Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Bác Hồ và nhà triết học Anh Bertrand Russel

Ngày 7/4/1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự họp Bộ Chính trị nghe báo cáo về tình hình chiến sự và một số vấn đề về ngoại giao.

– Ngày 7/4/1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự họp Bộ Chính trị nghe báo cáo về tình hình chiến sự trên cả nước và một số vấn đề về ngoại giao.

Bìa sách Hồ chí minh một bản biên niên sử mới được xuất bản tại Đức.

Bìa sách Hồ Chí Minh một bản biên niên sử mới được xuất bản tại Đức.

Bác lưu ý việc tăng cường công tác vận động ngoai giao nhân dân, cần tuyên truyền về Toà án xét xử tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam do Huân tước và triết gia nổi tiếng người Anh (năm đó đã 94 tuổi), một người có cảm tình đặc biệt đối với nhân dân ta, đề xướng để tranh thủ dư luận quốc tế.

Bertrand Russel (1872 – 1970) là một nhà triết học và cũng là một chiến sĩ hoà bình nổi tiếng người Anh. Tháng 7/1964, ông đã dẫn đầu một đoàn đại biểu các tầng lớp nhân dân Anh đến Sứ quan của Mỹ và London phản đối những chính sách xâm lược của Mỹ đối với Việt Nam và khu vực Đông Dương. Uy tín của ông đã thu hút được nhiều nhân vật tên tuổi tham gia.

Ngay sau khi Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại, ném bom miền Bắc, Bertrand Russet đã gửi điện đến Chủ tịch Hồ Chí Minh lên án hành động chiến tranh của Mỹ.

Ngày 10/8/1964, Bác đã gửi điện cảm ơn, trong đó nêu rõ: “Chúng tôi luôn thiết tha với hoà bình và chủ trương giải quyết vấn đề Việt Nam bằng phương pháp hoà bình. Tôi cảm ơn cụ đã quan tâm đến tình hình nghiêm trọng do Mỹ gây ra trên đất nước chúng tôi và xin gửi cụ lời chào kính trọng”.

Ngày 15/11/1966, theo sáng kiến của Bertran Russel, một Toà án quốc tế xét xử tội ác chiến tranh của Mỹ, mang tên ông được thành lập và đã tiến hành hai phiên xét xử, lần thứ nhất từ 2 đến 13/5/1967 tại Stockholm (Thuỵ Điển) và lần thứ hai từ 20/11 đến 1/12/1967 tại Copenhaguen (Đan Mạch) gây tiếng vang thu hút ngày càng đông đảo giới tri thức và nhân dân các nước ủng hộ nhân dân Việt Nam.

Ngày 19/11/1966, Bác đã gửi điện tới Betrand Russel nhấn mạnh “… Toà án sẽ góp phần thức tỉnh lương tri của nhân dân… Kiên quyết đấu tranh cho đến thắng lợi cuối cùng vì sự nghiệp chính nghĩa của mình, nhân dân Việt Nam đánh giá cao và hết lòng ủng hộ sáng kiến cao quý của cụ…”.

Sau phiên xét xử đầu tiên, Bác lại gửi điện tới nhà triết học Anh khẳng định: “Sự nghiệp cao cả mà cụ đã đề xướng ra nay bước đầu được thực hiện… Đó là một sự kiện quốc tế rất quan trọng… Nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hoà bình và công lý trên thế giới đều mong đợi sự thành công của Toà án quốc tế”.

Cũng nhân dịp này, Bác còn gửi điện tới Nhà triết học nổi tiếng người Pháp Jean Paul Satre là đồng chủ tịch Toà án này bày tỏ niềm tin tưởng: “… Chắc chắn các dân tộc và tất cả những người yêu chuộng hoà bình và công lý sẽ sát cánh với các vị, nhiệt tình ủng hộ các vị”.

X&N
Vknyo (st)

Bác Hồ với những tù binh Pháp

Ngày 30/3/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký quyết định thả 200 tù binh Bắc Phi đã bị quân ta bắt trên các chiến trường.

– Ngày 30/3/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký quyết định thả 200 tù binh Bắc Phi đã bị quân ta bắt trên các chiến trường để thể hiện thiện chí của Chính phủ và nhân dân Việt Nam đối với dân các nước thuộc địa của Pháp.

Cần nói rằng chính sách đối với tù binh của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhất quán. Không đầy một tuần sau khi đưa ra lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” nhiều binh sĩ của quân đội Pháp đã bị bắt làm tù binh. Là người tha thiết không muốn cuộc chiến tranh bùng nổ, chủ trương hoà hiếu nhưng quyết tâm bảo vệ nền độc lập của mình, nhân ngày Thiên Chúa Giáng sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư “gửi các tù binh Pháp” (24/12/1946). Thư viết :

30-3-1959 HCM thăm cơ sở sản xuất vận chuyển than ở vùng mỏ Quảng Ninh.jpg (111KB)Ngày 30/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm cơ sở sản xuất vận chuyển than ở vùng mỏ Quảng Ninh

“Các bạn, tôi rất lấy làm phiền lòng vì thấy các người đang ở trong tình trạng như thế này. Tôi coi các người là bạn của tôi. Tôi biết rằng đó không phải là bởi các bạn, nhưng các bạn cũng như chúng tôi, đều là nạn nhân của bọn thực dân Pháp. Bọn này vì quyền lợi ích kỷ riêng của họ, chỉ muốn đi chinh phục nước người khác.

Tôi mong nột ngày gần đây, hai dân tộc Pháp – Việt có thể cùng cộng tác trong vòng hoà bình và thân ái để mưu cầu hạnh phúc chung cho hai dân tộc. Trong khi chờ đợi, các bạn hãy yên lòng và sống dưới sự che chở của chúng tôi, cho đến khi hết chiến tranh, khi đó các bạn sẽ được tự do. Tôi chúc các bạn một ngày Noel vui và một năm tốt đẹp”.

Trong suốt những năm tháng chiến tranh gian khổ và đầy hy sinh Bác cũng thực hiện một chính sách nhân dân đối với các tù binh của quân đôi Pháp, nuôi dưỡng trong hoàn cảnh chính những chiến sĩ của mình còn đói, rét, thiếu thuốc men… Do chính sách binh vận tốt nên nhiều tù binh Pháp và đoàn quân Lê dương cũng như những lính thuộc địa đã tình nguyện đi theo kháng chiến.

Sau Chiến dịch Biên giới (1950) cả 2 viên đại tá chỉ huy cấp binh đoàn là Lepage và Charton đều bị quân ta bắt sống, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng đích thân đến nơi giam giữ để an ủi.

Hồi ức của Đại tá Hoàng Thế Dũng người tháp tùng Bác, kể lại rằng, khi giải thích những khó khăn của tù binh Pháp gặp phải, Bác, trong vai cố vấn chính trị của Mặt trận, nói: “Các ông biết chiến tranh là chiến tranh. Nhưng quân đội Việt Nam chỉ làm chiến tranh trong các trận đánh thôi. Sau trận đánh, đối với quân đội bại trận, quân đội Việt Nam coi binh sĩ của nó như là nhân dân Pháp. Sự thiếu thốn chỉ là vì hoàn cảnh…”.

Và trong một lần thăm tù binh Pháp, Bác đã cởi tấm áo khoác của mình cho một sĩ quan ốm yếu của đối phương mà người nhận không hề biết rằng người nhường tấm áo rét cho mình là người đứng đầu Việt Minh đang tổ chức kháng chiến.

X&N
kienthuc.net.vn

Ý kiến của Bác Hồ tại phiên họp của Bộ Chính trị

“Ta có họp, có nghị,có quyết rồi giao cho ai phải giao trách nhiệm rõ ràng, ai làm được thì khen, thấy ai làm sai (…) thì cách chức ngay”.

 – Những phát biểu của Bác tại các phiên họp của Bộ Chính trị thường được bút lục trong biên bản lưu trữ. Dưới đây là một vài ý kiến phát biểu của Bác trong các cuộc họp rơi vào ngày 21/3 của một số năm. Tuy tình hình ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng những tinh thần cơ bản liên quan đến mục tiêu phát triển và phương thức lãnh đạo vẫn còn nhiều điều gần gũi với ngày hôm nay.

Ngày 21/3/1958, tham dự phiên họp của Bộ Chính trị bàn về kế hoạch nhà nước, trong phát biểu kết luận, Bác nhấn mạnh đến việc Trung ương cần kiên quyết đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, chú trọng đến các khâu nước, phân và công cụ. Không nhất thiết đưa ra chỉ tiêu mỗi huyện một hợp tác xã mà tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể có huyện có vài ba, có huyện chưa cần lập, cán bộ hợp tác xã nên dùng người của địa phương.

Về công nghiệp phải chú trọng khâu kiểm tra. Vấn đề thu mua “phải chú trọng tuyên truyền, giáo dục, tổ chức chu đáo thì nông dân mới đồng tình…về giá cả phải định cho phải chăng, không nên hạ”.

Hồ Chí Minh nói chuyện tại Hội nghị tổng kết công tác bình dân học vụ toàn miền Bắc năm 1956Hồ Chí Minh nói chuyện tại Hội nghị tổng kết công tác bình dân học vụ toàn miền Bắc năm 1956

Ngày 21/3/1962, cũng trong một phiên họp Bộ Chính trị bàn về công tác chuẩn bị cho Hội nghị trung ương về công nghiệp, Bác phát biểu: “Phần nói nông nghiệp còn nhẹ quá. Công nghiệp nặng phải có, nhưng 8 năm thiếu gang thép ta vẫn xoay xở được, còn mất mùa một năm thì chúng ta méo mặt, mất mùa thì gang thép cũng không làm được”.

Bác cũng phê bình: “Ta có họp, có nghị, có quyết rồi giao cho ai phải giao trách nhiệm rõ ràng, ai làm đựơc thì khen, thấy ai làm sai không có thái độ rõ ràng, làm không được thì cách chức ngay (tỉnh Thái Bình được thưởng hơn 700 huân chương, huy chương mà không thấy phạt một ai), ý tôi còn nhu nhược với vấn đề này”.

Ngày 21/3/1964, cũng tại trong một lần họp Bộ Chính trị, Bác nêu ý kiến: quân và dân ta rất tốt, thiên thời địa lợi cũng không khó khăn lắm, nhưng công việc không chạy do lãnh đạo có sức ỳ lớn, phối hợp chưa chặt chẽ, chưa tốt, chỉ đạo chưa thống nhất. Bác còn phê bình tình trạng thiếu lương thực, hàng hoá kém phẩm chất, hình thức xấu, giá cả đắt đỏ, thiếu cán bộ cụ thể chịu trách nhiệm và phải coi vấn đề củng cố chi bộ là một trọng tâm.

X&N
kienthuc.net.vn

Bác Hồ gặp tướng Leclerc

Nhận xét về tướng Leclerc, Bác nói: “Ông ta là một con người thẳng thắn, trung thực, thật thà, một con người tử tế (un chic type).

 – Ngày 18/3/1946, đúng vào ngày các đơn vị quân Pháp kéo vào Hà Nội thay thế quân đội Trung Hoa-Tưởng Giới Thạch, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ để cập nhập tình hình và tìm những giải pháp để ứng phó.

5 giờ chiều, sau khi 1.200 quân cùng 200 chiến xa của  Pháp từ Hải Phòng về tới Hà Nội, Leclerc, người đứng đầu lực lượng quân sự của Pháp ở Đông Dương và Uỷ viên Cộng hoà Pháp J.Sainteny cùng nhiều tướng lĩnh khác như Salan, Valuy, Pignon… đến chào Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Người đại diện cho nước Pháp lên tiếng chào: “Thưa Chủ tịch, người Việt Nam và người Pháp chúng ta bây giờ trở thành những người bạn”.

Trong tiệc rượu, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ quan điểm: “Trong cuộc bang giao giữa chúng ta, nếu Anh, Mỹ đã đi trước chúng ta vì đã hứa cho Ấn Độ và Phi Luật Tân (Philipines) được độc lập, thì chúng tôi cũng có thể tự hào  rằng Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 đã cùng ký kết theo tinh thần đó… Tôi hết lòng hy vọng rằng toàn thể nước Pháp mới và nước Việt Nam mới sẽ nêu ra trước hoàn cầu một cái gương sáng: cái gương hai nước biết cùng nhau giải quyết được hết các vấn đề khó khăn gai góc ngay sau cuộc tổng đảo lộn của hoàn cầu, bằng cách liên hiệp với nhau và hiểu biết lẫn nhau… để mưu hạnh phúc cho cả hai dân tộc và để mưu cho hoà bình thế giới”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và những cộng sự của mình (từ trái qua): Phạm Văn Đồng, Chu Xương, Trường Chinh, Võ Nguyên GiápChủ tịch Hồ Chí Minh và những cộng sự của mình (từ trái qua): Phạm Văn Đồng, Chu Xương, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp

Có thể nói rằng biết khại thác những nhân tố tích cực trong chính giới Pháp như Leclerc, Sainteny… Bác đã đưa đất nước ta thoát hiểm trong gang tấc trước những âm mưu của cá thế lực “diều hâu” của cả Pháp và Trung Hoa Dân quốc. Trên thực tế, Pháp và Trung Hoa từ lâu đã có những mặc cả về Đông Dương cho nên việc ký kết được Hiệp ước 6/3/1946 đã biến việc quân đội Trung Hoa rời khỏi Việt Nam để Pháp thay thế thành một sự “nhượng bộ” của phía ta buộc Pháp cũng phải đáp lại bằng một thái độ hoà hoãn, tránh cho cuộc chiến tranh bùng nổ sớm, bất lợi cho lực lượng cách mạng Việt Nam còn  “trứng nước”.

Ít lâu sau, nhận xét về tướng Leclerc, Bác có nói với nhà báo Dessingé, của tờ “Paris-Saigon” rằng “Ông ta (Leclerc) là một con người thẳng thắn, trung thực, thật thà, một con người tử tế (un chic type)… Chính với những con người như thế mà người ta mong muốn bàn bạc”.

Ngày hôm sau, cả hai bên Việt-Pháp, đều đưa những đơn vị quân đội của mình tổ chức một cuộc duyệt binh chung, và Tướng Leclerc, con người đã dẫn đầu Đoàn quân Pháp trong lực lượng Đồng Minh vào giải phóng Thủ đô Paris, có lần đã nói với Võ Nguyên Giáp: “Ngài hãy nói với người Việt Nam rằng, họ có thể tin tưởng ở tôi. Nhưng tôi là người Pháp và trong sự tôn trọng nguyện vọng của nhân dân các ngài, tôi sẽ hành động với tư cách là người Pháp, trước tiên là người Pháp”.

Thế nhưng, sau đó không lâu, những người Pháp thiện chí như Leclerc cũng bị phái “diều hâu” tìm cách gạt bỏ. Ông đã được lệnh rời khỏi Việt Nam thực hiện một sứ mạng ở châu Phi rồi chết trong một vụ tai nạn đầy ẩn khuất.

X&N
kienthuc.net.vn

Ngày Bác Hồ bắt tay viết sách

Bác đã gửi “thư cho các đồng chí Liên Xô” nói về ý định sẽ viết một cuốn sách bằng tiếng Việt, giới thiệu về đất nước Xô Viết.

 – Ngày 28/2/1930, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Văn phòng đại diện Đảng Cộng sản Anh tại Quốc tế Cộng sản đề nghị gửi cho mình các tờ báo cánh tả như các tờ “La Vie Ouvrière” (Đời sống công nhân) và tạp chí “Quốc tế Công hội Đỏ”, đồng thời đề nghị gửi cả mấy tờ báo cánh hữu, báo “tư sản”: để che mắt và ứng phó “nếu cảnh sát thấy rằng tôi đã nhận những  tờ báo chí “lật đổ”.

Cùng ngày hôm đó, nhà cách mạng Việt Nam lúc này vẫn đang ở Hồng Kông sau khi đã thông báo với Quốc tế Cộng sản về sự kiện “Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thành lập”, đã gửi “thư cho các đồng chí Liên Xô” nói về ý định sẽ viết một cuốn sách bằng tiếng Việt để giới thiệu về đất nước Xô Viết:

Ngày 28/2/1969, Bác tiếp các anh hùng, dũng sĩ miền Nam ra thăm miền BắcNgày 28/2/1969, Bác tiếp các anh hùng, dũng sĩ miền Nam ra thăm miền Bắc

“Các đồng chí thân mến,

Người An Nam, nhất là những người lao động, muốn biết nước Nga. Nhưng các sạp báo cách mạng đều bị pháp luật hà khắc của đế quốc Pháp nghiêm cấm. Hơn nữa, công nhân và nông dân An Nam, phần lớn không biết chữ. Những người có học chút ít không biết thứ tiếng nào khác ngoài tiếng An Nam.

Nhiệm vụ của cúng tôi là phải nói với họ về Tổ quốc của giai cấp vô sản như thế nào. Để làm viêc này tôi có ý đinh viết một quyển sách, bằng tiếng An Nam, đương nhiên, dưới hình thức “Những kỷ niệm về cuộc du lịch của tôi”. Tôi  mong rằng nó sẽ sinh động, hấp dẫn, dễ đọc và có nhiều mẩu chuyện…”

Bức thư kèm theo một đề cương chi tiết về  nước Nga trước và trong cách mạng và nước Nga ngày nay. Nội dung của nó đề cập tới những thay đổi lịch sử, vai trò của các tầng lớp đối với cách mạng và các tổ chức cách mạng. Về nước Nga sau cách mạng, quyển sách sẽ giới thiệu về tổ chức nhà nước và xã hội của nước Nga mới, đời sống của các tầng lớp xã hội, vấn đề ruộng đất, chính sách “Kinh tế mới”,  các thành tựu về kinh tế giáo dục, văn hoá và y tế cùng  Quốc tế Cộng sản và các tổ chức quốc tế …

Để viết quyển sách này, Nguyễn Ái Quốc đề nghị Quốc tế Cộng sản cung cấp thêm tư liệu gửi qua Đảng Cộng sản Trung Quốc đồng thời cũng nêu khó khăn về in ấn, nhất là thiếu các con chữ la tinh đặc thù của tiếng Việt là có nhiều dấu…

X&N
kienthuc.net.vn

Những bức thư Bác Hồ gửi Tổng thống Mỹ

Chúng tôi yêu cầu Hoa Kỳ với tư cách là người bảo vệ và bênh vực công lý TG, thực hiện bước quyết định ủng hộ nền độc lập của chúng tôi.

 – Ngày 16/2/1946, Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà gửi thư tới Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thông báo về sự ra đời của nước Việt Nam độc lập và lên án thực dân Pháp đã tiến hành một cuộc chiến tranh “trái với những nguyên tắc của luật pháp quốc tế và trái với những cam kết của các nước Đồng minh trong chiến tranh thế giới”.

Văn kiện này đưa ra thông điệp: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi sau quá nhiều năm chịu sự cướp bóc và tàn phá, mới chỉ đang bắt đầu công cuộc xây dựng. Cần phải có an ninh và quyền tự do, trước hết là để đạt được sự phồn vinh và phúc lợi trong nước, và sau đó là góp phần nhỏ của mình vào việc xây dựng lại thế giới. An ninh và tự do chỉ có thể được đảm bảo bằng sự độc lập của chúng ta đối với bất kỳ một cường quốc thực dân nào và bằng sự hợp tác tự nguyện của chúng ta với tất cả các cường quốc khác. Chính với niềm tin vững chắc này mà chúng tôi yêu cầu Hợp Chủng quốc với tư cách là những người bảo vệ và những người bênh vực công lý thế giới, thực hiện một bước quyết định ủng hộ nền độc lập của chúng tôi”.

Đây là văn kiện mang tính nhà nước thể hiện rõ quan điểm đối ngoại của Việt Nam và quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ.

Ngày từ tháng 5/1945 sau khi tiếp xúc với cơ quan tình báo chiến lược OSS của Mỹ tại Côn Minh, Hồ Chí Minh đã nhờ người đứng đầu tổ chức này là A. Patti chuyển văn bản tới Phái đoàn Mỹ tại Liên Hiệp Quốc kêu gọi ủng hộ nền độc lập của Việt Nam sau khi tiêu diệt được chủ nghĩa phát xít.

Giữa tháng đó, Bác còn đề nghị chuyển một tài liệu về nạn đói ở Bắc Kỳ tới Sứ quán Mỹ ở Trùng Khánh.

16/2/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫy tay chào cán bộ và đồng bào Vật Lại, Ba Vì, Hà Tây khi Người về thăm, chúc tết 16/2/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫy tay chào cán bộ và đồng bào Vật Lại, Ba Vì, Hà Tây khi Người về thăm, chúc Tết

Ngay sau khi Quốc dân Đại hội họp ở Tân Trào (16/8/1945) với tư cách người đứng đầu Uỷ ban Dân tộc Giải phóng, Bác đề nghị “nhà cầm quyền Hoa Kỳ thông báo với Liên Hiệp Quốc rằng: chúng tôi đã đứng về phía Liên Hiệp Quốc chống lại bọn Nhật” và “yêu cầu Liên Hiệp Quốc thực hiện lời hứa long trọng của mình là tất cả các dân tộc đều được hưởng dân chủ và độc lập…”.

Ngày 29/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới Tổng thống Mỹ chia buồn về việc Đại tá Piter Dewey chỉ huy OSS tại Sài Gòn bị tử nạn.

Ngày 17/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới Tổng thống Mỹ đề nghị để Việt Nam tham gia Hội đồng Tư vấn về Viễn Đông.

Ngày 22/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại viết thư gửi Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ đề nghị Liên Hiệp Quốc quan tâm đến việc Pháp gây hấn và cử phái đoàn điều tra đến Đông Dương.

Ngày 1/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư đến Quốc vụ khanh Mỹ thay mặt Hội Văn hoá Việt Nam gửi 50 thanh niên sang học tập các lĩnh vực kỹ thuật và thành lập mối quan hệ văn hoá hữu nghị với thanh niên Mỹ….

Ngày 8/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới Tổng thống Mỹ và Thống chế Tưởng Giới Thạch trình bày tình hình quân Pháp đang tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Ngày 23/11/1945, Chủ tịch nước Việt Nam gửi thư tới Tổng thống Mỹ và Tổng giám đốc Cơ quan Cứu tế Mỹ (UNRRA) kêu gọi giúp Việt Nam chống nạn đói.

Đầu năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới các ngoại trưởng Liên Xô, Mỹ và Trung Hoa Dân quốc tha thiết yêu cầu đưa vấn đề Việt Nam ra Liên Hiệp Quốc và “yêu cầu nhận Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc”.

Ngày 18/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại gửi thư cho Tổng thống Mỹ và chỉ huy quân Mỹ ở Thái Bình Dương, tướng Marshall yêu cầu có giải pháp hoà bình ở Việt Nam.

Và tiếp sau lá thư ngày 17/2/1946, ngày 18/2, với tư cách là Bộ trưởng Ngoại giao, Bác lại viết thư gửi các Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc, Mỹ, Liên Xô và Anh đề nghị “hãy làm tất cả để ngăn chặn cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam” và tuyên bố : “đặt vấn đề Đông Dương trước Liên Hiệp Quốc, chúng tôi chỉ đòi hỏi độc lập hoàn toàn. Nền độc lập ấy thực tế không còn xa nữa và có thể giúp đỡ chúng tôi hợp tác với các dân tộc khác trong việc xây dựng lại một thế giới tốt đẹp hơn và một nền hoà bình lâu dài – những nguyện vọng chính đáng cần phải được bảo vệ”.

X&N
kienthuc.net.vn

Bác Hồ và nhóm “Con Nai”

Quan điểm của Bác luôn tin tưởng vào một bộ phận tiến bộ trong nhân dân Mỹ sẽ đứng về nhân dân Việt Nam.

Ngày 15/2/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư trả lời bức điện của Đại uý Charles Fenn, một sĩ quan tình báo trong đơn vị OSS đã từng tiếp xúc với Bác Hồ trong thời gian ở Côn Minh.

15-2-1965 HCM đọc văn bia tại chùa Côn Sơn,Hải Dương.jpg

Ngày 15/2/1965, Bác Hồ đọc văn bia tại chùa Côn Sơn, Hải Dương.

Bức thư trả lời bằng tiếng Anh bày tỏ: “Chúng tôi cảm kích vì thiện chí của Ngài muốn giúp Việt Nam. Nếu như Ngài tới đây với tư cách là một nhà báo Mỹ của một tờ báo lớn thì Ngài có thể làm được rất nhiều việc”.

Charles Fenn, trong Đại chiến Thế giới lần thứ II là một trung uý hải quân Hoa Kỳ được phái đến công tác tại AGAS (cơ quan hỗ trợ cho không quân tại mặt đất) lúc này đóng tại Côn Minh (Trung Quốc). Đó cũng là thời điểm Hồ Chí Minh đưa viên trung uý phi công Shaw được Việt Minh cứu sống khi máy bay bị quân Nhật bắn rơi trên chiến trường Bắc Đông Dương, sang Côn Minh để tìm cách trao trả cho Đồng Minh nhằm xác lâp mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít.

Thực thi chức trách của mình, Ch. Fenn đã bố trí cuộc tiếp xúc đầu tiên vào ngày 17/3/1945. Sau này , trong hồi ức của mình Ch.Fenn đã thuật lại: Hồ Chí Minh cùng đi với một người trẻ tuổi tên là  Phạm. Trước đó ông Hồ đã tìm gặp một số người Mỹ nhằm vận động sự công nhận đối với tổ chức Việt Minh như một thành viên trong lực lượng chống phát xít.

Ba ngày sau, hai người gặp lại nhau để nhất trí việc đưa một số thiết bị thông tin và đào tạo các báo vụ viên cho Việt Minh. Tiếp đó, Hồ Chí Minh yêu cầu Ch. Fenn giúp đỡ để trực tiếp gặp Tướng Claire Chennault, tư lệnh một Tập đoàn không quân của Mỹ mang biệt hiệu “Hổ bay” đang đóng bản doanh tại vùng Hoa Nam Trung Quốc, cũng là người dại diện cao nhất của Đồng Minh tại khu vực.

Cuộc gặp đã diễn ra ngày 29/3/1945 và sau cuộc gặp này mối quan hệ giữa Việt Minh và Đồng Minh được xác lập. Phía Mỹ đã cung cấp thiết bị liên lạc, một số vũ khí nhẹ và ngày 17/7 năm đó, một đơn vị đặc biệt mang biệt danh “Con Nai – The Deer” của OSS (Cơ quan tình báo chiến lược) của Mỹ đã nhảy dù xuống Tân Trào, tham gia huấn luyện, xây dựng sân bay dã chiến và thành lập Đại đội Việt – Mỹ… Phía Việt Minh sẽ cung cấp những thông tin tình báo và khí tượng cho không quân Mỹ hoạt động trên chiến trường đánh Nhật ở miền Bắc Đông Dương…

Đơn vị này đã tham gia bao vây quân Nhật ở Thái Nguyên và về Hà Nội sau khi Việt Minh giành được chính quyền. Nhưng ngay sau đó, chính phủ Mỹ yêu cầu các quân nhân Mỹ phải rời khởi Việt Nam…

Sau khi giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ những liên hệ với Ch. Fenn với nhiều tình cảm tốt đẹp. Trong thư đề tháng 8/1945 gửi Ch. Fenn, Bác viết: “Chiến tranh đã kết thúc. Đây là điều tốt cho mọi người. Tôi cảm thấy áy náy khi những người bạn Mỹ rời chúng tôi quá nhanh…

Tôi tin rằng ông và nhân dân Mỹ vĩ đại sẽ luôn luôn ủng hộ chúng tôi…Tôi cũng tin rằng sớm hay muộn chúng tôi sẽ đat đựơc mục đích của mình, bởi vì mục đích đó là chính nghĩa. Và đất nước chúng tôi sẽ độc lập. Tôi trông chờ ngày hạnh phúc được gặp ông và những người bạn Mỹ của chúng tôi ở Đông Dương hay trên đất Mỹ”.

Bức thư đề ngày 15/2/1947 giữa lúc nhân dân Việt Nam đang kháng chiến chống thực dân Pháp và vào lúc chính sách của Mỹ ngày càng đồng loã với cuộc chiến tranh xâm lược trở lại Đông Dương, cho thấy quan điểm của Bác luôn tin tưởng vào một bộ phận tiến bộ trong nhân dân Mỹ sẽ đứng về nhân dân Việt Nam.

Sau khi Bác Hồ qua đời, Ch.Fenn đã là người viết cuốn tiểu sử chính trị đầu tiên về Hồ Chí Minh bằng Anh ngữ xuất bản ở phương Tây (1973: “Hồ Chí Minh một tiểu sư chính trị”) và vì thế mà bị chính quyền Mỹ trục xuất khỏi đất nước của mình.

Tháng 8/1995, ngày sau khi quan hệ Việt – Mỹ được bình thường hoá, Ch.Fenn cùng các cựu chiến binh của đơn vị “Con Nai” đã trở lại thăm Việt Nam. Khi đã ngoài 100 tuổi (năm 2004) Charles Fenn còn viết: “Cuộc sống cá nhân mẫu mực, tính kiên định vì nền độc lập và tự do của Việt Nam, những thành quả phi thường của ông bất chấp những khó khăn chồng chất đã có thể đưa Hồ Chí Minh, trong sự phán xét cuối cùng của nhân loại lên hàng đầu danh sách những lãnh tụ của thế kỷ XX”.

X&N
kienthuc.net.vn

Bức điện cuối cùng của Bác Hồ gửi Quốc trưởng Campuchia

Chuyến đi thăm đầu tiên của tôi tới nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà lại là để dự lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh.

 – Ngày 7/2/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới Quốc trưởng Vương quốc Campuchia Norodom Sihanouk để cảm ơn sự ủng hộ đối với lập trường của Việt Nam tại cuộc đàm phán với Mỹ ở Paris. Đây cũng là văn kiện cuối cùng trong mối giao tiếp hữu nghị với người đứng đầu Vương quốc láng giềng.

Chỉ hơn nửa năm sau, ngày 2/9/1969 nhà lãnh đạo Việt Nam qua đời. Ngày 9/9/1969, Quốc trưởng Sihanouk đã có mặt tại Hà Nội để dự lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và sau rất nhiều biến cố lịch sử, trong hồi ký “Từ cuộc chiến chống CIA đến người tù của Khơ me Đỏ” viết sau này, Cựu vương Sihanouk đã bày tỏ:

“Từ buổi dự lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội, tôi được vinh dự đứng túc trực bên cạnh linh cữu. Tôi sực nhớ đến câu nói của Người mà tôi cho rằng không gì đúng hơn . Đó là câu “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Bác Hồ thăm và chúc Tết cán bộ và nhân dân Quảng Ninh(2/1965)Bác Hồ thăm và chúc Tết cán bộ và nhân dân Quảng Ninh (2/1965)

Cụ Hồ là một bậc cách mạng lão thành, xuất thân từ tầng lớp bình dân. Tôi là một nhà quý tộc thuộc dòng dõi quân chủ lâu đời nhất ở Campuchia. Cụ với tôi không chung thế hệ, bởi vì Cụ hơn tôi tới ba chục tuổi. Nhưng Cụ và tôi đều cùng chung nguyện vọng muốn cho nước nhà độc lập. Để đạt mục đích này, Cụ đã chọn con đuờng cách mạng gay go ác liệt. Còn tôi, một con người trẻ tuổi lại rất sợ đổ máu. Nhưng cuối cùng chính Cụ đã dạy cho chúng tôi bài học là tất cả các thế lực đế quốc chỉ cho các dân tộc bị chúng áp bức một con đường duy nhất để giành lại tự do. Đó là con đưòng đấu tranh vũ trang mà Hồ Chí Minh đã xác định”.

Cũng trong tập hồi ký này, Norodom Sihanouk còn viết : “Từ lâu tôi đã rất ngưỡng mộ Bác Hồ. Người không chỉ thuộc về nhân dân Việt Nam mà là cả Đông Dương, cả châu Á và có thể là cả thế giới, bởi vì Người luôn luôn bảo vệ những quyền lợi của các dân tộc bị áp bức ở các thuộc địa cũng như quyền lợi của những người da đen ở Mỹ.

Đối với riêng tôi, Người cũng là “đồng chí”. Người đã gửi cho tôi những bức thư trìu mến và tôi cũng luôn mong được gặp Người, nhất là trong những năm gần đây tôi thường đề nghị có cơ hội đi thăm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội. Nhưng các bạn Việt Nam nói Mỹ đang ném bom miền Bắc Việt Nam, một chuyến đi thăm như vậy là rất nguy hiểm đối với tôi.

Tôi đáp lại: “Thì đây chính là dịp để tôi biểu thị tình đoàn kết với Việt Nam”. Các bạn Việt Nam vẫn khẳng định: ”Ngài là Quốc trưởng Campuchia và cũng là người bạn lớn của Việt Nam. Chúng tôi phải chịu trách nhiệm trước nhân dân nước Ngài vì những trận ném bom của Mỹ”.

Và thế là mãi mãi tôi không bao giờ được gặp Chủ tịch Hồ nữa… Chuyến đi thăm đầu tiên của tôi tới nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà lại là để dự lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

X&N
kienthuc.net.vn

Bác Hồ làm thơ phân tích tình hình thế giới

Bài thơ “Mừng năm mới năm 1943 là một bản phân tích tình hình thế giới và đón chờ cơ hội.

– Ngày 5/2/1943 ứng với ngày 1 Tết Quý Mùi (1943), bài thơ “Mừng năm mới” vốn được đăng trên báo “Việt Nam Độc lập” số đầu năm dương lịch, đã đến với nhân dân trong không khí đang sục sôi cách mạng.

Bài thơ là một bản phân tích tình hình thế giới và đón chờ cơ hội: “Một nghìn chín trăm bốn mươi ba/ Năm mới tình hình hẳn mới/ Đông Á chắc rồi Tàu thắng Nhật/ Tây Âu nhất định Đức thua Nga/ Nhân dân các nước đều bùng dậy/ Cách mệnh nhiều nơi sẽ nổ ra/ Đức, Nhật chết, rồi Tây cũng chết/ Ấy là cơ hội tốt cho ta/ Ấy là cơ hội tốt cho ta/ Cơ hội này ta chớ bỏ qua/ Phấn đấu hy sinh đừng quản ngại/ Tuyên truyền tổ chức phải xông pha/ Đồng tâm một triệu người như một/ Khởi nghĩa ba kỳ giậy cả ba/ Năm mới quyết làm cho nước mới/ Non sông Hồng Lạc gấm thêm hoa”.

5-2-1966 HCM và Thủ tướng PVĐồng thăm đơn vị bộ đội công binh đang diễn tập bắc cầu phao vượt sNgày 5/2/1966 Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm đơn vị bộ đội công binh đang diễn tập bắc cầu phao vượt sông.

Chỉ 3 năm sau, lời thơ Chúc Tết năm Quý Mùi đã trở thành hiện thực và Tết Bính Tuất 1946 đã trở thành Tết Độc lập đầu tiên dân tộc Việt Nam.

Ngay trong ngày mùng một Tết Bác đã viết thư gửi Hội nghị Nông vận và Dân vận toàn quốc, một lần nữa xác định “Nông dân lao động là một lực lượng rất to lớn của dân tộc, một đồng minh rất chắc chắn của giai cấp công nhân. Muốn kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công ắt phải dựa vào quần chúng nông dân”

Ngày 5/2/1962, lại ứng với mồng 1 Tết Nhâm Dần giữa lúc đất nước Việt Nam đang thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược, bài “thơ mừng năm mới” của Bác là một lời chúc: “Năm Dần, mừng Xuân thế giới/ Cả năm châu phấp phới cờ hồng/ Chúc miền Bắc thi đua phấn khởi/ Bốn mùa hoa Duyên Hải, Đại Phong/ Chúc miền Nam đấu tranh tiến tới/ Sức triệu người hơn sóng Biển Đông/ Chủ nghĩa xã hội càng thắng lợi/ Hoà bình thống nhất quyết thành công”.

Trong ngày, Bác thăm và chúc Tết tại công trường xây dựng Nhà máy bê tông đúc sẵn Chèm và buổi chiều đến dự buổi sinh hoạt ngâm thơ mừng Xuân của phụ lão Hà Nội. Bác góp một vần thơ: “Tuổi già nhưng chí không già/ Góp phần xây dựng nước nhà phồn vinh”.

X&N
kienthuc.net.vn

Chuyện về một ông cụ người Hoa giống Bác Hồ

Có mấy tấm ảnh Bác Hồ ngày ở Chiến khu Việt Bắc. Hỏi ra thì được giải thích “đó không phải là Bác mà là ông cụ rất giống Bác”.

– Ông cụ tên là Lam Sơn, người Quảng Tây (Trung Quốc). Quê cụ nằm ngay sát biên giới Trung – Việt. Gia đình cụ là cơ sở cách mạng của cả ta và Đảng Cộng sản Trung Quốc. Theo lời mời của ông Trần Đăng Ninh, cụ đã sang hoạt động tại chiến khu Việt Bắc.

Xuất xứ câu chuyện lạ

Mô tả ảnh.Mô tả ảnh.

Cụ Lam Sơn chụp cùng các cán bộ ở chiến khu Việt Bắc.

Những năm 1960-70, bạn tôi – anh Hồ Bá Đạt – sống trong Khu tập thể quân đội số 16A Lý Nam Đế, Hà Nội. Trong hàng chục gia đình cán bộ trung, cao cấp ngày đó có gia đình một sĩ quan người Hoa. Đó là ông bà Bích Liên và Hoàng Hoa.

Nhà Đạt ở tầng trên, gia đình sĩ quan người Hoa ở ngay tầng dưới. Chẳng rõ họ về ở trong khu từ khi nào, nhưng khi gia đình Đạt tới thì đã thấy. Họ quan hệ thân thiết với bà con xóm giềng. Bọn trẻ con gọi ông bà là “cô Liên, chú Hoa”. Tới tháng 6/1975, gia đình họ chuyển về Trung Quốc, sống tại thành phố Quảng Châu.

Năm 2006, nhân dịp sang Trung Quốc, bạn tôi ghé thăm gia đình ông bà. Ông bà vẫn vui vẻ như xưa mặc dù đã nghỉ hưu và sức khỏe đã kém đi. Trong khi trò chuyện được ông bà cho xem cuốn album gia đình. Thú vị là có nhiều ảnh chụp chung với các lãnh đạo ta trong và ngoài quân đội thời chống Pháp và chống Mỹ.

Lúc này mới biết, ông Hoàng Hoa tham gia cách mạng ở Việt Nam từ năm 1948, trên Chiến khu Việt Bắc. Đến năm 1950 thì nhập ngũ. Trước khi trở về nước, ông mang quân hàm đại úy và là Phó chủ nhiệm Hậu cần Sư đoàn 338. Còn bà Bích Liên vào bộ đội năm 1951, mang hàm thiếu úy, phụ trách thư viện.

Thời kì chống Mỹ, ông Hoàng Hoa từng tham gia phiên dịch trong những buổi đàm phán giữa các vị lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc về viện trợ vũ khí, trao đổi tin tức tình báo… Khi về nước, ông bà tiếp tục giảng dạy tiếng Việt tại trường Đại học Ngoại ngữ, ngoại thương Quảng Châu.

Trong số ảnh được xem, bạn tôi thấy có mấy tấm ảnh Bác Hồ ngày ở Chiến khu Việt Bắc. Hỏi ra thì được giải thích “đó không phải là Bác mà là ông cụ rất giống Bác”. Chợt nghĩ đây là câu chuyện thú vị có liên quan đến Bác Hồ không phải ai cũng biết; thậm chí chưa thấy báo chí hoặc ai nói tới; bạn tôi đề nghị ông bà cho xin bản sao.

Về ông cụ giống Bác

Ông cụ tên là Lam Sơn, người Quảng Tây (Trung Quốc). Quê cụ nằm ngay sát biên giới Trung – Việt. Gia đình cụ là cơ sở cách mạng của cả ta và Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Trong một chuyến công tác sang Quảng Tây, ông Trần Đăng Ninh tình cờ gặp ông cụ. Thấy cụ chân chất, hiền lành; hỏi tổ chức thì biết nhân thân của cụ rất tốt, lại thấy cụ có nhiều nét giống Bác Hồ, ông nảy ra ý định mời cụ sang sinh sống ở Việt Nam.

Cụ đồng ý và đề nghị “nếu có thể xin phép được đưa gia đình sang sống cùng”. Nguyện vọng này được chấp nhận và cụ theo ông Trần Đăng Ninh sang Việt Nam ngay chuyến ấy.

Biết ở Chiến khu Việt Bắc có cụ Lam Sơn từ Quảng Tây sang, ông Hoàng Hoa (lúc đó là tổ trưởng tổ phiên dịch gồm các đồng chí người Trung Quốc) có lời mời cụ đến chơi. Tình đồng hương, tình cảm của những người xa quê chiến đấu trên đất bạn làm họ thêm thân thiết. Tổ phiên dịch đã chụp chung với cụ vài kiểu ảnh; trong đó ông Hoàng Hoa còn giữ được 2 tấm nhỏ chỉ bằng 2 đầu ngón tay.

– Thời gian đó là năm 1952, – ông Hoa nhớ lại – ngày đó cụ đã ngoài 50 nhưng rất nhanh nhẹn… Chúng tôi trẻ măng, mới ngoài 20. Trong tấm hình thứ nhất, tôi là người đứng thứ 2 từ trái qua ; còn trong tấm thứ 2, tôi là người thứ 2 từ phải qua.

– Thế chú có biết lí do ông Trần Đăng Ninh mời cụ sang Việt Nam? – Đạt hỏi.

– Nói về việc này phải thận trọng, dù sự việc đã qua cả nửa thế kỷ. Anh về tìm hiểu thêm!

Sau này tin tức về ông cụ như thế nào thì ông Hoàng Hoa cũng không rõ. Nếu cụ còn sống thì nay đã trên trăm tuổi.

Trần Kiến Quốc
kienthuc.net.vn

Bác Hồ – Những kỷ niệm không quên

Mặc dầu mới đi về, đang đói ngủ, nhưng sau khi gặp Bác nghe những lời dạy của Bác, suốt đêm đó, tôi cứ thao thức không sao nhắm mắt được. Tôi đi đi lại lại trong phòng, trong đầu cứ vang lên lời nói của Bác:

“Sớm muộn đế quốc Mĩ cũng sẽ đưa B.52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nói mới chịu thua”, “Ở Việt Nam, Mĩ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua ở đây (Hà Nội)”.

C

Tôi trải rộng tấm bản đồ Hà Nội trước mặt, chong mắt nhìn vào đường bay của B.52 mà Quân chủng Phòng không – Không quân sơ bộ dự kiến sẽ đột nhập vào Hà Nội. Bỗng nhiên, tôi đưa bàn tay lên tấm bản đồ như muốn bóp chết nhưng chiếc B.52 tưởng tượng kia. Bọn Mĩ thật là một lũ hung ác cực độ. Cả một thủ đô dân cư đông đúc, nhà cửa san sát như thế này mà chúng dám nhẫn tâm định đưa B.52 vào hủy diệt. Chỉ mới có ý định thôi thì cũng đã là một tội lỗi không thể tha thứ. Nhưg Bác đã nói rồi: Thằng Mĩ chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội. Thế thì nhất định nó sẽ dùng B.52 đánh Hà Nội rồi… Không chịu được với ý nghĩ đó, mặc dầu đã quá nửa đêm, tôi vẫn quay điện thoại cho đồng chí Đặng Tính. Vừa mới nghe tôi kể sơ qua vè buổi gặp Bác hồi tối, giọng anh tính đã tỉnh như sáo:

– Bác nói thế nào? Cậu nhắc lại cho tớ nghe xem nào?

Tôi nhắc lại trong máy. Nhắc đến đâu, anh Tính nhắc lại đến đấy, và hình như anh còn mở sổ ra ghi chép. Tôi nghĩ thầm: “Đúng là cung cách làm ăn của một ông chính ủy”.

Anh Tính căn dặn tôi:

– Từ nay mỗi lần gặp Bác, Bác nói câu gì cậu phải ghi chép lại ngay đấy nhé. Cứ giữ mãi cái tác phong không sổ tay, không ghi chép như cậu là không được đâu”.

Tôi không nói gì. Suốt mấy chục năm nay, tôi có sổ tay, có ghi chép gì đâu. Nếu ai nói, tôi tự bảo: “Mỗi người có một cách làm việc riêng”.

Lần này không để anh Tính mời xuống, phải hứa hẹn “RTC”, tôi nói với anh Tính là ngày mai tôi sẽ xuống Quân chủng làm việc, tập trung vào phương án đánh B.52 bảo vệ Hà Nội. Tôi nói với anh Tính là động viên cơ quan hoàn thành sớm cái này, vì đây là vấn đề mà Bác đang quan tâm.

Đầu năm 1968, bản phương án đầu tiên về đánh trả cuộc tập kích bằng B.52 của đế quốc Mĩ vào Hà Nội, Hải Phòng được ra đời trong bối cảnh như thế.

Tôi còn nhớ bản phương án mở đầu bằng câu: “Trước thất bại nặng nề của địch trên cả hai miền, với bản chất ngoan cố, chúng sẽ không từ một thủ đoạn dã man tàn bạo nào để uy hiếp đánh phá ta, hòng cứu vãn thế thua của chúng. Địch sẽ có bước leo thang mới, tiếp tục đánh mạnh vào Hà Nội, Hải Phòng. Trong thế bị động này địch sẽ dùng B.52 để tạo thế bất ngờ về chiến lược”.

Tiếp đó, bản phương án viết: “Ta đã bắn rơi B.52 của địch. Với lực lượng sẵn có của ta, với khả năng của các binh chủng, ta hoàn toàn có đầy đủ điều kiện thực tế để tiêu diệt B.52 của địch, bắn rơi chúng tại chỗ, đánh bại bước leo thang liều lĩnh bằng B.52 của chúng”.

Về dự kiến, đường đột nhập của B.52 đánh vào Hà Nội, bản phương án đã vạch ra 5 đường, trong đó có đường bay cơ bản, gọi là đường bay A, được dự kiến là đường bay từ Tây Bắc xuống. Thực tế, trong cuộc tập kích chiến lược cuối năm 1972, 70% số B.52 của địch đã từ hướng nay đột nhập vào. Còn 30% số B.52 còn lại cũng đều đi vào hướng những đường bay dự kiến trong bản phương án đầu tiên cách đó 4 năm.

Còn đối với Hải Phòng thì độ chính xác như một trăm phần trăm. Bản phương án đầu tiên dự kiến 2 đường bay cơ bản. Từ đông bắc xuống theo cửa Nam Triệu và từ đông nam lên theo cửa Văn Úc thì năm sau, B.52 vào đúng như thế.

Sở dĩ tôi muốn nhấn mạnh điều này là để bạn đọc thấy một điều hết sức rõ ràng là chúng ta đã chuẩn bị cho trận “Điện Biên Phủ trên không” từ rất lâu như thế đó.

Tính từ năm 1966, khi những đơn vị đầu tiên của trung đoàn tên lửa 238 đặt chân đến chiến trường Vĩnh Linh, tìm cách “vào hang để bắt cọp” cho đến những ngày đầu 1968, bản phương án đánh B.52 tập kích vào Hà Nội, Hải Phòng ra đời… là cả một quá trình vượt qua muôn vàn gian khổ, hi sinh, là một sự tập trung trí tuệ sáng tạo của cán bộ chiến sĩ từ đơn vị đến cơ quan, từ người lính ở chiến trường đến vị tư lệnh.

Có thể nói, đó là những viên gạch đầu tiên, cùng với những viên gạch khác, góp phần quan trọng xây nên đài chiến thắng vinh quang cho trận “Điện Biên Phủ trên không” lừng lẫy của dân tộc ta sau này.

Và bao trùm lên tất cả là sự quan tâm, là những lời dạy quý báu thể hiện tầm nhìn chiến lược của lãnh tụ thiên tài Hồ Chí Minh, vị tổng tư lệnh tối cao của các lực lượng vũ trang nhân dân ta.


THAY LỜI KẾT

Thế là sau suốt 5 năm trời suy nghĩ và nhớ lại, tôi đã hoàn thành cuốn hồi ức “Bác Hồ – Những kỷ niệm không quên”.

Đúng là không thể nào quên, vì một lẽ rất đơn giản là kể từ những ngày dầu tiên được gặp Bác, tháng 2 năm 1940 cho đến khi Bác đi xa, cả cuộc đời tôi luôn luôn gắn liền với sự thương yêu chăm sóc của Bác.

Bác đã từng bước dẫn dắt tôi, từ một đứa trẻ lang thang, thất học, tính tình ngổ ngáo, trở thành một sĩ quan cấp tướng của cách mạng, có đóng góp ít nhiều vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đây thực sự là một điều kì diệu mà đôi khi tôi cứ nghĩ có nằm mơ cũng không thể tưởng tượng nổi.

Những điều kì diệu này sẽ rất dễ hiểu nếu chúng ta đặt nó trong sự kì diệu Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là người đem chủ nghĩa Mác – Lê-nin về làm đổi thay cả một dân tộc, đổi thay cuộc đời trong đó có cuộc đời tôi.

Chỉ trong vòng 5 năm trời, từ thằng Thụ nhóc con, đêm đêm với cái bụng lép kẹp nằm còng queo trên chiếc ghế đá công viên Hạ Lầu, ở Côn Minh, trở thành một trong những trung đoàn trưởng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam vào cuối năm 1946, lúc đó tôi vừa tròn 25 tuổi.

Có lẽ hơn ai hết, Bác Hồ là người hiểu tôi sâu sắc nhất, hiểu cả những thiếu sót, khuyết điểm (thói hư tật xấu) và hiểu cả những ưu điểm của tôi. Chính vì vậy mà Bác cũng rất tin tôi.

Trong cuộc hành trình gian nan, vất vả chứa đầy hiểm nguy trên con đường thiên lí từ Pác Bó đi Côn Minh đầu năm 1945, Bác đã chọn tôi làm người cận vệ. Bây giờ nghĩ lại đôi khi vẫn cảm thấy rùng mình. Vận mệnh của cả một dân tộc, của cách mạng trong thời điểm quan trọng của lịch sử được phó thác cho vị lãnh tụ kiệt xuất: Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh… và chính tôi là người được giao trọng trách bảo vệ vị lãnh tụ đó, người mà mấy tháng sau trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Cha già của dân tộc.

Dọc đường đi Bác bị sốt cao, có lúc mê man, tôi đã đánh liều tiêm kí ninh vào ven cho Bác. Khi đưa mũi kim vào ven Bác tôi chỉ nghĩ một điều: Bác phải sống để kịp trở vè nước lãnh đạo cách mạng… và lòng tin của tôi đã thắng.

Khi giao cho tôi chức vụ trung đoàn trưởng, Bác chỉ phân vân: “Tính chú nóng và liều quá. Người làm tướng mà nóng và liều thường hỏng việc”. Nhưng Bác vẫn tin và giao nhiệm vụ cho tôi. Và tôi đã không phụ lòng tin của Bác.

Cứ như thế, Bác từng bước dạy bảo, dìu dắt tôi trưởng thành đi lên trên con đường cách mạng.

Cuốn hồi ức này được hoàn thành trước nhằm bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của tôi đối với Đảng, đối với Bác. Có thể khẳng định rằng nếu không có Đảng, không có Bác, sẽ không có cuộc đời tôi hôm nay: Thượng tướng Phùng Thế Tài.

Cuốn sách ra đời đúng vào dịp sinh nhật thứ 106 của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhằm ý nghĩa đó. Riêng tôi, năm nay bước vào tuổi 75, tôi xin kính dâng toàn bộ cuộc đời tôi lên Đảng và Bác kính yêu.

Điều cuối cùng tôi muối gửi gắm đến bạn đọc xa gần là trong lúc các lực lượng thù địch đang tìm cách xóa bỏ những thành của cách mạng ở Việt Nam với những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, thậm chí phủ nhận cả Hồ Chí Minh, chúng ta hãy kiên định, vững vàng giữ vững lòng tin theo con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. Đó là con đường sẽ đưa dân tộc ta đế hạnh phúc ấm no và giàu mạnh, xã hội công bằng và văn minh.

Thượng tướng Phùng Thế Tài
Vknyo (st)

Lời dạy của Bác Hồ với sinh viên

Chân dung BácTrong cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc chăm lo đào tạo, giáo dục, bồi dưỡng con người. Bác coi con người là nhân tố hàng đầu, nhân tố quyết định mọi thành công.

Nghĩ về lời dạy của Bác Hồ với sinh viên

Mấy ngày qua, được xem những thước phim, được đọc nhiều bài viết, được nghe nhiều ca khúc về Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi chợt nhớ đến câu thơ của nhà thơ Tố Hữu: “Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn” và cũng chợt nghĩ về sinh viên, về quãng thời gian đã qua và sắp tới. Viết đôi điều suy nghĩ chia sẻ với mọi người.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc chăm lo đào tạo, giáo dục, bồi dưỡng con người. Bác coi con người là nhân tố hàng đầu, nhân tố quyết định mọi thành công. Khái niệm và tiêu chí về con người mới, con người xã hội chủ nghĩa được Bác đặt ra và ngày một được bổ sung, hoàn thiện trong xã hội. Tại buổi nói chuyện với cán bộ, sinh viên đang công tác và học tập ở Matxcơva ngày 1 tháng 2 năm 1959, nhân Bác sang dự Đại hội lần thứ XXI Đảng Cộng sản Liên Xô, Bác khẳng định: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, phải xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, con người cộng sản chủ nghĩa”.

Trong xây dựng con người xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bác quan tâm đến việc chăm lo đào tạo, giáo dục và bồi dưỡng thanh niên, trong đó có lớp thanh niên trí thức – những thanh niên sinh viên đang được đào tạo từ các trường đại học, cao đẳng. Bác đã nhiều lần nói chuyện trực tiếp với sinh viên đang học tập trong nước, ở nước ngoài và sinh viên các nước đến dự hội nghị chuyên đề sinh viên quốc tế tại Việt Nam.

Những bài nói, những huấn thị, liệt kê theo thời gian, chúng ta có được:

1, Bài nói tại buổi lễ khai mạc trường Đại học Nhân dân Việt Nam, ngày 19.1.1955.

2. Bài nói chuyện với anh chị em học viên, cán bộ, công nhân viên trường Đại học Nhân dân Việt Nam (khoá III), ngày 18.1.1958.

3. Bài nói tại Đại hội Sinh viên lần thứ hai, ngày 7.5.1958.

4. Bài nói tại lớp nghiên cứu chính trị trường Đại học Nhân dân Việt Nam, ngày 10.1.1959.

5. Bài nói chuyện với cán bộ, sinh viên Việt Nam tại Matxcơva, ngày 1.2.1959.

6. Thư gửi cán bộ giáo dục, học sinh, sinh viên các trường, các lớp bổ túc văn hoá, ngày 31.8.1960.

7. Bài nói tại Hội nghị chuyên đề sinh viên quốc tế tại Hà Nội, ngày 1.9.1961; và một số bài nói với thanh niên, học sinh, sinh viên…

Từ những bài nói, những huấn thị, thư gửi… chúng ta tìm hiểu Bác đã dạy thanh niên sinh viên những gì và thanh niên sinh viên thấm nhuần và phấn đấu thực hiện lời Bác dạy. Đó là:

1. Học và Hành: Đối với học sinh, sinh viên nhiệm vụ đầu tiên là học, học tốt và học giỏi, học để thành người hữu ích xây dựng xã hội, kiến thiết đất nước. Bác nói: “Nhiệm vụ chính của thanh niên là học”, đồng thời Bác đặt vấn đề rõ ràng để giúp thầy giáo và sinh viên nghiên cứu: “Phải hiểu rõ học thế nào” Học cái gì? Học để làm gì?”. Tại Đại hội sinh viên lần thứ hai, ngày 7.5.1958, một lần nữa Bác nhắc lại và nhấn mạnh: “Đối với thanh niên trí thức như các cháu ở đây thì cần đặt hai câu hỏi: Học để làm gì? Học để phục vụ ai? Đó là hai câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát thì mới có phương hướng”. Bác chỉ rõ: “Dưới chế độ thực dân, phong kiến, mục đích đi học là cốt được mảnh bằng để làm ông thông, ông phán, lĩnh lương nhiều, ăn ngon, mặc đẹp. Thế thôi. Số phận dân tộc thế nào, tình hình thế giới biến đổi thế nào, không hay, không biết gì hết. Mục đích giáo dục nô lệ hầu hạ chúng. Ngày nay ta đã được độc lập, tự do, thanh niên mới thật là người chủ tương lai của nước nhà. Muốn xứng đáng vai trò là người chủ thì phải học tập. Học bây giờ với học dưới chế độ thực dân, phong kiến khác nhau”, “Học tập nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật và quân sự” và “Học để phụng dự ai? Để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh, tức là để làm tròn nhiệm vụ người chủ của nước nhà”. Bác còn nói: “Làm nghề gì cũng phải học” và mục đích của việc học là để “nâng cao năng lực làm cho kinh tế phát triển, chiến đấu thắng lợi, đời sống nhân dân càng no ấm, vui tươi”. Làm theo lời Bác dạy, đại bộ phận thanh niên sinh viên đang ra sức học tập, tích luỹ, nắm vững kiến thức cơ bản, kiến thức chuyên môn để thực sự có trình độ chuẩn bị, tự tin vào đời, lập nghiệp nhanh chóng đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi ngày càng cao của xã hội. Bác cũng căn dặn, nhắc nhở thanh niên, nhất là những đoàn viên TNCS Hồ Chí Minh cần ghi nhớ lời di huấn của Lênin: “Không học thì không thể trở thành người cộng sản”, “người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra”. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn một bộ phận không nhỏ thanh niên sinh viên chưa chăm chỉ học tập, còn hiện tượng chạy điểm, chạy bằng; một số thanh niên sinh viên mắc vào tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật. Thực trạng ấy đòi hỏi Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Hội Sinh viên Việt Nam cần tăng cường định hướng giá trị, giáo dục và đồng hành với thanh niên trên con đường học tập và luyện rèn.

Bác dạy học phải đi đôi với hành. Bác chỉ rõ tầm quan trọng của thực hành. Hành cũng chính là một nửa của học. Bác nói: “Chỉ biết lý luận (lý thuyết) mà không biết thực hành thì cũng là trí thức có một nửa. Vì vậy cho nên các cháu trong lúc học về lý luận thì cũng phải kết hợp với thực hành”, “lý luận phải gắn liền với thực tế”. Bác cũng đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết để xây dựng chủ nghĩa xã hội: “Cần có lao động, lao động trí óc và lao động chân tay. Và cần lao động trí óc kiêm lao động chân tay, nghĩa là lao động chân tay cũng phải có văn hoá, mà người lao động trí óc cũng phải làm được lao động chân tay. Nếu lao động trí óc không làm được lao động chân tay và lao động chân tay không có trí óc thì đó là người lao động bán thân bất toại…”. Bác nhắc nhở các nhà trường “không nên đào tạo ra những con người thuộc sách làu làu…”. Chúng ta rất vui mừng trước những thành công của các đội Robocon của các trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Bách Khoa Đà Nẵng, Đại học Kỹ thuật Quân sự, Đại học Công nghiệp Hà Nội… đã đạt được các giải thưởng trong nước và khu vực, chứng tỏ những sinh viên này đã đạt được trình độ cả lý thuyết và thực hành, lý thuyết và lao động sản xuất… Nhưng hiện tại, nhiều trường, trong đào tạo và nhiều sinh viên chưa kết hợp nhuần nhuyễn được giữa học và hành, lý thuyết và lao động sản xuất.

2. Đức và Tài: Tại Đại hội Sinh viên lần thứ hai, ngày 7.5.1958, Bác nhấn mạnh hai phẩm chất hàng đầu của học sinh, sinh viên phải rèn luyện trong nhà trường là đức và tài. Sau này Bác còn dùng khái niệm hồng và chuyênĐức và tài, hồng và chuyên phải đi đôi với nhau, song hành tồn tại cùng nhau trong một con người.

Về đức, ở đây như Bác nói là đạo đức, đạo lý làm người mà với thời đại chúng ta, Bác yêu cầu rèn luyện để có đạo đức cách mạng. Bác giải thích đạo đức cách mạng rất giản dị, cụ thể:“Đạo đức cách mạng không phải là những điều cao siêu, xa lạ mà đối với mỗi người bất kỳ ở cương vị nào, bất kỳ làm một việc gì đều không sợ khó, không sợ khổ, đều một lòng một dạ phục vụ lợi ích chung của giai cấp, của nhân dân, đều nhằm mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội”, “Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời rơi xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Bác coi “đạo đức là cái gốc của người cách mạng” và Bác chỉ rõ cách thức phấn đấu, rèn luyện đạo đức cách mạng: “Phải thấm nhuần đạo đức cách mạng, tức là học tập, lao động, sinh hoạt theo đúng đạo đức của thanh niên xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa”, “Để làm tròn trách nhiệm, thanh niên ta phải nâng cao tinh thần làm chủ tập thể, trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân, chớ phô trương hình thức, chớ kiêu ngạo tự mãn”. Sở dĩ Bác chỉ rõ cụ thể để mọi người hiểu thấu đáo nước ta xây dựng xã hội chủ nghĩa từ một nước nông nghiệp lạc hậu, nền sản xuất chủ yếu là thủ công phân tán cùng với chủ nghĩa cá nhân hẹp hòi là một lực cản lớn, hạn chế năng lực sáng tạo của tuổi trẻ. Bác coi trọng việc giáo dục thanh niên nói chung và thanh niên sinh viên nói riêng phải xoá bỏ chủ nghĩa cá nhân, xây dựng tinh thần làm chủ. Đương nhiên xóa bỏ chủ nghĩa cá nhân không có nghĩa là xóa bỏ lợi ích cá nhân chính đáng mà là sự hài hoà giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, lợi ích xã hội. Phấn đấu làm việc ích nước lợi nhà. Bác nói: “Muốn sửa chữa chủ nghĩa cá nhân thì phải làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, mà phải nghĩ đến đồng bào, đến toàn dân đã. Ta có câu nói: “khó nhọc thì mình nên đi trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”; làm việc gì mình cũng nghĩ đến lợi ích chung trước và lợi ích riêng sau. Đối với thanh niên trí thức như các cháu ở đây thì cần đặt lại câu hỏi: Học để làm gì? Học để phục vụ ai? Đó là hai câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát thì mới có phương hướng sửa chữa khuyết điểm của mình”.

Về Tài, tức là năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ được tích luỹ và phát huy tác dụng, đóng góp thiết thực, làm lợi ích cho xã hội, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển. Bác mong muốn thanh niên sinh viên học tập, rèn luyện để thực sự có tài. Bác mong muốn xã hội có nhiều người tài và người tài đem hết tài năng, tâm huyết phục vụ xã hội.

Bác yêu cầu thanh niên sinh viên phải có đức, có tài nhưng Bác đặt đức trước tàihồng trước chuyên. Bởi vì theo Bác, đạo đức cách mạng là cái gốc, cái nền. Bác nói: “có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông bụt không làm hại gì nhưng cũng không lợi gì cho loài người.

3. Lý tưởng và Tình yêu:Giáo dục, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ Việt Namnói chung và cho thanh niên sinh viên nói riêng là một trong những vấn đề được Bác Hồ đặc biệt quan tâm. Bác ân cần khuyên nhủ: “Chúng ta không một chút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, cho chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta”. Lý tưởng cách mạng đối với tuổi trẻ như ánh sáng mặt trời với sự sống, là sự gắn bó hữu cơ, là sự tự nguyện, tự giác, là sự đòi hỏi tự thân, nó thường trực, hướng tới: “Không một chút nào được quên”. Theo Bác, để thanh niên sinh viên có lý tưởng cách mạng, trước nhất phải giáo dục nhận thức để giác ngộ lý tưởng. Thanh niên sinh viên là nhân vật trung tâm của nhà trường, hoạt động chính của thanh niên sinh viên là học tập. Vì thế giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên sinh viên trước hết là thông qua hoạt động học tập nhằm giúp cho họ tự trả lời câu hỏi: Học để làm gì? Học để phụng sự ai? Đương nhiên lý tưởng sống của thanh niên sinh viên không chỉ dừng lại ở nhận thức, ý thức và quan niệm, mà phải được tôi rèn trong thực tiễn học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tế, phải thành hành động, thông qua hành động, và hiệu quả của hành động. Bác dạy: “Điều gì phải thì cố làm cho kỳ được, dù là việc nhỏ. Điều gì trái, thì hết sức tránh, dù là một điều trái nhỏ”. Học để làm người cách mạng, học để phụng sự nhân dân là như thế. Giác ngộ lý tưởng vì nước, vì dân, vì chủ nghĩa xã hội và thực hiện lý tưởng cao đẹp đó bằng tình cảm, trí tuệ, tài năng, ý chí và nhiệt tình của tuổi trẻ lấy phục vụ sự nghiệp cách mạng, phục vụ nhân dân là lẽ sống cao quý của mình, đó chính là giá trị nhân cách của tuổi trẻ, là mục tiêu phấn đấu trở thành người trí thức cách mạng của thanh niên sinh viên hiện nay.

Về tình yêu: Khái niệm tình yêu mà Bác dạy hàm nghĩa rộng, nhưng rất thiết thực và Bác giải thích rất kỹ càng, cụ thể khi Bác nói tại Đại hội sinh viên toàn quốc lần thứ hai: 1- Yêu Tổ quốc;  2-Yêu nhân dân;  3- Yêu chủ nghĩa xã hội; 4– Yêu lao động; 5– Yêu khoa học;  6- Yêu kỷ luật. Tại buổi lễ khai mạc trường Đại học Nhân dân Việt Nam, Bác huấn thị các học viên 7 điều phải và 6 điều chống: 1- Phải yêu Tổ quốc yêu nhân dân; 2- Phải có tinh thần dân tộc vững chắc và tinh thần quốc tế đúng đắn; 3- Phải yêu và trọng lao động; 4- Phải giữ gìn kỷ luật; 5- Phải bảo vệ của công; 6- Phải quan tâm đến đời sống của nhân dân; 7- Phải chủ ý đến tình hình thế giới.  6 điều chống là: 1- Chống tâm lý tự ti tư lợi, chỉ lo lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình; 2-Chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc; 3- Chống thói xem khinh lao động; 4- Chống lười biếng, xa xỉ; 5- Chống sinh hoạt uỷ mị; 6- Chống kiêu ngạo, giả dối, khoe khoang. Bác nói rõ, xây đi liền với chống, yêu đi liền với ghét: “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương”.

Di huấn của Bác Hồ cho thanh niên sinh viên Việt Nam cũng là di huấn cho thế hệ trẻ Việt Nam, đó là tình cảm, là tư tưởng, là lời dạy, là định hướng cho lớp người sẽ làm chủ tương lai của đất nước. Vậy điều đơn giản nhất có thể làm được của các bạn sinh viên hiện nay là gì? 5 tốt: đạo đức tốt – học tập tốt – thể lực tốt – kỹ năng tốt – hội nhập tốt sinh viên Việt Nam cần đạt được. Và đây chính là hành động cụ thể thực hiện di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nguyễn Thị Vân NgaTrường đại học thủy lợi
Vknyo (st)