiệp leo thang, chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ và cuối cùng là phải chấp nhận sự thất bại, phải chấp nhận rút quân.

Sự không cân sức trong ngoại giao thể hiện rất rõ; Chúng ta không có kinh nghiệm ngoại giao, chưa có chuyên gia luật pháp quốc tế trong khi đó Mỹ rất thành thạo trong việc này. Henry Kissinger rất nổi tiếng trong việc này và họ có cả một bộ máy đằng sau. Hay việc thông tin trong nước cũng rất nhanh, họ có thể đàm phán nửa chừng họ ra ô tô là có thể liên lạc về nước được rồi. Trong khi chúng ta dùng điện đài đánh móc, mã hóa gửi về. Mà có muốn về nước xin chỉ thị thêm thì đồng chí Lê Đức Thọ cũng phải mất 3 ngày từ Paris bay về Moscow rồi về Việt Nam.

Toàn cảnh cuộc đàm phán

Phương tiện thông tin thua họ. Có thể nói vật chất và kỹ thuật của mình thua họ nhưng rõ ràng, tôi đấu tranh đến cùng như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “khoét sâu và chỗ yếu của Mỹ”. Mỹ trước đây chủ trương ngăn chặn cộng sản nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “không, chúng tôi chỉ lập tự do – quyền lợi dân tộc chúng tôi mà thôi”. Và cuối cùng các nước trên thế giới và Mỹ cũng phải nhận ra sai lầm.

Có thể nói thắng lợi đó là do được Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch ra chiến lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh cử ông Xuân Thủy rất giỏi về ngoại giao, có uy thế rất lớn trong đội quân báo chí. Ông như một vị sứ thần Việt Nam ngày xưa, giỏi đối đáp. Còn ông Lê Đức Thọ là người rất kiên quyết trong đàm phán riêng. Bà Bình là một người dòng dõi của cụ Phan Chu Trinh. Báo chí phương Tây gọi bà là “nữ hoàng Việt cộng”. Bởi từ lâu phương Tây, miền Nam gọi Việt cộng là những anh leo cành đu đủ không gẫy nay thấy bà rất lịch sự, nói tiếng Pháp rất tốt, văn hóa, đối đáp trôi chảy, điều đó khiến chính báo chí Pháp cùng phải tự hào nói bà là “nữ hoàng Việt cộng”.

Đây không chỉ là thắng lợi trong việc ký được Hiệp định Paris mà là sự tâm phục khẩu phục của đối phương. Tôi luôn nói hiệp định Paris hay cuộc chiến tranh Việt Nam rất có hậu, sau cuộc chiến tranh đó uy tín của Việt Nam lớn lên rất nhiều. Ngay đối với Mỹ – làm mưa là gió trên thế giới, chưa thua bao giờ thì người hận thù Việt Nam nhất như ông John McCain, bây giờ lại là người bảo vệ Việt Nam rất mạnh. Thực tế họ có cái phục. Đường lối đó là của Hồ Chí Minh không ai có thể làm khác được.

P.V: Sau khi kết thúc chiến tranh thì các chuyên gia, nhà khoa học lịch sử Việt Nam và Hoa Kỳ đã vài lần ngồi lại cùng nhau để nhìn lại sự kiện này và rút kinh nghiệm cho tương lai. Với tư cách là một người trực tiếp tham gia đoàn đàm phán, xin ông cho biết, trong quá trình đàm phán, có cơ hội nào cho hòa bình mà hai bên đã bỏ lỡ không?

Nhà ngoại giao Phạm Ngạc: Khi đó, Việt Nam lấy lợi ích dân tộc làm một: Vì độc lập tự do, đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào. Nhưng Mỹ lại có những lợi ích khác nhau. Điều đó thể hiện ở ngay trong đoàn đàm phán, Trưởng đoàn và Phó đoàn thì hai người này đều muốn chấm dứt chiến tranh; Họ còn muốn chấm dứt ném bom sớm nhưng lúc đó Johson lại tính khác.

Bên cạnh đó, Johson ở Đảng dân chủ nhưng cũng vướng Harry là người ứng cử Tổng thống, cả 2 đều có những mẫu thuẫn. Điều đó khiến nội bộ họ lủng củng. Sau này, khi Richard Nixon trúng cử  cuộc đám phán cũng không diễn ra ngay mà phải chờ đợi ông ta lên nhậm chức mới tiếp tục.

Nội bộ của Mỹ có nhiều sự tính toán khác nhau, điều đó đã làm họ suy yếu lập trường. Thậm chí kéo dài chiến tranh khiến tổn thất cho Mỹ càng nhiều hơn,cuối cùng họ sụp đổ. Chính nhiều sự tính toán như thế đã dẫn đến sai lầm cho Mỹ. Còn ta chiến thắng bởi sự xuyên suốt với một mục đích: Tôi muốn độc lập tự do và chúng tôi là tự chiến đấu tự đàm phán.

P.V: Xin cảm ơn ông./.

Mỹ Trà – Ngọc Ngà/VOV – Trung tâm tin
vov.vn

Đàm phán Paris là tổng hợp sức mạnh ngoại giao

(VOV) – PGS. TS. Vũ Dương Huân: “Muốn đánh thắng nước lớn thì phải kết hợp sáng tạo sức mạnh dân tộc và thời đại”.

Làm nên chiến thắng trên bàn đàm phán Paris ngày 27/1/1973 không thể không nhắc đến sức mạnh của ngoại giao nhân dân. Cuộc đàm phán ở Paris là sự kết hợp nhiều hình thức đấu tranh phong phú, bao gồm đấu tranh trong các phiên họp công khai, đàm phán trong các cuộc gặp riêng, đấu tranh trong các cuộc họp báo và đấu tranh bằng cách vận động và tranh thủ sự ủng hộ của các tổ chức, các đoàn thể, nhân dân thế giới.

Trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp, Đảng và Bác Hồ rất quan tâm đến công tác tuyên truyền đối ngoại, nhằm tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân Pháp và nhân dân thế giới đối với sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta. Đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, công tác tuyên truyền đối ngoại được vận dụng và phát triển lên trình độ mới, đạt tới đỉnh cao trong kháng chiến chống Mỹ và đàm phán Paris là bước phát triển độc đáo và sáng tạo của ngoại giao Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

PGS. TS. Vũ Dương Huân, nguyên Viện trưởng Viện Quan hệ quốc tế – Bộ Ngoại giao, nhấn mạnh: “Chúng ta đã hoạch định một cách tuyệt đối đúng đắn và sáng tạo đường lối ngoại giao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ta đã xây dựng, hoàn chỉnh được đường lối đối ngoại độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế. Không thể bỏ được vế nào trong hai vế này. Không có độc lập tự chủ thì không có đoàn kết quốc tế. Chúng ta đã cân bằng được hai vế này. Đây là sợi chỉ đỏ, là tinh thần sống để chỉ đạo toàn bộ đường lối hoạt động ngoại giao lúc bấy giờ”.

Kissinger bắt tay các ông Xuân Thủy, Lê Đức Thọ tại Hòa đàm Paris (Ảnh tư liệu)

Từ năm 1960, với sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, đã xuất hiện một mũi tấn công vô cùng lợi hại của ngoại giao miền Nam, mà ngoại giao nhân dân là nòng cốt.

Mặt trận đã xây dựng mạng lưới các hệ thống cơ quan đại diện và phòng thông tin tại các châu lục và triển khai những hoạt động ngoại giao nhân dân sâu rộng, rất có hiệu quả. Các đoàn thể Mặt trận đều tranh thủ mở rộng tiếp xúc, tham gia rộng rãi các sinh hoạt quốc tế lớn, các diễn đàn quốc tế, gặp gỡ các tổ chức quốc gia và quốc tế để cung cấp thông tin, đưa ra nhân chứng, giới thiệu tư liệu về tội ác của Mỹ, đồng thời làm sáng tỏ cuộc đấu tranh chính nghĩa của ta. Những việc làm này đã góp phần đắc lực thúc đẩy hình thành phong trào đoàn kết với Việt Nam.

Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Trưởng phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch nước cho biết: “Lúc Việt Nam bắt đầu cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, dư luận thế giới chưa hiểu gì về cuộc chiến đấu này. Dần dần, thế giới đã hiểu được ý nghĩa của cuộc chiến đấu của chúng ta và nhất là cuộc đấu tranh anh dũng của quân dân ta trên chiến trường. Cuộc chiến đấu đó càng ngày càng giành thắng lợi, thì càng làm cho nhân dân thế giới hiểu được ý nghĩa của cuộc chiến, đồng thời hiểu được tính chiến đấu anh hùng và kiên cường của dân tộc ta. Tất cả những điều đó làm cho thế giới không những hiểu về lập trường của chúng ta, mà còn khâm phục và yêu mến nhân dân Việt Nam-một dân tộc nhỏ mà dám đứng lên chống lại một đế quốc sừng sỏ là Mỹ”.

Các phong trào và tổ chức đoàn kết ủng hộ Việt Nam lần lượt ra đời tại các nước, từng bước hình thành Mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam chống Mỹ xâm lược. Phong trào này đã trở thành lực lượng chính trị hùng hậu, thường xuyên gây áp lực và có tác động ngày càng sâu sắc đến chính sách và thái độ của nhiều chính phủ trên thế giới đối với cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam.

PGS. TS. Vũ Dương Huân cho biết, đây là hiện tượng mới trong quan hệ lịch sử quốc tế. Chưa bao giờ hình thành Mặt trận nhân dân thế giới cùng Việt Nam chống Mỹ và kháng Mỹ. Đó là nhân tố Đảng ta đã xác định rõ, mình là nước nhỏ – muốn đánh thắng nước lớn thì phải kết hợp sáng tạo sức mạnh dân tộc và thời đại – đây là sáng tạo rất lớn của chúng ta.

Trong thời gian diễn ra cuộc đàm phán tại Paris, có thể nói không có tuần nào, tháng nào mà không có các cuộc mít tinh, biểu tình hay các hoạt động khác đoàn kết với Việt Nam diễn ra tại các nước châu Âu. Phong trào ủng hộ Việt Nam nở rộ và dâng cao với nhiều hình thức đa dạng và phong phú.

Những “Ủy ban Đoàn kết với Việt Nam”; những ngày, tuần, lễ, tháng hành động vì hòa bình ở Việt Nam, “Con tàu cho Việt Nam”… được tổ chức khắp nơi từ Pháp, Italy, Đức, Thụy Sĩ, Anh. Tòa án quốc tế xét xử tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam cũng được thành lập và đi vào hoạt động.

Tại Thụy Điển, Thủ tướng Olof Palme tham gia đi đầu đoàn biểu tình phản đối chiến tranh và đích thân lấy chữ ký người dân phản đối Mỹ ném bom Việt Nam. Tại Mỹ, các cuộc biểu tình với khẩu hiệu “Hãy đem chiến tranh về trong nước” diễn ra trên quy mô lớn, quy tụ mọi tầng lớn nhân dân tham gia, có lúc đã làm tê liệt cả bộ máy chính quyền và các hoạt động bình thường trong xã hội.

Báo chí Mỹ mô tả: “Đây là một phong trào chống chiến tranh không những chưa từng có ở Mỹ, mà cũng chưa từng có trong lịch sử nhân loại”. Phong trào chống chiến tranh phát triển ngay trong Quốc hội Mỹ. Quốc hội Mỹ đã nhiều lần thông qua nghị quyết cắt giảm chi phí chiến tranh, đòi rút quân Mỹ về nước.

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình cho biết: Khi chúng ta ký kết Hiệp định Paris, nhân dân tiến bộ trên thế giới đứng về phía Việt Nam và coi Hiệp định Paris được ký kết là thắng lợi của họ; không những của ta mà của các lực lượng yêu chuộng hòa bình, công lý trên toàn thế giới.

Khi bắt đầu cuộc chiến tranh, nhiều người Mỹ trước khi sang Việt Nam còn phải tìm trên bản đồ xem Việt Nam ở đâu, để rồi khi chiến tranh kết thúc, là lúc cả thế giới sát cánh bên nước Việt Nam bé nhỏ mà kiên cường, nơi đánh thức trái tim nhân loại, lương tri thế giới.

Như ông Vũ Xuân Hồng-Chủ tịch Liên hiệp các Tổ chức hữu nghị Việt Nam từng nhận xét: Chưa bao giờ số phận của một dân tộc nhỏ và số phận của nhân dân thế giới lại gắn chặt với nhau như vậy; chưa có cuộc đấu tranh của một dân tộc nào lại được sự ủng hộ quốc tế như cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam. Đó không chỉ là kết quả cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam, của đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng và Bác Hồ mà trong đó có ngoại giao nhân dân./.

Hồ Điệp-Mỹ Trà/VOV-Trung tâm tin
vov.vn

Những câu chuyện về Hội nghị Paris: “Suýt chết ngất !”

Khi rời Hà Nội còn bom đạn để đi Paris không ai biết cụ thể là Hội nghị kéo dài bao lâu, chỉ biết lên đường đến Paris cho kịp họp phiên đầu tiên vào ngày 13-5-1968. Lúc đó ở Paris ta có Tổng đại diện là cơ quan cao nhất đại diện cho Nhà nước ta do ông Mai Văn Bộ đứng đầu. Đón một đoàn quan trọng nhất từ trước đến nay để dự một cuộc Hội nghị có tính chất quyết định đối với vận mệnh của đất nước, ông Bộ nghĩ, phải bố trí cho đoàn ở một nơi đàng hoàng, sang trọng để cho người ta biết “mình là ai?”.

Cuối cùng, ông quyết định thuê cho đoàn ăn ở tại khách sạn Lutétia, một khách sạn 5 sao, ở số 45 trên Đại lộ Raspail (quận 16) giữa Thủ đô ánh sáng, “bắt” khách sạn treo cờ đỏ sao vàng trước cửa. Đến sân bay rồi đến khách sạn, nhà báo, phóng viên đủ các nước đã chờ sẵn để quay phim chụp ảnh lóa cả mắt. Kiều bào thì hãnh diện tụ tập ở sân bay theo đoàn rồi đến cửa khách sạn, tay cầm cờ đỏ sao vàng, kèm với khẩu hiệu hoan nghênh đoàn.

Sau độ 10 ngày, khách sạn đưa cho bà lễ tân của ta là Vũ Thị Đạt cái “phắc-tuya” (hóa đơn). Nhìn thấy số tiền ghi trong hóa đơn bà Đạt sợ quá suýt chết ngất bèn báo cáo Trưởng đoàn. Ông Xuân Thủy bàn với ông Hà Văn Lâu, Phó đoàn và Tổng đại diện Mai Văn Bộ quyết định phải chuyển chỗ ở, không cần 5 sao; thậm chí không có sao nào cũng phải đổi chỗ ở miễn là có chỗ ăn ngủ và tiện làm việc, lại còn phải có chỗ dựng cột điện đài để đánh “moóc” liên lạc với trong nước nữa chứ… Ông Mai Văn Bộ đi nhờ Đảng Cộng sản Pháp giúp. Lúc đó, “Trường đào tạo cán bộ Đảng của Trung ương Đảng Cộng sản Pháp” ở thành phố Choisy – leRoi, ngoại ô Paris. Trường đang nghỉ hè, học viên về địa phương cả, nên có thể cho đoàn ở trong thời gian nghỉ học. Vậy là đoàn ta chuyển ngay đến Choisy – le Roi, một nơi lý tưởng vì có đầy đủ phương tiện cho đoàn ăn ở và làm việc.

Sau thời gian nghỉ hè của trường, Hội nghị chưa đi đến đâu cả, cũng không ai nói trước được là còn kéo dài đến bao giờ. Thế là, trước mắt, bạn hoãn ngày tựu trường. Đoàn ta thì không biết đi đâu? Cuối cùng bạn tìm một nơi khác ở xa Paris để chuyển trường Đảng đến đó. Còn đoàn ta “xem của bạn cũng là của ta” ở mãi đến tháng 4-1973, hay nhất là lại được “miễn phí”, bạn không lấy một xu nào tiền thuê nhà. Đó là chưa kể số cán bộ bạn cử đến giúp đỡ và phục vụ cho đoàn VNDCCH và đoàn CPCMLTCHMNVN, về bảo vệ, lái xe, cấp dưỡng, giặt là quần áo… một cách tự nguyện và không có lương trong suốt hơn 4 năm trời.

Trịnh Ngọc Thái
daidoanket.vn

Nhìn toàn cảnh về chiến dịch Mậu Thân 1968

12 tập phim tài liệu “Mậu Thân 1968” sẽ mang đến cho khán giả cái nhìn đa chiều và đầy đủ nhất từ trước đến nay về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Phim được phat sóng trên VTV1 vao lúc 20h30 từ ngay hôm nay (25-1).

Êkíp làm phim tác nghiệp tại Mỹ

Để hoàn thành bộ phim này, đạo diễn Lê Phong Lan đã mất gần 8 năm trời chỉ để phỏng vấn, tập hợp, đối chiếu tư liệu. Trước đó sự kiện Mậu Thân 1968 đa được đề cập đến trong những bộ phim tư liệu của người Australia, Nga, Phap, Canada va đặc biệt là người Mỹ…Vì vậy, cách đặt vấn đề như thế nào với “Mậu Thân 1968” không phải là việc dễ dàng với một êkip làm phim người Việt Nam. Dù sự kiện đã diễn ra cách đây 45 năm nhưng trong phim, có nhiều thông tin mới mà cho tới tận bây giờ chúng ta mới được đề cập tới. Nhiều tư liệu quý mà cả hai bên cung cấp sẽ xuất hiện trong phim. Ngoài ra, phim tài liệu “Mậu Thân 1968” được thể hiện rất chuyên nghiệp với lời bình, giọng đọc, âm thanh… hứa hẹn sẽ gây ấn tượng với khán giả.

Đạo diễn Lê Phong Lan tiết lộ: “Mậu Thân 1968” bắt đầu từ việc đi tìm câu tra lời tai sao My – một cường quốc với tiềm lực kinh tế, quân sự, khoa học gấp 800 lần Việt Nam, lại can gián vào công việc nội bộ của một quốc gia nhỏ bé và lạc hậu ở cách xa nước Mỹ nửa vong trai đất; tại sao lại vướng vào một trong những cuộc chiến tranh lớn nhất, khốc liệt nhất và đáng xấu hổ nhất đối với quân đội của một đế quốc hùng mạnh? Tiếp theo là hành trình lật lại hồ sơ tư liệu về một kế hoạch tuyệt mật đã không được thực hiện từ thời chiến tranh đặc biệt; lý giải tại sao thời cơ chiến lược lại rơi đúng vào Tết Mậu Thân; diễn biến của cuộc tổng tiến công; lý giải tại sao người Mỹ lại cho rằng Khe Sanh là hướng tấn công chiến lược của ta, có hay không sự nổi dậy cua quần chung nhân dân trong sự kiện Mậu Thân 1968…

Bên cạnh đó, hình anh về một nước Mỹ, bị chia rẽ và phân hóa sâu sắc từ sau sự kiện Mậu Thân ra sao, dưới góc nhìn cua những nhân chứng người Mỹ cũng được phản ánh trong phim. Và cuối cùng, các sử gia, nhà nghiên cứu, người trong cuộc, bày tỏ những quan điểm thẳng thắn của mình về những được – mất của cách mạng Việt Nam trong sự kiện Mậu Thân 1968. Đặc biệt bộ phim cũng sẽ trả lời được câu hỏi tại sao chiến dịch Mậu Thân 1968 nay lai gây nhiều tranh cai suốt gần nửa thế ky qua…

Phim tài liệu “Mậu Thân 1968” sẽ phát sóng tập đầu tiên vào lúc 20h30 ngày 25-1 trên kênh VTV1 và chiếu liên tục 12 tập phim trong những ngày sau đó. Phim do Trung tâm Phim tài liệu và Phóng sự (Đài THVN) phối hợp với Hang phim Truyền hình Bản sắc Việt sản xuất. Trong buổi ra mắt mới đây tại Hà Nội, đánh giá về bộ phim tai liệu nay, ông Nguyễn Ha Nam – Trưởng Ban Thư ký Biên tập Đai THVN cho rằng: Bộ phim tai liệu “Mậu Thân 1968” đa tai hiện vô cung sinh động sự kiện có ý nghĩa bước ngoặt to lớn trong lịch sử dân tộc. Và với những ai đã từng theo dõi 5 tập phim “Hiệp định Paris 1973” thì việc tiếp tục theo dõi 12 tập phim “Mậu Thân 1968” sẽ có được cái nhìn đầy đủ và liên tục về vấn đề mà nhiều người cho là nhạy cảm và thường né tránh trong nhiều năm qua.

Nhã Anh
daidoanket.vn

Tái hiện Hiệp định Paris qua 140 bức ảnh

TTO – Những dấu mốc và hiện vật gợi nhớ Hiệp định Paris đi tới hòa bình của VN bắt đầu được giới thiệu tới người quan tâm ngày 23-1 tại trung tâm triển lãm 29 Hàng Bài, Hà Nội.

Ông Vũ Bỉnh (nguyên trung tá, trưởng ban bảo vệ an ninh Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam) bắt tay nguyên phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình tại triển lãm kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris – Ảnh: Việt Dũng

Nguyên phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình nhớ lại những khoảnh khắc hình ảnh của mình tại triển lãm ảnh kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris – Ảnh: Việt Dũng

Trong khuôn khổ triển lãm lớn nhất từ trước tới nay về chủ đề này, người xem sẽ được tiếp cận 140 bức ảnh, 21 lời trích, 23 hiện vật, 3 tài liệu, 8 cuốn sách. Có những hiện vật quý lần đầu được trưng bày kể từ 40 năm qua như văn bản gốc Hiệp định Paris.

Một trong những nhân vật xuất hiện nhiều trong các bức ảnh là bà Nguyễn Thị Bình – nguyên phó chủ tịch nước, nguyên trưởng đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời tại Hội nghị Paris – đã có mặt để khai mạc triển lãm.

Tại đây, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga cho biết đây là hoạt động nằm trong chuỗi các sự kiện đầy ý nghĩa kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam. “Ngày 27-3-1973 đã đi vào lịch sử của dân tộc Việt Nam như một mốc son chói lọi với việc ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam” – bà nói.

Triển lãm kéo dài hết ngày 28-1.

H.GIANG – VIỆT DŨNG
tuoitre.vn

Hiệp định Paris – Đỉnh cao chói lọi của ngoại giao cách mạng Việt Nam

Theo PGS, NGND LÊ MẬU HÃN, NGUYÊN CHỦ NHIỆM KHOA LỊCH SỬ, TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHXH VÀ NV, ĐHQG HÀ NỘI, Hiệp định Paris là đỉnh cao chói lọi của cuộc đấu tranh cam go nhất, lâu dài nhất trong lịch sử ngoại giao cách mạng Việt Nam. Việc ký Hiệp định Paris là thắng lợi vô cùng to lớn, tạo thế và lực cho cuộc đấu tranh giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

– Hiệp định Paris được xem là cuộc đấu trí kéo dài giữa nền ngoại giao cách mạng non trẻ của Việt Nam với nền ngoại giao nhà nghề của Mỹ, trong đó có tới 202 cuộc họp công khai và 24 cuộc gặp riêng. Ông đánh giá về sự kiện này như thế nào?

– Thắng lợi của Hội nghị Paris là một thắng lợi to lớn với dân tộc ta, chấm dứt cuộc chiến tranh dài nhất trong thế kỷ XX. Cuộc chiến tranh diễn ra trên phạm vi một nước nhưng lại là tiêu điểm của những mâu thuẫn và xung đột mang tính thời đại: giữa độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa đế quốc, các thế lực phản động; giữa chiến tranh và hòa bình. đó là cuộc đối thoại giữa hai thế lực đối đầu trên chiến trường, một bên là lực lượng xâm lược có thế mạnh vượt trội về quân sự và kinh tế nhưng lại có thế yếu về chính trị, tinh thần; một bên là lực lượng bảo vệ Tổ quốc, tuy có điểm yếu tương đối về quân sự và kinh tế nhưng lại có thế mạnh tuyệt đối về chính trị, chính nghĩa. Đây là cuộc đối chọi giữa hai nền ngoại giao, một bên là nền ngoại giao nhà nghề của một siêu cường; một bên là nền ngoại giao của một nhà nước cách mạng còn non trẻ. Ở Paris đã diễn ra một cuộc đấu quyết liệt giữa hai ý chí, hai trí tuệ, hai loại pháp lý và đạo lý, hai thứ mưu lược khác nhau. Trong quá trình đàm phán, phía Mỹ đã có những thủ đoạn tỏ rõ nền ngoại giao nhà nghề của họ, nên cuộc đấu tranh đó là cuộc đấu tranh từng bước trên cơ sở thắng lợi ở chiến trường mà chúng ta đã giành được.

Toàn cảnh lễ ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam, 27.1.1973

Cuộc đàm phán kéo dài tới 202 phiên họp công khai và 24 cuộc họp riêng mới đi đến kết quả cuối cùng. Điều này đã nói lên tính chất quyết liệt của nó, sự cương quyết không chịu nhượng bộ của ta. Việc ký Hiệp định Paris là một thắng lợi vô cùng to lớn, là đỉnh cao chói lọi của nền ngoại giao cách mạng non trẻ của Việt Nam. Bởi đây là văn kiện pháp lý có tính quốc tế mà phía Mỹ phải công nhận độc lập, toàn vẹn chủ quyền và thống nhất của dân tộc ta; tạo nên thế và lực cho việc kết thúc cuộc chiến tranh kéo dài suốt 21 năm của nhân dân ta là giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam, giang sơn thu về một mối. Sự kiện này đã một lần nữa khẳng định chân lý “không có gì quý hơn độc lập tự do” mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. Đây là kết quả  sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và dựa trên các yếu tố về chính trị, quân sự và ngoại giao.

– Trong quá trình đàm phán, Mỹ luôn gây khó khăn cho ta khi đưa ra những điều khoản có lợi cho chúng hoặc đơn phương rút khỏi bàn Hội nghị. Việc làm đó có phải Mỹ muốn chờ sự thay đổi có lợi trên chiến trường, thưa Ông?

– Trong quá trình xâm lược Việt Nam, Mỹ luôn thay đổi các chiến lược chiến tranh như chiến tranh đặc biệt; chiến tranh cục bộ; Việt Nam hóa chiến tranh… Tuy nhiên, sự thay đổi nhằm gây sức ép với ta trên chiến trường đã không mang lại hiệu quả trên bàn Hội nghị mà còn bị tổn thất, vì việc Mỹ gây khó khăn cũng không nằm ngoài ý định thăm dò ý đồ của ta. Nhưng các chiến lược này không tạo thay đổi có lợi cho chúng. Trong khi đó, điều chúng ta làm được là buộc Mỹ phải rút quân. Vì vậy, dù có gây khó khăn cho ta hay đơn phương rút khỏi bàn Hội nghị thì Mỹ vẫn không thay đổi được những thắng lợi trên chiến trường của ta.

– Với chủ trương vừa đánh vừa đàm, vừa đàm vừa đánh, tại Hội nghị Paris đâu là yếu tố để ta nắm quyền chủ động, thưa Ông?

– Chủ trương vừa đánh vừa đàm, vừa đàm vừa đánh đã diễn ra trong suốt cả cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đó là việc đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang trước khi chúng ta chuyển sang chống lại các chiến lược quân sự mới của Mỹ. Đặc biệt, cuộc tiến công Mậu Thân năm 1968 khi ta đánh vào nội đô Sài Gòn đã thể hiện sức mạnh quân sự của ta. Sự kiện này tạo ra thế dẫn đến việc đánh để đàm và buộc Mỹ phải xuống thang. Ngoài ra, các cuộc tấn công quân sự khác cũng đã tạo đà cho việc đàm phán ngoại giao tiến lên, nhất là những thắng lợi trên chiến trường trong năm 1972. Vì vậy, việc vừa đánh vừa đàm, vừa đàm vừa đánh thì những thắng lợi về quân sự là yếu tố cơ bản tạo đà cho các bước phát triển của ngoại giao. Bên cạnh đó, những thắng lợi trên mặt trận ngoại giao cũng góp phần tạo thế và lực cho sự phát triển của quân sự.

– Như Ông vừa nói, chiến thắng trên chiến trường có ảnh hưởng lớn đến cục diện bàn đàm phán. Vậy những thắng lợi của ta từ cuối năm 1971 và trong năm 1972 có phải là điều tiên quyết trong thắng lợi của Hiệp định Paris không?

– Năm 1972, cả Việt Nam và Mỹ đều nhận định là năm quyết định cho cuộc chiến tranh. Vì vậy, các cuộc đàm phán dần đi vào thực chất, càng về cuối càng có những chuyển biến quan trọng. Tuy nhiên, trong 6 tháng đầu năm, hai bên vẫn chưa thực sự đi vào đàm phán, vẫn nỗ lực trên chiến trường và thăm dò nhau trên bàn hội nghị. Cuộc gặp riêng từ ngày 8 – 12.10.1972 là mốc đánh dấu bước chuyển căn bản của cuộc đàm phán. Trong đó, phía Việt Nam đưa ra văn bản Dự thảo hiệp định hoàn chỉnh và đề nghị Mỹ ký ngay Hiệp định. Trên chiến trường, Mỹ tiến hành bình định quyết liệt, đồng thời mở rộng chiến tranh sang Campuchia và Lào nhằm ngăn chặn tiếp tế của miền Bắc vào miền Nam, cô lập lực lượng cách mạng miền Nam từ bên ngoài. Về ngoại giao, chính quyền Nixon xây dựng một chiến lược toàn cầu mới trong khuôn khổ “học thuyết Nixon”, tìm cách lợi dụng mâu thuẫn Xô – Trung trong quan hệ với Việt Nam, tìm kiếm một giải pháp thương lượng theo điều kiện có lợi cho Mỹ. Những năm 1969 – 1972 là những năm giằng co quyết liệt giữa hai bên trên chiến trường cũng như trên bàn đàm phán. đàm phán thực chất chỉ diễn ra sau khi Mỹ đã cảm nhận được thất bại của chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh”, nhất là sau thắng lợi của ta ở đường 9 – Nam Lào và trong Chiến dịch đông – Xuân 1971 -1972, chiến thắng ở thành cổ Quảng Trị, giải phóng thêm được nhiều vùng rộng lớn. Không chỉ có những chiến thắng trên chiến trường cuối năm 1971 và năm 1972 mà tác động của những chiến thắng trên khắp chiến trường đã xuất hiện từ năm 1968. Bởi nếu không, chúng ta sẽ không thể kéo Mỹ ngồi vào bàn Hội nghị Paris. Tuy nhiên, chiến thắng về mặt quân sự là gốc quyết định và có tác động vô cùng mạnh mẽ đến ngoại giao để chúng ta giành được thắng lợi. Vì sau những thất bại đó, Mỹ đã nhận ra rằng không thể thắng được chúng ta bằng sức mạnh quân sự ở trên chiến trường.

 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng, chiêng có to thì tiếng mới mạnh”. Ông đánh giá thế nào về ý nghĩa  thắng lợi của Hiệp định Paris?

– Câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là tư tưởng cốt lõi của ngoại giao cách mạng nước ta. Ở đây Người muốn nói đến sức mạnh của đấu tranh trên chiến trường chính là thực lực có tác động mạnh mẽ trong đấu tranh ngoại giao. Với việc ta luôn giành được những thắng lợi to lớn về mặt quân sự đã giúp cho việc đàm phán đi đến thành công. Cội nguồn của thắng lợi Hội nghị Paris là tinh thần quyết chiến quyết thắng, là ý chí quật cường đấu tranh bền bỉ bảo vệ cho chân lý, giành độc lập, tự do của cả dân tộc Việt Nam. Cuộc đấu tranh này phản ánh đầy đủ sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trí tuệ của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam, dựa vào chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Thành công của cuộc đàm phán đưa tới Hiệp định Paris gắn liền với phong trào của nhân dân thế giới đoàn kết và ủng hộ Việt Nam. Sự ủng hộ đó đã thể hiện phương châm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế, kết hợp ngoại giao nhà nước với ngoại giao nhân dân.

 Xin cám ơn Ông!

 Tóm tắt nội dung Hiệp định về chấm dứt chiến tranh,
lập lại hòa bình ở Việt Nam
(ký tại Paris ngày 27.1.1973)

– Tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam như được công nhận bởi Hiệp định Geneve.

– Ngừng bắn trên toàn Việt Nam từ 1h ngày 28.1.1973. Trong vòng 60 ngày, sẽ có cuộc rút lui hoàn toàn của quân đội Mỹ và đồng minh cùng các nhân viên quân sự Mỹ ra khỏi Việt Nam Cộng hòa. Mỹ không tiếp tục can thiệp quân sự vào “các vấn đề nội bộ” của Nam Việt Nam.

– Tất cả tù binh chiến tranh của các bên sẽ được trao trả không điều kiện trong vòng 60 ngày. Các tù nhân chính trị sẽ được trả tự do sau đó theo thỏa thuận chi tiết của các phía Việt Nam.

– Tái thống nhất Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng các biện pháp hòa bình.

– Để giám sát việc thực hiện hiệp định, thành lập ủy ban kiểm soát và Giám sát quốc tế và Phái đoàn quân sự liên hợp bốn bên.

– Mỹ có nghĩa vụ giúp đỡ việc tái thiết sau chiến tranh, đặc biệt là ở miền Bắc Việt Nam và trên toàn Đông Dương, để hàn gắn các thiệt hại do chiến tranh.

Thanh Bình thực hiện
daibieunhandan.vn

40 năm ngày ký Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh

Đoàn Việt Nam tại Hội nghị Paris. (Ảnh Tu liệu/TTXVN)

Nhân kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973-27/1/2013), phóng viên TTXVN tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tìm gặp ông Hà Văn Lâu, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, nguyên Phó trưởng đoàn đàm phán (giai đoạn 1) của Việt Nam ở Hội nghị Paris, một nhân chứng lịch sử của sự kiện này.

Năm nay đã ở tuổi 95 nhưng ông Hà Văn Lâu vẫn rất minh mẫn với giọng nói rõ ràng, mạch lạc. Nhớ lại những kỷ niệm không thể nào quên của những năm tháng kiên trì đàm phán, dòng hồi tưởng về giai đoạn lịch sử này lại ùa về trong ông với niềm xúc động lớn lao.

Những bài học kinh nghiệm

Đánh giá về những bài học kinh nghiệm trong thắng lợi của Hội nghị Paris, ông Hà Văn Lâu nhấn mạnh, bao trùm lên tất cả là bài học về sự lãnh đạo sáng suốt và bản lĩnh lãnh đạo vững vàng của Đảng ta và về sự vận dụng đúng đắn tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh. Trong mọi hoàn cảnh, trước mọi ý đồ và mưu mô xảo quyệt của đối phương, chúng ta vẫn kiên định lập trường, có đối sách thích hợp, linh hoạt, tạo được sự phối hợp nhịp nhàng giữa các mặt trận đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao. Đồng thời, Đảng ta đã độc lập tự chủ trong mọi quyết sách, mọi bước đi, luôn ở thế chủ động tiến công, kiên định nguyên tắc nhưng linh hoạt trong sách lược đàm phán. Đảng ta đã vận dụng tài tình tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong việc đánh giá cục diện quốc tế, diễn biến và so sánh lực lượng ở chiến trường, nội tình nước Mỹ, từ đó xác định các thời cơ lớn của ngoại giao và đàm phán.

Trong quá trình đàm phán, ta đã vận dụng ba nhân tố: chiến trường, đàm phán và quốc tế nhằm tăng cường thế và lực cho đất nước. Cùng với đó là bài học về sự kết hợp và bổ trợ lẫn nhau, phối hợp tài tình giữa đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao, giữa chiến trường và bàn đàm phán, đó là sự phối hợp giữa “đánh và đàm.” Thắng lợi và thực lực trên chiến trường đóng vai trò quyết định đối với thắng lợi trên bàn đàm phán. Ngược lại, thắng lợi trên bàn đàm phán cũng góp phần tác động đến thắng lợi trên chiến trường…

Đoàn Ba Bảy

Ông Hà Văn Lâu kể: Phải đến năm 1968, khi trên chiến trường miền Nam ta đã giành được những thắng lợi quan trọng, Tổng thống Mỹ Johnson mới chịu ngừng ném bom Bắc Việt Nam, sẵn sàng thương lượng với Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Hai bên đã thỏa thuận bắt đầu đàm phán tại Paris vào ngày 13/5/1968. Đoàn Việt Nam được thành lập ban đầu có 37 người, nên được gọi là “Đoàn ba bảy”, Trưởng đoàn là đồng chí Xuân Thủy. Với tư cách là Phó đoàn, ông Hà Văn Lâu được cử đi tiền trạm lo chỗ ăn, chỗ ở cho đoàn, chỗ họp hội nghị…

Sau ngày Hội nghị khai mạc, trong suốt trong thời gian dài, hội nghị diễn ra trong thế giằng co, thăm dò lập trường lẫn nhau, Phó đoàn Việt Nam Hà Văn Lâu và Phó đoàn Mỹ Vance luôn có các cuộc họp thăm dò để chuẩn bị cho những cuộc tiếp xúc riêng của cấp Trưởng đoàn bàn thực chất của các vấn đề.

Chuyện về cái bàn hội nghị

Ông Hà Văn Lâu cho biết: Ở giai đoạn 2, ngày 4/12/1968, ông gặp Vance chủ yếu là bàn về thủ tục phòng họp ở đâu, nói bằng thứ ngôn ngữ nào, ai sẽ nói trước, hình thù cái bàn ngồi họp ra sao… Chỉ riêng chuyện cái bàn, phía Mỹ đã kéo thành 8 cuộc họp, mất gần hai tháng để Vance tranh luận với Hà Văn Lâu. Mỹ yêu sách, kèo nèo mãi quanh mấy cái mặt bàn, chân bàn, không phải về kỹ thuật hình thức, kiểu dáng cái bàn mà thực chất đây là cuộc đấu tranh lập trường giữa hai bên.

Phía Mỹ cho là Hội nghị Paris tiếp theo chấm dứt ném bom miền Bắc phải là cuộc họp của hai bên: một bên là Mỹ và chính quyền Sài Gòn, một bên là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Vance đưa ra đến 10 kiểu bàn để thể hiện lập trường 2 bên của Mỹ, cố tình phủ nhận vai trò của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Còn phía Việt Nam nêu rõ đây là hội đàm 4 bên để nâng tầm chính trị, đề cao vai trò của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và trong đàm phán, nên đưa ra mẫu bàn hình vuông, Mỹ lại đề nghị bàn hình chữ nhật.

Ở lần họp thứ 6, Phó đoàn Hà Văn Lâu đưa ra hai kiểu bàn mới hình thoi và hình tròn chia tư. Đến cuộc họp lần thứ 7, Vanxơ đưa ra hai kiểu bàn: hình bầu dục cắt dọc đôi và hình tròn cắt đôi, phía Việt Nam bác bỏ… Ông Lâu nhớ lại, quanh chuyện cái bàn này, đồng chí Xuân Thủy đã nói: “Thật là buồn cười, hồi bé, trẻ con hay tranh nhau chỗ ngồi bàn này, bàn kia, ghế nọ, ghế kia. Bây giờ bạc đầu, trên trường quốc tế, người ta vẫn tranh nhau như vậy…”

Đến ngày 3/1/1969, tại lần họp thứ 8, suốt 4 giờ liền Vance tranh luận với ông Lâu về chuyện cái bàn. Đến lần họp thứ 9 (12/1), hai bên tiếp tục tranh cãi, phía Mỹ giữ quan điểm cái bàn ngồi phải thể hiện là họp hai phía, ta không chịu, đòi phải thể hiện rõ bốn bên. Phải đến lần họp thứ 10 ngày 16/1, khi Liên Xô đưa ra sáng kiến chiếc bàn tròn, không phân biệt ranh giới cụ thể giữa 4 đoàn, phía Mỹ mới chịu chấp nhận. Theo mô tả của ông Hà Văn Lâu: trên bàn họp không có cờ, không có bảng tên từng đoàn. Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngồi đối diện với đoàn Mỹ, còn đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ngồi đối diện với đoàn Việt Nam Cộng hòa. Bên cạnh bàn tròn lớn có 2 bàn tròn nhỏ dành cho thư ký. Do vậy có thể hiểu sao cũng được. Bộ Ngoại giao Pháp đã làm giúp cái bàn họp, chỉ đóng trong một đêm là xong. Còn về chuyện ai nói trước, Việt Nam Dân chủ Cộng hò và Mỹ dành cho Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa rút thăm…

Sau những ngày dài né tránh và chờ bầu xong tổng thống mới, Mỹ buộc phải chấp nhận họp bốn bên ở Hội nghị Paris. 10 giờ 30 phút sáng 25/1/1969, Hội nghị Paris 4 bên đã khai mạc trọng thể tại phòng lớn của Trung tâm Hội nghị Quốc tế phố Cơbêle./.

Hà Huy Hiệp (TTXVN)
vietnamplus.vn

Đấu tranh ngoại giao trên bàn đàm phán Paris và một số hình ảnh tiêu biểu

Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã kiên cường chống lại nhiều kẻ thù xâm lược lớn mạnh, do điều kiện tương quan so sánh lực lượng đã buộc dân tộc ta ngoài lòng dũng cảm còn phải biết vận dụng các hình thức đấu tranh quân sự, ngoại giao, chính trị. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng ta đã vận dụng và kết hợp nhiều hình thức đấu tranh, phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp trên các mặt trận, tiêu biểu là giai đoạn 1969 – 1973, đấu tranh ngoại giao trên bàn đàm phán Paris phối hợp chặt chẽ đấu tranh trên các chiến trường đã đánh dấu một giai đoạn mới của cuộc chiến tranh Việt Nam: Đọ sức trên mặt trận ngoại giao, mở ra cục diện “vừa đánh vừa đàm”.

Đấu tranh đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh phá hoại đến bàn thương lượng 4 bên

P.1Trụ sở phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dự Hội nghị Paris ở Xoaxylơroa.

Sau thắng lợi của hai mùa khô, ta chủ trương mở mặt trận ngoại giao để phối hợp với mặt trận quân sự nhằm tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ, nêu rõ lập trường chính nghĩa của ta, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của thế giới. Mục tiêu trước mắt là đòi Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom phá hoại miền Bắc. Tháng 3/1968, sau cuộc tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân, Giôn-xơn ra lệnh ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra, bắt đầu nói đến việc thương lượng và đàm phán với ta.

P.2Đoàn Đại biểu Chính phủ Mỹ dự phiên họp khai mạc cuộc hội đàm chính thức giữa đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đại diện Chính phủ Mỹ trong Hội nghị Paris ngày 13/5/1968 tại Phòng họp Trung tâm các Hội nghị quốc tế (Đường Kleber, Paris, Cộng hòa Pháp)

Ngày 13/5/1968, cuộc đàm phán chính thức giữa hai bên ta và Mỹ bắt đầu khai mạc. Phái đoàn Mỹ do Thứ trưởng Ngoại giao Hariman dẫn đầu, phái đoàn của ta do Bộ trưởng Xuân Thủ dẫn đầu. Ngay trong phiên họp khai mạc, phái đoàn ta đã phát biểu trước, khẳng định lập trường trước sau không thay đổi đó là Mỹ phải chấm dứt hoàn toàn việc ném bom phá hoại miền Bắc sau đó mới bàn đến vấn đề có liên quan đến hai bên.

Sau nhiều phiên họp căng thẳng, ngày 01/11/1968, Giôn-xơn phải ra lệnh chấm dứt ném bom phá hoại miền Bắc. Hội nghị đã bàn đến thành phần của Hội nghị 4 bên và Mỹ buộc phải chấp nhận theo đề nghị của ta, Hội nghị 4 bên gồm: Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Hội nghị 4 bên từ tháng 01/1969 đến tháng 10/1972

            Hội nghị 4 bên khai mạc tháng 01/1969 tại Paris, từ phiên họp đầu tiên đến khi đạt được bản Dự thảo Hiệp định, Hội nghị 4 bên đã đưa ra rất nhiều cuộc tiếp xúc riêng giữa cố vấn của Tổng thống Mỹ Kissinger và ông Lê Hữu Thọ, tổng cộng có tới 202 phiên họp chung công khai và 24 cuộc tiếp xúc riêng.

Lập trường 4 bên nhưng thực chất là lập trường 2 bên giữa ta và Mỹ khác xa nhau nên khiến cho cuộc đàm phán gay gắt kéo dài và nhiều khi gián đoạn. Ta trước sau đòi Mỹ rút hết quân Mỹ, quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyền dân tộc tự quyết của dân tộc Việt Nam. Phía Mỹ trước sau nêu quan điểm theo kiểu mặc cả có đi có lại, đòi cả hai bên ta (miền Bắc) và Mỹ rút quân ra khỏi miền Nam. Họ đã đặt ngang hàng của kẻ đi xâm lược và người chống xâm lược.

P.3Cuộc gặp riêng giữa ông Lê Đức Thọ với ông Henry Kissinger tại Paris, năm 1973

Do thất bại nặng nề ở cả hai miền Nam – Bắc, lại muốn có được thắng lợi trong cuộc bầu cử Tổng thống vào đầu tháng 11 năm 1972, Nich-xơn dùng thủ đoạn xuống thang chiến tranh để tranh thủ phiếu bầu của cử tri Mỹ. Đầu tháng 10/1972, phái đoàn Mỹ đến Paris nối lại đàm phán. Ngày 8/10/1972, trong cuộc tiếp xúc riêng giữa Kissinger và ông Lê Hữu Thọ, ta đưa ra bản Dự thảo Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam. Ngày 17/10/1972, văn bản Hiệp định đã được hoàn tất, hai bên thỏa thuận ngày ký chính thức. Ngày 22/10/1972, Ních-xơn tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra.

Ký Hiệp định Paris

Sau khi tái cử Tổng thống ngày 8/11/1972, tập đoàn Ních-xơn trở mặt đòi xét lại bản Dự thảo Hiệp định đã được thỏa thuận, đòi ta nhân nhượng, cuộc đàm phán gián đoạn, Kissinger về Oa-sinh-tơn, ông Lê Đức Thọ về Hà Nội. Để ép ra phải nhân nhượng, Ních-xơn giở con át chủ bài mưu tính đánh đòn quyết định. Từ ngày 18 – 29/12/1972, không quân Mỹ mở cuộc tập kích bằng không quân chiến lược B52 vào Hà Nội, Hải Phòng…trong suốt 12 ngày đêm.

P. 4Quang cảnh Lễ ký Hiệp định Paris, 27/01/1973

 

P.5Lễ ký tắt Hiệp định Paris, 23/01/1973

P.6Ông Lê Đức Thọ và Ông Henry Kissinger trong buổi ký tắt Hiệp định Paris năm 1973

 

P.7Ông Lê Đức Thọ và ông Henry Kissnger trao đổi bút ký trên bàn hội đàm

 

P. 8Bà Nguyễn Thị Bình tại Lễ ký Hiệp định Paris ngày 27/01/1973

P.9Đoàn Chính quyền Việt Nam Cộng hòa tại Lễ ký Hiệp định Paris, năm 1973

Quân dân Hà Nội, Hải Phòng đã chiến đấu mưu trí, dũng cảm, đập tan cuộc tập kích bằng không quân chiến lược B52 của Mỹ, lập nên một trận “Điện Biên Phủ trên không”. Thất bại nặng nề ngày 30/12, Ních-xơn buộc phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra sau đó cử đại diện đến Paris để nối lại đàm phán. Ngày 13/01//1973, bản Dự thảo Hiệp định đã được thỏa thuận. Ngày 23/01, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình được ký tắt giữa Kissinger, đại diện cho Chính phủ Mỹ và ông Lê Đức Thọ, đại diện cho Chính phủ Việt Nam. Ngày 27/01/1973, Hiệp định được ký kết chính thức tại Trung tâm các Hội nghị quốc tế phố Kleber ở Paris (Pháp) giữa 4 Trưởng đoàn là: Ông Nguyễn Duy Trinh, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Hariman, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ; Ông Trần Văn Lắm – Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa và bà Nguyễn Thị Bình – Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Hiệp định có hiệu lực từ 7h sáng ngày 28/01/1973.

Nội dung Hiệp định

P.10Ông Lê Đức Thọ, đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký thông báo chung với Hoa Kỳ về thực thi Hiệp định Paris, ngày 13/6/1973

Hoa kỳ và các nước cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản ở Việt Nam là: Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

Hoa kỳ rút hết quân viễn chinh và quân của các nước đồng minh ra khỏi miền Nam Việt Nam, triệt phá hết các căn cứ quân sự của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, cam kết không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam trong thời hạn 2 tháng kể từ ngày ký Hiệp định. Hoa Kỳ phải rút hết quân đội ra khỏi miền Nam Việt Nam dưới sự giám sát của Ủy ban Quân sự 4 bên.

Mỹ và chính quyền Sài Gòn công nhận Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, các bên công nhận thực tế ở miền Nam có 2 chính quyền, 2 quân đội, 2 vùng kiểm soát và 3 lực lượng chính trị.

P.11Trao trả tù binh Mỹ ở sân bay Gia Lâm, ngày 18/02/1973

Các bên ngừng bắn tại chỗ, trao trả cho nhau tù binh và dân thường bị bắt.

Các bên để cho nhân dân miền Nam tự quyết định tương lại chính trị thông qua tổng tuyển cử tự do.

Mỹ có trách nhiệm vớt hết bom mìn, thủy lôi đã thả để phong tỏa bờ biển, cửa sông miền Bắc Việt Nam, có trách nhiệm đóng góp vào việc hàn gắn vết thương ở miền Bắc Việt Nam.

Hiệp định Paris là kết quả của 18 năm đấu tranh kiên cường gian khổ của nhân dân ở cả 2 miền Nam – Bắc. Buộc Mỹ phải tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản ở miền Nam. Rút hết quân viễn chinh, quân chư hầu ra khỏi miền Nam, đó là thắng lợi chính nghĩa của dân tộc đoàn kết quyết tâm đánh Mỹ, thắng Mỹ.

Kết quả quan trọng nhất của Hiệp định Paris là việc Mỹ rút hết quân viễn chinh và quân chư hầu ra khỏi Việt Nam, làm cho tương quan lực lượng ở miền Nam thay đổi hẳn có lợi cho ta, quân ngụy Sài Gòn mất chỗ dựa đã suy yếu hẳn, còn lực lượng cách mạng thì giữ nguyên và phát triển nhanh chóng sau ngày ký Hiệp định Paris.

Với kết quả đó, Hiệp định đã mở ra bước ngoặt lớn cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, dân tộc ra đã thực hiện được một nhiệm vụ: “Đánh cho Mỹ cút” theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tạo tiền đề quan trọng “đánh cho Ngụy nhào” giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Đối với miền Bắc: Hiệp định Paris cùng với việc Mỹ chấm dứt hoàn toàn chiến tranh phá hoại miền Bắc đã tạo cho nhân dân miền Bắc có hòa bình để khắc phục, hàn gắn chiến tranh, phát triển sản xuất, tăng cuờng tiềm lực của hậu phương xã hội chủ nghĩa để chi viện cho tiền tuyến miền Nam, trực tiếp chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.

Thắng lợi của Hiệp định Paris đã tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng Lào, Campuchia phát triển. Sau Hiệp định Paris, Mỹ phải ký kết Hiệp định Viên Chăn tháng 2 năm 1973, chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Lào.

Có thể nói, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris là một điển hình thành công trong nghệ thuật đấu tranh ngoại giao của dân tộc ta trong lịch sử chống ngoại xâm, góp phần làm phong phú nghệ thuật vừa đánh giặc vừa đàm phán của cha ông ta, qua Hiệp định Paris, vị thế của dân tộc Việt Nam đã được nâng cao trên trường quốc tế. Bốn mươi năm đã trôi qua, nhưng ý nghĩa lịch sử của Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam luôn là dấu son không bao giờ phai mờ được ghi vào lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung và ngoại giao Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh nói riêng, góp phần quan trọng vào kết quả thắng lợi vang dội của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước./.

Huyền Trang (tổng hợp)
Ảnh chụp tại Bảo tàng Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Lần đầu tiên trưng bày cuốn Hiệp định Paris

Những tư liệu, hiện vật, sách và ảnh về chiến tranh chống Mỹ và cuộc đàm phán lịch sử cách đây 40 năm vừa được triển lãm tại Hà Nội. Trong đó cuốn Hiệp định Paris 1973 lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng.

‘Người bạn đường’ của bà Nguyễn Thị Bình ở hội nghị Paris

Triển lãm khai mạc sáng 23/1 tại 29 Hàng Bài, Hà Nội, gồm 140 bức ảnh, 21 lời trích, 23 hiện vật, 3 tài liệu và 8 cuốn sách, trong đó có những hiện vật lần đầu tiên được trưng bày kể từ 40 năm qua.

Hai con dấu của đoàn đại biểu Quân đội nhân dân VN, Ban liên hợp khu phi quân sự.

Một trong hai cây bút từng ký kết Hiệp định Paris năm 1973.

Cuốn Hiệp định chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Việt Nam vẫn còn khá mới, lần đầu tiên được mang ra trưng bày.

Hồ sơ tập hợp các chữ ký của nhân dân Cu Ba ủng hộ nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc thống nhất đất nước.

Chữ ký của Bộ trưởng Ngoại giao 12 nước trong bản Định ước của Hội nghị quốc tế về Việt Nam tại Paris (2/3/1973).

Nhà ngoại giao Phạm Ngạc, người từng có mặt trong lễ ký kết Hiệp định Paris cũng có mặt và rất xúc động khi nhìn lại những hình ảnh một thời gian khó.

Sau Mậu Thân, phong trào phản đối chiến tranh mà Mỹ tiến hành ở Việt Nam dâng cao. Trong tấm hình tư liệu này, một cô gái Mỹ cắm hoa vào họng súng của lính cảnh vệ quốc gia như một biểu tượng mong muốn hoà bình ở Việt Nam.

Để đi đến việc ký được Hiệp định Paris 1973, các bên đã phải tiến hành đàm phán trong nhiều năm. Trong ảnh, Bộ trưởng Xuân Thuỷ phát biểu tại sân bay Bourgert khi đến đàm phán với Mỹ (9/5/1968).

Đại diện 4 bên gồm Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam, Mỹ và Cộng hoà Việt Nam ký Hiệp định Paris (27/1/1973).

Thứ trưởng Nguyễn Cơ Thạch bắt tay Đại sứ William Sullivan (hai nhà ngoại giao chủ chốt chịu trách nhiệm về hoàn tất các văn bản Hiệp định và thủ tục ký kết Hiệp định Paris). Người thứ hai từ trái sang là ông Lê Đức Thọ.

Đoàn đại biểu Việt Nam dân chủ cộng hoà trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên trung ương.

Ngày 27/1/1973 đã đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một mốc son với việc “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” đã được ký kết tại Paris, Pháp. Theo hiệp định, Mỹ phải thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, rút hết quân đội Mỹ và đồng minh ra khỏi Việt Nam, tạo ra bước ngoặt trong cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam dẫn đến giải phóng miền Nam năm 1975, thống nhất đất nước.

Hoàng Hà
vnexpress.net